45 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam: Mưu đồ độc chiếm Biển Đông

Từ phát triển trái phép…
… Đến quân sự hóa phi pháp

![]()
Views: 0


![]()
Views: 0
Năm 1938, khi còn bảo hộ Việt Nam, Chính phủ Pháp nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Tài liệu được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ của Phòng Thương mại và Công nghiệp Marseille, Pháp: kí hiệu Hồ sơ: MQ28/02.
Việt Nam xây dựng Trạm khí tượng tại Hoàng Sa
Ở tài liệu thứ nhất, với tiêu đề: “Pháp có chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa (Paracels) hay không?” đã khẳng định: “Ngày xưa, quần đảo Hoàng Sa là thuộc về Việt Nam. Vương triều An Nam (nhà Nguyễn – người dịch) đã đóng quân trên đảo này từ đầu thế kỉ XIX. Quần đảo này là vùng thuộc chủ quyền của An Nam (Đại Nam tức Việt Nam – người dịch). Pháp chỉ làm cái việc là khẳng định tất cả các quyền không thể chối cãi đối với quần đảo này. Vấn đề này là thực tế”.
Tư liệu lưu trữ (1938) khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa

Năm 1932, dưới thời Toàn quyền Pasquier, một tàu Pháp đã đổ bộ lên và cắm cờ Pháp trên quần đảo này.
Tài liệu cho biết thêm: “Để đảm bảo an toàn hàng hải trên vùng biển này, chính quyền Đông Dương đã thiết lập trên quần đảo này hai ngọn hải đăng và một trạm khí tượng. Một vài biệt đội vùng với lực lượng đông đảo cảnh sát người Việt cũng đã được cử đến quần đảo này để bảo vệ những công trình này. Trong năm 1937, một quan chức hành chính của chính quyền Đông Dương cùng 6 lính bảo an đã thực hiện cuộc kiểm tra trên quần đảo này nhằm duy trì hai ngọn hải đăng và đảm bảo cho trạm khí tượng đặt trên quần đảo này được hoạt động tốt”.
Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam từ thế kỷ XIX
Tài liệu thứ hai trong Hồ sơ lưu trữ cho biết: “Theo luận điểm của Pháp, quần đảo Hoàng Sa đã được sáp nhập vào Việt Nam bởi Vua An Nam (Vua Nguyễn) vào năm 1816, sau đó là bởi Courbet vào năm 1885. Vào năm này, Trung Quốc đã thừa nhận rằng, Pháp thay thế quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này”.
Tài liệu cũng nêu rõ, lối vào quần đảo Hoàng Sa là vô cùng khó khăn, nếu không muốn nói là không thể.
“Quần đảo này được tạo bởi 36 đảo hoặc cụm đảo nhô lên hoặc đảo chìm. Yếu tố này thực sự nguy hiểm đối với giao thông hàng hải. Những đảo lớn của quần đảo này bao gồm các đảo: Tri Tôn, Pyramide, Lincoln, Boiseé, Rocheuse, Roberts, Pattle, Amphitrite,…”.
Một số hải đội người Việt đã đóng trên quần đảo này, nó nằm giữa đảo Hải Nam và cảng Đà Nẵng. Tuy nhiên, khi Chính phủ bảo hộ Pháp và triều đình Việt Nam thiết lập trên quần đảo Hoàng Sa một vài ngọn hải đăng và trạm khí tượng để kiểm soát bão, thì Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại kiến nghị với Bộ trưởng Pháp rằng, quần đảo này là của Trung Quốc.
Chính phủ Pháp khẳng định, quần đảo Hoàng Sa đã được sáp nhập vào Việt Nam năm 1816. Đến năm 1885, Trung Quốc cũng đã thừa nhận, Pháp thay thế quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.
Trung tâm Lưu trữ Phòng Thương mại và Công nghiệp Marseille (CCIMP) ở số 9 đường La Canebìere, 13001, thành phố Marseille, Cộng hòa Pháp. Trung tâm này chủ yếu lưu trữ những tài liệu liên quan tới thương mại giữa Pháp và các nước trên thế giới cũng như với thuộc địa của Pháp, trong đó có Việt Nam. Nguồn tài liệu ở đây được chính thức thu thập và lưu trữ từ thế kỷ XVII. Các hồ sơ lưu trữ ở đây phản ánh những thông tin liên quan tới chính sách thương mại, quan hệ thương mại, thuế quan từ thế kỉ XIII đến nay. Nguồn lưu trữ ở đây được chia thành 3 phông chủ yếu: Phông cũ là những hồ sơ chứa đựng thông tin từ năm 1801 trở về trước, gồm các série từ A đến K. Phông hiện đại là những hồ sơ chứa đựng thông tin từ năm 1801 đến nay, gồm các série : MA, MB, MC, MD, MÉTROPOLE, MF, MG, MH, MJ, MK, ML, MM, MN, MP, MQ, MR, AC. Phông đính kèm là những hồ sơ liên quan tới các công ty thương mại, những nhân vật, quan chức thương mại của Pháp và các thuộc địa Pháp. Tài liệu liên quan tới Hoàng Sa mà chúng tôi đề cập nằm lẫn trong Hồ sơ série MQ thuộc phông hiện đại.
“Theo luận điểm của Pháp, quần đảo Hoàng Sa đã được sáp nhập vào Việt Nam bởi Vua An Nam (Vua Nguyễn) vào năm 1816, sau đó là bởi Courbet vào năm 1885. Vào năm này, Trung Quốc đã thừa nhận rằng, Pháp thay thế quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này”.
news.vdaiy.net
![]()
Views: 0
LTS: Đã từ lâu ai cũng biết lịch sử là những mốc thời gian. Các giai đoạn diễn biến lịch sử từ trước đến giờ hầu như được ghi lại theo cái mốc “cuộc đời” của các ông vua, còn gọi là “triều đại”, nay có 1 Kỹ sư chia giai đoạn lịch sử bằng cái mốc “ước lệ” phỏng theo cách chia của cách mạng công nghiệp.
Cám ơn anh Tho Nguyen đã cho phép đăng bài này.

Biển đông 4.0
Biển Đông 1.0 có thể bắt đầu từ thế kỷ 15, khi vua Lê Thánh Tông cho vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ (theo Đại Việt Sử ký toàn thư). Đến thế kỷ 18, khi chúa Nguyễn cho lập Đội Bắc Hải và Đội Hoàng Sa ra đó khai thác và khẳng định chủ quyền có thể là 1.1.
Biển Đông 2.0 bắt đầu vào lúc Pháp chiếm Việt Nam cuối thế kỷ 19, sau khi hiệp ước biên giới Pháp -Thanh ký năm 1887. Update 2.1 phải là lúc toàn quyền Paul Doumer quyết định xây cột hải đăng ở Hoàng Sa, nhưng thiếu tiền nên chỉ cử người ra đó…. Thời kỳ này rất quan trọng vì Việt Nam nhờ Pháp mà lấn át được cả nhà Thanh lẫn Quốc Dân Đảng trong việc bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa. 2.2 là lúc Nhật thay Pháp quản lý cả hai quần đảo.
Năm 1951, tại Hội nghị quốc tế về Hiệp ước hòa bình với Nhật ở San Fransisco, cụ Trần Văn Hữu đã đại diện cho Quốc gia Viêt Nam của Bảo Đại tuyên bố chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo này. Đây có thể coi là release 2.3, update cuối cùng của version 2.0.
Biển Đông 3.0 bắt đầu bằng việc ký hiệp định Genève ngày 20.7.1954, chia đôi Việt Nam. Theo đó nhà nước Việt Nam Cộng Hòa quản lý các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nhân lúc tranh tối tranh sáng, ngày 31.5.1956 Đài Loan cho tàu ra chiếm đảo Ba-Bình, đảo lớn nhất thuộc quần đào Trường sa, đánh dấu Update 3.1.
Rồi 3.2 là bước nâng cấp quan hệ Việt-Trung trên biển, khi Bắc Kinh trả lại đảo Bạch Long Vĩ cho ta tháng 1.1957. Từ đó mà có Update 3.3, khi ông Đồng ký công hàm gửi đồng nghiệp Chu Tổng lý, ủng hộ quan điểm về thềm lục địa của Trung Quốc? Còn cuộc hải chiến Hoàng sa tháng giêng 1974 phải chăng là release cuối cùng của version 3.0?
Sự kiện 30.4.1975, có thể coi là version 4.0 của tranh chấp Biển Đông, trong đó sự kiện Gạc Ma 1988 liệu có phải là 4.1? Việt Nam thành lập hai huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có văn phòng trong phố Đà Nẵng và Nha Trang là 4.2? Cuộc biểu tình của thanh niên Việt Nam chống Trung Quốc xâm lược tháng 12.2007 có thể coi là 4.3. Sự kiện CHXHCN Việt Nam công nhận thừa kế vai trò của VNCH trên trên hai quần đảo là 4.4. Vụ tòa trọng tài Den Haag theo đơn kiện của Philippin, bác bỏ yêu sách của TQ là 4.5 v.v và v.v.
Kết thúc 4.xx chắc sẽ là ngày mấy ông Đô đốc Mỹ gốc Việt lái tàu về phá tan các đảo bồi đắp trái phép của TQ, đòi hộ lãnh thổ cho đồng bào mình. Trong lúc có nhiều người ở Việt Nam đã coi đó là những cồn cát chim ỉa. Thậm chí đã có lúc, khái niệm “bọn Hoàng-Sa, Trường-Sa” được phổ biến nội bộ để ám chỉ kẻ xấu.
Và 5.0 là giấc mơ trọn vẹn?
Tất nhiên đó chỉ là cách sắp xếp của một tay thợ máy tính, dốt về lịch sử. Có thể các nhà nghiên cứu Biển Đông sẽ có ý kiến khác. Nhưng ít ra cách sắp xếp này hay ở chỗ: đã có 1.0 thì có 1.1, 1.2 cho tới 4.xx. Mấy ông bô bô rao giảng „Cách mạng 4.0“ „thế lọ thế chai“, khi bị hỏi 4.1. 4.2 là gì lại tịt mít.
Nhưng Biển Đông thì có liên quan gì đến „Tư bản số và Độc tài số“?
Chuyện thế này: Hai thế lực trên đã đặt thế giới trước một cuộc chiến tranh mạng (Cyberwar). Vì vậy quân đội Đức (Bundeswehr) đã thành lập một binh chủng mới để chống lại các cuộc tấn công mạng. Cần nói thêm là từ năm 2011, quân đội Đức đã trở thành một quân đội chuyên nghiệp, không có lính nghĩa vụ nữa. Ai đi bộ đội sẽ thành quân nhân chuyên nghiệp, có thể đeo lon suốt đời. Do vậy quân đội Đức đã từ 450.000 người rút xuống chỉ còn 180.000.
„Bộ tư lệnh chiến tranh mạng“ (Command Cyber- and Information CIR) sẽ có khoảng 13.500 quân nhân chuyên nghiệp. Lực lượng này tuy nhỏ hơn Hải quân (16.500), nhưng rất tinh nhuệ, vì chủ yếu là hạ sỹ quan trở lên. Lý do là số này được tuyển dụng từ các chuyên gia tin học đã có kinh nghiệm, sau mấy tháng huấn luyện quân sự sẽ thành hạ sỹ quan hay sỹ quan, tùy theo trình độ.
Peter, bạn tôi cũng đi bộ đội. Vốn cũng là dân làm ăn tự lập, lăn lộn với nghề máy tính để nuôi vợ con, nay nghe theo tiếng gọi của các loại đảng, Peter đầu quân để không cho bọn “Độc tài số” tấn công nước Đức. Gã kể: Đời lính thì vất vả hơn, nhưng lương cao và không phải lo kiếm ăn hàng ngày như hồi làm tự do.
Peter có vợ Việt. Cách đây vài năm, gã đã xem bộ phim „Hoàng Sa – Nỗi đau mất mát“ của anh André Menras Hồ Cương Quyết. Hồi đó, phim này bị coi là „nhậy cảm“, nhiều người ngại dính vào, tôi đã phải tự đứng ra tổ chức ở Köln. Vợ chồng Peter cùng hơn 100 người, có cả báo chí Đức, đến dự và quyên góp cho bà con ngư dân. Xem xong Peter bức xúc lắm.
Trường võ bị Hamburg, nơi Peter đang học, muốn bổ túc kiến thức quốc tế cho các học viên. Peter nghĩ đến quê hương vợ mình và đề nghị đưa „Xung đột Biển Đông“ vào giáo trình ngoại khóa. Trường chấp nhận, thế là Peter nhờ tôi kiếm giáo trình.
May mắn là Phạm Thanh Vân, thành viên của „Dự án Đại ký sự biển Đông” nhận giúp đỡ. Sau nhiều đêm cặm cụi làm việc, cô đã gửi sang một bản thuyết trình power point bằng tiếng Anh. Tôi đã dịch sang tiếng Đức cho Peter. Gã mừng lắm, bảo sẽ khuyên ban giám hiệu sử dụng tài liệu này cho những khóa sau.
Hôm nay Peter báo tin là gã đã hoàn thành buổi báo cáo về đề tài Biển Đông. Nhiều sỹ quan Đức giờ mới biết đến đường chín đoạn, đến các đảo nhân tạo “made by China”.
Và họ cũng biết đến đến những người lính Việt Nam đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng 1.1974 và ở Gạc Ma thuộc Trường Sa tháng 3.1988
Köln 13.12.2018
Bài lấy từ Facebook Tho Nguyen:
https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/2616330051718385
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0





