Author Archives: Biendong

“Nỗi sợ hãi” trên các thị trường năng lượng do cuộc xung đột Iran-Israel

 

Từ sau khi Iran tấn công Israel bằng một loạt tên lửa vào ngày 1/10, một cuộc xung đột tiềm tàng giữa hai quốc gia này đã gây ra nỗi sợ hãi trên các thị trường năng lượng.

Bản đồ các mỏ dầu và khí tại Iran


Kịch bản tồi tệ nhất có thể hình dung được là việc Israel tấn công trả đũa vào các cơ sở hạt nhân hoặc cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Iran. Một cuộc tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng dầu mỏ Iran sẽ đánh sập các hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của nước này, một nguồn tài chính quan trọng đối với Tehran. Cuộc tấn công trả đũa tiềm tàng của Iran có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản lượng dầu khí tại các nước láng giềng, giáng một đòn nghiêm trọng hơn nhiều vào thị trường năng lượng toàn cầu. Xuất khẩu dầu mỏ của Saudi Arabia, Kuwait và Iraq được vận chuyển từ các cảng Vịnh Persia và đi qua Eo biển Hormuz dễ bị ngăn chặn. Qatar, cũng là bên trung gian trong cuộc xung đột ở Gaza, nằm hoàn toàn trong Vịnh Persia và là một trong những quốc gia xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng lớn nhất thế giới.


Tình hình leo thang nghiêm trọng sẽ đặt tất cả vào tình thế rủi ro. Giá dầu và khí đốt cao hơn ảnh hưởng đến người tiêu dùng trên toàn thế giới, không chỉ những người nhập khẩu dầu từ khu vực xung đột. Đã xuất hiện nhiều lo lắng khi phản ứng mạnh mẽ của Israel lên đến đỉnh điểm trong ngày 7/10 – thời điểm kỷ niệm 1 năm Hamas tấn công Israel, khi giá dầu thô tăng vọt hơn 10%, lên hơn 80 USD/thùng. Giá dầu cũng đã giảm phần nào kể từ thời điểm đó. Trong trường hợp xấu nhất, giá dầu sẽ tăng vọt lên hơn 100 USD/thùng và gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Những lo ngại này đã khiến Mỹ – đồng minh thân cận nhất của Israel – kêu gọi một “phản ứng hợp lý”, tức là không nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng hoặc hạt nhân của Iran. Những lời kêu gọi này có thể một phần xuất phát từ mong muốn duy trì giá xăng ở mức thấp ngay trước thềm cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào ngày 5/11 tới.


Hiện nay, Tehran dường như đã hành động một cách thận trọng. Iran tuyên bố đã nhắm vào 3 căn cứ quân sự, còn Israel khẳng định có thể ngăn chặn hầu hết các tên lửa mà hầu như không gây ra thương vong. Trong bối cảnh nền kinh tế Iran tiếp tục hỗn loạn, nước này đã xoay xở để gia tăng sản lượng và xuất khẩu dầu. Sản lượng dầu trong năm 2022 của Iran là 2,5 triệu thùng/ngày, và đã tăng lên 3,2 triệu thùng/ngày vào tháng 8/2024. Sản lượng gia tăng này đang được bán cho Trung Quốc thông qua Malaysia để tránh các lệnh trừng phạt. Malaysia sản xuất chưa đầy 350.000 thùng dầu/ngày, nhưng xuất khẩu tới 1,5 triệu thùng dầu/ngày sang Trung Quốc. Đó chính là dầu của Iran, được vận chuyển lén lút đến Malaysia để các thương nhân tái xuất dầu cho các nhà máy lọc dầu Trung Quốc.


Việc phục hồi xuất khẩu dầu có thể là lý do khiến Iran tương đối kiềm chế. Một đòn giáng vào nguồn tài chính trọng yếu này có thể dồn Iran vào thế bí, buộc nước này phải ngăn chặn hoạt động sản xuất và buôn bán dầu ở Vịnh Persia.


Tình hình leo thang như vậy cũng đặt ra vấn đề đối với Ấn Độ, quốc gia nhập khẩu hơn 80% nhu cầu dầu của mình. Ấn Độ là quốc gia có mức độ tiêu dùng lớn, và giá dầu cao hơn có nghĩa là mức chi tiêu trong nước sẽ bị ít đi. Mức tăng 25 USD/thùng đồng nghĩa với mức tăng thêm 35 tỷ USD, hoặc 1% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mà Ấn Độ phải trả cho năng lượng. Phần lớn cơ sở hạ tầng giao thông của nước này chạy bằng dầu diesel và giá dầu cao hơn sẽ dẫn đến lạm phát toàn diện cao hơn. Giá lương thực chịu ảnh hưởng bởi giá năng lượng cao vì khí đốt tự nhiên là đầu vào trong sản xuất phân đạm ure. Một cuộc xung đột lớn ở Vịnh Persia sẽ có tác động thậm chí còn lớn hơn cả xung đột Ukraine năm 2022, vốn đã ảnh hưởng nặng nề đến nhiều quốc gia đang phát triển.

Một rắc rối khác đặt ra đối với Ấn Độ chính là các quốc gia láng giềng Nam Á của nước này – Bangladesh, Pakistan, Sri Lanka và Maldives – đều đang phải đối mặt với khủng hoảng kinh tế. Các quốc gia trên dễ bị tổn thương hơn Ấn Độ trước tình trạng giá năng lượng và lương thực gia tăng đột biến, và xung đột ở Tây Á sẽ ảnh hưởng đến những nước này sớm hơn và nặng nề hơn so với Ấn Độ. Ấn Độ đã can thiệp với sự hỗ trợ khẩn cấp cho Sri Lanka và Maldives lần lượt trong các năm 2022 và 2024. Liệu Bangladesh sẽ là nước tiếp theo? Khó khăn kinh tế là một trong những động lực thúc đẩy những thay đổi chế độ gần đây và tình trạng bạo lực sau đó, và tình hình tài chính của Dhaka thậm chí còn tệ hơn trước. Một cuộc khủng hoảng tài chính có thể trở thành một cuộc khủng hoảng nhân đạo. Nếu Bangladesh trông chờ vào sự cứu trợ của Ấn Độ, trong bối cảnh một cuộc khủng hoảng Tây Á toàn diện, thì đây có thể là một thảm họa./.

BND tổng hợp

Loading

Views: 0

Liệu NATO đã sẵn sàng kết nạp Ukraine?

Điểm đầu tiên trong “kế hoạch chiến thắng” của Ukraine là Kiev đề xuất được Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) mời gia nhập liên minh. Tuy nhiên, liệu NATO có sẵng sàng kết nạp Ukraine?

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tại thủ đô London, Anh, ngày 10/10/2024. Ảnh: AA

Phản ứng trước “Kế hoạch chiến thắng” do Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenksy trình bày ngày 16/10, NATO đã chứng tỏ rằng tổ chức này không có dấu hiệu sẵn sàng mời Ukraine gia nhập khối. Tổng Thư ký NATO Mark Rutte đánh giá “Kế hoạch chiến thắng” của Kiev là tín hiệu tốt, nhưng ông không thể ủng hộ toàn bộ kế hoạch này ở thời điểm hiện tại. Ông nói: “Tất nhiên, đây là tín hiệu mạnh mẽ từ (Tổng thống) Zelensky và đội ngũ của ông khi họ xây dựng nên kế hoạch này… Nhưng không có nghĩa là tôi có thể tuyên bố ủng hộ toàn bộ kế hoạch, hành động đó sẽ gặp đôi chút khó khăn vì có nhiều vấn đề mà chúng tôi phải hiểu rõ hơn”.

Ngoài ra, ông Mark Rutte còn cho biết các quốc gia thành viên NATO đang “vững bước trên con đường” thực hiện cam kết viện trợ quân sự 40 tỷ euro (43,53 tỷ USD) cho Ukraine trong năm nay. Tổng Thư ký NATO nêu rõ: “Tôi rất vui khi thông báo chúng tôi đang vững bước trên con đường thực hiện cam kết 40 tỷ euro cho năm nay.

Theo nhà bình luận Marek Hudema của CH Séc, tư cách thành viên NATO sẽ không giúp chấm dứt cuộc chiến tại Ukraine, mà thậm chí có thể gây ra cuộc chiến lớn hơn, lôi kéo một số hoặc tất cả các quốc gia thành viên của khối quân sự này tham gia. Theo nhà bình luận Hudema, Nga vẫn đang đạt được đà tiến chậm nhưng chắc chắn trên chiến trường Ukraine. Cả Ukraine và phương Tây đều mệt mỏi vì chiến tranh nên có quan điểm ngày càng mạnh mẽ rằng Kiev nên có những mục tiêu chiến tranh thực tế và ký kết thoả thuận đình chiến với Nga. Dẫn chứng lịch sử trường hợp của nước Đức sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, có ý kiến cho rằng tư cách thành viên NATO của Ukraine sẽ là sự đảm bảo để lệnh ngừng bắn có hiệu lực lâu dài.

Tuy nhiên, trong tình hình hiện tại, phương án này được cho là không có tác dụng đối với Ukraine. Cục diện tại châu Âu hiện nay đã hoàn toàn khác so với thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai hoặc những năm 1950, khi mà phương Tây có thể ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô và giữ một nửa nước Đức ngoài tầm kiểm soát của Moskva. Liên Xô, dưới sự lãnh đạo của Joseph Stalin, đã cố gắng khôi phục đế chế Nga. Trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, Liên Xô đã chiếm vùng Baltic, Bessarabia và một phần Phần Lan, sau đó là Transcarpathian Rus – một phần của Ba Lan và quần đảo Kuril của Nhật Bản sau chiến tranh. Áp lực của Liên Xô sau đó vẫn tiếp tục, thậm chí vượt ra ngoài biên giới của đế chế cũ khi cố gắng giành được một phần Iran, thúc đẩy quyền kiểm soát các eo biển Bosphorus và Dardanelles, muốn tham gia quản lý Libya với tư cách là thuộc địa lấy từ nước Italy bại trận.

Theo nhà bình luận Hudema, nước Nga ngày nay đang lặp lại điều gì đó tương tự. Với cuộc chiến ở Ukraine, Moskva đang cố gắng tiếp quản những gì mà theo Tổng thống Nga Vladimir Putin, luôn thuộc thế giới của Nga, bao gồm Ukraine và Belarus. Nga kiểm soát hiệu quả Belarus thông qua các hiệp ước và nhờ quân đội đồn trú, trong khi đang đạt được tiến bộ về quân sự tại Ukraine. Tuy nhiên, giành lại Ukraine không phải là mục tiêu cuối cùng của Tổng thống Putin. Hãy nhớ rằng ông Putin đã gọi sự sụp đổ của Liên Xô là thảm họa địa chính trị tồi tệ nhất thế kỷ XX. Xem xét các dự thảo hiệp ước mà Nga yêu cầu ký kết với NATO và Mỹ vào mùa Đông năm 2021, chỉ vài tháng trước cuộc xâm lược Ukraine, điều Tổng thống Putin muốn là lấy lại ảnh hưởng ở toàn bộ Đông Âu.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, áp lực mà Stalin và những người kế nhiệm ông tạo ra đối với phương Tây đã thúc đẩy sự hợp tác của các nước không theo Liên Xô và sự hình thành của NATO với kết quả một nước Đức bại trận (Tây Đức) gia nhập liên minh quân sự vào năm 1955. Những đảm bảo an ninh của NATO khi đó không áp dụng cho Đông Đức, vốn nằm dưới sự quản lý của Liên Xô.

Một kịch bản tương tự không thể xảy ra với Ukraine ngày nay. Không thể đưa Kiev vào NATO và để một phần lãnh thổ Ukraine dưới sự chiếm đóng của Nga, với thực tế là các đảm bảo an ninh của phương Tây không áp dụng cho phần lãnh thổ đó. An ninh của Ukraine thậm chí không thể được đảm bảo thông qua bất kỳ hiệp ước nào về hỗ trợ quân sự và phòng thủ chung mà không áp dụng cho miền Đông nước này. Lý do là sự khác biệt về bối cảnh. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Liên Xô bị suy kiệt một cách thảm khốc: mất đi hàng triệu dân, một phần đáng kể đất nước bị tàn phá. Stalin biết mình không thể chịu đựng thêm chiến tranh nên khi gặp phải sự kháng cự, ông đã rút lui. Người kế nhiệm ông là Nikita Khrushchev cũng hành xử tương tự. Tuy nhiên, nước Nga hiện nay đã khác, và có tham vọng thành công trong cuộc chiến tại Ukraine. Nền kinh tế Nga đang suy thoái, chi tiêu cho chiến tranh rất lớn nhưng không thể so sánh với nền kinh tế kiệt quệ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Hoàn cảnh của phương Tây cũng khác so với thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Phương Tây hiện lo sợ đối đầu với một nước Nga hạt nhân, nhưng mặt khác lại không sợ bị Moskva đánh bại về mặt quân sự. Còn sau năm 1945, phương Tây sợ rằng sẽ bị Liên Xô có lực lượng lục quân mạnh hơn đè bẹp. Sau đó việc Liên Xô đạt được thành tựu trong phát triển máy bay ném bom hạt nhân và tên lửa đã giúp nước này có lợi thế hơn so với Mỹ và phương Tây. Điều này dẫn đến sự miễn cưỡng của phương Tây trong việc can thiệp vào phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô. Giờ đây, những lo ngại như vậy không tạo ra áp lực phải duy trì nguyên trạng.

Nhà bình luận Hudema đánh giá bối cảnh hiện tại không có sự cân bằng giữa các mối đe dọa và tình trạng cạn kiệt đến mức có thể tạo ra sự phân chia ổn định mới giữa Đông và Tây ở Ukraine. Theo đó, những người nhận thức được điều này đã từ chối kết nạp Ukraine vào NATO, đồng thời bác bỏ các thỏa thuận an ninh có thể có giữa các nước phương Tây và Ukraine, vốn sẽ buộc các nước NATO phải tham chiến với Nga trong trường hợp quân đội nước này vượt qua chiến tuyến hiện tại./.

Tổng hợp

Loading

Views: 0

Phản ứng lạ của Trung Quốc xung quanh eo biển Đài Loan

Khi hải quân các nước điều tàu chiến đi qua Eo biển Đài Loan mà không thông báo, điều mà họ đạt được có thể sẽ hoàn toàn trái ngược với những gì họ mong muốn. Thay vì khẳng định rằng Trung Quốc không phải là nước sở hữu eo biển này, có khả năng họ đang vô tình củng cố cho những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm bình thường hóa việc khẳng định quyền tài phán của Trung Quốc.

Tàu sân bay Sơn Đông của Trung Quốc. Ảnh: AFP


Trung Quốc lặng lẽ bám sát các tàu nước ngoài trong eo biển này và có lẽ làm như vậy để thể hiện vùng biển này là không có tranh chấp. Điều đó trái ngược với hành vi của Trung Quốc trong các cuộc đụng độ với Philippines về lãnh thổ trên biển. Trong những trường hợp đó, Trung Quốc tỏ ra hung hăng về mặt quân sự và lớn tiếng về mặt ngoại giao để buộc phải dẫn tới kết quả pháp lý có lợi cho mình. Trung Quốc cũng cố gắng thể hiện chủ quyền khi triển khai tàu chiến ở vùng biển xung quanh Đài Loan, chứ không chỉ Eo biển Đài Loan. Bắc Kinh đã đẩy mạnh hoạt động này kể từ khi cựu Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi đến thăm Đài Loan vào tháng 8/2022.


