Vành đai và Con đường của Trung Quốc: Tham vọng và hoài nghi
Sáng kiến “Vành đai và Con đường” là một dự án khổng lồ đầy tham vọng, hứa hẹn mang lại lợi ích cho nhiều nước nếu thành công.
Sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc lấy cảm hứng từ Con đường Tơ lụa xưa, đó là hệ thống các tuyến đường buôn bán cách đây nhiều thế kỷ giữa châu Âu và châu Á, giữa Đông và Tây.
Đây là một sáng kiến thương mại, một chiến lược kết nối kinh tế khổng lồ, thúc đẩy sự hợp tác giữa các nước, các khu vực, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn cả văn hóa, xã hội.
Giấc mộng Trung Hoa
“Vành đai và Con đường” được coi là đứa con tinh thần của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và là chính sách đối ngoại quan trọng nhất của nhà lãnh đạo này cho tới nay. Ông Tập gọi đây là “dự án thế kỷ”.
Qua sáng kiến này có thể thấy ông Tập theo đuổi đường lối đối ngoại chủ động, thoát khỏi tư tưởng đối ngoại “giấu mình chờ thời” và “tránh đi tiên phong” của nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình trước đây.
Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (tiếng Hán gọi là “Nhất Đới, Nhất Lộ”) gồm 2 vế: Vành đai kinh tế trên bộ và Con đường Tơ lụa trên biển. Vành đai trên bộ gồm khu vực Con đường Tơ lụa xưa và bộ phận mở rộng, với 6 hành lang lớn, kết nối châu Âu và Trung Quốc.
Toàn bộ “Vành đai và Con đường” kết nối Đông Á, Trung Á, Trung Đông, Bắc Phi và châu Âu. Riêng Con đường Tơ lụa trên biển kết nối bờ biển Trung Quốc với châu Âu qua Biển Đông, Ấn Độ Dương và đi từ bờ biển Trung Quốc qua Biển Đông ra Nam Thái Bình Dương.
Dự án “Con đường Tơ lụa” hiện đại tập trung vào xây dựng hạ tầng đường bộ, đường sắt và đường biển, đường hàng không, đường ống dẫn dầu, đường dây điện, và hệ thống viễn thông để tăng cường kết nối liên khu vực.
Khái niệm “Vành đai” được ông Tập giới thiệu lần đầu vào tháng 9/2013 khi nhà lãnh đạo Trung Quốc này đi thăm quốc gia Trung Á là Kazakhstan. Phát biểu tại Đại học Nazarbayev, ông Tập đề nghị Trung Á hợp tác với Trung Quốc để xây dựng một Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa.
Đến tháng 10/2013, ông Tập đề xuất xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa Trung Quốc và khối ASEAN, đồng thời đưa ra các gợi ý về một Con đường Tơ lụa trên Biển của thế kỷ 21.
Phát biểu tại quốc hội Indonesia khi đó, ông Tập đề xuất lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) để cung cấp tài chính cho xây dựng cơ sở hạ tầng và thúc đẩy kết nối khu vực và hội nhập kinh tế.
Tháng 2/2014, Tập Cận Bình và người đồng cấp Nga Vladimir Putin đạt được sự đồng thuận về xây dựng “Vành đai và Con đường” và về kết nối hệ thống này với hệ thống đường sắt Âu-Á của Nga.
Tháng 5/2014, giai đoạn đầu của một trung tâm logistics do Trung Quốc và Kazakhstan cùng xây dựng đã đi vào hoạt động tại Liên Vân Cảng ở tỉnh Giang Tô (Trung Quốc). Trung tâm này là điểm trung chuyển lý tưởng cho hàng hóa các nước Trung Á đi ra thị trường nước ngoài.
Tháng 10/2014, 21 nước châu Á tự nguyện tham gia AIIB với tư cách là quốc gia sáng lập. Họ ký Bản ghi nhớ về thành lập AIIB. (Ngân hàng này thành lập chính thức vào cuối năm 2015.)
Tháng 11/2014, Chủ tịch Tập Cận Bình công bố Trung Quốc đóng góp 40 tỷ USD để lập ra Quỹ Con đường Tơ lụa.
Tháng 12/2014 Thái Lan phê chuẩn dự thảo Bản ghi nhớ giữa Thái Lan và Trung Quốc về hợp tác đường sắt.
Tháng 1/2015, số lượng nước thành viên của AIIB tăng lên thành 26 nước.
Và trong 2 ngày 14-15/5/2017 vừa qua đã diễn ra Diễn đàn cấp cao hợp tác quốc tế “Vành đai và Con đường” tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Sự kiện có sự tham dự của khoảng 30 nguyên thủ và người đứng đầu chính phủ cũng như phái đoàn của hơn 100 nước nữa.
Thành ý của Trung Quốc?
Tháng 3/2015, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị bác bỏ mọi sự so sánh sáng kiến này với Kế hoạch Marshall do Mỹ tài trợ sau Thế chiến 2. Ông Vương khi đó nói rằng sáng kiến này là sản phẩm của hợp tác, chứ không phải là công cụ địa chính trị và “không nên được nhìn nhận bằng não trạng Chiến tranh Lạnh đã lỗi thời”.
Trong khi đó, Chủ tịch Tập Cận Bình khẳng định rằng mục tiêu của sáng kiến “Vành đai và Con đường” là xây dựng quan hệ đối tác chứ không phải là liên minh.
Trung Quốc nhiều lần nhấn mạnh rằng “Vành đai và Con đường” rộng mở với mọi đối tượng, hướng tới cải thiện cơ sở hạ tầng dọc theo tuyến đường lớn này, đem lại lợi ích cho người dân địa phương.
Họ cũng khẳng định “không bao giờ ép bất cứ quốc gia nào tham gia vào sáng kiến Vành đai và Con đường nếu như nước đó thấy quá hoài nghi và lo lắng”.
Trung Quốc hăm hở với dự án khổng lồ này. Họ hiện đang rót khoảng 150 tỷ USD mỗi năm vào các dự án liên quan ở 68 nước tham gia Đại sáng kiến liên kết kinh tế này.
Sáng kiến “Vành đai và Con đường” liên quan tới 65% dân số thế giới, 1/3 GDP toàn cầu và vận chuyển 1/4 hàng hóa và dịch vụ thế giới. Trung Quốc có sức mạnh tài chính để xây dựng cơ sở hạ tầng, trong khi nhiều nước thực sự khát vốn và việc làm.
Trong sáng kiến lớn này, Trung Quốc tỏ ra thực dụng cao, thiên về kinh tế, có lẽ cũng giống đường lối mà họ theo đuổi ở châu Phi và châu Mỹ Latin.
Thời gian 4 năm (từ năm 2013 đến nay) là không nhiều cho một dự án “siêu khủng” như thế này. Và hiện vẫn còn sớm để khẳng định dự án thành công hay thất bại. Nhưng nếu thành công, sáng kiến này chắc chắn sẽ đem lại lợi ích kinh tế to lớn cho Trung Quốc, giúp nước này mở rộng thị trường cho hàng hóa và công nghệ của họ.
Về đối nội, Trung Quốc mong muốn thúc đẩy kinh tế của những vùng nghèo khó như Tân Cương, từ đó hạn chế tình trạng bất ổn, bạo lực, khủng bố và ly khai.
Nhưng khi làm được như vậy, Trung Quốc sẽ tất yếu có điều kiện gia tăng ảnh hưởng chính trị dọc theo các hành lang kinh tế này. Thực thi “Vành đai và Con đường” mang lại cho Trung Quốc cơ hội cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ, hiện đang chú trọng nhiều vào vấn đề đối nội. Một số nhà quan sát không loại trừ hoàn toàn yếu tố tham vọng địa chính trị, muốn khôi phục sức mạnh xưa trên trường quốc tế, làm Trung Quốc “vĩ đại” trở lại.
Tuy nhiên vẫn có ít nhất một vướng mắc lớn: Con đường Tơ lụa trên biển dính dáng đến điểm nóng Biển Đông với nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Bản thân Chủ tịch Tập Cận Bình vẫn thường thề không bao giờ hy sinh “lợi ích cốt lõi” của nước ông trong vấn đề này.
Thái độ của các nước
Trước đề xuất “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc, nhiều nước tỏ ra hào hứng và ủng hộ, nhưng cũng không ít nước dè dặt và cảnh giác. Bản thân Trung Quốc ý thức được những hoài nghi và do dự đó và đang tích cực tìm cách thuyết phục các nước tin vào đại dự án này.
Dự Diễn đàn cấp cao “Vành đai và Con đường” ở Bắc Kinh mới đây, cả Thủ tướng Pakistan Sharif và Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Erdogan đều ca ngợi sáng kiến này là công cụ mạnh mẽ để loại trừ chủ nghĩa khủng bố.
Nga lo ngại mất ảnh hưởng ở vùng Trung Á (trước sự xâm nhập của Trung Quốc) nhưng hiện nay năng lực tài chính của Nga có hạn, họ lại vướng vào căng thẳng với Ukraine và hứng chịu các lệnh trừng phạt của phương Tây nên về cơ bản Nga cũng xuôi theo dự án “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc.
Ít có lãnh đạo phương Tây tham dự Diễn đàn cấp cao “Vành đai và Con đường” ở Bắc Kinh. Tổng thống Mỹ Trump không tham dự. Thủ tướng Đức Merkel đã từ chối lời mời. Duy nhất một đại diện đứng đầu chính phủ một nước trong khối G7 – Thủ tướng Italy Paolo Gentiloni tham dự sự kiện.
Bộ trưởng Kinh tế Đức hôm 14/5 cho biết nước bà và các nước EU khác sẽ không ký tuyên bố thương mại chung tại Diễn đàn “Vành đai và Con đường” nếu như họ không nhận được bảo đảm từ phía Trung Quốc về tự do thương mại, bảo vệ môi trường và điều kiện lao động.
Ấn Độ thì tẩy chay ra mặt Diễn đàn hợp tác quốc tế cấp cao “Vành đai và Con đường”. Ấn Độ không hài lòng với Hành lang Kinh tế Trung Quốc-Pakistan (CPEC) do liên quan đến lãnh thổ tranh chấp Kashmir giữa Ấn Độ và Pakistan. Trên thực tế Trung Quốc đã triển khai hàng chục ngàn nhân viên an ninh để bảo vệ các dự án dọc theo tuyến CPEC này.
Ấn Độ cảnh giác cao độ, xem sáng kiến “Vành đai và Con đường” là “hỏa mù” để Trung Quốc che giấu tham vọng giành quyền kiểm soát chiến lược đối với Ấn Độ Dương. Ấn Độ cũng lo ngại Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ở các nước Nam Á láng giềng của Ấn Độ, và nguy cơ các nước bị lệ thuộc vào đồng vốn của Bắc Kinh.
Cả Nhật Bản và Mỹ đều đã từ chối tham gia Ngân hàng Đầu từ Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB). Trước các động thái của Trung Quốc, Nhật Bản đã cạnh tranh lại bằng cam kết (vào năm 2015) chi 110 tỷ USD cho các dự án cơ sở hạ tầng ở châu Á trong 5 năm tới./.
Ngày 14/8, Ngoại trưởng Philippines Delfin Lorenzana đã thu hút sự chú ý của truyền thông khi tuyên bố rằng Trung Quốc và Philippines đã đạt được một kiểu “tạm ước” ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), theo đó Bắc Kinh đã đồng ý không chiếm đóng bất cứ cấu trúc mới nào. Tuyên bố của ông Lorenzana, giống như các tuyên bố tương tự của các quan chức Philippines khác kể từ khi Tổng thống Rodrigo Duterte lên nắm quyền vào tháng 6/2016, là một sự nhắc nhở nữa về quyết tâm của Manila theo đuổi một thỏa thuận với Bắc Kinh bất chấp những nguy cơ đáng kể trong đó.
Ý tưởng về một kiểu thỏa thuận nào đó giữa Trung Quốc và Philippines ở biển Nam Trung Hoa – dù đó là thỏa thuận không chính thức để tạm thời xuống thang căng thẳng hay một đề xuất để cùng nhau thăm dò và khai thác các tài nguyên – không phải là điều mới và trên thực tế đã được thảo luận theo hình thức này hay hình thức khác kể từ những năm 1980. Và không có gì đáng ngạc nhiên khi 2 chính phủ có thể coi một thỏa thuận như vậy là có lợi cho họ vì các cơ hội nó chứa đựng – cho dù đó là mong muốn của Manila có thêm đầu tư của Trung Quốc hay mong muốn của Bắc Kinh duy trì lập trường không thỏa hiệp của mình về vấn đề chủ quyền trong khi có thể loan báo về một thời kỳ hạ nhiệt căng thẳng nào đó trên biển Nam Trung Hoa, bất chấp bằng chứng cho điều ngược lại.
Tuy nhiên, vấn đề nằm ở việc chính quyền Duterte vẫn chưa chứng minh được rằng các cơ hội mà “những thỏa thuận” như vậy với Bắc Kinh đem lại có tầm quan trọng lớn hơn so với những nguy cơ đáng kể mà chúng chứa đựng. Sau đây, chúng ta hãy lần lượt xem xét từng khía cạnh đã được nêu.
Ngoại trưởng Philippines Delfin Lorenzana
Liệu có thỏa thuận nào có thể tồn tại lâu dài?
Nguy cơ đầu tiên là Trung Quốc sẽ không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận, vào lúc này hay một thời điểm nào đó trong tương lai. Đây không phải là một câu hỏi vô lý khi xét tới thành tích tồi tệ của Trung Quốc trong việc thực hiện nghĩa vụ của nước này trong các cam kết hay thỏa thuận về biển Nam Trung Hoa. Trong 25 năm qua, kể từ khi các quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc đàm phán trực tiếp về vấn đề biển Nam Trung Hoa, Bắc Kinh đã trắng trợn coi thường các cam kết của chính mình, dù đó là Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Nam Trung Hoa (DOC) năm 2002 hay cam kết của Chủ tịch Tập Cận Bình không quân sự hóa quần đảo Trường Sa.
Thành tích của Trung Quốc không khiến người ta yên lòng hơn, nhất là khi xem xét cùng với Philippines. Khi một thỏa thuận phát triển chung đạt được vào năm 2005, được gọi là thỏa thuận Hợp tác thăm dò địa chấn (JMSU), bắt đầu hết hiệu lực vài năm sau, Bắc Kinh đã nhanh chóng quay lại cách hành xử quyết đoán đơn phương của mình, gây áp lực về ngoại giao đối với Philippines và thậm chí còn ngăn chặn các tàu khảo sát để ngăn cản Manila thuyết phục được các công ty nước ngoài khác hỗ trợ Philippines thăm dò và khai thác các tài nguyên. Trong phán quyết của Tòa trọng tài về vụ kiện của Philipines chống lại Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa vào năm ngoái, Trung Quốc bị cho là đã vi phạm chủ quyền của Philippines khi cản trở hoạt động khai thác tài nguyên tại Reed Bank (bãi Cỏ Rong).
Khi xét tới ví dụ rõ ràng này của việc Trung Quốc không đếm xỉa tới các cam kết của nước này trên biển Nam Trung Hoa, người ta không rõ tại sao Chính quyền Duterte lại chắc chắn rằng lần này Bắc Kinh sẽ cư xử khác với những lần trước, và tại sao người dân Philippines và những người chỉ trích tại nước này phải có chung quan điểm đó. Quả thực, không có gì đáng ngạc nhiên khi sau các buổi điều trần của cơ quan lập pháp về một thỏa thuận hợp tác thăm dò nữa với Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa vào tháng 8, Chính quyền Duterte đã hứng chịu nhiều chỉ trích.
Vậy chính xác đây là một thỏa thuận như thế nào?
Nguy cơ thứ hai là khi theo đuổi một thỏa thuận, Philippines cuối cùng có thể phải từ bỏ nhiều thứ hơn là có thể nhận được. Quan ngại này đã được bày tỏ trong năm đầu tiên Duterte nắm quyền, và không khó để hiểu được lý do cho quan ngại này. Tuy người ta đã công khai đề cập tới một số lợi ích tạm thời, chẳng hạn như khả năng tiếp cận bãi cạn Scarborough của ngư dân và một cam kết của Trung Quốc không cải tạo bãi cạn này, thực tế là những lợi ích này tương đối nhỏ khi so sánh với những nhượng bộ lớn mà Philippines đã đưa ra, bao gồm gác lại một phán quyết quốc tế có tính ràng buộc có lợi cho nước này và làm suy yếu sự đồng thuận của khu vực về vấn đề biển Nam Trung Hoa với tư cách Chủ tịch ASEAN.
Gần đây, các nhà hoạch định chính sách đã bày tỏ những quan ngại rằng Chính quyền Duterte, nôn nóng muốn đi đến một thỏa thuận với Trung Quốc, có thể sẽ không đưa ra một lập trường cứng rắn về sự quyết đoán liên tục của Bắc Kinh, cho dù đó là sự quấy rối của các tàu thương mại và tàu chính phủ hay sự triển khai gần đây các tài sản gần đảo Pag-asa (đảo Thị Tứ). Mặc dù người ta không phải suy tính để đưa ra các lý lẽ biện minh cho mức độ tồi tệ của một thỏa thuận mà Manila thực sự đang tiến đến, nhưng những bình luận dối trá như vậy đơn giản là không thể bác bỏ bởi thực tế rằng thỏa thuận cuối cùng với Bắc Kinh, JMSU, đã chấm dứt bằng việc bị lôi kéo vào một trong những vụ bê bối tham nhũng lớn nhất trong lịch sử Philippines. Thỏa thuận của “quỷ”?
