Category Archives: Geschichte

Giải mật: CIA cân nhắc về việc sử dụng vũ khí hạt nhân trong chiến tranh Việt Nam

Tạp chí Phương Đông xin giới thiệu tới độc giả bản dịch tài liệu năm 1966 của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã được giải mật, trong đó CIA cân nhắc các kịch bản Mỹ sẽ sử dụng đến vũ khí hạt nhân trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đồng thời đưa ra dự đoán về phản ứng của các quốc gia trên thế giới nếu “điều cấm kỵ suốt 20 năm qua bị phá vỡ”.

Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ

Văn phòng Đánh giá Quốc gia

(TUYỆT MẬT)

Ngày 18/3/1966

BẢN GHI NHỚ GỬI GIÁM ĐỐC

NỘI DUNG: Việc sử dụng vũ khí hạt nhân trong Chiến tranh Việt Nam

NHỮNG NHẬN ĐỊNH CHÍNH

A. Việc Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam sẽ là một trong những sự kiện trọng đại nhất lịch sử hiện đại. Phản ứng của thế giới sẽ bị tác động ở một mức độ nào đó bởi hoàn cảnh mà Mỹ sử dụng đến vũ khí hạt nhân, và các mục tiêu bị tấn công. Nhưng gần như độc lập với những yếu tố này sẽ là một ác cảm rất lớn và rộng khắp về việc Hoa Kỳ đã phá vỡ điều “cấm kỵ” suốt 20 năm qua về sử dụng vũ khí hạt nhân.

B. Một trong số các hệ quả sẽ là sự kích động dữ dội ở Nhật Bản, có thể dẫn tới việc hạn chế cho Hoa Kỳ sử dụng các cơ sở vật chất của Nhật và lên án hiệp ước quốc phòng Mỹ – Nhật; có thể sẽ có một số động lực gia tăng hướng tới việc phổ biến hạt nhân; nhưng kèm theo đó sẽ là áp lực quốc tế đòi giải giáp hạt nhân, với rất ít sự kiên nhẫn về tính kỹ thuật của việc xác minh; có thể là một nghị quyết lên án tại Liên hợp quốc; và suy giảm đáng kể sự ủng hộ của công chúng mà hiện tại chính sách của Mỹ ở Việt Nam đang có được.

C. Có thể sau khi Hoa Kỳ đã sử dụng vũ khí hạt nhân thì những người Cộng sản Trung Quốc sẽ quyết định từ bỏ, nhưng chúng tôi nghĩ rằng khả năng họ không làm như vậy sẽ lớn hơn, họ sẽ hy vọng rằng những thiệt hại tích lũy của Mỹ cùng áp lực ngày càng gia tăng của cả thế giới sẽ buộc Mỹ phải lùi bước. Bắc Việt sẽ bị hạ xuống vai trò thứ yếu hơn. Liên Xô sẽ hành động mạnh mẽ để chống lại Hoa Kỳ trên cả mặt trận chính trị và tuyên truyền; chúng tôi không tin rằng Liên Xô sẽ bước vào cuộc chiến hay ủng hộ người Trung Quốc bằng vũ khí hạt nhân.

THẢO LUẬN

I. Các kịch bản

  1. Báo cáo này sẽ lập luận rằng các phản ứng quốc tế đối với việc Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam sẽ được quyết định phần lớn bởi thực tế rằng vũ khí đó là hạt nhân, chứ không phải bởi hoàn cảnh mà chúng được sử dụng hay những sự khiêu khích có thể đã khiến Hoa Kỳ sử dụng chúng. Tuy nhiên, hoàn cảnh cũng sẽ tạo ra một vài khác biệt, ít nhất là ở một số phương diện nhất định. Sau đây là danh sách các kịch bản có thể hình dung ra được, bắt đầu bằng kịch bản mà việc Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân sẽ là khó biện minh nhất trong mắt thế giới nói chung và ít phù hợp nhất với kỳ vọng của phe Cộng sản và tiếp đến là các kịch bản ở cực bên kia trong thang điểm đánh giá này.

a. Tình hình quân sự ở Nam Việt Nam về cơ bản vẫn như hiện tại; Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân vì thất vọng do không thể đạt được quyết định nào bằng các biện pháp thông thường.

b. Hoa Kỳ xâm lược Bắc Việt, bằng đường bộ hoặc đường biển, hoặc cả hai; Cộng sản Trung Quốc can thiệp bằng lực lượng chiến đấu quy mô lớn, hoặc một cách bí mật hoặc bằng lực lượng “tình nguyện”, và lực lượng Hoa Kỳ ở Bắc Việt Nam cảm thấy họ có nguy cơ bị hủy diệt.

c. Hoa Kỳ không xâm lược Bắc Việt. Nhưng quân đội Bắc Việt, cộng thêm các lực lượng mặt đất của Cộng sản Trung Quốc, sẽ tung ra chiến dịch tấn công công khai quy mô lớn nhất vào Nam Việt Nam, là điều họ hoàn toàn có khả năng, trên khắp và xung quanh khu phi quân sự. Họ cũng có thể tiến vào bắc Lào với lực lượng mạnh. Các lực lượng của Hoa Kỳ và Nam Việt Nam có thể có hoặc không bị đe dọa nghiêm trọng; trong bất kỳ tình huống nào thì một giai đoạn mới trong cuộc chiến sẽ được mở ra do sự chủ động của phía Trung Quốc và Bắc Việt.

d. Khu vực xung đột được mở rộng do sự chủ động của những người Cộng sản Trung Quốc, liên quan tới việc xâm lược Lào, Thái Lan, và có lẽ cả Miến Điện.

e.

A. Chính những người Cộng sản Trung Quốc sử dụng vũ khí hạt nhân trước.

B. Một trong số các hệ quả sẽ là sự kích động dữ dội ở Nhật Bản, có thể dẫn tới việc hạn chế cho Hoa Kỳ sử dụng các cơ sở vật chất của Nhật và lên án hiệp ước quốc phòng Mỹ – Nhật; có thể sẽ có một số động lực gia tăng hướng tới việc phổ biến hạt nhân; nhưng kèm theo đó sẽ là áp lực quốc tế đòi giải giáp hạt nhân, với rất ít sự kiên nhẫn về tính kỹ thuật của việc xác minh; có thể là một nghị quyết lên án tại Liên hợp quốc; và suy giảm đáng kể sự ủng hộ của công chúng mà hiện tại chính sách của Mỹ ở Việt Nam đang có được.

C. Có thể sau khi Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân thì những người Cộng sản Trung Quốc sẽ quyết định từ bỏ, nhưng chúng tôi nghĩ rằng khả năng họ không làm như vậy sẽ lớn hơn, họ sẽ hy vọng rằng những thiệt hại tích lũy của Mỹ cùng áp lực ngày càng gia tăng của cả thế giới sẽ buộc Mỹ phải lùi bước. Bắc Việt sẽ bị hạ xuống vai trò thứ yếu hơn. Liên Xô sẽ hành động mạnh mẽ để chống lại Hoa Kỳ trên cả mặt trận chính trị và tuyên truyền; chúng tôi không tin rằng Liên Xô sẽ bước vào cuộc chiến hay ủng hộ người Trung Quốc bằng vũ khí hạt nhân.

THẢO LUẬN

I. Các kịch bản

1. Báo cáo này sẽ lập luận rằng các phản ứng quốc tế đối với việc Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam sẽ được quyết định phần lớn bởi thực tế rằng vũ khí đó là hạt nhân, chứ không phải bởi hoàn cảnh mà chúng được sử dụng hay những sự khiêu khích có thể đã khiến Hoa Kỳ sử dụng chúng. Tuy nhiên, hoàn cảnh cũng sẽ tạo ra một vài khác biệt, ít nhất là ở một số phương diện nhất định. Sau đây là danh sách các kịch bản có thể hình dung ra được, bắt đầu bằng kịch bản mà việc Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân sẽ là khó biện minh nhất trong mắt thế giới nói chung và ít phù hợp nhất với kỳ vọng của phe Cộng sản, và tiếp đến là các kịch bản ở cực bên kia trong thang điểm đánh giá này.

a. Tình hình quân sự ở Nam Việt Nam về cơ bản vẫn như hiện tại; Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân vì thất vọng do không thể đạt được quyết định nào bằng các biện pháp thông thường.

b. Hoa Kỳ xâm lược Bắc Việt, bằng đường bộ hoặc đường biển, hoặc cả hai; Cộng sản Trung Quốc can thiệp bằng lực lượng chiến đấu quy mô lớn, hoặc một cách bí mật hoặc bằng lực lượng “tình nguyện”, và lực lượng Hoa Kỳ ở Bắc Việt Nam cảm thấy họ có nguy cơ bị hủy diệt.

c. Hoa Kỳ không xâm lược Bắc Việt. Nhưng quân đội Bắc Việt, cộng thêm các lực lượng mặt đất của Cộng sản Trung Quốc, sẽ tung ra chiến dịch tấn công công khai quy mô lớn nhất vào Nam Việt Nam, là điều họ hoàn toàn có khả năng, trên khắp và xung quanh khu phi quân sự. Họ cũng có thể tiến vào bắc Lào với lực lượng mạnh. Các lực lượng của Hoa Kỳ và Nam Việt Nam có thể có hoặc không bị đe dọa nghiêm trọng; trong bất kỳ tình huống nào thì một giai đoạn mới trong cuộc chiến sẽ được mở ra do sự chủ động của phía Trung Quốc và Bắc Việt.

d. Khu vực xung đột được mở rộng do sự chủ động của những người Cộng sản Trung Quốc, liên quan tới việc xâm lược Lào, Thái Lan, và có lẽ cả Miến Điện.

e. Chính những người Cộng sản Trung Quốc sử dụng vũ khí hạt nhân trước.

  1. Hai kịch bản đầu và cuối ở trên có vẻ không cần phải xem xét kỹ lưỡng; chúng có quá ít khả năng xảy ra tới mức hầu như không thể xảy ra, và chúng được đưa vào chỉ để minh họa cho khả năng xảy ra các tình huống khác với những tình huống mà chúng ta sẽ thảo luận. Trong 3 kịch bản ở giữa, chắc chắn sẽ có nhiều tình huống đi kèm tác động đến tình hình và có thể làm thay đổi chút ít các phán xét của thế giới về phản ứng hạt nhân của Mỹ, và làm thay đổi các phản ứng với nó. Do tác động của những biến đổi đó hầu như chắc chắn là sẽ rất nhỏ, nên có lẽ không cần phải nghiên cứu chi tiết về chúng. Phần thảo luận sau đây áp dụng chủ yếu với kịch bản (c) – một cuộc xâm lược quy mô lớn của Cộng sản vào Nam Việt Nam – nhưng chúng tôi cũng nói tới những khác biệt về phản ứng có thể xảy ra trong các kịch bản (b) hoặc (d).

II. Các phản ứng trong thế giới phi cộng sản

  1. Trong thế giới phi cộng sản có rất nhiều người không biết hoặc không quan tâm nhiều đến vũ khí hạt nhân và sẽ không phản ứng gì nếu Hoa Kỳ sử dụng chúng ở Việt Nam, đặc biệt là nếu mối nguy hiểm dường như ở cách xa họ. Có những chính phủ, cho dù các tuyên bố công khai của họ về đề tài này là gì, sẽ vì các lợi ích quốc gia cụ thể của họ mà cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy chế độ Cộng sản Trung Quốc bị hủy hoại theo cách này. Có những cá nhân và chính phủ sẽ coi Hoa Kỳ là yếu ớt nếu để một lượng lớn trong lực lượng vũ trang của mình bị hủy hoại mà không cố gắng cứu vớt bằng cách sử dụng vũ khí hạt nhân. Và cũng có một số chính phủ sẽ coi Hoa Kỳ là ngốc nghếch nếu chấp nhận thất bại hoặc thậm chí là thỏa hiệp trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam mà không dùng đến yếu tố sức mạnh quân sự đáng gờm nhất của mình.
  2. Cùng những khả năng này và có lẽ là thêm một số ngoại lệ khác, thì trong lĩnh vực quan hệ quốc tế có lẽ sẽ không có quan điểm nào phổ biến hơn quan điểm cho rằng việc sử dụng vũ khí hạt nhân là đáng ghê tởm. Bất kỳ động thái sử dụng bất kỳ vũ khí hạt nhân nào của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam cũng sẽ bị coi là một trong những sự kiện đáng sợ nhất và định mệnh nhất trong lịch sử hiện đại. Phản ứng của thế giới sẽ bị ảnh hưởng ở một mức độ nào đó bởi hoàn cảnh mà Mỹ sử dụng chúng và loại vũ khí cùng các mục tiêu liên quan. Nhưng gần như độc lập với những yếu tố này sẽ là một ác cảm rất lớn rằng Hoa Kỳ đã phá vỡ điều “cấm kỵ” suốt 20 năm qua về sử dụng vũ khí hạt nhân.
  3. Việc ném bom hạt nhân Nhật Bản năm 1945 vẫn đang bị rất nhiều người lên án, không chỉ ở nước ngoài mà ngay cả ở trong nước Mỹ. Tuy nhiên, hầu hết các ý kiến có hiểu biết đều nhận ra rằng điều đó chỉ nhằm mục đích đẩy nhanh cái kết của một cuộc chiến tranh thế giới kéo dài và đẫm máu. Quan trọng hơn cả là nó được coi như một khoảnh khắc tồi tệ trong lịch sử đã xảy ra gần một thế hệ trước và không bao giờ nên lặp lại.
  1. Trong những năm qua, thế giới nhìn chung là ngạc nhiên và thở phào khi phát hiện ra rằng cuộc chạy đua hạt nhân Mỹ – Xô, chứ không phải một cuộc chiến tranh vội vã giữa hai cường quốc này, là nhằm làm cho một cuộc chiến tranh như vậy trở thành điều “không thể tưởng tượng được”. Do đó, bom và đầu đạn hạt nhân có xu hướng được coi là những loại vũ khí sẽ không bao giờ được sử dụng trừ trường hợp thế giới muốn tự hủy diệt mình. Có vẻ như khả năng xảy ra một thảm họa hạt nhân đã giảm đáng kể trong những năm gần đây bởi hai siêu cường được dẫn dắt bởi những chính phủ có trách nhiệm sẵn sàng làm mọi cách để thấy rằng vũ khí hạt nhân sẽ không bao giờ được sử dụng nữa.
  2. Việc sử dụng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam, bất kể trong hoàn cảnh nào, sẽ gây ra một làn sóng sợ hãi và tức giận trên phần lớn thế giới hiểu biết. Cảm giác chung sẽ là một khi điều cấm kỵ bị phá vỡ, sẽ không còn rào cản hiệu quả nào đối với việc sử dụng rộng rãi các loại vũ khí này. Mọi người sẽ lo sợ rằng những người Cộng sản cũng sẽ đáp trả tương tự nếu họ có, hoặc có thể có được, khả năng hạt nhân. Phía sau tất cả những điều này sẽ là một nỗi sợ hãi rằng việc sử dụng vũ khí hạt nhân có thể dẫn tới một cuộc chiến tranh hạt nhân nói chung, đe dọa cả thế giới.
  3. Hầu hết bạn bè của Hoa Kỳ sẽ buộc tội Hoa Kỳ đã kéo thế giới vào một giai đoạn mới khủng khiếp trong lịch sử, nơi vũ khí hạt nhân trở thành loại vũ khí hiệu quả của thời đại. Các nghị quyết lên án sẽ được đưa ra tại Liên hợp quốc với khả năng cao sẽ giành được đa số phiếu tán thành. NATO sẽ bị lung lay tệ hại. Sự ủng hộ công khai mà chính sách Việt Nam của Hoa Kỳ hiện đang nhận được từ một số chính phủ, đặc biệt là ở châu Âu, sẽ chấm dứt.
  4. Một chính phủ Anh không thể công khai lên án việc đưa vũ khí hạt nhân vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam có thể sẽ sụp đổ. Ở Nhật Bản, ký ức về Hiroshima và Nagasaki sẽ khiến người dân đặc biệt giận dữ về việc Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân lần thứ 2 ở châu Á. Tối thiểu thì Thủ tướng Sato sẽ thấy buộc phải chấm dứt sự ủng hộ của mình đối với chính sách của Hoa Kỳ, và đặc biệt là hạn chế việc Hoa Kỳ sử dụng các cơ sở vật chất của Nhật. Nhiều khả năng Đảng Dân chủ Tự do (LDP) sẽ thay thế Sato bằng một người khác ít công khai thân Mỹ hơn. Có thể dưới sự thúc giục của phe tả, phản ứng của công chúng sẽ dẫn tới việc buộc phải đóng cửa các căn cứ của Mỹ hoặc thậm chí là phản đối Hiệp ước quốc phòng Mỹ – Nhật. Hầu hết các ý kiến ở Ấn Độ và trong chính phủ Ấn Độ sẽ lên án mạnh mẽ hành động của Hoa Kỳ, mặc dù một số lãnh đạo Ấn Độ sẽ thở phào khi thấy những người Cộng sản Trung Quốc phải thoái lui, và một số sẽ thấy hài lòng một cách bí mật nếu các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc bị phá hủy. Phản ứng lên án nói chung của Ấn Độ sẽ giảm đi phần nào nếu vũ khí hạt nhân được sử dụng để ngăn chặn một cuộc xâm lược của Trung Quốc vào Đông Nam Á.
  5. Việc sử dụng rất hạn chế các loại vũ khí chiến thuật chỉ ở những khu vực chiến đấu trực tiếp sẽ tạo phản ứng ít bạo lực hơn trong các giới tinh hoa, so với việc ném bom nguyên tử các sân bay, trung tâm đường sắt và địa điểm sản xuất hạt nhân của Trung Quốc. Nhưng với đa phần thế giới thì sự khác biệt cũng không lớn lắm; điều quan trọng chỉ là các loại vũ khí đó đã được sử dụng. Hoàn cảnh sử dụng chúng cũng sẽ có một số tác động tới các phản ứng. Phản ứng nghiêm trọng nhất sẽ xảy ra nếu Hoa Kỳ xâm lược Bắc Việt (kịch bản “b”); mặt khác, các phản ứng tiêu cực sẽ giảm bớt nếu vũ khí hạt nhân được sử dụng như con bài cuối cùng để ngăn chặn Cộng sản Trung Quốc tràn ra toàn bộ Đông Nam Á. Thực tế, trong trường hợp này sẽ có một vài sự ủng hộ tích cực được thể hiện.
  6. Ngoài những phản ứng trực tiếp này, sẽ có những tác động khác gây ảnh hưởng gia tăng trong tương lai. Có thể sẽ có một làn sóng áp lực quốc tế đòi giải trừ ngay lập tức trong lĩnh vực hạt nhân. Hầu hết áp lực này sẽ nhắm vào Hoa Kỳ bởi Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất đã sử dụng loại vũ khí này, và sẽ có rất ít sự kiên nhẫn khi Hoa Kỳ tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu điều tra. Tuy nhiên, có thể một phần áp lực sẽ chuyển hướng sang Liên Xô dưới hình thức các yêu cầu giải trừ “thực sự” và “được xác minh”.
  7. Nhưng nghịch lý thay, cũng có thể sẽ có một động lực tăng cường hướng tới việc phổ biến hạt nhân. Việc Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân sẽ “hợp pháp hóa” loại vũ khí này và thể hiện tầm quan trọng then chốt cùng tính thực tiễn của chúng trong các cuộc chiến tranh ngày nay, khiến một số chính phủ cảm thấy họ cần phải có những loại vũ khí đó trong kho vũ khí của mình. Đồng thời, các lập luận chống phổ biến hạt nhân của Mỹ sẽ không còn uy tín đạo đức và vướng phải những phản ứng hoài nghi.

III. Phản ứng của các quốc gia cộng sản chủ chốt

  1. Nước Trung Quốc Cộng sản. Các lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc ý thức khá rõ về kho hạt nhân hùng mạnh của Hoa Kỳ. Khi chấp nhận một chính sách có tính đến khả năng chiến tranh với Hoa Kỳ, chắc chắn họ đã tính đến khả năng các loại vũ khí hạt nhân sẽ được sử dụng. Có thể họ đã kết luận rằng áp lực quốc tế và trong nước sẽ ngăn cản Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân trong bất kỳ hoàn cảnh nào, trừ khi có một mối đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của quốc gia. Tuy nhiên, họ không thể chắc chắn về điều này, và các kế hoạch của họ chắc hẳn bao gồm cả những nước đi trong tình huống vũ khí hạt nhân được sử dụng.
  2. Có thể khi Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân, Trung Quốc sẽ hành động theo hướng từ bỏ, nhất là khi họ không nghĩ Hoa Kỳ sẽ làm vậy. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng nhiều khả năng một khi đã cam kết thì người Trung Quốc sẽ cố gắng tiếp tục bất chấp vũ khí hạt nhân. Với niềm tin rằng cuối cùng họ sẽ chiến thắng, họ có thể sẽ tiếp tục dấn bước, chấp nhận các hậu quả về quân sự trong khi cố gắng tối thiểu hóa chúng bằng các chiến thuật chiến đấu áp sát, phân tán, và tăng cường chiến tranh du kích phía sau chiến tuyến của Mỹ. Do đó họ cũng sẽ hy vọng kéo dài cuộc chiến đấu tới khi những thiệt hại tích lũy của Mỹ cùng áp lực quốc tế tăng cao sẽ buộc Mỹ phải lùi bước.
  1. Liên Xô. Moscow sẽ cảnh giác với viễn cảnh leo thang tiếp tục buộc họ phải đối đầu hạt nhân với Mỹ. Họ sẽ có những bước đi trên mọi mặt trận để giảm thiểu khả năng tình hình diễn biến như vậy. Họ sẽ hành động dữ dội trên mặt trận chính trị và tuyên truyền, cố tạo đủ áp lực quốc tế ở bên trong và bên ngoài Liên hợp quốc để buộc Mỹ phải xuống thang. Có thể Liên Xô sẽ thấy buộc phải cảnh báo Mỹ rằng Liên Xô sẽ ủng hộ Trung Quốc bằng viện trợ quân sự. Nhưng đồng thời, họ cũng sẽ thể hiện rõ với Bắc Kinh không nên dựa vào vũ khí hạt nhân của Liên Xô. Gần như chắc chắn họ sẽ không cung cấp vũ khí hạt nhân nào cho Trung Quốc.
  2. Bắc Việt. Khi chiến tranh đã mở rộng tới mức Trung Quốc trực tiếp tham gia và vũ khí hạt nhân được sử dụng, thì Bắc Việt sẽ bị hạ xuống vai trò thứ yếu hơn. Quân đội Nhân dân Việt Nam/Việt Cộng sẽ duy trì một năng lực đáng kể ở miền Nam, nhưng xét toàn cảnh thì họ sẽ chỉ trở thành lực lượng phụ trợ cho lực lượng Trung Quốc. Trong trường hợp việc sử dụng vũ khí hạt nhân khiến Bắc Việt quá hoảng hốt, tới mức họ muốn rời khỏi cuộc chiến, thì sự can dự và hiện diện của Trung Quốc có thể sẽ ngăn chặn lựa chọn này. Họ chỉ có thể chấm dứt cuộc chiến nếu Bắc Kinh đồng ý.

IV. Những tác động dài hạn hơn

  1. Nếu việc sử dụng chiến thuật các loại vũ khí hạt nhân có thể khiến Trung Quốc “quay đầu” và giúp dẫn tới một giải pháp nhanh chóng và có lợi ở Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ có rất nhiều lợi ích để bù đắp cho những thiệt hại đã nhắc ở trên. “Không gì thành công bằng sự thành công”, và nhiều người sẽ tha thứ cho Hoa Kỳ khi mối nguy hiểm không còn nữa. Các đồng minh châu Á của Hoa Kỳ sẽ cảm thấy an toàn hơn nhiều trước nguy cơ xâm phạm của Trung Quốc. Bắc Kinh, phải lùi bước một cách tệ hại, sẽ mất danh tiếng, và điều này có thể dẫn tới việc quần chúng và các lãnh đạo trẻ hơn trong Đảng sẽ đánh giá lại về giới lãnh đạo. Người Liên Xô sẽ có thêm nỗi sợ hãi và sự tôn trọng đối với những người theo đường lối cứng rắn của Mỹ; niềm tin vững chắc của họ về mối nguy hiểm của “các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” sẽ được khẳng định. Đồng thời, ở Liên Xô, những người ủng hộ phát triển quân sự và không mấy nhiệt tình với hòa hoãn sẽ có thêm tiếng nói.
  2. Nếu Mỹ sử dụng vũ khí hạt nhân tương đối kiên trì mà vẫn không khiến Trung Quốc lùi bước hay nhanh chóng kết thúc được cuộc chiến, thì kết quả sẽ rất nghiêm trọng. Hoa Kỳ và loại vũ khí được ca ngợi nhất của họ sẽ thể hiện sự bất lực (khi so sánh tương quan) trong việc đương đầu với một “cuộc đấu tranh cách mạng”, trước sự hài lòng và lợi thế của Bắc Kinh. Đồng thời, Hoa Kỳ sẽ phải trả toàn bộ cái giá chính trị của việc khơi mào sử dụng những vũ khí này.
  3. Tất nhiên vẫn còn câu hỏi về hậu quả của việc không sử dụng vũ khí hạt nhân, và chấp nhận một thảm họa quân sự, có lẽ là tiến tới tận việc thua trong cuộc chiến này, điều mà những vũ khí này đã có thể ngăn chặn được. Một diễn biến như vậy sẽ gây những tác động sâu sắc tới vị thế của Hoa Kỳ trên thế giới cũng như cán cân quyền lực ở châu Á. Tuy nhiên, việc nghiên cứu những tác động này đòi hỏi phải xem xét toàn bộ các mục tiêu và chính sách của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á, và không nằm trong phạm vi báo cáo này.

ABBOT SMITH

Quyền Chủ tịch

BDN

Loading

Views: 22

Động lực thúc đẩy các nước Đông Nam Á hiện đại hóa quân sự

Có nhiều nguyên nhân, động lực phức tạp thúc đẩy các nước Đông Nam Á tích cực hiện đại hóa quân sự, trong đó những biến đổi của môi trường an ninh quốc tế và khu vực, mâu thuẫn và khác biệt trong nội bộ khu vực, sự phát triển của công nghệ quân sự và tình trạng cung ứng trên thị trường vũ khí toàn cầu là những yếu tố quan trọng, cụ thể:

Thứ nhất, những biến đổi của tình hình an ninh chiến lược quốc tế và khu vực. Là các quốc gia vừa và nhỏ, các nước Đông Nam Á rất nhạy cảm với những biến đổi của môi trường an ninh. Đồng thời, chính sách an ninh của những nước này phần lớn mang tính phản ứng không phải chủ động, đều là sự ứng phó với chính sách an ninh khu vực của các nước lớn thay vì đi đầu và dẫn dắt hành động. Do đó, diễn biến cục diện an ninh quốc tế cùng những biến đổi của tình hình an ninh khu vực kéo theo là động lực chính thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa quân đội của các nước Đông Nam Á.