Theo Cơ quan phòng vệ Đài Loan, trung bình có 4,4 tàu chiến Trung Quốc được nhìn thấy quanh hòn đảo này vào bất kỳ ngày nào trong năm 2022. Con số này đã tăng lên 5,2 vào năm 2023 và 6,9 vào năm 2024. Việc Trung Quốc triển khai tàu chiến với số lượng lớn tại khu vực này đã trở nên ngày càng phổ biến: ít nhất là 10 tàu – bằng gần một nửa số tàu chiến đang hoạt động của lực lượng hải quân Đài Loan – đã ở vùng biển quanh đảo Đài Loan trong 6,6% số ngày của năm 2023, và tăng lên 10,1% vào năm 2024.

Kể từ tháng 8/2022, đã có ít nhất 18 tàu chiến không phải của hải quân Trung Quốc qua lại eo biển này (một số chuyến không được công bố). Mặc dù Trung Quốc có thể có những hành động quấy rối dữ dội các tàu chiến nước ngoài ở eo biển này, gợi nhớ đến những gì đã xảy ra ở Bãi Cỏ Mây trên Biển Đông, nhưng các cuộc đối đầu lớn hiếm khi xảy ra. Hơn nữa, Trung Quốc thậm chí còn không phản ứng bằng cách điều thêm tàu khi tàu chiến nước ngoài xuất hiện trên Eo biển Đài Loan, mặc dù nước này thường tổ chức họp báo để phản đối việc các tàu nước ngoài đi qua eo biển này. Thay vào đó, phản ứng đặc trưng của Trung Quốc chỉ là cử các tàu đã ở trong hoặc gần eo biển để theo dõi các tàu nước ngoài.

Các đồng minh và đối tác của Đài Loan đã vô tình củng cố cho những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm bình thường hóa việc khẳng định chủ quyền của Trung Quốc. Khi họ âm thầm điều tàu đi qua eo biển, họ đã tạo thêm chứng cớ cho thấy yêu sách của Trung Quốc là không thể bị tranh cãi. Ngược lại, bằng cách tuyên bố thực hiện quyền tự do hàng hải, họ sẽ thể hiện quan điểm rõ ràng rằng những yêu sách của Trung Quốc là không thể chấp nhận được. Nếu Trung Quốc có thể khai thác được bất kỳ manh mối nào chứng tỏ quốc tế chấp thuận thẩm quyền của Bắc Kinh đối với eo biển này, Trung Quốc có thể dần dần thúc đẩy chủ quyền của mình như một thực tế đã rồi. Điều này cũng sẽ dần làm xói mòn yêu sách của Đài Loan đối với phía Đông của đường trung tuyến.

Tại Bãi Cỏ Mây, Philippines tích cực phản đối các yêu sách của Trung Quốc bằng cách duy trì một tiền đồn trên tàu đổ bộ BRP Sierra Madre. Trung Quốc đang tìm cách ngăn cản Philippines vận chuyển vật liệu xây dựng cho con tàu này. Mục đích của Trung Quốc rõ ràng là để tàu này xuống cấp và cuối cùng tự sụp đổ do không được bảo trì.

Eo biển Đài Loan không có các thực thể nhân tạo do các quốc gia khác ngoài Trung Quốc chiếm đóng. Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với eo biển này dường như dựa trên tuyên bố sở hữu vùng đất ở phía bên kia eo biển là Đài Loan. Vì các quốc gia khác không công khai tranh cãi rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc và thích để vấn đề này mơ hồ, Bắc Kinh rõ ràng đang hy vọng rằng việc kiểm soát vùng biển của họ có thể được bình thường hóa. Việc phản đối các khẳng định của Trung Quốc về quyền kiểm soát Eo biển Đài Loan được dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển, theo đó giới hạn lãnh hải trong phạm vi 12 hải lý (22 km) tính từ đất liền. Chiều rộng ở khu vực hẹp nhất của eo biển này là 130 km.

Thỉnh thoảng có những sự cố xảy ra ở Eo biển Đài Loan giúp củng cố nỗ lực của Trung Quốc nhằm thể hiện eo biển này là khu vực không có tranh chấp. Vào tháng 2/2024, một tàu cá Trung Quốc bị lật gần Kim Môn (Kinmen). Vào tháng 7/2024, một tàu cá Đài Loan đã bị Hải cảnh Trung Quốc bắt giữ. Trong cả hai trường hợp, các tàu hải cảnh Trung Quốc đều “có mặt” và thực hiện “các nhiệm vụ của riêng mình” mà không đụng độ dữ dội với lực lượng tuần duyên Đài Loan. Cho đến nay, Trung Quốc cũng không cản trở vận tải đường biển hoặc đường hàng không giữa Đài Loan và Kim Môn.

Hình ảnh mà Bắc Kinh muốn thế giới nhìn thấy là eo biển này nằm dưới quyền tài phán hòa bình của Trung Quốc. Vì vậy, các nước khác nên dùng hải quân của mình để thể hiện rằng Trung Quốc không có quyền như vậy./.

Theo The Strategist

Loading

Views: 0

Cạnh tranh Mỹ-Trung ở Biển Đông ra sao nếu ông Donald Trump tái đắc cử?

 Châu Á-Thái Bình Dương từ lâu đã là khu vực chiến lược quan trọng đối với Mỹ, là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của nước này. Vào năm 2011, Chính quyền Obama đã công bố chiến lược Xoay trục (Tái cân bằng) sang châu Á-Thái Bình Dương với nhiều điểm mới, thể hiện sự can dự sâu hơn vào khu vực Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á – Biển Đông nói riêng.

Nhóm tác chiến tàu sân bay USS Ronald Reagan của Hải quân Mỹ đã đi vào Biển Đông trong bối cảnh căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đang gia tăng. Ảnh: SCMP


          Kiên trì với khẩu hiểu “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” (MAGA) từ lúc tranh cử cho đến khi trở thành chủ nhân Nhà Trắng nhiệm kỳ trước, đối với Donald Trump, việc giúp Mỹ trở lại vinh quang vốn có được coi là trách nhiệm cá nhân của ông. Khác với thời Obama, tập trung vào chủ nghĩa quốc tế và can dự vào nhiều điểm nóng trên thế giới để đảm bảo cái gọi là “tự do và dân chủ” mà Mỹ bảo vệ. Trump đã dần chuyển sang chủ nghĩa cô lập, ủng hộ “Nước Mỹ trên hết”, ưu tiên các lợi ích của Mỹ hơn so với lợi ích của các đồng minh và thậm chí là toàn bộ khu vực. Do đó, quan điểm của Trump trong giai đoạn này nhấn mạnh việc đảm bảo tự do hàng hải, duy trì lợi ích an ninh kinh tế của Mỹ ở khu vực, đồng thời không có quốc gia nào có quyền xâm phạm lợi ích của các quốc gia trong khu vực vượt luật pháp quốc tế. Nếu điều đó xảy ra, Mỹ có thể tiếp cận và can thiệp ở khu vực ngay lập tức.
          Chúng ta có thể nhận ra vài điều về cách tiếp cận của Donald Trump đối với Biển Đông. Thứ nhất, cựu Tổng thống theo đuổi một Biển Đông hòa bình và ổn định, mục tiêu xuất phát từ mong muốn có được các lợi ích kinh tế hơn là xung đột quân sự trên biển. Thứ hai, lập trường của Trump về Biển Đông và các quốc gia khu vực, bao gồm cả Trung Quốc, có thể được nhìn nhận theo hai cách. Khi mới nhậm chức, Trump đã mềm mỏng với các vấn đề ở Biển Đông và ủng hộ một khu vực hòa bình bằng cách sẵn sàng đóng vai trọng tài. Trong giai đoạn quan hệ Mỹ-Trung đối đầu căng thẳng, Biển Đông trở nên hỗn loạn hơn với sự xuất hiện của các tàu chiến Mỹ và các tuyên bố cứng rắn của Mỹ về khu vực. Trong trường hợp Trump thắng cử nhiệm kỳ thứ hai trong bối cảnh thế giới vô cùng bất ổn như hiện nay, Trump có thể đưa ra chiến lược Biển Đông theo hai hướng, kế thừa nó từ chính quyền Biden theo hướng ổn định và kiềm chế tình hình khu vực hoặc “làm nóng” bằng cách đối đầu quyết liệt với Trung Quốc về vấn đề Đài Loan.
          Cả Trung Quốc và Mỹ đều có tham vọng riêng. Đối với Trung Quốc, lợi ích của nước này ở Biển Đông được coi là lợi ích quốc gia quan trọng. Mặc dù không ảnh hưởng đến sự tồn vong của quốc gia, song nó đóng vai trò quan trọng trong ba phương diện kinh tế, quân sự và là hậu phương của sức mạnh hải quân của nước này. Trong bốn năm cầm quyền, Trump và nội các của ông chưa bao giờ ngừng chỉ trích hành động “bắt nạt” các nước khác của Bắc Kinh. Trong chiến lược quốc phòng mới, tư tưởng bao vây trên biển của Washington coi Biển Đông là trung tâm của Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong hệ thống bao vây và kiềm chế Trung Quốc. Điều này đã được tiếp nối từ nhiệm kỳ của Trump sang Biden, với mỗi chính quyền có cách thực thi khác nhau nhưng mục tiêu dài hạn vẫn giữ nguyên.
          Do đó, nếu Trump tái đắc cử vào năm 2024, cạnh tranh Mỹ-Trung vẫn sẽ là tình hình chính ở Biển Đông. Tầm quan trọng của bản chất cạnh tranh sẽ không giảm nhưng chiến lược được áp dụng ở đây sẽ khác. Mỹ sẽ đặt nhiều trách nhiệm lên các đối tác khu vực hơn, sẽ có cách tiếp cận khuyến khích từ xa thay vì can dự quân sự trực tiếp dựa trên các cơ chế hiện có như Bộ tứ, liên minh ba bên Australia-Anh-Mỹ (AUKUS), v.v…
          Vấn đề Đài Loan từ lâu đã được coi là trở ngại lớn nhất trong mối quan hệ giữa hai cường quốc hàng đầu là Mỹ và Trung Quốc do vị thế địa chính trị và kinh tế của hòn đảo này liên quan đến chiến lược của Bắc Kinh. Đài Loan không được công nhận là một quốc gia và trong quá khứ, dưới thời Mao Trạch Đông, Mỹ đã cắt đứt quan hệ với Đài Loan để công nhận Trung Quốc. Tuy nhiên, Đài Loan có giá trị quan trọng đối với Mỹ khi là một vùng lãnh thổ chiến lược, chặn Trung Quốc có thể đi ra ngoài biển. Ngược lại, việc giành lại và thống nhất Đài Loan vào đại lục đã trở thành mong muốn của bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào.
          Lợi dụng căng thẳng Eo biển Đài Loan năm 2022, Trump đã đưa ra nhiều tuyên bố trên Twitter chỉ trích các chính sách của đương kim Tổng thống Joe Biden. Ngoài ra, Trump cũng đưa ra các tuyên bố về cách nhanh chóng giải quyết các điểm nóng mà Mỹ quan tâm như xung đột Ukraine-Nga, Israel-Hamas và Eo biển Đài Loan.
          Trong năm 2024, vấn đề Đài Loan cũng sẽ thay đổi với vai trò của tân lãnh đạo Đảng Dân chủ Tiến bộ, ông Lại Thanh Đức. Viễn cảnh trong tương lai của Đài Bắc có thể sẽ bao gồm việc chung sống hòa bình với Đại lục hoặc nếu trong trường hợp hòn đảo này chọn đối đầu, không bao giờ có “một Trung Quốc”, từ đây mở ra một viễn cảnh tương đối mờ nhạt cho khu vực Biển Đông nếu Trump tái đắc cử Tổng thống Mỹ vì quan điểm của ông về Trung Quốc. Trung Quốc sẽ vẫn là đối thủ cạnh tranh chính và lớn nhất của Mỹ, trong khi Đài Loan khó có thể thoát khỏi thế tiến thoái lưỡng nan mà theo bà Rorry Daniels của ‘Business Insider’, “kịch bản ác mộng thật sự đối với Bắc Kinh không nhất thiết là thấy Lại Thanh Đức được bầu làm Tổng thống Đài Loan, mà là sự kết hợp của Lại Thanh Đức và có lẽ là Donald Turmp trở lại Nhà Trắng”, bao gồm cả nội các cũ của ông Trump.
          Một tương lai khó lường đến từ cả Donald Trump và tình hình thế giới, nhưng Biển Đông vẫn có thể ổn định trước vấn đề Đài Loan vì cả Trung Quốc và Mỹ đều nhìn thấy lợi ích từ việc mở cửa khu vực, vai trò thương mại quan trọng của tuyến đường Biển Đông với Bắc Kinh. Đầu năm 2024, trong thông điệp mừng năm mới, Tập Cận Bình đã khẳng định rằng “Thống nhất đất nước là điều tất yếu lịch sử, đồng bào hai bên chung tay, chung lòng, cùng nhau chia sẻ vinh quang vĩ đại của sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa” cho thấy Trung Quốc hiện đã đủ tỉnh táo trong vấn đề giành lại Đài Loan một cách hòa bình. Tuy nhiên, căng thẳng ở Hoàng Hải giữa Hàn Quốc và Triều Tiên đã nhen nhóm trở lại. Rất có thể vấn đề phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên sẽ là ưu tiên hàng đầu nếu Trump đắc cử. Điều này cũng có nghĩa là các quan ngại ở Biển Đông sẽ giảm bớt hoặc Mỹ sẽ đẩy trách nhiệm và tăng vai trò của các đối tác đồng minh của họ về các vấn đề ở Biển Đông./.

Nguồn: moderndiplomacy.com

Loading

Views: 0

Liên minh Mỹ-Philippines trong bối cảnh cạnh tranh với Trung Quốc

Hiệp ước phòng thủ giữa Philippines và Mỹ trở thành tâm điểm chú ý khi Trung Quốc liên tục đụng độ với quốc gia Đông Nam Á này ở Biển Đông trong những tháng gần đây. Ngoài ra, còn có đồn đoán về việc liệu Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. có kích hoạt Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng (EDCA), một trong những hiệp ước quốc phòng song phương của Manila với Washington, liên quan đến việc bảo vệ Đài Loan hay không.

Một thuyền đánh cá Philippines gần bãi cạn Scarborough. Ảnh: AFP.

“Lằn ranh đỏ” giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông


Theo Hiệp ước phòng thủ chung năm 1951, Manila và Washington được yêu cầu phải hỗ trợ quân sự cho nhau trong trường hợp bị tấn công vũ trang bởi một quốc gia thứ ba, có thể bao gồm các cuộc tấn công của Trung Quốc vào tàu bảo vệ bờ biển của Philippines. Tàu Trung Quốc đã nhiều lần đối đầu và giao tranh dữ dội với tàu Philippines vào mùa Xuân và mùa Hè này. Trong cuộc họp với Tổng thống Philippines Marcos Jr. và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida vào tháng 4 vừa qua tại Washington D. C., Tổng thống Mỹ Joe Biden đã khẳng định sự ủng hộ “sắt đá” đối với hiệp ước với Philippines, bao gồm cả việc bảo vệ lực lượng bảo vệ bờ biển của nước này, đồng thời nhấn mạnh lập trường của Mỹ về an ninh khu vực.


