Category Archives: Geschichte

45 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam: Mưu đồ độc chiếm Biển Đông

Trung Quốc đã có hàng loạt hành động phi pháp để phục vụ mục tiêu độc chiếm Biển Đông kể từ khi ngang ngược chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Cách đây 45 năm, Trung Quốc đưa quân cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sacủa Việt Nam vào ngày 19.1.1974 sau khi đã chiếm cụm phía đông hồi thập niên 1950.
Từ đó đến nay, nước này liên tục ngang ngược tiến hành hàng loạt biện pháp nhằm củng cố hiện diện dân sự lẫn quân sự phi pháp tại Hoàng Sa, nhất là trong những năm gần đây, bất chấp sự phản đối quyết liệt của Việt Nam và làn sóng lên án từ cộng đồng quốc tế.
Ngoài mục tiêu áp đặt tuyên bố chủ quyền phi pháp tại Hoàng Sa, những hành động này còn nhằm tạo cơ sở bàn đạp để tiếp tục bành trướng ra toàn bộ Biển Đông.

Từ phát triển trái phép…

Tại Hoàng Sa, Bắc Kinh từ năm 2005 đã tiến hành xây dựng bia chủ quyền phi pháp tại một số điểm trên quần đảo này. Đến năm 2007, Quốc vụ viện Trung Quốc ngang ngược phê chuẩn thành lập cái gọi là “TP.Tam Sa” thuộc tỉnh Hải Nam để đơn phương áp đặt quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Từ cuối tháng 5.2010, Trung Quốc đưa tàu khảo sát M/V Western Spirit cùng nhiều tàu bảo vệ tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực đảo Tri Tôn và tại các lô dầu khí 141, 142 và 143 trên thềm lục địa Việt Nam, cách đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi khoảng 90 – 116 hải lý. Nước này còn tiến hành san lấp, mở rộng đảo Tri Tôn để xây dựng công trình phi pháp.
Song song đó, các hoạt động quân sự được tăng cường từ tháng 2.2011 khi Hạm đội Nam Hải diễn tập phòng ngự tại Hoàng Sa, theo Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc (CRI). Cũng trong năm này, Cục Hải dương nhà nước Trung Quốc công bố “Báo cáo phát triển hải dương Trung Quốc năm 2011”, trong đó đơn phương tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông và 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, in một số bản đồ có vẽ “đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Đông, đồng thời nêu kế hoạch triển khai tự thăm dò, khai thác dầu khí ở khu vực quần đảo Trường Sa và mở tuyến du lịch ra quần đảo Hoàng Sa.
Sự ngang ngược của Bắc Kinh lại lấn thêm một bước lớn vào năm 2012 khi giới chức tỉnh Hải Nam thông báo kế hoạch tăng tốc xây dựng cơ sở hạ tầng cái gọi là “TP.Tam Sa” tại đảo Phú Lâm. Đến tháng 12.2012, Trung Quốc thông báo xây các trạm giám sát biển và khởi công dự án mở rộng 2 con đường ở đảo Phú Lâm để kết nối với bến tàu, các đơn vị dân sự và quân sự đồn trú trái phép tại đây. Song song đó, biên đội tàu hộ vệ của Trung Quốc tiến hành huấn luyện bắn đạn thật ở vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa và Tổng công ty dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) ngang nhiên mời thầu dầu khí 19 lô ở khu vực phía bắc Biển Đông, trong đó có lô 65/24 cách đảo Cây thuộc Hoàng Sa khoảng 1 hải lý.
Cũng trong năm 2012, tàu du lịch Coconut Princess của Công ty cổ phần vận tải biển Hải Hiệp Hải Nam bắt đầu thực hiện hành trình thử nghiệm tuyến du lịch đường biển từ Tam Á (Hải Nam) đến đảo Đá Bắc ở Hoàng Sa. Ngày 29.9.2012, giới chức Trung Quốc phác thảo kế hoạch phát triển cho 4 dự án cơ sở hạ tầng ở đảo Phú Lâm. Các dự án bao gồm tu sửa và xây mới 7 con đường với tổng chiều dài 5 km, xây dựng cơ sở tách muối để lọc nước biển có công suất 1.000 m3 mỗi ngày và hệ thống cấp thoát nước cùng bến tàu, mạng lưới vận tải trên đảo Phú Lâm.
Mới đây, vào tháng 7.2018, truyền thông Trung Quốc dẫn văn bản của Cục Hải dương và Ngư nghiệp Hải Nam ngang nhiên kêu gọi “mọi tổ chức hay cá nhân” đăng ký tham gia “phát triển du lịch và xây dựng” những đảo không người ở tại các khu vực mà nước này chiếm đóng phi pháp trên Biển Đông. Kế hoạch này bước đầu chủ yếu nhằm vào Hoàng Sa, nơi vẫn còn hàng trăm thực thể chưa có người ở. Rõ ràng, Trung Quốc đang tiến hành bước tiếp theo để thể hiện cái gọi là “chủ quyền” tại những địa điểm chiếm đóng phi pháp thông qua dân sự.
Trả lời Thanh Niên, PGS-TS Vũ Thanh Ca, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam), nhận định: “Trung Quốc biết rõ rằng chỉ củng cố quân sự các đảo đá thì không bao giờ có thể hợp pháp hóa tuyên bố chủ quyền trái luật pháp quốc tế của họ. Vì vậy, họ đang tìm cách dân sự hóa các hoạt động của họ, trong đó có các hoạt động cho phép các cá nhân khai thác những đảo đá nêu trên”.

… Đến quân sự hóa phi pháp

Bên cạnh các kế hoạch phát triển dân sự ngang ngược, Trung Quốc tiếp tục tiến hành tập trận và nhiều lần đưa tàu hải giám, trực thăng đến tuần tra phi pháp ở Biển Đông trước khi đưa giàn khoan Hải Dương 981 đến Hoàng Sa. Vụ việc bắt đầu từ ngày 1.5.2014 và kéo dài suốt 2 tháng rưỡi khiến tình hình khu vực vô cùng căng thẳng. Trung Quốc thậm chí huy động hơn 120 tàu thuyền ngang ngược đâm va tàu của Việt Nam đến khẳng định chủ quyền và kêu gọi Bắc Kinh dừng các hành động phi pháp xâm phạm lãnh hải.
Cũng trong thời gian này, Trung Quốc gấp rút tiến hành kế hoạch xây dựng phi pháp ở Hoàng Sa, bao gồm hải đăng trên đảo Đá Bắc, Đá Hải Sâm, Cồn cát Nam, Duy Mộng và Hòn Tháp. Đến tháng 10, đường băng quân sự dài 2 km trên đảo Phú Lâm được xây dựng hoàn tất.
Đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng và biến thành trung tâm hành chính phi pháp (Foto: AFP)
Đường băng cùng các cơ sở hạ tầng tiếp tục được cải tạo và đến tháng 2.2016, ảnh chụp từ vệ tinh của trung tâm ImageSat (ISI) cho thấy Trung Quốc đã triển khai trái phép 2 hệ thống tên lửa đất đối không với 8 giàn phóng và một radar tại đảo Phú Lâm. Đài Fox News dẫn lời một quan chức Mỹ cho rằng đây là hệ thống tên lửa phòng không HQ-9, tương tự loại S-300 của Nga với tầm bắn lên đến 201 km, có thể là mối đe dọa cho bất cứ máy bay quân sự hoặc dân sự nào bay gần đó. Chưa hết, Bắc Kinh còn triển khai gần 10 máy bay chiến đấu gồm tiêm kích J-11 và máy bay chiến đấu ném bom JH-7 cùng máy bay không người lái trinh sát tầm xa Harbin BZK-005 đến đảo này.
Theo Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ), đến năm 2017, Trung Quốc đã nâng cấp hàng loạt cơ sở quân sự phi pháp trên 8 đảo ở Hoàng Sa gồm đảo Cây, Phú Lâm, Lin Côn, Tri Tôn, Quang Ảnh, Quang Hòa, Hoàng Sa và Duy Mộng. Hình ảnh vệ tinh cho thấy 3 trong số 8 đảo (đảo Cây, Phú Lâm và Quang Hòa) hiện có những cảng có thể tiếp nhận một số lượng lớn các tàu dân sự và hải quân. Năm đảo có sân bay trực thăng, đảo Quang Hòa có một căn cứ trực thăng và đảo Phú Lâm có đường băng, nhà chứa máy bay và các dàn tên lửa đất đối không HQ-9.
Trong năm 2018, Trung Quốc tiếp tục tiến hành nhiều cuộc tập trận tại Hoàng Sa, bao gồm diễn tập của oanh tạc cơ H-6K và tập trận bắn đạn thật vào tháng 5. Tờ PLA Daily còn ngang nhiên đưa tin một số tàu hải cảnh và tàu hải quân nước này lần đầu tiên tuần tra chung tại vùng biển xung quanh Hoàng Sa.
Mới đây vào tháng 11, chương trình Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) chia sẻ hình ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy Trung Quốc tiếp tục hành vi phi pháp ở Biển Đông khi xây dựng cấu trúc trái phép nghi phục vụ mục đích quân sự, được giấu dưới mái che radar trên Đá Bông Bay tại Hoàng Sa./.
(Theo Thanhnien.vn)

Loading

Views: 0

Pháp tung bằng chứng khẳng định Hoàng Sa là chủ quyền của Việt Nam

Năm 1938, khi còn bảo hộ Việt Nam, Chính phủ Pháp nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Tài liệu được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ của Phòng Thương mại và Công nghiệp Marseille, Pháp: kí hiệu Hồ sơ: MQ28/02.

Việt Nam xây dựng Trạm khí tượng tại Hoàng Sa

Ở tài liệu thứ nhất, với tiêu đề: “Pháp có chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa (Paracels) hay không?” đã khẳng định: “Ngày xưa, quần đảo Hoàng Sa là thuộc về Việt Nam. Vương triều An Nam (nhà Nguyễn – người dịch) đã đóng quân trên đảo này từ đầu thế kỉ XIX. Quần đảo này là vùng thuộc chủ quyền của An Nam (Đại Nam tức Việt Nam – người dịch). Pháp chỉ làm cái việc là khẳng định tất cả các quyền không thể chối cãi đối với quần đảo này. Vấn đề này là thực tế”.

Tư liệu lưu trữ (1938) khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa

Năm 1932, dưới thời Toàn quyền Pasquier, một tàu Pháp đã đổ bộ lên và cắm cờ Pháp trên quần đảo này.

Tài liệu cho biết thêm: “Để đảm bảo an toàn hàng hải trên vùng biển này, chính quyền Đông Dương đã thiết lập trên quần đảo này hai ngọn hải đăng và một trạm khí tượng. Một vài biệt đội vùng với lực lượng đông đảo cảnh sát người Việt cũng đã được cử đến quần đảo này để bảo vệ những công trình này. Trong năm 1937, một quan chức hành chính của chính quyền Đông Dương cùng 6 lính bảo an đã thực hiện cuộc kiểm tra trên quần đảo này nhằm duy trì hai ngọn hải đăng và đảm bảo cho trạm khí tượng đặt trên quần đảo này được hoạt động tốt”.

Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam từ thế kỷ XIX

Tài liệu thứ hai trong Hồ sơ lưu trữ cho biết: “Theo luận điểm của Pháp, quần đảo Hoàng Sa đã được sáp nhập vào Việt Nam bởi Vua An Nam (Vua Nguyễn) vào năm 1816, sau đó là bởi Courbet vào năm 1885. Vào năm này, Trung Quốc đã thừa nhận rằng, Pháp thay thế quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này”.

Tài liệu cũng nêu rõ, lối vào quần đảo Hoàng Sa là vô cùng khó khăn, nếu không muốn nói là không thể.

“Quần đảo này được tạo bởi 36 đảo hoặc cụm đảo nhô lên hoặc đảo chìm. Yếu tố này thực sự nguy hiểm đối với giao thông hàng hải. Những đảo lớn của quần đảo này bao gồm các đảo: Tri Tôn, Pyramide, Lincoln, Boiseé, Rocheuse, Roberts, Pattle, Amphitrite,…”.

Một số hải đội người Việt đã đóng trên quần đảo này, nó nằm giữa đảo Hải Nam và cảng Đà Nẵng. Tuy nhiên, khi Chính phủ bảo hộ Pháp và triều đình Việt Nam thiết lập trên quần đảo Hoàng Sa một vài ngọn hải đăng và trạm khí tượng để kiểm soát bão, thì Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại kiến nghị với Bộ trưởng Pháp rằng, quần đảo này là của Trung Quốc.

 

Chính phủ Pháp khẳng định, quần đảo Hoàng Sa đã được sáp nhập vào Việt Nam năm 1816. Đến năm 1885, Trung Quốc cũng đã thừa nhận, Pháp thay thế quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

Trung tâm Lưu trữ Phòng Thương mại và Công nghiệp Marseille (CCIMP) ở số 9 đường La Canebìere, 13001, thành phố Marseille, Cộng hòa Pháp. Trung tâm này chủ yếu lưu trữ những tài liệu liên quan tới thương mại giữa Pháp và các nước trên thế giới cũng như với thuộc địa của Pháp, trong đó có Việt Nam. Nguồn tài liệu ở đây được chính thức thu thập và lưu trữ từ thế kỷ XVII. Các hồ sơ lưu trữ ở đây phản ánh những thông tin liên quan tới chính sách thương mại, quan hệ thương mại, thuế quan từ thế kỉ XIII đến nay. Nguồn lưu trữ ở đây được chia thành 3 phông chủ yếu: Phông cũ là những hồ sơ chứa đựng thông tin từ năm 1801 trở về trước, gồm các série từ A đến K. Phông hiện đại là những hồ sơ chứa đựng thông tin từ năm 1801 đến nay, gồm các série : MA, MB, MC, MD, MÉTROPOLE, MF, MG, MH, MJ, MK, ML, MM, MN, MP, MQ, MR, AC. Phông đính kèm là những hồ sơ liên quan tới các công ty thương mại, những nhân vật, quan chức thương mại của Pháp và các thuộc địa Pháp. Tài liệu liên quan tới Hoàng Sa mà chúng tôi đề cập nằm lẫn trong Hồ sơ série MQ thuộc phông hiện đại.

“Theo luận điểm của Pháp, quần đảo Hoàng Sa đã được sáp nhập vào Việt Nam bởi Vua An Nam (Vua Nguyễn) vào năm 1816, sau đó là bởi Courbet vào năm 1885. Vào năm này, Trung Quốc đã thừa nhận rằng, Pháp thay thế quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này”.

news.vdaiy.net

Loading

Views: 0

Các thời kỳ lịch sử Biển Đông chia theo quan niệm của một Kỹ sư

LTS: Đã từ lâu ai cũng biết lịch sử là những mốc thời gian. Các giai đoạn diễn biến lịch sử từ trước đến giờ hầu như được ghi lại theo cái mốc “cuộc đời” của các ông vua, còn gọi là “triều đại”, nay có 1 Kỹ sư chia giai đoạn lịch sử bằng cái mốc “ước lệ” phỏng theo cách chia của cách mạng công nghiệp.

Cám ơn anh Tho Nguyen đã cho phép đăng bài này.

Biển đông 4.0

Biển Đông 1.0 có thể bắt đầu từ thế kỷ 15, khi vua Lê Thánh Tông cho vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ (theo Đại Việt Sử ký toàn thư). Đến thế kỷ 18, khi chúa Nguyễn cho lập Đội Bắc Hải và Đội Hoàng Sa ra đó khai thác và khẳng định chủ quyền có thể là 1.1.

Biển Đông 2.0 bắt đầu vào lúc Pháp chiếm Việt Nam cuối thế kỷ 19, sau khi hiệp ước biên giới Pháp -Thanh ký năm 1887. Update 2.1 phải là lúc toàn quyền Paul Doumer quyết định xây cột hải đăng ở Hoàng Sa, nhưng thiếu tiền nên chỉ cử người ra đó…. Thời kỳ này rất quan trọng vì Việt Nam nhờ Pháp mà lấn át được cả nhà Thanh lẫn Quốc Dân Đảng trong việc bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa. 2.2 là lúc Nhật thay Pháp quản lý cả hai quần đảo.

Năm 1951, tại Hội nghị quốc tế về Hiệp ước hòa bình với Nhật ở San Fransisco, cụ Trần Văn Hữu đã đại diện cho Quốc gia Viêt Nam của Bảo Đại tuyên bố chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo này. Đây có thể coi là release 2.3, update cuối cùng của version 2.0.

Biển Đông 3.0 bắt đầu bằng việc ký hiệp định Genève ngày 20.7.1954, chia đôi Việt Nam. Theo đó nhà nước Việt Nam Cộng Hòa quản lý các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nhân lúc tranh tối tranh sáng, ngày 31.5.1956 Đài Loan cho tàu ra chiếm đảo Ba-Bình, đảo lớn nhất thuộc quần đào Trường sa, đánh dấu Update 3.1.

Rồi 3.2 là bước nâng cấp quan hệ Việt-Trung trên biển, khi Bắc Kinh trả lại đảo Bạch Long Vĩ cho ta tháng 1.1957. Từ đó mà có Update 3.3, khi ông Đồng ký công hàm gửi đồng nghiệp Chu Tổng lý, ủng hộ quan điểm về thềm lục địa của Trung Quốc? Còn cuộc hải chiến Hoàng sa tháng giêng 1974 phải chăng là release cuối cùng của version 3.0?

Sự kiện 30.4.1975, có thể coi là version 4.0 của tranh chấp Biển Đông, trong đó sự kiện Gạc Ma 1988 liệu có phải là 4.1? Việt Nam thành lập hai huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có văn phòng trong phố Đà Nẵng và Nha Trang là 4.2? Cuộc biểu tình của thanh niên Việt Nam chống Trung Quốc xâm lược tháng 12.2007 có thể coi là 4.3. Sự kiện CHXHCN Việt Nam công nhận thừa kế vai trò của VNCH trên trên hai quần đảo là 4.4. Vụ tòa trọng tài Den Haag theo đơn kiện của Philippin, bác bỏ yêu sách của TQ là 4.5 v.v và v.v.

Kết thúc 4.xx chắc sẽ là ngày mấy ông Đô đốc Mỹ gốc Việt lái tàu về phá tan các đảo bồi đắp trái phép của TQ, đòi hộ lãnh thổ cho đồng bào mình. Trong lúc có nhiều người ở Việt Nam đã coi đó là những cồn cát chim ỉa. Thậm chí đã có lúc, khái niệm “bọn Hoàng-Sa, Trường-Sa” được phổ biến nội bộ để ám chỉ kẻ xấu.

Và 5.0 là giấc mơ trọn vẹn?

Tất nhiên đó chỉ là cách sắp xếp của một tay thợ máy tính, dốt về lịch sử. Có thể các nhà nghiên cứu Biển Đông sẽ có ý kiến khác. Nhưng ít ra cách sắp xếp này hay ở chỗ: đã có 1.0 thì có 1.1, 1.2 cho tới 4.xx. Mấy ông bô bô rao giảng „Cách mạng 4.0“ „thế lọ thế chai“, khi bị hỏi 4.1. 4.2 là gì lại tịt mít.

Nhưng Biển Đông thì có liên quan gì đến „Tư bản số và Độc tài số“?

Chuyện thế này: Hai thế lực trên đã đặt thế giới trước một cuộc chiến tranh mạng (Cyberwar). Vì vậy quân đội Đức (Bundeswehr) đã thành lập một binh chủng mới để chống lại các cuộc tấn công mạng. Cần nói thêm là từ năm 2011, quân đội Đức đã trở thành một quân đội chuyên nghiệp, không có lính nghĩa vụ nữa. Ai đi bộ đội sẽ thành quân nhân chuyên nghiệp, có thể đeo lon suốt đời. Do vậy quân đội Đức đã từ 450.000 người rút xuống chỉ còn 180.000.

„Bộ tư lệnh chiến tranh mạng“ (Command Cyber- and Information CIR) sẽ có khoảng 13.500 quân nhân chuyên nghiệp. Lực lượng này tuy nhỏ hơn Hải quân (16.500), nhưng rất tinh nhuệ, vì chủ yếu là hạ sỹ quan trở lên. Lý do là số này được tuyển dụng từ các chuyên gia tin học đã có kinh nghiệm, sau mấy tháng huấn luyện quân sự sẽ thành hạ sỹ quan hay sỹ quan, tùy theo trình độ.