![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
Truyền thông Trung Quốc mới đưa tin, các nhà khoa học nước này đã phát hiện một bản đồ lịch sử phân định ranh giới hành chính và quốc gia của Trung Quốc ở Biển Đông. Điều đó có nghĩa là gì khi Trung Quốc đang tích lũy bằng chứng để củng cố quyền lãnh thổ của mình cho tuyên bố về “Đường 9 đoạn” ở Biển Đông.

Giáo sư Carl Thayer thuộc Đại học New South Wales ở Canberra, Học viện Quốc phòng Australia, đã có những nhận định như sau: Trong luật pháp quốc tế, một bản đồ không thể được dùng để khẳng định chủ quyền về lãnh thổ, trừ phi nó được gắn với một hiệp ước. Bản đồ 1951 “mới phát hiện” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý, nó không phải do Chính phủ Trung Quốc ban hành mà chỉ được Câu lạc bộ Guanghua and Geosciences đưa ra. Phát hiện này không trao cho Trung Quốc quyền có được chủ quyền ở đó.
Theo Luật pháp quốc tế, tuyên bố chủ quyền lãnh thổ phải dựa trên sự chiếm đóng và quản trị liên tục. Hoàn toàn không có bằng chứng cho thấy cộng đồng quốc tế chấp nhận bản đồ này. Rất đơn giản, những đặc điểm mà các nhà khoa học Trung Quốc nay tuyên bố hoặc là bị các cường quốc thực dân chiếm đóng hoặc là bị bỏ không (và có khả năng không thể sinh sống được) tại thời điểm đó.
Theo luật pháp quốc tế, vùng đất phải cao hơn mặt biển và Philippines, Việt Nam, Malaysia đều được hưởng một Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý tính từ đường cơ sở ven biển.
Nếu Trung Quốc chính thức thông qua bản đồ này thì sẽ tuyên bố chủ quyền đối với các vùng nước và nguồn tài nguyên bao trùm lên các khu vực mà các quốc gia ven biển có quyền tài phán chủ quyền. Điều này sẽ làm trầm trọng thêm tình hình hiện tại vì Tòa Trọng tài đã nghe những khiếu kiện của Philippines chống Trung Quốc và đã ra phán quyết về vấn đề này.
Nếu Chính phủ Trung Quốc chấp nhận bản đồ này, sẽ dẫn đến một cuộc đối đầu thực chất giữa hải quân, cảnh sát biển và ngư dân Trung Quốc với những nước ven biển khu vực khi tiếp cận các nguồn tài nguyên trên biển. Đó sẽ là bước khởi đầu cho sự kích động và thụt lùi.
Nếu Trung Quốc tuyên bố một đường ranh giới hình chữ U liền kề mới thì sẽ tự đưa mình vào một cuộc xung đột với những cường quốc hàng hải chính thường xuyên có có tàu thuyền và máy bay qua khu vực này.
Chúng ta biết từ các nghiên cứu lịch sử rằng bản đồ năm 1947 do nước Cộng hòa Trung Hoa (ROC) vẽ ra, trước khi buộc phải đưa đến Đài Loan, về cơ bản lấy từ các bản vẽ tạm thời của hải quân Anh giai đoạn đó vì ROC không có phương tiện để tiến hành các cuộc khảo sát. Các nhà vẽ bản đồ của ROC đã sao chép các đặc trưng trên bản đồ của hải quân Anh, kể cả những lỗi mà sau này được hải quân Anh chữa lại, và tìm cách chuyển các tên tiếng Anh sang tiếng Trung.
Các quan chức ROC không quen với các thuật ngữ về hàng hải và đã gặp nhiều khó khăn khi chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Trung. Chẳng hạn, bãi James Shoal ban đầu được dịch như một dải cát và nay được gọi phổ biến là rạn san hô. Trên cơ sở đó, Trung Quốc tuyên bố bãi James Shoal là vùng đất xa nhất của nước này ở Biển Đông. Thực tế, bãi James Shoal nằm ngập dưới nước hơn 20m. Tóm lại, có khả năng là một bản đồ được vẽ vào năm 1951 tiếp tục có những lỗi tương tự như vậy.
Một bản đồ không có vị thế cụ thể trong luật pháp quốc tế để hỗ trợ cho một tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc cần cung cấp bằng chứng chiếm đóng và duy trì quyền quản lý liên tục đối với những thực thể đất đó (các đảo và bãi đá). Khẳng định rằng cộng đồng quốc tế chấp nhận bản đồ này là không đúng thực tế. Pháp tiếp tục chiếm giữ các đảo đá ở quần đảo Hoàng Sa cho tới tận năm 1954. Vào thời điểm đó, Việt Nam và Malaysia chưa phải là một đất nước độc lập.
Đường hải giới 11 đoạn ban đầu của ROC đã được chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) giảm xuống còn 9 đoạn và rồi trong những năm gần đây mở rộng lên 10 đoạn bao gồm cả Vùng lãnh thổ Đài Loan. Nói cách khác, những đường ranh giới này có thể thay đổi để phù hợp với các mục tiêu chính trị của Bắc Kinh.
Có ý kiến cho rằng bản đồ năm 1951 mới được phát hiện có thể được dùng làm cơ sở phân định ranh giới chính xác cho những tuyên bố lịch sử của Trung Quốc về chủ quyền ở khu vực này khi phải đối mặt với cả lịch sử và luật pháp quốc tế. Các nhà khoa học Trung Quốc dường như đang tìm cách thúc đẩy tuyên bố đối với các quyền lịch sử rằng phán quyết của Tòa trọng tài thường trực đưa ra trong vụ kiện của Philippines chống Trung Quốc là không hợp lệ. Các quyền lịch sử được định nghĩa rõ ràng trong luật quốc tế bao gồm các khu vực hàng hải liền kề được chia sẻ thông thường giữa hai hay nhiều quốc gia; nó không bao gồm một tuyên bố trong phạm vi toàn bộ một vùng biển như Biển Đông.
Sáng kiến hiện nay của các nhà khoa học Trung Quốc là để cung cấp độ chính xác cho Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) đường ranh giới 9 đoạn của Trung Quốc bằng cách liên kết các dấu gạch ngang và xác định chiều rộng của chúng, để từ đó tuyên bố toàn bộ các nguồn tài nguyên trong vùng nước và đáy biển kèm đường ranh giới mới này là một ví dụ cho chủ nghĩa siêu dân tộc Trung Quốc nếu không phải là chủ nghĩa Đại Hán.
Tuyên bố của Trung Quốc hoàn toàn bác bỏ các quyền của người dân bản địa ở những nước ngày nay là Philippines, Việt Nam, Malaysia và Indonesia, những nước đã sở hữu vùng biển này từ rất lâu trước khi ngư dân và nhà thám hiểm Trung Quốc xuất hiện.
Như đã nói ở trên, Tòa Trọng tài nhận thấy đường ranh giới 9 đoạn của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở trong luật pháp quốc tế. Tòa cũng phán quyết rằng Trung Quốc không thể bao vây quần đảo Trường Sa bằng một đường cơ sở đó. Tuyên bố chủ quyền khu vực hàng hải phải bắt nguồn từ đất liền. Tòa đã phán quyết không hòn đảo nào trong quần đảo này có ý nghĩa pháp lý. Do đó, không có bất kỳ đảo hay bãi đá nào mà Trung Quốc tạo ra có thể yêu cầu EEZ 200 hải lý. Quy định hợp pháp này phủ nhận tuyên bố của các nhà khoa học Trung Quốc đối với tất cả các nguồn tài nguyên nằm trong đường 9 đoạn đó.
Nỗ lực của các nhà khoa học Trung Quốc nhằm chứng minh một tuyên bố lịch sử bất hợp pháp có thể làm gián đoạn nghiêm trọng các cuộc đàm phán đang diễn ra giữa Trung Quốc với các nước thành viên ASEAN nhằm đạt Bộ quy tắc ứng xử ràng buộc về mặt pháp lý của các bên ở Biển Đông. Sự không trung thực của các nhà khoa học Trung Quốc đó sẽ đánh vào quyền tự do hàng hải và quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên mà các nước có tuyên bố chủ quyền ở Đông Nam Á vốn được hưởng một cách hợp pháp.
Trang mạng Asia Times bình luận về bản đồ 1951 rằng phát hiện “chỉ mới được tìm thấy” thông qua một cuộc nghiên cứu tư liệu quốc gia này có thể là ý đồ mới nhằm củng cố, thậm chí là mở rộng những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trong vùng Biển Đông, một cái cớ để Bắc Kinh chứng minh về mặt pháp lý tấm bản đồ có “Đường 9 đoạn” của nước này. “Đường chữ U” (hay “Đường lưỡi bò”) trong tấm bản đồ in năm 1951 được nối liền liên tục, thay vì đứt đoạn như trong tuyên bố gần đây của Trung Quốc.
Tuy “phát hiện” được cho là kết quả tìm tòi của các nghiên cứu độc lập nổi tiếng ở Trung Quốc, song học giả Richard Javad Heydarian, hiện đang làm việc tại Manila và hợp tác với Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cũng như Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR) lại đặt câu hỏi liệu kết quả này có bị Chính phủ Trung Quốc tác động hay không, nhất là trong bối cảnh dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, các viện hàn lâm tại quốc gia này thường bị kiểm soát khá chặt chẽ.
Nghi vấn này được cho là rất có cơ sở bởi ngày 22/4 vừa qua tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng đã tiết lộ việc Trung Quốc đang thực hiện một sự án nghiên cứu hải dương, với mục tiêu vạch ra “đường ranh giới mới” trên Biển Đông với cái gọi là “Đường 9 đoạn” hay “đường lưỡi bò” nối liền.
Thực tế, nhiều chuyên gia cho rằng đây là nỗ lực mới nhất của Bắc Kinh nhằm khôi phục hình ảnh của mình sau thất bại về mặt pháp lý trong vụ kiện tại Tòa Trọng tài vào năm 2016.
Asia Times bình luận: “Nếu Bắc Kinh thừa nhận các tuyên bố của giới học giả, căng thẳng âm ỉ với các nước tuyên bố chủ quyền nhỏ bé hơn ở Đông Nam Á, những nước phản đối gay gắt việc Trung Quốc tăng cường sự hiện diện về mặt quân sự và có những hoạt động bồi đắp quy mô lớn, sẽ lại bùng lên”. Điều rõ ràng hơn mà người ta có thể dự đoán được là Trung Quốc sẽ vẫn quyết tâm tìm cách đưa ra những bằng chứng và lý lẽ pháp lý “nửa mùa” để bao biện cho tham vọng của mình ở Biển Đông.
BDN
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
YouTube
![]()
Views: 0