Những lo ngại nghiêm trọng về khả năng Philippines viện dẫn hiệp ước này đã nảy sinh vào tháng 6 vừa qua, khi căng thẳng bùng phát ở Biển Đông do Trung Quốc thực thi Luật hải cảnh năm 2021, theo đó có thể bắt và giam giữ những công dân nước ngoài bị cho là xâm nhập trái phép các khu vực thuộc yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh. Tổng thống Marcos Jr. cho rằng việc thực thi quy định mới là hành động “leo thang” và “khác biệt” so với bất kỳ quy định nào Bắc Kinh từng áp dụng trong khu vực này. Ông tiếp tục cảnh báo rằng “lằn ranh đỏ” sẽ bị vượt qua nếu một công dân Philippines bị sát hại vì căng thẳng leo thang. Ông cho rằng những đợt bùng phát bạo lực gần đây nhất rất gần với hành động chiến tranh.


Bắc Kinh khẳng định quyền lãnh thổ đối với 90% diện tích Biển Đông, theo yêu sách hàng hải mà họ gọi là “đường đứt đoạn”, cho dù các yêu sách không được luật pháp quốc tế công nhận. Hàng trăm hòn đảo và rạn san hô nằm trong khu vực này thuộc Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) trên biển của Philippines. Những EEZ này được xác định và phê chuẩn như một phần của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982, có hiệu lực vào năm 1994 và tạo cơ sở cho chủ quyền hàng hải trên toàn thế giới. Trung Quốc cũng tham gia thỏa thuận này.


Năm 2016, tòa án quốc tế tại La Haye đã ra phán quyết có lợi cho Philippines trong việc thực thi quyền tài phán đối với vùng biển và đất liền thuộc EEZ của nước này. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã phớt lờ phán quyết nói trên. Trong cuộc chạm trán dữ dội giữa tàu Trung Quốc và Philippines ngày 17/6, một quân nhân hải quân Philippines đã bị thương khi tàu Trung Quốc cố ý lao vào tàu Philippines với tốc độ cao. Cuộc đối đầu cũng liên quan đến việc các thủy thủ Trung Quốc vung rìu và dao trong khi tịch thu một số súng trường của hải quân Philippines. Gần đây nhất, vào giữa tháng 8, Trung Quốc còn tham gia vụ đâm vào tàu của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines.


Hành động và phản ứng


Bất chấp sự gây hấn công khai của Trung Quốc, Tổng thống Marcos Jr. vẫn không cho rằng những sự cố như vậy là động thái vượt qua “ranh giới đỏ” khiến Manila và Washington phải hành động theo nghĩa vụ hiệp ước. Bộ Ngoại giao Mỹ cáo buộc Trung Quốc có hành động nguy hiểm và vô trách nhiệm nhằm cản trở Philippines tiến hành các hoạt động hàng hải hợp pháp ở Biển Đông. Tuy nhiên, Tổng thống Marcos Jr. nhiều lần khẳng định rằng ông sẽ tìm kiếm các biện pháp hòa bình để giải quyết xung đột ở Biển Đông và không tìm cách khiến căng thẳng leo thang thành chiến tranh.


Để thực hiện mục tiêu này, Tổng thống Marcos Jr. đã mở các kênh liên lạc cấp cao mới với Bắc Kinh, và các đường dây nóng của tổng thống sẽ được sử dụng để ngăn các cuộc đối đầu trên biển vượt khỏi tầm kiểm soát. Ngày 21/7, Philippines và Trung Quốc tạm thời nhất trí về việc Manila thường xuyên tiếp tế cho quân đội Philippines đồn trú trên một tàu mắc cạn tại bãi Cỏ Mây (quốc tế gọi là Second Thomas Shoal), tâm chấn của các vụ bạo lực vào tháng 6 vừa qua. Hai bên cũng chính thức nhất trí giảm leo thang và quản lý bất đồng thông qua đối thoại và tham vấn, chủ yếu nhờ vào các sáng kiến mà Tổng thống Marcos Jr. đề xuất với Bắc Kinh.


Hợp tác Mỹ-Philippines về các vấn đề an ninh lớn hơn


Trong khi Tổng thống Marcos Jr. tiếp tục các nỗ lực gìn giữ hòa bình, Washington đã kêu gọi thảo luận một loạt biện pháp an ninh khu vực lớn hơn với Manila. Các cuộc tham vấn cấp bộ trưởng trong khuôn khổ 2+2, với sự tham gia của bộ trưởng quốc phòng và bộ trưởng ngoại giao hai nước, đã được tổ chức tại Manila hôm 30/7.


Đáng chú ý, đây chỉ là lần thứ tư các cuộc họp trong khuôn khổ 2+2 được khởi xướng kể từ năm 2012, khi nó được đưa ra thảo luận lần đầu tiên. Trong lần gần đây nhất, hai bên đã thảo luận về việc tăng cường các cam kết liên minh, bao gồm việc ủng hộ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, tăng cường quan hệ kinh tế, thúc đẩy sự thịnh vượng trên diện rộng, và tìm kiếm giải pháp cho các thách thức an ninh khu vực và toàn cầu ngày càng lớn. Họ cũng nhất trí rằng Mỹ sẽ cung cấp 500 triệu USD cho Manila để thực hiện các biện pháp an ninh, củng cố các thỏa thuận song phương và tuyên bố rằng các cuộc tham vấn 2+2 từ nay sẽ được tổ chức hằng năm, với cuộc họp tiếp theo sẽ diễn ra vào năm 2025 tại Washington.


Quan hệ an ninh và chính trị giữa Philippines và Mỹ đã được cải thiện đáng kể kể từ khi Tổng thống Marcos Jr. lên nắm quyền vào năm 2022. Trong thời gian đó, Mỹ đã được tiếp cận thêm 4 địa điểm quân sự theo EDCA.


Chương trình này đã phải đối mặt với sự phản đối chính trị đáng kể trước khi ra đời. Việc triển khai vào năm 2014 và mở rộng vào năm 2023 phụ thuộc vào sự ủng hộ của các tổng thống Philippines ngả về phía Mỹ. Thách thức đối với mối quan hệ này chủ yếu đến từ Tổng thống Rodrigo Duterte, người tiền nhiệm của Marcos Jr. Vị tổng thống này đã đưa Manila rời xa mối quan hệ truyền thống gắn bó chặt chẽ với Washington trong nỗ lực vun đắp mối quan hệ với Bắc Kinh và Moskva.


Mối quan hệ chặt chẽ hơn với Bắc Kinh được thiết lập lần đầu tiên dưới thời Tổng thống Gloria Macapagal-Arroyo trong giai đoạn 2001-2010 mà Chính phủ Philippines và Chính phủ Trung Quốc đều gọi là “Thời kỳ hoàng kim”. Mặc dù Arroyo tuân thủ nguyên trạng trong các mối liên hệ an ninh với Mỹ, nhưng mục tiêu chính của bà trong việc vun đắp mối quan hệ nồng ấm hơn với Trung Quốc lại là mục tiêu kinh tế.


Chính phủ Philippines nhiệm kỳ tiếp theo, dưới thời Tổng thống Benigno Aquino III giai đoạn 2010-2016, đã tìm cách tăng cường đáng kể hợp tác quốc phòng với Mỹ, bao gồm cả việc thiết lập chương trình EDCA đầu tiên. Chương trình này bao gồm 5 căn cứ quân sự và cho phép tiếp nhận luân phiên quân đội Mỹ, tất cả đều được bố trí ở các khu vực phía Nam và trung tâm của Philippines. Mục đích chính là hỗ trợ quân đội Philippines trong các hoạt động nội bộ, bao gồm cả việc chống lại các cuộc nổi loạn và khủng bố Hồi giáo, đặc biệt phổ biến ở các đảo cực Nam Mindanao và Jolo. Trong khi đàm phán EDCA với Washington, Aquino cũng đã đệ đơn lên Tòa trọng tài tại La Haye về vấn đề Biển Đông.


Trong khi đó, Chính phủ Philippines giai đoạn 2016-2022 dưới thời Tổng thống Duterte lại làm cả thế giới kinh ngạc với sự thay đổi chưa từng có trong quan hệ với Washington. Vị tổng thống nóng tính này đã kêu gọi hiện đại hóa lực lượng vũ trang Philippines trong các thỏa thuận với Nga và Trung Quốc, trước khi đi đến ký thỏa thuận hợp tác quốc phòng và kỹ thuật với Moskva.


Tổng thống Duterte cũng đã tìm cách hủy bỏ Hiệp định các lực lượng thăm viếng (VFA) năm 1998 giữa Philippines và Mỹ, mà nền tảng thực thi là EDCA. Mặc dù EDCA không bị hủy bỏ, nhưng Tổng thống Duterte đã trì hoãn việc triển khai cho đến gần cuối nhiệm kỳ, khi ông rút khỏi việc chấm dứt VFA.
Tổng thống Duterte phần lớn đã thất bại trong chiến lược ve vãn Bắc Kinh. Các hành động khiêu khích của Trung Quốc vẫn tiếp diễn, và lời hứa đầu tư vào Philippines vẫn chưa được thực hiện. Đến cuối nhiệm kỳ, Duterte lại tìm cách khởi xướng việc khôi phục quan hệ truyền thống với Mỹ.

Marcos Jr. thăm Washington


Vào đầu nhiệm kỳ của Tổng thống Marcos Jr. năm 2022, đã xuất hiện nhiều đồn đoán về việc liệu tân Tổng thống có theo đuổi nước cờ ban đầu của người tiền nhiệm là thắt chặt quan hệ với Trung Quốc hay không. Cả hai đều thuộc cùng một đảng chính trị, trong khi Phó Tổng thống Sara Duterte lại là con gái của người tiền nhiệm.


Tuy nhiên, những gì diễn ra lại hoàn toàn khác. Chỉ trong vài tháng sau khi lên nắm quyền, Tổng thống Marcos Jr. đã bắt tay vào việc tái thiết lập quan hệ quân sự với Washington, trở thành vị tổng thống Philippines đầu tiên đến thăm thủ đô của Mỹ sau 10 năm. Ông cũng đề xuất thành lập thêm 4 căn cứ theo EDCA. Không giống như các căn cứ ban đầu, các căn cứ mới chủ yếu nằm ở phía Bắc đất nước, bao gồm Căn cứ hải quân Camilo Osias và Căn cứ không quân Lal-lo ở tỉnh ven biển Cagayan, đối diện đảo Đài Loan, trong khi Trại Melchor Dela Cruz nằm ở tỉnh nội địa phía Bắc Isabela. Trên thực tế, 3 trong số 4 căn cứ mới đều nằm ở các vị trí địa lý mang tính chiến lược, gần Đài Loan. Điều này sẽ cho phép lực lượng Mỹ đồn trú tại đó phản ứng sớm trong trường hợp Bắc Kinh có khả năng xâm lược hòn đảo tự trị này.


Chỉ có 1 trong 4 căn cứ mới, trên đảo Balabac ở Palawan, nằm ở Biển Đông. Tuy nhiên, căn cứ này không có bất kỳ cơ sở hạ tầng nào có khả năng hỗ trợ nhiều cho hoạt động quân sự trong khu vực. Điều đó làm dấy lên suy đoán liệu đó có phải chỉ là một cử chỉ mang tính tượng trưng của Mỹ nhằm xoa dịu tư tưởng chống Mỹ ở Philippines – đặc biệt là của các nhóm vận động hành lang theo chủ nghĩa dân tộc – liên quan đến việc bố trí 3 căn cứ kia hay không. Xét đến vị trí của hầu hết các căn cứ mới, cùng với cuộc tập trận quy mô lớn gần đây mang tên “Balikatan” (có nghĩa là “vai kề vai” trong tiếng Tagalog) giữa Mỹ và Philippines tại Cagayan và quần đảo Batanes ở xa hơn về phía Bắc Luzon, có thể nói giai đoạn EDCA thứ hai phản ánh sự thỏa hiệp với Mỹ nhiều hơn là lợi ích của Philippines.


Lập trường của Tổng thống Marcos Jr. cũng làm dấy lên hồi chuông cảnh báo đối với các chính trị gia ở một số tỉnh có căn cứ quân sự, cũng như các nhà lập pháp quốc gia vốn lo ngại rằng đất nước có thể bị lôi kéo vào một cuộc đối đầu quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc về Đài Loan. EDCA đã trải qua nhiều thay đổi lớn trong thập kỷ qua, nhưng không theo cách dễ đoán và trực tiếp. Cách thức áp dụng trong tương lai gần sẽ phụ thuộc vào việc Tổng thống Marcos Jr. sử dụng nó vì lợi ích của Philippines và khu vực hay vì lợi ích của Mỹ trong cuộc cạnh tranh địa chính trị với Trung Quốc và khả năng bảo vệ Đài Loan./.

BND

Loading

Views: 0

Vietnam – A Resilient Partner looking to the bright future

Vietnam and Austria have enjoyed a traditional and friendly relations, with their bilateral trade turnovers ranking first in ASEAN and being among top 10 in the EU blocs. The Austrian President Alexander Van der Bellen invited the President Vo Van Thuong and the high-ranking delegation of Vietnam to visit Austria from July 23rd to July 25th, 2023 on the occasion of the 50th anniversary of the establishment of bilateral relations.

Vietnam – a potential partner in Asia

A recent report by the Asian Development Bank (ADB) forecasts the Vietnamese economy will grow by 6.5% in 2023 and by 6.8% in 2024 respectively despite the impacts by the global economic recession, tight monetary policies in major markets like the US and EU and influence from the Russia-Ukraine conflict. In 2022 alone, Vietnam’s GDP reached 409 billion USD.

Vietnam is one of the most competitive manufacturing centers in the region, benefiting from a shift in the supply chain of global production thanks to flexible policies in management of production and export. Vietnam’s investment environment has been strongly improved, becoming more and more attractive thanks to its focus on streamlining administrative procedures, continuing to give tax and fee incentives to manufacturing businesses, as well as promoting public investment. The Vietnamese government is speeding up national infrastructure investment (accounting for about 5.7% of the GDP) with the goal of connecting seaports, airports, warehouses and yards into a unified logistics network, generating driving force to make the country one of the fastest growing emerging markets in Asia. In the energy sector, Vietnam is implementing dual-horse strategy to soon successfully implement the “Green transformation” commitments introduced at the COP26; on the one hand, maintaining hydro-electricity and thermal power to ensure production capacity and national energy security, on the other hand, accelerating the investment of 133 billion USD for new electrical infrastructure by 2030.

Vietnam’s labor market – with a relatively larger size and better-trained forces compared with many other regional competitors – has become increasingly attractive to FDI enterprises. In the context of US-China trade tensions, Vietnam emerges as one of the safe destinations for global manufacturers thanks to open trade policies with 15 Free Trade Agreements (FTAs) already in effect, connecting almost all the major economies of the world (US, China, EU, ASEAN, Japan, Korea, UK, India…); thereby diversifying the production supply chain, limiting vulnerability to supply disruptions and other impacts by geo-political events.

In addition, in the context of conflicts and riots occurring in many parts of the world, Vietnam has always been evaluated as a country with stable politics under the consistent leadership of the Communist Party of Vietnam. This is one of the indispensable factors that contribute to  making Vietnam able to persist in its economic development policy, creating an environment of peace and prosperity, as well as securing the peace of mind for foreign partners when investing in Vietnam.

Vietnam – Austria relations is well developing into reality

Vietnam and Austria have enjoyed a traditional and friendly relations, with their bilateral trade turnovers ranking first in ASEAN and being among top 10 in the EU blocs. For more than 50 years of establishment of diplomatic relations, the ties between Vietnam and Austria have been continuously consolidated and developed in many areas. The two sides have regularly maintained contacts and exchanged high-level delegations, working closely and supporting each other in multilateral forums on the common goals of peace, cooperation and mutual development. 