Rủi ro thứ ba và cuối cùng là chính quyền Duterte, trong khi tham gia tiến hành một thỏa thuận như vậy với Trung Quốc, có thể sẽ củng cố những xu hướng đang tồn tại giữa các nước yêu sách ở Đông Nam Á và các bên quan tâm nhằm đầu tư nhiều hơn nữa vào một cách tiếp cận đơn thương độc mã ở biển Nam Trung Hoa thay vì một cách tiếp cận mang tính hợp tác hơn, thậm chí cho dù cách tiếp cận đơn thương độc mã trên thực tế có lợi hơn cho cách tiếp cận chia rẽ và xâm chiếm của Bắc Kinh.
Chắc chắn Philippines không phải là nước yêu sách duy nhất ở Đông Nam Á đã nỗ lực đạt đến một thỏa thuận theo kiểu nào đó với Trung Quốc. Và, như các nhà ngoại giao Philippines sẽ nhanh chóng tuyên bố rằng, các nước ASEAN khác đã có lỗi là không ủng hộ Philipines một cách thỏa đáng khi nước này thúc đẩy một cách tiếp cận mang tính hợp tác hơn trong các giai đoạn trước đó, dù là ở phạm vi khu vực trong nội bộ ASEAN hay trên phạm vi quốc tế với việc khởi tố vụ kiện mang tính lịch sử chống lại Bắc Kinh. Chính quyền Duterte đang làm xói mòn những nỗ lực đã có trước đó nhằm thúc đẩy một cách tiếp cận mang tính hợp tác hơn và đầu tư quá nhiều vào một cách tiếp cận đơn phương.
Cho dù là các nước Đông Nam Á khác đã đưa ra đường lối mềm mỏng hơn về vấn đề biển Nam Trung Hoa kể từ khi Chính quyền Duterte lên nắm quyền hay có sự cắt giảm những nỗ lực toàn cầu nhằm chống lại sự quyết đoán của Bắc Kinh, thì những phí tổn trước mắt của sự thụ động của Manila đều đã khá rõ. Nhưng có lẽ hệ quả đáng lo ngại nhất của điều này không đơn giản chỉ là sự thiếu vắng một chiến dịch tự do hàng hải chung giữa Mỹ và Philippines (FONOP) hay một tuyên bố mạnh mẽ hơn của ASEAN, mà là cái mà điều này nói với Bắc Kinh. Sự trở mặt của Philippines trên biển Nam Trung Hoa chỉ khẳng định điều mà một số tiếng nói theo tư tưởng cứng rắn ở Trung Quốc đã nghi ngờ: rằng trong khi sự quyết đoán của Bắc Kinh có thể dẫn đến việc họ phải gánh chịu một số phí tổn trong ngắn hạn, sức mạnh quân sự và kinh tế ngày một gia tăng của họ có nghĩa là họ có thể đơn giản chấp nhận những phí tổn này trong một thời gian và sau đó tìm cách bù đắp những tổn thất của mình bằng cách lấy lòng những nước mà họ đã ép buộc trước đó.
Những thỏa thuận theo kiểu này củng cố niềm tin nguy hiểm đó trong một số người ở Bắc Kinh, thay vì khiến họ dẹp bỏ nó. Và điều đó có những ảnh hưởng đáng lo ngại không chỉ đối với Philippines mà cả các nước châu Á khác và cộng đồng quốc tế nói chung vốn lo ngại về cách cư xử của Trung Quốc với vai trò là một cường quốc đang trỗi dậy trong hệ thống quốc tế./.
Trung Quốc có thể đã có một chiến thắng nhỏ tại Diễn đàn ASEAN, nhưng căng thẳng đã bùng nổ với Việt Nam và Singapore.
Một số nhà quan sát nói rằng, Bắc Kinh có thể thành công trong việc ngăn các nhà ngoại giao hàng đầu ASEAN đề cập đến Phán quyết Trọng tài hay tình trạng quân sự hóa Biển Đông trong tuyên bố chung tại Manila. Tuy nhiên, yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông đang phải đối mặt với những thách thức mới.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch đã cam kết tăng cường quan hệ quân sự song phương, vì lợi ích chung của hai nước trên Biển Đông. Hai Bộ trưởng cũng nhất trí kế hoạch để một tàu sân bay Mỹ tới thăm cảng quốc tế Cam Ranh của Việt Nam vào năm tới.
So với Philippines có tranh chấp với Trung Quốc ở Trường Sa, Việt Nam và Trung Quốc có tranh chấp ở phạm vi rộng hơn, bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Nếu nền tảng của các tranh chấp này vẫn không thay đổi, căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể gia tăng, vì Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong các vấn đề chủ quyền.
Theo các nhà nghiên cứu Singapore: “Nếu Việt Nam thấy Trung Quốc đang ép mình quá đáng, họ sẽ phải bật lại.” Việt Nam không chấp nhận khuất phục trước áp lực của Trung Quốc, nhưng cũng không mạo hiểm để xảy ra một cuộc đối đầu với láng giềng phương Bắc.
Về phía Singapore mặc dù không phải là nước có yêu sách trực tiếp, nhưng họ có lợi ích ở Biển Đông. Singapore không muốn một quốc gia nào thống trị các tranh chấp, mà muốn có sự cân bằng hơn nữa trong khu vực, đó là lý do Singapore tích cực hợp tác với Hoa Kỳ.
Theo South China Morning Post đăng bài phân tích: Với các dấu hiệu Việt Nam đang tăng cường quan hệ quân sự với Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ – những đối thủ chiến lược của Bắc Kinh, các nhà quan sát nói rằng: Việt Nam có thể trở thành cái gai cứng nhất Đông Nam Á đối với Trung Quốc khi Bắc Kinh đang tìm cách hút khu vực này vào vòng ảnh hưởng ngoại giao của mình.
Việc Việt Nam kêu gọi ASEAN và các nước khác quan tâm tới việc bảo vệ hòa bình, ổn định, luật pháp quốc tế, an ninh – an toàn và tự do hàng hải – hàng không trên Biển Đông tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN vừa qua ở Philippines là hết sức bình thường, thể hiện trách nhiệm của một thành viên Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.
Những hành động quân sự hóa, đơn phương áp đặt, cưỡng chế, gây căng thẳng trên Biển Đông đã và đang uy hiếp trực tiếp an ninh khu vực và lợi ích chung của ASEAN cũng như các cường quốc.
Tuy nhiên truyền thông nhà nước Trung Quốc lại tỏ ra rất tức tối, bất mãn vô cớ về chuyện này.
Vào giữa tháng 8, tờ China Daily có bài xã luận tuyên truyền xuyên tạc rằng Việt Nam “đang cố ý gieo rắc bất hòa” trong khối ASEAN.
Tệ hơn, cùng ngày hãng thông tấn Tân Hoa Xã có bài xã luận với thái độ lệch lạc, sai trái, lập luận “cả vú lấp miệng em” rằng: “Đã đến lúc Việt Nam điều chỉnh thái độ, thúc đẩy hòa bình ở Biển Đông”. Những hành động khi âm thầm, lúc công khai mà Trung Quốc đã và đang tiến hành ở Biển Đông đã cho thấy rõ bản chất âm mưu độc chiếm Biển Đông không thay đổi.
Có chăng chỉ là Bắc Kinh thay đổi thủ đoạn trong mỗi giai đoạn khác nhau mà thôi. Tự bản thân các hành động của Trung Quốc đi ngược lại tinh thần Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông.
Sau tuyên bố “Trung Quốc cam kết không quân sự hóa Biển Đông” năm 2015, những phát biểu mới nhất của các quan chức nước này càng củng cố nhận định của dư luận quốc tế, khu vực: Đừng nghe những gì Trung Quốc nói, hãy xem những gì Trung Quốc làm.
Mọi cáo buộc vô căn cứ nhằm vào Việt Nam từ truyền thông Trung Quốc chỉ phản tác dụng trong con mắt dư luận tiến bộ.
Còn Việt Nam tăng cường hợp tác với các nước khác vừa là hoạt động ngoại giao bình thường của một quốc gia có chủ quyền, một thành viên Liên Hợp Quốc.
Những hoạt động này không chỉ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam, mà còn góp phần để bảo vệ hòa bình, ổn định, luật pháp quốc tế, an ninh và tự do hàng hải – hàng không trên Biển Đông, lợi ích chung của đôi bên và khu vực.
Bất cứ quan điểm nào cho rằng Việt Nam lôi kéo nước này, nước khác để “chống lại Trung Quốc” chỉ là ngụy biện, bởi các lý do sau đây:
Các siêu cường, các nước văn minh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, Anh quốc…không phải đơn giản để ai muốn lôi kéo thì lôi kéo.
Thêm nữa, ngày càng nhiều nước quan tâm tới việc bảo vệ các lợi ích chính đáng của họ ở Biển Đông, cũng là bảo vệ luật pháp quốc tế, tự do và an toàn hàng hải, hàng không; Ngoài Hoa Kỳ vẫn đang hiện diện thường xuyên trong khu vực, Nhật Bản sẽ cung cấp viện trợ quân sự và an ninh giúp Philippines, Việt Nam tăng cường an ninh hàng hải với tổng trị giá 500 triệu USD trong 3 năm, từ 2017 đến 2019.
Hiện tại, quân đội nước Anh sẽ tăng cường hiện diện ở Biển Đông sau Brexit, để bảo vệ vai trò, vị thế và lợi ích toàn cầu của nước này.
Ngoài ra, bảo vệ trật tự và luật pháp quốc tế ở Biển Đông đã trở thành một nhu cầu bức thiết không phải của riêng quốc gia nào.
Mọi âm mưu, tham vọng một mình một kiểu của Trung Quốc, thống trị Biển Đông sẽ thất bại, vì nó đi ngược lại xu thế hợp tác chung trên toàn cầu. Không quốc gia nào lại dành thời gian để đi làm cái việc gọi là “chống Trung Quốc”.
Nhưng những hành động nào của Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nước khác và khu vực, rõ ràng cần phải được các nước hợp tác để đấu tranh chống lại sự bành trướng này./.
Khi ông Kim Jong Un kế thừa quyền lãnh đạo đất nước Bắc Triều Tiên vào năm 2012 và sau đó là củng cố quyền lực của mình, ông đã đặt cược vào sự phát triển hạt nhân như là phương tiện tốt nhất để đảm bảo sự sống còn của chế độ Bình Nhưỡng đối với cả mối đe dọa từ bên trong lẫn bên ngoài.
Các dấu hiệu sớm của sự lựa chọn này bao gồm việc ông không quan tâm đến thỏa thuận “Leap Day” của Chính quyền Obama về việc kêu gọi Bắc Triều Tiên nối lại đàm phán về phi hạt nhân, bổ sung tình trạng Bắc Triều Tiên như một quốc gia hạt nhân vào lời mở đầu của hiến pháp Bắc Triều Tiên và Tuyên bố tháng 3/2013 rằng “Phát triển hạt nhân và kinh tế sẽ đồng thời là những ưu tiên chiến lược của Bình Nhưỡng”.
Tốc độ và cường độ của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tầm xa của ông Kim đã làm Hoa Kỳ mất cảnh giác, nhưng thậm chí còn gây sửng sốt và không được chấp nhận về mặt chính trị đối với hầu hết người Mỹ, vốn xác định rõ sự lựa chọn chiến lược kép của Kim Jong Un là muốn áp đặt lên các nhà hoạch định chính sách Mỹ giữa sự chấp nhận tính dễ tổn thương đối với một nước Bắc Triều Tiên hạt nhân và việc sử dụng quân đội để tách Kim khỏi chương trình vũ khí hạt nhân của ông ta.
Giả định lâu đời của Bắc Triều Tiên là Hoa Kỳ không sẵn sàng cho việc gánh chịu chi phí chiến tranh quá mức và rằng Mỹ cuối cùng sẽ chấp nhận Bắc Triều Tiên hạt nhân. Tuyên bố của Tổng thống Trump rằng mối đe dọa của Bắc Triều Tiên sẽ “đối mặt với hỏa lực và sự giận dữ mà thế giới chưa bao giờ thấy” lại chưa được chứng minh trong thực tiễn.
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ James Mattis đã nhấn mạnh những rủi ro khi ông tuyên bố rằng “Triều Tiên phải lựa chọn giữa việc tự cô lập hay ngừng theo đuổi vũ khí hạt nhân” và “Triều Tiên nên ngừng mọi xem xét các hành động dẫn tới sự kết thúc của chế độ và sự tàn phá của người dân.”
Bắc Triều Tiên rõ ràng thấy nguy cơ của mình nếu cúi đầu trước áp lực của Hoa Kỳ bằng cách quay trở lại con đường phi hạt nhân hóa và nhận thức được sự tổn thương lẫn nhau như là con đường duy nhất có thể sống còn của chế độ. Đây là con đường mà các nhà ngoại giao Triều Tiên trước đây đã chỉ ra khi họ cho rằng Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết cũ đều có thể là những kẻ thù vũ trang hạt nhân, do đó cần theo đuổi bình thường hóa quan hệ với hai cường quốc này trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Tuy nhiên, rất khó để tưởng tượng rằng Hoa Kỳ sẽ chấp nhận rủi ro đối với Kim Jong Un hoặc đột nhiên đánh giá cao giá trị chiến lược của Bắc Triều Tiên và theo đuổi một mối quan hệ bình thường với chế độ của Bắc Triều Tiên. Triều Tiên có thể mong muốn Hoa Kỳ đối xử với nó với trọng lượng chiến lược giống như từng có với Liên bang Xô viết hoặc bình thường hóa với Trung Quốc trước đây, tuy nhiên điều này sẽ không xảy ra. Bàn tay yếu ớt của Kim Jong Un cuối cùng vẫn là một “bàn tay lỏng lẻo”, bất kể người chơi cùng có ý tốt đến thế nào.
Các công cụ phi quân sự có sẵn để gây áp lực cho Kim Jong Un đang “bị cùn”, Kim dường như đã sống sót nhờ vũ khí hạt nhân và mỗi cuộc thử nghiệm tên lửa Bắc Triều Tiên đều nhấn mạnh rằng thời gian không ở bên cạnh Hoa Kỳ. Chi phí cho “hỏa lực và giận dữ” đơn phương vẫn còn cao quá mức, và sự kết hợp của các biện pháp trừng phạt, thâm nhập thông tin, và ngoại giao vẫn tạo ra một áp lực chi phí khá hơn cho các nước láng giềng của Triều Tiên, đặc biệt là Trung Quốc.
Triều Tiên dưới thời Kim Jong Un đã trở thành một mối đe dọa cho cả khu vực và thế giới. Sự khởi đầu của Kim đã cho ông ta hy vọng thời gian đang ở bên ông ta, và những diễn biến tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã tạo thêm niềm hy vọng đó. Hoa Kỳ cần thêm thời gian chống lại các nỗ lực hạt nhân của CHDCND Triều Tiên và sử dụng nó một cách có hiệu quả để ngăn chặn và cuối cùng đảo ngược quá trình hiện tại của Bắc Triều Tiên.
Nhưng nỗ lực của Kim để đẩy cảm giác dễ bị tổn thương sang phía Hoa Kỳ sẽ không thành công và sẽ dẫn Bình Nhưỡng đến miệng hố chiến tranh. Quá trình này diễn ra như thế nào vẫn còn quan trọng bởi vì nó sẽ xác định sự phân bố chi phí trong khu vực và điều này sẽ ảnh hưởng đến hình dạng của một trật tự an ninh mới ở khu vực Đông Bắc Á./.
The world’s second-largest economy has been deploying disruptive technology that could strengthen its territorial ambitions in the South China Sea .
Late last month, Beijing dropped a dozen underwater drones, also known as unmanned underwater vehicles, in an unspecified location in the international waterway to carry out “scientific observations,” state-run media outlet Xinhua reported.
The torpedo-shaped vehicles — called Haiyi, or sea wings in Mandarin — will remain underwater for a month, according to reports. In March, one device hit a depth of 6,329 meters, breaking an earlier record held by a U.S. vessel, Xinhua said.
China claims a massive section of the South China Sea that extends roughly 1,000 miles from its southern shores. The huge area is home to significant energy deposits and the world’s busiest shipping routes, but Vietnam , the Philippines , Malaysia , Brunei and Taiwan also assert sovereign rights over parts of the international waterway.
The use of autonomous drones raises a number of questions as to whether Beijing is deploying the technology to support its aggressive expansion in the geopolitical hotspot .
Is China really using the drones for science?
Scientific purposes may be the official line from Chinese President Xi Jinping’s administration, but political intentions can’t be ignored. According to one theory, underwater drones are being utilized as a symbol of supremacy.
“It is a clear attempt to signal a capability associated with leading powers in terms of technology, which often translates to prestige,” said Margaret Kosal, an associate professor at Georgia Tech who specializes in the role of emerging technologies for security.
Map courtesy of CSIS
Underwater drones are a demonstration of maritime strength and one of the many ways China is attempting to challenge the Western-dominated world order, she continued.
The U.S. Navy employs around 130 of those gadgets to collect oceanographic data. Last year, the Chinese navy seized one that was active in the South China Sea, sparking alarm.
Sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc bao gồm 6 hành lang kinh tế. Dưới góc độ ý thức hệ và địa chính trị, châu Âu là điểm đến cuối cùng của con đường tơ lụa mới. Việc tăng cường kết nối với châu Âu có thể đem đến cho Trung Quốc cơ hội tiếp cận các thị trường mới cũng như công nghệ cao và các cơ sở chiến lược. Mặc dù Bắc Kinh từng tuyên bố mục đích của họ nhằm hội nhập sâu hơn vào lục địa Á-Âu thông qua Con đường tơ lụa, tuy nhiên, dường như thực tế Trung Quốc lại nhấn mạnh hơn đến các khu vực Trung và Đông Âu cũng như Địa Trung Hải. Chiến lược của Trung Quốc gây ra quan ngại đối với Liên minh châu Âu (EU) rằng ảnh hưởng của Bắc Kinh đối với các quốc gia tại các khu vực nói trên có thể đe dọa tới EU, có thể gây ra những chia rẽ lớn hơn về chính trị và kinh tế của toàn khối.