Đặc biệt, trong Thế kỷ XXI, tiến trình hiện đại hóa quân sự của các nước Đông Nam Á ngày càng gắn liền với mối lo ngại chiến lược của họ trước sự biến đổi của môi trường địa chính trị, thay vì những tính toán và cân nhắc nội bộ vốn chi phối quyết sách mua sắm quân sự của các nước trong suốt một thời gian dài. Sự biến đổi của môi trường địa chiến lược khu vực chủ yếu được thể hiện ở 3 khía cạnh sau: Một là, sự trỗi dậy của Trung Quốc và ảnh hưởng đối với khu vực. Hai là, sự suy giảm đáng kể sức mạnh của Mỹ cùng sự gia tăng nghi ngờ của các nước Đông Nam Á đối với nước này. Ba là, cùng với sự gia tăng cạnh tranh giữa các nước lớn, Mỹ đã thiết lập các cơ chế hợp tác đa phương hẹp tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương như nhóm Bộ tứ (gồm Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia) và Thỏa thuận an ninh ba bên Mỹ – Anh – Australia (AUKUS), đồng thời giúp các đồng minh nâng cao năng lực quân sự, chẳng hạn như việc Mỹ và Anh sẽ hỗ trợ Australia đóng ít nhất 8 tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân theo thỏa thuận AUKUS. Những hành động này làm cho tình hình an ninh tại khu vực Ấn Độ, Dương Thái Bình Dương trở nên phức tạp hơn, kích thích các nước nâng cấp vũ khí và trang thiết bị quân sự cho mình, từ đó đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa quân sự trong khu vực.

Thứ hai, sự mở rộng khái niệm kèm theo phán đoán mới về mối đe được an ninh. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, mối lo ngai chính của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á la chủ nghĩa ly khai và hoạt động phản loạn trong nội bộ. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các mối đe dọa an ninh mà các nước Đông Nam Á phải đối mặt càng trở nên phức tạp và đa dạng hơn. Ngoài các vấn đề an ninh truyền thống như tranh chấp biến giới lãnh thổ và xâm lược, Đông Nam Á luôn là khu vực chịu tác động nặng nề nhất của các mối đe dọa an ninh phi truyền thống như tình trạng đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), cướp biển, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia và thiên tai do đặc điểm địa lý, địa chiến lược và mâu thuẫn nội bộ hình thành bởi sự phức tạp về sắc tộc và vướng mắc trong lịch sử… Thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen và tác động lẫn nhau, do đó không một quốc gia nào có thể đơn độc đối phó. Việc các nước Đông Nam Á xây dựng quân đội chủ yếu nhằm đối phó với các hoạt động phản loạn trong nước không còn đáp ứng được nhu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, nên họ buộc phải thúc đẩy hiện đại hóa quân đội toàn diện, tăng cường năng lực của quân đội trong việc thực hiện các hoạt động chiến tranh và hoạt động quân sự phí chiến tranh nhằm đối phó với các mối đe dọa an ninh ngày càng đa dạng. 

Thứ ba, mâu thuẫn và xung đột trong bộ khu vực. Xuất phát từ các tranh chấp lịch sử và xung đột lợi ích thực tế, xuất hiện mâu thuẫn tương tự. Mặc dù nội bộ các quốc gia Đông Nam Á cũng tại đa số các nước đều có thái độ nhân nhịn, giải quyết hòa bình các tranh chấp, nhưng những mâu thuẫn tiềm tàng vẫn là biến số ảnh hưởng đến an ninh khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến các bên xác định mục tiêu chính sách tăng cường phát triển lực lượng quân sự.

Thứ tư, sự phát triển của kỹ thuật quấn sự kéo theo những biến đổi về hình hại chiến tranh. Mỗi bước đột phá lớn, quan trọng về kỹ thuật quân sự đều mkéo theo sự thay đổi về khái niệm và phương thức tác chiến đều ảnh hưởng sâu sắc đến việc xây dựng quân đội. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các công nghệ mang tính đột phá như trí tuệ nhân tạo, lượng tử, vũ khí siêu thanh, thiết bị không người lái được ứng dụng ngày càng nhiều trong lĩnh vực quân sự, làm thay đổi hình thái chiến tranh từ tin học hóa sang trí tuệ hóa. Những điều này tác động đến việc xây dựng và phát triển quân đội của các nước Đông Nam Á. Đồng thời, chuyển đổi mô hình quân sự không đơn thuần chỉ là mua sắm trang thiết bị vũ khí hiện đại, còn bao gồm cả việc đồng bộ hóa năng lực hậu cần, xây dựng điều lệnh liên hợp, chỉ huy, kiểm soát, trinh sát, tình báo và giám sát (C4ISR). Do hạn chế về sức mạnh quân sự và ngân sách quốc phòng, các nước Đông Nam Á không thể đầu tư phát triển công nghệ quân sự cao với quy mô lớn và toàn diện như các nước phát triển để nhanh chóng thực hiện chuyển đổi mô hình quân sự. Tuy nhiên, trong các lĩnh vực như mua sắm trang bị, tổ chức biên chế và huấn luyện quân đội, những nước này đã từng bước tích hợp được những thành quả và ý tưởng quân sự mới nhất. Trong những năm gần đây, những bước tiến trong xây dựng quân đội hướng tới tin học hóa, thậm chí ngay cả trong lĩnh vực phát triển trí tuệ hóa của các quốc gia Đông Nam Á, diễn ra ngày càng nhanh hơn. Không gian mạng đã trở thành lĩnh vực tác chiến thứ 5 bên cạnh lục quân, hải quân, không quân và vũ trụ, tác động sâu sắc đến quốc phòng của các nước, khu vực và an ninh thế giới.

Thứ năm, sự kích thích của thị trường vũ khí quốc tế. Trong một thời gian khá dài sau Chiến tranh Lạnh, các nhà sản xuất vũ khí ở Châu Âu, Mỹ và Nga phải đối mặt với vấn đề cắt giảm ngân sách quốc phòng và sự thu hẹp của nhu cầu vũ khí trong nước, do đó chủ yếu dựa vào thị trường nước ngoài để phát triển ngành công nghiệp quân sự của mình. Điều này không chỉ giúp các nước Đông Nam Á có được vũ khí và trang thiết bị hiện đại giá rẻ, mà còn giành được lợi thế trong đàm phản, đồng thời có thể nhận được các ưu đãi kèm theo như chuyên giao công nghệ và bồi thường. Đông Nam Á trở thành thị trường xuất khẩu vũ khí quan trọng của Mỹ, Tây Âu, Nga và Israel. Trong những năm gần đây, lượng trang thiết bị và vũ khí được các nước Đông Nam Á nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và Đông Âu cũng ngày một tăng.

Cuối cùng, một số yếu tố khác cũng tác động đáng kể đến quá trình hiện đại hóa quân đội của các nước Đông Nam Á, đặc biệt là việc phát triển trang thiết bị. Một số quốc gia mua vũ khí và trang thiết bị không hoàn toàn vì lý do quân sự, mà để nâng cao uy danh quốc gia hoặc cạnh tranh với nước láng giềng. Ví dụ, không ít quốc gia Đông Nam Á coi vũ khí và trang thiết bị tiên tiến là biểu tượng của vị thế quốc gia, cho rằng việc sở hữu các trang thiết bị hiện đại (như tàu sân bay và tàu ngầm) có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao uy tín của nhà cầm quyền và sự tự tin của người dân. Malaysia sau khi mua tiêm kích F-16 và tàu ngầm A12 của Singapore đã quyết mua thêm tiêm kích Su-30 của Nga và tàu ngầm Scorpene của Pháp. Sau khi các nước xung quanh như Malaysia và Indonesia sở hữu tàu ngầm, Thái Lan cũng quyết định mua tàu ngầm của Trung Quốc. Xét ở mức độ nào đó, tất cả các việc làm kể trên đều xuất phát từ toan tính cạnh tranh lẫn nhau./.

Loading

Views: 0

Bảy đảo ở Trường Sa bị Malaysia chiếm đóng trái phép

Nhìn lại quá trình tranh chấp chủ quyền Biển Đông nói chung trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam nói riêng, có thể nói Malaysia lộ ý định nhảy vào cuộc tranh chấp quần đảo Trường Sa muộn hơn so với các quốc gia khác. Dù vậy, nước này vẫn đưa ra những tuyên bố phi pháp và hiện đang chiếm đóng cũng như xây dựng trái phép trên 7 thực thể địa lý thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Từ ngày 03/02/1971, Đại sứ quán Malaysia tại Sài Gòn đã gửi một công hàm cho chính quyền Sài Gòn nói một cách dè dặt rằng họ có chủ quyền đối với vùng phía Nam của quần đảo Trường Sa. Nơi mà họ gọi là Cộng hòa Morac-Songhrati-Meads nằm trong Liên bang Malaysia. Tới ngày 20/4/1971, chính quyền Sài Gòn đã gửi công hàm bác bỏ quan điểm, khẳng định quần đảo Trường Sa hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam, Malaysia lại im lặng không tỏ thái độ gì.

Dành cho những bạn chưa biết, thì nước Cộng hòa Morac-Songhrati-Meads là một vi quốc gia do Đại tá Hải quân người Anh là James George Meads lập ra vào thập niên 1870 tại khu vực quần đảo Trường Sa, bất chấp các tuyên bố chủ quyền trước đó của Việt Nam.

Tháng 10/1977, trong chuyến đi thăm Malaysia, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đồng ý với Thủ tướng Malaysia là Hussein Onn rằng hai bên sẽ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình. Tuy nhiên vào ngày 21/12/1979, Malaysia đã cho xuất bản một bản đồ vẽ ranh giới lãnh hải của Malaysia lấn vào vùng biển phía Nam của quần đảo Trường Sa.

Tới ngày 29/4/1980, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm cho Malaysia để phản đối việc làm này. Ngày 08/05/1980, nhân chuyến thăm và hội đàm với Malaysia, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đã khẳng định những thực thể ở quần đảo Trường Sa đều thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Bất chấp những thỏa thuận trước đó vào năm 1982, Malaysia đã cho người ra dựng cột mốc và cột cờ trên Đá Hoa Lau mà họ gọi là Terumbu Layang-Layang. Tháng 6/1982, đích thân Tổng tham mưu trưởng Quân đội Malaysia là tướng Ta Sri Mohamed Chazali, tổ chức một cuộc hành quân chiếm đóng Hoa Lau nhằm giành chủ quyền trên một vùng biển rộng 152 hải lý vuông tính từ thực thể này về vùng biển Malaysia và có chỗ đứng để tranh chấp một phần của quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Malaysia đã cho công binh đào một con kênh đi qua bãi san hô để cho tàu thuyền vào trong đảo trú đậu an toàn, đồng thời xây dựng một điểm tựa vững chắc cho các hành động lấn chiếm tiếp theo. Sau đó, Malaysia đã chính thức tuyên bố chủ quyền phi pháp đối với Đá Hoa Lau của quần đảo Trường Sa. Tuyên bố này nói rằng Đá Hoa Lau từ lâu đã là một sản phần của Malaysia.

Năm 1984, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối việc Malaysia chiếm đóng trái phép Đá Hoa Lau trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Tháng 12/1986, Malaysia lại tổ chức một cuộc hành quân ra chiếm đóng trái phép Đá Kỳ Vân và Bãi Kiệu Ngựa mà họ gọi là Terumbu Mantanani và Terumbu Ubi ở phía Bắc Đá Hoa Lau. Việt Nam đã phản đối hành động này của Malaysia. Nhưng sau đó quốc gia này vẫn tiếp tục chiếm đóng trái phép lần lượt hai đá là Đá Sác Lốt và Đá Suối Cát. Đến tháng 6/1999, Malaysia tiếp tục mở rộng chiếm đóng trái phép Đá Én Ca và Bãi Thám Hiểm, nâng tổng số thực thể ở quần đảo Trường Sa bị quốc gia này chiếm đóng lên đến 7 thực thể. Toàn bộ đều nằm ở phía Nam quần Đảo Trường Sa, tất cả những thực thể này đều là những rạn san hô. Sau khi chiếm đóng trái phép 7 thực thể từ đó đến nay, Malaysia đều dựa vào luận điểm của nước này đưa ra rằng quần đảo Trường Sa có vị trí địa lý gần về lãnh thổ của nước này để hợp pháp hóa chủ quyền các thực thể trên.

Theo đó Malaysia cho rằng, quần đảo Trường Sa nằm trên thềm lục địa của Malaysia. Vì vậy, nước này đòi hỏi đặc quyền đối với khu vực phía Nam của quần đảo Trường Sa. Bên cạnh đó, các nhà lãnh đạo Malaysia như là Mahathir Mohamad, Abu Dala Mauy, Naghip Tuna Zhap, các vị bộ trưởng nội các, các tư lệnh hải quân đều đã từng có những chuyến ra thăm những thực thể này tại quần đảo Trường Sa. Mục đích của những chuyến thăm của các quan chức Malaysia đều giống nhau. Đó là một tuyên bố với cộng đồng quốc tế rằng Malaysia có chủ quyền và có quyết tâm bảo vệ những lãnh thổ này.

Tổng quan 7 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa bị Malaysia chiếm đóng trái phép

1. Đá Hoa Lau

Trong số các thực thể mà Malaysia chiếm đóng trái phép tại quần đảo Trường Sa, Đá Hoa Lau là thực thể được quốc gia này chú trọng đầu tư và xây dựng nhiều nhất so với các thực thể còn lại.

Đá Hoa Lau là một rạn san hô vòng thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Malaysia từng có lúc gọi Đá Hoa Lau là Terumbu Layang-Layang tức là Rạn san hô Chim nhưng sau này đã đổi thành Pulau Layang-Layang (tức là Đảo Chim). Về vị trí, Đá này nằm cách bán đảo Cam Ranh khoảng 714 km, cách Đảo An Bang (Phú Lâm) 111 km về phía Đông Nam. Cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 290 km về phía Tây Bắc.

Đá Hoa Lau có hình dạng thon dài, hơi hẹp về bề ngang, với chiều dài lớn nhất khoảng 7,4 km và chiều rộng lớn nhất vào khoảng 2,2 km. Tổng diện tích tự nhiên của Đá Hoa Lau là 10,8 km2, tương đương với khoảng 1.080 ha. Khi thủy triều lên Đá này ngập hoàn toàn dưới nước, còn khi thủy triều xuống thấp một vài bãi san hô và đá nhô lên khỏi mặt nước.

Bên trong Đá Hoa Lau là một hồ nước sâu với diện tích vào khoảng 4,5 km2, lòng hồ có chiều dài vào khoảng 4km, chiều rộng 1,5 km và được bao quanh bởi một thềm san hô khép kín. Sau khi chiếm đóng trái phép Đá Hoa Lau, Malaysia đã nỗ lực xây dựng hòng biến Đá này trở thành một hòn đảo nhân tạo. Cụ thể là quốc gia này đã nạo vét cát và san hô ở khu vực trung tâm của Đá Hoa Lau rồi bồi đắp lên góc Đông Nam nơi từng có những tảng đá cao từ 1,5 đến 3m nhô lên khi thủy triều xuống thấp.

Ngoài công việc bồi đắp trái phép trên đảo nhân tạo ở phía Đông Nam, Malaysia còn tiến hành phá đá san hô để thông hai luồng ở phía Nam Đá Hoa Lau để tàu thuyền của nước này có thể dễ dàng di chuyển vào lòng hồ tránh trú.

Ngày 21/6/1980, một cột mốc được lực lượng tác chiến đặc biệt của Hải quân Hoàng gia Malaysia dựng lên tại đây, đến tháng 5/1983, 18 thành viên của lực lượng tác chiến đặc biệt đã xây dựng doanh trại đầu tiên của họ đánh dấu sự khởi đầu cho sự hiện diện của Hải quân Hoàng gia Malaysia tại khu vực phía Đông Nam của Đá Hoa Lau. Trạm hải quân Lima đã được xây dựng vào tháng 4/1986 bao gồm một trung tâm hoạt động kiêm sinh hoạt trong binh lính.

Năm 1989 chính quyền Malaysia đã quyết định phát triển Đảo Hoa Lau trở thành một địa điểm du lịch. Bước đầu cho kế hoạch này là bồi đắp khu vực phía Đông Nam của hòn đảo và biến Hoa Lau trở thành một đảo nổi với chiều dài khoảng 1.500 m, rộng khoảng 250m. Đến năm 1995, một đường băng và trung tâm nghỉ dưỡng đã được hoàn thành tại phần đất được bồi đắp. Ban đầu đường băng này chỉ có chiều dài 1064 m, nhưng vào ngày 20/7/2003, Malaysia đã cho tiến hành mở rộng đường băng, tăng chiều dài của nó lên 1.368m như hiện nay. Cho tới hiện nay, đây là một trong số 7 đường băng tồn tại ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ngoài đường băng trên Đảo Trường Sa Lớn của Việt Nam thì 6 đường băng còn lại, bao gồm đường băng tại Bãi Đá Hoa Lau đều là những đường băng được xây dựng trái phép.

Trên lý thuyết, đường băng này có thể tiếp nhận các chiến đấu cơ Su-30 với bán kính hoạt động đạt 1297 km, các loại máy bay vận tải C130 Helico cũng có thể cất và hạ cánh dễ dàng trên đường băng này. Tuy nhiên khác với những đường băng còn lại ở quần đảo Trường Sa, đường băng này được sử dụng trong cả mục đích quân sự và dân sự. Nằm ở phía Đông Bắc đường băng là một khu quân sự bao gồm một sân đỗ máy bay, một tháp canh, một trụ điện gió, một bãi đáp trực thăng, một tháp điều khiển không lưu và hai nhà chứa máy bay được bố trí sát cạnh. Trên đảo còn có một tòa nhà nghiên cứu thuộc Bộ Ngư nghiệp Malaysia mở vào tháng 7/2004, hai nhà máy khử nước mặn bằng phương pháp thẩm thấu ngược. Trung tâm đảo nhân tạo là khu vực nghỉ dưỡng dành cho khách du lịch.

Có thể nói, trong số các bên chiếm đóng trái phép các thực thể ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, Malaysia là quốc gia tổ chức hoạt động du lịch bài bản và thường xuyên nhất. Nằm giữa vùng nước sâu, khu vực Đá Hoa Lau là nơi có hệ sinh vật biển phong phú cùng với những làn gió biển trong lành hoàn toàn hòa hợp cùng thiên nhiên. Chính vì vậy, nơi đây vô cùng thích hợp để phát triển du lịch.

Kể từ năm 1993, Malaysia đã khai trương dịch vụ du lịch dành cho khách yêu thích lặn biển và mở các chuyến bay cho dân thường ra thăm Đảo Hoa Lau. Tại đây, có một khu nghỉ dưỡng có 86 phòng đạt tiêu chuẩn 3 sao, một trung tâm lặn biển là thành viên của PADI (Hiệp hội Hướng dẫn viên Lặn biển Chuyên nghiệp) cùng một nhà hàng 200 chỗ ngồi, một hồ bơi và một cửa hàng lưu niệm.

Mỗi tour xuất phát bằng máy bay từ sân bay Kota Kinabalu trên đảo Borneo đến sân bay trên Đá Hoa Lau với toàn bộ hoạt động ăn uống, nghỉ ngơi tại khu resort 3 sao, lặn biển trong 6 ngày có giá khoảng 1.200 USD (tương đương gần 29 triệu đồng).

2. Đá Kỳ Vân

Đá Kỳ Vân là một rạn san hô vòng thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đá này nằm cách bán đảo Cam Ranh khoảng 674km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 319 km về phía Tây Bắc, cách Đá Thuyền Chài khoảng 65km về phía Đông Nam và cách Đá Hoa Lau khoảng 62km về phía Bắc.

Đá Kỳ Vân trải dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với chiều dài khoảng 10km và chiều rộng lớn nhất vào khoảng 3km. Tổng diện tích của đá này vào khoảng 17km2 hay 1.700ha, phần giữa của đá này hẹp lại chỉ vào khoảng 0,6 km và chia đá này thành 2 phần ở mỗi phần lại có một lòng hồ riêng biệt. Cũng tại phần giữa, chia cách hai lòng hồ này còn có một dải cát cao khoảng 1,5 m và một vài hòn đá nổi lên trên mặt nước khi thủy triều xuống thấp. Nhìn chung, cũng giống như những đảo chìm khác, Đá Kỳ Vân không có nhiều thảm thực vật và thiếu nước ngọt. Tuy vậy, nơi đây lại thu hút rất nhiều rùa biển để sinh sản và chú ngụ vào.

Tháng 11/1986, Malaysia đã đưa một trung đội đến chiếm đóng trái phép tại Đá Kỳ Vân và kiểm soát thực thể này cho đến ngày nay. Malaysia đã tiến hành nạo vét và bồi đắp ở phía Tây của Đá Kỳ Vân với diện tích vào khoảng 2 ha, đồng thời duy trì 100 hải quân ở đó có tên gọi là Trạm Mike. Tại phần đất nhân tạo này, Malaysia đã cho xây dựng một bệ bê tông có chiều dài khoảng 60 m, chiều rộng khoảng 30 m. Trên bệ bê tông này họ còn cho xây dựng một trạm radar, tháp điều khiển không lưu và các cơ sở khác phục vụ cho binh lính cũng như sân đỗ cho máy bay trực thăng và hai cầu cảng. Tại đây, họ còn tiến hành đắp đê chắn sóng bằng đá san hô và đào một âu tàu nhỏ cùng một luồng nước đi ngang qua âu tàu vào lòng hồ bên trong để tàu thuyền có thể vào neo đậu. Bên cạnh đó, dù thiếu nước ngọt và đất đai nhưng tại đây vẫn thấy những hàng cây xanh được trồng rải rác ở phần đất cải tạo.

3. Bãi Kiệu Ngựa

Bãi Kiệu Ngựa là một rạn san hô vòng ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về vị trí, bãi đá này nằm cách bán đảo Cam Ranh khoảng 703 km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 276 km về phía Tây Bắc, cách Đá Thuyền Chài khoảng 88 km về phía Đông Nam, cách Đá Kỳ Vân khoảng 30km về phía Nam và cách Đá Hoa Lau khoảng 26 km về phía Đông Bắc.

Bãi Kiệu Ngựa được hợp thành từ 30 rạn san hô khác nhau nằm theo trục Đông Bắc – Tây Nam với chiều dài lên tới 70,4 km và chiều rộng tối đa vào khoảng 18,5 km. Tổng diện tích của bãi lên tới 850 km2, tức là 85.000 ha. Trong đó Đá Kiệu Ngựa là một trong số 30 rạn san hô thuộc Bãi Kiệu Ngựa là thực thể duy nhất nổi lên khi thủy triều xuống. Nhìn từ trên cao xuống Đá có hình dạng như là một tam giác cân với chiều dài khoảng 4,6 km và chiều rộng ở khoảng 3,4 km. Tổng diện tích của đá này vào khoảng 10km2, khoảng 1.000 ha.

Cũng giống như Đá Kỳ Vân sau khi chiếm đóng trái phép, Malaysia đã tiến hành nạo vét và bồi đắp trái phép ở phía Nam của Đá Cựu Ngựa với diện tích vào khoảng 1,6 ha. Đồng thời duy trì trạm hải quân ở đó có tên gọi là Trạm Mike. Đây cũng là rạn san hô duy nhất ở Bãi Kiệu Ngựa có binh lính của Malaysia đóng quân.

Tại phần đất nhân tạo này, Malaysia đã cho xây dựng một bệ tông có chiều dài khoảng 60m, chiều rộng khoảng 30m, trên bệ bê tông này họ còn cho xây dựng một trạm radar, tháp điều khiển không lưu và các cơ sở phục vụ cho binh lính cũng như là một sân đỗ máy bay trực thăng và một cầu cảng. Tại đây, họ còn tiến hành đắp đê chắn sóng bằng đá san hô và đào một âu tàu nhỏ cùng 2 luồng nước để vào âu tàu để tàu thuyền có thể vào neo đậu. Trong hình ảnh vệ tinh vào năm 2011, có thể thấy rõ luồng nước ở phía Tây âu tàu nhưng mà hiện nay nó đã bị bồi lấp gần như là hoàn toàn trên phần đất bồi đắp Malaysia cũng cho trồng một số cây xanh.

4. Đá Sác Lốt

Đá Sác Lốt là một rạn san hô vòng thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đá này nằm cách bán đảo Cam Ranh khoảng 730 km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 295 km về phía Tây Bắc, cách Đá Thuyền Chài vào khoảng 130km về phía Đông Nam và cách Đá Hoa Lau khoảng 54 km về phía Tây Nam.

Đá Sác Lốt có hình dạng tương đối tròn, với chiều dài khoảng 2,2 km, chiều rộng khoảng 1,6 km. Tổng diện tích của Đá Sác Lốt vào khoảng 3 km2, khoảng 300 ha. Đá Sác Lốt có địa hình khá bằng phẳng, với một lòng hồ rộng và khoảng 80 ha nằm ở giữa. Trong khu vực lòng hồ của đá này thì có nhiều tảng đá cao từ 0,6 đến 1,2 m nổi lên mặt nước. Trước đây, Malaysia đã xây dựng một ngọn hải đăng trên thực thể này nhưng hiện nay thì ngọn hải đăng này không còn hoạt động nữa. Hiện tại, tại Đá Sác Lốt không có lực lượng quân đội Malaysia đóng quân ở đó cũng như chưa ghi nhận bất kỳ hoạt động bồi đắp và cải tạo nào ở thực thể này. Nguyên nhân chính là do Đá Sác Lốt nằm rất xa những thực thể Malaysia đang đóng quân và cũng như được bảo vệ bởi một loạt đảo đá mà quốc gia này đang kiểm soát ở phía Bắc.

5. Đá Suối Cát

Đá Suối Cát là một rạn san hô vòng thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về vị trí, đá này nằm cách bán đảo Cam Ranh khoảng 690 km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 310 km về phía Tây Bắc, cách Đá Thuyền Chài khoảng 77 km về phía Đông Nam và cách Đá Kỳ Vân khoảng 35km về phía Tây Nam, cách Đá Hoa Lau khoảng 26 km về phía Bắc và cách Đá Kiệu Ngựa chỉ khoảng 10km về phía Tây.

Nhìn từ trên cao xuống, Đá Suối Cát có hình dạng khá thon dài và nằm theo hướng Đông Bắc – Tây Nam. Với chiều dài vào khoảng 9,3 km, chiều rộng vào khoảng 1,7 km, diện tích vào khoảng 14 km2, khoảng 1.400 ha. Đá Suối Cát là một rạn san hô khép kín. Ở bên trong là một hồ nước nông có diện tích vào khoảng 6 km2. Khi thủy triều lên đá này ngập hoàn toàn dưới nước. Nhưng khi thủy triều xuống thấp gần như toàn bộ vành đai san hô đều nổi lên mặt nước. Hiện tại cũng giống như Đá Sác Lốt, Đá Suối Cát không có lực lượng quân đội Malaysia đóng quân ở đây. Đồng thời chưa ghi nhận bất kỳ hoạt động bồi đắp và cải tạo nào ở thực thể này.

6. Đá Én Ca

Đá Én Ca là một rạn san hô vòng thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam nhưng hiện nay Malaysia đang kiểm soát trái phép thực thể này.

Về vị trí địa lý, Đá Én Ca cách bán đảo Cam Ranh khoảng 684 km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 319 km về phía Tây Bắc, cách Đá Thuyền Chài khoảng 88km về phía Tây, cách Đá Tốc Tan khoảng 64 km về phía Nam, cách Đá Kỳ Vân chỉ 25km về phía Đông Bắc.

Đá Én Ca có hình bầu dục với chiều dài vào khoảng 3,2 km, chiều rộng khoảng 1,9 km và có diện tích vào khoảng 4,7 km2. Đá này có địa hình khá bằng phẳng với một lòng hồ nông có diện tích gần 1km2 nằm ở giữa. Nhìn chung, khi thủy triều lên cao toàn bộ bãi đá ngập hoàn toàn trong nước. Còn khi thủy triều xuống thấp chỉ có một số hòn đá ở phía Đông thực thể này nổi lên.

