Category Archives: Rechtliche Dok.

Bắc Kinh đang tìm cách ngăn cản Manila triển khai một vụ kiện mới về Biển Đông

Trong bối cảnh Trung Quốc tập trung các hoạt động hung hăng gây hấn nhằm vào Philippines, vào cuối năm 2024, Bộ trưởng Tư pháp Philippines Remulla tuyên bố nước này sẽ đệ đơn kiện quốc tế chống lại Trung Quốc vì “gây tổn hại đến môi trường biển”.

Theo một số nguồn tin, việc Philippines một lần nữa có thể khởi kiện Trung Quốc là nhằm buộc Bắc Kinh phải chịu trách nhiệm liên quan tuyến đường biển đang tranh chấp. Một phương án mà Philippines đang cân nhắc là kiện Trung Quốc về cáo buộc khai thác trai tai tượng khổng lồ và gây hại đáng kể đến hệ sinh thái của các rạn san hô trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Manila.

Xét theo thực tiễn tố tụng và trọng tài về môi trường giữa các quốc gia trước đây, các tranh chấp về bảo vệ môi trường biển có thể được đưa ra hai loại cơ chế giải quyết: Tòa án Công lý quốc tế hoặc cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Tòa án Công lý Quốc tế hiếm khi giải quyết các vụ việc liên quan đến bảo vệ môi trường biển và thiếu kiến thức khoa học chuyên môn cần thiết cho việc bảo vệ môi trường biển. Do đó, cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS có nhiều khả năng thụ lý tranh chấp này. So với vụ kiện do Philippines khởi kiện Trung Quốc ra Toà Trọng tài về vấn đề Biển Đông năm 2013 thì loại hình tranh chấp lần này là vấn đề môi trường biển, đặt ra hai thách thức mới đối với phản ứng pháp lý của Trung Quốc.

Một là, các tranh chấp liên quan đến môi trường biển không nằm trong phạm vi tuyên bố loại trừ mà Trung Quốc đưa ra theo Điều 298 của UNCLOS. Trong trường hợp này không chỉ Toà Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS mà Toà án Liên hợp quốc về Luật biển cũng có thẩm quyền để xem xét vụ việc. 

Hai là, Trung Quốc cũng có thể phải đối mặt với những thách thức đối với các biện pháp tạm thời. Các biện pháp tạm thời là biện pháp khắc phục tạm thời để bảo vệ quyền của cả hai bên trước khi đưa ra quyết định cuối cùng về tranh chấp. Theo Điều 290(1) của UNCLOS, “ngăn ngừa các tổn hại nghiêm trọng đến môi trường biển” là một trong những căn cứ để các bên trong tranh chấp yêu cầu áp dụng các biện pháp tạm thời. Khi một bên trong tranh chấp nộp đơn xin biện pháp tạm thời để ngăn ngừa tổn hại cho môi trường biển, tòa án thường áp dụng “nguyên tắc phòng ngừa”, lập luận rằng ngay cả khi thiệt hại cụ thể về môi trường không thể được xác nhận một cách khoa học tại thời điểm hiện tại thì điều đó cũng không ngăn cản tòa án ban hành các biện pháp tạm thời.

Vụ kiện Biển Đông mà Philippines khởi kiện Trung Quốc năm 2013, dù Trung Quốc bác bỏ thẩm quyền của Toà và không tham gia vụ kiện, song Toà Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS vẫn xác định đủ thẩm quyền thụ lý và cuối cùng đưa ra phán quyết với chiến thắng gần như tuyệt đối thuộc về Philippines, tuyên bố yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và trái với các điều khoản của UNCLOS. Mặc dù, Trung Quốc không công nhận và không thực thi phán quyết. Tuy nhiên, chiến thắng vang dội của Philippines trong vụ kiện gây ra những thách thức lớn đối với Bắc Kinh trước sức ép của cộng đồng quốc tế, nhất là giữa lúc Mỹ và các đồng minh triển khai các hoạt động hàng hải ở Biển Đông để thúc đẩy thực thi phán quyết và bảo vệ trật tự hàng hải dựa trên pháp luật. Chính vì lẽ đó, Trung Quốc đang tìm mọi cách để ngăn Philippines tiến hành một vụ kiện mới trên vấn đề Biển Đông. Theo đó, Bắc Kinh khuyến khích các chuyên gia học giả nước này có các bài viết đưa chỉ trích biện pháp pháp lý của Manila, đưa ra các ý kiến phản bác việc Philippines triển khai một vụ kiện mới, thậm chí một số học giả Trung Quốc còn đưa ra những lời lẽ mang tính đe doạ.

Thứ nhất, các chuyên gia Trung Quốc lên án Philippines khởi kiện là “trò lừa gạt pháp lý”; ngang nghiên cáo buộc Philippines dự kiến triển khai vụ kiện mới trên vấn đề môi trường không phải xuất phát từ những cân nhắc về môi trường, mà là việc sử dụng “luật pháp quốc tế” như một công cụ để “thao túng chính trị”. Các học giả Trung Quốc lập luận rằng việc Philippines khởi kiện Trung Quốc về vấn đề môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), nhưng vì tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc về EEZ chưa được giải quyết thì cáo buộc của Philippines rằng Trung Quốc đang phá hủy môi trường biển trong “vùng đặc quyền kinh tế” của nước này chắc chắn là không có căn cứ và do đó không còn được chấp nhận nữa; nếu Philippines nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tạm thời thì Trung Quốc, với tư cách là bên bị đơn, vẫn có quyền nộp đơn phản tố yêu cầu áp dụng biện pháp tạm thời.

Chuyên gia Đinh Đạc (Ding Duo) – Viện trưởng Viện Nghiên cứu khu vực và quốc gia thuộc Viện Nghiên cứu Biển Đông Trung Quốc cho rằng Ở Biển Đông, bờ biển lãnh thổ đất liền của Trung Quốc và bờ biển Philippines đối diện nhau, cách nhau chưa đến 400 hải lý. Với sự phát triển của luật Biển quốc tế, hai nước có các quyền và lợi ích hàng hải chồng lấn ở Biển Đông, điều này cũng dẫn đến các tranh chấp ranh giới trên biển. Philippines cần phải có nhận thức và hiểu rõ về tranh chấp ở Biển Đông. Giải pháp khả thi duy nhất là quản lý các bất đồng thông qua đàm phán và tham vấn song phương. Mọi nỗ lực khởi kiện một lần nữa như vụ kiện Trung Quốc lên Toà Trọng tài hoặc việc sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp của bên thứ ba khác sẽ chỉ làm cho các vấn đề trở nên phức tạp hơn. Qua ý kiến của ông Đinh Đạc có thể thấy Trung Quốc đang lo ngại Philippines khởi kiện một lần nữa và họ đang tìm mọi cách để cản trở việc Manila sử dụng biện pháp pháp lý.

Thứ hai, Bắc Kinh còn thông qua các chuyên gia, học giả nước này đưa ra những lời đe doạ đối với Manila. ông Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun), chuyên gia hàng hải hàng đầu của Trung Quốc và là người sáng lập Viện quốc gia Nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc cảnh báo trong trường hợp Manila khởi động vụ kiện Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông lên Tòa Trọng tài lần thứ hai, Bắc Kinh sẽ không ngồi yên và có các “công cụ đa dạng hơn” để đáp trả.

Chuyên gia Ngô Sĩ Tồn cho biết Bắc Kinh có thể thực hiện các biện pháp đối phó mạnh mẽ để thể hiện quyết tâm đáp trả đồng thời khiến Manila “hao tâm tốn của” khi khởi xướng các thủ tục pháp lý. Phát biểu bên lề Hội nghị An ninh Munich trung tuần tháng 2 vừa qua, ông Ngô Sĩ Tồn cho biết: “Để chống lại vụ kiện, Trung Quốc phải đảm bảo rằng chi phí mà Philippines bỏ ra lớn hơn lợi ích thu được, khiến hành động của nước này trở nên vô ích”.

Ông Ngô Sĩ Tồn gợi ý hai biện pháp cụ thể đối phó hiệu quả với nỗ lực khởi kiện lần thứ 2 có thể là: (i) Bắc Kinh đặt ra thời hạn chót để Manila di dời tàu chiến BRP Sierra Madre, tàu đổ bộ thời Chiến tranh Thế giới thứ hai được Manila cố tình bố trí tại Bãi Cỏ Mây như một tiền đồn ở vùng biển đang tranh chấp. Nếu Manila không đáp ứng yêu cầu này trước thời hạn chót, Bắc Kinh có thể kéo tàu đi; (ii) Trung Quốc phát triển cơ sở hạ tầng trên Bãi cạn Scarborough, bao gồm căn cứ thực thi pháp luật hải cảnh, các cơ sở hỗ trợ hậu cần, các viện nghiên cứu môi trường biển và ngọn hải đăng, cũng sẽ được xem xét để củng cố quyền kiểm soát của Trung Quốc (thực chất là bồi đắp, xây dựng đảo nhân tạo và biến nó thành căn cứ quân sự). Chuyên gia Ngô Sĩ Tồn còn nhấn mạnh: “Phản ứng của Trung Quốc cũng có thể đóng vai trò như một tín hiệu cảnh báo cho các quốc gia khác về hậu quả của việc thực hiện các biện pháp tương tự”.

Giới chuyên gia nhận định Bắc Kinh đang lợi dụng việc chính quyền của Tổng thống Trump nhiệm kỳ 2 bận tập trung giải quyết cuộc chiến ở Ucraina và tình hình Trung Đông qua ông Ngô sĩ Tồn để đưa ra những lời đe doạ gây sức ép với Manila từ bỏ biện pháp pháp lý trên vấn đề Biển Đông.

Thứ ba, Trung Quốc cáo buộc Philippines lạm dụng các thủ tục tư pháp quốc tế; vu cáo Mỹ xúi giục và khuyến khích Manila khởi kiện để tạo rắc rối ở Biển Đông. Động thái xúi giục khởi kiện của một số nhân sĩ ở Philippines không xuất phát từ thiện chí hay mối quan tâm thực sự đối với môi trường biển ở Biển Đông; vu cáo Philippines Philippines đã vi phạm “nguyên tắc đồng ý của các bên liên quan” khi đơn phương khởi kiện.

Chuyên gia Đinh Đạc (Ding Duo) – Viện trưởng Viện Nghiên cứu khu vực và quốc gia thuộc Viện Nghiên cứu Biển Đông Trung Quốc lập luận rằng một số người lấy việc Trung Quốc xây dựng đảo và rạn san hô nhiều năm trước làm cái cớ chỉ trích Trung Quốc phá hoại môi trường là không có căn cứ. Những người này không dựa vào dữ liệu khoa học đáng tin cậy, cũng như không có thái độ khoa học nghiêm túc, mà dựa vào thành kiến của mình. Họ đã bôi nhọ Trung Quốc với cáo buộc gây ô nhiễm môi trường biển.

Chuyên gia Đinh Đạc bao biện cho các hành vi của Bắc Kinh rằng việc xây dựng đảo và bãi đá của Trung Quốc dựa trên cơ sở luận cứ điều tra, áp dụng phương án xây dựng nạo vét sỏi đầm phá và lấp đầy bãi đá bên trong, đồng thời cân nhắc đầy đủ các yếu tố như môi trường sinh thái biển, đặc biệt là bảo vệ rạn san hô. So với dữ liệu đánh giá tác động môi trường trước khi xây dựng, tác động của việc xây dựng đảo và bãi đá lên các rạn san hô nhìn chung là rất hạn chế. Sau khi hoàn thành việc xây dựng đảo và bãi đá, Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp khả thi nhất để bảo vệ và phục hồi hệ thống rạn san hô và tiếp tục thực hiện giám sát sinh thái và môi trường.

Ông Đinh Đạc còn tố cáo ngược lại đối với Philippines khi cho rằng thân tàu chiến của Philippines mắc cạn tại “Đá Nhân Ái” (cách Trung Quốc gọi Bãi Cỏ Mây) thuộc quần đảo “Nam Sa” (cách Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa) đã bị ăn mòn, và cặn dầu nhiên liệu trên tàu đã gây thiệt hại đáng kể cho môi trường biển tại “Đá Nhân Ái”. Philippines đã tìm đủ mọi cách để gia cố tàu chiến bị mắc cạn. Chất thải xây dựng và rác thải sinh hoạt do quân nhân đồn trú trên tàu thải ra đã gây ra những tác động phá hoại không thể phục hồi đối với môi trường sinh thái biển của “Đá Nhân Ái”.

Các chuyên gia môi trường quốc tế đều cho rằng lý lẽ của ông Đinh Đạc hoàn toàn là những lời bao biện, lấp liếm cho các hành vi sai trái của họ. Trên thực tế, trong quá trình thụ lý vụ kiện Biển Đông do Philippines khởi xướng năm 2013, Toà Trọng tài đã xem xét đầy đủ các khía cạnh liên quan tới hành vi bồi đắp, xây dựng các đảo nhân tạo của Trung Quốc trên các thực thể ở Biển Đông và đưa ra phán quyết năm 2016 kết luận hoạt động xây dựng đảo của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa từ cuối năm 2013 đã vi phạm hàng loạt các nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển theo quy định của UNCLOS, cụ thể: (a) vi phạm các nghĩa vụ bảo vệ và giữ gìn môi trường biển theo các Điều 192; hoạt động nạo vét lấy vật liệu cho hoạt động xây dựng đảo của Trung Quốc vi phạm nghĩa vụ ở Điều 194(1) khi gây ô nhiễm trầm tích cho môi trường biển; việc Trung Quốc không có biện pháp để bảo vệ hệ sinh thái và môi trường sống của các loài bị đe dọa vi phạm nghĩa vụ theo Điều 194(5); việc Trung Quốc không có bất kỳ nỗ lực nào để hợp tác hay phối hợp với các quốc gia xung quanh Biển Đông khi thực hiện hoạt động xây dựng đảo đã vi phạm nghĩa vụ hợp tác theo Điều 197 và Điều 123; việc Trung Quốc không báo cáo đánh giá tác động môi trường khi thực hiện hoạt động xây dựng đảo đã vi phạm nghĩa vụ ở Điều 206.

Tóm lại, giới luật gia quốc tế cho rằng ý kiến của các chuyên gia, học giả Trung Quốc chỉ là sự nguỵ biện để che đậy cho các tham vọng và hành động hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, hoàn toàn không có cơ sở pháp lý khoa học. Đối với những tranh chấp phức tạp ở Biển Đông sử dụng biện pháp pháp lý để giải quyết là cách thức công bằng và phù hợp nhất. Philippines là nước đi đầu trong sử dụng biện pháp pháp lý trên vấn đề Biển Đông và đã đưa đến những kết quả tích cực. Nếu Philippines triển khai một vụ kiện mới thể hiện rõ tinh thần thượng tôn pháp luật, góp phần thúc đẩy một trật tự dựa trên pháp luật và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế.

BDN

Loading

Views: 4

Vấn đề chủ quyền trong hiệp định lịch sử về biển cả

Việc thiết lập các vùng bảo vệ biển trong Hiệp định BBNJ được quy định chặt chẽ, không được hiểu là sự công nhận bất kỳ yêu sách chủ quyền nào.

Ngăn việc bị lợi dụng cho các yêu sách chủ quyền

Phần III của BBNJ (Hiệp định bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển tại các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia) nói về các biện pháp như Công cụ quản lý theo vùng (Area-based management tool ABMT) bao gồm cả vùng bảo vệ biển, gồm 10 điều (17-26).

Tàu khảo sát Trần Đại Nghĩa

Điều 1 khoản 1 định nghĩa ABMT là công cụ, bao gồm cả vùng bảo vệ biển, cho một khu vực địa lý xác định, thông qua đó một hoặc một số lĩnh vực hoặc hoạt động được quản lý với mục đích đạt được sự bảo tồn đặc biệt và các mục tiêu sử dụng bền vững phù hợp với hiệp định.

Việc thiết lập các ABMT, bao gồm cả vùng bảo vệ biển, không được bao gồm bất kỳ một vùng nào nằm dưới quyền tài phán quốc gia và không được là cơ sở cho việc thừa nhận hay từ chối bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, kể cả các tranh chấp liên quan đến chúng.

Hội nghị các quốc gia thành viên sẽ không xem xét các đề xuất như vậy và trong mọi trường hợp các đề xuất này không được hiểu như sự công nhận hay không công nhận bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán nào. Điều 19 quy định cụ thể các tiêu chí để các bên căn cứ đề xuất ABMT.

Phần IV về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), gồm 13 điều (27-39).

ĐTM là công cụ quản lý môi trường và là nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện để đảm bảo rằng ảnh hưởng tiềm năng tới môi trường của các hoạt động lên kế hoạch dưới quyền tài phán và kiểm soát của họ được tiến hành trong các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia phải được đánh giá phù hợp với các quy định trong phần này trước khi chúng được cho phép.

Mục tiêu của phần này là xác định quá trình, ngưỡng và các yêu cầu khác để tiến hành và báo cáo đánh giá cho các bên, nhằm bảo đảm các hoạt động được tiến hành phải ngăn ngừa, giảm thiểu và quản lý các tác hại đáng kể nhằm mục đích bảo vệ và bảo tồn môi trường biển. Bên cạnh biện pháp đánh giá tác động môi trường chiến lược, hiệp định lần đầu tiên khuyến khích và ủng hộ việc xem xét đánh giá các tác động tích lũy lên môi trường.

Điều 1 khoản 6 định nghĩa các tác động tích lũy là các tác động kết hợp và tăng dần bắt nguồn từ các hoạt động khác nhau, bao gồm các hoạt động trong quá khứ, hiện tại và có thể được dự tính một cách hợp lý, hoặc do việc lặp lại các hoạt động giống nhau qua thời gian, và hậu quả của biến đổi khí hậu, axít hóa đại dương và các tác động liên quan. Các tiêu chuẩn và hướng dẫn về ĐTM sẽ được ủy ban khoa học kỹ thuật chuẩn bị cho hội nghị các quốc gia thành viên xem xét và thông qua (điều 38).

Hội nghị các quốc gia thành viên sẽ không xem xét các đề xuất như vậy và trong mọi trường hợp các đề xuất này không được hiểu như sự công nhận hay không công nhận bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán nào. Điều 19 quy định cụ thể các tiêu chí để các bên căn cứ đề xuất ABMT.

Phần IV về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), gồm 13 điều (27-39).

ĐTM là công cụ quản lý môi trường và là nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện để đảm bảo rằng ảnh hưởng tiềm năng tới môi trường của các hoạt động lên kế hoạch dưới quyền tài phán và kiểm soát của họ được tiến hành trong các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia phải được đánh giá phù hợp với các quy định trong phần này trước khi chúng được cho phép.

Mục tiêu của phần này là xác định quá trình, ngưỡng và các yêu cầu khác để tiến hành và báo cáo đánh giá cho các bên, nhằm bảo đảm các hoạt động được tiến hành phải ngăn ngừa, giảm thiểu và quản lý các tác hại đáng kể nhằm mục đích bảo vệ và bảo tồn môi trường biển. Bên cạnh biện pháp đánh giá tác động môi trường chiến lược, hiệp định lần đầu tiên khuyến khích và ủng hộ việc xem xét đánh giá các tác động tích lũy lên môi trường.

Điều 1 khoản 6 định nghĩa các tác động tích lũy là các tác động kết hợp và tăng dần bắt nguồn từ các hoạt động khác nhau, bao gồm các hoạt động trong quá khứ, hiện tại và có thể được dự tính một cách hợp lý, hoặc do việc lặp lại các hoạt động giống nhau qua thời gian, và hậu quả của biến đổi khí hậu, axít hóa đại dương và các tác động liên quan. Các tiêu chuẩn và hướng dẫn về ĐTM sẽ được ủy ban khoa học kỹ thuật chuẩn bị cho hội nghị các quốc gia thành viên xem xét và thông qua (điều 38).

Nó phải xây dựng, khi cần thiết, và không được lặp lại các chương trình đã tồn tại và phải được hướng dẫn (rút kinh nghiệm) bởi các bài học đã qua bao gồm các bài học từ các hoạt động xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển theo các văn bản và khuôn khổ pháp lý hiện hành và các tổ chức mang tính toàn cầu, khu vực, tiểu khu vực và lĩnh vực liên quan. Nó phải được tiến hành có tính đến quan điểm đạt được hiệu quả và kết quả cực đại.

Xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển cần được xây dựng và cần đáp ứng yêu cầu và ưu tiên của các quốc gia thành viên đang phát triển, có tính đến hoàn cảnh đặc biệt của các quốc đảo nhỏ đang phát triển và các nước chậm phát triển, xác định thông qua đánh giá yêu cầu, trên cơ sở cho từng trường hợp cụ thể, tiểu khu vực và khu vực. Các yêu cầu và ưu tiên này có thể tự đánh giá hoặc thông qua ủy ban xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển và cơ chế minh bạch thông tin (clear house information – CHI).

Phần VI dành cho các quy định về tổ chức, gồm 5 điều (47-51). Điều 47 quy định việc thành lập, quy chế làm việc và chức năng của hội nghị các bên, cơ quan điều hành cao nhất của hiệp định. Ngoài hội nghị các bên, hiệp định còn quy định thành lập ủy ban khoa học kỹ thuật, ban thư ký và xác định chế độ minh bạch cũng như cơ chế minh bạch thông tin CHI mà các cơ quan và các bên cần tuân thủ.

Phần VII về các quy định tài chính gồm 1 điều khoản (52). Phần VIII Thực thi và tuân thủ gồm 3 điều (53-55). Phần IX Giải quyết tranh chấp gồm 6 điều (56-61). Các bên có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng mọi biện pháp hòa bình quy định trong điều 33 Hiến chương Liên Hiệp Quốc và tuân theo thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định trong phần XI của UNCLOS. Các phần còn lại X, XI, XII liên quan đến mối quan hệ với các văn kiện khác, với bên thứ ba và các thủ tục phê chuẩn, có hiệu lực.

Kết luận

Hiệp định BBNJ là một bổ sung cho Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), nằm trong khuôn khổ UNCLOS và không thay thế những nguyên tắc cơ bản của UNCLOS. 

BBNJ được xây dựng trên nguyên tắc di sản chung của loài người và tự do biển cả, và nhấn mạnh nguyên tắc tính đến các nhu cầu và ưu tiên của các nước đang phát triển tạo ra lợi thế lớn cho Việt Nam và các nước đang phát triển trong việc xây dựng và thực thi một trật tự pháp lý trên biển công bằng, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và các lợi ích quốc gia của tất cả các thành viên của cộng đồng quốc tế.

Hiệp định BBNJ với những định nghĩa mới và cụ thể về nguồn gene biển, về công cụ quản lý vùng, đánh giá tác động môi trường cơ chế thông tin minh bạch, xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển đã góp phần thay đổi phương thức quản trị đại dương và biển khắc phục những tồn tại hiện nay.