Peter, bạn tôi cũng đi bộ đội. Vốn cũng là dân làm ăn tự lập, lăn lộn với nghề máy tính để nuôi vợ con, nay nghe theo tiếng gọi của các loại đảng, Peter đầu quân để không cho bọn “Độc tài số” tấn công nước Đức. Gã kể: Đời lính thì vất vả hơn, nhưng lương cao và không phải lo kiếm ăn hàng ngày như hồi làm tự do.

Peter có vợ Việt. Cách đây vài năm, gã đã xem bộ phim „Hoàng Sa – Nỗi đau mất mát“ của anh André Menras Hồ Cương Quyết. Hồi đó, phim này bị coi là „nhậy cảm“, nhiều người ngại dính vào, tôi đã phải tự đứng ra tổ chức ở Köln. Vợ chồng Peter cùng hơn 100 người, có cả báo chí Đức, đến dự và quyên góp cho bà con ngư dân. Xem xong Peter bức xúc lắm.

Trường võ bị Hamburg, nơi Peter đang học, muốn bổ túc kiến thức quốc tế cho các học viên. Peter nghĩ đến quê hương vợ mình và đề nghị đưa „Xung đột Biển Đông“ vào giáo trình ngoại khóa. Trường chấp nhận, thế là Peter nhờ tôi kiếm giáo trình.

May mắn là Phạm Thanh Vân, thành viên của „Dự án Đại ký sự biển Đông” nhận giúp đỡ. Sau nhiều đêm cặm cụi làm việc, cô đã gửi sang một bản thuyết trình power point bằng tiếng Anh. Tôi đã dịch sang tiếng Đức cho Peter. Gã mừng lắm, bảo sẽ khuyên ban giám hiệu sử dụng tài liệu này cho những khóa sau.

Hôm nay Peter báo tin là gã đã hoàn thành buổi báo cáo về đề tài Biển Đông. Nhiều sỹ quan Đức giờ mới biết đến đường chín đoạn, đến các đảo nhân tạo “made by China”.

Và họ cũng biết đến đến những người lính Việt Nam đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng 1.1974 và ở Gạc Ma thuộc Trường Sa tháng 3.1988

 

Köln 13.12.2018

Bài lấy từ Facebook Tho Nguyen:

https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/2616330051718385

 

 

Loading

Views: 0

Viet Nam’s Sovereignty Over Hoang Sa And Truong Sa Archipelagoes (Part 1)

Viet Nam’s historical sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes

In the old days, with vague information about Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes, navigators only knew about a large area in the middle of the sea with submerged cays, which was very dangerous for watercrafts, referred to as “Bien Dong” (East Sea) by the Vietnamese. Vietnamese ancient documents indicate this area with various names, including “Bai Cat Vang” (Golden Sandbank), “Hoang Sa” (Golden Sand), “Van Ly Hoang Sa” (Ten-thousand-Li1 Golden Sand), “Dai Truong Sa” (Grand Long Sand), or “Van Ly Truong Sa” (Ten-Thousand-Li Long Sand).

Most of the nautical maps made by western navigators from the 16th to the 18th centuries depict Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes as a single archipelago and name it “Pracel”, “Parcel”, or “Paracels”2. Later progress in science and navigation allowed the differentiation between the two archipelagoes. It was not until 1787-1788 that Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes were located clearly and accurately as they are known today by the Kergariou – Locmaria survey mission to help distinguish Hoang Sa archipelago from Truong Sa archipelago in the South. All of the abovementioned maps define Pracel (including both Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes) as an area in the middle of the East Sea, to the east of mainland Viet Nam and located further offshore compared to Viet Nam’s coastal islands.

The two archipelagoes indicated as the “Paracels” and the “Spratley” or “Spratly” islands in current international nautical maps are indeed those that are Viet Nam’s Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes.

The Vietnamese people have long discovered Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes, and Viet Nam has exercised its sovereignty over the two archipelagoes in a continuous and peaceful manner.

  • Many ancient geography books and maps of Viet Nam clearly indicate that “Bai Cat Vang”, “Hoang Sa”, “Van Ly Hoang Sa”, “Dai Truong Sa” or “Van Ly Truong Sa” (Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes) have long been included within the territory of Viet Nam.

Toan Tap Thien Nam Tu Chi Lo Do Thu (Route Maps from the Capital to the Four Directions), compiled in the 17th century by a man named Do Ba, clearly noted in the maps of Quang Ngai prefecture in Quang Nam area that “In the middle of the sea is a long sandbank, called Bai Cat Vang, with a length of 400 li and a width of 20 li, spanning in the middle of the sea from Dai Chiem to Sa Vinh Seaports3. Foreign ships would be drifted and stranded on the bank if they traveled on the inner side (west) of the sandbank under the southwest wind or on the outer side under the northeast wind (east). Their sailors would starve to death and leave all their goods there”.

In the book entitled Giap Ngo Binh Nam Do (The Map for the Pacification of the South in the Giap Ngo year) made by duke Bui The Dat in 1774, Bai Cat Vang is also indicated as a part of Viet Nam’s territory4.

A 16th- century Portuguese nautical map depicting Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes as a single archipelago located to the east of Viet Nam’s mainland.

During his assignment in South Viet Nam, scholar Le Quy Don (1726-1784) in 1776 compiled the book named Phu Bien Tap Luc (Miscellaneous Records on the Pacification at the Frontier) on the history, geography, and administration of South Viet Nam under the Nguyen lords (1558-1775), In this book, Le Quy Don described that Dai Truong Sa, including Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes, was under the jurisdiction of Quang Ngai prefecture.

A page of “Toan Tap Thien Nam Tu Chi Lo Do Thu”

“An Vinh commune, Binh Son district, Quang Ngai prefecture has a mountain5 outside its seaport called Re island, which is 30-li wide. It takes four watches to reach the island, on which there is a ward named Tu Chinh with bean-growing inhabitants. Further offshore is the Dai Truong Son island, where there are plenty of sea products and other goods. It takes Hoang Sa Flotilla, founded to collect those products and goods, three full days to reach the island, which is near Bac Hai.”

“… Binh Son district of Quang Ngai prefecture includes the coastal commune of An Vinh. Offshore to the northeast of An Vinh are many islands and approximately 130 mountains separated by waters which can take from few watches to few days to travel across. Streams of fresh water can be found on these mountains. Within the islands is a 30-li long, flat and wide golden sand bank, on which the water is so transparent that one can see through. The islands have many swift nests and hundreds or thousands of other kinds of birds; they alight around instead of avoiding humans. There are many curios on the sandbank. Among the volutes are the Indian volutes. An Indian volute here can be as big as a mat; on their ventral side are opaque beads, different from pearls, and as big as fingertips; their shells can be carved to make identification badges or calcinated to provide lime for house construction. There are also conches that can be used for furniture inlay, and Babylon shells. All snails here can be salted for food. The sea turtles are oversized. There is a softy-shell sea turtle called “hai ba” or “trang bong”, similar to but smaller than the normal hawksbill sea turtles; their thin shell can be used for furniture inlay, and their thumb-sized eggs can be salted for food. There is a kind of sea cucumbers called “dot dot”, normally seen when swimming about the shore; they can be used as food after lime treatment, gut removal and drying. Before serving “dot dot”, one should process it with crab-extracted water and scrape all the dirt off. It will be better if cooked with shrimps and pork.

Foreign boats often take refuse at these islands to avoid storms. The Nguyen rules have established Hoang Sa Flotilla with 70 sailors selected from An Vinh commune on a rotational basis. Selected sailors receive their order in the third month of every year, bring with them sufficient food for six months, and sail on five small fishing boasts for full days to reach the islands. Once settled down on the islands, they are free to catch as many birds and fish as they like. They collect goods from boats passing by, such as sabers, jewelries, money, porcelain rings, and fur; they also collect plenty of sea turtle shells, sea cucumbers, and volute shells. The sailors return to mainland in the eighth month through EO seaport. On their return trip, they first sail to Phu Xuan Citadel, where the goods that they have collected shall be submitted to be measured and classified; they can then take their parts of volutes, sea turtles, and sea cucumbers for their own trading businesses, and receive licenses before going home. The amount of collected materials varies; sometimes the sailors could not collect anything at all. I have personally checked the notebook of the former flotilla captain Thuyen Duc Hau, which recorded the amount of collected goods: 30 scoops of silver in the year of Nham Ngo (1762), 5,100 catties of tin in the year of Giap Than (1764), 126 scoops of silver in the year of At Dan (1765), a few sea turtle shells each year from the year of Ky Suu (1769) to the year of Quy Ty (1773). There were also years when only cubic tin, porcelain bowls, and two copper guns were collected.

The Nguyen rulers also established Bac Hai Flotilla without a fixed number of sailors, selected from Tu Chinh village in Binh Thuan or from Canh Duong commune. Sailors are selected on a voluntary basis. Those who volunteer to join the flotilla will be exempted from poll tax, patrol and transportation fees. These sailors travel in small fishing boats to Bac Hai, Con Lon island, and other islands in Ha Tien area, collecting goods from ships, and sea products such as turtles, abalones, and sea cucumbers. Bac Hai Flotilla is under command of Hoang Sa Flotilla. The collected items are mostly sea products and rarely include jewelries.”

Among those documents that have been preserved until today is the following order dated 1786 made by Lord Superior:

“Hereby command Hoi Duc Hau, captain of Hoang Sa Flotilla, to lead four fishing boats to sail directly towards Hoang Sa and other islands on the sea, to collect jewelries, copper items, cannons of all sizes, sea turtles, and valuable fishes, and to return to the capital to submit all of these items in accordance with the current regulation”.

An Nam Dai Quoc Hoa Do

Dai Nam6 Nhat Thong Toan Do (The Complete Map of the unified Dai Nam – the map of Viet Nam under the Nguyen Dynasty in 1883) indicated that “Hoang Sa” and “Van Ly Truong Sa” are Vietnamese territories. These archipelagoes were depicted to be further offshore compared to those near the central coast.

Dai Nam Nhat Thong Chi (The Geography of the Unified dai Nam), the geography book completed in 1882 by the National History Institute of The Nguyen Dynasty (1802-1845), indicates that Hoang Sa archipelago is part of Viet Nam’s territory and was under the administration of Quang Ngai province.

In the paragraphs describing the topography of Quang Ngai province, the book wrote:

“In the east of Quang Ngai province is Hoang Sa island, in which sands and waters are alternate, forming trenches. In the west is the area of mountainous people with the steady and long rampart. The south borders Binh Dinh province, separated by the Ben Da mountain pass.

The north borders Quang Nam province, marked by the Sa THo Creek…”

“… The previous custom of maintaining Hoang Sa Flotilla was continued in the early days of the Gia Long Era but later abandoned. At the beginning of the Minh Mang Era, working boats were sent to the area for sea route survey. They found an area with verdant plants over white sands and a circumference of 1,070 truong7. In the middle of Hoang Sa island is a well. In the southwest lies an ancient temple with no clear indication of the construction time. Inside the temple is a stele engraved with four characters “Van Ly Ba Binh”8. This island had previously been called “Phat Tu Son”9. In the east and the west of the island is an atoll named Ban Than Thach (coral reef). It emerges over the water level as an isle with a circumference of 340 truong and a height of 1.2 truong. In the 16th year of the Minh Mang Era, working boats were ordered to transport bricks and stones to the area to build temple. In the left side of the temple, a stone stele was erected as a remark, and trees are planted all over three sides, namely the left, the right, and the back, of the temple. While building the temple’s foundation, the military laborers found as much as 2,000 catties of copper leaves and cast iron.”

Many Western navigators and Christian missionaries in the past centuries attested that Hoang Sa (Pracel or Paracels) belongs to Viet Nam’s territory.
A Western clergyman wrote in a letter during his 1701 trip on the ship Amphitrite from France to China that: “Paracel is an archipelago of the Kingdom of An Nam”10.

Bishop J.L. Taberd, in his 1837 “Note on the Geography of Cochinchina”11, also describes “Pracel or Paracels” as a part of Cochinchina’s territory and indicates that Cochinchinese people refer to Paracles as “Cat Vang”. In An Nam Dai Quoc Do (Tabula geographica imperii Anamitici – The Map of the An Nam Empire)12 published in 1883, Bishop Taberd depicted part of Paracels and noted “paracel seu Cat Vang” (Paracel or Cat Vang) for the archipelago farther than those near the shore of central Viet Nam, corresponding to the area of Hoang Sa archipelago nowadays.

J.B Chaineau, one of the counselors to Emperor Gia Long, wrote in the 1820 complementary note to his “Mémoire sur Cochinchine” (Memoir on Cochinchina)13 that: “The Country of Cochinchina, whose emperor has just ascended to the throne, includes the Regions of Cochinchina and Tonkin14 … some inhabited islands not too far from the shore, and the Paracel archipelago composed of uninhabited small islands, creeks, and cays.”

In the article “Geography of the Cochinchinese Empire”15, written by Gutzlaff and published in 1849, some parts clearly indicate that Hoang Sa is part of Viet Nam’s territory and even noted the archipelago with the Vietnamese name “Cat Vang”./.

 

 

Loading

Views: 0

Cường quốc hàng hải – Chính sách “Ngoại Giao Cảnh Sát Biển”

Tàu sân bay John C. Stennis (trái) và tàu Ronald Reagan phải hoạt động ở biển Philippines ngày 18/6. Ảnh: US Navy

Cường quốc hàng hải

Lâu nay chúng ta đọc báo và nghe tin nói Trung Quốc hạ thủy chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên, rồi chiếc thứ hai đang chạy thử nghiệm và chuẩn bị đóng thêm chiếc thứ ba. Chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc vốn được đóng cho hải quân Xô Viết, sau khi Liên Xô giải tán thì nó thuộc về Ukraine rồi được đem đi ra bán đấu giá và Trung Quốc mua lại từ đó. Nó vốn chỉ còn có cái vỏ tàu không có động cơ, bánh lái, các hệ thống điều khiển nên Trung Quốc phải cải chỉnh sửa lại và trang bị hoàn toàn mọi thiết bị để hoạt động chạy được rồi đặt tên mới là Liêu Ninh. Chiếc thứ hai được đóng là cây nhà lá vườn do Trung Quốc tự thiết kế tuy nhiên vẫn theo mô hình của chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên.

Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc được mua lại từ vỏ tàu Varyag lớp Kuznetsov của Hải Quân Liên Xô cũ
Tại sao Trung Quốc tại sao lại muốn chế tạo hàng không mẫu hạm? Những hành động quân sự Trung Quốc đang làm là mong được công nhận là một cường quốc về đại dương, một cuộc chạy đua trực diện với Hoa Kỳ và hy vọng có một sự chuyển giao quyền lực đại dương về các vùng biển vốn nằm dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ, Trung Quốc đang tìm cách lấn sân và hy vọng đặc biệt vùng biển Đông, vùng Trung Quốc tự cho là sân sau của mình sẽ lọt vào tay mình khi Hoa Kỳ tính toán sai hay bị khủng hoảng trong tương lai.
Tại sao Trung có vẻ thắng thế hiện nay? Hoa Kỳ là siêu cường toàn cầu nên phải phân bố lực lượng ở Âu Châu, Trung Cận Đông, Bắc Phi và Á Châu. Trong khi thực tế cho đến lúc này dù đang có trong tay 2 chiếc hàng không mẫu hạm thì Trung Quốc vẫn chỉ là cường quốc biển cấp khu vực (vùng biển cận duyên – littoral zone) chứ chưa hề được công nhận là cường quốc vùng biển đại dương xanh (abyssal zone hay hadal zone) như Hoa Kỳ. Và lực lượng phân bổ của họ vẫn chính là khu vực biển Đông, khu vực ngay sát sân nhà của họ. Mỹ là siêu cường toàn cầu nên chỉ có lợi thế hơn Trung Quốc khi cạnh tranh ở quy mô toàn cầu. Khi mà khoảng cách giữa sức mạnh của Mỹ và Trung bị thu hẹp trong một phạm vi mà vị trí địa chính là sân sau của Trung Quốc và bị lủng đoạn bởi Trung Quốc qua chính sách “Ngoại giao bẫy nợ”, thì Trung Quốc rõ ràng chiếm ưu thế hơn khi hai bên tranh giành nhau ảnh hưởng của nhau.
Không ai có thể phủ nhận Hoa Kỳ hiện nay là một quốc gia cường quốc biển mạnh nhất trên thế giới. Các hạm đội Hải Quân Mỹ có tổng cộng 19 chiếc Mẫu Hạm có thể chở máy bay nhưng chỉ có 11 chiếc được công nhận và gọi là hàng không mẫu hạm. Đó là có tính thêm chiếc USS John F. Kennedy thuộc lớp Gerald R. Ford đang đóng chuẩn bị xuất xưởng vào năm 2020, còn 10 chiếc HKMH hiện đang tung hoành và kiểm soát mọi vùng biển từ Á sang Âu, Trung Đông đến Phi Châu.

Hàng Không Mẫu Hạm USS John S. Stennis của Hoa Kỳ
Có rất nhiều nhận định và nhiều bài báo viết về sự lớn mạnh kinh tế và trổi dậy quân sự của Trung Quốc. Sự thật có rất nhiều nước có khả năng kỷ thuật, sức mạnh quân sự làm được như Trung Quốc tại Châu Á như Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc…tuy nhiên các nước này không có nhu cầu và mục đích làm bá chủ đại dương và không muốn tốn cho một ngân sách quốc phòng lớn lao với danh vọng hão là bành trướng ảnh hưởng của mình ra thế giới. Sự thật vẫn còn rất lâu Trung Quốc mới có thể làm bá chủ trên đại dương và bắt kịp Hoa Kỳ, một quốc gia có kinh nghiệm hàng hải và sức mạnh cả 100 năm nay.
Tuy nhiên chúng ta đừng quên ở Á Châu từng có một nước Nhật vốn là một cường quốc về biển từ rất lâu, trước cả Trung Quốc cả trăm năm, cho đến khi bại trận ở Đệ Nhị Thế Chiến. Trong lúc Trung Quốc thất bại trong cuộc chiến tranh Nha Phiến với Anh và các cường quốc Tây phương (1840 – 1843 và 1856 – 1860), bị áp đặt ký một hiệp ước Nam Kinh bất bình đẳng phải mở cửa nhiều hải cảng cho liên quân 8 nước Tây Phương và Nhật Bản vào giao thương. Còn Hong Kong thì bị cắt làm nhượng địa cho đế quốc Anh. Hải quân Nhật từng đánh thắng hạm đội của Nga thời Sa Hoàng (1905) làm nên một trong những chiến thắng về hải chiến hủy diệt lớn nhất trong suốt bề dày lịch sử chiến tranh trên biển. Nhật Bản cũng từng xâm chiếm và cai trị Đài Loan và Triều Tiên trong nhiều thế kỷ. Có nhiều trận đụng độ và hải chiến với hải quân Hoa Kỳ trong Đệ Nhị Thế chiến cho đến khi bại trận vào năm 1945.
Nhưng không phải sau khi thắng hải quân Nga thì Nhật Bản mới trở thành một cường quốc hàng hải. Tầm quan trọng của sức mạnh về hàng hải đối với Nhật Bản đã từ lâu được công nhận.
Năm 1853 (July 8, 1853), Hải quân Mỹ dưới quyền của Phó đề đốc Matthew Calbraith Perry cùng 4 chiến tàu của mình đã đi vào vịnh Edo (Edo Bay), đe dọa chủ quyền Nhật Bản từ phía biển và buộc Nhật Bản mở các cảng giao thương với các nước Tây Phương. Kinh nghiệm này dạy Nhật Bản một bài học quan trọng, mà họ đã học được ngay lập tức là cần phải có một Hải Quân hùng mạnh. Là một quốc đảo với nguồn tài nguyên khan hiếm, việc bảo vệ tuyến đường hàng hải giao thương của Nhật Bản là phần quan trọng nhất trong lợi ích quốc gia của nó. Các vùng biển của Biển Nam Trung Hoa phục vụ như một lối đi thương mại kinh tế nối Nhật Bản không chỉ đến Đông Nam Á, mà còn là Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
Hải quân đế quốc Nhật Bản vào đầu thế kỷ 19 đã bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những lời dạy của Alfred Thayer Mahan. Họ nhận ra tầm quan trọng của một hải quân mạnh mẽ như một con át chủ bài trong việc đàm phán với các nước khác điều mà Trung Quốc giờ đây học lại bài học xa xưa của Nhật Bản. Người Nhật bắt chước chiến lược của Mỹ về “Ngoại giao súng” trong thời kỳ Tokugawa, và sử dụng nó thành công trong việc xâm lược bán đảo Triều Tiên và Đài Loan.