Sau khi chiếm đóng đảo trái phép vào năm 1999, Malaysia đã tiến hành nạo vét và bồi đắp trái phép ở phía Nam của Đá Én Ca với diện tích vào khoảng 1,1 ha. Hải quân Hoàng gia Malaysia cũng đã duy trì một trạm hải quân ở đó có tên gọi là Trạm Mike. Tại phần đất nhân tạo này, Malaysia đã cho xây dựng một bệ tông có chiều dài khoảng 60m, chiều rộng khoảng 30m. Do diện tích không lớn nên Malaysia đã cho xây dựng một cụm kết cấu bao gồm một trạm radar, một tháp điều khiển không lưu và các cơ sở khác cùng với một sân bay trực thăng tiêu chuẩn và hai cầu cảng ở hai bên. Malaysia cũng đã nạo vét một âu tàu cỡ nhỏ và đắp đê bao xung quanh để tàu thuyền của nước này có thể vào neo đậu tại Đá Én Ca.

7. Bãi Thám Hiểm

Bãi Thám Hiểm là một rạn san hô vòng lớn thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Bãi này cách bán đảo Cam Ranh khoảng 735 km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 276 km về phía Tây Bắc, cách Đá Tiên Nữ khoảng 73km về phía Nam, cách Đá Én Ca khoảng 40km về phía Đông và cách Bãi Kiệu Ngựa khoảng 20km về phía Đông Bắc.

Bãi Thám Hiểm có chiều dài tính theo trục Đông Tây lên tới 33 km và chiều rộng khoảng 11 km. Tổng diện tích của bãi này lên tới 205 km2, khoảng 205.000 ha. Trong khi phần phía Tây của Bãi Thám Hiểm có dáng thon hẹp thì phần phía Đông lại mở rộng và có một lòng hồ sâu tối thiểu 45m, có chiều dài khoảng 23 km ở bên trong. Khi thủy triều xuống thấp thì Bãi Thám Hiểm chỉ có một số bãi đá nhô lên chủ yếu tại phần phía Đông, còn lại thì hoàn toàn nằm sâu dưới nước từ 5,5 m đến 18,3 m. Ngoài ra, trong khu vực Bãi Thám Hiểm có những rạn san hô nổi bật và đã được đặt tên như là Đá Gia Hội ở phía Bắc, Đá Gia Phú ở phía Đông và Đá Sâu ở phía Tây.

Sau khi chiếm đóng trái phép Bãi Thám Hiểm vào năm 1999, Malaysia đã tiến hành nạo vét và bồi đắp ở rìa phía Tây Nam của bãi đá này với diện tích khoảng 0,87 ha, tức khoảng 8.700 m2. Hải quân Hoàng gia Malaysia cũng đã duy trì một trạm hải quân tại đây với tên gọi là Trạm Papa.

Tại phần đất nhân tạo này, cũng giống như những đảo đá khác, Malaysia đã cho xây dựng một bệ bê tông có chiều dài khoảng 60 m, chiều rộng 30 m. Trên bệ bê tông này Malaysia tiếp tục cho xây dựng một số tòa nhà bê tông, trạm radar, tháp điều khiển không lưu cùng với một bãi đáp trực thăng tiêu chuẩn và hai cầu cảng ở hai phía. Ngoài ra, nước này cũng cho đắp một con đê chắn sóng nối từ phía Nam của bệ bê tông ra vùng nước sâu.

Nhìn chung, ngoại trừ Đá Hoa Lau được xây dựng và bồi đắp nhiều nhất, hai Đá Sác Lốt và Đá Suối Cát chưa được cải tạo thì bốn thực thể còn lại bao gồm Đá Én Ca, Đá Kỳ Vân, Đá Kiệu Ngựa và Bãi Thám Hiểm cũng đều được Malaysia bồi đắp nhưng với một diện tích rất nhỏ và các cấu trúc đều giống nhau.

Có thể nói, việc Malaysia bồi đắp và xây dựng trái phép trên những thực thể thuộc quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam là không ồ ạt, không đầu tư kinh phí đắt đỏ như Trung Quốc hay là Đài Loan. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng: Dù đầu tư xây dựng ít hay nhiều việc Malaysia chiếm đóng và xây dựng trái phép trên những thực thể này đã vi phạm đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Ngoài ra, những luận điểm mà Malaysia đưa ra hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và yêu sách của Malaysia về chủ quyền cũng không có một cơ sở lịch sử nào.

BDN

Loading

Views: 1

Đảo Ba Bình – Đảo tự nhiên lớn nhất ở Trường Sa

Đảo Ba Bình theo cách gọi của Việt Nam, là một đảo san hô thuộc cụm Nam Yết của Quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Hiện hòn đảo này đang bị Đài Loan chiếm đóng và kiểm soát trái phép dưới tên gọi là đảo Thái Bình theo cách gọi của Đài Loan.

Nằm ở phía Bắc của quần đảo Trường Sa cách đảo Sơn Ca khoảng 12 km về phía Tây, cách đảo Nam Yết hơn 20 km về phía Đông Bắc, cách thành phố Cam Ranh gần 590 km về phía Đông Nam, cách Đài Loan đến 1.450km theo hướng Tây Nam tương đương với khoảng cách từ cực bắc ở Hà Giang cho đến thành phố Cần Thơ, Ba Bình có bề mặt khá bằng phẳng, là thực thể có diện tích tự nhiên lớn nhất tại quần đảo Trường Sa khoảng 49 hecta, trải dài theo hướng Tây Bắc- Đông Nam; chiều dài khoảng 1.280 m chiều rộng khoảng 370 m, độ cao trung bình đảo Ba Bình là khoảng 3,8m so với mực nước biển, nằm trên một thềm san hô ngập nước hình bầu dục có diện tích lên đến 1,7 km vuông tức khoảng 170 hecta. Khi thủy triều xuống, một vành đai cát san hô trắng có chiều rộng khoảng từ 10 đến 50m sẽ lộ ra xung quanh đảo. Đảo Ba Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình dao động từ 21 đến 35 độ C. Đảo có lượng mưa dồi dào mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau còn mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 5. Hàng năm, hòn đảo này cũng phải hứng chịu những cơn bão nhiệt đới. Ba Bình là một trong những hòn đảo hiếm hoi trên quần đảo Trường Sa hội tụ đầy đủ các yếu tố tự nhiên lý tưởng để con người có thể sinh sống, cụ thể là có giếng nước ngọt dồi dào, đất đai màu mỡ, cây cối có thể sinh trưởng và phát triển tốt, che phủ cao. Tuy nhiên Đài Loan từ khi xây dựng sân bay quân sự mở rộng thêm, diện tích rừng nguyên sinh trên đảo Ba Bình đã giảm đi rất nhiều, còn lại chủ yếu là bụi rậm. Đảo có nhiều loài chim di cư, rùa biển sinh sản và trú ngụ. Vùng biển Ba Bình còn là nơi sinh sống của nhiều loại cá nhiệt đới, cá rạn san hô, tôm, mực… Trước kia đảo còn có một số mỏ phốt phát nhỏ, đã bị phát xít Nhật khai thác hết vào thời kỳ nước này xâm lược Việt Nam.

Vậy tại sao dù nằm rất xa với Đài Loan nhưng đảo Ba Bình vẫn bị chiếm đóng trái phép?

Trả lời cho câu hỏi này thì chúng ta cùng quay lại lịch sử của đảo Ba Bình cũng như là quá trình hòn đảo này bị chiếm đóng.

Từ lâu các ngư dân Việt Nam đã phát hiện ra đảo Ba Bình. Các triều đại phong kiến của Việt Nam qua nhiều thời kỳ cũng đã thực hiện chủ quyền của mình đối với hòn đảo này. Nhiều thư tịch, sách địa lý và bản đồ cũ của Việt Nam có ghi chép lại và chứng minh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa là của Việt Nam. Trong thời kỳ Pháp thuộc, vào ngày 21 tháng 12 năm 1933, thống đốc nam kỳ là J.Krautheimer đã ký Nghị định sáp nhập các đảo ở quần đảo Trường Sa trong đó có đảo Ba Bình vào địa phận tỉnh Bà Rịa. Với danh nghĩa là bảo hộ Việt Nam, Pháp đã cho quân chiếm đóng thiết lập đài Quan Trắc mang số hiệu 48919 do tổ chức khí tượng quốc tế cấp phát.

Trong thời chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Nhật Bản bắt đầu chiếm đóng đảo Ba Bình từ tay Pháp và làm căn cứ tàu ngầm đặt dưới sự kiểm soát của bộ chỉ huy đóng tại Cao Hùng – Đài Loan là thuộc địa của Nhật Bản, chính quyền của Pháp tại Đông Dương lúc đó là chủ thể đại diện của triều Nguyễn trong quản lý toàn bộ lãnh thổ lãnh hải đã phản ứng quyết liệt. Sau khi Nhật Bản đầu hàng phe đồng minh, tháng 10 năm 1946, Pháp đã cho tàu chiến Chevreud đến đảo Trường Sa và Ba Bình dựng một cột mốc đánh dấu bằng đá tại đây. Thời gian này, vào lúc Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp diễn ra, lợi dụng việc quân Tưởng Giới Thạch được phe đồng minh giao phó giải pháp quân nhật từ vĩ tuyến thứ 16 trở ra Bắc theo hiệp định Postdam, Trung Hoa Dân Quốc đã đưa hạm đội của mình gồm 4 chiến hạm xuất phát cảng Ngô Tùng tới quần đảo Hoàng Sa. tới ngày 29 tháng 11 năm 1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên đã tới quần đảo Hoàng Sa, đổ bộ lên đây, còn tàu Thái Bình và tàu Trung Nghiệp thì đến quần đảo Trường Sa và đổ bộ lên đảo Ba Bình.

Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Hoa Dân Quốc. Ngày 17 tháng 10 năm 1947, Pháp thông báo cho hạm đội Tontinois của quốc gia này đến Hoàng Sa yêu cầu Trung Hoa Dân Quốc rút quân nhưng không được đáp ứng. Sau đó, Pháp đã gửi một phần lính trong đó có cả quân lính quốc gia Việt Nam để đóng quân tại đảo Pattle (tức là đảo Hoàng Sa) thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1950, sau khi thất bại trong cuộc nội chiến, quân Tưởng Giới Thạch mới rút khỏi quần đảo Hoàng Sa trong đó có cả đảo Ba Bình. Ngày 14 tháng 10 năm 1950, chính phủ Pháp đã chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo ở Hoàng Sa. Sau đó thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại đã tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam.

Sau năm 1950, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không còn quân nước ngoài chiếm đóng mà chỉ có lực lượng trú phòng của Việt Nam và chính quyền Bảo Đại. Hiệp định Genève ký kết vào năm 1954 nhằm chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương công nhận độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nhà nước Việt Nam, vĩ tuyến 17 được ấn định là đường ranh giới tạm thời với quân sự, được kéo dài ra ngoài khơi, dưới vĩ tuyến 17 nên được đặt dưới sự quản lý hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 22/8/1956 lưu lượng hải quân của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đổ bộ lên các hòn đảo chính của nhóm Trường Sa dựng các cột đá và trương cờ. Tuy nhiên, tháng 10 năm 1956 hải quân Đài Loan đã đưa lực lượng đến đóng giữ và chiếm đảo Ba Bình. Thời điểm quân Đài Loan thực sự chiếm đảo Ba Bình vẫn chưa rõ ràng. Có nguồn tài liệu cho rằng, từ năm 1971 thì Đài Loan mới thực sự đồn trú lâu dài trên đảo, tuy nhiên điều rõ ràng là Đài Loan chiếm giữ trái phép Đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, triển khai lực lượng thủy quân lục chiến đến đồn trú tại đây.

Vào năm 2000, cục cảnh sát biển Đài Loan đã được giao nhiệm vụ bảo vệ đảo thay cho lực lượng thủy quân lục chiến, Đài Loan đã khảo sát và xây dựng nhiều công trình dân sự lẫn quân sự trên đảo Ba Bình nhằm biến nơi đây trở thành một pháo đài kiên cố ở trên Biển Đông. Kể từ năm 2006, chính quyền Đài Loan đã cho nâng cấp kéo dài đường sân bay trên đảo Ba Bình bất chấp sự phản đối của Việt Nam, hiện nay đường băng phi pháp này dài khoảng 1,2 km, có khả năng tiếp nhận máy bay chiến đấu F16 và cả máy bay trinh sát chống tàu ngầm P3C; Người phát ngôn bộ quốc phòng Đài Loan lại phủ nhận, cho rằng đường băng mới được cải tạo chỉ sử dụng cho máy bay vận tải C130 phục vụ công tác cứu hộ cứu nạn nhân đạo. Nhiều công trình khác cũng được xây dựng ở khu vực đường băng như là hệ thống chiếu sáng, hệ thống thoát nước, bồn nhiên liệu và đường ống dẫn dầu.

Năm 2011, Đài Loan đã cho xây dựng trái phép hệ thống điện năng lượng mặt trời trên đảo Ba Bình công suất khoảng 120kw điện. Các loại vũ khí phòng thủ cũng được lắp đặt như xe tăng M41, pháo phòng không 40mm, các hệ thống pháo hỏa lực tầm xa, pháo tự động, súng cối 120mm. Năm 2015, một ngọn hải đăng sử dụng năng lượng mặt trời trên đảo Ba Bình đã được xây dựng hoàn tất, cao khoảng 13,7 m và có thể soi sáng tới cự ly 18,5 km. Đài Loan đã ngang ngược ngụy biện mục đích của công trình này là củng cố chủ quyền và đảm bảo an toàn hàng hải. Ngoài ra, các công trình như là bệnh viện, trạm thời tiết, trạm cung cấp nước ngọt, thông tin liên lạc vệ tinh, giám sát radar, hệ thống quang điện và các phương tiện liên quan khác cũng đã được Đài Loan liên tục xây dựng trái phép trên đảo Ba Bình. Đài Loan còn thách thức luật pháp quốc tế, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam xây dựng ở bờ phía Tây của đảo Ba Bình, trong đó 4 cấu trúc hình chữ Y đã được xây xong và bao quanh một cấu trúc hình tròn ở giữa các công trình kiên cố có thể, đó là những công trình công sự chống máy bay hoặc bệ phóng tên lửa chống hạm. Đài Loan cũng đã xây dựng xong một cầu cảng trái phép nằm ở phía Tây Nam ở đảo Ba Bình với tổng kinh phí tương đương với khoảng 110 triệu USD để phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa và vật liệu, theo tính toán cầu cảng này có thể cho phép chiến hạm trong tải 2.000 tấn cập thẳng vào đảo song song với đó là bồi đắp thêm phần phía Tây của hòn đảo, tăng chiều dài của hòn đảo lên khoảng 100m. Ngày 27 tháng 10 năm 2020, Đài Loan tuyên bố tiếp tục mở rộng cầu cảng nhằm mục đích quân sự hóa hoàn toàn Ba Bình và dự kiến hoàn thành vào cuối tháng 4 năm 2023.

Lập trường của Việt Nam

Nhiều đời tổng thống Đài Loan như là Trần Thủy Biển, Mã Anh Cửu… đã tổ chức nhiều chuyến đi trái phép đến đảo Ba Bình. Việt Nam đã rất nhiều lần liên tiếng yêu cầu Đài Loan ngừng tổ chức diễn tập tại đảo Ba Bình và vùng biển xung quanh, chấm dứt hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ Việt Nam đối với hòn đảo này. Khẳng định đảo Ba Bình nói riêng và hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa nói chung đều thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

BDN

Loading

Views: 1

Từ rất sớm người phương Tây đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Hoạt động chủ quyền của vua Gia Long ở Hoàng Sa và Trường Sa không chỉ được lưu trữ, các bộ sử chính thức của vương triều, được thực thi và trở thành sứ mệnh thiêng liêng ở các địa phương mà còn được chứng thực của những người phương tây với thái độ khâm phục.

Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613.

Jean Batiste (1769-1825) là sĩ quan hải quân của Pháp đến nam kỳ năm 1794 đã viết hồi ký xác nhận: “Xứ Đàng Trong mà Quốc vương ngày nay mang danh hiệu Hoàng Đế bao gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc của Cao Miên, một vài đảo có nhỏ có người ở không xa bờ biển và quần đảo Hoàng Sa, gồm có những đảo nhỏ bãi đá ngầm và mỏm đá không có người ở. Chỉ đến năm 1816 thì nhà vua hiện nay (vua Gia Long) mới chiếm hữu được đảo này”.

Giám mục người Pháp Jean Louis Taberd đã từng nhiều năm tuyên giáo ở Nam Kỳ, Trung Kỳ đầu thế kỷ XIX viết rằng: “Quần đảo Pracel hay Pracels là khu vực chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát, hình như được kéo dài cho đến 11° độ vĩ bắc và khoảng 107° kinh đông Paris. Một số nhà hàng hải đã vượt qua được những tảng đá ngầm này với một sự mạo hiểm có phần may mắn nhiều hơn là khôn ngoan, nhưng một số đã gặp phải nạn khi cố gắng vượt qua. Những người dân sứ Đàng Trong gọi khu vực đó là Cồn Vàng…Vào năm 1816 nhà vua (vua Gia Long) đã tới long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc chắn sẽ không một ai sẽ tìm cách tranh giành với ông ta”.

Johann Gottfried Sommer trong mục “Cochinchina” (Đàng Trong) sách Taschenbuch zur Verbreitung geographischer Kenntnisse xuất bản tại Praha (Séc) năm 1839 xác nhận rằng: “Ngoài biển của vương quốc Đàng Trong có rất rất nhiều đảo … Dân Đàng Trong sinh sống tối tận đảo Ko-Khram, đảo này nằm dưới vĩ tuyến 13… Năm 1816 vua Đàng Trong đã chiếm hữu bãi đá san hô nguy hiểm và không có người sinh sống, gồm nhiều bãi đá và cồn cát có tên là Pracels. Không ai có thể phản đối chủ quyền của Đàng Trong về phần đất mới chiếm của vương quốc này?.

Năm 1850, M. A Dubois de Jancigny, cựu đại uý, phái viên của Chính phủ Pháp ở Trung Quốc và Đông Dương đã viết cuốn sách “Nhật Bản- Đông Dương đế quốc Miến Điện (Ava), Siam, Annam”, trong đó khẳng định “Đã từ 34 năm nay (tức từ năm 1816 đến 1850), quần đảo Pracels (mà những người Annam gọi là Cát Vàng), thật ra là một chốn mê cung chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát … Quần đảo đã bị các người xứ Đàng Trong (Cochinchina) chiếm giữ”.

Qua ghi chép của những người Phương Tây nói trên đã khẳng định: ngay từ năm 1816 vua Gia Long đã thực thi hai chủ quyền ở hai hòn đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

BDN

Loading

Views: 0

Những sự thật thú vị về Hoàng Sa, Trường Sa

Việt Nam đã xác lập chủ quyền trên quần đào Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ thế kỷ XVII cho đến ngày hôm nay, cho dù là trải qua những biến động của lịch sử dữ dội, sự thay đổi quyền lực hay chiến tranh người Việt vẫn chưa từng một phút giây nào chối bỏ chủ quyền quốc gia trên những mảnh đất thiêng liêng đó. Thuở ban đầu hai quần đảo được thể hiện liền một dải bao gồm cả Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa với tên gọi ban đầu được sát nhập chung thành Bãi Cát Vàng thể hiện trong bản đồ cổ của Việt Nam mang tên “toàn tập Thiên Nam Tứ Chí lộ đồ thư” do nhà địa lý Đỗ Bá biên soạn và hoàn thành vào năm 1686.

Vào nửa đầu của thế kỷ XVII chúa Nguyễn tổ chức đội Hoàng Sa phủ biên tạp lục Lê Quý Đôn chép: trước đây họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất lấy người xã An Vĩnh xung vào luân phiên nhau hàng năm cứ vào tháng 3 nhận mệnh đi làm sai dịch mang lương đủ ăn 6 tháng đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ ra biển 3 ngày 3 đêm mới đến đảo này.

Chúa Nguyễn lại tổ chức thêm đội Bắc Hải lấy người thôn Tứ Chính thuộc xã Cảnh Dương phủ Bình Thuận cấp giấy phép ra đảo Trường Sa với cùng nhiệm vụ như đội Hoàng Sa.

Năm 1974 Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa còn Việt Nam mất quyền kiểm soát thực tế đối với quần đảo này.

Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc cho quân xâm chiếm trái phép bằng vũ lực nhóm phía Tây Hoàng Sa mà chính quyền Sài Gòn đang đóng giữ, nhóm phía đông đã bị Trung Quốc chiếm từ năm 1956 sau khi quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương theo hiệp định Giơ-ne-vơ dù có tàu chiến mạnh hơn cả về kích thước lẫn hỏa lực nhưng quân đội Sài Gòn đã nhanh chóng thất bại một cách ê chề.

Sau trận hải chiến ngày 20 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo còn lại thuộc quần đảo Hoàng Sa như Hữu Nhật, Quang Ảnh và Hoàng Sa … đồng thời xác lập các tiền đồn trái phép, liên tục cho các tàu thuyền các loại ra túc trực ngăn cản sự tiếp cận của tàu thuyền nước ngoài tới gần.

Trong thời gian đầu của thế kỷ XXI, Bắc Kinh bắt đầu bắt tay của quân sự hóa nhiều tiền đồn bao gồm việc bồi đắp trái phép đảo Phú Lâm trở thành một căn cứ liên hợp Hải lục không quân hiện đại với đường băng dài hơn 3.000 mét đủ triển khai các máy bay ném bom chiến lược và tiêm kích hạng nặng xuống hoạt động tại Hoàng Sa tạo lên một tình trạng căng thẳng đáng báo động. Thế nhưng dù cho gần 50 năm nằm dưới quyền kiểm soát thực tế của Trung Quốc dẫu vậy Việt Nam vẫn liên tục khẳng định chủ quyền của mình tại Hoàng Sa.

Hiện nay, Ủy ban nhân dân huyện đảo Hoàng Sa đang được đặt tại đường Yên Bái, TP. Đà Nẵng và Hoàng Sa vẫn là một ngư trường truyền thống nhiều đời nay của ngư dân các tỉnh Bắc và Trung Trung Bộ.

Năm 1988, Trung Quốc đánh chiếm một phần quần đảo Trường Sa mặc dù sự bành trướng của Trung Quốc xuống Biển Đông đã được đẩy lên cao trào.

Năm 1974, sau khi xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tuy nhiên, với khả năng của lực lượng Hải quân còn hạn chế do đó phải mất tới 14 năm sau Bắc Kinh mới có thể la liếm tiếp xuống quần đảo Trường Sa. Trong những tháng đầu của năm 1988 lần đầu tiên Hải quân của Bắc Kinh chiếm đóng một số bãi đá thuộc khu vực quần đảo Trường Sa bao gồm đá Chữ Thập vào ngày 31/1, đá Châu Viên vào ngày 18/2, đá Ga Ven vào ngày 26/2, đá Tư Nghĩa tức đá Huy Gơ vào ngày 28/2 và đá Xu Bi vào ngày 23/03. Sau khi chiếm giữ những thực thể này Trung Quốc tỏ rõ ý đồ muốn chiếm giữ ba đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao trong cụm đảo sinh tồn, chúng có vị trí chiến lược quan trọng có khả năng khống chế đường tiếp tế của Việt Nam cho các căn cứ tại Trường Sa và sau trận chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988 Trung Quốc chiếm được đá Gạc Ma chúng ta giữ được đá Cô Lin và Len Đao, thế trận này tiếp tục được giữ nguyên cho tới năm 1995 Trung Quốc chiếm đóng thêm đá Vành Khăn tạo nên vụ biến cố đá Vành Khăn nổi tiếng, từ đó cho tới tận ngày nay Bắc Kinh không chiếm giữ thêm được thực thể nào. Tổng cộng đang kiểm soát trái phép trên thực tế là 7 đá.

Nhà giàn DK-1 không thuộc quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1 là Cục dịch vụ Kinh tế Khoa học Kỹ thuật được Việt Nam xây dựng dưới dạng các nhà giàn trên thềm lục địa phía Đông Nam đất nước cách đất liền khoảng 250 đến 350 hải lý đây được coi là một cột mốc chủ quyền tiền đồn bảo vệ thềm lục địa cũng như là chỗ đứng chân quan trọng cho ta bảo vệ các mỏ dầu khí giàu trữ lượng trong khu vực này. Các nhà giàn DK-1 mà Việt Nam xây dựng nằm trên các bãi cạn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam như bãi Phúc Tần, Phúc Nguyên, Tư Chính, Quế Đường, Vũng Mây và Huyền Chân. Việt Nam đang sử dụng chúng vào những mục đích kinh tế nghiên cứu khoa học biển bảo vệ môi trường biển, thăm dò khai thác tài nguyên dầu khí theo đúng quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 tức UNCLOS.

Việt Nam không cố ý biến những bãi cạn này thành những đảo nổi và phản đối việc cố tình gán ghép khu vực, hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam này trở thành một bộ phận của quần đảo Trường Sa nhằm biến nơi không có tranh chấp thành nơi có tranh chấp, Việt Nam cho rằng mọi hành vi cố ý và gán ghép đó là hoàn toàn sai trái trong việc giải thích và áp dụng Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 cần phải lên án, bác bỏ khi bạn nói DK-1 thuộc Trường Sa thì bạn đã vô tình biến khu vực không tranh chấp thành khu vực có tranh chấp tạo điều kiện kẻ thù gây bất ổn và lợi dụng.

Việt Nam đóng giữ nhiều đảo đá nhất ở quần đảo Trường Sa mặc dù có nhiều kẻ chống đối chính quyền không có cảm tình với nhà nước hay những kẻ có mục địch xấu vẫn ra rả tuyên truyền rằng Hà Nội bán biển, bán đảo không dám bảo vệ chủ quyền, Hải quân thì bám bờ … nhưng trên thực tế cách bảo vệ chủ quyền của Việt Nam lại là tấm gương mà nhiều quốc gia trong khu vực muốn học hỏi “một chính quyền ít nói nhưng làm nhiều”. Việt Nam đang thực thi chủ quyền tại 21 điểm đảo gồm 9 đảo nổi và 12 đảo chìm với 31 điểm đóng quân nhiều nhất trong các bên tranh chấp, 9 đảo nổi bao gồm: đảo An Bang, đảo Phan Vinh, đảo Trường Sa, Trường Sa Đông, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Song Tử Tây, Nam Yết và Sơn Ca cùng 12 đảo chìm là đá Nam, đá Lớn, Thuyền Chài, Cô Lin, Len Đao, Tiên Lữ, Núi Le, Tốc Tan, đá Tây, đá Đông, đá Lát và đá Thị.

Trung Quốc hiện nay chiếm đóng trái phép 7 thực thể ở Trường Sa bao gồm: Châu Viên, Chữ Thập, Ga Ven, Gạc Ma, Tư Nghĩa, Vành Khăn và Xu Bi, chính quyền Đài Loan chiếm đóng trái phép đảo Ba Bình là đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa và mở rộng thêm một bãi cạn san hô, Philippines chiếm đóng 9 thực thể, Malaysia chiếm đóng 7 thực thể và Brunei không chiếm đóng bất cứ thực thể nào dù cho có các yêu sách tuyên bố chủ quyền một phần đối với quần đảo Trường Sa đủ có thể thấy rằng một thế trận và chỗ đứng chân, ưu thế vượt trội của Việt Nam là như thế nào trên một quần đảo Trường Sa rộng lớn.

