Đây là đơn vị quân sự mới và là thành phần không gian thứ hai ở nước ngoài của Lực lượng Không gian Mỹ, có nhiệm vụ giám sát, phát hiện và theo dõi các tên lửa đang bay tới, cũng như củng cố khả năng không gian nói chung của quân đội.
Tham mưu trưởng Không quân Hàn Quốc, tướng Park In-ho (bên phải) và Tư lệnh Lực lượng Không gian Mỹ, tướng John Raymond, ký biên bản ghi nhớ thành lập cơ quan tư vấn chính sách không gian chung tại Căn cứ Không quân Peterson, Colorado, Mỹ, ngày 27/8/2021. Nguồn: Korea Air Force.
Hôm 14/12, quân đội Mỹ đã ra mắt Lực lượng Không gian tại Hàn Quốc, do trung tá Joshua McCullion chỉ huy.
Đây là thành phần không gian thứ hai ở nước ngoài của Lực lượng Không gian Mỹ, có nhiệm vụ giám sát, phát hiện và theo dõi các tên lửa đang bay tới, cũng như củng cố khả năng không gian tổng thể của quân đội.
Lễ ra mắt đơn vị mới được tổ chức tại Căn cứ Không quân Osan ở thành phố Pyeongtaek, tây bắc Hàn Quốc, do Tư lệnh Lực lượng Mỹ tại Hàn Quốc, tướng Paul LaCamera chủ trì.
Động thái diễn ra trong bối cảnh Mỹ và các đồng minh của Mỹ trong khu vực tăng cường tăng cường hợp tác an ninh trong nỗ lực đối phó với các mối đe dọa hạt nhân và tên lửa đang gia tăng Triều Tiên, quốc gia đã tiến hành các vụ thử tên lửa với tần xuất dày chưa từng thấy trong năm nay, bao gồm tên lửa đạn đạo xuyên lục địa có khả năng vươn tới lục địa Mỹ.
Lực lượng Không quân của Hàn Quốc cũng đã thành lập đơn vị Không gian của riêng mình trong tháng này để tăng cường sức mạnh không gian và khả năng hoạt động cùng với Lực lượng Không gian Mỹ.
Khoảng 28.500 lính Mỹ đang đồn trú tại Hàn Quốc theo một hiệp ước phòng thủ chung được hình thành sau khi Chiến tranh Triều Tiên 1950-1953 kết thúc bằng một hiệp định đình chiến.
Vào tháng 11, Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và Bộ Tư lệnh Trung ương Mỹ đã thành lập các đơn vị Không gian của mình tại Hawaii và Florida.
Trước đó, vào cuối tháng 8/2021, Không quân Hàn Quốc và Lực lượng Không gian Mỹ đã ký thỏa thuận về việc tham gia các cuộc tập trận quân sự chung do USSF lãnh đạo nhằm củng cố khả năng phòng thủ.
Theo thỏa thuận, hai bên cũng sẽ thành lập một cơ quan tư vấn chung về chính sách không gian, chia sẻ thông tin về giám sát không gian và cải thiện khả năng hoạt động chung trong không gian như phòng thủ tên lửa.
Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức (CHLB Đức) cùng đối thoại năng lượng, chia sẻ những cơ hội và thách thức chung của hai quốc gia trong tiến trình chuyển dịch năng lượng xanh. Đối thoại mở ra những cơ hội mới trong hợp tác giữa hai nước cùng hướng tới mục tiêu chung về trung hòa các-bon trong dài hạn.
Đoàn đại biểu Đức làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
Từ hai ngày (28 – 30/11/2022), đại diện Bộ Kinh tế và Hành động Khí hậu CHLB Đức (BMWK) bà Nicole Glahnemann – Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Năng lượng và Khí hậu tại khu vực châu Á đã có chuyến thăm, làm việc với Bộ Công Thương, cũng như các bộ, ban, ngành liên quan, các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong ngành năng lượng tại Việt Nam.
Trước đó, mối quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam – Đức đã được xây dựng, phát triển thông qua chuyến thăm và làm việc của đoàn đại biểu Việt Nam tại Đối thoại Chuyển dịch Năng lượng và Ngày Năng lượng Việt – Đức tổ chức tại Berlin (tháng 3/2022).
Chuyến thăm lần này của BMWK đến Việt Nam nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ tin cậy giữa hai nước thông qua các cuộc đối thoại xung quanh việc xây dựng chính sách phát triển cho năng lượng tái tạo, tiềm năng hydrogen xanh tại Việt Nam, việc thiết lập câu lạc bộ hiệu quả năng lượng, cũng như gặp gỡ các doanh nghiệp Đức tại Việt Nam.
Thách thức và giải pháp vận hành hệ thống điện có tỷ trọng năng lượng tái tạo cao:
Việt Nam và Đức cùng hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Để hiện thực hóa mục tiêu này vào năm 2045, nước Đức xây dựng và phát triển hệ thống điện với tỷ trọng năng lượng tái tạo cao.
Trong buổi trao đổi tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vào ngày 29/11, phía Đức đã chia sẻ những thách thức khi vận hành hệ thống điện, như luồng công suất ngược, khó khăn trong công tác dự báo, hệ thống chưa ổn định, khó khăn trong quản lý công suất dự phòng…
Để giải quyết những bài toán này, nhiều sáng kiến số đã được chia sẻ (bao gồm việc thiết kế thị trường tập trung vào cả sản xuất và tiêu thụ, tính toán giá điện thời gian thực, lấy nhà tiêu dùng làm trung tâm). Cạnh đó là xây dựng các nền tảng đấu thầu dịch vụ quản lý nghẽn lưới; ứng dụng các giải pháp trí tuệ nhân tạo cho các tài sản năng lượng tái tạo, thúc đẩy tăng cường các thiết bị có thể điều khiển được, cũng như nâng cao hoạt động dự báo mất cân bằng hệ thống.
Câu lạc bộ hiệu quả năng lượng:
Theo Báo cáo Đóng góp Quốc gia Tự quyết định (NDC): Việt Nam cam kết cắt giảm 9% lượng phát thải khí nhà kính (giai đoạn 2021 – 2030) so với kịch bản thông thường (BaU) bằng nguồn lực trong nước và có thể tăng lên đến 27% khi nhận được sự hỗ trợ của quốc tế.
Bên cạnh việc chuyển đổi sang các nguồn năng lượng xanh, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng là một trong những chiến lược quan trọng và bền vững.
Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030 (VNEEP III) đặt mục tiêu đưa tiết kiệm năng lượng trở thành hoạt động thường xuyên đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm và các ngành kinh tế trọng điểm tiêu thụ nhiều năng lượng.
Đứng trước nhiệm vụ này, hoạt động của các câu lạc bộ hiệu quả năng lượng đã được thảo luận trong buổi làm việc giữa các đại diện của BMWK, đại diện các hiệp hội về thiết bị điện, năng lượng và môi trường Đức với Hội Khoa học công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam (VECEA) và Trung tâm nghiên cứu và phát triển về Tiết kiệm năng lượng (ENERTEAM).
Các câu lạc bộ này sẽ giúp kết nối các doanh nghiệp có địa bàn gần nhau, đặc thù tương đối giống nhau có thể hỗ trợ nhau về kỹ thuật, máy móc, thiết bị. Qua đó giúp nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm toán năng lượng và quản lý năng lượng. Các doanh nghiệp nhờ vậy có thể học hỏi lẫn nhau, mở rộng mạng lưới kết nối với các đơn vị tư vấn uy tín trong ngành.
Cũng trong ngày làm việc này, một ý định thư đã được ký kết đánh dấu cam kết hỗ trợ của các hiệp hội, mạng lưới năng lượng Đức đối với sự phát triển mạng lưới hiệu quả năng lượng tại Việt Nam.
Chính sách phát triển năng lượng tái tạo và tiềm năng Hydrogen xanh tại Việt Nam:
Xây dựng cơ chế, chính sách đột phá để khuyến khích và thúc đẩy phát triển các nguồn năng lượng tái tạo là nhiệm vụ quan trọng được nêu rõ trong Nghị quyết 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Định hướng chiến lược phát triển Quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Các chính sách phát triển năng lượng tái tạo giúp đưa ra những hướng dẫn rõ ràng và chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển của năng lượng tái tạo, tích hợp năng lượng tái tạo vào hệ thống điện.
Tọa đàm về chính sách phát triển năng lượng tái tạo.
BMWK và Cục Điện lực và Năng lượng Tái tạo (Bộ Công Thương) đã tổ chức hội thảo (trong ngày 30/11) về chủ đề “Xây dựng Chính sách phát triển năng lượng tái tạo và tiềm năng phát triển Hydrogen xanh tại Việt Nam”.
Hội thảo đã thu hút hơn 80 đại biểu từ các bộ, ban ngành liên quan như Cục Điều tiết Điện lực, Vụ Than và Dầu khí (Bộ Công Thương), các tổ chức quốc tế, hiệp hội, doanh nghiệp và các trường đại học trong cả nước tham gia. Sự kiện cũng thu hút hơn 400 người theo dõi trên nền tảng trực tuyến.
Các kinh nghiệm quốc tế trong xậy dựng khung chính sách phát triển năng lượng tái tạo đã được chia sẻ tại sự kiện.
Theo đó, Luật Năng lượng Tái tạo cần gắn với chiến lược trong dài hạn của quốc gia và toàn cầu, thống nhất với chính sách ngành, cũng như chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng. Nội dung của Luật cần ổn định, không thay đổi trong vài năm, hoặc nhiều thập kỷ và cần quan tâm đến an toàn đầu tư của các nhà đầu tư tư nhân.
Đức, Việt Nam cùng hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 lần lượt vào năm 2045 và 2050. Trên thế giới đã có 136 quốc gia cam kết đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào giữa thế kỷ.
Theo chiến lược của nước Đức, có 5 trụ cột chiến lược chính để hiện thực hóa mục tiêu này, bao gồm:
1/ Thúc đẩy năng lượng tái tạo.
2/ Loại bỏ nhiên liệu than.
3/ Tăng cường hiệu quả năng lượng.
4/ Điện hóa ngành giao thông vận tải, nhiệt, công nghiệp.
5/ Phát triển hydrogen sạch.
Việc phát triển chính sách liên tục đã góp phần thúc đẩy việc triển khai năng lượng tái tạo ở Đức với tỷ trọng nguồn năng lượng tái tạo chiếm gần 50% trong sản lượng điện hiện nay.
Trong phiên làm việc buổi chiều, các đại biểu đã thảo luận sôi nổi về tiềm năng phát triển hydrogen xanh tại Việt Nam.
Hydrogen xanh là công nghệ quan trọng trong thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và là giải pháp tối ưu cho các lĩnh vực khó giảm phát thải khí nhà kính.
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để sản xuất hydrogen xanh, nhưng sẽ cần chính sách và quan hệ đối tác để đảm bảo thành công.
Bên cạnh đó, phần lớn năng lực sản xuất hydrogen phục vụ xuất khẩu có thể sẽ hình thành dựa trên quan hệ đối tác song phương với các điều kiện tài chính ưu đãi và hợp đồng cung ứng dài hạn.
Theo cách tiếp cận này, Việt Nam có thể có chi phí sản xuất đủ thấp để cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Bà Nicole Glahnemann – Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Năng lượng và Khí hậu tại khu vực châu Á (thuộc BMWK) chia sẻ: Trong bối cảnh hai nước cùng hướng tới mục tiêu tham vọng về Net Zero, nước Đức hi vọng có thêm nhiều hoạt động hợp tác song phương với Việt Nam để nắm bắt cơ hội, vượt qua các thách thức trong tiến trình chuyển dịch năng lượng xanh, hướng tới sự phát triển bền vững về kinh tế và xã hội của quốc gia.
Đài Sputnik dẫn ý kiến phân tích từ Giáo sư-Tiến sĩ kinh tế Vladimir Mazyrin, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và ASEAN thuộc Viện nghiên cứu Trung Quốc và châu Á hiện đại, đánh giá về kinh tế Việt Nam năm 2022 như sau:
Một góc dự án Nhà máy sản xuất Polypropylene (PP) và Kho ngầm chứa khí hóa lỏng LPG Hyosung tại khu vực Cái Mép-Thị Vải. (Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN)
Tăng trưởng GDP là thành công rõ ràng của Việt Nam Ông Vladimir Mazyrin cho rằng tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) là thành công rõ ràng của Việt Nam: “Tất nhiên, chưa có số liệu cuối cùng và trong các báo cáo thống kê 11 tháng đầu năm cũng chưa có chỉ tiêu này. Mới có số liệu về tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm là khoảng 3%. Các tổ chức xếp hạng và ngân hàng thế giới dự đoán tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm nay và những năm tới ở mức 6,5-7%, nhưng theo tôi, con số này chỉ ở mức 4-5%. Tuy nhiên, đây cũng đã là thành công lớn đối với kinh tế Việt Nam trong bối cảnh đại dịch và hậu COVID-19 khiến chỉ số này của nhiều quốc gia về âm”. Theo ông Mazyrin, ở khía cạnh này, thu nhập bình quân đầu người rất đáng lưu ý. Các cơ quan xếp hạng đang ca ngợi thành công của Việt Nam và báo cáo rằng mức thu nhập bình quân đầu người đã tăng lên 3.700-4.000 USD, có nghĩa là tăng 26% trong một thời gian ngắn. Theo định nghĩa, điều này là không thể: “Tôi đã tìm được lời giải thích cho hiện tượng này: Cơ quan thống kê Việt Nam đã thay đổi phương pháp tính toán và đưa vào đó các nguồn bổ sung: kinh tế ngầm, hộ gia đình – được cho là chưa được tính đến trước đây. Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất sử dụng các kỹ xảo như vậy. Nói chung, đây là một trò chơi thống kê. Những thành công được phóng đại một cách có chủ ý để cho thấy sức hấp dẫn đầu tư của đất nước”.
Công nghiệp là đầu tàu của nền kinh tế Việt Nam Khi phân tích số liệu sản xuất công nghiệp 11 tháng, Giáo sư Mazyrin lưu ý tình hình đang khả quan: “Tăng trưởng sản xuất ngành công nghiệp là khoảng 9%, trong đó sản xuất điện tăng trưởng 7,7%, cho thấy công nghiệp vẫn là ngành chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam. Và với sự hỗ trợ đầy đủ của phương Tây, Việt Nam đang chuyển đổi thành công thành ‘xưởng sản xuất thế giới’, thay thế một phần vai trò này của Trung Quốc”.
