Category Archives: Bibliothek

“Nỗi sợ hãi” trên các thị trường năng lượng do cuộc xung đột Iran-Israel

 

Từ sau khi Iran tấn công Israel bằng một loạt tên lửa vào ngày 1/10, một cuộc xung đột tiềm tàng giữa hai quốc gia này đã gây ra nỗi sợ hãi trên các thị trường năng lượng.

Bản đồ các mỏ dầu và khí tại Iran


Kịch bản tồi tệ nhất có thể hình dung được là việc Israel tấn công trả đũa vào các cơ sở hạt nhân hoặc cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Iran. Một cuộc tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng dầu mỏ Iran sẽ đánh sập các hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của nước này, một nguồn tài chính quan trọng đối với Tehran. Cuộc tấn công trả đũa tiềm tàng của Iran có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản lượng dầu khí tại các nước láng giềng, giáng một đòn nghiêm trọng hơn nhiều vào thị trường năng lượng toàn cầu. Xuất khẩu dầu mỏ của Saudi Arabia, Kuwait và Iraq được vận chuyển từ các cảng Vịnh Persia và đi qua Eo biển Hormuz dễ bị ngăn chặn. Qatar, cũng là bên trung gian trong cuộc xung đột ở Gaza, nằm hoàn toàn trong Vịnh Persia và là một trong những quốc gia xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng lớn nhất thế giới.


Tình hình leo thang nghiêm trọng sẽ đặt tất cả vào tình thế rủi ro. Giá dầu và khí đốt cao hơn ảnh hưởng đến người tiêu dùng trên toàn thế giới, không chỉ những người nhập khẩu dầu từ khu vực xung đột. Đã xuất hiện nhiều lo lắng khi phản ứng mạnh mẽ của Israel lên đến đỉnh điểm trong ngày 7/10 – thời điểm kỷ niệm 1 năm Hamas tấn công Israel, khi giá dầu thô tăng vọt hơn 10%, lên hơn 80 USD/thùng. Giá dầu cũng đã giảm phần nào kể từ thời điểm đó. Trong trường hợp xấu nhất, giá dầu sẽ tăng vọt lên hơn 100 USD/thùng và gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Những lo ngại này đã khiến Mỹ – đồng minh thân cận nhất của Israel – kêu gọi một “phản ứng hợp lý”, tức là không nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng hoặc hạt nhân của Iran. Những lời kêu gọi này có thể một phần xuất phát từ mong muốn duy trì giá xăng ở mức thấp ngay trước thềm cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào ngày 5/11 tới.


Hiện nay, Tehran dường như đã hành động một cách thận trọng. Iran tuyên bố đã nhắm vào 3 căn cứ quân sự, còn Israel khẳng định có thể ngăn chặn hầu hết các tên lửa mà hầu như không gây ra thương vong. Trong bối cảnh nền kinh tế Iran tiếp tục hỗn loạn, nước này đã xoay xở để gia tăng sản lượng và xuất khẩu dầu. Sản lượng dầu trong năm 2022 của Iran là 2,5 triệu thùng/ngày, và đã tăng lên 3,2 triệu thùng/ngày vào tháng 8/2024. Sản lượng gia tăng này đang được bán cho Trung Quốc thông qua Malaysia để tránh các lệnh trừng phạt. Malaysia sản xuất chưa đầy 350.000 thùng dầu/ngày, nhưng xuất khẩu tới 1,5 triệu thùng dầu/ngày sang Trung Quốc. Đó chính là dầu của Iran, được vận chuyển lén lút đến Malaysia để các thương nhân tái xuất dầu cho các nhà máy lọc dầu Trung Quốc.


Việc phục hồi xuất khẩu dầu có thể là lý do khiến Iran tương đối kiềm chế. Một đòn giáng vào nguồn tài chính trọng yếu này có thể dồn Iran vào thế bí, buộc nước này phải ngăn chặn hoạt động sản xuất và buôn bán dầu ở Vịnh Persia.


Tình hình leo thang như vậy cũng đặt ra vấn đề đối với Ấn Độ, quốc gia nhập khẩu hơn 80% nhu cầu dầu của mình. Ấn Độ là quốc gia có mức độ tiêu dùng lớn, và giá dầu cao hơn có nghĩa là mức chi tiêu trong nước sẽ bị ít đi. Mức tăng 25 USD/thùng đồng nghĩa với mức tăng thêm 35 tỷ USD, hoặc 1% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mà Ấn Độ phải trả cho năng lượng. Phần lớn cơ sở hạ tầng giao thông của nước này chạy bằng dầu diesel và giá dầu cao hơn sẽ dẫn đến lạm phát toàn diện cao hơn. Giá lương thực chịu ảnh hưởng bởi giá năng lượng cao vì khí đốt tự nhiên là đầu vào trong sản xuất phân đạm ure. Một cuộc xung đột lớn ở Vịnh Persia sẽ có tác động thậm chí còn lớn hơn cả xung đột Ukraine năm 2022, vốn đã ảnh hưởng nặng nề đến nhiều quốc gia đang phát triển.

Một rắc rối khác đặt ra đối với Ấn Độ chính là các quốc gia láng giềng Nam Á của nước này – Bangladesh, Pakistan, Sri Lanka và Maldives – đều đang phải đối mặt với khủng hoảng kinh tế. Các quốc gia trên dễ bị tổn thương hơn Ấn Độ trước tình trạng giá năng lượng và lương thực gia tăng đột biến, và xung đột ở Tây Á sẽ ảnh hưởng đến những nước này sớm hơn và nặng nề hơn so với Ấn Độ. Ấn Độ đã can thiệp với sự hỗ trợ khẩn cấp cho Sri Lanka và Maldives lần lượt trong các năm 2022 và 2024. Liệu Bangladesh sẽ là nước tiếp theo? Khó khăn kinh tế là một trong những động lực thúc đẩy những thay đổi chế độ gần đây và tình trạng bạo lực sau đó, và tình hình tài chính của Dhaka thậm chí còn tệ hơn trước. Một cuộc khủng hoảng tài chính có thể trở thành một cuộc khủng hoảng nhân đạo. Nếu Bangladesh trông chờ vào sự cứu trợ của Ấn Độ, trong bối cảnh một cuộc khủng hoảng Tây Á toàn diện, thì đây có thể là một thảm họa./.

BND tổng hợp

Loading

Views: 0

Liệu NATO đã sẵn sàng kết nạp Ukraine?

Điểm đầu tiên trong “kế hoạch chiến thắng” của Ukraine là Kiev đề xuất được Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) mời gia nhập liên minh. Tuy nhiên, liệu NATO có sẵng sàng kết nạp Ukraine?

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tại thủ đô London, Anh, ngày 10/10/2024. Ảnh: AA

Phản ứng trước “Kế hoạch chiến thắng” do Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenksy trình bày ngày 16/10, NATO đã chứng tỏ rằng tổ chức này không có dấu hiệu sẵn sàng mời Ukraine gia nhập khối. Tổng Thư ký NATO Mark Rutte đánh giá “Kế hoạch chiến thắng” của Kiev là tín hiệu tốt, nhưng ông không thể ủng hộ toàn bộ kế hoạch này ở thời điểm hiện tại. Ông nói: “Tất nhiên, đây là tín hiệu mạnh mẽ từ (Tổng thống) Zelensky và đội ngũ của ông khi họ xây dựng nên kế hoạch này… Nhưng không có nghĩa là tôi có thể tuyên bố ủng hộ toàn bộ kế hoạch, hành động đó sẽ gặp đôi chút khó khăn vì có nhiều vấn đề mà chúng tôi phải hiểu rõ hơn”.

Ngoài ra, ông Mark Rutte còn cho biết các quốc gia thành viên NATO đang “vững bước trên con đường” thực hiện cam kết viện trợ quân sự 40 tỷ euro (43,53 tỷ USD) cho Ukraine trong năm nay. Tổng Thư ký NATO nêu rõ: “Tôi rất vui khi thông báo chúng tôi đang vững bước trên con đường thực hiện cam kết 40 tỷ euro cho năm nay.

Theo nhà bình luận Marek Hudema của CH Séc, tư cách thành viên NATO sẽ không giúp chấm dứt cuộc chiến tại Ukraine, mà thậm chí có thể gây ra cuộc chiến lớn hơn, lôi kéo một số hoặc tất cả các quốc gia thành viên của khối quân sự này tham gia. Theo nhà bình luận Hudema, Nga vẫn đang đạt được đà tiến chậm nhưng chắc chắn trên chiến trường Ukraine. Cả Ukraine và phương Tây đều mệt mỏi vì chiến tranh nên có quan điểm ngày càng mạnh mẽ rằng Kiev nên có những mục tiêu chiến tranh thực tế và ký kết thoả thuận đình chiến với Nga. Dẫn chứng lịch sử trường hợp của nước Đức sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, có ý kiến cho rằng tư cách thành viên NATO của Ukraine sẽ là sự đảm bảo để lệnh ngừng bắn có hiệu lực lâu dài.

Tuy nhiên, trong tình hình hiện tại, phương án này được cho là không có tác dụng đối với Ukraine. Cục diện tại châu Âu hiện nay đã hoàn toàn khác so với thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai hoặc những năm 1950, khi mà phương Tây có thể ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô và giữ một nửa nước Đức ngoài tầm kiểm soát của Moskva. Liên Xô, dưới sự lãnh đạo của Joseph Stalin, đã cố gắng khôi phục đế chế Nga. Trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, Liên Xô đã chiếm vùng Baltic, Bessarabia và một phần Phần Lan, sau đó là Transcarpathian Rus – một phần của Ba Lan và quần đảo Kuril của Nhật Bản sau chiến tranh. Áp lực của Liên Xô sau đó vẫn tiếp tục, thậm chí vượt ra ngoài biên giới của đế chế cũ khi cố gắng giành được một phần Iran, thúc đẩy quyền kiểm soát các eo biển Bosphorus và Dardanelles, muốn tham gia quản lý Libya với tư cách là thuộc địa lấy từ nước Italy bại trận.

Theo nhà bình luận Hudema, nước Nga ngày nay đang lặp lại điều gì đó tương tự. Với cuộc chiến ở Ukraine, Moskva đang cố gắng tiếp quản những gì mà theo Tổng thống Nga Vladimir Putin, luôn thuộc thế giới của Nga, bao gồm Ukraine và Belarus. Nga kiểm soát hiệu quả Belarus thông qua các hiệp ước và nhờ quân đội đồn trú, trong khi đang đạt được tiến bộ về quân sự tại Ukraine. Tuy nhiên, giành lại Ukraine không phải là mục tiêu cuối cùng của Tổng thống Putin. Hãy nhớ rằng ông Putin đã gọi sự sụp đổ của Liên Xô là thảm họa địa chính trị tồi tệ nhất thế kỷ XX. Xem xét các dự thảo hiệp ước mà Nga yêu cầu ký kết với NATO và Mỹ vào mùa Đông năm 2021, chỉ vài tháng trước cuộc xâm lược Ukraine, điều Tổng thống Putin muốn là lấy lại ảnh hưởng ở toàn bộ Đông Âu.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, áp lực mà Stalin và những người kế nhiệm ông tạo ra đối với phương Tây đã thúc đẩy sự hợp tác của các nước không theo Liên Xô và sự hình thành của NATO với kết quả một nước Đức bại trận (Tây Đức) gia nhập liên minh quân sự vào năm 1955. Những đảm bảo an ninh của NATO khi đó không áp dụng cho Đông Đức, vốn nằm dưới sự quản lý của Liên Xô.

Một kịch bản tương tự không thể xảy ra với Ukraine ngày nay. Không thể đưa Kiev vào NATO và để một phần lãnh thổ Ukraine dưới sự chiếm đóng của Nga, với thực tế là các đảm bảo an ninh của phương Tây không áp dụng cho phần lãnh thổ đó. An ninh của Ukraine thậm chí không thể được đảm bảo thông qua bất kỳ hiệp ước nào về hỗ trợ quân sự và phòng thủ chung mà không áp dụng cho miền Đông nước này. Lý do là sự khác biệt về bối cảnh. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Liên Xô bị suy kiệt một cách thảm khốc: mất đi hàng triệu dân, một phần đáng kể đất nước bị tàn phá. Stalin biết mình không thể chịu đựng thêm chiến tranh nên khi gặp phải sự kháng cự, ông đã rút lui. Người kế nhiệm ông là Nikita Khrushchev cũng hành xử tương tự. Tuy nhiên, nước Nga hiện nay đã khác, và có tham vọng thành công trong cuộc chiến tại Ukraine. Nền kinh tế Nga đang suy thoái, chi tiêu cho chiến tranh rất lớn nhưng không thể so sánh với nền kinh tế kiệt quệ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Hoàn cảnh của phương Tây cũng khác so với thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Phương Tây hiện lo sợ đối đầu với một nước Nga hạt nhân, nhưng mặt khác lại không sợ bị Moskva đánh bại về mặt quân sự. Còn sau năm 1945, phương Tây sợ rằng sẽ bị Liên Xô có lực lượng lục quân mạnh hơn đè bẹp. Sau đó việc Liên Xô đạt được thành tựu trong phát triển máy bay ném bom hạt nhân và tên lửa đã giúp nước này có lợi thế hơn so với Mỹ và phương Tây. Điều này dẫn đến sự miễn cưỡng của phương Tây trong việc can thiệp vào phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô. Giờ đây, những lo ngại như vậy không tạo ra áp lực phải duy trì nguyên trạng.

Nhà bình luận Hudema đánh giá bối cảnh hiện tại không có sự cân bằng giữa các mối đe dọa và tình trạng cạn kiệt đến mức có thể tạo ra sự phân chia ổn định mới giữa Đông và Tây ở Ukraine. Theo đó, những người nhận thức được điều này đã từ chối kết nạp Ukraine vào NATO, đồng thời bác bỏ các thỏa thuận an ninh có thể có giữa các nước phương Tây và Ukraine, vốn sẽ buộc các nước NATO phải tham chiến với Nga trong trường hợp quân đội nước này vượt qua chiến tuyến hiện tại./.

Tổng hợp

Loading

Views: 0

DK1 platform stands firm on the wave front

The DK1 platform, which are clusters of Vietnamese economic and technical services built on its southern continental shelf, have been standing firm on the wave front for the past 35 years, thanks to the dedicated efforts of officials and soldiers protecting the country’s national sovereignty over seas and islands.

The platform features modern equipment to help officials and soldiers better perform their tasks. (Photo: VNP/VNA)
Officials and solders of the DK1/18 platform welcome a working delegation. (Photo: VNP/VNA)
Books and newspapers are now readily available on the platform. (Photo: VNP/VNA)
The platform is about 250-350 nautical miles from the mainland. It has contributed significantly to the development of marine economic activities and the protection of Vietnam’s national sovereignty over seas and islands. (Photo: VNP/VNA).

Loading

Views: 0

Biển Đông là tài sản chung toàn cầu cần được bảo tồn bảo vệ

Biển Đông có diện tích hơn 3,6 triệu km2 có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng về kinh tế, quân sự và môi trường.

Biển Đông là vùng biển có hệ sinh thái biển đa dạng sinh học nhất hành tinh này. Nguồn hải sản phong phú ở đây đã tạo việc làm cho hàng triệu người và nuôi sống hàng trăm triệu người của các quốc gia ven Biển Đông mà còn cung cấp nguồn hải sản cho hàng triệu người trên thế giới. Hệ sinh thái biển ở đây, đặc biệt là các rạn san hô không chỉ đảm bảo môi trường biển bền vững cho khu vực mà cho cả Thái Bình Dương. Biển Đông cũng là nơi có nhiều tài nguyên đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt góp phần bảo đảm an ninh năng lượng chung cho khu vực và thế giới, giúp cho nhiều quốc gia trong khu vực trở lên thịnh vượng.

Biển Đông là nơi diễn ra các hoạt động thương mại quốc tế có tổng giá trị hơn 5.300 tỷ USD mỗi năm. Đây là con đường hàng hải nối từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương có tầm quan trọng bậc nhất trên thế giới. Các nền kinh tế lớn nhất, nhì thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đều phải vận chuyển hàng hóa trên con đường này.

Cũng chính vì Biển Đông có vai trò, vị trí quan trọng như vậy, khi các quốc gia ven biển đều cho rằng kinh tế biển là hết sức quan trọng thì việc tranh chấp chủ quyền, khai thác tài nguyên biển ở Biển Đông càng trở lên phức tạp, xung đột liên tục diễn ra.

Trong các quốc gia ven Biển Đông, hầu hết có nền kinh tế chưa phát triển, kinh tế biển mới phát triển vài thập kỷ gần đây và quan hệ tương đối hòa bình thì Trung Quốc ngày càng làm cho Biển Đông dậy sóng.

Trước hết là việc Trung Quốc thôn tính các đảo, quần đảo bất chấp chủ quyền của các nước đe dọa an ninh hàng hải và hòa bình trong khu vực.

Về môi trường, Trung Quốc cũng bị các nhà nghiên cứu về biển cho là Trung Quốc hủy hoại môi trường biển của Biển Đông nhiều nhất và lớn nhất. Trung Quốc đã ngang nhiên bồi đắp các đảo ngầm ở khu vực quần đảo Trường Sa, hủy hoại hàng loạt rạn san hô cả một vùng rộng lớn.