In October 2018, the Prime Minister of the Socialist Republic of Vietnam Nguyen Xuan Phuc paid a high-level visit to Austria. In September 2021, the National Assembly Chairman of Vietnam Vuong Dinh Hue paid a working visit to Austria on the occasion of attending the 5th World Conference of Speakers of Parliaments (WCSP5) held in Vienna, Austria. In April 2023, Austrian Foreign Minister Alexander Schallenberg also made a high-level visit to Vietnam.

Austria  is presently in the group of 10 largest trading partners of Vietnam in the EU while Vietnam is Austria’s largest partner in ASEAN. Two-way trade turnover has grown rapidly, reaching 2.8 billion USD in 2022. Austria currently has more than 40 projects in force in Vietnam, focusing on the fields of railways, healthcare, vocational training, wastewater treatment… Austrian entrepreneurs have gradually made their imprints on Vietnam such as Doppelmayr, Gleisbauer of Austria participating in the construction of the cable car lines in the natural wonder Ha Long Bay, Quang Ninh province of Vietnam which scored 02 Guinness records. However, economic cooperation is still not commensurate with the potential and expectations of the country leaders of the two countries.

Lately, the Austrian President Alexander Van der Bellen invited the President Vo Van Thuong and the high-ranking delegation of Vietnam to visit Austria from July 23rd to July 25th, 2023 on the occasion of the 50th anniversary of the establishment of bilateral relations. This is a significant landmark for leaders of the two countries to discuss ways to deepen their political, economic and trade cooperation at bilateral and multilateral levels. It’s also an opportunity for Austrian businesses to promote trade, to lead the investment flow in Vietnam, bringing the Vietnam – Austria strategic partnership into depth and substance.

Vo Van Thuong, born in 1970, was elected by the 15th National Assembly of Vietnam on March 2nd, 2023 to become the State President of the country. He was the youngest man to hold this position in Vietnam. President Vo Van Thuong has a lot of experience in many fields from politics to economics. He was the initiator of the development of special mechanisms and policies to early turn Ho Chi Minh city into an economic, financial and cultural center, as well as a hub of service and innovation in Southeast Asia in particular and in Asia in general./.

https://waj.world/vietnam-a-resilient-partner-looking-to-the-bright-future-p8639.html?fbclid=IwAR1pbGGHZjQXWjxBLPhcoUxWjDgRB1O4ikh1rdG_qt0xxGk7EJpMe3OQCQI

Loading

Views: 0

Mục đích chuyến công du châu Âu của Tổng thống Mỹ Biden

Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ tới châu Âu trong một tuần để thực hiện chuyến công du 3 quốc gia, bao gồm cả tham dự hội nghị thượng đỉnh NATO. Chuyến đi tập trung vào việc củng cố liên minh quốc tế để ủng hộ Ukraine khi nước này tiến hành cuộc phản công chống lại Nga.

Thủ tướng Đức Scholz (trái) và Tổng thống Mỹ Biden trong cuộc gặp tại Nhà Trắng hồi tháng 3/2023. Ảnh: Anadolu.

Theo thông báo của Nhà trắng, ông Biden dự kiến khởi hành vào ngày 9/7 tới Anh, sau đó tới thủ đô Vilnius của Litva để tham dự Hội nghị thượng đỉnh NATO và cuối cùng là đến Helsinki (Phần Lan) để hội đàm với những người đồng cấp Bắc Âu.


Các nhà lãnh đạo quân sự Ukraine cho biết cuộc họp của NATO diễn ra vào thời điểm quan trọng nhất trong cuộc chiến. Tổng thống Ukraine Zelensky cho biết các hành động phản công và phòng thủ chống lại các lực lượng Nga đang được tiến hành khi quân đội Ukraine bắt đầu chiếm lại lãnh thổ ở phía Đông Nam của đất nước.


Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg đã đến thăm Nhà Trắng hôm 13/6, nơi ông và Biden nói rõ rằng liên minh phương Tây đã thống nhất trong việc bảo vệ Ukraine. Biden cho biết trong cuộc họp đó rằng ông và các nhà lãnh đạo NATO khác sẽ làm việc để đảm bảo rằng mỗi quốc gia thành viên dành 2% GDP cho quốc phòng. Biden nói khi ngồi cạnh Stoltenberg, người dự kiến sẽ gia hạn nhiệm kỳ thêm một năm nữa: “Các đồng minh NATO chưa bao giờ đoàn kết hơn thế. Cả hai chúng tôi đều làm việc cật lực để đảm bảo điều đó. Và cho đến nay, rất tốt. Chúng tôi thấy sức mạnh chung của chúng tôi trong việc hiện đại hóa mối quan hệ trong NATO, cũng như hỗ trợ khả năng phòng thủ cho Ukraine”.


Tìm cách kết nạp Thụy Điển


Hội nghị thượng đỉnh NATO diễn ra khi liên minh quân sự phương Tây tìm cách kết nạp Thụy Điển – quốc gia đã bị Thổ Nhĩ Kỳ và Hungary ngăn cản tham gia làm thành viên – và khi Ukraine tăng cường chiến dịch gia nhập khối này trong bối cảnh Nga xâm lược.


Phần Lan đã trở thành thành viên đầy đủ của NATO vào đầu năm nay. Khi Phần Lan gia nhập NATO vào tháng 4, nước này đã nhân đôi biên giới của Nga với liên minh an ninh lớn nhất thế giới. Biden đã nhấn mạnh việc củng cố liên minh NATO như một tín hiệu cho thấy ảnh hưởng của Moskva đang suy giảm.
Thụy Điển cũng đang tìm cách gia nhập NATO, mặc dù các thành viên liên minh là Thổ Nhĩ Kỳ và Hungary vẫn chưa tán thành động thái này. Trước khi đến châu Âu, Biden sẽ tiếp Thủ tướng Thụy Điển Ulf Kristersson tại Nhà Trắng vào ngày 8/7 để thảo luận về tham vọng gia nhập NATO của Stockholm.
Thụy Điển đã yêu cầu tham gia liên minh quân sự này vào tháng 5/2022, ba tháng sau khi Nga xâm lược Ukraine. Các nhà ngoại giao hàng đầu của Thổ Nhĩ Kỳ và Thụy Điển sẽ gặp nhau vào 9/7 – một ngày sau chuyến thăm Nhà Trắng của Thủ tướng Kristersson – tại trụ sở NATO ở Brussels.


Thổ Nhĩ Kỳ cuối cùng đã rút lại việc phản đối Phần Lan gia nhập hồi đầu năm. Nhưng Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan tuần trước đã tố cáo Stockholm vì đã cho phép một cuộc biểu tình trong đó một người đàn ông đốt các trang trong kinh Koran. Tổng thống Erdogan đã nói rằng Thụy Điển “quá lỏng lẻo” đối với các nhóm khủng bố và các mối đe dọa an ninh. Tuy nhiên, ông Stoltenberg cho biết Thụy Điển đã đáp ứng các nghĩa vụ của mình đối với tư cách thành viên thông qua việc thắt chặt luật chống khủng bố và các biện pháp khác.


Lý do Hungary phản đối Thụy Điển ít được xác định hơn, phàn nàn về những lời chỉ trích của Thụy Điển về sự thụt lùi dân chủ và xói mòn về pháp quyền của nước này. Hungary, trong khi cung cấp viện trợ nhân đạo cho Ukraine, cũng đã tìm cách cân bằng mối quan hệ giữa NATO và Nga. Budapest phụ thuộc rất nhiều vào Nga về nhu cầu năng lượng. Các đồng minh phương Tây và Stockholm khẳng định rằng Thụy Điển đã đáp ứng các điều khoản của thỏa thuận gia nhập liên minh vốn đã nhất trí với Ankara hồi năm ngoái.


Hối thúc NATO mời Ukraine gia nhập


Chuyến công du của Tổng thống Biden từ ngày 9-13/7 diễn ra trong bối cảnh căng thẳng gia tăng ở Nga sau cuộc nổi dậy ngắn ngủi do thủ lĩnh tập đoàn lính đánh thuê Wagner Yevgeny Prigozhin lãnh đạo đã làm lung lay chính quyền của Tổng thống Vladimir Putin. Đấu đá nội bộ đang lan rộng trong bộ máy an ninh của Moskva khi tổng thống Nga nghi ngờ một số nhân vật cấp cao được cho là đã hỗ trợ cuộc binh biến.


Trong khi đó, các chiến binh từ nhóm lính đánh thuê Wagner có thể sắp tập hợp lại hàng loạt ở Belarus, nơi họ đã được Tổng thống Alexander Lukashenko, một đồng minh của Putin, hứa hẹn sẽ chào đón nồng nhiệt.


Có những dấu hiệu cho thấy Washington cảm nhận được cơ hội, ngay cả khi họ khẳng định rằng họ không can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Nga. William Burns, Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương, cho biết hôm 1/7 rằng sự bất mãn với cuộc chiến “sẽ tiếp tục gặm nhấm giới lãnh đạo Nga”, đồng thời nhận định rằng đây là “cơ hội nghìn năm có một” và “chúng tôi sẽ không để nó bị lãng phí”.


Tại Vilnius, trọng tâm sẽ là Ukraine và liệu các thành viên của liên minh quân sự có vạch ra con đường rõ ràng để quốc gia bị tàn phá này cuối cùng gia nhập NATO hay không, như Tổng thống Zelensky đã thúc giục. Tổng thống Ukraine Zelensky cuối tuần trước cho biết ông muốn đất nước của mình nhận được “lời mời” tại hội nghị thượng đỉnh Vilnius để gia nhập NATO sau khi cuộc chiến với Moskva kết thúc.


Sau cuộc hội đàm với Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sanchez, ông Zelensky nói với các phóng viên ở Kiev: “Chúng tôi cần một tín hiệu rõ ràng và dễ hiểu tại hội nghị thượng đỉnh Vilnius rằng Ukraine có thể trở thành một thành viên bình đẳng của NATO sau khi chiến tranh kết thúc. Lời mời tham gia liên minh này là bước đầu tiên, rất thiết thực, nó sẽ rất quan trọng đối với chúng tôi”.


Tổng thống Zelensky ký đơn xin gia nhập NATO tháng 9/2022 và yêu cầu liên minh nhanh chóng kết nạp Ukraine. Ông Zelensky hồi tháng 5 thừa nhận Ukraine không thể gia nhập NATO khi chưa chấm dứt xung đột với Nga.


Nga nhiều lần tuyên bố ngăn Ukraine gia nhập NATO là mục tiêu chính của nước này. Nga coi tiến trình hướng Đông của NATO là một trong những mối đe dọa an ninh nghiêm trọng. Trong khi đó, một số nước như Mỹ và Đức bày tỏ thận trọng trước việc kết nạp Ukraine vào NATO, lo ngại điều này đẩy liên minh đến gần xung đột với Nga./.

BND

Loading

Views: 0

Trung Quốc tìm cách mở rộng hợp tác với hải quân Nga

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc và Tư lệnh Hải quân Nga đã gặp nhau trong cuộc hội đàm quân sự đầu tiên kể từ cuộc nổi dậy của Wagner. Trong cuộc gặp, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc tái khẳng định quan hệ quân sự chặt chẽ của nước này với Nga.

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lý Thượng Phúc. Ảnh: REUTERS

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lý Thượng Phúc nói với Đô đốc Nga Nikolai Yevmenov rằng Trung Quốc hy vọng tăng cường trao đổi, tập trận chung và các hình thức hợp tác khác sẽ đưa quan hệ quốc phòng “lên một tầm cao mới”. Ông Lý Thượng Phúc nói: “Hải quân Trung Quốc và Nga có sự trao đổi chặt chẽ và tương tác thường xuyên. Hy vọng rằng hai bên sẽ tăng cường liên lạc ở tất cả các cấp, thường xuyên tổ chức huấn luyện, tuần tra và tập trận chung”.


Về phần mình, Đô đốc Yevmenov khẳng định Nga sẵn sàng tiếp tục mở rộng giao lưu hải quân với Trung Quốc ở mọi cấp độ và cùng tổ chức các sự kiện huấn luyện quan trọng, trong đó có diễn tập và tuần tra chung, đồng thời kêu gọi “không ngừng thúc đẩy quan hệ giữa quân đội hai nước lên một tầm cao mới”.
Quân đội Nga và Trung Quốc thường xuyên tổ chức các đợt diễn tập chung. Chiến đấu cơ chiến lược Tu-95MS của Nga và H-6 của Trung Quốc ngày 7/6 tuần tra trên khu vực Biển Nhật Bản, Biển Hoa Đông và phía Tây Thái Bình Dương trong 8 tiếng. Tiêm kích Su-30SM, Su-35S của Nga và J-11B của Trung Quốc hộ tống nhóm oanh tạc cơ nói trên.


Bộ Quốc phòng Nga khẳng định oanh tạc cơ và tiêm kích hai nước “thực hiện nghiêm túc quy định quốc tế và không vi phạm không phận nước ngoài” trong chuyến tuần tra. Hoạt động này nằm trong khuôn khổ Kế hoạch Hợp tác Quân sự 2023 của Nga và Trung Quốc, không nhằm vào bên thứ ba.
Trung Quốc vận hành lực lượng hải quân lớn nhất thế giới tính theo số lượng tàu và vượt xa hải quân Nga cả về quy mô và khả năng kỹ thuật. Các hạm đội của hai nước đã tổ chức một loạt cuộc tập trận và diễn tập chung kể từ khi Nga xâm lược Ukraine vào năm ngoái, cũng như lực lượng không quân của họ.
Hợp tác quân sự là hiện thân của liên minh không chính thức của chính phủ Trung Quốc và Nga nhằm chống lại trật tự thế giới tự do do Mỹ lãnh đạo. Hai nước thống nhất các chính sách đối ngoại và lập trường của mình tại Liên hợp quốc, nơi Bắc Kinh liên tục cung cấp vỏ bọc ngoại giao cho Moskva.
Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Nga Valery Gerasimov tháng trước cho biết mối quan hệ đối tác quân sự mạnh mẽ giữa Nga với Trung Quốc đã mang lại sự ổn định trên toàn thế giới.


Kể từ cuộc nổi dậy bất thành của thủ lĩnh Wagner Yevgeny Prigozhin, Trung Quốc đã tuyên bố ủng hộ những nỗ lực của Nga nhằm “ổn định tình hình trong nước”. Cuộc tiến quân về Moskva của Prigozhin dù nhanh chóng thất bại đã đặt ra thách thức lớn nhất đối với 2 thập kỷ cầm quyền của Tổng thống Vladimir Putin. Sau cuộc binh biến, nhà lãnh đạo Tập Cận Bình vẫn chưa có cuộc hội đàm công khai với Tổng thống Vladimir Putin về vụ việc.


Nga và Trung Quốc tăng cường hợp tác và liên hệ ngoại giao trong những năm qua. Quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước càng trở nên khăng khít sau khi chiến sự Nga-Ukraine bùng phát. Trung Quốc tuyên bố là bên trung lập trong xung đột Nga-Ukraine, gần đây tăng cường nỗ lực ngoại giao nhằm tìm giải pháp hòa bình cho cuộc khủng hoảng.