Tác giả: Hồng Thủy
30 năm sau ngày diễn ra vụ thảm sát Gạc Ma, một số học giả Trung Quốc đã lên tiếng thông qua Thời báo Hoàn Cầu. Chúng tôi xin dẫn lại và có đôi lời phản biện.
Ngày 14/3 là vừa tròn 30 năm ngày diễn ra sự kiện lính Trung Quốc thảm sát 64 chiến sĩ Công binh Hải quân Nhân dân Việt Nam đang làm nhiệm vụ xây dựng tại bãi đá Gạc Ma, Trường Sa, Khánh Hòa.
Thời báo Hoàn Cầu, Trung Quốc đã lên tiếng về sự kiện này.
Mục Tin tức quốc tế, Thời báo Hoàn Cầu phiên bản tiếng Trung Quốc ngày 14/3 đăng bài: “Trận chiến cuối cùng Trung Quốc đánh, người Việt Nam miêu tả khiến tôi kinh ngạc” của tác giả Bổ Nhất Đao, do Lý Lâm Chi biên tập.
Bổ Nhất Đao là bút danh / nick name của một cây viết thường xuyên tham gia bình luận các vấn đề quốc tế và quân sự trên các diễn đàn trực tuyến Trung Quốc.
Bài viết này có tham khảo ý kiến một số học giả Trung Quốc: Tư Trấn Đào – Viện Nghiên cứu Đông Nam Á; Tôn Tiểu Nghênh – Viện Khoa học xã hội Quảng Tây; Lưu Phong – chuyên gia Trung Quốc về biển.
Những thông tin, ý kiến này ở mức độ nào đó phản ánh nhận thức của giới nghiên cứu và cách thức tuyên truyền của Trung Quốc về Biển Đông có thể gây hiểu lầm và ngộ nhận cho những người Trung Quốc thiếu thông tin;
Chúng tôi xin dẫn lại nguyên văn bài viết này, đồng thời sẽ có phần bình luận sau mỗi vấn đề tác giả Bổ Nhất Đao và Thời báo Hoàn Cầu nêu ra.
Do bài viết khá dài, đề cập nhiều vấn đề về nhận thức, đánh giá của một bộ phận học giả Trung Quốc về quan hệ Việt – Trung cũng như Biển Đông, chúng tôi xin chia thành các bài nhỏ.
Bài viết sẽ theo từng vấn đề các tác giả Trung Quốc đặt ra, với kết cấu 2 phần: dẫn lại nguyên văn và bình luận, ngõ hầu làm rõ các vấn đề và lập luận phía Trung Quốc đặt ra.
Mô tả của học giả Trung Quốc, Thời báo Hoàn Cầu về cuộc thảm sát Gạc Ma
“Ngày này 30 năm về trước, 14/3/1988 đã xảy ra xung đột vũ trang giữa Hải quân Trung Quốc với Hải quân Việt Nam để tranh đoạt quyền kiểm soát bãi đá Gạc Ma (Trung Quốc gọi là đá / mỏm Xích Qua).
Quy mô xung đột không lớn và chỉ diễn ra trong 28 phút rồi kết thúc, Hải quân Trung Quốc đã giành thắng lợi tuyệt đối.
Đây là trận chiến cuối cùng mà Trung Quốc đánh.
Tuy nhiên sự kiện diễn ra cụ thể như thế nào không phải người Trung Quốc nào cũng nắm rõ, trong đó có một phần nguyên nhân chúng ta có chủ ý giảm nhẹ sự kiện này.
Hôm nay, chị Đao (tác giả tự xưng) dẫn mọi người cùng xem lại một chút (sự kiện này).
Thực tế, trận chiến này có liên quan mật thiết và ý nghĩa vô cùng quan trọng với cục diện Biển Đông ngày nay.
Vì vậy, chúng ta bắt đầu lục tục triển khai hoạt động khảo sát ở khu vực quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa).
Phía Việt Nam lập tức tỏ ra không vui, không ngừng phái hàng loạt tàu thuyền đến quấy rối, thậm chí chớp thời cơ chiếm các đảo, đá.
Hơn 1 giờ sáng ngày 14/3/1988, 7 chiến sĩ của chúng ta vượt sóng đổ bộ lên bãi Gạc Ma và cắm cờ Trung Quốc.
Hơn 6 giờ sáng khi thủy triều rút, phía Việt Nam bắt đầu đổ bộ, cũng cắm cờ Việt Nam lên bãi Gạc Ma.
Hai bên vừa tìm cách đoạt cờ đối phương và giữ cờ của mình, binh sĩ hai phía liên tục đối đầu nhau.
Trong quá trình tìm cách đoạt cờ của nhau, quân Việt Nam cướp cò nổ súng bị quân ta tự vệ đánh trả (theo hồi ức của cựu binh Tôn Minh Viễn trực tiếp tham gia trận Gạc Ma).
Toàn bộ cuộc chiến diễn ra vỏn vẹn 28 phút, 3 tàu hộ vệ và 1 binh lính quân ta bị thương là cái giá phải trả để bắn chìm 1 tàu Việt Nam, 1 tàu trọng thương, bắn chết hơn 60 binh lính Việt Nam để giành thắng lợi tuyệt đối.
Nay quay đầu nhìn lại mới thấy trận Gạc Ma có ý nghĩa chiến lược.
Sau trận này, Trung Quốc đã có 6 điểm đứng chân ở Trường Sa, có nghĩa là chúng ta đã tiến thêm được 500 – 600 km xuống phía Nam.
Tuy nhiên, để nổ ra xung đột thực chất hoàn toàn không phải mong muốn của ta.
Chỉ huy trận Gạc Ma lúc đó là tham mưu trưởng căn cứ Du Lâm, Trần Vĩ Văn, trong hồi ký của mình cho biết:
Lúc đó cấp trên truyền đạt nguyên tắc chiến đấu được tổng kết thành “5 không 1 đuổi”.
5 không là: không chủ động gây sự, không nổ súng trước tiên, không tỏ ra yếu đuối, không chấp nhận thua thiệt, không để mất thể diện;
1 đuổi là, nếu quân địch chiếm các đảo đá của ta, phải lập tức đuổi địch.
Sau khi xảy ra sự kiện này, chúng ta cũng có chủ ý tránh đề cập, tuyên truyền trong nước không nhiều.
Nhưng trận chiến này lại trở thành nỗi đau khó có thể hóa giải trong lòng người Việt Nam về quan hệ với Trung Quốc.
Phía Việt Nam cho biết, lực lượng tham gia hải chiến năm xưa toàn là những công binh tay không tấc sắt;
Họ vì bảo vệ (chủ quyền) các đảo, đá của Việt nam mà buộc phải phải đương đầu với đội quân (xâm lược) mạnh hơn nhiều, với chiến hạm và vũ khí hiện đại, cuối cùng đã anh dũng hy sinh.
Tất nhiền điều này không đúng với tình hình thực tế.
Các tư liệu công khai cho thấy, trong trận hải chiến Gạc Ma phía Việt Nam có 2 tàu tham gia đều là tàu vận tải có vũ trang mà Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam trong chiến tranh, có trang bị súng máy.
Tàu 505 còn lại là tàu đổ bộ, có 8 khẩu cối 40 ly, như vậy có thể nói là vũ trang đầy đủ, chứ không thể bảo tay không tấc sắt.
Trong lúc chị Đao viết bài này thì có học giả chuyển đến tư liệu mới nhất từ phía Việt Nam tiết lộ, Báo Vietnamnet ngày 13/3 đăng bài: “Gạc Ma 1988: Công bằng là để cùng tiến bộ”. [2]
Bài báo này viết rằng những người “tay không tấc sắt bị buộc phải tự vệ” là bịa đặt. Những luận điệu như vậy năm nào đến ngày này cũng đều xuất hiện.” [1]
Những lập luận ngụy biện, sai sự thật của truyền thông và học giả Trung Quốc
Chúng tôi xin tạm không bàn đến những từ ngữ mang màu sắc lập trường chính trị (cực đoan) của các tác giả Trung Quốc trong phần đầu tiên của bài viết này.
Ở đây, chúng tôi chỉ xin trao đổi và làm rõ những lập luận chủ yếu mà truyền thông và học giả Trung Quốc nêu ra về vụ thảm sát Gạc Ma.
Thứ nhất, “cái bẫy núp danh UNESCO”
Việc Trung Quốc thiết lập 5 trạm quan trắc hải dương, trong đó có trạm quan trắc ở Trường Sa đặt tại đá Chữ Thập theo một thỏa thuận của UNESCO năm 1987, thỏa thuận này không có nghĩa là UNESCO công nhận yêu sách “chủ quyền” mà Trung Quốc tuyên bố ở Trường Sa.
Tiến sĩ Trần Công Trục sẽ có bài phân tích sâu hơn về thủ đoạn Trung Quốc sử dụng các tổ chức quốc tế để nhằm giành sự công nhận trên thực tế các yêu sách phi lý họ tuyên bố trên Biển Đông, mời quý bạn đọc quan tâm theo dõi vào ngày mai.
Thứ hai, về vấn đề bên nào nổ súng trước trên bãi Gạc Ma sáng 14/3/1988
Cho đến nay, hai bên có quan điểm khác nhau.
Chúng tôi xin nhấn mạnh rằng, dù bên nào nổ súng trước cũng không làm thay đổi bản chất sự kiện là một cuộc thảm sát lính Trung Quốc nhằm vào 64 chiến sĩ công binh Hải quân Nhân dân Việt Nam đang làm nhiệm vụ xây dựng trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Tác giả Bổ Nhất Đao và các học giả Trung Quốc được tham vấn, dựa vào hồi ký của một cựu binh Trung Quốc tham gia sự kiện này để dẫn tới kết luận ai nổ sung trước, e rằng thiếu khách quan.
Chúng tôi xin trích dẫn ra đây một đoạn bình luận của nhà báo Bill Hayton trong sách “Biển Đông – Cuộc tranh giành quyền lực ở châu Á” do nhà nghiên cứu Phan Văn Song dịch để các nhà nghiên cứu Trung Quốc tự rút ra kết luận:
“Tối 13 tháng 3, Hải quân Việt Nam phái 3 tàu chia nhau đi tới đá Gạc Ma, đá Cô Lin (Collins) và đá Len Đao (Lansdowne).
Thật không may cho những người trên tàu, các con tàu cũ rỉ sét này [37] đã bị phía Trung Quốc phát hiện, họ đã chạy tới ngăn chặn với một lực lượng lớn hơn và trang bị vũ khí nhiều hơn.
Rạng sáng ngày 14 tháng 3 năm 1988, Việt Nam chiếm được đá Cô Lin và Len Đao (và vẫn duy trì sự kiểm soát ở đó cho đến ngày nay).
Chiến dịch đá Gạc Ma biến thành thảm họa.
Đích xác chuỗi sự kiện là gì vẫn còn tranh cãi, nhưng có vẻ như Việt Nam đổ bộ trước trên một chiếc thuyền nhỏ chở đầy các dụng cụ xây dựng, và cắm cờ trên san hô.
Sau đó quân Trung Quốc đến và đã cố nhổ bỏ các lá cờ. Hai bên to tiếng với nhau và sau đó xô xát.
Các tường trình phía Trung Quốc nói rằng một lính Việt Nam nổ súng và làm bị thương một lính Trung Quốc sau đó họ rút lui khi các tàu Việt khai hỏa bằng súng máy.
Phía Việt Nam nói điều ngược lại: Trung Quốc bắn chết phó chỉ huy của lực lượng đổ bộ Việt Nam và rút lui trước khi tàu của họ nổ súng.
Điều lạ là một bộ phim tuyên truyền do Hải quân Trung Quốc đưa ra năm 2009 để chào mừng kỉ niệm lần thứ 60 của hải quân cho thấy phiên bản của Việt Nam đáng tin hơn.
Video này, bây giờ đã có trên YouTube, được quay từ một trong các tàu Trung Quốc và cho thấy lính Việt Nam đứng trong nước sâu tới gối khi thủy triều dâng lên các rạn san hô.
Sau đó nhiều cột nước lớn tung toé xung quanh các binh sĩ Việt Nam khi tàu Trung Quốc nổ súng.
Trong vài giây hàng người mong manh đã hoàn toàn biến mất và 64 chết trong sóng nước: các khẩu súng máy là của Trung Quốc và các nạn nhân là Việt Nam.”
falls es in deinem Browser deaktiviert sein sollte.</div></div>
Thứ ba, xâm lược Gạc Ma là hành động phi pháp có âm mưu lâu dài, tính toán kĩ lưỡng, chuẩn bị đầy đủ và tiến hành một cách sắt máu
Cuộc xâm lược và thảm sát Gạc Ma là hành động có kế hoạch, tính toán kỹ lưỡng chứ không phải “để nổ ra xung đột thực chất hoàn toàn không phải mong muốn của Trung Quốc” như các tác giả lập luận.
Ngày 17/8/2012 website Tin tức Đảng Cộng sản Trung Quốc (cpc.people.com.cn), mục Lịch sử Đảng đăng bài viết:
“Lưu Hoa Thanh và việc bố phòng ở Hoàng Sa, cướp đoạt các bãi đá Trường Sa”(Lưu Hoa Thanh dữ Tây Sa thiết phòng, Nam Sa đoạt tiêu). Bài viết này cho hay:
“Thực ra ngay từ năm 1974, Đặng Tiểu Bình đã nói, sân bay ở Hoàng Sa nhất định phải làm, vị trí đó trọng yếu, có thể tiến ra Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa), vươn ra Trường Sa và có thể khống chế Trường Sa.
Lưu Hoa Thanh đã nói với lãnh đạo Quân ủy (Đặng Tiểu Bình) rằng: “Hiện tại cơ hội của chúng ta đến rồi, quan trọng là quyết định và tiến hành thôi.”
Về việc này, người phụ trách chủ yếu của Quân ủy trung ương (chỉ Đặng Tiểu Bình) có thái độ rất kiên quyết:
“Chúng ta phải thể hiện rõ lập trường nghiêm túc, chủ quyền lãnh hải ở Trường Sa thuộc về chúng ta, và phải tăng cường khả năng kiểm soát quân sự của chúng ta ở Trường Sa.
Không chỉ có vậy, còn phải tăng cường tuần tra để thể hiện quốc uy, quân uy của chúng ta.
Về hoạt động đấu tranh trên hướng này, cần phải tăng cường lực lượng nào, xây dựng gì, anh nhanh chóng nghiên cứu và viết báo cáo cho tôi.”
Sau cuộc trao đổi này, Lưu Hoa Thanh cùng với các quan chức quân sự hàng đầu Trung Quốc bắt tay vào viết kế hoạch thôn tính Trường Sa. Những thành viên tham gia cùng Lưu Hoa Thanh gồm có:
Hồng Học Trí (Phó chánh văn phòng Quân ủy trung ương), Trì Hạo Điền (Tổng tham mưu trưởng), Trương Bân (Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần), Trương Liên Trung (Tư lệnh Hải quân), Lý Diệu Văn (Chính ủy Hải quân) bắt tay vào việc nghiên cứu, lập kế hoạch thôn tính Trường Sa.
Qua nhiều lần nghiên cứu và chuẩn bị, kế hoạch thôn tính Trường Sa hoàn tất, ngày 29/2/1988 Đặng Tiểu Bình đã phê chuẩn kế hoạch này trong vai trò Chủ tịch Quân ủy trung ương. [2]
Điều này hoàn toàn phù hợp với diễn biến thực tế theo nghiên cứu của Bill Hayton về sự chuẩn bị kĩ lưỡng của Trung Quốc trong kế hoạch thôn tính Gạc Ma:
“Dù đối mặt với kháng cự vũ trang và thời tiết xấu họ đã chiếm 6 rạn san hô chủ yếu nằm dưới mặt biển và chỉ trong vòng hai tháng đã xây dựng xong các nhà giàn sinh sống, các cơ sở tiếp tế và các ụ phòng thủ.
Hơn nữa, mỗi một trong 6 rạn san hô này là vị trí chiến lược nằm trong vòng một vài km của các đảo chính do các đối thủ Trung Quốc nắm giữ và từng rạn chưa từng bị chiếm đóng trước năm 1988.
Các đoàn điều tra đã thực hiện công việc của mình một cách xuất sắc. Trung Quốc hiện nay đã có nhiều hơn một chỗ đứng trong Quần đảo Trường Sa.”
Thiết nghĩ, chỉ 2 nội dung này cũng đủ cho thấy 3 lập luận nói trên của các nhà nghiên cứu Trung Quốc là ngụy biện. Nó cũng đủ chứng minh trận Gạc Ma là một cuộc thảm sát có chủ ý.
Còn sự “kinh ngạc” của tác giả Bổ Nhất Đao về việc mô tả 64 chiến sĩ công binh Hải quân Nhân dân Việt Nam “tay không tấc sắt”, xin hãy xem lại video về cuộc thảm sát dã man mà Hải quân Trung Quốc gây ra ngày 14/3/1988 sẽ thấy tất cả.
Còn về thông tin các học giả Trung Quốc nêu ra xung quanh vũ khí trang bị của Việt Nam chiến đấu bảo vệ Gạc Ma để họ bác bỏ cụm từ “tay không tấc sắt”, chúng tôi cũng xin được cung cấp thông tin về các tàu Việt Nam ở Gạc Ma sáng 14/3/1988 mà tác giả Bill Hayton gọi là “các con tàu cũ rỉ sét này”:
[37] Hai trong số những chiếc tàu này là tàu đổ bộ được Mỹ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai và để lại sau Chiến tranh Việt Nam. Tàu HQ-505 chính là tàu USS Bulloch County trước đây, được đóng năm 1943. Chiếc thứ 3 là tàu chở hàng.
Trong những bài viết tới, chúng tôi xin dẫn lại và phản biện các lập luận tiếp theo của tác giả Bổ Nhất Đao và một số học giả Trung Quốc liên quan đến các nội dung về “chủ quyền” và “lịch sử”, quan hệ Việt – Trung họ đề cập trong bài viết.
Tài liệu tham khảo:
[1]http://world.huanqiu.com/article/2018-03/11663194.html
[3]http://dangshi.people.com.cn/n/2012/0817/c85037-18765636-2.html
![]()
Views: 0