Trung Quốc có đội tàu đánh bắt cá khổng lồ. Chính phủ Trung Quốc nói rằng đội tàu đánh bắt xa bờ của họ khoảng 2.600 chiếc, nhưng Viện Phát triển hải ngoại của Anh cho rằng đội tàu này có tới 17.000 chiếc. Những tàu này được trang bị nhiều thiết bị điện tử để tìm kiếm nguồn cá và đánh bắt theo kiểu tiêu diệt. Hiện nay, Trung Quốc đánh bắt và tiêu thụ hải sản hơn bất kỳ quốc gia nào khác.

Trung Quốc cũng được cho là đã thải ra 1/3 lượng rác thải nhựa gây ô nhiễm các đại dương trong đó có Biển Đông.

Biển Đông là một phần trong tài sản chung toàn cầu cần phải được bảo tồn và bảo vệ. Các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc cần phải ý thức được điều đó.

BDN

Loading

Views: 0

Vietnam – A Resilient Partner looking to the bright future

Vietnam and Austria have enjoyed a traditional and friendly relations, with their bilateral trade turnovers ranking first in ASEAN and being among top 10 in the EU blocs. The Austrian President Alexander Van der Bellen invited the President Vo Van Thuong and the high-ranking delegation of Vietnam to visit Austria from July 23rd to July 25th, 2023 on the occasion of the 50th anniversary of the establishment of bilateral relations.

Vietnam – a potential partner in Asia

A recent report by the Asian Development Bank (ADB) forecasts the Vietnamese economy will grow by 6.5% in 2023 and by 6.8% in 2024 respectively despite the impacts by the global economic recession, tight monetary policies in major markets like the US and EU and influence from the Russia-Ukraine conflict. In 2022 alone, Vietnam’s GDP reached 409 billion USD.

Vietnam is one of the most competitive manufacturing centers in the region, benefiting from a shift in the supply chain of global production thanks to flexible policies in management of production and export. Vietnam’s investment environment has been strongly improved, becoming more and more attractive thanks to its focus on streamlining administrative procedures, continuing to give tax and fee incentives to manufacturing businesses, as well as promoting public investment. The Vietnamese government is speeding up national infrastructure investment (accounting for about 5.7% of the GDP) with the goal of connecting seaports, airports, warehouses and yards into a unified logistics network, generating driving force to make the country one of the fastest growing emerging markets in Asia. In the energy sector, Vietnam is implementing dual-horse strategy to soon successfully implement the “Green transformation” commitments introduced at the COP26; on the one hand, maintaining hydro-electricity and thermal power to ensure production capacity and national energy security, on the other hand, accelerating the investment of 133 billion USD for new electrical infrastructure by 2030.

Vietnam’s labor market – with a relatively larger size and better-trained forces compared with many other regional competitors – has become increasingly attractive to FDI enterprises. In the context of US-China trade tensions, Vietnam emerges as one of the safe destinations for global manufacturers thanks to open trade policies with 15 Free Trade Agreements (FTAs) already in effect, connecting almost all the major economies of the world (US, China, EU, ASEAN, Japan, Korea, UK, India…); thereby diversifying the production supply chain, limiting vulnerability to supply disruptions and other impacts by geo-political events.

In addition, in the context of conflicts and riots occurring in many parts of the world, Vietnam has always been evaluated as a country with stable politics under the consistent leadership of the Communist Party of Vietnam. This is one of the indispensable factors that contribute to  making Vietnam able to persist in its economic development policy, creating an environment of peace and prosperity, as well as securing the peace of mind for foreign partners when investing in Vietnam.

Vietnam – Austria relations is well developing into reality

Vietnam and Austria have enjoyed a traditional and friendly relations, with their bilateral trade turnovers ranking first in ASEAN and being among top 10 in the EU blocs. For more than 50 years of establishment of diplomatic relations, the ties between Vietnam and Austria have been continuously consolidated and developed in many areas. The two sides have regularly maintained contacts and exchanged high-level delegations, working closely and supporting each other in multilateral forums on the common goals of peace, cooperation and mutual development. 

In October 2018, the Prime Minister of the Socialist Republic of Vietnam Nguyen Xuan Phuc paid a high-level visit to Austria. In September 2021, the National Assembly Chairman of Vietnam Vuong Dinh Hue paid a working visit to Austria on the occasion of attending the 5th World Conference of Speakers of Parliaments (WCSP5) held in Vienna, Austria. In April 2023, Austrian Foreign Minister Alexander Schallenberg also made a high-level visit to Vietnam.

Austria  is presently in the group of 10 largest trading partners of Vietnam in the EU while Vietnam is Austria’s largest partner in ASEAN. Two-way trade turnover has grown rapidly, reaching 2.8 billion USD in 2022. Austria currently has more than 40 projects in force in Vietnam, focusing on the fields of railways, healthcare, vocational training, wastewater treatment… Austrian entrepreneurs have gradually made their imprints on Vietnam such as Doppelmayr, Gleisbauer of Austria participating in the construction of the cable car lines in the natural wonder Ha Long Bay, Quang Ninh province of Vietnam which scored 02 Guinness records. However, economic cooperation is still not commensurate with the potential and expectations of the country leaders of the two countries.

Lately, the Austrian President Alexander Van der Bellen invited the President Vo Van Thuong and the high-ranking delegation of Vietnam to visit Austria from July 23rd to July 25th, 2023 on the occasion of the 50th anniversary of the establishment of bilateral relations. This is a significant landmark for leaders of the two countries to discuss ways to deepen their political, economic and trade cooperation at bilateral and multilateral levels. It’s also an opportunity for Austrian businesses to promote trade, to lead the investment flow in Vietnam, bringing the Vietnam – Austria strategic partnership into depth and substance.

Vo Van Thuong, born in 1970, was elected by the 15th National Assembly of Vietnam on March 2nd, 2023 to become the State President of the country. He was the youngest man to hold this position in Vietnam. President Vo Van Thuong has a lot of experience in many fields from politics to economics. He was the initiator of the development of special mechanisms and policies to early turn Ho Chi Minh city into an economic, financial and cultural center, as well as a hub of service and innovation in Southeast Asia in particular and in Asia in general./.

https://waj.world/vietnam-a-resilient-partner-looking-to-the-bright-future-p8639.html?fbclid=IwAR1pbGGHZjQXWjxBLPhcoUxWjDgRB1O4ikh1rdG_qt0xxGk7EJpMe3OQCQI

Loading

Views: 0

Biển Đông và chủ quyền biển đảo Việt Nam dưới góc nhìn của các học giả châu Âu

Ngày 10/6, tại thủ đô Paris của Pháp đã diễn ra Hội thảo khoa học với chủ đề: “Biển Đông và vấn đề chủ quyền của Việt Nam” với sự tham dự của đông đảo học giả và những người yêu biển đảo Việt Nam.

Đại sứ Việt Nam tại Pháp Đinh Toàn Thắng phát biểu tại hội thảo. 

Theo phóng viên TTXVN tại Paris, chia sẻ về ý nghĩa và mục đích tổ chức sự kiện, bà Cao Hồng Vinh, Trưởng Ban liên lạc người Việt tại châu Âu vì biển đảo Việt Nam cho biết: “Hội thảo lần này là dịp thu thập tài liệu, cập nhật, trao đổi những thông tin mới nhất về tình hình Biển Đông thời gian qua. Thông qua hội thảo, những anh chị em Việt kiều đã đi thăm Trường Sa và nhà giàn DK1, cũng như những người yêu biển đảo Việt Nam có cơ hội kết nối với nhau, cùng nhau tổ chức các hoạt động hướng về biển đảo Việt Nam. Chúng tôi mong muốn đây sẽ là hoạt động thường niên của Ban liên lạc người Việt tại châu Âu vì biển đảo Việt Nam”.

Phát biểu tại lễ khai mạc, Đại sứ Việt Nam tại Pháp Đinh Toàn Thắng đánh giá cao nỗ lực của các cá nhân và hội đoàn cùng đóng góp để tổ chức hội thảo. Đại sứ cho rằng đây là sự kiện có ý nghĩa rất lớn đối với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là kiều bào tại châu Âu, thể hiện tình cảm và sự gắn bó của kiều bào với quê hương, đất nước, và cả với những chủ đề lớn của quốc gia, dân tộc.

Được tổ chức theo sáng kiến của Ban liên lạc người Việt tại châu Âu vì biển đảo Việt Nam, hội thảo đã nhận được 14 tham luận của các học giả, là các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu về châu Á, Biển Đông, các nhà kinh tế học, nhà giáo dục, từ các nước châu Âu (Ba Lan, Đức, Pháp, Italy, Séc, Ukraine), Canada và Việt Nam. Các tham luận đã đề cập nhiều góc nhìn về Biển Đông và vấn đề về chủ quyền biển đảo Việt Nam, xét trên các góc độ lịch sử, văn hóa, chính trị và pháp lý. Tình hình trên Biển Đông, những giải pháp để xử lý tranh chấp và những phương án phát triển kinh tế biển cũng được các diễn giả đề cập đến. Không chỉ lắng nghe những bài thuyết trình có giá trị khoa học, các đại biểu còn cùng nhau trao đổi, thảo luận những vấn đề đặt ra qua các bài tham luận.

Trao đổi với phóng viên TTXVN về góc nhìn của mình đối với vấn đề Biển Đông và các quần đảo Việt Nam, ông Patrice Jorland, Giáo sư Sử học, nguyên chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt cho biết, xét theo luật biển quốc tế, Việt Nam có một vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn. Ông Jorland cho biết Việt Nam có chủ quyền ở Biển Đông. Liên quan đến chủ quyền Trường Sa và Hoàng Sa, ông cho biết những chứng cứ lịch sử cho thấy Việt Nam đã khẳng định chủ quyền ở hai quần đảo này, đặc biệt là Hoàng Sa, từ cuối thế kỷ 18, dưới triều nhà Nguyễn. Giáo sư người Pháp cũng cho rằng các bên liên quan cần phải tôn trọng luật quốc tế, và khối ASEAN, trong đó Việt Nam là một thành viên tích cực, cần củng cố khối đoàn kết, tăng cường nỗ lực ngoại giao và đàm phán, tránh dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp.

Chú thích ảnh
Các diễn giả trình bày tham luận tại Hội thảo khoa học với chủ đề: “Biển Đông và vấn đề chủ quyền của Việt Nam”, ngày 10/6 tại thủ đô Paris (Pháp).

Về phần mình, bà Malgorzata Pietrasiak, Giáo sư Đại học Lodz ở Ba Lan, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, đánh giá cao phương pháp xử lý của Việt Nam về các vấn đề trên biển, mà bà gọi bằng thuật ngữ “Hedgingowa” (tạm dịch là “phòng ngừa rủi ro”). Theo bà, đây là chiến lược sáng suốt, mềm dẻo, hòa bình, không căng thẳng, nhưng cũng không nhượng bộ. Bà khẳng định: “Phương pháp này rất hiệu quả và mang lại điểm tốt cho ngoại giao Việt Nam trên chính trường quốc tế. Việt Nam cũng rất linh hoạt trong việc xử lý các vấn đề”.

Hiện đang có mặt tại thủ đô Paris, nhà văn khuyết tật Trần Thị Trà My dù đi lại và nói năng khó khăn, cũng cố gắng đến tham dự. Chị cho biết : “Lý do tham dự hội thảo vì tôi là người Việt Nam, tôi rất hay xem thời sự và thường xuyên tìm hiểu về Hoàng Sa và Trường Sa. Đến tham dự diễn đàn, tôi được biết thêm nhiều ý kiến khách quan về tình hình Việt Nam, được nghe nhiều bài chia sẻ hay của các giáo sư tiến sĩ ở Liên minh châu Âu, những người am hiểu vấn đề”.

Theo bà Bùi Thị Thu Minh, Việt kiều, Chủ tịch CLB Trường Sa tại Đức, ý tưởng tổ chức hội thảo là rất tuyệt vời vì nếu như theo truyền thống những người lớn tuổi như thế hệ bà thường chỉ tổ chức việc quyên góp tiền ủng hộ các chiến sĩ, nhưng các bạn trẻ đã có ý tưởng tốt là tổ chức hội thảo để có thể đạt được mục đích lớn hơn là kết nối, lan tỏa, hành động cùng Trường Sa. Bà nhấn mạnh: “Do đó, hoạt động như thế này sẽ giúp kết nối, đoàn kết tạo nên sức mạnh. Đó là điều tuyệt vời và mọi người nên ủng hộ để hằng năm có thể tổ chức những diễn đàn như thế này ở nhiều nơi, nhằm lan tỏa rộng hơn tới bạn bè quốc tế”.

Biển và chủ quyền biển đảo luôn là vấn đề được quan tâm không chỉ với Việt Nam mà với tất cả các nước có biên giới trên biển. Với 14 tham luận được trình bày, hội thảo góp phần mang đến cho công chúng những góc nhìn và các sáng kiến để cùng nhau xây dựng và phát triển trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ của nhau.

Nguồn: https://baotintuc.vn/thoi-su/bien-dong-va-chu-quyen-bien-dao-viet-nam-duoi-goc-nhin-cua-cac-hoc-gia-chau-au-20230611102242092.htm

Loading

Views: 0

Bước tiến mới trong quan hệ Việt-Mỹ

Đoàn nghị sĩ lưỡng hội Mỹ do Thượng nghị sĩ Mỹ Jeff Merkley dẫn đầu, có chuyến thăm Việt Nam từ ngày 7-11/4. Phát biểu trước báo giới tại Hà Nội, Thượng nghị Merkley tuyên bố Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken dự kiến sẽ đến Việt Nam “vào tuần tới”.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng đoàn nghị sĩ Mỹ tại buổi tiếp vào ngày 8-4. Ảnh: PHẠM THẮNG


Mục đích chuyến thăm của đoàn nghị sĩ lưỡng hội Mỹ

Thượng nghị sĩ Jeff Merkley, thành viên của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, dẫn đầu đoàn nghị sĩ lưỡng hội Mỹ thăm Việt Nam và Indonesia nhằm thúc đẩy hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Tại Hà Nội, đoàn đã có các cuộc gặp với đại diện hai Bộ Công an và Bộ Quốc phòng Việt Nam. Trong cuộc gặp tại Bộ Quốc Phòng, Thượng nghị sĩ Jeff Merkley trao tặng phía Việt Nam tập tài liệu gồm thông tin về bộ đội Việt Nam mất tích trong chiến tranh.

Trước đó, trong thông cáo đưa ra ngày 5/4, các nghị sĩ Mỹ cho biết đoàn sẽ thăm Việt Nam và Indonesia với mục tiêu là nhằm hỗ trợ các thành viên ASEAN “bảo vệ và tăng cường chủ quyền và an ninh của họ trước sự gia tăng gây hấn của Trung Quốc”.

Trong thông cáo báo chí, Thượng nghị sĩ Merkley tuyên bố: “Việt Nam và Indonesia là những đối tác quan trọng của Mỹ, và chỉ khi cùng nhau, chúng ta mới có thể giải quyết những thách thức nhiều mặt của thế kỷ này. Chuyến đi của chúng tôi sẽ là cơ hội để tăng cường không chỉ mối quan hệ với chính phủ hai nước đó mà còn giữa người dân các nước chúng ta”.

Thượng nghị sĩ Van Hollen có mặt trong phái đoàn cho biết: “Tăng cường quan hệ đối tác trên khắp thế giới sẽ giúp xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho người Mỹ cũng như cộng đồng toàn cầu. Điều này đặc biệt đúng ở Đông Nam Á…”.

Tại Việt Nam, phái đoàn tìm hiểu về những vấn đề phải giải quyết sau chiến tranh, bao gồm các dự án xử lý chất da cam/dioxin, rà phá bom mìn và tìm kiếm các tù nhân chiến tranh và quân nhân mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Ngoài ra, dự kiến, trong chuyến đi này, đoàn sẽ đến thăm một địa phương ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu đối với các cộng đồng và hệ sinh thái địa phương.

Trước chuyến thăm, Thượng nghị sĩ Merkley (ủy viên Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện) và Thượng nghị sĩ Van Hollen (Chủ tịch Tiểu ban Quan hệ đối ngoại Đông Á của Thượng viện) đã ra nghị quyết tái khẳng định sự ủng hộ của Mỹ đối với vai trò trung tâm của ASEAN, Tầm nhìn của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt trong kiến trúc thể chế của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Ông Merkley cùng Thượng nghị sĩ Mỹ Dan Sullivan cũng đã đưa ra một nghị quyết lưỡng đảng nhằm nâng cao nhận thức về các vấn đề môi trường, nhân đạo và kinh tế mà sông Mekong đang phải đối mặt, cũng như công nhận tầm quan trọng thiết yếu của Quan hệ đối tác Mekong-Mỹ trong việc hỗ trợ sự thịnh vượng ở khu vực.

Chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ – bước tiến nữa trong quan hệ Việt-Mỹ

Theo Reuters, tin tức về chuyến thăm của Ngoại trưởng Blinken đến Việt Nam được Thượng nghị sĩ Mỹ Jeff Merkley thông báo trong cuộc họp báo ở Hà Nội, nhưng thời điểm tiến hành chuyến thăm chưa được chính thức công bố. Nhiều khả năng, ông Blinken có thể đến Hà Nội vào ngày 15/4, sau đó lên đường sang Nhật Bản dự Hội nghị Ngoại trưởng nhóm G7 từ ngày 16 đến 18/4.

Như vậy, chuyến thăm của Ngoại trưởng Antony Blinken diễn ra sau cuộc điện đàm giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 29/3 vừa qua. Hai nhà lãnh đạo đã nhất trí tăng cường mối quan hệ song phương, nhưng không đề cập về việc chính thức nâng cấp mối quan hệ.