Trải qua nhiều thế kỷ, thương mại giữa Eu và Trung Quốc đã chứng kiến nhiều thay đổi dọc Con đường tơ lụa cũ, với các chu kỳ từ thịnh vượng đến bất ổn, thậm chí chiến tranh và xu hướng đó tiếp tục kéo dài tới ngày nay. Trung Quốc hiện đang cố gắng giữ chính sách tái cân bằng để giảm bớt phụ thuộc vào chuỗi cung ứng và kinh tế ở vùng duyên hải phía Đông. Đồng thời cố gắng xây dựng vị thế tương xứng với sức mạnh kinh tế và quân sự. Trong bối cảnh các phong trào chủ nghĩa dân tộc và bất đồng về kinh tế đang nổi lên, gây ra nguy cơ làm tê liệt châu Âu, đồng thời toàn khối đang đối mặt với những thách thức liên quan đến các hoạt động của Nga và trật tự chínhtrị mới nổi lên tại Trung Đông, Trung Quốc lại thấy đây là cơ hội để tăng cường quan hệ với EU thông qua Sáng kiến “Vành đai và con đường”.
Trước hết, Trung Quốc tập trung vào các sáng kiến thương mại và đầu tư tại lục địa châu Âu vì hai bên vốn đã có sẵn các mối quan hệ thương mại chặt chẽ. Tại Nam Âu, Trung Quốc thấy được cơ hội trong lĩnh vực tư nhân hóa, nhất là trong các lĩnh vực năng lượng và cơ sở hạ tầng. Lợi ích của Trung Quốc tại Tây Âu lại khác, Bắc Kinh dường như quan tâm đến việc mua lại các tài sản chiến lược cùng với các kết quả nghiên cứu phát triển. Thông qua việc mua lại các công ty của Đức, Thụy Sĩ như công ty rô bốt KUKA AG, Syngenta… cho phép Trung Quốc có cơ hội tiếp cận các công nghệ hiện đại. Trung Quốc cũng tìm cách thông qua việc đạt được các hiệp định để giúp các kênh phân phối và các nhãn hàng của mình mở rộng thâm nhập vào thị trường châu Âu.
Dường như các dự án liên quan đến dự án “Vành đai và con đường” của Trung Quốc ở các nước phát triển châu Âu phần lớn mới dừng lại ở việc cấp vốn, đây cũng là điều các quốc gia tham gia thấy hấp dẫn so với các dự án cơ sở hạ tầng khổng lồ mà Bắc Kinh đã thực hiện ở các nơi khác. Các thỏa thuận tài chính này tuy còn hạn chế về phạm vi, nhưng nó cho phép Trung Quốc tạo được mối quan hệ với các quốc gia phương Tây, đồng thời tích lũy được kinh nghiệm trong hợp tác với các nước trong khu vực, bao gồm cả Vương quốc Anh hậu Brexit. Chính phủ Anh gần đây mô tả Bắc Kinh như một “đối tác tự nhiên” trong thương mại và đầu tư và Trung Quốc có thể sử dụng lợi thế này để vận động, để các nước nới lỏng các quy định đối với đầu tư của Trung Quốc, qua đó tăng cường tiếp cận thị trường tài chính toàn cầu.
Trung Quốc được cho là quan tâm đến hành lang vận chuyển đường biển để phục vụ xuất khẩu hàng hóa. Bắc Kinh đang theo đuổi các dự án cảng biển tại các quốc gia từ Địa Trung Hải tới Bắc Âu, như Rotterdam và Antwerp. Các công ty Trung Quốc đã đầu tư xây dựng các cảng biển tại Italy và Tây Ban Nha. Bắc Kinh cũng bày tỏ quan tâm tới cảng Sines của Bồ Đào Nha để kết nối với các cảng tại biển Adriatic. Bên cạnh các tuyến đường thủy kết nối các cảng biển dọc theo con đường tơ lụa, Bắc Kinh cũng đang quan tâm tới việc xây dựng các tuyến đường sắt để kết nối các cảng này tới lục địa. Để kết nối giữa cảng Piraeus (Hy Lạp) với Trung Âu, Trung Quốc đã đề xuất dự án hiện đại hóa tuyến đường sắt dài 350km kéo dài từ Belgrade đến Budapest. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đang có kế hoạch nâng cao chất lượng các tuyến đường sắt kết nối các thành phố công nghiệp vùng duyên hải và sâu trong lãnh thổ Trung Quốc với Hamburg, Warsaw và Rotterdam thông qua Nga và Trung Á. Tuy nhiên, với đường thủy thì các dự án đường sắt được cho là
có nhiều hạn chế hơn vì chi phí tốn kém, năng lực vận chuyển thấp hơn cùng nhiều quy định khắt khe từ các nước liên quan.
Việc thuyết phục các thành viên EU tham gia sáng kiến này là điều không dễ dàng. Một số thành viên EU vẫn chưa hết hoài nghi về các khoản đầu tư của Trung Quốc. Một số quốc gia Nam Âu như Hy Lạp vốn đang nợ nần chống chất lại sẵn sàng đón nhận các dòng đầu tư của Trung Quốc. Một số quốc gia Đông Âu như Hungary và Ba Lan cũng gật đầu với các khoản đầu tư Trung Quốc… Trước đây, dường như Đông Âu chưa nằm trong ưu tiên đầu tư của Trung Quốc. Mức đầu tư của Bắc Kinh tại đây chưa bao giờ vượt ngưỡng 1% GDP của các nước tại khu vực, ngoại trừ Hungary. Khi Trung Quốc thúc đẩy Sáng kiến “Vành đai và con đường” tại Đông Âu và Trung Âu, một số quốc gia trong khu vực sẽ có lợi thế để đàm phán với Trung Quốc.
Tuy nhiên, Bắc Kinh được cho là sẽ phải đối mặt với không ít thách thức ở châu Âu. Hiện Pháp và Đức, những thành viên quan trọng của EU, cũng đang là những đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc. Tuy nhiên, Sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc chỉ tập trung vào các khu vực Nam, Trung và Đông Âu. Nghĩa là Trung Quốc chỉ tập trung đầu tư vào các khu vực điểm yếu của EU nhằm tăng cường sự hiện diện tại châu Âu. Điều này không khỏi làm sâu sắc hơn các mối nghi ngờ từ EU. Hiện các doanh nghiệp châu Âu cũng đang gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp Trung Quốc ngay tại lãnh địa của mình. Đó cũng là lý do tại sao Chính phủ Đức đã đưa ra tuyên bố sẽ không ký vào thông cáo chung của Diễn đàn Sáng kiến “Vành đai và con đường” nếu Trung Quốc không đảm bảo tự do và bình đẳng trong thương mại.
Một EU bị chia rẽ nhiều hơn có lẽ cũng không phải là mối bận tâm của Trung Quốc. Tuy nhiên, các hành động của Bắc Kinh rõ ràng đang tạo ra những chia rẽ mới trong EU. Cộng hòa Séc và Đan Mạch đã từ bỏ các cáo buộc liên quan đến vấn đề nhân quyền ở Trung Quốc. Hà Lan đã công nhận tư cách nền kinh tế thị trường của Trung Quốc. Như vậy, rõ ràng khi Trung Quốc thúc đẩy quan hệ hợp tác với châu Âu, một số quốc gia thành viên EU phải đi đến lựa chọn giữa vấn đề ý thức hệ chính trị và các lợi ích kinh tế.-.
Các phán quyết của PCA ngày 12/6/2016 có giá trị pháp lý về lâu dài, không thể bác bỏ
Lần lượt ngày 24/5/2017 và 2/7/2017, tàu khu trục Mỹ USS Dewey và tàu USS Stethem đã vào tuần tra ở bên trong vùng 12 hải lý của bãi Vành Khăn và đảo Tri Tôn mà không cần giải thích; chiến hạm Mỹ cũng không áp dụng thủ tục về quyền “qua lại vô hại”[1] khi đi qua vùng biển này, thậm chí còn thực hiện một cuộc diễn tập cứu “người bị rơi xuống biển”. Các động thái trên của tàu khu trục USS Dewey được đánh giá là có ý nghĩa vì nếu hai tàu này tuân theo quy định trong thủ tục “qua lại vô hại” điều đó đồng nghĩa Mỹ ngầm công nhận Đá Vành Khăn là một hòn đảo đích thực có quyền có lãnh hải. Giới chuyên gia đánh giá, với động thái đó, chiến dịch tự do hàng hải của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump tại Biển Đông đã phù hợp với phán quyết của PCA về Biển Đông vào tháng 7/2016: Đá Vành Khăn nguyên là một thực thể nửa chìm, nửa nổi nên không thể có hải phận hay “Vùng đặc quyền kinh tế” (EEZ) cho dù Trung Quốc (TQ) đã bồi đắp đá này thành đảo nhân tạo.
Do không có cơ chế nào để thực thi phán quyết của PCA, các chiến dịch tự do hàng hải phù hợp với quy chế các thực thể ở quần đảo Trường Sa là một cách hậu thuẫn gián tiếp cho phán quyết của PCA. Việc thực hiện thường xuyên các chiến dịch này, phù hợp với luật quốc tế, sẽ giúp ngăn chặn nỗ lực của TQ hiện thực hóa trên thực tế việc kiểm soát Biển Đông.
Đá Vành Khăn nằm trong EEZ của Philippines. Do đó, hành động ngày 24/5/2017 của Mỹ được đánh giá là gián tiếp ủng hộ và tranh thủ lôi kéo Philippines. Ngoài ra, tại Đối thoại Shangri-La, ngày 04/6/2017, Bộ trưởng Quốc phòng của Mỹ James Mattis, của Nhật Bản Tomomi Inada và của Úc Marise Payne đều phát biểu khẳng định ủng hộ phán quyết của PCA. Ông James Mattis tuyên bố: “Phán quyết ngày 12/6/2016 của PCA trong vụ kiện của Philippines về Biển Đông là mang tính ràng buộc”. Các nhà phân tích đánh giá, Mỹ và các đồng minh đang tìm cách phá vỡ bế tắc tại Biển Đông theo những cách thức phù hợp luật pháp quốc tế, trong đó có phán quyết của PCA.
Trung Quốc cố gắng hình thành cục diện mới trên Biển Đông
Từ năm 2013, TQ chủ động bồi đắp các đảo nhân tạo, đến cuối năm 2015, Bắc Kinh cơ bản đã hình thành 7 đảo nhân tạo với các cơ sở quân sự và hậu cần, xác lập được chỗ đứng vững chắc tại trung tâm Biển Đông, đưa biên giới biển của TQ tiến hơn 1.500 km về phía Nam Biển Đông. Đây là thực tế và trạng thái mới chưa từng có trong lịch sử bành trướng lãnh thổ của TQ cũng như lịch sử Biển Đông. Từ đây đã hình thành thực trạng mới ở Biển Đông giúp TQ có thể khống chế các con đường hàng hải chiến lược ngang qua Biển Đông trong trường hợp xảy ra xung đột.
Hải quân TQ có động cơ chiến lược mạnh mẽ trong tranh chấp Biển Đông. Các căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo mở rộng phạm vi phòng thủ và tấn công của quân đội TQ bao quát Đông Nam Á hải đảo. Biển Đông, ở khu vực sâu nhất 5.000 m, là nơi hoạt động của tàu ngầm TQ có căn cứ ở Tam Á (Hải Nam), bao gồm cả tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa vượt đại dương có tầm bắn tới Mỹ và đây được đánh giá là một trong các nguyên nhân chủ yếu của tranh chấp Mỹ – Trung tại Biển Đông thời gian gần đây. Cùng với đó, TQ cũng tăng cường kiểm soát đáy Biển Đông thông qua hệ thống cảm ứng cáp quang ở đáy Biển Đông. Mục tiêu của TQ là tăng cường giám sát, kiểm soát hoạt động của tàu ngầm Mỹ, Việt Nam và các nước khác ở Biển Đông.
Nhờ có các hải cảng và cơ sở hạ tầng đi kèm, số lượng tàu TQ tăng lên đáng kể tại khu vực nửa phía Nam của “đường 9 đoạn”. Trong khi đội quân tiên phong này liên tục gây áp lực đối với vùng biển của các nước láng giềng, TQ tăng cường khả năng can thiệp, cản trở các nước Đông Nam Á sử dụng vùng biển và đáy đại dương mà luật pháp quốc tế bảo đảm cho các nước ven bờ Biển Đông.
Một động thái quan trọng khác là việc TQ đang mở rộng sự kiểm soát tới khu vực Nam Biển Đông nhằm hoàn thành “gọng kìm” bao vây Việt Nam trên biển, tăng cường khả năng tiếp cận khu vực phía Nam Biển Đông thông qua việc thuê cảng Koh Kong của Campuchia dưới hình thức tô nhượng 99 năm. Các chuyên gia quân sự đánh giá, với việc TQ có cố vấn quân sự trong Hải quân Campuchia, Bắc Kinh nhiều khả năng sẽ xây dựng cảng Koh Kong trở thành cảng lưỡng dụng, là căn cứ quân sự trá hình, cứ điểm tiền tiêu của TQ ở khu vực phía Nam Biển Đông. Đồng thời, thông qua các nỗ lực lôi kéo Philippines và Malaysia, TQ tìm cách thu hẹp sự hiện diện của Mỹ tại Biển Đông. Nhiều ý kiến đánh giá, TQ đã cố gắng “làm chìm” phán quyết của PCA và thông qua hòa hoãn, lôi kéo Philippines, Bắc Kinh đã tìm cách vô hiệu hóa phán quyết của PCA vì khi Philippines không đề cập đến phán quyết của PCA, các nước khác cũng khó có thể nêu ra để đấu tranh với TQ tại các diễn đàn quốc tế.
TQ ít công khai phản đối phán quyết của PCA, ít đề cập đến “đường 9 đoạn”, nhưng đã tìm cách “làm chìm” phán quyết. Việc TQ tích cực thúc đẩy đàm phán bộ khung của “Bộ Quy tắc ứng xử Biển Đông” (COC) với nội dung không có tính ràng buộc nhằm làm loãng phán quyết của PCA, “tung hỏa mù và câu giờ ngoại giao”, phục vụ cho việc ổn định tình hình Biển Đông và Đông Nam Á trong năm diễn ra Đại hội 19 của Đảng Cộng sản TQ.
Về chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Biển Đông
Chính quyền Tổng thống Trump trong 6 tháng cầm quyền đầu tiên khá lúng túng trong việc hoạch định chính sách và xử lý các vấn đề liên quan đến châu Á, trước hết là tại hai khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á, trong đó chính sách với TQ là trọng tâm. Biển Đông không phải là vấn đề thuộc lợi ích cốt lõi của Mỹ nên Washington cần hành động trong khuôn khổ chính sách với TQ theo hướng vừa kiềm chế, vừa hợp tác phù hợp với lợi ích kinh tế trong quan hệ song phương Mỹ – TQ, cũng như tranh thủ TQ hợp tác giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên. Tuy nhiên, chính quyền Mỹ cũng nhận thức được, nếu muốn duy trì ảnh hưởng chiến lược rộng lớn của mình trong khu vực, Mỹ không thể không kiềm chế hoạt động của TQ tại Biển Đông. Đồng thời, theo bản chất thực dụng của chính quyền Tổng thống Trump, không loại trừ khả năng Mỹ sẽ chủ động sử dụng vấn đề Biển Đông như một trong các đòn bẩy trong quan hệ tổng thể với TQ.
Những động thái gần đây cho thấy, Mỹ đã định hình một chiến lược với châu Á, kế thừa những nội dung hợp lý của chính sách “tái cân bằng” của chính quyền cựu Tổng thống Mỹ B. Obama. Phát biểu tại Đối thoại Shangri-La năm 2017, ông Mattis cam kết: “Mỹ sẽ không dùng đồng minh và đối tác hoặc quan hệ của Mỹ với các nước hoặc những gì liên quan đến an ninh của các nước ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương để đổi chác”. Kurt Campbell, cựu Trợ lý Bộ Ngoại giao Mỹ về Đông Á và Thái Bình Dương dưới thời ông Obama đánh giá: Phát biểu của ông Mattis tại Đối thoại Shangri-La năm 2017 đã mô tả tốt tính liên tục về quan điểm của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương, là phát biểu rất mạnh mẽ và có tác dụng trấn an đối với các đồng minh và các nước ở khu vực.
Cuộc tuần tra của tàu khu trục USS Dewey thuộc Hạm đội 3 của Mỹ ở khu vực Đá Vành Khăn ngày 24/5/2017 và của tàu khu trục USS Stethem ở khu vực đảo Tri Tôn ngày 2/7/2017 đã truyền tải một tín hiệu cứng rắn hơn với TQ so với thời cựu Tổng thống Mỹ B. Obama. Việc tiến hành các hoạt động “bảo vệ tự do hàng hải” (FONOP) là dấu hiệu cho thấy quyết tâm của Mỹ trong việc bảo vệ luật quốc tế, đặc biệt là những quyền về hàng hải được quy định trong Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Tự do hàng hải đối với phần đông các quốc gia trong cộng đồng quốc tế còn bao hàm quyền thao diễn quân sự, hoạt động do thám.