Trung Quốc gây ra vụ xâm lược đá Gạc Ma. Ảnh tư liệu
Việt Nam tiếp quản Trường Sa và Hoàng Sa như thế nào?
Sau khi đô hộ Đông Dương vào cuối thế kỷ 19, Pháp nhân danh triều đình Nguyễn của Việt Nam quản lý hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Trong thập niên 1930, các chiến hạm Pháp như Inconstant, Alerte, La Malicieuse hay De Lanessan được ghi nhận xuất hiện liên tiếp tại quần đảo Hoàng Sa, trong khi quần đảo Trường Sa cũng có lính pháp đồn trú. Các hoạt động này được xác nhận trong Công báo của Pháp vào tháng 7/1933.
Cùng năm 1933, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đưa quần đảo Trường Sa vào phạm vi quản lý hành chính của tỉnh Bà Rịa, trong khi quần đảo Hoàng Sa được sáp nhập vào tỉnh Thừa Thiên.
Sau thắng lợi của quân Đồng minh trong Thế chiến II, Pháp trở lại Đông Dương và yêu cầu quân đội Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch rút khỏi các đảo mà lực lượng này chiếm trái phép năm 1946. Quân Pháp trở lại đây và xây dựng các trạm khí tượng, đài vô tuyến…
Tại Hội nghị San Francisco được tổ chức để bàn về việc ký Hòa ước hòa bình với Nhật Bản vào đầu tháng 9/1951, đề xuất “trao trả” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc đã được nêu ra, song bị hội nghị bác bỏ với tỉ lệ áp đảo: 46/50 phiếu.
Kết quả này cho thấy Bắc Kinh đã không đạt được mục đích của mình, cho dù trong “Tuyên bố về Hội nghị San Francisco và Dự thảo hòa ước giữa Anh-Mỹ đối với Nhật Bản” vào ngày 15/8/1951, hơn nửa tháng trước Hội nghị, thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã cố lồng vào những tuyên bố vô căn cứ về chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa
Trong khi đó, phái đoàn Chính phủ Quốc gia Việt Nam dự Hội nghị, do ngoại trưởng Trần Văn Hữu dẫn đầu, không vấp phải sự phản đối nào khi khẳng định chủ quyền truyền thống của người Việt đối với hai quần đảo này.
Đến năm 1956, Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Chính quyền này đã đưa lực lượng tiếp quản, đồn trú, tổ chức đơn vị hành chính trên hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, cũng như duy trì các cơ sở khí tượng mà Pháp để lại.
Trong giai đoạn phức tạp khi các bên thực thi hiệp định Geneve (ký năm 1954), Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép các đảo phía đông Hoàng Sa vào năm 1956. Năm 1959, 82 “ngư dân” Trung Quốc – trên thực tế là các binh sĩ cải trang – bị quân đội VNCH bắt giữ khi định xâm nhập các đảo phía tây của Hoàng Sa.
Năm 1974, Trung Quốc huy động không quân, hải quân tấn công xâm lược và chiếm nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa.
Bước sang năm 1975, sau chiến thắng Buôn Mê Thuột, thời cơ chiến lược để giải phóng miền Nam – bao gồm các đảo và các quần đảo Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc… – đã đến. Ngày 5/4/1975, Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam triển khai kế hoạch tiếp quản quần đảo Trường Sa.
Ngay trước thềm 30/4/1975 lịch sử, trong 16 ngày (13-28/4), các lực lượng của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo do VNCH nắm giữ đóng giữ và đóng giữ các đảo cùng một số vị trí khác ở quần đảo Trường Sa. Ngày 5/6, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đến tháng 7/1976, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 6 – được bầu ngày 25/4/1976 – thông qua quyết định đổi tên nước thành CHXHCN Việt Nam. Như vậy, Nhà nước CHXHCN Việt Nam cò toàn bộ quyền, nghĩa vụ quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cuộc đấu tranh ngoại giao không khoan nhượng
Trong tư liệu lịch sử do Nhân dân Nhật báo – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc – cung cấp, chiến lược về biển Đông của Bắc Kinh trong thập niên 1970-80 được mô tả là “tự vệ giới hạn kết hợp với tuyên bố chủ quyền”, thường được đề cập cùng với sự kiện xâm chiếm Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988.
1978-1988 là giai đoạn Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình. Đi kèm chính sách mở cửa là các hoạt động tuyên truyền sai trái của họ trên bình diện ngoại giao.
Trong 10 năm này, Bộ ngoại giao Trung Quốc nhiều lần rêu rao về “chủ quyền” đối với các đảo trên biển Đông, bao gồm quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, thậm chí quay sang vu khống việc Việt Nam thực hiện quyền-nghĩa vụ hợp pháp ở các quần đảo của mình là “xâm chiếm các đảo của Trung Quốc và ký thỏa thuận khai khoáng với Liên Xô nhằm cướp đoạt tài nguyên dầu khí của Trung Quốc”.
Năm 1987, Hội nghị lần thứ 14 Ủy ban hải dương học của các nước trong tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) họp tại Paris, thông qua “Kế hoạch đo đạc mặt biển toàn cầu”.
Bắc Kinh đã chớp cơ hội này để “nhận” xây dựng 5 trạm quan trắc biển, một trong số đó là Trạm số 74 ở Trường Sa. Bắc Kinh khởi công vào tháng 1/1988 và đến ngày 14/3 thì các tàu chiến Trung Quốc gây ra vụ xâm lược đá Gạc Ma – nơi 64 chiến sĩ Việt Nam hy sinh anh dũng khi bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Trong suốt nửa sau thập niên 1970 và cả thập niên 1980, Việt Nam đã đấu tranh ngoan cường trên mặt trận ngoại giao và không ngừng củng cố cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền trên cơ sở luật pháp quốc tế trước chính sách “cả vú lấp miệng em” của Bắc Kinh trên trường quốc tế.
Vào năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước ta đã công bố ba cuốn Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tài liệu này chứng minh hết sức rõ ràng chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam trên hai quần đảo, cả về lịch sử, pháp lý và thực tiễn.
Sách Trắng đầu tiên, được Bộ Ngoại giao công bố ngày 28/9/1979 có tiêu đề “Chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa’’, giới thiệu 19 tài liệu về chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo.
Ngày 30/1/1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra văn kiện “Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa”, đi kèm các tư liệu lịch sử, bản đồ, văn vật mà nước này khăng khăng là có thể chứng minh các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa “từ thời cổ đã là lãnh thổ Trung Quốc” – như một động thái đáp trả Sách Trắng của Việt Nam. Tuy nhiên đến ngày 5/2, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc của Bắc Kinh.
Tháng 12/1981, Bộ Ngoại giao công bố tiếp Sách Trắng “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”.
Tháng 4/1988, Bộ Ngoại giao công bố Sách Trắng “Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và Luật pháp quốc tế”, sau khi thông báo cho Liên Hợp quốc và gửi nhiều công hàm phản đối đến Bắc Kinh – đặc biệt là các Công hàm ngày 16, 17, 23/3/1988.
Bên cạnh ba Sách Trắng được đông đảo dư luận quốc tế thừa nhận, tại nhiều diễn đàn quốc tế xuyên suốt thập niên 1980, như hội nghị quốc tế về Khí tượng châu Á lần thứ 2 tháng 6/1980; hội nghị Địa chất quốc tế lần thứ 26 tháng 7/1980; Thông tin vô tuyến điện thế giới tháng 1/1983,… Việt Nam đã vạch trần và tố cáo Trung Quốc lợi dụng các diễn đàn để tuyên truyền về cái gọi là chủ quyền của Bắc Kinh đối với Hoàng Sa, Trường Sa, đồng thời khẳng định Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý về chủ quyền đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế.
Đặc biệt, tại Hội nghị Hàng không khu vực châu Á – Thái Bình Dương (năm 1983) ở Singapore, Trung Quốc muốn mở rộng vùng thông báo bay (FIR) Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhưng đã bị Hội nghị bác bỏ và quyết định duy trì nguyên trạng…
Cho đến nay, 30 năm sau sự kiện Gạc Ma 1988, những văn kiện được công bố đã và đang là những nền tảng vững chắc để khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
![]()
Views: 0

