Trung Quốc được cho là đang phát triển máy bay “Quái vật biển Bột Hải” có sự kết hợp các tính năng của máy bay, tàu thủy và tàu đệm khí.
Trang War Zone ngày 6/7 đăng tải hình ảnh được cho là toàn cảnh máy bay hiệu ứng cánh với mặt đất (WIG) của Trung Quốc, hay còn được gọi là “Quái vật biển Bột Hải”.
Máy bay này được phát hiện lần đầu tiên vào tuần trước bởi chuyên gia phân tích chiến tranh tàu ngầm H.I. Sutton cùng bài viết liên quan đăng tải trên Naval News ngày 30/6.
Ban đầu máy bay này lộ diện trong một bức ảnh với phần mũi bị che khuất. Trong bức ảnh đó, máy bay được chụp khi đang đậu trên một bến cảng nằm ở biển Bột Hải, vùng cực Tây Bắc của Hoàng Hải. Các bức ảnh mới cho thấy máy bay có hình dạng đuôi chữ T và hai bộ ổn định thẳng đứng, cùng với sải cánh tương đối ngắn và đuôi lớn.
“Quái vật biển Bột Hải” có sự kết hợp các tính năng của máy bay, tàu thủy và tàu đệm khí. Đây là loại máy bay 4 động cơ được thiết kế để bay ở độ cao cực thấp để tránh radar, lướt trên mặt nước, chủ yếu để vận chuyển quân nhân.
Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn chưa chính thức thừa nhận sự tồn tại của phương tiện này, hay tên chính thức và nhà sản xuất của nó vẫn chưa được biết, mặc dù thường được gọi là “Quái vật biển Bột Hải”.
Theo các nhà phân tích, máy bay bí ẩn đang được Trung Quốc thử nghiệm này có kích thước xấp xỉ loại thủy phi cơ mới AG600 của nước này vốn được thiết kế cho nhiệm vụ tiếp tế, tìm kiếm cứu nạn và các hoạt động khác.
Vì là máy bay chứ không phải tàu, nó không dễ bị tổn thương bởi mìn, tàu ngầm hay các mối đe dọa khác thường tồn tại ngay cả ở vùng biển tưởng chừng ít rủi ro.
Tuy nhiên, theo trang tin War Zone, đây không phải là khí tài có thể sống sót lâu dài trong môi trường giao tranh khốc liệt. Máy bay được cho là phù hợp với nhiệm vụ cung cấp hậu cần. Các nhiệm vụ kiểm soát biển và săn tàu ngầm cũng khả thi.
Tàu sân bay USS George Washington của Mỹ đã cập cảng Manila, Philippines vào ngày 3/7. Hoạt động này diễn ra vài ngày sau khi hai tàu sân bay Trung Quốc kết thúc tập trận ở Thái Bình Dương.
Ngày 3/7, tàu sân bay USS George Washington của Mỹ cùng tàu tuần dương USS Robert Smalls (CG-62) và tàu khu trục USS Shoup (DDG-86) đã ghé thăm cảng Manila của Philippines.
Đại diện phát ngôn của tàu, Trung tá Mark Langford, trong một tuyên bố cho biết, Hải quân Mỹ cùng các đồng minh và đối tác cam kết duy trì một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở.
Quan chức này nói thêm rằng, “những hoạt động này thể hiện cam kết về sự ổn định trong khu vực, một cam kết mà chúng tôi duy trì trong suốt nhiều năm”, đồng thời nhấn mạnh Philippines là “đồng minh lâu năm và quan trọng”.
Được biết, sự hiện diện của tàu sân bay Mỹ diễn ra vài ngày sau khi Trung Quốc thông báo hai tàu sân bay Sơn Đông và Liêu Ninh kết thúc cuộc tập trận quân sự ở vùng biển Thái Bình Dương.
Trước đó, vào hồi tháng 5, Mỹ cũng đã điều tàu tuần duyên và máy bay tuần tra biển tham gia cuộc tập trận chung ở Biển Đông với lực lượng tuần duyên cùng hải quân và không quân Philippines.
USS George Washington (CVN-73) là một tàu sân bay lớp Nimitz, chạy bằng năng lượng hạt nhân, thuộc biên chế của Hải quân Mỹ.
Tàu có chiều dài 333m, chiều rộng 78m và có tải trọng lên đến 99 tấn. USS George Washington có thể chứa khoảng 6.250 thành viên, 90 máy bay và trực thăng, tăng cường đáng kể khả năng tiến hành các hoạt động trên không, trên biển và triển khai lực lượng của Mỹ.
Đại sứ quán Trung Quốc ở Fiji hôm 3.7 bác bỏ thông tin cho rằng Bắc Kinh muốn xây dựng căn cứ quân sự hoặc mở rộng tầm ảnh hưởng ở khu vực các đảo quốc Thái Bình Dương.
Tàu cá Trung Quốc ở cảng Suva, thủ đô Fiji, hồi tháng 8.2024
Đại sứ quán Trung Quốc ở Fiji khẳng định Bắc Kinh không tìm cách sở hữu căn cứ quân sự ở Nam Thái Bình Dương, thêm rằng các khoản viện trợ cho những quốc đảo ở đây được thực hiện theo tinh thần “không ràng buộc về mặt chính trị”.
“Những tuyên bố cho rằng Trung Quốc đang muốn thiết lập căn cứ quân sự ở Thái Bình Dương là không đúng sự thật”, Reuters hôm nay 4.7 dẫn lời người phát ngôn của Đại sứ quán Trung Quốc.
Trước đó ngày 2.7, Thủ tướng Fiji Sitiveni Rabuka cho hay các quốc đảo Thái Bình Dương đang nỗ lực ứng phó với một Trung Quốc ngày càng gia tăng ảnh hưởng. Nhà lãnh đạo cảnh báo Fiji không hoan nghênh việc Bắc Kinh thiết lập sự hiện diện quân sự ở khu vực.
“Nếu họ muốn đến, ai sẽ hoan nghênh đây? Không phải Fiji”, Thủ tướng Rabuka phát biểu tại Canberra trong chuyến thăm Úc, thêm rằng phía Trung Quốc cũng hiểu rõ quan điểm của Fiji.
Ông Rabuka cho biết Fiji có hợp tác phát triển với Trung Quốc, nhưng bác bỏ khả năng Bắc Kinh thiết lập căn cứ quân sự ở khu vực. Theo ông, trong bất kỳ trường hợp nào, Trung Quốc không cần phải xây căn cứ để thể hiện sức mạnh tại khu vực.
Thủ tướng Fiji dẫn ví dụ Trung Quốc thử nghiệm tên lửa đạn đạo liên lục địa bay qua Fiji hồi tháng 9 năm ngoái. Toàn bộ hành trình từ Trung Quốc đến điểm rơi xuống vùng biển quốc tế ở Thái Bình Dương là 11.000 km.
“Nếu họ có thể nhắm chính xác vào không gian trống, họ hoàn toàn có thể nhắm chính xác vào khu vực có người”, ông Rabuka phát biểu tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia ở Canberra.
Mỹ quan ngại rằng Trung Quốc muốn thiết lập chỗ đứng quân sự tại các đảo quốc Thái Bình Dương sau khi Bắc Kinh muốn tham gia tái phát triển một căn cứ hải quân ở Papua New Guinea và một căn cứ quân sự ở Fiji. Úc đã thắng thầu cả hai dự án này sau đó. Năm 2022, Trung Quốc ký thỏa thuận an ninh với Quần đảo Solomon.
Tính đến thời điểm hiện tại, Trung Quốc đã thiết lập sự hiện diện của cảnh sát tại Quần đảo Solomon, Kiribati và Vanuatu.
Tân Hoa xã đưa tin: Hai nhóm tác chiến tàu sân bay – Liêu Ninh và Sơn Đông đã tiến hành huấn luyện xa bờ vào tháng 6/2025, với quy mô lớn, phối hợp liên binh chủng ở vùng biển trải dài từ Hoàng Hải, Hoa Đông đến Thái Bình Dương.
Tàu sân bay Trung Quốc trong lần tập trận tháng 6/2025 vừa qua.
Giới quan sát quốc tế nhận định: động thái trên cho thấy rõ hơn bước ngoặt chiến lược và phản ánh tham vọng nhất quán của Trung Quốc trong việc tái định hình cán cân quyền lực trên biển. Thông cáo chính thức của Bắc Kinh không trực tiếp nhắc đến Biển Đông, nhưng với logic địa chính trị hiện nay, vùng biển này chính là mục tiêu trọng tâm, được “định vị ngầm” trong toàn bộ bố cục chiến lược.
Diễn tập xa bờ không phải để “khoe cơ bắp” với nước ngoài một cách chung chung, mà nhằm gửi thông điệp rõ ràng đến các bên tranh chấp, đặc biệt là các nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông: Trung Quốc đã và đang sẵn sàng bảo vệ tuyên bố chủ quyền của mình bằng sức mạnh, kể cả các nhóm tác chiến tàu sân bay thực thụ – biểu tượng tối cao của quyền lực đại dương.
Xét về chiến lược, nếu như cách đây 10 năm, các tàu sân bay của nước này mới chỉ dừng ở mức thử nghiệm và diễn tập biểu dương, thì nay, Liêu Ninh và Sơn Đông đã vận hành trong đội hình tác chiến đa binh chủng, thực hành phối hợp chiến đấu trong môi trường phức hợp với mục tiêu không giấu giếm: mô phỏng các tình huống khống chế và kiểm soát vùng biển, vùng trời – kịch bản phù hợp nhất với các điểm nóng như eo biển Đài Loan hoặc vùng tranh chấp ở Biển Đông.