Chính sách “Ngoại giao Cảnh Sát Biển”

Sau khi Nhật Bản bại trận và đầu hàng ở Đệ Nhị Thế chiến, Hoa Kỳ thay mặt quân đội Đồng minh tiếp quản và giải giới quân đội Nhật. Tướng Douglas MacArthur, tư lệnh quân đội đồng minh tại Nhật Bản lúc đó đã cho soạn thảo bản Hiến pháp của Nhật Bản theo 3 nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc thứ 2 nêu rõ một số điểm chính yếu: “Nhật Bản phải từ bỏ việc phát động chiến tranh, từ bỏ cả quyền sử dụng chiến tranh nhằm mục đích giải quyết tranh chấp. Không được sử dụng chiến tranh làm mục đích bảo vệ ngay cả để bảo vệ sự an toàn của nước mình. Trong hiện tại và cả tương lai, Nhật Bản sẽ không có quyền có quân đội gồm hải, lục, không quân. Nhật Bản không có quyền giao chiến”.
Theo hiệp ước và hiến pháp ký kết sau chiến tranh, nền an ninh lãnh thổ quốc gia Nhật Bản đặt hoàn toàn dưới sự bảo hộ của quân đội Mỹ, tuy nhiên hiệp ước liên minh giữa Hoa Kỳ-Nhật Bản chỉ giới hạn trong việc bảo vệ lãnh thổ Nhật Bản. Do vậy Nhật Bản không có quân đội chính thức mà chỉ có Lực lượng Phòng vệ bao gồm ba lực lượng chính là Lực lượng Phòng vệ mặt đất, Lực lượng Phòng vệ hàng hải và Lực lượng Phòng vệ hàng không.
Theo thời gian, dưới sự bành trướng và sức ép của Trung Quốc, một phần chủ quyền biển đảo bị uy hiếp như quần đảo Điếu Ngư (Sensaku) dù đang dưới quyền quản lý của Nhật Bản nhưng bị Trung Quốc tranh chấp đòi chủ quyền. Vấn đề của phần còn lại là vùng biển Đông vốn là con đường giao thương huyết mạch trên biển của Nhật Bản bị Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đến 80-90% và có nhiều hành động quân sự, gây cản trở sự tự do trong hàng hải giao thương. Điều khẩn thiết nhất đối với nước Nhật là biển Đông lại là một tuyến đường vận chuyển hàng hải quan trọng cho 80% đến 90% nguồn cung cấp năng lượng của nước Nhật.
Chính vì những quan ngại trên, ngày 18 tháng 12 năm 2017, Thủ tướng Shinzo Abe đã kêu gọi một cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng để thảo luận về các kế hoạch của ông trong việc mở rộng chiến lược nhằm tăng cường hệ thống an ninh hàng hải của Nhật Bản. Đặc biệt, ông nhấn mạnh sự cần thiết của Cảnh Sát Biển Nhật Bản (JCG) cần phát triển và nâng vai trò, tầm hoạt động và quy mô lên một bước cao hơn nữa vì nó có vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu của mình, quan trọng nhất là thúc đẩy hợp tác quốc tế bằng cách chia sẻ các giá trị của Nhật Bản, quy định của pháp luật hàng hải với các quốc gia liên quan để thực hiện vùng chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở trong giao thương trên biển.

Tàu khu trục trực thăng của Lực lượng Phòng vệ Hàng Hải lớp Izumo. Có khả năng cải biến để dùng cho máy bay F35A
Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản (JMSDF) cũng có khả năng thực hiện những vai trò này một cách hiệu quả. Vậy tại sao họ không được giao nhiệm vụ đóng vai trò chủ đạo trong việc tăng cường hệ thống an ninh hàng hải của Nhật Bản? Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản có đủ thẩm quyền và sức mạnh hải quân để bảo vệ các con đường truyền thống hàng hải của Nhật Bản. Trong khi Cảnh Sát Biển Nhật Bản được công nhận là cơ quan Cảnh Sát bảo vệ bờ biển đầu tiên ở châu Á. Nó vốn được thành lập vào năm 1948, mặc dù ban đầu chức năng chỉ là là Cơ quan an toàn hàng hải. JCG đã được tổ chức lại nhiều lần kể từ khi thành lập, và vai trò được xác định của nó, các nhiệm vụ cụ thể, và thẩm quyền hàng hải đã mở rộng đáng kể trong suốt những năm qua. Việc Cảnh Sát Biển Nhật Bản (JCG) chiếm vị trí ghế trước trong chiến lược hàng hải của quốc đảo này khá là khó hiểu nhưng có lý do của nó sẽ được trình bày dưới đây.

Tàu tuần duyên của Cảnh Sát Biển Nhật Bản
Biển Đông trong những thập kỷ qua đã là mối quan tâm hàng đầu, nó đe dọa tuyến đường hàng hải truyền thống và các thương thuyền của Nhật Bản. Chúng bao gồm các mối đe dọa vi phạm tự do lưu thông, cướp biển, các vấn đề an toàn hàng hải và các tranh chấp giữa bốn quốc gia ASEAN với Trung Quốc. Những mối đe dọa an ninh phi truyền thống hiện ra nhập nhằng trong vùng biển Đông Nam Á đòi hỏi các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải đủ mạnh mẽ mới có thể đảm bảo sự an toàn của tàu thuyền lưu thông trên vùng biển này. Điều này cũng đòi hỏi cần một cơ quan chuyên nghiệp am tường luật pháp hàng hải quốc tế để ngăn chặn các sự cố hàng hải, cải thiện khả năng tìm kiếm và cứu nạn, phòng ngừa ô nhiễm hàng hải và chữa cháy… Cân nhắc các mối đe dọa và sự yếu kém phức tạp của các quốc gia ven biển Đông Nam Á trong việc ứng phó với những vấn đề này ở Biển Đông, và những hạn chế cùng sự nhạy cảm về quá khứ lịch sử của các quốc gia trong vùng đối với Nhật Bản, Nhật Bản chỉ có thể dùng Cảnh Sát Biển (JCG) để bảo vệ tuyến đường hàng hải (SLOC) của mình thôi thay vì dùng Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản.
Một lực lượng Cảnh Sát Biển chuyên nghiệp am hiểu pháp luật mới có thể giải quyết hiệu quả những vấn đề phức tạp đã và sẽ xuất hiện. Cảnh Sát Biển chính là một công cụ hiệu quả được sử dụng trong việc bảo vệ SLOC không chỉ cho Nhật Bản mà còn của các quốc gia liên quan trong vùng. Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), các quốc gia đã công nhận sự cần thiết phải tạo ra một cơ quan hàng hải khác với hải quân, thực thi pháp luật trên biển, quản lý tài nguyên biển và bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Tuy nhiên nước Nhật không chỉ nghĩ riêng cho riêng mình mà còn nâng tầm quan trọng của Cảnh Sát Biển trong việc bảo vệ bờ biển, các tuyến hàng hải, mà còn phát triển hợp tác quốc tế và khu vực về các vấn đề hàng hải khác nhau. Cảnh Sát Biển Nhật Bản (JCG) đã trở thành trung tâm quyền lực mới nổi lên trong khuôn khổ an ninh hàng hải Đông Nam Á, và sự lãnh đạo này được các nước láng giềng Đông Á đón nhận và được công chúng Nhật Bản chấp nhận. Cảnh Sát Biển Nhật (JCG) có thể giữ chìa khóa để thiết lập một mạng lưới hợp tác hàng hải khu vực được chấp nhận cho các quốc gia nhạy cảm với vấn đề chủ quyền ở Đông Nam Á.
Thông qua sự hỗ trợ của mình trong việc xây dựng năng lực ở Đông Nam Á bằng cách sử dụng Cảnh Sát Biển (JCG), Nhật Bản không chỉ bảo vệ các tuyến đường biển cho riêng mình mà còn thể hiện sự tích cực như là một đối tác an ninh khu vực với các quốc gia ven biển khác. Trong những thập kỷ qua, sự xuất hiện của các cơ quan bảo vệ bờ biển trong khu vực đã được xúc tác bởi sự hỗ trợ của chính phủ Nhật Bản thông qua việc hỗ trợ phát triển hải ngoại của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA). Điều này không chỉ giới hạn trong việc đào tạo mà còn bao gồm phần tài trợ như tàu tuần tra hay thiết bị.
Năm 2005, Cơ quan thực thi hàng hải Malaysia (MMEA) mới thành lập đã yêu cầu sự giúp đỡ của JCG trong việc đào tạo nhân sự cho mình. MMEA hợp tác với JICA vào tháng 3 năm 2006, Nhật Bản đã đưa hai tàu tuần tra đến, JCG hợp tác cùng MMEA để giúp họ trong nỗ lực chống cướp biển. JCG cũng liên tục cung cấp đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho MMEA trong một quan hệ đối tác tiếp tục cho đến ngày hôm nay.
Tương tự như vậy, Nhật Bản đã tham gia cùng Lực lượng Cảnh Sát Biển Philippines (PCG) trong nhiều thập kỷ. Năm 1998, ngay sau khi được xếp loại là một cơ quan hàng hải phục vụ dân sự, PCG đã nhận được sự trợ giúp thiết bị từ Nhật Bản để phát triển khả năng an toàn và ngăn chặn ô nhiễm môi trường biển. Năm 2002, Nhật Bản tài trợ chương trình đào tạo 5 năm với sáng kiến ​​phát triển nguồn nhân lực JICA-PCG, với mục tiêu nâng cao năng lực của nhân viên Philippines thông qua một loạt các khóa học và hoạt động thực thi pháp luật. Vào năm 2007, Nhật Bản đã đào tạo 2.000 quan chức Cảnh Sát Biển cho Philippines trong nhiều khía cạnh khác nhau của các hoạt động an ninh hàng hải, bao gồm các bài tập kết hợp với JCG. Trong năm 2013, một năm sau khi sự cố Scarborough Shoal thuộc Philippines chống lại Trung Quốc, JICA đã được phê duyệt một khoản vay để xây dựng 10 tàu dài 40 mét với nhiều mục đích khác nhau (Multi-Role Response – MRRV).
Cảnh Sát Biển của Việt Nam được thành lập vào năm 1998 và trở thành Việt Nam Coast Guard (VCG), hoạt động độc lập với các lực lượng hải quân từ năm 2008. Kể từ đó, Nhật Bản đã tích cực ủng hộ VCG thông qua đào tạo và nguồn nhân lực phát triển, cũng như các cuộc tập thao dợt, trao đổi kinh nghiệm chung giữa JCG và VCG được tiến hành vào các tháng 9. Hơn nữa, chính phủ Nhật Bản cũng đã bày tỏ cam kết của mình trong việc phát triển VCG bằng cách cung cấp thiết bị và tàu cần thiết thông qua viện trợ phát triển.
Liên quan đến Indonesia, JCG đã phối hợp với JICA hỗ trợ trong việc thành lập Indonesia BAKORKAMLA, phục vụ như là một cơ quan điều phối thực thi pháp luật hàng hải. Chính phủ Nhật Bản cung cấp ba tàu tuần tra để tăng cường khả năng của Cảnh Sát Biển Indonesia trong việc thực hiện các hoạt động chống cướp biển vào năm 2006 và cung cấp một khoản trợ cấp hàng triệu USD để thiết lập một hệ thống kiểm soát giao thông tàu để theo dõi các hoạt động hàng hải hiệu quả hơn ở Eo biển Malacca và Singapore.

Kết luận

Một quốc gia đảo có nguồn tài nguyên khan hiếm và phụ thuộc vào tuyến thương mại hàng hải để sinh tồn, Nhật Bản phải liên tục xác định lại chiến lược hàng hải của mình. Chiến lược ngoại giao của chiến hạm Mahanian trước đây đã mở mắt của Nhật Bản về tầm quan trọng của việc kiểm soát không gian biển. Tuy nhiên, đối với một nước Nhật Bản hòa bình ngày nay, sức mạnh quân sự không còn là một lựa chọn để bảo vệ giao thông thương mại biển của họ nữa.
Thay vào đó, Nhật Bản đã định nghĩa lại sức mạnh bằng con đường ngoại giao của họ. Bằng cách sử dụng Cảnh Sát Biển như một công cụ chính sách đối ngoại có hiệu quả hơn vào giai đoạn này. Chính sách ngoại giao bảo vệ bờ biển mà họ đã sử dụng trong những năm qua là một cách tiếp cận hiệu quả để thuyết phục các quốc gia ven biển rằng hợp tác mang lại lợi ích cho cả hai bên. Kết quả là động lực để phát triển bảo vệ bờ biển trong khu vực Đông Nam Á đã xác định lại rõ rệt.
Trong khi Trung Quốc tập trung vào sức mạnh quân sự và có chính sách “Ngoại giao bẫy nợ” dựa vào đầu tư và tiền mặt để đạt mục đích chiếm đoạt và sở hữu các vị trí chiến lược làm bàn đạp tiến ra thế giới, thì Nhật Bản lại có chính sách “Ngoại Giao Cảnh Sát Biển” nhưng với mục tiêu và vai trò là bảo vệ bờ biển trong an ninh hàng hải, duy trì một trật tự hàng hải hòa bình và tự do.
Chắc chúng ta sau khi nhận định xong cục diện cũng đã nhận ra ở Châu Á, ai đang có ý định bành trướng sức mạnh và ai đóng vai trò tích cực hàng đầu trong việc bảo vệ quyền lợi hàng hải và tự do hàng hải trong thế giới ngày nay.
Thanh Nhàn
Bài viết dựa vào nguồn từ
  • Wikipedia
  • Pacific Forum CSIS, Honolulu

Loading

Views: 0

Vietnam’s sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagos under Nguyen dynasty

The Nguyen dynasty ruled the country from 1802 to 1945 when its last king, Bao Dai, abdicated and handed over the royal seal and sword to the Provisional Revolutionary Government after the August 1945 Revolution succeeded.

Under its reign, the Nguyen dynasty expanded its territory southward, managed the country in every village, developed a legal system, typically the Gia Long Code, and created some worldwide-recognized heritages such as Hue Imperial City, Hue Royal Court Music, and carved wood blocks. Particularly, it carried on the state management, protection and exercise of the national sovereignty over Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes.

Coming to the throne in 1802, King Gia Long, though busy with royal affairs, never neglected the mission of protecting and establishing the control over sea and island regions handed down by his forefathers. It is widely known that under the Nguyen Lords’ rule, Hoang Sa and Bac Hai flotillas were set up with crew members largely from Quang Nam and Quang Ngai provinces. Under the reign of the Nguyen Kings, Hoang Sa flotilla was maintained to patrol and control the sea and island regions on behalf of the royal court. Historical documents reveal that all the Nguyen Kings considered Hoang Sa flotilla a vanguard and unique force to enforce the monarchical management of Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes.

In 1815, King Gia Long ordered Hoang Sa flotilla, under the command of Pham Quang Anh (a resident of Ly Son island, Quang Ngai province), to cross the sea to Hoang Sa “for the exploration of sea routes.”1

King Minh Mang, who succeeded King Gia Long and ruled the country from 1820 to 1841, continued with the management, patrol and control of Hoang Sa and Truong Sa regions in a more comprehensive and profound manner. According to historical documents, the King organized and sent troops for exploration, management and patrol of sea and island regions through various activities, from map drawing to sovereignty marker planting, temple building, tree planting, etc., as signs of recognition.

In 1834, King Minh Mang ordered “team leader Truong Phuc Si to travel by boat together with more than 20 sailors to Hoang Sa island of Quang Ngai province for map drawing.”2

Dai Nam6 Nhat Thong Toan Do (The Complete Map of the unified Dai Nam – the map of Viet Nam under the Nguyen Dynasty in 1883) indicated that “Hoang Sa” and “Van Ly Truong Sa” are Vietnamese territories. These archipelagoes were depicted to be further offshore compared to those near the central coast.

The King himself time and again sent troops to patrol and control Hoang Sa and Truong Sa regions. Being well aware of the material traces on these groups of islands, the Nguyen dynasty regarded them as part and parcel of the territory under its management. In 1835, after the map drawing was completed, King Minh Mang ordered troops to apply different measures affirming the national sovereignty, as described in the following paragraph:

On Hoang Sa bank in the territorial waters of Quang Ngai there is a white sand expanse with green trees, a well in the center, an ancient temple in the southwest with a stele engraved with the words “Van ly ba binh” (Tens of thousands of miles in calming waves), which has an ancient name Phat Tu mountain and is measured 1,079 ‘truong’ (a ten-yard measuring unit) in perimeter, and coral reefs winding along its eastern, western and southern coasts. To the north, it borders on a coral reef of 430 ‘truong’ in perimeter and 1.3 ‘truong’ in height, which was called ‘Ban Than’ Rock. Last year, the King ordered erection of a temple and a stele there but this work was not done yet. Now, he dispatched commander Pham Van Nguyen together with soldiers and hired boatmen from Quang Ngai and Binh Dinh provinces to  transport building materials there to build a temple (seven ‘truong” away from the ancient temple). To the left of the temple, a stone stele was erected; in front of the temple, a screen was built. The work was completed after 15 days.”3

In 1836, the King ordered Pham Huu Nhat to command a flotilla to go to Hoang Sa for surveying, inspection, marker planting and map drawing.4

Like the previous monarchies, the Nguyen dynasty also organized its state apparatus into six ministries: Bo Hinh (in charge of legal affairs and adjudication); Bo Binh (in charge of military affairs and war); Bo Cong (in charge of construction, repair and dykes); Bo Le (in charge of education, culture and public health); Bo Lai (in charge of management, appointment, posting, recommendation of mandarins); and Bo Ho (in charge of financial and tax matters, household management). For the patrol, control and management of seas and islands, Bo Binh, especially the naval force, was tasked to defend the national sovereignty over sea and island regions while Bo Cong played a certain role in enforcing royal orders. In 1836, in its report, Bo Cong proposed:

From now on, by the end of every first lunar month, a marine and guard force should be selected and sent to Quang Ngai province in early second moon, asking Quang Ngai and Binh Dinh provinces to hire four boats of local inhabitants to guide the way to Hoang Sa.”5

Once again in 1836, commander Pham Huu Nhat was dispatched to Hoang Sa to protect the national sovereignty. This time, he brought along 10 wood tablets to be erected there as markers; the tablets are engraved with the words: Minh Mang the 17th, the year of Binh Than…”6 Clearly, the planting of these wood tablets is nothing but planting land border markers on Hoang Sa archipelago.

King Minh Mang was fully aware of the role and position of seas and islands in territorial expansion and national defense. He tightened royal discipline and severely punished mandarins who failed to fulfill their duties and rewarded those who did their work well. This can be seen in his decree issued in 1835:

Particularly, team leader Pham Van Nguyen, who delayed his mission, will receive 80 strokes of the cane. Supervisors Tran Van Van, Nguyen Van Tien, Nguyen Van Hoang, who carelessly drew maps would be punished with 80 strokes of the cane. Marine guides Vo Van Hung and Pham Van Sanh will be rewarded with silver coins; construction soldiers and hired workers from Quang Ngai and Binh Dinh provinces will be rewarded each with a sum of hundred coins.”7

During his short reign (1841-1847), King Thieu Tri, who succeeded Minh Mang, carried on the protection of the national boundaries and islands left behind by his forefathers. He continued to maintain the patrol and control of Hoang Sa archipelago, sending troops there for surveying and mapping.