Giới chuyên gia đánh giá, theo dõi các hoạt động của tàu ngầm TQ tại Biển Đông thuộc lợi ích an ninh của Mỹ, trong đó hải quân là động lực thúc đẩy các hoạt động của Mỹ. Mỹ cũng tìm cách lôi kéo Việt Nam, Philippines, Thái Lan để hạn chế ảnh hưởng của TQ. Trong khi chưa có một chính sách hoàn chỉnh đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Biển Đông, Mỹ đang cố gắng kiểm soát, không để cho tình hình ở khu vực này diễn biến phức tạp hơn.
[1] Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 quy định về quyền “qua lại vô hại” như sau: “… tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải của quốc gia ven biển”. Theo đó, với điều kiện không gây ra các hành động gây hại, đe doạ hòa bình, an ninh trật tự của quốc gia ven biển, các loại tàu thuyền nước ngoài (kể cả tàu quân sự) được quyền đi qua vô hại trong lãnh hải của quốc gia ven biển mà không cần phải xin phép, không bị cản trở, không bị thu lệ phí và không bị phân biệt đối xử. Quốc gia ven biển được phép đề ra các luật và quy định liên quan đến việc đi qua không gây hại và có thể thi hành các biện pháp cần thiết để ngăn cản mọi việc đi qua có gây hại (điều 25).
Just like land security, maritime security includes both traditional security and non-traditional security. Under this framework, the paper focuses on analyzing some of the main contents of non-traditional security that threaten the security of the South China Sea region during the first two decades of the 21st century.
Maritime security is an integral part of the security of the coastal state, island nation and archipelago nation in the world. To a large extent, maritime security is also a component of regional and world security, closely linked to many of the continental security issues. At present, 70% of the world’s population lives on coastal islands and archipelagos, and most of the major national, international economic, political and cultural centers are located close to the sea. Consequently, maritime security has increasingly had a major impact on the inland security of coastal and island states.
Maritime security is understood to be a stable, safe, non-threatening state that derives from the sea and lands to the normal activities of states, organizations and individuals at sea or to the activities of countries, organizations and individuals on land. So, like land security, maritime security includes both traditional security and non-traditional security. According to this framework, the paper focuses on analyzing some of the key contents of non-traditional security that threaten the security of the South China Sea area during the first two decades of the 21st century, including piracy, smuggling, seizure of fishing grounds, and the obeyence of the law by means of navigation at sea.
The situation of maritime security in the South China Sea area
Piracy continues to increase
During the first two decades of the twenty-first century, the security situation in the South China Sea area raises the issue of piracy and armed robbery against ships while circulating through this important sea. This is considered to be one of the biggest challenges for maritime transport in the maritime economy of the world, especially in the South China Sea.
The active area of piracy in the South China Sea is mainly concentrated in two places, the Strait of Malacca and the Sulu-Celebes Strait. Located between the Malay Peninsula and the Indonesian island of Sumatra connecting the South China Sea and the Indian Ocean, the Straits of Malacca has a length of 805 km, the narrowest of which is only 1.2 km and is the main shipping route from Europe and the Americas, Africa, Middle East, South Asia to Southeast Asia and East Asia. Every year, about 50,000 crossings occupy a quarter of the total number of vessels operating worldwide. With its favorable geographic position and bustling sea economy, especially in the shipping sector, the Malacca Strait is considered to be the ideal location for Southeast Asian pirates.
The Sulu-Celebes Strait is located between the Philippines, Malaysia and Indonesia. Currently, the area is considered by the International Maritime Bureau (IMB) to be the most risky place of maritime activity in the world because this is a large scale operation of the pirate group and armed robbery against Southeast Asia’s most aggressive ship, under the control of the Abu Sayyaf Islamic militant group, is based in the southern Philippines, Abu Sayyaf. It is a complex terrain area with thousands of large and small islands and countless villages, caves, canals, alleyways, etc. Malacca Strait has natural conditions that are easy for pirate groups to handle ambushes, attack targets, evade functional forces, and transport looted goods to land for consumption. Apart from these two hotspots, the southern part of the South China Sea linking Singapore with the Anamba Islands and Indonesia’s Natuna Islands is also a relatively active area of Southeast Asian piracy.
As in the past, South Pacific piracy attacks only slow-moving, low-side cargo ships or coal-hauling barges from Indonesia to the southern Philippines, now pirate and armed robberies on the sea front has become more aggressive, extend attack objects to large cargo ships, oil tankers and fishing vessels, etc. However, the target most preferred by Southeast Asian pirates remains freighter and liquid carrier, because each hijacked tanker can give them hundreds of thousands or even millions of dollars.
About piracy operations, vehicles and armed robbery against ships, according to the conclusion of the Asian Piracy Association [3], based in Singapore, the pirates of the Pacific Southeast Asia is a very dangerous, organized group of pirates. They operate boldly and recklessly, based on highly accurate internal information sources, and at the same time proactively collect informations in a variety of sources such as bribery of metamorphosed sailors, ports, even news from some government officials and corrupt military, etc … Thanks to the source, the pirates have a very firm grasp of what cargo targets to attack, time and ship’s voyage, as well as security measures on board, and so on, so they can pursue a long course in the long haul from the time the ship leaves the port, or they can accurately pick up the target ships.
Pirates and armed robbers have a variety of weapons, equipped to fight ships. The means of piracy in the South-East Asian seas is also varied, including wooden boats pretending to be fishermen, modern high-speed trains to keep them out of flight; GPS positioning device; knife, submachine gun and machine gun. Pirates and armed robbers against boats often use high speed boats, which have large boats that they steal for use as a means of transport.
When the time comes, the pirates immediately accelerate to reach the target, break into the ship, beaten, threaten, seize the crew; break the communications, cut off communications, force sailors to slow down their slow-moving ships in order to prolong their ship’s waiting time for shipments. At the same time, they also actively contacted authorities and carriers for hostage ransom, including up to tens of millions of dollars. In addition, during congested and unobstructed airfares, they can attack fishing boats or any ships they encounter at sea.
In the Straits of Malacca- Singapore, taking advantage of the dense traffic of boats, pirates easily mix in the crowd to snatch the goods. They use small vessels of large capacity against the target ship to open daytime delivery as a normal delivery activity without fear of functional forces or nearby trains being detected, The radar image is just a dot, and the sailors of the ship are robbed and can not ring the alarm even when the naval patrol ships pass by, because the sailors on board have been seized. The hacker was buried in the cellar or guns on the head. After successfully hijacking, the pirates trap all the crew and then withdraw smoothly. When the task force discovered, it was too late, so many of the oil tankers in the waters were attacked by daytime pirates. Typical in this area include three robberies occurring in 2015, including the May 2 robbery of Ocean Energy; The Oriental Glory on May 15 and the Orkim Harmony on June 11, resulting in 6000 tons of RON 95 gasoline (more than 7 million liters), 2023 tons of gas and 2500 tons of oil with a total value of more than $ 10 million were hijacked.
In the Sulu Strait area, the Abu Sayyaf pirates often organize ambushes along the route from the East Sea to the Western Pacific and the sea lanes linking the Philippines, Malaysia and Indonesia. When the target appears, the party will follow, wait until the evening or when the crew loses alertness to act. This group can detain ships from 7-10 days to find customers to consume goods without fear of detection function. The Abu Sayyaf pirates are particularly dangerous, in addition to robbery, they kidnap sailors for ransom, they are ready to kill hostages if their requests are not met. In the past two years, the Abu Sayyaf crew has arrested Malaysian, Indonesian and Filipino sailors. On February 19, 1977, the group attacked the Vietnamese ship Jiang Hai in the waters above, shooting dead sailor Vu Duc Hanh, arrested six others after smashing many vehicles and drifting away. Earlier on November 13, the Royal Navy of Vietnam Royal Marine Joint Stock Company was attacked by the Abu Sayyaf pirate group, seizing six sailors after injuring one man.
Smuggling and commercial fraud on the sea
Along with the piracy raging, the smuggling and trade frauds in the sea in Southeast Asia also increased sharply in number of cases, objects as well as arrested exhibits. Although there is not much evidence, many experts in the South China Sea study said that the sea smuggling forces are tolerating and the main consumer channel for selling pirate goods. In the waters of Vietnam, smuggling and trade frauds are happening, with gas, oil, coal, titan ore, wood and drugs being the most common. From 2012 to September 2015, the Coast Guard and Border Guards separately found and detained in the Southwest Economic Exclusive Zone; in the coastal areas of Quang Ninh, Hai Phong, Nghe An, Ba Ria – Vung Tau, Soc Trang 69 seizures with 7 out of 45 traffickers being foreigners, confiscated 21.773.682 liters gasoline, oil of all kinds, collected 280 billion Dong for state budget. In 2016, the Border Guards force detects and arrests 213 cases/ 563 subjects, collecting more than 10 million liters of petrol, the typical of which is the transport of more than 5 million liters of gulled oil by a foreign ship into Vietnam in Phu Yen, semi-commercial sale of the total amount of remittances to the budget of 61 billion; captured 68 cases / 124 subjects, seized 88.762 tons of coal, 6.770 m3 of sand, 65.589 bags of foreign cigarettes, more than 2 tons of firecrackers and many other valuable items, collected 145.8 billion Dong. In the first quarter of 2017, the force continued to seize 1.514.000 liters of petrol, 2.574.190 liters of oil, 15.829 tonnes of coal, more than 100.000 cigarettes, more than 3 tonnes of firecrackers, 4 kilograms of heroin, and 10.5 kilograms opium, etc.; the total value of material evidences temporarily kept about 151.2 billion Dong.
In terms of tricks for petroleum products, the domestic groups are closely associated with foreign objects using ships or boats that do not hold national flags or converted ships to transship oil purchased from foreign ships in adjacent waters. Some of the gasoline and gonad is sold directly to fishermen in fishing grounds. More sophisticated, the local producers also established many legal entities in the petroleum business in the local area, taking advantage of the sale and transportation between companies to legalize the purchase of oil illegally purchased from foreign vessels for domestic consumption. Whenever ships carrying gasoline and oil arrive in Vietnam’s sea, they immediately notify the smaller ships to the conventional site to move to the mainland, divided into land. Vessels take goods in their contracts, short sale invoices between companies within the same system, after receiving the oil, the contract finalizers and vouchers are matched with the goods received for transfer to the warehouse or take away for consumption.
There are also many businesses hiding under the guise of importing petroleum, but the volume of petroleum is just 1/3 to 1/5 of the actual import amount for tax fraud. Typically, bulk fraud of Duong Dong Hoa Phu Company in Hoa Phu, Tuy Phong, Binh Thuan. On January 29, 2016, the General Department of Customs has examined and caught the Singapore-based CHRISTINA Tanker which was pumping gasoline into the warehouse for this company. According to the customs declaration number 100726667900, the company reported that the quantity of RON 92 imported was 1.877,5 tons, but the actual import volume was 9.373,6 tons, 5 times more the amount declared and cheat 10.593,076 liters Moreover, in the context of illegal trade, they now usually do not using cash, the transfer through bank onshore bank international oil smuggling procedures are closed, very difficult to detect.
In addition, the situation of smuggling coal and minerals in the South China Sea area has complicated many times, the heat only ranked second after smuggling gasoline. Tricks are also more reckless and sophisticated. Buyers of coal from many sources, using the records, invoices, used vouchers which modify the date and month to reuse to validate the source. Moreover, because of the variety of coal, making it very difficult for functional forces to determine the true quality and price of the shipment. Since verification takes a lot of time, subjects easily use counterfeit invoices to bypass the authority. Not only that, coal transport vehicles are well-invested by investors, often large-capacity vehicles, anchored offshore, employing experienced sailors, taking advantage of the dark night, bad weather to take small vessels to transport coal from the inland; this makes it difficult for specialized forces in the process of deploying forces to capture. In addition, to divert functional forces, smugglers paint the ship’s name change, or for the means of loops to avoid locks, border stations, disguised as inland transportation but when reaching the delimitation line in The Northern Bay suddenly surged to change direction to China.
In drug trafficking, the United Nations Office on Drugs and Crime says that Southeast Asia is currently the world’s largest integrated drug producer with pre-packaged drug substance supply granted from India, China. Meanwhile, drug traffickers formed in the Middle East, West Africa are opting for Southeast Asia as a place to consume or transit narcotics into third countries, which are linked to drug trafficking in Latin America to organize the shipment of cocaine to Southeast Asia by sea. According to the functional forces, drug shipments by sea are often very large. Moreover, sea transport makes the fight against crime more difficult than road and air, because of the wide area, easy to hide, easy to mourn, while the nation’s blocking forces are very small.
If innocent domestic criminals often use fishing boats, passenger ships, small transport ships to transport drugs at high winds, international drug cartels are transported on board super-weigh, hide in the container. If the source of the search does not detect the drug, the functional forces will face international lawsuits. In addition to these facilities, criminals also use submarines to transport drugs. Typical examples of drug shipments by sea were discovered in Vietnam: the arrest of the police at the toll station of Highway 6 Luong Son, Hoa Binh on March 18, heroin is on the way to port; or the capture of a container concealed of 2.8 tons of dried thirst leaves on March 21, 2017 at Tan Vu port, Hai Phong, which is a leaf that has amphetamine-like stimulant but has a faster action and many times more dangerous than rock drugs. Previously, on May 20, 2015, the Drug Enforcement Police in cooperation with the Hong Kong Police arrested two En Xanvado and one Colombian seized at Cat Lai Port Ho Chi Minh City 31.6 kg of cocaine and block of 16.9 kg of cocaine being transported from Hong Kong’s port of Hai Phong are all well documented in containers or the capture of 490 cakes of heroin hidden in bottles. Industrial gas ships carrying thousands of tons in July 2015.
Intrusion of the sea to catch fishery
Under the Fishery Cooperation Agreement in the Gulf of Tonkin signed between the Government of China and the Government of Vietnam in 2000, the two sides established a 33.500 km2 general fishing area, which range from the 20th parallel down to the closed road of the bay gate, 30.5 nautical miles from each side. Vietnam has about 2.500 boats and China has about 1.000 licensed vessels. However, due to the large area, the regular patrol force of Vietnam for many years has only 6-8 ships, so the number of unlicensed vessels mixed with the vessels allowed to catch fishing vessels to illegally exploit seafood and smuggling are huge. Each year, in this area the Vietnamese functional forces have detected, processed and disposed of 1.200 Chinese vessels in violation. In the waters of the Paracels and Spratly Islands, Chinese fishing vessels spill over fishing grounds, chase fishing boats. They even went to the convoy of hundreds of ships to penetrate into the territorial waters, for example only 5km to the Indonesian island of Natuna to catch fish, ready to sink fishing vessels of other countries. China’s cruise ships and hatchets, freed for their fishing boats, were arrested and detained by functional forces. Recently, in the waters of the provinces from Quang Ngai to Binh Thuan, Vietnam’s functional forces have discovered and repelled many foreign invaders, including hundreds of strikes. Not only did they sink into Vietnamese fishing boats, they jumped on Vietnamese fishing boats, beat up fishermen, robbed many of their assets, etc., making maritime security very complex. Typically, on the 16th of May 1414, the fishing vessel of the Quang Ngai fishermen was hit by the Chinese vessel number 306, seriously wounded captain Nguyen Tan Hai and a fisherman, robbed 8 tons of seafood, communication equipment and more than 2.000 liters of diesel oil; or the fishing vessel of Quang Nam fishermen QNa-95861 TS was hit by a strange ship on November 26, 2015, shot dead Mr. Truong Cong Bay. On 03/5/2016, Pham Phu Thanh’s Quang Nam QNa-95959TS was also attacked by a strange vessel near two nautical miles and sunk in the Hoang Sa waters. Fortunately, 34 fishermen were taken by Pham Phu Trung’s ship which came to help. In addition to submerging Vietnamese fishing boats, some strange boats also prevented Vietnam’s fishing boat to save fishermen and made public opinion very discontented.
Due to the lack of navigation equipment and the loss of fishing grounds, in 2016, many Vietnamese fishermen have washed up in overlapping waters with Indonesia, Malaysia, Thailand, the Philippines, etc., to exploit seafood and were arrested. In particular, Indonesia has arrested more than 400 Vietnamese fishermen, captured and destroyed many fishing vessels of Vietnamese fishermen, Malaysia arrested 10 vessels and 87 fishermen, Thailand captured 17 ships, holding 113 fishermen, two people and a missing person. In addition, the safety of maritime traffic in the South China Sea is also a problem due to the large volume of daily traffic. In 2016 and the first quarter of 2017, dozens of large cargo ships sank small or medium sized fishing ships or trains and fled, ignoring search and rescue responsibilities. Many Vietnamese ships are victims with very heavy consequences. Among these cases, the fishing vessel number QB-3969TS of resident Nguyen Van Hoa residing in Quang Trach district, Quang Binh, was sank on March 20 near Hon La island 92 miles east; or a marine accident occurred between Hai Thanh 26 and 14 Petrolimex vessels on 28 March Vung Tau seaports caused Hai Thanh ship collapsed and caused 9 crew died.
Dr. Nguyen Thanh Minh, Marine Police Command
Session 2: A number of mechanisms for cooperation and forecasting of the upcoming situation
Key References:
See also Nguyen Thanh Minh (2016), Combating Piracy, Armed Robbery in Asia-Pacific and Current Issues, Journal of International Relations, No. 33.
Pirates of South East Asia, Youth, September 23, 2016.
Pirates change tactics, how ships react, Journal of Traffic, March 5, 2017.
Piracy in Southeast Asia, Saigon Economic Times, 18/11/2016.
Southeast Asia faced piracy, workers, March 30, 1977.
About 400 Vietnamese fishermen are being held by Indonesia, Youth, on 22/8/2016.