Chuyến thăm của ông Blinken được xem là nằm trong nỗ lực của Washington nhằm nâng cấp mối quan hệ song phương với Việt Nam lên tầm “đối tác chiến lược” trong năm nay, lý tưởng là vào đúng tháng 7/2023, nhân kỷ niệm 10 năm hai nước thiết lập “quan hệ đối tác toàn diện”./.

BND

Loading

Views: 0

Vụ rò rỉ tài liệu mật của Mỹ hé lộ điều gì?

Các tài liệu mật của Mỹ bị rò rỉ vào tuần trước có nêu chi tiết những điểm yếu của quân đội Ukraine, đặc biệt là thiếu hụt về đạn dược và phòng không, cũng như hướng tới leo thang căng thẳng với Trung Quốc.

Lầu Năm góc. Ảnh: Reuters

Điểm yếu của Ukraine

Theo tờ “The Washington Post”, một trong những tài liệu bị rò rỉ của Lầu Năm Góc nêu chi tiết rằng lực lượng phòng không của Ukraine có thể không bảo vệ được tiền tuyến cho đến cuối tháng 5. Một trong những tài liệu này bao gồm một đánh giá từ hồi tháng 2 của Bộ Quốc phòng Mỹ, trong đó cho biết “khả năng cung cấp tên lửa phòng không tầm trung để bảo vệ [tiền tuyến] của Ukraine sẽ bị giảm hoàn toàn vào ngày 23/5 tới”.

Theo tài liệu mật này, một khi vũ khí lớp phòng thủ thứ nhất của Ukraine hết đạn, “lớp phòng thủ thứ hai và thứ ba sẽ suy yếu trước các cuộc tấn công trên không của Nga từ mọi độ cao”.

Cả Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng Mỹ đang điều tra vụ rò rỉ tài liệu mật sau khi các nguồn tin của Nga đăng chúng lên các trang web trực tuyến, như Twitter. Các tài liệu này có từ tháng 3 hoặc đầu năm nay và dường như bao gồm thông tin về công tác đào tạo, cung cấp đạn dược cho Ukraine cũng như thương vong từ cả phía Ukraine và Nga. Các tài liệu dường như không có kế hoạch cho một cuộc phản công của Ukraine dự kiến vào mùa Xuân này.

Theo đó, các tên lửa phòng không của Ukraine sẽ cạn kiệt nhanh chóng: tên lửa của hệ thống SA-11 sẽ cạn kiệt vào ngày 13/4, của hệ thống NASAM do Mỹ sản xuất sẽ hết vào ngày 15/4 và của hệ thống SA-8 vào tháng 5 tới. Một tài liệu khác dường như cho thấy rằng việc phòng không Ukraine chỉ tập trung vào máy bay chiến đấu, trực thăng của Nga mà bỏ qua các mối đe dọa nhỏ hơn, như máy bay không người lái (UAV), là một trong những thiếu sót lớn.

Trong khi đó, theo tờ “The New York Times”, tài liệu mật đánh giá về tình trạng giao tranh ở Bakhmut – một thành phố thuộc vùng Donetsk ở phía Đông Ukraine đã bị bao vây trong 7 tháng qua. Ngoài ra, các tài liệu mật còn mô tả cách Mỹ theo dõi các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự hàng đầu của Ukraine.
Bên cạnh đó, tài liệu mật phác thảo các lực lượng Ukraine “bị bao vây bởi các lực lượng Nga ở Bakhmut” như thế nào kể từ ngày 25/2 và đề cập đến những đánh giá “nghiệt ngã” của các nhà lãnh đạo hàng đầu Ukraine trong cuộc chiến đang diễn ra ở Bakhmut: Tướng Kyrylo Budanov – Giám đốc tình báo quân đội Ukraine – nhận định tình hình rất “bi thảm” vào thời điểm này, trong khi đó Roman Mashovets – cố vấn của Chánh Văn phòng Tổng thống Ukraine – thừa nhận tinh thần chiến đấu của các lực lượng Ukraine ở Bakhmut rất thấp.

Hàn Quốc lo lắng

Một quan chức Phủ Tổng thống Hàn Quốc ngày 9/4 cho biết Seoul sẽ thảo luận với Washington sau khi một số tài liệu mật của quân đội Mỹ liên quan đến nước này bị rò rỉ. Các tài liệu mật của quân đội Mỹ bị rò rỉ gần đây có chứa thông tin về các cuộc thảo luận nội bộ của giới chức Hàn Quốc. Nội dung thảo luận là việc Mỹ gây áp lực thuyết phục Hàn Quốc gửi vũ khí cho Ukraine, điều trái với chính sách mà Seoul theo đuổi.

Theo tiết lộ, Seoul đồng ý bán đạn pháo để Mỹ bổ sung vào kho vũ khí của nước này. Tuy nhiên, trong trao đổi nội bộ, giới chức Hàn Quốc lo ngại Mỹ có thể gửi chúng tới Ukraine. Báo cáo mật này có được nhờ vào tình báo tín hiệu. Điều này cho thấy Mỹ đang do thám một trong những đồng minh chính tại châu Á.

Về phần mình, người phát ngôn của Phủ Tổng thống Hàn Quốc từ chối phản hồi câu hỏi về động thái do thám của Mỹ, cũng như từ chối xác nhận mức độ chân thực của các tài liệu bị rò rỉ. Khi được hỏi về việc liệu Hàn Quốc có kháng nghị hay yêu cầu Mỹ giải thích hay không, vị quan chức trên nói rằng Seoul sẽ tham khảo các vụ việc tương tự trước đây liên quan tới các quốc gia khác.

Kể từ khi Nga phát động “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine, Hàn Quốc đã đạt được hàng loạt thương vụ cung cấp vũ khí – bao gồm cả xe tăng và máy bay chiến đấu – cho Ba Lan, một nước thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Tuy nhiên, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk-yeol khẳng định luật pháp nước này cấm cung cấp vũ khí cho các nước đang vướng vào xung đột. Ông Yoon dự kiến sẽ gặp Tổng thống Mỹ Joe Biden vào ngày 26/4 trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Washington.

Leo thang căng thẳng với Trung Quốc

Vụ tài liệu mật của Mỹ rò rỉ trên Internet có thể gắn với nguyện vọng của các quan chức Mỹ muốn hối thúc ê-kip chính quyền của Tổng thống Joe Biden tới leo thang căng thẳng với Bắc Kinh, điều mà nhà lãnh đạo Mỹ không muốn. Đó là nhận xét của ông Vladimir Vasiliev, chuyên gia hàng đầu tại Viện Nghiên cứu Mỹ và Canada.

Chuyên gia Vladimir Vasiliev bình luận về vụ rò rỉ tài liệu mật: “Điều đó có thể gắn với thực tế hiện nay đang bùng phát căng thẳng trầm trọng trong quan hệ Mỹ-Trung, người ta muốn thúc đẩy chính quyền Biden thực hiện hành động ráo riết hơn theo hướng này, bởi đang có quan điểm nổi rõ cho thấy chính quyền rất ngại hành động, trong khi Bắc Kinh tỏ ra có phần nhân nhượng trong các giao kèo ký kết giữa các cơ cấu tài chính Trung Quốc và gia đình Biden”.

Như nhà khoa học chính trị nhận xét, không loại trừ là Trung Quốc cũng đáp trả. Chuyên gia Vasiliev nói: “Hơn nữa là bây giờ, khi Ủy ban Giám sát và Giải trình trách nhiệm của Mỹ bắt đầu nghiêm túc điều tra tất cả công việc kinh doanh của gia đình Biden. Tiến trình này đã khởi động, mặc dù không được nói đến nhiều. Hiện nay, xã hội đang có nhu cầu về các thông tin kiểu này. Và Trung Quốc dường như cũng dùng cách rất khéo léo khiến thông tin này thu hút sự chú ý của các nhà lập pháp Mỹ. Có thể chờ đợi diễn biến phát triển sự kiện chính trị nghiêm trọng trong nước”.

Một lô hồ sơ bí mật mới của Lầu Năm Góc đã xuất hiện trực tuyến. Theo tờ “The New York Times”, tổng cộng có khoảng 100 tài liệu được đăng tải tiết lộ động cơ thực sự trong chính sách của Mỹ đối với Ukraine, Trung Đông và Trung Quốc. Trong số đó có kế hoạch tạo ra một mạng lưới phòng không. Đây là vụ rò rỉ thứ hai trong vài ngày qua./.

BND

Loading

Views: 0

Chiến lược mua lại các cảng biển của Trung Quốc

Trung Quốc là một cường quốc thương mại toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của nước này đã được thúc đẩy đáng kể nhờ xuất khẩu tăng trong nhiều thập kỷ, trong đó vai trò của các cảng biển là hết sức quan trọng.

Một cảng biển của Trung Quốc

Với vai trò là các “động mạch chính” của thương mại toàn cầu, các điểm tiếp cận kinh tế và các nút triển khai sức mạnh địa chiến lược, các cảng là chìa khóa cho các nền kinh tế toàn cầu và khu vực, kết nối đất liền và biển. Trong những năm gần đây, việc Trung Quốc ngày càng tăng đầu tư vào các cảng nước ngoài đã thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Sự tập trung vào các khoản đầu tư mang tính chiến lược cao này đã tạo ra lo ngại rằng các phương tiện thương mại toàn cầu, một khi được phi tập trung hóa, đang dần tích tụ trong một số ít doanh nghiệp nhà nước (SOE) của Trung Quốc.

Theo các nhà nghiên cứu từ Đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ và Đại học Indiana, các công ty có trụ sở tại Trung Quốc và Hong Kong (Trung Quốc) sở hữu hoặc vận hành (trong hợp đồng thuê hoặc nhượng quyền thông qua nắm giữ tài sản) hơn 90 cảng tại 53 quốc gia. Các ước tính khác cho thấy Trung Quốc có các khoản đầu tư hoặc các thỏa thuận tương tự tại hơn 100 cảng với ít nhất một cảng mỗi châu lục ngoại trừ Nam Cực.

* Đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc vào các cảng

Hầu hết các khoản đầu tư vào cảng nằm dọc theo ba “con đường kinh tế xanh” của Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia. Tuyến đường đầu tiên nối Trung Quốc với Ấn Độ Dương, châu Phi và Địa Trung Hải; tuyến đường thứ hai nối Trung Quốc với Australia và Nam Thái Bình Dương; và tuyến đường thứ ba nối Trung Quốc với châu Âu qua Bắc Băng Dương.

Các nhà đầu tư chính của Trung Quốc tại các cảng và bến cảng ở nước ngoài là doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc. Một trong những nhà đầu tư SOE lớn nhất của Trung Quốc tại các cảng nước ngoài là Tập đoàn Vận tải biển Trung Quốc (COSCO), nhà khai thác cảng lớn nhất thế giới.

Hầu hết các khoản đầu tư cảng của tập đoàn này tập trung vào các nước phát triển và dọc theo các tuyến vận chuyển chính toàn cầu. Trong khi đó, Tập đoàn China Merchants Group (CMG), nhà đầu tư cảng lớn khác của Trung Quốc, đầu tư vào các thị trường mới nổi.

Theo báo cáo năm 2020 của Nikkei Asia, từ năm 2010-2019, các công ty Trung Quốc, như COSCO và CMG, đã đầu tư vào 25 dự án cảng ở 18 quốc gia, chi gần 11 tỷ USD ở nước ngoài.

* Mối quan tâm an ninh

Những khoản đầu tư này làm dấy lên lo ngại về tiềm năng thống trị vận tải biển quốc tế của Bắc Kinh và khả năng gây ảnh hưởng, thậm chí kiểm soát các tuyến đường biển và tuyến đường cung cấp năng lượng quan trọng. Song song với quá trình này, Trung Quốc mua lại các nguồn tài nguyên (như nước), công nghệ và cơ sở hạ tầng ở nước ngoài.

Báo cáo của Nikkei lưu ý rằng các khoản đầu tư vào cảng nước ngoài của các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc đã cho phép Bắc Kinh tiếp cận các trung tâm hàng hải chiến lược như một phần của sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) và Con đường Tơ lụa trên biển thế kỷ XXI, một “chiến dịch đầu tư tích cực đã làm dấy lên lo ngại về ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh trên toàn thế giới”.

Gần đây, việc mở rộng dấu ấn của Bắc Kinh tại Cảng Khalifa (thuộc Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất UAE), quyền sở hữu kho cảng dự trữ nhiên liệu tại cảng Fujairah (UAE) và các khoản đầu tư vào cảng Duqm ở Oman càng làm dấy lên lo ngại về những gì được cho là sự tập trung quyền lực của Trung Quốc và sự hiện diện của nước này ở Trung Đông đặc biệt là gần eo biển Hormuz, một “nút thắt” toàn cầu quan trọng.

Phản ứng lại, nhiều chính phủ đã tìm cách ngăn chặn các công ty Trung Quốc giành quyền sở hữu hoặc chiếm phần lớn cổ phần tại các bến cảng. Trong số các nước đó có Mỹ nhưng cũng bao gồm Bangladesh, quốc gia đã hủy hợp đồng với Trung Quốc liên quan đến xây dựng một cảng nước sâu tại Sonadia vào năm 2016, được cho là do áp lực từ Mỹ và Ấn Độ. Trong khi đó, Australia cho biết sẽ xem xét lại hợp đồng năm 2015 cho một chi nhánh của một SOE Trung Quốc thuê cảng Darwin trong 99 năm.

* Mối quan tâm ở phương Tây

Có ba mối quan tâm chính ở phương Tây liên quan đến đầu tư vào các cảng nước ngoài của các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc. Đầu tiên là những khoản đầu tư này có thể giúp Bắc Kinh tiếp cận thông tin nhạy cảm hoặc thông tin mật thông qua giám sát (chẳng hạn như theo dõi chuyển động của thông tin liên lạc và tàu bè), và khả năng thu thập dữ liệu.

Gần đây, tại Israel, Mỹ đã đề cập đến việc Tập đoàn cảng quốc tế Thượng Hải quản lý một cảng biển tư nhân mới tại Haifa. Căn cứ hải quân Haifa thường xuyên tiếp đón các tàu chiến Mỹ và Mỹ lo ngại rằng nhà điều hành cảng có thể dễ dàng theo dõi các hoạt động của tàu Mỹ, có quyền truy cập vào thiết bị từ các địa điểm sửa chữa, cũng như các lỗ hổng trong chuỗi cung ứng.

Mối quan tâm thứ hai là ảnh hưởng rõ ràng mà Bắc Kinh hiện có thể phát huy thông qua nhiều khoản đầu tư vào cảng của mình. Ví dụ, ở Hy Lạp, COSCO đã tăng cổ phần của mình trong cảng trung chuyển khổng lồ Piraeus lên 67%. COSCO cũng đã phát triển cơ sở hạ tầng đường sắt đến các nước như Đức, củng cố sự thống trị ngày càng tăng của Trung Quốc trong các tuyến đường biển và đường bộ thương mại qua phía Đông Địa Trung Hải. Các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc đã chủ trì tuyến đường biển thương mại xuyên Địa Trung Hải nối các cảng của Ai Cập với lục địa châu Âu ở Piraeus.

Mối lo ngại thứ ba là khả năng thành lập các trung tâm hậu cần và thậm chí cả các căn cứ quân sự bên cạnh các cảng nước ngoài đã được các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc mua lại. Cách bố trí các căn cứ mới sẽ giúp Bắc Kinh dễ dàng phục vụ và duy trì lực lượng hải quân đang phát triển. Việc Bắc Kinh duy trì một căn cứ quân sự ở Djibouti, gần cảng Doraleh thương mại đa mục đích do Trung Quốc điều hành, và gần Trại Lemonnier của Hải quân Mỹ làm gia tăng thêm những lo ngại này.

* Thách thức và ý nghĩa

Mối quan tâm của Trung Quốc đối với các cảng nước ngoài được thúc đẩy bởi những lo ngại về an ninh quốc gia. Cảng Gwadar ở Pakistan là một ví dụ điển hình. Cảng do công ty quản lý cảng nhà nước China Overseas Ports điều hành, vị trí địa chiến lược (và quyền kiểm soát) của cảng giúp Trung Quốc tránh được nút thắt chiến lược của eo biển Malacca, còn được gọi là “thế tiến thoái lưỡng nan Malacca” của Trung Quốc. Với việc Trung Quốc tiếp tục phụ thuộc vào các nguồn năng lượng nhập khẩu, đây vẫn là mối quan tâm địa chính trị và địa lý đối với Bắc Kinh. Vì khoảng 80% lượng dầu nhập khẩu này và 40% vận chuyển toàn cầu đi qua eo biển. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các chuyến hàng sẽ gây tổn hại đến uy tín và lợi ích kinh tế của Trung Quốc.

Điều đáng chú ý là Trung Quốc không có mạng lưới căn cứ ở nước ngoài. Ngoài ra, các cảng chưa được quân sự hóa và làm như vậy chắc chắn sẽ vi phạm các quy tắc pháp lý về chủ quyền lãnh thổ. Vì các tàu hải quân được coi là tàu quân sự của quốc gia nên thường không được chào đón cũng như không được phép cập cảng trong lãnh thổ có chủ quyền nếu không có sự cho phép. Hơn nữa, theo những thông tin công khai, đầu tư của SOE Trung Quốc vào các cơ sở cảng ở nước ngoài không đi kèm với các thỏa thuận bổ sung trao một số quyền nhất định cho quân đội Trung Quốc.