King Tu Duc sat on the throne from 1847 to 1883 when the country was confronted with the eminent invasion by French colonialists who forced the Royal Court to sign a number of accords recognizing their interests and presence in Vietnam. Hence, the King could not do much for the protection of national seas and islands. However, the monarchy never forgot the country’s territorial waters and islands. “Dai Nam Nhat Thong Chi” (the Geography of Unified Great Vietnam), a book written during King Tu Duc’s rule, reads:

Hoang Sa lies east of Re islet, which can be reached by boats after three to four days and nights of smooth sail from Sa Ky port. It is composed of more than 130 islands. Found on the archipelago is a vast golden sand bank, stretching for several thousands of miles, which is known as ‘Van ly truong sa’ (Long sand bank of tens of thousands of miles), where the water is crystal clear and a freshwater well found; sea birds gather in great numbers. Also there are various kinds of marine resources such as shellfish, sea cucumber, turtle…8

From the time of King Thieu Tri on, the Nguyen dynasty had not enough resources and time to prioritize the protection of national territorial waters as French colonialists intervened more deeply into domestic affairs, not to mention many unstable social upheavals then. During their reign, the Nguyen Kings made great efforts in expanding the national territory and firmly defending the air space and sea areas of the country, including the continuous exercise of the national rights to manage Hoang Sa and Truong Sa archipelagos, which were handed down by the previous monarchies. This can been seen as a great achievement recorded by the Nguyen dynasty in the 19th century./.

MSc. Do Danh Huan
History Institute of Vietnam

1 The Nguyen Dynasty Historical Bureau, Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien (Veritable Records of Great Vietnam), vol. IV, History Publishing House, Hanoi, 1963, p.245.
2 The Nguyen Dynasty Historical Bureau, Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien, vol. IV, Education Publishing House, 2007, p.120.
3 The Nguyen Dynasty Historical Bureau, Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien, vol. IV, Education Publishing House, 2007, p. 673.
4 The Nguyen Dynasty Historical Bureau, Quoc Trieu chinh bien toat yeu (Official Accounts of Dynasties), Thuan Hoa Publishing House, 1998, p. 274.
5 The Nguyen Dynasty Historical Bureau, Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien, vol. IV, Education Publishing House, 2007. p.867.
6 Ibid, p.867.
7 “Xua va Nay” (Past and Present) Review, Issue No. 63B, 1999, p.20-21.
8 The Nguyen Dynasty Historical Bureau, Dai Nam Nhat Thong Chi (Geography of the Unified Great Vietnam), Thuan Hoa Publishing House, 1992, p. 422.

Loading

Views: 0

Những kẽ hở pháp lý trong bản đồ Biển Đông 1951 của TQ

Truyền thông Trung Quốc mới đưa tin, các nhà khoa học nước này đã phát hiện một bản đồ lịch sử phân định ranh giới hành chính và quốc gia của Trung Quốc ở Biển Đông. Điều đó có nghĩa là gì khi Trung Quốc đang tích lũy bằng chứng để củng cố quyền lãnh thổ của mình cho tuyên bố về “Đường 9 đoạn” ở Biển Đông. 

Giáo sư Carl Thayer thuộc Đại học New South Wales ở Canberra, Học viện Quốc phòng Australia, đã có những nhận định như sau: Trong luật pháp quốc tế, một bản đồ không thể được dùng để khẳng định chủ quyền về lãnh thổ, trừ phi nó được gắn với một hiệp ước. Bản đồ 1951 “mới phát hiện” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý, nó không phải do Chính phủ Trung Quốc ban hành mà chỉ được Câu lạc bộ Guanghua and Geosciences đưa ra. Phát hiện này không trao cho Trung Quốc quyền có được chủ quyền ở đó.

Theo Luật pháp quốc tế, tuyên bố chủ quyền lãnh thổ phải dựa trên sự chiếm đóng và quản trị liên tục. Hoàn toàn không có bằng chứng cho thấy cộng đồng quốc tế chấp nhận bản đồ này. Rất đơn giản, những đặc điểm mà các nhà khoa học Trung Quốc nay tuyên bố hoặc là bị các cường quốc thực dân chiếm đóng hoặc là bị bỏ không (và có khả năng không thể sinh sống được) tại thời điểm đó.

Theo luật pháp quốc tế, vùng đất phải cao hơn mặt biển và Philippines, Việt Nam, Malaysia đều được hưởng một Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý tính từ đường cơ sở ven biển.

Nếu Trung Quốc chính thức thông qua bản đồ này thì sẽ tuyên bố chủ quyền đối với các vùng nước và nguồn tài nguyên bao trùm lên các khu vực mà các quốc gia ven biển có quyền tài phán chủ quyền. Điều này sẽ làm trầm trọng thêm tình hình hiện tại vì Tòa Trọng tài đã nghe những khiếu kiện của Philippines chống Trung Quốc và đã ra phán quyết về vấn đề này.

Nếu Chính phủ Trung Quốc chấp nhận bản đồ này, sẽ dẫn đến một cuộc đối đầu thực chất giữa hải quân, cảnh sát biển và ngư dân Trung Quốc với những nước ven biển khu vực khi tiếp cận các nguồn tài nguyên trên biển. Đó sẽ là bước khởi đầu cho sự kích động và thụt lùi.

Nếu Trung Quốc tuyên bố một đường ranh giới hình chữ U liền kề mới thì sẽ tự đưa mình vào một cuộc xung đột với những cường quốc hàng hải chính thường xuyên có có tàu thuyền và máy bay qua khu vực này.

Chúng ta biết từ các nghiên cứu lịch sử rằng bản đồ năm 1947 do nước Cộng hòa Trung Hoa (ROC) vẽ ra, trước khi buộc phải đưa đến Đài Loan, về cơ bản lấy từ các bản vẽ tạm thời của hải quân Anh giai đoạn đó vì ROC không có phương tiện để tiến hành các cuộc khảo sát. Các nhà vẽ bản đồ của ROC đã sao chép các đặc trưng trên bản đồ của hải quân Anh, kể cả những lỗi mà sau này được hải quân Anh chữa lại, và tìm cách chuyển các tên tiếng Anh sang tiếng Trung.

Các quan chức ROC không quen với các thuật ngữ về hàng hải và đã gặp nhiều khó khăn khi chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Trung. Chẳng hạn, bãi James Shoal ban đầu được dịch như một dải cát và nay được gọi phổ biến là rạn san hô. Trên cơ sở đó, Trung Quốc tuyên bố bãi James Shoal là vùng đất xa nhất của nước này ở Biển Đông. Thực tế, bãi James Shoal nằm ngập dưới nước hơn 20m. Tóm lại, có khả năng là một bản đồ được vẽ vào năm 1951 tiếp tục có những lỗi tương tự như vậy.

Một bản đồ không có vị thế cụ thể trong luật pháp quốc tế để hỗ trợ cho một tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc cần cung cấp bằng chứng chiếm đóng và duy trì quyền quản lý liên tục đối với những thực thể đất đó (các đảo và bãi đá). Khẳng định rằng cộng đồng quốc tế chấp nhận bản đồ này là không đúng thực tế. Pháp tiếp tục chiếm giữ các đảo đá ở quần đảo Hoàng Sa cho tới tận năm 1954. Vào thời điểm đó, Việt Nam và Malaysia chưa phải là một đất nước độc lập.

Đường hải giới 11 đoạn ban đầu của ROC đã được chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) giảm xuống còn 9 đoạn và rồi trong những năm gần đây mở rộng lên 10 đoạn bao gồm cả Vùng lãnh thổ Đài Loan. Nói cách khác, những đường ranh giới này có thể thay đổi để phù hợp với các mục tiêu chính trị của Bắc Kinh.

Có ý kiến cho rằng bản đồ năm 1951 mới được phát hiện có thể được dùng làm cơ sở phân định ranh giới chính xác cho những tuyên bố lịch sử của Trung Quốc về chủ quyền ở khu vực này khi phải đối mặt với cả lịch sử và luật pháp quốc tế. Các nhà khoa học Trung Quốc dường như đang tìm cách thúc đẩy tuyên bố đối với các quyền lịch sử rằng phán quyết của Tòa trọng tài thường trực đưa ra trong vụ kiện của Philippines chống Trung Quốc là không hợp lệ. Các quyền lịch sử được định nghĩa rõ ràng trong luật quốc tế bao gồm các khu vực hàng hải liền kề được chia sẻ thông thường giữa hai hay nhiều quốc gia; nó không bao gồm một tuyên bố trong phạm vi toàn bộ một vùng biển như Biển Đông.

Sáng kiến hiện nay của các nhà khoa học Trung Quốc là để cung cấp độ chính xác cho Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) đường ranh giới 9 đoạn của Trung Quốc bằng cách liên kết các dấu gạch ngang và xác định chiều rộng của chúng, để từ đó tuyên bố toàn bộ các nguồn tài nguyên trong vùng nước và đáy biển kèm đường ranh giới mới này là một ví dụ cho chủ nghĩa siêu dân tộc Trung Quốc nếu không phải là chủ nghĩa Đại Hán.

Tuyên bố của Trung Quốc hoàn toàn bác bỏ các quyền của người dân bản địa ở những nước ngày nay là Philippines, Việt Nam, Malaysia và Indonesia, những nước đã sở hữu vùng biển này từ rất lâu trước khi ngư dân và nhà thám hiểm Trung Quốc xuất hiện.

Như đã nói ở trên, Tòa Trọng tài nhận thấy đường ranh giới 9 đoạn của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở trong luật pháp quốc tế. Tòa cũng phán quyết rằng Trung Quốc không thể bao vây quần đảo Trường Sa bằng một đường cơ sở đó. Tuyên bố chủ quyền khu vực hàng hải phải bắt nguồn từ đất liền. Tòa đã phán quyết không hòn đảo nào trong quần đảo này có ý nghĩa pháp lý. Do đó, không có bất kỳ đảo hay bãi đá nào mà Trung Quốc tạo ra có thể yêu cầu EEZ 200 hải lý. Quy định hợp pháp này phủ nhận tuyên bố của các nhà khoa học Trung Quốc đối với tất cả các nguồn tài nguyên nằm trong đường 9 đoạn đó.

Nỗ lực của các nhà khoa học Trung Quốc nhằm chứng minh một tuyên bố lịch sử bất hợp pháp có thể làm gián đoạn nghiêm trọng các cuộc đàm phán đang diễn ra giữa Trung Quốc với các nước thành viên ASEAN nhằm đạt Bộ quy tắc ứng xử ràng buộc về mặt pháp lý của các bên ở Biển Đông. Sự không trung thực của các nhà khoa học Trung Quốc đó sẽ đánh vào quyền tự do hàng hải và quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên mà các nước có tuyên bố chủ quyền ở Đông Nam Á vốn được hưởng một cách hợp pháp.

Trang mạng Asia Times bình luận về bản đồ 1951 rằng phát hiện “chỉ mới được tìm thấy” thông qua một cuộc nghiên cứu tư liệu quốc gia này có thể là ý đồ mới nhằm củng cố, thậm chí là mở rộng những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trong vùng Biển Đông, một cái cớ để Bắc Kinh chứng minh về mặt pháp lý tấm bản đồ có “Đường 9 đoạn” của nước này. “Đường chữ U” (hay “Đường lưỡi bò”) trong tấm bản đồ in năm 1951 được nối liền liên tục, thay vì đứt đoạn như trong tuyên bố gần đây của Trung Quốc.

Tuy “phát hiện” được cho là kết quả tìm tòi của các nghiên cứu độc lập nổi tiếng ở Trung Quốc, song học giả Richard Javad Heydarian, hiện đang làm việc tại Manila và hợp tác với Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cũng như Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR) lại đặt câu hỏi liệu kết quả này có bị Chính phủ Trung Quốc tác động hay không, nhất là trong bối cảnh dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, các viện hàn lâm tại quốc gia này thường bị kiểm soát khá chặt chẽ.

Nghi vấn này được cho là rất có cơ sở bởi ngày 22/4 vừa qua tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng đã tiết lộ việc Trung Quốc đang thực hiện một sự án nghiên cứu hải dương, với mục tiêu vạch ra “đường ranh giới mới” trên Biển Đông với cái gọi là “Đường 9 đoạn” hay “đường lưỡi bò” nối liền.

Thực tế, nhiều chuyên gia cho rằng đây là nỗ lực mới nhất của Bắc Kinh nhằm khôi phục hình ảnh của mình sau thất bại về mặt pháp lý trong vụ kiện tại Tòa Trọng tài vào năm 2016.

Asia Times bình luận: “Nếu Bắc Kinh thừa nhận các tuyên bố của giới học giả, căng thẳng âm ỉ với các nước tuyên bố chủ quyền nhỏ bé hơn ở Đông Nam Á, những nước phản đối gay gắt việc Trung Quốc tăng cường sự hiện diện về mặt quân sự và có những hoạt động bồi đắp quy mô lớn, sẽ lại bùng lên”. Điều rõ ràng hơn mà người ta có thể dự đoán được là Trung Quốc sẽ vẫn quyết tâm tìm cách đưa ra những bằng chứng và lý lẽ pháp lý “nửa mùa” để bao biện cho tham vọng của mình ở Biển Đông.

BDN

Loading

Views: 0

Gallery showcases sovereignty over offshore island

These days many eyes are on the Hoang Sa exhibition house in the central city of Da Nang. The venue is home to historical documents, objects and images on Vietnam’s Hoang Sa (Paracel) archipelago.

Covering nearly 1,270 square metres on Hoang Sa Street, Son Tra district, the construction of the exhibition house started in December 2018 with total investment of nearly 1.9 million USD.

The construction is designed as an adaption of the seal for Vietnamese sovereignty under the Nguyen Dynasty to represent the connection between the past and present, while reaffirming that Vietnam has established and exercised its sovereignty over the archipelago, at least from the rule of the Nguyen Lords.

According to Dang Cong Ngu, Former Chairman of Hoang Sa district People’s Committee, Da Nang city, given that Hoang Sa archipelago is being occupied, the exhibition house is expected to inspire Vietnamese people to continue fighting for national sovereignty over the islands.

Its central area features a replica of Hoang Sa Archipelago’s sovereignty column, which was built in 1938 by the French. The column reaches from the first floor to the third floor.

The exhibits at the four-storey building are arranged into various topics, including the geographic location and natural conditions of Hoang Sa in ancient documents dated before the Nguyen Dynasty and during the Nguyen Dynasty (1802-1945); historical evidence of Vietnam’s sovereignty over the archipelago from 1954 to 1974 and from 1975 to the present.

Chinese people in the past didn’t consider Hoang Sa and Truong Sa part of their territory as many documents by Chinese people indicate the fact, said Tran Duc Anh Son, Deputy Director of Institute for Socio-Economic Development in Da Nang. “I even found a valuable document in Harvard University. The 200-page book under Qianlong dynasty affirms that Hainan Island is China’s southernmost point.”, he added.

Besides historical documents, various artifacts are also displayed here, such as belongings of the first naval soldiers to Hoang Sa archipelago and a 100 square metre Vietnamese flag made by an 80-year-old woman, which was presented to Hoang Sa island district in 2010. The exhibits have brought Hoang Sa closer to Vietnamese hearts.

Le Thi Nhat Linh, a pupil of Hoàng Sa secondary school, Da Nang city told reporters: “When visiting the exhibition centre, I can acquire lots of knowledge on national sovereignty which I used to read only in books.”

While Le Tran Kim Anh, another pupil from the school said: “We will do our best to promote the centre to our friends so they can have a better insight into the archipelago whose name is acquired by our school.”

The venue is expected to raise awareness among people, especially youths, on Vietnam’s sovereignty over the two archipelagos, Hoang Sa and Truong Sa, and the importance of protecting the national sea and islands.-VNA

Loading

Views: 0

Thời báo Hoàn Cầu nói gì về vụ xâm lược, thảm sát Gạc Ma?

Trường Sa

Tác giả: Hồng Thủy

30 năm sau ngày diễn ra vụ thảm sát Gạc Ma, một số học giả Trung Quốc đã lên tiếng thông qua Thời báo Hoàn Cầu. Chúng tôi xin dẫn lại và có đôi lời phản biện.

Ngày 14/3 là vừa tròn 30 năm ngày diễn ra sự kiện lính Trung Quốc thảm sát 64 chiến sĩ Công binh Hải quân Nhân dân Việt Nam đang làm nhiệm vụ xây dựng tại bãi đá Gạc Ma, Trường Sa, Khánh Hòa.

Thời báo Hoàn Cầu, Trung Quốc đã lên tiếng về sự kiện này.

Mục Tin tức quốc tế, Thời báo Hoàn Cầu phiên bản tiếng Trung Quốc ngày 14/3 đăng bài: “Trận chiến cuối cùng Trung Quốc đánh, người Việt Nam miêu tả khiến tôi kinh ngạc” của tác giả Bổ Nhất Đao, do Lý Lâm Chi biên tập.

Bổ Nhất Đao là bút danh / nick name của một cây viết thường xuyên tham gia bình luận các vấn đề quốc tế và quân sự trên các diễn đàn trực tuyến Trung Quốc.

Bài viết này có tham khảo ý kiến một số học giả Trung Quốc: Tư Trấn Đào – Viện Nghiên cứu Đông Nam Á; Tôn Tiểu Nghênh – Viện Khoa học xã hội Quảng Tây; Lưu Phong – chuyên gia Trung Quốc về biển.

Những thông tin, ý kiến này ở mức độ nào đó phản ánh nhận thức của giới nghiên cứu và cách thức tuyên truyền của Trung Quốc về Biển Đông có thể gây hiểu lầm và ngộ nhận cho những người Trung Quốc thiếu thông tin;

Chúng tôi xin dẫn lại nguyên văn bài viết này, đồng thời sẽ có phần bình luận sau mỗi vấn đề tác giả Bổ Nhất Đao và Thời báo Hoàn Cầu nêu ra.

Do bài viết khá dài, đề cập nhiều vấn đề về nhận thức, đánh giá của một bộ phận học giả Trung Quốc về quan hệ Việt – Trung cũng như Biển Đông, chúng tôi xin chia thành các bài nhỏ.

Bài viết sẽ theo từng vấn đề các tác giả Trung Quốc đặt ra, với kết cấu 2 phần: dẫn lại nguyên văn và bình luận, ngõ hầu làm rõ các vấn đề và lập luận phía Trung Quốc đặt ra.

Mô tả của học giả Trung Quốc, Thời báo Hoàn Cầu về cuộc thảm sát Gạc Ma

“Ngày này 30 năm về trước, 14/3/1988 đã xảy ra xung đột vũ trang giữa Hải quân Trung Quốc với Hải quân Việt Nam để tranh đoạt quyền kiểm soát bãi đá Gạc Ma (Trung Quốc gọi là đá / mỏm Xích Qua).

Quy mô xung đột không lớn và chỉ diễn ra trong 28 phút rồi kết thúc, Hải quân Trung Quốc đã giành thắng lợi tuyệt đối.

Đây là trận chiến cuối cùng mà Trung Quốc đánh.

Tuy nhiên sự kiện diễn ra cụ thể như thế nào không phải người Trung Quốc nào cũng nắm rõ, trong đó có một phần nguyên nhân chúng ta có chủ ý giảm nhẹ sự kiện này.

Hôm nay, chị Đao (tác giả tự xưng) dẫn mọi người cùng xem lại một chút (sự kiện này).

Thực tế, trận chiến này có liên quan mật thiết và ý nghĩa vô cùng quan trọng với cục diện Biển Đông ngày nay.

  1. Hãy bắt đầu từ năm 1987, lúc đó Trung Quốc được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) ủy thác xây dựng 5 trạm quan trắc hải dương, trong đó trạm quan trắc ở Trường Sa đặt tại Chữ Thập.

Vì vậy, chúng ta bắt đầu lục tục triển khai hoạt động khảo sát ở khu vực quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa).

Phía Việt Nam lập tức tỏ ra không vui, không ngừng phái hàng loạt tàu thuyền đến quấy rối, thậm chí chớp thời cơ chiếm các đảo, đá.

Hơn 1 giờ sáng ngày 14/3/1988, 7 chiến sĩ của chúng ta vượt sóng đổ bộ lên bãi Gạc Ma và cắm cờ Trung Quốc.

Hơn 6 giờ sáng khi thủy triều rút, phía Việt Nam bắt đầu đổ bộ, cũng cắm cờ Việt Nam lên bãi Gạc Ma.