Việc bảo tồn và sử dụng bền vững biển và đại dương, trong đó có các nguồn đa dạng sinh học biển sẽ góp phần tận diệt đói nghèo, giúp kinh tế tăng trưởng bền vững hơn, bảo đảm an ninh lương thực, tạo thêm sinh kế bền vững và tăng cường khả năng chống chịu và thích ứng của các nước trước tác động của biển đổi khí hậu. /.

GS Nguyễn Hồng Thao

Việc thiết lập các ABMT, bao gồm cả vùng bảo vệ biển, không được bao gồm bất kỳ một vùng nào nằm dưới quyền tài phán quốc gia và không được là cơ sở cho việc thừa nhận hay từ chối bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, kể cả các tranh chấp liên quan đến chúng.

Loading

Views: 0

Thực thể nổi: Tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa

Trong số 25 thực thể nổi trong danh sách mới mà Trung Quốc đưa ra có 12 thực thể ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo nằm ở phía bắc Biển Đông.

Đây là quần đảo do Trung Quốc kiểm soát nhưng cả Việt Nam và Đài Loan đều tuyên bố có chủ quyền. Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam vào năm 1974 trong một trận hải chiến với quân đội của chính phủ Nam Việt Nam lúc đó.

Các chuyên gia nhấn mạnh rằng về mặt kỹ thuật, không có bất cứ thực thể nào trong số 12 thực thể nói trên là những tuyên bố chủ quyền mới vì Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền với chúng trên cơ sở “quyền lịch sử” và vùng nằm trong đường đứt khúc 9 đoạn mà nước này vẽ ra trên một vùng diện tích rộng lớn ở Biển Đông. Đây là vùng mà Trung Quốc nói họ có chủ quyền. Nhưng điều mà Trung Quốc đang làm lúc này là vẽ bản đồ khu vực chi tiết hơn.

Trung Quốc tuyên bố Hoàng Sa là một quần đảo ngoài khơi, và vào năm 1996 đã vẽ đường cơ sở thẳng quanh quần đảo, nối những điểm đầu và cuối của quần đảo, cách vốn thường được làm bởi các quốc đảo nhằm gộp các đảo của họ lại với nhau để xác định đường biên giới trên biển. Bằng cách làm này, Trung Quốc hy vọng sẽ mở rộng hợp pháp vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đối với toàn bộ nửa phần phía bắc của Biển Đông. Điều này đã bị Toà Trọng tài quốc tế tuyên vô hiệu trong một phán quyết vào năm 2016 trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc.

“Sanzhizai” thực thể mới duy nhất của Trung Quốc ở phần đông bắc Hoàng Sa giữa đảo Trung và đảo Nam. Đảo Bắc là nơi có một tiền đồn của Trung Quốc.

Một trong những thực thể mới, Sanzhizai, là một đê cát mà hình ảnh vệ tinh cho thấy là không có người ở và gần như không nổi lên trên mặt nước bất kỳ lúc nào. Nó nằm giữa Đảo Trung và Đảo Nam, là các đảo cũng không có người ở và được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc đã chiếm đóng tất cả các thực thể không có người ở quanh đó, bao gồm Đảo Bắc, nơi có tiền đồn quân sự và Đảo Cây, nơi có cảng lớn hơn và căn cứ quân sự.

11 thực thể còn lại mà Trung Quốc đặt tên ở Hoàng Sa nằm trong Nhóm Trăng Khuyết, một nhóm các bãi đá và đá, một số trong số này được Trung Quốc nạo vét và xây thành các tiền đồn nằm cách căn cứ chính ở đảo Phú Lâm khoảng 45 hải lý.

Không có thực thể nào do Trung Quốc đặt tên ở Hoàng Sa đủ tiêu chuẩn theo pháp lý được gọi là đảo. Hai thực thể chìm hoàn toàn dưới mặt nước biển. Số còn lại là các bãi cạn hoặc bãi cát. Kuangzai Beidao – hay còn gọi là Đảo Basket Bắc – là một ví dụ. Thực thể này chỉ là một dải đất có bề rộng ít hơn 1/10 mile từ điểm đầu đến điểm cuối. Nó nằm cạnh một đảo nhỏ tý hon mà Trung Quốc chiếm đóng là Bãi Antelope, nơi có một số các toà nhà được xây trên đó.

Theo phán quyết quan trọng của Toà Trọng tài Quốc tế vào năm 2016 về Biển Đông, để đáp ứng định nghĩa về đảo, một thực thể phải có khả năng duy trì sự sống của con người một cách tự nhiên và hoạt động kinh tế mà không cần sự giúp đỡ từ bên ngoài. Kuangzai Beidao rõ ràng là không đáp ứng được yêu cầu này và cũng không có thực thể nào trong danh sách đáp ứng yêu cầu này.

Kuangzai Beidao, hay còn gọi là Đảo Basket Bắc. Hình chụp hôm 23/4/2020. Dải đất này nằm trên bãi Antelope, phía bắc khu vực có các công trình quan trọng của Trung Quốc ở Hoàng Sa.

Các thực thể mới khác rõ ràng là nhằm mục đích lấp lỗ hổng giữa và quanh các tiền đồn của Trung Quốc và các đảo nhân tạo. Guangjin Beiyidao và Guangjin Bei’erdao (Đảo Guangjin Bắc thứ nhất và Đảo Guangjin Bắc thứ hai) có thể phân biệt rõ khỏi nhau, và Trung Quốc liệt kê cùng những vị trí địa lý cho cả hai thực thể, nhưng cùng với Guangjin Xidao (Đảo Tây Guangjin) chúng làm thành một ngăn cách cát bên phía tây đảo Duncan, nơi Trung Quốc có cảng và tiền đồn.

HÌnh vệ tinh đảo Duncan hôm 28/4/2020. Guangjin Beiydao, Bei’erdao, và Guangjin Xidao nằm ở phía tây. Guangjin Beiyidao và Bei’erdao có cùng các vị trí địa lý theo danh sách của Trung Quốc, nhưng dựa theo tên của chúng có thể cho rằng chúng là hai bãi cát nằm cạnh nhau phía trên bên trái. Đảo Duncan có cảng cho ngư dân Trung Quốc và hải cảnh.

Các thực thể này dường như là một phần của chiến dịch mà Trung Quốc đang thực hiện để xác định đường cơ sở rõ ràng hơn quanh quần đảo Hoàng Sa, cho phép Trung Quốc dễ dàng gộp tất cả các thực thể ngoài khơi quần đảo này làm một nhóm. Trung Quốc đã yêu cầu các tàu thuyền phải xin phép trước khi đi qua Hoàng Sa. Đây là lý do chính khiến Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện chương trình tự do hàng hải ở Hoàng Sa, gọi đường cơ sở của Trung Quốc quanh Hoàng Sa là kinh khủng.

BDN

Loading

Views: 0

Công hàm của Đức, Anh, Pháp khiến Trung Quốc đuối lý về Biển Đông

Công hàm phản đối Trung Quốc ở Biển Đông của Anh, Pháp, Đức buộc Bắc Kinh phản hồi nhanh chóng nhưng yếu về mặt pháp lý.

Hôm 16/9, ba nước Anh, Pháp, Đức, hay còn gọi là nhóm E3, gửi công hàm chung lên Liên Hợp Quốc, phản bác những yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo đó, ba nước nhấn mạnh Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) là “khuôn khổ pháp lý” cho mọi hoạt động trên biển và cần được duy trì tính toàn vẹn. Công hàm cũng khẳng định việc Trung Quốc vẽ ra cái gọi là “đường cơ sở thẳng” xung quanh quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, cùng khái niệm “quyền lịch sử” mà nước này đưa ra để đòi yêu sách với phần lớn Biển Đông, “vi phạm luật pháp quốc tế và các điều khoản của UNCLOS”. Điều này đã được xác nhận rõ ràng trong Phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực ở The Hague, Hà Lan, trong vụ kiện của Philippines đối với yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đánh giá về động thái của E3, giới chuyên gia quốc tế cho biết bước đi này có ý nghĩa lớn, khi nhìn vào vị thế của các nước. Anh, Pháp, Đức là ba thành viên lớn nhất của Liên minh châu Âu (EU), nằm trong 7 nền kinh tế lớn nhất thế giới, là thành viên của UNCLOS. Pháp và Anh còn là uỷ viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ. E3 đã đưa ra tiếng nói độc lập, không liên quan với bất cứ cường quốc nào khác, kể cả Mỹ. Họ cho rằng mình có lợi ích trong bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông, là lợi ích của toàn cầu. Vì thế ba nước đã lên tiếng mạnh mẽ.

Đây là lần đầu tiên E3 gửi công hàm phản đối yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông lên LHQ. Trước đó, Anh, Pháp, Đức trong tháng 8/2019 đã ra tuyên bố chung kêu gọi hòa bình ổn định ở khu vực này.

Bằng việc gửi công hàm chung lên LHQ, E3 đã thể hiện rõ lập trường của mình trước những tuyên bố và hành động sai trái của Trung Quốc. Công hàm của E3 rất chặt chẽ, tuân thủ đầy đủ các quy định trong luật quốc tế, bác bỏ hầu hết các tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trái với UNCLOS ở Biển Đông, ngăn ngừa những hệ lụy tương lai của các tuyên bố và hành động của Trung Quốc.

Hôm 18/9, Trung Quốc đã gửi công hàm phản hồi văn bản của E3 lên LHQ. Động thái của Bắc Kinh diễn ra chỉ sau hai ngày. Trung Quốc nhận thấy phải lên tiếng vì công hàm của E3 rất quan trọng, nếu không thì Trung Quốc đã không phải phản hồi mau chóng như vậy.

Vai trò thành viên UNCLOS của Anh, Pháp, Đức, đã khiến Trung Quốc phải nêu ra lập luận mới về yêu sách ở Biển Đông, nhưng theo một cách yếu hơn. Trước đây, khi Mỹ phản bác yêu sách của Trung Quốc, Bắc Kinh thường chuyển hướng sang việc Mỹ không phải là thành viên UNCLOS. Nhưng khi E3 đều là thành viên của Công ước, Bắc Kinh tìm cách đưa ra các lập luận đáng ngờ, với hai điểm cần lưu ý.

Thứ nhất, Trung Quốc tự cho rằng nước này “được phép dùng đường cơ sở thẳng quanh các nhóm đảo, với tư cách là một quốc gia lục địa”. Trong công hàm ngày 18/9, Trung Quốc cho rằng “Việc Trung Quốc vẽ các đường cơ sở trong vùng biển thuộc chủ quyền với các đảo và đá liên quan tuân theo UNCLOS và luật quốc tế nói chung”. Tuy nhiên, Bắc Kinh chưa bao giờ tuyên bố các đường cơ sở thẳng xung quanh Trường Sa, mà vẽ đường cơ sở thẳng dọc hầu hết toàn bộ bờ biển đất liền. Trong khi đó, Toà án công lý quốc tế (ICJ) cho rằng phương pháp dùng đường cơ sở thẳng trong UNCLOS chỉ được sử dụng trong các trường hợp ngoại lệ. Trung Quốc đã dùng ngoại lệ đó như “quy tắc chung”. Hơn nữa, phán quyết của Toà trọng tài thường trực năm 2016 khẳng định “Trung Quốc không đủ điều kiện để vẽ các đường cơ sở thẳng quanh các nhóm đảo Bắc Kinh yêu sách”.

Đá Xubi, nơi Trung Quốc cải tạo trái phép thành đảo nhân tạo

Thứ hai, Trung Quốc cho rằng UNCLOS không bao trùm mọi điều về trật tự hàng hải. Bắc Kinh đúng khi nói rằng có nhiều luật quốc tế khác, nhưng điều đó không có nghĩa là Trung Quốc có thể làm bất cứ điều gì mình muốn ở các đại dương trên thế giới và viện các luật khác như một cái cớ. Có thể nói Trung Quốc đã đưa ra các lập luận yếu trong công hàm phản hồi văn bản của E3.

Dự báo động thái tiếp theo của E3, Anh, Pháp, Đức có thể thúc đẩy quan điểm nhất quán đã nêu trong công hàm ngày 16/9 ở các diễn đàn quốc tế, như các cuộc họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc hay các cuộc họp của Hội đồng Bảo an LHQ. Bên cạnh đó, E3 cũng có thể tăng cường trao đổi mối quan ngại trong các trao đổi song phương với các nước ở khu vực, trong đó có cả Trung Quốc.

Anh, Pháp, Đức có thể tăng hiện diện quân sự ở Biển Đông nhằm bảo vệ tự do hàng hải ở khu vực. Trên thực tế, Anh và Pháp đã điều tàu đến Biển Đông. E3 cũng có hợp tác quân sự mạnh mẽ với Mỹ, tiến hành nhiều hoạt động và diễn tập ở nhiều nơi trên thế giới.

E3 sẽ ủng hộ các hoạt động bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông. Trong đó, Anh sẽ có hành động sớm hơn Pháp và Đức.

Ba nước châu Âu có thể tăng hợp tác với các nước thành viên khác của EU, đồng minh để phản đối các hành động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông. E3 cũng sẽ phối hợp với Mỹ, Nhật Bản, Australia và các nước có lợi ích ở Biển Đông để bảo đảm an ninh, trong đó có việc tăng hoạt động và giao lưu của tàu chiến, hình thành khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Ba nước này có thể thực hiện các biện pháp kinh tế để buộc Trung Quốc tuân thủ luật quốc tế.

Các nước châu Âu ngày càng nhận thức rõ mối đe dọa từ Trung Quốc, từ tham vọng và hành động bất chấp luật pháp quốc tế của Bắc Kinh. Do vậy, các hoạt động kiềm chế Trung Quốc của châu Âu được tiến hành trên tất cả các mặt trận, cả về kinh tế, chính trị, ngoại giao, trong đó, Biển Đông là một trong những mặt trận quan trọng. “Ngoại giao chiến lang” của Trung Quốc trong quan hệ với các nước châu Âu khi các nước đang đối phó với Covid-19 đã làm xấu đi quan hệ của châu Âu với Trung Quốc.

Các nước châu Âu đang gia tăng mối quan tâm đến diễn biến ở Biển Đông trong vài năm gần đây. Mới nhất, Đức trong đầu tháng 9 đã thông qua các nguyên tắc liên quan đến Ấn Độ – Thái Bình Dương. Đây được coi là chiến lược quốc gia của Đức về tầm quan trọng của duy trì tự do hàng hải, ủng hộ phán quyết của PCA năm 2016 và kêu gọi các bên xây dựng bộ Quy tắc ứng xử ràng buộc (COC).

Sau khi Nhật Bản, Mỹ kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết 2016, hiện nay ba nước lớn ở châu Âu cũng gia nhập nỗ lực này. Mối quan tâm của Anh, Pháp, Đức đang gia tăng mạnh mẽ./.

Loading

Views: 0

Note Verbale of France, Germany and the United Kingdom

Note Verbale

UK NV No. 162/20

New York, 16 September 2020

The Permanent Mission of the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland to the United Nations presents its compliments to the Secretariat of the United Nations and has the honour to refer to views expressed by the People’s Republic of China regarding its maritime claims in the South China Sea in its Notes Verbales No. CML/14/2019 dated 12 December
2019, No. CML/11/2020 dated 23 March 2020, No. CML/42/2020 dated 17 April 2020, No. CML/46/2020 dated 2 June 2020, No. CML/48/2020 dated 18 June 2020, No. CML/54/2020 dated 29 July 2020, and No. CML/56/2020 dated 7 August 2020, as well as the annex to the letter dated 9 June 2020 from the Permanent Representative of China to the United Nations addressed to the Secretary-General, concerning the submission by Malaysia HA 59/19 dated 12 December 2019 to the Commission on the Limits of the Continental Shelf.
***
1. France, Germany and the United Kingdom, as States Parties to the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS), wish to reaffirm their legal position as follows:
– France, Germany and the United Kingdom recall the universal and unified character of UNCLOS that sets out the legal framework within which all activities in the oceans and seas must be carried out, and underscore that the integrity of the Convention needs to be maintained, as reaffirmed by the United Nations General Assembly in its annual resolution on oceans and the law of the sea.
– France, Germany and the United Kingdom underline the importance of unhampered exercise of the freedom of the high seas, in particular the freedom of navigation and overflight, and of the right of innocent passage enshrined in UNCLOS, including in the South China Sea.
– France, Germany and the United Kingdom emphasise the specific and exhaustive conditions set forth in the Convention for the application of straight and archipelagic baselines which are defined in Part II and Part IV of UNCLOS. Therefore there is no legal ground for continental States to treat archipelagos or marine features as a whole entity without respecting the relevant provisions in Part II of UNCLOS or by using those in Part IV applicable only to archipelagic States.
– France, Germany and the United Kingdom also emphasise the specific and exhaustive conditions set forth in the Convention for the application of the regime of islands to naturally formed land features. Land building activities or other forms of artificial transformation cannot change the classification of a feature under UNCLOS.
– France, Germany and the United Kingdom also highlight that claims with regard to the exercise of “historic rights” over the South China Sea waters do not comply with international law and UNCLOS provisions and recall that the arbitral award in the Philippines v. China case dating to 12 July 2016 clearly confirms this point.
– France, Germany and the United Kingdom hold that all maritime claims in the South China Sea should be made and peacefully resolved in accordance with the principles and rules of UNCLOS and the means and procedures for the settlement of disputes provided for in the Convention.

2. This position is reaffirmed without prejudice to competing claims of coastal states over disputed territorial sovereignty to naturally formed land features and to areas of the continental shelf in the South China Sea on which France, Germany and the United Kingdom take no position.

3. This joint Note Verbale reflects our long-standing legal positions and is complementary and without prejudice to any further positions that France, Germany and the United Kingdom have stated in the past, both bilaterally and together with other States Parties to UNCLOS.

4. As States Parties to UNCLOS, France, Germany and the United Kingdom will continue to uphold and assert their rights and freedoms as enshrined in UNCLOS and to contribute to promoting co-operation in the region as set out under the Convention.
***
The Permanent Mission of the United Kingdom to the United Nations has the honour to request that this Note Verbale be circulated to all States Parties to UNCLOS and all Member States of the United Nations by publication on the DOALOS website.

The Permanent Mission of the United Kingdom to the United Nations avails itself of this opportunity to renew to the Secretariat of the United Nations the assurances of its highest consideration.

16 September 2020

 

Loading

Views: 0

Bảo vệ trật tự dựa trên quy tắc tại Biển Đông – Thách thức đầy rẫy và ‘mỏ neo’ quý giá (Kỳ 1)

Trang mạng www.lawfareblog.com mới đây có bài viết của Giáo sư Luật quốc tế người Đức Jonathan G. Odom nghiên cứu những khó khăn và triển vọng của việc đọ sức với Trung Quốc trong các vấn đề tại Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế.

“Đó chỉ là một mảnh giấy lộn: Người ta có thể vứt nó vào thùng rác, không thì để trên giá, hoặc cho vào kho lưu trữ”. Đó là lời của Lưu Chấn Dân, khi đó là Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, phát biểu tại một cuộc họp báo hồi tháng 7/2016 tại Bắc Kinh.

Vụ kiện lịch sử

Một ngày trước khi ông đưa ra những nhận xét này, một tòa án được thành lập theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) đã đưa ra phán quyết toàn diện, gồm 501 trang về vụ kiện ở Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc.

Với tư cách là một quốc gia thành viên của UNCLOS, Philippines đã khởi động tiến trình này từ 3 năm trước đó, nhưng Trung Quốc từ chối tham gia – mặc dù nước này cũng là một thành viên của UNCLOS.

Tại cuộc họp báo ở Bắc Kinh, Trung Quốc đã tuyên bố với thế giới rằng họ coi phán quyết trên là “không có giá trị”. Lưu Chấn Dân – một trong những quan chức ngoại giao cấp cao của Trung Quốc – còn tiến thêm một bước nữa: Ông đánh đồng một phán quyết tư pháp mang tính ràng buộc về mặt pháp lý với rác rưởi.

Sau phán quyết này, một số nước thành viên khác của UNCLOS đã kêu gọi Trung Quốc xem xét lại thái độ không chấp hành của mình. Ngay sau khi phán quyết được đưa ra, Philippines tuyên bố rằng: “Quyết định này của tòa tuân thủ luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982”.

Cùng ngày, Chính phủ Australia “kêu gọi Philippines và Trung Quốc tuân thủ phán quyết cuối cùng và mang tính ràng buộc đối với cả hai bên”.

Tương tự, Ngoại trưởng Nhật Bản tuyên bố “phán quyết của tòa là phán quyết cuối cùng và mang tính ràng buộc về pháp lý đối với các bên tranh chấp theo quy định của UNCLOS, các bên trong vụ kiện có nghĩa vụ tuân thủ phán quyết”.

Một tuần sau khi phán quyết được đưa ra, Ngoại trưởng Canada miêu tả phán quyết này là “mang tính ràng buộc đối với các bên” và tuyên bố rằng “Dù có đồng ý với phán quyết hay không, thì Canada tin rằng các bên liên quan nên tuân thủ nó”.

Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia thành viên khác của UNCLOS, đặc biệt là những nước gần gũi với Trung Quốc như Pakistan và Nga, lại chỉ trích phán quyết của Tòa Trọng tài.

Và ở giữa, nhiều nước khác tỏ thái độ trung lập và thể hiện cái mà giới ngoại giao miêu tả là “sự mơ hồ chiến lược”. Có lẽ những thành viên của phe đa số im lặng đó hy vọng rằng cuối cùng thì Trung Quốc sẽ tôn trọng những nghĩa vụ pháp lý của mình trong phán quyết mang tính ràng buộc này.

Sự ngoan cố của Trung Quốc

Tuy nhiên, trong 4 năm qua, Trung Quốc không hề tuân thủ phán quyết này. Chính phủ Trung Quốc đã tiếp tục phớt lờ và xem thường phán quyết. Tệ hơn thế, Trung Quốc đang có những hành động cứng rắn tại Biển Đông để đe dọa các bên tuyên bố chủ quyền khác, một vài hành động trong số này hoàn toàn đi ngược lại các nội dung trong phán quyết của tòa.

Chẳng hạn, tháng 1/2020, tàu Hải cảnh Trung Quốc hộ tống tàu đánh cá nước này đánh bắt cá trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia gần khu vực đảo Natuna không hề có tranh chấp của Indonesia.

Trung Quốc cố tình thực hiện những hành động này tại một khu vực mà vùng biển hợp pháp của Indonesia chồng lấn với mỏm cực nam của “đường 9 đoạn” đầy tai tiếng của Trung Quốc, mà tòa đưa ra phán quyết (đoạn 278) rằng “đường 9 đoạn” đó đi ngược lại với nghĩa vụ của Trung Quốc theo UNCLOS.

Các hành động của Trung Quốc xâm phạm các quyền của Indonesia được quy định trong công ước giống như cách Trung Quốc xâm phạm quyền lợi theo công ước của Philippines, mà tòa đã lên án (đoạn 1203).