Trong khi tuyên bố trung lập trong cuộc chiến Ukraine, Trung Quốc kiên quyết đứng về phía Nga, cáo buộc Mỹ và NATO khiêu khích Moskva và làm leo thang chiến tranh bằng cách viện trợ vũ khí cho Ukraine. Trung Quốc đã từ chối lên án cuộc xâm lược hoặc coi đó là một hành động tôn trọng Moskva nhưng cũng tuyên bố sẽ không cung cấp cho Nga sự hỗ trợ quân sự hoặc vũ khí cho cuộc xung đột.
Những diễn biến gần đây đã khiến Nga trở thành đối tác cấp dưới trong mối quan hệ với Trung Quốc. Các biện pháp trừng phạt liên quan đến chiến tranh đã khiến nền kinh tế Nga phụ thuộc nặng nề vào việc mua năng lượng từ Trung Quốc và Ấn Độ.


Putin, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ gặp nhau vào ngày 7/4 tại một hội nghị thượng đỉnh trực tuyến, đánh dấu cuộc gặp đa phương đầu tiên của Putin kể từ cuộc nổi dậy của Wagner. Hội nghị thượng đỉnh của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), một nhóm an ninh do Nga và Trung Quốc thành lập để chống lại các liên minh phương Tây từ Đông Á đến Ấn Độ Dương, là một dấu hiệu rõ ràng rằng Tổng thống Putin vẫn nhận được sự hậu thuẫn./.

BND

Loading

Views: 0

Biển Đông và chủ quyền biển đảo Việt Nam dưới góc nhìn của các học giả châu Âu

Ngày 10/6, tại thủ đô Paris của Pháp đã diễn ra Hội thảo khoa học với chủ đề: “Biển Đông và vấn đề chủ quyền của Việt Nam” với sự tham dự của đông đảo học giả và những người yêu biển đảo Việt Nam.

Đại sứ Việt Nam tại Pháp Đinh Toàn Thắng phát biểu tại hội thảo. 

Theo phóng viên TTXVN tại Paris, chia sẻ về ý nghĩa và mục đích tổ chức sự kiện, bà Cao Hồng Vinh, Trưởng Ban liên lạc người Việt tại châu Âu vì biển đảo Việt Nam cho biết: “Hội thảo lần này là dịp thu thập tài liệu, cập nhật, trao đổi những thông tin mới nhất về tình hình Biển Đông thời gian qua. Thông qua hội thảo, những anh chị em Việt kiều đã đi thăm Trường Sa và nhà giàn DK1, cũng như những người yêu biển đảo Việt Nam có cơ hội kết nối với nhau, cùng nhau tổ chức các hoạt động hướng về biển đảo Việt Nam. Chúng tôi mong muốn đây sẽ là hoạt động thường niên của Ban liên lạc người Việt tại châu Âu vì biển đảo Việt Nam”.

Phát biểu tại lễ khai mạc, Đại sứ Việt Nam tại Pháp Đinh Toàn Thắng đánh giá cao nỗ lực của các cá nhân và hội đoàn cùng đóng góp để tổ chức hội thảo. Đại sứ cho rằng đây là sự kiện có ý nghĩa rất lớn đối với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là kiều bào tại châu Âu, thể hiện tình cảm và sự gắn bó của kiều bào với quê hương, đất nước, và cả với những chủ đề lớn của quốc gia, dân tộc.

Được tổ chức theo sáng kiến của Ban liên lạc người Việt tại châu Âu vì biển đảo Việt Nam, hội thảo đã nhận được 14 tham luận của các học giả, là các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu về châu Á, Biển Đông, các nhà kinh tế học, nhà giáo dục, từ các nước châu Âu (Ba Lan, Đức, Pháp, Italy, Séc, Ukraine), Canada và Việt Nam. Các tham luận đã đề cập nhiều góc nhìn về Biển Đông và vấn đề về chủ quyền biển đảo Việt Nam, xét trên các góc độ lịch sử, văn hóa, chính trị và pháp lý. Tình hình trên Biển Đông, những giải pháp để xử lý tranh chấp và những phương án phát triển kinh tế biển cũng được các diễn giả đề cập đến. Không chỉ lắng nghe những bài thuyết trình có giá trị khoa học, các đại biểu còn cùng nhau trao đổi, thảo luận những vấn đề đặt ra qua các bài tham luận.

Trao đổi với phóng viên TTXVN về góc nhìn của mình đối với vấn đề Biển Đông và các quần đảo Việt Nam, ông Patrice Jorland, Giáo sư Sử học, nguyên chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt cho biết, xét theo luật biển quốc tế, Việt Nam có một vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn. Ông Jorland cho biết Việt Nam có chủ quyền ở Biển Đông. Liên quan đến chủ quyền Trường Sa và Hoàng Sa, ông cho biết những chứng cứ lịch sử cho thấy Việt Nam đã khẳng định chủ quyền ở hai quần đảo này, đặc biệt là Hoàng Sa, từ cuối thế kỷ 18, dưới triều nhà Nguyễn. Giáo sư người Pháp cũng cho rằng các bên liên quan cần phải tôn trọng luật quốc tế, và khối ASEAN, trong đó Việt Nam là một thành viên tích cực, cần củng cố khối đoàn kết, tăng cường nỗ lực ngoại giao và đàm phán, tránh dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp.

Chú thích ảnh
Các diễn giả trình bày tham luận tại Hội thảo khoa học với chủ đề: “Biển Đông và vấn đề chủ quyền của Việt Nam”, ngày 10/6 tại thủ đô Paris (Pháp).

Về phần mình, bà Malgorzata Pietrasiak, Giáo sư Đại học Lodz ở Ba Lan, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, đánh giá cao phương pháp xử lý của Việt Nam về các vấn đề trên biển, mà bà gọi bằng thuật ngữ “Hedgingowa” (tạm dịch là “phòng ngừa rủi ro”). Theo bà, đây là chiến lược sáng suốt, mềm dẻo, hòa bình, không căng thẳng, nhưng cũng không nhượng bộ. Bà khẳng định: “Phương pháp này rất hiệu quả và mang lại điểm tốt cho ngoại giao Việt Nam trên chính trường quốc tế. Việt Nam cũng rất linh hoạt trong việc xử lý các vấn đề”.

Hiện đang có mặt tại thủ đô Paris, nhà văn khuyết tật Trần Thị Trà My dù đi lại và nói năng khó khăn, cũng cố gắng đến tham dự. Chị cho biết : “Lý do tham dự hội thảo vì tôi là người Việt Nam, tôi rất hay xem thời sự và thường xuyên tìm hiểu về Hoàng Sa và Trường Sa. Đến tham dự diễn đàn, tôi được biết thêm nhiều ý kiến khách quan về tình hình Việt Nam, được nghe nhiều bài chia sẻ hay của các giáo sư tiến sĩ ở Liên minh châu Âu, những người am hiểu vấn đề”.

Theo bà Bùi Thị Thu Minh, Việt kiều, Chủ tịch CLB Trường Sa tại Đức, ý tưởng tổ chức hội thảo là rất tuyệt vời vì nếu như theo truyền thống những người lớn tuổi như thế hệ bà thường chỉ tổ chức việc quyên góp tiền ủng hộ các chiến sĩ, nhưng các bạn trẻ đã có ý tưởng tốt là tổ chức hội thảo để có thể đạt được mục đích lớn hơn là kết nối, lan tỏa, hành động cùng Trường Sa. Bà nhấn mạnh: “Do đó, hoạt động như thế này sẽ giúp kết nối, đoàn kết tạo nên sức mạnh. Đó là điều tuyệt vời và mọi người nên ủng hộ để hằng năm có thể tổ chức những diễn đàn như thế này ở nhiều nơi, nhằm lan tỏa rộng hơn tới bạn bè quốc tế”.

Biển và chủ quyền biển đảo luôn là vấn đề được quan tâm không chỉ với Việt Nam mà với tất cả các nước có biên giới trên biển. Với 14 tham luận được trình bày, hội thảo góp phần mang đến cho công chúng những góc nhìn và các sáng kiến để cùng nhau xây dựng và phát triển trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ của nhau.

Nguồn: https://baotintuc.vn/thoi-su/bien-dong-va-chu-quyen-bien-dao-viet-nam-duoi-goc-nhin-cua-cac-hoc-gia-chau-au-20230611102242092.htm

Loading

Views: 0

Bước tiến mới trong quan hệ Việt-Mỹ

Đoàn nghị sĩ lưỡng hội Mỹ do Thượng nghị sĩ Mỹ Jeff Merkley dẫn đầu, có chuyến thăm Việt Nam từ ngày 7-11/4. Phát biểu trước báo giới tại Hà Nội, Thượng nghị Merkley tuyên bố Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken dự kiến sẽ đến Việt Nam “vào tuần tới”.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng đoàn nghị sĩ Mỹ tại buổi tiếp vào ngày 8-4. Ảnh: PHẠM THẮNG


Mục đích chuyến thăm của đoàn nghị sĩ lưỡng hội Mỹ

Thượng nghị sĩ Jeff Merkley, thành viên của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, dẫn đầu đoàn nghị sĩ lưỡng hội Mỹ thăm Việt Nam và Indonesia nhằm thúc đẩy hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Tại Hà Nội, đoàn đã có các cuộc gặp với đại diện hai Bộ Công an và Bộ Quốc phòng Việt Nam. Trong cuộc gặp tại Bộ Quốc Phòng, Thượng nghị sĩ Jeff Merkley trao tặng phía Việt Nam tập tài liệu gồm thông tin về bộ đội Việt Nam mất tích trong chiến tranh.

Trước đó, trong thông cáo đưa ra ngày 5/4, các nghị sĩ Mỹ cho biết đoàn sẽ thăm Việt Nam và Indonesia với mục tiêu là nhằm hỗ trợ các thành viên ASEAN “bảo vệ và tăng cường chủ quyền và an ninh của họ trước sự gia tăng gây hấn của Trung Quốc”.

Trong thông cáo báo chí, Thượng nghị sĩ Merkley tuyên bố: “Việt Nam và Indonesia là những đối tác quan trọng của Mỹ, và chỉ khi cùng nhau, chúng ta mới có thể giải quyết những thách thức nhiều mặt của thế kỷ này. Chuyến đi của chúng tôi sẽ là cơ hội để tăng cường không chỉ mối quan hệ với chính phủ hai nước đó mà còn giữa người dân các nước chúng ta”.

Thượng nghị sĩ Van Hollen có mặt trong phái đoàn cho biết: “Tăng cường quan hệ đối tác trên khắp thế giới sẽ giúp xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho người Mỹ cũng như cộng đồng toàn cầu. Điều này đặc biệt đúng ở Đông Nam Á…”.

Tại Việt Nam, phái đoàn tìm hiểu về những vấn đề phải giải quyết sau chiến tranh, bao gồm các dự án xử lý chất da cam/dioxin, rà phá bom mìn và tìm kiếm các tù nhân chiến tranh và quân nhân mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Ngoài ra, dự kiến, trong chuyến đi này, đoàn sẽ đến thăm một địa phương ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu đối với các cộng đồng và hệ sinh thái địa phương.

Trước chuyến thăm, Thượng nghị sĩ Merkley (ủy viên Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện) và Thượng nghị sĩ Van Hollen (Chủ tịch Tiểu ban Quan hệ đối ngoại Đông Á của Thượng viện) đã ra nghị quyết tái khẳng định sự ủng hộ của Mỹ đối với vai trò trung tâm của ASEAN, Tầm nhìn của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt trong kiến trúc thể chế của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Ông Merkley cùng Thượng nghị sĩ Mỹ Dan Sullivan cũng đã đưa ra một nghị quyết lưỡng đảng nhằm nâng cao nhận thức về các vấn đề môi trường, nhân đạo và kinh tế mà sông Mekong đang phải đối mặt, cũng như công nhận tầm quan trọng thiết yếu của Quan hệ đối tác Mekong-Mỹ trong việc hỗ trợ sự thịnh vượng ở khu vực.

Chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ – bước tiến nữa trong quan hệ Việt-Mỹ

Theo Reuters, tin tức về chuyến thăm của Ngoại trưởng Blinken đến Việt Nam được Thượng nghị sĩ Mỹ Jeff Merkley thông báo trong cuộc họp báo ở Hà Nội, nhưng thời điểm tiến hành chuyến thăm chưa được chính thức công bố. Nhiều khả năng, ông Blinken có thể đến Hà Nội vào ngày 15/4, sau đó lên đường sang Nhật Bản dự Hội nghị Ngoại trưởng nhóm G7 từ ngày 16 đến 18/4.

Như vậy, chuyến thăm của Ngoại trưởng Antony Blinken diễn ra sau cuộc điện đàm giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 29/3 vừa qua. Hai nhà lãnh đạo đã nhất trí tăng cường mối quan hệ song phương, nhưng không đề cập về việc chính thức nâng cấp mối quan hệ.

Chuyến thăm của ông Blinken được xem là nằm trong nỗ lực của Washington nhằm nâng cấp mối quan hệ song phương với Việt Nam lên tầm “đối tác chiến lược” trong năm nay, lý tưởng là vào đúng tháng 7/2023, nhân kỷ niệm 10 năm hai nước thiết lập “quan hệ đối tác toàn diện”./.

BND

Loading

Views: 0

Vụ rò rỉ tài liệu mật của Mỹ hé lộ điều gì?

Các tài liệu mật của Mỹ bị rò rỉ vào tuần trước có nêu chi tiết những điểm yếu của quân đội Ukraine, đặc biệt là thiếu hụt về đạn dược và phòng không, cũng như hướng tới leo thang căng thẳng với Trung Quốc.

Lầu Năm góc. Ảnh: Reuters

Điểm yếu của Ukraine

Theo tờ “The Washington Post”, một trong những tài liệu bị rò rỉ của Lầu Năm Góc nêu chi tiết rằng lực lượng phòng không của Ukraine có thể không bảo vệ được tiền tuyến cho đến cuối tháng 5. Một trong những tài liệu này bao gồm một đánh giá từ hồi tháng 2 của Bộ Quốc phòng Mỹ, trong đó cho biết “khả năng cung cấp tên lửa phòng không tầm trung để bảo vệ [tiền tuyến] của Ukraine sẽ bị giảm hoàn toàn vào ngày 23/5 tới”.

Theo tài liệu mật này, một khi vũ khí lớp phòng thủ thứ nhất của Ukraine hết đạn, “lớp phòng thủ thứ hai và thứ ba sẽ suy yếu trước các cuộc tấn công trên không của Nga từ mọi độ cao”.

Cả Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng Mỹ đang điều tra vụ rò rỉ tài liệu mật sau khi các nguồn tin của Nga đăng chúng lên các trang web trực tuyến, như Twitter. Các tài liệu này có từ tháng 3 hoặc đầu năm nay và dường như bao gồm thông tin về công tác đào tạo, cung cấp đạn dược cho Ukraine cũng như thương vong từ cả phía Ukraine và Nga. Các tài liệu dường như không có kế hoạch cho một cuộc phản công của Ukraine dự kiến vào mùa Xuân này.

Theo đó, các tên lửa phòng không của Ukraine sẽ cạn kiệt nhanh chóng: tên lửa của hệ thống SA-11 sẽ cạn kiệt vào ngày 13/4, của hệ thống NASAM do Mỹ sản xuất sẽ hết vào ngày 15/4 và của hệ thống SA-8 vào tháng 5 tới. Một tài liệu khác dường như cho thấy rằng việc phòng không Ukraine chỉ tập trung vào máy bay chiến đấu, trực thăng của Nga mà bỏ qua các mối đe dọa nhỏ hơn, như máy bay không người lái (UAV), là một trong những thiếu sót lớn.