Hai bên vừa tìm cách đoạt cờ đối phương và giữ cờ của mình, binh sĩ hai phía liên tục đối đầu nhau.

Trong quá trình tìm cách đoạt cờ của nhau, quân Việt Nam cướp cò nổ súng bị quân ta tự vệ đánh trả (theo hồi ức của cựu binh Tôn Minh Viễn trực tiếp tham gia trận Gạc Ma).

Toàn bộ cuộc chiến diễn ra vỏn vẹn 28 phút, 3 tàu hộ vệ và 1 binh lính quân ta bị thương là cái giá phải trả để bắn chìm 1 tàu Việt Nam, 1 tàu trọng thương, bắn chết hơn 60 binh lính Việt Nam để giành thắng lợi tuyệt đối.

Nay quay đầu nhìn lại mới thấy trận Gạc Ma có ý nghĩa chiến lược.

Sau trận này, Trung Quốc đã có 6 điểm đứng chân ở Trường Sa, có nghĩa là chúng ta đã tiến thêm được 500 – 600 km xuống phía Nam.

Tuy nhiên, để nổ ra xung đột thực chất hoàn toàn không phải mong muốn của ta.

Chỉ huy trận Gạc Ma lúc đó là tham mưu trưởng căn cứ Du Lâm, Trần Vĩ Văn, trong hồi ký của mình cho biết:

Lúc đó cấp trên truyền đạt nguyên tắc chiến đấu được tổng kết thành “5 không 1 đuổi”.

5 không là: không chủ động gây sự, không nổ súng trước tiên, không tỏ ra yếu đuối, không chấp nhận thua thiệt, không để mất thể diện;

1 đuổi là, nếu quân địch chiếm các đảo đá của ta, phải lập tức đuổi địch.

Sau khi xảy ra sự kiện này, chúng ta cũng có chủ ý tránh đề cập, tuyên truyền trong nước không nhiều.

Nhưng trận chiến này lại trở thành nỗi đau khó có thể hóa giải trong lòng người Việt Nam về quan hệ với Trung Quốc.

  1. Chị Đao rất kinh ngạc trước mô tả của Báo VietNamNet Bridge bản tiếng Anh về trận chiến này. 

Phía Việt Nam cho biết, lực lượng tham gia hải chiến năm xưa toàn là những công binh tay không tấc sắt;

Họ vì bảo vệ (chủ quyền) các đảo, đá của Việt nam mà buộc phải phải đương đầu với đội quân (xâm lược) mạnh hơn nhiều, với chiến hạm và vũ khí hiện đại, cuối cùng đã anh dũng hy sinh.

Tất nhiền điều này không đúng với tình hình thực tế.

Các tư liệu công khai cho thấy, trong trận hải chiến Gạc Ma phía Việt Nam có 2 tàu tham gia đều là tàu vận tải có vũ trang mà Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam trong chiến tranh, có trang bị súng máy.

Tàu 505 còn lại là tàu đổ bộ, có 8 khẩu cối 40 ly, như vậy có thể nói là vũ trang đầy đủ, chứ không thể bảo tay không tấc sắt.

Trong lúc chị Đao viết bài này thì có học giả chuyển đến tư liệu mới nhất từ phía Việt Nam tiết lộ, Báo Vietnamnet ngày 13/3 đăng bài: “Gạc Ma 1988: Công bằng là để cùng tiến bộ”. [2]

Bài báo này viết rằng những người “tay không tấc sắt bị buộc phải tự vệ” là bịa đặt. Những luận điệu như vậy năm nào đến ngày này cũng đều xuất hiện.” [1]

Những lập luận ngụy biện, sai sự thật của truyền thông và học giả Trung Quốc

Chúng tôi xin tạm không bàn đến những từ ngữ mang màu sắc lập trường chính trị (cực đoan) của các tác giả Trung Quốc trong phần đầu tiên của bài viết này.

Ở đây, chúng tôi chỉ xin trao đổi và làm rõ những lập luận chủ yếu mà truyền thông và học giả Trung Quốc nêu ra về vụ thảm sát Gạc Ma.

Thứ nhất, “cái bẫy núp danh UNESCO”

Việc Trung Quốc thiết lập 5 trạm quan trắc hải dương, trong đó có trạm quan trắc ở Trường Sa đặt tại đá Chữ Thập theo một thỏa thuận của UNESCO năm 1987, thỏa thuận này không có nghĩa là UNESCO công nhận yêu sách “chủ quyền” mà Trung Quốc tuyên bố ở Trường Sa.

Tiến sĩ Trần Công Trục sẽ có bài phân tích sâu hơn về thủ đoạn Trung Quốc sử dụng các tổ chức quốc tế để nhằm giành sự công nhận trên thực tế các yêu sách phi lý họ tuyên bố trên Biển Đông, mời quý bạn đọc quan tâm theo dõi vào ngày mai.

Thứ hai, về vấn đề bên nào nổ súng trước trên bãi Gạc Ma sáng 14/3/1988

Cho đến nay, hai bên có quan điểm khác nhau.

Chúng tôi xin nhấn mạnh rằng, dù bên nào nổ súng trước cũng không làm thay đổi bản chất sự kiện là một cuộc thảm sát lính Trung Quốc nhằm vào 64 chiến sĩ công binh Hải quân Nhân dân Việt Nam đang làm nhiệm vụ xây dựng trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Tác giả Bổ Nhất Đao và các học giả Trung Quốc được tham vấn, dựa vào hồi ký của một cựu binh Trung Quốc tham gia sự kiện này để dẫn tới kết luận ai nổ sung trước, e rằng thiếu khách quan.

Chúng tôi xin trích dẫn ra đây một đoạn bình luận của nhà báo Bill Hayton trong sách “Biển Đông – Cuộc tranh giành quyền lực ở châu Á” do nhà nghiên cứu Phan Văn Song dịch để các nhà nghiên cứu Trung Quốc tự rút ra kết luận:

“Tối 13 tháng 3, Hải quân Việt Nam phái 3 tàu chia nhau đi tới đá Gạc Ma, đá Cô Lin (Collins) và đá Len Đao (Lansdowne).

Thật không may cho những người trên tàu, các con tàu cũ rỉ sét này [37] đã bị phía Trung Quốc phát hiện, họ đã chạy tới ngăn chặn với một lực lượng lớn hơn và trang bị vũ khí nhiều hơn.

Rạng sáng ngày 14 tháng 3 năm 1988, Việt Nam chiếm được đá Cô Lin và Len Đao (và vẫn duy trì sự kiểm soát ở đó cho đến ngày nay).

Chiến dịch đá Gạc Ma biến thành thảm họa.

Đích xác chuỗi sự kiện là gì vẫn còn tranh cãi, nhưng có vẻ như Việt Nam đổ bộ trước trên một chiếc thuyền nhỏ chở đầy các dụng cụ xây dựng, và cắm cờ trên san hô.

Sau đó quân Trung Quốc đến và đã cố nhổ bỏ các lá cờ. Hai bên to tiếng với nhau và sau đó xô xát.

Các tường trình phía Trung Quốc nói rằng một lính Việt Nam nổ súng và làm bị thương một lính Trung Quốc sau đó họ rút lui khi các tàu Việt khai hỏa bằng súng máy.

Phía Việt Nam nói điều ngược lại: Trung Quốc bắn chết phó chỉ huy của lực lượng đổ bộ Việt Nam và rút lui trước khi tàu của họ nổ súng.

Điều lạ là một bộ phim tuyên truyền do Hải quân Trung Quốc đưa ra năm 2009 để chào mừng kỉ niệm lần thứ 60 của hải quân cho thấy phiên bản của Việt Nam đáng tin hơn.

Video này, bây giờ đã có trên YouTube, được quay từ một trong các tàu Trung Quốc và cho thấy lính Việt Nam đứng trong nước sâu tới gối khi thủy triều dâng lên các rạn san hô.

Sau đó nhiều cột nước lớn tung toé xung quanh các binh sĩ Việt Nam khi tàu Trung Quốc nổ súng.

Trong vài giây hàng người mong manh đã hoàn toàn biến mất và 64 chết trong sóng nước: các khẩu súng máy là của Trung Quốc và các nạn nhân là Việt Nam.”

falls es in deinem Browser deaktiviert sein sollte.</div></div>

Thứ ba, xâm lược Gạc Ma là hành động phi pháp có âm mưu lâu dài, tính toán kĩ lưỡng, chuẩn bị đầy đủ và tiến hành một cách sắt máu

Cuộc xâm lược và thảm sát Gạc Ma là hành động có kế hoạch, tính toán kỹ lưỡng chứ không phải “để nổ ra xung đột thực chất hoàn toàn không phải mong muốn của Trung Quốc” như các tác giả lập luận.

Ngày 17/8/2012 website Tin tức Đảng Cộng sản Trung Quốc (cpc.people.com.cn), mục Lịch sử Đảng đăng bài viết:

“Lưu Hoa Thanh và việc bố phòng ở Hoàng Sa, cướp đoạt các bãi đá Trường Sa”(Lưu Hoa Thanh dữ Tây Sa thiết phòng, Nam Sa đoạt tiêu). Bài viết này cho hay:

“Thực ra ngay từ năm 1974, Đặng Tiểu Bình đã nói, sân bay ở Hoàng Sa nhất định phải làm, vị trí đó trọng yếu, có thể tiến ra Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa), vươn ra Trường Sa và có thể khống chế Trường Sa.

Lưu Hoa Thanh đã nói với lãnh đạo Quân ủy (Đặng Tiểu Bình) rằng: “Hiện tại cơ hội của chúng ta đến rồi, quan trọng là quyết định và tiến hành thôi.”

Về việc này, người phụ trách chủ yếu của Quân ủy trung ương (chỉ Đặng Tiểu Bình) có thái độ rất kiên quyết:

“Chúng ta phải thể hiện rõ lập trường nghiêm túc, chủ quyền lãnh hải ở Trường Sa thuộc về chúng ta, và phải tăng cường khả năng kiểm soát quân sự của chúng ta ở Trường Sa.

Không chỉ có vậy, còn phải tăng cường tuần tra để thể hiện quốc uy, quân uy của chúng ta.

Về hoạt động đấu tranh trên hướng này, cần phải tăng cường lực lượng nào, xây dựng gì, anh nhanh chóng nghiên cứu và viết báo cáo cho tôi.”

Sau cuộc trao đổi này, Lưu Hoa Thanh cùng với các quan chức quân sự hàng đầu Trung Quốc bắt tay vào viết kế hoạch thôn tính Trường Sa. Những thành viên tham gia cùng Lưu Hoa Thanh gồm có:

Hồng Học Trí (Phó chánh văn phòng Quân ủy trung ương), Trì Hạo Điền (Tổng tham mưu trưởng), Trương Bân (Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần), Trương Liên Trung (Tư lệnh Hải quân), Lý Diệu Văn (Chính ủy Hải quân) bắt tay vào việc nghiên cứu, lập kế hoạch thôn tính Trường Sa.

Qua nhiều lần nghiên cứu và chuẩn bị, kế hoạch thôn tính Trường Sa hoàn tất, ngày 29/2/1988 Đặng Tiểu Bình đã phê chuẩn kế hoạch này trong vai trò Chủ tịch Quân ủy trung ương. [2]

Điều này hoàn toàn phù hợp với diễn biến thực tế theo nghiên cứu của Bill Hayton về sự chuẩn bị kĩ lưỡng của Trung Quốc trong kế hoạch thôn tính Gạc Ma:

“Dù đối mặt với kháng cự vũ trang và thời tiết xấu họ đã chiếm 6 rạn san hô chủ yếu nằm dưới mặt biển và chỉ trong vòng hai tháng đã xây dựng xong các nhà giàn sinh sống, các cơ sở tiếp tế và các ụ phòng thủ.

Hơn nữa, mỗi một trong 6 rạn san hô này là vị trí chiến lược nằm trong vòng một vài km của các đảo chính do các đối thủ Trung Quốc nắm giữ và từng rạn chưa từng bị chiếm đóng trước năm 1988.

Các đoàn điều tra đã thực hiện công việc của mình một cách xuất sắc. Trung Quốc hiện nay đã có nhiều hơn một chỗ đứng trong Quần đảo Trường Sa.”

Thiết nghĩ, chỉ 2 nội dung này cũng đủ cho thấy 3 lập luận nói trên của các nhà nghiên cứu Trung Quốc là ngụy biện. Nó cũng đủ chứng minh trận Gạc Ma là một cuộc thảm sát có chủ ý.

Còn sự “kinh ngạc” của tác giả Bổ Nhất Đao về việc mô tả 64 chiến sĩ công binh Hải quân Nhân dân Việt Nam “tay không tấc sắt”, xin hãy xem lại video về cuộc thảm sát dã man mà Hải quân Trung Quốc gây ra ngày 14/3/1988 sẽ thấy tất cả.

Còn về thông tin các học giả Trung Quốc nêu ra xung quanh vũ khí trang bị của Việt Nam chiến đấu bảo vệ Gạc Ma để họ bác bỏ cụm từ “tay không tấc sắt”, chúng tôi cũng xin được cung cấp thông tin về các tàu Việt Nam ở Gạc Ma sáng 14/3/1988 mà tác giả Bill Hayton gọi là “các con tàu cũ rỉ sét này”:

[37] Hai trong số những chiếc tàu này là tàu đổ bộ được Mỹ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai và để lại sau Chiến tranh Việt Nam. Tàu HQ-505 chính là tàu USS Bulloch County trước đây, được đóng năm 1943. Chiếc thứ 3 là tàu chở hàng.

Trong những bài viết tới, chúng tôi xin dẫn lại và phản biện các lập luận tiếp theo của tác giả Bổ Nhất Đao và một số học giả Trung Quốc liên quan đến các nội dung về “chủ quyền” và “lịch sử”, quan hệ Việt – Trung họ đề cập trong bài viết.

Tài liệu tham khảo:

[1]http://world.huanqiu.com/article/2018-03/11663194.html

[2]http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/30-nam-tran-chien-tai-dao-gac-ma-cong-bang-la-de-cung-tien-bo-434788.html

[3]http://dangshi.people.com.cn/n/2012/0817/c85037-18765636-2.html

 

Loading

Views: 0

Ba Sách Trắng về Biển Đông và cuộc đấu tranh ngoại giao kiên cường của Việt Nam

Ba cuốn Sách trắng được công bố trong các năm 1979, 1981 và 1988 thể hiện cơ sở pháp lý vững chắc để Việt Nam đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo trước các thế lực xâm lấn.

Trung Quốc gây ra vụ xâm lược đá Gạc Ma. Ảnh tư liệu

Việt Nam tiếp quản Trường Sa và Hoàng Sa như thế nào?

Sau khi đô hộ Đông Dương vào cuối thế kỷ 19, Pháp nhân danh triều đình Nguyễn của Việt Nam quản lý hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Trong thập niên 1930, các chiến hạm Pháp như Inconstant, Alerte, La Malicieuse hay De Lanessan được ghi nhận xuất hiện liên tiếp tại quần đảo Hoàng Sa, trong khi quần đảo Trường Sa cũng có lính pháp đồn trú. Các hoạt động này được xác nhận trong Công báo của Pháp vào tháng 7/1933.

Cùng năm 1933, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đưa quần đảo Trường Sa vào phạm vi quản lý hành chính của tỉnh Bà Rịa, trong khi quần đảo Hoàng Sa được sáp nhập vào tỉnh Thừa Thiên.

Sau thắng lợi của quân Đồng minh trong Thế chiến II, Pháp trở lại Đông Dương và yêu cầu quân đội Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch rút khỏi các đảo mà lực lượng này chiếm trái phép năm 1946. Quân Pháp trở lại đây và xây dựng các trạm khí tượng, đài vô tuyến…

Tại Hội nghị San Francisco được tổ chức để bàn về việc ký Hòa ước hòa bình với Nhật Bản vào đầu tháng 9/1951, đề xuất “trao trả” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc đã được nêu ra, song bị hội nghị bác bỏ với tỉ lệ áp đảo: 46/50 phiếu.

Kết quả này cho thấy Bắc Kinh đã không đạt được mục đích của mình, cho dù trong “Tuyên bố về Hội nghị San Francisco và Dự thảo hòa ước giữa Anh-Mỹ đối với Nhật Bản” vào ngày 15/8/1951, hơn nửa tháng trước Hội nghị, thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã cố lồng vào những tuyên bố vô căn cứ về chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa

Trong khi đó, phái đoàn Chính phủ Quốc gia Việt Nam dự Hội nghị, do ngoại trưởng Trần Văn Hữu dẫn đầu, không vấp phải sự phản đối nào khi khẳng định chủ quyền truyền thống của người Việt đối với hai quần đảo này.

Đến năm 1956, Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Chính quyền này đã đưa lực lượng tiếp quản, đồn trú, tổ chức đơn vị hành chính trên hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, cũng như duy trì các cơ sở khí tượng mà Pháp để lại.

Trong giai đoạn phức tạp khi các bên thực thi hiệp định Geneve (ký năm 1954), Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép các đảo phía đông Hoàng Sa vào năm 1956. Năm 1959, 82 “ngư dân” Trung Quốc – trên thực tế là các binh sĩ cải trang – bị quân đội VNCH bắt giữ khi định xâm nhập các đảo phía tây của Hoàng Sa.

Năm 1974, Trung Quốc huy động không quân, hải quân tấn công xâm lược và chiếm nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa.

Bước sang năm 1975, sau chiến thắng Buôn Mê Thuột, thời cơ chiến lược để giải phóng miền Nam – bao gồm các đảo và các quần đảo Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc… – đã đến. Ngày 5/4/1975, Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam triển khai kế hoạch tiếp quản quần đảo Trường Sa.

Ngay trước thềm 30/4/1975 lịch sử, trong 16 ngày (13-28/4), các lực lượng của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo do VNCH nắm giữ đóng giữ và đóng giữ các đảo cùng một số vị trí khác ở quần đảo Trường Sa. Ngày 5/6, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đến tháng 7/1976, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 6 – được bầu ngày 25/4/1976 – thông qua quyết định đổi tên nước thành CHXHCN Việt Nam. Như vậy, Nhà nước CHXHCN Việt Nam cò toàn bộ quyền, nghĩa vụ quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuộc đấu tranh ngoại giao không khoan nhượng

Trong tư liệu lịch sử do Nhân dân Nhật báo – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc – cung cấp, chiến lược về biển Đông của Bắc Kinh trong thập niên 1970-80 được mô tả là “tự vệ giới hạn kết hợp với tuyên bố chủ quyền”, thường được đề cập cùng với sự kiện xâm chiếm Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988.

1978-1988 là giai đoạn Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình. Đi kèm chính sách mở cửa là các hoạt động tuyên truyền sai trái của họ trên bình diện ngoại giao.

Trong 10 năm này, Bộ ngoại giao Trung Quốc nhiều lần rêu rao về “chủ quyền” đối với các đảo trên biển Đông, bao gồm quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, thậm chí quay sang vu khống việc Việt Nam thực hiện quyền-nghĩa vụ hợp pháp ở các quần đảo của mình là “xâm chiếm các đảo của Trung Quốc và ký thỏa thuận khai khoáng với Liên Xô nhằm cướp đoạt tài nguyên dầu khí của Trung Quốc”.

Năm 1987, Hội nghị lần thứ 14 Ủy ban hải dương học của các nước trong tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) họp tại Paris, thông qua “Kế hoạch đo đạc mặt biển toàn cầu”.

Bắc Kinh đã chớp cơ hội này để “nhận” xây dựng 5 trạm quan trắc biển, một trong số đó là Trạm số 74 ở Trường Sa. Bắc Kinh khởi công vào tháng 1/1988 và đến ngày 14/3 thì các tàu chiến Trung Quốc gây ra vụ xâm lược đá Gạc Ma – nơi 64 chiến sĩ Việt Nam hy sinh anh dũng khi bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Trong suốt nửa sau thập niên 1970 và cả thập niên 1980, Việt Nam đã đấu tranh ngoan cường trên mặt trận ngoại giao và không ngừng củng cố cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền trên cơ sở luật pháp quốc tế trước chính sách “cả vú lấp miệng em” của Bắc Kinh trên trường quốc tế.