Mới đây, vào tháng 4/2020, Bộ Dân chính Trung Quốc đã đơn phương công bố tên gọi chính thức của 25 đảo và bãi cạn trên Biển Đông, cùng 55 thực thể dưới nước. Việc Trung Quốc đặt tên cho những thực thể chìm này là điều rất đáng lo ngại, cho thấy tiếp theo đó Bắc Kinh có khả năng xây dựng một loạt đảo nhân tạo khác và tìm cách đưa ra yêu sách về các quyền lợi trên biển đối với các đảo nhân tạo này, điều mà UNCLOS (Điều 60) nghiêm cấm và phán quyết của tòa cũng nhắc lại (trong các đoạn 305-306).

Đây mới chỉ là hai hành động đáng ngờ của Trung Quốc – đáng tiếc là còn rất nhiều hành động khác.

Khi được tiến hành cùng nhau, những hành động này đặt ra câu hỏi liệu Trung Quốc, với tư cách là một bên tham gia UNCLOS, có thực sự cam kết tuân thủ trật tự quốc tế dựa trên quy tắc hay không, một trật tự mà công ước này cùng các tổ chức pháp lý thừa hành được thiết lập để củng cố.

Những hành động “đáng ngờ” của Trung Quốc tại Biển Đông đặt ra câu hỏi liệu Trung Quốc, với tư cách là một bên tham gia UNCLOS, có thực sự cam kết tuân thủ trật tự quốc tế dựa trên quy tắc hay không?

Thách thức và cơ hội trong thực thi luật pháp quốc tế

Xét tới việc Trung Quốc coi thường phán quyết năm 2016 và cách hành xử hung hăng của nước này, các quốc gia khác nên làm gì để đáp lại hành vi trên? Và – ở mức độ cơ bản hơn – chính xác thì họ có thể làm gì trong quan hệ quốc tế để thể hiện rằng những hành động đơn phương như vậy là không thể chấp nhận được trong khuôn khổ trật tự quốc tế dựa trên quy tắc?

Tất nhiên, tình hình đang diễn ra không phải là một thách thức mới trong quan hệ quốc tế. Những người hoài nghi vẫn thường đặt câu hỏi liệu luật pháp quốc tế có thực sự là “luật pháp” hay không, khi mà chỉ hãn hữu hoặc hoàn toàn không có biện pháp nào bảo đảm rằng các quốc gia sẽ tuân thủ những quy định cụ thể được bao hàm trong đó.

Những người theo chủ nghĩa thực dụng lập luận rằng cộng đồng quốc tế gồm những quốc gia có chủ quyền sẽ hiếm khi tiến hành các hành động tập thể chống lại một nước khác, nhất là khi nước đó có ảnh hưởng kinh tế hoặc sức mạnh quân sự đáng kể, và khi hành vi vi phạm luật pháp quốc tế không đến mức xâm lược trắng trợn.

Xét ở góc độ thực tế, quan hệ quốc tế hiếm khi tạo ra cơ hội cho một nhóm quốc gia thể hiện sự phản đối của họ trước hành vi đáng ngờ của một quốc gia khác, ngoài việc đưa ra các công hàm ngoại giao chính thức vào lúc này hay lúc khác – thứ mà Trung Quốc xưa nay vẫn kiên quyết khẳng định là nước này sẽ không để tâm đến.

Tuy nhiên, đôi khi cũng xuất hiện những cơ hội trong trật tự quốc tế dựa trên quy tắc mà trong đó các quốc gia có thể làm gì đó để thể hiện sự ủng hộ đối với việc giữ gìn trật tự và thể hiện sự phản đối của mình trước hành vi đơn phương làm xói mòn trật tự đó của một quốc gia khác.

Có những thời điểm họ có thể thực hiện một hành động chính thức không thể bị bất kỳ nước thành viên thường trực nào của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc phủ quyết, kể cả Trung Quốc. Có những lúc họ có thể thực hiện hành động không cần viện đến một cơ quan có quyền tài phán trên toàn thế giới hoặc sức mạnh quân sự to lớn.

Đôi khi họ có thể thực hiện hành động bên trong khuôn khổ luật pháp có thể áp dụng được theo hiệp ước, mà không cần viện dẫn bất kỳ điều khoản mơ hồ nào của công ước. Và đôi khi họ có thể thực hiện hành động để không khiến tình hình leo thang, mà thay vào đó là nhằm đề cập cả “câu chữ và tinh thần” của cơ chế pháp lý mà quốc gia thành viên kia đã vi phạm.

Một “mỏ neo” trong duy trì luật pháp quốc tế

Trong những tháng tới, cộng đồng quốc tế sẽ có cơ hội để làm chính điều đó: Thể hiện sự ủng hộ đối với trật tự quốc tế dựa trên quy tắc và bày tỏ sự phản đối của mình đối với bất kỳ thành viên nào vi phạm. Vào tháng 6/2020, 167 nước thành viên UNCLOS dự kiến sẽ tham dự kỳ họp thường niên lần thứ 30, nơi các nước sẽ thực hiện một số quyền lợi mang tính thủ tục mà họ được hưởng theo quy định của công ước.

Trong cuộc họp này, các nước thành viên sẽ bầu ra 1/3 số thẩm phán của Tòa án Quốc tế về Luật biển (ITLOS) cho nhiệm kỳ 9 năm sắp tới – một quy trình được ghi rõ trong công ước (Phụ lục VII, Điều 4), diễn ra ba năm một lần. Trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc bỏ phiếu này, các quốc gia thành viên đã đề cử các cá nhân đảm nhiệm cương vị thẩm phán của ITLOS.

Để có đủ 7 ghế thẩm phán cho ITLOS, tổng cộng sẽ có 10 quốc gia thành viên thực hiện quyền đề cử ứng cử viên của mình: Brazil, Cameroon, Chile, Trung Quốc, Italy, Jamaica, Malta, Ukraine, Uruguay và Zimbabwe. Đáng chú ý là Trung Quốc đã đề cử Đoàn Khiết Long, người hiện là Đại sứ Trung Quốc tại Hungary.

Cuộc bầu chọn thẩm phán sắp tới cho ITLOS đem lại cơ hội quý giá cho cộng đồng quốc tế. 167 quốc gia này có một biện pháp hợp pháp, hòa bình và chính đáng để duy trì luật pháp quốc tế: không bỏ phiếu cho ứng cử viên do Trung Quốc giới thiệu vào ITLOS – và thay vào đó là bỏ phiếu cho 7 trong số các ứng cử viên khác.

Cách bỏ phiếu này hoàn toàn hợp pháp, vì mỗi quốc gia thành viên có quyền tự do bỏ phiếu cho ứng cử viên mà mình mong muốn. Bắc Kinh có thể lập luận rằng việc bỏ phiếu chống lại ứng cử viên của Trung Quốc vào ITLOS là “không thân thiện”, nhưng việc bỏ phiếu như vậy hoàn toàn đáp ứng định nghĩa của luật quốc tế về sự đáp trả: “Hành động không thân thiện nhưng không vi phạm nghĩa vụ quốc tế của quốc gia liên quan mặc dù đây có thể là đòn đáp trả lại một hành động sai trái trên phương diện quốc tế”.

Đây là hành động hòa bình, là hành động ngoại giao không sử dụng sức mạnh quân sự. Và đây cũng là cách bỏ phiếu chính đáng. Nói cách khác, hành động này là phản ứng đáp trả một tình huống cụ thể nhằm duy trì mục đích và các thể chế của công lý quốc tế, bằng cách áp đặt chế tài đối với một quốc gia-dân tộc có hành động phá hoại mục đích và các thể chế đó.

Ngoài ra, động thái này sẽ gửi đi một thông điệp tới Chính phủ Trung Quốc rằng những hành vi đáng lên án có thể hủy hoại vị thế của nước này trên trường quốc tế.

Lý do không bỏ phiếu cho Trung Quốc

So sánh trên cơ sở tiêu chí nghề nghiệp, có thể lập luận rằng trong danh sách các ứng viên năm 2020, sẽ có 7 người đủ tiêu chuẩn hơn ứng cử viên của Trung Quốc cho vị trí thẩm phán ITLOS, do họ có kinh nghiệm trong ngành tư pháp, trong khi tiểu sử của Đoàn Khiết Long cho thấy ông không có hiểu biết trong lĩnh vực này.

Nhưng khi gác sang một bên bất kỳ cuộc thảo luận nào khác về ứng cử viên của Trung Quốc thì điều quan trọng nhất vẫn là vấn đề mang tính nguyên tắc.

Mỗi quốc gia thành viên của UNCLOS phải cân nhắc câu hỏi sau: Liệu Trung Quốc có xứng đáng giữ một ghế thẩm phán nhiệm kỳ 9 năm tại một tòa án được UNCLOS công nhận (trong trường hợp này là ITLOS) hay không, xét tới việc nước này công kích trắng trợn tính hợp pháp của một tòa án khác (Tòa Trọng tài), vốn cũng được chính công ước này công nhận?

Chưa cần xét tới những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế nghiêm trọng mà Tòa trọng tài nhận thấy Trung Quốc đã thực hiện tại Biển Đông, mỗi quốc gia nên xem xét ba cách thức mà Trung Quốc đã làm suy yếu căn bản trật tự quốc tế dựa trên quy tắc trong vấn đề này.

Thứ nhất, tòa trọng tài thụ lý và ra phán quyết về vụ kiện Biển Đông là hoàn toàn hợp pháp. Trên thực tế, UNCLOS đã nêu rất rõ 4 tòa án đủ thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp theo công ước: Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ), ITLOS, “một tòa trọng tài” được thành lập theo một phụ lục của UNCLOS và một “tòa trọng tài đặc biệt” giải quyết một số hạng mục tranh chấp đặc biệt (Điều 287 (1)).

Đáng lưu ý là công ước hoàn toàn không đề cập thứ tự ưu tiên hoặc sự phân cấp giữa 4 cơ quan tư pháp này. Nói cách khác, các cơ quan này được coi là có thẩm quyền pháp lý như nhau trong việc thụ lý và xử lý các tranh chấp theo công ước này. Mỗi nước thành viên quyền “chọn” 1 trong 3 cơ quan tư pháp đầu tiên trong danh sách kể trên để giải quyết tranh chấp với các nước khác liên quan đến việc diễn giải hoặc áp dụng UNCLOS (Điều 287 (1)). Nếu một quốc gia thành viên không tuyên bố cơ quan ưu tiên của mình trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan, thì quốc gia đó “coi như chấp nhận sự phân xử” theo phụ lục UNCLOS (Điều 287 (13)).

Thứ hai, tòa trọng tài có thẩm quyền đưa ra phán quyết cuối cùng về việc có quyền xét xử vụ kiện ở Biển Đông hay không. Theo quy định của luật pháp quốc tế, các cơ quan pháp lý thường được trao quyền, hoặc cơ chế pháp lý, để xác định liệu họ có thẩm quyền xét xử các vụ tranh chấp được trình lên hay không.

Theo lời giải thích của một tòa án quốc tế, “đây là một yếu tố cần thiết trong việc thực thi chức năng tư pháp”. Không có yếu tố này, một bên trong vụ việc chỉ cần đưa ra phản đối chính thức, và tất cả mọi thủ tục tố tụng sau đó sẽ phải dừng lại.

Do vậy, trong các hiệp ước cho phép thiết lập tòa án quốc tế và tòa phân xử đều ghi rõ các điều khoản trong đó trao cho các cơ quan phân xử quyền phán quyết cuối cùng đối với thẩm quyền xét xử trong những vụ tranh chấp cụ thể.

Đối với các tranh chấp theo UNCLOS, công ước quy định cụ thể và rõ ràng: “Trong trường xảy ra tranh chấp về việc một tòa án hoặc một tòa trọng tài có thẩm quyền hay không, vấn đề sẽ được giải quyết bằng chính quyết định của tòa án hoặc tòa trọng tài đó” (Điều 288 (4)).

Đáng chú ý là như nhiều điều khoản khác của UNCLOS, cụm từ “một tòa án hoặc tòa trọng tài” bao gồm không chỉ ICJ và ITLOS mà còn cả các tòa phân xử khác như Tòa Trọng tài trong vụ kiện ở Biển Đông.

Sau khi Tòa Trọng tài ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện, Trung Quốc đã công kích Tòa Trọng tài “xâm phạm nghiêm trọng thông lệ chung về phân xử quốc tế, hoàn toàn đi chệch khỏi mục tiêu và mục đích của UNCLOS là thúc đẩy việc giải quyết các tranh chấp trong hòa bình, gây tổn hại nghiêm trọng tới tính chính trực và thẩm quyền của UNCLOS, xâm phạm nghiêm trọng các quyền hợp pháp của Trung Quốc với tư cách là một quốc gia có chủ quyền và thành viên của UNCLOS, đồng thời vừa bất công vừa bất hợp pháp”.

Nhưng liệu một quốc gia thành viên chịu ràng buộc về mặt pháp lý với tất cả các điều khoản của UNCLOS, trong đó có cả điều khoản trao quyền cho một tòa phân xử có tiếng nói cuối cùng về vấn đề thẩm quyền xét xử, có được phép coi thường thẩm quyền đó?

Nếu vậy, tất cả các quốc gia thành viên UNCLOS khác, những nước tin rằng quyền và lợi ích của họ đã bị một nước thành viên khác xâm phạm sẽ không đơn giản chỉ là phải chịu bất công, mà họ thậm chí còn không có bất kỳ cơ hội nào để tìm kiếm công lý.

Thứ ba, theo quy định pháp lý, các bên liên quan đến vụ tranh chấp ở Biển Đông có nghĩa vụ chấp hành mọi quyết định của tòa, không chỉ các quyết định thuộc thẩm quyền xét xử mà cả những quyết định dựa vào bản chất sự việc.

Công ước quy định: “Bất kỳ quyết định nào của tòa án có thẩm quyền xét xử theo mục này cũng sẽ là quyết định cuối cùng và sẽ được tất cả các bên liên quan đến tranh chấp tuân thủ” (Điều 296 9(1)). Công ước không quy định “một số” quyết định mà là “bất kỳ” quyết định nào.

Tất cả những quyết định này đều là các quyết định cuối cùng, nghĩa là không bên nào có cơ sở hay cách thức để khiếu nại quyết định của tòa.

Điều này áp dụng với bất kỳ quyết định nào của tòa có thẩm quyền xét xử theo mục này, kể cả quyết định của tòa trọng tài. Ngay sau khi tòa trọng tài đưa ra phán quyết dài 501 trang dựa vào bản chất sự việc, Trung Quốc đã tuyên bố phán quyết này là vô hiệu lực và không có tính ràng buộc.

Tuy nhiên tuyên bố này hoàn toàn đi ngược với nghĩa vụ pháp lý của Trung Quốc theo Công ước. Theo quy định của luật pháp quốc tế, Trung Quốc có nghĩa vụ tuân thủ các quyết định do tòa trọng tài đưa ra.

(còn tiếp)

Tác giả là Giáo sư Luật quốc tế thuộc Trung tâm George C. Marshall về an ninh châu Âu tại Garmisch-Partenkirchen (Đức). Ông từng là cố vấn chính sách đại dương trong Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ và là giáo sư luật quân sự và an ninh hàng hải tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương Daniel K. Inouye.

Loading

Views: 0

UNCLOS – important legal instrument to solve maritime issues

The Ministry of Foreign Affairs held a ceremony in Hanoi on November 14 to mark the 25th anniversary of the entry into force of the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) and Vietnam’s membership of the treaty.
The Ministry of Foreign Affairs held a ceremony in Hanoi on November 14 to mark the 25th anniversary of the entry into force of the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) and Vietnam’s membership of the treaty.

The event was attended by nearly 200 delegates from ministries and sectors, foreign ambassadors, representatives of diplomatic corps in Hanoi, along with more than 100 others from 22 members of the ASEAN Regional Forum (ARF) who took part in the ARF workshop on implementing the UNCLOS and other international instruments to address emerging maritime issues in Hanoi on November 13-14.

The UNCLOS was adopted on December 10, 1982 and took effect on November 16, 1994. Vietnam was one of the first 107 countries to sign and ratify this convention.

In its ratification resolution, the Vietnamese National Assembly affirmed that by ratifying the treaty, the country shows the determination to join hands with the international community to build an equitable order and encourage the development and cooperation at sea.

Addressing the ceremony, Deputy Foreign Minister Nguyen Quoc Dung underlined that seas and oceans make up over 70 percent of the earth’s surface. They not only connect continents but are also sources of livelihoods and the space for activities and interaction among more than 200 countries around the globe, he said.

Dung noted the building of a legal document to resolve all issues relating to the law of the sea and to establish a legal order for the seas and oceans are vital and also the aspiration of all nations as shown in the preamble of the UNCLOS.

With 320 articles and nine annexes that cover all activities on the seas and oceans, the UNCLOS is considered a constitution for the seas and oceans and serves as the legal foundation for all sea-related activities at the national, regional and global levels, Dung said, adding that 168 countries have joined this convention so far, and almost all regulations in this treaty have become international practices.

According to the official, the UNCLOS has become a solid international legal basis to define rights, obligations and responsibilities of coastal countries, and to deal with issues related to the seas and oceans.

Dung said over the last 25 years, Vietnam has always respected the guidelines and objectives of the UNCLOS while making efforts to enforce the convention in the East Sea.

The country has aligned its legal system on the management and use of the sea, especially the 2012 Law of the Sea, with the UNCLOS. Besides, it has persistently handled sea-related differences by peaceful means and in line with international law, including the UNCLOS.

Under this policy, Vietnam has held negotiations on and signed treaties on maritime delimitation with neighbouring countries like Thailand, China and Indonesia. It is also actively promoting the talks on the delimitation of the sea area beyond the mouth of the Gulf of Tonkin with China, the delimitation of the exclusive economic zone with Indonesia, and the maritime delimitation with other neighbours, he said.

Dung added the country has stepped up maritime cooperation in a diverse and increasingly substantive manner so as to optimise the sea’s potential and deal with emerging challenges and create a peaceful and stable environment in the East Sea.

The Deputy Minister pointed out many recent complex developments in the East Sea that seriously violated the rights of Vietnam and other regional countries which were stipulated in the UNCLOS.

Vietnam has persistently respected and fully complied with the UNCLOS, respected the diplomatic and legal processes, and not wrongly interpreted or intentionally played down the significance and role of the convention, he stressed, adding that when there are any differences relating to the interpretation and application of the UNCLOS, the concerned parties need to solve those issues via negotiations or other peaceful measures in line with international law, including the UNCLOS.

When differences haven’t been handled, the relevant parties need to respect and fully implement the 2002 Declaration on the Conduct of Parties in the East Sea (DOC); exercise self-restraint; not take unilateral actions that may complicate the situation, elevate tensions or jeopardise regional peace and stability; and take part in negotiations in a constructively manner so as to soon finalise an efficient and practical Code of Conduct in the East Sea (COC) that is in conformity with the UNCLOS, Dung emphasised./.

VNA

Loading

Views: 0

25 năm Việt Nam phê chuẩn UNCLOS: Kỳ vọng vào trật tự pháp lý công bằng trên biển

Việc Việt Nam tích cực tham gia và thực thi Công ước của Liên Hợp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS) thể hiện thiện chí, sự coi trọng và kỳ vọng của Việt Nam vào trật tự pháp lý công bằng về biển.
Việc Việt Nam tích cực tham gia và thực thi UNCLOS thể hiện thiện chí, sự coi trọng và kỳ vọng của Việt Nam vào trật tự pháp lý công bằng về biển

Ảnh TTXVN
Năm 2019 đánh dấu 25 năm ngày Công ước của Liên Hợp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS) chính thức có hiệu lực và 25 năm Việt Nam phê chuẩn UNCLOS. Việc Việt Nam tích cực tham gia và thực thi UNCLOS thể hiện thiện chí, sự coi trọng và kỳ vọng của Việt Nam vào trật tự pháp lý công bằng về biển.
Nghị quyết ngày 23.6.1994 của Quốc hội về việc phê chuẩn UNCLOS nêu rõ: “Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về luật Biển 1982, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”.

Khuôn khổ pháp lý toàn diện về biển và đại dương

UNCLOS bao gồm các quy định toàn diện xác lập các vùng biển, điều chỉnh mọi hoạt động trên biển và đại dương ở cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu. UNCLOS có giá trị cao hơn so với các công ước và hiệp định/thỏa thuận quốc tế khác, và các nguồn khác của luật quốc tế, trong đó có luật tập quán quốc tế về biển.
UNCLOS nêu rõ: hiệp định/thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên UNCLOS về bất kỳ vấn đề nào được quy định tại UNCLOS thì phải phù hợp với UNCLOS; chỉ có các quyền, nghĩa vụ hình thành từ các quy tắc của pháp luật quốc tế không trái với UNCLOS là được công nhận và áp dụng bởi toà án hay toà trọng tài có thẩm quyền theo Phần 14 Công ước.
Việc giải thích theo hướng UNCLOS không phải là khuôn khổ pháp lý duy nhất và còn có các khuôn khổ khác như luật tập quán quốc tế hình thành trước UNCLOS điều chỉnh các vấn đề về biển là đi ngược lại với mục tiêu của UNCLOS, nhằm hạ thấp giá trị của UNCLOS. Do có tầm quan trọng chiến lược, tính thống nhất, toàn vẹn của UNCLOS cần tiếp tục được duy trì.

Quy chế pháp lý của các vùng biển, quyền và nghĩa vụ của các quốc gia

UNCLOS là cơ sở để xác lập phạm vi các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia ven biển, kể cả quốc gia quần đảo (gồm nội thuỷ, vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa); các vùng biển ngoài phạm vi tài phán quốc gia (gồm biển cả hay còn gọi là biển quốc tế, vùng đáy biển quốc tế và tài nguyên khoáng sản ở đó là di sản chung của nhân loại).
UNCLOS còn quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các quốc gia. Theo UNCLOS, mọi hoạt động liên quan đến thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển phải được phép của quốc gia đó; mọi hoạt động không được cấp phép đều là bất hợp pháp, vi phạm một cách rõ ràng các quy định của Công ước.
Điều 121 UNCLOS quy định tiêu chí xác định “đảo” là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc và luôn ở trên mặt nước khi thuỷ triều lên; các đảo có khả năng duy trì điều kiện cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng thì sẽ có đầy đủ các vùng lãnh hải, tiếp giáp, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như lãnh thổ đất liền.
Các đảo không đáp ứng 2 điều kiện nêu trên thì chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Các bãi cạn lúc nổi, lúc chìm nói chung không có lãnh hải riêng (và do đó cũng không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa) và sự có mặt của chúng không ảnh hưởng đến việc xác định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.
Căn cứ quy chế đảo tại UNCLOS, trong một vụ gần đây, Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS đã kết luận, không một cấu trúc địa lý nào tại quần đảo Trường Sa có khả năng tạo ra vùng biển đặc quyền kinh tế, thềm lục địa; các đảo của quần đảo Trường Sa không thể cùng nhau tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất.

