Author Archives: admin

Tàu sân bay Izumo Nhật Bản có thể “đánh chìm tàu Liêu Ninh trong nửa giờ”

Ngày 27/6/2017, chuyên gia Nhật Bản khẳng định với các ưu thế lớn của tàu sân bay lớp Izumo Nhật Bản, tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc chỉ có thể chống trả được nửa giờ. Nhưng chuyên gia Trung Quốc phản bác.

Biên đội tàu sân bay Liêu Ninh, Hải quân Trung Quốc. Ảnh: Cankao
Biên đội tàu sân bay Liêu Ninh, Hải quân Trung Quốc. Ảnh: Cankao
Tờ Thời báo Hoàn Cầu (Trung Quốc) cho hay tàu sân bay Liêu Ninh của Hải quân Trung Quốc rời cảng từ ngày 25/6. Theo tuyên bố của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, tàu Liêu Ninh và các tàu hộ tống cùng ngày đã rời cảng chính Thanh Đảo, ra khơi thực hiện nhiệm vụ huấn luyện trên các vùng biển.
Trước đó có nguồn tin từ Hong Kong cho biết tàu sân bay Liêu Ninh sẽ đến thăm Hong Kong để chào mừng tròn 20 năm Hong Kong về với Trung Quốc. Trong khi đó, tàu sân bay trực thăng Izumo Nhật Bản hiện cũng đang hiện diện ở Biển Đông. Việc “không hẹn mà gặp” của hai tàu sân bay này đã đụng chạm đến dây thần kinh nhạy cảm của Nhật Bản.
Động thái mới của biên đội tàu sân bay Liêu Ninh
Trong đợt triển khai lần này, biên đội tàu sân bay Liêu Ninh Hải quân Trung Quốc gồm có tàu sân bay Liêu Ninh, các tàu khu trục tên lửa Tế Nam và Ngân Xuyên, tàu hộ vệ tên lửa Yên Đài cùng nhiều máy bay chiến đấu J-15 và máy bay trực thăng.
Biên đội này sẽ áp dụng phương thức liên tục thay đổi vùng biển, đến các vùng biển liên quan để triển khai đội hình biên đội, huấn luyện máy bay chiến đấu và các chiến thuật, tăng cường hiệp đồng giữa các tàu trong biên đội, huấn luyện phi công máy bay chiến đấu và thủy thủ.
Nhìn vào đội hình hạm đội, tàu khu trục Ngân Xuyên đến từ Hạm đội Nam Hải là tàu khu trục phòng không Type 052D tiên tiến nhất của hải quân Trung Quốc hiện nay, tàu Tế Nam của Hạm đội Đông Hải là tàu khu trục tên lửa Type 052C, tàu Yên Đài là tàu hộ vệ Type 054A của Hạm đội Bắc Hải.
Tàu khu trục tên lửa Ngân Xuyên Type 052D Hạm đội Nam Hải, Trung Quốc. Ảnh: Sohu/81.cn

Chuyên gia quân sự Trung Quốc Lý Kiệt cho rằng thông qua điều động các tàu chiến từ các hạm đội khác nhau để hình thành biên đội hộ tống tàu sân bay có thể sẽ kiểm nghiệm tốt hơn tình hình sẵn sàng chiến đấu của các tàu và khả năng thích ứng với các vùng biển và nhiệm vụ khác nhau.
Huấn luyện cơ động liên tục trên các vùng biển khác nhau là một con đường quan trọng để nâng cao trình độ sức chiến đấu của biên đội tàu sân bay. Trước đó, biên đội tàu sân bay hải quân Trung Quốc đã nhiều lần tổ chức huấn luyện tương tự, kiểm nghiệm được phương pháp huấn luyện và phương pháp tác chiến.
Đối với hoạt động huấn luyện lần này của tàu sân bay Liêu Ninh, phía Đài Loan đặc biệt chú ý, cảnh giác. Theo hãng tin CNA Đài Loan ngày 25/6, có tờ báo Đài Loan phỏng đoán biên đội tàu sân bay Liêu Ninhh sẽ đi qua eo biển Đài Loan hoặc vùng biển phía đông Đài Loan để xuống phía nam.
Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Đài Loan Trần Trung Cát cho biết Bộ Quốc phòng Đài Loan tiếp tục nắm chắc mọi động thái của quân đội Trung Quốc ở khu vực xung quanh, đồng thời làm tốt các hành động ứng phó theo quy định.
Tờ Chinatimes Đài Loan cho hay các hình ảnh công bố cách đây không lâu cho thấy có 13 máy bay chiến đấu J-15 đồng thời xuất hiện trên đường băng tàu sân bay Liêu Ninh. Điều này cho thấy quân đội Trung Quốc đã biết được quy trình làm việc đồng bộ về kiểm tra và tiếp tế trên đường băng tàu sân bay.
Chuyên gia cho rằng đây là chỉ tiêu quan trọng cho thấy máy bay trên tàu sân bay Liêu Ninh có khả năng tác chiến tổng hợp.
Sẽ bị tàu Izumo Nhật Bản tiêu diệt nhanh gọn?
Trước đó, báo chí Hong Kong từng phỏng đoán, tàu sân bay Liêu Ninh sẽ thăm Hong Kong vào ngày 1/7/2017 để chúc mừng tròn 20 năm Hồng Kông về với Trung Quốc. Trong khi đó, hiện nay, tàu chiến lớn nhất Nhật Bản là tàu sân bay trực thăng Izumo cũng đang tuần tra Biển Đông.

Tàu sân bay trực thăng Izumo Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản. Ảnh: Sina

Tờ Chinatimes Đài Loan dẫn lời chuyên gia Nhật Bản cho rằng tàu sân bay trực thăng Izumo có thể bắn chìm tàu sân bay Liêu Ninh chỉ trong vòng nửa giờ đồng hồ.
Chuyên gia Nhật Bản cho rằng 2 tàu sân bay trực thăng Izumo và Kaga sau khi cải tạo có thể chở được khoảng 16 máy bay chiến đấu tàng hình F-35B, loại máy bay có thể cất hạ cánh thẳng đứng, do Mỹ chế tạo.
Loại máy bay này có thể sử dụng công nghệ tàng hình ưu việt, có thể tránh được hoạt động dò tìm của radar Hải quân Trung Quốc, cộng với khả năng tấn công đối hải, đối hạm mạnh của nó, chỉ trong vòng nửa giờ là có thể bắn chìm tàu sân bay Liêu Ninh.
Theo cách nói của phía Nhật Bản, bán kính tác chiến lý thuyết của F-35B là trên 800 km, hoàn toàn không thua kém máy bay chiến đấu thông thường. Ngoài ra, F-35B có tính năng tiên tiến hơn máy bay chiến đấu J-15 trang bị trên tàu sân bay Liêu Ninh.
Như vậy tàu sân bay lớp Izumo Nhật Bản sẽ trở thành tàu sân bay hạng nhẹ có trọng tải nhỏ, nhưng có thể cất hạ cánh máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ tư, khả năng tác chiến có thể vượt tàu sân bay hạng trung trang bị máy bay chiến đấu thế hệ thứ ba.
Nhật Bản chỉ tuyên truyền?
Đối với vấn đề nêu trên, chuyên gia quân sự Trung Quốc Lý Kiệt cho rằng chuyên gia Nhật Bản hay thổi phồng khả năng tác chiến và ưu thế về sức mạnh quân sự của Nhật Bản, tìm cách răn đe Trung Quốc.
Trước hết, Nhật Bản hiện căn bản không có kế hoạch nhập khẩu máy bay chiến đấu F-35B, chỉ bỏ ra 22 tỷ USD mua sắm 42 máy bay chiến đấu kiểu hạ cánh thông thường F-35A. Chỉ hợp đồng này đã làm cho Nhật Bản gặp khó khăn về tài chính.

Máy bay chiến đấu tàng hình F-35B Mỹ cất cánh từ tàu tấn công đổ bộ.

Nếu muốn trang bị đầy đủ máy bay chiến đấu F-35B cho 2 tàu sân bay lớp Izumo thì số tiền phải chi ra của Nhật Bản sẽ phải tăng lên gấp đôi.
Khi hạ cánh thẳng đứng, máy bay chiến đấu F-35B sẽ phun ra luồng khí nóng cao, 2 tàu sân bay lớp Izumo phải lắp lại đường băng chịu nhiệt cao, cộng với đường trượt ở mũi tàu, lượng công việc cải tạo hoàn toàn không nhỏ.
Thứ hai, mặc dù F-35 là máy bay chiến đấu tàng hình, nhưng điều này chỉ xảy ra khi toàn bộ tên lửa mang theo của nó được đặt ở trong khoang đạn. Trong khi đó, thể tích của tên lửa chống hạm tương đối lớn, khoang đạn bên trong không thể lắp đặt, chỉ có thể áp dụng phương thức treo bên ngoài – như vậy sẽ phá hoại hiệu quả tàng hình tổng thể của máy bay chiến đấu.
Quân đội Mỹ cân nhắc trang bị tên lửa chống hạm NSM do Na Uy nghiên cứu chế tạo cho máy bay chiến đấu F-35A, nhưng bi kịch là khoang đạn bên trong của F-35B tương đối ngắn, không thể nhét vào loại tên lửa này.
Điều này có nghĩa là trong tương lai khi máy bay chiến đấu F-35B Nhật Bản thực hiện nhiệm vụ chống hạm, chỉ có thể treo tên lửa ở bên ngoài máy bay, như vậy nó lại trở thành mục tiêu rõ ràng của radar.
Vấn đề quan trọng hơn là tác chiến trên biển hiện đại là tác chiến hệ thống, chứ không phải trên phương diện nói trên. Khoảng cách giữa Nhật Bản và Trung Quốc rất rõ ràng.
Tuy nhiên, Lý Kiệt cho rằng hiện nay so với J-15, F-35B thực sự có ưu thế nhất định. Lý Kiệt nhấn mạnh Trung Quốc phải cảnh giác với kế hoạch cải tạo tàu sân bay tiềm tàng của Nhật Bản, đồng thời đẩy nhanh các bước triển khai máy bay thế hệ thứ tư Trung Quốc cho tàu sân bay./.

Theo VietTimes

Loading

Views: 0

Những ngôi mộ khẳng định chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông

Những ngôi mộ của lính đội Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn là bằng chứng lịch sử không thể chối cãi về chủ quyền của người Việt ở Biển Đông.

 Mộ lính Đội Hoàng Sa ở đảo Lý Sơn là mộ cô hồn của những hùng binh trên biển, những thủy binh của Hải đội Hoàng Sa năm xưa được lệnh ra quần đảo Hoàng Sa thực thi chủ quyền của Việt Nam và đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Để tưởng nhớ những người lính Hoàng Sa hy sinh vì đất nước, các họ tộc trên đảo đã chiêu hồn luyện cốt, lập những ngôi mộ gió, với niềm tin khi làm lễ chiêu hồn xong, linh hồn người chết mất xác sẽ trở về nhập vào hình nhân, an nghỉ nơi đất mẹ và phù hộ cho những người còn sống.
Ngày nay, những ngôi mộ gió được nhiều người biết đến nhất ở Lý Sơn là mộ của các vị cai đội Võ Văn Khiết, Phạm Quang Ảnh và Phạm Hữu Nhật.
 Cai đội Hoàng Sa Võ Văn Khiết
Ông Võ Văn Khiết thuộc đời thứ 10 trong dòng họ Võ nhưng là người đầu tiên của Lý Sơn được nắm giữ chức cai đội của Hải đội Hoàng Sa có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Biển Đông cho Tổ quốc.
Thi hành nhiệm vụ được giao từ thời đại Tây Sơn, Võ Văn Khiết cùng đồng đội đã trải qua không biết bao nhiêu gian nguy, hiểm trở và cuối cùng nằm lại giữa biển khơi.
Triều đình biết ơn người đội trưởng can trường, phong Võ Văn Khiết là Thượng Đẳng thần, lập nhà thờ Võ Văn Khiết tại xóm Vĩnh Thành thuộc thôn Tây xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn. Tên tuổi ngài đã lưu dấu trong lòng con dân xứ đảo, được xướng lên trong các sớ cúng tế, ngang hàng với các vị thần linh được nhân dân thờ phụng.
Đến cuối triều Gia Long, một ngôi đền thờ khang trang cùng ngôi mộ gió của cai đội Võ Văn Khiết đã được xây dựng trong khu đất của dòng họ Võ, dân gian quen gọi là miếu ông Thắm.
Nối nghiệp thân phụ, ông Võ Văn Phú (con trai cả của Võ Văn Khiết), vào năm Gia Long nguyên niên (1802) cũng được phong chức “Khâm sai thiết thủ Sa Kỳ hải môn kiêm tri Hoàng Sa các đội Cai cơ thủ ngự Phú Nhuận hầu”, nghĩa là ông không chỉ làm Cai đội Hoàng Sa mà còn là người chỉ huy của các cai đội. Đồng thời ông cũng là quan trấn thủ cửa biển Sa Kỳ, một cửa biển lớn có vị trí quan trọng đối mặt với biển nước ta lúc bấy giờ. Đời sau, ông Võ Văn Hùng (con ông Võ Văn Phú) cũng từng đảm nhiệm chức vụ trưởng đội dân phu trong những năm từ 1832 đến 1836.
Cai đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh
Phạm Quang Ảnh người làng An Vĩnh là một viên cai đội của Đội Hoàng Sa. Tháng 1/1815 vua Gia Long Nguyễn Ánh phong ông làm cai đội của Đội Hoàng Sa và giao cho ông dẫn theo một đội quân gồm 70 người từ Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) đi đến Hoàng Sa và Bắc Hải để xem xét, đo đạc thủy trình, trấn giữ Biển Đông và tìm kiếm sản vật quý về cho triều đình. Mỗi chuyến đi 7 tháng, từ tháng 2 đến tháng 8 thì quay về để tránh mùa biển động.
Nhung ngoi mo khang dinh chu quyen Viet Nam o Bien Dong

Mộ cai đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh và các cộng sự

Đoàn thuyền của ông đã đi được nhiều chuyến thành công, nhưng rồi trong chuyến đi cuối cùng gió bão, ông và các thuyền viên đã vĩnh viễn nằm lại dưới biển sâu.