Về chiến thuật, việc diễn tập xa bờ theo hướng từ Hoa Đông – Thái Bình Dương xuống vùng nam Biển Đông mang ý nghĩa của một mũi giáp công từ vòng ngoài, tạo thế “ép vòng”, chuẩn bị cho khả năng tác chiến trong tình huống xung đột thực tế mà Mỹ từng triển khai trong chiến tranh lạnh. Sao chép mô hình đó, nhưng Trung Quốc làm theo chiều ngược lại: tái định vị Biển Đông thành vùng nội thủ, được bao phủ bởi lớp vỏ hỏa lực từ tàu sân bay, không quân và hệ thống tên lửa phòng thủ biển–trời.
Đáng lo ngại là sự kiện này diễn ra trong bối cảnh Biển Đông đang nổi sóng trở lại. Từ đầu tháng 6/2025, Trung Quốc tăng cường triển khai tàu khảo sát, hải cảnh và tàu dân binh vào vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và Việt Nam. Thái độ cứng rắn của Bắc Kinh khiến các cuộc tiếp xúc ngoại giao song phương và trong khuôn khổ ASEAN trở nên bế tắc. Khi đối thoại không tiến triển, thì việc công khai một đợt huấn luyện tàu sân bay quy mô lớn – với ngôn từ mang màu sắc răn đe như “mở rộng phạm vi phòng thủ”, “chiếm ưu thế trên không”, “phản công thực chiến” – chẳng khác nào một lời nhắc rằng Trung Quốc sẵn sàng áp dụng luật của kẻ mạnh nếu đàm phán không đạt được kết quả như mong muốn.
Về tổng thể, đây là một biểu hiện rõ ràng của chiến lược “kết hợp chống tiếp cận với răn đe khu vực” mà Bắc Kinh đang theo đuổi. Không chỉ nhắm đến Mỹ và các cường quốc ngoài khu vực, mà còn hướng tới việc định hình hành vi của các nước nhỏ hơn – những quốc gia thường dựa vào luật pháp quốc tế như UNCLOS hay các cơ chế pháp lý như phán quyết của Tòa Trọng tài 2016. Khi quân đội Trung Quốc tuyên bố có thể duy trì hiện diện xa bờ và tổ chức chiến đấu hiệu quả ở vùng biển xa – họ không chỉ củng cố quyền lực trên thực địa, mà còn tìm cách vô hiệu hóa vai trò ràng buộc của luật pháp quốc tế.
Sự dịch chuyển từ chiến lược “phòng thủ duyên hải” sang “kiểm soát biển sâu” – từ các nhóm tàu hải cảnh đến các cụm tàu sân bay – không chỉ là tiến hóa về quân sự, mà là một thay đổi trong phương thức cưỡng chế chiến lược. Biển Đông, nếu không có phản ứng đủ mạnh từ các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế, rất có thể sẽ bị đẩy từ trạng thái “tranh chấp pháp lý” sang “trạng thái vũ lực mặc định”.
Điều đáng lo ngại là các quốc gia ASEAN hiện nay chưa có một cơ chế phối hợp quân sự hiệu quả để đối phó với sự thay đổi cán cân này. Phần lớn vẫn đang dựa vào hải quân cận duyên, hệ thống phòng thủ ven bờ, và các hiệp định song phương với cường quốc ngoài khu vực. Trong khi đó hải quân Trung Quốc đã vượt khỏi vùng duyên hải, vươn ra đại dương và xây dựng năng lực triển khai xa – điều cho phép họ “đến trước, ở lâu, rút chậm”, và luôn đặt các nước láng giềng vào thế bị động.
Việc Trung Quốc cùng lúc điều động hai nhóm tàu sân bay và diễn tập với nội dung thực chiến là một sự kiện không thể xem nhẹ. Nó phản ánh không chỉ sự trưởng thành về mặt quân sự, mà còn là bước chuyển nguy hiểm trong tư duy chiến lược: coi Biển Đông là vùng ảnh hưởng cứng, không còn là nơi để “đàm phán mềm”. Trong bức tranh đó, Việt Nam và các nước ASEAN cần một cách tiếp cận mới, cứng rắn hơn, thay vì tiếp tục trông chờ vào lời hứa hòa bình từ một đối tác đang dùng tàu sân bay để vẽ lại biên giới chiến lược của khu vực.
Mỹ cùng một số đồng minh đang hướng đến việc ‘nhất thể’ Biển Đông và biển Hoa Đông thành một ‘chiến trường’ để ứng phó các thách thức.
Reuters dẫn lời ông Gilberto Teodoro, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines, ngày 30.6 tiết lộ giới nhà lãnh đạo quân sự các nước đang làm việc với nhau để thực thi khái niệm “một chiến trường” ở cả biển Hoa Đông và Biển Đông.
Đối phó thách thức
Giải thích cho động thái trên, Bộ trưởng Teodoro cho rằng Philippines cũng phải đối mặt với các mối đe dọa trong vùng biển tranh chấp tương tự như của Nhật Bản. “Cách thức đó liên quan sức mạnh tổng hợp trong các hoạt động, sức mạnh tổng hợp trong nhận thức về khu vực, trao đổi thông tin tình báo và củng cố sức mạnh của chúng tôi”, ông nói tại một cuộc họp báo khi công du Lithuania.
Từ tháng 4, tờ Asahi Shimbun đưa tin Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani đã đề xuất với người đồng cấp Mỹ Pete Hegseth xem biển Hoa Đông, Biển Đông, khu vực xung quanh bán đảo Triều Tiên và các khu vực lân cận là một “chiến trường”, mặt trận chung khi đề cập về khu vực quân sự đang hoạt động. Liên quan vấn đề này, Bộ trưởng Teodoro lại đánh giá việc “nhất thể hóa mặt trận” biển Hoa Đông và Biển Đông là hợp lý và cả hai đều là các khu vực biển không có biên giới trên bộ, nhưng nên loại bán đảo Triều Tiên ra khỏi “chiến trường” nhất thể này.
Trả lời Thanh Niên ngày 1.7, GS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế – Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) phân tích: “Lực lượng tàu chiến của hải quân Trung Quốc đang tăng nhanh để tăng cường kiểm soát eo biển Đài Loan, biển Hoa Đông và cả Biển Đông nhằm phục vụ cho mục tiêu của Bắc Kinh. Vì thế, Mỹ và các đồng minh hiểu rằng, một cách tiếp cận toàn diện một “chiến trường” nhất thể đối với các vùng biển trên về mặt an ninh là điều kiện quan trọng để ngăn chặn Bắc Kinh chiếm lĩnh khu vực bằng cách thống trị quân sự các tuyến hàng hải nối liền biển Hoa Đông, eo biển Đài Loan và Biển Đông. Điều này bao gồm khả năng ngăn chặn sức mạnh quân sự cứng rắn của Trung Quốc và các chiến thuật vùng xám/hỗn hợp có thể trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát khu vực”.
Chiến lược vành đai
GS Nagy phân tích thêm: “Các tuyến hàng hải trong khu vực kết nối mật thiết với nhau và bất kỳ xung đột hoặc bất ổn nào ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (Indo-Pacific) thì đều ảnh hưởng đến phần khác. Hơn nữa, để ngăn chặn quân đội Trung Quốc thống nhất Đài Loan bằng vũ lực, các nguồn lực của Mỹ và đồng minh cần có thể tiếp cận Đài Bắc từ các tuyến hàng hải nối với Philippines, Nhật Bản và thông qua Biển Đông nói chung. Chỉ có một cách tiếp cận toàn diện các vùng biển thành một “chiến trường” nhất thể thì kế hoạch của Mỹ và đồng minh mới hữu hiệu”.
Thực tế thời gian qua, Mỹ cùng các đồng minh đã đẩy mạnh củng cố vành đai quân sự kéo dài từ biển Hoa Đông đến Biển Đông. Trong cuộc tập trận chung từ ngày 21.4 – 9.5, Mỹ và Philippines đã triển khai Hệ thống Tên lửa chống hạm NMESIS và các Hệ thống Pháo phản lực cơ động cao M142 (HIMARS).
Trong đó, với tầm bắn 185 km có độ chính xác cao cùng khả năng bay thấp để né radar, NMESIS được đánh giá có khả năng tác chiến mạnh mẽ trong việc phòng thủ bờ biển và tấn công tàu chiến. Còn HIMARS có thể tác chiến hữu dụng trong nhiều trường hợp, nhất là tấn công chống đổ bộ hay nhằm vào các mục tiêu trên đất liền, điển hình như các công sự, lực lượng đồn trú ở các đảo, bãi đá…
Từ năm 2024, Mỹ cũng đã triển khai hệ thống tên lửa Typhon đến Philippines. Hệ thống này có thể phóng tên lửa chiến lược tầm trung, cũng có thể phóng cả tên lửa hành trình thông minh Tomahawk và tên lửa phòng không SM-6. Trong đó, SM-6 không chỉ có thể đánh chặn chiến đấu cơ, máy bay không người lái mà cả các tên lửa đối hải. Philippines cũng đã đặt mua các hệ thống Typhon của Mỹ.
Với các đặc điểm trên, các hệ thống phóng tên lửa Typhon, HIMARS và NMESIS góp phần khắc chế chiến lược phong tỏa, chống tiếp cận (A2/AD) mà Trung Quốc đang hình thành ở Thái Bình Dương nhằm hạn chế tiềm lực quân sự của Mỹ ở khu vực. Các hệ thống này cũng đã có mặt ở Nhật Bản, Đài Loan. Tất cả góp phần hình thành nên một vành đai ở khu vực để kiềm chế Trung Quốc.