Thiết lập các cơ quan, cơ chế để bảo đảm thực thi Công ước

Để bảo đảm thực thi Công ước đầy đủ và nhất quán, UNCLOS thành lập các cơ quan, cơ chế với vai trò và chức năng khác nhau, có tính chất bổ sung cho nhau. UNCLOS cũng quy định cơ chế giải quyết tranh chấp trong việc giải thích và áp dụng Công ước (Phần XV), bao gồm các tiến trình ngoại giao và pháp lý. Khi có tranh chấp, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ nhanh chóng trao đổi quan điểm về giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán hoặc các biện pháp hòa bình khác.
Nếu việc trao đổi, đàm phán trong một thời gian hợp lý không đạt được giải pháp, các bên có thể thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế để có phán quyết ràng buộc, đó là Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), Tòa án luật Biển quốc tế (ITLOS – được thành lập theo Phụ lục VI của UNCLOS) hoặc Tòa trọng tài (theo Phụ lục VII UNCLOS), Tòa trọng tài đặc biệt (theo Phụ lục VIII UNCLOS).
Tranh chấp nếu không được giải quyết thông qua trao đổi, đàm phán trong thời gian hợp lý thì có thể đưa ra cơ chế bắt buộc – Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS (với những điều kiện nhất định), hoặc đưa ra Uỷ ban hòa giải (được thành lập theo Phụ lục V của UNCLOS), trên cơ sở các khuyến nghị của Uỷ ban hòa giải tuy không có giá trị ràng buộc pháp lý, các bên tranh chấp có nghĩa vụ phải đàm phán để đạt giải pháp giải quyết tranh chấp, và nếu không đàm phán được, các bên có nghĩa vụ giải quyết thông qua cơ quan tài phán.
Phán quyết của các cơ quan tài phán theo quy định của UNCLOS góp phần giải thích đúng đắn các quy định của UNCLOS, làm rõ một số vấn đề còn chưa rõ hoặc gây tranh cãi, hoặc yêu sách và hành động trái với quy định của UNCLOS. Hiệu quả thực thi UNCLOS, cũng giống như việc thực thi các điều ước quốc tế khác, trên thực tế không chỉ thể hiện ở quan điểm của quốc gia tại các diễn đàn khu vực và quốc tế thảo luận về biển mà phụ thuộc vào hành động của mỗi quốc gia thành viên trong việc sử dụng biển, đại dương và các tài nguyên biển, đòi hỏi thiện chí và quan tâm đúng mức của mỗi quốc gia.
Là quốc gia ven biển, thành viên của UNCLOS, Việt Nam đã và đang nỗ lực kiên trì giải quyết một cách hòa bình các vấn đề Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế trong đó có UNCLOS.
Việt Nam đồng thời đã và đang thực thi đầy đủ UNCLOS kể từ khi chấp nhận sự ràng buộc của UNCLOS và trở thành một quốc gia thành viên của UNCLOS 25 năm trước, nỗ lực thực hiện bảo tồn biển và đại dương và các nguồn lợi biển một cách bền vững, phù hợp với các tiêu chí của Mục tiêu phát triển bền vững số 14 về bảo tồn và sử dụng bền vững biển, đại dương và tài nguyên biển (SDG14) thuộc Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hiệp Quốc. Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực cùng với các nước thành viên khác thúc đẩy tôn trọng UNCLOS, đồng thời bảo vệ tính toàn vẹn và giá trị pháp lý của khuôn khổ pháp lý toàn cầu này./.
TS Lê Thị Tuyết Mai
(*)TS Lê Thị Tuyết Mai là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Luật quốc tế Việt Nam, Chi hội trưởng Chi hội Luật gia Bộ Ngoại giao, Vụ trưởng Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế, Bộ Ngoại giao. Bài viết này thể hiện quan điểm của tác giả, không nhất thiết thể hiện quan điểm của cơ quan nơi tác giả làm việc.

Loading

Views: 0

Vietnam respects, fully implements UNCLOS 1982

Vietnam actively participated in the negotiation process and building of the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) and has made significant efforts in enforcing the pact.
Illustrative image (Source: VNA)

Vietnam actively participated in the negotiation process and building of the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) and has made significant efforts in enforcing the pact.

The country has a coastline of more than 3,260km and thousands of islands, including the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) archipelagos.

Aware of the importance of the sea, Vietnam has always upheld the principles and goals of the UNCLOS while taking actions to contribute to the implementation of the convention.

Before the UNCLOS came into force, Vietnam had utilised relevant provisions of international law to build domestic legal documents on seas.

In 1977, Vietnam issued the Declaration of the Government on Vietnam’s territorial waters, which declared its 200-nautical mile exclusive economic zone.

The declaration was issued when the UNCLOS was being negotiated and it was supported by the majority of countries at the third UN Conference on the Law of the Sea, reflecting Vietnam’s contributions to the codification of international law.

With this declaration, Vietnam together with Kenya, Myanmar, Cuba, Yemen, Dominica, Guatemala, India, Pakistan, Mexico and the Seychelles were considered among the pioneering countries in making “exclusive economic zone” customary international law and later became a key content of the UNCLOS.

Vietnam was among 107 countries signing the UNCLOS in Montego Bay, Jamaica, right after the pact was open for signature and was among the first countries ratifying it before it took effect.

In 1994, the National Assembly of Vietnam issued a resolution approving the UNCLOS. The resolution affirmed Vietnam’s sovereignty over its internal waters, territorial waters as well as its sovereign rights and jurisdiction over the contiguous sea, exclusive economic zone, and continental shelf on the basis of the UNCLOS provisions and the rules of international law, demanding other countries respect Vietnam’s rights.

The resolution also affirms Vietnam’s sovereignty over the Hoang Sa and Truong Sa archipelagos and its policies to settle disputes and other differences related to the East Sea through peaceful talks in a spirit of equality, mutual understanding and mutual respect, and respect for international law.

This year marks the 25th anniversary of the official entry into force of the UNCLOS and the 25th anniversary of Vietnam’s ratification of the UNCLOS.

As a member of the UNCLOS, Vietnam is entitled to a 12-nautical mile territorial sea, 200-nautical mile exclusive economic zone and continental shelf of at least 200 nautical miles.

To demonstrate the obligations and goodwill of a signatory of the UNCLOS, Vietnam has always respected and implemented its obligations defined by the UNCLOS, improved its national legal system, and applied the UNCLOS provisions in identifying its waters, delimitation of maritime boundaries with neighbouring countries and marine usage.

Vietnam has also worked with other countries in line with the UNCLOS regulations for the sustainable preservation and use of marine resources.

In 2012, Vietnam approved the Law of the Sea of Vietnam, an important step to translating the provisions of the UNCLOS into domestic legislation, creating favourable conditions for synchronous management of territorial waters and marine economic development.

The National Assembly also approved the Vietnam Maritime Code in 2015, which came into effect on July 1, 2017.

The legislature passed a series of other sea-related legal documents such as the Law on national border in 2003, Law on environmental protection in 2014 and Law on natural resources and sea and island environment in 2015.

Vietnam has made great efforts to apply the UNCLOS in delimitation of marine boundary with neighbouring countries.

Specifically, Vietnam and Thailand signed an agreement on settling the maritime boundary between the two countries in the Gulf of Thailand on August 9, 1997, Vietnam and China signed an agreement on the delimitation of the Tonkin Gulf and another on fisheries cooperation on December 25, 2000, and Vietnam and Indonesia signed an agreement on the delimitation of continental shelf on June 26, 2003.

Further, Vietnam has protected international law, including the UNCLOS. While discussing disputes in the East Sea, Vietnam has consistently demanded respect for international law and the UNCLOS, considering it a principle to settle and resolve sea-related disputes.

Vietnam has made endeavours in incorporating this principle in ASEAN documents, including the Declaration on the Conduct of Parties in the East Sea (DOC), ASEAN Six-point Principles on the East Sea and the draft Code of Conduct in the East Sea (COC).

Such contents as international law and UNCLOS for long-term resolution of disputes in the East Sea were included in the agreement on basic principles guiding the settlement of sea-related issues signed between Vietnam and China on November 10, 2011.

Based on the provisions of the UNCLOS, Vietnam has effectively deployed marine economic development activities in its exclusive economic zone and continental shelf within 200 nautical miles in favour of national development.

Vietnam has been fostering cooperation with relevant parties in marine environmental protection, search and rescue on sea, natural disaster prevention and implementation of measures to combat crime, contributing to the implementation of the UNCLOS.

In addition, Vietnam has participated in developing international and inter-regional sea-related mechanisms and legal documents such as the Convention on the International Maritime Satellite Organization (INMARSAT) and the Global Maritime Distress and Safety System (GMDSS).

The country has also joined the Conventions of the International Maritime Organization.-VNA

Loading

Views: 0

UNCLOS 1982 – overarching framework for establishing legal order for seas and oceans, promoting development cooperation at sea

Boats of Vietnam’s naval force arrives at Da Lat Island of Truong Sa archipelago (Photo: VNA)

The year 2019 marks the 25th anniversary of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982 (UNCLOS 1982) and also the 25th year since Vietnam ratified the convention.

On the occasion, Dr. Le Thi Tuyet Mai, a member of the Executive Board of Vietnam Society of International Law, Chair of Vietnam Lawyers Association Branch at the Ministry of Foreign Affairs, Director General of Department of International Law and Treaties, wrote an article entitled “UNCLOS 1982: Overarching framework for establishing the legal order for the seas and oceans, promoting development and cooperation at sea.”

The following is the full text of the article.

“On June 23, 1994, the National Assembly of Vietnam adopted the Resolution ratifying the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS)[2]. This year marks the 25th anniversary of the entry into force of UNCLOS and the ratification and deposit of the instrument of ratification by Vietnam with the Secretary-General of the United Nations. Vietnam participated in the UNCLOS negotiation and was among 107 states signing UNCLOS on December 10, 1982 when the Convention was open for signature. Its active participation to and implementation of UNCLOS shows Vietnam’s good faith, respect and hope for an equitable legal order for the seas and oceans.  Article 2 of the above-mentioned Resolution of the National Assembly of Vietnam emphasizes: “By ratifying the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea, the Socialist Republic of Vietnam expresses our determination to coordinate with the international community to establish an equitable legal order for the seas and oceans and promote development and cooperation at sea”.

UNCLOS constitutes the overarching legal framework for the seas and oceans 

As a multilateral treaty, UNCLOS is considered as the second most important legal instrument established after the World War II, only after the Charter of United Nations. It is universally ratified and/or accepted. The annual United Nations General Assembly Resolution on Oceans and Law of the sea affirms that “the Convention sets out the legal framework within which all activities in the oceans and seas must be carried out and is of strategic importance as the basis for national, regional and global action and cooperation in the marine sector, and that its integrity needs to be maintained.”

In the Preamble of UNCLOS, the State Parties affirms their “desire to settle … all issues relating to the law of the sea” and establish “a legal order for the seas and oceans”. Prompted by such desire, with 320 Articles and 9 Annexes, UNCLOS provides in a clear and comprehensive manner the legal status of all maritime zones under or beyond national jurisdiction, rights and obligations of every State including coastal, landlocked or geographically disadvantaged States in the use, exploitation and management of the seas and oceans and marine resources. UNCLOS also sets out principles and provisions on navigation and aviation; conservation and management of marine resources including living and non-living resources; protection and preservation of marine environment, marine scientific research, maritime security; dispute settlement and cooperation among State Parties.

The role of UNCLOS as the overarching universal legal framework is also affirmed in Articles 293 and 311 on the relation between UNCLOS and other sources of international law including conventions, international agreements and customary international law. States emphasized in UNCLOS that any agreements between two or more state parties of UNCLOS on the issues provided in UNCLOS must be compatible with UNCLOS; “the Convention shall not alter the rights and obligations of State Parties which arise from other agreement compatible with this Convention” (Article 311.2); agreement modifying or suspending the operation of provisions of this Convention may be concluded provided that such agreement do not affect “the effective execution of the object and purpose of this Convention”, “the application of the basic principles embodied herein” and “the enjoyment of other States Parties of their rights or the performance of their obligations under UNCLOS” (Article 311.3); agreement expressly permitted and preserved by other articles of this Convention are not affected (Article 311.5). Regarding the relations between UNCLOS and other sources of international law, such as customary law, only rights and obligations arising from rules of international law compatible with UNCLOS are recognized and applied by competent courts and arbitral tribunals under Part XV of UNCLOS (Article 293.1).

Paragraph 8 of the Preamble of UNCLOS, which states that “matters not regulated by this Convention continue to be governed by the rules and principles of general international law”, should be interpreted in a manner compatible with the objectives and provisions of UNCLOS as mentioned above. In fact, this paragraph provides for the relation between UNCLOS as lex specialis with specific provisions on the law of the seas and general international law (or lex generalis) with general principles and provisions for all branches of international law, such as principles of pacta sunt servanda, peaceful settlement of international disputes, provisions on interpretation of treaties embodied in the Vienna Convention on the Law of treaties 1969. Furthermore, the Preamble of UNCLOS affirms itself that UNCLOS settles all issues relating to the law of the sea. Therefore, such interpretation of this paragraph 8 that UNCLOS is not the only legal framework and there are other frameworks to regulate the use of seas and oceans such as customary law established before UNCLOS, is totally contrary to UNCLOS’s objectives and purposes and undermines the universally recognized values of UNCLOS.

In a recent case, an arbitral tribunal established under UNCLOS Annex VII considered the relation between UNCLOS and other sources of international law, especially the validity of  any rights established before UNCLOS and concluded as follow: (i) UNCLOS does not affect the rights and obligations established independently to UNCLOS and not incompatible with the Convention; (ii) UNCLOS prevails the rights and obligation established independently to UNCLOS and incompatible with the Convention.[9] This arbitral tribunal also emphasized that no provision in UNCLOS allows historic rights of one State to resources in the exclusive economic zones, continental shelf of other States as well as high seas and the international seabed Area. UNCLOS also does not allow the preservation or protection of historic rights incompatible with UNCLOS.

UNCLOS clearly establishes legal regimes of maritime zones, rights and obligations of States

By codifying customary law, States agree upon and clearly stipulates in UNCLOS legal regimes of all maritime zones, setting the limits of the maritime zones under sovereignty, sovereign rights and jurisdiction of coastal States (i.e. internal waters, territorial sea and contiguous zone, exclusive economic zone and continental shelf); the maritime zones beyond national jurisdiction, including High seas and the international seabed Area (seabed and subsoil as well as mineral resources as common heritage of mankind). UNCLOS also provides rights and obligations of States Parties of different categories in these maritime zones. Core provisions of UNCLOS contain legal status of exclusive economic zones, continental shelf, regime of islands, artificial structures and cooperation for protection of marine environment, conservation and management of marine resources. Under the light of the provisions of UNCLOS on EEZ and continental shelf, all activities of exploring and exploiting natural resources in EEZ and continental shelf of a coastal State are subject to permit of the coastal State and those activities carried out without express consent of the coastal State are illegal, and constitute manifest violation of the provisions of UNCLOS.

The exclusive economic zone (EEZ) was first embodied in UNCLOS by the strong support of developing countries including Vietnam. UNCLOS provides that, within the EEZ of a coastal State, extending up to 200 nautical miles from the baselines from which the breadth of the territorial sea is measured (Article 57), the coastal State has sovereign rights to the natural resources of the waters superjacent to the sea-bed and of the sea-bed and its subsoil; sovereign rights to the economic exploitation and exploration of the zone; jurisdiction to marine scientific research and protection and preservation of the marine environment (Article 56). Other States, whether coastal or landlocked, enjoy the freedom of navigation and over flight and the laying of submarine cables and pipelines (Article 58). Landlocked or geographically disadvantaged States shall have the right to participate, on an equitable basis, in the exploitation of an appropriate part of the surplus of the living resources of the EEZ of coastal States of the same sub-region or region (Articles 69 and 70); living resources, including migratory species, are subject to conservation and development  in conformity with the provisions of UNCLOS (Articles 61 – 73). UNCLOS also clearly provides that other States, in exercising their rights and performing their duties in the EEZ, shall have due regard to the rights and duties of the coastal State and shall comply with the laws and regulations adopted by the coastal States as well as other rules of international law (Article 58).

The continental shelf of a coastal State comprises the seabed and subsoil of the submarine areas that beyond its territorial sea throughout the natural prolongation of its land territory. In reality, the outer edge of continental shelf differs among regions, some may not extend to 200 nautical miles but some may extend beyond such limits. Under Article 76 of UNCLOS, the continental shelf of a coastal state may extend to at least 200 nautical miles from the baselines; wherever the continental margin extends beyond 200 nautical miles from the baselines, the coastal State has the right to establish the outer limit of its continental shelf, by either, not exceed 350 nautical miles from the baselines or not exceed 100 nautical miles from the 2500 meters isobaths. However, in order to extend the limits of the continental shelf beyond 200 nautical miles, coastal States are obliged to submit to the Commission on the Limits of Continental Shelf with full geodetic data; then the Commission will consider and make recommendations to coastal States. In its continental shelf, the coastal State has sovereign rights for the purpose of exploring it and exploiting its natural resources (Article 77.1). It should be noted that such sovereign rights are exclusive in the sense that no other countries may explore and exploit the natural resources in its continental shelf without express consent of the coastal State (Article 77.2); coastal State enjoys exclusive rights to authorize and regulate drilling on the continental shelf for all purposes (Article 81). The exercise of rights of the coastal State over the continental shelf must not infringe the freedom of navigation and other freedoms under UNCLOS.

Regarding legal regime of islands, Article 121 of UNCLOS sets criteria to determine whether a geographical feature is an “island” or a “rock”. Accordingly, an island is a naturally formed area of land, surrounded by water, which is above water at high tide; an island can sustain human habitation or economic life of their own shall have its own territorial sea, contiguous zones, exclusive economic zone or continental shelf applicable to other land territory. Rocks which do not meet the two above-mentioned criteria shall have 12 nautical miles-territorial sea only, no exclusive economic zone or continental shelf. Low-tide elevations have no territorial sea of their own (and no exclusive economic zone and continental shelf); they do not affect the limit of maritime zones (Article 13.2).

According to a recent award of an Arbitral Tribunal under Annex VII of UNCLOS, “rock which cannot sustain human habitation or economic life of their own shall have no exclusive economic zone and continental shelf” as the legal regime of islands in Article 121 UNCLOS depends on the objective capability of the feature in their natural characteristics to sustain human habitation or economic life of their own without external sources or only with exploiting objectives. The Tribunal also concluded that none of geographical features in the Spratly Islands are capable of creating EEZ or continental shelf; islands in the Spratly Islands cannot create maritime zones as a whole. The high-tide features create territorial sea while low-tide elevations do not.

Artificial structures cannot be considered as islands since they are not naturally formed area of land. UNCLOS clearly regulates the construction of artificial structures. In particular, the coastal State, in the EEZ, shall have the exclusive right to construct and to authorize and regulate the construction, operation and use of artificial islands, installations and structures, of which their presence does not affect the delimitation of the territorial sea, the exclusive economic zone or the continental shelf (Article 60.8). Moreover, due notice must be given of their construction and permanent means for giving warning of their presence must be maintained; any installations or structure which are abandoned shall be removed to ensure safety of navigation, considering any generally accepted international standards established in this regard by the competent international organization (Article 60.3).

UNCLOS also requires States to cooperate in protection of marine environment and conservation and management of natural resources in coastal States’ maritime zones as well as high seas (Part XII). UNCLOS provides that States bordering an enclosed or semi-enclosed sea should cooperate to manage living resources, adopt scientific research and marine environment policies and undertake relevant activities. Landlocked States enjoy the rights to access the sea and transit through transit waters. States Parties shall prevent and control marine pollution and be liable for damages resulted from the responding violations. Marine scientific research are subject to the rights and duties of other States as provided for in this Convention.

It should be emphasized that every maritime area has its own legal regime as stipulated in UNCLOS, including rights and obligations of coastal States and other different categories of States. Coastal States, on the one hand, enjoy the rights in their maritime zones, and, on the other hand, have the obligation to respect rights of other States and perform other obligations under UNCLOS.

UNCLOS establishes institutions, mechanisms to ensure its implementation, including mechanism for settlement of disputes concerning interpretation and application of the Convention

To ensure full and consistent implementation of the Convention in practice, UNCLOS establishes a set of bodies and mechanisms with different roles and functions which supplement each other. Specialized organizations established under UNCLOS include: (i) the International Seabed Authority (ISA, designated to organize and control the exploration and mining of the mineral resources in the Area – common heritage of mankind and administer a benefit-sharing mechanism); (ii) the Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS, whose functions are to consider the submissions of coastal States and make recommendations regarding the establishment of outer limits of the continental shelf beyond 200 nautical miles); (iii) the International Tribunal on the Law of the Sea (ITLOS, a judicial body having the mandate to adjudicate disputes between States arising out of the interpretation and application of the Convention). In addition, the annual Meeting of the States Parties to UNCLOS (SPLOS) is convened in accordance with the Convention to consider the reports of organizations established under the Convention; make decisions on budgetary matters and working conditions of those organizations as well as discuss any issues arising from the implementation of the Convention.

UNCLOS also provides for mechanisms for settlement of disputes among States with respect to the interpretation and application of the Convention (Part XV). Such mechanisms have been used by states quite often in practice. It is worth noting that the dispute settlement mechanisms under UNCLOS are only applicable to settlement of disputes between States concerning the interpretation and application of the Convention (Articles 279 and 288) and constitute peaceful means for dispute settlement under international law as clearly endorsed in the United Nations Charter, including diplomatic and legal processes.

Accordingly, when a dispute arises with respect to the interpretation and application of UNCLOS, State Parties concerned are obliged to carry out exchange of views regarding dispute settlement through negotiation or other peaceful means (Article 283).

If the exchange of views or negotiation in a reasonable period do not result in a settlement agreement, the parties may agree to submit the dispute to international judicial bodies for a binding decision, including the International Court of Justice (ICJ), the International Tribunal on the Law of the Sea (ITLOS – established under Annex VI of UNCLOS), an arbitral tribunal (constituted in accordance with Annex VII of UNCLOS) or a special arbitral tribunal (constituted in accordance with Annex VIII of UNCLOS). States, at any time, can make declarations choosing one or more of those aforementioned procedures.

In order to resort to the compulsory procedures under UNCLOS, the parties to a dispute must satisfy the requirement that the parties have already carried out exchange of views, as previously mentioned, and have not reached an agreement on dispute settlement through another compulsory procedure entailing a binding decision and that agreement does not exclude dispute settlement procedures under UNCLOS (Article 282). The Convention also has clear provisions to ensure that, other than certain exceptions under Article 298, in case where the parties to a dispute which have not made declarations choosing a procedure or not accepted the same procedure or otherwise not agreed on means of dispute settlement, such dispute shall be submitted to a compulsory procedure – arbitral tribunal to be established in accordance with Annex VII of UNCLOS. In fact, such arbitration procedure has been used by many States. Although there are cases in which a party to a dispute makes certain objections and there are certain exceptions, in the event of disagreement over the jurisdiction of the arbitral tribunal, the tribunal itself has the competence to make a decision on whether it has jurisdiction over the dispute (Article 288); the decision of the arbitral tribunal is final and binding upon all parties to the dispute, even if a party to such dispute did not participate in the procedure (Article 296).