Vua Gia Long đã đích thân đến tận Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) làm lễ chiêu hồn cho các tử sĩ. Ông và đồng đội đã được hóa thân vào những hình người nặn bằng đất sét và được cúng chiêu hồn suốt một đêm với sự có mặt của vua, rồi làm lễ an táng như những người đã chết trên biển: 25 nấm mộ xếp thành một hàng trong đó ông Phạm Quang Ảnh đặt đầu tiên rồi đến 24 tử sĩ đồng đội của ông. Đây là ngững ngôi mộ chiêu hồn (còn gọi là mộ gió) đầu tiên ở Đảo Lý Sơn.
Đến nay, sau hàng trăm năm, 25 ngôi mộ gió này đã kết liền với nhau thành một nấm mộ lớn dài hơn chục mét ở thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn. Cai đội Phạm Quang Ảnh đã được phong làm Thượng đẳng thần để hộ vệ và ban phúc cho những người vượt sóng gió Biển Đông và được nhân dân xã An Vĩnh thờ cúng như Thành hoàng. Ông trở thành người khai lập dòng họ Phạm Quang trên đảo Lý Sơn, được thờ trong Nhà thờ của dòng họ.
Đất nước đã ghi nhớ công lao của ông bằng cách đặt tên ông cho một hòn đảo trong nhóm đảo Lưỡi Liềm ở quần đảo Hoàng Sa: Đảo Quang Ảnh.
Cai đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật
Phạm Hữu Nhật là một vị Chánh đội trưởng Thủy quân suất đội của Đội Hoàng Sa. Theo chính sử nhà Nguyễn, năm Bính Thân 1836, ông vâng mệnh vua Minh Mạng đưa binh thuyền gồm khoảng 50 người đi xem xét, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc và dựng bia chủ quyền của triều Nguyễn tại quần đảo Hoàng Sa.
Mỗi binh thuyền đem theo 10 cái bài gỗ, mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, trên có khắc dòng chữ “Minh Mạng thập thất niên, Bính Thân, Thủy quân Chánh đội trưởng suất đội trưởng Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương độ chi thử lưu đẳng tự” (nghĩa là: năm Minh Mạng thứ 17, Bính Thân, Thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh đi Hoàng Sa xem xét đo đạc đến đây, để ghi nhớ).
Nhung ngoi mo khang dinh chu quyen Viet Nam o Bien Dong-Hinh-2
Mộ cai đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật.
Ở từng điểm đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, đội của ông đã dừng lại cắm mốc, dựng bia chủ quyền, đo đạc thủy trình, trồng thêm cây cối, thu lượm hải vật rồi về tâu trình với triều đình là đã hoàn thành nhiệm vu.
Không biết ông đã đi được bao nhiêu chuyến, nhưng đến chuyến cuối cùng năm 1854 thì ông cùng các cộng sự đã không trở về. Gia đình, họ tộc và quê hương đã an táng ông bằng một nấm mộ chiêu hồn (còn gọi là mộ gió) không có hài cốt tại thôn Đông làng An Vĩnh, bên cạnh ngôi mộ của cụ Thủy tổ họ Phạm Văn, một trong 6 vị tiền hiền khai cư làng An Vĩnh trên đảo Lý Sơn.
Các bộ chính sử của triều Nguyễn đều có ghi chép về sự kiện này và đánh giá công lao to lớn của ông trong việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Công ơn của ông được khắc ghi bằng việc đặt tên Hữu Nhật cho một hòn đảo san hô nằm ở phía Nam quần đảo Hoàng Sa.
Vào dịp Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa 19/2 Âm lịch hàng năm, tộc họ Phạm Văn cúng tế vị tiền hiền Phạm Hữu Nhật bên cạnh việc tưởng nhớ các vị tham gia Đội Hoàng Sa đã hy sinh vì đất nước./.

Kiến thức

Loading

Views: 0

Mỹ bán vũ khí tối tân cho Ấn Độ, Trung Quốc lo bị bao vây

Trung Quốc hiện đang theo dõi rất sát chuyến đi thăm Mỹ của thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, đặc biệt là những hợp đồng về quân sự giữa hai nước, trong đó có hợp đồng cung cấp máy bay không người lái của Mỹ cho Ấn Độ.

Máy bay không người lái MQ-9B

Máy bay không người lái MQ-9B

Ngày 26/6, thủ tướng Modi lần đầu tiên gặp tổng thống Donald Trump trong bối cảnh Ấn Độ và Mỹ đã thắt chặt quan hệ đối tác chiến lược kể từ khi ông Modi lên cầm quyền, mặc dù hai nước chưa phải là đồng minh. Ông Modi hy vọng là quan hệ giữa hai nước sẽ tiếp tục nồng ấm giống như dưới thời tổng thống Obama, nhưng trước mắt ông sẽ cố thiết lập một mối quan hệ cá nhân tốt đẹp với ông Donald Trump.

Hai nhà lãnh đạo Mỹ-Ấn chắc cũng sẽ bàn về hợp đồng bán và chuyển giao công nghệ chiến đấu cơ phản lực của Mỹ cho Ấn Độ. Tuy nhiên, theo một chiến lược gia Trung Quốc tại Bắc Kinh được tờ Hindustan Times ngày 26/7 trích dẫn, Trung Quốc không mấy lo lắng về việc Washington chuyển giao công nghệ sản xuất chiến đấu cơ F-16, vì đây cũng chiến đấu cơ đời cũ.

Vấn đề khiến Trung Quốc quan ngại nhất là khả năng Mỹ cung cấp các máy bay không người lái tối tân cho Ấn Độ. Theo chiến lược gia này, hợp đồng đó mang tính biểu tượng hơn là hợp đồng F-16 và sẽ giúp nâng cao khả năng giám sát của New Delhi ở vùng Ấn Độ Dương và như vậy Ấn Độ sẽ theo dõi sát hơn mọi di chuyển của tàu bè Trung Quốc tại vùng biển này.

Một số tờ báo đưa tin chính phủ Mỹ đã bật đèn xanh cho hợp đồng bán 22 chiếc máy bay không người lái Guardian MQ-9B, trị giá tổng cộng 2 tỷ USD, mà Ấn Độ muốn trang bị cho lực lượng hải quân của họ. Hãng tin Reuters trước đó cho biết New Delhi xem hợp đồng này là một trắc nghiệm quan trọng cho quan hệ quốc phòng Mỹ-Ấn.

Theo dự kiến, hợp đồng bán máy bay không người lái cho Ấn Độ sẽ được công bố trong bản tuyên bố chung sau cuộc gặp giữa tổng thống Trump và thủ tướng Modi, nếu có sự chấp thuận chính thức của quốc hội.

Trung Quốc ngày càng quan ngại về quan hệ Mỹ-Ấn kể từ khi hai nước ký hiệp định về hạt nhân dân sự năm 2005, mở đường cho New Dehli nhập khẩu nhiên liệu và công nghệ hạt nhân. Cho tới nay, Trung Quốc vẫn chống lại việc Ấn Độ muốn gia nhập nhóm 48 quốc gia cung cấp năng lượng hạt nhân, kiểm soát việc mua bán công nghệ hạt nhân trên thế giới.

Hơn nữa, Bắc Kinh cho rằng Mỹ đang muốn dùng Ấn Độ để kềm chế, «bao vây» Trung Quốc. Ngày 23/6, phát ngôn viên bộ ngoại giao Trung Quốc đã lên tiếng yêu cầu Washington và New Delhi «không làm ảnh hưởng đến hòa bình ở khu vực Biển Đông», yêu cầu hai nước này nên đóng vai trò xây dựng trong những tranh chấp chủ quyền hơn là làm cho các tranh chấp đó trầm trọng. Trung Quốc đã ra tuyên bố như trên vì biết chắc vấn đề này sẽ được đề cập đến trong cuộc gặp gỡ giữa hai ông Trump và Modi./.

Viettimes

Loading

Views: 0

Phát triển toàn diện, sâu rộng quan hệ đối tác giữa VN và Belarus

Lễ đón Chủ tịch nước Trần Đại Quang được tổ chức trọng thể với nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia.

Đúng 10h sáng 27/6, theo giờ địa phương, lễ đón chính thức Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Cộng hòa Belarus được tổ chức trọng thể tại Cung độc lập ở Thủ đô Minsk, Cộng hòa Belarus. Tổng thống Cộng hòa Belarus Lukashenko  chủ trì lễ đón.

Lễ đón Chủ tịch nước Trần Đại Quang được tổ chức trọng thể với nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia. Tổng thống Belarus Lukashenko đón Chủ tịch nước Trần Đại Quang tại nơi đỗ xe, bắt tay và nhiệt liệt chào mừng Chủ tịch nước Trần Đại Quang sang thăm chính thức Cộng hòa Balerus. Tổng thống Belarus mời Chủ tịch nước Trần Đại Quang bước lên vị trí danh dự. Quân nhạc cử quốc thiều hai nước.

Chủ tịch nước, Trần Đại Quang, Belarus
Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Tổng thống Lukashenko chủ trì họp báo

Ngay sau lễ đón, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã tiến hành hội đàm với Tổng thống Belarus Lukashenko.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã gửi lời chúc mừng tốt đẹp tới Tổng thống A. Lukashenko  và nhân dân Belarus nhân dịp kỷ niệm 26 năm Quốc khánh Belarus (ngày 3/7) và bày tỏ tin tưởng Belarus sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam luôn coi trọng củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt với Belarus.

Tổng thống A. Lukashenko  đánh giá cao những thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời gian qua; khẳng định Belarus luôn coi Việt Nam là một trong những ưu tiên đối ngoại quan trọng của Belarus ở khu vực châu Á; hoan nghênh nỗ lực của Việt Nam đảm nhận trọng trách Chủ nhà APEC 2017 và chúc Việt Nam tổ chức thành công Năm APEC 2017.

Hai bên nhất trí tiếp tục duy trì thường xuyên trao đổi đoàn các cấp, đặc biệt cấp cao, nhằm tăng cường quan hệ chính trị tin cậy, đẩy mạnh hợp tác theo các kênh Nhà nước, Quốc hội, Bộ, ngành, địa phương hai nước; tăng cường hợp tác tại các diễn đàn đa phương như Liên Hợp Quốc, Phong trào Không liên kết, góp phần bảo vệ lợi ích, an ninh của mỗi nước, cùng nhau phấn đấu vì một thế giới hòa bình, ổn định và thịnh vượng.

Hai bên đã thảo luận và thống nhất nhiều giải pháp cụ thể nhằm đưa hợp tác kinh tế – thương mại và đầu tư phát triển hơn nữa, tương xứng với tiềm năng và quan hệ chính trị tốt đẹp giữa hai nước.

Hai bên nhất trí tiếp tục nỗ lực triển khai thực hiện tốt Chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Belarus trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, giáo dục và văn hóa giai đoạn 2016 – 2018; tiếp tục triển khai hiệu quả hợp tác quốc phòng – an ninh; tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương hai nước phát triển hợp tác cùng có lợi…

 Chủ tịch nước Trần Đại Quang cảm ơn lãnh đạo và các cấp chính quyền địa phương Belarus đã hỗ trợ, giúp đỡ cộng đồng người Việt Nam tại Belarus trong thời gian qua và mong phía Belarus tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam sinh sống, làm việc, kinh doanh ổn định theo luật pháp Belarus và hòa nhập với xã hội sở tại, đóng góp tích cực vào việc củng cố tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam – Belarus.

Trao đổi về các vấn đề quốc tế, lãnh đạo hai nước thể hiện quan điểm chung về nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, trong đó nhấn mạnh vai trò trung tâm của Liên Hợp Quốc với tư cách là cơ chế chủ đạo trong việc bảo đảm hòa bình, an ninh quốc tế và phát triển bền vững, ủng hộ việc tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên Hợp Quốc.

Tổng thống Belarus khẳng định ủng hộ lập trường của Việt Nam giải quyết các tranh chấp lãnh thổ, trong đó có tranh chấp tại Biển Đông, bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, với sự tham gia của tất cả các bên liên quan và hoan nghênh các nỗ lực nhằm sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).

Chủ tịch nước Trần Đại Quang trân trọng mời Tổng thống A. Lukashenko thăm Việt Nam. Tổng thống A. Lukashenko  chân thành cảm ơn và vui vẻ nhận lời. Thời gian chuyến thăm sẽ được thu xếp qua đường ngoại giao.

Sau hội đàm, Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Tổng thống Belarus Lukashenko đã ký Tuyên bố chung của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam và Tổng thống Cộng hòa Belarus về phát triển toàn diện và sâu rộng quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Belarus.

Hai vị lãnh đạo đã chứng kiến lễ ký kết các văn kiện: Nghị định thư sửa đổi Nghị định thư giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Balarus về hỗ trợ sản xuất phương tiện vận tải có động cơ trên lãnh thổ Việt Nam; Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực địa chất giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam và Bộ Tài nguyên và Bảo vệ môi trường Belarus; Quy chế hoạt động của Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam – Belarus về hợp tác kỹ thuật quân sự; Bản ghi nhớ về trao đổi đoàn cán bộ nghỉ dưỡng giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Nội vụ Belarus…/.