Cùng với Mỹ, Nhật Bản cũng đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn khi tăng cường hợp tác với các đồng minh khác của Washington. Tháng 7.2024, Nhật Bản và Philippines ký kết Thỏa thuận Tiếp cận đối ứng (RAA) mang tính bước ngoặt cho phép hai nước triển khai lực lượng quân sự tại lãnh thổ của nhau. Đến tháng 6 vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước ký thêm thỏa thuận tăng cường tập trận chung song phương.
Hải quân Trung Quốc đã hoàn tất việc triển khai nhóm tác chiến tàu sân bay ở biển Philippines, trong khi nhóm tác chiến tàu sân bay đến Singapore theo khuôn khổ Chiến dịch Highmast.
Tàu sân bay Sơn Đông – Ảnh: BỘ QUỐC PHÒNG TRUNG QUỐC
Nhóm tác chiến tàu sân bay (CSG) Liêu Ninh của Hải quân Trung Quốc hôm 20.6 quay trở lại biển Hoa Đông sau khoảng 25 ngày triển khai ở biển Philippines. Một số tàu chiến nổi hoạt động trong nhóm tàu Liêu Ninh cũng đi vào biển Hoa Đông hôm 21.6.
Còn CSG Sơn Đông đã đi vào Biển Đông hôm 23.6, kết thúc đợt triển khai kéo dài 16 ngày tại khu vực biển Philippines, theo USNI News hôm 24.6.
Văn phòng Tham mưu Liên quân Nhật Bản (JSO) đã công bố thông tin về hoạt động của hai nhóm tác chiến tàu sân bay Trung Quốc.
Theo thông báo hôm 20.6, tàu sân bay Liêu Ninh (số hiệu 16) cùng 5 tàu khác, lần lượt là tàu tuần dương Nam Xương (101) và Vô Tích (104), tàu khu trục Kỳ Cáp Nhĩ (121) và Đường Sơn (122), cùng tàu tiếp dầu Hồ Luân Hồ (901), di chuyển theo hướng tây bắc, vượt qua vùng biển giữa đảo Okinawa và đảo Miyako để tiến vào biển Hoa Đông.
Thông báo hôm 23.6 ghi nhận một số tàu hải quân Trung Quốc, bao gồm tàu sân Sơn Đông (17), đã tiến vào biển Đông.
JSO cho hay cả hai nhóm tàu sân bay của Trung Quốc đều bị theo dõi sát sao bởi các tàu khu trục của Nhật Bản, gồm tàu JS Murasame (DD-101) và tàu JS Ikazuchi (DD-107), cùng tàu tiếp dầu JS Towada (AOE-422).
Lực lượng phòng vệ trên không Nhật Bản (JASDF) cũng điều động máy bay chiến đấu ứng phó trước những hoạt động cất cánh từ tàu sân bay Trung Quốc.
2 tàu sân bay Trung Quốc ra Thái Bình Dương, lần đầu tiên vượt chuỗi đảo thứ hai
Trước đó, một tàu khu trục của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản (JMSDF) cũng đã vượt qua eo biển Đài Loan vào ngày 12.6, theo truyền thông Nhật Bản.
tàu sân bay HMS Prince of Wales
Trong những diễn biến khác, tàu tuần tra của Hải quân Hoàng gia Anh HMS Spey (P234) thực hiện chuyến đi ngang eo biển Đài Loan hôm 18.6, trong khi một tàu khu trục của lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF) đi qua eo biển hôm 16.6, Kyodo News đưa tin.
Trong khi đó, nhóm tác chiến tàu sân bay Anh, dẫn đầu là tàu sân bay HMS Prince of Wales hôm 23.6 đã đến Singapore theo một phần Chiến dịch Highmast kéo dài 8 tháng nhằm củng cố sự hiện diện quân sự và ngoại giao của Anh ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Đây là chuyến thăm cảng chính thức đầu tiên của tàu sân bay Anh HMS Prince of Wales tại khu vực.
HMS Prince of Wales là một trong hai tàu sân bay của Hải quân Anh, với lượng giãn nước 65.000 tấn, chiều dài 284 m.
Tàu có thể chở theo tối đa 1.600 thủy thủ và mang theo 36 tiêm kích tàng hình F-35B cũng như 4 trực thăng Merlin.
Có thể nói, những lần đi thực tế trong, ngoài tỉnh hơn 30 năm làm Báo Bình Thuận, tôi vinh dự được tháp tùng Lữ đoàn 146 (Vùng 4 Hải quân) ra chúc Tết Nguyên đán Nhâm Thìn năm 2012 cán bộ, chiến sĩ Trường Sa đã để lại ấn tượng khó quên. Và trong chuyến hải trình ấy, một lần mạo hiểm đến với đảo nổi An Bang là chiến thắng được bản thân trước vùng biển khắc nghiệt nổi tiếng này ở phía Nam Trường Sa.
Đảo nổi An Bang. Ảnh: Lê Phúc.
Khắc nghiệt An Bang
Thường vào thời điểm cuối năm âm lịch, sóng to gió lớn nên việc tiếp cận hòn đảo nhỏ phía Nam Trường Sa là trở ngại nhất. Trên con tàu Trường Sa 22 ngày ấy thả neo cách đảo 3 km, chờ biển bớt sóng, thuyền trưởng mới lệnh thả ca nô để mọi người có thể vào bờ. Thượng tá Nguyễn Hồng Quân, Phó Lữ đoàn trưởng Quân sự Lữ đoàn 146 (Vùng 4 Hải quân), Trưởng đoàn công tác khi ấy nói với cánh phóng viên tháp tùng rằng: “Vùng biển An Bang không mấy thuận lợi, ngoài cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ, đối với các nhà báo không nhất thiết lên đảo; ai cảm thấy sức khỏe không phù hợp lắm, các bạn có thể ở lại tàu cũng được để đảm bảo an toàn”. Hơn 20 phóng viên hôm ấy đều do dự, nhưng phần đông “máu nhà báo” đã trội hơn cả; cuối cùng 15 người trong chúng tôi đã quyết định vào đảo. Phía gần trước mặt, đảo An Bang nổi lên giữa vùng biển nước xanh biêng biếc, xung quanh đầy những cơn sóng lớn vỗ bờ đảo trắng như thử thách những người làm báo. Sóng mạnh, xuồng tải nhỏ tròng trành phía dưới, mọi người đáp thang dây xuống ca nô thật khó khăn, phải nhờ sự hỗ trợ nâng đỡ của các chiến sĩ bên dưới. Cứ đủ “quân số” 7- 8 người trên xuồng, hai chiếc xuồng mới kèm cặp nhau vượt sóng. Hai chiếc ca nô chở đoàn chiến sĩ, phóng viên đầu tiên đã phải quay trở lại tàu, bởi sóng lớn, không thể cập bờ.
Đu dây nhảy xuồng vào đảo. Đẩy xuồng ở An Bang.
Chờ đợi đến đầu giờ chiều, tôi cùng những phóng viên khác đi chuyến xuồng thứ hai. Quả thật sóng vẫn còn lớn lắm. Tôi ngồi xuồng phía sau, không thể nhìn thấy chiếc phía trước, bởi những lớp sóng trắng xóa cạnh mạn xuồng. Tôi cũng chỉ biết cầu nguyện cho vượt qua nguy hiểm những cơn sóng bạc đầu. Có điều, chiến sĩ đảm trách tài công ca nô chúng tôi thật lão luyện, anh cầm lái canh chừng vượt qua đầu những cơn sóng lừng lững, cao to như mái nhà; cứ thế mà tiến đến gần bờ một cách an toàn. Mọi người trên xuồng thở phào nhẹ nhõm! Tuy nhiên do sóng lớn, xuồng không thể cập bờ bình thường như ở các đảo khác ở Trường Sa. Cách bờ chừng hai chục mét, một nhân viên kỹ thuật trên xuồng ném mạnh sợi dây thừng to dài cho vài chiến sĩ mang áo phao đang bơi ra nắm bắt, đem vào bờ để nhiều người cùng giữ kéo. Tài công cầm chắc tay lái hướng phía đầu mũi vào cùng lúc với con sóng lớn đẩy xuồng vào trong. Đúng lúc ấy, vài chục lính đảo nắm chắc dây thừng kéo nhanh xuồng lên bờ; bởi thiếu sự đồng bộ ấy, sóng mạnh rút xuống sẽ kéo ca nô ra biển. Lên được đảo cam go, mất nhiều thời gian, bốn chiếc ca nô quần quật với biển đến gần chiều tối mới hoàn thành nhiệm vụ đưa cán bộ, chiến sĩ, phóng viên vào nơi an toàn, cũng như đảm bảo nhu yếu phẩm, lương thực, thực phẩm, quà tết năm ấy không bị hư hỏng. Căng thẳng nhất là ca nô vận chuyển thiết bị máy móc chuyên dùng nặng hơn 500 kg của tổ Viettel vào lắp ráp trên đảo, ban chỉ huy đảo An Bang phải huy động hơn 50 chiến sĩ trong “đội cảm tử” đứng sẵn trên bờ, dưới nước mới đưa lên được.
Tàu Trường Sa 22 neo đậu vùng biển An Bang.Tác giả ở đảo Trường Sa Lớn.