Besides, UNCLOS also provides for a compulsory conciliation procedure. Accordingly, even if a party to a dispute makes a declaration excluding a compulsory dispute settlement procedure with regard to certain types of disputes, and such dispute arises after the entry into force of UNCLOS and both parties could not reach an agreement through negotiation in a reasonable period, either party to the dispute may choose to submit the dispute to a Conciliation Commission (established in accordance with Annex V of UNCLOS). Although the conclusions and recommendations of the Conciliation Commission don’t have binding effect, parties to the dispute are obliged to negotiate on the basis of the report and recommendations in order to reach a resolution of the dispute. Timor Leste, after a period of fruitless negotiation with Australia, had resorted to the Conciliation Commission under Annex V of UNCLOS to seek a resolution for its long-standing dispute with Australia over maritime delimitation and marine resources sharing.[11] This marks the first time the compulsory conciliation procedure has been successfully applied. On the basis of the Report and recommendations of the Conciliation Commission, Timor Leste and Australia had negotiated and reached a Treaty on maritime boundary delimitation in March 2018, binding on both countries and eventually settling the dispute between these two countries.

It has been practically proved that decisions rendered by judicial bodies set forth under UNCLOS, especially ITLOS or arbitral tribunals, constituted significant contributions to the interpretation of the provisions of UNCLOS and clarification of controversial and ambiguous issues or any claims or activities contrary to the UNCLOS. It should be noted that effective implementation of UNCLOS by its State parties, like other international treaties, is not only reflected in their positions at global and regional forums relating to seas and oceans, but in fact depends on actions of State parties in using seas and oceans as well as marine resources and requires good faith and due regards of every State party.

UNCLOS is the legal framework for promoting cooperation in response to maritime challenges, for the preservation and sustainable use of seas and oceans and marine resources 

Coastal states have established their respective maritime zones in accordance with UNCLOS, enacted domestic legislations on seas, engaged in various programs and activities of cooperation on ocean management such as through bilateral, regional, sub-regional and global cooperation mechanisms, such as regional sea commissions, regional fishery organizations, marine environment protection mechanism, or implementing area-based marine protection projects. Such practices have vividly depicted at many levels the effort and willingness of almost all countries and international organizations in the implementation of UNCLOS.

Many international organizations, with the UN and UN Oceans system at the forefront, have actively promoted the implementation of UNCLOS in every aspects, including encouraging those states that are not yet parties to UNCLOS to ratify or accede to UNCLOS; providing capacity-building assistance for least-developed and developing countries to better fulfill their obligations under the Convention and providing financial supports through Trust Funds for these countries to participate in forums on seas and oceans within the framework of UNCLOS and United Nations General Assembly (UNGA). Moreover, the UN Secretary-General prepares and submits annual reports on emerging issues on implementing UNCLOS to the UNGA, SPLOS and related international organizations, providing a basis for countries to discuss and review the implementation of the Convention in general. The UN also maintains an Open-ended Informal Consultative Process (ICP) to discuss emerging issues on ocean management and make recommendations on necessary measures and issues which should be codified within the framework of UNCLOS to better manage seas and oceans.

As a result of discussions and recommendations of ICP, after a long and informal discussion at the UN since 2004, the UNGA decided to convene an Intergovernmental Conference on an international legally binding instrument under UNCLOS on the conservation and sustainable use of marine biological diversity of areas beyond national jurisdiction (BBNJ), which held the first session in Oct. 2018 and second session in April 2019. When adopted, this legal instrument is expected to be a significant addition to the existing legal framework on seas and oceans set by UNCLOS, for the sustainable use and conservation of common resources of mankind for present and future generations.

UNCLOS continues to serve as the legal framework for countries to address traditional challenges such as maritime delimitations and disputes, piracy, cross-border criminals, as well as emerging challenges including marine pollution, running out of resources, marine plastic debris, climate change, sea level rise, sustainable development of ocean economy (blue economy) towards achieving the goal of  conservation and sustainable use of seas and oceans and their resources, in accordance with Sustainable Development Goal 14 (SDG14) under the UN 2030 Agenda.

All maritime disputes must be settled by peaceful means in accordance with international law including UNCLOS

In certain regions still exist maritime disputes such as disputes over the delimitation of overlapping maritime entitlements, identification of regime of geographical features in the seas or the exploitation and sharing of marine resources, in particular mineral resources. Such disputes are inevitable because UNCLOS authorizes coastal states to establish broad maritime zones under national jurisdiction, leading to the existence of overlapping maritime areas claimed by opposite or adjacent coastal states. This situation is rooted in the significant role of seas and oceans and marine resources for the development of states. It is an undeniable fact that some maritime disputes arise from absurd claims made by related coastal states totally contrary to UNCLOS.

Facing maritime disputes in many areas around the globe, the international community agrees that all states must fully respect and implement UNCLOS, clarify their maritime claims and settle all disputes by peaceful means in accordance with international law including UNCLOS, and thus reaching appropriate resolution of disputes between parties concerned, or at least provisional measures and at the same time making efforts towards an equitable settlement solution, ensuring legal rights and legitimate interests parties concerned.

In the context of complicated developments in the East Sea (South China Sea), states concerned must respect the legal order for the seas and oceans established under UNCLOS, respect diplomatic and legal processes including on-going negotiations, refrain themselves from taking actions which undermine the role of UNCLOS in order to ensure peace, security, safety and freedom of navigation in the region and the world at large, for the common benefit of the region and international community. Maritime claims by states must be clarified in accordance with the provisions of UNCLOS. In case of disputes or differences regarding the interpretation and application of UNCLOS, parties concerned are obliged to resolve such disputes by peaceful means, in accordance with international law, including UNCLOS. Pending the disputes resolution, parties concerned must fully respect and comply with the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea of 2002 (DOC), refrain from undertaking unilateral activities which could complicate the situation and escalate the disputes. Parties concerned should also participate constructively in the negotiations toward an effective and substantive COC in conformity with international law, including UNCLOS.

Being a coastal State and Party to UNCLOS, Vietnam has been making its utmost efforts for peaceful resolution of maritime issues in the East Sea in accordance with international law, including UNCLOS. Furthermore, Vietnam has also been fully implementing UNCLOS since Vietnam accepted to be bound by UNCLOS and becoming a State Party to UNCLOS 25 years ago. Together with other State Parties, Vietnam will continue to promote full respect for and implementation of UNCLOS with a view to protecting the legal values of this universal legal framework.-VNA

Loading

Views: 0

Thêm bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Hiện có một văn bản bằng chữ Hán, được lập cách đây 250 năm, trong đó khẳng định chủ quyền lãnh thổ không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”.

Sắc phong từ thời nhà Nguyễn cách đây 250 năm thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa

Làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa ThiênHuếlà nơi lưu giữ những tài liệu quý hiếm về Hoàng Sa, khẳng định chủ quyền của Tổ quốc.Người dân làng Mỹ Lợi đã lưu giữ trong đình làng của mình một văn bản bằng chữ Hán, được lập cách đây 250 năm, trong đó khẳng định chủ quyền lãnh thổ không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”. Văn bản do làng Mỹ Lợi lưu giữ có từ năm Quý Hợi (1743), dưới thời nhà Lê, được viết bằng chữ Hán trên giấy dó, có nội dung xử lý một vụ kiện giữa phường Mỹ Toàn (làng Mỹ Lợi) và phường An Bằng (làng An Bằng) về việc nộp thuế vỏ tàu khai thác sản vật liên quan đến Hải đội Hoàng Sa. Văn bản được nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lưu tạm dịch như sau: “Tuần quan cửa biển biên hải là Thuận Đức hầu phê cho phường Mỹ Toàn về phường An Bằng. Nguyên năm Quý Hợi (1743), phường An Bằng buộc phường Mỹ Toàn đón chiếc thuyền đội Hoàng Sa của lái Tin ở chỗ giáp ranh, kéo về đến bờ sông. Qua vụ thuế tiết liệu năm Mậu Dần (1758) khoản của thuyền thủ Trường, phường An Bằng lại bắt phường Mỹ Toàn cùng chịu, mỗi bên đem nộp tại chính điện. Đến nay, phường Mỹ Toàn thúc phường An Bằng cùng phường Mỹ Toàn đem nộp vô tàu nhưng phường An Bằng cố ý không đem nộp vô tàu ấy, phường Mỹ Toàn bèn trình đơn lên. Vậy giao cho phường Mỹ Toàn bắt phường An Bằng đền tiền ba quan. Nay phê như vậy. Ngày 19 tháng 9 năm Cảnh Hưng 20 (tức ngày 6/11/1759)”.

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Phan Thuận An, văn bản này cho thấy, từ thời Lê, Việt Nam đã có đội Hoàng Sa chuyên trách quản lý và khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng Sa. Nội dung văn bản trên cho thấy cách đây 250 năm, triều đình nhà Nguyễn đã có đội quân làm việc tại quần đảo Hoàng Sa. Ông Phan Thuận An cũng cho biết, dân làng Mỹ Lợi đã bàn giao cho Nhà nước văn bản này vào năm 2010 để Nhà nước quản lý, xác lập chủ quyền của Tổ quốc. Giá trị của văn bản này mang tầm quốc gia, thậm chí là quốc tế, với những nội dung rất rõ ràng, ngày tháng cụ thể, người thật, việc thật. “Đây là một nguyên bản có giá trị lịch sử để chứng minh rằng biển đảo Hoàng Sa là của Việt Nam”, nhà nghiên cứu Phan Thuận An nói. Làng Mỹ Lợi được thành lập năm 1562, do những người khai canh ra đi lập nghiệp từ làng Lương Niệm, Quảng Xuyên (nay là thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Làng có bề dày lịch sử về truyền thống văn hóa lâu đời, với nhiều lễ hội, phong tục tập quán mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó Đình Làng Mỹ Lợi được xây dựng từ năm 1808, đến năm 1996, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa – kiến trúc – nghệ thuật cấp Quốc gia.

BDN

Loading

Views: 0

Một số nhìn nhận chủ quyền và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa

Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế. Hành động sử dụng vũ lực để xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là phi pháp, vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật pháp quốc tế, nhất là Hiến chương LHQ.

Một số điểm nổi bật trong việc xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa

Từ thế kỷ 17, người Việt đã dong thuyền ra đánh bắt hải sản và khai thác yến sào trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Công cuộc khai thác, chiếm hữu này được thực hiện liên tục, sau này được tổ chức ngày càng chính quy hơn. Chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã lập ra đội Hoàng Sa, hằng năm cử đội này ra Hoàng Sa thăm dò, đo đạc hải trình, khai thác yến sào trên đảo và thu nhặt vũ khí, vàng bạc, hàng hóa… từ các con tàu đắm của nước ngoài khi đi ngang qua vùng biển này.

Từ nửa sau thế kỷ 18, ngoài đội Hoàng Sa, chúa Nguyễn còn lập thêm đội Bắc Hải trực thuộc đội Hoàng Sa. Hằng năm từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch, chính quyền sai cử hai đội này ra Hoàng Sa và Trường Sa để khai thác sản vật, kiêm thêm công vụ kiểm tra, kiểm soát, thực thi chủ quyền ở khu vực này. Các đội Hoàng Sa và Bắc Hải được tổ chức có hệ thống, hoạt động ổn định, chuyên nghiệp và kéo dài đến tận cuối thế kỷ 18. Công việc này không hề gặp bất kỳ một sự phản ứng hay tranh chấp nào từ các quốc gia lân cận.

Sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Gia Long đã ra chỉ dụ củng cố các đội Hoàng Sa, Bắc Hải và đặt các đội này vào trong cơ cấu tổ chức chung của các đội Trường Đà, có chức năng khai thác và quản lý toàn bộ khu vực Biển Đông. Năm 1816, vua Gia Long đã sai đội Hoàng Sa phối hợp cùng với thủy quân của triều đình ra thăm dò, đo đạc thủy trình và cắm cờ xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Việc này được người phương Tây đương thời ghi nhận, coi đây là hoạt động chiếm hữu chính thức đối với quần đảo Hoàng Sa. Các triều đại nhà Nguyễn sau đó tiếp tục tiến hành các hoạt động thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa một cách liên tục và triệt để. Thời vua Minh Mạng đã sai thủy quân ra đồn trú tại đây để thu thuế và bảo trợ ngư dân đánh bắt cá, đều đặn đi vãng thám, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ. Năm 1834, Minh Mạng chỉ thị cho Bộ Công phái người ra Hoàng Sa cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền.

Từ sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và thiết lập chế độ bảo hộ, bối cảnh Việt Nam, Đông Dương, quốc tế đã có nhiều biến đổi và theo đó, việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa cũng có những yếu tố mới. Chính quyền Pháp đại diện cho nhà nước Việt Nam trực tiếp quản lý Hoàng Sa (1885 – 1950). Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao quyền quản lý quần đảo Hoàng Sa cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Ngày 7/9/1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Tuyên bố này được ghi vào văn kiện của Hội nghị San Francisco (1951) với đa số tán thành và không có bất kỳ một phản ứng chống đối hay một yêu sách nào của tất cả các quốc gia tham dự. Từ năm 1951 đến 1955, trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa không còn quân đội nước ngoài chiếm đóng, ngoài lực lượng trú phòng của Chính phủ Quốc gia Việt Nam.

Sau khi Hiệp định Genève 1954 được ký kết, quân Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương. Trong lúc chuyển giao quyền lực, lợi dụng sơ hở, Trung Quốc cho quân đổ bộ lên chiếm đóng nhóm đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (năm 1956). Năm 1974, một lần nữa, lợi dụng lúc Chính phủ Việt Nam Cộng hòa suy yếu, Trung Quốc đã đưa quân đánh chiếm toàn bộ nhóm đảo phía Tây thuộc quần đảo Hoàng Sa. Lực lượng đồn trú của quân đội Việt Nam Cộng hòa trên đảo cùng với hải quân được tăng cường từ đất liền đã giao chiến quyết liệt với quân Trung Quốc, nhưng do tương quan lực lượng không cân xứng nên Hoàng Sa đã rơi vào tay quân Trung Quốc. Trung Quốc ngang nhiên chiếm đóng trái phép quần đảo này cho đến hiện nay. Đây là hành động phi pháp, đi ngược lại công lý và luật pháp quốc tế. Đây cũng là bi kịch của lịch sử vì bạo lực phi nghĩa vẫn còn hiện diện và giành được ưu thế trong thế giới văn minh.

Một số suy nghĩ về các biện pháp thiết thực nhằm bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông

Sau khi nước nhà thống nhất năm 1975, Việt Nam đã có nhiều Tuyên bố và làm nhiều việc để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Hiến pháp Việt Nam năm 1980 đã hiến định vùng biển và hải đảo, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Luật An ninh quốc gia năm 2004, Luật Biển Việt Nam năm 2013 là những văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc quản lý, khai thác, phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đảo. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới của tình hình quốc tế và Biển Đông hiện nay, cần tăng cường các thiết chế pháp lý, đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động quản lý nhà nước nhằm thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Đầu tiên, Việt Nam cần tiếp tục khẳng định chủ quyền của đối với quần đảo Hoàng Sa. Việc tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa trước hết, trên hết và chủ yếu là sự thể hiện thông qua vai trò, hành động cụ thể của Nhà nước và hoạt động quản lý nhà nước đối với vùng lãnh thổ đặc biệt quan trọng này. Theo quy định tại Điều 121 của Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) năm 1982 về quy chế pháp lý của đảo, quần đảo có vùng biển riêng, việc quản lý nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa không chỉ được hiểu là quản lý phần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam mà còn phải quản lý các vùng nước xung quanh quần đảo này. Nhà nước phải tổ chức thực hiện việc quản lý các vùng nước này, một mặt nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các quyền lợi của Việt Nam trên biển, mặt khác giữ nguyên hiện trạng phần lãnh thổ (các đảo) đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép, bảo vệ các vùng biển, ngăn chặn mở rộng tranh chấp ra các vùng nước xung quanh. Do đặc điểm hết sức đặc biệt đó, việc quản lý nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa vừa là hoạt động đối nội về hành chính, chính trị nhằm huy động sức mạnh tổng hợp bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển, vừa là hoạt động đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, thực thi luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên Hiệp Quốc và UNCLOS, nhằm bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, giữ gìn hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển trên Biển Đông.

Thứ hai, Việt Nam cần rà soát, bổ sung, hoàn thiện các thể chế pháp lý về quản lý nhà nước đặc thù liên quan đến quần đảo Hoàng Sa. Do cơ chế quản lý về biển, đảo theo ngành, lĩnh vực trong điều kiện hệ thống chính sách, pháp luật về biển, đảo của nước ta còn thiếu đồng bộ và chồng chéo nên hiệu lực thi hành pháp luật yếu, tổ chức triển khai thiếu phối hợp giữa các ngành, các cấp, kể cả việc quản lý nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa. Do vậy, cần khẩn trương rà soát, xây dựng, ban hành các thể chế đặc thù, điều chỉnh riêng đối với các vấn đề liên quan đến các hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, như: Quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy tài nguyên biển, nhất là khai thác khoáng sản, dầu khí, thủy sản; các hoạt động vận tải biển, hàng hải, hoạt động du lịch, nghiên cứu khoa học biển…; Các hoạt động tự quản nhằm bảo vệ ngư dân, hoạt động bán vũ trang, bảo vệ trật tự an toàn, tự do hàng hải và bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam; Các thể chế kêu gọi hợp tác quốc tế về kinh tế, quốc phòng an ninh, ngăn ngừa các nguy cơ cướp biển, xâm hại môi trường; hoạt động cứu hộ cứu nạn, cứu trợ nhân đạo và các hiểm họa phi truyền thống khác.

Trong điều kiện thể chế chính trị nước ta hiện nay, cần có quy chế phối hợp cung cấp, tiếp nhận, xử lý thông tin, giải quyết các vấn đề về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông giữa cơ quan Đảng và cơ quan Nhà nước, bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, thống nhất giữa các cơ quan này.

Thứ ba, hoàn thiện thực thể cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong thực hiện quyền quản lý nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa, vừa phục vụ công tác quản lý, điều hành kinh tế – xã hội, vừa hiện diện, đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở địa phương. Huyện Hoàng Sa là cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện thuộc thành phố Đà Nẵng, được thành lập theo Nghị định số 194/HĐBT ngày 11/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng (trước đây). Tuy nhiên, đây chỉ là một thực thể hành chính không đầy đủ, chủ yếu thể hiện vai trò biểu trưng, bởi vì huyện không có đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách, không có hệ thống chính trị và bộ máy hành chính đầy đủ, hầu như không có kinh phí và không hoạt động thường xuyên. Do đặc thù lãnh thổ bị chiếm đóng, nên huyện Hoàng Sa hiện cũng không có dân cư. Từ khi thành lập đến nay, hầu như không có một văn bản chỉ đạo cụ thể nào của Chính phủ và các bộ ngành trung ương đối với huyện Hoàng Sa.

Để đảm bảo tính pháp lý của huyện Hoàng Sa như là một đơn vị hành chính nhà nước cấp huyện đầy đủ, vừa thực thi vai trò quản lý nhà nước về lãnh thổ, vừa làm cơ sở để đấu tranh chính trị và ngoại giao, cần phải tổ chức lại thực thể hành chính này theo hướng có đủ cả 3 yếu tố cấu thành là diện tích tự nhiên, dân số và bộ máy quản lý nhà nước. Muốn vậy, phải: Điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hoàng Sa trên cơ sở sáp nhập toàn bộ quần đảo Hoàng Sa hiện nay và một số phường thuộc quận Sơn Trà (có thể là 02 phường Thọ Quang và Nại Hiên Đông) để hình thành huyện đảo Hoàng Sa mới (có dân số bao gồm số dân hiện có của các phường này); Hình thành bộ máy của hệ thống chính trị, gồm các cơ quan Đảng, Mặt trận, đoàn thể và cơ quan quản lý nhà nước theo quy định hiện hành của Luật Tổ chức HĐND và UBND, Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Trên cơ sở đó điều chỉnh, tiến tới hình thành huyện đảo Hoàng Sa là đơn vị hành chính đặc biệt (theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương về mô hình chính quyền ở hải đảo) chuyên về hợp tác, phát triển kinh tế biển và hợp tác quốc phòng, gắn với đấu tranh bảo vệ chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa và chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.

Thứ tư, đẩy mạnh tuyên truyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Biên soạn giáo trình thống nhất, đưa nội dung cơ bản về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vào sách giáo khoa và chương trình giảng dạy ở các cấp, bậc học. Đồng thời, biên soạn tài liệu phổ biến những kiến thức cơ bản về lịch sử chủ quyền, thực trạng chủ quyền, chủ trương, giải pháp đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa để tuyên truyền rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân. Phổ biến, cung cấp tài liệu để các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài, các cá nhân và tổ chức, nhất là sinh viên và người Việt Nam ở nước ngoài tuyên truyền trong cộng đồng các quốc gia và quốc tế về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và trên Biển Đông. Mỗi người Việt Nam phải là một tuyên truyền viên, một đại sứ nhân dân trong việc tuyên truyền bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Khuyến khích trí thức, học giả, chuyên gia Việt Nam trong và ngoài nước đầu tư nghiên cứu khoa học, sưu tầm tài liệu, công bố các kết quả nghiên cứu về Hoàng Sa, Trường Sa trên các tạp chí uy tín của thế giới; tham gia vào hoạt động của các tổ chức quốc tế, phi chính phủ nhằm góp phần vào công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia ở ngoài nước. Tập trung nâng cao số lượng, đổi mới nội dung và đẩy mạnh tuyên truyền qua mạng, xem đây là giải pháp quan trọng trong công tác tuyên truyền trong thời gian đến.

Thứ năm, đẩy mạnh hoạt động khai thác, phát huy tiềm năng kinh tế biển, hỗ trợ và bảo vệ ngư dân bám biển Hoàng Sa gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên Biển Đông. Cần xác định việc bảo vệ chủ quyền, bảo vệ ngư dân trên vùng biển Hoàng Sa trước hết và chủ yếu là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng thực thi pháp luật của nhà nước trên biển. Do đó, cần đổi mới chính sách hỗ trợ ngư dân theo hướng hình thành các biên đội hậu cần nghề cá mạnh thông qua các tập đoàn, công ty nhà nước hoặc doanh nghiệp cổ phần, có sự tham gia hoặc hỗ trợ vốn, chính sách của nhà nước làm chỗ dựa cho ngư dân ngay chính trên ngư trường đánh bắt của mình. Các doanh nghiệp vừa cung ứng vật tư, nhiên liệu, vừa giải quyết bài toán kinh tế là bao tiêu sản phẩm, gắn với chính sách hỗ trợ đầu ra của sản phẩm, đồng thời là cơ sở để xác định và hỗ trợ nhiên liệu theo thực tế đối với ngư dân tham gia đánh bắt trên vùng biển Hoàng Sa, đặc biệt vừa làm “tiền đồn” để kết hợp kinh tế với quốc phòng trên biển nhằm bảo vệ ngư dân, bảo vệ chủ quyền trên vùng biển Hoàng Sa.