Vào năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước ta đã công bố ba cuốn Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tài liệu này chứng minh hết sức rõ ràng chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam trên hai quần đảo, cả về lịch sử, pháp lý và thực tiễn.

Sách Trắng đầu tiên, được Bộ Ngoại giao công bố ngày 28/9/1979 có tiêu đề “Chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa’’, giới thiệu 19 tài liệu về chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo.

Ngày 30/1/1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra văn kiện “Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa”, đi kèm các tư liệu lịch sử, bản đồ, văn vật mà nước này khăng khăng là có thể chứng minh các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa “từ thời cổ đã là lãnh thổ Trung Quốc” – như một động thái đáp trả Sách Trắng của Việt Nam.  Tuy nhiên đến ngày 5/2, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc của Bắc Kinh.

Tháng 12/1981, Bộ Ngoại giao công bố tiếp Sách Trắng “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”.

Tháng 4/1988, Bộ Ngoại giao công bố Sách Trắng “Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và Luật pháp quốc tế”, sau khi thông báo cho Liên Hợp quốc và gửi nhiều công hàm phản đối đến Bắc Kinh – đặc biệt là các Công hàm ngày 16, 17, 23/3/1988.

Bên cạnh ba Sách Trắng được đông đảo dư luận quốc tế thừa nhận, tại nhiều diễn đàn quốc tế xuyên suốt thập niên 1980, như hội nghị quốc tế về Khí tượng châu Á lần thứ 2 tháng 6/1980; hội nghị Địa chất quốc tế lần thứ 26 tháng 7/1980; Thông tin vô tuyến điện thế giới tháng 1/1983,… Việt Nam đã vạch trần và tố cáo Trung Quốc lợi dụng các diễn đàn để tuyên truyền về cái gọi là chủ quyền của Bắc Kinh đối với Hoàng Sa, Trường Sa, đồng thời khẳng định Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý về chủ quyền đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế.

Đặc biệt, tại Hội nghị Hàng không khu vực châu Á – Thái Bình Dương (năm 1983) ở Singapore, Trung Quốc muốn mở rộng vùng thông báo bay (FIR) Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhưng đã bị Hội nghị bác bỏ và quyết định duy trì nguyên trạng…

Cho đến nay, 30 năm sau sự kiện Gạc Ma 1988, những văn kiện được công bố đã và đang là những nền tảng vững chắc để khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Loading

Views: 0

Một phần Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm như thế nào?

Bất chấp luật pháp quốc tế, sau khi chiếm đóng Hoàng Sa, Trung Quốc lại một lần nữa dùng vũ lực xâm lược một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Khúc ca bi tráng…

Tháng 01 năm 1988, CHND Trung Hoa đã huy động một lực lượng hải quân gồm nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa xuất phát từ Hải Nam tiến xuống phía Nam, trong đó có 4 chiếc đến khu vực phía Tây Bắc quần đảo Hoàng Sa, khiêu khích và cản trở hoạt động các tàu vận tải của Việt Nam trong khu vực biển gần bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên. Lực lượng tàu chiến này đặt dưới sự chỉ huy của một Bộ Tư lệnh đặc biệt được thành lập để tổ chức triển khai chiến dịch đánh chiếm một phần quần đảo Trường Sa, bắt đầu từ ngày 14 tháng 3 năm 1988, nấp dưới luận điệu quen thuộc “phản công để tự vệ”.

Bức tranh vẽ lại cuộc chiến đấu anh dũng của Thiếu úy Trần Văn Phương chống lại rất đông quân Trung Quốc trên bãi đá Gạc- Ma. Bức tranh được treo trang trọng tại phòng truyền thống Vùng 4 Hải quân Việt Nam

Bức tranh vẽ lại cuộc chiến đấu anh dũng của Thiếu úy Trần Văn Phương chống lại rất đông quân Trung Quốc trên bãi đá Gạc- Ma. Bức tranh được treo trang trọng tại phòng truyền thống Vùng 4 Hải quân Việt Nam

Trong chiến dịch này, Trung Quốc đã sử dụng một liên đội tàu chiến gồm 6 chiếc, trong đó có 3 chiếc tàu hộ vệ số 502, 509, 531 trang bị tên lửa và pháo 100mm, các tàu này đã tấn công, bắn chìm 3 tàu vận tải của Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế cho các bãi đá Len Đao, Cô Lin, Gạc Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn đang do Việt Nam quản lý.

Bãi đá Cô Lin, nơi tàu HQ- 505 ủi bãi giữ chủ quyền. Hiện tại Hải quân Việt Nam vẫn ngày đêm canh giữ.Bãi đá Cô Lin, nơi tàu HQ- 505 ủi bãi giữ chủ quyền. Hiện tại Hải quân Việt Nam vẫn ngày đêm canh giữ.

Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và đồng đội trên tàu HQ- 505 đã anh dũng, mưu trí giữ được bãi đá Cô Lin:

Trong lúc tàu HQ-604 và đảo Gạc Ma bị tấn công dữ dội thì bên đảo Len Đao và Cô Lin, tàu HQ-605 và HQ-505 cũng đồng thời bị bắn. Khi thấy tàu HQ-604 bị bắn chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505 Vũ Huy Lễ cho tàu lùi ra lấy đà và ủi lên đảo Cô Lin. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy. Thủy thủ tàu vừa dập lửa vừa đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu HQ-604.

Nguồn Vietnamnet

Trong cuộc xâm chiếm bất hợp pháp của Trung Quốc tại khu vực bãi đá ở Trường Sa, tính đến ngày 6 tháng 4 năm 1988, Trung Quốc đã chiếm đóng đá Chữ Thập, đá Châu Viên, đá Ga Ven, đá Tư Nghĩa, đá Gạc Ma, đá Su Bi.

 

Các chiến sĩ hải quân Việt Nam dù bị động trước số lượng áp đảo của tàu chiến Trung Quốc vẫn chiến đấu anh dũng, hy sinh, bảo vệ được chủ quyền tại đá Cô Lin và Len Đao

Năm 1988, Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp quốc, gửi nhiều công hàm phản đối đến Bắc Kinh và đặc biệt là các công hàm ngày 16, 17, 23 tháng 3 năm 1988 đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14 tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (Nghị quyết ngày 13/4/1988 thành lập tỉnh Hải Nam).

Việt Nam tiếp tục đấu tranh bảo vệ chủ quyền

Hải quân Việt Nam, vững tay súng bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương

Hải quân Việt Nam, vững tay súng bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương

Tháng 4/1988, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công bố Sách trắng “Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế”.

Ngày 01 tháng 7 năm 1988, tỉnh Phú Khánh được tách làm hai tỉnh : Phú Yên và Khánh Hòa, huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Ngày 4 tháng 3 năm 1992, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Công hàm phản đối “Pháp lệnh về lãnh hải , vùng tiếp giáp lãnh hải của CHND Trung Hoa”. Công hàm khẳng định Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 22 tháng 01 năm 1994, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố Việt Nam có quyền kiểm soát đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam là nước đầu tiên chiếm hữu và quản lý nhà nước hai quần đảo này từ thế kỉ XVII.

Ngày 23 tháng 6 năm 1994, Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982, trong đó có đoạn ghi: “Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các hành động khác có liên quan về Biển Đông thông qua luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước năm 1982 về Luật Biển của Liên Hợp quốc, tôn trọng quyền chủ quyền về kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán đề tìm giải pháp cơ bản, lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực”.

Vòng hoa thả trôi tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ hy sinh trong trận chiến bảo vệ Trường Sa 1988

Vòng hoa thả trôi tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ hy sinh trong trận chiến bảo vệ Trường Sa 1988

Danh sách 64 chiến sĩ đã hy sinh ngày 14-3-1988 trong trận chiến bảo vệ quần đảo Trường Sa:

1- Vũ Phi Trừ, quê Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hóa.

2- Nguyễn Văn Thắng, quê Thái Hưng, Thái Thụy, Thái Bình.

3- Phạm Gia Thiều, quê Hưng Đạo, Trung Đồng, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam).

4- Lê Đức Hoàng, quê Nam Yên, Hải Yên, Tĩnh Gia, Thanh Hóa. 

5- Trần Văn Minh, quê Đại Tân, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ Tĩnh (nay là tỉnh Nghệ An). 

6- Đoàn Đắc Hoạch, quê 163 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng. 

7- Tạ Trần Văn Chức, quê Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình. 

8- Hán Văn Khoa, quê Văn Lương, Tam Thanh, Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ). 

9 – Trần Văn Phong, quê Hải Tây, Hải Hậu, Hà Nam Ninh (Nam Định). 

10- Nguyễn Văn Hải, quê Chính Mỹ, Thủy Nguyên, Hải Phòng. 

11- Nguyễn Tất Nam, quê Thường Sơn, Đô Lương, Nghệ Tĩnh. 

12- Trần Đức Bảy, quê Phương Phượng, Lê Hòa, Kim Bảng, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam). 

13- Đỗ Việt Thắng, quê Thiệu Tân, Đông Sơn, Thanh Hóa. 

14- Nguyễn Văn Thủy, quê Phú Linh, Phương Đình, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là Hà Nam). 

15- Phạm Hữu Đoan, quê Thái Phúc, Thái Thụy, Thái Bình16- Bùi Duy Hiền, quê Diêm Điền, Thái Thụy, Thái Bình. 

17- Nguyễn Bá Cường, quê Thanh Quýt, Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam – Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam). 

18- Kiều Văn Lập, quê Phú Long, Long Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội. 

19- Lê Đình Thơ, quê Hoằng Minh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa. 

20- Cao Xuân Minh, quê Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa. 

21- Nguyễn Mậu Phong, quê Duy Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (nay là Quảng Bình). 

22- Trần Văn Phương, quê Quảng Phúc, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình). 

23- Đinh Ngọc Doanh, quê Ninh Khang, Hoa Lư, Hà Nam Ninh (Ninh BÌnh). 

24- Hồ Công Đệ, quê Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa. 

25- Đậu Xuân Tư, quê Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An). 

26- Bùi Bá Kiên, quê Văn Phong, Cát Hải, Hải Phòng. 

27- Đào Kim Cương, quê Vương Lộc, Can Lộc, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh). 

28- Phan Tấn Dư, quê Hòa Phong, Tuy hòa, Phú Khánh (Phú Yên). 

29- Nguyễn Văn Phương, quê Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình. 

30- Võ Đình Tuấn, quê Ninh Ích, Ninh Hòa, Phú Khánh (Khánh Hòa). 

31- Nguyễn Văn Thành, quê Hương Điền, Hương Khê, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh). 

32- Phan Huy Sơn, quê Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ Tĩnh (Nghệ An). 

33- Lê Bá Giang, quê Hưng Dũng, thành phố Vinh, Nghệ Tĩnh (Nghệ An). 

34- Nguyễn Thắng Hải, quê Sơn Kim, Hương Sơn, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh). 

35- Phan Văn Dương, quê Nam Kim, Nam Đàn, Nghệ Tĩnh (Nghệ An). 

36- Hồ Văn Nuôi, quê Nghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An). 

37- Vũ Đình Lương, quê Trung Thành, Yên Thành, Nghệ Tĩnh. 

38- Trương Văn Thinh, quê Bình Kiên, Tuy Hòa, Phú Khánh (Phú Yên). 

39- Trần Đức Thông, quê Minh Hòa, Hưng Hà, Thái Bình. 

40- Trần Văn Phong, quê Minh Tâm, Kiến Xương, Thái Bình. 

41- Trần Quốc Trị, quê Đông Thạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình). 

43 – Lê Thế, quê tổ 29, An Trung Tây, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng). 

44- Trần Đức Hóa, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình). 

45- Phan Văn Thiềng, quê Đông Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình). 

46- Tống Sĩ Bái, quê phường 1, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị). 

47- Hoàng Ánh Đông, quê phường 2, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị). 

48- Trương Minh Phương, quê Quảng Sơn, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình). 

49- Nguyễn Minh Tâm, quê Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình. 

50- Trần Mạnh Viết, quê tổ 36, Bình Hiên, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng). 

51- Hoàng Văn Túy, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

52- Võ Minh Đức, quê Liên Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình). 

53- Võ Văn Tứ, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình). 

54- Trương Văn Hướng, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình). 

55- Nguyễn Tiến Doãn, quê Ngư Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình). 

56- Phạm Hữu Tý, quê Phong Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình). 

57- Nguyễn Hữu Lộc, quê tổ 22, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng). 

58- Trương Quốc Hùng, quê tổ 5, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng). 

59- Nguyễn Phú Đoàn, quê tổ 47, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng). 

60- Nguyễn Trung Kiên, quê Nam Tiến, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (Nam Định). 

61- Phạm Văn Lợi, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình). 

62- Trần Văn Quyết, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Q. Bình). 

63- Phạm Văn Sửu, quê tổ 7, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng). 

64- Trần Tài, quê tổ 12, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng)

Nguồn: Vietnamnet

(Lược trích từ sách Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông)

Loading

Views: 0

Trung Quốc đã đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam như thế nào?

LTS: Cách đây đúng 44 năm, ngày 19.01.1974 Trung Quc đã dùng vũ lc xâm chiếm qun đảo Hoàng Sa ca Vit Nam. Điu này vi phm nghiêm trng điu 2, khon 4 ca Hiến chương Liên hp quc.

Xin lưc trích din biến t cun sách “Du n Vit Nam trên Bin Đông” ca TS. Trn Công Trc.

Một thực tế không thể chối cãi, Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam. Điều này vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ quốc gia.

Chiến thut ln chiếm “ Đc nưc béo cò.

Việc Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, buộc quân Pháp phải rút khỏi Việt Nam tháng 4 năm 1956 và để khoảng trống bố phòng ở Biển Đông, khiến các nước trong khu vực, trong đó có Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) và Philippines cho là cơ hội tốt để đưa lực lượng quân sự ra chiếm đóng trái phép một số đảo ở Hoàng Sa cũng như Trường Sa của Việt Nam: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đánh chiếm nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa, Đài Loan đánh chiếm đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa…

Bia chủ quyền Pháp thay mặt Việt Nam xây dựng trên quần đảo Hoàng Sa năm 1938

Ngày 22/8/1956, song song với việc đưa lực lượng hải quân ra quần đảo Trường Sa để bảo vệ quần đảo này trước những hoạt động xâm lấn của các lực lượng nói trên, Việt Nam Cộng Hòa ( VNCH ) đã tổ chức một số hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa, như : Tổ chức đoàn nghiên cứu thủy văn do Saurin dẫn đầu; cho phép kỹ nghệ gia Lê Văn Cang tiến hành khai thác phốt phát ở Hoàng Sa. Từ năm 1957, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH đã cử một đại đội thủy quân lục chiến ra quản lý, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa thay thế cho quân của đại đội 42 thuộc tiểu đoàn 142.

Người Việt và người Pháp đào giếng trên đảo Hoàng Sa 

Ngày 20 tháng 10 năm 1956, Chính quyền VNCH ra sắc lệnh 143/VN về việc đổi tên các tỉnh miền Nam và đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.

Ngày 7 tháng 5 năm 1957, tàu vận tải Hàn Giang đã đến Nha Trang để chuyên chở một đại đội của tiểu đoàn thủy quân lục chiến ra đồn trú tại quần đảo Trường Sa. Tàu Hàn Giang rời Nha Trang đi Trường Sa ngày 9 tháng 5 năm 1957.

Ngày 21 tháng 2 năm 1959, CHND Trung Hoa cho một số lính đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa nhằm đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Lực lượng quân đội VNCH đã phá tan được âm mưu này, 82 “ngư dân” và 5 thuyền đánh cá vũ trang đã bị bắt giữ và bị áp giải về giam tại Đà Nẵng, sau đó được trả cho Trung Quốc.

Năm 1960, VNCH đã bổ nhiệm ông Nguyễn Bá Thược, cán bộ hành chính hạng I tại Tam Kỳ, Quảng Nam nhận chức vụ Phái viên hành chính Hoàng Sa; ngày 27 tháng 6 năm 1961 bổ nhiệm ông Hoàng Yêm giữ chức vụ Phái viên hành chính Hoàng Sa.

Ngày 13 tháng 7 năm 1961, VNCH sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam; tại Nghị định số 709-BNV-HCĐP-26 ngày 21 tháng 10 năm 1969 của Thủ tướng VNCH, xã Định Hải được sáp nhập vào xã Hòa Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Ngày 11 tháng 4 năm 1967, VNCH ban hành Nghị định số 809-NĐ-DUHC cử ông Trần Chuân giữ chức Phái viên hành chính xã Định Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Ngày 13 tháng 7 năm 1971, tại Hội nghị ASPEC(Conseil de L’Asie et du Pacifique) tại Manila, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH Trần Văn Lắm đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Ngày 6 tháng 9 năm 1973, tổng trưởng Nội vụ VNCH kí Nghị định số 420-BNV-HCĐP/26 sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Ngày 24 tháng 9 năm 1973, VNCH thông báo dự định tiến hành khảo sát dầu lửa khu vực ngoài khơi bờ biển miền Trung, đối diện với quần đảo Hoàng Sa.

Trung Quc đánh chiếm Hoàng Sa ca Vit Nam như thế nào?

Ngày 15 tháng 1 năm 1974, sau khi tuyên bố lên án chính quyền VNCH đã “xâm lấn đất đai của Trung Quốc”, “tất các quần đảo Nam Sa, Tây Sa, Đông Sa và Trung Sa là lãnh thổ của Trung Quốc”…, CHND Trung Hoa đã đưa quân đổ bộ và cắm cờ Trung Quốc lên các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa và Duy Mộng thuộc nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 16 tháng 01 năm 1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt của hải quân VNCH đã đưa phái đoàn quân lực ra Hoàng Sa và phát hiện hai chiến hạm số 402 và 407 của Hải quân Trung Quốc đang ở gần đảo Hữu Nhật, xác nhận quân Trung Quốc đã chiếm đóng, cắm cờ trên các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Quang Ảnh… Lập tức Ngoại trưởng Vương Văn Bắc họp báo tố cáo Bắc Kinh đã huy động tàu chiến vi phạm vùng biển quần đảo Hoàng Sa và đưa binh lính đổ bộ xâm chiếm các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa, Duy Mộng thuộc nhóm phía tây quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 17 tháng 01 đến ngày 20 tháng 01 năm 1974, trận hải chiến giữa lực lượng hải quân VNCH và lực lượng hải, lục, không quân, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa xảy ra trong tình thế chênh lệch lực lượng rất khó khăn cho lực lượng VNCH, và mặc dù đã chiến đấu quả cảm nhiều binh sĩ đã anh dũng hi sinh, quân lực VNCH đã không thể giữ được các đảo thuộc nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa.

4 tàu chiến Hải quân VN Cộng Hòa bị thiệt hại khi tham chiến
Phó đô đốc Hồ Văn Kỳ Thoại của VNCH, người ra lệnh “khai hỏa” Hải chiến Hoàng Sa 

TS Trn Công Trc, Nguyên Trưng ban Biên gii Chính ph, Ch biên cun sách “Du n Vit Nam trên Bin Đông” cho biết thêm:

“Theo tài liệu Quân lực VNCH thì trận hải chiến Hoàng Sa có 74 binh sĩ tử vong, bao gồm Hạm trưởng Ngụy Văn Thà; tàu HQ-4 có 3 người tử vong, 16 người bị thương; tàu HQ-16 có 2 người tử vong…”

Quan sát viên của VNCH tại Liên Hợp quốc đã chính thức yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc xem xét hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 01 năm 1974, Bộ Ngoại giao VNCH ra tuyên cáo kêu gọi các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình lên án hành động xâm lược thô bạo của Trung Quốc, buộc Trung Quốc chấm dứt ngay hành động nguy hiểm đó.

Cũng trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố nêu rõ lập trường của mình:

– Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.

– Vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề mà giữa các nước láng giềng thường có những tranh chấp do lịch sử để lại.

– Các nước liên quan cần xem xét vấn đề này trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt và phải giải quyết bằng thương lượng.