BDN

Loading

Views: 0

Quần Đảo Trường Sa – Đảo Tốc Tan

Quần đảo Trường Sa là tập hợp của 135 đảo, bãi đá và rặng san hô lớn nhỏ khác nhau nằm rải rác trên một vùng biển rộng hơn 400.000km2 phần lớn trong số chúng là những bãi đá và rạn san hô với tổng diện tích đất nổi chỉ có 5km2. Chính vì diện tích đất nổi ít ỏi như vậy, nên trong những năm qua các hoạt động nổi hoá các đảo chìm đang được các quốc gia đẩy mạnh trên vùng biển này.

Trong tình thế như vậy thì việc sở hữu một đảo chìm có diện tích thềm san hô lớn là một lợi thế không hề nhỏ cho các quốc gia sử dụng nó và thật may mắn khi Việt Nam chúng ta là quốc gia không chỉ kiểm soát được nhiều đảo nhất mà còn sở hữu được nhiều đảo chìm có diện tích thềm san hộ thuộc dạng lớn nhất nhì tại quần đảo Trường Sa và đứng đầu danh sách này thật tiếc không phải là đảo Thuyền Chài mà là cái tên có phần hơi xa lạ với các bạn đó chính là đảo Tốc Tan một đảo chìm có diện tích lớn thứ hai tại quần đảo Trường Sa.

Vậy đảo Tốc Tan là đảo nào? và nó nằm ở đâu? Vị trí chiến lược của nó ra sao và diện tích của nó lớn tới mức nào?

Đảo Tốc Tan một trong những thực thể xa chiến lược và lớn nhất mà Việt Nam đang kiểm soát tại quần đảo Trường Sa, đảo Tốc Tan là rạn san hô vòng thuộc cụm Trường Sa của quần đảo Trường Sa nằm ở phía Đông Nam của quần đảo Trường Sa nơi tập hợp phần lớn các thực thể mà Việt Nam đang kiểm soát với 11 trên tổng số 21 điểm đảo mà Việt Nam đang đóng quân tập trung tại vùng biển này bao gồm: đảo Đá Lát, Trường Sa lớn, đá Tây, Trường Sa Đông, đá Đông, Phan Vinh, Tốc Tan, Núi Le, Tiên Lữ, An Bang và Thuyền Chài chiếm tới 52% số đảo của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Có thể nói đây là nơi mà Việt Nam có sức ảnh hưởng lớn nhất trên quần đảo Trường Sa.

Nằm cách đảo Phan Vinh khoảng 27km về phía Đông Nam cách đá Núi Le gần 11km về phía Tây Bắc cách bán đảo Cam Ranh 600km về phía Đông Nam, đá Tốc Tan là một rạn san hô nửa kín có kích thước lớn thứ hai trên quần đảo Trường Sa chỉ sau bãi Thám Hiểm một rạn san hô nửa kín có kích thước lớn nhất trên Biển Đông với diện tích khoảng 203km2 hiện đang bị Malaysia chiếm đóng phi pháp.

Trải dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đá Tốc Tan là rạn san hô có hình bầu dục với thềm san hộ bị gián đoạn ở phía Tây Bắc hướng 11h và một phần ở phía Đông Nam hướng 5h, thềm san hô này được hình thành bởi sự phun trào của các dãy núi lửa ngầm dưới đáy biển từ hàng triệu năm về trước, dung nham núi lửa phun trào tới mực nước biển thì bị lùi lại tạo thành các thềm san hô.

Chiều dài lớn nhất của thềm san hô đá Tốc Tan là khoảng 19,4km, chiều rộng trung bình đạt xấp xỉ 4,1km. Đá Tốc Tan có tổng diện tích mặt nước lên đến 75km2 tương đương khoảng 7.500ha gấp 1,37 lần đảo Thuyền Chài trong đó thì thềm san hô có diện tích xấp xỉ 30km2 tương đương khoảng 3.000ha tập trung chủ yếu ở phần phía Bắc của đảo, thềm san hô này có địa hình dốc dần theo hướng từ ngoài vào trong có độ sâu trung bình khoảng 0,5m tạo thành một lòng hồ với diện tích lớn lên đến 45km2 tương đương khoảng 4.500ha, với thềm san hô nửa kín diện tích của thềm san hô lớn, vùng biển sâu từ 15 đến 25m đá Tốc Tan được ví như một vịnh Cam Ranh thứ hai của Việt Nam trên Biển Đông. Nơi đây rất thuận tiện để xây dựng các cảng nước sâu cho các tàu có trọng tải lớn vào neo đậu, đặc biệt có thể tận dụng các vị trí thềm san hô bị gián đoạn để làm luồng vào hồ giúp tiết kiệm rất nhiều chi phí.

Bản đồ hành chính đều thể hiện danh từ riêng là “Tốc Tan” còn danh từ chung để mô tả thực thể là “Đá”, về bản chất địa lý đá Tốc Tan không phải là đảo mà là một rạn san hô vòng. Hiện nay, Việt Nam đang kiểm soát đảo đá này như một phần của Thị trấn Trường Sa, huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà.

Với diện tích lớn như vậy để có thể kiểm soát được toàn bộ rạn san hô đá Tốc Tan. Kể từ năm 1988 công binh Hải quân Việt Nam đã xây dựng trên thềm san hô Tốc Tan ba nhà lâu bền được đặt tên lần lượt là: đảo Tốc Tan A, đảo Tốc Tan B và đảo Tốc Tan C. Trong đó, đảo Tốc Tan A nằm ở phía Đông Nam của rạn san hô, Tốc Tan B thì nằm ở phía Tây Bắc và Tốc Tan C thì nằm ở phía Bắc của rạn san hô cả ba cụm kết cấu này đều giống nhau gồm 2 toà nhà lâu bền hình lục giác được kết nối với nhau bằng cầu bê tông, trong đó thì bao gồm: một toà kết cấu công sự và một nhà văn hoá đa năng.

Hiện nay, trên tất cả các cụm nhà lâu bền của ta tại quần đảo Trường Sa đều đã được trang bị hệ thống điện, bao gồm cả điện gió và điện mặt trời, cùng với đó là các tiện ích khác như: mạng viễn thông, hệ thống truyền hình số vệ tinh, hệ thống thôn tin liên lạc và mới đây nhất là hệ thống Tele Medicine tức giải pháp y tế từ xa hoặc hệ thống chuẩn đoán bệnh từ xa, đều đã được đưa vào sử dụng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của bộ đội ta và bà con ngư dân ngoài đảo. Nước ngọt sinh hoạt là nhu cầu thiết yếu của cán bộ ta trên đảo. Hiện nay thì phần lớn nước ngọt sinh hoạt của bộ đội là nước mưa tích trữ và nước ngọt vận chuyển từ đất liền ra được tích trữ trên các bồn chứa trên đảo. Tuy nhiên, nguồn nước này là không đủ cho việc sinh hoạt một cách thoải mái, vì vậy bộ đội ta phải sử dụng nước ngọt hết sức tiết kiệm, khắc phục khó khăn về nước sinh hoạt, cán bộ chiến sỹ của ta trên đảo đã tăng gia sản xuất trồng được nhiều loại rau xanh, chủ yếu là rau muống, rau cải, mồng tơi và nuôi được cả chó mang từ đất liền ra.

Từ cách đây hơn 500 năm các triều đại Phong Kiến của Việt Nam từ thời chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn sau này đều coi các đảo của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần không thể tách rời của lãnh thổ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư từ năm 1467 vua Lê Thánh Tông đã cho biên soạn bản đồ lãnh thổ Đại Việt. Bộ bản đồ Hồng Đức được hoàn thành vào cuối năm 1469 được bổ sung nhiều lần về sau gồm bản đồ cả nước và bản đồ địa phương, trong đó có vẽ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong các bản đồ thư tịch của Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, quần đảo Trường Sa đều được người Việt đặt tên là Bãi Cát Vàng.

Ngày 22 tháng 2 năm 1988, Bộ Tư lệnh Hải Quân đã lệnh cho tàu HQ 713 và HQ 07 có nhiệm vụ đóng giữ đá Tốc Tan, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đã xây dựng một nhà ở phía Tây đá Tốc Tan hoàn thành vào ngày 8 tháng 8 năm 1988, trong khi đó công binh Hải quân Việt Nam cũng xây dựng ba nhà có chân trên đá này. Tháng 8 năm 1988, phòng bảo đảm Hàng hải Quân chủng Hải Quân đã thả trong lòng hồ Tốc Tan ba phao buộc tàu dưới mặt nước đường kính 2m, các phao được cố định với đáy bằng rùa bê tông, mỗi rùa nặng khoảng 3 tấn khi thời tiết xấu các tàu có thể neo đậu để tránh gió bão.

Tốc Tan là một rạn san hô không khép kín với một số hạn chế về mặt trú bão. Tuy nhiên nếu xét về phương diện tổng thể thì đá Tốc Tan là một trong những rạn san hô chiến lược và tốt nhất của Việt Nam trên Biển Đông với thềm san hô có diện tích hàng nghìn hecta và lòng hồ rộng, nước sâu Việt Nam hoàn toàn có thể quy hoạch một huyện đảo với hàng nghìn hộ dân tại đây, lòng hồ sâu rất thích hợp cho việc đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản xa bờ, phát triển ngư nghiệp nghề cá và cả dịch vụ du lịch biển đảo tại đây. Rất có thể trong tương lai gần sau khi hoạt động rút nước biển tại đảo Thuyền Chài và Tiên Lữ kết thúc thì nguồn lực sẽ được dồn để rút nước biển tại đá Tốc Tan.

BDN

Loading

Views: 0

Vietnam always a responsible member of UNCLOS 1982

Since becoming a signatory to UNCLOS 1982, Vietnam has remained a responsible member and has made significant efforts to endorse and implement its provisions, according to an article posted on Fulcrum.sg, a website of Singapore.
An oil rig of Vietnam in the East Sea (Photo: PetroVietnam)
Since becoming a signatory to UNCLOS 1982, Vietnam has remained a responsible member and has made significant efforts to endorse and implement its provisions, according to an article posted on Fulcrum.sg, a website of Singapore.

According to the article, when the UN Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) was open for signature on December 10, 1982, Vietnam was among the first 117 countries to sign the Convention.

Furthermore, Vietnam has called upon other states in Southeast Asia to respect and comply with UNCLOS. In particular, during its chairmanship of ASEAN in 2020, Vietnam repeatedly stressed the relevance of UNCLOS in maintaining regional peace and resolving maritime disputes.

Most recently, together with Germany, Vietnam initiated the establishment of the UNCLOS Group of Friends to accelerate cooperation between like-minded countries on common maritime goals.

Mentioning the role of UNCLOS 1982, the article said known as the “Constitution of/for the oceans”, the Convention sets out a legal framework for regulating most sea-related activities and provides a platform for international cooperation on maritime-related issues. Furthermore, it stipulates binding mechanisms for settling disputes at sea.

UNCLOS standardises claims over maritime entitlements and sovereign rights of its signatories including Vietnam. Before UNCLOS, especially in the first half of the twentieth century, there were chaotic situations where countries argued over their maritime boundaries, leading to disputes. The adoption of UNCLOS has helped to reduce these kinds of disputes, as the Convention became a legal basis for the demarcation of overlapping territories.

The Convention has provided a framework for member states, including Vietnam, to cooperate with other states on various issues like crimes at sea, namely piracy and armed robbery against ships, protecting the environment, conducting scientific research, and managing resources.

The importance of UNCLOS to Vietnam has been proven over the past 40 years, especially in terms of legitimising the country’s maritime claims, enhancing its domestic law and management system, accelerating cooperation with other states, and settling maritime disputes./.

Loading

Views: 0

DK platforms – sacred sovereignty marks at sea

The commemoration of the Gac Ma Battle in March is an occasion to honour officers and soldiers who live and work on the DK platforms amid the vast sea, many of whom sacrificed their lives to safeguard the national sovereignty at sea.
 
The KD1/11 platform (Photo: VNA) 
The commemoration of the Gac Ma Battle in March is an occasion to honour officers and soldiers who live and work on the DK platforms amid the vast sea, many of whom sacrificed their lives to safeguard the national sovereignty at sea.

90-year-old Colonel Nguyen Quy, who used to be director of the Technical Department of the High Command of the Sapper Arm (Ministry of National Defence), is one of the first people to participate in the construction of works on Truong Sa Island and the DK platforms, from the 1/1 to the 1/16 platforms during the period from 1988 to 1996.

Quy said the Defence Ministry was determined to build the cluster of DK platforms to protect the national sovereignty in the 80,000 sq.km waters, which has a special importance in terms of security-defence. The waters, which is on the international maritime routes across the East Sea, is also rich in marine resources and minerals.

The veteran colonel recalled that at the proposal of the Naval Command and the Defence Ministry on October 17, 1988, then Party General Secretary Nguyen Van Linh signed a decision on the construction of economic, scientific – technological services platforms on six submerged reefs in the country’s continental shelf in southern East Sea. Later, the Chairman of the Council of Ministers issued an instruction on the establishment of a so-called DK1 steering committee headed by Vice President Tran Duc Luong.

The first three DK platforms were installed in June and July 1989, which were DK1/1 on Tu Chinh  (Vanguard) Bank on July 4, 1989, and DK1/3 on Phuc Tan Bank and DK1/4 on Ba Ke Bank on June 14.

According to Quy, the design and structure of DK platforms have been improved many times, with the current structures being the third generation. Some of them even have a helicopter pad on top.

The DK platforms not only serve the collection of scientific information on the ocean and sea economy but also are sovereignty marks in Vietnam’s continental shelf, said the old colonel./. VNA

Loading

Views: 0

Thực thể nổi: Tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa

13 thực thể khác nổi trên mặt nước biển mà Trung Quốc đặt tên thuộc quần đảo Trường Sa, một quần đảo gồm các bãi đá và đảo mà các nước bao gồm Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei cũng đòi chủ quyền. Quần đảo này nằm ở phần phía nam của Biển Đông.

Trường Sa bao gồm Bãi Tư Chính, nơi Trung Quốc và Việt Nam đã có căng thẳng liên quan đến các tàu hải cảnh và dân quân biển của Trung Quốc vào năm 2019. Trường Sa cũng bao gồm Đá Chữ Thập, một căn cứ quân sự chính mà hải quân, hải cảnh và không quân Trung Quốc thường được điều đến.

Các thực thể mới đặt tên này thuộc Trường Sa thực sự rất nhỏ bé, nhưng sau khi bao gồm cả những vị trí địa lý, có thể dễ dàng thấy là Trung Quốc đang tuyên bố chủ quyền đối với chúng. Các thực thể này nằm rải rác quanh Bãi Tây – nơi Việt Nam xây một tiền đồn của mình vào khoảng năm 2013 đến 2016, và bổ sung thêm 2 trạm canh gần đó trong cùng giai đoạn này.

Toàn bộ bãi này gần như không đáng để đặt tên nhưng Trung Quốc cho rằng việc đặt tên cho từng phần của nó như là một phần của Bãi Tây và chuỗi “đảo” Longbi (Dragon’s Nose) là hợp lý. Vì những lý do không rõ ràng, một số những thực thể mini thậm chí còn được đặt tên hai lần với các tên khác nhau. Ví dụ, Xijiao Dongdao (Đảo Đông Bãi Tây) còn được biết với tên Longbi Xidao (Đảo Dragon’s Nose West).

“Dường như đây là sự tưởng tượng của người vẽ bản đồ của chính phủ được lôi ra từ tủ hồ sơ để đóng vào một danh sách mới các tên mà Bắc Kinh trước đó đã phô ra nhằm tỏ dấu hiệu cho thấy sự không hài lòng với Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam liên quan đến những chỉ trích về những căng thẳng gần đây ở Biển Đông”, chuyên gia Poling nói.

Một trong những tiền đồn của Việt Nam ở Bãi Tây mà Trung Quốc nói Việt Nam xâm chiếm trái phép. Trung Quốc giờ đây gọi tiền đồn này là “Longbi Xidao” hay “Xijiao Xidao”.

Trung Quốc và Việt Nam đã có căng thẳng trong những tháng gần đây sau khi tàu hải cảnh của Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam hôm 3 tháng 4 và sau một loạt những công hàm được các bên có chủ quyền ở Biển Đông nộp lên Liên Hiệp Quốc. Công hàm gần đây nhất mà Trung Quốc nộp lên thậm chí còn chỉ đích danh Việt Nam, yêu cầu Việt Nam phải rút toàn bộ nhân sự và các cơ sở khỏi các đảo và bãi đá.

Malaysia và Philippines cũng đã nộp các công hàm phản đối các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc lên Liên Hiệp Quốc. Đây là một sự đoàn kết hiếm có ngay trước khi Trung Quốc tuyên bố hai quận hành chính mới và công bố danh sách 80 thực thể.

BDN

Loading

Views: 1

Thực thể nổi: Tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa

Trong số 25 thực thể nổi trong danh sách mới mà Trung Quốc đưa ra có 12 thực thể ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo nằm ở phía bắc Biển Đông.

Đây là quần đảo do Trung Quốc kiểm soát nhưng cả Việt Nam và Đài Loan đều tuyên bố có chủ quyền. Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam vào năm 1974 trong một trận hải chiến với quân đội của chính phủ Nam Việt Nam lúc đó.

Các chuyên gia nhấn mạnh rằng về mặt kỹ thuật, không có bất cứ thực thể nào trong số 12 thực thể nói trên là những tuyên bố chủ quyền mới vì Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền với chúng trên cơ sở “quyền lịch sử” và vùng nằm trong đường đứt khúc 9 đoạn mà nước này vẽ ra trên một vùng diện tích rộng lớn ở Biển Đông. Đây là vùng mà Trung Quốc nói họ có chủ quyền. Nhưng điều mà Trung Quốc đang làm lúc này là vẽ bản đồ khu vực chi tiết hơn.

Trung Quốc tuyên bố Hoàng Sa là một quần đảo ngoài khơi, và vào năm 1996 đã vẽ đường cơ sở thẳng quanh quần đảo, nối những điểm đầu và cuối của quần đảo, cách vốn thường được làm bởi các quốc đảo nhằm gộp các đảo của họ lại với nhau để xác định đường biên giới trên biển. Bằng cách làm này, Trung Quốc hy vọng sẽ mở rộng hợp pháp vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đối với toàn bộ nửa phần phía bắc của Biển Đông. Điều này đã bị Toà Trọng tài quốc tế tuyên vô hiệu trong một phán quyết vào năm 2016 trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc.

“Sanzhizai” thực thể mới duy nhất của Trung Quốc ở phần đông bắc Hoàng Sa giữa đảo Trung và đảo Nam. Đảo Bắc là nơi có một tiền đồn của Trung Quốc.

Một trong những thực thể mới, Sanzhizai, là một đê cát mà hình ảnh vệ tinh cho thấy là không có người ở và gần như không nổi lên trên mặt nước bất kỳ lúc nào. Nó nằm giữa Đảo Trung và Đảo Nam, là các đảo cũng không có người ở và được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc đã chiếm đóng tất cả các thực thể không có người ở quanh đó, bao gồm Đảo Bắc, nơi có tiền đồn quân sự và Đảo Cây, nơi có cảng lớn hơn và căn cứ quân sự.

11 thực thể còn lại mà Trung Quốc đặt tên ở Hoàng Sa nằm trong Nhóm Trăng Khuyết, một nhóm các bãi đá và đá, một số trong số này được Trung Quốc nạo vét và xây thành các tiền đồn nằm cách căn cứ chính ở đảo Phú Lâm khoảng 45 hải lý.

Không có thực thể nào do Trung Quốc đặt tên ở Hoàng Sa đủ tiêu chuẩn theo pháp lý được gọi là đảo. Hai thực thể chìm hoàn toàn dưới mặt nước biển. Số còn lại là các bãi cạn hoặc bãi cát. Kuangzai Beidao – hay còn gọi là Đảo Basket Bắc – là một ví dụ. Thực thể này chỉ là một dải đất có bề rộng ít hơn 1/10 mile từ điểm đầu đến điểm cuối. Nó nằm cạnh một đảo nhỏ tý hon mà Trung Quốc chiếm đóng là Bãi Antelope, nơi có một số các toà nhà được xây trên đó.

Theo phán quyết quan trọng của Toà Trọng tài Quốc tế vào năm 2016 về Biển Đông, để đáp ứng định nghĩa về đảo, một thực thể phải có khả năng duy trì sự sống của con người một cách tự nhiên và hoạt động kinh tế mà không cần sự giúp đỡ từ bên ngoài. Kuangzai Beidao rõ ràng là không đáp ứng được yêu cầu này và cũng không có thực thể nào trong danh sách đáp ứng yêu cầu này.

Kuangzai Beidao, hay còn gọi là Đảo Basket Bắc. Hình chụp hôm 23/4/2020. Dải đất này nằm trên bãi Antelope, phía bắc khu vực có các công trình quan trọng của Trung Quốc ở Hoàng Sa.

Các thực thể mới khác rõ ràng là nhằm mục đích lấp lỗ hổng giữa và quanh các tiền đồn của Trung Quốc và các đảo nhân tạo. Guangjin Beiyidao và Guangjin Bei’erdao (Đảo Guangjin Bắc thứ nhất và Đảo Guangjin Bắc thứ hai) có thể phân biệt rõ khỏi nhau, và Trung Quốc liệt kê cùng những vị trí địa lý cho cả hai thực thể, nhưng cùng với Guangjin Xidao (Đảo Tây Guangjin) chúng làm thành một ngăn cách cát bên phía tây đảo Duncan, nơi Trung Quốc có cảng và tiền đồn.

HÌnh vệ tinh đảo Duncan hôm 28/4/2020. Guangjin Beiydao, Bei’erdao, và Guangjin Xidao nằm ở phía tây. Guangjin Beiyidao và Bei’erdao có cùng các vị trí địa lý theo danh sách của Trung Quốc, nhưng dựa theo tên của chúng có thể cho rằng chúng là hai bãi cát nằm cạnh nhau phía trên bên trái. Đảo Duncan có cảng cho ngư dân Trung Quốc và hải cảnh.

Các thực thể này dường như là một phần của chiến dịch mà Trung Quốc đang thực hiện để xác định đường cơ sở rõ ràng hơn quanh quần đảo Hoàng Sa, cho phép Trung Quốc dễ dàng gộp tất cả các thực thể ngoài khơi quần đảo này làm một nhóm. Trung Quốc đã yêu cầu các tàu thuyền phải xin phép trước khi đi qua Hoàng Sa. Đây là lý do chính khiến Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện chương trình tự do hàng hải ở Hoàng Sa, gọi đường cơ sở của Trung Quốc quanh Hoàng Sa là kinh khủng.

BDN

Loading

Views: 0

The allies did not promise the sea to China

Of the many myths that surround the history of the South China Sea/West Philippines Sea, one of the hardest to dispel is the idea that during the Second World War, the Western allies promised the disputed Paracel and Spratly Islands to China. This myth keeps appearing in public discussions despite the lack of evidence to support it. Even the Chinese ambassador to the Philippines, Huang Xilian, has been misled into repeating it.

In July 2020, Ambassador Huang told the Manila Times that, “China recovered and resumed the exercise of sovereignty over Nansha Islands after war according to the Cairo Declaration, Potsdam Proclamation and other post-war instruments.” The ambassador was using the word ‘Nansha’ as the Chinese name for the Spratly Islands, known in the Philippines as the Kalayaan Island Group. Perhaps unknowingly, he was talking nonsense.

The Cairo Declaration was a short text published on 1 December 1943 following a series of meetings between the US President Franklin Roosevelt, British Prime Minister Winston Churchill, and Generalissimo Chiang Kai-shek of the Republic of China. The three leaders declared that, once the war was over, “Japan shall be stripped of all the islands in the Pacific which she has seized or occupied since the beginning of the first World War in 1914, and that all the territories Japan has stolen from the Chinese, such as Manchuria, Formosa, and The Pescadores, shall be restored to the Republic of China. Japan will also be expelled from all other territories which she has taken by violence and greed.”

The first thing to notice about the Cairo Declaration is that it makes no mention of the ‘Nansha’ or Spratly Islands, or the Paracels or Scarborough Shoal or any of the present-day disputed features. The only islands that are specifically named are Formosa (Taiwan) and the Pescadores (known in Chinese as the Penghu) which lie just west of Taiwan. Only these two sets of islands are promised to China, no others.

The following sentence of the Cairo Declaration says that Japanese forces will be expelled from all the other territories they have invaded but says nothing about which countries they will be returned to. This sentence covered the territories of Southeast Asia and the Pacific, from Burma to Papua New Guinea, that had been part of the British, French and Dutch empires before they were invaded by Japan. Those governments wanted to recover their colonies once Japan was defeated, but the United States disagreed. As a result, the text of the Cairo Declaration was vague. The leaders could agree that Japan should be expelled from them, but their future fate was left undecided.

There is more. The Nansha/Spratly Islands could not be counted as “territories Japan has stolen from the Chinese” because China had simply not claimed them in 1943. The historical evidence is clear. In 1943, the Republic of China’s (RoC) Ministry of Information published what it called the ‘China Handbook 1937–43’, a comprehensive guide to the country’s geography, history, politics, and economics. On its opening page it stated that “the territory of the Republic of China extends from [the Sajan Mountains in the north] . . . to Triton Island of the Paracel Group.”

In other words, in 1943 China only claimed the Paracel Islands in the northern part of the South China Sea, not the Spratlys or Scarborough Shoal. Two editions of the China Handbook were published that year; the first in Calcutta in July and the second in New York in November. Both carried the same text.

It was not until June 1947, well after the Second World War was finished, that the Chinese government agreed that it would claim the Spratly/Nansha/Kalayaan islands. Even then, the 1947 edition of the same China Handbook was cautious. It stated that “the southernmost . . . boundaries [of China] remain to be settled . . . and the sovereignty of the Tuansha Islands on the south are contested among China, the Commonwealth of Philippines and Indochina”.

At this time, Chinese sources referred to the Spratlys as “Tuansha.” The name Nansha – southern sands – was it this time used to refer to the Macclesfield Bank, further north, because that was previously the southernmost area known to China. It was only in 1947 that the name ‘Nansha’ was moved further south.

In short, it is clear that none of the delegations at the Cairo Conference could have intended the phrase “territories Japan has stolen from the Chinese” to include the Spratlys or Scarborough Shoal. They were simply not regarded as Chinese at that time by anyone. The situation is slightly more complex when it comes to the Paracel Islands. France had made a formal claim to the Paracels in 1931 as the colonial power in Indochina (based on much older claims by its colony Annam). As a result, it was not clear whether Japan had stolen these islands from the Chinese or the French, so their status was left vague.

The 1945 Potsdam Declaration makes no mention of the islands of the South China Sea at all. The text agreed by Roosevelt’s successor President Harry Truman, along with Churchill and Chiang, merely states that “The terms of the Cairo Declaration shall be carried out and Japanese sovereignty shall be limited to the islands of Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku and such minor islands as we determine.” It says nothing about which territories shall be returned to Chinese control.

The same is true of the 1951 San Francisco Peace Treaty. Article 2 merely says that “Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands”. A similar phrase appears in the 1952 Treaty of Taipei between Japan and the Republic of China. Neither says anything about which country the islands rightfully belong to. The question was simply left open.

The historical evidence is clear. There is nothing in any of these documents that promise the islands of the South China Sea – other than Taiwan and the Pescadores – to China. It is a great shame that so many people who claim to be knowledgeable about the subject continue to perpetuate the myths that they do./.