Theo VOA

Loading

Views: 0

Biển Đông tuần qua (17-23/6)

– Viện nghiên cứu Hải dương Biển Đông thuộc Học viện Khoa học Trung Quốc ngày 21/6 đã công bố dự án số hóa những dữ liệu thu thập được từ các cuộc thăm dò và khảo sát khoa học ở Biển Đông, bao gồm các đảo, đá ở khu vực. Theo dự án trên, TQ sẽ cho thu thập và số hóa các dữ liệu gồm dữ liệu khí tượng thủy văn, dữ liệu hóa học biển và dữ liệu môi trường địa chất ở Biển Đông và các đảo, đá san hô ở khu vực. Cơ sở dữ liệu số hóa toàn diện sẽ được xây dựng và được xuất bản thành sách khi dự án này được hoàn thành. Dự án này có sự tham gia của 193 nhà nghiên cứu và hơn 10 viện nghiên cứu, trường đại học TQ.

Sau 06 tuần tiến hành khai thác băng cháy ở gần khu vực biển Thần Hồ, cách Hồng Công 300 km về phía Đông Nam, TQ đã khai thác được 235.000 m3 băng cháy ở Biển Đông. Những người tham gia khai thác cho biết „sản lượng này vượt ngoài kỳ vọng trước đó của TQ; việc khai thác thử băng cháy thành công đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong khai thác các nguồn năng lượng ở Biển Đông“. (Theo Thời báo Hoàn cầu, china.org)

– Đối thoại ngoại giao, an ninh Trung – Mỹ đã diễn ra tại thủ đô Washington, Mỹ ngày 21/6, tập trung thảo luận các biện pháp gia tăng sức ép buộc Bắc Triều Tiên từ bỏ chương trình tên lửa/hạt nhân và các vấn đề khác như chống khủng bố và Biển Đông. Sau Đối thoại, Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson trả lời phỏng vấn cho rằng TQ có trách nhiệm trong việc tăng cường sức ép kinh tế và ngoại giao với Bắc Triều Tiên nhằm kiềm chế leo thang căng thẳng ở khu vực; Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis kêu gọi TQ tôn trọng luật pháp quốc tế đối với các vùng biển tranh chấp. (Asia Nikkei, Express)

Quang cảnh buổi đối thoại (Ảnh: THX/TTXVN)

– Hải quân Indonesia, Philippines và Malaysia ngày 19/6 đã tuần tra chung trên biển tại khu vực biên giới chung trên biển của ba nước (vùng biển Sulu và gần biển Celebes). Singapore và Brunei cũng cử quan sát viên tham dự sự kiện này. Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Ryamizard Ryacudu nhấn mạnh việc duy trì an ninh hàng hải là nhiệm vụ chung của các nước thành viên ASEAN, không phải của riêng quốc gia nào.

– Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Inada cho biết các quan chức quân đội của 10 nước ASEAN đã bắt đầu chuyến khảo sát Biển Đông trong 4 ngày (19-22/6) trên tàu sân bay trực thăng Izumo của Hải quân Nhật Bản khởi hành từ Singapore; các đại diện quân đội của các nước ASEAN cũng tham gia với tư cách quan sát viên một cuộc diễn tập cứu trợ thiên tai của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản trong 3 ngày (20-22/6). Báo giới nhận định những sự kiện trên đánh dấu mức độ hợp tác chưa từng thấy giữa các quan chức của lực lượng dân phòng và các quân chủng quân đội Nhật Bản, khẳng định chủ trương thúc đẩy ngoại giao quân sự của Thủ tướng Shinzo Abe. (Reuters, Asia Nikkei).

Tờ Yomiuri Shimbun của Nhật Bản ngày 17/6 dẫn nguồn tin từ Bộ Quốc phòng Nhật Bản cho biết Hải quân nước này vừa kết thúc cuộc tập trận đầu tiên với Hải quân Mỹ ở Biển Đông. Cuộc tập trận kéo dài 3 ngày (13-15/6) với sự tham gia của tàu sân bay trực thăng Izumo của Nhật Bản và tàu sân bay USS Ronald Reagan của Mỹ. Cuộc diễn tập diễn ra trong bối cảnh TQ cảnh báo Mỹ và Nhật Bản không nên can thiệp vào vấn đề Biển Đông.

– Trang Inquirer.net của Philippines ngày 18/6 đăng bài bình luận của Giáo sư Shin Kawashima (Đại học Tokyo) cho rằng hiện TQ đang thể hiện quan điểm „ôn hòa“ và „tương đối cẩn trọng“ trong vấn đề Biển Đông vì 2 lý do: Về đối ngoại, TQ muốn thiết lập quan hệ vững chắc với Mỹ trước khi xây dựng các chính sách khác, nên tránh đưa ra những quyết định lớn có thể làm gia tăng yếu tố bất trắc. Về đối nội, Tổng bí thư, Chủ tịch TQ Tập Cận Bình tập trung củng cố quyền lực trước Đại hội 19 Đảng Cộng sản TQ và không muốn vần đề nào ảnh hưởng đến tiến trình này./.

Loading

Views: 0

Vietnam reaffirms importance of UNCLOS

17/6/2017

NDO/VNA – A Vietnamese representative has again stressed the important role of the UN Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) as the constitution of the seas and oceans which provides a comprehensive and sound legal framework for all activities carried out in the seas and oceans.

Speaking at the 27th Meeting of States Parties to the UNCLOS in New York on June 15, Ambassador Nguyen Phuong Nga, Permanent Representative of Vietnam to the United Nations (UN), emphasised the need for all State parties to fully implement their obligations under the UNCLOS, including to peacefully settle disputes on the application and explanation of the convention, to ensure peaceful and sustainable use of the seas and oceans, for the benefits of all human beings.

Ambassador Nguyen Phuong Nga

“The East Sea is of vital significance to peace, security and development in the region and the world,” stated Nga. “Therefore maintaining peace, security, safety and freedom of maritime navigation and overflight, as well as cooperation for the sustainable use of the East Sea is exceptionally important to the countries in the region and the international community”.

Vietnam has actively cooperated with other countries through bilateral and multilateral forums such as ASEAN, ARF, and APEC on marine environment protection, scientific research, security and safety of maritime navigation and over-flight, search and rescue, response to climate change and emergencies, combating transnational crimes and piracy.

At the national level, the Vietnamese Government and localities have implemented a lot of measures to protect sea environment and ecosystem, and respond to climate change and emergencies and negative impacts of climate change on the country’s coastal areas.

The diplomat also stressed that Vietnam has been coordinating closely with others in the region to implement the Declaration on the Conduct of Parties in the East Sea (DOC) and develop the Code of Conduct in the East Sea (COC).

Vietnam calls on all parties involved to “refrain from actions that may further complicate the situation and escalate tensions in the region, fully respect legal and diplomatic processes, settle disputes by peaceful means, on the basis of international law, including the UNCLOS, fully and effectively implement the DOC and early conclude the legally binding COC”, she added.

The 27th Meeting of States Parties to the UNCLOS, held from June 12-16, attracted the participation of representatives from over 160 member states of the UNCLOS, and the International Tribunal for the Law of the Sea (ITLOS), the International Seabed Authority (ISA) and the Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS).

Speeches at the meeting asserted the importance of the UNCLOS as an international comprehensive legal framework to adjust activities and issues relating to seas, oceans, stressing the necessity to continue developing and perfecting the legal system on managing seas and oceans./.

 

 

Loading

Views: 0

China asked to take responsible, constructive actions in East Sea

16/06/2017

China, as a big country in the region and the world, needs to act responsibly and constructively in the maintenance of peace and stability in the region as well as in the East Sea on the basis of complying with international law, Foreign Ministry Spokesperson Le Thi Thu Hang has said. 

A photo shows China’s island reclamation in the East Sea (Photo: CSIS)

Hang made the statement at the ministry’s regular press conference on June 15 while answering a question about the information that China is in the process of militarising islands in Truong Sa (Spratly) and Hoang Sa (Paracel) archipelagoes.

“Vietnam has sufficient legal foundation and historical evidence affirming its sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagos,” she stressed.

Any activities by foreign countries in the areas of Hoang Sa and Truong Sa without Vietnam’s permission is completely illegal and cannot change the fact that Vietnam has sovereignty over these two archipelagos, she added.

In an annual report released earlier this month, the Pentagon said that as of late last year, was building 24 fighter-sized hangars, fixed-weapons positions, barracks, administration buildings, and communication facilities on each of the three largest outposts Fiery Cross, Subi and Mischief Reefs. Each has runways that are at least 8,800 feet (2,680 meters) long.

Once complete, the report said will be able to house up to three regiments of fighters in the Spratly Islands.

has also built up infrastructure on the four smaller outposts, including land-based guns and communications facilities, the report said./.

VNA

Loading

Views: 0

South China Sea Weekly Review (10-16/6)

16 June 2017

– Speaking during a visit of USS Sterett guided-missile destroyer to Zhanjiang, Guangdong province (China), US Pacific Fleet Commander Admiral Scott Swift (June 15) said the naval vessels would increase their stay in the South China Sea this year to 900 days compared to an average of around 700 days annually.

(Guided-missile destroyer)

– In talks with Singaporean Foreign Minister Balakrishnan, who was visiting China (June 11-12), Chinese Foreign Minister Wang Qun suggested that China and ASEAN Member States should discuss the contents of the Code of Conduct in the South China Sea at the appropriate time.

– On June 11, Guangdong’s marine geological survey agency (China) declared that ice-burning test operations in the South China Sea had succeeded and considered to expand operations. The exploited output in one month of trial reached 6,800m3 per day with a total output of about 210,000 m3.

– On June 10, Reuters cited the information on Chinese defense ministry’s social network that China would continue to remain vigilant and monitor US military operations in the South China Sea.

(According to Reuters, Xinhua, Channel News Asia)

Loading

Views: 0

Biển Đông tuần qua (10-16/6)

16/6/2017

Một số diễn biến đáng chú ý liên quan Biển Đông tuần qua

– Phát biểu trong chuyến thăm tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường USS Sterett tới Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc (TQ), Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Scott Swift (15/6) cho biết các tàu hải quân nước này sẽ tăng thời gian lưu lại ở khu vực Biển Đông trong năm nay lên tới 900 ngày so với mức trung bình khoảng 700 ngày/năm.

(Tàu khu trục tên lửa)

– Trong cuộc hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Singapore Balakrishnan đang ở thăm TQ (11-12/6), Bộ trưởng Ngoại giao TQ Vương Nghị đề xuất TQ và các quốc gia thành viên ASEAN sẽ thảo luận về các nội dung trong Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông vào thời gian thích hợp.

– Ngày 11/6, cơ quan thăm dò địa chất hải dương tỉnh Quảng Châu, TQ tuyên bố hoạt động khai thác thử nghiệm băng cháy ở Biển Đông đã diễn ra suôn sẻ và đang tính toán mở rộng khai thác. Sản lượng khai thác trong 1 tháng thử nghiệm đạt 6.800m3/ngày với tổng sản lượng khoảng 210.000 m3.

– Hãng tin Reuters ngày 10/6 dẫn thông báo trên các trang mạng xã hội của Bộ Quốc phòng TQ cho biết, TQ sẽ tiếp tục duy trì cảnh giác và giám sát các hoạt động quân sự của Mỹ ở Biển Đông./.

(Theo Reuters, Tân hoa xã, Channel News Asia)

Loading

Views: 0

Một cuộc chạy đua vũ trang mới ở Đông Nam Á? (Phần 2)

Có thể nhận định, việc tăng chi tiêu quốc phòng là một xu thế chủ đạo ở ĐNA trong những năm gần đây, mặc dù ở mỗi nước quy mô và tốc độ gia tăng có khác nhau.

Điều đáng nói là cuộc chạy đua này không mang nghĩa truyền thống bởi ở khu vực hiện không tồn tại đối đầu quân sự giữa hai nước hay giữa các nước với nhau; các nước tăng sức mạnh quốc phòng cũng không nhằm đối phó hay cân bằng lại sự gia tăng vũ trang của nước khác. Đối với 3 nước Việt Nam, Indonesia, Philippines, mối nguy cơ từ một nước TQ hiếu chiến là rõ ràng hơn, đặc biệt trước các tham vọng trên biển Đông của Bắc Kinh. Tuy nhiên, tăng cường sức mạnh ở ba nước này không nhằm chạy đua với TQ hay nhằm cân bằng lực lượng với TQ. Sức mạnh của TQ nếu so với từng nước trên vẫn ở thế vượt trội và việc chạy đua với TQ là điều “vô nghĩa”.

Ngoài mối đe dọa từ bên ngoài, Philippines và Indonesia còn phải đối phó với các thách thức an ninh trong nước từ chủ nghĩa khủng bổ và những phần tử ly khai. Một đặc điểm nổi bật của cuộc chạy đua vũ trang ở ĐNA hiện nay đó là mục tiêu của nó chủ yếu nhằm hiện đại hóa trang thiết bị quốc phòng vốn đã cũ kỹ, chứ không phải sự gia tăng về chất hoặc về lượng ở quy mô lớn có thể làm thay đổi cân bằng lực lượng ở khu vực. Một số đánh giá cho thấy 1/3 số tàu của hải quân Indonesia không thể hoạt động hoặc chỉ hoạt động được một cách hạn chế.