Người dân Miền Nam mitting phản đối hành động xâm lược Hoàng Sa 

Ngày 20 tháng 01 năm 1974, lúc 16 giờ, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc đã thông báo tình hình quần đảo Hoàng Sa cho Martin, Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, và yêu cầu Hoa Kỳ cho biết có dành cho VNCH sự ủng hộ nào về vật chất, chính trị với tư cách là nước thân hữu và đồng minh, cũng như với tư cách là quốc gia đã ký kết và bảo đảm cho Hiệp định Paris ngày 27 tháng 01 năm 1973 không? Nhưng không nhận được trả lời của Hoa Kỳ.

Ngày 21 tháng 01 năm 1974, chính quyền VNCH đã gửi Công hàm cho các thành viên ký kết Định ước Paris để nghị các thành viên lên án và đòi nhà cầm quyền Trung Quốc không được xâm phạm lãnh thổ Việt Nam theo đúng nội dung Điều 1 và Điều 4 của Định ước.

Ngày 22 tháng 01 năm 1974, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã gửi thư cho Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon về biến cố Hoàng Sa và ngày 28 tháng 01 năm 1974, thông báo tới tất cả các quốc gia có quan hệ ngoại giao với VNCH về hành động hiếu chiến của Trung Quốc trong cuộc hành quân xâm lược quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Ngày 01 tháng 02 năm 1974, VNCH đưa lực lượng hải quân và bộ binh tăng cường đóng giữ quần đảo Trường Sa nhằm bảo vệ quần đảo này trước nguy cơ CHND Trung Hoa dùng lực lượng quân đội đánh chiếm quần đảo Trường Sa như dự đoán của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: “Trung Quốc sẽ đánh Trường Sa và xâm chiếm bằng vũ lực giống như Hoàng Sa (có sự tiếp tay hoặc bằng cách làm ngơ của Mỹ)”

Đảo Hoàng Sa của Việt Nam vẫn đang bị Trung Quốc chiếm giữ bất hợp pháp

Lê Hoàng

Loading

Views: 0

Hoàng Sa và âm mưu 70 năm trước

Đầu năm 1956, lợi dụng lúc Pháp vừa rút quân khỏi Đông Dương, các bên của Việt Nam bận rộn thực thi Hiệp định Genève, Trung Quốc bí mật đưa quân ra chiếm một số đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa.

Khu nhà đồn trú của lính địa phương quân Việt Nam cộng hòa trên đảo Hoàng Sa năm 1959 - Ảnh tư liệu trong sách Kỷ yếu Hoàng Sa
Khu nhà đồn trú của lính địa phương quân Việt Nam cộng hòa trên đảo Hoàng Sa năm 1959 – Ảnh tư liệu trong sách Kỷ yếu Hoàng Sa

Đó là sự thật, nhưng Trung Quốc thay trắng đổi đen bằng việc tổ chức cái gọi là “lễ kỷ niệm 70 năm thu hồi Hoàng Sa – Trường Sa”. 

Sự thật này đã được các nhà nghiên cứu sử học nhắc lại tại hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử” vừa tổ chức ở Huế ngày 12-12 với những tư liệu đã được cả thế giới biết đến, nhất là tư liệu ghi lại diễn biến liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa giai đoạn sau khi Hiệp định Genève được ký kết (1954).

Sự thừa nhận mang tính pháp lý quốc tế

PGS.TS Trần Nam Tiến (Trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia TP.HCM) cho biết vào năm 1938, Nhật đã chiếm ba đảo Phú Lâm, Lincoln và Hữu Nhật của quần đảo Hoàng Sa và đổi tên Hoàng Sa thành Hirata Gunto, mở màn cuộc “khủng hoảng Hoàng Sa” giữa Pháp – Nhật.

Chính quyền của Pháp tại Đông Dương (lúc đó là chủ thể đại diện Chính phủ triều Nguyễn trong việc quản lý toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam) đã phản ứng với những hành động đáp trả quyết liệt. Đến tháng 8-1945, Nhật thua trận và đầu hàng.

Toàn bộ lãnh thổ của các nước mà Nhật đã chiếm đóng, trong đó có Việt Nam, phải được phân định bằng một hiệp ước được ký kết tại hội nghị tổ chức ở thành phố San Francisco (Mỹ) từ ngày 4 đến 8-9-1951 với 52 nước tham gia (không có Trung Quốc).

Tiếp đó, khi Nhật Bản tuyên bố từ bỏ chủ quyền lãnh thổ đối với Hoàng Sa và Trường Sa, các quốc gia tham gia hội nghị cũng đã phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc và mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền đó thuộc về Việt Nam, do chính thể Quốc gia Việt Nam (của quốc trưởng Bảo Đại) đại diện đang có mặt tại hội nghị.

Cũng theo PGS.TS Trần Nam Tiến, ngày 7-9-1951 trong phiên họp toàn thể lần thứ bảy của hội nghị, thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu – trưởng phái đoàn của Quốc gia Việt Nam – đã tuyên bố: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa!”.

Tuyên bố đó không gặp một sự phản đối nào của đại diện 51 quốc gia có mặt tại hội nghị. “Việc 92% quốc gia đồng minh thành viên Liên Hiệp Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là có giá trị pháp lý bắt buộc” – PGS.TS Trần Nam Tiến nhấn mạnh.

Kết quả của hội nghị cũng khiến tuyên bố “Trung Quốc có chủ quyền không thể xâm phạm đối với các đảo trên Biển Đông” của bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai vào 20 ngày trước đó trở nên vô giá trị.

ThS Nguyễn Quang Trung Tiến (Trường ĐH Khoa học Huế) cho biết thêm đến Hội nghị Genève bàn việc lập lại hòa bình ở Đông Dương (năm 1954) với sự có mặt của các quốc gia và cả Trung Quốc, các nước tiếp tục tuyên bố tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuộc xâm chiếm bí mật 1956

Theo ThS Nguyễn Đình Dũng (ĐH Phú Xuân – Huế), tháng 4-1956, khi quân Pháp vừa rút khỏi Đông Dương, quân đội Quốc gia Việt Nam và tiếp đó là quân đội Việt Nam cộng hòa (VNCH) ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa thì chỉ còn nhóm đảo phía tây.

Trước đó vào thời điểm đầu năm 1956, Trung Quốc đã cho người bí mật chiếm đóng nhóm đảo phía đông Hoàng Sa, trong đó có đảo lớn nhất là Phú Lâm và Lincoln.

Các nhà sử học cho rằng hành vi này của Trung Quốc vi phạm chính sự xác nhận của họ khi Trung Quốc là một trong những nước đã ký vào cam kết của hội nghị.

Đây là cuộc xâm chiếm lén lút mà Trung Quốc cho rằng họ đã “thu hồi” quần đảo Hoàng Sa từ phía Việt Nam. Để rồi ngày 8-12-2016, họ đã tổ chức cái gọi là “lễ kỷ niệm 70 năm” thực hiện hành vi lén lút đó.

TS Nguyễn Nhã (TP.HCM) cho biết cũng với ý đồ như thế, 10 năm trước đó, tháng 12-1946 lợi dụng việc giải giáp quân Nhật thua trận, quân đội Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch cũng ra chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa, chính là nhóm đảo mà năm 1956 quân đội Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã bí mật ra chiếm đóng trở lại.

Cũng theo ThS Nguyễn Đình Dũng, suốt thời gian sau đó Trung Quốc liên tục khiêu khích và tìm cách xâm nhập các đảo phía tây Hoàng Sa mà quân đội VNCH đang trấn giữ.

Trong đêm khuya 20 rạng sáng 21-2-1959, Trung Quốc lén lút đưa ngư dân (thực chất là lính) bí mật đổ bộ lên các đảo Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa của Hoàng Sa. Hải quân VNCH đã ngăn chặn quyết liệt.

Tàu Trung Quốc vẫn không rút lui, khiến hải quân VNCH phải nổ súng, bắt giữ 82 người và 5 thuyền đánh cá của Trung Quốc.

Sau sự kiện này, VNCH liên tục có các hoạt động mạnh mẽ về ngoại giao, hành chính, kinh tế nhằm bảo vệ chủ quyền trong tình trạng Trung Quốc đã trở nên hung hăng hơn. Và đỉnh điểm là cuộc cưỡng chiếm của Trung Quốc với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-1-1974.

Đánh giá về sự kiện bí mật xâm chiếm năm 1956 và công khai cưỡng chiếm năm 1974 của Trung Quốc, TS Nguyễn Nhã đã dẫn lại kết luận của luật gia Monique Chemillier-Gendreau (người Pháp, giáo sư môn công pháp và khoa học chính trị của ĐH Paris VII) trong cuốn sách La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys xuất bản tại Paris giữa những năm 1990:

“Các quyền của Việt Nam lâu đời hơn và vững chắc hơn, mặc dù các đòi hỏi của Trung Quốc đã được cụ thể hóa nhờ việc chiếm đóng bằng vũ lực cách đây 39 năm đối với một bộ phận quần đảo và cách đây 21 năm đối với bộ phận kia…”.

“Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử từ chính sử, châu bản, địa chí, các văn bản đứng đầu nhà nước từ thời chúa Nguyễn, Tây Sơn, các hoàng đế triều đình nhà Nguyễn đến các lãnh đạo chính quyền qua các thời kỳ lịch sử từ đầu thế kỷ XVII đến nay. Đã khẳng định: chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các hải đảo khác hợp với luật pháp quốc tế, là chiếm hữu thực sự mang tính nhà nước, liên tục và hòa bình”…

(Trích quyết nghị của hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử” ngày 12-12-2016 tại Huế)

tuoitreonline

Loading

Views: 0

Chính Mao Trạch Đông ra quyết định đánh Hoàng Sa


Mao Trạch Đông là người ‘quyết định’ tấn công chiếm Hoàng Sa từ tay của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và chính quyền của ông Mao chưa bao giờ giúp đỡ Việt Nam ‘bất vụ lợi’.

Nói về di sản của Mao Trạch Đông trong quan hệ Trung – Việt trong dịp đánh dấu 120 năm sinh của ông Mao, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy cho rằng chính quyền Mao chưa bao giờ ‘vô tư’ giúp Việt Nam và luôn có ‘mưu đồ’ trên Biển Đông.

Cựu Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu giai đoạn từ 1993-1996 khẳng định Trung Quốc chỉ giúp Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh do thấy Việt Nam ‘là một món hàng tốt’ có lợi cho vị thế và bang giao quốc tế của Trung Quốc, có thể giúp ích cho Bắc Kinh trước nguy cơ của người Mỹ ở khu vực.

Về sự kiện Trung Quốc tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền Việt Nam Cộng hòa, ông Dy nói:

“Việc đánh chiếm Hoàng Sa lần thứ hai ngày 17/1/1974, đánh chiếm một nửa Hoàng Sa của Việt Nam, nói thẳng là Mao Trạch Đông là người quyết định đánh,”

“Tôi có tài liệu, Chu Ân Lai chính là người vạch ra kế hoạch, Diệp Kiếm Anh là người đôn đốc thi hành và Đặng Tiểu Bình lúc đó mới được phục hồi ra cũng đi sang Cục Tác chiến của Trung Quốc để áp trận.”

Nhà nghiên cứu nói quyết định này của Mao, cũng như các chính quyền kế thừa của ông về sau, phản ánh tính ‘nhất quán’ trong điều mà ông gọi là ‘mưu đồ’ của Trung Quốc trên Biển Đông.

“Cái đó là âm mưu nhất quán của Trung Quốc trong vấn đề bành trướng, chiếm cứ trên đảo thôi, nó không có gì lạ cả,” ông Dy nói.

Nhà ngoại giao kỳ cựu cũng nói thêm hành động của Bắc Kinh chỉ có thể tiến hành được do có sự ‘bật đèn xanh’ và một thái độ được cho là ‘không đứng đắn’ của Washington mà khi đó đang là một đồng minh của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Sài Gòn.

“Phải nói thẳng đây là một hành động không đứng đắn của người Mỹ…  Thua mất mặt ở Việt Nam, họ xấu hổ, nên nhà cầm quyền Mỹ lúc bấy giờ bật đèn xanh để cho Trung Quốc đánh chiếm Việt Nam”.

Ông Dương Danh Dy nêu quan điểm cho rằng sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với chính quyền Việt Nam trong các cuộc chiến với người Pháp và người Mỹ là có tính toán.

Nhà nghiên cứu chuyên sâu về Trung Quốc nói: “Trung Quốc từ xưa tới nay chưa bao giờ vô tư viện trợ Việt Nam như họ vẫn nói đâu, mà họ viện trợ cho Việt Nam đều nhằm mục đích trục lợi trên cái đó.

“Bắt đầu từ Hội nghị Geneve về Đông Dương, Trung Quốc thấy Việt Nam là một món hàng tốt, nhờ có Việt Nam mà Trung Quốc mới được mời đến tham dự Hội nghị Geneve năm 1954 về Đông Dương, với tư cách một nước lớn ở khu vực có liên quan…

“Trong quá trình diễn biến của Hội nghị Geneve, Trung Quốc càng thấy rõ Việt Nam là món hàng có thể dùng nó để trao đổi với Anh, với Pháp, sau này cả với cả Mỹ, trong quan hệ.”

Theo cựu quan chức ngoại giao này, Trung Quốc đã giúp Bắc Việt ‘chống Mỹ’ vì quan ngại miền Bắc Việt Nam rơi vào tay người Mỹ, thì Trung Quốc ‘sẽ không được yên’ và không thể làm được cuộc ‘cách mạng văn hóa’.

Tuy nhiên, ông Dy cũng thừa nhận Việt Nam đã nhận được những sự giúp đỡ ‘to lớn’ và ‘quan trọng’ của Trung Quốc trong các cuộc chiến tranh mà ông xem đó là sự ‘nhường cơm, sẻ áo’ của ‘nhân dân Trung Quốc’.

Ông nói: “Xưa nay khẳng định đúng là nhân dân Trung Quốc nhường cơm, sẻ áo, giúp đỡ chúng tôi. Nhưng ban lãnh đạo Bắc Kinh đã lợi dụng những tình cảm đó của người dân Trung Quốc để dùng vào mục đích không cao đẹp tí nào cả”.

 

Theo: ttvnol

Loading

Views: 0

Chiến tranh Biên giới 1979 – Một góc nhìn hậu chiến

(GDVN) – Nói về cuộc chiến, về lịch sử không phải để khoét thêm hận thù mà chỉ là để nhắc nhở những thế hệ tương lai về đất nước này, dân tộc này…

Ngày 5/3/1979, khi Cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng công bố lệnh tổng động viên, Trung Quốc tuyên bố rút quân.

Sau khi rút quân, giới lãnh đạo và truyền thông Trung Quốc rêu rao đã hoàn thành mục tiêu của cuộc xâm lược là “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Tuyên bố của Bắc Kinh không phải là hoàn toàn sai sự thật bởi mục tiêu của họ là tàn phá đất nước Việt Nam, giết hại đồng bào và chiến sĩ chúng ta và họ đã đạt được điều đó trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.

Trường học, bệnh viện, cầu cống, trụ sở, làng mạc, thị xã và các công trình kinh tế, quân sự,… bị phá hủy gần như hoàn toàn.

Hàng nghìn người dân vô tội bị tàn sát, man rợ nhất là hơn 400 người Việt Nam bị lính Trung Quốc giết hại tại pháo đài Đồng Đăng.

Điều mà Bắc Kinh không thể và không bao giờ có thể làm là bẻ gãy ý chí độc lập tự cường, quyết tâm bảo vệ tổ quốc của người Việt.

Cuộc xâm lược đẫm máu nhất mà Trung Quốc thực hiện thời hiện đại đã củng cố “bài học” mà người Việt Nam vốn đã thuộc lòng, ấy là:

Nam quốc sơn hà Nam Đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

(Tạm dịch: Non sông Việt Nam là nơi Vua Nam ở, điều này đã được ghi nhận tại sách trời, vì sao những kẻ nghịch lỗ lại tới xâm phạm, chúng bay sẽ bị đánh tơi bời – Lý Thường Kiệt).

Chính trị, ở đâu hay bao giờ cũng thế, dù được tô vẽ dưới mọi màu sắc vẫn thường bị nghi hoặc về bản chất,…

Nói đến nước Mỹ, không ít người xem đó là hình mẫu của tự do, dân chủ song cũng không ít người – kể cả người Mỹ – cho rằng chính trường Mỹ là “vũ đài của sự dối trá,… là nơi khốc liệt và đầy thủ đoạn”. [5]

Nhà xã hội học nổi tiếng, giáo sư Zygmunt Bauman trả lời phỏng vấn do phóng viên tạp chí Polityka – Jacek Żakowski – thực hiện cho rằng:

“Cuộc chiến với dối trá là bất khả chiến thắng. Dối trá tự bản chất là vĩnh cửu và có ở khắp nơi.

Georges Duhamel đã rất thông thái khi nói rằng: “Giả dối là nguyên tắc, sự thật là ngoại lệ” ”. [6]

Cuộc chiến mà Trung Quốc tiến hành chống Việt Nam năm 1979 không phải là ngoại lệ của giả dối chính trị bởi nó được khoác chiêu bài “phản kích tự vệ” khi mà người Việt không hề xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc.

Không khuyến khích thói giả dối song cần phải làm thế nào để người dân biết nhận diện giả dối, biết cảnh giác đề phòng những kẻ vốn có truyền thống lịch sử giả dối và cũng cần phải biết cách lấy giả dối đối phó với giả dối.

Có quan điểm rằng chính khách, để đạt đến đẳng cấp lừa dối cả thế giới, trước tiên phải lừa dối chính những người bên cạnh mình.

Giới chóp bu Bắc Kinh khi tiến hành cuộc xâm lược Việt Nam đã lừa dối người dân Trung Quốc về sự cần thiết phải “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Rất nhiều người Trung Quốc ở vùng núi giáp Việt Nam, có người còn chưa đọc thông viết thạo đã trở thành dân binh tải lương thực, vũ khí phục vụ cuộc chiến bởi dưới cái loa tuyên truyền của Bắc Kinh, họ xem phục vụ cuộc chiến là “nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc”?

Sẽ là ngây thơ nếu ai đó chủ tâm gieo vào quần chúng niềm tin về một chỗ dựa tinh thần nào đó trong khi mình bị lợi dụng như một quân cờ trên bàn cờ địa chính trị toàn cầu.

Sẽ là nguy hiểm nếu truyền cảm hứng cho dân chúng bằng sự mất cảnh giác của chính mình bởi “giả dối là nguyên tắc, sự thật chỉ là ngoại lệ”.

Trong màu sắc duy tâm, điểm đến cuối cùng trên con đường danh vọng của các chính khách hoặc là thiên đường, hoặc là địa ngục.

Dù là trên thiên đường, sẽ có lúc họ phải nhìn xuống hạ giới để nói lời xin lỗi những người ngã xuống trong chiến tranh ở tuổi đôi mươi, kẻ ở địa ngục vẫn có lúc phải đội mồ đứng dậy để cầu xin tha thứ.

Sự tàn bạo của cuộc chiến 1979 mà Trung Quốc tiến hành đâu chỉ tàn phá đất nước Việt Nam, giết hại bộ đội và dân thường Việt Nam?

Đó còn là vết thương cho đến hôm nay vẫn rỉ máu trong tâm trí không ít cựu binh lính và những gia đình Trung Quốc có người thân mất mạng trong cuộc chiến.

Còn người Việt, làm sao có thể quên đi nỗi đau mỗi khi nhắc, nhớ đến đồng đội và người thân đã ngã xuống hoặc bị sát hại trong cuộc chiến.

Nếu cha ông ta không ghi lại lịch sử hào hùng của người Việt thời Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt, thời Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo trên sông Bạch Đằng, Lê Lợi ở Chi Lăng, Nguyễn Huệ ở Đống Đa … thì người Việt có được như hôm nay?

Vậy tại sao chúng ta dường như vẫn ngại ngùng khi dạy cho con cháu về cuộc chiến đẫm máu chống xâm lược trên biên giới phía Bắc và phía Tây Nam những năm 70 thế kỷ trước?

Không phải những người viết sách giáo khoa không có tư liệu, càng không phải đánh giá công bằng lịch sử sẽ làm mất đi tình hữu nghị giữa các dân tộc hay ảnh hưởng đến ý thức hệ.