Vốn đầu tư nước ngoài không nằm chết
Theo kết quả 11 tháng, vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam đạt 25 tỷ USD, mức này thấp hơn 5% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, Giáo sư Mazyrin cho rằng, nhìn chung, con số hiện tại là khá tốt: “Hơn nữa, có hai tỷ lệ vốn khác nhau: vốn được đăng ký và vốn đã sử dụng. Cần lưu ý rằng tỷ lệ hấp thụ vốn tại Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt. Trong 11 tháng, chỉ số này đã tăng 15% và đạt gần 20 tỷ USD. Ngoài ra, như chúng ta thấy sự chênh lệch giữa vốn đăng ký và vốn đã sử dụng là rất nhỏ, điều này cho thấy hiệu quả của nền kinh tế Việt Nam”. Tuy nhiên, Giáo sư Mazyrin lưu ý rằng một phần lớn trong dòng vốn chảy vào là do các doanh nghiệp nước ngoài – chủ yếu là các tập đoàn xuyên quốc gia Mỹ và châu Âu, đang tích cực chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam và đã góp phần lớn trong gia tăng sản xuất: “Mức tăng trưởng này lớn đến mức khiến chúng ta phải suy nghĩ lại về những lý do giải thích cho mức tăng trưởng GDP kỷ lục của nước này do các cơ quan xếp hạng thế giới dự đoán. Có lẽ họ đang thống kê cho Việt Nam khối lượng sản xuất tại các nhà máy trước đây đặt tại Trung Quốc nhưng hiện đã chuyển sang Việt Nam”. Khối lượng ngoại thương đang tiến gần đến một nghìn tỷ USD Giáo sư Mazyrin cho rằng ngoại thương là một ví dụ về thành công nổi bật nhất của nền kinh tế Việt Nam. Trong suốt thời kỳ đại dịch, cũng như trong năm 2022, quan hệ ngoại thương của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng ổn định, trong khi ở nhiều nước, chỉ số ngoại thương là âm. Ở Việt Nam, cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu đều tăng trưởng, trong đó xuất khẩu có phần tăng nhanh hơn: “Tôi tin rằng đến cuối năm, cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu sẽ đạt khoảng 400 tỷ USD và kim ngạch thương mại của Việt Nam sẽ đạt 800 tỷ USD. Các cơ quan xếp hạng có cơ sở báo cáo rằng chỉ số ngoại thương của Việt Nam sẽ đạt mốc nghìn tỷ USD trong thời gian tới”. Tuy nhiên, theo ông Mazyrin, ở đây cần tính đến bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung. Trung Quốc vì không có lợi khi cung cấp trực tiếp nhiều mặt hàng cho Mỹ nên thực hiện điều này thông qua Việt Nam bằng cách chuyển các sản phẩm gần như đã hoàn thành đến Việt Nam: “Khối lượng của những sản phẩm như vậy được đo bằng những con số khổng lồ, vì xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ vào cuối năm rõ ràng sẽ vượt quá 120-150 tỷ USD”./.
Tuần qua, Quân đội nhân dân Việt Nam (VPA) lần đầu tiên tổ chức triển lãm quốc phòng quốc tế nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, xây dựng niềm tin giữa Việt Nam và các nước khác đồng thời giới thiệu ngành công nghiệp quốc phòng mới lập của mình với thế giới.
Các phương tiện chiến đấu, giải pháp công nghệ, vũ khí trưng bày tại không gian ngoài trời – Ảnh: VGP/Nhật Nam
Nhưng điều quan trọng hơn là, VPA muốn đa dạng hóa nguồn khí tài và thiết bị quốc phòng, bắt kịp với xu thế công nghệ quốc phòng gần đây của thế giới, và tìm kiếm cơ hội nhằm xuất khẩu các sản phẩm quốc phòng được sản xuất trong nước. Triển lãm phản ánh quyết tâm của lực lượng vũ trang Việt Nam giảm sự phụ thuộc nặng nề vào vũ khí Nga. Tuy nhiên, nhu cầu cấp thiết hiện đại hóa quân đội trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông, nền kinh tế đang phát triển với nền tảng công nghệ và công nghiệp đang phát triển, tham vọng phát triển ngành công nghiệp quốc phòng trong nước cũng là những yếu tố khuyến khích quân đội Việt Nam tìm cách thay đổi chiến lược mua sắm của mình. Đối với Việt Nam Vũ khí Nga hấp dẫn hơn so với các nước khác vì lý di về lịch sử, chính trị, và thể chế. Việc Việt Nam phụ thuộc vào vũ khí Nga đã định hình các thể chế quốc phòng Việt Nam và quyết định nhiều đến bản chất của các thể chế này. Toàn bộ cơ sở quốc phòng Việt Nam đã được thiết lập để phù hợp với công nghệ quân sự kiểu Xô Viết, về mặt đào tạo, bảo trì và vận hành. Đã có nhiều nỗ lực nhằm đa dạng hóa dần dần khỏi sự phụ thuộc quá nhiều vào các hệ thống quân sự của Nga và có nhiều kết quả khác nhau. Ví dụ sớm nhất là nỗ lực mua máy bay chiến đấu phản lực Mirage-2000 từ Pháp vào những năm 1990 của Việt Nam đã thất bại do lệnh cấm vận vũ khí của Mỹ được áp dụng vào thời điểm đó. Thất bại trong việc mua Mirage-2000 cũng đáng chú ý vì Trung Quốc bắt đầu hiện đại hóa lực lượng không quân bằng cách mua lô máy bay phản lực Su-27 đầu tiên từ Nga vào năm 1992. VPA biết rằng việc mua cùng loại vũ khí với kẻ thù tiềm tàng từ cùng một nhà cung cấp sẽ đem đến rất nhiều rủi ro về mặt tác chiến. Sự kiện thứ hai diễn ra vào đầu những năm 2010 khi Việt Nam quyết định mua một số khinh hạm lớp Gegard của Nga. Động cơ của các con tàu đáng lẽ phải do Ukraine cung cấp. Phần thỏa thuận đã phá sản khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014, do đó buộc Việt Nam phải đàm phán với chính Ukraine để có được những phần quan trọng. Quân đội Việt Nam hiện đang áp dụng chiến lược mua sắm ba hướng để đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa. Thứ nhất, Việt Nam đang cố gắng đa dạng hóa nguồn cung cấp các nền tảng quân sự tiên tiến. Israel đã và đang đóng một vai trò thiết yếu trong nỗ lực này vì hai nước có mối quan hệ quốc phòng bền chặt từ những năm 1990. Cũng có vị trí cao trong danh sách là Ấn Độ (có thể mua tên lửa Brahmos) và một số quốc gia Đông Âu như Czechia (với việc mua L-39NG vào năm 2021) và Bulgaria (vũ khí hạng nhẹ và vũ khí nhỏ). Thứ hai, quân đội đang cố gắng kéo dài tuổi thọ của các vũ khí cũ thông qua các dự án hiện đại hóa khác nhau. Đáng chú ý nhất trong số này là nỗ lực nâng cấp xe tăng chiến đấu chủ lực T-54/55 của Việt Nam với sự giúp đỡ không nhỏ của Israel. Thứ ba, với kế hoạch đầy tham vọng nhằm phát triển một tổ hợp công nghiệp-quân sự tiên tiến, quân đội đã cố gắng chế tạo vũ khí của riêng mình, từ vũ khí nhỏ đến vũ khí mà họ coi là vũ khí công nghệ cao. Ngành công nghiệp quốc phòng non trẻ của đất nước đã sản xuất được các phương tiện vũ trang và vũ khí hạng nhẹ như tên lửa chống tăng, súng phóng lựu và súng máy.
Nhật thông qua kế hoạch xây dựng quốc phòng trị giá 320 tỷ USD, lớn nhất từ Thế chiến II, nhằm đối phó với “hàng loạt thách thức an ninh“. Trong kế hoạch cải tổ quốc phòng lớn nhất nhiều thập kỷ của mình, Nhật Bản tuyên bố sẽ tăng chi tiêu an ninh lên 2% GDP vào năm 2027, định hình lại bộ chỉ huy quân sự và mua vũ khí mới có thể tấn công các mục tiêu phóng tên lửa nhắm vào đất nước ở khoảng cách xa.
Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida phát biểu trong một cuộc họp báo ở Tokyo hôm 10/12. Ảnh: Reuters.
Phát biểu trong họp báo, Thủ tướng Fumio Kishida cho biết ông “quyết tâm thực hiện sứ mệnh bảo vệ đất nước và người dân trước thời điểm bước ngoặt lịch sử hiện nay”, khẳng định đây là câu trả lời của ông trước “hàng loạt thách thức an ninh mà chúng ta đang phải đối mặt”.
“Ở các quốc gia và khu vực láng giềng của chúng ta, việc tăng cường khả năng tên lửa hạt nhân, xây dựng quân đội nhanh chóng và nỗ lực đơn phương thay đổi hiện trạng bằng vũ lực thậm chí còn trở nên rõ ràng hơn”, ông nói, nhắc đến chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine.
Các mặt hàng trong danh sách mua sắm quân sự của Nhật Bản trong 5 năm tới gồm có tên lửa đánh chặn chống tên lửa đạn đạo, máy bay không người lái tấn công và trinh sát, thiết bị liên lạc vệ tinh, chiến đấu cơ tàng hình Lockheed Martin F-35, trực thăng, tàu ngầm, tàu chiến và máy bay vận tải hạng nặng.
Ngoài ra, Nhật Bản cũng sẽ dự trữ phụ tùng thay thế và một số loại vũ khí, mở rộng năng lực vận chuyển và phát triển khả năng chiến tranh mạng.
Các cuộc thăm dò cho thấy công chúng Nhật Bản phần lớn ủng hộ bước thay đổi này, nhưng chúng vẫn có thể gây tranh cãi vì hiến pháp thời hậu chiến của Nhật Bản không chính thức công nhận quân đội và chỉ giới hạn hoạt động của quân đội trên danh nghĩa ở khả năng tự vệ.
Kế hoạch cải tổ được nêu trong ba tài liệu về quốc phòng và được nội các Nhật Bản thông qua hôm nay. Các tài liệu cũng mô tả Trung Quốc là “thách thức chiến lược lớn nhất từ trước đến nay đối với việc đảm bảo hòa bình và ổn định của Nhật Bản”.
Bắc Kinh cùng ngày kêu gọi Tokyo “cẩn trọng với chính sách của mình”. “Nhật Bản đã coi thường sự thật, đi chệch khỏi sự hiểu biết chung giữa Trung Quốc và Nhật Bản và cam kết của họ đối với quan hệ song phương, đồng thời làm mất uy tín của Trung Quốc“, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao nước này Vương Văn Bân nói.
Tuy nhiên, Nhà Trắng cho biết kế hoạch đại tu quốc phòng của Tokyo sẽ “củng cố và hiện đại hóa” liên minh quân sự giữa Nhật Bản và Mỹ.
Trong khuôn khổ các hoạt động của Hội nghị cấp cao kỷ niệm 45 năm quan hệ ASEAN-EU, tối 14/12 (giờ địa phương), tại Brussels (Bỉ), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có các cuộc gặp với lãnh đạo các nước và đối tác gồm: Đức, Italy, Bồ Đào Nha, Czech, Ba Lan, Hy Lạp, Ủy ban châu Âu (EC), Croatia, Lithuania, Hà Lan, Luxembourg, Hội đồng châu Âu.
Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen. (Nguồn: TTXVN)
Tại cuộc gặp với Thủ tướng Đức Olaf Scholz, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Đức vừa qua tới Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ song phương; đề nghị hai bên tiếp tục thúc đẩy hợp tác kinh tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực mới như ứng phó với biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng, kinh tế số, tăng trưởng xanh.
Thủ tướng Olaf Scholz cảm ơn Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã đón tiếp trọng thị, chu đáo trong chuyến thăm vừa qua; khẳng định Đức mong muốn phối hợp với Việt Nam thúc đẩy khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam-Đức đi vào chiều sâu, hiệu quả, thực chất và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.
Hai bên cũng nhất trí duy trì ủng hộ, phối hợp với nhau trong các vấn đề khu vực và quốc tế, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, thịnh vượng tại hai khu vực và trên thế giới.
Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp Thủ tướng Italy Giorgia Meloni. (Nguồn: VGP)
Tại cuộc gặp với Thủ tướng Italy Giorgia Meloni, Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc mừng bà Giorgia Meloni nhậm chức Thủ tướng Italy; khẳng định Việt Nam rất coi trọng quan hệ với Italy – một thành viên quan trọng của EU và Nhóm các nước công nghiệp phát triển (G7), và cũng là một trong những đối tác kinh tế, phát triển quan trọng hàng đầu của Việt Nam tại châu Âu; cảm ơn Italy đã hỗ trợ vaccine ngừa Covid-19 cho Việt Nam.
Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị hai bên tranh thủ những cơ hội hợp tác từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA), phấn đấu đưa kim ngạch thương mại hai chiều đạt mức 7 tỷ USD trong 2-3 năm tới; đề nghị Italy sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA), ủng hộ để EU sớm gỡ bỏ “thẻ vàng” đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, tạo điều kiện để thủy sản Việt Nam tiếp cận thị trường EU và Italy.
Thủ tướng Giorgia Meloni hoàn toàn nhất trí với các ý kiến của Thủ tướng Phạm Minh Chính; nhấn mạnh năm 2023 – kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm Đối tác chiến lược là dịp tốt để hai bên đưa vào chiều sâu và tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Italy trên tất cả các lĩnh vực; đề nghị hai nước tiếp tục triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương, trong đó có tổ chức thành công Đối thoại quốc phòng lần thứ 4 tại Italy vào năm 2023.
Nhân dịp này, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã trân trọng mời Thủ tướng Italy Giorgia Meloni thăm Việt Nam. Thủ tướng Giorgia Meloni cám ơn và vui vẻ nhận lời.
Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp Thủ tướng Bồ Đào Nha António Luís Santos da Costa. (Nguồn: TTXVN)
Tại cuộc gặp với Thủ tướng Bồ Đào Nha António Costa, hai bên hài lòng nhận thấy quan hệ song phương đã có những bước tiến tích cực trong những năm gần đây và nhất trí các biện pháp thúc đẩy hơn nữa quan bệ trong thời gian tới, nhất là trong hợp tác kinh tế-thương mại-đầu tư.
Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị hai bên tận dụng hiệu quả EVFTA; đề nghị Bồ Đào Nha tạo điều kiện để hàng hóa nông sản và thủy sản của Việt Nam tiếp cận tốt hơn thị trường Bồ Đào Nha và EU, sớm phê chuẩn EVIPA, ủng hộ EU sớm gỡ “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam, tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực du lịch, khoa học công nghệ, tăng trưởng xanh, chuyển đổi số.
Thủ tướng António Costa cam kết Bồ Đào Nha sẽ hỗ trợ tối đa để EU gỡ bỏ “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam, khẳng định Chính phủ Bồ Đào Nha ủng hộ và mong muốn hiệp định EVIPA được phê chuẩn trong năm 2023, bày tỏ sẵn sàng tạo điều kiện để hoa quả theo mùa và thủy sản của Việt Nam có mặt nhiều hơn ở thị trường EU và Bồ Đào Nha.
Thủ tướng António Costa đề nghị hai bên tăng cường hợp tác trong phát triển cơ sở hạ tầng, năng lượng tái tạo, tài chính điện tử, triển khai các dự án đầu tư xanh tại Việt Nam.
Hai bên cũng nhất trí đẩy mạnh các hoạt động giao lưu văn hóa, du lịch, giáo dục-đào tạo, hợp tác khoa học, quốc phòng trong thời gian tới, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và đưa quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam-Bồ Đào Nha đi vào chiều sâu, thiết thực.
Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp Thủ tướng Cộng hoà Czech Petr Fiala. (Nguồn: VGP)
Tại cuộc gặp với Thủ tướng Czech Petr Fiala, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác tốt đẹp với Czech, cảm ơn Czech đã hỗ trợ Việt Nam ứng phó với dịch Covid-19.
Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện để các mặt hàng chủ lực của Czech như đồ thủy tinh pha lê, bia, thực phẩm, thiết bị, máy móc, phụ tùng nhập khẩu vào Việt Nam, đồng thời đề nghị Czech tạo thuận lợi cho hàng dệt may, da giày, nông sản, hải sản, hoa quả nhiệt đới của Việt Nam, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác giáo dục với Việt Nam, trong đó có việc cấp thêm học bổng cho du học sinh Việt Nam sang Czech học tập, ủng hộ EU sớm gỡ “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam.
Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng cảm ơn chính quyền Czech đã tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt Nam trở thành một dân tộc thiểu số và ổn định cuộc sống, kinh doanh làm ăn lâu dài tại Czech.
Thủ tướng Petr Fiala ủng hộ các ý kiến của Thủ tướng Phạm Minh Chính, nhấn mạnh trong lịch sử quan hệ của Czech với châu Á, không có quốc gia nào Czech có quan hệ khăng khít như với Việt Nam.
Thủ tướng Czech đề nghị hai nước tiếp tục làm sâu sắc hơn quan hệ song phương, triển khai hiệu quả EVFTA, sớm ký kết bản ghi nhớ về hợp tác sản xuất ô tô trong đó có ô tô điện, tăng cường hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng an ninh, mong muốn sớm thiết lập đường bay thẳng giữa hai nước để tăng cường giao lưu nhân dân, thúc đẩy du lịch.
Thủ tướng Petr Fiala đánh giá cao những đóng góp với sở tại của cộng đồng người Việt đang sinh sống, lao động và học tập tại Czech.
Nhân dịp này, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã trân trọng mời Thủ tướng Séc Petr Fiala thăm Việt Nam. Thủ tướng Petr Fiala đã vui vẻ nhận lời. Thời gian cụ thể của chuyến thăm sẽ được thu xếp qua đường ngoại giao.
Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp Thủ tướng Ba Lan Mateusz Jakub Morawiecki. (Nguồn: VGP)
Tại cuộc gặp với Thủ tướng Ba Lan Mateusz Morawiecki, Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Ba Lan đã hỗ trợ Việt Nam đối phó với dịch Covid-19, khẳng định đây là thời điểm để hai nước tăng cường hợp tác cùng nhau phục hồi và phát triển sau đại dịch.
Theo đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị hai bên tập trung đẩy mạnh hợp tác thương mại, tận dụng hiệu quả hiệp định EVFTA, phấn đấu đưa kim ngạch thương mại hai chiều đạt 3 tỷ USD trong 2-3 năm tới, đề nghị phía Ba Lan tạo thuận lợi cho thủy, hải sản, hoa quả nhiệt đới theo mùa của Việt Nam như vải, nhãn, thanh long… xem xét sớm phê duyệt EVIPA nhằm hiện thực hóa các lợi ích mà hiệp định có thể đem lại, ủng hộ để EU sớm gỡ “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam.
Thủ tướng Mateusz Morawiecki nhất trí với những ý kiến của Thủ tướng Phạm Minh Chính; khẳng định quan hệ chính trị và hợp tác kinh tế – thương mại giữa hai nước đang phát triển rất mạnh, nhấn mạnh đây là điều rất có ý nghĩa trong bối cảnh tình hình thế giới khu vực diễn biến phức tạp như hiện nay; mong muốn thúc đẩy hợp tác hai nước trong các lĩnh vực thương mại, y dược, đóng tàu, quốc phòng, chế tạo máy.
Thủ tướng Mateusz Morawiecki khẳng định Ba Lan luôn mong muốn được chào đón thêm nhiều người Việt Nam đến học tập và sinh sống ở Ba Lan.
Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp Thủ tướng Hy Lạp Kyriákos Mitsotákis. (Nguồn: VGP)
Tại cuộc gặp với Thủ tướng Hy Lạp Kyriákos Mitsotákis, hai Thủ tướng vui mừng nhận thấy sau gần 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ giữa hai nước đã có những bước tiến vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực.
Hai Thủ tướng nhất trí đẩy mạnh hơn nữa hợp tác kinh tế-thương mại, coi đây là ưu tiên chính cho quan hệ hai nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị hai bên tận dụng hiệu quả EVFTA, đề nghị phía Hy Lạp tạo điều kiện cho các mặt hàng nông sản Việt Nam trong đó có cà phê, hoa quả theo mùa (thanh long, chôm chôm, vú sữa, vải, nhãn…) tiếp cận thị trường Hy Lạp, cũng như hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam trong lĩnh vực chế biến thực phẩm và nuôi trồng thủy sản, hợp tác nghiên cứu phát triển nông nghiệp bền vững và chế biến thực phẩm an toàn, để đáp ứng những yêu cầu chất lượng tại thị trường châu Âu.
Thủ tướng Kyriákos Mitsotákis khẳng định Hy Lạp coi trọng quan hệ với Việt Nam, nhấn mạnh chuyến thăm Việt Nam vừa qua của Tổng thống Katerina Sakellaropoulou đã tạo động lực quan trọng để hai bên phát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác tốt đẹp giữa hai nước.
Thủ tướng Hy Lạp đề xuất hai bên tăng cường hợp tác về năng lượng cơ sở hạ tầng, vận tải đường biển, đóng tàu, du lịch; cam kết Hy Lạp sẽ tạo điều kiện để sản phẩm nông sản Việt Nam tiếp cận thị trường Hy Lạp; mong muốn và sẵn sàng tiếp nhận lao động Việt Nam đến Hy Lạp làm việc trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp, xây dựng và các lĩnh vực khác.
Hai bên cũng nhất trí phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn quốc tế và khu vực; khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường đối thoại, củng cố lòng tin, giải quyết hòa bình, thượng tôn pháp luật, qua đó góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Tại cuộc gặp với Chủ tịch EC Ursula von der Leyen, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với EU, thể hiện qua việc Việt Nam là quốc gia ASEAN đầu tiên có tất cả các khuôn khổ hợp tác với EU về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh.
Về hợp tác kinh tế-phát triển, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ mong muốn EU giữ vững và phát huy vai trò là một trong những đối tác hàng đầu của Việt Nam.
Để thực hiện được mục tiêu đó, Thủ tướng đề nghị hai bên tiếp tục phối hợp chặt chẽ nhằm thực thi hiệu quả EVFTA; đề nghị EU hỗ trợ Việt Nam trong phát triển kinh tế biển, tạo điều kiện cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam như nông thủy sản, sớm gỡ bỏ “thẻ vàng” IUU đối với hàng thuỷ sản Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển bền vững.
Thủ tướng cũng đề nghị EC thúc đẩy các thành viên EU phê chuẩn hiệp định EVIPA để mở ra những cơ hội đầu tư mới cho doanh nghiệp hai bên.
Bà Ursula von der Leyen chia sẻ những ý tưởng, đề xuất của Thủ tướng; hoan nghênh việc Việt Nam và G7 đã thông qua Tuyên bố chính trị về thiết lập Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP), khẳng định đây là bước tiến quan trọng để mở đường cho EU tăng cường đầu tư vào các dự án ứng phó biến đổi khí hậu, hướng tới chuyển đổi xanh, phát triển xanh ở Việt Nam.
Về vấn đề “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam, sau khi nghe Thủ tướng thông báo về những nỗ lực triển khai và kết quả tích cực mà các cấp, các ngành, các địa phương của Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua, Chủ tịch EC ghi nhận bước tiến mà hai bên đã đạt được trong xử lý vấn đề này.
Chủ tịch EC cũng khẳng định EU ủng hộ mạnh mẽ Việt Nam trong phát triển kinh tế biển bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học biển; sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam phát triển nông nghiệp bền vững và hợp tác cùng Việt Nam trong bảo đảm an ninh lương thực trong khu vực và trên thế giới.
Tại cuộc gặp với Thủ tướng Croatia Andrej Plenković, hai nhà lãnh đạo vui mừng nhận thấy những bước tiến tốt đẹp của quan hệ song phương trong thời gian qua, cùng khẳng định coi trọng và ưu tiên cao tiếp tục phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác tốt đẹp Việt Nam-Croatia trong thời gian tới.
Hai bên nhất trí đẩy mạnh hơn nữa hợp tác kinh tế, phục vụ phục hồi và phát triển bền vững kinh tế-xã hội sau đại dịch Covid-19; tiếp tục triển khai hiệu quả các cơ chế đối thoại và hợp tác; thúc đẩy triển khai các dự án trong các lĩnh vực tiềm năng, nhất là hàng hải, vận tải, công nghiệp nhẹ, năng lượng sạch.
Hai bên cũng nhất trí duy trì và tăng cường phối hợp trong các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, cùng thúc đẩy quan hệ ASEAN-EU phát triển bền vững.
Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp Tổng thống Lithuania Gitanas Nauseda. (Nguồn: TTXVN)
Tại cuộc gặp với Tổng thống Lithuania Gitanas Nauseda vào đúng dịp kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Lithuania (1992-2022), Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn Chính phủ và nhân dân Litva đã hỗ trợ Việt Nam trong công tác phòng chống dịch Covid-19.
Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống với Lithuania, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị hai bên trong thời gian tới thúc đẩy hơn nữa trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao.
Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Litva tạo điều kiện cho hàng thủy sản, cà phê, hạt điều, chè, dược phẩm của Việt Nam, ủng hộ EU sớm gỡ “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam và mong muốn hai nước tăng cường hợp tác trong xây dựng Chính phủ điện tử, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững.
Tổng thống Gitanas Nauseda đồng tình với các ý tưởng, đề xuất của Thủ tướng Phạm Minh Chính, đề nghị hai nước sớm ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, mong muốn và sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trên lĩnh vực phát triển chính phủ điện tử, an ninh mạng, xây dựng chuỗi cung ứng nguyên vật liệu thô phục vụ chế tạo sắt thép, thực phẩm.
Tổng thống Gitanas Nauseda bày tỏ mong muốn sớm thăm Việt Nam cùng đoàn doanh nghiệp để thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước.
Tại các cuộc gặp với Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte và Thủ tướng Luxembourg Xavier Bettel, Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn Hà Lan và Luxembourg đã đón tiếp đoàn công tác Chính phủ Việt Nam nồng nhiệt, trọng thị và chân tình.
Các nhà lãnh đạo nhất trí sẽ giao các cơ quan hữu quan phối hợp chặt chẽ triển khai các cam kết và biện pháp đã được các bên thống nhất trong chuyến thăm, từ đó đưa quan hệ Việt Nam-Hà Lan và Việt Nam-Luxembourg ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả và thực chất trên tất cả các lĩnh vực.
Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp Chủ tịch Hội đồng châu Âu Charles Michel. (Nguồn: VGP)
Tại cuộc gặp với Chủ tịch Hội đồng châu Âu Charles Michel, hai bên hài lòng với những bước tiến tích cực trong quan hệ Việt Nam-EU nhất là sau 10 năm triển khai Quan hệ Đối tác và Hợp tác toàn diện (2012-2022).
Hai bên nhất trí cùng nỗ lực đưa quan hệ Việt Nam-EU vượt qua đại dịch một cách vững chắc và bước vào thập kỷ phát triển mới với những chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng “xanh” hơn – “sạch” hơn – bền vững hơn.
Tổng công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling) vừa ký hợp đồng cung cấp giàn khoan tự nâng cho chương trình khoan năm 2023 của Công ty TNHH MTV Điều hành Thăm dò Khai thác Dầu khí Trong nước (PVEP POC).
Lễ ký hợp đồng cung cấp giàn PV DRILLING VI giữa PV Drilling và PVEP POC.
Chương trình khoan dự kiến bắt đầu từ tháng 3/2023, bao gồm giếng thăm dò – thẩm lượng ĐHN-4X thuộc Kế hoạch Thăm dò mở rộng Lô 05-1(a) và giếng DH-21XPST thuộc kế hoạch Phát triển mỏ Đại Hùng, Pha 3 Lô 05-1(a), ngoài khơi vùng biển Việt Nam.
Để phục vụ cho chương trình khoan của PVEP POC nói trên, PV Drilling sẽ cung cấp giàn khoan PV DRILLING VI. Đây là giàn khoan tự nâng thế hệ mới nhất và là phiên bản nâng cấp từ thiết kế MOD V B Class của Keppel FELS. Giàn có khả năng thi công giếng khoan có độ sâu đến 9.000 m ở mực nước sâu tối đa 121 m.
Trong năm 2022, giàn PV DRILLING VI thực hiện dự án khoan cho các khách hàng ENI, Vietsovpetro và POVO tại thị trường trong nước với hiệu suất hoạt động lên đến 99,6% (3 quý đầu năm).
Giàn khoan biển tự nâng PV DRILLING VI.
Theo EIA, giá dầu thô (Brent) trung bình năm 2022 dự kiến đạt mức 101 USD/thùng. Mặc dù hiện nay giá dầu thô giảm nhẹ do những quan ngại về các chính sách đóng cửa để phòng ngừa dịch bệnh Covid-19 tại Trung Quốc sẽ ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu, dẫn đến nhu cầu dầu thô giảm tương ứng, cùng với việc việc gia tăng trữ lượng hàng tồn kho, giá dầu thô trung bình năm 2023 được dự đoán duy trì ở mức 92 USD/thùng.
Với mức giá trung bình nêu trên, thị trường khoan dầu khí toàn cầu được dự đoán sẽ duy trì hoạt động ổn định, là nền tảng vững chắc để các nhà thầu dầu triển khai thực hiện các kế hoạch khoan mới.
Những thay đổi về mặt cấu trúc trong các vấn đề thế giới vẫn đang tiếp diễn khi năm 2022 sắp kết thúc. Trật tự mới chưa được định hình cụ thể, nhưng vẫn có thể thấy rõ một số đặc điểm.
Nhà ngoại giao kỳ cựu New Zealand Ian Hill đã có bài viết đánh giá về cục diện thế giới trong năm 2022. (Nguồn: mgimo.ru)
Một trật tự đang định hình đầy phức tạp
Trang mạng của Viện Nghiên cứu Lowy ngày 13/12 đã đăng bài viết của nhà ngoại giao kỳ cựu New Zealand, Đại sứ Ian Hill đánh giá về những thay đổi cục diện thế giới trong năm qua.
Theo nhà ngoại giao Ian Hill, những thay đổi về mặt cấu trúc trong các vấn đề thế giới vẫn đang tiếp diễn khi năm 2022 sắp kết thúc. Xung đột Nga – Ukraine đã đưa thế giới bước vào một kỷ nguyên phức tạp hơn. Trật tự mới này chưa được định hình cụ thể, nhưng vẫn có thể thấy rõ một số đặc điểm.
Các đặc điểm chính của nó có liên quan với nhau và tác động qua lại. Do đó, chúng không thể được xem xét hoặc giải quyết một cách riêng rẽ. Ông Ian Hill đồng tình với một chuyên gia khi mô tả đó là sự “đa khủng hoảng”.
Nhà ngoại giao kỳ cựu của New Zealand nhận định chúng ta đang trải qua một môi trường quốc tế phức tạp hơn, đầy cạnh tranh và khó lường hơn. Câu chuyện tổng thể ở đây là sự chuyển dịch dần dần dù không đồng đều của quyền lực kinh tế chính trị toàn cầu từ châu Âu-Đại Tây Dương sang các cường quốc mới nổi.