          Những xu hướng lớn trong chính sách chi tiêu quốc phòng ở ĐNA

Nhìn vào sự gia tăng chi tiêu quốc phòng mạnh mẽ của hàng loạt nước ĐNA thời gian qua, có thể thấy một số xu hướng lớn như sau:

Đầu tiên là việc trong khoảng 1 thập kỷ qua, các nước khu vực đã có sự điều chỉnh đáng kể chính sách quốc phòng, từ trọng tâm các vấn đề an ninh trong nước chuyển sang trọng tâm là tăng cường năng lực phòng vệ đất nước. Một ví dụ là Philippines. Năm 2005, Philippines không có lực lượng trực thăng trong không quân nhưng đến năm 2014, Manila đã đặt mua 12 máy bay chiến đấu của Hàn Quốc.

Xu hướng thứ hai là trong khoảng 10 năm qua, các hoạt động hiện đại và mở rộng sức mạnh vũ trang tập trung chủ yếu cho không quân và hải quân nhằm mục đích xây dựng năng lực phòng không và kiểm soát hải phận. Việt Nam, Indonesia, Singapore và Thái Lan gần đây đã mua mới nhiều loại tên lửa tầm xa và tàu ngầm trang bị các loại đầu đạn tấn công. Indonesia, Malaysia, Singapore và Việt Nam cũng trang bị mới các loại tên lửa chống tàu. Lực lượng bảo vệ bờ biển của Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Myanmar, Singapore và Philippines mua mới nhiều tàu tuần tra, tàu khu trục, tàu chiến nhằm tăng năng lực kiểm soát và bảo vệ biển. Indonesia, Singapore, Việt Nam, Thái Lan còn trang bị các hệ thống radar hiện đại.

Thứ ba là nhiều nước ở ĐNA muốn đẩy mạnh xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng. Chính phủ Thái Lan, Indonesia, Việt Nam và Singapore đã không giấu giếm về việc muốn giao cho các tổ hợp công nghiệp trong nước các hợp đồng trang bị mới ký kết với các tập đoàn nước ngoài. Trong bối cảnh này, các nước hầu hết đều muốn ký với đối tác nước ngoài những hợp đồng có các điều khoản cụ thể quy định về chuyển giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực quốc phòng. Indonesia đã ký các hợp đồng như vậy với Hàn Quốc trong việc đặt mua các tàu ngầm thế hệ mới.

          Nguyên nhân dẫn đến tăng cường vũ trang ở ĐNA

          Lý giải đầu tiên cho sự tăng cường vũ trang này là môi trường an ninh chiến lược trực diện ở khu vực đang có nhiều thay đổi lớn. Đối với một loạt nước ở khu vực, cách hành xử quyết liệt hiếu chiến của TQ ở Biển Đông cùng với sự thiếu rõ ràng về tham vọng địa chiến lược của Bắc Kinh đã làm các nước buộc phải mở rộng và hiện đại hóa lực lượng vũ trang của mình. Song song với đó là sự thiếu lòng tin của các chính phủ ở ĐNA đối với tính hiệu quả của những cơ cấu an ninh hiện có ở khu vực, vốn dựa trên nền tảng là các quan hệ đồng minh song phương giữa Mỹ với từng nước ở khu vực. Giải thích cho điều này xuất phát từ việc TQ tự rút ra khỏi các cơ cấu an ninh đó, mặt khác là ý đồ của TQ muốn thách thức địa vị thống trị của Mỹ ở khu vực.

Lý do tiếp theo đó chính là các nước ở khu vực ngày càng nghi ngờ về mức độ can dự và những cam kết an ninh của Mỹ ở ĐNA. Washington vốn đã dồn sức cho các chiến trường Iraq, Libya và nhiều nơi khác trên thế giới dường như không còn đủ lực để ngăn cản những tham vọng của TQ ở ĐNA, đặc biệt ở Biển Đông. Đặc biệt là những nước có tranh chấp trực tiếp về chủ quyền trên biển với TQ khi họ vừa không nhìn thấy vai trò của ASEAN trong cơ chế bảo đảm an ninh ở khu vực, vừa nghi ngờ về ảnh hưởng thực tế của Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump./.

Tham khảo:

-https://www.sipri.org/databases/armstransfers

-Trends in international arms transfers 2015, SIPRI

-Trends in international arms transfers 2016, SIPRI

 

 

Loading

Views: 0

Lầu Năm Góc: Trung Quốc dùng đảo nhân tạo khống chế Biển Đông

Trung Quốc đang quân sự hóa các hòn đảo đang tranh chấp trên Biển Đông và đang sử dụng sự cưỡng chế phi quân sự nhằm kiểm soát trái phép vùng biển chiến lược ở châu Á, Lầu Năm Góc cho biết trong báo cáo mới nhất hàng năm về quân đội Trung Quốc.

Lau Nam Goc: Trung Quoc dung dao nhan tao khong che Bien Dong - Anh 1

Đá Chữ Thập đã bị Trung Quốc bồi lấp thành đảo nhân tạo phi pháp với đường băng dài 3.000m, nhà chứa máy bay và các công trình quân sự kiên cố

“Trung Quốc tiếp tục thực hiện việc cưỡng chế cường độ thấp để thúc đẩy các tuyên bố của nước này trên Biển Đông và Biển Hoa Đông”, báo cáo trước Quốc hội Mỹ nhận định, đồng thời báo cáo cũng bổ sung rằng Trung Quốc đang sử dụng “các bước đi đã được định sẵn nhằm tăng cường sự kiểm soát hiệu quả trên các khu vực tranh chấp và tránh leo thang thành xung đột quân sự”.

Trên Biển Đông, Trung Quốc đang thúc đẩy xây dựng các cơ sở quân sự trên một số đảo trong tổng số 3.200 ha đảo được bồi lấp và có vẻ đang hướng đến xây dựng một lực lượng lớn gồm các máy bay chiến đấu.

Việc xây dựng đảo còn bao gồm cả các đường băng dài ít nhất 8.800 feet, các thiết bị hải cảng mới và các kho chứa nước và nhiên liệu trên quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam).

Quá trình quân sự hóa tập trung vào ba đá bị Trung Quốc bồi lấp thành đảo nhân tạo phi pháp và tự tuyên bố là đảo thuộc chủ quyền nước này, gồm Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và Đá Xubi.

“Vào cuối năm 2016, Trung Quốc đã xây dựng 24 nhà chứa máy bay chiến đấu, các địa điểm đặt vũ khí cố định, doanh trại, tòa hành chính, và các thiết bị liên lạc ở ba tiền đồn trên các đá này”, báo cáo cho hay. “Một khi tất cả các cơ sở này đã hoàn thành, Trung Quốc sẽ có khả năng chứa được ba trung đoàn máy bay chiến đấu trên quần đảo Trường Sa”.

Các cơ sở khác đã được xây dựng trên Đá Châu Viên, Đá Gạc Ma, Đá Gaven và Đá Tư Nghĩa.

Lau Nam Goc: Trung Quoc dung dao nhan tao khong che Bien Dong - Anh 2

Cận cảnh Đá Chữ Thập đã bị Trung Quốc bồi lấp, xây đảo nhân tạo trái phép với đường băng và các công trình quân sự tại quần đảo Trường Sa. Khu vực màu đỏ là nơi bố trí các hệ thống radar. Khu vực màu xanh dương là nhà chứa máy bay. Khu màu vàng xây dựng các hầm chứa các khẩu đội tên lửa cơ động. Khu vực màu xanh lơ là các điểm phòng thủ. Ảnh chụp ngày 9/3/2017

Bắt đầu vào đầu năm 2016, quân đội Trung Quốc (PLA) đã lắp đặt vũ khí phòng thủ trên các tiền đồn và tăng cường cơ sở hạ tầng liên lạc trên các đảo nhân tạo xây dựng phi pháp.

Báo cáo của Lầu Năm Góc đã đặt câu hỏi về tuyên bố của Bắc Kinh cho rằng việc xây dựng đảo nhân tạo trái phép này chỉ mang tính phòng thủ. Thay vào đó, Lầu Năm Góc cho rằng mục tiêu của PLA dường như là “cố gắng thúc đẩy quyền kiểm soát trên thực tế bằng cách cải thiện cơ sở hạ tầng quân sự và dân sự trên Biển Đông”.

Báo cáo của Lầu Năm Góc đánh giá: “Các sân bay, các khu vực bến cảng và các cơ sở tiếp tế trên các tiền đồn ở Trường Sa sẽ cho phép Trung Quốc duy trì một đội ngũ hải cảnh và sự hiện diện quân sự linh hoạt hơn và lâu dài hơn trong khu vực”.

Hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đang triển khai các vị trí đặt vũ khí cố định và các phương tiện liên lạc.

Một quan chức quốc phòng Mỹ cho biết các vị trí đặt vũ khí là một vấn đề đáng quan tâm. Các vị trí hiện đang được trang bị pháo tầm ngắn, nhưng phân tích tình báo lại chỉ ra rằng các vị trí giống nhau có thể được nâng cấp dễ dàng để đặt các tên lửa chống tàu tầm xa hơn.

Các cơ sở này một khi hoàn thành quá trình quân sự hóa sẽ giúp Trung Quốc có đủ sức mạnh để phát hiện và đối phó với các hoạt động của các bên yêu sách khác và giảm thời gian cần thiết để đối phó với các hoạt động trên biển và trên không của kẻ thù.

Vào tháng trước, một tàu khu trục của Mỹ đã tiến hành hoạt động tự do hàng hải, áp sát một trong số các đá mà Trung Quốc bồi lấp, và sắp tới có lẽ Mỹ sẽ triển khai nhiều hoạt động như vậy hơn. Trước những động thái từ phía Mỹ, Trung Quốc đã phản đối cuộc tuần tra ở gần Đá Vành Khăn.

Lau Nam Goc: Trung Quoc dung dao nhan tao khong che Bien Dong - Anh 3

Cận cảnh Đá Vành Khăn đã bị Trung Quốc bồi lấp, xây đảo nhân tạo trái phép với đường băng và các công trình quân sự tại quần đảo Trường Sa. Khu vực màu đỏ là nơi bố trí các hệ thống radar. Khu vực màu xanh dương là nhà chứa máy bay. Khu màu vàng xây dựng các hầm chứa các khẩu đội tên lửa cơ động. Khu vực màu xanh lơ là các điểm phòng thủ. Ảnh chụp ngày 11/3/2017

Các tuyên bố chủ quyền phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông đã bị Tòa Trọng tài Thường trực The Hague bác bỏ hồi năm ngoái. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã ngang nhiên bác bỏ và không chấp nhận phán quyết của tòa án, và tiếp tục khẳng định chủ quyền một cách trái phép đối với 90% vùng biển.

Báo cáo cũng ghi nhận rằng Trung Quốc đã sử dụng các chính sách thương mại mang tính trừng phạt và các biện pháp khác để ngăn chặn sự phản đối các hành vi gây hấn của nước này.

Sau khi tòa đưa ra phán quyết vào tháng 7/2016, Trung Quốc đã tăng số lượng hải cảnh, dân quân trên biển và các tàu đánh cá hoạt động tại khu vực các đảo đá đang tranh chấp.

Theo Business Insider, các lãnh đạo Trung Quốc đang sử dụng chiến thuật chiến tranh thông tin để củng cố các lợi ích chiến lược. “Cách tiếp cận này nhằm mục đích tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc thông qua các hoạt động được tính toán kỹ càng, ở dưới ngưỡng kích động Mỹ cùng các đồng minh và đối tác, hoặc những nước khác trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tiến hành một cuộc xung đột mở”, báo cáo cho hay. “Điều này đặc biệt rõ ràng trong việc Trung Quốc theo đuổi các yêu sách chủ quyền phi pháp trên Biển Đông và Biển Hoa Đông”.

Các chính sách bá quyền hàng hải đã làm gia tăng sự lo ngại trong khu vực về các ý định lâu dài của Trung Quốc, báo cáo cho biết.

Ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền với quần đảo Senkaku của Nhật Bản. Về phần mình, Mỹ công nhận quyền quản lý của Nhật Bản đối với quần đảo Senkaku và đã viện dẫn Điều 5 của Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ- Nhật, trong đó quy định quân đội Mỹ sẽ bảo vệ các hòn đảo này khỏi bất kỳ nỗ lực nào nhằm chiếm cứ quần đảo này của Trung Quốc, báo cáo cho biết.

Năm ngoái, Trung Quốc tiếp tục tiến hành các cuộc tuần tra bằng tàu và máy bay gần các hòn đảo trên.

Lầu Năm Góc cho rằng quân đội Trung Quốc coi các hoạt động thông tin (bao gồm chiến tranh pháp lý, chính trị và tâm lý) là hết sức cần thiết trong việc đối phó với kẻ thù khỏi can thiệp bằng cách kiểm soát thông tin trong khu vực chiến tranh.

PLA dự định sẽ sử dụng các biện pháp phong tỏa thông tin và thống trị thông tin để củng cố mục tiêu quân sự của Trung Quốc trong chiến tranh.

“Khái niệm” phong tỏa thông tin “của Trung Quốc là sử dụng các công cụ quân sự và phi quân sự của quyền lực nhà nước trên khu vực chiến đấu, bao gồm cả không gian ảo và vũ trụ”, báo cáo cho biết.

Tương tự như vậy, Trung Quốc có kế hoạch sử dụng các cuộc tấn công không gian mạng nếu xảy ra xung đột trong tương lai để đạt được “ưu thế về không gian mạng” bằng cách tấn công vào các lực lượng có thể làm suy giảm các hoạt động quân sự của đối phương nhằm vào Trung Quốc.