Hiện tại còn nhiều tài liệu chưa được giải mật về cuộc chiến, song nên chăng đã đến lúc nhìn lại, đánh giá lại một cách nghiêm túc để làm sao tránh được chiến tranh? Bối cảnh chính trị quốc tế, khu vực thời điểm đó như thế nào? Có lẽ vì thiếu đánh giá một cách khoa học về cuộc chiến nên người ta sợ nhắc đến nó?

Người Mỹ dựng lại phim về trận chiến đẫm máu Trân Châu Cảng hay số phận tù binh Mỹ bị Nhật bắt trong thế chiến 2 (bộ phim Unbroken – Không khuất phục) nhưng không vì thế mà hai nước Nhật – Mỹ trở nên thù nghịch.

Liên quan đến cuộc chiến chống xâm lược trên biên giới phía Bắc là cuộc chiến biên giới Tây Nam chống diệt chủng Polpot.

Như các nhà nghiên cứu quốc tế đánh giá, một trong những lý do khiến Trung Quốc tấn công Việt Nam ở phía Bắc là để tìm cách kéo lực lượng tinh nhuệ của quân đội Việt Nam khỏi Campuchia lúc đó đang làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, tiêu diệt diệt chủng Polpot.

Không ai khác, chính xương máu của đồng bào và quân đội Việt Nam đã góp phần tiêu diệt một chế độ tàn bạo hiếm có trong lịch sử nhân loại.

Một chế độ mà những tên tội phạm đầu sỏ (Nuon Chea, Khieu Samphan, Ieng Sary và Ieng Thirith) đã bị Tòa án quốc tế truy tố về các tội ác chống lại loài người, diệt chủng và vi phạm nghiêm trọng các Công ước Geneva năm 1949.

Điều đáng sợ, đáng nói là những sự thật lịch sử bị bóp méo từ một phía sẽ dần chiếm lĩnh tâm trí nhân loại nếu chúng ta không làm gì hôm nay.

Nếu chúng ta im lặng hôm nay, sẽ khiến ngày càng có nhiều người ngộ nhận, rằng Việt Nam xâm chiếm biên giới, biển đảo của Trung Quốc, xâm lược Campuchia,… như giọng lưỡi bộ máy tuyên truyền bên kia biên giới vẫn ra rả từ 1979 đến nay.

Súng ống, bom đạn quân đội Trung Quốc bố trí ở Hoàng Sa, Trường Sa không thể nhằm đến Mỹ, Úc hay Nhật Bản nhưng khả năng bao phủ vùng trời, vùng biển của Việt Nam là một sự thật không thể phủ nhận.

Dạy cho con cháu những trang sử hào hùng đẫm máu và nước mắt cha ông chính là cách để tạo động lực xây dựng một nước Việt Nam tự cường, đủ sức mạnh đương đầu với bất kỳ thế lực ngoại xâm nào.

Một nước Việt Nam yếu về kinh tế và quân sự, nhân tâm phân tán lại chính là điều mà kẻ thù của dân tộc này hằng mong mỏi.

Niềm tin không tự nhiên sinh ra, không từ trên trời rơi xuống, niềm tin của dân tộc này không thể bị đánh đổi bởi niềm tin của dân tộc khác, và trên tất cả lịch sử một dân tộc không thể bị che phủ bởi ý thức hệ hay ý muốn chủ quan của riêng bất cứ ai.

Yêu chuộng hòa bình không có nghĩa là phủ nhận chiến tranh bởi chuẩn bị cho chiến tranh chính là cách để gìn giữ hòa bình.

Nói về cuộc chiến, về lịch sử không phải để khoét thêm hận thù mà chỉ là để nhắc nhở những thế hệ tương lai, rằng đất nước này, dân tộc này “dẫu có phải đốt cả dãy Trường Sơn, cũng phải giữ cho được tự do, độc lập”./.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://www.amazon.com/China-Vietnam-Wars-1950-1975-History/dp/0807848425

[2] http://infonet.vn/chien-tranh-bien-gioi-1979-cuoc-chuyen-quan-than-toc-post158490.info

[3]http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=740&sitepageid=424#sthash.sQh4Vrmv.dpbs

[4]http://nghiencuuquocte.org/2015/11/04/nhin-lai-cuoc-chien-viet-trung-nam-1979/#sthash.THID9Do4.dpuf

[5] https://www.facebook.com/notes/hội-những-người-ghét-bọn-phản-động/chính-trường-mỹ-vũ-đài-của-sự-giả-dối

[6] http://liliapl.blogspot.com/2016/04/ky-nguyen-cua-doi-tra-chung-ta-bi-lua.html

Loading

Views: 0

Những ngôi mộ khẳng định chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông

Những ngôi mộ của lính đội Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn là bằng chứng lịch sử không thể chối cãi về chủ quyền của người Việt ở Biển Đông.

 Mộ lính Đội Hoàng Sa ở đảo Lý Sơn là mộ cô hồn của những hùng binh trên biển, những thủy binh của Hải đội Hoàng Sa năm xưa được lệnh ra quần đảo Hoàng Sa thực thi chủ quyền của Việt Nam và đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Để tưởng nhớ những người lính Hoàng Sa hy sinh vì đất nước, các họ tộc trên đảo đã chiêu hồn luyện cốt, lập những ngôi mộ gió, với niềm tin khi làm lễ chiêu hồn xong, linh hồn người chết mất xác sẽ trở về nhập vào hình nhân, an nghỉ nơi đất mẹ và phù hộ cho những người còn sống.
Ngày nay, những ngôi mộ gió được nhiều người biết đến nhất ở Lý Sơn là mộ của các vị cai đội Võ Văn Khiết, Phạm Quang Ảnh và Phạm Hữu Nhật.
 Cai đội Hoàng Sa Võ Văn Khiết
Ông Võ Văn Khiết thuộc đời thứ 10 trong dòng họ Võ nhưng là người đầu tiên của Lý Sơn được nắm giữ chức cai đội của Hải đội Hoàng Sa có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Biển Đông cho Tổ quốc.
Thi hành nhiệm vụ được giao từ thời đại Tây Sơn, Võ Văn Khiết cùng đồng đội đã trải qua không biết bao nhiêu gian nguy, hiểm trở và cuối cùng nằm lại giữa biển khơi.
Triều đình biết ơn người đội trưởng can trường, phong Võ Văn Khiết là Thượng Đẳng thần, lập nhà thờ Võ Văn Khiết tại xóm Vĩnh Thành thuộc thôn Tây xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn. Tên tuổi ngài đã lưu dấu trong lòng con dân xứ đảo, được xướng lên trong các sớ cúng tế, ngang hàng với các vị thần linh được nhân dân thờ phụng.
Đến cuối triều Gia Long, một ngôi đền thờ khang trang cùng ngôi mộ gió của cai đội Võ Văn Khiết đã được xây dựng trong khu đất của dòng họ Võ, dân gian quen gọi là miếu ông Thắm.
Nối nghiệp thân phụ, ông Võ Văn Phú (con trai cả của Võ Văn Khiết), vào năm Gia Long nguyên niên (1802) cũng được phong chức “Khâm sai thiết thủ Sa Kỳ hải môn kiêm tri Hoàng Sa các đội Cai cơ thủ ngự Phú Nhuận hầu”, nghĩa là ông không chỉ làm Cai đội Hoàng Sa mà còn là người chỉ huy của các cai đội. Đồng thời ông cũng là quan trấn thủ cửa biển Sa Kỳ, một cửa biển lớn có vị trí quan trọng đối mặt với biển nước ta lúc bấy giờ. Đời sau, ông Võ Văn Hùng (con ông Võ Văn Phú) cũng từng đảm nhiệm chức vụ trưởng đội dân phu trong những năm từ 1832 đến 1836.
Cai đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh
Phạm Quang Ảnh người làng An Vĩnh là một viên cai đội của Đội Hoàng Sa. Tháng 1/1815 vua Gia Long Nguyễn Ánh phong ông làm cai đội của Đội Hoàng Sa và giao cho ông dẫn theo một đội quân gồm 70 người từ Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) đi đến Hoàng Sa và Bắc Hải để xem xét, đo đạc thủy trình, trấn giữ Biển Đông và tìm kiếm sản vật quý về cho triều đình. Mỗi chuyến đi 7 tháng, từ tháng 2 đến tháng 8 thì quay về để tránh mùa biển động.
Nhung ngoi mo khang dinh chu quyen Viet Nam o Bien Dong

Mộ cai đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh và các cộng sự

Đoàn thuyền của ông đã đi được nhiều chuyến thành công, nhưng rồi trong chuyến đi cuối cùng gió bão, ông và các thuyền viên đã vĩnh viễn nằm lại dưới biển sâu.

Vua Gia Long đã đích thân đến tận Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) làm lễ chiêu hồn cho các tử sĩ. Ông và đồng đội đã được hóa thân vào những hình người nặn bằng đất sét và được cúng chiêu hồn suốt một đêm với sự có mặt của vua, rồi làm lễ an táng như những người đã chết trên biển: 25 nấm mộ xếp thành một hàng trong đó ông Phạm Quang Ảnh đặt đầu tiên rồi đến 24 tử sĩ đồng đội của ông. Đây là ngững ngôi mộ chiêu hồn (còn gọi là mộ gió) đầu tiên ở Đảo Lý Sơn.
Đến nay, sau hàng trăm năm, 25 ngôi mộ gió này đã kết liền với nhau thành một nấm mộ lớn dài hơn chục mét ở thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn. Cai đội Phạm Quang Ảnh đã được phong làm Thượng đẳng thần để hộ vệ và ban phúc cho những người vượt sóng gió Biển Đông và được nhân dân xã An Vĩnh thờ cúng như Thành hoàng. Ông trở thành người khai lập dòng họ Phạm Quang trên đảo Lý Sơn, được thờ trong Nhà thờ của dòng họ.
Đất nước đã ghi nhớ công lao của ông bằng cách đặt tên ông cho một hòn đảo trong nhóm đảo Lưỡi Liềm ở quần đảo Hoàng Sa: Đảo Quang Ảnh.
Cai đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật
Phạm Hữu Nhật là một vị Chánh đội trưởng Thủy quân suất đội của Đội Hoàng Sa. Theo chính sử nhà Nguyễn, năm Bính Thân 1836, ông vâng mệnh vua Minh Mạng đưa binh thuyền gồm khoảng 50 người đi xem xét, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc và dựng bia chủ quyền của triều Nguyễn tại quần đảo Hoàng Sa.
Mỗi binh thuyền đem theo 10 cái bài gỗ, mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, trên có khắc dòng chữ “Minh Mạng thập thất niên, Bính Thân, Thủy quân Chánh đội trưởng suất đội trưởng Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương độ chi thử lưu đẳng tự” (nghĩa là: năm Minh Mạng thứ 17, Bính Thân, Thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh đi Hoàng Sa xem xét đo đạc đến đây, để ghi nhớ).
Nhung ngoi mo khang dinh chu quyen Viet Nam o Bien Dong-Hinh-2
Mộ cai đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật.
Ở từng điểm đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, đội của ông đã dừng lại cắm mốc, dựng bia chủ quyền, đo đạc thủy trình, trồng thêm cây cối, thu lượm hải vật rồi về tâu trình với triều đình là đã hoàn thành nhiệm vu.
Không biết ông đã đi được bao nhiêu chuyến, nhưng đến chuyến cuối cùng năm 1854 thì ông cùng các cộng sự đã không trở về. Gia đình, họ tộc và quê hương đã an táng ông bằng một nấm mộ chiêu hồn (còn gọi là mộ gió) không có hài cốt tại thôn Đông làng An Vĩnh, bên cạnh ngôi mộ của cụ Thủy tổ họ Phạm Văn, một trong 6 vị tiền hiền khai cư làng An Vĩnh trên đảo Lý Sơn.
Các bộ chính sử của triều Nguyễn đều có ghi chép về sự kiện này và đánh giá công lao to lớn của ông trong việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Công ơn của ông được khắc ghi bằng việc đặt tên Hữu Nhật cho một hòn đảo san hô nằm ở phía Nam quần đảo Hoàng Sa.
Vào dịp Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa 19/2 Âm lịch hàng năm, tộc họ Phạm Văn cúng tế vị tiền hiền Phạm Hữu Nhật bên cạnh việc tưởng nhớ các vị tham gia Đội Hoàng Sa đã hy sinh vì đất nước./.

Kiến thức

Loading

Views: 0

Toàn cảnh chiến dịch CQ-88: Phá âm mưu cướp đoạt Trường Sa

7.6.2017

(Quan hệ quốc tế) – Mặc dù phương tiện thiếu thốn nhưng hải quân Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi chiến dịch “Chủ quyền-1988”, phá âm mưu Trung Quốc cướp đoạt quần đảo Trường Sa.
Việt Nam tỉnh táo trước mưu đồ của Trung Quốc

Trong kỳ trước với tiêu đề “1979-1988: Trung Quốc 10 năm nuôi dã tâm chiếm đảo Việt Nam”, chúng ta đã tìm hiểu dã tâm và công tác chuẩn bị của Trung Quốc ngay từ sau năm 1979, với mục đích sử dụng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Trường Sa của Việt Nam.Đặc biệt là từ đầu năm 1987, tình hình khu vực biển quần đảo Trường Sa có những diễn biến phức tạp, do Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động quân sự trên Biển Đông và một số quốc gia Đông Nam Á gia tăng các hành động tranh chấp chủ quyền

.

(Mít-tinh chống quân xâm lược Trung Quốc chiếm đoạt trái phép các đảo ở Trường Sa)

Đảng ủy và Bộ Tư lệnh hải quân nhận định có khả năng Trung Quốc sẽ dùng lực lượng hải quân chiếm đóng thêm một số đảo khác. Do đó, Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đưa lực lượng công binh ra các đảo chưa có người ở để xây dựng công trình thể hiện chủ quyền và cử lực lượng chốt giữ.Philippines đẩy mạnh việc vận chuyển xây dựng công trình trên các đảo của họ đóng giữ là đảo Song Tử Đông, Panata, còn Malaysia bí mật đưa lực lượng ra chiếm đóng bãi đá Kỳ Vân và chiếm đóng thêm bãi đá Kiêu Ngựa vào tháng 1 năm 1987.

Đầu tháng 3/1987, Quân chủng điều lực lượng công binh, tàu chiến đấu, tàu vận tải của Vùng IV và Lữ đoàn 125 ra đóng giữ bảo vệ đảo chìm Thuyền Chài. Ngày 24/10/1987, Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường cho Lữ đoàn 146, Vùng IV Hải quân, song yêu cầu các đơn vị đảo phải hết sức cảnh giác, tránh âm mưu khiêu khích của kẻ thù.Đảng ủy và Bộ tư lệnh chủ trương tăng cường phòng thủ quần đảo Trường Sa điều lực lượng chốt giữ thêm một số đảo xung quanh các đảo đã đóng giữ, để tạo nên sức mạnh của một cụm đảo.

Ngày 6/11/1987, trước các động thái tăng cường lực lượng của Trung Quốc, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra “Mệnh lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa”, giao cho Quân chủng Hải quân “Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không cần chờ chỉ thị cấp trên”. Chấp hành lệnh của trên, ngày 2/12/1987, Quân chủng đưa lực lượng ra đóng giữ đảo Đá Tây, đồng thời khẩn trương đóng các phương tiện chuyển tải và các pông-tông là các căn cứ nổi, làm nhiệm vụ chốt giữ bảo vệ các đảo chìm (bãi đá cạn) trên quần đảo Trường Sa.

Ngày 2/12/1987, tàu HQ 604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội cùng vật liệu đến xây nhà cấp 3 ở đảo Đá Tây.Ngày 22/1/1988, Trung Quốc đưa 4 tàu hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tàu dầu, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đảo Chữ Thập, đồng thời chúng điều thêm 8 tàu chiến khống chế mặt biển, không cho tàu thuyền các nước qua lại khu vực đảo này.

Ngày 9/1/1988, Đảng ủy Quân chủng Hải quân họp nhận định: Trung Quốc sẽ tiến hành các hoạt động quân sự tranh chấp chủ quyền hải đảo chiếm một số bãi san hô nổi hoặc chìm khi nước lên, xen kẽ với các đảo của ta. Trong khi đó, các nước khác có thể nhân cơ hội này chiếm đóng một số đảo nằm giữa Kỳ Vân và Ri-gân.

Từ ngày 23/1 đến đầu tháng 2 năm 1988, tàu 613 thuộc Vùng 4 hải quân chở lực lượng và vật liệu ra xây nhà cấp 3 trên đảo Tiên Nữ.Ngày 31/1/1988, Trung Quốc đưa thêm lực lượng củng cố đảo Chữ Thập thành căn cứ chủ chốt ở khu vực Trường Sa. Vào thời điểm này, Hải quân Trung Quốc đã tổ chức ba Cụm tác chiến lớn nhằm triển khai chiến dịch chiếm đoạt quần đảo Trường Sa, bao gồm:Sở chỉ huy hậu phương lấy Hoàng Sa làm Sở chỉ huy thường trực có tàu tuần tiễu pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa và các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu hải quân ta hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng biển phía Nam;

Ngoài ra, 2 Cụm tiền phương bao gồm 1 Cụm ngăn chặn lực lượng hải quân ta ở đông bán đảo Cam Ranh, Cù Lao Thu và 1 Cụm chiến đấu là Sở chỉ huy tiền phương ở đảo Chữ Thập, âm mưu khống chế ta ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng sâu xuống khu vực phía Nam.

Trước diễn biến mới, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng xác định rõ, lúc này “Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân”, cần phải tập trung cao nhất các lực lượng vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa,Toàn quân chủng bước vào chiến dịch “CQ-88″ (Chủ quyền – 1988) với ý chí mạnh mẽ, quyết tâm đóng giữ các đảo theo kế hoạch; đồng thời đề xuất với Đảng, Chính phủ phát động phong trào “Cả nước hướng về Trường Sa”, “Ủng hộ, chi viện Trường Sa và vì Trường Sa”./.

Loading

Views: 0

Countries respond to PCA’s ruling on Philippines-China dispute

(VOVworld) – On July 12, the Permanent Court of Arbitration (PCA) in the Hague, the Netherlands, issued a ruling in the case brought by the Philippines against China’s nine-dash line claim in the East Sea.

countries respond to pca’s ruling on philippines-china dispute hinh 0
The Permanent Court of Arbitration in The Hague (Source: BBC)

It affirmed that China’s claims of historical sovereignty over waters within the nine-dash line are contrary to the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS). It said China has no historical right to the waters in the East Sea and has no legal basis for statements about its historical rights to natural resources within the nine-dash line area.

Following the ruling, the US Department of State said the ruling contributes significantly to the effort to achieve a peaceful resolution to the East Sea disputes. The US urged all parties to avoid any provocative statement or reaction to the ruling. The White House said the PCA’s ruling should be treated as final and legally binding.

The same day, Hillary Clinton, the Democratic Party’s 2016 presidential candidate, welcomed the ruling on the Philippines’ lawsuit against China’s claims in the East Sea while emphasizing the importance of the waters to the US economy. Donald Trump, the Republican Party’s candidate, urged all parties to respect the tribunal’s ruling.

Japan’s Foreign Minister Fumio Kishida also called the PCA’s decision final and legally binding and said the two sides should comply with it. Kishida said Japan consistently supports compliance with legal judgments and the use of peaceful means in settling maritime disputes.

In response to the ruling, Philippine Foreign Minister Perfecto Yasay issued an announcement welcoming the PCA’s judgment and calling for all parties to stay restrained and calm. Mr. Yasay said the Philippines respects the watershed decision, considering it an important contribution to efforts already underway to resolve disputes in the East Sea.

Singapore’s Ministry of Foreign Affairs (MFA) on Tuesday issued a statement calling on parties in the Philippines’s lawsuit against China to fully respect legal and diplomatic processes following the ruling issued by the Permanent Court of Arbitration in The Hague. Singapore supports the peaceful settlement of disputes in conformity with recognized principles of international law, including the United Nations Convention on the Law of the Sea.

Meanwhile, on Tuesday, the Chinese Foreign Ministry issued a statement saying it rejects the PCA’s ruling and insisting that China will never accept any announcement or action based on the PCA’s ruling. The statement said China’s territorial sovereignty and its marine rights and benefits will not be affected by the PCA’s ruling.

Loading

Views: 0