Một lần trải nghiệm
Đảo An Bang thành lập “đội cảm tử” gồm những chiến sĩ to khỏe, rắn chắc, bơi lội giỏi kiêm làm nhiệm vụ kéo xuồng, hỗ trợ những đoàn khách từ đất liền ra thăm. Lính Bình Thuận khi ấy có 5 chiến sĩ ở “đội cảm tử” này, anh em hăng hái đẩy xuồng, khiêng hàng hóa vào bờ đến lúc hoàng hôn. Vài ngày ở đảo, tôi tranh thủ lên sân tập tạ của nhóm chiến sĩ trẻ đồng hương Bình Thuận phía trước tháp hải đăng An Bang. Chàng trai nào thân hình cũng rắn chắc, cơ bắp cuồn cuộn. Họ là những người lính cũ và mới, lần lượt ra An Bang làm nhiệm vụ rồi kết tình thân với nhau; như Lê Nguyễn Thanh Thuận (quê xã Đa Kai, huyện Đức Linh), Lê Trọng Sơn (xã Sơn Mỹ, huyện Hàm Tân), Đồng Nhân (thị trấn Lạc Tánh, huyện Tánh Linh), Phạm Ngọc Tú (xã Chí Công, huyện Tuy Phong). Tất cả đều tham gia “đội cảm tử” đẩy xuồng chuyển tải. Các chàng lính chia sẻ: “Vào mỗi dịp Tết Nguyên đán, chúng em đều nhận được quà tết lãnh đạo tỉnh Bình Thuận gởi tặng chiến sĩ Trường Sa”… Các chiến sĩ trẻ Bình Thuận sau này xuất ngũ, trở về quê nhà, đều được địa phương tạo điều kiện học nghề, làm việc phù hợp.
Còn ở đảo An Bang thời gian ngắn, tôi hiểu thêm về tình người chiến sĩ, giúp nhau vượt qua thử thách nơi vùng biển phía Nam sóng gió, khắc nghiệt này, cũng như các câu chuyện đầy cảm động khác. Đó là “chàng Robison” Nguyễn Văn Thu 30 năm canh giữ các ngọn hải đăng ở các đảo chìm, đảo nổi Trường Sa. Tạm biệt An Bang, chúng tôi ngồi trên 4 chiếc xuồng chuyển tải, chỉ đợi con sóng lớn ùa vào bờ, “đội cảm tử” của những chiến sĩ trẻ đẩy con xuồng theo sóng ra mép biển về lại với tàu Trường Sa 22. Chiếc ca nô đã ra xa mà những cánh tay của các chiến sĩ hải quân trên đảo vẫn còn vẫy mãi. Một chuyến đi Trường Sa đầy ấn tượng với cánh nhà báo các tỉnh, thành. Nhiều năm qua, Báo Bình Thuận bên cạnh một số phóng viên đến với Trường Sa một lần còn có hai phóng viên trẻ Hữu Phúc, Nguyễn Luân xông pha các điểm đảo Trường Sa 2 lần đều có những bài viết sinh động về cán bộ, chiến sĩ ngày đêm canh giữ vùng biển đảo. Những người làm báo trẻ khi có điều kiện hãy một lần đến với Trường Sa để có trải nghiệm quý báu về vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Ngày 18/6, Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam thông báo về việc chuyển giao thành công tàu tuần tra CSB 8022 cho Cảnh sát biển Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt – Mỹ.
CSB 8022 là tàu tuần tra thứ ba được phía Mỹ chuyển giao cho Việt Nam, tiếp nối hai tàu trước đó là CSB 8020 (trước đây là USCGC Morgenthau, bàn giao năm 2017) và CSB 8021 (trước đây là USCGC John Midgett, bàn giao năm 2020). Tàu CSB 8022 nguyên là tàu Mellon thuộc lực lượng Tuần duyên Mỹ, đã khởi hành từ Seattle, bang Washington, quá cảnh tại Hawaii và Guam trước khi cập cảng Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
Tại lễ tiếp nhận, Đại biện lâm thời Mỹ tại Việt Nam, bà Courtney Beale cùng Thiếu tướng Ngô Bình Minh, Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 đã chào đón tàu CSB 8022, đánh dấu sự kiện chiếc tàu chính thức tới Việt Nam và gia nhập lực lượng Cảnh sát biển.
“Việc chuyển giao tàu ngày hôm nay phản ánh sự phát triển không ngừng trong hợp tác an ninh giữa hai nước suốt 30 năm qua. Mỹ và Việt Nam tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nha, cam kết vững chắc hỗ trợ tầm nhìn chung về hòa bình, ổn định, thịnh vượng và an ninh ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, bà Beale nói.
Theo Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, việc chuyển giao tàu nằm trong chuỗi hoạt động hợp tác nhằm nâng cao năng lực của Việt Nam trong thực thi pháp luật trên biển, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và ứng phó thảm họa. Qua đó, hai nước tiếp tục củng cố quan hệ đối tác, đóng góp tích cực vào hòa bình và ổn định trong khu vực.
Việc bàn giao tàu CSB 8022 không chỉ góp phần tăng cường năng lực bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam, mà còn thể hiện cam kết ngày càng mạnh mẽ của hai nước trong hợp tác quốc phòng, dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau và lợi ích chung.
Hải Côn – tàu ngầm nội địa đầu tiên của Đài Loan – vừa bắt đầu loạt thử nghiệm quan trọng trên biển, trước thời điểm bàn giao dự kiến vào tháng 11 tới.
Tờ Taipei Times ngày 18.6 dẫn một nguồn tin quân sự cho hay tàu ngầm Hải Côn, tàu ngầm quốc phòng nội địa đầu tiên của Đài Loan, rời cảng Cao Hùng một ngày trước đó để bắt đầu thử nghiệm trên biển.
Còn được gọi là “Narwhal”, con tàu khởi hành từ CSBC Corp – xưởng đóng tàu của Đài Loan – vào khoảng 8 giờ ngày 17.6. Hơn 10 kỹ thuật viên và quân nhân có mặt trên boong tàu, cùng với một số người khác đứng trên đỉnh tàu.
Sau khi gần đây hoàn tất bài kiểm tra chấp nhận tại cảng, tàu đã bắt đầu một loạt các cuộc thử nghiệm trên biển, bao gồm các cuộc thử nghiệm hệ thống đẩy và dẫn đường, trong khi nổi lên một phần.
Tàu ngầm Hải Côn đã trải qua các cuộc thử nghiệm tại cảng từ ngày 14-16.6, tập trung vào việc tinh chỉnh hệ thống đẩy của tàu.
Tàu ngầm sẽ được bảo vệ nghiêm ngặt trong các cuộc thử nghiệm trên biển, với việc Lực lượng Phòng vệ biển Đài Loan triển khai các tàu tấn công M109, tàu tên lửa lớp Quang Hoa VI và tàu hộ vệ lớp Thành Công để bảo vệ các khu vực thử nghiệm.
Thử nghiệm trên biển gồm một loạt các đánh giá chính thức trên vùng biển rộng, được thiết kế để xác định xem một tàu mới đóng hoặc được nâng cấp đáng kể có đáp ứng các thông số kỹ thuật về hiệu suất theo hợp đồng trước khi giao hàng hay không.
Đối với tàu ngầm, các thử nghiệm trên biển thường đánh giá hệ thống đẩy, lái và điều hướng, khả năng lặn sâu và tín hiệu âm thanh. Một số thử nghiệm này yêu cầu tàu phải chìm hoàn toàn. Tuy nhiên, Lực lượng Phòng vệ biển Đài Loan ngày 17.6 từ chối bình luận về thời điểm tiến hành các thử nghiệm dưới nước đối với tàu ngầm trên.
Mặc dù từ chối bình luận về lịch trình thử nghiệm, Phó đô đốc Khâu Tuấn Vinh thuộc Lực lượng Phòng vệ biển Đài Loan cho biết thời hạn theo hợp đồng để bàn giao tàu ngầm cho hải quân vào tháng 11 vẫn không thay đổi.
Trước đó, nguyên mẫu tàu ngầm Hải Côn được ra mắt vào tháng 9.2023 và dự kiến bàn giao vào cuối năm 2024 nhưng kế hoạch bị hoãn.
Tàu sân bay USS Nimitz và nhóm tác chiến đang tăng tốc di chuyển khỏi Thái Bình Dương đến Trung Đông theo mệnh lệnh mới của Lầu Năm Góc.
Tàu sân bay USS Nimitz, cùng với không đoàn và lực lượng hộ tống gồm 5 khu trục hạm, đã rời Biển Đông để gia nhập nhóm tác chiến tàu sân bay USS Carl Vinson ở biển Ả Rập, theo AFP, Reuters, The Independent và những báo đài khác hôm 17.6.
Vào 20 giờ 25 đêm 16.6 (giờ Việt Nam), hàng không mẫu hạm Mỹ đã đi qua eo biển Malacca hướng đến Ấn Độ Dương, theo trang theo dõi chuyển động của tàu bè Marine Traffic.
Tổng thống Trump kêu gọi sơ tán khỏi Tehran, tàu sân bay từ Biển Đông sang Trung Đông
Việc đưa tàu USS Nimitz khỏi Đông Nam Á là một phần của kế hoạch tăng cường binh lực của quân đội Mỹ tại Trung Đông. Không quân Mỹ đã triển khai hàng chục máy bay tiếp liệu đến châu Âu, điều chuyển 2 tàu khu trục từ Địa Trung Hải đến gần Israel, và các gia đình quân nhân tại những căn cứ Mỹ ở Trung Đông được phép quay về nước vì lý do an toàn.
Giới chức Iran cho biết đến nay ít nhất 224 người chết trong các đợt tấn công của Israel, đa số là dân thường, cùng với nhiều các tư lệnh cấp cao của quân đội Iran, các nhà khoa học hạt nhân.
Sau khi cảnh báo Tehran cần được sơ tán khẩn cấp, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã rời hội nghị thượng đỉnh G7 sớm hơn dự kiến để quay về Mỹ kịp thời chỉ đạo tình hình, nhưng không rõ là về vấn đề gì.