Các quan điểm khác cũng chỉ ra rằng quyết định của Bắc Kinh triển khai quân đội ở nước ngoài và thiết lập các căn cứ quân sự tương ứng là để bảo vệ lợi ích của mình, bao gồm các công ty và công dân Trung Quốc, thay vì thiết lập một phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc bên ngoài châu Á.

Với việc Trung Quốc tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng thương mại quy mô lớn ở các khu vực dễ xảy ra xung đột như châu Phi và Trung Đông, không có gì lạ khi cho rằng Bắc Kinh sẽ tìm cách thiết lập thêm các căn cứ ở nước ngoài trong những năm tới, bao gồm cả các cảng nước ngoài gần địa điểm mà các SOE của Trung Quốc đã mua lại chẳng hạn như ở Equatorial Guinea.

Hiện tại, các quốc gia có thể ngăn chặn việc mua lại các cảng của các quốc gia hoặc công ty cụ thể. Tuy nhiên, điều này có thể gây ra những thiệt hại kinh tế.

Các khoản đầu tư cảng nước ngoài và khả năng tiếp cận căn cứ quân sự, đặc biệt là ở các quốc gia có tầm quan trọng toàn cầu và địa chiến lược gần các nút thắt trên biển, có thể mang lại cho Trung Quốc ảnh hưởng lớn hơn đối với các mạng lưới chuỗi cung ứng quan trọng, và thậm chí định hình lại cảnh quan biển toàn cầu và khu vực để tạo lợi thế cho Bắc Kinh. Trong bối cảnh căng thẳng Mỹ-Trung, những lo ngại về việc doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc dễ dàng theo dõi và thu thập dữ liệu tại các cảng nước ngoài sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn./.

Theo trang mạng International Affair

Loading

Views: 0

Trung Quốc tăng cường hoạt động quân sự xung quanh Đài Loan

Theo thông tin từ Đài Loan, ngày 7/4 Trung Quốc tiếp tục cử tàu chiến và máy bay đến gần Đài Loan sau khi Tổng thống Thái Anh Văn gặp Chủ tịch Hạ viện Mỹ Kevin McCarthy.

Tàu sân bay Sơn Đông trong một chuyến ra biển cuối năm 2020. Ảnh: BQP Trung Quốc

Bộ Quốc phòng Đài Loan cho biết ba tàu chiến Trung Quốc đã đi vào vùng biển xung quanh hòn đảo tự trị, trong khi một máy bay chiến đấu và một máy bay trực thăng chống ngầm cũng bay qua Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của hòn đảo.


Ngày 5/4, hàng không mẫu hạm Sơn Đông – một trong hai chiếc tàu sân bay trong hạm đội hải quân của Trung Quốc, đã đi qua vùng biển phía Đông Nam của Đài Loan và hướng đến khu vực Tây Thái Bình Dương chỉ vài giờ trước khi Thái Anh Văn gặp McCarthy ở Los Angeles.


Trung Quốc – vốn coi Đài Loan là một phần lãnh thổ của mình – đã nhiều lần cảnh báo phản đối cuộc họp và trong ngày 6/4 đã nhắc lại nước này sẽ thực hiện “các biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia”.


Thái Anh Văn đã nói với các phóng viên trước khi bà rời Los Angeles – nơi bà dừng chân trên đường trở về từ Mỹ Latin – rằng chính phủ của bà cam kết đảm bảo “lối sống tự do và dân chủ của người dân Đài Loan”. Bà nói thêm: “Chúng tôi cũng hy vọng sẽ làm hết sức mình để duy trì hòa bình và ổn định giữa hai bên”.


Tháng 8/2022, Trung Quốc đã triển khai tàu chiến, tên lửa và máy bay chiến đấu xung quanh Đài Loan để phô trương lực lượng lớn nhất trong nhiều năm sau chuyến thăm Đài Loan của Nancy Pelosi – người tiền nhiệm của McCarthy. Phản ứng của Trung Quốc đối với cuộc gặp giữa Thái Anh Văn và McCarthy cho đến nay ở mức độ thấp hơn nhiều, nhưng vẫn khiến Đài Loan trong tình trạng báo động.

Đường trung tuyến ở eo biển Đài Loan. Đồ họa: CSIS


Thủ tướng Đài Loan Trần Kiến Nhan ngày 7/4 cho biết các cơ quan quốc phòng và an ninh của Đài Loan đang theo dõi chặt chẽ các diễn biến và yêu cầu “người dân bình tĩnh”. Trước đó, Bộ Quốc phòng Đài Loan ngày 6/4 cho biết ba tàu chiến đã được phát hiện xung quanh Eo biển Đài Loan và một máy bay trực thăng hải quân Trung Quốc đã đi qua ADIZ của hòn đảo.


Việc phô trương lực lượng của Trung Quốc đã khiến Mỹ yêu cầu Bắc Kinh “ngừng gây áp lực quân sự, ngoại giao và kinh tế đối với Đài Loan và thay vào đó tiến hành trao đổi ngoại giao một cách thực chất”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Vedant Patel nói với các phóng viên: “Chúng tôi cam kết duy trì các kênh liên lạc mở để ngăn chặn nguy cơ xảy ra bất kỳ tính toán sai lầm nào”.


McCarthy, người đứng thứ hai trong danh sách tranh cử tổng thống Mỹ, ban đầu dự định tự mình đến Đài Loan nhưng thay vào đó lại chọn gặp bà Thái Anh Văn ở California. Quyết định này được coi là một sự thỏa hiệp, trong đó nhấn mạnh sự ủng hộ đối với Đài Loan nhưng tránh gây căng thẳng với Trung Quốc – một động thái mà các nhà phân tích cho rằng cho đến nay đã chứng tỏ được sự hiệu quả. Thái Anh Văn ngày 6/4 nhấn mạnh: “Việc chúng tôi gặp gỡ những người bạn Mỹ của mình trong thời gian quá cảnh là điều khá bình thường. Tôi cũng hy vọng phía Trung Quốc có thể tự kiềm chế và không phản ứng thái quá”.


McCarthy đã cam kết rằng việc bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan (điều khiến giới lãnh đạo Trung Quốc tức giận) sẽ được duy trì. Theo McCarthy, chiến lược này đã được chứng minh để ngăn chặn sự xâm lược của Trung Quốc đối với Đài Loan. Ông nhận định: “Và những gì chúng ta biết qua lịch sử, cách tốt nhất để làm điều đó là cung cấp vũ khí cho phép mọi người ngăn chặn chiến tranh. Đó là một bài học quan trọng mà chúng tôi đã học được qua cuộc chiến Ukraine, rằng ý tưởng về các biện pháp trừng phạt công bằng trong tương lai sẽ không ngăn được ý đồ gây chiến từ ai đó”.


Thái Anh Văn hôm 6/4 cũng thừa nhận về thỏa thuận vũ khí với Mỹ nhưng không cung cấp thêm chi tiết. Bà nói: “Chúng tôi đã mua vũ khí từ Mỹ và chúng tôi hy vọng vũ khí sẽ được giao đúng hạn”.


Ngày 7/4, Trung Quốc áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Tiêu Mỹ Cầm – đại sứ thực tế của Đài Loan tại Mỹ – khi cấm bà nhập cảnh vào Trung Quốc và cáo buộc bà “cố tình kích động đối đầu giữa hai bờ eo biển”.


Bộ Ngoại giao Bắc Kinh cũng công bố các biện pháp trừng phạt đối với Viện Hudson (một nhóm chuyên gia cố vấn bảo thủ có trụ sở tại Washington) cũng như Thư viện Tổng thống Ronald Reagan, vì “cung cấp một nền tảng và tạo điều kiện cho Thái Anh Văn tham gia vào các hoạt động ly khai “đòi Đài Loan độc lập” tại Mỹ. Hai tổ chức hiện bị cấm tham gia giao dịch và hợp tác với các thực thể Trung Quốc, trong khi bốn cá nhân có liên quan đến họ bị cấm nhập cảnh hoặc tiến hành kinh doanh tại Trung Quốc./.

BND

Loading

Views: 0

Trung Quốc tăng cường năng lực hạt nhân ở Biển Đông

Các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) của Trung Quốc hiện đang lảng vảng suốt ngày đêm ở Biển Đông, đảm bảo năng lực tấn công đáp trả các lực lượng của Mỹ và đồng minh trong trường hợp xảy ra sự cố bất ngờ ở Đài Loan.

Chiến hạm Trung Quốc trong một cuộc tập trận ở Biển Đông. Ảnh: Chinamil.com.cn

Hãng tin Reuters tuần qua đưa tin rằng Trung Quốc hiện đang duy trì ít nhất 1 SSBN trên biển mọi lúc, có khả năng khiến hệ thống phòng thủ của Mỹ quá tải, đẩy nhiều mục tiêu vào tình thế rủi ro hơn, qua đó hối thúc Mỹ và các đồng minh phát triển các năng lực mới để chống lại mối đe dọa này.

Sáu SSBN Type 094 của Trung Quốc hiện đang thực hiện các cuộc tuần tra gần như liên tục từ Hải Nam đến Biển Đông và được cho là được trang bị một tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) tầm xa mới có thể tấn công lục địa Mỹ.

Bài báo của Reuters lưu ý rằng tên lửa mới này được đoán là JL-3, với tầm bắn được cho là lên đến 10.000 km và cho phép Trung Quốc tấn công lục địa Mỹ từ các pháo đài được bảo vệ ở Biển Đông.

Trước đây, các SSBN Type 094 của Trung Quốc, được trang bị tên lửa SLBM JL-2, cần phóng từ Tây Thái Bình Dương và phía Đông Hawaii thì mới tấn công được lục địa Mỹ. Điều đó đòi hỏi phải đi qua các nút thắt trên biển như Eo biển Miyako, Kênh Bashi và Biển Sulu, khiến các SSBN dễ bị lực lượng hải quân Mỹ và đồng minh đánh chặn.

Reuters đề cập rằng diễn biến mới này cho thấy sự cải thiện nhanh chóng của Trung Quốc trong lĩnh vực hậu cần, chỉ huy và kiểm soát cũng như vũ khí để duy trì khả năng răn đe hạt nhân trên biển. Bài viết cũng cho biết Trung Quốc đang bắt đầu triển khai SSBN tương tự như cách các cường quốc hạt nhân như Mỹ, Anh, Pháp và Nga đã làm. Theo Reuters, sự tiến triển này sẽ buộc các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN) của Mỹ phải liên tục theo dõi các SSBN của Trung Quốc, khiến kho tàu ngầm vốn đã hạn chế và năng lực đóng tàu đang chịu sức ép lại càng quá tải, đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ leo thang hạt nhân.

Quốc đều có công suất lớn hơn tất cả 7 nhà máy đóng tàu hải quân của Mỹ cộng lại, khiến Mỹ cảm thấy lúng túng trước năng lực đóng tàu đang lên của Trung Quốc. Việc cắt giảm ngân sách và các vấn đề khác gần đây đã khiến các xưởng đóng tàu của hải quân Mỹ sa thải công nhân lành nghề, khiến các tàu chiến của Mỹ đang được sữa chữa phải nán lại xưởng đóng tàu lâu hơn.

“Asia Times” đã lưu ý vào tháng 11 năm ngoái rằng SSBN của Trung Quốc rất cần thiết cho khả năng tấn công đáp trả bằng hạt nhân của nước này, với việc nâng cấp hạm đội cho phép Trung Quốc tự tin hơn về chính sách hạt nhân “không sử dụng trước”. Điều này liên quan đến cấu trúc lực lượng hạt nhân của Trung Quốc, được thiết kế để chống lại cuộc tấn công trước của kẻ thù và trả đũa các mục tiêu chiến lược hơn là răn đe một cách đáng tin cậy việc sử dụng vũ khí hạt nhân phủ đầu.

Với tư cách là những thiết bị mang lại năng lực tấn công đáp trả, SSBN của Trung Quốc đảm bảo rằng kẻ thù không thể chiến thắng với một cuộc tấn công phủ đầu bằng hạt nhân, khiến nó trở thành một lựa chọn chính sách chắc chắn là tự hủy diệt lẫn nhau.

Sự ra đời của JL-3 có thể cho phép Trung Quốc thực hiện thành công “chiến lược pháo đài” ở Biển Đông, loại bỏ sự cần thiết phải đưa các SSBN của họ di chuyển vào Tây Thái Bình Dương để phóng SLBM.
Thay vào đó, trong chiến lược pháo đài, Trung Quốc sẽ sử dụng Biển Đông như một khu bảo tồn SSBN được bảo vệ bởi tên lửa đặt trên đất liền, máy bay, lực lượng hải quân và các đảo cũng như thực thể kiên cố của nó.

Cấu hình nửa kín của Biển Đông khiến nó trở thành một khu vực lý tưởng cho chiến lược pháo đài. Từ góc độ hậu cần, Trung Quốc có thể dễ dàng duy trì các cuộc tuần tra SSBN tầm ngắn trên các vùng nước mở với các cơ sở chỉ huy và kiểm soát tương đối gần đó. Hơn nữa, do Biển Đông nằm giữa các tuyến liên lạc trên biển (SLOC), môi trường tiếng ồn dưới nước có thể khiến các SSBN của Trung Quốc khó bị phát hiện hơn. Tiếng ồn có thể được khai thác cùng với các tính năng âm thanh và nhiệt độc đáo của khu vực để có thể duy trì sự ẩn nấp cho tàu.

Sự phát triển năng lực của SSBN có thể gắn liền với việc Trung Quốc liên tục mở rộng kho vũ khí hạt nhân của mình. “Asia Times” đã lưu ý vào tháng trước rằng Trung Quốc có kế hoạch mở rộng kho vũ khí hạt nhân từ khoảng 400 đầu đạn hiện nay lên 1.500 đầu đạn vào năm 2035, với kho vũ khí lớn hơn và đa dạng hơn giúp tăng khả năng tấn công đáp trả của Trung Quốc và đặt nước này vào vị thế tốt hơn để đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân.

Các nhà quan sát lưu ý rằng 700 đầu đạn hạt nhân có khả năng đủ để Trung Quốc duy trì năng lực tấn công đáp trả, với các lựa chọn cho các cuộc tấn công hạt nhân ở cấp độ hạn chế. Hơn nữa, kho vũ khí hạt nhân lớn hơn và đa dạng hơn làm tăng số lượng và thể loại mục tiêu mà Trung Quốc có thể gây nguy hiểm, trong đó có thể bao gồm các nhóm tác chiến tàu sân bay và căn cứ đảo của Mỹ nằm rải rác trên Thái Bình Dương, bao gồm Hawaii và Guam.

Tuy nhiên, ngay cả khi các SSBN của Trung Quốc lảng vảng trên Biển Đông suốt ngày đêm, chúng có thể không an toàn trước các máy lén dưới nước và những con mắt theo dõi trên bầu trời. Trong một bài báo vào tháng 11/2020 viết cho trang nationalinterest.org, Kris Osborne đã đề cập đến “tuyến phòng thủ dưới biển hình móc câu của Hải quân Mỹ”, một mạng lưới liền mạch gồm các ống nghe dưới nước, cảm biến và thiết bị được đặt ở vị trí chiến lược trải rộng từ bờ biển phía Bắc Trung Quốc và chạy đến Đài Loan, Philippines và Indonesia. Hệ thống đó đảm bảo rằng các SSBN của Trung Quốc không thể rời khỏi Biển Đông mà không bị phát hiện, loại bỏ lợi thế về không gian và khoảng cách mà đại dương mang lại cho việc che giấu các SSBN.

Mặc dù các SSBN của Trung Quốc có thể không cần phải ra khỏi Biển Đông để phóng tên lửa và đe dọa đất liền Mỹ, nhưng chúng vẫn bị bao quanh bởi những vùng nước, cho phép việc theo dõi chúng dễ dàng hơn thông qua các phương tiện khác.

Tờ “Asia Times” tháng trước lưu ý rằng Mỹ và các đồng minh có thể sử dụng mạng lưới vệ tinh theo kế hoạch của Australia để theo dõi tàu ngầm Trung Quốc. Mạng lưới này sở hữu những tiến bộ trong công nghệ cảm biến như hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao và radar khẩu độ tổng hợp, kết hợp với giám sát thủy âm và thông tin tình báo nguồn mở, tất cả sẽ khiến các đại dương trở nên “trong suốt” từ nay đến năm 2050, qua đó loại bỏ mọi lợi thế tàng hình mà tàu ngầm hiện có./.

BND

Loading

Views: 0

Nhóm Bộ tứ và những kinh nghiệm từ AUKUS

Theo bài viết của Viện chính sách Lowy, Nhóm Bộ tứ chưa thể hiện được vai trò với tư cách một tổ chức gắn kết trong khi liên minh ba bên AUKUS đang hướng tới việc cân bằng quyền lực trong khu vực bằng hành động thực tế. Tác giả nhấn mạnh sự thiếu vắng những nỗ lực và động thái thiết thực thậm chí có thể đem tới những thông điệp và tác dụng ngược. 

Lãnh đạo nhóm Bộ Tứ. Ảnh: CNN

Trong tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo AUKUS hôm 14/3, liên minh khẳng định chương trình trang bị tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân AUKUS sẽ mang lại cho Australia năng lực đẳng cấp thế giới, đưa quốc gia này trở thành một trong 7 quốc gia duy nhất vận hành tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Tuyên bố được đăng tải trên trang mạng của Bộ Quốc phòng Australia có đoạn: “Lộ trình này mang lại những lợi ích chiến lược dài hạn đáng kể cho Australia, Anh và Mỹ. Qua đó giúp tăng cường năng lực công nghiệp của ba đối tác, nâng cao năng lực hợp tác để thúc đẩy chuỗi cung ứng ba bên trở nên mạnh mẽ và linh hoạt hơn”.