7. Causes of fishermen arrested abroad, VTV.vn, 05/4/2016.
8. Fishing boat sunk in Hoang Sa, 34 fishermen under the sea, Vnexpress.net, 04/05/2016.
Fishing vessels of Quang Binh fishermen were stranded, Vietnam education, March 25, 1977.
Hot gasoline smuggling on the sea, Customs, November 17
Complex sea smuggling incident at the end of the year, People’s Council, 26/11/2016.
The main outline of US’s policy in the Asian region, especially with China and the South China Sea
The main lines of US’s policy in the Asian region, especially with China and the South China Sea area of US Presidential Administration Donald Trump were analyzed in detail in the article by Mark J. Valencia, senior scholar at the East Sea Research Institute in Haikou, China, published in the Japan Times last June.
Continuing the Obama policy, emphasizing the military aspect
Initially, the Trump administration had a stern attitude in criticizing issues related to China in general and China’s actions in the South China Sea in particular. However, recently, the Trump administration seems to have begun to take a rather modest stance. In fact, that policy is somewhat familiar. It is a continuation of the tactics of the predecessor Barack Obama, but it seems to emphasize military elements.
The US military’s freedom of navigation operations (FONOPs) in the South China Sea are considered as indicators to measure the US’s determination in the South China Sea issue. Under US President Barack Obama, the United States has carried out at least six maritime freedom operations in the South China Sea to challenge China’s claims.
Last May, the Trump administration also performed its first FONOP operation in the South China Sea. The USS Dewey rocket destroyer has conducted training within 12 nautical miles of the Mischief Reef, which China built artificial (illegal) islands in the South China Sea.
The United States Department of Defense later announced that its navy would continue to conduct regional maritime activities at larger scale, although they did not necessarily intend to comprehensively challenge China. The Pentagon insists that the frequency and extent of such disclosure in the future depends on the actual situation in the South China Sea.
“Make a deal!”
In addition, scholar Mark J. Valencia said that prior to the first FONOP operation, the Trump administration rejected three requests from the US Pacific Command (PACOM) to carry out new FONOP operations when China claimed sovereignty over the South China Sea.
According to Valencia, there are indications that President Trump is taking a “negotiating” approach in his foreign policy by taking back actions and criticisms aimed at China on a global level and in the South China Sea in particular, in exchange for China’s assistance in stopping nuclear weapons and North Korea’s missile development program.
That approach is the foundation for recent US activities and declaration. US Secretary of Defense James Mattis has balanced his praise of China for helping North Korea and criticizing “China’s military activities on artificial islands”, “maritime claims contrary to international law”.
However, his tone sounded harsher when he stressed that the United States “can not and will never accept unilateral forced changes to the status quo in the South China Sea.”
Mattis also outlined a combined policy that both supports and proves “international law” when necessary; promotes a deeper connection to security issues; strengthens US military capabilities in the region; strengthens US defense relations with willing partners and alliances, including training and arms sales. Basically, this approach is similar to that under Secretary of Defense Ashton Carton in the Asia-Pacific region.
But recently, US Secretary of State Rex Tillerson expressed a stronger stance when he told Congress on June 14 that he warned China of its current foreign policy of “pushing the United States – China to conflict situations” if the conflict is not resolved properly.
The person in front of the “spearhead”
However, scholar Valencia said that because President Donald Trump, Secretary of Defense Mattis, Secretary of State Tillerson seems too preoccupied with other issues both domestically and internationally, then Commander PACOM, Admiral Harry Harris seemed to become the “spearhead” of Washington’s strategic approach to China. According to security analyst Carl Thayer, Harris has always followed American traditions in the Asian region. ” At the very least, he is responsible for implementing the policy”.
Observers say part of Defense Minister Mattis’s speech at the Shangri-La, which criticized the crackdown on the South China Sea, mirrors Harris’s view and US stronger position in the South China Sea.
“We will continue to work in areas where we can but be ready to confront if we have to. We continue to focus on building important relationships, but at the same time ensuring that the United States has the strength to fight aggressively to implement security commitments and also to strengthen US diplomacy”.
In short, the policy of the South China Sea issue of Donald Trump’s administration is a follow-up to Obama’s policy but more emphasing on the military aspect. However, if China is unwilling or unsatisfactory on the issue of the DPRK or on other deals proposed by the US, the military element of American foreign policy is likely to become the main factor, even the only one./.
Russia and Vietnam have upgraded their relationship to a comprehensive strategic partner. Vietnam-Russia are developing a joint project on oil and gas in the South China Sea and Moscow also wishes to return to Cam Ranh Bay and sell advanced weapons to help Vietnam improve its defense capabilities. An evaluation of Oilprice Magazine.
In “Putin’s Plan in the South China Sea,” Oilprice analyzes Russia’s East Sea policy.
First of all, Oilprice notes that Russia’s policy on the South China Sea dispute is more complex than it appears. On the official level, Moscow is an external agent, not a party involved in the dispute. According to the Russian Foreign Ministry, Moscow has “never been involved in a dispute in the South China Sea”, and the Russian principle is “not to stand on one side of the dispute”.
However, according to Oilprice, behind the formal appearance of not engaging itself, Russia still strengthens its military presence in the Asia-Pacific region and negotiates billions of dollars of arms and oil with many parties. These points out that, despite not having direct disputes in the South China Sea, Moscow still has strategic objectives, rights and actions that have a direct bearing on the situation in the South China Sea.
A quarter of the Russian military modernization program up to 2020 is devoted to the Pacific Fleet, headquartered in Vladivostok, Russia’s Far East, for better equipment used in operations in far waters.
According to Oilprice, Russian-Chinese military cooperation has come to the level in which Putin has seen China as natural partner and natural ally. The joint naval junction between the two countries – Joint Sea 2016 – also took place in the South China Sea, and was the first such exercise between China and a second country in the South China Sea after the decision of the International Court in The Hague on the claim of Beijing’s so-called “nine dash line” in the South China Sea.
(Chinese naval exercises to occupy the island with the Russians in the South China Sea in September 2016)
Oilprice noted that relations between Russia and Vietnam are also on the same trend: Russia and Vietnam have upgraded relations to “comprehensive strategic partners”. Vietnam and Russia are developing a joint oil and gas project in the South China Sea and Moscow is also expressing its desire to return to Cam Ranh base while selling advanced weapons to Vietnam to help Vietnam improve its military capabilities.
According to Oilprice, Moscow’s current behavior does not seem to be very similar to the official statements. The simultaneous strengthening of cooperation with both Beijing and Hanoi makes Russia’s intentions more difficult to understand, and needs to be taken into account in many respects regarding Russia’s diplomatic interests.
This research agency thinks that great powers often play diplomatic games on many levels, and sometimes these levels overlap on specific issues or areas. On the issue of the South China Sea, Russia’s foreign policy is deployed on two levels that overlap: at the global level, Russia wants to balance its forces against the monopoly status, and at the regional level “a zoning policy” to protect interests.
At the global level, based on current power relations and perceptions of major threats, as a country seeking a balance of power system in the world which is now dominated by the United States, Russia challenges the uniquely American leadership in several ways, as demonstrated in Georgia, Ukraine and Syria. This balance of influence has brought Russia closer to China, as Russia wants to challenge American dominance.
Thus, Russia’s and China’s assessment of external threats coincide in that they view US policies as threatening to them – the development of NATO to the east in the case of Russia, and the strategic rotation axis to Asia of America with China.
The pressure from American world leadership, plus Russia and China’s counterbalance, pushed the two countries closer. From this standpoint, the South China Sea issue for Russia is part of a larger global game.
The second level is regional, stemming from national and regional goals: Moscow wants to diversify relations and avoid instability that could harm Russia’s economic interests.
In terms of trade, Russia wants to benefit from energy contracts, infrastructure and weapons. By strengthening cooperation with Hanoi, including cooperation in military technology, arms exports, joint ventures in energy projects, Moscow created a balance of forces and interests in the South China Sea. At the same time, it has diversified its partnership with Asian countries, with Vietnam being the gateway into the ASEAN community.
This explains why Russia is sympathetic to Vietnam’s concerns in the South China Sea. The overlap between the two levels has made Russia’s East Sea policy difficult to understand.
According to Oilprice, the main consequence of the «two levels» game is that, for Russia itself the issue of the South China Sea, as well as Russia’s response policy, is a variable rather than a constant: Moving from the sovereignty issue in the region to the confrontation of the US-China, Russia’s behavior is more balanced. In contrast, if the United States is less engaged, the more Russia’s policy moves away from the level of global balance of power and more regional zoning factors.
So far, the two levels mentioned in Russia’s South China Sea policy in the South China Sea are still operating well, not in conflict.
Oilprice commented that Vietnam had benefited from the cooperation with Russia. Unlike relations with the United States, the partnership with Russia allows Vietnam access to advanced weapons technology, energy, and avoid being trapped in US-China confrontation. Moreover, Vietnam has a lot of experience in using Russian weapons and equipment.
Oilprice said Russia’s policy was not too offensive to its giant neighbor. Russia-Vietnam strategic partnership with military elements is better than the prospect of strengthened Hanoi-Washington relations.
(Russia’s anti-shipping missile Bastion bought by Russia
Battleship Dinh Tien Hoang Gepard class of the Vietnamese navy)
Although neighbors are not satisfied with Russia’s arms transfers to Vietnam, if the transfer is to decline or stop, it will force Vietnam to change its policy of diversifying its current military relationship to favor Washington. Consequently, observers say that while insisting on the internationalization of the South China Sea dispute, Beijing has accepted Russian involvement as well as Russia-Vietnam cooperation, Oilprice said.
On the Russian side, while maintaining good relations with both China and Vietnam, Moscow is implementing its regional and global goals: increasing Russia’s influence in the Asian balance of power, and reshaping the South China Sea dispute in oder to give Moscow more room for multilateral negotiations, concluded Oilprice./.
Có thể nhận định, việc tăng chi tiêu quốc phòng là một xu thế chủ đạo ở ĐNA trong những năm gần đây, mặc dù ở mỗi nước quy mô và tốc độ gia tăng có khác nhau.
Điều đáng nói là cuộc chạy đua này không mang nghĩa truyền thống bởi ở khu vực hiện không tồn tại đối đầu quân sự giữa hai nước hay giữa các nước với nhau; các nước tăng sức mạnh quốc phòng cũng không nhằm đối phó hay cân bằng lại sự gia tăng vũ trang của nước khác. Đối với 3 nước Việt Nam, Indonesia, Philippines, mối nguy cơ từ một nước TQ hiếu chiến là rõ ràng hơn, đặc biệt trước các tham vọng trên biển Đông của Bắc Kinh. Tuy nhiên, tăng cường sức mạnh ở ba nước này không nhằm chạy đua với TQ hay nhằm cân bằng lực lượng với TQ. Sức mạnh của TQ nếu so với từng nước trên vẫn ở thế vượt trội và việc chạy đua với TQ là điều “vô nghĩa”.
Ngoài mối đe dọa từ bên ngoài, Philippines và Indonesia còn phải đối phó với các thách thức an ninh trong nước từ chủ nghĩa khủng bổ và những phần tử ly khai. Một đặc điểm nổi bật của cuộc chạy đua vũ trang ở ĐNA hiện nay đó là mục tiêu của nó chủ yếu nhằm hiện đại hóa trang thiết bị quốc phòng vốn đã cũ kỹ, chứ không phải sự gia tăng về chất hoặc về lượng ở quy mô lớn có thể làm thay đổi cân bằng lực lượng ở khu vực. Một số đánh giá cho thấy 1/3 số tàu của hải quân Indonesia không thể hoạt động hoặc chỉ hoạt động được một cách hạn chế.
Những xu hướng lớn trong chính sách chi tiêu quốc phòng ở ĐNA
Nhìn vào sự gia tăng chi tiêu quốc phòng mạnh mẽ của hàng loạt nước ĐNA thời gian qua, có thể thấy một số xu hướng lớn như sau:
Đầu tiên là việc trong khoảng 1 thập kỷ qua, các nước khu vực đã có sự điều chỉnh đáng kể chính sách quốc phòng, từ trọng tâm các vấn đề an ninh trong nước chuyển sang trọng tâm là tăng cường năng lực phòng vệ đất nước. Một ví dụ là Philippines. Năm 2005, Philippines không có lực lượng trực thăng trong không quân nhưng đến năm 2014, Manila đã đặt mua 12 máy bay chiến đấu của Hàn Quốc.
Xu hướng thứ hai là trong khoảng 10 năm qua, các hoạt động hiện đại và mở rộng sức mạnh vũ trang tập trung chủ yếu cho không quân và hải quân nhằm mục đích xây dựng năng lực phòng không và kiểm soát hải phận. Việt Nam, Indonesia, Singapore và Thái Lan gần đây đã mua mới nhiều loại tên lửa tầm xa và tàu ngầm trang bị các loại đầu đạn tấn công. Indonesia, Malaysia, Singapore và Việt Nam cũng trang bị mới các loại tên lửa chống tàu. Lực lượng bảo vệ bờ biển của Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Myanmar, Singapore và Philippines mua mới nhiều tàu tuần tra, tàu khu trục, tàu chiến nhằm tăng năng lực kiểm soát và bảo vệ biển. Indonesia, Singapore, Việt Nam, Thái Lan còn trang bị các hệ thống radar hiện đại.
Thứ ba là nhiều nước ở ĐNA muốn đẩy mạnh xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng. Chính phủ Thái Lan, Indonesia, Việt Nam và Singapore đã không giấu giếm về việc muốn giao cho các tổ hợp công nghiệp trong nước các hợp đồng trang bị mới ký kết với các tập đoàn nước ngoài. Trong bối cảnh này, các nước hầu hết đều muốn ký với đối tác nước ngoài những hợp đồng có các điều khoản cụ thể quy định về chuyển giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực quốc phòng. Indonesia đã ký các hợp đồng như vậy với Hàn Quốc trong việc đặt mua các tàu ngầm thế hệ mới.
Nguyên nhân dẫn đến tăng cường vũ trang ở ĐNA
Lý giải đầu tiên cho sự tăng cường vũ trang này là môi trường an ninh chiến lược trực diện ở khu vực đang có nhiều thay đổi lớn. Đối với một loạt nước ở khu vực, cách hành xử quyết liệt hiếu chiến của TQ ở Biển Đông cùng với sự thiếu rõ ràng về tham vọng địa chiến lược của Bắc Kinh đã làm các nước buộc phải mở rộng và hiện đại hóa lực lượng vũ trang của mình. Song song với đó là sự thiếu lòng tin của các chính phủ ở ĐNA đối với tính hiệu quả của những cơ cấu an ninh hiện có ở khu vực, vốn dựa trên nền tảng là các quan hệ đồng minh song phương giữa Mỹ với từng nước ở khu vực. Giải thích cho điều này xuất phát từ việc TQ tự rút ra khỏi các cơ cấu an ninh đó, mặt khác là ý đồ của TQ muốn thách thức địa vị thống trị của Mỹ ở khu vực.
Lý do tiếp theo đó chính là các nước ở khu vực ngày càng nghi ngờ về mức độ can dự và những cam kết an ninh của Mỹ ở ĐNA. Washington vốn đã dồn sức cho các chiến trường Iraq, Libya và nhiều nơi khác trên thế giới dường như không còn đủ lực để ngăn cản những tham vọng của TQ ở ĐNA, đặc biệt ở Biển Đông. Đặc biệt là những nước có tranh chấp trực tiếp về chủ quyền trên biển với TQ khi họ vừa không nhìn thấy vai trò của ASEAN trong cơ chế bảo đảm an ninh ở khu vực, vừa nghi ngờ về ảnh hưởng thực tế của Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump./.
—
Tham khảo:
-https://www.sipri.org/databases/armstransfers
-Trends in international arms transfers 2015, SIPRI
-Trends in international arms transfers 2016, SIPRI
Đông Nam Á (ĐNA) đã tăng cường vũ trang đáng kể thời gian qua. Theo số liệu năm 2015 của Viện nghiên cứu hòa bình Stockholm (SIPRI), chi tiêu quân sự ở khu vực đã tăng trung bình trên 5%. Nếu nhìn vào thời gian 10 năm, xu hướng này còn rõ rệt hơn khi từ 2006-2015, chi tiêu quân sự ở ĐNA đã tăng tới 57%.
Xét theo con số tuyệt đối (USD), chi tiêu quốc phòng của Việt Nam, Indonesia và Campuchia đã tăng gấp đôi từ 2005-2015. Chi tiêu của Thái Lan và Philippines cũng tăng mạnh. Tính từ 2011-2016, Việt Nam thậm chí nằm trong số 10 quốc gia nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới (xếp thứ 8 với tổng giá trị 4,1 tỷ USD), tăng gấp 7 lần mức chi của giai đoạn 2006-2011. Con số của Thái Lan giai đoạn 2011-2016 gấp 5 lần giai đoạn 2006-2011, còn Indonesia tăng gấp đôi.
(Số liệu của Viện SIPRI)
Sự gia tăng mạnh mẽ chi tiêu quốc phòng ở ĐNA và những xung lực mới về chính trị – an ninh ở khu vực cho thấy giai đoạn “ổn định và an ninh tương đối” ở khu vực ĐNA (ASEAN), tính từ năm 1979 sau chiến tranh biên giới Việt – Trung, đã dần kết thúc. Những biểu hiện chính cho nhận định này bao gồm, một là xung đột lãnh thổ giữa một số quốc gia ở khu vực chưa được giải quyết triệt để, hai là chủ nghĩa dân tộc ngày càng gia tăng, ba là sự thiếu hụt lòng tin chiến lược đối với các nước láng giềng (được hiểu là với Trung Quốc/TQ) và bốn là sự đối đầu giữa Mỹ và TQ. Trước các diễn biến mới này, mẫu số chung của các nước ĐNA đều là đẩy mạnh tiềm lực quân sự nhằm đối phó với các “mối đe dọa tiềm tàng”. Hệ quả là sự ổn định của khu vực bị suy giảm, ví dụ như sự căng thẳng giữa các nước liên quan tranh chấp trên Biển Đông có thể dẫn tới nhưng nguy cơ mất an ninh chưa lường trước được, và nếu xảy ra sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế thế giới bởi Biển Đông có thểm xem là nơi có một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới hiện nay đi qua.