Rick Fisher, nhà phân tích các vấn đề quân sự Trung Quốc, cho biết bản báo cáo của Lầu Năm Góc năm nay cung cấp những thông tin mới về những cải cách về học thuyết và cách tổ chức của PLA.

“Ngày nay, Washington và các đồng minh của Mỹ lo ngại rằng chính sách Trung Quốc của ông Trump có thể không thực sự bảo vệ lợi ích Mỹ tương tự như chính quyền Obama trước đây”, ông Fisher trả lời Trung tâm chiến lược và nghiên cứu quốc tế.

Chính quyền tổng thống Donald Trump “cần phải nói lên sự thật về các tham vọng quân sự của Trung Quốc trên toàn cầu và nói lên sự thật về sự ủng hộ lâu dài của Trung Quốc đối với chương trình hạt nhân ở Triều Tiên, Iran, và cuộc khủng hoảng Hồi giáo ở Pakistan”.

Ông cho rằng: “Để bảo vệ đất nước chống lại các mối đe dọa hiện tại và tương lai từ Trung Quốc, thế giới cần nhất là những sự thật về nước này và dự báo về mối đe dọa đó”.

Báo cáo mới nhất cung cấp những chi tiết mới về sư phát triển phòng thủ tên lửa của Trung Quốc, các hệ thống này tương tự như hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ được triển khai tại Hàn Quốc mà Bắc Kinh đang kiên quyết phản đối.

Ngoài việc mở rộng phạm vi quân sự trong khu vực Trung Quốc, Bắc Kinh cũng đang mở rộng khả năng triển khai sức mạnh thông qua việc thiết lập các căn cứ ở nước ngoài cách xa bờ biển Trung Quốc. Ví dụ, vào tháng 2/2016, Trung Quốc bắt đầu xây dựng một căn cứ quân sự ở Djibouti thuộc Sừng Châu Phi.

Các căn cứ viễn dương khác của Trung Quốc được cho là sắp được xây dựng, đây là một dấu hiệu cho thấy các nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc đã lên kế hoạch tiến hành các hoạt động ở Ấn Độ Dương, Địa Trung Hải và Đại Tây Dương.

Lầu Năm Góc cũng cho biết: “Một cơ sở hậu cần và cơ sở hạ tầng căn cứ mạnh hơn ở nước ngoài sẽ là cần thiết để Trung Quốc có thể triển khai và duy trì được sức mạnh quân sự ở những nơi xa Trung Quốc”.

Báo cáo cũng cảnh báo về khả năng chiến tranh không gian của Trung Quốc. “Chương trình vũ trụ của Trung Quốc tiếp tục trưởng thành một cách nhanh chóng. Trung Quốc cũng tiếp tục phát triển một loạt các khả năng phản không được thiết kế để làm suy giảm và phủ nhận việc sử dụng các căn cứ trên không của kẻ thù trong một cuộc khủng hoảng hoặc xung đột”.

Hầu hết các chương trình chiến tranh không gian của Trung Quốc vẫn chưa được bật mí kể từ vụ nổ chống vệ tinh trong không gian năm 2007 đã tạo ra hàng ngàn mảnh vỡ trôi nổi trên quỹ đạo.

Về các vấn đề khác, báo cáo cũng nhấn mạnh các khả năng quân sự ngày càng phát triển của Trung Quốc bao gồm việc triển khai các tên lửa tầm trung mới, DF-26, có khả năng tấn công Guam, một trung tâm quân sự chính của Mỹ ở Thái Bình Dương.

PLA là quân đội lớn nhất trên thế giới với 850.000 binh lính. Quân đội này đang trải qua một cuộc cải tổ và hiện đại hóa lớn, trang bị công nghệ cao cho binh sĩ.

Lau Nam Goc: Trung Quoc dung dao nhan tao khong che Bien Dong - Anh 4

Cận cảnh Đá Subi đã bị Trung Quốc bồi lấp, xây đảo nhân tạo trái phép với đường băng và các công trình quân sự tại quần đảo Trường Sa. Khu vực màu đỏ là nơi bố trí các hệ thống radar. Khu vực màu xanh dương là nhà chứa máy bay. Khu màu vàng xây dựng các hầm chứa các khẩu đội tên lửa cơ động. Khu vực màu xanh lơ là các điểm phòng thủ. Ảnh chụp ngày 14/3/2017

Trong bản báo cáo, Lầu Năm Góc lần đầu tiên cung cấp chi tiết mới về một lực lượng mới trong PLA mới gọi là Lực lượng Hỗ trợ Chiến lược nhằm củng cố lực lượng tình báo, không gian, không gian mạng và tác chiến điện tử. Lực lượng này là một phần trong nỗ lực của Trung Quốc chuẩn bị cho cuộc chiến tranh công nghệ cao chống lại Mỹ trong tương lai.

Dữ liệu về lực lượng chiến lược vẫn bị hạn chế, nhưng lực lượng không gian vũ trụ và không gian mạng là một phần của kế hoạch thực hiện các cuộc tấn công vào không gian vũ trụ và không gian mạng trong cuộc xung đột trong tương lai.

Chiến tranh không gian mạng cũng vẫn là ưu tiên quân sự của Trung Quốc. Lực lượng hỗ trợ này “có thể là bước đầu tiên trong quá trình phát triển lực lượng không gian mạng, kết hợp các khả năng trinh sát, tấn công vào bảo vệ không gian mạng chỉ trong một tổ chức”, báo cáo nhận định.

Lực lượng hạt nhân của Trung Quốc đang mở rộng, cùng với các tên lửa và tàu ngầm tấn công chạy bằng hạt nhân, một số tên lửa mới bao gồm các hệ thống với nhiều đầu đạn và một loại máy bay ném bom chiến lược mới.

Lực lượng tên lửa đang gia tăng nhanh chóng về số lượng, tính sát thương và khả năng sống sót với các hệ thống di động trên đường. Hiện nay Trung Quốc có khoảng 75 đến 100 tên lửa đạo đạo xuyên lục địa.

Số lượng các phi cơ không người lái của Bắc Kinh cũng đang tăng lên, với năm mẫu UAV mới xuất hiện trước công chúng lần đầu tiên vào năm ngoái, Wing Loong I, Wing Loong II, WJ-600A/D, Yunying Cloud Shadow và CH-5 (Cầu vồng 5).

“CH-5 là chiếc máy bay không người lái được trang bị vũ khí nặng nhất của Trung Quốc, có khả năng mang 16 quả bom không đối đất,” báo cáo của Lầu Năm Góc cho hay . “Trong hai năm qua, PLA cũng đã công khai một máy bay không người lái mới có khả năng tình báo, giám sát, trinh sát mang tên Gongji 1 và đã triển khai các máy bay này tới Biển Đông”.

Tên lửa DF-31A có tầm bắn hơn 7.000 dặm và “có thể vươn đến hầu hết các địa điểm trên nước Mỹ,” báo cáo khẳng định.

Theo Lầu Năm Góc, phần lớn quá trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc đã được hỗ trợ nhờ việc đánh cắp công nghệ quân sự của nước ngoài. Công nghệ này bao gồm các động cơ máy bay, xe tăng và tàu biển, điện tử bán dẫn và bộ vi xử lý cùng các hệ thống hướng dẫn và kiểm soát. Công nghệ đánh cắp được Trung Quốc sử dụng cho vũ khí và các hệ thống khác.

Báo cáo mới nhất của Lầu Năm Góc cho biết, sự cân bằng quân sự ở eo biển Đài Loan ngày càng trở nên mất cân bằng theo hướng có lợi cho Trung Quốc.

“Nỗ lực hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc trong nhiều thập kỷ đã thể hiện sự vượt trội của PLA, những lợi thế này bao gồm: PLA không thể triển khai đủ sức mạnh qua eo biển Đài Loan, sự vượt trội về mặt công nghệ của quân đội Đài Loan và những lợi thế về địa lý vốn có trong việc bảo vệ hòn đảo”, báo cáo cho biết.

Theo Business Insider, những nâng cấp quân sự gần đây của Đài Loan chỉ giúp cải thiện một chút sự mất cân bằng này.

Chính quyền của ông Trump mới đây đã trì hoãn thỏa thuận thương mại bán 1 tỷ USD vũ khí cho Đài Loan vì lo sợ việc chuyển giao này sẽ khiến quan hệ Mỹ-Trung đi xuống, trong khi Trung Quốc đã cam kết sẽ cố gắng kiềm chế các chương trình tên lửa và hạt nhân của Triều Tiên.

Đặng Phương Thảo – Baomoi.com

Loading

Views: 0

Iran triển khai tàu chiến tới Oman giữa căng thẳng vùng Vịnh

Tàu chiến Iran hôm qua lên đường tới Oman trước khi bắt đầu các nhiệm vụ tại vùng biển xa đất liền.

Tàu khu trục
Tàu khu trục Alborz của Iran. Ảnh: TimesofIsrael

“Một đội tàu hải quân Iran rời cảng để tới Oman vào ngày 11/6, sau đó sẽ tới phía bắc Ấn Độ Dương và Vịnh Aden”, hãng thông tấn Tasnim dẫn lực lượng hàng hải của quân đội Iran thông báo.

Các tàu rời cảng ở thành phố Bandar Abbas, phía nam Iran sau một buổi lễ có sự tham gia của Chuẩn Đô đốc Habibollah Sayyari, tư lệnh hải quân. Đội tàu gồm tàu khu trục Alborz và tàu hậu cần Bushehr.

Những năm gần đây, hải quân Iran tăng cường hiện diện tại vùng biển quốc tế, tuần tra ở Vịnh Aden từ tháng 11/2008, bảo đảm an toàn cho các tàu chở dầu và tàu thương mại do Iran thuê hoặc sở hữu cũng như tàu các nước khác.

Arab Saudi, Bahrain, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), Ai Cập và Yemen, hôm 5/6 tuyên bố cắt đứt tất cả các quan hệ với Qatar, cáo buộc nước này ủng hộ khủng bố. Đây là cuộc khủng hoảng ngoại giao lớn nhất ở khu vực gần đây. Iran đã thúc giục Qatar và các nước láng giềng đối thoại để giải quyết bất đồng và điều 5 máy bay chở 450 tấn thực phẩm tới Qatar.

Vịnh Aden, nằm giữa Mũi châu Phi và điểm cực nam của bán đảo Arab, là nơi chứng kiến nhiều mối đe doạ an ninh. Cuộc xung đột đang diễn ra tại Yemen khiến nhiều tàu trong khu vực bị tấn công. Hải tặc ở Somalia cũng lợi dụng tình hình hỗn loạn để tấn công các tàu thương mại đi qua khu vực, một trong những tuyến hàng hải chở dầu tấp nập nhất thế giới.

Bản đồ các nước tại Trung Đông. Đồ hoạ: Googlemaps
Bản đồ các nước tại Trung Đông. Đồ hoạ: Googlemaps

Trọng Giáp (vnexpress.net)

Loading

Views: 0

Exhibition on Vietnam’s maritime sovereignty in Tokyo

Sunday, June 11, 2017

100 photos, maps, and ancient documents were displayed at the weekend’s exhibition in Tokyo affirming Vietnam’s sovereignty over Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) archipelagos.

 The stall features East Sea issues.

The event held by the Vietnamese Association in Japan is part of the Vietnam Festival 2017 in Japan.

As part of the program, documentaries, photos, and images about the two archipelagos collected by international and domestic film-making delegations were screened. A lot of visitors paid attention to the program.

Vuong Tri Tan representing the Vietnamese Association in Japan said two stalls of books, newspapers, and leaflets were set up to inform international and Japanese friends of the East Sea situation./.

(VOVWORLD)

Loading

Views: 0

Một cuộc chạy đua vũ trang mới ở Đông Nam Á? (Phần 1)

9.6.2017

Đông Nam Á (ĐNA) đã tăng cường vũ trang đáng kể thời gian qua. Theo số liệu năm 2015 của Viện nghiên cứu hòa bình Stockholm (SIPRI), chi tiêu quân sự ở khu vực đã tăng trung bình trên 5%. Nếu nhìn vào thời gian 10 năm, xu hướng này còn rõ rệt hơn khi từ 2006-2015, chi tiêu quân sự ở ĐNA đã tăng tới 57%.

Xét theo con số tuyệt đối (USD), chi tiêu quốc phòng của Việt Nam, Indonesia và Campuchia đã tăng gấp đôi từ 2005-2015. Chi tiêu của Thái Lan và Philippines cũng tăng mạnh. Tính từ 2011-2016, Việt Nam thậm chí nằm trong số 10 quốc gia nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới (xếp thứ 8 với tổng giá trị 4,1 tỷ USD), tăng gấp 7 lần mức chi của giai đoạn 2006-2011. Con số của Thái Lan giai đoạn 2011-2016 gấp 5 lần giai đoạn 2006-2011, còn Indonesia tăng gấp đôi.

(Số liệu của Viện SIPRI)

Sự gia tăng mạnh mẽ chi tiêu quốc phòng ở ĐNA và những xung lực mới về chính trị – an ninh ở khu vực cho thấy giai đoạn “ổn định và an ninh tương đối” ở khu vực ĐNA (ASEAN), tính từ năm 1979 sau chiến tranh biên giới Việt – Trung, đã dần kết thúc. Những biểu hiện chính cho nhận định này bao gồm, một là xung đột lãnh thổ giữa một số quốc gia ở khu vực chưa được giải quyết triệt để, hai là chủ nghĩa dân tộc ngày càng gia tăng, ba là sự thiếu hụt lòng tin chiến lược đối với các nước láng giềng (được hiểu là với Trung Quốc/TQ) và bốn là sự đối đầu giữa Mỹ và TQ. Trước các diễn biến mới này, mẫu số chung của các nước ĐNA đều là đẩy mạnh tiềm lực quân sự nhằm đối phó với các “mối đe dọa tiềm tàng”. Hệ quả là sự ổn định của khu vực bị suy giảm, ví dụ như sự căng thẳng giữa các nước liên quan tranh chấp trên Biển Đông có thể dẫn tới nhưng nguy cơ mất an ninh chưa lường trước được, và nếu xảy ra sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế thế giới bởi Biển Đông có thểm xem là nơi có một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới hiện nay đi qua.