Tuyên bố này đã gây ra một cuộc tranh luận gay gắt. Vấn đề đặt ra là Australia sẽ cân nhắc những rủi ro và lợi ích của kế hoạch mua tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân như thế nào? Các nhà phê bình, từ các cựu thủ tướng cho đến các nhà phân tích hoài nghi, băn khoăn về hiệu quả chiến lược của kế hoạch, chi phí cơ hội, tính khả thi và tác động có thể có đối với chủ quyền của Australia. Những cuộc tranh luận này có thể tiếp tục, song điều có thể khẳng định hiện nay chính là AUKUS mang mục đích rõ ràng trong việc thay đổi cán cân quyền lực quân sự khu vực.

Xét ở góc độ này, AUKUS hoàn toàn trái ngược với một tập hợp nổi bật khác trong khu vực là Bộ tứ, gồm Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ. Có lẽ đã đến lúc Bộ tứ rút ra một số bài học từ AUKUS.

Về mục đích và thành phần, AUKUS và các mối quan hệ đối tác song phương khó có thể so sánh được với Bộ tứ. Liên minh Australia-Mỹ là một hiệp ước an ninh ràng buộc dựa trên nhiều thập kỷ tin cậy và kết nối thể chế. Bộ tứ không có nhiệm vụ chính thức, không có vai trò quân sự và là tập hợp của các cường quốc mới chỉ bắt đầu tham vấn về các vấn đề khu vực. Do đó, Bộ tứ khó có thể hoạt động như một liên minh. Dù vậy, nếu các thành viên Bộ tứ muốn đảm nhận vai trò an ninh khu vực, họ có thể học ít nhiều từ liên minh Australia-Mỹ. 

Điểm đáng chú ý của liên minh Australia-Mỹ trong những năm gần đây là nỗ lực thay đổi cán cân quyền lực thực tế trong khu vực. Kể từ khi lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ bắt đầu triển khai luân phiên tới căn cứ Darwin cách đây một thập kỷ, giới chức đã triển khai sáng kiến về lực lượng với kế hoạch bố trí máy bay chiến đấu, máy bay ném bom, tàu và binh lính ở Australia. Có thể có nhiều tranh cãi về giá trị của những bước đi này, song không thể phủ nhận đây là những yếu tố đang góp phần thay đổi hiện trạng thực tế, và cùng với sự hình thành của AUKUS, là những điều chỉnh trên môi trường biển khu vực. 

Những thay đổi quan trọng về sức mạnh quân sự này là hành động cần thiết để ngăn chặn hành động gây hấn tiềm năng của đối thủ. Thể hiện quyết tâm là phần không thể thiếu của các biện pháp ngăn chặn hiệu quả, song như vậy là không đủ. Thiếu hành động thực tế sẽ làm giảm độ tin cậy cần thiết. 

Nếu Bộ tứ chọn thực hiện sứ mệnh răn đe, họ có thể lấy cảm hứng từ liên minh Australia-Mỹ. Về lâu dài, một trong những tham vọng lớn nhất là thay đổi cán cân quyền lực sẽ liên quan đến việc các thành viên xây dựng năng lực quân sự mới. AUKUS đặt ra một tiêu chuẩn cao, nhưng Đánh giá Chiến lược Quốc phòng gần đây của Australia được cho là có khả năng đề xuất một loạt các sáng kiến hiện đại hóa khác, khả thi hơn.

Các thành viên Bộ tứ cũng có thể thay đổi cán cân quyền lực một cách nhanh chóng và không mất nhiều chi phí bằng cách tái bố trí các lực lượng quân sự hiện có. Các thành viên Bộ tứ sở hữu các vị trí có giá trị, và với các bố trí lực lượng cũng như xây dựng căn cứ mới, họ có thể phá vỡ đáng kể kế hoạch quân sự của Trung Quốc. Lấy ví dụ, đảo Cocos của Australia và quần đảo Andaman và Nicobar thuộc Ấn Độ, đều nằm gần các địa điểm quan trọng và các cơ sở quân sự của Trung Quốc ở Biển Hoa Nam (Biển Đông).

Đây là một việc làm mang tính rủi ro. Việc Bộ tứ đảm nhận vai trò quân sự mới sẽ gây ra những nhạy cảm chính trị giữa các thành viên và đặc biệt là trong khu vực. Vì vậy, thông điệp tinh tế sẽ là điều vô cùng quan trọng. Về cơ bản các hoạt động quân sự mới của các thành viên có thể không nhất thiết phải được gắn mác là sáng kiến của Bộ tứ. Các nhà quan sát cũng lo ngại rằng những lựa chọn hoặc các tương tác mới trong khu vực có thể hạn chế nhiều lựa chọn chính trị trong tương lai của Australia. Tuy nhiên, việc thiếu những năng lực này hoặc hội nhập sẽ còn đem lại nhiều rào cản hơn bởi thực tế việc thiếu các phương tiện quân sự cũng sẽ khiến Australia ngay từ đầu mất đi cơ hội lựa chọn cho dù giới lãnh đạo nước này mong muốn. 

Sự chuẩn bị quân sự của Bộ tứ cũng có thể mang lại cơ hội cho Trung Quốc. Việc Bắc Kinh muốn giành quyền kiểm soát Đài Loan bằng vũ lực nếu cần thiết là tham vọng rõ ràng, lâu dài và không thay đổi. Bắc Kinh hoàn toàn có thể lợi dụng nỗ lực chuẩn bị quân sự của những nước khác như một cái cớ để gia tăng lực lượng. Đây là những rủi ro nghiêm trọng cần được tính đến, song nếu không có rủi ro, người ta khó có thể thúc đẩy những chiến lược răn đe hiệu quả./.

Theo trang mạng defence.gov.au

Loading

Views: 0

Tổng thống Pháp thăm Trung Quốc: Qúa nhiều quan điểm khác biệt

 Tổng thống Pháp Emmanuel Macron ngày 6/4 kêu gọi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thuyết phục đồng minh thân thiết là Nga và giúp chấm dứt chiến tranh ở Ukraine. Tuy nhiên, nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ đáp lại rằng ông hy vọng hai bên có thể tổ chức hòa đàm càng sớm càng tốt.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hội đàm với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen tại Bắc Kinh ngày 6/4/2022. Ảnh: AFP

Trong các cuộc hội đàm rất được quan tâm ở Bắc Kinh, có cả Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen cùng tham gia, ông Macron nói rằng phương Tây phải bắt tay chặt chẽ phối hợp cùng Bắc Kinh để giúp chấm dứt cuộc khủng hoảng và ngăn chặn căng thẳng “bị cuốn vào vòng xoáy” có nguy cơ chia rẽ các cường quốc toàn cầu thành các khối xung đột với nhau. Bà von der Leyen được Tổng thống Pháp Macron mời cùng đến thăm Trung Quốc để thể hiện sự đoàn kết của châu Âu, nhưng sẽ không tham gia nhiều sự kiện giữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Pháp.

Ông Macron nói với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bên ngoài Đại lễ đường Nhân dân khi bắt đầu cuộc gặp song phương: “Cuộc xâm lược của Nga ở Ukraine đã giáng một đòn mạnh vào sự ổn định (quốc tế). Tôi biết tôi có thể tin tưởng vào ngài để đưa nước Nga trở lại những gì có lý có tình và đưa các bên quay lại bàn đàm phán”.

Tuy nhiên, theo trang mạng “Politico”, nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể hiện dấu hiệu nào cho thấy ông sẽ thay đổi quan điểm của ông về cuộc chiến của Nga ở Ukraine sau cuộc hội đàm với Tổng thống Pháp Macron hôm 6/4. Đáp lại phát biểu của ông Macron, nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ nhắc lại những phát biểu lâu nay của ông về cuộc chiến của Nga ở Ukraine, nói rằng “tất cả các bên” đều có “những quan ngại chính đáng về an ninh” và không có dấu hiệu nào cho thấy ông sẽ sử dụng ảnh hưởng của mình để chấm dứt cuộc xung đột. 

Phát biểu  trong cuộc họp báo tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, Tập Cận Bình nói: “Trung Quốc sẵn sàng cùng Pháp kêu gọi cộng đồng quốc tế duy trì lý trí và bình tĩnh”. Ông nói thêm: “Các cuộc đàm phán hòa bình cần phải được nối lại ngay khi có thể, cân nhắc tới những quan ngại an ninh chính đáng của tất cả các bên tham chiếu theo Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ)… tìm kiếm giải pháp chính trị và xây dựng một khuôn khổ an ninh cân bằng, hiệu quả và bền vững cho châu Âu”.

Ông Macron cũng đề nghị ông Tập Cận Bình gây áp lực để Nga tuân thủ các quy định quốc tế về không phổ biến vũ khí hạt nhân. Tổng thống Nga Vladimir Putin gần đây đã tuyên bố sẽ bố trí vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Belarus, nước láng giềng của Ukraine. Dù vậy, nhà lãnh đạo Trung Quốc nói rằng tất cả các nước cần phải tôn trọng các cam kết không sử dụng vũ khí hạt nhân và “không được gây ra chiến tranh hạt nhân”, nhưng không đề cập đến Nga. Ông kêu gọi cộng đồng quốc tế “kiềm chế mọi hành động có thể khiến cuộc khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn hoặc thậm chí vượt khỏi tầm kiểm soát”.

Theo quan sát của “Politico”, trong một động thái vi phạm quy ước về nghi thức ngoại giao, Tổng thống Macron đã nói với thời lượng gần gấp đôi chủ nhà trong cuộc họp báo. Sau khi đọc những phát biểu đã được chuẩn bị cẩn thận, Tập Cận Bình đôi khi tỏ ra thiếu kiên nhẫn và khó chịu khi Macron tiếp tục nói. Ông nhiều lần thở dài và tỏ ra không thoải mái khi nhà lãnh đạo Pháp dường như đang nói một cách tùy hứng về cuộc chiến ở Ukraine và trách nhiệm chung của họ trong việc duy trì hòa bình.

“Vai trò quan trọng” của Trung Quốc

Trong cuộc gặp riêng giữa Chủ tịch Ủy ban châu Âu von der Leyen và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, nhà lãnh đạo EU cảnh báo rằng việc vận chuyển vũ khí tới Nga sẽ “làm tổn hại nghiêm trọng” đến quan hệ giữa Trung Quốc và EU. Bà nói: “Là một thành viên của Hội đồng Bảo an LHQ, đó là một trách nhiệm lớn và chúng tôi mong rằng Trung Quốc sẽ thể hiện vai trò của mình, thúc đẩy một nền hòa bình công bằng, một nền hòa bình tôn trọng chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine, vốn là một trong những nền tảng của Hiến chương LHQ”.

Tuy nhiên, Mosvka đã “dội một gáo nước lạnh” vào triển vọng hai bên sẽ hòa giải khi ngày 6/4 tuyên bố rằng họ “không có lựa chọn nào khác” ngoài việc tiếp tục cuộc tấn công ở Ukraine. Phát ngôn viên của Điện Kremlin Dmitry Peskov nói: “Chắc chắn, Trung Quốc có khả năng hòa giải vượt trội và rất hiệu quả. Nhưng tình hình với Ukraine rất phức tạp và cho đến nay không có triển vọng cho một giải pháp chính trị”.

Chuyến thăm  Trung Quốc lần này của ông Macron là chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của ông kể từ năm 2019, diễn ra trong bối cảnh phương Tây đang gây áp lực để Bắc Kinh hỗ trợ thúc đẩy hòa bình ở Ukraine. Về mặt chính thức, Bắc Kinh tỏ ra trung lập và ông Tập Cận Bình chưa bao giờ lên án cuộc xâm lược của Nga. Tổng thống Pháp Macron cho biết ông muốn “trở thành tiếng nói có thể đoàn kết châu Âu” về vấn đề Ukraine và việc bà von der Leyen đến Trung Quốc là để “nhấn mạnh tính nhất quán của cách tiếp cận này”.

“Kết nối chặt chẽ”

Chuyến công du Trung Quốc của ông Macron cũng có một yếu tố quan trọng khác là kinh tế, với việc nhà lãnh đạo Pháp mong muốn củng cố quan hệ đối tác thương mại với Bắc Kinh.

Phát biểu với báo giới sau khi đến Trung Quốc ngày 5/4, ông Macron cho rằng châu Âu phải tránh việc giảm quan hệ thương mại và ngoại giao với Trung Quốc, ông cũng bác bỏ quan điểm của một số người cho rằng giữa Trung Quốc và phương Tây có một “vòng xoáy căng thẳng không thể thoát ra được”.

Ông Macron, đi cùng phái đoàn gồm 50 doanh nghiệp bao gồm cả tập đoàn Airbus, đại công ty sản xuất đồ thời trang xa xỉ LVMH và nhà sản xuất năng lượng hạt nhân EDF, cũng thăm Trung Quốc để tìm kiếm những mối lợi kinh tế.

Airbus đã ký các thỏa thuận ngày 6/4 để mở một dây chuyền lắp ráp mới tại Trung Quốc, tăng gấp đôi công suất tại thị trường hàng không lớn thứ hai thế giới và chốt một số đơn đặt hàng máy bay phản lực đã công bố trước đây.

Vấn đề Đài Loan 

Chuyến thăm của ông Macron và bà von der Leyen diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc đang gia tăng áp lực lên Đài Loan sau khi Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn gặp Chủ tịch Hạ viện Mỹ Kevin McCarthy tại California hôm 5/4.

Bắc Kinh phản đối bất kỳ liên hệ chính thức nào giữa Đài Bắc và phần còn lại của thế giới, khẳng định chỉ có “một Trung Quốc”. Trung Quốc đã nhiều lần cảnh báo cả hai bên rằng cuộc gặp không nên diễn ra và đã cho triển khai một tàu sân bay tới gần Đài Loan vài giờ trước cuộc gặp.

BND

Loading

Views: 0

Điều gì ẩn sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Pháp Macron

Ngày 5/4, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron bắt đầu chuyến công du tới Trung Quốc, với hy vọng ngăn Bắc Kinh ủng hộ cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine nhưng sẽ không cô lập đối tác-đối thủ thương mại và địa chính trị quan trọng này.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron phát biểu tại một sự kiện ở Savines-Le-Lac, Pháp, ngày 30/3/2023. Ảnh: AFP


Một quan chức từ văn phòng của Macron nói hôm 31/4: “Trung Quốc là quốc gia duy nhất trên thế giới có khả năng tác động ngay lập tức và triệt để đến cuộc xung đột, bằng cách này hay cách khác”. Quan chức này cho biết thêm ông Macron sẽ tìm cách giữ vững lập trường về vấn đề Ukraine nhưng sẽ chọn “cách diễn đạt khác” thay vì giọng điệu đối đầu trực tiếp thường thấy từ Washington.


Mục tiêu của nhà lãnh đạo Pháp bao gồm duy trì và tái cân bằng quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và châu Âu cũng như bảo vệ lợi ích của Pháp ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương – nơi Paris tự coi mình là một bên tham gia vì họ có các lãnh thổ hải ngoại và triển khai các hoạt động quân sự tại đây.


Nhà Trắng cho biết trước khi tới Bắc Kinh, ông Macron đã điện đàm với Tổng thống Mỹ Joe Biden để thảo luận về chuyến thăm Trung Quốc và sự ủng hộ dành cho Ukraine. Theo một nguồn tin ngoại giao Pháp, hai nhà lãnh đạo muốn Trung Quốc giúp “đẩy nhanh” việc tìm kiếm giải pháp cho cuộc chiến. Nguồn tin này cho biết cuộc điện đàm cho thấy “ý chí chung của Pháp và Mỹ là lôi kéo Trung Quốc nhằm đẩy nhanh việc kết thúc chiến tranh ở Ukraine và xây dựng một nền hòa bình lâu dài”. Hai tổng thống cũng hy vọng “Trung Quốc đóng góp cho nỗ lực toàn cầu vì sự đoàn kết Bắc-Nam” và xây dựng “một chương trình nghị sự chung” về khí hậu và đa dạng sinh học.


Tình bạn ‘không giới hạn”


Rõ ràng chuyến thăm của Macron có tác động vượt ra ngoài nước Pháp và ảnh hưởng đến toàn bộ Liên minh châu Âu (EU) gồm 27 quốc gia thành viên, điều này thể hiện qua sự xuất hiện của Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen trong chuyến công du của Tổng thống Pháp. Hôm 3/4, bà đã gặp Tổng thống Macron ở Paris để phối hợp chuẩn bị cho chuyến công du. Trong một bài phát biểu hồi tuần trước, bà Von der Leyen đã cảnh báo Bắc Kinh không nên trực tiếp ủng hộ cuộc chiến, đồng thời bác bỏ khả năng khối này “xa lánh” Trung Quốc. Chuyên gia Antoine Bondaz của Tổ chức Nghiên cứu Chiến lược (FRS) có trụ sở tại Paris cho rằng châu Âu sẽ không ngăn cản Tập Cận Bình cung cấp vũ khí cho Nga với giọng điệu “nhẹ nhàng rằng ông ta không nên làm những gì”. Thay vào đó, Bondaz dự đoán các nhà lãnh đạo Pháp và EC sẽ công khai cảnh báo lãnh đạo Trung Quốc về việc cung cấp vũ khí cho Moskva trong khi đưa ra lời đe dọa trừng phạt trong các cuộc đàm phán với Tập Cận Bình.