Chúc độc giả báo East-Sea.de đón Xuân Mậu Tuất vui vẻ đầm ấm hạnh phúc và thành công.
![]()
Views: 0
Bất chấp luật pháp quốc tế, sau khi chiếm đóng Hoàng Sa, Trung Quốc lại một lần nữa dùng vũ lực xâm lược một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Khúc ca bi tráng…
Tháng 01 năm 1988, CHND Trung Hoa đã huy động một lực lượng hải quân gồm nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa xuất phát từ Hải Nam tiến xuống phía Nam, trong đó có 4 chiếc đến khu vực phía Tây Bắc quần đảo Hoàng Sa, khiêu khích và cản trở hoạt động các tàu vận tải của Việt Nam trong khu vực biển gần bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên. Lực lượng tàu chiến này đặt dưới sự chỉ huy của một Bộ Tư lệnh đặc biệt được thành lập để tổ chức triển khai chiến dịch đánh chiếm một phần quần đảo Trường Sa, bắt đầu từ ngày 14 tháng 3 năm 1988, nấp dưới luận điệu quen thuộc “phản công để tự vệ”.

Bức tranh vẽ lại cuộc chiến đấu anh dũng của Thiếu úy Trần Văn Phương chống lại rất đông quân Trung Quốc trên bãi đá Gạc- Ma. Bức tranh được treo trang trọng tại phòng truyền thống Vùng 4 Hải quân Việt Nam
Trong chiến dịch này, Trung Quốc đã sử dụng một liên đội tàu chiến gồm 6 chiếc, trong đó có 3 chiếc tàu hộ vệ số 502, 509, 531 trang bị tên lửa và pháo 100mm, các tàu này đã tấn công, bắn chìm 3 tàu vận tải của Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế cho các bãi đá Len Đao, Cô Lin, Gạc Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn đang do Việt Nam quản lý.
Bãi đá Cô Lin, nơi tàu HQ- 505 ủi bãi giữ chủ quyền. Hiện tại Hải quân Việt Nam vẫn ngày đêm canh giữ.
Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và đồng đội trên tàu HQ- 505 đã anh dũng, mưu trí giữ được bãi đá Cô Lin:
Trong lúc tàu HQ-604 và đảo Gạc Ma bị tấn công dữ dội thì bên đảo Len Đao và Cô Lin, tàu HQ-605 và HQ-505 cũng đồng thời bị bắn. Khi thấy tàu HQ-604 bị bắn chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505 Vũ Huy Lễ cho tàu lùi ra lấy đà và ủi lên đảo Cô Lin. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy. Thủy thủ tàu vừa dập lửa vừa đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu HQ-604.
Nguồn Vietnamnet
Trong cuộc xâm chiếm bất hợp pháp của Trung Quốc tại khu vực bãi đá ở Trường Sa, tính đến ngày 6 tháng 4 năm 1988, Trung Quốc đã chiếm đóng đá Chữ Thập, đá Châu Viên, đá Ga Ven, đá Tư Nghĩa, đá Gạc Ma, đá Su Bi.
Các chiến sĩ hải quân Việt Nam dù bị động trước số lượng áp đảo của tàu chiến Trung Quốc vẫn chiến đấu anh dũng, hy sinh, bảo vệ được chủ quyền tại đá Cô Lin và Len Đao
Năm 1988, Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp quốc, gửi nhiều công hàm phản đối đến Bắc Kinh và đặc biệt là các công hàm ngày 16, 17, 23 tháng 3 năm 1988 đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14 tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (Nghị quyết ngày 13/4/1988 thành lập tỉnh Hải Nam).
Việt Nam tiếp tục đấu tranh bảo vệ chủ quyền

Hải quân Việt Nam, vững tay súng bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương
Tháng 4/1988, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công bố Sách trắng “Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế”.
Ngày 01 tháng 7 năm 1988, tỉnh Phú Khánh được tách làm hai tỉnh : Phú Yên và Khánh Hòa, huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Ngày 4 tháng 3 năm 1992, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Công hàm phản đối “Pháp lệnh về lãnh hải , vùng tiếp giáp lãnh hải của CHND Trung Hoa”. Công hàm khẳng định Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 22 tháng 01 năm 1994, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố Việt Nam có quyền kiểm soát đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam là nước đầu tiên chiếm hữu và quản lý nhà nước hai quần đảo này từ thế kỉ XVII.
Ngày 23 tháng 6 năm 1994, Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982, trong đó có đoạn ghi: “Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các hành động khác có liên quan về Biển Đông thông qua luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước năm 1982 về Luật Biển của Liên Hợp quốc, tôn trọng quyền chủ quyền về kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán đề tìm giải pháp cơ bản, lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực”.

Vòng hoa thả trôi tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ hy sinh trong trận chiến bảo vệ Trường Sa 1988
Danh sách 64 chiến sĩ đã hy sinh ngày 14-3-1988 trong trận chiến bảo vệ quần đảo Trường Sa:
1- Vũ Phi Trừ, quê Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hóa.
2- Nguyễn Văn Thắng, quê Thái Hưng, Thái Thụy, Thái Bình.
3- Phạm Gia Thiều, quê Hưng Đạo, Trung Đồng, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam).
4- Lê Đức Hoàng, quê Nam Yên, Hải Yên, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
5- Trần Văn Minh, quê Đại Tân, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ Tĩnh (nay là tỉnh Nghệ An).
6- Đoàn Đắc Hoạch, quê 163 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng.
7- Tạ Trần Văn Chức, quê Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình.
8- Hán Văn Khoa, quê Văn Lương, Tam Thanh, Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ).
9 – Trần Văn Phong, quê Hải Tây, Hải Hậu, Hà Nam Ninh (Nam Định).
10- Nguyễn Văn Hải, quê Chính Mỹ, Thủy Nguyên, Hải Phòng.
11- Nguyễn Tất Nam, quê Thường Sơn, Đô Lương, Nghệ Tĩnh.
12- Trần Đức Bảy, quê Phương Phượng, Lê Hòa, Kim Bảng, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam).
13- Đỗ Việt Thắng, quê Thiệu Tân, Đông Sơn, Thanh Hóa.
14- Nguyễn Văn Thủy, quê Phú Linh, Phương Đình, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là Hà Nam).
15- Phạm Hữu Đoan, quê Thái Phúc, Thái Thụy, Thái Bình16- Bùi Duy Hiền, quê Diêm Điền, Thái Thụy, Thái Bình.
17- Nguyễn Bá Cường, quê Thanh Quýt, Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam – Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam).
18- Kiều Văn Lập, quê Phú Long, Long Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội.
19- Lê Đình Thơ, quê Hoằng Minh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
20- Cao Xuân Minh, quê Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
21- Nguyễn Mậu Phong, quê Duy Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (nay là Quảng Bình).
22- Trần Văn Phương, quê Quảng Phúc, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
23- Đinh Ngọc Doanh, quê Ninh Khang, Hoa Lư, Hà Nam Ninh (Ninh BÌnh).
24- Hồ Công Đệ, quê Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
25- Đậu Xuân Tư, quê Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
26- Bùi Bá Kiên, quê Văn Phong, Cát Hải, Hải Phòng.
27- Đào Kim Cương, quê Vương Lộc, Can Lộc, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
28- Phan Tấn Dư, quê Hòa Phong, Tuy hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
29- Nguyễn Văn Phương, quê Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình.
30- Võ Đình Tuấn, quê Ninh Ích, Ninh Hòa, Phú Khánh (Khánh Hòa).
31- Nguyễn Văn Thành, quê Hương Điền, Hương Khê, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
32- Phan Huy Sơn, quê Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
33- Lê Bá Giang, quê Hưng Dũng, thành phố Vinh, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
34- Nguyễn Thắng Hải, quê Sơn Kim, Hương Sơn, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
35- Phan Văn Dương, quê Nam Kim, Nam Đàn, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
36- Hồ Văn Nuôi, quê Nghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
37- Vũ Đình Lương, quê Trung Thành, Yên Thành, Nghệ Tĩnh.
38- Trương Văn Thinh, quê Bình Kiên, Tuy Hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
39- Trần Đức Thông, quê Minh Hòa, Hưng Hà, Thái Bình.
40- Trần Văn Phong, quê Minh Tâm, Kiến Xương, Thái Bình.
41- Trần Quốc Trị, quê Đông Thạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
43 – Lê Thế, quê tổ 29, An Trung Tây, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
44- Trần Đức Hóa, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
45- Phan Văn Thiềng, quê Đông Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
46- Tống Sĩ Bái, quê phường 1, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
47- Hoàng Ánh Đông, quê phường 2, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
48- Trương Minh Phương, quê Quảng Sơn, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
49- Nguyễn Minh Tâm, quê Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình.
50- Trần Mạnh Viết, quê tổ 36, Bình Hiên, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
51- Hoàng Văn Túy, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
52- Võ Minh Đức, quê Liên Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
53- Võ Văn Tứ, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
54- Trương Văn Hướng, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
55- Nguyễn Tiến Doãn, quê Ngư Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
56- Phạm Hữu Tý, quê Phong Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
57- Nguyễn Hữu Lộc, quê tổ 22, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
58- Trương Quốc Hùng, quê tổ 5, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
59- Nguyễn Phú Đoàn, quê tổ 47, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
60- Nguyễn Trung Kiên, quê Nam Tiến, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (Nam Định).
61- Phạm Văn Lợi, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
62- Trần Văn Quyết, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Q. Bình).
63- Phạm Văn Sửu, quê tổ 7, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
64- Trần Tài, quê tổ 12, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng)
Nguồn: Vietnamnet
(Lược trích từ sách Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông)
![]()
Views: 0
LTS: Cách đây đúng 44 năm, ngày 19.01.1974 Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Điều này vi phạm nghiêm trọng điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc.
Xin lược trích diễn biến từ cuốn sách “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” của TS. Trần Công Trục.