Thứ sáu, tăng cường năng lực các lực lượng hỗ trợ, thực thi pháp luật và dân quân tự vệ trên vùng biển Hoàng Sa. Từ kinh nghiệm đấu tranh chống Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam vào tháng 5/2014, cần đầu tư trang bị phương tiện, củng cố lực lượng thực thi pháp luật trên biển để duy trì thường xuyên các hoạt động bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển, bảo vệ ngư dân, duy trì trật tự pháp luật trên biển, bảo vệ các tổ chức, cá nhân hoạt động hợp pháp, như hoạt động vận tải biển, thăm dò, khai thác dầu khí, điều tra nghiên cứu khoa học biển…. Mặt khác, cần tổ chức lại lực lượng dân quân tự vệ trên biển linh hoạt và chuyên nghiệp hơn, phiên chế theo khu vực đánh bắt thay vì theo tàu và địa bàn thường trú của chủ tàu như hiện nay. Tổ chức quản lý thông qua thiết bị công nghệ thu phát sóng hiện đại được trang bị cho các tàu cá, được kết nối và hỗ trợ bởi các lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và Hải quân nhằm tăng cường tính chủ động, linh hoạt, kịp thời, thu hẹp khoảng cách địa lý, tăng cường tần suất tuần tra trên từng vùng biển của các lực lượng chức năng, phối hợp tác chiến hiệu quả trong ứng phó với các tình huống, sự cố trên biển của ngư dân, đặc biệt là các tình huống bị tàu Trung Quốc hay cướp biển tấn công, hoặc khi tàu bị tai nạn, sự cố kỹ thuật…

Thứ bảy, xây dựng huyện đảo Hoàng Sa thành “vành đai” hợp tác phát triển kinh tế và duy trì an ninh – quốc phòng trên biển nhằm ngăn chặn các hành vi đơn phương đe dọa, sử dụng vũ lực, xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên vùng biển Hoàng Sa; ngăn chặn các hành vi thay đổi hiện trạng và duy trì an ninh, an toàn, tự do hàng hải trên Biển Đông.

Hợp tác phát triển kinh tế biển vừa huy động nguồn lực bên ngoài để phát triển quy mô, chuyển giao và đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh ngành thủy sản, vận tải biển và công nghiệp đóng tàu, đồng thời và quan trọng hơn là kêu gọi, thu hút các đối tác là các cường quốc, quốc gia có thế mạnh về hàng hải, thủy sản, vừa có tuyên bố lợi ích trên Biển Đông, nhất là các quốc gia là đối tác đối thoại ngoài ASEAN, như Nhật Bản, Ấn Độ, Australia…

Hợp tác quốc phòng là kênh hợp tác đặc biệt nhằm tăng cường giao lưu hoạt động quốc phòng, tăng cường xây dựng sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, giúp củng cố năng lực quốc phòng và khả năng hợp tác quốc phòng giữa các bên. Hợp tác quốc phòng cần được tiến hành có lộ trình, từ hợp tác giao lưu đến hợp tác kỹ thuật, dịch vụ hậu cần, tiến đến những hoạt động hợp tác chiều sâu. Hợp tác quốc phòng được tính đến và thu hút sự tham gia của các cường quốc có lợi ích từ tự do hàng hải, hàng không và lợi ích chiến lược trên Biển Đông, như Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia.

Nỗ lực hợp tác phát triển kinh tế biển và hợp tác quốc phòng trên địa bàn huyện Hoàng Sa dựa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, lợi ích chính trị là chính, lấy lợi ích của đối tác tại Việt Nam làm trọng nhưng không phương hại lợi ích quốc gia. Mục đích cuối cùng của hợp tác kinh tế – quốc phòng trên địa bàn huyện Hoàng Sa là thực hiện đường lối đối ngoại đa phương và mục tiêu quốc tế hóa tranh chấp trên Biển Đông, đồng thời mở rộng và thúc đẩy gia tăng mâu thuẫn lợi ích và cán cân chiến lược giữa Trung Quốc với các quốc gia khác ngoài Việt Nam và ASEAN, chi phối và kìm hãm sức mạnh của Trung Quốc ngày càng gia tăng trên Biển Đông, tạo sức ép thúc đẩy nỗ lực quốc tế hóa vấn đề tranh chấp trên Biển Đông để sớm tiến đến một thỏa thuận quốc tế nhằm điều chỉnh hành vi, chuẩn mực ứng xử, giải quyết các vấn đề trên Biển Đông.

Thứ tám, tiếp tục hoàn thiện các luận cứ khoa học, chuẩn bị nguồn lực trong vấn đề giải quyết tranh chấp trên Biển Đông liên quan đến quần đảo Hoàng Sa bằng các giải pháp pháp lý. Giải pháp pháp lý, trực tiếp là việc lựa chọn Tòa án quốc tế về Luật biển là phương thức giải quyết tranh chấp bắt buộc, vừa là quyền và cũng là nghĩa vụ của các quốc gia thành viên UNCLOS 1982. Theo đó, cần khẩn trương chuẩn bị nguồn lực, bao gồm cả nhân lực chuyên gia, tài liệu, nguồn lực vật chất khác, kinh nghiệm và các mối liên hệ với tổ chức quốc tế liên quan để chuẩn bị hành trang đầy đủ, tối ưu cho việc sẵn sàng lựa chọn giải pháp pháp lý trong tương lai. Có chính sách thu hút, đào tạo, cử tuyển nhân tài trên lĩnh vực luật quốc tế, luật biển để tham gia vào chương trình đào tạo chuyên sâu, các diễn đàn học thuật, các diễn đàn tranh tụng pháp lý quốc tế, tăng cường chính sách hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu trong và ngoài nước về các lĩnh vực liên quan đến biển, trước hết là luật biển và quan hệ quốc tế để chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho quốc gia.

Có kế hoạch tổng rà soát, sưu tầm, tập hợp, hệ thống hóa và phân tích, đánh giá hệ thống tư liệu trong và ngoài nước liên quan đến chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và trên Biển Đông. Giao cho một đầu mối cơ quan nhà nước thống nhất việc tập hợp, hệ thống hóa, khai thác, đánh giá giá trị, đồng thời có kế hoạch sưu tầm, tập hợp, bảo quản nguồn tư liệu về chủ quyền cả ở trong và ngoài nước, phục vụ việc nghiên cứu và đấu tranh lâu dài.

Thứ chín đẩy mạnh các hoạt động của Nhà nước trong vấn đề giải quyết tranh chấp trên Biển Đông liên quan đến quần đảo Hoàng Sa bằng các giải pháp pháp lý. Giải pháp pháp lý là cách thức để giải quyết một vấn đề dựa trên các quy định pháp luật, theo đó, giải pháp pháp lý bao gồm các hệ giải pháp về đàm phán, thương lượng, điều tra, trung gian, môi giới, hòa giải, tòa án và trọng tài…. Trong đó, việc sử dụng các thiết chế tài phán quốc tế, như tòa án, trọng tài… được coi là những giải pháp mang tính thuần pháp lý, bên cạnh đàm phán, thương lượng; trung gian, môi giới, hòa giải mang tính “lưỡng cực” chính trị – ngoại giao và pháp lý.

Hiện nay, Trung Quốc không chấp nhận bất cứ một yêu sách nào nhằm giải quyết tranh chấp đối với quần đảo Hoàng Sa. Do đó, việc tiếp cận và sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp thông qua các thiết chế tài phán quốc tế và tổ chức quốc tế – khi các giải pháp ngoại giao đang dần đi vào bế tắc – là lựa chọn đúng hướng và thật sự cần thiết. Hơn nữa, trước cục diện tranh chấp hiện nay, trong tổng thể các phương thức giải quyết tranh chấp, với tương quan lực lượng chênh lệch giữa Việt Nam và các bên tranh chấp ở Biển Đông, đặc biệt là Trung Quốc, đấu tranh pháp lý trên cơ sở luật pháp quốc tế thông qua các thiết chế tài phán quốc tế, tổ chức quốc tế, bao gồm Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), Tòa án quốc tế về Luật biển (ITLOS), Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS 1982; Tòa Trọng tài thường trực La Haye (PCA), Liên Hiệp Quốc, ASEAN… là cách thức phù hợp và hữu hiệu nhất để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam.

Việc giải quyết tranh chấp thông qua các thiết chế tài phán quốc tế, tổ chức quốc tế đòi hỏi phải có quyết tâm cao và sự chuẩn bị kỹ lưỡng về thủ tục, nội dung, nguồn lực và các điều kiện đảm bảo khác. Sự kiện ngày 12 tháng 7 năm 2016, Tòa Trọng tài thường trực ở La Haye (PCA) ra phán quyết phủ nhận “quyền lịch sử” và cái gọi là “đường 9 đoạn” phi lý, mơ hồ, vô căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông đã khơi thông tiền lệ pháp lý để Việt Nam có thể đẩy mạnh việc chuẩn bị các kịch bản pháp lý và giải pháp pháp lý trong việc giải quyết vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Bên cạnh đó, cần tăng cường các hoạt động bổ trợ cho các giải pháp pháp lý như giao lưu, trao đổi học thuật về Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa. Tập trung đầu tư nguồn lực để tạo dựng một diễn đàn học thuật có uy tín và mang tầm vóc khu vực, quốc tế, có sức hút mạnh mẽ đối với giới học thuật và chính khách quốc tế về Biển Đông để thúc đẩy các nỗ lực giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, đàm phán, thương lượng và thông qua Tòa án quốc tế. Đồng thời, trên cơ sở diễn đàn này, chủ động và nỗ lực thu hút các quốc gia có tranh chấp, các cường quốc có lợi ích trên biển và các đối tác đối thoại tiến đến một định chế ứng xử trên Biển Đông nhằm thiết chế hóa, điều chỉnh quan hệ và hành vi các bên trên Biển Đông phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

BDN

Loading

Views: 0

Pháp tung bằng chứng khẳng định Hoàng Sa là chủ quyền của Việt Nam

Năm 1938, khi còn bảo hộ Việt Nam, Chính phủ Pháp nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Tài liệu được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ của Phòng Thương mại và Công nghiệp Marseille, Pháp: kí hiệu Hồ sơ: MQ28/02.

Việt Nam xây dựng Trạm khí tượng tại Hoàng Sa

Ở tài liệu thứ nhất, với tiêu đề: “Pháp có chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa (Paracels) hay không?” đã khẳng định: “Ngày xưa, quần đảo Hoàng Sa là thuộc về Việt Nam. Vương triều An Nam (nhà Nguyễn – người dịch) đã đóng quân trên đảo này từ đầu thế kỉ XIX. Quần đảo này là vùng thuộc chủ quyền của An Nam (Đại Nam tức Việt Nam – người dịch). Pháp chỉ làm cái việc là khẳng định tất cả các quyền không thể chối cãi đối với quần đảo này. Vấn đề này là thực tế”.

Tư liệu lưu trữ (1938) khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa

Năm 1932, dưới thời Toàn quyền Pasquier, một tàu Pháp đã đổ bộ lên và cắm cờ Pháp trên quần đảo này.

Tài liệu cho biết thêm: “Để đảm bảo an toàn hàng hải trên vùng biển này, chính quyền Đông Dương đã thiết lập trên quần đảo này hai ngọn hải đăng và một trạm khí tượng. Một vài biệt đội vùng với lực lượng đông đảo cảnh sát người Việt cũng đã được cử đến quần đảo này để bảo vệ những công trình này. Trong năm 1937, một quan chức hành chính của chính quyền Đông Dương cùng 6 lính bảo an đã thực hiện cuộc kiểm tra trên quần đảo này nhằm duy trì hai ngọn hải đăng và đảm bảo cho trạm khí tượng đặt trên quần đảo này được hoạt động tốt”.

Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam từ thế kỷ XIX

Tài liệu thứ hai trong Hồ sơ lưu trữ cho biết: “Theo luận điểm của Pháp, quần đảo Hoàng Sa đã được sáp nhập vào Việt Nam bởi Vua An Nam (Vua Nguyễn) vào năm 1816, sau đó là bởi Courbet vào năm 1885. Vào năm này, Trung Quốc đã thừa nhận rằng, Pháp thay thế quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này”.

Tài liệu cũng nêu rõ, lối vào quần đảo Hoàng Sa là vô cùng khó khăn, nếu không muốn nói là không thể.

“Quần đảo này được tạo bởi 36 đảo hoặc cụm đảo nhô lên hoặc đảo chìm. Yếu tố này thực sự nguy hiểm đối với giao thông hàng hải. Những đảo lớn của quần đảo này bao gồm các đảo: Tri Tôn, Pyramide, Lincoln, Boiseé, Rocheuse, Roberts, Pattle, Amphitrite,…”.

Một số hải đội người Việt đã đóng trên quần đảo này, nó nằm giữa đảo Hải Nam và cảng Đà Nẵng. Tuy nhiên, khi Chính phủ bảo hộ Pháp và triều đình Việt Nam thiết lập trên quần đảo Hoàng Sa một vài ngọn hải đăng và trạm khí tượng để kiểm soát bão, thì Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại kiến nghị với Bộ trưởng Pháp rằng, quần đảo này là của Trung Quốc.

 

Chính phủ Pháp khẳng định, quần đảo Hoàng Sa đã được sáp nhập vào Việt Nam năm 1816. Đến năm 1885, Trung Quốc cũng đã thừa nhận, Pháp thay thế quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

Trung tâm Lưu trữ Phòng Thương mại và Công nghiệp Marseille (CCIMP) ở số 9 đường La Canebìere, 13001, thành phố Marseille, Cộng hòa Pháp. Trung tâm này chủ yếu lưu trữ những tài liệu liên quan tới thương mại giữa Pháp và các nước trên thế giới cũng như với thuộc địa của Pháp, trong đó có Việt Nam. Nguồn tài liệu ở đây được chính thức thu thập và lưu trữ từ thế kỷ XVII. Các hồ sơ lưu trữ ở đây phản ánh những thông tin liên quan tới chính sách thương mại, quan hệ thương mại, thuế quan từ thế kỉ XIII đến nay. Nguồn lưu trữ ở đây được chia thành 3 phông chủ yếu: Phông cũ là những hồ sơ chứa đựng thông tin từ năm 1801 trở về trước, gồm các série từ A đến K. Phông hiện đại là những hồ sơ chứa đựng thông tin từ năm 1801 đến nay, gồm các série : MA, MB, MC, MD, MÉTROPOLE, MF, MG, MH, MJ, MK, ML, MM, MN, MP, MQ, MR, AC. Phông đính kèm là những hồ sơ liên quan tới các công ty thương mại, những nhân vật, quan chức thương mại của Pháp và các thuộc địa Pháp. Tài liệu liên quan tới Hoàng Sa mà chúng tôi đề cập nằm lẫn trong Hồ sơ série MQ thuộc phông hiện đại.

“Theo luận điểm của Pháp, quần đảo Hoàng Sa đã được sáp nhập vào Việt Nam bởi Vua An Nam (Vua Nguyễn) vào năm 1816, sau đó là bởi Courbet vào năm 1885. Vào năm này, Trung Quốc đã thừa nhận rằng, Pháp thay thế quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này”.

news.vdaiy.net

Loading

Views: 0

Các cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 ở Biển Đông

Trong bối cảnh tình hình tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông đang ngày càng có nhiều diễn biến mới, khiến tình hình căng thẳng trong khu vực ngày càng gia tăng và chiến thắng của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc ở Biển Đông đã mở ra một chương mới trong việc tìm kiếm biện pháp pháp lý giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Tất cả các nước liên quan tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông đều là thành viên tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), vì vậy, theo các quy định của UNCLOS, tất cả các nước liên quan, bao gồm Trung Quốc có nghĩa vụ thực hiện các quy định của UNCLOS.

Những lựa chọn về Trọng tài hay Tòa án

Quy tắc “mặc định” trong UNCLOS là nếu có tranh chấp giữa hai quốc gia về việc giải thích hay áp dụng bất kỳ điều khoản nào của Công ước, thì sẽ phải chịu sự điều chỉnh của hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc theo Mục 2 của Phần 15. Đầu tiên các quốc gia có nghĩa vụ phải trao đổi quan điểm để cố gắng giải quyết tranh chấp bằng cách tuân theo các thủ tục được quy định tại Mục 1 của Phần 15. Tuy nhiên, khi việc áp dụng Mục 1 không thể giúp giải quyết tranh chấp, thì tranh chấp đó có thể được đơn phương đệ trình lên các tòa có thẩm quyền theo mục này theo yêu cầu của bất kỳ bên nào trong tranh chấp.

Tòa án hay tòa trọng tài có thẩm quyền xét xử vụ tranh chấp sẽ phải phụ thuộc một phần vào việc liệu các bên tranh chấp có thực hiện quyền lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp hay không. Theo Điều 287, một quốc gia có quyền tự do lựa chọn, bằng văn bản tuyên bố, một hay nhiều hơn trong số bốn thủ tục giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước. Các quốc gia có quyền lựa chọn giữa hai phương pháp phân xử và hai phương pháp trọng tài. Các lựa chọn gồm: phân xử trước Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ); phân xử trước tòa ITLOS; trọng tài theo Phụ lục 7 của UNCLOS; hoặc trọng tài đặc biệt theo Phụ lục 8 của UNCLOS. Sự lựa chọn thủ tục có thể được thực hiện khi quốc gia ký kết, phê duyệt hoặc tham gia Công ước UNCLOS, hoặc bất kỳ thời điểm nào sau đó.

Nếu hai bên (hai quốc gia) của một tranh chấp chọn ra được cùng một thủ tục, thì tranh chấp đó sẽ được dẫn chiếu tới thủ tục đó. Nếu các bên tranh chấp không lựa chọn cùng một thủ tục, hay nếu một bên không đưa ra sự lựa chọn, thì tranh chấp sẽ được đưa lên trọng tài theo Phụ lục 7, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Các quốc gia yêu sách chủ quyền các điểm đảo ở Biển Đông đều không đưa ra lựa chọn theo Điều 287. Do đó, nếu như hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc của Mục 2 Phần 15 được viện dẫn trong tranh chấp giữa hai quốc gia yêu sách liên quan đến Biển Đông, thì tranh chấp đó sẽ tự động được xét xử bằng trọng tài theo Phụ lục 7 của UNCLOS.

Luật áp dụng và tính chung thẩm của các phán quyết

Tòa án hay tòa trọng tài giải quyết tranh chấp có thẩm quyền do tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng một điều khoản của UNCLOS. Tuy nhiên, để giải quyết tranh chấp thì tòa lại không bị giới hạn bởi việc chỉ áp dụng các điều khoản của UNCLOS. Điều 293 của UNCLOS quy định rằng tòa có thẩm quyền sẽ áp dụng Công ước và các quy định khác của luật quốc tế không trái với Công ước. Dù tranh chấp có được đưa dẫn chiếu tới một trong hai phương pháp phân xử tại tòa hay một trong hai phương pháp trọng tài, thì phán quyết được đưa ra bởi tòa hay trọng tài có thẩm quyền cũng sẽ là chung thẩm, và các bên tranh chấp có nghĩa vụ phải tuân thủ nó.

Quốc gia là một bên trong tranh chấp được dẫn chiếu đến theo Mục 2 Phần 15 cũng có thể yêu cầu các biện pháp tạm thời để (a) duy trì các quyền tương ứng của các bên; hoặc (b) ngăn chặn các nguy cơ đối với môi trường biển. Điều kiện tiên quyết duy nhất là tòa ITLOS phải xác định rằng, tòa trọng tài được hình thành sẽ có thẩm quyền prima facie (hiển nhiên) để xét xử vụ việc. Những biện pháp tạm thời đó có tính ràng buộc về mặt pháp lý. Ngay cả khi tranh chấp được dẫn chiếu tới tòa trọng tài thì quốc gia là bên tranh chấp vẫn có thể yêu cầu các biện pháp tạm thời từ ITLOS trong khi chờ sự thành lập của tòa trọng tài.

Những tranh chấp chịu sự điều chỉnh của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc

Chỉ ngoại trừ một số ít những hạng mục các tranh chấp được miễn trừ, tất cả các tranh chấp khác giữa các quốc gia thành viên của UNCLOS về việc giải thích hay áp dụng điều khoản của UNCLOS đều chịu sự điều chỉnh của hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc theo UNCLOS. Liên quan đến các điều khoản được đề cập trong bài viết này, các tranh chấp về các vấn đề sau đây sẽ phải được giải quyết bởi tòa án quốc tế: (a) Tranh chấp về tính phù hợp của đường cơ sở thẳng của Quốc gia với điều 7 của UNCLOS; (b) Tranh chấp về việc liệu các đường cơ sở có thể được vẽ từ các quần đảo giữa biển khơi như Trường Sa hay Hoàng Sa hay không; (c) Tranh chấp về việc một thực thể có phải là đảo theo Điều 121 hay đảo nửa chìm theo Điều 13; (d)         Tranh chấp về việc một thực thể có phải là đảo theo Điều 121 hay đảo nhân tạo theo Điều 60; (e) Tranh chấp về việc một hòn đảo có phải là đảo đá mà không có khả năng duy trì sự sống con người hay có đời sống kinh tế riêng theo Điều 121(3) hay không; (f) Tranh chấp về việc một quốc gia có can thiệp một cách bất hợp pháp vào các quyền chủ quyền và tài phán của quốc gia khác trong vùng EEZ của Quốc gia đó theo Điều 56 và 77 hay không; (g) Tranh chấp về việc luật và các quy định trong nước của một quốc gia về các hoạt động thăm dò ở vùng EEZ hoặc thềm lục địa của mình có phù hợp với UNCLOS hay không.

Những hạn chế và ngoại lệ về giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc

Mục 3 Phần 15 quy định về các ngoại lệ và hạn chế của hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc của Mục 2. Cụ thể, Điều 297 loại trừ hai loại tranh chấp khỏi hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc của Mục 2 Phần 15: (a) các tranh chấp liên quan đến các quyết định của quốc gia về nghề cá trong vùng EEZ của mình; và (b) các tranh chấp liên quan đến các quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học ở vùng EEZ. Mục 3 Phần 15 cũng cho phép các quốc gia có quyền “không tham gia” vào hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc theo Mục 2 đối với một số loại tranh chấp. Điều 298 quy định rằng các quốc gia thành viên được lựa chọn việc chính thức tuyên bố với Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc rằng họ không chấp nhận giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc theo Mục 2 đối với các loại tranh chấp sau: (1) Những tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các điều 15, 74, và 83 liên quan đến phân định biên giới trên biển, hoặc những tranh chấp liên quan đến các vịnh, danh nghĩa lịch sử,… (2)         Những tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự, bao gồm các hoạt động quân sự của tàu thuyền và máy bay của chính phủ tham gia vào các hoạt động phi thương mại, và những tranh chấp liên quan đến các hoạt động thi hành pháp luật đối với việc thực thi các quyền chủ quyền hoặc tài phán được loại trừ khỏi thẩm quyền của tòa hay tòa trọng tài theo điều 297, khoản 2 hoặc 3; (3) Những tranh chấp mà Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đang thực thi chức năng được giao phó bởi Hiến chương Liên Hợp Quốc, trừ khi Hội đồng Bảo an quyết định loại bỏ vấn đề đó khỏi chương trình nghị sự của mình hoặc kêu gọi các bên giải quyết bằng các biện pháp được quy định trong Công ước này.