Trung Quốc đã nỗ lực thể hiện họ đang tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho cuộc tấn công của Nga vào quốc gia láng giềng. Tuy nhiên, chuyến thăm của Tập Cận Bình tới Moskva hồi tháng 3 vừa qua và việc công bố một kế hoạch hòa bình được coi là nghiêng về phía Nga đang làm dấy lên sự hoài nghi ở các nước phương Tây. Bà Von der Leyen tuần trước đã phàn nàn rằng “không những không bị gián đoạn bởi cuộc xâm lược tàn bạo và bất hợp pháp của Nga vào Ukraine, Chủ tịch Tập Cận Bình vẫn duy trì ‘tình bạn không giới hạn’ với nước Nga của (Tổng thống Vladimir) Putin” – nhắc lại một cụm từ được đưa ra ngay trước khi Nga phát động cuộc tấn công xâm lược vào Ukraine hồi tháng 2/2022. Bà nói thêm: “Cách Trung Quốc tiếp tục tương tác với cuộc chiến của Putin sẽ là yếu tố quyết định cho quan hệ EU-Trung Quốc trong tương lai”.


Trong EU, các cường quốc kinh tế như Pháp và Đức coi việc duy trì thương mại với Trung Quốc là ưu tiên hàng đầu, trong khi các quốc gia ở phía Đông – gần với biên giới Ukraine hơn và có ký ức đen tối về sự chiếm đóng của Nga – muốn tăng áp lực lên Bắc Kinh liên quan cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine.
Francois Godement, chuyên gia về châu Á tại viện nghiên cứu Institut Montaigne, cho rằng Macron và người đứng đầu EC sẽ đặt “nhấn mạnh vào việc giảm thiểu rủi ro thay vì cô lập (Trung Quốc)”. Ông nói thêm rằng hai nhà lãnh đạo này sẽ tìm cách “phản ứng nhẹ nhàng nhưng thiết thực” trước những mâu thuẫn với Bắc Kinh mà “không xúc phạm đến tương lai của Trung Quốc”, vì có vẻ Tập Cận Bình đang củng cố chắc chắn vị thế lãnh đạo.


Trung tâm đầu não


Tổng thống Macron sẽ dẫn đầu một phái đoàn gồm khoảng 60 nhà lãnh đạo doanh nghiệp đến Bắc Kinh, bao gồm cả các chủ tịch và giám đốc điều hành (CEO) của Airbus và EDF – một số người hy vọng sẽ ký được những hợp đồng mới béo bở. “Chúng tôi không muốn cắt đứt quan hệ kinh tế, xã hội, chính trị và khoa học” với Trung Quốc, bà Von der Leyen nói, mặc dù Brussels cũng như Paris đều hy vọng sẽ “tái cân bằng” mối quan hệ thương mại “trên cơ sở minh bạch, có thể dự đoán và có đi có lại”. Ngày 7/4, Tổng thống Macron sẽ tới Quảng Châu, miền Nam Trung Quốc, để nói chuyện với các sinh viên địa phương.
Ông Macron cũng sẽ để mắt đến “dấu chân” của Pháp trên khắp khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Khoảng 1,6 triệu công dân cư trú tại các vùng lãnh thổ hải ngoại của Pháp, từ đảo La Reunion ngoài khơi bờ biển phía Đông Madagascar đến New Caledonia ở phía Đông Bắc Australia và hàng chục hòn đảo ở Thái Bình Dương của Polynesia thuộc Pháp.


Cedric Perrin, đồng tác giả của một báo cáo của Thượng viện Pháp về khu vực, cho biết nhờ dân số đông đúc, tài nguyên thiên nhiên phong phú và sức mạnh kinh tế, châu Á-Thái Bình Dương đã trở thành “trung tâm đầu não của hành tinh”. Pháp hy vọng khu kinh tế rộng lớn và 7.000 binh sĩ được triển khai có thể giúp họ có chỗ tại bàn đàm phán trong trường hợp căng thẳng gia tăng ở khu vực, bao gồm Bán đảo Triều Tiên và xung đột Trung-Mỹ liên quan vấn đề Đài Loan./.

Theo AFP

Loading

Views: 0

Thách thức với vùng châu thổ sông Mekong

Khi các thủ tướng, nhà ngoại giao và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và tài chính tập trung tại thủ đô Viêng Chăn (Lào) để tham dự Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong (MRC) lần thứ tư trong tuần này, việc chuyển trọng tâm của các cuộc thảo luận trong khuôn khổ Hội nghị, từ nước sông sang những gì chảy dưới mặt sông là một nhu cầu cấp thiết. Nếu không làm như vậy sẽ dẫn đến nhiều quyết định không tính đến mối đe dọa lớn nhất đối với tương lai của châu thổ sông Mekong (gọi là Đồng bằng sông Cửu Long). Đó là lượng cát ở lòng sông giảm mạnh.

Một đoạn sông Mekong. (Nguồn: luxurycruisemekong.com)

Với độ cao trung bình dưới một mét so với mực nước biển, Đồng bằng sông Cửu Long đã là một trong những nơi dễ bị tổn thương nhất trên Trái Đất trước biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, việc mất lượng bùn và cát đang làm suy yếu nghiêm trọng sự ổn định và khả năng phục hồi của Đồng bằng sông Cửu Long, làm tăng mối đe dọa từ lũ lụt, hạn hán và bão ngày càng trầm trọng cũng như mực nước biển dâng. Ngoài ra, lượng trầm tích trên sông Mekong giảm cũng đang gây ra nhiều vấn đề cấp bách hơn, góp phần làm giảm mạnh mực nước ngầm và hút nước mặn vào sâu hơn trong đất liền – gây nguy hiểm cho một trong những vựa lúa năng suất cao nhất thế giới và sinh kế của hàng triệu người.


Các đập thủy điện và nạn khai thác cát không bền vững là nguyên nhân dẫn đến xu hướng tai hại này. Do vậy, điều cần thiết là đảo ngược những tổn thất này và đảm bảo đủ lượng trầm tích trong sông. Để bảo tồn vùng châu thổ sông Mekong cần tự động bổ sung trầm tích mới cho đất để giữ cho vùng này cao hơn mực nước biển dâng và duy trì các bãi cát ngoài khơi để bảo vệ bờ biển và rừng ngập mặn trước những cơn sóng ngày càng hung dữ.


Châu thổ sông Mekong đã mất hơn 2/3 lượng trầm tích tự nhiên và lượng trầm tích sẽ chỉ còn dưới 3% vào năm 2040. Tuy nhiên, đây chỉ là một phần của câu chuyện vì chỉ xét đến lượng trầm tích lơ lửng trong nước sông vốn dễ theo dõi hơn. Không có dữ liệu đáng tin cậy về lượng cát còn lại ở đáy sông bởi có thể mất hàng thập kỷ mới đi hết được chiều dài của sông Mekong. 


Nếu hoạt động khai thác cát không bền vững như hiện nay vẫn được tiếp tục, thì trữ lượng cát có thể khai thác ở sông Mekong sẽ cạn kiệt trong vòng 10 năm, gây phương hại cho các hoạt động phát triển phụ thuộc vào cát cũng như sự tồn tại của Đồng bằng sông Cửu Long. 


Tác động của việc khai thác cát ở sông Mekong cũng đã được cảm nhận ở thượng nguồn sông ở Campuchia, Lào và Thái Lan. Việc đáy sông Mekong bị sụt do hoạt động khai thác cát, đang làm xói mòn bờ sông, làm giảm nguồn nước phục vụ cho nông nghiệp và ảnh hưởng đến hoạt động đánh bắt cá tự nhiên có năng suất, thiên nhiên cũng như chuỗi cung ứng dệt may và điện tử quan trọng trên toàn cầu. Các quốc gia này cũng cần đảm bảo đủ lượng cát còn lại ở sông Mekong. 


Vấn đề có quy mô toàn lưu vực sông Mekong này chỉ có thể được giải quyết thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và hành động tập thể.


Cát từ mọi nguồn chảy qua sông Mekong ra biển. Đây là nguồn tài nguyên quý giá được chia sẻ giữa các quốc gia ven sông, trở thành một vấn đề quản trị dòng sông xuyên biên giới – và là vấn đề trọng tâm đối với nhiệm vụ của MRC. Hội nghị cấp cao MRC lần thứ tư đã nhấn mạnh rằng có cơ sở pháp lý cho sự hợp tác giữa các quốc gia và rằng ủy ban là nền tảng để đối thoại và giải quyết các vấn đề cũng như cho việc lập kế hoạch lưu vực chủ động chung. Đây là những bước đi đúng hướng cần được thực hiện, trong đó cần ưu tiên việc đảo ngược các tác động tiêu cực của việc khai thác cát trên sông Mekong và đối với người dân trong các cộng đồng ven sông.

Kết quả của hội nghị phải là lộ trình dẫn đến sự bền vững. Điều quan trọng là các nhà lãnh đạo cần cân nhắc kỹ lưỡng và coi trọng cát không chỉ là nguyên vật liệu cơ bản miễn phí cho hoạt động xây dựng mà còn là tài sản mang lại lợi ích vô giá cho sông và bờ biển, cộng đồng và thành phố, con người và thiên nhiên. Các nhà lãnh đạo cần kiến thức và công cụ hỗ trợ cho việc ra quyết định về những nơi nào cần cát nhất như trong các tòa nhà, bãi chôn lấp hoặc trên sông. Các nhà lãnh đạo cần biết những gì khác thay thế cát để đáp ứng nhu cầu như vật liệu thay thế, cát nhân tạo, tái chế và khai thác cát từ các nguồn khác bền vững hơn. Tất cả điều này phải được xem xét trong khuôn khổ một bức tranh lớn hơn. Đó là việc duy trì cát ở sông Mekong có thể là chiến lược thích ứng khí hậu hiệu quả nhất về chi phí của khu vực, một cách tích cực tự nhiên để xây dựng khả năng phục hồi.


Rõ ràng là nếu không giải quyết được vấn nạn khai thác cát hiện nay, chúng ta sẽ chứng kiến Đồng bằng sông Cửu Long chìm dưới những con sóng. Đồng bằng cần cả bùn và cát. Do vai trò cụ thể của cát không được hiểu và đánh giá đúng nên khả năng phục hồi và sự tồn tại lâu dài của sông Mekong đã bị “hy sinh” vì lợi ích ngắn hạn. Các nước có thể ngừng hoạt động khai thác cát không bền vững và để sông Mekong làm việc cho mình. Các nước cần vạch ra một lộ trình mới hướng tới sự phát triển toàn diện, kiên cường và bền vững – một lộ trình mà các quyết định có tính đến giá trị của một dòng Mekong khỏe mạnh và những lợi ích đa dạng mà dòng sông mang lại cho con người và thiên nhiên./.

BND

Loading

Views: 0

Châu Á-Thái Bình Dương: Nguy cơ chạy đua vũ trang mới từ những điểm nóng

Quân sự hóa toàn cầu đã phát triển nhanh chóng trong suốt thế kỷ XXI, với sự điều chỉnh rõ rệt hướng về khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Từ năm 2000-2021, chi tiêu quốc phòng hàng năm đã tăng từ 1.120 tỷ USD lên 2.110 tỷ USD. Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, trong giai đoạn này, chi tiêu quốc phòng toàn cầu ở châu Á và châu Đại Dương đã tăng từ 18% lên 28%. 

Đảo An Bang thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Những lo ngại ngày càng tăng đối với Trung Quốc, quốc gia có chi tiêu quốc phòng tăng đều đặn trong gần 3 thập kỷ, đã thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực, phá hoại các công ước khu vực đã tồn tại hàng thập kỷ và phơi bày một số điểm nóng tiềm tàng.

Đài Loan
Mối lo ngại lớn nhất về sự bành trướng quân sự của Trung Quốc liên quan kế hoạch thôn tính Đài Loan. Nguy cơ Trung Quốc xâm lược Đài Loan đang ở mức cao nhất trong nhiều thập kỷ, nhưng các dự đoán về thời điểm nó có thể xảy ra lại khác nhau. Gần đây, một số nhà lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ đã đưa ra những dự báo đáng báo động, đó là các thời điểm năm 2023, 2025 và 2027. Các đánh giá của Mỹ là rất quan trọng, vì có thể quân đội Mỹ sẽ giúp bảo vệ Đài Loan trước các cuộc tấn công của Trung Quốc. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cảnh báo rằng những dự báo này có khả năng bị phóng đại nhằm mục đích vận động hành lang để có thêm kinh phí. Các nguồn tin cho biết những dự đoán công khai đó đã khiến Tổng thống Đài Loan thất vọng, vì bà đang cố gắng đảm bảo rằng dư luận đủ quan tâm về mối đe dọa Trung Quốc có thể gây ra cho Đài Loan.

Tuy nhiên, quy mô mở rộng quân sự của Trung Quốc cung cấp cho các nhà phân tích một số manh mối về tham vọng của Bắc Kinh nước này đối với Đài Loan.

Mặc dù vẫn dành một phần GDP nhỏ hơn cho quốc phòng so với Mỹ, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc dự báo sẽ tăng 7,2% trong năm nay, đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Bộ Quốc phòng Mỹ ước tính chi tiêu quốc phòng thực tế của Trung Quốc có thể gấp đôi so với con số được báo cáo chính thức. Đáp lại, ngân sách quốc phòng mới nhất của Mỹ đã ưu tiên tăng cường sự hiện diện quân sự ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Trong tháng này, Mỹ đã phê duyệt thương vụ bán vũ khí mới trị giá 619 triệu USD cho Đài Loan.

Việc tăng chi tiêu quốc phòng rõ ràng đã ảnh hưởng đến sự cân bằng lực lượng quân sự trong khu vực. Năm 2000, Trung Quốc là nước chi tiêu quốc phòng lớn thứ hai ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Năm 2021, ngân sách quốc phòng của nước này lớn hơn cả tổng ngân sách quốc phòng của 13 quốc gia khu vực xếp sau Trung Quốc trong danh sách cộng lại.

Triều Tiên

Sau khi đã phóng khoảng 90 tên lửa đạn đạo và các loại vũ khí khác trong năm 2022, nhiều nhất từ trước đến giờ, Triều Tiên dường như có ý định lập kỷ lục mới trong năm nay. Từ đầu năm đến nay, Bình Nhưỡng đã tiến hành 11 vụ thử tên lửa, bao gồm 2 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa và thậm chí cả, theo truyền thông nhà nước đưa tin, tên lửa hành trình chiến lược có khả năng mang đầu đạn hạt nhân.

Trong một dấu hiệu cho thấy Bình Nhưỡng không có ý định từ bỏ vũ khí hủy diệt hàng loạt, gần đây họ đã công khai các đầu đạn hạt nhân mới, nhỏ hơn và tuyên bố sẽ sản xuất nhiều vật liệu hạt nhân cấp vũ khí hơn. Cuối năm 2022, Kim Jong-un đã kêu gọi “tăng theo cấp số nhân” kho vũ khí hạt nhân của nước này. Những hành động khiêu khích của Triều Tiên nhằm vào kẻ thù của họ là Mỹ và Hàn Quốc. Triều Tiên lên án các cuộc tập trận chung Mỹ-Hàn (có sự tham gia của tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân USS Nimitz) là cuộc diễn tập cho một cuộc xâm lược, mặc dù các đồng minh khẳng định cuộc tập trận hoàn toàn mang tính chất phòng thủ.

Căng thẳng gia tăng trên Bán đảo Triều Tiên đã khiến Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk-yeol có phản ứng cứng rắn, cảnh báo rằng Seoul sẽ không cung cấp “một xu” cho Triều Tiên chừng nào nước này vẫn tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhân. Đáng lo ngại hơn, tại Hàn Quốc bắt đầu xuất hiện cuộc tranh luận nghiêm túc về việc nước này có nên sở hữu khả năng răn đe hạt nhân của riêng mình hay không. Theo các cuộc thăm dò dư luận, đa số người dân Hàn Quốc ủng hộ động thái này. 

Tại Nhật Bản, mối lo ngại về Triều Tiên và một Trung Quốc ngày càng quyết đoán đã thúc đẩy nước này rời bỏ “chủ nghĩa hòa bình”. Cuối năm ngoái, chính phủ của Thủ tướng Fumio Kishida tuyên bố Nhật Bản sẽ tăng gấp đôi chi tiêu quốc phòng lên 2% GDP vào năm 2027.

Môi trường an ninh ngày càng bất ổn ở châu Á-Thái Bình Dương là chất xúc tác cho sự tan băng được chờ đợi lâu nay trong quan hệ Nhật-Hàn. Tháng 3 vừa qua, Tổng thống Yoon Suk-yeol và Thủ tướng Kishida đã trở thành nhà lãnh đạo Hàn Quốc và Nhật Bản đầu tiên tổ chức hội đàm song phương sau 12 năm. Hội nghị thượng đỉnh giữa hai nhà lãnh đạo ở Tokyo đã dẫn đến một thỏa thuận nối lại các chuyến thăm lẫn nhau và đối thoại an ninh sau 5 năm gián đoạn.

Biển Đông

Biển Đông là một trong những tuyến đường thủy quan trọng nhất về mặt chiến lược và kinh tế, có nhiều sinh vật biển sinh sống và được cho là có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên đáng kể, đồng thời là nơi xảy ra tranh chấp trong suốt nhiều thập kỷ. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông, với cái gọi là “Đường 9 đoạn” do họ tự vạch ra để đánh dấu giới hạn yêu sách chủ quyền – mặc dù Tòa trọng tài quốc tế ở The Hague đã bác bỏ điều này. Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Đài Loan cũng có các tuyên bố chủ quyền chồng chéo. Mỹ, mặc dù không phải là một bên tranh chấp, cũng coi vùng biển này là vô cùng quan trọng đối với lợi ích quốc gia của họ.