Hai nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng vũ trang hóa ở khu vực hiện nay đó là sự hiếu chiến của TQ ở ĐNA, đặc biệt là những yêu sách phi lý của TQ đối với chủ quyền Biển Đông, trong khi đó sự can dự của Mỹ có dấu hiệu đi xuống dưới thời ông D.Trump. Ngoài hai nhân tố bên ngoài này, các yếu tố bên trong cũng có ảnh hưởng đáng kể tới xu hướng gia tăng chi tiêu quốc phòng ở ĐNA, gồm một là các phong trào nổi dậy có vũ trang ở một số nước khu vực và hai là ảnh hưởng của phái quân sự trong chính phủ các nước ngày càng lớn, ở một số nước thậm chí là vai trò chi phối (như Thái Lan).
Đáng chú ý, cuộc chạy đua vũ trang mới ở ĐNA thời điểm hiện nay cũng không phải là một cuộc chạy đua vũ trang theo nghĩa truyền thống, tức là chạy đua nhằm hình thành cục diện “Hành động-Phản ứng-Chiến tranh” hay nhằm cân bằng lực lượng vũ trang mà chủ yếu là nhằm gia tăng năng lực quân sự phi đối xứng với mục tiêu chủ yếu là để hạn chế sự tự do di chuyển và chọn lựa chiến lược của đối phương. Một đặc điểm nữa của cuộc chạy đua lần này là việc quân sự hóa tập trung mạnh mẽ ở hai lực lượng hải quân và không quân.
Điều nghịch lý là chạy đua vũ trang ở ĐNA hiện nay tuy không dẫn tới nguy cơ xung đột chiến tranh giữa các nước, nhưng nó cũng không bảo đảm được sự ổn định cho khu vực, trong bối cảnh các nước ở khu vực hiện vừa thiếu lòng tin chiến lược với một số nước bên ngoài (TQ), bản thân các bên vừa không có sự rõ ràng về chính sách và chi tiêu quốc phòng, lại thiếu một cơ chế kiểm soát vũ trang lẫn nhau./.
Theo thời gian, chiến thuật “vùng không phân định trắng đen” đã đi theo hướng “bớt trắng thêm đen”, mang tính cưỡng ép hơn sau khi Bắc Kinh công bố “đường 9 đoạn” vào năm 2009. “Ngoại giao nụ cười” mang nhiều yếu tố “trắng” được thay thế bằng “ngoại giao cây gậy nhỏ”.
Việc ngăn chặn sự gây hấn trong “vùng không phân định trắng đen” là rất khó khăn. Những người giữ gìn một trật tự hiện tại – một trật tự như tự do hàng hải chẳng hạn – thấy mình rơi vào tình trạng mâu thuẫn. Đó là vì trong “vùng không phân định trắng đen”, những bên gây hấn cố ý không phá vỡ ngưỡng giữa hòa bình không yên ổn và xung đột vũ trang, để biện minh cho một phản ứng quân sự. Thay vào đó, họ phá hủy nguyên trạng từng chút một và thay thế nó bằng một tình trạng mới.
Các cuộc tấn công từng phần buộc những người bảo vệ nguyên trạng phải xem xét các lựa chọn không hấp dẫn. Họ có thể hành động trước và chịu trách nhiệm về sự bùng nổ của chiến tranh, về việc chấp nhận những rủi ro quá mức, về việc khiêu khích cường quốc theo chủ nghĩa xét lại, hoặc về việc gây bất ổn cho hòa bình. Hoặc, không sẵn sàng gánh chịu những phí tổn đó, họ đành chấp nhận không hành động hoặc có các biện pháp nửa vời. Bị xui khiến phải thoái thác các quyết định khó khăn, các chính trị gia có thể lan man và từ bỏ thế chủ động. Hoặc họ có thể leo thang và chứng kiến nước mình bị gắn mác “kẻ bắt nạt”.
Một lựa chọn không thể chấp nhận được. Các chiến lược “vùng không phân định trắng đen” được thiết kế chính xác nhằm áp đặt những tình huống tiến thoái lưỡng nan như vậy lên những người giữ gìn trật tự hiện tại.
Cách tiếp cận từng bước này khiến người ta liên tưởng đến câu chuyện của Thomas Schelling quá cố về đứa con bất trị làm nhụt dần ý chí của cha mẹ bên bờ biển. Schelling xác nhận: “Bảo một đứa trẻ không được xuống biển, và nó sẽ ngồi bên bờ, nhúng chân vào nước; nó vẫn chưa ‘xuống’ biển. Chấp thuận điều đó, và nó sẽ đứng dậy, nhưng vẫn chỉ nhúng chân xuống nước như cũ. Suy nghĩ một chút, và nó sẽ bắt đầu lội nước, không xuống sâu hơn; dành vài phút để nghĩ xem liệu điều này có khác biệt gì không và nó sẽ xuống sâu hơn chút nữa, lập luận rằng vì nó đi lên rồi lại đi xuống nên như vậy sẽ bù trừ cho nhau. Chẳng mấy chốc ta phải gọi nhắc nó không được bơi xa quá, và tự hỏi kỷ luật của ta đã biến đâu mất rồi”.
Tương tự, trong vài thập kỷ gần đây, Bắc Kinh đã nghĩ ra một loạt mưu mẹo để gây bối rối cho những người phản đối tuyên bố của họ về chủ quyền đối với các đảo, vùng biển và vùng trời. Trung Quốc bắt đầu bằng các chiến thuật “vùng không phân định trắng đen” phần lớn là vô thưởng vô phạt, “trắng nhiều đen ít” cách đây 25 năm, nhưng qua thời gian họ đã “bớt trắng thêm đen” một cách cưỡng ép khi những tham vọng và quyền lực của họ gia tăng.
Thứ nhất, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) đã đưa thành pháp luật trong nước tuyên bố chủ quyền với lãnh thổ ngoài khơi vào năm 1992, tuyên bố rằng Trung Quốc nắm quyền tài phán đối với các cấu trúc địa hình bị tranh chấp ở Biển Đông cùng với vùng biển xung quanh. Các chính phủ và phương tiện báo chí phương Tây coi diễn biến này gần như không đáng đưa lên mặt báo, phần lớn vì Bắc Kinh gần như không có nỗ lực nào để thực thi luật này. Tuy nhiên, dù có tác động nhẹ, Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp này đã tạo nên một tuyên bố khoa trương về ý định đối với các vùng biển lân cận của Trung Quốc.
Sắc lệnh hầu như đã bị lãng quên này đã mở đường cho sự khẳng định hơn nữa thẩm quyền pháp lý đồng thời biện hộ cho các chiến lược “vùng không phân định trắng đen” mang tính phô trương sức mạnh hơn. Chẳng hạn, năm 2009, ban lãnh đạo CCP đã đưa ra một bản đồ Biển Đông trước Liên hợp quốc, trên đó vẽ một “đường 9 đoạn” phác họa tuyên bố về chủ quyền “không thể tranh cãi” hoặc “không thể bác bỏ” của họ đối với khoảng 80%-90% vùng biển này. Sau đó họ đã bất chấp phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 bác bỏ yêu sách của họ trong vụ kiện giành chủ quyền. Dường như Bắc Kinh gần như không có lòng trung thành với các cam kết mà họ đã tùy tiện hứa hẹn – chẳng hạn như cam kết theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển – khi hoạt động trong “vùng không phân định trắng đen”.
Trung Quốc cũng đưa các yêu sách của mình lên vùng trời. Năm 2013, ban lãnh đạo nước này đã ra tuyên bố về một vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông, bao hàm các đảo do Nhật Bản và Hàn Quốc quản lý. Họ đã khẳng định quyền điều tiết giao thông hàng không di chuyển lên và xuống vùng ven biển châu Á, song song với bờ biển, thay vì giao thông đi đến Trung Quốc. Việc kiểm soát không gian – chứ không phải bảo vệ Trung Quốc trước các máy bay đến nước này – đã thể hiện mục tiêu thực sự của họ. Nhưng ngay cả ở đây, Bắc Kinh cũng chỉ tìm cách thực thi vùng phòng không của mình một cách miễn cưỡng – gần đây nhất là bằng cách thách thức một máy bay ném bom của Không quân Mỹ bay tới Hàn Quốc. Chiến lược trên không của họ vẫn “trắng ít đen nhiều”, dù không phải trên bình diện nguyên tắc thì cũng trên bình diện thực hiện.
Thứ hai, “ngoại giao nụ cười” của Trung Quốc mang nhiều yếu tố “trắng” nhất trong những việc liều lĩnh “trắng nhiều đen ít”. Bắt đầu vào những năm đầu thập niên 2000, Bắc Kinh đã thiết kế một câu chuyện ngoại giao được rút ra từ sức thu hút của nhà hàng hải thời cổ đại Trịnh Hòa. Đô đốc triều đại nhà Minh này đã chỉ huy một loạt “chuyến đi tìm báu vật” cách đây 6 thế kỷ, khôi phục hệ thống cống nạp của Trung Quốc ở Nam Á và Đông Nam Á mà không cần đến các cuộc chinh phạt lãnh thổ. Giới quan chức thời hiện đại cố gắng hết sức để trấn an những người châu Á khác rằng Trung Quốc sẽ đi theo mô hình của Trịnh Hòa. Họ sẽ biến mình thành một cường quốc biển đầy uy lực nhưng vẫn rộng lượng. Người ta có thể tin tưởng họ không lạm dụng các nước láng giềng yếu hơn.
Tóm lại, ngoại giao nụ cười đã tạo thành một nỗ lực nhằm xây dựng hình ảnh Trung Quốc như một cường quốc duy nhất đáng tin cậy – và dập tắt tiếng nói chống lại sự trỗi dậy trên biển của họ. Tới cuối những năm 2000, khi Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn, các cử tọa khu vực nhìn chung đều dễ dàng tiếp nhận thông điệp êm dịu này.
Thứ ba, các chiến thuật “vùng không phân định trắng đen” đã đi theo hướng “bớt trắng thêm đen”, mang tính cưỡng ép hơn sau khi Bắc Kinh công bố “đường 9 đoạn” vào năm 2009. Trịnh Hòa đã ngay lập tức bị vứt bỏ để nhường chỗ cho cái mà các tác giả gọi là “ngoại giao cây gậy nhỏ”. Điều đó có nghĩa là thay vì giơ “cây gậy lớn” là sức mạnh hải quân, các nhà lãnh đạo CCP đã chuẩn bị “cây gậy nhỏ” là việc thực thi luật biển cùng lực lượng dân quân được đưa lên các tàu đánh cá. Ngoại giao “cây gậy nhỏ” thể hiện một chiến lược “vùng không phân định trắng đen” điêu luyện. “Gậy nhỏ” đủ lớn để thị uy trước các nước láng giềng châu Á, các nước mà hải quân của họ chỉ được coi là lực lượng bảo vệ bờ biển, nhưng quá nhỏ để thúc đẩy Mỹ đưa hải quân tới bảo vệ các đồng minh và các nước bè bạn.
Việc liên tục quấy rầy các nước duyên hải ở châu Á thể hiện hình ảnh các lực lượng hải cảnh và thực thi pháp luật biển của Trung Quốc chỉ đang giám sát những vùng biển mà họ coi là thuộc về Trung Quốc từ thời xa xưa. Đó là một nỗ lực nhằm dẹp yên những người mà họ tự coi là xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc. Tóm lại, ngoại giao “cây gậy nhỏ” tạo thành một chiến lược “vùng không phân định rõ trắng đen” đối đầu với Hải quân Mỹ nhưng mang sắc thái tối hơn, mang tính cưỡng ép buộc hơn đối với các nước khẳng định chủ quyền khác ở châu Á. Và kiểu nhị nguyên luận đó hoàn toàn thích hợp với Bắc Kinh.
Thứ tư, Trung Quốc đã cố gắng thực hiện một phiên bản khác của ngoại giao “cây gậy nhỏ” ở biển Hoa Đông nhưng nhận thấy môi trường ở đây kém thoải mái hơn nhiều. Từ khoảng năm 2010, lực lượng hải cảnh của Trung Quốc đã tiến hành các cuộc tuần tra thường xuyên ở vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku (Điếu Ngư). Mục đích của họ là thách thức sự kiểm soát hành chính của Nhật Bản đối với các đảo và vùng biển tiếp giáp. Về phần mình, Tokyo đã bố trí một sự hiện diện thường trực của lực lượng bảo vệ bờ biển ở vùng lãnh hải của quần đảo này, củng cố thêm cho sự kiểm soát của họ. Kết quả là một hình thức quản lý chung Trung-Nhật lạ lùng ở vùng biển quanh những hòn đảo nhỏ này. Hai bên kiểm soát những gì họ coi là của họ.
Trong khi Chính quyền Obama và Chính quyền Trump đã tái khẳng định rằng Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật được áp dụng cho quần đảo Senkaku, buộc Washington phải giúp bảo vệ họ trước các cuộc tấn công, chiến lược biển Hoa Đông của Trung Quốc cũng thể hiện cùng một kiểu nhị nguyên luận như ở Biển Đông. Nó mang tính cưỡng ép đối với Nhật Bản, nhưng chưa đến mức kích động các biện pháp đối phó của Mỹ. Chiến thuật này đủ để thay đổi nguyên trạng theo hướng có lợi cho Trung Quốc, nhưng không đủ để bắt đầu các chu kỳ hành động-phản ứng mang tính leo thang với Nhật Bản. Và nó vẫn tận dụng được những nỗi bất an của Tokyo về cam kết của Mỹ đối với việc phòng thủ của Nhật Bản, mang lại cho Trung Quốc ảnh hưởng đòn bẩy đối với liên minh này. Rất có khả năng tình hình này sẽ kéo dài chừng nào Bắc Kinh kiềm chế không cố gắng giành giật những đảo nhỏ này với Nhật Bản – tức là chừng nào Trung Quốc vẫn duy trì chiến lược “không phân định trắng đen”.
Và thứ năm, các thủ lĩnh của CCP đã phát hiện ra rằng việc xây dựng các đảo nhân tạo – hay củng cố các đảo sẵn có – tạo thành một chiến lược “vùng không phân định trắng đen” hiệu quả. Qua các năm, việc xây dựng đảo của họ đã được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Chẳng hạn, năm 1994, Trung Quốc đã chiếm đá Vành Khăn. Ngay sau đó, họ đã bắt đầu xây dựng các công trình, biến nó thành một tiền đồn quân sự vào năm 1998, và mở rộng nó đủ để bố trí một đường băng và các vũ khí phòng thủ vào năm 2016.
Nếu sự thay đổi dần dần phù hợp với các mục đích của họ ở đá Vành Khăn, thì Trung Quốc còn thể hiện sự kiên nhẫn hơn nữa ở bãi cạn Scarborough. Việc Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough vào năm 2012 đã đánh dấu sự chuyển tiếp cuối cùng từ “ngoại giao nụ cười” sang “ngoại giao cây gậy nhỏ”. Các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Trung Quốc đã đuổi các thủy thủ Philippines khỏi ngư trường truyền thống này, áp đặt quyền kiểm soát đối với quyền tiếp cận bãi cạn. Tuy nhiên, các kỹ sư vẫn chưa bắt đầu cải tạo đáy biển xung quanh đó để dựng nên một đồn vũ trang nữa.
Tại sao lại có sự kiềm chế như vậy? Địa lý có thể đã ngăn cản Bắc Kinh hành động. Không giống như các cấu trúc địa hình bị tranh chấp khác, bãi cạn Scarborough nằm chênh vênh gần đảo Luzon, đảo chính của Philippines. Ban lãnh đạo của Trung Quốc có thể lo sợ lôi kéo quân đội Mỹ, vốn có nghĩa vụ bảo vệ Philippines theo một hiệp ước phòng thủ chung lâu đời, nếu họ xây dựng một tiền đồn vững chắc gần với một đồng minh của Mỹ như vậy. Chính trị cũng là một yếu tố tác động. Hơn nữa, tổng thống Philippines đắc cử năm 2016 Rodrigo Duterte đã báo hiệu việc ông sẵn sàng nới lỏng liên minh với Mỹ trong khi lấy lòng Trung Quốc. Trong trường hợp đó, các nhà lãnh đạo CCP có thể coi việc kiềm chế các hành động khiêu khích là khôn ngoan. Tại sao lại khiến cho một đồng minh tương lai xa lánh?
Và cuối cùng, Trung Quốc đã hành động với quy mô lớn và tốc độ nhanh ở những nơi khác trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Bắt đầu từ năm 2013, các kỹ sư dân dụng đã xây phần nền đảo từ đá và các đảo san hô rải rác trên Biển Đông. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cam kết không “quân sự hóa” các đảo nhân tạo, đóng băng mọi phản ứng nghiêm túc từ phía Chính quyền Obama, chỉ để tiến hành xây dựng các sân bay và hạ tầng khác. Kết quả là việc đã rồi.