Tác động của tuyên bố của Trung Quốc theo Điều 298

Ngày 25/08/2006, Trung Quốc đệ trình một tuyên bố: “Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không chấp nhận bất kỳ thủ tục nào được quy định ở Mục 2 phần XV của Công ước này liên quan đến tất cả các loại tranh chấp được dẫn chiếu tại khoản 1(a)(b) và (c) của Điều 298 của Công ước”. Trung Quốc đã thực hiện quyền của mình theo Điều 298 và không tham gia vào quy chế giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc của Mục 2 Phần XV đối với các tranh chấp được dẫn chiếu tại Điều 298(1)(a), (b) và (c) của Công ước.

Đầu tiên, tuyên bố này loại trừ các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Điều 15, 74, và 83 về phân định biên giới trên biển. Do đó, nếu Việt Nam và Trung Quốc không thể thỏa thuận được về ranh giới EEZ gần quần đảo Hoàng Sa, thì không quốc gia nào được quyền viện dẫn đến hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc của UNCLOS. Vấn đề lúc đó sẽ là liệu ranh giới vùng EEZ có thể được dẫn chiếu tới các hình thức tham vấn không ràng buộc theo Phụ lục 5 hay không. Điều 298(1)(a) quy định như sau: Những tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng các Điều 15, 74 và 83 liên quan đến phân định biên giới trên biển, hoặc những tranh chấp liên quan đến các vịnh hoặc danh nghĩa lịch sử, với điều kiện là một quốc gia đã đưa ra tuyên bố về vấn đề này, khi tranh chấp phát sinh sau khi Công ước này có hiệu lực và trong trường hợp các bên không thể đi đến thỏa thuận trong khoảng thời gian hợp lý, khi có yêu cầu của bất kỳ bên nào trong tranh chấp, sẽ chấp nhận đệ trình vấn đề để được hòa giải theo Phụ lục 5, mục 2; tuy nhiên không thể thực hiện việc đệ trình này trong trường hợp một tranh chấp có liên quan đến việc xem xét một tranh chấp chưa được giải quyết khác về chủ quyền hoặc các quyền về lãnh thổ lục địa hoặc đảo có đất liền.

Tuyên bố của Trung Quốc loại trừ tất cả các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng các Điều 74 và 83, bao gồm tranh chấp về việc liệu một Quốc gia yêu sách có vi phạm nghĩa vụ theo Điều 74(3) và Điều 83(3) về việc cần có nỗ lực để tham gia vào các dàn xếp tạm thời có tính thực tiễn hay không, hoặc tranh chấp về việc liệu một quốc gia yêu sách có vi phạm nghĩa vụ không được có hành động đơn phương trong các khu vực có yêu sách chồng lấn gây khó khăn hoặc cản trở việc đi đến thỏa thuận cuối cùng về biên giới trên biển hay không. Tuy nhiên, nếu một quốc gia yêu sách có hành động đơn phương ở khu vực tranh chấp như việc khoan để lấy dầu và khí, thì các bên yêu sách khác có thể viện dẫn đến hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc của UNCLOS bằng cách lập luận rằng hành động đơn phương đó là một sự lạm dụng Điều 300 của UNCLOS.

Thứ hai, tuyên bố của Trung Quốc loại trừ các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều khoản của UNCLOS liên quan đến các vịnh và danh nghĩa lịch sử. Do đó, một tranh chấp về việc giải thích Điều 10(6) về vịnh lịch sử sẽ được loại trừ. Tương tự như vậy, một tranh chấp về việc liệu “danh nghĩa lịch sử” của một bên có cần được xem xét đến trong việc phân định biên giới lãnh hải hay không cũng sẽ được loại trừ. Tuy nhiên, những tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Điều 15 về phân định lãnh hải vốn đã được loại trừ và UNCLOS cũng không có quy định nào khác về danh nghĩa lịch sử. Hơn nữa, mặc dù Điều 15 có nhắc đến danh nghĩa lịch sử, nhưng không đề cập gì đến các quyền lịch sử, và không có điều khoản nào trong UNCLOS liên quan đến các quyền lịch sử. Do đó, nếu Trung Quốc đưa ra lập luận về quyền theo luật quốc tế để thực hiện các quyền lịch sử ở vùng biển trong đường lưỡi bò, thì có thể sẽ phát sinh một tranh chấp về việc liệu những quyền đó có phù hợp với UNCLOS hay không, và tranh chấp đó sẽ không bị loại trừ bởi tuyên bố của Trung Quốc.

Thứ ba, tuyên bố của Trung Quốc loại trừ các tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự. Do đó, bất kỳ tranh chấp nào về việc Quốc gia có quyền thực hiện các hoạt động quân sự theo Điều 58 như thăm dò hay tập trận ở vùng EEZ của Trung Quốc hay không cũng sẽ được loại trừ khỏi hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc của UNCLOS. Bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến các hoạt động quân sự của Trung Quốc ở vùng biển của quốc gia khác cũng sẽ được loại trừ.

Thứ tư, tuyên bố trên loại trừ các tranh chấp liên quan đến các hoạt động cưỡng chế pháp luật đối với việc thực hiện các quyền chủ quyền và tài phán khỏi thẩm quyền của tòa theo Điều 297(2) hoặc (3). Trên thực tế, điều này chỉ loại trừ một số loại cưỡng chế pháp luật rất hạn chế, cụ thể là những hoạt động liên quan đến việc cưỡng chế các hoạt động đánh cá và nghiên cứu khoa học biển, vốn đã được loại trừ khỏi hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc theo Điều 297(2) và (3). Các tranh chấp liên quan đến các loại hoạt động cưỡng chế pháp luật khác, như những tranh chấp liên quan đến việc can thiệp vào các hoạt động thăm dò địa chấn hay việc bắt giữ các tàu thuyền đánh cá trong khu vực có yêu sách chồng lấn sẽ không được loại trừ bởi tuyên bố này.

Thứ năm, tuyên bố trên loại trừ các tranh chấp mà Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đang thực hiện chức năng được giao phó bởi Hiến chương Liên Hợp Quốc, trừ khi Hội đồng Bảo an quyết định loại bỏ vấn đề khỏi chương trình nghị sự của mình hoặc kêu gọi các bên giải quyết bằng các biện pháp được nêu trong UNCLOS. Mục đích của ngoại lệ này là để tránh sự xung đột giữa thủ tục giải quyết tranh chấp được tiến hành theo Phần 15 của UNCLOS và hành động mà Hội đồng Bảo an có thể thực hiện khi thực thi nghĩa vụ của mình để bảo đảm hòa bình và an ninh quốc tế theo Chương VII của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Ví dụ, nếu xung đột vũ trang nổ ra giữa các Quốc gia yêu sách liên quan đến các đảo tranh chấp ở Biển Đông, thì vấn đề có thể được dẫn chiếu lên Hội đồng Bảo an. Trong trường hợp đó, một bên tranh chấp sẽ không được viện dẫn đến các thủ tục giải quyết tranh chấp trong UNCLOS đối với vấn đề này cho dù việc sử dụng vũ lực quân sự của một bên yêu sách có vi phạm UNCLOS đi chăng nữa.

Cuối cùng, cũng cần lưu ý rằng các ngoại lệ của Điều 298 không mang tính “tự phán xét”, một bên tranh chấp không thể tự xác định là những ngoại lệ có được áp dụng trong vụ việc hay không. Điều 288(4) nêu rõ rằng trong trường hợp xảy ra tranh chấp về thẩm quyền của tòa, thì vấn đề này sẽ được giải quyết thông qua phán quyết của tòa đó.

Ý kiến tư vấn của ITLOS

Không có quy định nào trong UNCLOS hay trong Quy chế tòa ITLOS cho phép các quốc gia thành viên hay các thể chế được thành lập theo UNCLOS được yêu cầu ý kiến tư vấn của tòa ITLOS đối với các câu hỏi pháp lý. Tuy nhiên, Quy tắc của Tòa này, được thông qua vào năm 1996 theo Điều 16 của Quy chế, cho Tòa thẩm quyền được đưa ra các ý kiến tư vấn trong một số tình huống nhất định. Điều 138 của Quy chế quy định như sau: (1) Tòa có thể đưa ra ý kiến tư vấn về một vấn đề pháp lý nếu như có một thỏa thuận quốc tế liên quan đến các mục đích của Công ước cho phép việc đệ trình lên Tòa một yêu cầu cho ý kiến tư vấn. (2) Một yêu cầu cho ý kiến tư vấn sẽ được chuyển đến Tòa bởi bất kỳ cơ quan nào được ủy quyền từ hoặc phù hợp với thỏa thuận xin ý kiến tư vấn từ Tòa. (3) Tòa sẽ áp dụng các điều 130 đến 137 theo nguyên tắc mutatis muntadis (với sự thay đổi cần thiết và chi tiết).

Địa vị và cơ sở pháp lý của Điều 138(1) đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các quan chức chính phủ và thẩm phán của các tòa. Thẩm quyền tư vấn của Tòa được dựa trên Điều 21 của Quy chế Tòa, trong đó quy định rằng thẩm quyền của Tòa bao gồm tất cả các tranh chấp và đơn được đệ trình lên tòa và tất cả các vấn đề được quy định rõ ràng trong các thỏa thuận khác trong đó trao thẩm quyền cho Tòa. Mặc dù có một số mối lo ngại đã được nêu lên về việc liệu Tòa có vượt quá quyền hạn của mình trong việc cho phép thẩm quyền tư vấn theo Điều 138(1) của Quy tắc hay không, nhưng giới bình luận đã kết luận rằng các phản hồi đối với việc cho phép tòa ITLOS có quyền đưa ra ý kiến tư vấn trong một số tình huống nhất định phần lớn là tích cực.

Nếu một cơ quan yêu cầu ý kiến tư vấn theo Điều 138(1), thì sẽ khó để cho Quốc gia nào phản đối thẩm quyền của Tòa trong việc đưa ra ý kiến tư vấn. Trong bất kỳ trường hợp nào, ngay cả khi có thể đưa ra sự phản đối, thì Điều 288(4) của UNCLOS vẫn có quy định rằng trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền của tòa, thì vấn đề đó sẽ được giải quyết bằng phán quyết của tòa đó. Do đó, bản thân Tòa sẽ có quyền quyết định về thẩm quyền được trao cho mình theo Quy tắc của Tòa.

Theo Điều 138(1) của Quy tắc, Tòa có thể cho ý kiến tư vấn nếu như ba yêu cầu sau đây được đáp ứng. Đầu tiên, cần phải có sự thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan đến các mục đích của UNCLOS. Đây có thể là một thỏa thuận đa phương, một thỏa thuận khu vực hoặc thậm chí là thỏa thuận song phương, miễn sao thỏa thuận đó liên quan đến mục đích của Công ước.

Thứ hai, thỏa thuận đó phải quy định cụ thể về việc đệ trình yêu cầu cho ý kiến tư vấn từ Tòa. Thỏa thuận quốc tế đó phải quy định về việc ai sẽ có quyền yêu cầu ý kiến tư vấn và định ra các thủ tục để đưa ra yêu cầu đó. Thỏa thuận này cũng có thể quy định rằng các quốc gia thành viên của thỏa thuận sẽ được thành lập một cơ quan và ủy quyền cho cơ quan đó yêu cầu ý kiến tư vấn nếu thấy rằng ý kiến tư vấn sẽ hỗ trợ được việc thực hiện các chức năng và mục tiêu của mình.

Thứ ba, ý kiến tư vấn phải là về một vấn đề pháp lý. Điều này được hiểu là một vấn đề pháp lý liên quan đến Công ước. Tòa nhiều khả năng sẽ đi theo những án lệ của Tòa án Công lý Quốc tế khi xác định liệu đó có phải là một vấn đề pháp lý hay không.

Như vậy, một số hoặc tất cả các quốc gia yêu sách ở Biển Đông sẽ có thể yêu cầu ý kiến tư vấn về các vấn đề pháp lý liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng UNCLOS nếu các quốc gia này tham gia vào một thỏa thuận quốc tế liên quan đến các mục đích của Công ước. Thỏa thuận này cũng có thể ủy quyền cho một cơ quan để yêu cầu ý kiến tư vấn từ tòa ITLOS về các vấn đề pháp lý liên quan đến các chức năng và mục đích của mình. Các quốc gia yêu sách có thể tham gia vào một thỏa thuận quốc tế về việc hợp tác trong việc làm rõ quy chế của các thực thể ở nhóm đảo Trường Sa. Thỏa thuận này có thể thiết lập một cơ quan kỹ thuật để rà soát các thực thể nhằm xác định những thực thể nằm hoàn toàn dưới nước lúc thủy triều thấp, thực thể nào là đảo nửa chìm nửa nổi, thực thể nào đáp ứng yêu cầu về đảo theo Điều 121(1), và thực thể nào có thể được coi là đá theo Điều 121(3). Từ đó, điều ước này có thể ủy quyền cho cơ quan kỹ thuật yêu cầu ý kiến từ vấn từ tòa ITLOS về các vấn đề pháp lý liên quan đến chức năng và trách nhiệm của mình.

Một vấn đề có thể phát sinh là liệu các quốc gia không phải là bên ký kết của thỏa thuận đó có quyền đưa ra lập luận với Tòa về một vấn đề pháp lý hay không nếu quốc gia đó tin rằng mình có lợi ích trong vấn đề được nêu ra. Một vấn đề khó khăn hơn là liệu một quốc gia yêu sách không phải là thành viên của thỏa thuận có thể can thiệp để tranh luận rằng Tòa không nên đưa ra ý kiến tư vấn đối với một vấn đề pháp lý nhất định bởi ý kiến đó có thể phương hại tới các quyền của họ trong một tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đang tiếp diễn.

Nhìn chung, do Trung Quốc đã tuyên bố “loại trừ” hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc theo Mục 2 đối với các tranh chấp chủ quyền và phân định biên giới biển, nên các lựa chọn để giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp mang tính ràng buộc là khá hạn chế. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là con đường đi đến việc giải quyết tranh chấp mang tính ràng buộc đã hoàn toàn khép lại. Việc Philippines giành thắng lợi trong vụ kiện Trung Quốc đã mở ra một trang mới cho các nước tồn tại tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh ở Biển Đông. Thời gian tới, các nước liên quan tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông có thể nghiên cứu, học theo cách Philippines kiện Trung Quốc để tìm ra cách giải quyết tranh chấp ở Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế.

BDN

Loading

Views: 0

Mục tiêu và ý nghĩa thực sự của COC với Biển Đông

Mục tiêu ưu tiên khi xây dựng COC, trước mắt là tạo ra môi trường hòa bình, ổn định để các bên tranh chấp có điều kiện thuận lợi cùng nhau giải quyết…

Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam xin trân trọng giới thiệu phần còn lại của bài phân tích các diễn biến mới nhất về tiến trình đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông của Tiến sĩ Trần Công Trục.

Bài viết này tiếp theo phần 1 “Đừng biến COC thành bác sỹ phẫu thuật có khả năng ghép nối lưỡi bò”

4. Về nội dung “Tự kiềm chế/Thúc đẩy lòng tin và sự tín nhiệm”

Có 2 sự lựa chọn: Lựa chọn đầu tiên được liệt kê bởi Indonesia gồm bốn biện pháp: đối thoại giữa các quan chức quốc phòng và quân đội, đối xử nhân đạo với người gặp nạn, tự nguyện thông báo về các cuộc tập trận chung hay kết hợp sắp diễn ra, và thường xuyên trao đổi thông tin liên quan.

Lựa chọn thứ hai: có 5 điểm do Trung Quốc đề xuất, một đề xuất do Philippines và điểm cuối cùng được đề xuất chung bởi Trung Quốc và Philippines.

Điểm đầu tiên Trung Quốc đề xuất: “các hoạt động quân sự trong khu vực là để dẫn tới tăng cường lòng tin lẫn nhau”.

Đề xuất thứ hai Trung Quốc kêu gọi: giao lưu giữa các lực lượng quốc phòng và quân đội bao gồm “tàu quân sự ghé thăm cảng của nhau và tuần tra chung một cách thường xuyên”.

Đề xuất thứ 3 kêu gọi: “thường xuyên tập trận chung giữa Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN”.

Điểm thứ tư Trung Quốc đề xuất: “các bên sẽ thiết lập một cơ chế thông báo các hoạt động quân sự, và thông báo cho nhau các hoạt động quân sự chính nếu thấy cần thiết.

Các bên không được tập trận chung với các nước ngoài khu vực, trừ khi các bên liên quan đã được thông báo trước và không phản đối”

Điểm đề xuất thứ năm của Trung Quốc lưu ý rằng: các tàu và máy bay quân sự được hưởng quyền miễn trừ quốc gia và được “miễn trừ tài phán bởi bất cứ quốc gia nào khác ngoài quốc gia mà tàu đăng ký”.

Hơn nữa, tàu và máy bay quân sự được hưởng quyền tự vệ, “nhưng phải có sự lưu tâm thích đáng đến các tàu và máy bay quân sự của bên còn lại…”.

Việt Nam đã đưa ra một bảng đề xuất riêng của mình thay thế toàn bộ những điểm nêu tại nội dung này.

Việt Nam đề nghị rằng, các quốc gia ký kết tôn trọng “các vùng biển được quy định và thiết lập phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

Việt Nam cũng đề xuất rằng, “các quốc gia ký kết cần cung cấp thông báo trước 60 ngày về cuộc tập trận chung/kết hợp sắp diễn ra” ở Biển Đông.

Việt Nam cũng đề xuất một hướng dẫn cụ thể về những gì quốc gia ký kết không nên làm, bao gồm xây dựng trên bất kỳ đảo nhân tạo nào, quân sự hóa các thực thể, phong tỏa tàu chở lương thực hay luân chuyển nhân sự, tuyên bố Khu vực Nhận diện Phòng không và tiến hành các các cuộc mô phỏng tấn công tàu và máy bay của các quốc gia khác.

5. Về vai trò của bên thứ ba

Các bên thứ ba là những quốc gia không tham gia ký COC. Không có quy định nào trong văn bản về việc các bên thứ ba có trách nhiệm hay các quyền được tham gia, với tư cách là chủ thể hay đối tượng áp dụng của COC, nếu có hoạt động nhằm thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong Biển Đông.

Vì vậy, Brunei đề xuất rằng, “sau khi COC có hiệu lực, các bên có thể đề xuất lên Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ra Nghị quyết hai năm một lần để đảm bảo tất cả các quốc gia khác tôn trọng những nguyên tắc có trong COC…”.

Trong khi đó, đề xuất của Trung Quốc chủ yếu nhằm ràng buộc các quốc gia thành viên ASEAN ký kết COC phải hạn chế, nếu như không phải là loại trừ hoàn toàn sự tham gia của các bên thứ ba.

Có thể nói, đây là chủ trương xuyên suốt “phi quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông mà Trung Quốc đã và đang theo đuổi.

6. Về tính chất của COC

Văn bản chưa có quy định nào cho thấy COC là một Hiệp ước theo luật quốc tế. Vì vậy, Việt Nam đề xuất rằng các quốc gia thành viên “đồng ý ràng buộc bởi Bộ Quy tắc Ứng xử hiện hành…”.

COC “phải được phê chuẩn theo thủ tục nội bộ tương ứng của các quốc gia ký kết”và Việt Nam và Brunei đều đề nghị rằng khi ký kết COC các quốc gia thành viên không có quyền bảo lưu bất kỳ một quy định nào.

Văn bản phê chuẩn sẽ được gửi cho Tổng thư ký ASEAN – người “sẽ đăng ký” COC theo đúng điều 102 Hiến chương Liên Hợp quốc…

Mặc dù, còn có những vấn đề chưa thật chi tiết, rõ ràng về tính chất pháp lý của COC, văn bản này vẫn đang là một “tài liệu sống”, nghĩa là các bên vẫn có quyền thêm hoặc bớt trong văn bản dự thảo, sao cho COC khi được ký kết sẽ là một văn bản có tính ràng buộc về mặt pháp lý.

Tuy nhiên, với những nội dung cụ thể đã được thể hiện trong Văn bản duy nhất để đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử COC, kể cả những ý kiến đề xuất của các bên tham gia, có thể thấy rằng đã có những chuyển biến tích cực bước đầu theo chiều hướng COC là một văn bản có tính ràng buộc về pháp lý đối với các bên tham gia ký kết, chứ không còn chỉ là một văn kiện chính trị theo quan điểm của Trung Quốc khi thông qua “Khung COC”.

Trong nội dung này, chúng tôi cũng xin lưu ý rằng, văn bản này đã lặp lại những từ ngữ trong “Khung COC”: đây “không phải là một văn kiện để giải quyết tranh chấp lãnh thổ hoặc phân định biển” khiến nhiều người hoài nghi về hiệu lực của COC.

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cụm từ này được nêu lại trong văn bản là có ý nghĩa thực tế, phù hợp với bối cảnh Biển Đông đang tồn tại những loại tranh chấp khác nhau, rất phức tạp và chồng chéo.

Không thể giải quyết chỉ trong một sớm một chiều và chỉ bằng một bộ “Quy tắc Ứng xử”(Code of Conduct) mà các bên tham gia mong muốn xây dựng để tạo ra hành lang pháp lý để xử lý các quan hệ rất phức tạp trong Biển Đông, có nguy cơ khiến cho tình hình Biển Đông có khả năng rơi vào tình trạng chiến tranh, xung đột, bất ổn…

Hơn nữa, mục tiêu ưu tiên khi xây dựng COC, trước mắt là tạo ra môi trường hòa bình, ổn định để các bên tranh chấp có điều kiện thuận lợi cùng nhau giải quyết các loại tranh chấp một cách cơ bản, lâu dài thông qua các biện pháp hòa bình.

Phải chăng, chính vì thế mà ở phần 2, những nguyên tắc chung, Malaysia đã nhấn mạnh thêm:

“Các bên tiếp tục công nhận rằng COC không giải quyết hoặc không ảnh hưởng đến lập trường của các bên về các vấn đề pháp lý liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về ranh giới biển hoặc các quyền lợi biển mà các bên được hưởng theo luật quốc tế về biển và được ghi nhận/phản ánh trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982?”.

Để có được một COC đáp ứng mong muốn, kỳ vọng của cộng đồng khu vực và quốc tế, các quốc gia tham gia đàm phán sẽ còn vượt qua nhiều khó khăn, trắc trở.