Dưới thời Tổng thống Ferdinand Marcos, Philippines đã có lập trường cứng rắn hơn về những tranh chấp ở Biển Đông. Manila mới đây cáo buộc các tàu Trung Quốc có “các hành động gây hấn” ở Biển Đông. Manila đã cam kết Philippines “sẽ không để mất một tấc” lãnh thổ, và đã có sự thay đổi lớn trong chính sách đối ngoại, tăng cường quan hệ quốc phòng với Mỹ và các đồng minh của Mỹ. Tháng 3 vừa qua, Philippines đã mở rộng quyền tiếp cận của Mỹ đối với các căn cứ quân sự của nước này, tăng cường dấu ấn của Washington trong khu vực và cho phép Mỹ dễ dàng giám sát hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông gần Đài Loan. Manila cũng tăng cường hợp tác quân sự với Nhật Bản và Australia, hai đồng minh của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương.

Khác với các quốc gia láng giềng từng bày tỏ lo ngại về AUKUS, cho rằng nó có thể châm ngòi cho một cuộc chạy đua vũ trang gây bất ổn cho khu vực, Philippines đã ủng hộ liên minh quân sự này. Cách tiếp cận của Marcos, người lên nắm quyền vào năm ngoái, hoàn toàn trái ngược với cách tiếp cận của người tiền nhiệm Rodrigo Duterte – người đã tìm kiếm mối quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với Bắc Kinh và phớt lờ các động thái gây hấn của Bắc Kinh ở Biển Đông, ngay cả khi Trung Quốc xây dựng căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo và tàu Trung Quốc quấy rối hoặc đâm tàu của Philippines.

Các đảo quốc Thái Bình Dương

Các nhà lãnh đạo Thái Bình Dương đã nhiều lần nhấn mạnh rằng họ không muốn bị lôi kéo vào một cuộc cạnh tranh địa chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc cũng như từ chối việc phải chọn bên. Họ đã nhiều lần nói rằng khủng hoảng khí hậu mới là mối đe dọa an ninh hàng đầu. Tuy nhiên, Trung Quốc đang ngày càng tích cực tìm kiếm ảnh hưởng ở các đảo quốc Thái Bình Dương, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh và chính trị. Những nỗ lực này đã khiến Australia, New Zealand và Mỹ đẩy mạnh các nỗ lực ngoại giao của họ.

Những bước tiến của Bắc Kinh trong khu vực được minh họa rõ nhất qua việc ký kết thỏa thuận an ninh với Quần đảo Solomon gần một năm trước. Một văn kiện dự thảo rò rỉ cho thấy thỏa thuận này có thể mở đường cho sự hiện diện của hải quân Trung Quốc trong tương lai, chỉ cách bờ biển của Australia khoảng 1.700 km, bất chấp Thủ tướng Solomon Manasseh Sogavare đã nhiều lần khẳng định với Australia và các quốc gia khác rằng sẽ không bao giờ cho phép thiết lập một căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ quần đảo này.

Năm ngoái, Trung Quốc cũng đã nỗ lực tìm kiếm một thỏa thuận an ninh khu vực sâu rộng với 10 đảo quốc Thái Bình Dương, nhưng đã bị các nhà lãnh đạo Thái Bình Dương từ chối vì lo ngại Bắc Kinh đang cố gắng phá vỡ các cấu trúc đã được thiết lập như Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương (PIF). Các quốc gia khác nhanh chóng đáp trả các động thái ngoại giao này của Trung Quốc.  Chính phủ của Công đảng Australia đã ưu tiên khôi phục lòng tin với các nhà lãnh đạo Thái Bình Dương. Ngoại trưởng Penny Wong và các quan chức khác đã thực hiện một loạt chuyến thăm cấp cao, nhấn mạnh an ninh phải là trách nhiệm trực tiếp của khu vực (chứ không phải của Trung Quốc). Australia đặt mục tiêu hoàn tất đàm phán hiệp định an ninh song phương với Papua New Guinea vào cuối tháng 4, sau khi đã ký một hiệp định tương tự với Vanuatu hồi tháng 12/2022.

Mỹ đã nhận thấy sự cần thiết cần phải tăng cường can dự vào khu vực và họ đã mở lại đại sứ quán ở Quần đảo Solomon hồi tháng 2 vừa qua. Tuy nhiên, các quan chức phương Tây không ảo tưởng về xu hướng này. Bất chấp sự nhẹ nhõm ban đầu trước quyết định của các đảo quốc Thái Bình Dương trong việc trì hoãn các đề xuất an ninh sâu rộng của Trung Quốc, Chính phủ Australia cho rằng đây có thể chỉ là một sự trì hoãn tạm thời. Một quan chức cấp cao của chính phủ đã thừa nhận: “Mọi thứ sẽ không trở lại như cũ”./.

Theo theguardian.com

Loading

Views: 4

Điều gì ẩn sau những cam kết ở Biển Đông

Ngày 4/4, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim cho biết Bắc Kinh đã nêu quan ngại về các hoạt động năng lượng của doanh nghiệp quốc doanh Petronas tại Biển Hoa Nam (Biển Đông) dù Kuala Lumpur tin rằng các dự án liên quan được tiến hành trong phạm vi lãnh thổ chủ quyền của nước này. Các bình luận của ông Anwar được đưa ra sau khi ông mở cánh cửa ngoại giao với Trung Quốc hồi đầu tuần trong bối cảnh có dấu hiệu các dự án năng lượng của Malaysia tại vùng biển Bắc Kinh có yêu sách chủ quyền phải đối mặt với áp lực ngày càng gia tăng.

Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường và Thủ tướng Malaysia Datuk Seri Anwar Ibrahim tại lễ đón ở Bắc Kinh, ngày 1/4/2023. Ảnh: THX


Công ty Petronas vận hành các mỏ khai thác dầu và khí đốt trong phạm vi Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của Malaysia. Vài năm trở lại đây, người ta đã chứng kiến một số vụ đụng độ giữa Petronas và tàu thuyền Trung Quốc. Thủ tướng Anwar nói rằng Trung Quốc lo ngại “Petronas tiến hành hoạt động quy mô tại khu vực mà họ tuyên bố chủ quyền… Tuy nhiên tôi đã nhấn mạnh rằng đây là lãnh thổ của Malaysia và vì vậy Petronas sẽ tiếp tục các hoạt động khai thác trong khu vực”. Ông không nói cụ thể dự án hay địa điểm nào được nhắc đến trong các phát biểu này, song khẳng định Malaysia vẫn cởi mở với đàm phán “nếu Trung Quốc cảm thấy họ có quyền chính đáng với vùng biển này”.


Mỏ khí đốt Kasawari có trữ lượng ước tính 3 nghìn tỷ mét khối và dự kiến sẽ bắt đầu được đưa vào sản xuất trong năm nay. Trong phát biểu trước Quốc hội, Thủ tướng Anwar nói rằng Trung Quốc tuyên bố các tàu thuyền nước này hoạt động trong vùng biển quốc tế. Ông khẳng định Bộ Ngoại giao Malaysia sẽ gửi phản đối ngoại giao nếu xảy ra đụng độ giữa tàu thuyền hai nước trong khu vực. Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng Bắc Kinh bảo vệ “các quyền hợp pháp và lợi ích” ở Biển Đông.


Nhà phân tích chính sách đối ngoại Collins Chong Yew Keat, làm việc tại Đại học Malaya, cho rằng những phát biểu này là cần thiết để thể hiện chủ quyền của Malaysia, song thực tế có thể khó khăn hơn nhiều so với kỳ vọng.


Giống nước láng giềng Philippines, Malaysia rất muốn tách các vấn đề liên quan đến Biển Đông khỏi mối quan hệ song phương rộng lớn hơn với Trung Quốc, với hy vọng rằng điều này sẽ không cản trở nhu cầu tăng cường quan hệ kinh tế. Tuy nhiên, ông cho rằng Malaysia “không chia sẻ tính toán chiến lược của Manila trong việc cởi mở hơn với các đảm bảo an ninh từ Mỹ, khía cạnh mà Bắc Kinh đang khai thác nhiều nhất”. Trao đổi với phóng viên “This Week in Asia”, ông cho rằng Malaysia nên tránh đàm phán song phương với Trung Quốc nhất là trong các vấn đề liên quan tới tuyến đường thủy đang tranh chấp – nơi trung chuyển ít nhất 3 nghìn tỷ USD hàng hóa hằng năm – vì Trung Quốc sẽ sử dụng tất cả đòn bẩy để đưa ra các điều khoản có lợi hơn cho nước này.


Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 4/4 nói rằng Trung Quốc sẵn sàng làm việc với Malaysia để giải quyết các bất đồng tại Biển Đông thông qua đối thoại và tham vấn một cách phù hợp.


Tuần trước, viện nghiên cứu chính sách Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI), cho biết một tàu tuần duyên Trung Quốc đã hoạt động suốt tháng qua gần mỏ khí đốt Kasawari của Petronas, gần bang Sarawak, và thậm chí có lúc áp sát ở cự ly rất gần. Một tàu hải quân Malaysia sau đó cũng có mặt trong khu vực. Ngày 3/4, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng họ không biết về vụ việc, song thừa nhận nếu có, hành vi của tàu tuần duyên này là rất đáng xấu hổ.


Tháng 8/2022, Proofpoint, một công ty an ninh mạng hàng đầu có trụ sở tại California, đã công bố báo cáo về một hoạt động tin tặc bất thường ở Biển Đông. Theo báo cáo, chiến dịch này diễn ra từ tháng 3/2021-6/2022, nhằm vào các công ty năng lượng đang hoạt động tại mỏ khí đốt Kasawari.


Các công ty liên quan đã nhận được thư điện tử chứa liên kết dẫn đến một trang web tin tức hợp pháp của Australia. Tuy nhiên, việc nhấn vào các liên kết đã kích hoạt phần mềm độc hại có tên ScanBox, giúp tin tặc kiểm soát một phần máy tính của nạn nhân, với khả năng theo dõi các lần gõ phím và hoạt động của trình duyệt.


Có nguồn tin cho rằng vụ việc liên quan tới nhóm gián điệp mạng được gọi là TA423/Red Ladon hoặc APT40, có trụ sở tại Hải Nam, và có liên hệ với Bộ An ninh Quốc gia (MSS) Trung Quốc.


Petronas từ chối bình luận về vụ việc, chỉ khẳng định công ty được bảo vệ trước các cuộc tấn công trực tuyến. Truyền thông Malaysia dường như cũng không để tâm tới sự kiện này. “The Diplomat” cho rằng sự im lặng của Malaysia có thể phản ánh lập trường chính sách không đối đầu của nước này trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Emirza Adi Syailendra, nhà nghiên cứu về các vấn đề chiến lược, làm việc tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, viết: “Lằn ranh đỏ của Malaysia là những can thiệp mang tính vật lý đối với các hoạt động khai thác của nước này. Hơn nữa, các cường quốc phương Tây như Mỹ và Australia không được khuyến khích tham gia các tranh cãi này”.


Với tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế, mỏ khí đốt Kasawari được cho là mục tiêu của một số chiến thuật “vùng xám” đáng chú ý vào năm 2021. Ngày 1/6/2021, thời điểm giàn khoan vẫn đang được lắp ráp, người ta đã phát hiện 16 máy bay Trung Quốc “bay theo đội hình” ngoài khơi bờ biển Sarawak. Malaysia điều máy bay chiến đấu để theo sát các diễn biến, trong khi Ngoại trưởng Hishammuddin Hussein gửi thư phản đối với Bắc Kinh về việc “xâm phạm không phận và chủ quyền của Malaysia”. Bộ Ngoại giao Trung Quốc phủ nhận tính nghiêm trọng của vụ việc, gọi đây là “hoạt động huấn luyện thông thường”. Ông Hussein sau đó đã trao đổi với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc và nhấn mạnh “sự cần thiết của việc tự kiềm chế” ở Biển Đông.


Vụ tin tặc tấn công kể trên diễn ra ngay sau các diễn biến kể trên. Proofpoint dự đoán các hành vi tương tự sẽ tiếp diễn chừng nào các công ty khai thác còn hoạt động trong khu vực.


Kasawari là 1 trong 19 dự án năng lượng mới được kỳ vọng sẽ giúp nâng cao vị thế của Malaysia trong các nhà xuất khẩu khí đốt tự nhiên. Theo một báo cáo của Fitch Solutions về ngành dầu khí của nước này, “việc triển khai thành công đường ống ngoài khơi theo kế hoạch sẽ đưa Malaysia trở thành một trong những quốc gia vượt trội ở châu Á về tăng trưởng sản xuất khí đốt trong vòng 3 đến 4 năm tới”.


Câu hỏi đặt ra là vì sao tin tặc lại nhắm đến các công ty nước ngoài tại Kasawari? Địa chỉ IP của Red Ladon có thể cung cấp manh mối nhất định. Hoạt động gần Căn cứ Hải quân Ngọc Lâm ở đảo Hải Nam, nhóm này được cho là tích cực thu thập thông tin tình báo để phục vụ các mục tiêu chiến lược của Trung Quốc, bao gồm giám sát các quốc gia đối tác tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường. Năm 2019, các nhà nghiên cứu tại công ty an ninh mạng Mandiant (hiện thuộc sở hữu của Google) viết: “Chúng tôi tin rằng việc APT40 tập trung vào các vấn đề hàng hải và công nghệ hải quân thực chất là nhằm thúc đẩy tham vọng thành lập lực lượng hải quân biển xanh của Trung Quốc”.

Tuy nhiên, chiến dịch tin tặc dường như có trọng tâm là các vấn đề thương mại hơn là quân sự. Bắc Kinh coi Biển Đông là không gian chung để khai thác năng lượng, đặc biệt là trong phạm vi cái gọi là “Đường 9 đoạn”. Năm 2018, Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc đã mời “tất cả các công ty dầu khí… cùng đầu tư và hoạt động ở ngoài khơi Trung Quốc để cùng đạt được thành công”. Gần đây hơn, một cơ quan truyền thông nhà nước cho rằng Trung Quốc đang tìm kiếm “quan hệ đối tác kinh tế xanh” với các quốc gia ASEAN./.

Theo Reuters/thediplomat.com/scmp.com

Loading

Views: 0

Liệu Mỹ có thể thiết lập lại chính sách ngoại giao mang tính xây dựng với Trung Quốc?

Các nỗ lực xây dựng nền tảng cho quan hệ Mỹ-Trung vẫn chưa thành công và những tháng tới có thể sẽ là thời điểm quyết định liệu Mỹ có thể thiết lập lại chính sách ngoại giao mang tính xây dựng với Bắc Kinh hay không.

Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Ảnh: Reuters

Trong bối cảnh căng thẳng gia tăng với Trung Quốc về việc Tổng thống Đài Loan dừng chân tại Mỹ, Kurt Campbell, điều phối viên của Mỹ về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, cho biết Washington đã nói rõ với Bắc Kinh về sự sẵn sàng tiến hành thêm một cuộc điện đàm khác giữa Tổng thống Joe Biden và nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình. Campbell nói rằng Trung Quốc đã “miễn cưỡng tham gia các cuộc thảo luận xung quanh việc xây dựng lòng tin hoặc truyền thông trong khủng hoảng, hoặc về đường dây nóng” và đây sẽ là một “bước đi có trách nhiệm” nhằm đạt được các cơ chế này, bởi các lực lượng quân sự của Trung Quốc và Mỹ hoạt động gần nhau. Ông nói thêm: “Chúng tôi đã thiết lập những cơ chế đó trong Chiến tranh Lạnh. Chúng tôi nghĩ rằng chúng phù hợp với thời điểm hiện tại”.


Ông Campell cũng đánh giá Mỹ đang ở giai đoạn đầu của một thời kỳ mới trong quan hệ cạnh tranh với Trung Quốc. Đề cập các ưu tiên của Mỹ khi Tổng thống Biden và nhà lãnh đạo Tập Cận Bình gặp gỡ tại Bali tháng 11/2022, ông nói: “Cũng cần thừa nhận rằng trong nhiều khía cạnh, những nỗ lực của chúng tôi nhằm xây dựng nền tảng cho mối quan hệ và hàng rào bảo vệ vẫn chưa thành công… Chúng ta có thể thấy rõ hơn trong những tháng tới có hay không khả năng thiết lập lại chính sách ngoại giao mang tính xây dựng, hiệu quả, có thể dự đoán được giữa Mỹ và Trung Quốc”.


Rõ ràng trong bối cảnh tình hình Đài Loan nảy sinh nhiều yếu tố mới, “thành công” hay không là câu hỏi rất khó đoán định.


Theo lịch trình dự kiến, Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn quá cảnh tại thành phố New York (Mỹ), khi trên đường tới thăm Guatemala và Belize; sau đó ngày 5/4, bà sẽ tiếp tục quá cảnh thành phố Los Angeles khi trên đường trở về Đài Loan.