Việc ngăn chặn kẻ gây hấn chiếm đất là một chuyện, đuổi một kẻ gây hấn khỏi vùng đất mà họ đã chiếm lại là chuyện khác. Các chiến thuật xây dựng đảo theo cả 3 kiểu đã giúp Trung Quốc sở hữu được lãnh thổ – và khó mà tưởng tượng được những sự gặt hái ấy có thể được đảo ngược như thế nào nếu không viện tới chiến tranh công khai. Về bản chất, Bắc Kinh đã buộc khu vực và Mỹ phải sống với một thực tế chiến lược mới và hầu như không thể đảo ngược được.
Hệ thống các loại hình chiến thuật “vùng không phân định trắng đen” này cho thấy Trung Quốc đang sử dụng mọi yếu tố của sức mạnh quốc gia trong các tranh chấp trên biển ở biển Hoa Đông và Biển Đông. Bắc Kinh đã sử dụng các yếu tố pháp lý, ngoại giao, hàng hải và vật chất trong nghệ thuật quản lý nhà nước để làm suy yếu dần trật tự quốc tế tự do mà Mỹ dẫn đầu. Ngay cả sự tinh thông về xây dựng của họ, vốn đã được dùi mài trong nhiều thập kỷ xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô lớn, cũng đã được phô trương một cách đáng kinh ngạc ở giữa Biển Đông, đóng góp vào thành công chiến lược.
Do vậy, đối với những người giữ gìn trật tự hiện có, chỉ suy nghĩ về các khía cạnh biển trong chiến lược là không đủ. Để cản trở những mưu mẹo “vùng không phân định trắng đen” của Trung Quốc, Washington và các đồng minh cần phải học hỏi Bắc Kinh và theo một lập trường tổng thể, mang tính chiến lược lớn, qua đó đặt áp lực chống trả đầy kiên nhẫn và thận trọng lên nhiều mặt trận cùng một lúc. Tóm lại, những người bảo vệ nguyên trạng phải tư duy bằng những sắc thái của màu xám và làm quen với việc hành động ở ranh giới mập mờ giữa hòa bình và chiến tranh. Nếu không làm được điều này, họ sẽ nhường thế chủ động cho Trung Quốc – và cùng với đó là sự định hình tương lai của trật tự khu vực.
Thomas Schelling sẽ gật đầu một cách đầy thấu hiểu trước những thách thức đặt ra cho Washington và các đối tác của họ. Không giống như những bậc cha mẹ nhu nhược trong câu chuyện của ông, chúng ta cần tập hợp được sự kỷ luật mang tính chiến lược.
James Holmes là Giáo sư Chiến lược tại Học viện Hải chiến Mỹ, đồng tác giả cuốn Red Star over the Pacific. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Toshi Yoshihara là nhà nghiên cứu cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Đánh giá Ngân sách, ông cũng là đồng tác giả cuốn Red Star over the Pacific. Bài viết được đăng trên The National Interest.
Cân bằng thế nào trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc là một câu hỏi lớn cho các nước nhỏ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Duy trì cân bằng quan hệ với 2 siêu cường này là việc cần làm, để bảo vệ chính mình cũng như hòa bình, ổn định và phồn vinh chung trong khu vực.
Sau cuộc họp, các nhà tổ chức Đối thoại Shangri-la năm nay đã xác định 3 điểm nóng tiềm ẩn đe dọa sự ổn định trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đó chính là: chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, quân sự hóa Biển Đông và chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan ở Đông Nam Á.
Các hãng truyền thông trên thế giới nhận định về Đối thoại Shangri-la rằng: Kể từ khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump theo đuổi chính sách “nước Mỹ là trên hết” của ông, ngày càng có nhiều quan ngại từ các nước đồng minh và đối tác về vai trò của Hoa Kỳ tại châu Á trong tương lai. Từ trước đến nay, Mỹ được coi là cường quốc quân sự mạnh nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương kể từ Chiến tranh Thế giới II.
Trong diễn văn khai mạc Đối thoại Shangri-la năm nay, Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull đã bày tỏ sự thất vọng về việc ông Donald Trump rút Hoa Kỳ khỏi Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương lẫn Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên ông Turnbull cũng kêu gọi các đồng minh, đối tác của Mỹ cần kiên nhẫn với chính quyền mới của Hoa Kỳ. Chẳng riêng gì các nước đồng minh và đối tác của Mỹ hoài nghi, ngay cả các quan chức cấp cao lẫn học giả Hoa Kỳ cũng cảm thấy lo lắng và khó hiểu về “những phát ngôn mâu thuẫn” từ chính quyền Donald Trump.
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng William Cohen cũng đưa ra lời nhận xét: “Điều mà các đồng minh của bạn mong muốn là tính dự báo, tính nhất quán và tính liên tục (trong chính sách của Hoa Kỳ với khu vực châu Á – Thái Bình Dương).Đối với tôi, điều đáng lo ngại nhất là tôi không biết kế hoạch chiến lược của Mỹ là gì”.
“Bài ngửa” của Mỹ về Biển Đông
Người ta cho rằng, đã có những dấu hiệu cho thấy chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump “lật bài ngửa” trong chính sách an ninh đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương qua phát biểu của ông James Mattis tại Đối thoại An ninh Shangri-la.
Về Biển Đông, tướng James Mattis nhắc lại những tuyên bố lên án Trung Quốc quân sự hóa bất hợp pháp đảo nhân tạo, đe dọa an ninh và tự do hàng hải – hàng không trên Biển Đông, phá vỡ luật pháp quốc tế… và khẳng định: Châu Á – Thái Bình Dương vẫn là một ưu tiên của Mỹ, cũng không quên: Nỗ lực chính của Washington là xây dựng liên minh, tuy nhiên “các nước phải đóng góp đầy đủ cho an ninh của chính họ”.
Nói cách khác, trên Biển Đông, Mỹ chỉ bảo vệ lợi ích và vị thế của chính mình liên quan đến tự do và an ninh hàng hải – hàng không, trật tự khu vực dựa trên luật pháp quốc tế sau Chiến tranh Thế giới II, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Đó là lợi ích sát sườn của Mỹ, nhưng đồng thời cũng là lợi ích chung của cả khu vực.
Mỹ không quan tâm đến các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các bên, mà chỉ quan tâm đến các yêu sách hàng hải quá mức do giải thích, áp dụng sai Công ước có thể hạn chế tự do – an ninh hàng hải và lợi ích hợp pháp của cộng đồng quốc tế, trong đó có Mỹ.
Các nước phải đóng góp đầy đủ cho an ninh của chính họ?
“Đóng góp đầy đủ” trong trường hợp này có thể hiểu là:
Thứ nhất, “thân ai người nấy lo, của ai người nấy giữ”. Mỹ không làm “cảnh sát” cho các nước, nhất là các vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh thổ.
Thứ hai, nếu muốn Mỹ cung cấp “chiếc ô an ninh”, thì đồng minh hoặc đối tác của Hoa Kỳ phải có nghĩa vụ chi trả, đóng góp đầy đủ. Một minh chứng ở đây là: Nhật Bản và Hàn Quốc đều phải bỏ tiền nuôi lực lượng quân sự Mỹ đồn trú tại 2 quốc gia này để giúp họ đối phó với nguy cơ từ Triều Tiên. Nhật Bản “đóng góp đầy đủ” thì chính quyền Mỹ công khai tuyên bố rằng Senkaku/Điếu Ngư nằm trong phạm vi Hiệp ước an ninh song phương. Nói cách khác, nếu Trung Quốc tấn công đánh chiếm quần đảo này, Mỹ có trách nhiệm can thiệp bảo vệ Nhật Bản.
Cũng là đồng minh hiệp ước, nhưng Philippines “đóng góp không đầy đủ”, thậm chí còn phải trông chờ viện trợ từ Hoa Kỳ, nên năm 2012 Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát Scarborough, Mỹ không can thiệp.
Nhìn nhận vấn đề theo hướng tiếp cận này thì có thể lý giải một phần lý do tại sao Hạm đội 7 làm ngơ cho Trung Quốc chiếm nốt nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, đang do Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đóng giữ theo Hiệp định Geneva 1954, cho dù Mỹ là đồng minh.
Đó là chưa kể đến cục diện quan hệ quốc tế thời kỳ đó, Mỹ – Trung đang tìm cách bắt tay nhau cùng đối phó với Liên Xô sau chuyến thăm lịch sử của Richard Nixon đến Trung Quốc năm 1972.
Chỉ một sự làm ngơ đó thôi, đã là lễ vật hậu hĩnh Nhà Trắng dành cho Trung Nam Hải.
Cách tránh âm mưu bành trướng của Trung Quốc
Như vậy, các nước ven Biển Đông hiện nay chỉ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình khỏi âm mưu bành trướng của Trung Quốc theo 2 cách:
Một là tự lực tự cường, nâng cao khả năng phòng thủ đồng thời tìm cách hợp tác song phương, đa phương để bảo vệ hòa bình, ổn định và duy trì hiện trạng ở Biển Đông, cho dù hiện trạng đã bị Trung Quốc thay đổi nhiều.
Trong phương án này, phối hợp chặt chẽ với sự hiện diện của Hoa Kỳ, Nhật Bản trong khu vực, thắt chặt hợp tác trong nội khối ASEAN cũng như giữa ASEAN với các quốc gia, tổ chức khác là cần thiết.
Đặc biệt là phải lưu ý đến việc xử lý các tranh chấp, bất đồng đựa vào luật pháp quốc tế, trên cơ sở bảo vệ hòa bình và hợp tác, thì hợp tác với Trung Quốc có vai trò quan trọng.
Hai là chấp nhận “đóng góp đầy đủ” để thuê Mỹ bảo vệ an ninh, như Nhật Bản và Hàn Quốc đã và đang làm.
Với những gì đang diễn ra, phương án thứ nhất dường như là ưu tiên và lựa chọn của gần như tất cả các nước ven Biển Đông, bởi không ai muốn mình rơi vào thế kẹt: “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết”.
Tình thế ngày nay đã khác xưa, cho dù ai đó muốn thuê Mỹ bảo đảm an ninh, đã chắc gì Hoa Kỳ nhận lời? Donald Trump sẽ phải đưa tất cả lên bàn cân kinh tế.
Một bên là túi tiền và thị trường Trung Quốc không thể bỏ qua, một bên là một hay một vài nước nhỏ muốn dựa vào Mỹ để cân bằng với Trung Quốc.
Câu trả lời như thế nào chỉ có người Mỹ mới biết.
Tiêu điểm của Đối thoại Shangri-la là Biển Đông
Trước đối thoại Shangri-la, Biển Đông vẫn là một chủ đề nóng thu hút sự quan tâm và bày tỏ thái độ của các cường quốc chứ không phải vấn đề Triều Tiên như mọi người đồn đoán. Điều này rất có lợi cho phương án đấu tranh bảo vệ hòa bình – ổn định và trật tự dựa trên luật pháp, để phát triển phồn vinh.
Điều đặc biệt của Đối thoại là 3 vị Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ – Nhật – Úc khi gặp nhau bên lề Đối thoại Shangri-la đã cùng lên án hành vi đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và Hoa Đông mà Trung Quốc theo đuổi và ủng hộ Phán quyết Trọng tài vụ kiện Biển Đông ngày 12/7/2016.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis nói: Việc xây dựng đảo nhân tạo và quân sự hóa các cấu trúc trên vùng biển quốc tế sẽ làm suy yếu sự ổn định trong khu vực.
Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Tomomi Inada phát biểu: Tokyo lo ngại về những thay đổi an ninh ở Biển Đông và Hoa Đông mà Trung Quốc phải chịu trách nhiệm chính: Ở Hoa Đông và Biển Đông, chúng tôi liên tục chứng kiến những nỗ lực đơn phương thay đổi hiện trạng dựa trên các yêu sách không phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành. Về Biển Đông, Phán quyết Trọng tài được đưa ra là phán quyết cuối cùng.
Tuyên bố chung cũng kêu gọi “đối thoại, hợp tác và cam kết” với Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh cam kết bảo vệ luật pháp quốc tế và tự do hàng hải – hàng không. Kêu gọi tất cả các bên yêu sách “ngăn chặn các hoạt động bồi lấp, làm phi quân sự hóa các cấu trúc tranh chấp, tránh các hành động khiêu khích có thể leo thang căng thẳng.
Phản ứng của phái đoàn Trung Quốc năm nay cũng khá dè dặt chứ không hùng hổ như mọi năm.
Trưởng đoàn Trung Quốc, Trung tướng Hà Lôi tổ chức họp báo phân trần: Tôi muốn lưu ý rằng, tự do hàng hải không phải bằng giám sát chặt chẽ và các hoạt động quân sự, do các máy bay chiến đấu và tàu chiến Hoa Kỳ tiến hành ở vùng trời, vùng biển “chủ quyền” của Trung Quốc.
Về vấn đề Triều Tiên và Đài Loan
Biển Đông không phải là câu chuyện của riêng các nước có yêu sách, mà là một vấn đề an ninh nóng bỏng của khu vực, toàn cầu.
Bởi lẽ đây là nơi diễn ra sự cạnh tranh ảnh hưởng gay gắt giữa Trung Quốc và Mỹ, tất nhiên bao gồm cả nguyên nhân căng thẳng từ yêu sách bành trướng và tham vọng độc chiếm vùng biển này làm ao tù của Bắc Kinh.
Chính vì vậy, cục diện Biển Đông có liên hệ chặt chẽ, biện chứng với cấu trúc và cục diện an ninh châu Á – Thái Bình Dương, tức nằm trong bàn cờ chiến lược lớn hơn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Vì thế một nước cờ nào đó diễn ra ở Đông Bắc Á, có thể ảnh hưởng ngay lập tức đến cục diện Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông.
Chính điều này khiến nhiều đồng minh, đối tác của Mỹ lo ngại khi thấy Tổng thống Donald Trump tìm cách thỏa hiệp với Trung Quốc về vấn đề Triều Tiên, chấp nhận tạm gác Biển Đông qua một bên.
Hiệu chỉnh thứ hai là các tuyên bố mạnh mẽ về Biển Đông, Triều Tiên tại Đối thoại Shangri-la.
Còn vấn đề đảo Đài Loan, vì phái đoàn Trung Quốc đặt câu hỏi, ông James Mattis đã không ngần ngại trả lời thẳng:
Bộ Quốc phòng Mỹ vẫn kiên định làm việc với Đài Loan và chính quyền dân chủ của họ, để cung cấp cho họ các thiết bị quốc phòng cần thiết, phù hợp với nghĩa vụ được quy định trong Đạo luật Quan hệ với Đài Loan.
Bởi vì chúng tôi đứng ra giải quyết một cách hòa bình với bất kỳ vấn đề nào theo cách thức mà người dân hai bờ eo biển Đài Loan có thể chấp nhận được.
Hoa Kỳ vẫn cam kết thực hiện chính sách ‘một nước Trung Quốc.
Bản chất quan hệ Mỹ – Đài hay Mỹ – Trung không có gì thay đổi, cho dù đã có những phát biểu và động thái khác nhau từ chủ nhân Tòa Bạch Ốc.
Đài Loan vẫn là con bài chiến lược dự trữ rất có giá trị của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương.
Một cú điện đàm giữa Tổng thống Donald Trump với nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn hay việc quay sang nhắc lại tôn trọng cam kết ‘một nước Trung Quốc’ với ông Tập Cận Bình chỉ là những nước cờ chiến thuật, nhằm tối đa hóa lợi ích cho Mỹ thông qua đòn bẩy này mà thôi.
Nên cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc
Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu nói chung, đặc biệt tập trung vào châu Á – Thái Bình Dương nói riêng.
Cân bằng quan hệ với 2 siêu cường Trung – Mỹ là việc cần làm và cần phải làm tốt, để bảo vệ chính mình cũng như hòa bình, ổn định và phồn vinh chung cho khu vực.
Chớ thấy vốn giá rẻ của “Một vành đai, một con đường” được Trung Quốc chào mời mà vội mừng, chớ thấy Mỹ rút khỏi TPP hay Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu mà vội lo.
Mặt khác, Mỹ còn phải tìm mọi cách tăng cường hợp tác với Trung Quốc, xử lý vấn đề đối tượng trên cái nền đối tác thì cũng đừng quốc gia nào trong khu vực nghĩ rằng hãy theo Mỹ để chống Trung Quốc.
Hoa Kỳ không chống Trung Quốc, nhưng Hoa Kỳ có những lợi ích bị Trung Quốc xâm hại mà phải bảo vệ. Hoa Kỳ cũng là lực lượng đối trọng cân bằng với Trung Quốc.
Do đó, các quốc gia trong khu vực nên học tập Singapore trong việc dùng luật pháp quốc tế làm lăng kính soi rọi các quyết sách của mình. Cái cần phải đấu tranh chống lại là các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, chứ không phải đối đầu chống lại nước lớn.
Donald Trump và Tập Cận Bình làm gì cũng có tính toán cẩn thận, các nước nhỏ cần nghiên cứu kỹ chính sách và xu hướng của hai nhà lãnh đạo này để tối đa hóa lợi ích, tối thiểu hóa rủi ro cho quốc gia mình trong bàn cờ chiến lược châu Á – Thái Bình Dương./.
Trong cuộc trả lời phỏng vấn kênh truyền thông Sóng Đức (Deutsche Welle/DW) nhân tham dự Hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Đại học Tổng hợp Hamburg, CHLB Đức ngày 19/5/2017 vừa qua, chuyên gia Anh Bill Hayton cho rằng tình hình Biển Đông hơi lắng dịu vào thời điểm hiện nay phần lớn là do những tính toán từ phía Trung Quốc.
Gần đây, Trung Quốc và ASEAN đã đồng ý về khuôn khổ cho Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC ) nhằm ngăn ngừa các cuộc xung đột ở vùng biển chiến lược này. Nhưng liệu dự thảo khuôn khổ COC có dẫn đến một thỏa thuận ràng buộc pháp lý chấm dứt tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông?