Nhà Trắng sáng nay (17.6) khẳng định lực lượng Mỹ vẫn duy trì trạng thái “phòng vệ” ở Trung Đông, bất chấp chuyển động của các khí tài theo mệnh lệnh từ Lầu Năm Góc vào ngày thứ tư xảy ra giao tranh giữa Iran và Israel
Phát ngôn viên Điền Quân Lý của Bộ Tư lệnh chiến khu nam bộ thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc cho biết nước này đã tổ chức tuần tra chung trên biển và trên không ở Biển Đông ngày 14.6.
China Daily dẫn lời ông Điền Quân Lý cho hay lực lượng chỉ huy của quân đội vẫn trong tình trạng báo động cao.
Vị phát ngôn viên nói thêm rằng: “Mọi hoạt động quân sự nhằm gây bất ổn ở Biển Đông hoặc tạo ra các điểm nóng đều được kiểm soát hoàn toàn”. Trong thông báo, quân đội Trung Quốc không nêu địa điểm tuần tra cụ thể ở Biển Đông.
Động thái của Trung Quốc diễn ra cùng ngày Philippines và Nhật Bản tiến hành hoạt động hợp tác hàng hải chung tại phía tây đảo chính Luzon của Philippines.
Hoạt động hợp tác hàng hải này nhằm mục đích tăng cường hợp tác quốc tế để đạt được một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở.
2 tàu sân bay Trung Quốc ra Thái Bình Dương, lần đầu tiên vượt chuỗi đảo thứ hai
Trước đó, Philippines hôm 13.4 thông báo tàu chủ lực của cảnh sát biển Philippines (PCG), BRP Teresa Magbanua (MRRV-9701), đã đến Nhật Bản để tham gia cuộc tập trận hàng hải ba bên giữa cảnh sát biển Philippines – Mỹ – Nhật Bản, theo Manila Standard.
Ngoài ra, Philippines và Mỹ đã tiến hành cuộc tập trận hàng hải chung ở Biển Đông lần thứ 7 vào đầu tháng này.
Một quan chức quốc phòng Mỹ cho biết chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chính thức tiến hành xem xét lại hiệp ước đối tác an ninh 3 bên AUKUS (Mỹ – Anh – Úc).
Tàu ngầm tấn công nhanh lớp Virginia USS Minnesota (SSN-783) được nhìn thấy ngoài khơi bờ biển Tây Úc (Úc) ngày 16.3.2025
“Chúng tôi đang xem xét AUKUS… nhằm đảm bảo sáng kiến của chính quyền tiền nhiệm phù hợp với chương trình nghị sự Nước Mỹ trên hết của Tổng thống Trump”, Financial Times ngày 12.6 dẫn lời một quan chức Mỹ cho biết.
“Bất kỳ thay đổi nào trong cách tiếp cận của chính quyền đối với AUKUS sẽ được thông báo qua các kênh chính thức khi cần thiết”, vị quan chức Mỹ nói thêm.
Bình luận lại, phát ngôn viên của Bộ trưởng Quốc phòng Úc Richard Marles ngày 12.6 cho biết chính phủ nước này sẽ hợp tác chặt chẽ với Mỹ để tiến hành đánh giá chính thức hiệp ước quốc phòng AUKUS.
“Việc chính quyền muốn xem xét dự án quan trọng này bao gồm cả tiến độ và việc thực hiện là điều tự nhiên”, theo phát ngôn viên của ông Marles. Vị quan chức Úc cũng nhấn mạnh: “AUKUS sẽ phát triển cả ngành công nghiệp quốc phòng của Mỹ và Úc cũng như tạo ra hàng nghìn việc làm sản xuất mới”.
Trong khi đó, phát ngôn viên của chính phủ Anh gọi AUKUS là “một trong những quan hệ đối tác chiến lược quan trọng nhất trong nhiều thập niên”, đồng thời tạo ra “việc làm và tăng trưởng kinh tế cho cộng đồng ở cả 3 quốc gia”.
“Có thể hiểu được tại sao chính quyền mới lại muốn xem xét lại cách tiếp cận của mình đối với một quan hệ đối tác lớn như vậy, giống như những gì Anh đã làm vào năm ngoái, đồng thời nói thêm rằng Anh sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Mỹ và Úc để tối đa hóa lợi ích và cơ hội của AUKUS”, Reuters dẫn lời phát ngôn viên của chính phủ Anh nhấn mạnh.
AUKUS là hiệp ước do cựu Tổng thống Mỹ Joe Biden cùng các lãnh đạo Anh, Úc công bố vào năm 2021 với mục tiêu ban đầu là cho phép Úc sở hữu tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Theo thỏa thuận, Úc sẽ tiếp nhận tối đa 5 tàu ngầm lớp Virginia của Mỹ kể từ năm 2032. Sau đó, Anh và Úc sẽ cùng thiết kế và chế tạo một lớp tàu ngầm mới với sự hỗ trợ từ Mỹ.
Trước thời điểm đó, Mỹ và Anh sẽ bắt đầu luân chuyển tàu ngầm của họ từ một căn cứ hải quân của Úc ở Tây Úc vào năm 2027.
Nhà Trắng hiện chưa đưa ra tuyên bố chính thức. Tuy nhiên, một quan chức Mỹ nói với Reuters rằng chính quyền của ông Trump “đang thường xuyên rà soát các thỏa thuận đối ngoại để đảm bảo chúng phù hợp với lợi ích của người dân Mỹ, đặc biệt là các thỏa thuận bắt nguồn từ chính sách đối ngoại dưới thời cựu Tổng thống Biden”.
Thượng nghị sĩ Mỹ Tim Kaine, một thành viên đảng Dân chủ, cho rằng: “AUKUS có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở, và chính quyền nên nỗ lực củng cố AUKUS cũng như cơ sở công nghiệp tàu ngầm của Mỹ”.
Sự kiện Trung Quốc triển khai đồng thời hai tàu sân bay tại Thái Bình Dương không chỉ là một cuộc diễn tập quân sự – đó là lời tuyên bố địa chiến lược bằng thép và sóng.
Tàu sân bay Sơn Đông (trên) và Liêu Ninh của Trung Quốc – Ảnh của hãng KYODO – Nhật Bản
Ngày 10/6/2025, Nhật Bản xác nhận lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc đồng thời triển khai hai tàu sân bay – Liêu Ninh và Sơn Đông – hoạt động ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Tàu Sơn Đông cùng nhóm tác chiến hộ tống xuất hiện gần đảo Okinotori (cách Tokyo khoảng 1.700 km về phía Nam) bên trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Nhật Bản; còn tàu Liêu Ninh xuất hiện gần đảo Minamitorishima (cách Tokyo khoảng 1.900 km). Diễn biến này ngay lập tức thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế, không chỉ bởi quy mô quân sự mà còn vì thông điệp chính trị sâu xa: Trung Quốc không còn giấu giếm tham vọng trở thành một siêu cường đại dương, sánh vai – và thách thức – với Hoa Kỳ.
Nếu trong thế kỷ XX, nước Mỹ dùng hạm đội để “vẽ lại bản đồ ảnh hưởng toàn cầu”, thì giờ đây, Trung Quốc cũng đang dùng thép và radar để “viết lại ngôn ngữ sức mạnh” trên đại dương. Hai tàu sân bay không chỉ chở theo máy bay – chúng chở theo ý chí lịch sử, giấc mộng phục hưng và một thách thức hiện hữu đối với trật tự hiện tại.
Trong hơn ba thập niên, học thuyết quân sự của Trung Quốc gắn với khái niệm “phòng thủ cận duyên”, tức tập trung bảo vệ vùng biển ven bờ và Biển Đông. Nhưng cùng với sự lớn mạnh của nền kinh tế và tham vọng địa chính trị, Trung Quốc đã dần chuyển hướng sang khái niệm “hải quân biển xanh” – khả năng triển khai lực lượng tác chiến xa bờ, duy trì hiện diện quân sự lâu dài ở các vùng biển xa Tổ quốc.
Liêu Ninh – tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc, được cải hoán từ thiết kế Liên Xô cũ – là bước đi ban đầu còn dè dặt. Sơn Đông – con tàu thứ hai, tự đóng trong nước – là minh chứng Trung Quốc đã dần kiểm soát công nghệ lõi. Và khi cả hai cùng xuất hiện tại Tây Thái Bình Dương, đó không chỉ là việc “tung bài tẩy” mà là thông điệp chiến lược rõ ràng: Bắc Kinh muốn làm chủ sân khấu hàng hải khu vực.
Kể từ sau Thế chiến II, Thái Bình Dương là “ao nhà” của Hải quân Mỹ, nơi các nhóm tác chiến tàu sân bay di chuyển như những pháo đài nổi, duy trì cân bằng an ninh từ Tokyo đến Manila, từ Guam đến Darwin. Sự xuất hiện đồng thời của hai tàu sân bay Trung Quốc là điều chưa từng có, và nó lập tức làm rung chuyển những giả định vốn đã định hình trật tự an ninh khu vực suốt hơn 70 năm.
Dù Trung Quốc khẳng định rằng hành động triển khai này “tuân thủ luật pháp quốc tế” và mang tính “tự vệ hợp pháp”, thì không quốc gia nào trong khu vực – kể cả những nước có quan hệ kinh tế sâu sắc với Bắc Kinh – nhầm lẫn về mục đích thực sự. Đây rõ ràng là một màn phô diễn sức mạnh, một đợt thử nghiệm năng lực phối hợp thực chiến tàu sân bay quy mô lớn, và trên hết, là tín hiệu chính trị gửi thẳng tới Washington, Tokyo và Đài Bắc rằng cán cân hải quân trong khu vực đang bắt đầu thay đổi.
Hình ảnh hai tàu sân bay vươn ra biển sâu có thể được xem như ẩn dụ của “con rồng ngẩng đầu” – Trung Quốc không còn thỏa mãn với vị thế cường quốc lục địa. Họ muốn hiện diện ở nơi vốn là sân chơi của hải quân Mỹ, muốn phá vỡ thế độc quyền của Washington và tạo ra một không gian quyền lực song song.
Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc chuẩn bị đưa vào hoạt động tàu sân bay thứ ba – Phúc Kiến – với thiết kế catapult (máy phóng điện từ) tương đương tàu sân bay Mỹ. Viễn cảnh Trung Quốc có thể duy trì 2 hoặc 3 nhóm tác chiến tàu sân bay trong một thời điểm, với tầm hoạt động vươn ra Ấn Độ Dương, biển Hoa Đông, và cả khu vực gần Hawaii, không còn là giả thuyết.
Khi Trung Quốc “vượt chuỗi đảo thứ nhất” và tiến ra vùng nước sâu hơn, họ cũng buộc các cường quốc khu vực phải điều chỉnh. Nhật Bản tăng ngân sách quốc phòng lên mức kỷ lục. Philippines khôi phục liên minh quân sự với Mỹ. Australia tăng tốc mua tàu ngầm hạt nhân. Đài Loan nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm và năng lực chống tiếp cận. Các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Indonesia, Malaysia thì thận trọng nhưng cũng bắt đầu âm thầm nâng cấp khí tài.
Đáng lưu ý, sự hiện diện đồng thời của hai nhóm tác chiến tàu sân bay Trung Quốc cũng làm tăng rủi ro tính toán sai lầm. Chỉ cần một tín hiệu radar bị hiểu sai, một lần áp sát nguy hiểm trong không gian hẹp giữa vùng nhận diện phòng không, là có thể dẫn đến một chuỗi leo thang ngoài tầm kiểm soát. Đây không phải là nỗi lo lý thuyết – chính Mỹ đã từng nhiều lần cảnh báo và bày tỏ quan ngại sâu sắc về khả năng xảy ra “va chạm quân sự” với Trung Quốc tại các vùng biển có tranh chấp.
Ngoài ra, việc một siêu cường mới đang âm thầm mở rộng vùng kiểm soát trên biển cũng đặt ra bài toán lâu dài cho an ninh hàng hải. Với hơn 90% hàng hóa toàn cầu được vận chuyển bằng đường biển, bất kỳ động thái nào nhằm thao túng hoặc giám sát tuyến hải trình đều tác động trực tiếp đến thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ Biển Đông đến Thái Bình Dương, Trung Quốc đang từng bước xây dựng một mạng lưới ảnh hưởng, không chỉ qua tàu sân bay, mà còn qua cảng biển, hạm đội dân binh biển, hệ thống giám sát không gian và các hành lang hải quân “mềm” như dự án Vành đai – Con đường trên biển.
Việc hai tàu sân bay Trung Quốc xuất hiện cùng lúc ở Thái Bình Dương không phải là sự kiện đơn lẻ – nó là chương mở đầu của một chương trình chiến lược lớn hơn. Câu hỏi không còn là “liệu Trung Quốc có trở thành siêu cường đại dương”, mà là khi nào và bằng cách nào họ hiện thực hóa điều đó. Trong khi thế giới đang phân tán bởi nhiều khủng hoảng – Ukraine, Gaza, khủng hoảng năng lượng…, Trung Quốc chọn biển cả làm bàn cờ để âm thầm dịch chuyển những quân cờ chiến lược.
Châu Á – Thái Bình Dương từ lâu vốn là một vùng biển dữ, giờ đây càng thêm dậy sóng. Và mỗi quốc gia ven bờ, dù lớn hay nhỏ, đều sẽ phải điều chỉnh hướng đi của mình, khi “con rồng” đã thật sự ra đại dương.
Tàu tấn công đổ bộ USS Tripoli của Mỹ đang trên đường đến Nhật Bản để thay thế tàu USS America trên vai trò soái hạm của nhóm tàu đổ bộ duy nhất được Hải quân Mỹ triển khai tiền phương.
Tàu tấn công đổ bộ USS Tripoli đã rời cảng nhà ở San Diego (bang California, Mỹ) để đến căn cứ hải quân Sasebo thuộc tỉnh Nagasaki (Nhật Bản). Khi đến nơi, USS Tripoli sẽ đảm nhiệm vai trò soái hạm cho Nhóm tàu đổ bộ số 11, theo Stars and Stripes hôm 5.6 dẫn thông cáo báo chí của Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ (trụ sở Hawaii).
Nhóm tàu đổ bộ số 11 thường xuyên phối hợp với Lực lượng viễn chinh thủy quân lục chiến số 31 đóng tại Okinawa (Nhật Bản) cho các sứ mệnh ở khu vực.
Trong thời gian dưới quyền của soái hạm USS America, nhóm tàu bao gồm tàu đổ bộ USS Rushmore và các tàu vận tải đổ bộ USS San Diego, USS New Orleans.
Chỉ huy tàu USS Tripoli là đại tá Eddie Park cho biết thủy thủy đoàn từ năm ngoái đã bắt đầu chuẩn bị cho nhiệm vụ triển khai đến Nhật Bản. Việc luân chuyển soái hạm của Nhóm tàu đổ bộ số 11 được thông báo ngày 14.2 nhưng lúc đó chưa có lịch cụ thể vì lý do an ninh.
Trong khi đó, tàu USS America, đóng tại căn cứ hải quân Sasebo từ tháng 12.2019, sẽ quay trở lại cảng nhà ở San Diego.
Các tàu lớp America như USS Tripoli và USS America đều có thiết kế như một tàu sân bay nhỏ, thường mang theo tiêm kích tàng hình F-35B Lightning II, trực thăng cánh quạt nghiêng MV-22 Osprey và trực thăng MH-60S Knighthawk.
Mỹ, đồng minh quan ngại về hành động của Trung Quốc
Tính đến ngày 1.6, tàu USS Tripoli ở vùng biển phía đông Thái Bình Dương, trong khi USS America vẫn hoạt động tại Biển Philippines hôm 3.6.
Được biên chế năm 2020, USS Tripoli là tàu tấn công đổ bộ thứ hai thuộc lớp America, sau tàu USS America biên chế năm 2014. Hai tàu kế tiếp của lớp này lần lượt là USS Bougainville và USS Fallujah vẫn trong giai đoạn đóng mới ở xưởng tàu Ingalls.
Vẫn chưa rõ liệu USS Tripoli và USS America sẽ có cơ hội diễn tập chung ở tây Thái Bình Dương trước khi quay về cảng nhà hay không.
Các bộ trưởng quốc phòng của Mỹ, Nhật Bản, Úc và Philippines đã cùng bày tỏ ‘quan ngại nghiêm trọng về những hành động gây mất ổn định của Trung Quốc ở biển Hoa Đông và Biển Đông’.
Phó thủ tướng Úc kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Richard Marles, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Nakatani Gen, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro, Jr. và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã có cuộc họp 4 bên ngày 31.5 tại Singapore, theo tuyên bố chung được đăng trên trang web của Bộ Quốc phòng Nhật Bản.
Theo tuyên bố chung, 4 bộ trưởng quốc phòng “tiếp tục bày tỏ mối quan ngại nghiêm trọng về các hành động gây mất ổn định của Trung Quốc ở biển Hoa Đông và Biển Đông, và bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép”.
Các bộ trưởng quốc phòng “cũng nhắc lại mối quan ngại nghiêm trọng của mình về hành vi nguy hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông đối với Philippines và các quốc gia khác, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình”, theo tuyên bố chung.
Các bộ trưởng quốc phòng của 4 nước nói trên kêu gọi hòa bình và ổn định trong khu vực, nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò trung tâm của ASEAN và cấu trúc khu vực do ASEAN dẫn đầu trong việc đảm bảo an ninh và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Tàu hải quân Philippines, Trung Quốc đối đầu gần bãi cạn Scarborough ở Biển Đông
Các nhà lãnh đạo quốc phòng cũng tái khẳng định tầm quan trọng của sự hợp tác và đồng bộ hóa hoạt động của 4 nước này ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, bao gồm cả ở biển Hoa Đông và Biển Đông, để đảm bảo răn đe, hòa bình và an ninh tốt hơn. Các bộ trưởng quốc phòng cũng nhất trí bàn việc lập kế hoạch cho các hoạt động tình báo, giám sát và trinh sát chung nhằm cải thiện khả năng tương tác và phối hợp về nhận thức hàng hải và hàng không hiệu quả ở biển Hoa Đông, Biển Đông và những vùng biển xung quanh.
Ngoài ra, trong một bài báo trên tạp chí Foreign Affairs được xuất bản vào tuần trước, cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ phụ trách các vấn đề an ninh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Ely Ratner kêu gọi lập một hiệp ước phòng thủ tập thể Thái Bình Dương chính thức giữa Mỹ, Nhật Bản, Úc và Philippines, xem đó là một động thái kịp thời và cần thiết để ngăn chặn tham vọng quân sự của Trung Quốc.
Ông Ratner nhận định Mỹ, Nhật Bản, Úc và Philippines “là 4 quốc gia có quan điểm nhất quán nhất về thách thức từ Trung Quốc và hiện đang tăng cường hợp tác quân sự tập thể để ứng phó”.
Hiện chưa có thông tin về phản ứng của Trung Quốc đối với tuyên bố chung của 4 bộ trưởng quốc phòng cũng như đề xuất từ ông Ratner.
Sự hiện diện dày đặc và bất thường của lực lượng Trung Quốc tại nhiều vùng biển nhạy cảm đang thách thức trật tự khu vực và đẩy Biển Đông đến gần hơn với nguy cơ xung đột.
Tàu hộ vệ Trung Quốc trong một cuộc tập trận vào tháng 5 vừa qua.