Theo ông Ian Hill, khi cạnh tranh gia tăng giữa các cường quốc, năng lượng, thực phẩm, di cư và dữ liệu… đều có thể bị “vũ khí hóa”. Hiện có sự cạnh tranh lớn hơn trong tiếp cận toàn cầu cho dù trên biển hay trong không gian.
Ông Ian Hill cho rằng sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc đang gia tăng – cho dù trong lĩnh vực chính trị, an ninh hay kinh tế. Một số người mô tả cuộc cạnh tranh này giống như “bẫy Thucydides”, theo đó Mỹ là cường quốc lâu đời đang đối phó lại sự trỗi dậy của cường quốc mới nổi Trung Quốc.
Tam giác Mỹ-Trung-Nga sẽ tiếp tục hiện diện và đóng vai trò quan trọng trong cục diện thế giới nhiều năm tới. (Nguồn: smh.com.au)
“Sự đa cực lộn xộn”
Hơn nữa, chúng ta cũng đang chứng kiến sự xuất hiện của cái mà Đại diện cấp cao chuyên về chính sách an ninh và đối ngoại của Liên minh châu Âu (EU) Josep Borrell gọi là “sự đa cực lộn xộn”, trong đó các cường quốc cấp hai, chẳng hạn như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Saudi Arabia và Brazil, đang cạnh tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia, gây ảnh hưởng và đạt được lợi thế trong môi trường toàn cầu linh hoạt và cạnh tranh hơn này.
Theo quan điểm của nhà ngoại giao kỳ cựu New Zealand, các nước đang phát triển thường muốn tránh bị lôi kéo vào việc chọn bên trong cuộc cạnh tranh địa chính trị ngày càng tăng giữa các cường quốc.
Tuy nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên khi những nước nhỏ cũng muốn tận dụng cuộc cạnh tranh để tạo lợi thế cho riêng mình (bao gồm cả các quốc đảo Thái Bình Dương trong cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc). Các quốc đảo lo lắng vì cấu trúc toàn cầu hiện tại không mang lại lợi ích cho họ đặc biệt là về biến đổi khí hậu.
Đồng thời, ông Ian Hill chỉ ra rằng sự tổn thương của nền kinh tế toàn cầu đang ngày một rõ ràng hơn. Lạm phát cao quay trở lại và lan rộng do xung đột Nga – Ukraine (giá cả lương thực, năng lượng tăng đột biến). Bên cạnh đó, đại dịch Covid-19 làm gián đoạn chuỗi cung ứng. Điều này đặc biệt gây tổn hại cho các nước đang phát triển, suy thoái kinh tế toàn cầu cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến Mỹ, châu Âu và Trung Quốc vào năm 2023.
Nhà ngoại giao New Zealand nhận định thế giới đang hướng tới sự “chia tách toàn cầu” – theo đó tìm cách xóa bỏ sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế do những lo ngại về địa chính trị và đại dịch. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu đã chuyển sang giai đoạn quan trọng. Các tác động ngày càng tăng của biến đối khí hậu đang làm trầm trọng thêm sự đứt gẫy toàn cầu.
Ông Ian Hill đồng thời cũng cảnh báo các thể chế và quy trình quản trị toàn cầu đang có dấu hiệu bị suy yếu. Trong khi đó, cạnh tranh Mỹ-Trung Quốc gia tăng đồng nghĩa với căng thẳng và bất ổn gia tăng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Cùng với khả năng suy thoái kinh tế toàn cầu và sự gián đoạn liên tục phát sinh từ xung đột Nga – Ukraine, điều này ảnh hưởng đến an ninh và sự thịnh vượng của các quốc gia nhỏ.
Hơn nữa, sự đối đầu giữa các nước lớn sẽ càng làm giảm triển vọng hợp tác đa phương hiệu quả trong các vấn đề toàn cầu cấp bách như biến đổi khí hậu, ảnh hưởng tiêu cực đến các nước Thái Bình Dương. Cuối cùng, nhà ngoại giao Ian Hill cho rằng trong một môi trường địa chính trị mang tính đối đầu hơn, các nước nhỏ sẽ càng khó khăn hơn trong việc quản lý mối quan hệ với các cường quốc. Họ sẽ đối mặt với áp lực phải chọn bên: có thể cần phải đưa ra các lựa chọn và một số thỏa hiệp khó xử.
Đây không phải là một vấn đề nan giải mới đối với các nước nhỏ. Việc bảo vệ các lợi ích sống còn của họ sẽ đòi hỏi sự cân bằng thận trọng: trung thành với các nguyên tắc và giá trị được tôn trọng đồng thời thích ứng với các thực tế chiến lược đang thay đổi.
Ông Bryon Wilfert, cựu nghị sỹ Canada, thành viên Hội đồng cố vấn Viện Macdonald-Laurier, nhận định UNCLOS được Việt Nam xem là một cơ chế vì hòa bình khu vực và giải quyết các tranh chấp trên biển.
Quang cảnh hội thảo ’40 năm thông qua UNCLOS-Những thành tựu và thách thức đặt ra.’ (Ảnh: TTXVN phát)
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Vào thời điểm đó, Việt Nam đã kêu gọi các quốc gia khác trong khu vực, cụ thể là các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) phải tôn trọng và tuân thủ công ước này.
Ông Bryon Wilfert, cựu nghị sỹ Canada, thành viên Hội đồng cố vấn Viện Macdonald-Laurier, đã nhận định như vậy trong buổi trò chuyện với phóng viên TTXVN tại Ottawa nhân 40 năm ký kết UNCLOS 1982.
Theo ông Wilfert, UNCLOS 1982 đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập một cách rõ ràng các quy tắc về môi trường, cũng như quản lý tài nguyên biển. UNCLOS được Việt Nam xem là một cơ chế vì hòa bình khu vực và giải quyết các tranh chấp trên biển.
Đối với các quốc gia như Việt Nam, công ước này cung cấp ranh giới rõ ràng giữa những nước sử dụng vùng đáy biển và các quốc gia ven biển với các quy định phổ quát.
Ông Wilfert cũng đề cập đến việc Việt Nam, cùng với Canada và 10 nước khác, đã khởi xướng ý tưởng thành lập Nhóm bạn bè UNCLOS 1982 vào tháng 6/2021 để thúc đẩy và giải quyết những thách thức đối với công ước này.
Theo ông, một khía cạnh quan trọng của Nhóm bạn bè UNCLOS 1982 là vai trò của nhóm trong quản trị đối với Mục tiêu số 14 về bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và các nguồn tài nguyên biển trong các Mục tiêu phát triển bền vững.
Ông Wilfer nhấn mạnh đây là lĩnh vực mà cả Canada và Việt Nam đều có chung lợi ích để thúc đẩy.
Đề cập việc giải quyết các tranh chấp liên quan tới biển trên thế giới nói chung và khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói riêng, trong đó có tranh chấp ở Biển Đông, chuyên gia Wilfert nhấn mạnh Canada đã thể hiện rõ quan điểm rằng tất cả các bên phải tuân thủ các quy tắc của UNCLOS 1982, vốn được Ottawa coi như một cột mốc hữu ích và quan trọng trong việc giải quyết một cách hòa bình tranh chấp trong khu vực.
Canada tin tưởng rằng chỉ thông qua thương lượng và thiện chí mới có thể giải quyết được tranh chấp, việc có một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ trong xử lý các vấn đề liên quan đến biển và đại dương sẽ đưa đến giải pháp hòa bình trong khu vực.
Theo ông Wilfer, các vấn đề như quyền chủ quyền, thương mại, hàng hải… cần được đề xuất và thực hiện phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982./.
Theo Đặc phái viên TTXVN, sau 2 ngày thăm chính thức Đại Công quốc Luxembourg, vào 17 giờ, ngày 10/12 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tới sân bay quốc tế Schiphol, thành phố Amsterdam, bắt đầu thăm chính thức Vương quốc Hà Lan theo lời mời của Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte.
Thủ tướng Phạm Minh Chính bắt đầu chuyến thăm chính thức Vương quốc Hà Lan. Ảnh: Dương Giang/TTXVN
Trong cái lạnh âm 1 độ và trời đã tối hẳn, ra sân bay đón Thủ tướng Phạm Minh Chính và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam có Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam Kees van Baar; Vụ trưởng vụ Lễ tân, Bộ Ngoại giao Hà Lan Dominique Kuhling; Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan Phạm Việt Anh và cán bộ Đại sứ quán, kiều bào ta tại Hà Lan.
Dự kiến trong chuyến thăm chính thức Hà Lan, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính sẽ có các cuộc hội kiến, hội đàm, gặp các nhà lãnh đạo Hà Lan gồm: Hoàng hậu Hà Lan, Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte, Chủ tịch Thượng viện Hà Lan, Chủ tịch Hạ viện Hà Lan; tiếp các Thị trưởng các thành phố lớn của Hà Lan; thăm các cơ sở kinh tế lớn như khu công nghệ, cảng biển; dự diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – Hà Lan và chứng kiến lễ ký các văn kiện hợp tác giữa hai nước; gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Hà Lan…
Lễ đón Thủ tướng Phạm Minh Chính sang thăm chính thức Vương quốc Hà Lan. Ảnh: Dương Giang/TTXVN
Trong những năm qua, quan hệ Việt Nam – Hà Lan phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, nhất là về đầu tư, thương mại, nông nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu. Hà Lan là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam ở châu Âu và là nhà đầu tư lớn nhất của EU tại Việt Nam. Trao đổi thương mại song phương năm 2021 đạt 8,37 tỷ USD, tăng gần 10% so với năm 2020; 9 tháng của năm 2022 đạt 8,2 tỷ USD, tăng 36% so với cùng kỳ năm 2021.
Về đầu tư, Hà Lan có 380 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đạt 13,5 tỷ USD. Trong khuôn khổ Đối tác chiến lược về biến đổi khí hậu và nông nghiệp bền vững, hai bên đã triển khai nhiều chương trình, dự án hợp tác mang định hướng trung và dài hạn. Hai năm qua, Việt Nam cũng nhận được hỗ trợ của Hà Lan 1 triệu liều vaccine phòng COVID-19, các trang thiết bị trị giá 43 tỷ đồng.
Thủ tướng Phạm Minh Chính bắt đầu chuyến thăm chính thức Vương quốc Hà Lan. Ảnh: Dương Giang/TTXVN
Chuyến thăm Hà Lan của Thủ tướng Phạm Minh Chính góp phần củng cố, tăng cường, làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hà Lan, trong đó thúc đẩy hợp tác phát triển các lĩnh vực mà Hà Lan có thế mạnh, Việt Nam có nhu cầu như kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo, chống biến đổi khí hậu…
Theo Đặc phái viên TTXVN, nhân chuyến thăm chính thức Vương quốc Hà Lan, chiều 11/12 (giờ địa phương), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã đến thăm Trụ sở chính của Toà Trọng tài thường trực (PCA) tại Cung điện Hoà bình, ở La Hay (Hà Lan) và gặp Tiến sĩ Marcin Czepelak – Tổng Thư ký PCA.
Thủ tướng Phạm Minh Chính và Tổng Thư ký Toà trọng tài thường trực Marcin Czepelak. Ảnh: Dương Giang/TTXVN
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính bày tỏ vui mừng lần đầu tiên đến thăm Tòa Trọng tài và gặp lại Tiến sĩ Czepelak sau chuyến thăm của Tổng Thư ký đến Hà Nội cách đây không lâu.
Thủ tướng Chính phủ khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và đánh giá cao vai trò của PCA trong việc hỗ trợ các quốc gia giải quyết hoà bình tranh chấp quốc tế bằng thủ tục trọng tài, hòa giải quốc tế; nhấn mạnh sự hiện diện của PCA tại Hà Nội thông qua Văn phòng đại diện là bước đi có ý nghĩa, thể hiện thông điệp của Việt Nam về ủng hộ hòa bình, trật tự thế giới dựa trên luật pháp quốc tế, tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982.
Tổng Thư ký Czepelak cảm ơn Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dành thời gian đến thăm và làm việc với PCA tại Cung điện Hoà bình, cũng như cảm ơn sự đón tiếp thân tình của Thủ tướng Chính phủ trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua.
Tổng Thư ký Czepelak bày tỏ tình cảm đặc biệt với Việt Nam, khẳng định tôn chỉ của PCA cũng chính là định hướng mà Việt Nam đang theo đuổi “không chọn bên, mà chọn công lý và lẽ phải”; đánh giá cao những cam kết mạnh mẽ và vai trò của Việt Nam trong thúc đẩy tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định trong quá trình hội nhập quốc tế, với tinh thần tuân thủ các cam kết quốc tế, Việt Nam sẵn sàng giải quyết các tranh chấp quốc tế với các đối tác nước ngoài tại các cơ quan trung gian, hoà giải và trọng tài quốc tế phù hợp với luật pháp quốc tế và bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên.
Thủ tướng đề nghị PCA thông qua Văn phòng đại diện tại Hà Nôi tích cực hỗ trợ, tư vấn cho Việt Nam về kinh nghiệm ứng xử với các vấn đề về lãnh thổ, kinh tế, thương mại…; đồng thời đề nghị PCA tạo điều kiện tiếp nhận người Việt Nam vào làm việc tại PCA.
Cung Hoà Bình – nơi làm việc của Tổng Thư ký Toà trọng tài thường trực (PCA) Marcin Czepelak. Ảnh: Dương Giang/TTXVN
Tổng Thư ký Czepelak cảm ơn Thủ tướng và Chính phủ Việt Nam quan tâm, dành nguồn lực hỗ trợ PCA mở Văn phòng đại diện tại Hà Nội, thể hiện sự tin tưởng của Việt Nam đối với PCA. Ông khẳng định sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan của Việt Nam, đặc biệt là Bộ Ngoại giao, triển khai nhiều hoạt động đào tạo, nâng cao năng lực; thông báo PCA đang tuyển dụng chuyên gia Việt Nam cho hoạt động của Văn phòng đại diện tại Việt Nam.
*Toà Trọng tài thường trực (PCA) là tổ chức quốc tế liên chính phủ với 122 quốc gia thành viên, có chức năng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giải quyết tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa quốc gia với pháp nhân nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế – đầu tư.
PCA đã hỗ trợ giải quyết hơn 200 tranh chấp quốc tế trên những lĩnh vực như biên giới, lãnh thổ, phân định biển, kinh tế – đầu tư; trong đó, hơn 40% số vụ việc do PCA thụ lý hiện nay liên quan đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
PCA hiện đặt trụ sở chính tại Cung điện Hòa bình, thủ đô La Hay của Hà Lan, và 5 văn phòng đại diện tại Mauritius, Buenos Aires (Argentina), Singapore, Vienna (Áo) và Hà Nội.
PV DRILLING I – Giàn khoan biển đầu tiên thuộc sở hữu của Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling) được khánh thành và đưa vào vận hành chính thức từ năm 2007, đánh dấu cột mốc tham gia vào thị trường cung cấp giàn khoan dầu khí. Trong 15 năm hoạt động, giàn khoan này luôn duy trì hiệu suất hoạt động trên 98%, với thành tích Zero LTI (không để xảy ra tai nạn gây mất thời gian lao động) được Hiệp hội các nhà thầu khoan quốc tế (IADC) chứng nhận.