(Chuyên gia Bill Hayton đang trình bày tham luận tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Đại học Hamburg, Đức ngày 19/5/2017)
Trả lời phỏng vấn của DW, chuyên gia châu Á Bill Hayton của tổ chức tư vấn Chatham House (Vương quốc Anh) tỏ ý hoài nghi về khả năng hai bên sớm đạt được thỏa thuận COC có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, ông Hayton nhấn mạnh rằng quá trình thảo luận COC là một biện pháp xây dựng lòng tin hữu ích. Theo ông, dù sao đi chăng nữa, việc Trung Quốc và ASEAN nói chuyện và tranh cãi với nhau về tranh chấp (Biển Đông) còn tốt hơn nhiều so với không nói gì.
– DW: Có tin nói tuần trước, Trung Quốc và ASEAN đã đạt được một thỏa thuận về dự thảo khuôn khổ cho bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông(COC). Vậy diễn biến này có ý nghĩa như thế nào?
-Bill Hayton: Tôi không nghĩ rằng khuôn khổ này sớm dẫn đến bất cứ điều gì. Nhưng tôi cho rằng quá trình thảo luận này là một biện pháp xây dựng lòng tin hữu ích. Trên thực tế, việc tất cả các bên ngồi xung quanh bàn tròn, nói chuyện và tranh luận với nhau… là tốt hơn nhiều so với không nói chuyện.
Nhưng có một số lý do khiến tôi không nghĩ sớm đạt được một thỏa thuận (có tính ràng buộc về COC). Thứ nhất, tôi tin rằng Trung Quốc vẫn muốn xây dựng trên bãi cạn Scarborough. Và do đó, Trung Quốc sẽ không ký một thỏa thuận có thể cản trở nước này làm điều đó.
Một lĩnh vực bất đồng khác là Trung Quốc không muốn bị ràng buộc pháp lý bởi một thỏa thuận, nhưng đó lại là những gì mà các quốc gia Đông Nam Á mong muốn. Đối với các nước này (Đông Nam Á), sẽ là vô ích nếu ký kết một bộ luật không có tính ràng buộc pháp lý. Và họ muốn có một loại công cụ để kiểm soát hành vi của Trung Quốc, còn Bắc Kinh lại không muốn hành vi của mình bị kiểm soát.
Một lĩnh vực gây tranh cãi khác nữa là Trung Quốc đang cố gắng hạn chế phạm vi áp dụng của bộ quy tắc ứng xử COC chỉ với quần đảo Trường Sa, trong khi những nước khác như Việt Nam và Philippines lại muốn bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và bãi cạn Scarborough. Có vẻ như cho đến này, chưa có gì hóa giải được những bất đồng này.
– DW: Tình hình Bán đảo Triều Tiên bây giờ dường như thu hút phần lớn sự chú ý của quốc tế và tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông dường như đã biến mất khỏi chương trình nghị sự. Xin cho biết quan điểm của ông về việc này?
– Bill Hayton: Tôi tin rằng có một vài điều xảy ra cùng một lúc. Một là, Trung Quốc đang tiến hành một cuộc “tấn công mềm” ở Đông Nam Á và không làm điều gì gây ác cảm từ phía các nước láng giềng Đông Nam Á.
Mọi thứ dường đã trở nên yên tĩnh hơn trong gần ba năm nay. Kể từ khi căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam leo thang sau khi Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt một dàn khoan dầu gây tranh cãi trong vùng biển đang tranh chấp (nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam) , Trung Quốc dường như đã hành xử thận trọng hơn. Tôi nghĩ Bắc Kinh nhận ra rằng họ đã mất khá nhiều từ vụ việc nói trên và kể từ đó họ tránh làm bất cứ điều gì như thế một lần nữa.
Đồng thời, Trung Quốc đã xây dựng (trái phép) những hòn đảo (nhân tạo) khổng lồ này trong khu vực (Biển Đông). Có lẽ điều đó đã hấp thụ tất cả năng lượng của Trung Quốc. Khi việc xây dựng các hòn đảo (nhân tạo) nói trên hoàn tất, chúng ta có thể chứng kiến(Trung Quốc) trở lại với hành vi quyết đoán hơn.
Một điều khác cần lưu ý là Trung Quốc cũng đang tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản và tập trung nỗ lực nhiều hơn vào chuỗi đảo Senkaku/ Điếu Ngư. Trong lịch sử, Trung Quốc không bao giờ ráo riết hoạt động cùng một lúc trên cả hai mặt trận. Thông thường, khi mặt trận này bùng phát thì mặt trận kia lắng dịu hơn. Và đó dường như là những gì đang xảy ra vào lúc này.
Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ được tổ chức trong năm nay và có lẽ các nhà chức trách ở Bắc Kinh không muốn gây bất ổn khu vực trước sự kiện quan trọng này. Hơn nữa, Trung Quốc đang cố gắng để mọi người ủng hộ sáng kiến “Một vành đai, một con đường” (OBOR) của nước này. Đây là lý do khác tại giải thích vì sao Trung Quốc có thể muốn duy trì tình hình yên tĩnh vào thời điểm hiện tại.
– DW: Một số người cho rằng Trung Quốc đã đạt được những gì mà họ muốn ở Biển Đông và đó là lý do vì sao tình hình bây giờ hơi lắng dịu. Ông nghĩ sao về điều này?
– Bill Hayton: Tôi nghĩ rằng lập luận này cũng có phần đúng. Người Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa và họ đang xây dựng căn cứ ở đó.
Họ cũng đang xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông, nhưng họ vẫn chưa hoàn tất. Đây sẽ là những căn cứ (quân sự) rất mạnh.
Nhiều chuyên gia cho rằng Trung Quốc cũng muốn xây dựng căn cứ trên bãi cạn Scarborough. Và điều đó sẽ làm cho bãi cạn này trở thành đỉnh thứ ba của “tam giác sắt” (của Trung Quốc) trên Biển Đông./.
Nhiều chuyên gia nhận định, Trung Quốc có thể dấn những bước đi ngang ngược hơn để phản ứng phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực Quốc tế về vụ kiện Biển Đông.
Báo chí Trung Quốc ngang ngược chối bỏ phán quyết của tòa án PCA.
Ngày 12.7 được coi là thời điểm lịch sử trong vụ Philippines kiện Trung Quốc, khi Tòa Trọng tài thường trực Quốc tế (PCA) bác bỏ cái gọi là “quyền lịch sử”, “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố. Thậm chí, PCA còn chỉ ra bằng chứng cho thấy Trung Quốc tận diệt hải sản ở Biển Đông và phá hoại môi trường sinh thái khu vực.
Phán quyết mang tính lịch sử nhưng lại không có công cụ để buộc Trung Quốc thực thi. Ngay sau khi phán quyết được công bố, truyền thông Trung Quốc rầm rộ lên tiếng phản đối kết quả này. Tờ Nhân dân Nhật báo viết “đây là một tờ giấy bỏ đi không có giá trị pháp lý”.
Ngày 13.7, trên mạng xã hội Weibo của Trung Quốc, cụm từ được rao giảng nhiều nhất là “Phán quyết Nam Hải”, trong đó đại đa số lên tiếng không thừa nhận phán quyết của tòa quốc tế. Những hình ảnh với dòng chữ “Trung Quốc – một chút cũng không thiếu” và đường 9 đoạn ngang ngược được đăng tải đầy rẫy các phương tiện truyền thông. Các ngôi sao Trung Quốc cũng thể hiện lòng yêu nước mù quáng bằng việc thay ảnh đại diện và phát ngôn xuyên tạc sự thật.
Tuy nhiên, những gì diễn ra mới ở mặt trận tuyên truyền. Với một quốc gia như Trung Quốc, bị dồn vào thế bí, có thể “đòn” đáp trả sẽ còn ngang ngược hơn và bằng hành động. Theo tác giả Janis Mackey Frayer của NBC News, Trung Quốc có thể sẽ ráo riết thực hiện ba hành động sau để phản ứng trước phán quyết vụ kiện Biển Đông.
Rút lui khỏi Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS)
Trung Quốc có ý định rút lui khỏi Công ước UNCLOS.
Trung Quốc kí Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) năm 1996 và là thành viên hơn 20 năm qua. Mới đây, chính quyền Trung Quốc dọa sẽ rút lui khỏi công ước này nếu như phán quyết của tòa án quốc tế “vi phạm nền tảng vị thế của Bắc Kinh”. Với phán quyết tuyên phần có lợi dành cho Philippines, khả năng rất lớn Trung Quốc sẽ rút lui khỏi công ước UNCLOS.
Trong trường hợp này, mọi phân xử tranh chấp chủ quyền sẽ không có một bộ khung làm cơ sở tham chiếu. Trước đây các tranh chấp trên biển giữa 161 quốc gia thành viên dựa vào công ước UNCLOS để phân xử. Khi Trung Quốc rời UNCLOS, đồng nghĩa nước này từ chối mọi nguyên tắc pháp lý áp đặt chung giữa các thành viên.
Dù chưa có động thái rời khỏi công ước UNCLOS nhưng Trung Quốc vẫn rất ngang ngược với các tuyên bố của mình. Nước này từng chỉ trích Mỹ “không có quyền lên tiếng về vụ kiện do không phải là thành viên công ước UNCLOS”.
Tăng cường bồi lấp và xây dựng trái phép đảo nhân tạo
Một đảo nhân tạo Trung Quốc bồi lấp trái phép trên Biển Đông.
Trong vòng 2 năm qua, Trung Quốc đã rầm rộ thực hiện việc bồi lấp trái phép đảo nhân tạo. Thậm chí ở đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, một đường băng trái phép đủ sức cho máy bay dân sự cỡ lớn hạ cánh đã được xây dựng. Bên cạnh đó là một số ngọn hải đăng và bệnh viện được xây dựng trái phép ở đây.
Tháng 2.2016, ảnh vệ tinh của phương tây cho thấy Trung Quốc đã điều động trái phép hệ thống tên lửa phòng không HQ-9 tới đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam. Tên lửa HQ-9 có thể hạ gục mọi máy bay quân sự, dân sự trong phạm vi 200km. Ngoài ra những radar quân sự cũng được bố trí ở đảo Phú Lâm, theo WSJ.
Ngoài tên lửa phòng không HQ-9 hay radar phòng vệ, Trung Quốc đã bồi lấp và xây dựng trái phép đường băng dài 2.700m ở đảo Phú Lâm và các kho chứa sân bay phản lực. Máy bay chiến đấu J-11 của nước này cũng được cho là từng xuất hiện ở đảo Phú Lâm.
BBC mới đây có bài viết đáng chú ý của tác giả Alexander Neill, nhận định mục tiêu bồi lấp trái phép đảo nhân tạo chỉ là “chuyện nhỏ”, phần lớn hơn Trung Quốc muốn làm chủ đáy Biển Đông. Với độ sâu 4.000m, Biển Đông thực sự là chỗ trú chân lí tưởng cho hạm đội tàu ngầm hạt nhân của Bắc Kinh. Chưa kể, đây cũng là lá bài để ngăn chặn Washington làm chủ khu vực giàu tài nguyên này.
Thiết lập vùng nhận diện phòng không
Thiết lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ) được cho là động thái leo thang căng thẳng nhất ở Biển Đông.
Ngày 13.7, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân lớn tiếng nói rằng Bắc Kinh có quyền thành lập một vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông. Bắc Kinh nói rằng tùy vào mối nguy hiểm đe dọa Trung Quốc mà nước này có đưa ra quyết định trên hay không.
Nếu thiết lập vùng nhận diện phòng không, mọi máy bay đi qua khu vực này sẽ phải nhận dạng, minh định vị trí và chịu sự kiểm soát của Trung Quốc. Điều này đồng nghĩa Trung Quốc ngang ngược vi phạm chủ quyền vùng trời tại Biển Đông và làm căng thẳng khu vực thêm gia tăng, trái với luận điệu của nước này “yêu cầu các bên không làm phức tạp thêm tình hình khu vực” và “giải quyết mâu thuẫn dựa trên đàm phán, đối thoại”.
Các bằng chứng không thể chối cãi cho thấy Trung Quốc đang ngày càng ngang ngược ở Biển Đông, bất chấp phán quyết vụ kiện Biển Đông của tòa án quốc tế.
Trung Quốc bồi lấp trái phép ở đá Vành Khăn, quần đảo Trường Sa năm 2015.
Hình ảnh vệ tinh mới đây cho thấy Trung Quốc đang xây dựng trái phép các kho chứa máy bay kiên cố ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Thông tin trên được tờ New York Times uy tín của Mỹ đưa ra ngày 8.8.
Trong những bức hình chụp được cuối tháng 7, không có sự xuất hiện của máy bay chiến đấu tuy nhiên New York Times khẳng định kho chứa này đủ sức chứa được các chiến đấu cơ đời mới nhất. Bức ảnh được Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu quốc tế (CSIS) có trụ sở ở Washington công bố.
Các kho chứa máy bay xây dựng trái phép ở đá Chữ Thập, đá Su Bi, đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Biển Đông hiện nay có lưu lượng thương mại mỗi năm đạt 5.000 tỉ USD.
Hình ảnh trên xuất hiện chỉ một tháng sau khi phán quyết vụ kiện Biển Đông được tòa án quốc tế The Hague công bố. Theo đó, tuyên bố của cái gọi là “quyền lịch sử” về đường lưỡi bò của Trung Quốc đã bị Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) bác bỏ thẳng thừng.
Trung Quốc xây dựng đường băng trên đảo nhân tạo trái phép, bên cạnh đó là những kho chứa máy bay hạng khủng.
Mỹ liên tục kêu gọi Trung Quốc không quân sự hóa ở Biển Đông và làm phức tạp thêm tình hình. Bắc Kinh luôn lớn tiếng nói rằng các cơ sở này chỉ nhằm phục vụ mục đích dân sự và tự vệ. Trung Quốc “phản pháo” nói rằng Mỹ làm căng thẳng khu vực khi điều tàu chiến vào Biển Đông.
Trung tâm CSIS khẳng định các bức ảnh cho thấy Trung Quốc đang gia cố các kho chứa máy bay: “Lớp tường bê tông dày hơn nhiều so với mục đích dân sự thông thường”, Gregory Poling, giám đốc Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á thuộc trung tâm CSIS, tuyên bố. Ông Gregory cho rằng Trung Quốc đang tìm cách “củng cố để tăng cường sức mạnh tấn công”.
Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động của các bên tại các khu vực thuộc quần đảo Hoàng Sa, cho dù dưới mục đích gì đều là phi pháp và sẽ không thay đổi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
(VOVworld) – One month after the Permanent Court of Arbitration (PCA) decided an award on the Philippines’ arbitration proceedings against China on the interpretation and application of the 1982 UN Convention on the Law of the Sea, the public shows their concern over the implementation of the ruling. Although it would take much time and effort for the ruling to be implemented, the public agree that PCA is a legal tool for the East Sea issue in the future.
Philippine Foreign Minister Albert del Rosario spoke at the opening session of the trial at the Permanent Court of Arbitration (PCA) in The Hague.
(photo: PCA)
The arbitral proceedings since the Philippines filed a lawsuit to the Permanent Court of Arbitration in 2013 were in compliance with the 1982 UN Convention on the Law of the Sea. PCA’s decisions are internationally recognized and legally binding to parties involved in the case.
Efforts to seek peaceful measures
The Philippines’ lawsuit against China has not complicated the situation but it aims to resolve disputes by peaceful means without using or threatening to use force in addressing international disputes. It shows respect to international law and illustrates the international community’s effort. Once countries had discussed and agreed on an international legal framework, they have to adjust their behaviors in dealing with maritime demarcation issues.
The PCA’s ruling is the first of its kind on the East Sea issue. It provides a common interpretation of some contents in the UNCLOS, which were unclear among involved parties, including the structures of features in the Spratly archipelago. The interpretation will be a legal foundation to be applicable to similar cases in the future.
The feasibility of PCA’s ruling
Analysts say PCA’s ruling can be realized. Firstly PCA operates in accordance with the UNCLOS and its ruling must be observed. The Court does not judge territorial disputes but identifies the legality of the actions and, in some cases, verifies the maritime territorial rights of countries. Secondly being members of the UNCLOS, China, the Philippines, and relevant countries are obliged to respect PCA’s decision. An individual country will be unable to succeed in maintaining regional peace and stability while it vetoes articles it ratified previously. Lastly China has repeatedly mentioned its “peaceful development” policy. So it should not go against the policy which has been pursued by its previous leaderships.
One month after the PCA announced its ruling, China has continuously rejected it as null and void. But there has been no escalation in Beijing’s statements, analysts said. 2 years ago China escalated its activities in the East Sea including the placing of an oil rig in Vietnam’s Paracel archipelago. Widespread criticism against China and its consequences have made China more cautious. Since then there has been no similar incident in the exclusive economic zone (EEZ) of claimants in the East Sea.
PCA creates an opportunity for negotiation
Negotiation is the key solution to ease tension. Realizing this fact both China and the Philippines have expressed their willingness to negotiate. Philippine President Rodrigo Duterte said at his swearing-in ceremony that he would seek a “soft landing” in its East Sea dispute with China. The Philippines’ former President Fidel Ramos and China’s former Deputy Foreign Minister Fu Ying met recently but didn’t mention marine disputes in the East Sea such as in Scarborough Shoal and Mischief. The meeting focused on the need to engage in dialogue to build trust and ease tension, paving the way for cooperation.
Analysts say it’s innocent to say that the PCA’s ruling in the East Sea would fully stabilize the situation. But the ruling has created an opportunity for countries to sit down for talks. It would help countries adjust their behaviors and avoid unilateral actions regardless of international law.