Bởi vì, đây là một công trình vẫn còn đang trong tiến trình mà dự kiến sẽ trải qua ít nhất ba lần thảo luận trước khi tiến tới một Bộ Quy tắc cuối cùng về Ứng xử ở Biển Đông. Tuy vậy, với việc thông qua văn bản này cũng là một thắng lợi đáng ghi nhận.

Chúng tôi tin tưởng các quan chức được các quốc gia thành viên đề cử tham gia đàm phán sẽ hoàn thành trọng trách của mình, với tư cách không chỉ là những chính khách, mà phải còn là những chuyên gia pháp lý, khoa học, kỹ thuật có tâm và có trình độ chuyên môn cao.

Loading

Views: 0

Những kẽ hở pháp lý trong bản đồ Biển Đông 1951 của TQ

Truyền thông Trung Quốc mới đưa tin, các nhà khoa học nước này đã phát hiện một bản đồ lịch sử phân định ranh giới hành chính và quốc gia của Trung Quốc ở Biển Đông. Điều đó có nghĩa là gì khi Trung Quốc đang tích lũy bằng chứng để củng cố quyền lãnh thổ của mình cho tuyên bố về “Đường 9 đoạn” ở Biển Đông. 

Giáo sư Carl Thayer thuộc Đại học New South Wales ở Canberra, Học viện Quốc phòng Australia, đã có những nhận định như sau: Trong luật pháp quốc tế, một bản đồ không thể được dùng để khẳng định chủ quyền về lãnh thổ, trừ phi nó được gắn với một hiệp ước. Bản đồ 1951 “mới phát hiện” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý, nó không phải do Chính phủ Trung Quốc ban hành mà chỉ được Câu lạc bộ Guanghua and Geosciences đưa ra. Phát hiện này không trao cho Trung Quốc quyền có được chủ quyền ở đó.

Theo Luật pháp quốc tế, tuyên bố chủ quyền lãnh thổ phải dựa trên sự chiếm đóng và quản trị liên tục. Hoàn toàn không có bằng chứng cho thấy cộng đồng quốc tế chấp nhận bản đồ này. Rất đơn giản, những đặc điểm mà các nhà khoa học Trung Quốc nay tuyên bố hoặc là bị các cường quốc thực dân chiếm đóng hoặc là bị bỏ không (và có khả năng không thể sinh sống được) tại thời điểm đó.

Theo luật pháp quốc tế, vùng đất phải cao hơn mặt biển và Philippines, Việt Nam, Malaysia đều được hưởng một Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý tính từ đường cơ sở ven biển.

Nếu Trung Quốc chính thức thông qua bản đồ này thì sẽ tuyên bố chủ quyền đối với các vùng nước và nguồn tài nguyên bao trùm lên các khu vực mà các quốc gia ven biển có quyền tài phán chủ quyền. Điều này sẽ làm trầm trọng thêm tình hình hiện tại vì Tòa Trọng tài đã nghe những khiếu kiện của Philippines chống Trung Quốc và đã ra phán quyết về vấn đề này.

Nếu Chính phủ Trung Quốc chấp nhận bản đồ này, sẽ dẫn đến một cuộc đối đầu thực chất giữa hải quân, cảnh sát biển và ngư dân Trung Quốc với những nước ven biển khu vực khi tiếp cận các nguồn tài nguyên trên biển. Đó sẽ là bước khởi đầu cho sự kích động và thụt lùi.

Nếu Trung Quốc tuyên bố một đường ranh giới hình chữ U liền kề mới thì sẽ tự đưa mình vào một cuộc xung đột với những cường quốc hàng hải chính thường xuyên có có tàu thuyền và máy bay qua khu vực này.

Chúng ta biết từ các nghiên cứu lịch sử rằng bản đồ năm 1947 do nước Cộng hòa Trung Hoa (ROC) vẽ ra, trước khi buộc phải đưa đến Đài Loan, về cơ bản lấy từ các bản vẽ tạm thời của hải quân Anh giai đoạn đó vì ROC không có phương tiện để tiến hành các cuộc khảo sát. Các nhà vẽ bản đồ của ROC đã sao chép các đặc trưng trên bản đồ của hải quân Anh, kể cả những lỗi mà sau này được hải quân Anh chữa lại, và tìm cách chuyển các tên tiếng Anh sang tiếng Trung.

Các quan chức ROC không quen với các thuật ngữ về hàng hải và đã gặp nhiều khó khăn khi chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Trung. Chẳng hạn, bãi James Shoal ban đầu được dịch như một dải cát và nay được gọi phổ biến là rạn san hô. Trên cơ sở đó, Trung Quốc tuyên bố bãi James Shoal là vùng đất xa nhất của nước này ở Biển Đông. Thực tế, bãi James Shoal nằm ngập dưới nước hơn 20m. Tóm lại, có khả năng là một bản đồ được vẽ vào năm 1951 tiếp tục có những lỗi tương tự như vậy.

Một bản đồ không có vị thế cụ thể trong luật pháp quốc tế để hỗ trợ cho một tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc cần cung cấp bằng chứng chiếm đóng và duy trì quyền quản lý liên tục đối với những thực thể đất đó (các đảo và bãi đá). Khẳng định rằng cộng đồng quốc tế chấp nhận bản đồ này là không đúng thực tế. Pháp tiếp tục chiếm giữ các đảo đá ở quần đảo Hoàng Sa cho tới tận năm 1954. Vào thời điểm đó, Việt Nam và Malaysia chưa phải là một đất nước độc lập.

Đường hải giới 11 đoạn ban đầu của ROC đã được chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) giảm xuống còn 9 đoạn và rồi trong những năm gần đây mở rộng lên 10 đoạn bao gồm cả Vùng lãnh thổ Đài Loan. Nói cách khác, những đường ranh giới này có thể thay đổi để phù hợp với các mục tiêu chính trị của Bắc Kinh.

Có ý kiến cho rằng bản đồ năm 1951 mới được phát hiện có thể được dùng làm cơ sở phân định ranh giới chính xác cho những tuyên bố lịch sử của Trung Quốc về chủ quyền ở khu vực này khi phải đối mặt với cả lịch sử và luật pháp quốc tế. Các nhà khoa học Trung Quốc dường như đang tìm cách thúc đẩy tuyên bố đối với các quyền lịch sử rằng phán quyết của Tòa trọng tài thường trực đưa ra trong vụ kiện của Philippines chống Trung Quốc là không hợp lệ. Các quyền lịch sử được định nghĩa rõ ràng trong luật quốc tế bao gồm các khu vực hàng hải liền kề được chia sẻ thông thường giữa hai hay nhiều quốc gia; nó không bao gồm một tuyên bố trong phạm vi toàn bộ một vùng biển như Biển Đông.

Sáng kiến hiện nay của các nhà khoa học Trung Quốc là để cung cấp độ chính xác cho Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) đường ranh giới 9 đoạn của Trung Quốc bằng cách liên kết các dấu gạch ngang và xác định chiều rộng của chúng, để từ đó tuyên bố toàn bộ các nguồn tài nguyên trong vùng nước và đáy biển kèm đường ranh giới mới này là một ví dụ cho chủ nghĩa siêu dân tộc Trung Quốc nếu không phải là chủ nghĩa Đại Hán.

Tuyên bố của Trung Quốc hoàn toàn bác bỏ các quyền của người dân bản địa ở những nước ngày nay là Philippines, Việt Nam, Malaysia và Indonesia, những nước đã sở hữu vùng biển này từ rất lâu trước khi ngư dân và nhà thám hiểm Trung Quốc xuất hiện.

Như đã nói ở trên, Tòa Trọng tài nhận thấy đường ranh giới 9 đoạn của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở trong luật pháp quốc tế. Tòa cũng phán quyết rằng Trung Quốc không thể bao vây quần đảo Trường Sa bằng một đường cơ sở đó. Tuyên bố chủ quyền khu vực hàng hải phải bắt nguồn từ đất liền. Tòa đã phán quyết không hòn đảo nào trong quần đảo này có ý nghĩa pháp lý. Do đó, không có bất kỳ đảo hay bãi đá nào mà Trung Quốc tạo ra có thể yêu cầu EEZ 200 hải lý. Quy định hợp pháp này phủ nhận tuyên bố của các nhà khoa học Trung Quốc đối với tất cả các nguồn tài nguyên nằm trong đường 9 đoạn đó.

Nỗ lực của các nhà khoa học Trung Quốc nhằm chứng minh một tuyên bố lịch sử bất hợp pháp có thể làm gián đoạn nghiêm trọng các cuộc đàm phán đang diễn ra giữa Trung Quốc với các nước thành viên ASEAN nhằm đạt Bộ quy tắc ứng xử ràng buộc về mặt pháp lý của các bên ở Biển Đông. Sự không trung thực của các nhà khoa học Trung Quốc đó sẽ đánh vào quyền tự do hàng hải và quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên mà các nước có tuyên bố chủ quyền ở Đông Nam Á vốn được hưởng một cách hợp pháp.

Trang mạng Asia Times bình luận về bản đồ 1951 rằng phát hiện “chỉ mới được tìm thấy” thông qua một cuộc nghiên cứu tư liệu quốc gia này có thể là ý đồ mới nhằm củng cố, thậm chí là mở rộng những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trong vùng Biển Đông, một cái cớ để Bắc Kinh chứng minh về mặt pháp lý tấm bản đồ có “Đường 9 đoạn” của nước này. “Đường chữ U” (hay “Đường lưỡi bò”) trong tấm bản đồ in năm 1951 được nối liền liên tục, thay vì đứt đoạn như trong tuyên bố gần đây của Trung Quốc.

Tuy “phát hiện” được cho là kết quả tìm tòi của các nghiên cứu độc lập nổi tiếng ở Trung Quốc, song học giả Richard Javad Heydarian, hiện đang làm việc tại Manila và hợp tác với Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cũng như Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR) lại đặt câu hỏi liệu kết quả này có bị Chính phủ Trung Quốc tác động hay không, nhất là trong bối cảnh dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, các viện hàn lâm tại quốc gia này thường bị kiểm soát khá chặt chẽ.

Nghi vấn này được cho là rất có cơ sở bởi ngày 22/4 vừa qua tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng đã tiết lộ việc Trung Quốc đang thực hiện một sự án nghiên cứu hải dương, với mục tiêu vạch ra “đường ranh giới mới” trên Biển Đông với cái gọi là “Đường 9 đoạn” hay “đường lưỡi bò” nối liền.

Thực tế, nhiều chuyên gia cho rằng đây là nỗ lực mới nhất của Bắc Kinh nhằm khôi phục hình ảnh của mình sau thất bại về mặt pháp lý trong vụ kiện tại Tòa Trọng tài vào năm 2016.

Asia Times bình luận: “Nếu Bắc Kinh thừa nhận các tuyên bố của giới học giả, căng thẳng âm ỉ với các nước tuyên bố chủ quyền nhỏ bé hơn ở Đông Nam Á, những nước phản đối gay gắt việc Trung Quốc tăng cường sự hiện diện về mặt quân sự và có những hoạt động bồi đắp quy mô lớn, sẽ lại bùng lên”. Điều rõ ràng hơn mà người ta có thể dự đoán được là Trung Quốc sẽ vẫn quyết tâm tìm cách đưa ra những bằng chứng và lý lẽ pháp lý “nửa mùa” để bao biện cho tham vọng của mình ở Biển Đông.

BDN

Loading

Views: 0

Chuyên gia Mỹ lo 20 năm nữa vẫn chưa có COC ở Biển Đông

Chuyên gia Biển Đông Gregory Poling cho rằng chưa có dấu hiệu thể hiện Trung Quốc muốn đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử công bằng với ASEAN.

Hình ảnh căn cứ ở đá Subi trên Biển Đông do Trung Quốc xây dựng trái phép hồi tháng 4 năm ngoái. Ảnh: FP.

“Tôi hoàn toàn nghĩ rằng có rủi ro trong tiến trình đàm phán COC hiện nay. ASEAN và Trung Quốc đã bàn về nó trong 20 năm qua và tôi đồ rằng họ sẽ mất thêm 20 năm nữa”, ông Gregory Poling, Giám đốc Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI), Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS), Mỹ, trả lời câu hỏi của VnExpress trong cuộc họp báo chiều 30/1 tại Hà Nội.

Hồi giữa tháng 11 năm ngoái, các lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí bắt đầu thảo luận COC dựa trên khung mà các ngoại trưởng đã thông qua trong tháng 8/2017. Dự kiến hai bên bắt đầu đàm phán vào đầu năm nay.

Chuyên gia kỳ cựu của CSIS nhận thấy không có dấu hiệu chứng tỏ Trung Quốc đàm phán nghiêm túc một COC công bằng với ASEAN. Nếu như các nước thành viên của Hiệp hội, bao gồm cả Việt Nam theo đuổi COC, dừng những nỗ lực khác ở Biển Đông, sẵn sàng ngăn chặn các hành động gây hấn, thì Trung Quốc vẫn tiếp tục xây dựng các căn cứ quân sự, vẫn triển khai các thiết bị quân sự ở khu vực này.

“Dần dần, Bắc Kinh sẽ giành lợi thế trước các nước cùng có yêu sách ở Biển Đông. Cuối cùng họ sẽ biến đường 9 đoạn thành hiện thực, kể cả khi không ai chấp nhận tính hợp pháp của nó”, ông Poling cảnh báo.

Trước tình hình đó, chuyên gia CSIS cho rằng các nước ASEAN không nên coi COC là lựa chọn duy nhất ở Biển Đông, mà song song với nó, cần thực hiện các nỗ lực khác. Đó là chú trọng xây dựng năng lực của cảnh sát biển và hải quân, chuẩn bị sẵn để đối phó với các tình huống trên biển, khi Trung Quốc tăng cường sức mạnh với máy bay, tàu và cả lực lượng ngư dân. Các thành viên ASEAN cần đầu tư cho các mối hợp tác với các nước quan tâm đến tình hình ở Biển Đông, không chỉ là Mỹ, Australia hay Nhật Bản.

Mặc dù không lạc quan về tiến trình COC nhưng ông Poling đánh giá các nước ASEAN không nên dừng đàm phán bộ quy tắc này, bởi vì nó vẫn có giá trị khi các nước ASEAN thảo luận với Trung Quốc về quy tắc hành xử trên biển. Các nước có yêu sách ở Biển Đông cần nhận thức rằng COC nên có phạm vi bao quát rộng hơn, để lôi kéo các nước không có quyền lợi trực tiếp tham gia. Các vấn đề nên được thảo luận là hoạt động của cảnh sát biển, quản lý nghề cá hay phát triển dầu khí. Thực tế ở Đông Nam Á có nhiều vấn đề mà không liên quan trực tiếp đến tất cả 10 thành viên như sông Mekong hay eo biển Malacca.

“Tôi cho rằng đây là lúc các nước thành viên ASEAN có yêu sách ở Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam, Philippines, Malaysia và Indonesia bắt đầu nói về điều mình muốn ở COC, thay vì để Trung Quốc chi phối thảo luận”, ông Poling nói.

Giám đốc AMTI đang có chuyến đi đến các nước ASEAN, thảo luận với các bên để thúc đẩy sáng kiến Quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông. Ông kỳ vọng kế hoạch này sẽ giúp các nước thành viên ASEAN có thoả thuận với nhau để đặt lên bàn thảo luận với Trung Quốc, chứ không phải hỏi Bắc Kinh “Các ông muốn bàn gì nào”. Sau trạm dừng chân đầu tiên ở Việt Nam, ông Poling sẽ đến Jakarta, Indonesia.

BDN

Loading

Views: 0

‘Sẽ thu hồi toàn bộ sách nếu đưa sai trái về chủ quyền Biển Đông’

Cuốn sách lịch sử với các chi tiết sai trái về chủ quyền Biển Đông.

Cục trưởng Cục xuất bản Chu Văn Hòa: ‘Sẽ thu hồi toàn bộ sách nếu đưa sai trái về chủ quyền Biển Đông’

Cuốn sách dịch “Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc” của tác giả Trung Quốc Cát Kiếm Hùng do NXB Văn hoá thông tin xuất bản đã đưa những thông tin sai trái, xuyên tạc lịch sử, về chủ quyền Biển Đông của Việt Nam (và của Trung Quốc). Sau khi Một Thế Giới đăng bài vạch trần sai trái này, phóng viên đã liên lạc với Cục xuất bản để làm rõ hơn về vấn đề này.

Cụ thể, bộ sách (cũng đang được bán trên mạng) này gồm 3 tập trong đó tập 3 nói về triều đại nhà Minh và nhà Thanh. Chuyện lịch sử của Trung Quốc sẽ không có gì đáng nói nếu như sách không đưa những thông tin sai trái, không đúng với lịch sử về chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.

Tại trang 390 thuộc mục 3, chương 4 nói về cương vực lãnh thổ nhà Thanh dưới triều vua Khang Hy, sách viết: “Bắt đầu từ ngày hoàng đế Khang Hy thống trị, cương thổ của nước Trung Quốc phía đông đến bờ biển Thái Bình Dương, phía nam đến quần đảo Nam Sa, phía tây vượt qua Thông Lãnh, phía bắc tiếp giáp Tây Bắc Lợi Á (nv: tức là Siberia của Nga). Có thể nói, trước vương triều nhà Thanh chưa có một vương triều phong kiến nào ở Trung Quốc lại có bản đồ rộng lớn và thống nhất một cách hữu hiệu lâu dài như thế“.

Tiếp đến, trang 403 thuộc mục 4, chương 5 nói về xác định biên cương của Trung Quốc trong thời kỳ vương triều nhà Thanh lại viết tiếp: “Trong thời kỳ Càn Long của vương triều nhà Thanh, cương thổ Trung Quốc bắt đầu từ Đài Loan, chạy dài cho tới hồ Balkhash ở phía tây bắc, còn phía tây nam bắt đầu từ biên giới Vân Nam, chạy dài cho tới Ngoại Hưng An Lĩnh; phía nam xuống tận cả đảo Nam Hải, phía bắc lên đến Kháp Khắc Đồ, phía đông đến đảo Sakhalin; phía tây đến Thông Lãnh. Tất cả nguồn đất đó đều nằm dưới sự cai quản của chính phủ trung ương vương triều nhà Thanh“.

Những chi tiết sai trái về chủ quyền Biển Đông của Việt Nam (và của Trung Quốc) trong sách do tác giả Trung Quốc Cát Kiếm Hùng chủ biên, NXB Văn hoá thông tin liên kết xuất bản với Cty Văn hóa Minh Trí-NS Văn Lang dịch và phát hành

Trước hết cần phải khẳng định những chi tiết nêu trên hoàn toàn sai trái về mặt lịch sử. Đặc biệt, người Việt Nam thì càng hiểu rõ cha ông ta từ xưa đã khẳng định chủ quyền một cách liên tục ở Hoàng Sa và Trường Sa từ trước khi người Mãn Thanh nhập quan thống trị Trung Quốc vào năm 1644 chứ không phải là đợi đến khi Khang Hy lên ngôi vào 1662 hay Càn Long đăng cơ năm 1735. Điều đáng trách nữa là trong phần bản đồ phụ lục sau đó, có đăng cả chú thích Nam Hải ở phần Biển Đông và kèm theo những đường đứt đoạn thể hiện biên giới trên biển của nhà Thanh.

Chia sẻ với phóng viên báo điện tử Một Thế Giới ngay trong sáng ngày 24.12.2017, ông Chu Văn Hòa – Cục trưởng Cục Xuất bản, In và phát hành (Bộ Thông tin và Truyền thông) cho biết: hiện nay ông mới nắm được những thông tin chưa chính xác trong cuốn sách này. “Chúng tôi sẽ cho kiểm tra lại ngay, nếu có sai phạm đặc biệt về Biển Đông thì sẽ phải cho thu hồi sách và xử lý ngay lập tức. Trong ngày mai (25.12.2017) tôi sẽ cho kiểm tra và sẽ báo lại cho truyền thông được biết” – ông Hoà khẳng định.

Ảnh chụp trang sách ghi NXB Văn hóa Thông tin liên kết xuất bản với Công ty Văn hóa Minh Trí – NS. Văn Lang

Phóng viên đã liên lạc với Nhà xuất bản Văn hoá thông tin nhưng chưa nhận được phản hồi.

Dạ Thảo

motthegioi.vn

Loading

Views: 0

Một số khái niệm cơ bản trong Công ước của LHQ về Luật Biển 1982

Ngày 10/12/1982, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157).

 Một số khái niệm cơ bản trong Công ước của LHQ về Luật Biển 1982:

1.Đường cơ sở: Là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội thủy, do quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo định ra phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 để làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia gồm (lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa).

2.Lãnh hải hay hải phận là vùng biển ven bờ nằm giữa vùng nước nội thủy và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Chủ quyền của quốc gia đối với vùng lãnh hải không phải là tuyệt đối như đối với các vùng nước nội thủy, do có sự thừa nhận quyền qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải.

Cũng lưu ý rằng chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng hoàn toàn và riêng biệt đối với vùng trời trên lãnh hải cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của vùng lãnh hải này. Trong vùng trời phía trên lãnh hải, các quốc gia khác không có quyền tự do qua lại vô hại đối với các phương tiện bay (máy bay chẳng hạn). Đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, quốc gia ven biển cũng có toàn quyền định đoạt.

3.Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là vùng biển mở rộng từ các quốc gia ven biển. Đây là vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Quốc gia ven biển có quyền về chủ quyền, quyền tài phán và quyền kinh tế ở vùng biển này.

Quyền chủ quyền về kinh tế bao gồm các quyền đối với khai thác tài nguyên sinh vật, tài nguyên không sinh vật của cột nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Hoạt động khai thác tài nguyên trên vùng đặc quyền kinh tế đem lại lợi ích cho quốc gia ven biển như khai thác năng lượng nước, hải lưu, gió… Mọi tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn khai thác tài nguyên trên vùng đặc quyền kinh tế phải có sự xin phép và đồng ý của quốc gia ven biển.

Quyền tài phán trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển bao gồm quyền lắp đặt, sửa chữa các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên biển; quyền nghiên cứu khoa học biển; quyền bảo vệ môi trường. Các nước khác có quyền tự do bay, tự do hàng hải và đặt dây cáp, ống dẫn ngầm tại vùng đặc quyền kinh tế.

4.Thềm lục địa:

Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của Quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này cho đến bở ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn 200 hải lý. Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, quốc gia ven biển có thể mở rộng ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình tới một khoảng cách không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý.

Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình. Đây là những đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển này không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa (bao gồm các tài nguyên phi sinh vật và các tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư), thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của các quốc gia ven biển. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa tồn tại một cách “nghiễm nhiên”, không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào.

Tuy nhiên, khi tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý, quốc gia ven biển có nghĩa vụ đóng góp tài chính theo quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Việc quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đối với thềm lục địa không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền tự do của các quốc gia đều có quyền lắp đặt cáp và ống dẫn ngầm ở thểm lục địa. Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm phải thỏa thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của cáp hoặc ống dẫn ngầm./.

Loading

Views: 0