Giàn khoan biển tự nâng PV DRILLING I hiện đang khoan tại Việt Nam.
Thử thách và tự hào:
Tháng 3/2007 giàn khoan biển tự nâng đa năng PV DRILLING I đầu tiên do người Việt Nam sở hữu 100% đã được khánh thành tại Singapore trong niềm hân hoan của người lao động PV Drilling và ngành Dầu khí Việt Nam. Sự kiện trọng đại này đánh dấu cột mốc PV Drilling chính thức sở hữu giàn khoan, góp phần hiện thực hóa tầm nhìn: “Trở thành nhà thầu khoan, cung cấp dịch vụ kỹ thuật khoan dầu khí tin cậy và có uy tín trên thế giới”.
Trong hành trình biến ước mơ sở hữu giàn khoan đầu tiên trở thành hiện thực, PV Drilling đã trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Tính từ lúc lập và trình duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi tại văn bản đầu tiên của dự án (22/2/2002), công tác đấu thầu quốc tế để lựa chọn nhà thầu đóng giàn, tới ngày ký hợp đồng đóng giàn khoan với Keppel FELS (22/2/2005), tròn 3 năm ròng rã. Thời điểm đó, giàn khoan biển PV DRILLING I có tổng mức đầu tư thuộc thẩm quyền phê duyệt đầu tư và kết quả lựa chọn nhà thầu của Thủ tướng Chính phủ.
Ngay trong giai đoạn đầu tư, đóng giàn, PV Drilling đã bắt tay vào việc chuẩn bị vận hành giàn. Tại thời điểm đó, các nhà thầu khoan trên thế giới đều là những thương hiệu lớn, với tiềm lực tài chính mạnh, bề dày hoạt động, cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại…
Ngược lại, PV Drilling là doanh nghiệp non trẻ, mới thành lập năm 2001 còn rất nhiều hạn chế (từ cơ sở vật chất, trang thiết bị đến tài chính, kinh nghiệm, nhân lực, vật lực…). Tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp lúc bấy giờ là sự hỗ trợ, chỉ đạo sát sao của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cùng với kinh nghiệm tích lũy được trong nhiều năm làm thuê cho các giàn khoan nước ngoài và đặc biệt là bản lĩnh, khát vọng của toàn thể ban lãnh đạo, cũng như đội ngũ người lao động PV Drilling.
Trong khi giàn khoan đầu tiên đang đóng ở Singapore, PV Drilling đã nỗ lực đàm phán, thuyết phục khách hàng cùng nhiều giải pháp cam kết về hiệu quả chiến dịch khoan. Kết quả, PV Drilling đã ký được hợp đồng cung cấp giàn khoan đầu tiên cho Công ty liên doanh Điều hành chung Hoàng Long – Hoàn Vũ (Hoang Long – Hoan Vu JOC) từ năm 2006.
Bên cạnh việc quản lý các dự án đầu tư – giám sát chặt chẽ chất lượng và tiến độ đóng giàn, để bắt kịp tốc độ tăng trưởng về quy mô hoạt động, PV Drilling chú trọng xây dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp tiên tiến trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại theo các tiêu chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng và hội nhập vào môi trường cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Các hệ thống, tiêu chuẩn được áp dụng đồng bộ như:
– Hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP Oracle).
– Hệ thống quản lý vật tư hàng tồn kho của giàn khoan (Maximo).
– Hệ thống quản lý và bảo trì sự cố thiết bị (RCM – Reliable Maintaince Control).
– Hệ thống quản trị rủi ro chuyên nghiệp (theo tiêu chuẩn ISO 31000 và COSO).
– Hệ thống các quy định, quy trình theo chuẩn mực quốc tế đã hỗ trợ công tác điều hành quản trị doanh nghiệp, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ và tạo được sự tin cậy từ khách hàng.
Đối với công tác quản lý, vận hành giàn khoan, PV Drilling quyết định tự thực hiện thay vì hợp tác/thuê bên thứ ba vận hành giàn. Đây là một quyết định đầy táo bạo, nhưng cũng mang tính tiên phong, quyết tâm làm chủ công nghệ ngay từ những ngày đầu thành lập, nhằm thực thi sứ mệnh: “Cung cấp dịch vụ khoan và kỹ thuật khoan dầu khí hàng đầu trong khu vực, tạo ra những giá trị gia tăng cho khách hàng bằng những dịch vụ chất lượng cao, giá cả cạnh tranh”.
Về nhân sự, PV Drilling đã lựa chọn tuyển dụng các chuyên gia nước ngoài, đội ngũ kỹ sư có kinh nghiệm lâu năm, đồng thời tăng cường đào tạo nhân lực người Việt để làm quen với công tác vận hành giàn. Chiến lược nội địa hóa nguồn nhân lực chất lượng cao là một điểm sáng xuyên suốt hành trình 21 năm xây dựng Tổng công ty và vẫn được duy trì thực hiện cho đến ngày hôm nay. Chính chiến lược này đã góp phần nâng tầm chất lượng nhân sự người Việt nói chung, cũng như cắt giảm chi phí nhân lực, giúp PV Drilling trụ vững qua những giai đoạn khó khăn.
Hạ thủy ngày 24/3/2007, giàn PV DRILLING I được đưa vào vận hành, phục vụ chiến dịch khoan của Hoang Long – Hoan Vu JOC từ tháng 7/2007. Tổng công ty đã minh chứng được năng lực nhà thầu khoan chuyên nghiệp khi giàn PV DRILLING I thực hiện chiến dịch khoan đầu tiên cho khách hàng an toàn và hiệu quả, có thời điểm giếng khoan thi công với hiệu suất hoạt động của giàn đạt đến 100%.
Thành công này là sự khẳng định mạnh mẽ về tầm nhìn chiến lược của PV Drilling, đồng thời là tiền đề và động lực để tiếp tục tập trung đầu tư, phát triển đội ngũ giàn khoan, tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng văn hóa doanh nghiệp với các giá trị cốt lõi được hun đúc và trường tồn cùng năm tháng. Đó chính là: Con người, sự chuyên nghiệp và sự chính trực.
Giàn PV DRILLING I được ví như đứa con tinh thần, đã mở lối, khai thông cho sự phát triển của ngành khoan dầu khí Việt Nam. Nếu ngày ấy không hoàn thành thủ tục đầu tư, không vận hành thành công giàn đầu tiên thì có lẽ hôm nay sẽ không có PV Drilling – Người tiên phong của ngành khoan dầu khí Việt Nam. Mặt khác, ngành khoan dầu khí Việt Nam sẽ còn nhiều phụ thuộc vào nhà thầu khoan nước ngoài, ngân sách nhà nước cũng vì thế mà thiếu đi một con số tương đối, người lao động Việt Nam cũng sẽ mất đi nhiều cơ hội đào tạo và đảm nhiệm các chức danh quản lý các vị trí kỹ thuật cao trên giàn. Và quan trọng hơn cả là chúng ta sẽ không có những “vọng gác tiền tiêu” để khẳng định chủ quyển biển đảo, giữ vững an ninh quốc phòng trên các vùng biển Việt Nam.
Từ hoàn thành chiến dịch khoan đầu tiên thành công cho khách hàng Hoang Long – Hoan Vu JOC, các chiến dịch sau giàn PV DRILLING I luôn hoàn thiện các giếng khoan trước thời gian dự kiến, tiết kiệm được thời gian và rất nhiều chi phí cho nhà thầu dầu khí, thường xuyên được các khách hàng gửi thư khen tặng.
Trải qua 15 năm hoạt động, đến nay giàn PV DRILLING I tự hào đã cung cấp dịch vụ tại nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như: Việt Nam, Myanmar, Thái Lan và Malaysia. PV Drilling I cũng là giàn khoan biển tiên phong ra thị trường khoan nước ngoài, cụ thể là hợp đồng khoan với Total Myanmar năm 2016.
Từ thành quả hoạt động của giàn này, PV Drilling đã có cơ hội hợp tác với hầu hết các nhà thầu dầu khí lớn trong nước và khu vực, tiêu biểu có thể kể đến các khách hàng như: Hoang Long – Hoan Vu JOC, Vietgazprom, Phu Quy POC, JVPC, Salamander, PCVL, Cuu Long JOC, TOTAL Myanmar (TEMP), Vietsovpetro, Kris Energy GOT, Murphy Oil, SEA Hibiscus, Petronas…
15 năm Zero LTI:
Trong 15 năm hoạt động, giàn PV DRILLING I liên tục duy trì thành tích Zero LTI (không để xảy ra tai nạn gây mất thời gian lao động), góp phần khẳng định uy tín của PV Drilling trên trường quốc tế. Lĩnh vực kinh doanh then chốt là quản lý vận hành các giàn khoan, cung cấp dịch vụ khoan cho khách hàng, việc đảm bảo các giàn khoan hoạt động an toàn và hiệu quả luôn là mục tiêu được ưu tiên hàng đầu của PV Drilling. Và Zero LTI là tiêu chí quan trọng nhất trong bộ chỉ số của Hiệp hội những nhà thầu khoan quốc tế (IADC), là thước đo năng lực điều hành, quản trị của một nhà thầu khoan trong việc đảm bảo sự ổn định của máy móc, con người, thiết bị và tài sản.
Không chỉ dừng lại ở mục tiêu Zero LTI, PV Drilling còn đặt ra mục tiêu cao hơn cho tất cả các giàn khoan là Zero Recordable Incident (không xảy ra tai nạn ghi nhận được). Trong các bộ chỉ số khi đấu thầu, chỉ số này được các công ty dầu khí tham chiếu đầu tiên để đánh giá một cách đầy đủ nhất của nhà thầu khoan có đủ năng lực thực hiện chiến dịch khoan hay không. Còn khi chỉ số ổn định liên tục chứng tỏ năng lực và văn hóa làm việc chuyên nghiệp của nhà thầu khoan.
Nhìn lại thấy rằng, thành tích Zero LTI của giàn khoan đầu tiên và các giàn khoan khác PV Drilling đạt được là nhờ nhiều điều kiện và yếu tố hợp thành:
Thứ nhất: PV Driling đã xây dựng hệ thống quy trình, tiêu chuẩn an toàn, áp dụng kiểm soát chặt chẽ.
Thứ hai: Thiết bị máy móc luôn được kiểm định bảo dưỡng thường xuyên định kỳ, đảm bảo trong tình trạng vận hành tốt nhất.
Thứ ba: Hệ thống quản lý chất lượng kiểm soát tốt chất lượng đầu vào đối với vật tư, hàng hóa, phụ tùng thay thế, đánh giá giám sát chất lượng nhà cung cấp.
Thứ tư: Người lao động được đào tạo theo training matrix, competency assurance – ý thức an toàn vệ sinh lao động luôn được đề cao.
Thứ năm: Môi trường và văn hóa làm việc an toàn được đảm bảo, tinh thần làm việc đội, nhóm hiệu quả, người lao động nắm bắt và tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định an toàn trong khi làm việc.
Tất cả đã góp phần gia tăng năng lực cạnh tranh để khách hàng quyết định trao thầu và lựa chọn PV Drilling làm nhà thầu cung cấp dịch vụ. Các thành tích của giàn tự nâng PV DRILLING I trong 15 năm qua đã thực hiện đúng cam kết của Tổng công ty vì mục tiêu cao nhất là: Thực hiện chiến dịch khoan cho khách hàng an toàn nhất, hiệu quả nhất và với sự hài lòng cao nhất.
Nội địa hóa nhân lực khoan:
PV Drilling hiện đang sở hữu đội ngũ chuyên gia, kỹ thuật giàu kinh nghiệm đến từ các quốc gia tiên tiến trên thế giới, cùng với việc đẩy mạnh công tác đào tạo, phát triển nhân lực trong nước và tại các địa phương nơi giàn khoan hoạt động. PVD Drilling Division – PVD DD (Xí nghiệp Điều hành khoan) – đơn vị thành viên của PV Drilling hiện đảm nhận mảng dịch vụ then chốt là quản lý và điều hành 4 giàn khoan biển tự nâng, 1 giàn khoan đất liền và 1 giàn khoan tiếp trợ nửa nổi, nửa chìm.
Trong 15 năm quản lý và vận hành giàn PV DRILLING I, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực luôn được PVD DD đặt lên hàng đầu. Để công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được thực hiện một cách có hệ thống và hiệu quả, PVD DD đã hoàn thành, đưa vào ứng dụng hệ thống phát triển nguồn nhân lực giàn khoan từ đầu năm 2014. Đây là một hệ thống đào tạo phát triển nguồn nhân lực tiên tiến, được xây dựng bằng sự kết hợp giữa các chương trình đào tạo phổ biến như:
– Chương trình phát triển nhân lực kế cận (Succession Planning).
– Chương trình đào tạo On-the-Job (CBT).
– Chương trình đánh giá hiệu quả công việc (Performance Appraisal) thành một hệ thống tổng thể.
Mục đích của hệ thống này là liên tục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giàn khoan, nhằm tạo ra nguồn nhân lực có năng lực một cách có hệ thống, góp phần tạo sự ổn định trong hoạt động của các giàn khoan, giảm các sự cố, rủi ro có liên quan đến yếu tố con người. Bên cạnh việc đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, PV Drilling còn chú trọng phát triển toàn diện văn hóa, thái độ làm việc chuyên nghiệp, cầu thị và chủ động học tập không ngừng của đội ngũ lãnh đạo, cán bộ công nhân viên làm việc trực tiếp trên giàn khoan, cũng như đội ngũ nhân sự hỗ trợ tại văn phòng, các căn cứ hậu cần.
“Nhớ lại ngày đầu đưa vào vận hành, toàn bộ đội ngũ nhân sự chủ chốt của giàn PV DRILLING I đều do các chuyên gia nước ngoài đảm nhận. Đến nay, sau 15 năm liên tục đào tạo phát triển đội ngũ nhân lực khoan, đa số các vị trí chủ chốt trên giàn như: Kíp trưởng (Driller), Sỹ quan an toàn (STC), hay các chức danh quản lý giàn khoan cấp cao nhất như: Giám đốc giàn (Rig Manager), Đốc công khoan đêm (Senior Toolpusher), Thuyền trưởng (Barge Captain), Trưởng các bộ phận cơ khí, điện, tự động hóa đã do người Việt Nam đảm nhiệm. Tổng tỉ lệ nhân sự người Việt Nam đảm nhận vị trí chủ chốt hiện tại của giàn PV DRILLING I là hơn 70% và sẽ phấn đấu tiếp tục nâng cao hơn nữa trong thời gian tới” – ông Đinh Quang Nhựt – Giám đốc Xí nghiệp Điều hành khoan khẳng định.
Không chỉ hoàn thành tốt sứ mệnh của mình, 15 năm qua, giàn PV DRILLING I còn tự hào là cái nôi, trường đào tạo cho sự phát triển và trưởng thành của đội ngũ quản lý vận hành, cả khối văn phòng (onshore), khối biển (offshore) của PV Drilling. Nhiều lớp nhân lực chất lượng cao được phân bổ cho các giàn khác đều có xuất phát điểm từ giàn PV DRILLING I.