Hai nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng vũ trang hóa ở khu vực hiện nay đó là sự hiếu chiến của TQ ở ĐNA, đặc biệt là những yêu sách phi lý của TQ đối với chủ quyền Biển Đông, trong khi đó sự can dự của Mỹ có dấu hiệu đi xuống dưới thời ông D.Trump. Ngoài hai nhân tố bên ngoài này, các yếu tố bên trong cũng có ảnh hưởng đáng kể tới xu hướng gia tăng chi tiêu quốc phòng ở ĐNA, gồm một là các phong trào nổi dậy có vũ trang ở một số nước khu vực và hai là ảnh hưởng của phái quân sự trong chính phủ các nước ngày càng lớn, ở một số nước thậm chí là vai trò chi phối (như Thái Lan).

Đáng chú ý, cuộc chạy đua vũ trang mới ở ĐNA thời điểm hiện nay cũng không phải là một cuộc chạy đua vũ trang theo nghĩa truyền thống, tức là chạy đua nhằm hình thành cục diện “Hành động-Phản ứng-Chiến tranh” hay nhằm cân bằng lực lượng vũ trang mà chủ yếu là nhằm gia tăng năng lực quân sự phi đối xứng với mục tiêu chủ yếu là để hạn chế sự tự do di chuyển và chọn lựa chiến lược của đối phương. Một đặc điểm nữa của cuộc chạy đua lần này là việc quân sự hóa tập trung mạnh mẽ ở hai lực lượng hải quân và không quân.

Điều nghịch lý là chạy đua vũ trang ở ĐNA hiện nay tuy không dẫn tới nguy cơ xung đột chiến tranh giữa các nước, nhưng nó cũng không bảo đảm được sự ổn định cho khu vực, trong bối cảnh các nước ở khu vực hiện vừa thiếu lòng tin chiến lược với một số nước bên ngoài (TQ), bản thân các bên vừa không có sự rõ ràng về chính sách và chi tiêu quốc phòng, lại thiếu một cơ chế kiểm soát vũ trang lẫn nhau./.

 

Loading

Views: 0

Về chiến lược “Vùng không phân định trắng đen” của Trung Quốc

9.6.2017

Theo thời gian, chiến thuật “vùng không phân định trắng đen” đã đi theo hướng “bớt trắng thêm đen”, mang tính cưỡng ép hơn sau khi Bắc Kinh công bố “đường 9 đoạn” vào năm 2009. “Ngoại giao nụ cười” mang nhiều yếu tố “trắng” được thay thế bằng “ngoại giao cây gậy nhỏ”.

Việc ngăn chặn sự gây hấn trong “vùng không phân định trắng đen” là rất khó khăn. Những người giữ gìn một trật tự hiện tại – một trật tự như tự do hàng hải chẳng hạn – thấy mình rơi vào tình trạng mâu thuẫn. Đó là vì trong “vùng không phân định trắng đen”, những bên gây hấn cố ý không phá vỡ ngưỡng giữa hòa bình không yên ổn và xung đột vũ trang, để biện minh cho một phản ứng quân sự. Thay vào đó, họ phá hủy nguyên trạng từng chút một và thay thế nó bằng một tình trạng mới.

Các cuộc tấn công từng phần buộc những người bảo vệ nguyên trạng phải xem xét các lựa chọn không hấp dẫn. Họ có thể hành động trước và chịu trách nhiệm về sự bùng nổ của chiến tranh, về việc chấp nhận những rủi ro quá mức, về việc khiêu khích cường quốc theo chủ nghĩa xét lại, hoặc về việc gây bất ổn cho hòa bình. Hoặc, không sẵn sàng gánh chịu những phí tổn đó, họ đành chấp nhận không hành động hoặc có các biện pháp nửa vời. Bị xui khiến phải thoái thác các quyết định khó khăn, các chính trị gia có thể lan man và từ bỏ thế chủ động. Hoặc họ có thể leo thang và chứng kiến nước mình bị gắn mác “kẻ bắt nạt”.

Một lựa chọn không thể chấp nhận được. Các chiến lược “vùng không phân định trắng đen” được thiết kế chính xác nhằm áp đặt những tình huống tiến thoái lưỡng nan như vậy lên những người giữ gìn trật tự hiện tại.

Cách tiếp cận từng bước này khiến người ta liên tưởng đến câu chuyện của Thomas Schelling quá cố về đứa con bất trị làm nhụt dần ý chí của cha mẹ bên bờ biển. Schelling xác nhận: “Bảo một đứa trẻ không được xuống biển, và nó sẽ ngồi bên bờ, nhúng chân vào nước; nó vẫn chưa ‘xuống’ biển. Chấp thuận điều đó, và nó sẽ đứng dậy, nhưng vẫn chỉ nhúng chân xuống nước như cũ. Suy nghĩ một chút, và nó sẽ bắt đầu lội nước, không xuống sâu hơn; dành vài phút để nghĩ xem liệu điều này có khác biệt gì không và nó sẽ xuống sâu hơn chút nữa, lập luận rằng vì nó đi lên rồi lại đi xuống nên như vậy sẽ bù trừ cho nhau. Chẳng mấy chốc ta phải gọi nhắc nó không được bơi xa quá, và tự hỏi kỷ luật của ta đã biến đâu mất rồi”.

Tương tự, trong vài thập kỷ gần đây, Bắc Kinh đã nghĩ ra một loạt mưu mẹo để gây bối rối cho những người phản đối tuyên bố của họ về chủ quyền đối với các đảo, vùng biển và vùng trời. Trung Quốc bắt đầu bằng các chiến thuật “vùng không phân định trắng đen” phần lớn là vô thưởng vô phạt, “trắng nhiều đen ít” cách đây 25 năm, nhưng qua thời gian họ đã “bớt trắng thêm đen” một cách cưỡng ép khi những tham vọng và quyền lực của họ gia tăng.

Thứ nhất, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) đã đưa thành pháp luật trong nước tuyên bố chủ quyền với lãnh thổ ngoài khơi vào năm 1992, tuyên bố rằng Trung Quốc nắm quyền tài phán đối với các cấu trúc địa hình bị tranh chấp ở Biển Đông cùng với vùng biển xung quanh. Các chính phủ và phương tiện báo chí phương Tây coi diễn biến này gần như không đáng đưa lên mặt báo, phần lớn vì Bắc Kinh gần như không có nỗ lực nào để thực thi luật này. Tuy nhiên, dù có tác động nhẹ, Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp này đã tạo nên một tuyên bố khoa trương về ý định đối với các vùng biển lân cận của Trung Quốc.

Sắc lệnh hầu như đã bị lãng quên này đã mở đường cho sự khẳng định hơn nữa thẩm quyền pháp lý đồng thời biện hộ cho các chiến lược “vùng không phân định trắng đen” mang tính phô trương sức mạnh hơn. Chẳng hạn, năm 2009, ban lãnh đạo CCP đã đưa ra một bản đồ Biển Đông trước Liên hợp quốc, trên đó vẽ một “đường 9 đoạn” phác họa tuyên bố về chủ quyền “không thể tranh cãi” hoặc “không thể bác bỏ” của họ đối với khoảng 80%-90% vùng biển này. Sau đó họ đã bất chấp phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 bác bỏ yêu sách của họ trong vụ kiện giành chủ quyền. Dường như Bắc Kinh gần như không có lòng trung thành với các cam kết mà họ đã tùy tiện hứa hẹn – chẳng hạn như cam kết theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển – khi hoạt động trong “vùng không phân định trắng đen”.

Trung Quốc cũng đưa các yêu sách của mình lên vùng trời. Năm 2013, ban lãnh đạo nước này đã ra tuyên bố về một vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông, bao hàm các đảo do Nhật Bản và Hàn Quốc quản lý. Họ đã khẳng định quyền điều tiết giao thông hàng không di chuyển lên và xuống vùng ven biển châu Á, song song với bờ biển, thay vì giao thông đi đến Trung Quốc. Việc kiểm soát không gian – chứ không phải bảo vệ Trung Quốc trước các máy bay đến nước này – đã thể hiện mục tiêu thực sự của họ. Nhưng ngay cả ở đây, Bắc Kinh cũng chỉ tìm cách thực thi vùng phòng không của mình một cách miễn cưỡng – gần đây nhất là bằng cách thách thức một máy bay ném bom của Không quân Mỹ bay tới Hàn Quốc. Chiến lược trên không của họ vẫn “trắng ít đen nhiều”, dù không phải trên bình diện nguyên tắc thì cũng trên bình diện thực hiện.

Thứ hai, “ngoại giao nụ cười” của Trung Quốc mang nhiều yếu tố “trắng” nhất trong những việc liều lĩnh “trắng nhiều đen ít”. Bắt đầu vào những năm đầu thập niên 2000, Bắc Kinh đã thiết kế một câu chuyện ngoại giao được rút ra từ sức thu hút của nhà hàng hải thời cổ đại Trịnh Hòa. Đô đốc triều đại nhà Minh này đã chỉ huy một loạt “chuyến đi tìm báu vật” cách đây 6 thế kỷ, khôi phục hệ thống cống nạp của Trung Quốc ở Nam Á và Đông Nam Á mà không cần đến các cuộc chinh phạt lãnh thổ. Giới quan chức thời hiện đại cố gắng hết sức để trấn an những người châu Á khác rằng Trung Quốc sẽ đi theo mô hình của Trịnh Hòa. Họ sẽ biến mình thành một cường quốc biển đầy uy lực nhưng vẫn rộng lượng. Người ta có thể tin tưởng họ không lạm dụng các nước láng giềng yếu hơn.

Tóm lại, ngoại giao nụ cười đã tạo thành một nỗ lực nhằm xây dựng hình ảnh Trung Quốc như một cường quốc duy nhất đáng tin cậy – và dập tắt tiếng nói chống lại sự trỗi dậy trên biển của họ. Tới cuối những năm 2000, khi Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn, các cử tọa khu vực nhìn chung đều dễ dàng tiếp nhận thông điệp êm dịu này.

Thứ ba, các chiến thuật “vùng không phân định trắng đen” đã đi theo hướng “bớt trắng thêm đen”, mang tính cưỡng ép hơn sau khi Bắc Kinh công bố “đường 9 đoạn” vào năm 2009. Trịnh Hòa đã ngay lập tức bị vứt bỏ để nhường chỗ cho cái mà các tác giả gọi là “ngoại giao cây gậy nhỏ”. Điều đó có nghĩa là thay vì giơ “cây gậy lớn” là sức mạnh hải quân, các nhà lãnh đạo CCP đã chuẩn bị “cây gậy nhỏ” là việc thực thi luật biển cùng lực lượng dân quân được đưa lên các tàu đánh cá. Ngoại giao “cây gậy nhỏ” thể hiện một chiến lược “vùng không phân định trắng đen” điêu luyện. “Gậy nhỏ” đủ lớn để thị uy trước các nước láng giềng châu Á, các nước mà hải quân của họ chỉ được coi là lực lượng bảo vệ bờ biển, nhưng quá nhỏ để thúc đẩy Mỹ đưa hải quân tới bảo vệ các đồng minh và các nước bè bạn.

Việc liên tục quấy rầy các nước duyên hải ở châu Á thể hiện hình ảnh các lực lượng hải cảnh và thực thi pháp luật biển của Trung Quốc chỉ đang giám sát những vùng biển mà họ coi là thuộc về Trung Quốc từ thời xa xưa. Đó là một nỗ lực nhằm dẹp yên những người mà họ tự coi là xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc. Tóm lại, ngoại giao “cây gậy nhỏ” tạo thành một chiến lược “vùng không phân định rõ trắng đen” đối đầu với Hải quân Mỹ nhưng mang sắc thái tối hơn, mang tính cưỡng ép buộc hơn đối với các nước khẳng định chủ quyền khác ở châu Á. Và kiểu nhị nguyên luận đó hoàn toàn thích hợp với Bắc Kinh.

Thứ tư, Trung Quốc đã cố gắng thực hiện một phiên bản khác của ngoại giao “cây gậy nhỏ” ở biển Hoa Đông nhưng nhận thấy môi trường ở đây kém thoải mái hơn nhiều. Từ khoảng năm 2010, lực lượng hải cảnh của Trung Quốc đã tiến hành các cuộc tuần tra thường xuyên ở vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku (Điếu Ngư). Mục đích của họ là thách thức sự kiểm soát hành chính của Nhật Bản đối với các đảo và vùng biển tiếp giáp. Về phần mình, Tokyo đã bố trí một sự hiện diện thường trực của lực lượng bảo vệ bờ biển ở vùng lãnh hải của quần đảo này, củng cố thêm cho sự kiểm soát của họ. Kết quả là một hình thức quản lý chung Trung-Nhật lạ lùng ở vùng biển quanh những hòn đảo nhỏ này. Hai bên kiểm soát những gì họ coi là của họ.