Một thực tế không thể chối cãi, Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam. Điều này vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ quốc gia.
Chiến thuật lấn chiếm “ Đục nước béo cò”.
Việc Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, buộc quân Pháp phải rút khỏi Việt Nam tháng 4 năm 1956 và để khoảng trống bố phòng ở Biển Đông, khiến các nước trong khu vực, trong đó có Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) và Philippines cho là cơ hội tốt để đưa lực lượng quân sự ra chiếm đóng trái phép một số đảo ở Hoàng Sa cũng như Trường Sa của Việt Nam: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đánh chiếm nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa, Đài Loan đánh chiếm đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa…

Ngày 22/8/1956, song song với việc đưa lực lượng hải quân ra quần đảo Trường Sa để bảo vệ quần đảo này trước những hoạt động xâm lấn của các lực lượng nói trên, Việt Nam Cộng Hòa ( VNCH ) đã tổ chức một số hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa, như : Tổ chức đoàn nghiên cứu thủy văn do Saurin dẫn đầu; cho phép kỹ nghệ gia Lê Văn Cang tiến hành khai thác phốt phát ở Hoàng Sa. Từ năm 1957, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH đã cử một đại đội thủy quân lục chiến ra quản lý, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa thay thế cho quân của đại đội 42 thuộc tiểu đoàn 142.

Ngày 20 tháng 10 năm 1956, Chính quyền VNCH ra sắc lệnh 143/VN về việc đổi tên các tỉnh miền Nam và đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.
Ngày 7 tháng 5 năm 1957, tàu vận tải Hàn Giang đã đến Nha Trang để chuyên chở một đại đội của tiểu đoàn thủy quân lục chiến ra đồn trú tại quần đảo Trường Sa. Tàu Hàn Giang rời Nha Trang đi Trường Sa ngày 9 tháng 5 năm 1957.
Ngày 21 tháng 2 năm 1959, CHND Trung Hoa cho một số lính đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa nhằm đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Lực lượng quân đội VNCH đã phá tan được âm mưu này, 82 “ngư dân” và 5 thuyền đánh cá vũ trang đã bị bắt giữ và bị áp giải về giam tại Đà Nẵng, sau đó được trả cho Trung Quốc.
Năm 1960, VNCH đã bổ nhiệm ông Nguyễn Bá Thược, cán bộ hành chính hạng I tại Tam Kỳ, Quảng Nam nhận chức vụ Phái viên hành chính Hoàng Sa; ngày 27 tháng 6 năm 1961 bổ nhiệm ông Hoàng Yêm giữ chức vụ Phái viên hành chính Hoàng Sa.
Ngày 13 tháng 7 năm 1961, VNCH sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam; tại Nghị định số 709-BNV-HCĐP-26 ngày 21 tháng 10 năm 1969 của Thủ tướng VNCH, xã Định Hải được sáp nhập vào xã Hòa Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Ngày 11 tháng 4 năm 1967, VNCH ban hành Nghị định số 809-NĐ-DUHC cử ông Trần Chuân giữ chức Phái viên hành chính xã Định Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Ngày 13 tháng 7 năm 1971, tại Hội nghị ASPEC(Conseil de L’Asie et du Pacifique) tại Manila, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH Trần Văn Lắm đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Ngày 6 tháng 9 năm 1973, tổng trưởng Nội vụ VNCH kí Nghị định số 420-BNV-HCĐP/26 sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Ngày 24 tháng 9 năm 1973, VNCH thông báo dự định tiến hành khảo sát dầu lửa khu vực ngoài khơi bờ biển miền Trung, đối diện với quần đảo Hoàng Sa.
Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam như thế nào?
Ngày 15 tháng 1 năm 1974, sau khi tuyên bố lên án chính quyền VNCH đã “xâm lấn đất đai của Trung Quốc”, “tất các quần đảo Nam Sa, Tây Sa, Đông Sa và Trung Sa là lãnh thổ của Trung Quốc”…, CHND Trung Hoa đã đưa quân đổ bộ và cắm cờ Trung Quốc lên các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa và Duy Mộng thuộc nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 16 tháng 01 năm 1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt của hải quân VNCH đã đưa phái đoàn quân lực ra Hoàng Sa và phát hiện hai chiến hạm số 402 và 407 của Hải quân Trung Quốc đang ở gần đảo Hữu Nhật, xác nhận quân Trung Quốc đã chiếm đóng, cắm cờ trên các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Quang Ảnh… Lập tức Ngoại trưởng Vương Văn Bắc họp báo tố cáo Bắc Kinh đã huy động tàu chiến vi phạm vùng biển quần đảo Hoàng Sa và đưa binh lính đổ bộ xâm chiếm các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa, Duy Mộng thuộc nhóm phía tây quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 17 tháng 01 đến ngày 20 tháng 01 năm 1974, trận hải chiến giữa lực lượng hải quân VNCH và lực lượng hải, lục, không quân, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa xảy ra trong tình thế chênh lệch lực lượng rất khó khăn cho lực lượng VNCH, và mặc dù đã chiến đấu quả cảm nhiều binh sĩ đã anh dũng hi sinh, quân lực VNCH đã không thể giữ được các đảo thuộc nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa.


TS Trần Công Trục, Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, Chủ biên cuốn sách “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” cho biết thêm:
“Theo tài liệu Quân lực VNCH thì trận hải chiến Hoàng Sa có 74 binh sĩ tử vong, bao gồm Hạm trưởng Ngụy Văn Thà; tàu HQ-4 có 3 người tử vong, 16 người bị thương; tàu HQ-16 có 2 người tử vong…”
Quan sát viên của VNCH tại Liên Hợp quốc đã chính thức yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc xem xét hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 01 năm 1974, Bộ Ngoại giao VNCH ra tuyên cáo kêu gọi các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình lên án hành động xâm lược thô bạo của Trung Quốc, buộc Trung Quốc chấm dứt ngay hành động nguy hiểm đó.
Cũng trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố nêu rõ lập trường của mình:
– Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.
– Vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề mà giữa các nước láng giềng thường có những tranh chấp do lịch sử để lại.
– Các nước liên quan cần xem xét vấn đề này trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt và phải giải quyết bằng thương lượng.

Ngày 20 tháng 01 năm 1974, lúc 16 giờ, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc đã thông báo tình hình quần đảo Hoàng Sa cho Martin, Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, và yêu cầu Hoa Kỳ cho biết có dành cho VNCH sự ủng hộ nào về vật chất, chính trị với tư cách là nước thân hữu và đồng minh, cũng như với tư cách là quốc gia đã ký kết và bảo đảm cho Hiệp định Paris ngày 27 tháng 01 năm 1973 không? Nhưng không nhận được trả lời của Hoa Kỳ.
Ngày 21 tháng 01 năm 1974, chính quyền VNCH đã gửi Công hàm cho các thành viên ký kết Định ước Paris để nghị các thành viên lên án và đòi nhà cầm quyền Trung Quốc không được xâm phạm lãnh thổ Việt Nam theo đúng nội dung Điều 1 và Điều 4 của Định ước.
Ngày 22 tháng 01 năm 1974, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã gửi thư cho Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon về biến cố Hoàng Sa và ngày 28 tháng 01 năm 1974, thông báo tới tất cả các quốc gia có quan hệ ngoại giao với VNCH về hành động hiếu chiến của Trung Quốc trong cuộc hành quân xâm lược quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Ngày 01 tháng 02 năm 1974, VNCH đưa lực lượng hải quân và bộ binh tăng cường đóng giữ quần đảo Trường Sa nhằm bảo vệ quần đảo này trước nguy cơ CHND Trung Hoa dùng lực lượng quân đội đánh chiếm quần đảo Trường Sa như dự đoán của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: “Trung Quốc sẽ đánh Trường Sa và xâm chiếm bằng vũ lực giống như Hoàng Sa (có sự tiếp tay hoặc bằng cách làm ngơ của Mỹ)”

Lê Hoàng
![]()
Views: 0
Đầu năm 1956, lợi dụng lúc Pháp vừa rút quân khỏi Đông Dương, các bên của Việt Nam bận rộn thực thi Hiệp định Genève, Trung Quốc bí mật đưa quân ra chiếm một số đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa.
![]() |
| Khu nhà đồn trú của lính địa phương quân Việt Nam cộng hòa trên đảo Hoàng Sa năm 1959 – Ảnh tư liệu trong sách Kỷ yếu Hoàng Sa |
Đó là sự thật, nhưng Trung Quốc thay trắng đổi đen bằng việc tổ chức cái gọi là “lễ kỷ niệm 70 năm thu hồi Hoàng Sa – Trường Sa”.
Sự thật này đã được các nhà nghiên cứu sử học nhắc lại tại hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử” vừa tổ chức ở Huế ngày 12-12 với những tư liệu đã được cả thế giới biết đến, nhất là tư liệu ghi lại diễn biến liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa giai đoạn sau khi Hiệp định Genève được ký kết (1954).
Sự thừa nhận mang tính pháp lý quốc tế
PGS.TS Trần Nam Tiến (Trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia TP.HCM) cho biết vào năm 1938, Nhật đã chiếm ba đảo Phú Lâm, Lincoln và Hữu Nhật của quần đảo Hoàng Sa và đổi tên Hoàng Sa thành Hirata Gunto, mở màn cuộc “khủng hoảng Hoàng Sa” giữa Pháp – Nhật.
Chính quyền của Pháp tại Đông Dương (lúc đó là chủ thể đại diện Chính phủ triều Nguyễn trong việc quản lý toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam) đã phản ứng với những hành động đáp trả quyết liệt. Đến tháng 8-1945, Nhật thua trận và đầu hàng.
Toàn bộ lãnh thổ của các nước mà Nhật đã chiếm đóng, trong đó có Việt Nam, phải được phân định bằng một hiệp ước được ký kết tại hội nghị tổ chức ở thành phố San Francisco (Mỹ) từ ngày 4 đến 8-9-1951 với 52 nước tham gia (không có Trung Quốc).
Tiếp đó, khi Nhật Bản tuyên bố từ bỏ chủ quyền lãnh thổ đối với Hoàng Sa và Trường Sa, các quốc gia tham gia hội nghị cũng đã phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc và mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền đó thuộc về Việt Nam, do chính thể Quốc gia Việt Nam (của quốc trưởng Bảo Đại) đại diện đang có mặt tại hội nghị.
Cũng theo PGS.TS Trần Nam Tiến, ngày 7-9-1951 trong phiên họp toàn thể lần thứ bảy của hội nghị, thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu – trưởng phái đoàn của Quốc gia Việt Nam – đã tuyên bố: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa!”.
Tuyên bố đó không gặp một sự phản đối nào của đại diện 51 quốc gia có mặt tại hội nghị. “Việc 92% quốc gia đồng minh thành viên Liên Hiệp Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là có giá trị pháp lý bắt buộc” – PGS.TS Trần Nam Tiến nhấn mạnh.
Kết quả của hội nghị cũng khiến tuyên bố “Trung Quốc có chủ quyền không thể xâm phạm đối với các đảo trên Biển Đông” của bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai vào 20 ngày trước đó trở nên vô giá trị.
ThS Nguyễn Quang Trung Tiến (Trường ĐH Khoa học Huế) cho biết thêm đến Hội nghị Genève bàn việc lập lại hòa bình ở Đông Dương (năm 1954) với sự có mặt của các quốc gia và cả Trung Quốc, các nước tiếp tục tuyên bố tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.
Cuộc xâm chiếm bí mật 1956
Theo ThS Nguyễn Đình Dũng (ĐH Phú Xuân – Huế), tháng 4-1956, khi quân Pháp vừa rút khỏi Đông Dương, quân đội Quốc gia Việt Nam và tiếp đó là quân đội Việt Nam cộng hòa (VNCH) ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa thì chỉ còn nhóm đảo phía tây.
Trước đó vào thời điểm đầu năm 1956, Trung Quốc đã cho người bí mật chiếm đóng nhóm đảo phía đông Hoàng Sa, trong đó có đảo lớn nhất là Phú Lâm và Lincoln.
Các nhà sử học cho rằng hành vi này của Trung Quốc vi phạm chính sự xác nhận của họ khi Trung Quốc là một trong những nước đã ký vào cam kết của hội nghị.
Đây là cuộc xâm chiếm lén lút mà Trung Quốc cho rằng họ đã “thu hồi” quần đảo Hoàng Sa từ phía Việt Nam. Để rồi ngày 8-12-2016, họ đã tổ chức cái gọi là “lễ kỷ niệm 70 năm” thực hiện hành vi lén lút đó.
TS Nguyễn Nhã (TP.HCM) cho biết cũng với ý đồ như thế, 10 năm trước đó, tháng 12-1946 lợi dụng việc giải giáp quân Nhật thua trận, quân đội Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch cũng ra chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa, chính là nhóm đảo mà năm 1956 quân đội Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã bí mật ra chiếm đóng trở lại.
Cũng theo ThS Nguyễn Đình Dũng, suốt thời gian sau đó Trung Quốc liên tục khiêu khích và tìm cách xâm nhập các đảo phía tây Hoàng Sa mà quân đội VNCH đang trấn giữ.
Trong đêm khuya 20 rạng sáng 21-2-1959, Trung Quốc lén lút đưa ngư dân (thực chất là lính) bí mật đổ bộ lên các đảo Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa của Hoàng Sa. Hải quân VNCH đã ngăn chặn quyết liệt.
Tàu Trung Quốc vẫn không rút lui, khiến hải quân VNCH phải nổ súng, bắt giữ 82 người và 5 thuyền đánh cá của Trung Quốc.
Sau sự kiện này, VNCH liên tục có các hoạt động mạnh mẽ về ngoại giao, hành chính, kinh tế nhằm bảo vệ chủ quyền trong tình trạng Trung Quốc đã trở nên hung hăng hơn. Và đỉnh điểm là cuộc cưỡng chiếm của Trung Quốc với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-1-1974.
Đánh giá về sự kiện bí mật xâm chiếm năm 1956 và công khai cưỡng chiếm năm 1974 của Trung Quốc, TS Nguyễn Nhã đã dẫn lại kết luận của luật gia Monique Chemillier-Gendreau (người Pháp, giáo sư môn công pháp và khoa học chính trị của ĐH Paris VII) trong cuốn sách La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys xuất bản tại Paris giữa những năm 1990:
“Các quyền của Việt Nam lâu đời hơn và vững chắc hơn, mặc dù các đòi hỏi của Trung Quốc đã được cụ thể hóa nhờ việc chiếm đóng bằng vũ lực cách đây 39 năm đối với một bộ phận quần đảo và cách đây 21 năm đối với bộ phận kia…”.
| “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử từ chính sử, châu bản, địa chí, các văn bản đứng đầu nhà nước từ thời chúa Nguyễn, Tây Sơn, các hoàng đế triều đình nhà Nguyễn đến các lãnh đạo chính quyền qua các thời kỳ lịch sử từ đầu thế kỷ XVII đến nay. Đã khẳng định: chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các hải đảo khác hợp với luật pháp quốc tế, là chiếm hữu thực sự mang tính nhà nước, liên tục và hòa bình”…
(Trích quyết nghị của hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử” ngày 12-12-2016 tại Huế) |
tuoitreonline
![]()
Views: 0