Phải khẳng định rằng, PV DRILLING I là giàn khoan biển sở hữu đầu tiên của PV Drilling, hiệu quả đạt được trong quản lý, vận hành giàn này là tiền đề, cơ sở vững vàng để tiếp tục phát triển, mở rộng đội ngũ các giàn khoan biển: II, III, V, VI sau này.
Hiện cả 6 giàn khoan của Tổng công ty đều có việc làm ở trong và ngoài nước sau thời gian dài bị tác động bởi khủng hoảng kép, riêng giàn PV DRILLING I đang khoan cho Vietsovpetro. Trong bối cảnh ngành dầu khí còn nhiều khó khăn, nhưng doanh nghiệp vẫn đảm bảo việc làm cho khoảng 2.000 người lao động.
Giàn khoan PV DRILLING I do Keppel FELS (Singapore) thiết kế, có thể hoạt động tại các khu vực biển Đông Nam Á, Đông Á, Viễn Đông, Australia và Châu Đại Dương với độ sâu đáy biển lớn nhất là 90 m. Giàn có khả năng thi công giếng khoan có độ sâu đến 25.000 ft (tương đương 7.600 m) và có sức chứa đến 120 người cùng tham gia làm việc trực tiếp trên giàn.
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Thượng viện Pháp sớm phê chuẩn Hiệp định EVIPA và thúc đẩy Ủy ban châu Âu gỡ bỏ thẻ vàng IUU.
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tiếp Chủ tịch Thượng viện Cộng hòa Pháp Gérard Larcher. (Nguồn: TTXVN)
Chiều tối 8/12, tại Phủ Chủ tịch, phát biểu trong buổi tiếp Chủ tịch Thượng viện Pháp Gérard Larcher đang có chuyến thăm chính thức Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Việt Nam coi Pháp là đối tác quan trọng hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Hai nước có mối quan hệ lịch sử đặc biệt, gắn kết về mọi mặt, từ quan hệ chính trị, hợp tác nghị viện, cho đến kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, con người.
Trong tất cả các lĩnh vực hợp tác đó, hợp tác kinh tế là trụ cột quan trọng của Đối tác chiến lược Việt Nam-Pháp. Pháp luôn là đối tác thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển hàng đầu châu Âu tại Việt Nam. Kim ngạch thương mại trong thời điểm dịch Covid-19 năm 2020, 2021 chững lại, đạt 5 tỷ USD, nhưng đang phục hồi. 8 tháng đầu năm 2022 đạt 3,51 tỷ USD, tăng 18% và sẽ tăng mạnh khi thực hiện Hiệp định EVFTA.
Trên cơ sở đó, Chủ tịch nước đề nghị Thượng viện Pháp sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA) và thúc đẩy Ủy ban châu Âu (EC) gỡ bỏ thẻ vàng IUU.
Cùng với hợp tác kinh tế, hợp tác trên lĩnh vực văn hóa-giáo dục và đặc biệt về y tế có những bước phát triển tích cực. Nhân dịp này, Chủ tịch nước cảm ơn Pháp đã hỗ trợ 5,5 triệu liều vaccine ngừa Covid-19 cho Việt Nam.
Chúc mừng Pháp khai trương địa điểm mới của Trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội và bày tỏ ủng hộ việc thành lập chi nhánh Trung tâm văn hóa Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước mong muốn phía bạn tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong trùng tu Quần thể Di tích Cố đô Huế. Chủ tịch nước cũng đề nghị Pháp tăng số lượng học bổng, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho du học sinh Việt Nam học tập tại Pháp.
Hoan nghênh những đóng góp của Chủ tịch Gérard Larcher và Thượng viện Pháp trong thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các địa phương hai nước, Chủ tịch nước cho biết, Pháp là nước duy nhất Việt Nam có cơ chế Hội nghị hợp tác giữa các địa phương định kỳ và luân phiên.
Chủ tịch nước đề nghị Chủ tịch Gérard Larcher và các Thượng nghị sỹ ủng hộ, vận động Lãnh đạo Chính phủ Pháp cùng các địa phương tham dự Hội nghị hợp tác giữa các địa phương lần thứ XII, sẽ diễn ra vào tháng 4/2023, tại Hà Nội.
Cảm ơn Chủ tịch nước dành thời gian tiếp, Chủ tịch Thượng viện Pháp Gérard Larcher cho biết, đây là chuyến thăm đầu tiên của một Lãnh đạo cấp cao Pháp sang thăm Việt Nam kể từ khi dịch Covid-19 bùng nổ.
Để chuẩn bị kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, trong sáng 8/12, Việt Nam và Pháp đã tiến hành công bố logo biểu trưng cho 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Đánh giá cao Việt Nam trong bối cảnh hiện nay góp phần quan trọng giữ vững sự hòa bình, ổn định trong khu vực và trên trường quốc tế, Ngài Gérard Larcher nhấn mạnh, Pháp cũng mong muốn đóng góp vào sự hòa bình và ổn định này và Pháp luôn ủng hộ tự do hàng không – hàng hải tại khu vực Biển Đông.
Cho biết trong chuyến thăm sẽ tham quan các địa điểm có sự hỗ trợ của Pháp tại Việt Nam trong vấn đề bảo tồn di sản tự nhiên cũng như di sản đô thị, Chủ tịch Thượng viện Pháp tin tưởng chuyến công tác sẽ thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác hai bên. Chủ tịch Thượng viện Pháp Gérard Larcher cảm ơn Việt Nam đã viện trợ khẩu trang trong giai đoạn đầu dịch Covid-19 và mong muốn phát triển hơn nữa phong trào Pháp ngữ tại Việt Nam.
Đánh giá cao những ý kiến của Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch nước đề nghị Thượng viện Pháp tiếp tục ủng hộ quan điểm của Việt Nam và ASEAN về Biển Đông, đảm bảo tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không, duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế và Công ước về Luật Biển năm 1982.
Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam tại Pháp có khoảng 300.000 người, cảm ơn Chính phủ và Thượng viện Pháp đã tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt Nam tại Pháp thuận lợi làm ăn, sinh sống, Chủ tịch nước mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ cho Cộng đồng người Việt để họ phát huy vai trò cầu nối trong quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước.
Qua Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trân trọng chuyển lời mời Tổng thống Emmanuel Macron sớm thăm Việt Nam.
Người châu Âu coi các khoản trợ cấp khổng lồ của Mỹ dành cho xe hơi, năng lượng sạch và chất bán dẫn là mối đe dọa đối với nền kinh tế của họ.
Sau gần hai năm yên bình kể từ lễ nhậm chức của Tổng thống Mỹ Joe Biden, những rạn nứt lớn về chính sách kinh tế đang dần xuất hiện giữa Washington và các đồng minh châu Âu. Trừ phi những rạn nứt này được xử lý khéo léo, tầm nhìn của chính quyền Biden về một trật tự kinh tế toàn cầu mới, trong đó Mỹ hợp tác với các đồng minh và đối tác ở châu Âu và châu Á để ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc và Nga, có thể biến thành một trật tự gồm các khối kinh tế cạnh tranh với nhau.
Sau nhiều tháng tức giận âm ỉ, các cuộc cãi vã đã nổ ra vào tuần trước. Thierry Breton, Ủy viên Thị trường Nội bộ của Liên minh châu Âu, tuyên bố ông sẽ rút khỏi các cuộc họp được tổ chức trong tuần này tại Maryland của Hội đồng Thương mại và Công nghệ Mỹ-EU, cơ quan điều phối chính của chính sách kinh tế xuyên Đại Tây Dương. Ông cho biết chương trình nghị sự “đã không còn dành đủ không gian cho các vấn đề mà nhiều bộ trưởng và doanh nghiệp công nghiệp châu Âu quan tâm,” nhắc đến những khiếu nại của EU về các khoản trợ cấp mới của Mỹ dành cho xe điện và năng lượng sạch, vốn gây bất lợi cho các nhà sản xuất xe hơi và các công ty khác của châu Âu. Thay vào đó, ông nói mình sẽ tập trung vào “nhu cầu cấp thiết để duy trì khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp châu Âu.”
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, người đã đến Washington vào tuần trước để tham dự bữa tiệc cấp nhà nước đầu tiên được tổ chức tại Nhà Trắng kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát, nói rằng các khoản trợ cấp của Mỹ “rất tốt cho nền kinh tế Mỹ, nhưng chúng không được phối hợp đúng cách với các nền kinh tế châu Âu.” Trước chuyến thăm, Bruno Le Maire, Bộ trưởng Kinh tế và Tài chính Pháp, đã cáo buộc Mỹ theo đuổi chính sách công nghiệp kiểu Trung Quốc.
Các khoản trợ cấp đang được đề cập là một phần của hai đạo luật lớn mà Quốc hội Mỹ thông qua vào đầu năm nay: Đạo luật Giảm Lạm phát (IRA) và Đạo luật CHIPS và Khoa học. IRA cung cấp tới 370 tỷ đô la trợ cấp để đẩy nhanh quá trình sử dụng năng lượng sạch ở Mỹ. Nó bao gồm các khoản tín dụng thuế cho người mua xe điện ở Mỹ – nhưng chỉ khi chiếc xe được lắp ráp ở Bắc Mỹ, và các bộ phận của chúng được sản xuất tại Mỹ hoặc “các đối tác thương mại tự do” có chọn lọc khác – loại quy định có thể gây tổn hại cho các công ty xe hơi châu Âu như Volkswagen và BMW. Trong khi đó, Đạo luật CHIPS cung cấp 52 tỷ đô la trợ cấp cho các công ty bán dẫn để họ xây dựng các nhà máy chế tạo chip cao cấp mới ở Mỹ. Các nhà lãnh đạo châu Âu coi cả hai đạo luật này là trợ cấp không công bằng cho các công ty Mỹ, làm trầm trọng thêm những thách thức về khả năng cạnh tranh của lục địa già, và có khả năng buộc châu Âu phải tham gia cuộc chạy đua trợ cấp tốn kém với Mỹ và Trung Quốc.
Vào tuần trước, chính phủ Hà Lan đã công khai phản đối việc Mỹ gây áp lực buộc các công ty chuyên về thiết bị sản xuất chip lớn của họ, ASML và ASM International, phải cắt đứt quan hệ với Trung Quốc. Mỹ đã phát động một chiến dịch sâu rộng để ngăn chặn việc bán thiết bị bán dẫn và thiết bị sản xuất chip cao cấp cho Trung Quốc, nhưng vẫn chưa thuyết phục được các đồng minh như Nhật Bản và Hà Lan đồng ý. Bộ trưởng Kinh tế Hà Lan Micky Adriaansens nói với Financial Timesrằng đất nước của bà “có quan điểm rất tích cực” về mối quan hệ với Trung Quốc, và rằng châu Âu và Hà Lan “nên có chiến lược riêng” trong việc kiểm soát xuất khẩu sang Trung Quốc.
Một phần nguyên nhân của sự chia rẽ ngày càng tăng này là cuộc chiến của Nga tại Ukraine. Dù Mỹ và châu Âu đã cùng nhau duy trì một mặt trận thống nhất về các lệnh trừng phạt chống lại Nga và cùng nhau viện trợ quân sự cho Ukraine, nhưng châu Âu đã phải trả một cái giá kinh tế đắt hơn nhiều cho cuộc xung đột. Giá khí đốt tự nhiên ở hầu hết các nước châu Âu đã tăng gấp 10 lần so với mức giá tại Mỹ, khiến các ngành công nghiệp châu Âu gặp bất lợi lớn về cạnh tranh. Dù Mỹ đã giúp châu Âu giải quyết tình trạng thiếu hụt khí đốt từ Nga bằng cách xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG), nó đang được bán với giá thị trường – nghĩa là rất cao. Đại sứ Pháp tại Washington, Phillipe Étienne, nói với Foreign Policy: “Chúng tôi rất biết ơn vì Mỹ cung cấp LNG cho châu Âu, nhưng vẫn có những vấn đề về giá cả.”
Về lâu dài, các tranh chấp đang xoáy vào những mục tiêu mâu thuẫn trong các chính sách công nghiệp của chính quyền Biden. Một mặt, Mỹ muốn xây dựng một chuỗi cung ứng mạnh để làm giảm vai trò của Trung Quốc trong việc cung cấp các công nghệ và đầu vào quan trọng cho các ngành công nghiệp trong tương lai. Điều đó đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ với các đồng minh – điều mà chính quyền Mỹ gọi là “hợp tác sản xuất với các nước bạn bè” (friendshoring)– để ngăn chặn sự trùng lặp lãng phí và đảm bảo sự dẻo dai của nguồn cung. Mặt khác, chính quyền Mỹ lại háo hức chứng kiến sự hồi sinh của các công ty chế tạo có trụ sở tại Mỹ, tin rằng sự mất mát của ngành chế tạo – một phần do cuộc cạnh tranh với Trung Quốc – đã làm suy yếu an ninh của Mỹ và gây tổn hại cho nền kinh tế. Tình trạng mất việc làm trong lĩnh vực chế tạo cũng làm suy giảm sự ủng hộ của cử tri dành cho Đảng Dân chủ ở các bang tập trung vào công nghiệp như Michigan, Pennsylvania, và Wisconsin. Tất cả các biện pháp mới của Mỹ đều có lợi cho các công ty đầu tư vào Mỹ, hơn là vào châu Âu hoặc các đối tác thân thiết khác.
Bộ trưởng Thương mại của Biden, Gina Raimondo – người có cha bị mất việc sau 28 năm làm việc tại nhà máy sản xuất đồng hồ Bulova ở Rhode Island vì công ty chuyển nhà máy sang Trung Quốc – đã nói rõ điều đó trong một bài phát biểu tại MIT hồi tuần trước: “Chúng ta sẽ không chỉ phát minh những công nghệ của tương lai ngay tại nước Mỹ, mà còn chế tạo chúng ngay tại đây.” Không có gì đáng ngạc nhiên khi điều này đã làm mất lòng các đồng minh và đối tác thương mại khác của Mỹ, những người phải đối mặt với viễn cảnh mất thị trường ở Trung Quốc vì Mỹ kiên quyết ép họ chấp nhận những hạn chế mới, chỉ để rồi phải chứng kiến các công ty đa quốc gia chuyển đến Mỹ hoặc mở rộng sản xuất tại Mỹ nhằm tận dụng giá năng lượng rẻ hơn và nguồn trợ cấp hào phóng.
Không chỉ có người châu Âu mới nghĩ như vậy. Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới Ngozi Okonjo-Iweala đang cố gắng bảo vệ quy tắc không phân biệt đối xử— theo đó yêu cầu các đối tác thương mại được đối xử bình đẳng—vốn là cốt lõi của chủ nghĩa đa phương về thương mại suốt 75 năm qua. Bà lập luận rằng có rất ít quốc gia chấp nhận các lựa chọn giữa hai bên mà chính quyền Biden đưa ra. “Nhiều quốc gia không muốn phải chọn giữa hai phe,” bà nói trong một bài phát biểu tại Viện Lowy ở Australia. Việc ép buộc chọn phe có thể làm hỏng tiến trình giải quyết các vấn đề mà Mỹ, Trung Quốc, và các quốc gia khác không có lựa chọn nào khác ngoài việc hợp tác với nhau. Bà cảnh báo “sau cùng, sự phân tách gây ra bởi các chính sách vốn được thiết kế để xây dựng khả năng phục hồi kinh tế và an ninh có thể giống như hành động phản lưới nhà,” gây tổn hại cho sự hợp tác trong các thách thức tập thể như biến đổi khí hậu, đại dịch, hoặc khủng hoảng nợ công.