Theo thông tin từ ba quan chức an ninh khu vực được Reuters dẫn lại ngày 28.5.2025, vào các ngày 21 và 27.5, Trung Quốc lần lượt triển khai gần 60 và hơn 70 tàu ở các khu vực tranh chấp, trong đó khoảng 75% là tàu hải quân, bao gồm cả tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường và khinh hạm. Đáng chú ý, cả hai nhóm tàu sân bay – Sơn Đông và Liêu Ninh – đều xuất hiện đồng thời ở Biển Đông và ngoài khơi Đài Loan. Theo giới phân tích quốc tế, việc triển khai lực lượng ở cả bốn mặt trận biển cùng lúc, với quy mô chưa từng có, cho thấy đây là một bước đi có tính toán, phục vụ chiến lược dài hạn chứ không đơn thuần là phản ứng ngắn hạn với một sự kiện cụ thể.
Động thái triển khai hạm đội bất thường này không chỉ làm gia tăng căng thẳng trong khu vực, mà còn tạo ra hiệu ứng dây chuyền về mặt chiến lược và ngoại giao, trong đó, Nhật Bản lập tức điều động lực lượng giám sát nhóm tàu Liêu Ninh khi đi qua các đảo phía nam nước này. Hoa Kỳ, thông qua phát biểu tại Đối thoại Shangri-La 22 vừa qua ở Singapore, đã khẳng định rằng “nguy cơ hành động phiêu lưu từ Trung Quốc có thể đến sớm hơn dự đoán” và kêu gọi các quốc gia đồng minh tăng cường ngân sách quốc phòng, đồng thời tái cam kết duy trì tự do hàng hải trong khu vực. Những phản ứng này phản ánh sự gia tăng mức độ nghiêm trọng của tình hình, không chỉ trên phương diện quân sự mà còn cả trong tính toán chiến lược dài hạn của các cường quốc.
Theo các nhà quan sát, việc Trung Quốc đồng thời sử dụng lực lượng hải quân, hải cảnh và dân quân biển ở nhiều điểm nóng cho thấy nước này đang đẩy mạnh chiến lược “kiểm soát vùng xám” – một phương thức gây áp lực mà không tạo ra chiến tranh toàn diện. Trong mô hình này, Bắc Kinh vừa sử dụng các tàu hải cảnh bán vũ trang để gây áp lực với các nước láng giềng, vừa triển khai các tàu hải quân hiện đại ở vị trí hậu thuẫn nhằm răn đe, sẵn sàng can thiệp nếu có đối đầu nghiêm trọng. Việc các tàu sân bay như Sơn Đông và Liêu Ninh cùng xuất hiện tại vùng biển gần Đài Loan và Biển Đông không chỉ là một lời cảnh báo quân sự, mà còn là động tác phô trương sức mạnh, nhằm làm giảm ý chí phản kháng của các quốc gia tranh chấp.
Từ góc độ chiến lược, theo giới phân tích quốc tế, đây là biểu hiện rõ rệt nhất trong nhiều năm qua về việc Bắc Kinh chủ động tạo ra “trạng thái mới” ở Biển Đông và các vùng biển lân cận. Trạng thái này nhằm mục tiêu thiết lập sự hiện diện thường trực, làm mờ ranh giới giữa thời bình và thời chiến, biến vùng tranh chấp thành khu vực “dưới sự quản lý thực tế của Trung Quốc”. Nếu không bị phản ứng kịp thời, hiện trạng mới do Trung Quốc dựng lên có thể dần trở thành điều bình thường hóa trong nhận thức quốc tế.
Biển Đông, trong hoàn cảnh này, trở thành trung tâm của các chiến lược đan xen. Về mặt địa chính trị, khu vực này là nơi kết nối giữa Đông Á và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, là tuyến hàng hải huyết mạch cho thương mại toàn cầu. Về mặt quân sự, nó là sân khấu để các cường quốc thử phản ứng của nhau. Về mặt pháp lý và ngoại giao, Biển Đông là nơi tranh cãi dai dẳng giữa yêu sách “đường chín đoạn” phi pháp của Trung Quốc với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982. Theo các nhà quan sát, Trung Quốc hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược của vùng biển này, và đang tận dụng mọi cơ hội để mở rộng kiểm soát thực địa.
Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng trực tiếp từ các hành động leo thang này. Trong những năm gần đây, Trung Quốc liên tục điều tàu khảo sát, tàu hải cảnh và tàu dân quân biển vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là tại khu vực bãi Tư Chính. Mỗi lần xuất hiện như vậy thường kéo dài nhiều tuần, có sự hộ tống của tàu hải quân ở tầm xa. Những tín hiệu từ tháng 5.2025 cho thấy Bắc Kinh đang gia tăng tần suất và quy mô của hoạt động này, đồng thời kéo thêm các tàu lớn, tàu hộ vệ tên lửa, tạo nên sức ép chưa từng thấy.
Trước áp lực ấy, Việt Nam buộc phải vừa duy trì nguyên tắc độc lập, tự chủ trong đối ngoại, vừa tăng cường phối hợp với các đối tác an ninh trong khu vực. Việc mở rộng hợp tác an ninh với Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và các nước ASEAN là một phần trong nỗ lực xây dựng khả năng răn đe linh hoạt và phi đối đầu. Tuy nhiên, theo giới phân tích quốc tế, một mình Việt Nam sẽ rất khó chống đỡ lâu dài nếu không có liên kết chiến lược sâu rộng hơn trong khu vực. Đặc biệt, vai trò trung gian của ASEAN hiện nay đang bị thử thách nghiêm trọng khi một số quốc gia thành viên, nhất là Lào và Campuchia, nghiêng về Trung Quốc hoặc né tránh vấn đề Biển Đông.
Trung Quốc đang đặt toàn khu vực vào thế đối đầu chiến lược có kiểm soát, nhưng tiềm ẩn nguy cơ mất kiểm soát. Một cuộc va chạm bất ngờ giữa các tàu quân sự, một hành động quyết liệt vượt giới hạn, hoặc thậm chí một tính toán sai lầm nhỏ từ bất kỳ bên nào cũng có thể dẫn đến sự leo thang vượt ngoài ý muốn. Trong bối cảnh đó, những tuyên bố hòa bình sẽ trở nên vô nghĩa nếu không đi kèm hành động cụ thể: tăng cường hiện diện hợp pháp, duy trì minh bạch thông tin, và củng cố luật lệ quốc tế làm nền tảng điều chỉnh hành vi.
Việc Trung Quốc triển khai hạm đội lớn bất thường trong tháng 5.2025 không thể xem như một sự kiện nhất thời. Nó là chỉ dấu của một chiến lược đã được tính toán kỹ lưỡng: vẽ lại trật tự biển bằng thực sức mạnh cơ bắp, đồng thời là phép thử đối với quyết tâm của các quốc gia khác, nhất là những nước nhỏ, liên quan tranh chấp Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia. Càng nhượng bộ, càng làm ngơ, thì bước tiến của Trung Quốc sẽ càng sâu và xa hơn nữa. Bài học từ các tiền lệ như Scarborough chứng minh điều đó.
Những chuyển dịch cục bộ tại một số khu vực đang có xu hướng từ trạng thái hợp tác sang đối đầu. Sự leo thang quân sự tại châu Âu, sự bất định từ Mỹ và sự thiếu vắng đối thoại thực chất giữa các cường quốc… đó là vấn đề nổi lên trong Đối thoại Shangri-La lần thứ 22.
Đối thoại đã kết thúc hôm 2/6 và để lại dư âm khá căng thẳng. Thay vì những cái bắt tay xiết chặt là những gương mặt đăm chiêu, những cái lắc đầu bí hiểm. Tại phiên khai mạc Đối thoại, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã khái quát: Thế giới đang đứng trước nguy cơ bước vào một kỷ nguyên cạnh tranh toàn diện và thiếu kiểm soát nếu các cơ chế đối thoại không được duy trì.
Không thể chần chừ, ông Macron kêu gọi xây dựng một “mối quan hệ đặc biệt mới” giữa Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Cũng trong diễn từ của mình, Tổng thống Pháp đã không còn nhấn mạnh đến cuộc chiến Nga-Ukraine đang bế tắc trong đàm phán hòa bình. Ông đặc biệt lưu ý những vấn đề đáng quan ngại, đó là gia tăng căng thẳng trên biển, công nghệ quốc phòng mới (như AI và drone quân sự), cùng với các nguy cơ về phổ biến hạt nhân.
Nguy cơ một cuộc chiến tranh nóng là có thật chứ không phải là “báo động giả”. Tại các phiên thảo luận toàn thể, các lãnh đạo 47 quốc gia đã nêu lên những vấn đề nóng: Tham vọng mới của Mỹ cho an ninh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; bảo đảm sự ổn định trong một thế giới cạnh tranh; những thách thức phòng thủ an ninh mạng, dưới biển và ngoài không gian; hợp tác an ninh hàng hải ở châu Á – Thái Bình Dương, đối tác an ninh toàn cầu của Trung Quốc,v.v..
Về sự tranh chấp Biển Đông, các diễn giả không ngần ngại chỉ ra rằng, đây vẫn là điểm nóng nhất trong khu vực. Các vụ va chạm giữa lực lượng hải cảnh Trung Quốc và tàu dân sự Philippines trong quý I/2025 vẫn chưa chấm dứt. Thêm vào đó là các hành động vi phạm pháp luật quốc tế của Trung Quốc. Đó là việc cải tạo và quân sự hóa thêm các thực thể tại Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Từ đầu năm 2025, hình ảnh vệ tinh cho thấy, Trung Quốc tiếp tục mở rộng đường băng, nhà chứa máy bay và hệ thống radar tại đá Chữ Thập, đá Vành Khăn và đá Subi. Đó việc Bắc Kinh ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trái phép (áp dụng từ 1/5 đến 16/8/2025).