Trong khi đó, theo tờ “The New York Times”, tài liệu mật đánh giá về tình trạng giao tranh ở Bakhmut – một thành phố thuộc vùng Donetsk ở phía Đông Ukraine đã bị bao vây trong 7 tháng qua. Ngoài ra, các tài liệu mật còn mô tả cách Mỹ theo dõi các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự hàng đầu của Ukraine.
Bên cạnh đó, tài liệu mật phác thảo các lực lượng Ukraine “bị bao vây bởi các lực lượng Nga ở Bakhmut” như thế nào kể từ ngày 25/2 và đề cập đến những đánh giá “nghiệt ngã” của các nhà lãnh đạo hàng đầu Ukraine trong cuộc chiến đang diễn ra ở Bakhmut: Tướng Kyrylo Budanov – Giám đốc tình báo quân đội Ukraine – nhận định tình hình rất “bi thảm” vào thời điểm này, trong khi đó Roman Mashovets – cố vấn của Chánh Văn phòng Tổng thống Ukraine – thừa nhận tinh thần chiến đấu của các lực lượng Ukraine ở Bakhmut rất thấp.

Hàn Quốc lo lắng

Một quan chức Phủ Tổng thống Hàn Quốc ngày 9/4 cho biết Seoul sẽ thảo luận với Washington sau khi một số tài liệu mật của quân đội Mỹ liên quan đến nước này bị rò rỉ. Các tài liệu mật của quân đội Mỹ bị rò rỉ gần đây có chứa thông tin về các cuộc thảo luận nội bộ của giới chức Hàn Quốc. Nội dung thảo luận là việc Mỹ gây áp lực thuyết phục Hàn Quốc gửi vũ khí cho Ukraine, điều trái với chính sách mà Seoul theo đuổi.

Theo tiết lộ, Seoul đồng ý bán đạn pháo để Mỹ bổ sung vào kho vũ khí của nước này. Tuy nhiên, trong trao đổi nội bộ, giới chức Hàn Quốc lo ngại Mỹ có thể gửi chúng tới Ukraine. Báo cáo mật này có được nhờ vào tình báo tín hiệu. Điều này cho thấy Mỹ đang do thám một trong những đồng minh chính tại châu Á.

Về phần mình, người phát ngôn của Phủ Tổng thống Hàn Quốc từ chối phản hồi câu hỏi về động thái do thám của Mỹ, cũng như từ chối xác nhận mức độ chân thực của các tài liệu bị rò rỉ. Khi được hỏi về việc liệu Hàn Quốc có kháng nghị hay yêu cầu Mỹ giải thích hay không, vị quan chức trên nói rằng Seoul sẽ tham khảo các vụ việc tương tự trước đây liên quan tới các quốc gia khác.

Kể từ khi Nga phát động “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine, Hàn Quốc đã đạt được hàng loạt thương vụ cung cấp vũ khí – bao gồm cả xe tăng và máy bay chiến đấu – cho Ba Lan, một nước thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Tuy nhiên, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk-yeol khẳng định luật pháp nước này cấm cung cấp vũ khí cho các nước đang vướng vào xung đột. Ông Yoon dự kiến sẽ gặp Tổng thống Mỹ Joe Biden vào ngày 26/4 trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Washington.

Leo thang căng thẳng với Trung Quốc

Vụ tài liệu mật của Mỹ rò rỉ trên Internet có thể gắn với nguyện vọng của các quan chức Mỹ muốn hối thúc ê-kip chính quyền của Tổng thống Joe Biden tới leo thang căng thẳng với Bắc Kinh, điều mà nhà lãnh đạo Mỹ không muốn. Đó là nhận xét của ông Vladimir Vasiliev, chuyên gia hàng đầu tại Viện Nghiên cứu Mỹ và Canada.

Chuyên gia Vladimir Vasiliev bình luận về vụ rò rỉ tài liệu mật: “Điều đó có thể gắn với thực tế hiện nay đang bùng phát căng thẳng trầm trọng trong quan hệ Mỹ-Trung, người ta muốn thúc đẩy chính quyền Biden thực hiện hành động ráo riết hơn theo hướng này, bởi đang có quan điểm nổi rõ cho thấy chính quyền rất ngại hành động, trong khi Bắc Kinh tỏ ra có phần nhân nhượng trong các giao kèo ký kết giữa các cơ cấu tài chính Trung Quốc và gia đình Biden”.

Như nhà khoa học chính trị nhận xét, không loại trừ là Trung Quốc cũng đáp trả. Chuyên gia Vasiliev nói: “Hơn nữa là bây giờ, khi Ủy ban Giám sát và Giải trình trách nhiệm của Mỹ bắt đầu nghiêm túc điều tra tất cả công việc kinh doanh của gia đình Biden. Tiến trình này đã khởi động, mặc dù không được nói đến nhiều. Hiện nay, xã hội đang có nhu cầu về các thông tin kiểu này. Và Trung Quốc dường như cũng dùng cách rất khéo léo khiến thông tin này thu hút sự chú ý của các nhà lập pháp Mỹ. Có thể chờ đợi diễn biến phát triển sự kiện chính trị nghiêm trọng trong nước”.

Một lô hồ sơ bí mật mới của Lầu Năm Góc đã xuất hiện trực tuyến. Theo tờ “The New York Times”, tổng cộng có khoảng 100 tài liệu được đăng tải tiết lộ động cơ thực sự trong chính sách của Mỹ đối với Ukraine, Trung Đông và Trung Quốc. Trong số đó có kế hoạch tạo ra một mạng lưới phòng không. Đây là vụ rò rỉ thứ hai trong vài ngày qua./.

BND

Loading

Views: 0

Chiến lược mua lại các cảng biển của Trung Quốc

Trung Quốc là một cường quốc thương mại toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của nước này đã được thúc đẩy đáng kể nhờ xuất khẩu tăng trong nhiều thập kỷ, trong đó vai trò của các cảng biển là hết sức quan trọng.

Một cảng biển của Trung Quốc

Với vai trò là các “động mạch chính” của thương mại toàn cầu, các điểm tiếp cận kinh tế và các nút triển khai sức mạnh địa chiến lược, các cảng là chìa khóa cho các nền kinh tế toàn cầu và khu vực, kết nối đất liền và biển. Trong những năm gần đây, việc Trung Quốc ngày càng tăng đầu tư vào các cảng nước ngoài đã thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Sự tập trung vào các khoản đầu tư mang tính chiến lược cao này đã tạo ra lo ngại rằng các phương tiện thương mại toàn cầu, một khi được phi tập trung hóa, đang dần tích tụ trong một số ít doanh nghiệp nhà nước (SOE) của Trung Quốc.

Theo các nhà nghiên cứu từ Đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ và Đại học Indiana, các công ty có trụ sở tại Trung Quốc và Hong Kong (Trung Quốc) sở hữu hoặc vận hành (trong hợp đồng thuê hoặc nhượng quyền thông qua nắm giữ tài sản) hơn 90 cảng tại 53 quốc gia. Các ước tính khác cho thấy Trung Quốc có các khoản đầu tư hoặc các thỏa thuận tương tự tại hơn 100 cảng với ít nhất một cảng mỗi châu lục ngoại trừ Nam Cực.

* Đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc vào các cảng

Hầu hết các khoản đầu tư vào cảng nằm dọc theo ba “con đường kinh tế xanh” của Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia. Tuyến đường đầu tiên nối Trung Quốc với Ấn Độ Dương, châu Phi và Địa Trung Hải; tuyến đường thứ hai nối Trung Quốc với Australia và Nam Thái Bình Dương; và tuyến đường thứ ba nối Trung Quốc với châu Âu qua Bắc Băng Dương.

Các nhà đầu tư chính của Trung Quốc tại các cảng và bến cảng ở nước ngoài là doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc. Một trong những nhà đầu tư SOE lớn nhất của Trung Quốc tại các cảng nước ngoài là Tập đoàn Vận tải biển Trung Quốc (COSCO), nhà khai thác cảng lớn nhất thế giới.

Hầu hết các khoản đầu tư cảng của tập đoàn này tập trung vào các nước phát triển và dọc theo các tuyến vận chuyển chính toàn cầu. Trong khi đó, Tập đoàn China Merchants Group (CMG), nhà đầu tư cảng lớn khác của Trung Quốc, đầu tư vào các thị trường mới nổi.

Theo báo cáo năm 2020 của Nikkei Asia, từ năm 2010-2019, các công ty Trung Quốc, như COSCO và CMG, đã đầu tư vào 25 dự án cảng ở 18 quốc gia, chi gần 11 tỷ USD ở nước ngoài.

* Mối quan tâm an ninh

Những khoản đầu tư này làm dấy lên lo ngại về tiềm năng thống trị vận tải biển quốc tế của Bắc Kinh và khả năng gây ảnh hưởng, thậm chí kiểm soát các tuyến đường biển và tuyến đường cung cấp năng lượng quan trọng. Song song với quá trình này, Trung Quốc mua lại các nguồn tài nguyên (như nước), công nghệ và cơ sở hạ tầng ở nước ngoài.

Báo cáo của Nikkei lưu ý rằng các khoản đầu tư vào cảng nước ngoài của các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc đã cho phép Bắc Kinh tiếp cận các trung tâm hàng hải chiến lược như một phần của sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) và Con đường Tơ lụa trên biển thế kỷ XXI, một “chiến dịch đầu tư tích cực đã làm dấy lên lo ngại về ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh trên toàn thế giới”.

Gần đây, việc mở rộng dấu ấn của Bắc Kinh tại Cảng Khalifa (thuộc Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất UAE), quyền sở hữu kho cảng dự trữ nhiên liệu tại cảng Fujairah (UAE) và các khoản đầu tư vào cảng Duqm ở Oman càng làm dấy lên lo ngại về những gì được cho là sự tập trung quyền lực của Trung Quốc và sự hiện diện của nước này ở Trung Đông đặc biệt là gần eo biển Hormuz, một “nút thắt” toàn cầu quan trọng.

Phản ứng lại, nhiều chính phủ đã tìm cách ngăn chặn các công ty Trung Quốc giành quyền sở hữu hoặc chiếm phần lớn cổ phần tại các bến cảng. Trong số các nước đó có Mỹ nhưng cũng bao gồm Bangladesh, quốc gia đã hủy hợp đồng với Trung Quốc liên quan đến xây dựng một cảng nước sâu tại Sonadia vào năm 2016, được cho là do áp lực từ Mỹ và Ấn Độ. Trong khi đó, Australia cho biết sẽ xem xét lại hợp đồng năm 2015 cho một chi nhánh của một SOE Trung Quốc thuê cảng Darwin trong 99 năm.

* Mối quan tâm ở phương Tây

Có ba mối quan tâm chính ở phương Tây liên quan đến đầu tư vào các cảng nước ngoài của các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc. Đầu tiên là những khoản đầu tư này có thể giúp Bắc Kinh tiếp cận thông tin nhạy cảm hoặc thông tin mật thông qua giám sát (chẳng hạn như theo dõi chuyển động của thông tin liên lạc và tàu bè), và khả năng thu thập dữ liệu.

Gần đây, tại Israel, Mỹ đã đề cập đến việc Tập đoàn cảng quốc tế Thượng Hải quản lý một cảng biển tư nhân mới tại Haifa. Căn cứ hải quân Haifa thường xuyên tiếp đón các tàu chiến Mỹ và Mỹ lo ngại rằng nhà điều hành cảng có thể dễ dàng theo dõi các hoạt động của tàu Mỹ, có quyền truy cập vào thiết bị từ các địa điểm sửa chữa, cũng như các lỗ hổng trong chuỗi cung ứng.

Mối quan tâm thứ hai là ảnh hưởng rõ ràng mà Bắc Kinh hiện có thể phát huy thông qua nhiều khoản đầu tư vào cảng của mình. Ví dụ, ở Hy Lạp, COSCO đã tăng cổ phần của mình trong cảng trung chuyển khổng lồ Piraeus lên 67%. COSCO cũng đã phát triển cơ sở hạ tầng đường sắt đến các nước như Đức, củng cố sự thống trị ngày càng tăng của Trung Quốc trong các tuyến đường biển và đường bộ thương mại qua phía Đông Địa Trung Hải. Các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc đã chủ trì tuyến đường biển thương mại xuyên Địa Trung Hải nối các cảng của Ai Cập với lục địa châu Âu ở Piraeus.

Mối lo ngại thứ ba là khả năng thành lập các trung tâm hậu cần và thậm chí cả các căn cứ quân sự bên cạnh các cảng nước ngoài đã được các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc mua lại. Cách bố trí các căn cứ mới sẽ giúp Bắc Kinh dễ dàng phục vụ và duy trì lực lượng hải quân đang phát triển. Việc Bắc Kinh duy trì một căn cứ quân sự ở Djibouti, gần cảng Doraleh thương mại đa mục đích do Trung Quốc điều hành, và gần Trại Lemonnier của Hải quân Mỹ làm gia tăng thêm những lo ngại này.

* Thách thức và ý nghĩa

Mối quan tâm của Trung Quốc đối với các cảng nước ngoài được thúc đẩy bởi những lo ngại về an ninh quốc gia. Cảng Gwadar ở Pakistan là một ví dụ điển hình. Cảng do công ty quản lý cảng nhà nước China Overseas Ports điều hành, vị trí địa chiến lược (và quyền kiểm soát) của cảng giúp Trung Quốc tránh được nút thắt chiến lược của eo biển Malacca, còn được gọi là “thế tiến thoái lưỡng nan Malacca” của Trung Quốc. Với việc Trung Quốc tiếp tục phụ thuộc vào các nguồn năng lượng nhập khẩu, đây vẫn là mối quan tâm địa chính trị và địa lý đối với Bắc Kinh. Vì khoảng 80% lượng dầu nhập khẩu này và 40% vận chuyển toàn cầu đi qua eo biển. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các chuyến hàng sẽ gây tổn hại đến uy tín và lợi ích kinh tế của Trung Quốc.

Điều đáng chú ý là Trung Quốc không có mạng lưới căn cứ ở nước ngoài. Ngoài ra, các cảng chưa được quân sự hóa và làm như vậy chắc chắn sẽ vi phạm các quy tắc pháp lý về chủ quyền lãnh thổ. Vì các tàu hải quân được coi là tàu quân sự của quốc gia nên thường không được chào đón cũng như không được phép cập cảng trong lãnh thổ có chủ quyền nếu không có sự cho phép. Hơn nữa, theo những thông tin công khai, đầu tư của SOE Trung Quốc vào các cơ sở cảng ở nước ngoài không đi kèm với các thỏa thuận bổ sung trao một số quyền nhất định cho quân đội Trung Quốc.

Các quan điểm khác cũng chỉ ra rằng quyết định của Bắc Kinh triển khai quân đội ở nước ngoài và thiết lập các căn cứ quân sự tương ứng là để bảo vệ lợi ích của mình, bao gồm các công ty và công dân Trung Quốc, thay vì thiết lập một phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc bên ngoài châu Á.

Với việc Trung Quốc tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng thương mại quy mô lớn ở các khu vực dễ xảy ra xung đột như châu Phi và Trung Đông, không có gì lạ khi cho rằng Bắc Kinh sẽ tìm cách thiết lập thêm các căn cứ ở nước ngoài trong những năm tới, bao gồm cả các cảng nước ngoài gần địa điểm mà các SOE của Trung Quốc đã mua lại chẳng hạn như ở Equatorial Guinea.

Hiện tại, các quốc gia có thể ngăn chặn việc mua lại các cảng của các quốc gia hoặc công ty cụ thể. Tuy nhiên, điều này có thể gây ra những thiệt hại kinh tế.