Dr. Bill Hayton

The author of “The South China Sea: the struggle for power in Asia”

 

Loading

Views: 0

Một số hoạt động bảo vệ biển đảo miền Bắc dưới triều Nguyễn: thời kỳ 1802 – 1885

Vị thế biển đảo miền Bắc trong con mắt vua Nguyễn
Triều Nguyễn không chọn miền Bắc là nơi đóng đô, nhưng miền Bắc là nơi đóng đô của rất nhiều triều đại phong kiến nước ta trước kia. Biển đảo miền Bắc không phải làm phên giậu trực tiếp bảo vệ kinh thành Huế, nhưng không vì thế mà nó mất đi ý nghĩa về vị thế quan trọng quốc phòng dưới triều Nguyễn.

Là một nước nông nghiệp, nhưng ý thức về biển đã có từ rất sớm trong con người Việt. Rất nhiều nền văn hóa cổ đã được phát hiện và chứng minh rằng con người Việt biết đến biển từ rất sớm như các nền văn hóa Quỳnh Văn, Bàu Tró, Sa Huỳnh… Trong một bài viết, tác giả Nguyễn Văn Kim có viết “từ khởi nguyên, biển đã là môi trường sống, là bộ phận hợp thành, góp phần tạo dựng, định diện bản sắc văn hóa và tư duy của người Việt”([1]). Trong cuốn Biển với người Việt cổ, các tác giả nhấn mạnh về vai trò của biển đối với người Việt chúng ta rằng: “Biển giữ vai trò rất quan trọng từ thời kỳ đã qua đến thời hiện tại đối với sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta“([2]).Điều đó càng cho thấy người Việt chúng ta rất quan tâm đến biển đảo. Biển đảo là nơi cung cấp bao nguồn lợi cho con người, các loại thực phẩm tôm, cá, mực và các loại hải sản khác. Đồng thời, trong quá trình phát triển đi lên biển đảo còn là một con đường giao thông quan trọng cho các nước trên thế giới giao lưu với nhau thông qua con đường thương nghiệp trên biển. Hơn thế nữa, biển đảo cũng chính là nơi án ngự con đường biên giới quốc gia trên biển, nên ý nghĩa lại càng được đề cao trong quá trình bảo vệ xây dựng đất nước, vương triều. Triều Nguyễn cũng không nằm ngoài ngoại lệ đó, những vị vua đầu triều Nguyễn rất quan tâm tới biển đảo cả nước nói chung và biển đảo miền Bắc nói riêng. Ở trong từng thời kỳ trị vị của mình, những người đứng đầu triều Nguyễn đều có cách ứng xử hợp lý với biển và luôn xem trọng  biển đảo “thời Gia Long – Minh Mạng đã xây dựng cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan tuần kiểm (tuần tra kiểm soát), dọc bờ biển và ngoài khơi, các đội Hoàng Sa, Trường Sa, Bắc Hải… được nhà nước giao nhiệm vụ khai thác quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ở giữa biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nam”([3]). Biển đảo miền Bắc có những giao lưu sớm với bên ngoài, hơn nữa biển đảo miền Bắc là một vị thế rất quan trọng, một trong những nơi có vịnh, cảng thuộc vào loại quan trọng nhất nước ta. “Trên lãnh thổ của Tổ quốc ta, ở hai khu vực Đông Bắc và Tây Nam có hai vịnh biển giữ vị thế địa – kinh tế, địa – chiến lược hết sức quan trọng. Nếu như vịnh Bắc Bộ sớm có nhiều mối quan hệ gắn bó mật thiết với diễn tiến lịch sử, văn hóa, kinh tế của các quốc gia khu vực Đông Bắc Á”([4]). Các vị vua đầu triều Nguyễn luôn đề cao, ý thức về những vùng đất xa xôi của đất nước. Biển đảo là một phần tất yếu trong đó “Minh Mệnh đã tăng cường xác lập chủ quyền Việt Nam ở các hải đảo, vùng biển và miền biên giới xa xôi([5]). Biển đảo miền Bắc là nơi án ngữ con đường biên giới trên biển với thế lực phong kiến phương Bắc, nên ý nghĩa của nó lại càng được xem trọng trong bảo vệ vương triều Nguyễn. Đồng thời, lúc này với những thay đổi của thế giới, các nước tư bản phương Tây đang tìm kiếm thị trường và thuộc địa đối với các nước phương Đông trong đó có Việt Nam

Hoạt động bảo vệ biển đảo miền Bắc là bảo vệ vững chắc một phần lãnh thổ của cả nước. Các vị vua đầu triều Nguyễn ý thức rất cao về bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ. Biển đảo lại là nơi rất được chú ý, với ý thức về biển đảo rất rõ ràng và đúng đắn của các vị vua đầu triều Nguyễn.

Tuần tra kiểm soát biển đảo

Tuần tra kiểm soát biển đảo là một hoạt động được tiến hành thường xuyên dưới triều Nguyễn. Triều Nguyễn đã đưa ra nhiều biện pháp, chính sách và tiến hành những hoạt động tuần phòng, kiểm soát trên biển đảo cả nước nói chung và vùng biển miền Bắc nói riêng, vua Minh Mệnh năm thứ 18 [1837] Dụ bộ Binh rằng“Bờ biển nước ta rất dài, việc tuần phòng biển rất là quan trọng”([6]).

Từ khi vua Gia Long lên ngôi, ông đã cho tổ chức việc tuần tra, nhằm giúp tăng cường phòng chống hải tặc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên biển đảo. Trong cuốn Việt Nam sử lược, khi nhận xét về việc tuần tra biển đảo của vua Gia Long, tác giả Trần Trọng Kim viết: “Nước Việt Nam ta có nhiều bể cần phải giữ gìn, bởi vậy vua Thế tổ lưu tâm về việc chỉnh đốn binh quyền([7]) và tác giả viết tiếp “Nhà vua lại làm ra một thứ thuyền lớn ngoài bọc đồng, để đi lại tuần phòng ở miền bể([8]). Tuần tra kiểm soát biển đảo là một hoạt động rất quan trọng, biển đảo là cửa ngõ duy nhất ở thời kỳ này mà có thể giao lưu với các nước phương Tây. Và đồng thời đây cũng là cửa ngõ cần phải quan tâm chốt giữ chống lại các mối đe dọa từ biển vào. Dưới thời các vua Gia Long và Minh Mệnh, chủ quyền biển đảo là việc được hai vua hết sức coi trọng không riêng gì biển đảo miền Trung mà biển đảo miền Bắc cũng được triều Nguyễn cho thấy sự quan tâm đúng mức. “Vua Gia Long và Minh Mạng đã nhận thức rất rõ về vị thế của biển và mối lo ngại hải tặc tấn công, nên ngoài việc bố phòng cẩn mật tại bờ biển thì công tác tuần tra và kiểm soát vùng biển được các vua Nguyễn cũng ban hành nhiều chính sách cụ thể. Tuần tra là hoạt động quan trọng trong việc bảo vệ, thực thi chủ quyền vùng biển. Cái lợi của tuần tra mặt biển được vua Minh Mạng chỉ rõ đi tuần phòng ven biển một là để thao luyện cách lái thuyền cho quen thuộc dòng nước, hai là để tập đánh dưới nước, biết rõ đường biển, khiến cho bọn giặc biển nghe tin không dám gây sự. Đó là một việc được ba điều lợi. Một trong những cái lợi trực tiếp của tuần tra chính là bảo vệ an toàn việc vận chuyển sản vật và vật liệu ở các địa phương về kinh đô bằng đường biển”([9]). Nhằm tăng cường hiệu quả cho công tác tuần phòng thì phải am hiểu về vùng biển đảo bao gồm cả sức gió, con nước và những chỗ nông cạn của vùng biển… nhằm trang bị những kiến thức tốt nhất cho những người làm công tác tuần phòng biển đảo. Vua Gia Long đã “lệnh cho Bộ Công biên tập cuốn “Hải trình tập nghiệm sách” trên cơ sở tra tập các sách. Nội dung bao gồm bốn mục là “Tóm tắt về mưa gió”, “Những điều kiêng kỵ khi chạy tàu thuyền”, “những điều kiêng kỵ khi đóng tàu thuyền”, và Tập nghiệm những việc đã qua, tập trung những tai nạn tàu thuyền lại và lệnh cho các nơi ven biển vẽ bản đồ của biển trong vùng hải phận của mình, cùng phát cho thủy quân và những người có liên quan học tập”([10]). Ngoài ra, triều Nguyễn cho đo đạc các cửa bể ven biển cũng như tìm hiểu hết những chỗ nào có đá ngầm, bãi cát ngầm… Triều Nguyễn còn cho vẽ bản đồ để cho việc tàu thuyền qua lại tránh va phải, dễ dàng cho việc đi lại. “Vậy truyền chỉ cho các quan địa phương ra lệnh cho các viên coi đồn cửa bể trong hạt, bắt đầu từ năm nay phàm những cửa biển sở tại, rộng, hẹp, nông sâu thế nào phải xem xét đo đạc cho tường tận hơn những cửa ven biển gần bờ, nếu có đống đá, ghềnh đá, bãi cát nông, bãi cát ngầm, mà thuyền bè cần phải tránh, đều phải chua rõ là cách với bờ bao nhiêu trượng, thước; nếu cách bờ xa, khó xem xét đo đạc, cũng phải ước lược xem xa gần mấy dặm, đi bộ mấy giờ mấy khắc thì vào đến bờ, và ở chỗ ấy trông lên núi trên bờ xem hình nó lớn hay nhỏ, hình giống cái gì, nhất nhất phải biên kê hết cả ra, để cho dễ nhận. Hằng năm cứ vào khoảng tháng 6 tháng 7 tiếp giáp nhau, sở tại gửi bản biên kê đó đến Bộ Công để lục giao cho thuỷ quân và các thành trấn lưu chiểu. Việc đó cốt để cho sự đi biển được thuận lợi; nếu làm sai thì những viên đóng giữ các đồn cửa bể tức thì bị chiểu luật nặng trị tội. Rồi lại chuẩn cho Bộ Công tư đi các địa phương chiếu theo hải phận trong hạt, vẽ thành bản đồ nộp bộ để căn cứ xét dùng([11]).

Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838, đã vẽ Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam

Các vua đầu Nguyễn không quên nhiệm vụ tuần phòng biển đảo và luôn đề cao xem trọng việc này. Minh Mệnh vị vua thứ hai của triều Nguyễn, ông rất quan tâm đến việc bảo vệ an ninh lãnh thổ biển đảo, ông đã tổ chức nhiều đội tuần tra kiểm soát nhằm bảo vệ an ninh biển đảo. Đây cũng là việc làm bảo đảm an toàn cho các thuyền buôn yên tâm đi lại trên biển. Việc làm này nhằm phát triển hàng hải trên biển “21 năm trị vì của vua Minh Mệnh cũng có thể coi là đỉnh cao của nền hàng hải thuyền buồm và công cuộc xây dựng hải quân thời cổ đại Việt Nam. Ông ra sức đẩy mạnh sự nghiệp hàng hải của chính phủ Việt Nam, khuyến khích đóng các loại tàu thuyền bền chắc, xây dựng thủy quân vững mạnh, hết sức quan tâm nền an ninh cõi biển và phòng thủ biển. Ông đã ban bố các quy chế như “tuần dương chương trình”, “tuần thuyền quy thức”, v.v… nhằm mục đích chống cướp biển, trạm dương và giữ gìn an ninh cho các loại tàu thuyền hoạt động ven biển”([12]).

Biển đảo miền Bắc tuy không phải trực tiếp làm cửa chắn cho kinh đô Huế, song đây cũng là vùng biển đảo hết sức quan trọng. Ở đây bao gồm rất nhiều đầu mối giao thông cùng với ý nghĩa chính trị của nó không kém so với biển đảo ở những nơi khác trong nước. Hơn nữa, ở đây có địa hình tương đối phức tạp, hiểm trở với hàng trăm đảo lớn nhỏ khác nhau nên việc kiểm soát không phải là một vấn đề đơn giản “sự phân bố các đảo ở biển Việt Nam không đều, ven bờ vịnh Bắc Bộ có số lượng hơn 2.300 đảo với diện tích khoảng 800km2, ven bờ miền Trung có khoảng 250 đảo, với diện tích khoảng 170km2, ven bờ biển Nam Bộ có số lượng hơn 200 đảo với diện tích 679km2”([13]). Để cho thấy được tầm quan trọng không kém của biển đảo miền Bắc, vua triều Nguyễn luôn chỉ dụ ngoài những quan sở tại miền Bắc thực hiện tuần phòng, bảo vệ biển đảo phải hết mình ra thì còn chỉ thị cho những biền binh nơi khác phải thường xuyên đến Bắc Thành để đồn trú. Năm Minh Mệnh thứ 4 [1823] “Sai hơn 270 biền binh cơ Ngũ thủy của Thủy quân ngồi 42 chiếc thuyền hiệu Ô Lê, theo chưởng cơ Nguyễn Văn Hạnh đi Bắc Thành thay nhau đồn trú”([14]). Hơn nữa biển đảo miền Bắc là cửa ngăn các thế lực bành trướng và quấy rối từ phương Bắc, nên việc tuần phòng, bảo vệ lại càng không được lơ là. Năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], ban Dụ rằng: “Từ Quảng Trị trở ra Bắc, từ Quảng Nam trở vào Nam, đều nhanh chóng phái 3, 4 thuyền binh, theo hạt đi tuần xét. Mỗi khi gặp thuyền dị dạng nước Thanh, hoặc trong thuyền hiện có súng ống, khí giới cho đến đồ vật hàng năm bị cướp bóc, và tình hình đáng ngờ, nguyên do phức tạp, thì lập tức giải về thành trấn ấy. Một mặt tâu lên, một mặt xét rõ, xử tội nặng thêm bực, tâu lên”([15]). Ngoài ra trong Dụ còn chỉ rõ rằng, những người làm việc tuần tra thì phải nghiêm minh, không được viện cớ mà hạch sách, quấy rối  thuyền buôn “Những thuyền binh được phái đi, cũng nên hết lòng dạy bảo nghiêm ngặt, không được nhân việc mượn cớ quấy rối thuyền buôn. Khi việc bị phát giác, thì quan địa phương ấy cũng khó lòng chối được lỗi nặng ấy”([16]). Bên cạnh đó, những người làm tuần tra lỡ có tai nạn như gió bão đánh chìm tàu thuyền thì họ cũng được triều đình quan tâm cấp tiền tuất và một số đặc ân cho gia đình của những người bị nạn “Định lệ cấp tuất cho quan và binh lính  bị nạn bão. Phàm người bị bão không kể còn mất, cai đội được cấp tiền 30 quan,  phó đội 20 quan, đội trưởng 15 quan, binh lính 10 quan, đều cấp cho gia đình”([17]). Đây là một việc làm rất cần thiết vừa làm bớt đi những đau buồn cho người thân của quan quân, vừa là để triều đình ghi nhớ công ơn của họ đóng góp cũng vừa là để khích lệ những người tiếp tục công việc bảo vệ đất nước gắng sức. Năm Minh Mệnh thứ 11 [1830], ban Dụ rằng “Các địa phương bờ biển từ Quảng Bình trở ra Bắc, từ nay về sau hàng năm từ tháng 3 bắt đầu, đến tháng 7 thì thôi, hai lần liệu phái thuyền binh tới những hạt nơi có các đảo mà thuyền giặc có thể neo đậu được, kiểm soát hết thảy. Nếu có thuyền dị dạng của người Thanh ngầm đậu, tình trạng đáng ngờ, thì lập tức bắt giải về quan địa phương ấy để tra xét tâu lên”([18]). Việc tuần tra kiểm soát biển đảo cả nước nói chung và miền Bắc nói riêng dưới triều Nguyễn thường giao cho quân đội chính quy, ở những địa phương gần biển thì lại cho quyền chủ động. Năm Minh Mệnh thứ 15 [1834], ban Dụ rằng: “Các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát ở các địa phương ven biển, đều nên xét các đảo ở hải phận trong hạt hiện có dân cư, thì điều sức cho dân ở đấy đem thuyền đánh cá nhanh chóng sửa chữa, cho được nhanh nhẹn. Nơi dân số nhiều thì làm 3 chiếc, dân số ít thì làm 2 chiếc. Mỗi chiếc có thể ngồi được trên, dưới 20 người. Về phí tổn sửa chữa hết bao nhiêu, thì Nhà nước cấp tiền. Lại liệu cấp cho giáo dài, súng trường, thuốc đạn, giao cho dân nơi ấy nhận lĩnh, để dùng đi tuần thám. Khi gặp giặc biển, thì một mặt cùng nhau chống đánh, một mặt chạy báo, cho khỏi bị chậm trễ, không kịp việc([19]). Do đặc thù vùng biển rộng nên việc quan sát bằng mắt thường không thể nhìn xa và chính xác được vì vậy để trang bị cho việc tuần phòng được hiệu quả và thuận lợi hơn, các thuyền binh tuần tiễn đều được cấp kính thiên lý. Năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], ban Chỉ dụ rằng: “vùng biển mông mênh, chỉ có kính thiên lý có thể trông xa được, vậy cho trích ra 3 chiếc, giao cho một tên thị vệ, do đường trạm chạy từ Nghệ An trở ra Bắc, chuyển tới các thuyền binh ấy chia cấp, để phòng khi nhìn xem tình hình giặc biển, khi việc xong lại đem về nộp”([20]).

Tuần phòng nhằm giúp cho việc trừ bọn cướp biển và những thế lực chống đối khác, tạo điều kiện cho việc giao thương đi lại trên biển của thương lái và người dân cũng như việc quan binh được thuận lợi hơn. Ngoài những tháng quy định phải đi tuần tiễu định kỳ thì triều Nguyễn còn cho tổ chức tuần tra vào những tháng trong năm mà việc đi lại của thương lái cũng như người dân nhiều hơn, nhằm ngăn chặn được nạn cướp biển diễn ra. Năm Minh Mệnh thứ 16 [1835], ban Dụ rằng: “cho từ nay về sau, mỗi khi mùa hè đến kỳ vận tải, thì do đề đốc Thừa Thiên liệu đem thuyền binh thuộc phủ và đôn đốc biền binh ở đồn biển cùng ra biển, căn cứ theo hải phận qua lại tuần thám bảo vệ. Nếu kỳ nào đoàn thuyền đi vận tải nhiều, thì cho tư bộ trích thêm thuyền binh, cùng đi do thám”([21]). Công việc tuần tra kiểm soát  biển đảo trước hết là để giữ vững biên giới quốc gia, khẳng định được vị thế của mình. Hơn nữa kiểm soát biển đảo đem lại sự an tâm cho người dân để họ có thể ra khơi đánh cá, buôn bán, tạo sự an ninh ổn định thu hút thương lái các nước đến với nước ta.

Bản đồ Việt Nam trong cuốn Từ điển La tinh – Việt Nam của giám mục Jean Louis Taberd xuất bản năm 1838 vẽ một phần của Paracel hay Cát Vàng (Paracel seu Cát Vàng) vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay

Triều Nguyễn đã tổ chức tuần tra biển đảo không chỉ dựa vào sức mạnh của quân đội triều đình, mà triều Nguyễn còn biết huy động sức mạnh từ nhân dân, Minh Mệnh năm thứ 16 [1835], Dụ rằng: “các tỉnh có hải phận, đều đóng 2, 3 chiếc thuyền nhanh nhẹ và sai nhân dân các đảo sửa chữa thuyền đánh cá, liệu cấp khí giới để đi tuần thám”, “các quan địa phương ở ven biển liệu trích lính ở tỉnh, chia ngồi vào thuyền nhanh ra biển đi tuần thám và thông sức cho nhân dân sở tại hết lòng đề phòng do thám. Nếu gặp thuyền giặc, thì lập tức hợp sức đánh dẹp([22]). Những vị vua đầu triều Nguyễn đã tổ chức, kết hợp được việc tuần thám giữa quân đội và nhân dân. Điều này, không những mang lại hiệu quả cao mà ngoài ra còn giúp giáo dục cho nhân dân thấy được tầm quan trọng của biển đảo đối với cuộc sống con người Việt như thế nào. Hơn nữa giáo dục cho họ thấy ý nghĩa địa chiến lược vùng biển đảo đối với an ninh quốc gia. Từ sự nhận thức đó mọi người sẽ cùng nhau ra khơi và cùng với triều đình kiểm soát biển đảo của mình.

Minh Mệnh là ông vua có ý thức rất rõ ràng về tầm quan trọng của biển đảo và ông đã cho tổ chức tuần phòng biển đảo tương đối hiệu quả. Luôn luôn đốc thúc việc tuần tra vùng biển đảo miền Bắc vì đây thường xuyên có cướp biển và các thế lực nổi lên làm thiệt hại không nhỏ cho triều đình cũng như người dân. Minh Mệnh năm thứ 7 [1826] “Vua sai bắt thêm 70 chiếc thuyền và 200 thủy thủ ở Hoài Đức và Quảng Yên theo quan quân chia phái đi tuần phòng mặt biển([23]). Nhằm tránh sự nhầm lẫn trong việc nhận dạng địch và ta trong quá trình tuần phòng, bên cạnh trang bị kính thiên lý để nhìn xa hơn. Việc phát hiện mục tiêu vào ban đêm được triều Nguyễn quy định đặt lòng đèn các màu khác nhau cho các thuyền tuần thám và thuyền buôn, thuyền ngư dân, để từ đó dễ dàng nhận ra những tàu địch, đồng thời quy định việc khi phát hiện thuyền địch vào ban đêm thì phát tín hiệu để tổ chức vây bắt “lòng đèn ở thuyền ô đều viết to 2 chữ tên đồn biển, ban đêm treo lên làm hiệu. Ở hải phận đồn biển nào trong khi du tuần gặp giặc biển, hoặc quả là thuyền dị dạng, cần phải vây bắt, thì bắn 3 tiếng đại bác, ban đêm thì đốt 5 chiếc pháo thăng thiên làm hiệu. Thuyền ô liền tiến lên chặn bắt, thuyền nhanh nhẹ lập theo sự thuận tiện, tới báo cho quan địa phương làm bằng. Một mặt phái binh đuổi bắt, một mặt chuyển báo cho các đồn biển giáp giới điều lập tức khẩn cấp hội lại cùng đánh”([24]). Ở những vùng đảo hẻo lánh nơi ít người qua lại nhưng lại xung yếu thì triều Nguyễn vẫn tổ chức kiểm soát để vừa bảo vệ được chủ quyền biển đảo vừa là để làm căn cứ thuận tiện cho việc tiễu trừ giặc cướp và các lực lượng chống đối. Minh Mệnh năm thứ 17 [1836], tỉnh thần Quảng Yên tâu nói “Châu Vân Đồn trong tỉnh hạt thuộc phủ nha Hải Ninh kiêm lý, dân châu ấy dẫu chỉ có 2 xã, mà ở hẻo lánh trên hải đảo, giáp giới biển Trung Quốc, cách xa phủ lỵ hàng 2 ngày đường. Nay thổ lại mục có khuyết thì nên coi một loạt như các châu huyện khác trong thuộc hạt, không nên điều bổ, mà tên châu cũng không nên bỏ. Xin đặt là tổng Vân Hải, châu Vân Đồn, đặt 1 Cai tổng, khiến cho có sự thống thuộc chặt chẽ”([25]). Vua chuẩn y lời tâu.

Với việc chú trọng biển đảo cả nước nói chung và biển đảo miền Bắc nói riêng nên việc tuần phòng biển đảo ở những vua đầu triều Nguyễn luôn được tiến hành. Ngay khi năm đầu tiên lên ngôi vua, Thiệu Trị đã cho ban Dụ về công tác tuần tra biển đảo “một khoản đi tuần biển, trước đã Dụ cho tấn thủ các sở phía nam, phía bắc và các tỉnh phái cho thuyền binh qua lại tuần thám rồi”([26]). Những năm tiếp theo, dưới sự trị vì của mình, vua Thiệu Trị đều rất chú ý và quan tâm đến công tác tuần phòng vùng biển đảo. Thiệu Trị năm thứ hai [1842], nhà vua ban Dụ rằng “truyền chỉ cho từ Thừa Thiên đến Bình Thuận, và phía Bắc đến tỉnh Quảng Yên, cũng theo chương trình đó, nghiêm sức, cho các tấn thủ trong hạt, đều phái thuyền binh đi tuần biển, chiếu theo hải phận, làm việc cho đúng đắn, không được nói suông theo lối cũ, đợi đến thời tiết mưa lụt đều sẽ rút về”([27]). Những chính sách đưa ra cho việc tuần tra kiểm soát của các vị vua triều Nguyễn không chỉ là riêng cho một vùng biển đảo riêng lẻ nào cả, mà đó chính là chính sách cho tất cả vùng biển đảo nước ta, điều đó khẳng định rằng ở vùng biển đảo trong cả nước triều Nguyễn đều rất xem trọng như nhau. Biển đảo miền Bắc ở vị thế xa xôi so với kinh đô nên công tác tuần phòng lại càng được chú ý. Vì rằng kẻ thù sẽ lợi dụng sự xa cách của triều đình với vùng biển đảo này để tổ chức những hoạt động quấy phá và đánh cướp nhưng với công tác tuần tra kiểm soát của mình, triều Nguyễn đã hạn chế thấp nhất những thiệt hại xảy ra và kiểm soát tốt vùng biển đảo của mình. Các vua nối tiếp đều chú ý quan tâm đúng mức việc tuần tra kiểm soát vùng biển đảo, luôn xem đây là một bộ phận không thể tách rời khỏi lãnh thổ Việt.

Tự Đức là vị vua thứ tư lên nối ngôi của triều Nguyễn, ông cũng không nằm ngoài ngoại lệ đó. Với việc quan tâm đến vùng biển đảo cả nước nói chung và biển đảo miền Bắc nói riêng của cha ông trước để lại. Trước là để tạo sự bình an cho biển đảo, đưa lại sự giao thương thuận tiện, sau là khẳng định địa giới của mình hay nói đúng hơn là khẳng định chủ quyền biển đảo của mình. Ngay khi vừa mới lên ngôi năm đầu tiên [1848] vua Tự Đức đã ban Dụ về việc tuần phòng vùng biển đảo “nay khí trời quang tạnh, đường biển thuận tiện, chính là thời tiết thuyền buôn qua lại. Nên phái thuyền binh đi tuần thám, cho nghiêm vùng biển. Vậy cho phái 1 viên quản vệ quân thần cơ, 2 viên suất đội bộ binh, 80 tên biền binh, 2 viên biên suất đội thủy sư, 80 tên biền binh, 25 tên pháo thủ quân thần cơ, chia ngồi vào một chiếc thuyền Điền dương, 2 chiếc thuyền ô, chạy từ Thừa Thiên về đến phía nam đến Bình Thuận. Lại phái một viên quản vệ, một viên suất đội, 55 tên biền binh thủy sư, 2 viên suất đội, 55 tên biền binh của bộ binh, 18 tên pháo thủ quân thần cơ, chia vào ngồi 2 chiếc thuyền Thanh hải, một chiếc thuyền ô, chạy từ Thừa Thiên về phía bắc đến Quảng Yên. Tất cả đều nên sửa sang thuyền binh, nhận lĩnh khí giới, thuốc đạn, ống phun lửa, dụng cụ chiến đấu và kính thiên lý, đầy đủ. Cho đến tuần đầu tháng 2, từ cửa biển Thuận An nhân thuận gió, ra khơi. Phàm tất cả công việc tuần tra như thoi dệt, cốt môn cho giặc biển yên lặng”([28]). Ngay cả khi bị thực dân Pháp chiếm các tỉnh miền Nam, quan quân triều đình phải lo đối phó với thực dân Pháp thì triều Nguyễn vẫn chú ý đến công tác tuần thám kiểm soát vùng biển đảo, năm Tự Đức thứ 24 [1871], vua bảo rằng: “Hai hạt Hải Dương, Quảng Yên, vùng cửa biển sâu rộng, đường song tàu bè đi lại như mắc cửi, việc phòng giữ là rất sung yếu. Đã từng chuẩn cho lập đồn đặt súng, để cho nơi cửa ngõ của hai hạt ấy được nghiêm mật”([29])

Do đặc thù biển đảo xa xôi cùng với sự nguy hiểm khôn lường của người làm công tác tuần khám nên các vua luôn chú ý và quan tâm nhằm động viên kịp thời những người làm công tác tuần khám. Việc làm này sẽ tạo sự hưng phấn và chuyên tâm làm tốt công việc, Minh Mệnh năm thứ 17 [1836], ban Chỉ rằng: “các khoản bàn trong tập tâu, là do từ ý kiến muốn cho tuần phòng chu đáo. Nhưng theo lời bàn thì ngày đêm luôn luôn đi lại như dệt cửi trên mặt biển xông pha sóng gió, thật là đòi hỏi người ta làm điều rất khó, lòng trẫm thực là không nỡ. Nhưng bờ biển là nơi quan trọng, không thể không chú ý”([30]). Với việc hiểu những khó khăn mà người làm việc tuần thám, nhằm để động viên họ các vua Nguyễn đã cấp thêm lương bổng cho quan quân làm công tác tuần thám vùng biển đảo: “Những quan binh được phái đi đều được thưởng cho nửa tháng tiền lương. Còn như dự chi tiền lương lĩnh tiếp, đều cho theo lệ trước mà làm”([31]). Bên cạnh việc thưởng và rất quan tâm đến những người đi tuần thám thì triều Nguyễn còn thực hiện việc phạt rất phân minh nếu ai không làm tròn trách nhiệm của mình thì sẽ bị phạt đích đáng “nếu tuần thám bất lực, đến nỗi giặc biển lại được nhân sơ hở lén lút nổi lên thì phép nước rất nghiêm, dứt khoát không rộng tha được. Lại truyền Chỉ cho các địa phương từ Thừa Thiên trở về nam đến Bình Thuận, trở về phía bắc đến Quảng Yên, cũng chiếu theo chương trình, nghiêm sức cho các tấn thủ thuộc hạt và thuyền binh phái đi tuần biển, chiếu theo hải phận đi tuần thám. Không được nói suông cho xong việc, kẻo can lỗi không nhỏ([32]).