Trong khi Chính quyền Obama và Chính quyền Trump đã tái khẳng định rằng Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật được áp dụng cho quần đảo Senkaku, buộc Washington phải giúp bảo vệ họ trước các cuộc tấn công, chiến lược biển Hoa Đông của Trung Quốc cũng thể hiện cùng một kiểu nhị nguyên luận như ở Biển Đông. Nó mang tính cưỡng ép đối với Nhật Bản, nhưng chưa đến mức kích động các biện pháp đối phó của Mỹ. Chiến thuật này đủ để thay đổi nguyên trạng theo hướng có lợi cho Trung Quốc, nhưng không đủ để bắt đầu các chu kỳ hành động-phản ứng mang tính leo thang với Nhật Bản. Và nó vẫn tận dụng được những nỗi bất an của Tokyo về cam kết của Mỹ đối với việc phòng thủ của Nhật Bản, mang lại cho Trung Quốc ảnh hưởng đòn bẩy đối với liên minh này. Rất có khả năng tình hình này sẽ kéo dài chừng nào Bắc Kinh kiềm chế không cố gắng giành giật những đảo nhỏ này với Nhật Bản – tức là chừng nào Trung Quốc vẫn duy trì chiến lược “không phân định trắng đen”.

Và thứ năm, các thủ lĩnh của CCP đã phát hiện ra rằng việc xây dựng các đảo nhân tạo – hay củng cố các đảo sẵn có – tạo thành một chiến lược “vùng không phân định trắng đen” hiệu quả. Qua các năm, việc xây dựng đảo của họ đã được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Chẳng hạn, năm 1994, Trung Quốc đã chiếm đá Vành Khăn. Ngay sau đó, họ đã bắt đầu xây dựng các công trình, biến nó thành một tiền đồn quân sự vào năm 1998, và mở rộng nó đủ để bố trí một đường băng và các vũ khí phòng thủ vào năm 2016.

Nếu sự thay đổi dần dần phù hợp với các mục đích của họ ở đá Vành Khăn, thì Trung Quốc còn thể hiện sự kiên nhẫn hơn nữa ở bãi cạn Scarborough. Việc Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough vào năm 2012 đã đánh dấu sự chuyển tiếp cuối cùng từ “ngoại giao nụ cười” sang “ngoại giao cây gậy nhỏ”. Các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Trung Quốc đã đuổi các thủy thủ Philippines khỏi ngư trường truyền thống này, áp đặt quyền kiểm soát đối với quyền tiếp cận bãi cạn. Tuy nhiên, các kỹ sư vẫn chưa bắt đầu cải tạo đáy biển xung quanh đó để dựng nên một đồn vũ trang nữa.

Tại sao lại có sự kiềm chế như vậy? Địa lý có thể đã ngăn cản Bắc Kinh hành động. Không giống như các cấu trúc địa hình bị tranh chấp khác, bãi cạn Scarborough nằm chênh vênh gần đảo Luzon, đảo chính của Philippines. Ban lãnh đạo của Trung Quốc có thể lo sợ lôi kéo quân đội Mỹ, vốn có nghĩa vụ bảo vệ Philippines theo một hiệp ước phòng thủ chung lâu đời, nếu họ xây dựng một tiền đồn vững chắc gần với một đồng minh của Mỹ như vậy. Chính trị cũng là một yếu tố tác động. Hơn nữa, tổng thống Philippines đắc cử năm 2016 Rodrigo Duterte đã báo hiệu việc ông sẵn sàng nới lỏng liên minh với Mỹ trong khi lấy lòng Trung Quốc. Trong trường hợp đó, các nhà lãnh đạo CCP có thể coi việc kiềm chế các hành động khiêu khích là khôn ngoan. Tại sao lại khiến cho một đồng minh tương lai xa lánh?

Và cuối cùng, Trung Quốc đã hành động với quy mô lớn và tốc độ nhanh ở những nơi khác trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Bắt đầu từ năm 2013, các kỹ sư dân dụng đã xây phần nền đảo từ đá và các đảo san hô rải rác trên Biển Đông. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cam kết không “quân sự hóa” các đảo nhân tạo, đóng băng mọi phản ứng nghiêm túc từ phía Chính quyền Obama, chỉ để tiến hành xây dựng các sân bay và hạ tầng khác. Kết quả là việc đã rồi.

Việc ngăn chặn kẻ gây hấn chiếm đất là một chuyện, đuổi một kẻ gây hấn khỏi vùng đất mà họ đã chiếm lại là chuyện khác. Các chiến thuật xây dựng đảo theo cả 3 kiểu đã giúp Trung Quốc sở hữu được lãnh thổ – và khó mà tưởng tượng được những sự gặt hái ấy có thể được đảo ngược như thế nào nếu không viện tới chiến tranh công khai. Về bản chất, Bắc Kinh đã buộc khu vực và Mỹ phải sống với một thực tế chiến lược mới và hầu như không thể đảo ngược được.

Hệ thống các loại hình chiến thuật “vùng không phân định trắng đen” này cho thấy Trung Quốc đang sử dụng mọi yếu tố của sức mạnh quốc gia trong các tranh chấp trên biển ở biển Hoa Đông và Biển Đông. Bắc Kinh đã sử dụng các yếu tố pháp lý, ngoại giao, hàng hải và vật chất trong nghệ thuật quản lý nhà nước để làm suy yếu dần trật tự quốc tế tự do mà Mỹ dẫn đầu. Ngay cả sự tinh thông về xây dựng của họ, vốn đã được dùi mài trong nhiều thập kỷ xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô lớn, cũng đã được phô trương một cách đáng kinh ngạc ở giữa Biển Đông, đóng góp vào thành công chiến lược.

Do vậy, đối với những người giữ gìn trật tự hiện có, chỉ suy nghĩ về các khía cạnh biển trong chiến lược là không đủ. Để cản trở những mưu mẹo “vùng không phân định trắng đen” của Trung Quốc, Washington và các đồng minh cần phải học hỏi Bắc Kinh và theo một lập trường tổng thể, mang tính chiến lược lớn, qua đó đặt áp lực chống trả đầy kiên nhẫn và thận trọng lên nhiều mặt trận cùng một lúc. Tóm lại, những người bảo vệ nguyên trạng phải tư duy bằng những sắc thái của màu xám và làm quen với việc hành động ở ranh giới mập mờ giữa hòa bình và chiến tranh. Nếu không làm được điều này, họ sẽ nhường thế chủ động cho Trung Quốc – và cùng với đó là sự định hình tương lai của trật tự khu vực.

Thomas Schelling sẽ gật đầu một cách đầy thấu hiểu trước những thách thức đặt ra cho Washington và các đối tác của họ. Không giống như những bậc cha mẹ nhu nhược trong câu chuyện của ông, chúng ta cần tập hợp được sự kỷ luật mang tính chiến lược.

James Holmes là Giáo sư Chiến lược tại Học viện Hải chiến Mỹ, đồng tác giả cuốn Red Star over the Pacific. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Toshi Yoshihara là nhà nghiên cứu cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Đánh giá Ngân sách, ông cũng là đồng tác giả cuốn Red Star over the Pacific. Bài viết được đăng trên The National Interest.

Trần Quang (gt)

Loading

Views: 0

Vấn đề Biển Đông tại Đối thoại Shangri-la 2017

7.6.2017

Cân bằng thế nào trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc là một câu hỏi lớn cho các nước nhỏ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Duy trì cân bằng quan hệ với 2 siêu cường này là việc cần làm, để bảo vệ chính mình cũng như hòa bình, ổn định và phồn vinh chung trong khu vực.

Sau cuộc họp, các nhà tổ chức Đối thoại Shangri-la năm nay đã xác định 3 điểm nóng tiềm ẩn đe dọa sự ổn định trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đó chính là: chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, quân sự hóa Biển Đông và chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan ở Đông Nam Á.

Các hãng truyền thông trên thế giới nhận định về Đối thoại Shangri-la rằng: Kể từ khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump theo đuổi chính sách “nước Mỹ là trên hết” của ông, ngày càng có nhiều quan ngại từ các nước đồng minh và đối tác về vai trò của Hoa Kỳ tại châu Á trong tương lai. Từ trước đến nay, Mỹ được coi là cường quốc quân sự mạnh nhất khu vực châu Á –  Thái Bình Dương kể từ Chiến tranh Thế giới II.

Trong diễn văn khai mạc Đối thoại Shangri-la năm nay, Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull đã bày tỏ sự thất vọng về việc ông Donald Trump rút Hoa Kỳ khỏi Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương lẫn Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên ông Turnbull cũng kêu gọi các đồng minh, đối tác của Mỹ cần kiên nhẫn với chính quyền mới của Hoa Kỳ. Chẳng riêng gì các nước đồng minh và đối tác của Mỹ hoài nghi, ngay cả các quan chức cấp cao lẫn học giả Hoa Kỳ cũng cảm thấy lo lắng và khó hiểu về “những phát ngôn mâu thuẫn” từ chính quyền Donald Trump.

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng William Cohen cũng đưa ra lời nhận xét: “Điều mà các đồng minh của bạn mong muốn là tính dự báo, tính nhất quán và tính liên tục (trong chính sách của Hoa Kỳ với khu vực châu Á – Thái Bình Dương).Đối với tôi, điều đáng lo ngại nhất là tôi không biết kế hoạch chiến lược của Mỹ là gì”.

“Bài ngửa” của Mỹ về Biển Đông

Người ta cho rằng, đã có những dấu hiệu cho thấy chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump “lật bài ngửa” trong chính sách an ninh đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương qua phát biểu của ông James Mattis tại Đối thoại An ninh Shangri-la.

Về Biển Đông, tướng James Mattis nhắc lại những tuyên bố lên án Trung Quốc quân sự hóa bất hợp pháp đảo nhân tạo, đe dọa an ninh và tự do hàng hải – hàng không trên Biển Đông, phá vỡ luật pháp quốc tế… và khẳng định: Châu Á – Thái Bình Dương vẫn là một ưu tiên của Mỹ, cũng không quên: Nỗ lực chính của Washington là xây dựng liên minh, tuy nhiên “các nước phải đóng góp đầy đủ cho an ninh của chính họ”.

Nói cách khác, trên Biển Đông, Mỹ chỉ bảo vệ lợi ích và vị thế của chính mình liên quan đến tự do và an ninh hàng hải – hàng không, trật tự khu vực dựa trên luật pháp quốc tế sau Chiến tranh Thế giới II, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Đó là lợi ích sát sườn của Mỹ, nhưng đồng thời cũng là lợi ích chung của cả khu vực.

Mỹ không quan tâm đến các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các bên, mà chỉ quan tâm đến các yêu sách hàng hải quá mức do giải thích, áp dụng sai Công ước có thể hạn chế tự do – an ninh hàng hải và lợi ích hợp pháp của cộng đồng quốc tế, trong đó có Mỹ.

Các nước phải đóng góp đầy đủ cho an ninh của chính họ?

“Đóng góp đầy đủ” trong trường hợp này có thể hiểu là:

Thứ nhất, “thân ai người nấy lo, của ai người nấy giữ”. Mỹ không làm “cảnh sát” cho các nước, nhất là các vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh thổ.

Thứ hai, nếu muốn Mỹ cung cấp “chiếc ô an ninh”, thì đồng minh hoặc đối tác của Hoa Kỳ phải có nghĩa vụ chi trả, đóng góp đầy đủ. Một minh chứng ở đây là: Nhật Bản và Hàn Quốc đều phải bỏ tiền nuôi lực lượng quân sự Mỹ đồn trú tại 2 quốc gia này để giúp họ đối phó với nguy cơ từ Triều Tiên. Nhật Bản “đóng góp đầy đủ” thì chính quyền Mỹ công khai tuyên bố rằng Senkaku/Điếu Ngư nằm trong phạm vi Hiệp ước an ninh song phương. Nói cách khác, nếu Trung Quốc tấn công đánh chiếm quần đảo này, Mỹ có trách nhiệm can thiệp bảo vệ Nhật Bản.

Cũng là đồng minh hiệp ước, nhưng Philippines “đóng góp không đầy đủ”, thậm chí còn phải trông chờ viện trợ từ Hoa Kỳ, nên năm 2012 Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát Scarborough, Mỹ không can thiệp.

Nhìn nhận vấn đề theo hướng tiếp cận này thì có thể lý giải một phần lý do tại sao Hạm đội 7 làm ngơ cho Trung Quốc chiếm nốt nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, đang do Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đóng giữ theo Hiệp định Geneva 1954, cho dù Mỹ là đồng minh.

Đó là chưa kể đến cục diện quan hệ quốc tế thời kỳ đó, Mỹ – Trung đang tìm cách bắt tay nhau cùng đối phó với Liên Xô sau chuyến thăm lịch sử của Richard Nixon đến Trung Quốc năm 1972.

Chỉ một sự làm ngơ đó thôi, đã là lễ vật hậu hĩnh Nhà Trắng dành cho Trung Nam Hải.

Cách tránh âm mưu bành trướng của Trung Quốc

Như vậy, các nước ven Biển Đông hiện nay chỉ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình khỏi âm mưu bành trướng của Trung Quốc theo 2 cách:

Một là tự lực tự cường, nâng cao khả năng phòng thủ đồng thời tìm cách hợp tác song phương, đa phương để bảo vệ hòa bình, ổn định và duy trì hiện trạng ở Biển Đông, cho dù hiện trạng đã bị Trung Quốc thay đổi nhiều.

Trong phương án này, phối hợp chặt chẽ với sự hiện diện của Hoa Kỳ, Nhật Bản trong khu vực, thắt chặt hợp tác trong nội khối ASEAN cũng như giữa ASEAN với các quốc gia, tổ chức khác là cần thiết.