Các khoản đầu tư cảng nước ngoài và khả năng tiếp cận căn cứ quân sự, đặc biệt là ở các quốc gia có tầm quan trọng toàn cầu và địa chiến lược gần các nút thắt trên biển, có thể mang lại cho Trung Quốc ảnh hưởng lớn hơn đối với các mạng lưới chuỗi cung ứng quan trọng, và thậm chí định hình lại cảnh quan biển toàn cầu và khu vực để tạo lợi thế cho Bắc Kinh. Trong bối cảnh căng thẳng Mỹ-Trung, những lo ngại về việc doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc dễ dàng theo dõi và thu thập dữ liệu tại các cảng nước ngoài sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn./.

Theo trang mạng International Affair

Loading

Views: 0

Trung Quốc tăng cường hoạt động quân sự xung quanh Đài Loan

Theo thông tin từ Đài Loan, ngày 7/4 Trung Quốc tiếp tục cử tàu chiến và máy bay đến gần Đài Loan sau khi Tổng thống Thái Anh Văn gặp Chủ tịch Hạ viện Mỹ Kevin McCarthy.

Tàu sân bay Sơn Đông trong một chuyến ra biển cuối năm 2020. Ảnh: BQP Trung Quốc

Bộ Quốc phòng Đài Loan cho biết ba tàu chiến Trung Quốc đã đi vào vùng biển xung quanh hòn đảo tự trị, trong khi một máy bay chiến đấu và một máy bay trực thăng chống ngầm cũng bay qua Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của hòn đảo.


Ngày 5/4, hàng không mẫu hạm Sơn Đông – một trong hai chiếc tàu sân bay trong hạm đội hải quân của Trung Quốc, đã đi qua vùng biển phía Đông Nam của Đài Loan và hướng đến khu vực Tây Thái Bình Dương chỉ vài giờ trước khi Thái Anh Văn gặp McCarthy ở Los Angeles.


Trung Quốc – vốn coi Đài Loan là một phần lãnh thổ của mình – đã nhiều lần cảnh báo phản đối cuộc họp và trong ngày 6/4 đã nhắc lại nước này sẽ thực hiện “các biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia”.


Thái Anh Văn đã nói với các phóng viên trước khi bà rời Los Angeles – nơi bà dừng chân trên đường trở về từ Mỹ Latin – rằng chính phủ của bà cam kết đảm bảo “lối sống tự do và dân chủ của người dân Đài Loan”. Bà nói thêm: “Chúng tôi cũng hy vọng sẽ làm hết sức mình để duy trì hòa bình và ổn định giữa hai bên”.


Tháng 8/2022, Trung Quốc đã triển khai tàu chiến, tên lửa và máy bay chiến đấu xung quanh Đài Loan để phô trương lực lượng lớn nhất trong nhiều năm sau chuyến thăm Đài Loan của Nancy Pelosi – người tiền nhiệm của McCarthy. Phản ứng của Trung Quốc đối với cuộc gặp giữa Thái Anh Văn và McCarthy cho đến nay ở mức độ thấp hơn nhiều, nhưng vẫn khiến Đài Loan trong tình trạng báo động.

Đường trung tuyến ở eo biển Đài Loan. Đồ họa: CSIS


Thủ tướng Đài Loan Trần Kiến Nhan ngày 7/4 cho biết các cơ quan quốc phòng và an ninh của Đài Loan đang theo dõi chặt chẽ các diễn biến và yêu cầu “người dân bình tĩnh”. Trước đó, Bộ Quốc phòng Đài Loan ngày 6/4 cho biết ba tàu chiến đã được phát hiện xung quanh Eo biển Đài Loan và một máy bay trực thăng hải quân Trung Quốc đã đi qua ADIZ của hòn đảo.


Việc phô trương lực lượng của Trung Quốc đã khiến Mỹ yêu cầu Bắc Kinh “ngừng gây áp lực quân sự, ngoại giao và kinh tế đối với Đài Loan và thay vào đó tiến hành trao đổi ngoại giao một cách thực chất”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Vedant Patel nói với các phóng viên: “Chúng tôi cam kết duy trì các kênh liên lạc mở để ngăn chặn nguy cơ xảy ra bất kỳ tính toán sai lầm nào”.


McCarthy, người đứng thứ hai trong danh sách tranh cử tổng thống Mỹ, ban đầu dự định tự mình đến Đài Loan nhưng thay vào đó lại chọn gặp bà Thái Anh Văn ở California. Quyết định này được coi là một sự thỏa hiệp, trong đó nhấn mạnh sự ủng hộ đối với Đài Loan nhưng tránh gây căng thẳng với Trung Quốc – một động thái mà các nhà phân tích cho rằng cho đến nay đã chứng tỏ được sự hiệu quả. Thái Anh Văn ngày 6/4 nhấn mạnh: “Việc chúng tôi gặp gỡ những người bạn Mỹ của mình trong thời gian quá cảnh là điều khá bình thường. Tôi cũng hy vọng phía Trung Quốc có thể tự kiềm chế và không phản ứng thái quá”.


McCarthy đã cam kết rằng việc bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan (điều khiến giới lãnh đạo Trung Quốc tức giận) sẽ được duy trì. Theo McCarthy, chiến lược này đã được chứng minh để ngăn chặn sự xâm lược của Trung Quốc đối với Đài Loan. Ông nhận định: “Và những gì chúng ta biết qua lịch sử, cách tốt nhất để làm điều đó là cung cấp vũ khí cho phép mọi người ngăn chặn chiến tranh. Đó là một bài học quan trọng mà chúng tôi đã học được qua cuộc chiến Ukraine, rằng ý tưởng về các biện pháp trừng phạt công bằng trong tương lai sẽ không ngăn được ý đồ gây chiến từ ai đó”.


Thái Anh Văn hôm 6/4 cũng thừa nhận về thỏa thuận vũ khí với Mỹ nhưng không cung cấp thêm chi tiết. Bà nói: “Chúng tôi đã mua vũ khí từ Mỹ và chúng tôi hy vọng vũ khí sẽ được giao đúng hạn”.


Ngày 7/4, Trung Quốc áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Tiêu Mỹ Cầm – đại sứ thực tế của Đài Loan tại Mỹ – khi cấm bà nhập cảnh vào Trung Quốc và cáo buộc bà “cố tình kích động đối đầu giữa hai bờ eo biển”.


Bộ Ngoại giao Bắc Kinh cũng công bố các biện pháp trừng phạt đối với Viện Hudson (một nhóm chuyên gia cố vấn bảo thủ có trụ sở tại Washington) cũng như Thư viện Tổng thống Ronald Reagan, vì “cung cấp một nền tảng và tạo điều kiện cho Thái Anh Văn tham gia vào các hoạt động ly khai “đòi Đài Loan độc lập” tại Mỹ. Hai tổ chức hiện bị cấm tham gia giao dịch và hợp tác với các thực thể Trung Quốc, trong khi bốn cá nhân có liên quan đến họ bị cấm nhập cảnh hoặc tiến hành kinh doanh tại Trung Quốc./.

BND

Loading

Views: 0

Trung Quốc tăng cường năng lực hạt nhân ở Biển Đông

Các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) của Trung Quốc hiện đang lảng vảng suốt ngày đêm ở Biển Đông, đảm bảo năng lực tấn công đáp trả các lực lượng của Mỹ và đồng minh trong trường hợp xảy ra sự cố bất ngờ ở Đài Loan.

Chiến hạm Trung Quốc trong một cuộc tập trận ở Biển Đông. Ảnh: Chinamil.com.cn

Hãng tin Reuters tuần qua đưa tin rằng Trung Quốc hiện đang duy trì ít nhất 1 SSBN trên biển mọi lúc, có khả năng khiến hệ thống phòng thủ của Mỹ quá tải, đẩy nhiều mục tiêu vào tình thế rủi ro hơn, qua đó hối thúc Mỹ và các đồng minh phát triển các năng lực mới để chống lại mối đe dọa này.

Sáu SSBN Type 094 của Trung Quốc hiện đang thực hiện các cuộc tuần tra gần như liên tục từ Hải Nam đến Biển Đông và được cho là được trang bị một tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) tầm xa mới có thể tấn công lục địa Mỹ.

Bài báo của Reuters lưu ý rằng tên lửa mới này được đoán là JL-3, với tầm bắn được cho là lên đến 10.000 km và cho phép Trung Quốc tấn công lục địa Mỹ từ các pháo đài được bảo vệ ở Biển Đông.

Trước đây, các SSBN Type 094 của Trung Quốc, được trang bị tên lửa SLBM JL-2, cần phóng từ Tây Thái Bình Dương và phía Đông Hawaii thì mới tấn công được lục địa Mỹ. Điều đó đòi hỏi phải đi qua các nút thắt trên biển như Eo biển Miyako, Kênh Bashi và Biển Sulu, khiến các SSBN dễ bị lực lượng hải quân Mỹ và đồng minh đánh chặn.

Reuters đề cập rằng diễn biến mới này cho thấy sự cải thiện nhanh chóng của Trung Quốc trong lĩnh vực hậu cần, chỉ huy và kiểm soát cũng như vũ khí để duy trì khả năng răn đe hạt nhân trên biển. Bài viết cũng cho biết Trung Quốc đang bắt đầu triển khai SSBN tương tự như cách các cường quốc hạt nhân như Mỹ, Anh, Pháp và Nga đã làm. Theo Reuters, sự tiến triển này sẽ buộc các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN) của Mỹ phải liên tục theo dõi các SSBN của Trung Quốc, khiến kho tàu ngầm vốn đã hạn chế và năng lực đóng tàu đang chịu sức ép lại càng quá tải, đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ leo thang hạt nhân.

Quốc đều có công suất lớn hơn tất cả 7 nhà máy đóng tàu hải quân của Mỹ cộng lại, khiến Mỹ cảm thấy lúng túng trước năng lực đóng tàu đang lên của Trung Quốc. Việc cắt giảm ngân sách và các vấn đề khác gần đây đã khiến các xưởng đóng tàu của hải quân Mỹ sa thải công nhân lành nghề, khiến các tàu chiến của Mỹ đang được sữa chữa phải nán lại xưởng đóng tàu lâu hơn.

“Asia Times” đã lưu ý vào tháng 11 năm ngoái rằng SSBN của Trung Quốc rất cần thiết cho khả năng tấn công đáp trả bằng hạt nhân của nước này, với việc nâng cấp hạm đội cho phép Trung Quốc tự tin hơn về chính sách hạt nhân “không sử dụng trước”. Điều này liên quan đến cấu trúc lực lượng hạt nhân của Trung Quốc, được thiết kế để chống lại cuộc tấn công trước của kẻ thù và trả đũa các mục tiêu chiến lược hơn là răn đe một cách đáng tin cậy việc sử dụng vũ khí hạt nhân phủ đầu.

Với tư cách là những thiết bị mang lại năng lực tấn công đáp trả, SSBN của Trung Quốc đảm bảo rằng kẻ thù không thể chiến thắng với một cuộc tấn công phủ đầu bằng hạt nhân, khiến nó trở thành một lựa chọn chính sách chắc chắn là tự hủy diệt lẫn nhau.

Sự ra đời của JL-3 có thể cho phép Trung Quốc thực hiện thành công “chiến lược pháo đài” ở Biển Đông, loại bỏ sự cần thiết phải đưa các SSBN của họ di chuyển vào Tây Thái Bình Dương để phóng SLBM.
Thay vào đó, trong chiến lược pháo đài, Trung Quốc sẽ sử dụng Biển Đông như một khu bảo tồn SSBN được bảo vệ bởi tên lửa đặt trên đất liền, máy bay, lực lượng hải quân và các đảo cũng như thực thể kiên cố của nó.

Cấu hình nửa kín của Biển Đông khiến nó trở thành một khu vực lý tưởng cho chiến lược pháo đài. Từ góc độ hậu cần, Trung Quốc có thể dễ dàng duy trì các cuộc tuần tra SSBN tầm ngắn trên các vùng nước mở với các cơ sở chỉ huy và kiểm soát tương đối gần đó. Hơn nữa, do Biển Đông nằm giữa các tuyến liên lạc trên biển (SLOC), môi trường tiếng ồn dưới nước có thể khiến các SSBN của Trung Quốc khó bị phát hiện hơn. Tiếng ồn có thể được khai thác cùng với các tính năng âm thanh và nhiệt độc đáo của khu vực để có thể duy trì sự ẩn nấp cho tàu.

Sự phát triển năng lực của SSBN có thể gắn liền với việc Trung Quốc liên tục mở rộng kho vũ khí hạt nhân của mình. “Asia Times” đã lưu ý vào tháng trước rằng Trung Quốc có kế hoạch mở rộng kho vũ khí hạt nhân từ khoảng 400 đầu đạn hiện nay lên 1.500 đầu đạn vào năm 2035, với kho vũ khí lớn hơn và đa dạng hơn giúp tăng khả năng tấn công đáp trả của Trung Quốc và đặt nước này vào vị thế tốt hơn để đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân.

Các nhà quan sát lưu ý rằng 700 đầu đạn hạt nhân có khả năng đủ để Trung Quốc duy trì năng lực tấn công đáp trả, với các lựa chọn cho các cuộc tấn công hạt nhân ở cấp độ hạn chế. Hơn nữa, kho vũ khí hạt nhân lớn hơn và đa dạng hơn làm tăng số lượng và thể loại mục tiêu mà Trung Quốc có thể gây nguy hiểm, trong đó có thể bao gồm các nhóm tác chiến tàu sân bay và căn cứ đảo của Mỹ nằm rải rác trên Thái Bình Dương, bao gồm Hawaii và Guam.

Tuy nhiên, ngay cả khi các SSBN của Trung Quốc lảng vảng trên Biển Đông suốt ngày đêm, chúng có thể không an toàn trước các máy lén dưới nước và những con mắt theo dõi trên bầu trời. Trong một bài báo vào tháng 11/2020 viết cho trang nationalinterest.org, Kris Osborne đã đề cập đến “tuyến phòng thủ dưới biển hình móc câu của Hải quân Mỹ”, một mạng lưới liền mạch gồm các ống nghe dưới nước, cảm biến và thiết bị được đặt ở vị trí chiến lược trải rộng từ bờ biển phía Bắc Trung Quốc và chạy đến Đài Loan, Philippines và Indonesia. Hệ thống đó đảm bảo rằng các SSBN của Trung Quốc không thể rời khỏi Biển Đông mà không bị phát hiện, loại bỏ lợi thế về không gian và khoảng cách mà đại dương mang lại cho việc che giấu các SSBN.

Mặc dù các SSBN của Trung Quốc có thể không cần phải ra khỏi Biển Đông để phóng tên lửa và đe dọa đất liền Mỹ, nhưng chúng vẫn bị bao quanh bởi những vùng nước, cho phép việc theo dõi chúng dễ dàng hơn thông qua các phương tiện khác.

Tờ “Asia Times” tháng trước lưu ý rằng Mỹ và các đồng minh có thể sử dụng mạng lưới vệ tinh theo kế hoạch của Australia để theo dõi tàu ngầm Trung Quốc. Mạng lưới này sở hữu những tiến bộ trong công nghệ cảm biến như hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao và radar khẩu độ tổng hợp, kết hợp với giám sát thủy âm và thông tin tình báo nguồn mở, tất cả sẽ khiến các đại dương trở nên “trong suốt” từ nay đến năm 2050, qua đó loại bỏ mọi lợi thế tàng hình mà tàu ngầm hiện có./.