Những lời của Biden trước bữa tiệc cấp nhà nước với Macron cho thấy ông nhận thức sâu sắc về những lo ngại của châu Âu và sẵn sàng cố gắng cải thiện tình hình. Ông cho biết hai nhà lãnh đạo “đã đồng ý thảo luận về các bước thực tế để điều phối và sắp xếp các cách tiếp cận của chúng tôi,” đồng thời đảm bảo rằng hoạt động chế tạo và đổi mới sẽ được tăng cường “ở cả hai bờ Đại Tây Dương”. Macron lặp lại rằng hai bên đã đồng ý “đồng bộ hóa cách tiếp cận.” “Chúng tôi có thể giải quyết một số khác biệt hiện tại,” Biden nói. “Tôi tin vào điều đó.”
Tuy nhiên, sẽ không dễ để chốt được các chi tiết. Biden thẳng thắn thừa nhận có những “lỗ hổng” trong đạo luật cần phải được sửa chữa. Nhưng vẫn chưa rõ liệu ngôn ngữ của IRA về việc mở rộng trợ cấp cho hàng hóa do các đối tác thương mại tự do sản xuất có bao gồm cả EU hay không. Ngoài ra, có nhiều người trong Quốc hội và chính quyền Mỹ, cũng như trong các ngành công nghiệp như thép và năng lượng mặt trời, những người cam kết tuân thủ nguyên tắc “Nước Mỹ trên hết”, tin rằng Mỹ đáng lẽ ra phải phục hồi ngành chế tạo từ lâu. Họ chắc chắn sẽ phản đối việc mở rộng trợ cấp quá hào phóng.
Biden và các nhà lãnh đạo châu Âu nhận thức rõ rằng họ không thể cho phép xuất hiện một rạn nứt cơ bản xuyên Đại Tây Dương. Hơn bất cứ thời điểm nào kể từ đỉnh điểm của Chiến tranh Lạnh, mối đe dọa kép từ Nga và Trung Quốc đang buộc Mỹ và châu Âu phải hợp tác và giải quyết các tranh chấp kinh tế vốn có thể kéo dài nhiều năm trong những thời kỳ ít căng thẳng hơn – chẳng hạn như tranh cãi kéo dài về trợ cấp cho Airbus và Boeing.
Những lợi ích lớn liên quan đồng nghĩa với việc hai bên sẽ phải tìm ra cách để giải quyết vấn đề. Như Macron đã nói: “Hoàn cảnh này có nghĩa là chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài phải làm việc cùng nhau.”
Edward Alden là chuyên gia bình luận của Foreign Policy, giáo sư tại Đại học Western Washington, và là nghiên cứu viên cấp cao tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại. Ông cũng là tác giả của cuốn “Failure to Adjust: How Americans Got Left Behind in the Global Economy.”
Đến năm 2050, tỷ lệ năng lượng sơ cấp của nhiên liệu hóa thạch sẽ giảm xuống dưới 50% so với 80% thị phần hiện tại. Điều này đạt được là do quá trình điện khí hóa nhanh chóng, khử cacbon, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và các dự án điện gió, mặt trời phát triển mạnh mẽ với chi phí giảm đáng kể.
Nhiên liệu hóa thạch giảm mạnh:
Nhiên liệu hóa thạch trong cung cấp năng lượng sơ cấp của thế giới sẽ giảm đáng kể từ 80% hiện nay xuống chỉ dưới 50% vào năm 2050.
Than tiêu thụ đạt đỉnh 8 Gt (tỷ tấn) mỗi năm vào năm 2014. Kể từ đó, tổng nhu cầu về than đã và sẽ giảm. Trong đại dịch Covid-19 nhu cầu than giảm 7% vào năm 2020. Nhu cầu sự phục hồi sẽ không đạt đến đỉnh trước đó, thay vào đó là việc sử dụng than sẽ giảm gần 2/3 so với mức hiện tại vào năm 2050.
Nhu cầu dầu mỏ năm 2020 là 75 triệu thùng mỗi ngày (Mb/d [1]) không bao gồm khí tự nhiên hóa lỏng và nhiên liệu sinh học. Dự đoán mức tiêu thụ dầu mỏ cao nhất vào năm 2025 với 86 Mb/ngày, cao hơn 15% so với hiện nay, trước khi đi vào mức suy giảm ổn định trong dài hạn.
Nhu cầu dầu mỏ sẽ giảm chậm từ năm 2025 đến năm 2035, sau đó sự suy giảm trở nên tương đối mạnh, trung bình giảm 2,4% mỗi năm trong giai đoạn 2035 – 2050.
Năm 2050, nhu cầu dầu toàn cầu dự kiến là 56 Mb/d (115 EJ). Như vậy, sẽ là giảm 32% so với hiện nay. Sự sụt giảm này phần lớn liên quan đến giảm nhu cầu trong lĩnh vực vận tải, giảm 45% trong 28 năm tới. Sản xuất sẽ tập trung mạnh hơn bao giờ hết ở Trung Đông và Bắc Phi.
Cung cấp khí tự nhiên sẽ đạt đỉnh vào năm 2036 và giảm dần đến thấp hơn 10% so với mức hiện nay. Tiêu thụ khí đốt sẽ vượt qua dầu và trở thành nguồn năng lượng sơ cấp lớn nhất vào cuối những năm 2040.
Khí đốt có sức mạnh duy trì nhờ sự đa dạng của việc sử dụng nó: Một nửa trong số nhu cầu về khí đốt là năng lượng cuối cùng trong sản xuất, vận tải, các tòa nhà và nửa còn lại thông qua chuyển đổi cho các mục đích sử dụng cuối cùng khác (như điện, hóa dầu, sản xuất hydro).
Nhu cầu khí đốt sẽ thay đổi đáng kể giữa các khu vực: Giảm trong các quốc gia OECD; đang phát triển ở Trung Quốc đại lục với đỉnh ở đó vào đầu những năm 2030 và tăng gấp ba lần ở Tiểu lục địa Ấn Độ vào năm 2050.
Vào giữa thế kỷ này, chỉ 12% khí đốt sẽ không có carbon, trong số đó hydro sẽ chiếm khoảng một phần tư, với sự cân bằng được tạo nên thông qua công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) trong điện lực và công nghiệp, và bằng khí metan sinh học (biomethane).
Trong mô hình hóa nhu cầu khí đốt vẫn giả định rằng, giá khí đốt cao ngày nay vẫn tồn tại đến năm 2024 trước khi dần trở lại mức năm 2021. Chương trình kiểm tra chạy với giá khí đốt cao kéo dài trong 6 và 12 năm cho thấy điều đó sẽ làm suy triển vọng khí đốt như thế nào trên toàn cầu và đặc biệt ở châu Âu – nơi mà việc sử dụng nó sẽ giảm một nửa trong vòng một thập kỷ.
Tăng năng lượng tái tạo:
Than và khí đốt lần lượt giảm tương ứng 4% và 8% trong sản xuất điện vào năm 2050, khi chúng hầu như chỉ giới hạn ở cung cấp tính linh hoạt, dự phòng trong hệ thống điện với 70% phụ thuộc vào các nguồn năng lượng tái tạo biến đổi (Variable Renewable Energy Sources – VRES [2]).
Từ nay đến năm 2050, công suất năng lượng mặt trời tăng gấp 22 lần, công suất gió tăng gấp 9 lần, trong đó gió trên bờ gấp 7 lần và gió ngoài khơi gấp 56 lần.
Điều này được thúc đẩy là do cả chi phí giảm và sự gia tăng của VRES với sự cung cấp một lộ trình rẻ nhất và nhanh nhất cho cả quá trình khử cacbon và an ninh năng lượng. Chi phí năng lượng quy đổi bình quân toàn cầu (LCOE) cho điện mặt trời hiện nay ở mức khoảng 5 UScent/MWh và 12 UScent/MWh cho năng lượng mặt trời + bộ lưu trữ. Điều này sẽ làm giảm khoảng 3 UScent/MWh đối với pin mặt trời vào giữa thế kỷ này.
Chi phí năng lượng mặt trời + lưu trữ hiện nay cao gấp đôi pin năng lượng mặt trời không có lưu trữ. Giá pin mặt trời giảm sẽ thu hẹp khoảng cách này xuống còn khoảng 50% vào giữa thế kỷ này. Trong vòng một thập kỷ, khoảng 1/5 tổng số pin mặt trời sẽ được lắp đặt bộ lưu trữ chuyên dụng và đến giữa thế kỷ này, số pin mặt trời được lắp đặt bộ lưu trữ sẽ tăng lên một nửa. Việc lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời trên toàn cầu mỗi năm sẽ đạt 550 GW cho đến năm 2040.
LCOE cho gió cố định và nổi ngoài khơi giảm 39% và 84% tương ứng trong giai đoạn đến 2050. Thậm chí các dự án gió trên bờ do đã được phát triển thuần thục, có thể làm giảm chi phí đến 52%. Những phát triển này thúc đẩy sự gia tăng của điện gió phát vào lưới điện từ 1.600 TWh/năm vào năm 2020 lên 19.000 TWh/năm vào năm 2050. Bởi năm 2050, gió sẽ cung cấp gần 50% lượng điện lưới ở châu Âu và 40% ở Bắc Mỹ và châu Mỹ Latinh.
Trong một thế giới chứng kiến sản lượng điện tăng gấp đôi vào năm 2050, với sản lượng thủy điện vẫn sẽ đảm bảo 13% tổng cung cấp điện, mặc dù đã giảm từ 16% vào năm 2020, trong khi về giá trị tuyệt đối vẫn tăng trưởng và tỷ lệ mất đi này sẽ được chuyển sang năng lượng gió, mặt trời.
Quản lý chất thải, chi phí và thời gian xây dựng cao lâu nay vẫn là thực tế còn tồn tại đối với điện hạt nhân. Tuy nhiên, những lo ngại về an ninh năng lượng hiện nay đã dẫn đến sự quan tâm mới đến nguồn điện này và nó được dự báo với mức tăng khiêm tốn là 13% đến năm 2050 so với mức ngày nay.
1/ Điện gió:
Điện lưới từ gió tăng từ 1,6 PWh/năm [3] vào năm 2020 đến 19 PWh/năm vào năm 2050 với Trung Quốc đại lục, châu Âu và Bắc Mỹ dẫn đầu về sản lượng, các nước OECD và Mỹ La Tinh tăng trưởng mạnh từ năm 2030. Châu Âu và OECD Thái Bình Dương sẽ có tỷ trọng gió ngoài khơi cao nhất.
Các loại tua bin mới và tua bin công suất lớn hơn, các cánh quạt và tháp gió sẽ nâng cao hệ số công suất cho điện gió trên bờ (từ 26% hiện nay lên 34%), và điện gió ngoài khơi từ 38% hiện nay lên 43% vào năm 2050. Điều này, cùng với các tua bin rẻ hơn, là động lực chính của việc giảm 52% chi phí cho gió trên bờ trong giai đoạn 2020 – 2050, với các dự án gió ngoài khơi lắp móng cố định và móng nổi, chi phí lần lượt giảm 39% và 84%. Trong số 6 TW [3] công suất gió lắp đặt vào năm 2050, thì 1,8 TW sẽ là gió móng cố định và 289 GW gió móng nổi ngoài khơi.
2/ Điện năng lượng mặt trời:
Sự tăng trưởng của điện mặt trời rất đáng chú ý: 1 GW mỗi năm được lắp đặt lần đầu tiên vào năm 2004, 10 GW được thêm vào năm 2010 và 100 GW vào năm 2019.
Vào năm 2021, 150 GW đã được thêm vào bất chấp sự gián đoạn chuỗi cung ứng do COVID-19. Từ năm 2030 trở đi, dự kiến hàng năm sẽ được bổ sung từ 300 đến 500 GW.
Vào giữa thế kỷ, tổng công suất lắp đặt sẽ là 9,5 TW cho điện mặt trời và 5 TW cho năng lượng mặt trời + lưu trữ. Kết quả là vào năm 2050 thế giới sẽ có 14,5 TW công suất năng lượng mặt trời, gấp 24 lần năm 2020.
LCOE [4] trung bình của điện mặt trời được kỳ vọng sẽ giảm ở mức ít nhất 40% vào năm 2050, với các dự án riêng lẻ giảm bằng 60% so với chi phí trung bình ngày nay. Điện mặt trời sẽ là nguồn điện mới rẻ nhất trên toàn cầu bởi một mức lợi nhuận đáng kể, mặc dù công suất thấp hơn so với các nguồn VRES khác. Đến năm 2050, 23 PWh/năm của điện mặt trời sẽ được tạo ra trên toàn thế giới.
3/ Lưới điện:
Tổng đầu tư vào lưới trung bình là USD 450 tỷ/năm trong thập kỷ qua. Sự mở rộng của năng lượng tái tạo dẫn đến sự gia tăng đều đặn các khoản đầu tư vào lưới điện, đạt mức 500 tỷ USD/năm vào những năm 2030 và tăng lên 1,1 nghìn tỷ USD/năm vào năm 2050. Tổng số được đo bằng số km – mạch của đường dây truyền tải và phân phối sẽ tăng gần gấp ba lần trong khoảng thời gian từ nay đến 2050.
Tính linh hoạt và lưu trữ điện:
1/ Tính linh hoạt:
Với sự gia tăng công suất VRES toàn cầu gấp 16 lần vào năm 2050, nhu cầu về tính linh hoạt của nguồn điện sẽ tăng lên từ hai đến bốn lần giữa các khu vực.
Không phải tất cả các nguồn nhiệt điện đều cung cấp tính linh hoạt như nhau cho hệ thống điện, nếu tính từ điện hạt nhân, nơi sự linh hoạt là thách thức nhưng không phải là không thể, tiếp theo là các nhà máy nhiệt điện than, dầu, khí đốt ngày càng nhiều thì tính linh hoạt càng tăng, nhưng rất tốn kém. Điều quan trọng không kém là khả năng hoạt động kinh tế của các nhà máy nhiệt điện khi chúng chủ yếu tại các hệ số phụ tải thấp.
Sự thích ứng cho tính linh hoạt đòi hỏi sự thay đổi cả về thể chất lẫn đầu tư vào tự động hóa và các phân tích để dự đoán tốt hơn các mức sản xuất điện tái tạo. Các thiết kế thị trường mới sẽ là cần thiết để khuyến khích sự hoạt động linh hoạt của các nhà máy nhiệt điện.
Tính linh hoạt từ phía nhu cầu – tức là chuyển việc sử dụng điện từ thời gian cao điểm sang thời gian có nhu cầu thấp hơn và phản ứng với sự dư thừa của năng lượng tái tạo cũng sẽ đóng vai trò then chốt. Việc triển khai các tính năng lưới điện thông minh sẽ cho phép quản lý tốt hơn các dòng năng lượng.