“The Washington Post” ngày 29/3 bình luận chuyến đi này của bà Thái Anh Văn có thể đưa quan hệ Mỹ-Trung vào một cuộc khủng hoảng mới. Tại hai địa điểm quá cảnh, bà Thái Anh Văn đều có các hoạt động tiếp xúc với quan chức cấp cao của Mỹ. Vụ việc này khiến người ta nhớ lại sự kiện cựu lãnh đạo Đài Loan Lý Đăng Huy về thăm trường cũ là Đại học Cornell (New York) năm 1995. Đáp trả hành động của Lý Đăng Huy khi đó, Trung Quốc đã phản ứng bằng cách tổ chức hàng loạt cuộc tập trận quân sự bắn đạn thật, thử tên lửa hướng về phía đảo Đài Loan, gây ra cuộc khủng hoảng Eo biển Đài Loan lần thứ ba, đồng thời kịch liệt lên án và tố cáo Mỹ phản bội chính sách “Một Trung Quốc”.


Việc Tổng thống Thái Anh Văn quá cảnh Mỹ lần này có thể cũng dẫn tới một cuộc khủng hoảng mới, nhất là khi quan hệ Mỹ-Trung đang ở mức thấp. Cả Mỹ và Trung Quốc đều nhận thức rõ ràng về rủi ro tính toán sai lầm từ một trong hai phía – nhất là trong vấn đề Đài Loan, đều có thể dẫn tới khả năng đối đầu quân sự với hậu quả nghiêm trọng khôn lường.


Trước khi Tổng thống Thái Anh Văn lên đường đi thăm hai đồng minh ở khu vực Trung Mỹ, Trung Quốc đã đe dọa trừng phạt nếu Thái Anh Văn gặp Chủ tịch Hạ viện Mỹ Kevin McCarthy. Văn phòng các Vấn đề Đài Loan của Quốc vụ viện Trung Quốc đã tuyên bố cuộc gặp là một hành động khiêu khích trắng trợn, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc “Một Trung Quốc”, gây tổn hại chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, đồng thời “phá hoại hòa bình và ổn định ở Eo biển Đài Loan”.


Chuyến đi của Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn đã được cơ quan liên quan hai bên tính toán kỹ càng về mặt kỹ thuật. Trước chuyến đi, bà Thái Anh Văn cũng đã gửi thông điệp mạnh mẽ và khẳng định: “Áp lực bên ngoài không thể cản trở quyết tâm vươn ra thế giới của Đài Loan”. Phía Mỹ cũng đã cố gắng hạ thấp kỳ vọng để đảm bảo an toàn cao nhất cho cả Mỹ và Đài Loan.


Với chiến dịch gây áp lực toàn cầu đối với Đài Loan, Trung Quốc đang siết chặt không gian quốc tế của hòn đảo này. Các đối tác bạn bè của Đài Loan ở châu Mỹ đã lần lượt cắt đứt quan hệ với Đài Loan để chuyển sang Trung Quốc, trường hợp mới nhất là Honduras.


Tuy nhiên, theo Viện Đức tại Đài Bắc, xét ở góc độ quốc tế, dù Trung Quốc gia tăng áp lực trong vấn đề Đài Loan, số lượng các chuyến thăm cấp Bộ trưởng đến Đài Loan của Đức, Nhật Bản vẫn tăng lên trong những năm qua. Theo thống kê, trong 3 tháng đầu năm 2023, các phái đoàn nghị sĩ của Anh, Thụy Sĩ, Phần Lan, Tây Ban Nha, Kosovo, Romania và Litva đều đã lần lượt đến thăm Đài Loan; riêng Đức và Séc còn cử thêm các đoàn quan chức cấp Bộ trưởng đương chức tới thăm Đài Loan. Các phái đoàn đến Đài Loan đều nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ “đối tác cùng chí hướng” với Đài Loan./.

Theo BBC

Loading

Views: 0

Nhật Bản tăng cường hợp tác quốc phòng với Australia

Sau nhiều thập kỷ chứng kiến sự tăng cường năng lực quân sự từng bước của Trung Quốc, sự tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc và Nga, mối lo ngại ngày càng tăng về nguy cơ tấn công tên lửa của Triều Tiên, Nhật Bản đang một lần nữa làm mới chính mình và nhanh chóng thay đổi lập trường hòa bình mà Tokyo theo đuổi kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. 

Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida và Thủ tướng Australia Anthony Albanese, cùng lãnh đạo các nước cùng trong Bộ Tứ – Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi – tại Tokyo hồi tháng 5/2022. (Nguồn: Reuters/japantimes.co.jp)

Chính sự bất ổn địa chiến lược thời gian gần đây cũng thúc đẩy sự thay đổi này của Nhật Bản. Trọng tâm trong các kế hoạch của Mỹ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương là duy trì lợi thế chiến lược bằng cách đưa Nhật Bản và Australia vào mối quan hệ ba bên có thể tương tác sâu sắc hơn, đóng vai trò mỏ neo ở phía Bắc và phía Nam cho một Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở.


Nhật Bản đã chấp nhận điều này và tỏ ra thẳng thắn một cách bất thường về mong muốn nâng cấp hợp tác quân sự với Australia lên mức chưa từng có trong những năm tới. Ngoài ra, Nhật Bản còn có mối quan tâm ngày càng tăng trong việc bổ sung các “lớp mới” cho quan hệ quốc phòng và an ninh, bao gồm cả hợp tác công nghiệp quốc phòng; nghiên cứu và phát triển các công nghệ quan trọng và mới nổi; hợp tác trong lĩnh vực an ninh mạng, an ninh năng lượng và năng lượng tái tạo.


Lực lượng Quốc phòng Australia (ADF) và Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) đã phối hợp triển khai hàng loạt cuộc tập trận ấn tượng, hiện chỉ đứng sau các cuộc tập trận của Australia với Mỹ về tần suất và mức độ sâu rộng. Điều này là rất đáng khích lệ và quan trọng cho việc xây dựng khả năng tương tác, lòng tin và kết nối người dân hai nước. Một nhóm nhỏ “những nhà quan sát Nhật Bản” thường xuyên theo dõi các chương trình quốc phòng và an ninh của Australia có một quan niệm chung rằng chỉ cách đây 1 thập kỷ, mức độ hợp tác và phối hợp này là không thể tưởng tượng.


Tuy nhiên, hợp tác đang đi đúng hướng, các nền tảng chính sách và kỹ thuật được thiết lập, trong đó gần đây nhất là việc hai bên ký Thỏa thuận tiếp cận đối ứng (RAA). Thỏa thuận này là rất quan trọng để JSDF và ADF tăng cường huấn luyện, tập trận, cho phép JSDF tiến hành huấn luyện độc lập tại Australia. RAA bổ sung cho các thỏa thuận khác giữa hai nước, như chia sẻ thông tin mật và cung cấp trang thiết bị kỹ thuật cho các cuộc tập trận và huấn luyện; các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; hỗ trợ nhân đạo và các hoạt động cứu trợ thiên tai; vận chuyển công dân và những người khác trong các trường hợp khẩn cấp ở nước ngoài.


Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với bản hiến pháp hòa bình, JSDF đã không tham chiến thực sự trong gần 80 năm. Đó là một quãng thời gian dài không trải qua thực chiến để quân đội tích lũy kỹ-chiến thuật và quy trình chiến đấu; để sĩ quan trau dồi kinh nghiệm trận mạc và khả năng lãnh đạo; để binh sĩ rèn luyện kỹ năng, kỹ thuật tác chiến, kiểm tra trang bị; và cũng để chính phủ quản lý phản ứng của công chúng đối với việc tham gia vào một cuộc xung đột.


JSDF đã tham gia nhiều nhiệm vụ gìn giữ hòa bình, tái thiết và nhân đạo, bao gồm với ADF ở Iraq trong giai đoạn 2004-2006. Tuy nhiên, điều này không giống như vậy và JSDF hiện cần khẩn trương tăng cường huấn luyện hỗn hợp. Huấn luyện và kinh nghiệm đa quốc gia là bắt buộc để thành công trong một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang xói mòn nhanh chóng.


Vùng Lãnh thổ phía Bắc của Australia được cho là địa điểm tốt nhất trong khu vực để đáp ứng nhu cầu huấn luyện của JSDF. Tại Mỹ cũng có các địa điểm thay thế, nhưng hầu hết các chuyên gia cho rằng chúng không có các đặc điểm độc đáo như tại Lãnh thổ phía Bắc. Ngoài ra, không có địa điểm nào khác có sẵn các điều kiện thuận lợi cho các chương trình huấn luyện đa nhiệm trên không, trên đất liền, trên biển, trong không gian và mô phỏng thực tế ảo,… như ở Vùng Lãnh thổ phía Bắc.


Vùng Lãnh thổ này có 4 khu vực huấn luyện chính đã được sử dụng cho hàng loạt đợt huấn luyện mỗi năm giữa ADF và quân đội Mỹ, chủ yếu là không quân và thủy quân lục chiến Mỹ. Cơ sở hạ tầng cứng của khu vực huấn luyện này là các trung tâm huấn luyện Bradshaw và Delamere, cùng nhau tạo thành một trong những khu vực huấn luyện lớn nhất trên thế giới. Ví dụ, Bradshaw có quy mô gần gấp ba lần Trung tâm Huấn luyện Quốc gia của Quân đội Mỹ và lớn hơn 3,5 lần so với Trung tâm tác chiến trên không-trên mặt đất của Thủy quân lục chiến Mỹ. Các khu vực huấn luyện này nằm trong khu vực có dân cư thưa thớt, gần châu Á và các khu vực chiến sự tiềm năng trong tương lai, đồng thời không có đường bay thương mại nên không có giới hạn độ cao đối với máy bay và tên lửa tầm xa. Các khu vực này cũng có ít hoặc không có nhiễu điện từ, giúp thử nghiệm các cảm biến, khả năng tác chiến điện tử và các nền tảng thế hệ tiếp theo.


Ngoài việc hỗ trợ các yêu cầu huấn luyện của JSDF, khu vực này còn có tiềm năng lớn góp phần làm sâu sắc thêm mối quan hệ Australia-Nhật-Mỹ và phát triển thành một đơn vị đổ bộ đa quốc gia có trụ sở tại Vùng Lãnh thổ phía Bắc. Cùng với sự hiện diện của thủy quân lục chiến Mỹ tại đây, việc thành lập một đơn vị như vậy là bước phát triển tự nhiên tiếp theo. Điều này cũng sẽ hữu ích cho việc phối hợp với các đối tác và đồng minh khác trong khu vực để huấn luyện đổ bộ và trong các hoạt động như hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai.


Quan trọng là Australia tận dụng động lực mà RAA mang lại cho quan hệ với Nhật Bản bằng cách phát triển các chương trình huấn luyện chung với JSDF. Australia nên và có thể đã cung cấp cho Nhật Bản các đề xuất cụ thể để có thể cử các đơn vị JSDF luân phiên đến Australia và trong tương lai sẽ hiện diện thường trực ở mức độ nhất định với ADF (như với Thủy quân lục chiến Mỹ ở Darwin).


Với tầm quan trọng và sự phát triển của quan hệ quốc phòng như hiện nay, trước mắt, hai bên có thể thành lập văn phòng liên lạc JSDF tại Khu huấn luyện Robertson ở Darwin và tăng cường biệt phái viên của JSDF tại các đơn vị và tại trụ sở của ADF ở Canberra. Về lâu dài (nhưng không quá xa), Australia nên phát triển sáng kiến huấn luyện quân sự Nhật Bản-Australia ở Vùng Lãnh thổ phía Bắc theo các đường lối tương tự như sáng kiến huấn luyện Australia-Singapore lâu đời có trụ sở tại miền Trung và miền Bắc bang Queensland.


Các khu vực huấn luyện ở Queensland do chính phủ Australia sở hữu và quản lý, được Singapore đầu tư đáng kể vào việc phát triển và nâng cấp để đáp ứng nhu cầu tương lai của ADF và để tăng cường huấn luyện binh sĩ Singapore tại Australia. Khi sáng kiến này được hoàn thành, 14.000 binh sĩ Singapore sẽ được huấn luyện tại Queensland trong 18 tuần, chia thành hai giai đoạn 9 tuần/năm. Mô hình tương tự có thể dễ dàng được xây dựng ở Lãnh thổ phía Bắc.


Sẽ có những rào cản về chính trị và về thái độ của người dân mà cả hai bên phải vượt qua, nhưng bây giờ là thời điểm cho những suy nghĩ táo bạo./.

Theo trang aspistrategist.org.au

Loading

Views: 0

Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương: Canada trong nỗ lực ngoại giao khí đốt

Cuối tháng 11/2022, Canada đã công bố Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (IPS) nhằm tái định vị Canada trong khu vực trước một Trung Quốc ngày càng trở nên thù địch. Chiến lược 5 năm trị giá 2,3 tỷ CAD đã được đưa ra trong bối cảnh lạm phát cao, giá năng lượng giảm và nền kinh tế toàn cầu đang chậm lại đe dọa các kế hoạch phát thải ròng bằng 0. Mặc dù vậy, chiến lược không đề cập đến Khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), thứ mà Canada có thể xuất khẩu với số lượng lớn và nhiều nền kinh tế châu Á đã nhập khẩu số lượng lớn LNG.

Chính sách ngoại giao LNG có thể giúp cho chiến lược IPS đạt được nhiều thành tựu. Nó có thể giúp tăng cường thương mại bằng cách cung cấp cho các đồng minh năng lượng đáng tin cậy và giá cả phải chăng trong thời gian dài, tạo doanh thu từ một mặt hàng xuất khẩu chính khi Canada khử cacbon và giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc và Mỹ. Canada có một lịch sử phong phú về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên để xây dựng mối quan hệ với các quốc gia khác và chính sách ngoại giao LNG có thể là chương mới nhất của câu chuyện đó.
Đó là một con đường dài và khó khăn để các dự án LNG của Canada thành hiện thực. Mặc dù là nhà sản xuất khí đốt tự nhiên lớn thứ 5 trên thế giới, quốc gia này không thể xuất khẩu LNG với số lượng lớn do thiếu cơ sở hạ tầng chuyên nghiệp để dẫn khí đốt đến bờ biển và làm lạnh để vận chuyển ra nước ngoài. Điều đó sẽ thay đổi khi siêu dự án LNG Canada trị giá hơn 30 tỷ USD do tập đoàn dầu khí Shell làm chủ đầu tư ở Kitimat, British Columbia hoàn thành với công suất xuất khẩu lên tới 28 triệu tấn/năm. Những hạn chế vật chất này trở thành một bài học đắt giá sau khi Nga triển khai hành động quân sự đối với Ukraine khiến giá khí đốt tăng chóng mặt đối với các đồng minh châu Âu và châu Á, đồng thời khiến cả Thủ tướng Đức Olaf Scholz và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida đề nghị Thủ tướng Justin Trudeau cung cấp LNG nhưng đều vô ích.
IPS của Canada nhấn mạnh việc giảm bớt sự phụ thuộc vào Trung Quốc – quốc gia ngày càng trở nên gây rối: can thiệp bầu cử liên bang, cáo buộc gián điệp, vi phạm nhân quyền, cung cấp khoáng sản quan trọng… Điều này đặt ra một vấn đề khi chúng ta xem xét xuất khẩu LNG. Xét cho cùng, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và trở thành nhà nhập khẩu LNG lớn nhất thế giới vào năm 2021, với kế hoạch xây dựng 34 bến cảng ven biển vào năm 2035. Nhưng Trung Quốc không phải là thị trường lớn duy nhất về LNG. Canada có các lựa chọn khác – ít phức tạp hơn, thân thiện hơn.
Châu Á mua khoảng 3/4 LNG toàn cầu, đứng đầu trong số các khách hàng mua LNG là một số đồng minh quan trọng nhất của Canada như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Đài Loan với tổng cộng khoảng 45% LNG. Điều đó không bao gồm những quốc gia châu Á khác mua với số lượng nhỏ hơn – những nước mà Canada đang cố gắng thắt chặt quan hệ.
Các chuyến hàng LNG từ bờ Tây của Canada đến các đồng minh và các quốc gia có cùng chí hướng ở châu Á có thể mang lại nhiều lợi ích cho các bên. Đầu tiên, nó có thể đảm bảo nguồn cung đáng tin cậy và giá cả phải chăng cho các quốc gia thân thiện. Thứ hai, LNG có thể giúp các quốc gia này chuyển sang các nguồn năng lượng ít carbon hơn. Thứ ba, việc sử dụng các hợp đồng dài hạn (cách mà hầu hết các nhà nhập khẩu châu Á thích mua LNG) có thể bảo vệ cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu khỏi giá khí đốt tự nhiên giảm mạnh, đồng thời đảm bảo thị trường cho các dự án LNG vốn phải mất nhiều năm mới có lãi. Thứ tư, biến LNG thành một mặt hàng xuất khẩu chính giúp tận dụng nguồn tài nguyên dồi dào mà Canada sở hữu, đồng thời tạo ra doanh thu và cho phép Canada theo đuổi quá trình khử cacbon một cách tích cực hơn.
Đối với Canada, chính sách ngoại giao LNG có thể giúp mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, đồng thời mang lại cho nước này một số không gian hoạt động ngoài Mỹ và tránh xa các cạm bẫy của Trung Quốc. Xuất khẩu LNG của Canada sẽ góp phần hoàn thành 3/5 mục tiêu trong Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của nước này: thương mại và đầu tư; một tương lai xanh và bền vững; và quan hệ đối tác.
Việc này giúp đảm bảo những cam kết về nỗ lực khử cacbon của chính Canada, đồng thời tạo ra doanh thu, có thêm nhiều bạn bè, đối tác và phá vỡ thế bế tắc chính trị xung quanh tương lai của nguồn tài nguyên của Canada. Đây là cơ hội để Canada làm được nhiều hơn – cho bạn bè và cho chính mình./.

BND

Loading

Views: 0