Mao Trạch Đông là người ‘quyết định’ tấn công chiếm Hoàng Sa từ tay của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và chính quyền của ông Mao chưa bao giờ giúp đỡ Việt Nam ‘bất vụ lợi’.
Nói về di sản của Mao Trạch Đông trong quan hệ Trung – Việt trong dịp đánh dấu 120 năm sinh của ông Mao, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy cho rằng chính quyền Mao chưa bao giờ ‘vô tư’ giúp Việt Nam và luôn có ‘mưu đồ’ trên Biển Đông.
Cựu Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu giai đoạn từ 1993-1996 khẳng định Trung Quốc chỉ giúp Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh do thấy Việt Nam ‘là một món hàng tốt’ có lợi cho vị thế và bang giao quốc tế của Trung Quốc, có thể giúp ích cho Bắc Kinh trước nguy cơ của người Mỹ ở khu vực.
Về sự kiện Trung Quốc tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền Việt Nam Cộng hòa, ông Dy nói:
“Việc đánh chiếm Hoàng Sa lần thứ hai ngày 17/1/1974, đánh chiếm một nửa Hoàng Sa của Việt Nam, nói thẳng là Mao Trạch Đông là người quyết định đánh,”
“Tôi có tài liệu, Chu Ân Lai chính là người vạch ra kế hoạch, Diệp Kiếm Anh là người đôn đốc thi hành và Đặng Tiểu Bình lúc đó mới được phục hồi ra cũng đi sang Cục Tác chiến của Trung Quốc để áp trận.”
Nhà nghiên cứu nói quyết định này của Mao, cũng như các chính quyền kế thừa của ông về sau, phản ánh tính ‘nhất quán’ trong điều mà ông gọi là ‘mưu đồ’ của Trung Quốc trên Biển Đông.
“Cái đó là âm mưu nhất quán của Trung Quốc trong vấn đề bành trướng, chiếm cứ trên đảo thôi, nó không có gì lạ cả,” ông Dy nói.
Nhà ngoại giao kỳ cựu cũng nói thêm hành động của Bắc Kinh chỉ có thể tiến hành được do có sự ‘bật đèn xanh’ và một thái độ được cho là ‘không đứng đắn’ của Washington mà khi đó đang là một đồng minh của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Sài Gòn.
“Phải nói thẳng đây là một hành động không đứng đắn của người Mỹ… Thua mất mặt ở Việt Nam, họ xấu hổ, nên nhà cầm quyền Mỹ lúc bấy giờ bật đèn xanh để cho Trung Quốc đánh chiếm Việt Nam”.
Ông Dương Danh Dy nêu quan điểm cho rằng sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với chính quyền Việt Nam trong các cuộc chiến với người Pháp và người Mỹ là có tính toán.
Nhà nghiên cứu chuyên sâu về Trung Quốc nói: “Trung Quốc từ xưa tới nay chưa bao giờ vô tư viện trợ Việt Nam như họ vẫn nói đâu, mà họ viện trợ cho Việt Nam đều nhằm mục đích trục lợi trên cái đó.
“Bắt đầu từ Hội nghị Geneve về Đông Dương, Trung Quốc thấy Việt Nam là một món hàng tốt, nhờ có Việt Nam mà Trung Quốc mới được mời đến tham dự Hội nghị Geneve năm 1954 về Đông Dương, với tư cách một nước lớn ở khu vực có liên quan…
“Trong quá trình diễn biến của Hội nghị Geneve, Trung Quốc càng thấy rõ Việt Nam là món hàng có thể dùng nó để trao đổi với Anh, với Pháp, sau này cả với cả Mỹ, trong quan hệ.”
Theo cựu quan chức ngoại giao này, Trung Quốc đã giúp Bắc Việt ‘chống Mỹ’ vì quan ngại miền Bắc Việt Nam rơi vào tay người Mỹ, thì Trung Quốc ‘sẽ không được yên’ và không thể làm được cuộc ‘cách mạng văn hóa’.
Tuy nhiên, ông Dy cũng thừa nhận Việt Nam đã nhận được những sự giúp đỡ ‘to lớn’ và ‘quan trọng’ của Trung Quốc trong các cuộc chiến tranh mà ông xem đó là sự ‘nhường cơm, sẻ áo’ của ‘nhân dân Trung Quốc’.
Ông nói: “Xưa nay khẳng định đúng là nhân dân Trung Quốc nhường cơm, sẻ áo, giúp đỡ chúng tôi. Nhưng ban lãnh đạo Bắc Kinh đã lợi dụng những tình cảm đó của người dân Trung Quốc để dùng vào mục đích không cao đẹp tí nào cả”.
Theo: ttvnol
![]()
Views: 0
(GDVN) – Nói về cuộc chiến, về lịch sử không phải để khoét thêm hận thù mà chỉ là để nhắc nhở những thế hệ tương lai về đất nước này, dân tộc này…
Ngày 5/3/1979, khi Cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng công bố lệnh tổng động viên, Trung Quốc tuyên bố rút quân.
Sau khi rút quân, giới lãnh đạo và truyền thông Trung Quốc rêu rao đã hoàn thành mục tiêu của cuộc xâm lược là “dạy cho Việt Nam một bài học”.
Tuyên bố của Bắc Kinh không phải là hoàn toàn sai sự thật bởi mục tiêu của họ là tàn phá đất nước Việt Nam, giết hại đồng bào và chiến sĩ chúng ta và họ đã đạt được điều đó trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.
Trường học, bệnh viện, cầu cống, trụ sở, làng mạc, thị xã và các công trình kinh tế, quân sự,… bị phá hủy gần như hoàn toàn.
Hàng nghìn người dân vô tội bị tàn sát, man rợ nhất là hơn 400 người Việt Nam bị lính Trung Quốc giết hại tại pháo đài Đồng Đăng.