Triều Nguyễn không còn tồn tại với thể chế chính trị ngày nay nữa, nhưng những bài học, những kinh nghiệm quý mà triều Nguyễn để lại thì còn tồn tại mãi. Hoạt động bảo vệ biển đảo miền Bắc nói riêng và hoạt động bảo vệ cả nước nói chung dưới triều Nguyễn là một bài học lớn cả những thành công cũng như thất bại mà chúng ta cần phải nghiên cứu thêm, rút ra những kinh nghiệm quý cho việc bảo vệ đất nước ngày nay.

ĐOÀN ANH THÁI 

 

[1] Nguyễn Văn Kim (2011), “Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển nhận thức về biển, đảo trong nghiên cứu lịch sử văn hóa dân tộc”, NCLS, (9), Tr. 3.
[2] Viện Đông Nam Á (1996), Biển với người Việt cổ, Nxb Văn hóa – Thông tin, Tr. 3.
[3] Viện Đông Nam Á (1996), Biển với người Việt cổ,  Sđd, Tr. 34.
[4] Nguyễn Văn Kim (2009), “Tính hệ thống và quy mô của Vân Đồn nhận thức về vai trò và vị thế của một thương cảng”, NCLS,(9), Tr. 3.
[5] Nguyễn Minh Tường (2007), “Vua Minh Mạng với tư tưởng củng cố nền thống nhất quốc gia”, Xưa nay, (286), Tr. 15.
[6] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 5, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo dục, Tr. 37.
[7] Trần Trọng Kim (2006), Việt Nam sử lược, Nxb Thuận Hóa, Huế, Tr. 440.
[8] Trần Trọng Kim (2006), Việt Nam sử lược, Sđd. Tr. 440.
[9] Nguyễn Phương Chi, Trần Hưu Hạnh (2011), “Chính sách bảo vệ vùng biển Đông Bắc Việt Nam của vua Gia Long và Minh Mạng”, NCLS, (9), Tr. 42 – 43.
[10] Nguyễn Phương Chi, Trần Hưu Hạnh (2011), “Chính sách bảo vệ vùng biển Đông Bắc Việt Nam của vua Gia Long và Minh Mạng”, Sđd, Tr. 42 – 43.
[11] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 3, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo dục, Tr. 165.
[12] Vu Hướng Đông (2008), “Ý thức về biển của vua Minh Mạng”,  Xưa nay, (317), Tr. 55.
[13] Tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam (2009), Nxb Quân đội nhân dân, Tr. 61.
[14] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 2, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo dục, Tr. 298.
[15] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Trần Huy Hàn – Nguyễn Thế Đạt dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, Tr. 425.
[16] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5,  Sđd, Tr. 425.
[17] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo dục, Tr. 912.
[18] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Trần Huy Hàn – Nguyễn Thế Đạt dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, Tr. 426.
[19] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Sđd, Tr. 426.
[20] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Sđd, Tr. 425.
[21] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Sđd, Tr. 427.
[22] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Sđd. Tr. 427.
[23] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 2, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo dục, Tr. 494.
[24] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Trần Huy Hàn – Nguyễn Thế Đạt dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, Tr. 428.
[25] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 4, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất,  Nxb Giáo dục, Tr. 1065.
[26] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Trần Huy Hàn – Nguyễn Thế Đạt dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, Tr. 435.
[27] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Sđd, Tr. 436.
[28] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Sđd, Tr. 437- 438.
[29] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 7, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo dục, Tr. 1307.
[30] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Trần Huy Hàn – Nguyễn Thế Đạt dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, Tr. 429.
[31] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Sđd, Tr. 436.
[32] Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, Sđd, Tr. 438.

 

Loading

Views: 0

Ancient maps affirm Vietnam’s sovereignty over archipelagos

These are maps of Vietnam’s territory during the feudal period, drawn by the country’s dynasties and foreign navigators. All confirm Vietnam’s sovereignty over the Hoang Sa (Paracel) archipelago, which has the old name of “Bai Cat Vang” (Golden Sandbank), and the Truong Sa (Spratly) archipelago.

Meanwhile, maps of China’s territory do not include Hoang Sa and Truong Sa archipelagos. All clearly show that Hainan Island is the country’s southernmost point, which does not cover the two archipelagos.

The authentic evidence of Vietnam’s sea and island sovereignty has therefore existed for hundreds of years.

Safeguarding tens of thousands of miles of the East Sea

Vietnamese land will be prosperous and peaceful forever

The verse from famed late scholar Nguyen Binh Khiem was the iron recommendations to younger generations to protect the country’s sovereignty over seas and islands, including the Hoang Sa and Truong Sa archipelagos, and their special importance in the nation’s destiny.

The earliest Vietnamese document mentioning Hoang Sa is “Toan tap Thien Nam tu chi lo do thu” (The Collection of the South’s Road Maps), published in 1686 under the Hau Le (Later Le) Dynasty.

It reads: “There is a long sandbank called Bai Cat Vang, about 400 miles long and 20 miles wide, in the middle of the sea. From Dai Chiem Estuary to Sa Vinh Estuary, every time the southwest winds blow, merchant ships of countries start drifting and their crews starve to death. Their goods are all left there …”

Since then, Bai Cat Vang has gradually become an indispensable part of Vietnam’s territory and been shown in a number of maps drawn in later periods. In 1838, the National History Department of the Nguyen Dynasty named the two archipelagos Hoang Sa and Truong Sa, confirming their official locations in the “Dai Nam nhat thong toan do” (the Complete Map of Unified Dai Nam), with Dai Nam being an old name for Vietnam.

In particular, 19 of the Nguyen Dynasty’s royal documents constitute historical evidence of the Vietnamese feudal state’s establishment and exercise of sovereignty over the Hoang Sa and Truong Sa archipelagos. These royal documents, recognised as being part of the world’s documentary heritage, feature the emperors’ approval and the dynasty’s seal, and have undeniable historical and legal value.

From the reign of the Nguyen Lords, the Hoang Sa flotilla that also took charge of “Bac Hai” (faraway islands in the south of Hoang Sa) moved to Hoang Sa to exploit its resources, measure and draw maps, and plant markers establishing sovereignty.

Given their dedication, the emperors of the Nguyen Dynasty decided to posthumously bestow the title “Thuong dang than” (God of the Supreme Rank) upon the captains of the Hoang Sa flotilla and the “Hung binh Hoang Sa” (Heroic Soldiers of Hoang Sa) title upon soldiers of the flotilla.

Diverse documents in different historical periods from Vietnam, the West, and China prove that since the 17th century, Vietnam has owned and practiced its sovereignty over the Hoang Sa and Truong Sa archipelagos in an actual, constant, and peaceful manner. Therefore, any country’s declaration of sovereignty or occupation of the islands of these two archipelagos are violations of Vietnam’s sovereignty and territory./.VNA

Loading

Views: 0

Căn cứ khoa học về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Thái Bình Dương là đại dương không hề yên bình như tên gọi của nó. Dưới đáy biển có rất nhiều miệng núi lửa bao quanh lòng chảo với tổng chiều dài lên tới trên 4 vạn km, tạo nên một vành đai địa chấn (hay còn gọi là vành đai lửa), là nguyên nhân thường xuyên gây ra những trận động đất, sóng thần khủng khiếp. Riêng trận động đất và sóng thần Tohoku năm 2011đã lấy đi mạng sống của gần 16 ngàn người, hơn 1 vạn người mất tích, hàng triệu gia đình mất nhà cửa và cùng với thiệt hại vật chất lên tới nhiều tỷ đô la cùng những hậu quả năng nề mà nhiều thập niên nữa chưa chắc đã khắc phục được. Đây cũng là vùng nhiều bão nhất thế giới, trong đó những cơn bão có cường độ mạnh chiếm tới trên 70%.
Cũng do đặc điểm này mà sự thành tạo các đảo ở Thái Bình Dương cũng khác các nơi khác. Với ước chừng khoảng 25.000 đảo lớn nhỏ, Thái Bình Dươngsố đảo nhiều hơn số đảo của tất cả các đại dương khác cộng lại.
Trong những thập niên gần đây, cùng với biến động của lòng đất và sóng biển, cuộc chạy đua tranh chấp chủ quyền biển đảo cũng đang làm cho biển Đông và cả Thái Bình Dương, vốn đã không bình lặng lại càng thêm sục sôi. Song song với việc tăng cường sức mạnh quân sự, các nước cũng đẩy mạnh việc nghiên cứu, xây dựng chứng cứ cho các lập luận về chủ quyền của mình. Trung Quốc là nước đi đầu và hết sức chú ý đầu tư cho việc làm này.
1. Những viện dẫn của học giả Trung Quốc
Ngay từ khi cho quân đội đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, Trung Quốc đã huy động một lực lượng đông đảo các học giả dưới sự lãnh đạo của Hàn Chấn Hoa tiến hành kê cứu và biên soạn một cuốn sách đồ sộ, ra sức chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền Trung Quốc. Năm năm 1985 bộ sách hoàn thành và được phát hành tại nhà xuất bản trường đại học Hạ Môn, dưới danh nghĩa Viện Nghiên cứu Nam dương. Và như một một sự phối hợp có chủ đích, cùng với hành động quân sự tấn công chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, năm 1988 bộ sách tư liệu nói trên dưới đầu đề Ngã quốc nam hải chư đảo sử liệu hối biên (Tập hợp các sử liệu về các đảo của nước ta ở vùng biển phía nam) được in lại và phát hành với số lượng lớn bởi nhà xuất bản Đông Phương [1]. Tập sách dày gần 1000 trang này đã nhanh chóng trở thành cơ sở lập luận chủ yếu cho các tuyên bố ngoại giao, những quyết định chính trị của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông nói chung.
Trước khi xem căn cứ khoa học khẳng định chủ quyền của Việt Nam cần hiểu những luận lý của các học giả Trung Quốc về vấn đề này. Vậy căn cứ và lập luận chủ yếu của các tác giả cuốn sách là gì ?
Không khó khăn lắm để thấy rằng tư tưởng xuyên suốt của cuốn sách là cố chứng minh người Trung Quốc đã phát hiện, đặt tên các đảo và chiếm hữu hai quần đảo này từ thời Đông Hán, cách ngày nay gần 2000 năm. Sau đó đến các thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, và nhất là từ triều Thanh đến nay, Trung Quốc liên tục thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này. Phương pháp nhất quán của các tác giả sách này là không nói rõ bối cảnh lịch sử, trích dẫn cắt xén tư liệu để người đọc khó hình dung được bối cảnh lịch sử, ngữ cảnh nguyên tác, rồi giải thích ý nghĩa những đoạn trích ấy theo ý mình.
Có thể dẫn ra đây một số thí dụ rất điển hình.
Cuốn sách sớm nhất nhất được các học giả Trung Quốc ra dẫn ra làm căn cứ về “chủ quyền” của Trung Quốc trên hai quần đảo là Dị vật chí (ghi chép về những vật lạ) của Dương Phùthời Đông Hán (23-220). Câu được chép ra là: “Trướng hải kỳ đầthủy thiển nhi đa từ thạch” (漲海崎頭水淺而多磁石, có nghĩa là Biển sóng triều dâng gập ghềnh đá ngầm, nước cạn mà nhiều đá nam châm). Các tác giả giải thích rằng Trướng hải là tên gọi biển Đông của người Trung Quốc thời đó và vùng đá ngầm dưới có từ tính nam châm là chỉ hai quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Tài liệu này được dẫn lại ở rất nhiều nơi, đăng trên cả trang thông tin của Bộ Ngoại giao Trung Quốc với lập luận hai quần đảo này do người dân Trung Quốc phát hiện và đặt tên sớm nhất (từ thời Đông Hán).
 Tương tự như vậy, để củng cố cho lý lẽ trên, Hàn Chấn Hoa và các tác giả sách Ngã quốc nam hải chư đảo sử liệu hối biên còn trích ra nhiều câu khác trong sách cổ thời Tam quốc, thời Tùy, thời Đường như Phù Nam truyện của Khang Thái, Ngô lục của Trương Bột, Nhĩ nhã của Quách Phác… nói việc người thời ấy đã viết trong Trướng hải (tên biển Đông theo cách gọi của người Trung Quốc) có san hô, có đồi mồi, có ốc lớn bằng cái đấu, vỏ có thể dùng để uống rượu… [2]  để suy diễn xa hơn rằng trong sách của mình, Quách Phác đã chú thích vùng biển nói tới ở đây là vùng biển thuộc quận Nhật Nam (vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi), rằng người Trung Quốc thời ấy đã biết đến hai quần đảo.
Những câu trích dẫn này thực ra chỉ là những ghi chép về các hiện tượng mà các tác giả đương thời cho là hay, là lạ (dị vật), chứ hoàn toàn không có ý nghĩa gì về việc phát hiện, đặt tên đảo nên không thể coi là chứng lý về chủ quyền và càng không phải là bằng chứng của việc chính quyền thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này.
Từ năm 960 triều Tống thiết lập quyền thống trị trên toàn cõi Trung Hoa. Những tư liệu lịch sử từ thời kỳ này về chủ quyền là rất đáng lưu ý. Tuy nhiên, các tư liệu được các học giả Trung Quốc đưa ra cũng thiếu tính thuyết phục. Đa số những câu trích có nhắc đến hai quần đảo Vạn Lý Trường Sa và Thiên Lý Thạch Ðường (mà Trung Quốc nói là tên khác của Tây Sa/Hoàng Sa và Nam Sa/Trường Sa) đều xuất hiện trong các hải trình, được mô tả trong các sách của tác giả Trung Quốc, nhưng nói về nước ngoài, hoặc liên quan đến nước ngoài (không phải Trung Quốc) như Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi, Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát. Đúng như tên gọi của những sách này, “Lĩnh ngoại” là ngoài biên giới Trung Quốc, nói về những chuyện bên ngoài. “Chư phiên” là các nước Trung Quốc cho là chư hầu của mình, chuyện chép về các nước xung quanh mình. Do vậy, những mô tả về biển đảo hoặc hải trình đi tới các nước các nước như Giao Chỉ, Chiêm Thành, Chân Lạp thì tên các quần đảo Thiên Lý Trường Sa Vạn Lý Thạch Ðường (mà Trung Quốc cho là Tây Sa và Nam Sa) được nhắc đến để chỉ vị trí hoàn toàn không có ý nghĩa nào trong việc xác định chủ quyền của Trung Quốc. Đấy là chưa kể từ ngữ dùng trong các sách này cho thấy tác giả cũng chỉ nghe truyền lại, chứ không biết đích xác ra sao. Có thể dẫn ra đây một vài đoạn trích mô tả vị thế xung quanh đảo Hải Nam mà Hàn Chấn Hoa sử dụng để khẳng định sách Chư phiên chí nói 2 quần đảo này là của Trung Quốc:
 “Nam đối diện với Chiêm Thành, phía tây nhìn sang Chân Lạp, đông thì Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Ðường, xa xôi không bờ, trời nước một màu.
Một đoạn trích khác: “Nghe truyền rằng[nguyên ngữ傳聞:truyền văn] biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Ðường rộng vạn dặmnước thủy triều thi triển đẩy vào chốn cửu u.” [3].
 Các sử liệu đời sau được biên soạn vào thời Nguyên, Minh được tập hợp trích dẫn, về cơ bản cũng theo cung cách như vậy. Tất cả các đoạn trích dẫn ra đều được giải thích theo cách hiểu//chủ ý của người dẫn. Người đọc khó có thể bị thuyết phục bởi cách giải thích ấy. Nhiều học giả trong và ngoài nước đã có những phân tích xác đáng và đều nhận định khá thống nhất rằng kiểu cách tập hợp, trích dẫn và giải thích sử liệu của nhóm Hàn Chấn Hoa không theo các nguyên tắc khoa học mà có dụng ý chủ quan, cắt xén, lắp ghép tùy tiện và giải thích gượng ép [4]. Có thể nói luận lý của các học giả Trung Quốc về chủ quyền của học đối với hai quần đảo đang nói ở đây có từ thời Đông Hán và được thực thi suốt từ đó đến nay ngày càng ít người quan tâm vì tính chất phi lý, phản khoa học của nó và vì vậy, phía Trung Quốc cũng không nói tới nó nhiều.
Trong thời gian gần đây, Trung Quốc ra sức đề cao sự kiện Đô đốc nhà Thanh là Lý Chuẩn đưa quân ra Tây Sa (Hoàng Sa) kéo cờ, bắn pháo vào năm 1909 và coi đó là mốc thời gian xác lập chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo này. Sự kiện này chẳng còn mấy ý nghĩa vì thời điểm diễn ra vào đầu thế kỷ XX, khi mà Việt Nam đã có rất nhiều tư liệu khẳng định chủ quyền và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ trước đó nhiều thế kỷ (sẽ trình bày ở phần dưới). Vả lại, chính việc đề cao này lại tự nó bác lại những lập luận mà các học giả Trung Quốc phải dày công xây dựng tư liệu để chứng minh Tây Sa và Nam Sa đã được người Trung Quốc phát hiện và sở hữu từ thời Hán, cách ngày nay tới vài ngàn năm.
 Tháng 2 năm 1948, Vụ Biên giới và Lãnh thổ, Bộ Nội vụ của Trung Hoa dân quốc cho xuất bản bản đồ có tên Bản đồ vị trí các đảo Nam hi (南海诸岛位置图) với 9 đường đứt khúc chiếm khoảng 75% mặt nước biển Đông, ôm trọn hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Bản đồ này được vẽ dựa trên cơ sở một bản đồ cá nhân vẽ trước đó vài chục năm với 11 đoạn đứt khúc đã bỏ đi 2 đoạn nằm trong vịnh Bắc Bộ. Mặc dù đường 9 đoạn đang được dùng như một “căn cứ không thể chối cãi” về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo, nhưng tính chất phi lý, phản khoa học của nó đang bị phê phán rất mạnh mẽ. Trong thời gian gần đây, lý lẽ khoa học của Trung Quốc không thấy có gì mới, chủ yếu chỉ là những tuyên bố theo kiểu “Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi” mà thôi.
2. Những tư liệu phương Tây về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa
Ngay từ thế kỷ XVI, Thái Bình Dương đã trở nên rất quen thuộc với người phương Tây, họ đã có thể vẽ khá chính xác bản đồ châu Á với những ghi chú thể hiện sự hiểu biết sâu sắc các tuyến đường tàu thuyền của họ thường xuyên qua lại. Vừa qua tại một số địa phương, 56 bản đồ cổ được các nhà hàng hải chấu Âu vẽ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX được trưng bày mới chỉ là một phần trong số đó. Tất cả những bản đồ này đều thể hiện hoặc chua chú đích xác hai quần đảo Pracel hay Paracels (Hoàng Sa) và Pratley (Trường Sa) là thuộc Ciampa (phiên âm tên Champa, một vương quốc cổ tương đương với miền Trung Việt Nam) hay Cochinchine (tương đương với vùng đất Nam Bộ, còn được dịch là vương quốc Đàng Trong).
Có rất nhiều tài liệu của các nước châu Âu phản ánh chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Xin đơn cử ra đây một số. Các tư liệu được dẫn theo trình tự thời gian.
Trước hết là sự kiện chiếc tầu Grootebroek của Hà Lan trên đường đi từ Battavia (Indonexia) tới Turon (Đà Nẵng) bị đắm ở khu vực Paracels (Hoàng Sa) vào năm 1634. Những thuỷ thủ sống sót đã đưa được 4 thùng bạc lên một đảo lớn ở Paracel, sau đó cử 1 nhóm 12 người đi thuyền nhỏ vào Phú Xuân gặp chúa Nguyễn Phúc Nguyên xin trợ giúp. Chúa đã cho phép họ thuê tầu trở lại đảo đón 50 thuỷ thủ và lấy 4 thùng bạc. Câu chuyện phản ánh rõ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa này được này J.M.Buchkhai thác trong các tài liệu công ty Đông Ấn Hà Lanvà công bố trên tạp chí của Trường Viễn Đông bác cổ của Pháp vào năm 1936 [5] .
Năm 1701 một người Pháp là Jean Yves Clayes trong nhật ký của mình đã mô tả rất cụ thể các bãi đá ngầm ghi rõ: “Paracel là một quần đảo thuộc Vương quốc An Nam” [6].
Vào giữ thế kỷ XVIII có một nhân vật rất nổi tiếng là giáo sĩ kiêm thương nhân Pierre Poivre. Nhờ những cuốn sách và bài viết của ông mà người Pháp đã có sự quan tâm đặc biệt đến Việt Nam. Ngay cả đến Thomas efferson, vị đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp, sau trở thành Tổng thống của Hợp chủng quốc, sau khi đọc P. Poivre cũng bị cuốn hút vào xứ sở này. Năm 1803, ngay sau khi đắc cử, vị tân Tổng thống đã cử một phái bộ đem theo dự thảo Hiệp định thương mại đến Việt Nam với hy vọng thiết lập quan hệ hợp tác, nhưng việc không thành.
P. Poivre có điều kiện thường xuyên qua lại Việt Nam và từng được chúa Nguyễn Phúc Khoát tiếp tại kinh thành Phú Xuân. Một trong những cuốn sách của ông là Mémoire sur La Cochinchine (Ký ức về Đàng Trong) xuất bản tại Paris năm 1744, đã nói đến việc nhiều khẩu thần công bố trí trên tường kinh thành mà ông tận mắt trông thấy, là của các con tầu phương Tây bị đắm được lấy về từ Paracel. Trong một tập tài liệu được viết ra sau đó, Đô đốc M.d’Estaing cũng có nhận xét tương tự: “Xung quanh thành [Phú Xuân – VMG]có một nơi để rất nhiều đại bác, nhiều khẩu là được để trang trí hơn là để sử dụng. Ngưi ta cho rằng số súng đó có thể tới 400 khẩu, một phần được đúc bằng gang, một số lớn là của Bồ Đào Nha được lấy về từ các vụ đắm tàu trước kia ở quần đảo Paracels” [7].
Đây là những nhận xét khách quan nhưng lại là nhưng chứng cớ hết sức thuyết phục về thành quả những chuyến công tác của Đội Hoàng Sa mà các chúa Nguyễn đã tổ chức ra để thực thi chủ quyền trên hai quần đảo.
Jean Baptiste Chaigneau một người rất am hiểu tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XVII – đầu XIX đã có một bản tường trình cho Bộ Ngoại giao Pháp về triều Nguyễn vào tháng 5 năm 1820, trong đó có đoạn viết: “Vua ngày nay[tức vua Gia Long-VMG] đã lên ngôi hoàng đế [của một nước-VMG] gồmĐàng Trong cũ(Cochinchina ),xứ Đàng Ngoài cũ (Tonkin), một phần vương quốc Campuchia, một số hòn đảo có người ở không xa bờ và quần đảo Paracels hợp thành bởi những đảo nhỏ, ghềnh và đá hoang vắng” [8].
Năm 1837 Giám mục Jean Louis Taberd có một bài viết về Việt Nam, trong đó có đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa như sau:“Paracel hay Paracels là một mê cung đầy những đảo nhỏ, đá và bãi cát trải trên một khu vực đến 11 độ vĩ Bắc, 107 độ kinh Đông ... Người Cochinchina gọi quần đảo này là Cồn Vàng. Tuy quần đảo này không có gì ngoài tảng đá và những cồn lớn, nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn thuận lợi, Vua Gia Long vẫn nghĩ rằng ông sẽ tăng thêm lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm 1816, ông đã tới long trọng cắm cờ và chính thức chiếm hữu mà hình như không một ai tranh giành với ông” [9]. Ở đây J. L. Taberd nói tới sự kiện vua Gia Long giao cho quân đội ra làm cột mốc, cắm cờ chứ ngay từ khi mới lên ngôi (1802), ông đã liên có chỉ dụ củng cố hoạt động của đội Hoàng Sa được thành lập bởi các chúa Nguyễn từ thế kỷ XVII.
Vào năm sau (1838) chính vị giám mục này cho công bố tấm bản đồ, trên đó chú thích rõ quần đảo ở vị trí Hoàng Sa là “Paracel seu Cát Vàng ” (Paracel hay Cát Vàng). Cát Vànglà tên thuần Việt mà trên các văn bản chính thức gọi là Hoàng Sa. Đây là chứng lý xác đáng cho việc người Việt đã đặt tên cho quần đảo mà người phương Tây gọi là Paracel.
Đảo Trường Sa nhìn từ máy bay trực thăng 
Vào năm 1849TS. Gutzlaff, hội viên của Hội địa lý Hoàng gia Luân Đôn, biên soạn một cuốn sách về Địa lý vùng đất phía nam của Việt Nam, có đoạn nói về Hoàng Sa như sau:“…Quần đảo Paracel (Kat Vang), ở ngoài khơi bờ bể An Namlan giữa 15 đến 17 độ vĩ Bắc và 111 đến 113 độ kinh Đông… Không biết vì san hô hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần, nhưng rõ ràng nhận thấy rằng các đảo nhỏ ấy càng năm càng cao, và một vài đảo bây giờ đã có người ở thường xuyên, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đã vỗ mạnh trào qua…Chính phủ An Nam thấy những mối lợi có thể mang lại nếu đặt ra một ngạch thuế bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải nộp, và để bảo trợ người đánh cá bản quốc…” [10].
Giữa thế kỷ XIX, cuốn Địa lý đại cương, một bộ sách đồ sộ của nhà địa lý học Italia nổi tiếng Adriano Balbi đã được xuất bản ở Livorno.Trong phần mô tả về địa lý Vương quốc An Nam có ghi: “Thuộc Vương quốc này có quần đảo Paracels[Hoàng Sa –VMG], nhóm đảo Pirati [đảo Hải tặc–VMG] và nhóm đảo Poulo Condor [Côn Đảo-VMG]” . Trong khi đó, đoạn mô tả về địa lý Trung Hoa, mặc dù rất dài, tác giả không đề cập gì đến Hoàng Sa và Trường Sa[11].
3. Tư liệu lịch sử về việc Trung Quốc tự phủ nhận chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trong khi các tư liệu của Việt Nam luôn nhất quán với tên gọi của hai quần đảo là Hoàng Sa (hay tên Nôm là Cát Vàng hay Cồn Vàng) và Trường Sa hay Vạn lý Trường Sa, được đồng nhất với các tên gọi của phương Tây là Paracels và Pratley thì tên gọi do Trung Quốc đặt lại rất hỗn loạn. Tên Tây Sa và Nam Sa mới chỉ xuất hiện rất muộn. Đã vậy, trong nhiều tài liệu của mình Trung Quốc tự phủ nhận chủ quyền trên hai quần đảo này (thực ra là không từng có trong lịch sử).
Chứng cớ rõ nhất là trên các bản đồ của Trung Quốc. Không kể những tập bản đồ được vẽ sớm, đến tận thời kỳ triều Thanh trị vì vào những năm 1894,1904, 1908 và dưới thời Trung Hoa dân quốc vào năm 1919 có hàng loạt bản đồ do Trung Quốc vẽ vừa được triển lãm rộng rãi, không hề có hai quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) đã gây ấn tượng mạnh cho người xem cả trong và ngoài nước. Càng bất ngờ hơn khi trênn bộ Atlas được in trong trong sách Trung hoa Dân quốc Bưu chính dư đồ, xuất bản năm 1933 cũng hoàn toàn thiếu vắng hai quần đảo này. Như vậy là căn cứ trên những bản đồ chính thức này thì chí ít đến tận những năm 30 của thế kỷ XX, địa giới cực nam của Trung Quốc khi ấy chỉ là đảo Hải Nam. Điều này hoàn toàn phù hợp với tư liệu lịch sử do chính người Trung Quốc biên soạn, hoặc người phương Tây thuật lại đều thể hiện sự “vô cảm” của họ về chủ quyền trên hai quần đảo.
Theo ngược dòng lịch sử, điều này càng thấy rõ. Vào cuối thế kỷ XVII, một nhà sư Trung Quốc là Thích Đại Sán được chúa Nguyễn Phúc Chu mời đến Đàng Trong. oar a về nước ông đã cho xuất bản cuốn sách Hải ngoại ký sự vào năm 1695 kể về chuyến đi này. Trong tác phẩm của mình, nhà sư Trung Quốc đã thản nhiên thuật lại rằng các chúa Nguyễn đã tổ chức các đội binh thuyền ra Hoàng Sa và Trường Sa (mà ông gọi chung là Vạn lý Trường Sa) để “thu lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào” [12]. Điều này hoàn toàn trùng hợp với sử sách Việt Nam.
Trong tác phẩm Phủ Biên tạp lục, ngoài những căn cứ khẳng định chủ quyền của chính quyền chúa Nguyễn trên hai quần đảo (sẽ trình bày sau), Lê Quý Đôn còn cho biết một chi tiết nói quan chức nhà Thanh thừa nhận chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Ông viết: “Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu [Hải Nam, Trung Quốc-VMG]gửi cho Thuận Hóa nói rằng: năm Kiền Long thứ 18 (1753) có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh đội Cát Liềm (có thể là Cát Vàng, tức đội Hoàng Sa– VMG) huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Ngãi, nước An Nam, ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, dạt vào cảng Thanh Lan, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai cai bạ Thuận Hóa là Thức Lượng Hầu làm thư trả lời”[13].Như vậy là chính quyền Quỳnh Châu sau khi biết rõ 2 người Việt là lính đang thực thi nhiệm vụ ở Hoàng Sa, chẳng những đã không gây khó dễ hoặc trừng trị như đối với những kẻ “xâm phạm chủ quyền quốc gia”, mà còn tạo điều kiện để trở về nước. Thời điểm đó là vào giữa thế kỷ XVIII.
Trong khoảng thời gian hai năm 1895 – 1896 tại khu vực quần đảo Hoàng Sa liên tục xảy ra hai vụ đắm tàu. Một của Đức, con tàu mang tên Bellona và một của Nhật, tàu Imegi Maru. Cả hai tàu này đều mua bảo hiểm của Anh nên khi nghe tin dân Trung Quốc thừa cơ tàu bị nạn đã ra cướp bóc, công ty bảo hiểm và đại diện chính phủ Anh ở Trung Quốc đã yêu cầu phía Trung Quốc phải có trách nhiệm, nhưng họ đã từ chối với lý do: “…các đảo Paracels … không thuộc Trung Quốc… chúng không được sáp nhập về hành chính vào bất kỳ quận nào của Hải Nam …” [14]. Như vậy là nhà đương cục Hải Nam vô can với hậu quả của vụ cướp bóc, nhưng đồng thời sự kiện này cũng cho thấy, cho đến tận cuối thế kỷ XIX, nhà chức trách ở vùng đất cực nam của Trung Quốc hoàn toàn chưa có ý tưởng gì về chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa (gần Trung Quốc hơn) chứ chưa nói đến Trường Sa (ở rất xa Trung Quốc).
Bản đồ do J. L. Taberd vẽ năm 1838,
trên đó chú thích rõ quần đảo ở vị trí Hoàng Sa
là “Paracel seu Cát Vàng ” (Paracel  hay Cát Vàng).
Chú thích trong vòng tròn đỏ
Liên quan đến sự kiện này, một học giả Trung Quốc, ông Lý Lệnh Hoa thuộc Trung tâm Thông tin Hải dương Trung Quốc, có một nhận xét rất xác đáng trong tham luận đọc tại một hội thảo khoa học, xin được lược trích ra đây:
Nói đến quyền lợi ở Nam Hải, chúng ta [Trung Quốc – VMG] thường thích nói một câu là: từ xưa đến nay thế này thế nọ, có lúc hứng lên còn oar vào hai chữ “thiêng liêng”…nhưng chứng cứ thật sự có sức thuyết phục chính là sự kiểm soát thực tế. Anh nói chỗ đó là của anh, vậy anh đã từng quản lý nó chưa? Người ở đó có phục tùng sự quản lý của anh không? Có phải người khác không có ý kiến gì không? Nếu đáp án của những câu hỏi này đều là “có” thì anh thắng là điều chắc. Ở Nam Sa [tức Trường Sa – VMG], chúng ta đã không có được điều đó…
Vào thời nhà Thanh (đời Hàm Phong hoặc Đồng Trị), có một chiếc tàu oar Pháp chở đồng đi qua vùng biển Tây Sa (tức Hoàng Sa – VMG) thì gặp cướp biển, bị cướp sạch. Theo quy tắc vận tải oar hóa trên biển, họ phải đến gặp chính quyền sở tại để trình báo, đề nghị giúp bắt bọn cướp, đồng thời xin chính quyền nơi đó xác nhận làm bằng cứ để khi về báo cáo với chủ oar và đòi oar bảo hiểm bồi thường. Viên thuyền trưởng đưa tàu chạy đến cảng gần nhất là Du Lâm ở đảo Hải Nam, trình báo với tri phủ (có lẽ là tri huyện) địa phương.
Viên quan địa phương đó nói với thuyền trưởng rằng: “Nơi chúng ta đứng đây có tên là Thiên Nhai Hải Giác (chân trời góc biển). Đất của Thiên triều đến đây là hết rồi. Chuyện ông bị cướp ngoài biển biết là ở chỗ nào? Ông bị cướp, chúng tôi không chịu trách nhiệm, không quản được và cũng không muốn quản”.
Thế rồi tống cổ vị thuyền trưởng bị cướp ra khỏi nha môn. Nhưng sự kiện đó cần phải có cái kết, nếu không về nước biết ăn nói ra sao? Viên thuyền trưởng đành phải cho tàu chạy vào cảng Hải Phòng. Quan chức địa phương ở đó rất tốt, xác nhận cho ông ta, lại còn cho tàu ra chạy oar vòng, coi như đã truy bắt cướp.
Đó là chứng cứ gì? Đó chính là chứng cứ về kiểm soát và quản lý thực tế. Chứng cứ này nói lên: chính phủ Trung Quốc ngay từ thời triều Thanh đã không thừa nhận “Tây Sa” là lãnh thổ của mình, cũng không đảm trách công tác trị an ở đó.Còn chính quyền Việt Nam khi đó không những đã cho rằng “Tây Sa” là lãnh thổ của họ, mà còn thực thi công tác giữ gìn trật tự ở đó.
Điều đó chẳng phải đã chứng minh “Tây Sa” từ xưa đến nay đều thuộc về Việt Nam hay sao? Nếu bạn là đại biểu đàm phán của Trung Quốc, được huấn luyện đầy đủ về luật biển và luật quốc tế, trước những chứng cứ như thế thì phải làm thế nào? Chắc chắn sẽ muốn có cỗ máy thời gian để quay trở lại thời đó bóp chết viên tri phủ kia !…”[15].
Năm 1974 Trung Quốc dùng vũ lực tấn công đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. Ngay sau đó, chính quyền Trung Quốc đã cử một đoàn nghiên cứu lịch sử, khảo cổ trong đó có GS. Hàn Chấn oar a khảo sát một số đảo. Trong công trình do mình chủ biên, ông đã đề cập tới ngôi chùa có tên Hoàng Sa tự trên đảo Vĩnh Hưng (tức đảo Phú Lâm theo tên của Việt Nam)[16]. Mặc dù tên chùa và các câu đối viết bằng chữ Hán (黄砂寺), nhưng đây lại là một trong những chứng cớ hết sức thuyết phục về chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Ngôi chùa này đã được báo chí Trung Quốc nói tới từ năm 1957, sau lần quân Trung Quốc đổ bộ lên Phú Lâm năm 1956, khi quân Pháp vừa thất bại trên chiến trường Việt Nam. Theo mô tả trong tạp chí “Lữ hành gia” quyển 6, xuất bản năm 1957 tại Bắc Kinh thì vào thời điểm ấy trong chùa còn ghi niên đại trùng tu vào năm Bảo Đại 14 (1939). Dựa vào những ghi chép trong bộ Đại Nam thực lục chính biên, có thể biết ngôi chùa này đã được vua Minh Mệnh ra lệnh xây theo đề nghị của Bộ Công và tỉnh Quảng Ngãi. Người được giao phụ trách công việc này là cai đội Phạm Văn Nguyên. Lính và dân phu hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi đã chuyên chở vật liệu từ đất liền ra xây [17] .
4. Tư liệu Việt Nam có cơ sở vững chắc và ngày càng thêm phong phú
Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo xuất hiện trên các bản đồ hàng hải phương Tây trước thế kỷ XVII hầu hết đều đi liền với tên gọi Ciampa hay Campa. Điều có nghĩa những đảo này từng gắn rất chặt với vương quốc Champa, sau này trở thành một bộ phận của nước Việt Nam.
“Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh(2). Mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; có gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hang hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”.