Trong các phiên thảo luận chủ đề được bàn cãi nhiều nhất là: Cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung và những thách thức an ninh. Mỹ không hề giấu diếm những tham vọng mới về chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Còn Bộ trưởng Trung Quốc lại tìm cách vắng mặt tại Đối thoại. Lo ngại về sự đứt gãy kênh đối thoại song phương quân sự có thể dẫn đến nguy cơ xung đột là điều đáng quan tâm.
Có thể nói điều lo lắng mà các đại biểu mang về là: Những chuyển dịch cục bộ tại một số khu vực như những đám mây đen trên bầu trời hòa bình. Xu hướng từ trạng thái hợp tác sang đối đầu; sự leo thang quân sự tại châu Âu, sự bất định từ Mỹ và sự thiếu vắng đối thoại thực chất giữa các cường quốc đặt ra yêu cầu bức thiết đối với ASEAN, phải tìm mọi cách giữ vai trò trung gian trong đối thoại.
Đây là thách thức đáng kể đối với ASEAN và Việt Nam trong việc duy trì cân bằng giữa lợi ích quốc gia với động thái ngoại giao với các cường quốc. Sự hiện diện mạnh mẽ của các cường quốc và sự quan tâm đến khu vực khiến Đông Nam Á tiếp tục giữ vị trí chiến lược trong trục cạnh tranh toàn cầu. Có điều nội bộ ASEAN đang bị chia rẽ, trong khi các sáng kiến an ninh ngoài khối ngày càng lấn át. Căng thẳng biên giới giữa Campuchia và Thái Lan bùng phát sau vụ đụng độ gần Chong Bok, khiến quan hệ hai nước trở nên phức tạp. Vấn đề Biển Đông vẫn là tâm điểm tranh cãi, với việc các nước liên quan tăng cường quân sự hóa trên biển.
Để vượt qua những thách thức này, ASEAN cần tăng cường hơn nữa tinh thần đoàn kết nội bộ. Cần phải xây dựng cơ chế vận hành theo nhóm quốc gia láng giềng với nhau nhằm thúc đẩy hợp tác đa phương và khẳng định vai trò cơ chế quan trọng nhất trong việc định hình cấu trúc an ninh khu vực.
Có vẻ như Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng. Ba yêu cầu chiến lược đặt ra đối với quốc gia này là: Một, củng cố đoàn kết nội khối ASEAN để bảo vệ vai trò trung tâm, giữ vững lập trường và năng lực tự vệ ở Biển Đông trước các hành vi làm phức tạp thêm tình hình của các thế lực bên ngoài; hai, cân bằng quan hệ với các cường quốc trong khi vẫn duy trì chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ; ba, tận dụng các cơ hội hợp tác quốc phòng song phương để tăng cường khả năng phòng thủ mà không bị cuốn vào liên minh quân sự.
Trong khi các cường quốc vẫn xoay quanh những toan tính răn đe và kiềm chế lẫn nhau, thì các quốc gia tầm trung cần nhận thức rõ vị thế vai trò của mình trong việc kiến tạo một trật tự khu vực dựa trên luật lệ, tôn trọng chủ quyền, thúc đẩy đối thoại thực chất.
Trong thế trận chiến lược hiện nay, sức mạnh không còn chỉ nằm ở việc đứng về bên nào, mà là làm sao để giữ được vị thế riêng, bảo vệ chủ quyền, phát triển kinh tế, và đóng góp vào hòa bình khu vực. Thời nay “cá lớn” không dễ nuốt “cá bé”. Việt Nam và các nước tầm trung hoàn toàn có thể chủ động tạo ra “dư địa chiến lược” riêng cho mình, miễn là biết mình ở đâu, muốn gì và phải làm gì để đạt được điều đó.
Bộ Ngoại giao Philippines phủ nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với nhiều thực thể thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, nhấn mạnh Bắc Kinh không có quyền can thiệp vào những hoạt động hợp pháp tại đây.
Theo Hãng tin Reuters, ngày 29-5, Bộ Ngoại giao Philippines lên tiếng đáp trả việc Đại sứ quán Trung Quốc tại nước này tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đối với quần đảo Trường Sa.
Người phát ngôn bộ này, bà Teresita Daza, khẳng định Manila “phủ nhận và phản đối” tuyên bố trên của cơ quan ngoại giao Bắc Kinh, đồng thời kêu gọi Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Philippines.
Bà Daza nhấn mạnh: “Chúng tôi yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của Philippines, ngay cả khi chúng tôi tiếp tục theo đuổi các biện pháp hòa bình và hợp pháp để giải quyết những bất đồng cũng như tình hình trên biển”.
Phát ngôn trên được đưa ra vài ngày sau vụ đụng độ giữa tàu của hai nước trên vùng biển tranh chấp thuộc Biển Đông.
Khi ấy, Manila tố tàu hải cảnh Trung Quốc xịt vòi rồng và va quẹt vào một tàu dân sự của nước này đang tiến hành nghiên cứu biển quanh rạn san hô trong khu vực tranh chấp. Cục Thủy sản Philippines khẳng định hành động trên đã đe dọa tính mạng của thủy thủ đoàn.
Ở chiều ngược lại, hải cảnh Trung Quốc khẳng định hai tàu của Philippines đã xâm nhập trái phép vào vùng biển gần đá Subi, hòn đảo nhân tạo do Trung Quốc bồi đắp trái phép, đồng thời tổ chức cho người lên khu vực Sandy Cay.
Ngày 26-5, Đại sứ quán Trung Quốc phát thông báo khẳng định Philippines đã thực hiện 27 “cuộc đổ bộ không phép” lên các thực thể trên từ tháng 1 đến nay, bất chấp thỏa thuận hạn chế làm điều này được các nước Đông Nam Á ký kết với Trung Quốc hồi năm 2002.
Về vấn đề này, bà Daza khẳng định: “Philippines rõ ràng có quyền thực hiện các hoạt động hàng hải và nghiên cứu khoa học định kỳ trên và xung quanh những thực thể này, và sẽ tiếp tục làm như vậy. Trung Quốc không có quyền phản đối hay can thiệp vào những hoạt động hợp pháp và định kỳ này”.
Hiện phía Trung Quốc chưa bình luận những phát biểu mới nhất của bà Daza.
Đá Hoài Ân, đá Tri Lễ và đá Cái Vung là ba thực thể gần nhau, được gọi chung trong tiếng Anh là Sandy Cay. Ba thực thể này nằm trong cụm Thị Tứ của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Ba thực thể này nằm gần đá Subi, thực thể Trung Quốc ngang nhiên cải tạo với diện tích lớn thứ hai trong số các thực thể nhân tạo mà Bắc Kinh bồi đắp trái phép ở Trường Sa.
Đồng thời khu vực này cũng gần đảo Thị Tứ – hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam nhưng bị Philippines kiểm soát trái phép. Thời gian gần đây, khu vực này là điểm nóng đối đầu mới giữa Trung Quốc và Philippines.
Trước những hoạt động của Trung Quốc và Philippines tại khu vực trên trong thời gian gần đây, ngày 3-5 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng khẳng định: “Như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa phù hợp luật pháp quốc tế cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển được xác lập phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Việc các bên liên quan cho người lên thực thể thuộc chủ quyền của Việt Nam mà không được sự cho phép của Việt Nam là hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, làm phức tạp thêm tình hình, đi ngược lại Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), cũng như nỗ lực của các nước trong đàm phán Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) hiện nay”.
Nhật Bản hôm 27.5 cáo buộc Trung Quốc tiến hành nghiên cứu khoa học biển mà không thông báo trước trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Nhật Bản quanh đảo cực nam của nước này ở Thái Bình Dương.
Lực lượng Tuần duyên Nhật Bản hôm 26.5 phát hiện một tàu khảo sát biển của Trung Quốc “kéo dài thứ dường như là một sợi dây vào vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Nhật Bản, cách đảo san hô Okinotori 270 km về phía đông”, theo AFP dẫn lời Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshimasa Hayashi hôm nay.
“Do hoạt động nghiên cứu khoa học biển của tàu này chưa nhận được sự đồng ý của Nhật Bản, lực lượng tuần duyên đã yêu cầu dừng hoạt động này và chúng tôi đã gửi phản đối tới phía Trung Quốc thông qua kênh ngoại giao”, ông Hayashi cho hay. Ông khẳng định tàu Trung Quốc đã rời khỏi EEZ của Nhật Bản vào khoảng 22 giờ 45 ngày 26.5.
Theo luật pháp quốc tế, một quốc gia ven biển có quyền quản lý tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động kinh tế khác trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, nằm trong phạm vi 200 hải lý hay 370 km tính từ bờ biển của quốc gia đó. Muốn tiến hành nghiên cứu khoa học vì mục đích phi kinh tế trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia khác, tàu thuyền nước ngoài cần phải có sự đồng ý trước từ quốc gia đó.
Tuy nhiên, Trung Quốc cho rằng yêu sách của Nhật Bản là không hợp lệ vì Okinotori, cách Tokyo khoảng 1.700 km về phía nam, chỉ là bãi đá chứ không phải là một hòn đảo. Do đó, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển, không thể coi đây là một thực thể mà Nhật Bản có thể thiết lập vùng đặc quyền kinh tế của mình, theo lập luận của Bắc Kinh. Hiện chưa có thông tin về phản ứng của Bắc Kinh đối với cáo buộc trên.
Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã đầu tư hàng triệu USD vào việc trồng san hô xung quanh đảo san hô Okinotori nhằm ngăn chặn tình trạng xói mòn do biển gây ra, theo AFP.