Đặc biệt là phải lưu ý đến việc xử lý các tranh chấp, bất đồng đựa vào luật pháp quốc tế, trên cơ sở bảo vệ hòa bình và hợp tác, thì hợp tác với Trung Quốc có vai trò quan trọng.

Hai là chấp nhận “đóng góp đầy đủ” để thuê Mỹ bảo vệ an ninh, như Nhật Bản và Hàn Quốc đã và đang làm.

Với những gì đang diễn ra, phương án thứ nhất dường như là ưu tiên và lựa chọn của gần như tất cả các nước ven Biển Đông, bởi không ai muốn mình rơi vào thế kẹt: “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết”.

Tình thế ngày nay đã khác xưa, cho dù ai đó muốn thuê Mỹ bảo đảm an ninh, đã chắc gì Hoa Kỳ nhận lời? Donald Trump sẽ phải đưa tất cả lên bàn cân kinh tế.

Một bên là túi tiền và thị trường Trung Quốc không thể bỏ qua, một bên là một hay một vài nước nhỏ muốn dựa vào Mỹ để cân bằng với Trung Quốc.

Câu trả lời như thế nào chỉ có người Mỹ mới biết.

Tiêu điểm của Đối thoại Shangri-la là Biển Đông

Trước đối thoại Shangri-la, Biển Đông vẫn là một chủ đề nóng thu hút sự quan tâm và bày tỏ thái độ của các cường quốc chứ không phải vấn đề Triều Tiên như mọi người đồn đoán. Điều này rất có lợi cho phương án đấu tranh bảo vệ hòa bình – ổn định và trật tự dựa trên luật pháp, để phát triển phồn vinh.

Điều đặc biệt của Đối thoại là 3 vị Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ – Nhật – Úc khi gặp nhau bên lề Đối thoại Shangri-la đã cùng lên án hành vi đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và Hoa Đông mà Trung Quốc theo đuổi và ủng hộ Phán quyết Trọng tài vụ kiện Biển Đông ngày 12/7/2016.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis nói: Việc xây dựng đảo nhân tạo và quân sự hóa các cấu trúc trên vùng biển quốc tế sẽ làm suy yếu sự ổn định trong khu vực.

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Tomomi Inada phát biểu: Tokyo lo ngại về những thay đổi an ninh ở Biển Đông và Hoa Đông mà Trung Quốc phải chịu trách nhiệm chính: Ở Hoa Đông và Biển Đông, chúng tôi liên tục chứng kiến những nỗ lực đơn phương thay đổi hiện trạng dựa trên các yêu sách không phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành. Về Biển Đông, Phán quyết Trọng tài được đưa ra là phán quyết cuối cùng.

Tuyên bố chung cũng kêu gọi “đối thoại, hợp tác và cam kết” với Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh cam kết bảo vệ luật pháp quốc tế và tự do hàng hải – hàng không. Kêu gọi tất cả các bên yêu sách “ngăn chặn các hoạt động bồi lấp, làm phi quân sự hóa các cấu trúc tranh chấp, tránh các hành động khiêu khích có thể leo thang căng thẳng.

Phản ứng của phái đoàn Trung Quốc năm nay cũng khá dè dặt chứ không hùng hổ như mọi năm.

Trưởng đoàn Trung Quốc, Trung tướng Hà Lôi tổ chức họp báo phân trần: Tôi muốn lưu ý rằng, tự do hàng hải không phải bằng giám sát chặt chẽ và các hoạt động quân sự, do các máy bay chiến đấu và tàu chiến Hoa Kỳ tiến hành ở vùng trời, vùng biển “chủ quyền” của Trung Quốc.

Về vấn đề Triều Tiên và Đài Loan

Biển Đông không phải là câu chuyện của riêng các nước có yêu sách, mà là một vấn đề an ninh nóng bỏng của khu vực, toàn cầu.

Bởi lẽ đây là nơi diễn ra sự cạnh tranh ảnh hưởng gay gắt giữa Trung Quốc và Mỹ, tất nhiên bao gồm cả nguyên nhân căng thẳng từ yêu sách bành trướng và tham vọng độc chiếm vùng biển này làm ao tù của Bắc Kinh.

Chính vì vậy, cục diện Biển Đông có liên hệ chặt chẽ, biện chứng với cấu trúc và cục diện an ninh châu Á – Thái Bình Dương, tức nằm trong bàn cờ chiến lược lớn hơn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Vì thế một nước cờ nào đó diễn ra ở Đông Bắc Á, có thể ảnh hưởng ngay lập tức đến cục diện Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông.

Chính điều này khiến nhiều đồng minh, đối tác của Mỹ lo ngại khi thấy Tổng thống Donald Trump tìm cách thỏa hiệp với Trung Quốc về vấn đề Triều Tiên, chấp nhận tạm gác Biển Đông qua một bên.

Hiệu chỉnh thứ hai là các tuyên bố mạnh mẽ về Biển Đông, Triều Tiên tại Đối thoại Shangri-la.

Còn vấn đề đảo Đài Loan, vì phái đoàn Trung Quốc đặt câu hỏi, ông James Mattis đã không ngần ngại trả lời thẳng:

Bộ Quốc phòng Mỹ vẫn kiên định làm việc với Đài Loan và chính quyền dân chủ của họ, để cung cấp cho họ các thiết bị quốc phòng cần thiết, phù hợp với nghĩa vụ được quy định trong Đạo luật Quan hệ với Đài Loan.

Bởi vì chúng tôi đứng ra giải quyết một cách hòa bình với bất kỳ vấn đề nào theo cách thức mà người dân hai bờ eo biển Đài Loan có thể chấp nhận được.

Hoa Kỳ vẫn cam kết thực hiện chính sách ‘một nước Trung Quốc.

Bản chất quan hệ Mỹ – Đài hay Mỹ – Trung không có gì thay đổi, cho dù đã có những phát biểu và động thái khác nhau từ chủ nhân Tòa Bạch Ốc.

Đài Loan vẫn là con bài chiến lược dự trữ rất có giá trị của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương.

Một cú điện đàm giữa Tổng thống Donald Trump với nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn hay việc quay sang nhắc lại tôn trọng cam kết ‘một nước Trung Quốc’ với ông Tập Cận Bình chỉ là những nước cờ chiến thuật, nhằm tối đa hóa lợi ích cho Mỹ thông qua đòn bẩy này mà thôi.

Nên cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc

Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu nói chung, đặc biệt tập trung vào châu Á – Thái Bình Dương nói riêng.

Cân bằng quan hệ với 2 siêu cường Trung – Mỹ là việc cần làm và cần phải làm tốt, để bảo vệ chính mình cũng như hòa bình, ổn định và phồn vinh chung cho khu vực.

Chớ thấy vốn giá rẻ của “Một vành đai, một con đường” được Trung Quốc chào mời mà vội mừng, chớ thấy Mỹ rút khỏi TPP hay Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu mà vội lo.

Mặt khác, Mỹ còn phải tìm mọi cách tăng cường hợp tác với Trung Quốc, xử lý vấn đề đối tượng trên cái nền đối tác thì cũng đừng quốc gia nào trong khu vực nghĩ rằng hãy theo Mỹ để chống Trung Quốc.

Hoa Kỳ không chống Trung Quốc, nhưng Hoa Kỳ có những lợi ích bị Trung Quốc xâm hại mà phải bảo vệ. Hoa Kỳ cũng là lực lượng đối trọng cân bằng với Trung Quốc.

Do đó, các quốc gia trong khu vực nên học tập Singapore trong việc dùng luật pháp quốc tế làm lăng kính soi rọi các quyết sách của mình. Cái cần phải đấu tranh chống lại là các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, chứ không phải đối đầu chống lại nước lớn.

Donald Trump và Tập Cận Bình làm gì cũng có tính toán cẩn thận, các nước nhỏ cần nghiên cứu kỹ chính sách và xu hướng của hai nhà lãnh đạo này để tối đa hóa lợi ích, tối thiểu hóa rủi ro cho quốc gia mình trong bàn cờ chiến lược châu Á – Thái Bình Dương./.

(Biendong.net)

Loading

Views: 0

Toàn cảnh chiến dịch CQ-88: Phá âm mưu cướp đoạt Trường Sa

7.6.2017

(Quan hệ quốc tế) – Mặc dù phương tiện thiếu thốn nhưng hải quân Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi chiến dịch “Chủ quyền-1988”, phá âm mưu Trung Quốc cướp đoạt quần đảo Trường Sa.
Việt Nam tỉnh táo trước mưu đồ của Trung Quốc

Trong kỳ trước với tiêu đề “1979-1988: Trung Quốc 10 năm nuôi dã tâm chiếm đảo Việt Nam”, chúng ta đã tìm hiểu dã tâm và công tác chuẩn bị của Trung Quốc ngay từ sau năm 1979, với mục đích sử dụng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Trường Sa của Việt Nam.Đặc biệt là từ đầu năm 1987, tình hình khu vực biển quần đảo Trường Sa có những diễn biến phức tạp, do Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động quân sự trên Biển Đông và một số quốc gia Đông Nam Á gia tăng các hành động tranh chấp chủ quyền

.

(Mít-tinh chống quân xâm lược Trung Quốc chiếm đoạt trái phép các đảo ở Trường Sa)

Đảng ủy và Bộ Tư lệnh hải quân nhận định có khả năng Trung Quốc sẽ dùng lực lượng hải quân chiếm đóng thêm một số đảo khác. Do đó, Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đưa lực lượng công binh ra các đảo chưa có người ở để xây dựng công trình thể hiện chủ quyền và cử lực lượng chốt giữ.Philippines đẩy mạnh việc vận chuyển xây dựng công trình trên các đảo của họ đóng giữ là đảo Song Tử Đông, Panata, còn Malaysia bí mật đưa lực lượng ra chiếm đóng bãi đá Kỳ Vân và chiếm đóng thêm bãi đá Kiêu Ngựa vào tháng 1 năm 1987.

Đầu tháng 3/1987, Quân chủng điều lực lượng công binh, tàu chiến đấu, tàu vận tải của Vùng IV và Lữ đoàn 125 ra đóng giữ bảo vệ đảo chìm Thuyền Chài. Ngày 24/10/1987, Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường cho Lữ đoàn 146, Vùng IV Hải quân, song yêu cầu các đơn vị đảo phải hết sức cảnh giác, tránh âm mưu khiêu khích của kẻ thù.Đảng ủy và Bộ tư lệnh chủ trương tăng cường phòng thủ quần đảo Trường Sa điều lực lượng chốt giữ thêm một số đảo xung quanh các đảo đã đóng giữ, để tạo nên sức mạnh của một cụm đảo.

Ngày 6/11/1987, trước các động thái tăng cường lực lượng của Trung Quốc, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra “Mệnh lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa”, giao cho Quân chủng Hải quân “Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không cần chờ chỉ thị cấp trên”. Chấp hành lệnh của trên, ngày 2/12/1987, Quân chủng đưa lực lượng ra đóng giữ đảo Đá Tây, đồng thời khẩn trương đóng các phương tiện chuyển tải và các pông-tông là các căn cứ nổi, làm nhiệm vụ chốt giữ bảo vệ các đảo chìm (bãi đá cạn) trên quần đảo Trường Sa.

Ngày 2/12/1987, tàu HQ 604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội cùng vật liệu đến xây nhà cấp 3 ở đảo Đá Tây.Ngày 22/1/1988, Trung Quốc đưa 4 tàu hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tàu dầu, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đảo Chữ Thập, đồng thời chúng điều thêm 8 tàu chiến khống chế mặt biển, không cho tàu thuyền các nước qua lại khu vực đảo này.

Ngày 9/1/1988, Đảng ủy Quân chủng Hải quân họp nhận định: Trung Quốc sẽ tiến hành các hoạt động quân sự tranh chấp chủ quyền hải đảo chiếm một số bãi san hô nổi hoặc chìm khi nước lên, xen kẽ với các đảo của ta. Trong khi đó, các nước khác có thể nhân cơ hội này chiếm đóng một số đảo nằm giữa Kỳ Vân và Ri-gân.

Từ ngày 23/1 đến đầu tháng 2 năm 1988, tàu 613 thuộc Vùng 4 hải quân chở lực lượng và vật liệu ra xây nhà cấp 3 trên đảo Tiên Nữ.Ngày 31/1/1988, Trung Quốc đưa thêm lực lượng củng cố đảo Chữ Thập thành căn cứ chủ chốt ở khu vực Trường Sa. Vào thời điểm này, Hải quân Trung Quốc đã tổ chức ba Cụm tác chiến lớn nhằm triển khai chiến dịch chiếm đoạt quần đảo Trường Sa, bao gồm:Sở chỉ huy hậu phương lấy Hoàng Sa làm Sở chỉ huy thường trực có tàu tuần tiễu pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa và các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu hải quân ta hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng biển phía Nam;

Ngoài ra, 2 Cụm tiền phương bao gồm 1 Cụm ngăn chặn lực lượng hải quân ta ở đông bán đảo Cam Ranh, Cù Lao Thu và 1 Cụm chiến đấu là Sở chỉ huy tiền phương ở đảo Chữ Thập, âm mưu khống chế ta ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng sâu xuống khu vực phía Nam.

Trước diễn biến mới, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng xác định rõ, lúc này “Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân”, cần phải tập trung cao nhất các lực lượng vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa,Toàn quân chủng bước vào chiến dịch “CQ-88″ (Chủ quyền – 1988) với ý chí mạnh mẽ, quyết tâm đóng giữ các đảo theo kế hoạch; đồng thời đề xuất với Đảng, Chính phủ phát động phong trào “Cả nước hướng về Trường Sa”, “Ủng hộ, chi viện Trường Sa và vì Trường Sa”./.

Loading

Views: 0