Chỉ một tư liệu này thôi đã nói được nhiều điều. Từ thế kỷ XVII người Việt đã lui tới, vẽ bản đồ, đặt tên (rất Việt), khai thác và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo. Loại tư liệu có căn cứ xác đáng như vậy Trung Quốc không hề có.Sang thế kỷ XVIII, ghi chép của nhà bác học Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục còn cho biết chính quyền chúa Nguyễn đã khẳng định chủ quyền thông qua việc tổ chức quy củ các đơn vị chuyên trách thực thi công vụ trên hai quần đảo (Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải), quy định rõ ràng về phiên chế, phân rõ địa phương thực hiện, quy trình, thủ tục và nhiệm vụ cụ thể: “Trước đây họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, luân phiên nhau hàng năm cứ vào tháng ba nhận mệnh đi làm sai dịch, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ ra biển, ba ngày ba đêm mới đến đảo này… Lấy được được hóa vật của tàu như gươm, tiền bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, đồ sứ, ngà voi, sáp ong, đồi mồi, hải sâm, vỏ ốc…rất nhiều. Đến tháng Tám thì về , vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp. Cân định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh trở về ”.

Những công việc của các đội đặc nhiệm này được quản lý rất chặt chẽ. Lê Quý Đôn đã tận mắt xem sổ ghi chép của một viên Cai đội tên là Thuyên và cho biết: “Năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc… ”[19].
Năm 1802 triều Nguyễn thành lập, xây dựng một chính quyền cai trị thống nhất từ Bắc chí Nam. Tiếp tục duy trì sự hiện diện và khai thác các nguồn lợi như các chúa Nguyễn, các hoàng đế đặc biệt quan tâm đến việc củng cố chủ quyền lãnh hải và trên các đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Các nhà nghiên cứu đã trưng ra được rất nhiều đoạn chính sử, các văn kiện chính thức (châu bản) và những chỉ dụ, sắc lệnh do hoàng đế trực tiếp ban ra về các công việc liên quan đến hai quần đảo, như việc vua Gia Long ra lệnh cho quân đội ra dựng mốc căm cờ vào năm 1816, vua Minh Mệnh trực tiếp xử lý việc thưởng phạt đối với các sĩ quan và bình lính thực thi công vụ; trực tiếp phê duyệt kế hoạch xây chùa cùng việc phân bổ ngân sách và nhân lực thực hiện các công việc đó…
Những căn cứ không thể xác đáng hơn là cùng với những tư liệu được ghi chép trong các bộ chính sử, các tư liệu trong kho lưu trữ, chủ quyền Việt Nam còn hiển hiện trong các các tài liệu được lưu giữ trong dân như những di vật của tiền nhân là những người tham gia Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải. Đó còn là những di tích như miếu thờ, nghi lễ tế sống các binh lính Hoàng Sa trước khi đi làm nhiệm vụ…
Có thể nói đến thời Nguyễn, chủ quyền của Việt nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trương Sa đã được thiết lập và thực thi một cách đầy đủ và toàn vẹn, không có sự tranh chấp nào. Chính vì vậy, khi đánh chiếm được Việt Nam, Pháp đã mặc nhiên đặt quyền quản lý của chính quyền đô hộ lên hai quần đảo. Người Pháp đã cho xây dựng các đài khí tượng, trạm quan trắc và cắt đặt lính đồn trú trên các đảo.
Năm 1950 chính phủ Pháp chuyển giao quyền quả lý hai quần đảo cho chính phủ Quốc gia Việt Nam. Thủ hiến Trung phần Phan Văn Giao là người đứng ra tiếp nhận. Chỉ hơn một năm sau, vào tháng 8 năm 1951 Tân Hoa xã Trung Quốc lên tiếng “khẳng định quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa”. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố công khai về vấn đề này. Trước tình hình đó, ngày 7 tháng 9 năm 1951 tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu long trọng tuyên bố về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không có bất cứ sự phản đối nào trước lời tuyên bố đó. Trong khí đó có ý kiến giao hai quần đảo này cho CHND Trung Hoa đã bị 48/51 phiếu chống.
Trong thời gian Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền, hai quần đảo nằm phía nam vĩ tuyến 17 nên thuộc quyền quản lý của Chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã tiếp nhận quản lý, sắp đặt lại đơn vị hành chính và liên tục có những tuyên bố và hành động chống lại các hành vi khiêu khích hoặc những yêu sách đòi chủ quyền của Trung Quốc.
Năm 1974, sau nhiều lần đột kích, Trung Quốc đã công khai dùng vũ lực chiếm các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đây là hành vi trái với tất cả mọi luật pháp và công ước quốc tế về thụ đắc lãnh thổ. Nhưng cũng từ đây Trung Quốc ngày càng đẩy mạnh việc tuyên truyền, các biện pháp ngoại giao và gia tăng sức ép quân sự để đơn phương khẳng định chủ quyền của mình không chỉ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà còn với cả phần lớn biển Đông thông qua yêu sách đường 9 đoạn. Năm 1988 Trung Quốc lại một lần nữa dùng vũ lực để chiếm các đảo Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa, Gạc Ma và Xu Bi thuộc quần đảo Trường Sa[20].
Chính phủ Việt Nam luôn kiên trì với đường lối sử dụng các biện pháp hòa bình và tôn trọng các điều ước quốc tế để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, thông qua các tuyên bố của những người đứng đầu đất nước, và thái độ của nhân dân, Việt Nam luôn tỏ rõ thái độ cương quyết bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của mình, không phải chỉ bằng lời nói mà bằng cả hành động khi cần thiết.
Kết luận
Biển Đông đang nóng lên. Cùng với những biện pháp quân sự, ngoại giao, truyền thông mà các bên có liên quan đều đang cố gắng đẩy mạnh, việc nghiên cứu để hiểu sâu sắc và xây dựng những luận cứ khoa học học cho việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vô cùng cấp thiết.
Có thể nói Trung Quốc đã đi trước Việt Nam khá lâu trong việc tập hợp lực lượng và tổ chức nghiên cứu để xây dựng luận chứng khoa học và cơ sở pháp lý về chủ chủ quyền trung Quốc trên hai quần đảo mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa. Sự cố gắng đó đã được thể hiện trong một bộ sách dày dặn với sự tham gia của đông đảo giới hoạc giả Trung Quốc. Tuy nhiên, cho đến nay những luận lý đưa ra ngày càng bộc lộ những nhược điểm và hạn chế. Tư liệu được tập hợp và trích dẫn phần nhiều bị cắt xén, gán ghép và giải thích tư biện và khiên cưỡng. Đó là chưa kể đến những mâu thuẫn giữa tư liệu này và tư liệu khác. Không phải ngẫu nhiên mà trong giới học gải quốc tế ngày càng có nhiều người phản bác luận lý của Trung Quốc. Thậm chí ngay cả học giả Trung Quốc cũng đã có người lên tiếng phê phán.
Trong khi đó rất đáng ghi nhận những cố gắng hết sức lớn lao của các cơ quan có trách nhiệm, giới nghiên cứu và của toàn thể nhân dân cả trong và ngoài nước trong việc sưu tầm, hiến tặng tài liệu và công bố những kết quả nghiên cứu, khiến cho luận cứ khoa học và căn cứ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam ngày càng dày dặn thêm.
Như một chân lý khách quan, Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo của Việt Nam nên những tư liệu và chứng cớ khẳng định chủ quyền của Việt Nam cũng với thời gian ngày càng trở nên rõ ràng và phong phú thêm. Trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh hải và trên hai quần đảo này, giới khoa học giữ một vai trò vô cùng quan trọng./.

[1] 韩振华(主编): 我國南海諸島史料滙编 . 厦门大学南洋研究院出版1985 年. 东方出版社1988 年7月第1版
[2] Phần lớn các tài liệu này đều được dẫn lại trong sách Thái Bình ngự lãm (太平御覧,) của Lý Phượng ,được biên soạn vào thời Tống, muộn hơn thời của các nguyên tác.
[3] 韩振华 (主编), Sách đã dẫn tr. 33-37

[4] Có thể xem thêm Lưu Văn Lợi : Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Công an Nhân dân, 1995; Roderik Ptak: Các đảo ở biển đông theo các tài liệu của Trung Quốc; Hồ Bạch Thảo: Phản biện lập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Ðông được đề cập trong tác phẩm Ngã quốc Nam hải chư sảo Sử liệu hối biên…

[5]  J.M.Buch : La Compagnie des Indes Neerlandaises et l’Indochine. Bulletin de l’ Ecole Francaise d’ Extrême Orient, tome XXXVI, 1936, p.134
[6] Jean Yves Clayes: Mystère des atolls – Journal de voyage aux Paracels. Indochine No 46-1941.
[7]   Dẫn lại theo G.Taboulet: La geste Francaise en Indochine, tome I, Paris 1955, p.145 -151
[8]   Bulletin des Amis du vieux Huế, 1923, p.275
[9]  Jean Louis Taberd: Note on the Geography of Cohinchina. Journal of the Asiatic Society of Bengal, tome VI, 1837, p.745 
[10] K.Gutzlaff: Geopraphy of the Cochinchinese Empire. The Journal of the Royal Geographical Society of London, tome 19,1849, p. 93.
[11]   Adriano Balbi: Compendio di Geografia, Livorno 1854, p.641
[12] 釋大汕 : 海外記事 .中华书局,1987 , 上冊,卷三
[13]  Lê Quý Đôn: Toàn tập tập I (Phủ Biên tạp lục), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 116.
[14]   Báo cáo của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địadẫn theo Monique Chemillier – Gendreau: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phụ lục số 5 (La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys. L’Harmattan Paris, 3/1996). NXB Chính trị quốc gia (Sự thật), 2011.
 [15]  Dẫn theo Trung Quốc từng luôn thừa nhận “Hoàng Sa là của Việt Namđăng trên Infonet (Bộ Thông tin & Truyền thông,ngày 04/05/2013
[16]   韩振华(主编): 我國南海諸島史料滙 . 厦门大学南洋研究院出版1985 年. 东方出版社1988 年7月第1版,tr.115
[17] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên. NXB Giáo dục, T.4, tr.673
[18] Dẫn theo Nguyễn Nhã: Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. NXB Giáo dục, 2013, tr. 40.
[19]  Lê Quý Đôn: SĐD, tr. 115-116.
[20] Những chi tiết cụ thể về các nguồn tài liệu rất phong phú về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoiafng Sa và Trường Sa có thể tham khảo thêm công trình của các tác giả Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Nhã, Nguyễn Hồng Thao, Trần Công Trục…
 GS.TSKH Vũ Minh Giang – Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐHQGHN – VNU media

Loading

Views: 0

History records prove Vietnam’s sovereignty over Hoang Sa, Truong Sa

Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) are two big archipelagos with key strategic locations among Vietnam’s islands, and the country’s sovereignty over them is clearly reflected through historical documents.
Fishing boats on the waters off the coast of Cat Ba township of Hai Phong city (Photo: VNA)
Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) are two big archipelagos with key strategic locations among Vietnam’s islands, and the country’s sovereignty over them is clearly reflected through historical documents.

The East Sea borders Vietnam in the east and the south. Vietnamese people have long called this body of water the “East Sea” because it is east of the country. Hoang Sa and Truong Sa archipelagos are at the centre of this sea, one of the busiest shipping lanes in the world.

Vietnamese history records repeatedly mentioned these chains of islands as indispensable parts of the country’s territory and territorial sea such as “Phu bien tap luc” (Miscellaneous chronicles of the pacified frontier) by Le Quy Don in 1776, “Thien Nam tu chi lo do thu” (Collection of the South’s Road Map) by Do Ba in the mid-17th century, and “Lich trieu hien chuong loai chi” (A classified treatise of the institutions of successive dynasties) by Phan Huy Chu in the early 19th century.

This fact can also been seen in official history and geography records of the Nguyen Dynasty (1802 – 1945), including “Dai Nam thuc luc” (Chronicle of Dai Nam – an old name of Vietnam), “Dai Nam nhat thong chi” (Unification records of Dai Nam), and “Dai Nam dia du chi” (Geographical record of Dai Nam).

Notably, there are many documents recording the Nguyen Dynasty’s territorial expansion and establishment and exercising of sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa. They include the dynasty’s woodblocks and imperial archives which have been recognised as world documentary heritage by UNESCO.

A plate of the Nguyen Dynasty’s woodblocks affirming Vietnam’s sovereignty over Hoang Sa archipelago (Photo: VNA)
Of the woodblocks, there are plates recording historical events of the Nguyen Lords from 1558 to 1777.

Plate No. 24 inscribed with part of the 10th volume of “Dai Nam thuc luc tien bien” (Early Chronicle of Dai Nam) says: “In the sea off the coast of Vinh An commune of Binh Son district, Quang Ngai province, there are more than 130 sand banks … stretching for several thousands of miles called Van ly Hoang Sa – the eternal yellow sand bank. On these sand banks, there are fresh water and seafood like sea cucumber and hawksbill turtle… In the early period of the dynasty, a Hoang Sa flotilla was set up with 70 members from An Vinh commune. Every year, they begin sailing in March and reach the bank in about three days to seek natural produce and then return to hand over the produce in August.”

Director of the National Archives of Vietnam Dang Thanh Tung said the Hoang Sa flotilla, formed in the era of the Nguyen Lords, is a unique way to establish and exercise the country’s sovereignty over Hoang Sa archipelago. This flotilla’s trips to Van ly Hoang Sa were annual activities.

Notably, in 1816, King Gia Long ordered the erection of markers and flags affirming sovereignty in Hoang Sa.

The dynasty’s imperial archives also show the Nguyen kings always paid attention to the establishment and exercising of sovereignty in the East Sea, especially Hoang Saand Truong Sa archipelagos and onshore islands like Con Dao and Phu Quoc.

According to these archives, the kings sent people to make surveys, plant markers and draw maps, and save Vietnamese and foreign boats in distress in waters surrounding Hoang Sa and Truong Sa.

Apart from domestic historical records, many maps published by other countries also prove Vietnam’s sovereignty over these two archipelagos. They include “An Nam dai quoc hoa do” (Map of the Great An Nam – another old name of Vietnam), an appendix of Dictionariumlatino-anamiticum (Latin-An Nam dictionary) published by Oriental Lith. Press in Calcutta, India, in 1838. This map features a group of islands at the centre of the East Sea with the Latin note “Paracel seu Cat Vang”, which means “Paracel or Cat Vang”.

According to the article “Note on the Geography of Cochinchina” on The Journal of the Asiatic Society of Bengal, published in Calcutta in 1837, Bishop Jean Louis Taberd, also the author of Dictionariumlatino-anamiticum, wrote that for the last 34 years, Paracel, called Cat Vang – Hoang Sa by Vietnamese people, had been occupied by Vietnamese people in Dang Trong (the region that comprised the central and southern regions of Vietnam nowadays). He added that in 1816, King Gia Long sent people to plant a flag and declare the sovereignty over these banks.

A map drawn by Jodocus Hondius in 1613 also shows Hoang Sa archipelago and all islands of Vietnam from the south of the Gulf of Tonkin to the end of the country’s southern waters, except for Pulo Condor (Con Dao) and Pulo Cici (Phu Quoc) drawn separately.

The Journal of an Embassy from the Governor-General of India to the Courts of Siam and Cochin China, compiled by John Crawfurd and published in London (the UK) in 1830, also wrote: “The King of Cochin China, in 1816, took possession of the uninhabited and dangerous archipelago of rocks, islets, and sand banks, called the Paracels, which he claims as part of his dominions, and over which his authority is not likely to be disputed.”

From September 4 to 8, 1951, a conference was held in San Francisco, the US, to discuss the signing of a peace treaty with Japan, gathering representatives of 51 countries. A delegation of the State of Vietnam (1949 – 1955), a member of the French Union at that time, led by Prime Minister and Foreign Minister Tran Van Huu of former King Bao Dai’s government attended the event.

At that conference, Huu reaffirmed the country’s long-standing sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagos in front of 51 diplomatic delegations. This declaration did not meet any protests from participating countries. -VNA

Loading

Views: 0

Viet Nam’s Sovereignty Over Hoang Sa And Truong Sa Archipelagoes (Part 3)

Protection and exercise of Viet Nam’s sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes since the end of World War II

After returning to Indochina after World War II, in early 1947, France requested the Republic of China to withdraw their troops from some islands of Viet Nam they illegaly occupied in late 1946. the French armed forces resumed the control of Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes and rebuilt their meteorological and radio stations.