Các loại công nghệ và các cơ chế thị trường mới cũng sẽ cho phép những người tiêu dùng tích cực hơn bao giờ hết cung cấp sự linh hoạt dưới các hình thức phản hồi nhu cầu, phương tiện nối lưới và lưu trữ sau công-tơ. Việc chuyển đổi VRES và ở một mức độ nào đó, các nguồn nhiệt điện như hạt nhân, đến các chất mang năng lượng khác (chẳng hạn như hydro) là một tùy chọn khác sẽ cung cấp tính linh hoạt.
2/ Lưu trữ điện:
Ngày nay, thủy điện tích năng cung cấp hầu hết các bộ lưu trữ cho hệ thống điện, nhưng chúng sẽ chỉ đóng góp một chút trong tương lai. Các bộ pin sẽ cung cấp hầu hết nhu cầu lưu trữ khổng lồ trong tương lai, độc lập, hoặc trong các cấu hình năng lượng mặt trời + lưu trữ, hoặc phương tiện nối lưới.
Từ năm 2020 đến năm 2050, quy mô lớn độc lập bộ lưu trữ sẽ tăng từ 2,7 TWh lên 8,8 TWh. Trong số này, dung lượng lưu trữ pin Li-ion sẽ chứng kiến mức tăng trưởng lớn nhất, từ gần như không có gì lên 4,4 TWh vào giữa thế kỷ.
Vào cuối thập kỷ này, pin trạng thái rắn dường như sẽ cung cấp tiềm năng tốt nhất cho một làn sóng tiếp theo về cải tiến hiệu suất và chi phí. Các hóa chất thay thế cũng sẽ phát triển để đáp ứng ngày càng tăng nhu cầu lưu trữ với thời lượng dài hơn (5 giờ trở lên). Về lâu dài, chi phí cho pin sẽ tiếp tục được đẩy lên phù hợp với xu thế chi phí là 19% và giảm hơn 80% chi phí từ nay đến năm 2050.
TS. Nguyễn Mạnh Hiến – Chuyên gia tạp chí Năng lượng Việt Nam
Ghi chú:
[1] Mb/d – Million Barrels per day – Triệu thùng ngày.
Biểu tình vào cuối tuần có thể diễn ra trước Ngày Nhân quyền Quốc tế (10/12).
Vài tuần sau khi giành được nhiệm kỳ thứ ba với tư cách là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình đã phải hứng chịu một đòn giáng nặng nề – hàng loạt người dân đã xuống đường với những tờ giấy trắng A4.
Sự kiện này đã được đặt tên là “cách mạng giấy trắng” hay “phong trào giấy trắng,” và đã lan rộng ra nhiều thành phố trên khắp Trung Quốc. Dù mục đích chính của các cuộc biểu tình là kêu gọi chấm dứt chính sách zero-Covid hà khắc, nhưng người tham dự biểu tình ở Bắc Kinh và Thượng Hải đã công khai hô khẩu hiệu kêu gọi Tập từ chức. Một số người đi xa đến mức gọi ông là “nhà độc tài.”
Đây là cuộc khủng hoảng lớn nhất trong kỷ nguyên lãnh đạo của Tập, kể từ khi bắt đầu vào năm 2012.
Thậm chí còn có một cuộc biểu tình sinh viên được tổ chức tại Đại học Thanh Hoa, trường cũ của Tập. Trường đại học danh tiếng ở phía tây Bắc Kinh được coi là pháo đài quyền lực của Tập, và là nguồn gốc của “Thanh Hoa phái” – một phe mới trong đảng. Trần Cát Ninh (Chen Jining), cựu hiệu trưởng Đại học Thanh Hoa, vừa được thăng chức vào Bộ Chính trị quyền lực tại đại hội toàn quốc hồi tháng 10.
Trần sau đó đã được chọn để trở thành Bí thư Thành ủy Thượng Hải, kế nhiệm Lý Cường, người được kỳ vọng sẽ trở thành thủ tướng tiếp theo.
Các cuộc biểu tình phản đối chính sách zero-Covid đã lan rộng khắp đất nước chỉ trong vài ngày.
Để đối phó chính quyền, các sinh viên biểu tình đã thể hiện tư duy sáng tạo. Trong đêm tối, họ giơ cao những tờ giấy trắng, che kín mặt để không bị nhận dạng, trong lúc hô vang khẩu hiệu đòi Tập từ chức.
Một số sinh viên Thanh Hoa còn viết nguệch ngoạc các phương trình vũ trụ học của Alexander Friedmann trên tờ giấy của họ. Nguyên nhân được cho là vì trong tiếng Anh, “Friedmann” nghe giống như “người được tự do”.
Trong số sinh viên biểu tình ở Thanh Hoa, có rất nhiều thiếu nữ, qua đó phản ánh một sự thay đổi đáng kể trong xã hội Trung Quốc. Hoạt động xã hội tích cực của các nữ sinh là một biểu hiện hoàn toàn trái ngược với cuộc cải tổ Bộ Chính trị vào tháng 10, khi không có phụ nữ nào được góp mặt trong ban lãnh đạo gồm 24 thành viên.
Theo một nguồn thạo tin từ Trung Quốc, trước những diễn biến này, các cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản tự tin sẽ dập tắt cách mạng giấy trắng.
“Cách mạng giấy trắng sẽ bị dập tắt hoàn toàn chỉ trong vòng 10 ngày tới,” nguồn tin nói với Nikkei, đồng thời cho biết thêm rằng ban lãnh đạo đảng đã đặt đất nước trong tình trạng báo động cao nhất khi Ngày Nhân quyền Quốc tế (10/12) đang đến gần.
“Có một sự khác biệt lớn so với những gì đã xảy ra trong quá khứ,” nguồn tin cho biết, ám chỉ sự cố liên quan đến Ngày Nhân quyền Quốc tế năm 1986. “Sẽ không có sự bất đồng nào trong giới lãnh đạo.”
“Đừng đánh giá thấp năng lực hành chính và kỹ năng quản lý khủng hoảng của đảng ở cấp địa phương,” một nguồn tin khác cho biết.
Các phương pháp mà chính quyền sử dụng để đàn áp làn sóng biểu tình giấy trắng không chỉ giới hạn ở vũ lực. Dữ liệu lớn đã được sử dụng để xác định, theo dõi, và kiểm soát những cái tên dễ gây kích động nhất.
Các kỹ thuật giám sát đã được phát triển trong cuộc đàn áp các nhà hoạt động dân chủ ở Hong Kong trước và sau khi luật an ninh quốc gia có hiệu lực ở thuộc địa cũ của Anh vào năm 2020.
Làn sóng phản đối zero-covid đã nhanh chóng lan rộng khắp Trung Quốc sau khi một người biểu tình dũng cảm giương cao các biểu ngữ phản đối trên cầu vượt Tô Thông ở Bắc Kinh vào ngày 13/10, ngay trước đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản.
Nội dung biểu ngữ kêu gọi cung cấp thực phẩm thay vì triển khai chính sách zero-Covid, tiến hành bầu cử thay vì ủng hộ “lãnh tụ”, và thực hiện quyền công dân tự do chứ không phải chế độ nô lệ – tất cả đều đi ngược lại chế độ chuyên chế của Tập.
Chính sách zero-Covid thường được triển khai theo những cách vô cảm, gây ra sự khó chịu trong dân chúng. Một vài người từng hy vọng rằng các biện pháp chống dịch sẽ bớt hà khắc hơn sau đại hội đảng. Khi rõ ràng là điều đó sẽ không xảy ra, người dân đã vô cùng tức giận.
Một trong những vụ chống đối đầu tiên xảy ra tại một nhà máy của Foxconn. Công nhân tại nhà máy lắp ráp iPhone lớn nhất thế giới ở Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam, đã biểu tình phản đối các điều kiện làm việc có liên quan đến chính sách zero-Covid.
Sau đó, vào ngày 24/11, đám cháy bùng phát tại một khu chung cư ở Ô Lỗ Mộc Tề, thủ phủ của Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, đã khiến 10 người thiệt mạng. Biểu tình nổ ra sau khi các bài đăng trên mạng xã hội lan truyền rằng lính cứu hỏa đã phản ứng chậm trễ vì lệnh phong tỏa.
Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan sang Bắc Kinh, Thượng Hải, và các thành phố lớn khác.
Ngày Nhân quyền Quốc tế luôn gây khó khăn cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1986, ba năm trước cuộc đàn áp Thiên An Môn, Phương Lệ Chi, nhà vật lý từng là hiệu phó Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc ở tỉnh An Huy, đã kêu gọi dân chủ hóa đất nước.
Lời kêu gọi của ông đã mở đường cho một phong trào sinh viên nhanh chóng lan rộng từ An Huy đến Bắc Kinh và Thượng Hải. Nhà chức trách đã nhận thấy các cuộc biểu tình năm 2022 cũng diễn ra theo mô hình tương tự.
Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã bị cách chức một tháng sau đó, vì phản ứng ‘nhẹ tay’ của ông đối với phong trào ủng hộ dân chủ.
Đằng sau vụ việc này là cuộc đấu tranh quyền lực phức tạp liên quan đến nhà lãnh đạo tối cao Đặng Tiểu Bình, người đã bổ nhiệm Hồ Diệu Bang vào các chức vụ chủ chốt, và các nguyên lão trong đảng, những người muốn hạ bệ Hồ trong vai trò kiến trúc sư của sự thay đổi thế hệ trong ban lãnh đạo đảng.
Cuộc biểu tình của sinh viên tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 đã làm sâu sắc thêm cuộc cạnh tranh trong nội bộ đảng.
Triệu Tử Dương được Đặng chọn để thay Hồ làm Tổng Bí thư, nhưng chính ông cũng bị thanh trừng sau sự kiện Thiên An Môn, vì tỏ ra thông cảm với sinh viên.
Ngày Nhân quyền Quốc tế là ngày kỷ niệm việc Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế vào ngày 10/12/1948.
Vào ngày đó năm 2008, có một sự cố khác đã xảy ra. Một nhóm các nhà hoạt động nhân quyền do Lưu Hiểu Ba lãnh đạo đã công bố Hiến chương 08 để kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế ra đời.
Hai năm sau, Lưu đoạt giải Nobel Hòa bình, nhưng ông vẫn ngồi sau song sắt nhà tù trong lúc lễ trao giải diễn ra ở Na Uy. Cả thế giới đã nhìn thấy hình ảnh chiếc ghế trống của ông tại buổi lễ, một minh chứng mạnh mẽ cho lập trường cứng rắn của Bắc Kinh. Lưu mất năm 2017, khi vẫn là một tù nhân chính trị.
Phong tỏa đột ngột theo chính sách zero-Covid nghiêm ngặt đã tước đi quyền tự do đi lại của mọi người, vốn là một quyền con người cơ bản. Chính sách gây tranh cãi và không được lòng dân này cũng đã giáng một đòn mạnh vào nền kinh tế Trung Quốc. Đây là lý do tại sao nhiều dân thường đã tham gia các cuộc biểu tình của sinh viên trên khắp đất nước.
Chính quyền Trung Quốc đã không phải đối mặt với các cuộc biểu tình thực sự trên toàn quốc trong 33 năm qua.
Các cuộc biểu tình rầm rộ chống Nhật Bản vào tháng 9/2012 sau khi Nhật Bản quốc hữu hóa Quần đảo Senkaku không thể đem ra so sánh, vì Bắc Kinh tham gia rất nhiều vào việc lập kế hoạch và thực hiện chúng.
Những người tham gia được chính phủ đưa đón từ các vùng nông thôn và được trả trợ cấp hàng ngày. Các quan chức đã hỗ trợ phía sau những người biểu tình, theo dõi chặt chẽ và phân phát nước uống cho họ. Lần này, người của chính phủ cũng đang trà trộn vào các nhóm người biểu tình chống zero-Covid để theo dõi diễn biến.
Tuy nhiên, sự bất mãn hiện tại hoàn toàn bắt nguồn từ vấn đề trong nước, và tập trung vào chính sách zero-Covid do Tập Cận Bình khởi xướng. Tập đã trực tiếp đặt mình vào giữa những làn đạn. Kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát vào tháng 1/2020, Tập đã nói rõ rằng ông đang lãnh đạo cuộc chiến chống lại virus. Ông cũng đứng ra nhận hết các thành tích liên quan, và gắn quyền lực và uy tín của mình với vấn đề quản lý đại dịch.
Sự trở lại của các phong trào phản kháng của sinh viên như giai đoạn 1986-1989 sẽ là một mối đe dọa đối với Tập, ảnh hưởng đến triển vọng duy trì quyền lực trọn đời của ông, đồng thời có thể sẽ làm tái diễn căng thẳng trong nội bộ đảng.
Ngày 10/12 không phải là ngày mà Tập mong đợi. Liệu Tập còn có thể nói về “giấc mộng Trung Hoa” sau 10 ngày nữa?
Trong các cuộc biểu tình lớn ở Hong Kong năm 2019, các ngày cuối tuần – thời gian diễn ra biểu tình – đã thu hút tới 2 triệu người tham gia. Nếu lịch sử là một bài học, dịp cuối tuần trước Ngày Nhân quyền Quốc tế sẽ là thời khắc quan trọng.
Do đó, cần hết sức chú ý đến những gì xảy ra ở Trung Quốc vào cuối tuần này.
Katsuji Nakazawa là nhà báo và biên tập viên cấp cao của Nikkei, hiện sinh sống tại Tokyo. Ông đã dành bảy năm làm phóng viên thường trú ở Trung Quốc và sau đó trở thành trưởng văn phòng Trung Quốc. Ông đã nhận Giải Nhà báo Quốc tế Vaughn-Ueda năm 2014.
Phiên đàm phán thứ 11 thuộc khuôn khổ đàm phán Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Israel (VIFTA) đã diễn ra từ ngày 1-5/8 tại Israel. Đoàn đàm phán của Việt Nam do đại diện Bộ Công Thương làm trưởng đoàn với sự tham dự của đại diện các Bộ, ngành liên quan gồm Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và đầu tư và Bộ Tư pháp.
Ảnh minh họa. (Nguồn: Shutterstock)
Đại sứ Việt nam tại Israel Lý Đức Trung và Tham tán Thương mại Lê Thái Hòa đã tham dự Phiên khai mạc cùng một số hoạt động của đoàn.
Tại phiên đàm phán thứ 11, hai bên đã trao đổi, thảo luận về các nội dung còn tồn đọng gồm: mở cửa thị trường hàng hóa, hải quan và tạo thuận lợi thương mại, pháp lý-thể chế, mua sắm chính phủ, dịch vụ và đầu tư.
Sau nhiều ngày đàm phán, thảo luận chuyên sâu và tích cực với sự quyết tâm và thiện chí, đoàn đàm phán hai bên đã thống nhất được về cơ bản đối với nhiều nội dung quan trọng, đặc biệt là các nội dung liên quan đến mở cửa thị trường cho nhau.
Đối với một số vấn đề còn lại, đoàn đàm phán hai bên sẽ tiếp tục đẩy nhanh quá trình trao đổi, thảo luận trong thời gian tới. Mục tiêu là sớm kết thúc quá trình đàm phán Hiệp định theo định hướng đã được cấp Bộ trưởng hai bên nhất trí trong các phiên trao đổi thời gian qua.