Điều mà Bắc Kinh không thể và không bao giờ có thể làm là bẻ gãy ý chí độc lập tự cường, quyết tâm bảo vệ tổ quốc của người Việt.
Cuộc xâm lược đẫm máu nhất mà Trung Quốc thực hiện thời hiện đại đã củng cố “bài học” mà người Việt Nam vốn đã thuộc lòng, ấy là:
Nam quốc sơn hà Nam Đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
(Tạm dịch: Non sông Việt Nam là nơi Vua Nam ở, điều này đã được ghi nhận tại sách trời, vì sao những kẻ nghịch lỗ lại tới xâm phạm, chúng bay sẽ bị đánh tơi bời – Lý Thường Kiệt).
Chính trị, ở đâu hay bao giờ cũng thế, dù được tô vẽ dưới mọi màu sắc vẫn thường bị nghi hoặc về bản chất,…
Nói đến nước Mỹ, không ít người xem đó là hình mẫu của tự do, dân chủ song cũng không ít người – kể cả người Mỹ – cho rằng chính trường Mỹ là “vũ đài của sự dối trá,… là nơi khốc liệt và đầy thủ đoạn”. [5]
Nhà xã hội học nổi tiếng, giáo sư Zygmunt Bauman trả lời phỏng vấn do phóng viên tạp chí Polityka – Jacek Żakowski – thực hiện cho rằng:
“Cuộc chiến với dối trá là bất khả chiến thắng. Dối trá tự bản chất là vĩnh cửu và có ở khắp nơi.
Georges Duhamel đã rất thông thái khi nói rằng: “Giả dối là nguyên tắc, sự thật là ngoại lệ” ”. [6]
Cuộc chiến mà Trung Quốc tiến hành chống Việt Nam năm 1979 không phải là ngoại lệ của giả dối chính trị bởi nó được khoác chiêu bài “phản kích tự vệ” khi mà người Việt không hề xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc.
Không khuyến khích thói giả dối song cần phải làm thế nào để người dân biết nhận diện giả dối, biết cảnh giác đề phòng những kẻ vốn có truyền thống lịch sử giả dối và cũng cần phải biết cách lấy giả dối đối phó với giả dối.
Có quan điểm rằng chính khách, để đạt đến đẳng cấp lừa dối cả thế giới, trước tiên phải lừa dối chính những người bên cạnh mình.
Giới chóp bu Bắc Kinh khi tiến hành cuộc xâm lược Việt Nam đã lừa dối người dân Trung Quốc về sự cần thiết phải “dạy cho Việt Nam một bài học”.
Rất nhiều người Trung Quốc ở vùng núi giáp Việt Nam, có người còn chưa đọc thông viết thạo đã trở thành dân binh tải lương thực, vũ khí phục vụ cuộc chiến bởi dưới cái loa tuyên truyền của Bắc Kinh, họ xem phục vụ cuộc chiến là “nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc”?
Sẽ là ngây thơ nếu ai đó chủ tâm gieo vào quần chúng niềm tin về một chỗ dựa tinh thần nào đó trong khi mình bị lợi dụng như một quân cờ trên bàn cờ địa chính trị toàn cầu.
Sẽ là nguy hiểm nếu truyền cảm hứng cho dân chúng bằng sự mất cảnh giác của chính mình bởi “giả dối là nguyên tắc, sự thật chỉ là ngoại lệ”.
Trong màu sắc duy tâm, điểm đến cuối cùng trên con đường danh vọng của các chính khách hoặc là thiên đường, hoặc là địa ngục.
Dù là trên thiên đường, sẽ có lúc họ phải nhìn xuống hạ giới để nói lời xin lỗi những người ngã xuống trong chiến tranh ở tuổi đôi mươi, kẻ ở địa ngục vẫn có lúc phải đội mồ đứng dậy để cầu xin tha thứ.
Sự tàn bạo của cuộc chiến 1979 mà Trung Quốc tiến hành đâu chỉ tàn phá đất nước Việt Nam, giết hại bộ đội và dân thường Việt Nam?
Đó còn là vết thương cho đến hôm nay vẫn rỉ máu trong tâm trí không ít cựu binh lính và những gia đình Trung Quốc có người thân mất mạng trong cuộc chiến.
Còn người Việt, làm sao có thể quên đi nỗi đau mỗi khi nhắc, nhớ đến đồng đội và người thân đã ngã xuống hoặc bị sát hại trong cuộc chiến.
Nếu cha ông ta không ghi lại lịch sử hào hùng của người Việt thời Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt, thời Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo trên sông Bạch Đằng, Lê Lợi ở Chi Lăng, Nguyễn Huệ ở Đống Đa … thì người Việt có được như hôm nay?
Vậy tại sao chúng ta dường như vẫn ngại ngùng khi dạy cho con cháu về cuộc chiến đẫm máu chống xâm lược trên biên giới phía Bắc và phía Tây Nam những năm 70 thế kỷ trước?
Không phải những người viết sách giáo khoa không có tư liệu, càng không phải đánh giá công bằng lịch sử sẽ làm mất đi tình hữu nghị giữa các dân tộc hay ảnh hưởng đến ý thức hệ.
Hiện tại còn nhiều tài liệu chưa được giải mật về cuộc chiến, song nên chăng đã đến lúc nhìn lại, đánh giá lại một cách nghiêm túc để làm sao tránh được chiến tranh? Bối cảnh chính trị quốc tế, khu vực thời điểm đó như thế nào? Có lẽ vì thiếu đánh giá một cách khoa học về cuộc chiến nên người ta sợ nhắc đến nó?
Người Mỹ dựng lại phim về trận chiến đẫm máu Trân Châu Cảng hay số phận tù binh Mỹ bị Nhật bắt trong thế chiến 2 (bộ phim Unbroken – Không khuất phục) nhưng không vì thế mà hai nước Nhật – Mỹ trở nên thù nghịch.
Liên quan đến cuộc chiến chống xâm lược trên biên giới phía Bắc là cuộc chiến biên giới Tây Nam chống diệt chủng Polpot.
Như các nhà nghiên cứu quốc tế đánh giá, một trong những lý do khiến Trung Quốc tấn công Việt Nam ở phía Bắc là để tìm cách kéo lực lượng tinh nhuệ của quân đội Việt Nam khỏi Campuchia lúc đó đang làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, tiêu diệt diệt chủng Polpot.
Không ai khác, chính xương máu của đồng bào và quân đội Việt Nam đã góp phần tiêu diệt một chế độ tàn bạo hiếm có trong lịch sử nhân loại.
Một chế độ mà những tên tội phạm đầu sỏ (Nuon Chea, Khieu Samphan, Ieng Sary và Ieng Thirith) đã bị Tòa án quốc tế truy tố về các tội ác chống lại loài người, diệt chủng và vi phạm nghiêm trọng các Công ước Geneva năm 1949.
Điều đáng sợ, đáng nói là những sự thật lịch sử bị bóp méo từ một phía sẽ dần chiếm lĩnh tâm trí nhân loại nếu chúng ta không làm gì hôm nay.
Nếu chúng ta im lặng hôm nay, sẽ khiến ngày càng có nhiều người ngộ nhận, rằng Việt Nam xâm chiếm biên giới, biển đảo của Trung Quốc, xâm lược Campuchia,… như giọng lưỡi bộ máy tuyên truyền bên kia biên giới vẫn ra rả từ 1979 đến nay.
Súng ống, bom đạn quân đội Trung Quốc bố trí ở Hoàng Sa, Trường Sa không thể nhằm đến Mỹ, Úc hay Nhật Bản nhưng khả năng bao phủ vùng trời, vùng biển của Việt Nam là một sự thật không thể phủ nhận.
Dạy cho con cháu những trang sử hào hùng đẫm máu và nước mắt cha ông chính là cách để tạo động lực xây dựng một nước Việt Nam tự cường, đủ sức mạnh đương đầu với bất kỳ thế lực ngoại xâm nào.
Một nước Việt Nam yếu về kinh tế và quân sự, nhân tâm phân tán lại chính là điều mà kẻ thù của dân tộc này hằng mong mỏi.
Niềm tin không tự nhiên sinh ra, không từ trên trời rơi xuống, niềm tin của dân tộc này không thể bị đánh đổi bởi niềm tin của dân tộc khác, và trên tất cả lịch sử một dân tộc không thể bị che phủ bởi ý thức hệ hay ý muốn chủ quan của riêng bất cứ ai.
Yêu chuộng hòa bình không có nghĩa là phủ nhận chiến tranh bởi chuẩn bị cho chiến tranh chính là cách để gìn giữ hòa bình.
Nói về cuộc chiến, về lịch sử không phải để khoét thêm hận thù mà chỉ là để nhắc nhở những thế hệ tương lai, rằng đất nước này, dân tộc này “dẫu có phải đốt cả dãy Trường Sơn, cũng phải giữ cho được tự do, độc lập”./.
Tài liệu tham khảo:
[1] https://www.amazon.com/China-Vietnam-Wars-1950-1975-History/dp/0807848425
[2] http://infonet.vn/chien-tranh-bien-gioi-1979-cuoc-chuyen-quan-than-toc-post158490.info
[3]http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=740&sitepageid=424#sthash.sQh4Vrmv.dpbs
[4]http://nghiencuuquocte.org/2015/11/04/nhin-lai-cuoc-chien-viet-trung-nam-1979/#sthash.THID9Do4.dpuf
[5] https://www.facebook.com/notes/hội-những-người-ghét-bọn-phản-động/chính-trường-mỹ-vũ-đài-của-sự-giả-dối
[6] http://liliapl.blogspot.com/2016/04/ky-nguyen-cua-doi-tra-chung-ta-bi-lua.html
![]()
Views: 0
Những ngôi mộ của lính đội Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn là bằng chứng lịch sử không thể chối cãi về chủ quyền của người Việt ở Biển Đông.
Mộ cai đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh và các cộng sự
Đoàn thuyền của ông đã đi được nhiều chuyến thành công, nhưng rồi trong chuyến đi cuối cùng gió bão, ông và các thuyền viên đã vĩnh viễn nằm lại dưới biển sâu.
Kiến thức
![]()
Views: 0
7.6.2017
| (Quan hệ quốc tế) – Mặc dù phương tiện thiếu thốn nhưng hải quân Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi chiến dịch “Chủ quyền-1988”, phá âm mưu Trung Quốc cướp đoạt quần đảo Trường Sa. |
| Việt Nam tỉnh táo trước mưu đồ của Trung Quốc
Trong kỳ trước với tiêu đề “1979-1988: Trung Quốc 10 năm nuôi dã tâm chiếm đảo Việt Nam”, chúng ta đã tìm hiểu dã tâm và công tác chuẩn bị của Trung Quốc ngay từ sau năm 1979, với mục đích sử dụng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Trường Sa của Việt Nam.Đặc biệt là từ đầu năm 1987, tình hình khu vực biển quần đảo Trường Sa có những diễn biến phức tạp, do Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động quân sự trên Biển Đông và một số quốc gia Đông Nam Á gia tăng các hành động tranh chấp chủ quyền . (Mít-tinh chống quân xâm lược Trung Quốc chiếm đoạt trái phép các đảo ở Trường Sa) Đảng ủy và Bộ Tư lệnh hải quân nhận định có khả năng Trung Quốc sẽ dùng lực lượng hải quân chiếm đóng thêm một số đảo khác. Do đó, Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đưa lực lượng công binh ra các đảo chưa có người ở để xây dựng công trình thể hiện chủ quyền và cử lực lượng chốt giữ.Philippines đẩy mạnh việc vận chuyển xây dựng công trình trên các đảo của họ đóng giữ là đảo Song Tử Đông, Panata, còn Malaysia bí mật đưa lực lượng ra chiếm đóng bãi đá Kỳ Vân và chiếm đóng thêm bãi đá Kiêu Ngựa vào tháng 1 năm 1987. Đầu tháng 3/1987, Quân chủng điều lực lượng công binh, tàu chiến đấu, tàu vận tải của Vùng IV và Lữ đoàn 125 ra đóng giữ bảo vệ đảo chìm Thuyền Chài. Ngày 24/10/1987, Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường cho Lữ đoàn 146, Vùng IV Hải quân, song yêu cầu các đơn vị đảo phải hết sức cảnh giác, tránh âm mưu khiêu khích của kẻ thù.Đảng ủy và Bộ tư lệnh chủ trương tăng cường phòng thủ quần đảo Trường Sa điều lực lượng chốt giữ thêm một số đảo xung quanh các đảo đã đóng giữ, để tạo nên sức mạnh của một cụm đảo. Ngày 6/11/1987, trước các động thái tăng cường lực lượng của Trung Quốc, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra “Mệnh lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa”, giao cho Quân chủng Hải quân “Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không cần chờ chỉ thị cấp trên”. Chấp hành lệnh của trên, ngày 2/12/1987, Quân chủng đưa lực lượng ra đóng giữ đảo Đá Tây, đồng thời khẩn trương đóng các phương tiện chuyển tải và các pông-tông là các căn cứ nổi, làm nhiệm vụ chốt giữ bảo vệ các đảo chìm (bãi đá cạn) trên quần đảo Trường Sa. Ngày 2/12/1987, tàu HQ 604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội cùng vật liệu đến xây nhà cấp 3 ở đảo Đá Tây.Ngày 22/1/1988, Trung Quốc đưa 4 tàu hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tàu dầu, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đảo Chữ Thập, đồng thời chúng điều thêm 8 tàu chiến khống chế mặt biển, không cho tàu thuyền các nước qua lại khu vực đảo này. Ngày 9/1/1988, Đảng ủy Quân chủng Hải quân họp nhận định: Trung Quốc sẽ tiến hành các hoạt động quân sự tranh chấp chủ quyền hải đảo chiếm một số bãi san hô nổi hoặc chìm khi nước lên, xen kẽ với các đảo của ta. Trong khi đó, các nước khác có thể nhân cơ hội này chiếm đóng một số đảo nằm giữa Kỳ Vân và Ri-gân. Từ ngày 23/1 đến đầu tháng 2 năm 1988, tàu 613 thuộc Vùng 4 hải quân chở lực lượng và vật liệu ra xây nhà cấp 3 trên đảo Tiên Nữ.Ngày 31/1/1988, Trung Quốc đưa thêm lực lượng củng cố đảo Chữ Thập thành căn cứ chủ chốt ở khu vực Trường Sa. Vào thời điểm này, Hải quân Trung Quốc đã tổ chức ba Cụm tác chiến lớn nhằm triển khai chiến dịch chiếm đoạt quần đảo Trường Sa, bao gồm:Sở chỉ huy hậu phương lấy Hoàng Sa làm Sở chỉ huy thường trực có tàu tuần tiễu pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa và các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu hải quân ta hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng biển phía Nam; Ngoài ra, 2 Cụm tiền phương bao gồm 1 Cụm ngăn chặn lực lượng hải quân ta ở đông bán đảo Cam Ranh, Cù Lao Thu và 1 Cụm chiến đấu là Sở chỉ huy tiền phương ở đảo Chữ Thập, âm mưu khống chế ta ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng sâu xuống khu vực phía Nam. Trước diễn biến mới, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng xác định rõ, lúc này “Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân”, cần phải tập trung cao nhất các lực lượng vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa,Toàn quân chủng bước vào chiến dịch “CQ-88″ (Chủ quyền – 1988) với ý chí mạnh mẽ, quyết tâm đóng giữ các đảo theo kế hoạch; đồng thời đề xuất với Đảng, Chính phủ phát động phong trào “Cả nước hướng về Trường Sa”, “Ủng hộ, chi viện Trường Sa và vì Trường Sa”./. |
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0