On September 7th, 1951, Tran Van Huu, the head of the State of Viet Nam’s delegation at the San Francisco Conference on the Treaty of Peace with Japan, declared that Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes have long been the territories of Viet Nam, and that “to stifle the germs of discord, we affirm our right to the Spratly and Paracel Islands, which have always belonged to Viet Nam”. This statement did not meet any objections and/or reserves of opinion.

In 1953, the French ship Ingénieur en chef Girod went on its survey trip on oceanography, geology, geography, and ecology in Hoang Sa archipelago.

Later government in South Viet Nam, including both the Sai Gon Administration (the Republic of Viet Nam) and the Provisional Revolutionary Government of the Republic of South Viet Nam, exercised Viet Nam’s sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes as clearly showed by the following examples.

On June 16th, 1956, the Sai Gon Administration’ Ministry of Foreign Affairs issued a statement to re-affirm Viet Nam’s sovereignty over Truong Sa archipelago. In the same year, the Sai Gon Administration strongly objected to the occupation of the eastern islands within Hoang Sa archipelago by the People’s Republic of China.

In 1956, the naval forces of the Sai Gon Administration took over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes when France withdrew its troops. In the same year, with the assistance of the Sai Gon Administration’s naval forces, the Department of Mining, Technology & Small Industries organized a survey on four islands within Hoang Sa archipelago, namely Hoang Sa, Quang Anh, Huu Nhat, and Duy Mong.

On October 22nd, 1956, the Sai Gon Administration placed Hoang Sa archipelago under the province of Phuoc Tuy.

On July 13th, 1961, the Sai Gon Administration transferred the jurisdiction of Hoang Sa archipelago from Thua Thien province to Quang Nam province. The administrative commune of Dinh Hai, headed by an administrative envoy directly under the district of Hoa Vang, was established in the archipelago.

From 1961 to 1963, the Sai Gon Administration built sovereignty steles on major islands within Truong Sa archipelago such as Truong Sa, An Bang, and Song Tu Tay (Southwest Cay).

On October 21st, 1969, the Sai Gon Administration annexed Dinh Hai commune into Hoa Long commune, also under Hoa Vang district of Quang Nam province.

On February 22nd, 1959, the Sai Gon Administration detained 82 people who claimed to be “fishermen” from the People’ Republic of China and had landed on the islands of Huu Nhat, Duy Mong, and Quang Hoa within Hoang Sa archipelago.

On April 20th, 1971, the Sai Gon Administration once again re-affirmed that Truong Sa archipelago is a part of Viet Nam’s territory. This affirmation of Viet Nam’s sovereignty over the archipelago was repeated by the Sai Gon Administration’s Foreign Minister at the July 13th, 1971 Press Conference.

In July 1973, the Institute of Agricultural Research under the Ministry of Agricultural Development & Land conducted its investigation on Nam Yet island within Truong Sa archipelago.

In August 1973, the Sai Gon Administration’s Ministry of National Planning & Development, in collaboration with Marubeni Corporation of Japan, conducted an investigation on phosphates in Hoang Sa archipelago.

On September 6th, 1973, the Sai Gon Administration annexed Truong Sa archipelago into Phuoc commune, Dat Do distrtict, Phuoc Tuy province.

Decree No.420-BNV/HCDP/26 of the Ministry of the Interior of the Republic of Viet Nam on annexing Truong Sa archipelago into Phuoc Tuy province
On January 19th, 1974, the military forces of the People’s Republic of China occupied the southwestern islands of Hoang Sa archipelago. It should be noted that this part of Hoang Sa archipelago was under Sai Gon Administration control until 1974. This violation of Viet Nam’s territorial integrity was condemned in the same day by the Sai Gon Administration. On February 14th, 1974, the Republic of South Viet Nam Government declared its three – point position on the solution for territorial disputes on January 26th, 1974, and re-affirmed Viet Nam’s sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes.

On June 28th, 1974, the Republic of South Viet Nam Government affirmed its sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes at the Third United Nations Conference on the Law of the Sea in Caracas, Venezuela.

On May 5th and 6th, 1975, the Republic of South Viet Nam Government announced its liberation of Trường Sa archipelago, which had been under the control of the Sai Gon Administration.

In September 1975, the delegation of the Republic of South Viet Nam Government at the Colombo Meteorological Conference stated that Hoang Sa archipelago is Viet Nam’s territories, and requested that the Viet Nam’s meteorological station in the archipelago to be registered in the WMO’s list of meteorological stations (this station had previously been entered in the WMO’s list under the registration number 48.860).

After the country’s re-unification, the Socialist Republic of Viet Nam has been promulgating many important legal documents on its maritime zones and Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes. They include the 1977 Statement by the Government of the Socialist Republic of Viet Nam on Viet Nam’s Territorial Sea, Contiguous Zones, Exclusive Economic Zones, and Continental Shelf; the 1982 Statement by the Government of the Socialist Republic of Viet Nam on the Baselines for measuring Viet Nam’s Territorial Sea; the 1994 Resolution of the Fifth Session of the Ninth National Assembly of the Socialist Republic of Viet Nam on the Ratification of the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS); and the 2003 Law of the National Borders.

In terms of administration, the Government of Viet Nam made Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes districts under Dong Nai and Quang Nam – Da Nang provinces, respectively. After some administrative revisions, Hoang Sa archipelago is currently under city Da Nang, while Truong Sa archipelago belongs to Khanh Hoa province.

The Government of the Socialist Republic of Viet Nam has repeatedly affirmed Viet Nam’s sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes in diplomatic notes sent to the involved parties, in the statements of the Ministry of Foreign Affairs, and in international meetings, including the WMO meeting in Geneva (June 1980) and in the International Geological Congress in Paris (July 1980).

Viet Nam has also issued white papers of 1979, 1981, and 1988 on the sovereignty of Viet Nam over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes to affirm that these two archipelagoes are inseparable territories of Viet Nam, and that Viet Nam has full sovereignty over them in accordance with international law and practice.

On March 14th, 1988, the Ministry of Foreign Affairs of the Socialist Republic of Viet Nam issued a statement condemning the China’s act that caused military conflict in Truong Sa archipelago and reaffirming Viet Nam’s sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes.

In April 2007, the Government of Viet Nam’s established Truong Sa Township, Song Tu Tay and Sinh Ton communes under Truong Sa districts in Truong Sa archipelago.

Conclusion

In summary, there are three major points one can clearly conclude with reference to the the aforementioned historical documents as well as international law and practice.

First, Viet Nam has actually possessed Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes for long since the time when the two archipelagoes were not under the sovereignty of any other country.

Second, for hundreds of years since the 17th century, Viet Nam has indeed exercised its sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes in a continuous and peaceful manner.

Third, Viet Nam has always been proactive in protecting its rights and titles against any intentions and actions that violate Viet Nam’s sovereignty, territorial integrity, and rights in Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes.

APPENDIX

Some international documents and treaties related to Viet Nam’s sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes.

1. Cairo Declaration on November 27th, 1943When World War II entered its fiercest stage, a conference of the three powers of the Allies, namely the United Kingdom of Great Britain & North Ireland, the United States of America, and the Republic of China (represented by Chiang Kai-Shel), was in Cairo, Egypt. The Cairo Decleration, the outcome of the conference, states that: “It is their purpose that Japan shall be stripped off all the islands in the Pacific which she has sized or occupied since the beginning of the first World War in 1914, and that all the territories Japan has stolen from the Chinese, such as Manchuria, Formosa, and the Pescadores, shall be restored to the Republic of China.”

In accordance to this statement, the three Great Allies expressed their purpose to force Japan to return to the Republic of China those territories that were seized from the Chinese, including Manchuria, Formosa (Taiwan), and the Pescadores (Penghu), without any mention of Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes.

2. Potsdam Declaration on July 26th, 1945Heads of state and government of the United States of Amreica, the United Kingdom of Great Britain & North Ireland, and the Republic of China declared that the terms given in the 1943 Cairo Declaration should be executed. After declaring war with Japan in the Far East, the Union of Soviet Socialist Republics also joined this declaration.

3.Treaty of Peace with Japan in 1951The San Francisco Conference on the Treaty of Peace with Japan was held from September 4th to 8th, 1951 with the attendance of 51 countries. Article 2 of Chapter II of the draft treaty states that Japan shall renounce all rights, titles, and claims to specific territories that are listed. These territories include: Korea, Formosa (Taiwan), the Pescadores (Penghu), the Pacific islands, Antarctic areas, Truong sa archipelago, and Hoang sa archipelago.

At the Plenary session on September 5th, 1951, a proposal to amend the language of Article 2 was made by stating that Japan shall recognize the sovereignty of the People’s Republic of China over Manchuria, Formosa and its adjacent islands, the Pescadores, the Pratas islands, Hoang Sa archipelago, the Amphirites, and the Maxfield submerged cays, and Truong Sa archipelago, and that Japan shall renounce all rights, titles, and claims to these territories. The proposal was rejected by the conference with 46 against, 3 yes, and 1 abstain. Countries that voted to reject this proposal include Argentina, Australia, Belgium, Bolivia, Brazin, Combodia, Canada, Sri lanka, Chila, Colombia. Costa Rica, Cuba, Dominica, Edcuador, Qgypt, El Salvador, Ethiopia, France, Greece, Guatemala, Haiti, Honduras, Indonesia, Iran, Iraq, Laos, Lebanon, Liberia, Luxembourg, Mexico, the Netherlands, new Zealand, Nicaragua, Norway, Pakistan, Panama, Paraguay, Peru, the Philippines, Saudi Arabia, Syria, Turkey, the United Kingdom, the United States, Viet Nam and Japan.

As the result, Article 2 of Chapter II, Treaty of Peace with Japan states:

“(a) Japan recognizing the independence of Korea, renounces all right, title and claim to Korea, including the islands of Quelpart, Port Hamilton and Dagelet.

(b) Japan renounces all right, title and claim to Formosa and the Pescadores.

(c) Japan renounces all right, title and claim to Kurile islands, and that portion of Sakkhalin and the islands adjacent to it over which japan acquired sovereignty as a consequence of the Treaty Portsmouth of September 5th, 1905.

(d) Japan renounces all right, title and claim in connection with the League of Nations Mandate System, and accepts the action of the United Nations Security Council of April 2nd, 1947, extending the trusteeship system to the Pacific islands formerly under mandate to Japan.

(e) Japan renounces all claim to any right or title to or interest in connection with any part of the Antarctic area, whether deriving from the activities of Japanese nationals or otherwise.

(f) Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands.”

Apparently, the territories proclaimed by the 1943 Ciaro Declaration and the 1951 Treaty of Peace with Japan to be under China’s sovereignty only include Taiwan and Penghu. The fact that the Treaty of Peace with Japan places Taiwan and Penghu together in one item (Item b), and Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes together in a separate item (Item f) confirms that Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes are not recognized as parts of China.

Also at the 1951 San Francisco Conference, on September 7th, 1951, Tran Van Huu, the head of the State of Viet Nam’s delegation, declared that Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes have long been the territories of Viet Nam, and that “to stifle the germs of discord, we affirm our right to the Spratly and Paacel Islands, which have always belonged to Viet Nam”. Nome of the representatives of 51 countries attending the conference objected to and/or expressed their wish to reserve opinions about this statement.

All of these aforementioned documents and evidence clearly demonstrate that international legal documents, from the Cairo Declaration of November 27th, 1943 (reconfirmed by the Potsdam Declaration of July 26th, 1945) to the San Francisco Treaty of Peace with Japan of September 8th, 1951, do not recognize the sovereignty of any other countries over Viet Nam’s Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes. Also, the fact that none of the countries attending the 1951 San Francisco Conference objected to or wished to reserve their opinion on the statement of the Viet Nam’s delegation on Viet Nam’s sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes shows that the international community implicitly recognized the sovereignty of Viet Nam over Hoang Sa and Truong sa archipelagoes./.

 

Loading

Views: 0

Viet Nam’s Sovereignty Over Hoang Sa And Truong Sa Archipelagoes (Part 2)

Viet Nam’s sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes under French colony period

Since the conclusion of the Treaty of Hue on June 6th, 1884, France had represented Viet Nam in all of external relations and protected‘s sovereignty and territorial integrity. Relating to land border between Viet Nam and China, in 1887, France signed the convention with Qing Dynasty, in 1895, France signed the supplementary convention with Qing Dynasty. Within the framework of those commitments, Viet Nam’s sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes was exercised by France. That sovereignty exercise is clearly illustrated with numerous examples of which some are listed below.

Theo French battleships often patrolled in the East Sea, including the areas of Hoang Sa và Truong Sa archipelagoes.

In 1899, Paul Doumer, the then Governor – General of Indochina, sent a proposal to Paris for building a lighthouse on Hoang Sa island within Hoang Sa archipelago to guide in the area. The plan, however, was not implemented due to budget issue.

Since 1920, Indochinese ships of customs had intensified their patrol in the area of Hoang Sa archipelago to prevent smuggling.

In 1925, the Institute of Oceanography in Nha Trang sent the ship De Lanessan for an oceanography survey in Hoang Sa archipelago. In addition to A. Krempf, the then Institute’s Director, other researchers including Delacour and Jabouille also joined the trip for their geological and biological research and other studies. Also in 1925, the Minister of Military Affairs Than Trong Hue of the Imperial Court reaffirmed that Hoang Sa archipelago is within Viet Nam’s territory.

In 1927, the ship De Lanessan went to Hoang Sa archipelago for a scientific survey.

In 1929, the Pierre de Rouville delegation proposed that four lighthouses to be set up at four corners of Hoang Sa archipelago, namely Tri Ton (Triton) and Linh Con (Lincoln) islands, and Da Bac (the North) and Bong Bay reefs (Bombay).

In 1930, the gunboat La Malicieuse went to Hoang Sa archipelago.

In March 1931, the ship Inconstant went to Hoang Sa archipelago.

In June 1931, the ship De Lanessan went to Hoang Sa archipelago.

In May 1932, the battleship Alerte went to Hoang Sa archipelago.

From April 13th, 1930 to April 12 th, 1933, the Government of France deployed the naval units to garrison in major islands of Hoang Sa archipelago, namely Truong Sa Lon (Spratly), An Bang (Amboyna Cay), Ba Binh (Itu Aba), Song Tu (Group des Deux Iles), Loai Ta (Loaita), and Thi Tu (Thitu).

On December 21th, 1933, the then Governor of annexing the islands of Truong Sa Lon, An Bang, Ba Binh, Song Tu, Loai Ta, and Thi Tu to Ba Ria province.

In 1937, the French authorities sent a civil engineer named Gauthier to Hoang Sa archipelago to examine the positions for building lighthouses and a seaplane terminal.

In February 1937, the patrol ship Lamotte Piquet commanded by Rear-Admiral Istava came to Hoang Sa archipelago.

Decree No.4762-CP dated December 21st, 1933 signed by the Governor of Cochinchina

On March 29th, 1938, Emperor Bao Dai signed the Imperial Edict to split Hoang Sa archipelago from Nam Nghia province and annex them to Thua Thien province.

Imperial Edict signed by Emperor Bao Dai on March 29th, 1938
The Edict reads:

“Considering that Hoang Sa Islands (Archipel des Iles Paracels) have been for long under the sovereignty of Nuoc Nam, and directly under the province of Nam Nghia during the previous dynasties’ time, and that this administration had not been changed until the reign of The to Cao hoang de as all the communications with these islands were carried out via the seaports in the province of Nam Nghia.:

Considering that by nautical progress, the communications have changed, and that the Imperial Court’s representative who went on an inspection tour with the Protectorate’s representative, petitioned to annex those islands to the province of Thua Thien for the sake of convenience.

Orders:

Single item – to annex Hoang Sa Islands (Archipel des Iles Paracels) to the province of Thua Thien. In terms, of administration, these islands are under the command of the Governor of the province.”

On the June 15th, 1938, the then Governor – General of Indochina Jules Bre’vie’ signed the Decree on Establishing an Administrative Unit in Hoang Sa archipelago under Thua Thien province.

In 1938, France erected a sovereignty stele, completed the constructions of a lighthouse, a meteorological station, a radio station on Hoang Sa (Pattle) island, and a meteorological station and a radio station on Ba Binh island within Hoang Sa archipelago. The inscription on the stele reads: “the French Republic, The Kingdom of An Nam, The Paracel Islands, 1816 – Pattle Island – 1938” (1816 and 1938 are the years of Viet Nam’s sovereignty exercise over Hoang Sa archipelago by Emperor Gia Long, and of the French erection of the stele, respectively).

On May 5th, 1939, the Governor – General of Indochina Jules Bre’vie’ signed the decree to amend the Decree of June 15th, 1938. The new decree established two administrative delegations, namely the Delegations of Croissant and its Dependents, and Amphitrite and its Dependents

For the whole time of representing Viet Nam for its external relations, France consistently affirmed the sovereignty of Viet Nam over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes, and protested actions that violated this sovereignty. For instance, on December 4th, 1931 and April 24th, 1932, France opposed the Government of China on the intention of the Guangdong provincial authorities to invite bids for exploiting guano on Hoang Sa archipelago. Other examples include the France’s objection on April 4th, 1939 to the Japan’s inclusion of some islands within Hoang Sa archipelago

Under its jurisdiction.

 

Loading

Views: 0

Điểm chung giữa tướng “diều hâu” TQ và tướng Mỹ dọa đưa miền Bắc Việt Nam về thời đồ đá

“Nhưng thật không may cả hai ông LeMay và ông La Viện đều không thể phân biệt được sự khác nhau giữa hiếu chiến và ngu ngốc”, tác giả Michael Peck bình luận trên National Interest.

“Curtis LeMay của Trung Quốc”

Thiếu tướng La Viện chính là tướng Curtis LeMay của Trung Quốc.

LeMay là viên tướng của lực lượng không quân Mỹ từng chỉ huy chiến dịch oanh tạc nhiều thành phố lớn của Nhật Bản, và sau này trở thành người đứng đầu Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược Mỹ.

Trong quân đội Mỹ, tướng LeMay trở nên khét tiếng vì tính cách bạo tàn và hiếu chiến của ông ta trong các cuộc chiến tranh.

Trong thập niên 1950 và trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, tướng LeMay đã đệ trình kế hoạch tấn công hạt nhân phủ đầu nhằm vào Liên Xô. Còn trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam (cuộc kháng chiến chống Mỹ 1954-1975), viên tướng này đã kêu gọi tiến hành chiến dịch ném bom rải thảm nhằm “biến miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”.

Điểm chung giữa tướng diều hâu TQ và tướng Mỹ dọa đưa miền Bắc Việt Nam về thời đồ đá - Ảnh 1.

Và giờ chúng ta có thiếu tướng La Viện, Phó Tổng thư ký Hội Khoa học quân sự Trung Quốc, một nhà bình luận quân sự theo trường phái “diều hâu” và ủng hộ Bắc Kinh tiến hành thống nhất Đài Loan.

Tháng trước, trong một diễn đàn về công nghiệp quân sự được tổ chức tại Thâm Quyến, ông La Viện đã tuyên bố trước đông đảo khán giả trong hội trường rằng Trung Quốc có thể giải quyết căng thẳng trên Biển Đông bằng cách đánh chìm hai tàu sân bay của Mỹ.

Theo ông này, việc đánh chìm hai tàu sân bay sẽ gây ra con số thương vong đáng kể là 10.000 binh lĩnh Mỹ thiệt mạng.

“Người Mỹ sợ nhất là chết. […] Ta đánh chìm hai tàu, khiến 10.000 [binh lính Mỹ] thương vong, thử hỏi Mỹ có sợ không?”, ông La Viện phát biểu tại hội nghị trên.

Trước đó, ông này từng kêu gọi tiến hành tấn công quân sự nhằm vào Đài Loan, nếu Mỹ sử dụng đảo này làm căn cứ hải quân: “Nếu hạm đội hải quân Mỹ dám dừng chân ở Đài Loan, thì Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) cần phải triển khai ngay lực lượng nhằm đẩy mạnh quá trình thống nhất đảo này”.

Chính quyền Bắc Kinh luôn khẳng định đảo Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời. Trong bài diễn văn hôm 2/1 tại lễ kỉ niệm 40 năm Trung Quốc công bố văn kiện “Thư gửi đồng bào Đài Loan”, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cảnh báo rằng vấn đề Đài Loan không thể để lại cho các thế hệ sau giải quyết, ngầm ám chỉ thời hạn thống nhất đảo này.

Cụ thể, trong bài diễn văn trên, ông Tập chủ yếu nhấn mạnh việc “thống nhất hòa bình”, nhưng cũng không loại bỏ khả năng sử dụng biện pháp quân sự trong trường hợp cần thiết.

Tuy LeMay không phải là người Trung Quốc, nhưng có lẽ ông ta hiểu được suy nghĩ của thiếu tướng La Viện trong những phát ngôn nói trên.

Sai lầm của các ông LeMay và La Viện

Thế nhưng, thật không may là cả hai ông LeMay và ông La Viện đều không thể phân biệt được sự khác nhau giữa hiếu chiến và ngu ngốc.

Nếu kế hoạch tấn công phủ đầu nhằm vào Liên Xô của tướng LeMay được chấp thuận và tiến hành, thì điều đó sẽ châm ngòi Thế chiến III, đẩy Mỹ vào thế đối đầu với một siêu cường hạt nhân. Ngay cả khi Mỹ phá hủy được gần như toàn bộ vũ khí hạt nhân của Liên Xô, thì chỉ cần một vào quả bom đáp xuống New York hoặc Los Angeles đã khiến hàng triệu người dân Mỹ thiệt mạng, chứ chưa nói tới việc quân đội Liên Xô sẽ tung đòn thù.

Điểm chung giữa tướng diều hâu TQ và tướng Mỹ dọa đưa miền Bắc Việt Nam về thời đồ đá - Ảnh 3.

Giờ đây thế giới có thiếu tướng La Viện, một người có thể coi là đại diện cho luồng tư tưởng đang ngày càng trở nên phổ biến hơn tại Trung Quốc, rằng nước Mỹ quá yếu đuối cho một cuộc chiến.

Tuy nhiên, trước Trung Quốc, phát xít Đức và Nhật Bản đã từng có suy nghĩ tương tự vào năm 1941 (và có lẽ Trung Quốc cũng cần nhớ lại rằng Nhật Bản từng cho rằng họ yếu đuối ra sao trong thập niên 1930).

Phát biểu tại diễn đàn công nghệ quốc phòng tháng trước, ông La Viện cho rằng tên lửa chống hạm của Trung Quốc đủ khả năng tiêu diệt các tàu sân bay và tàu hộ tống của Mỹ. Xét về mặt lý thuyết quân sự, thì các loại tên lửa siêu thanh hoặc tên lửa đạn đạo được chuyển đổi thành vũ khí chống hạm có thể làm được điều này.

Tuy nhiên, thực tế có thể cho thấy điều trái ngược, bởi Trung Quốc chưa từng thử nghiệm các loại vũ khí ấy trong chiến tranh.

Nếu Washington không bảo vệ được, không thể chiến đấu vì 10.000 binh lính và thủy thủ thiệt mạng, thì họ cũng không thể bảo vệ cho bất cứ ai khác, kể cả Đài Loan, Nhật Bản, Israel hay các đồng minh châu Âu.

Nhưng nếu ông La Viện phân tích sai tình hình thì sao? Không có Tổng thống Mỹ nào, không có Thượng nghị sĩ hay Dân biểu nào, có thể yên tâm tại vị nếu như họ ngồi “im như phỗng” trước sự việc tàu sân bay của nước mình bị đánh chìm.

Tàu sân bay chính là biểu tượng cho sự mạnh mẽ và uy tín của nước Mỹ. Do đó, đối với người Mỹ mà nói, thì hành động đánh chìm “biểu tượng” này không khác gì trận Trân Châu Cảng, hay vụ khủng bố ngày 11/9 năm xưa.

“Tôi e rằng chúng ta đã đánh thức một gã khổng lồ đang say ngủ”, tướng Nhật Bản Yamamoto từng phát biểu như vậy trong buổi họp tổng kết sau trận Trân Châu Cảng. Có lẽ thiếu tướng La Viện của Trung Quốc cũng nên lưu tâm đến lời khuyên của người đi trước…

* Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Michael Peck, cây viết của tạp chí National Interest.

soha.vn

Loading

Views: 0

Thêm bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Hiện có một văn bản bằng chữ Hán, được lập cách đây 250 năm, trong đó khẳng định chủ quyền lãnh thổ không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”.

Sắc phong từ thời nhà Nguyễn cách đây 250 năm thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa

Làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa ThiênHuếlà nơi lưu giữ những tài liệu quý hiếm về Hoàng Sa, khẳng định chủ quyền của Tổ quốc.Người dân làng Mỹ Lợi đã lưu giữ trong đình làng của mình một văn bản bằng chữ Hán, được lập cách đây 250 năm, trong đó khẳng định chủ quyền lãnh thổ không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”. Văn bản do làng Mỹ Lợi lưu giữ có từ năm Quý Hợi (1743), dưới thời nhà Lê, được viết bằng chữ Hán trên giấy dó, có nội dung xử lý một vụ kiện giữa phường Mỹ Toàn (làng Mỹ Lợi) và phường An Bằng (làng An Bằng) về việc nộp thuế vỏ tàu khai thác sản vật liên quan đến Hải đội Hoàng Sa. Văn bản được nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lưu tạm dịch như sau: “Tuần quan cửa biển biên hải là Thuận Đức hầu phê cho phường Mỹ Toàn về phường An Bằng. Nguyên năm Quý Hợi (1743), phường An Bằng buộc phường Mỹ Toàn đón chiếc thuyền đội Hoàng Sa của lái Tin ở chỗ giáp ranh, kéo về đến bờ sông. Qua vụ thuế tiết liệu năm Mậu Dần (1758) khoản của thuyền thủ Trường, phường An Bằng lại bắt phường Mỹ Toàn cùng chịu, mỗi bên đem nộp tại chính điện. Đến nay, phường Mỹ Toàn thúc phường An Bằng cùng phường Mỹ Toàn đem nộp vô tàu nhưng phường An Bằng cố ý không đem nộp vô tàu ấy, phường Mỹ Toàn bèn trình đơn lên. Vậy giao cho phường Mỹ Toàn bắt phường An Bằng đền tiền ba quan. Nay phê như vậy. Ngày 19 tháng 9 năm Cảnh Hưng 20 (tức ngày 6/11/1759)”.

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Phan Thuận An, văn bản này cho thấy, từ thời Lê, Việt Nam đã có đội Hoàng Sa chuyên trách quản lý và khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng Sa. Nội dung văn bản trên cho thấy cách đây 250 năm, triều đình nhà Nguyễn đã có đội quân làm việc tại quần đảo Hoàng Sa. Ông Phan Thuận An cũng cho biết, dân làng Mỹ Lợi đã bàn giao cho Nhà nước văn bản này vào năm 2010 để Nhà nước quản lý, xác lập chủ quyền của Tổ quốc. Giá trị của văn bản này mang tầm quốc gia, thậm chí là quốc tế, với những nội dung rất rõ ràng, ngày tháng cụ thể, người thật, việc thật. “Đây là một nguyên bản có giá trị lịch sử để chứng minh rằng biển đảo Hoàng Sa là của Việt Nam”, nhà nghiên cứu Phan Thuận An nói. Làng Mỹ Lợi được thành lập năm 1562, do những người khai canh ra đi lập nghiệp từ làng Lương Niệm, Quảng Xuyên (nay là thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Làng có bề dày lịch sử về truyền thống văn hóa lâu đời, với nhiều lễ hội, phong tục tập quán mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó Đình Làng Mỹ Lợi được xây dựng từ năm 1808, đến năm 1996, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa – kiến trúc – nghệ thuật cấp Quốc gia.

BDN

Loading

Views: 0