BND

Loading

Views: 0

Nhóm Bộ tứ và những kinh nghiệm từ AUKUS

Theo bài viết của Viện chính sách Lowy, Nhóm Bộ tứ chưa thể hiện được vai trò với tư cách một tổ chức gắn kết trong khi liên minh ba bên AUKUS đang hướng tới việc cân bằng quyền lực trong khu vực bằng hành động thực tế. Tác giả nhấn mạnh sự thiếu vắng những nỗ lực và động thái thiết thực thậm chí có thể đem tới những thông điệp và tác dụng ngược. 

Lãnh đạo nhóm Bộ Tứ. Ảnh: CNN

Trong tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo AUKUS hôm 14/3, liên minh khẳng định chương trình trang bị tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân AUKUS sẽ mang lại cho Australia năng lực đẳng cấp thế giới, đưa quốc gia này trở thành một trong 7 quốc gia duy nhất vận hành tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Tuyên bố được đăng tải trên trang mạng của Bộ Quốc phòng Australia có đoạn: “Lộ trình này mang lại những lợi ích chiến lược dài hạn đáng kể cho Australia, Anh và Mỹ. Qua đó giúp tăng cường năng lực công nghiệp của ba đối tác, nâng cao năng lực hợp tác để thúc đẩy chuỗi cung ứng ba bên trở nên mạnh mẽ và linh hoạt hơn”.

Tuyên bố này đã gây ra một cuộc tranh luận gay gắt. Vấn đề đặt ra là Australia sẽ cân nhắc những rủi ro và lợi ích của kế hoạch mua tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân như thế nào? Các nhà phê bình, từ các cựu thủ tướng cho đến các nhà phân tích hoài nghi, băn khoăn về hiệu quả chiến lược của kế hoạch, chi phí cơ hội, tính khả thi và tác động có thể có đối với chủ quyền của Australia. Những cuộc tranh luận này có thể tiếp tục, song điều có thể khẳng định hiện nay chính là AUKUS mang mục đích rõ ràng trong việc thay đổi cán cân quyền lực quân sự khu vực.

Xét ở góc độ này, AUKUS hoàn toàn trái ngược với một tập hợp nổi bật khác trong khu vực là Bộ tứ, gồm Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ. Có lẽ đã đến lúc Bộ tứ rút ra một số bài học từ AUKUS.

Về mục đích và thành phần, AUKUS và các mối quan hệ đối tác song phương khó có thể so sánh được với Bộ tứ. Liên minh Australia-Mỹ là một hiệp ước an ninh ràng buộc dựa trên nhiều thập kỷ tin cậy và kết nối thể chế. Bộ tứ không có nhiệm vụ chính thức, không có vai trò quân sự và là tập hợp của các cường quốc mới chỉ bắt đầu tham vấn về các vấn đề khu vực. Do đó, Bộ tứ khó có thể hoạt động như một liên minh. Dù vậy, nếu các thành viên Bộ tứ muốn đảm nhận vai trò an ninh khu vực, họ có thể học ít nhiều từ liên minh Australia-Mỹ. 

Điểm đáng chú ý của liên minh Australia-Mỹ trong những năm gần đây là nỗ lực thay đổi cán cân quyền lực thực tế trong khu vực. Kể từ khi lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ bắt đầu triển khai luân phiên tới căn cứ Darwin cách đây một thập kỷ, giới chức đã triển khai sáng kiến về lực lượng với kế hoạch bố trí máy bay chiến đấu, máy bay ném bom, tàu và binh lính ở Australia. Có thể có nhiều tranh cãi về giá trị của những bước đi này, song không thể phủ nhận đây là những yếu tố đang góp phần thay đổi hiện trạng thực tế, và cùng với sự hình thành của AUKUS, là những điều chỉnh trên môi trường biển khu vực. 

Những thay đổi quan trọng về sức mạnh quân sự này là hành động cần thiết để ngăn chặn hành động gây hấn tiềm năng của đối thủ. Thể hiện quyết tâm là phần không thể thiếu của các biện pháp ngăn chặn hiệu quả, song như vậy là không đủ. Thiếu hành động thực tế sẽ làm giảm độ tin cậy cần thiết. 

Nếu Bộ tứ chọn thực hiện sứ mệnh răn đe, họ có thể lấy cảm hứng từ liên minh Australia-Mỹ. Về lâu dài, một trong những tham vọng lớn nhất là thay đổi cán cân quyền lực sẽ liên quan đến việc các thành viên xây dựng năng lực quân sự mới. AUKUS đặt ra một tiêu chuẩn cao, nhưng Đánh giá Chiến lược Quốc phòng gần đây của Australia được cho là có khả năng đề xuất một loạt các sáng kiến hiện đại hóa khác, khả thi hơn.

Các thành viên Bộ tứ cũng có thể thay đổi cán cân quyền lực một cách nhanh chóng và không mất nhiều chi phí bằng cách tái bố trí các lực lượng quân sự hiện có. Các thành viên Bộ tứ sở hữu các vị trí có giá trị, và với các bố trí lực lượng cũng như xây dựng căn cứ mới, họ có thể phá vỡ đáng kể kế hoạch quân sự của Trung Quốc. Lấy ví dụ, đảo Cocos của Australia và quần đảo Andaman và Nicobar thuộc Ấn Độ, đều nằm gần các địa điểm quan trọng và các cơ sở quân sự của Trung Quốc ở Biển Hoa Nam (Biển Đông).

Đây là một việc làm mang tính rủi ro. Việc Bộ tứ đảm nhận vai trò quân sự mới sẽ gây ra những nhạy cảm chính trị giữa các thành viên và đặc biệt là trong khu vực. Vì vậy, thông điệp tinh tế sẽ là điều vô cùng quan trọng. Về cơ bản các hoạt động quân sự mới của các thành viên có thể không nhất thiết phải được gắn mác là sáng kiến của Bộ tứ. Các nhà quan sát cũng lo ngại rằng những lựa chọn hoặc các tương tác mới trong khu vực có thể hạn chế nhiều lựa chọn chính trị trong tương lai của Australia. Tuy nhiên, việc thiếu những năng lực này hoặc hội nhập sẽ còn đem lại nhiều rào cản hơn bởi thực tế việc thiếu các phương tiện quân sự cũng sẽ khiến Australia ngay từ đầu mất đi cơ hội lựa chọn cho dù giới lãnh đạo nước này mong muốn. 

Sự chuẩn bị quân sự của Bộ tứ cũng có thể mang lại cơ hội cho Trung Quốc. Việc Bắc Kinh muốn giành quyền kiểm soát Đài Loan bằng vũ lực nếu cần thiết là tham vọng rõ ràng, lâu dài và không thay đổi. Bắc Kinh hoàn toàn có thể lợi dụng nỗ lực chuẩn bị quân sự của những nước khác như một cái cớ để gia tăng lực lượng. Đây là những rủi ro nghiêm trọng cần được tính đến, song nếu không có rủi ro, người ta khó có thể thúc đẩy những chiến lược răn đe hiệu quả./.

Theo trang mạng defence.gov.au

Loading

Views: 0

Tổng thống Pháp thăm Trung Quốc: Qúa nhiều quan điểm khác biệt

 Tổng thống Pháp Emmanuel Macron ngày 6/4 kêu gọi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thuyết phục đồng minh thân thiết là Nga và giúp chấm dứt chiến tranh ở Ukraine. Tuy nhiên, nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ đáp lại rằng ông hy vọng hai bên có thể tổ chức hòa đàm càng sớm càng tốt.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hội đàm với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen tại Bắc Kinh ngày 6/4/2022. Ảnh: AFP

Trong các cuộc hội đàm rất được quan tâm ở Bắc Kinh, có cả Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen cùng tham gia, ông Macron nói rằng phương Tây phải bắt tay chặt chẽ phối hợp cùng Bắc Kinh để giúp chấm dứt cuộc khủng hoảng và ngăn chặn căng thẳng “bị cuốn vào vòng xoáy” có nguy cơ chia rẽ các cường quốc toàn cầu thành các khối xung đột với nhau. Bà von der Leyen được Tổng thống Pháp Macron mời cùng đến thăm Trung Quốc để thể hiện sự đoàn kết của châu Âu, nhưng sẽ không tham gia nhiều sự kiện giữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Pháp.

Ông Macron nói với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bên ngoài Đại lễ đường Nhân dân khi bắt đầu cuộc gặp song phương: “Cuộc xâm lược của Nga ở Ukraine đã giáng một đòn mạnh vào sự ổn định (quốc tế). Tôi biết tôi có thể tin tưởng vào ngài để đưa nước Nga trở lại những gì có lý có tình và đưa các bên quay lại bàn đàm phán”.

Tuy nhiên, theo trang mạng “Politico”, nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể hiện dấu hiệu nào cho thấy ông sẽ thay đổi quan điểm của ông về cuộc chiến của Nga ở Ukraine sau cuộc hội đàm với Tổng thống Pháp Macron hôm 6/4. Đáp lại phát biểu của ông Macron, nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ nhắc lại những phát biểu lâu nay của ông về cuộc chiến của Nga ở Ukraine, nói rằng “tất cả các bên” đều có “những quan ngại chính đáng về an ninh” và không có dấu hiệu nào cho thấy ông sẽ sử dụng ảnh hưởng của mình để chấm dứt cuộc xung đột. 

Phát biểu  trong cuộc họp báo tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, Tập Cận Bình nói: “Trung Quốc sẵn sàng cùng Pháp kêu gọi cộng đồng quốc tế duy trì lý trí và bình tĩnh”. Ông nói thêm: “Các cuộc đàm phán hòa bình cần phải được nối lại ngay khi có thể, cân nhắc tới những quan ngại an ninh chính đáng của tất cả các bên tham chiếu theo Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ)… tìm kiếm giải pháp chính trị và xây dựng một khuôn khổ an ninh cân bằng, hiệu quả và bền vững cho châu Âu”.

Ông Macron cũng đề nghị ông Tập Cận Bình gây áp lực để Nga tuân thủ các quy định quốc tế về không phổ biến vũ khí hạt nhân. Tổng thống Nga Vladimir Putin gần đây đã tuyên bố sẽ bố trí vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Belarus, nước láng giềng của Ukraine. Dù vậy, nhà lãnh đạo Trung Quốc nói rằng tất cả các nước cần phải tôn trọng các cam kết không sử dụng vũ khí hạt nhân và “không được gây ra chiến tranh hạt nhân”, nhưng không đề cập đến Nga. Ông kêu gọi cộng đồng quốc tế “kiềm chế mọi hành động có thể khiến cuộc khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn hoặc thậm chí vượt khỏi tầm kiểm soát”.

Theo quan sát của “Politico”, trong một động thái vi phạm quy ước về nghi thức ngoại giao, Tổng thống Macron đã nói với thời lượng gần gấp đôi chủ nhà trong cuộc họp báo. Sau khi đọc những phát biểu đã được chuẩn bị cẩn thận, Tập Cận Bình đôi khi tỏ ra thiếu kiên nhẫn và khó chịu khi Macron tiếp tục nói. Ông nhiều lần thở dài và tỏ ra không thoải mái khi nhà lãnh đạo Pháp dường như đang nói một cách tùy hứng về cuộc chiến ở Ukraine và trách nhiệm chung của họ trong việc duy trì hòa bình.

“Vai trò quan trọng” của Trung Quốc

Trong cuộc gặp riêng giữa Chủ tịch Ủy ban châu Âu von der Leyen và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, nhà lãnh đạo EU cảnh báo rằng việc vận chuyển vũ khí tới Nga sẽ “làm tổn hại nghiêm trọng” đến quan hệ giữa Trung Quốc và EU. Bà nói: “Là một thành viên của Hội đồng Bảo an LHQ, đó là một trách nhiệm lớn và chúng tôi mong rằng Trung Quốc sẽ thể hiện vai trò của mình, thúc đẩy một nền hòa bình công bằng, một nền hòa bình tôn trọng chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine, vốn là một trong những nền tảng của Hiến chương LHQ”.

Tuy nhiên, Mosvka đã “dội một gáo nước lạnh” vào triển vọng hai bên sẽ hòa giải khi ngày 6/4 tuyên bố rằng họ “không có lựa chọn nào khác” ngoài việc tiếp tục cuộc tấn công ở Ukraine. Phát ngôn viên của Điện Kremlin Dmitry Peskov nói: “Chắc chắn, Trung Quốc có khả năng hòa giải vượt trội và rất hiệu quả. Nhưng tình hình với Ukraine rất phức tạp và cho đến nay không có triển vọng cho một giải pháp chính trị”.

Chuyến thăm  Trung Quốc lần này của ông Macron là chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của ông kể từ năm 2019, diễn ra trong bối cảnh phương Tây đang gây áp lực để Bắc Kinh hỗ trợ thúc đẩy hòa bình ở Ukraine. Về mặt chính thức, Bắc Kinh tỏ ra trung lập và ông Tập Cận Bình chưa bao giờ lên án cuộc xâm lược của Nga. Tổng thống Pháp Macron cho biết ông muốn “trở thành tiếng nói có thể đoàn kết châu Âu” về vấn đề Ukraine và việc bà von der Leyen đến Trung Quốc là để “nhấn mạnh tính nhất quán của cách tiếp cận này”.

“Kết nối chặt chẽ”

Chuyến công du Trung Quốc của ông Macron cũng có một yếu tố quan trọng khác là kinh tế, với việc nhà lãnh đạo Pháp mong muốn củng cố quan hệ đối tác thương mại với Bắc Kinh.

Phát biểu với báo giới sau khi đến Trung Quốc ngày 5/4, ông Macron cho rằng châu Âu phải tránh việc giảm quan hệ thương mại và ngoại giao với Trung Quốc, ông cũng bác bỏ quan điểm của một số người cho rằng giữa Trung Quốc và phương Tây có một “vòng xoáy căng thẳng không thể thoát ra được”.

Ông Macron, đi cùng phái đoàn gồm 50 doanh nghiệp bao gồm cả tập đoàn Airbus, đại công ty sản xuất đồ thời trang xa xỉ LVMH và nhà sản xuất năng lượng hạt nhân EDF, cũng thăm Trung Quốc để tìm kiếm những mối lợi kinh tế.

Airbus đã ký các thỏa thuận ngày 6/4 để mở một dây chuyền lắp ráp mới tại Trung Quốc, tăng gấp đôi công suất tại thị trường hàng không lớn thứ hai thế giới và chốt một số đơn đặt hàng máy bay phản lực đã công bố trước đây.

Vấn đề Đài Loan 

Chuyến thăm của ông Macron và bà von der Leyen diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc đang gia tăng áp lực lên Đài Loan sau khi Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn gặp Chủ tịch Hạ viện Mỹ Kevin McCarthy tại California hôm 5/4.

Bắc Kinh phản đối bất kỳ liên hệ chính thức nào giữa Đài Bắc và phần còn lại của thế giới, khẳng định chỉ có “một Trung Quốc”. Trung Quốc đã nhiều lần cảnh báo cả hai bên rằng cuộc gặp không nên diễn ra và đã cho triển khai một tàu sân bay tới gần Đài Loan vài giờ trước cuộc gặp.

BND

Loading

Views: 0

Điều gì ẩn sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Pháp Macron

Ngày 5/4, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron bắt đầu chuyến công du tới Trung Quốc, với hy vọng ngăn Bắc Kinh ủng hộ cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine nhưng sẽ không cô lập đối tác-đối thủ thương mại và địa chính trị quan trọng này.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron phát biểu tại một sự kiện ở Savines-Le-Lac, Pháp, ngày 30/3/2023. Ảnh: AFP


Một quan chức từ văn phòng của Macron nói hôm 31/4: “Trung Quốc là quốc gia duy nhất trên thế giới có khả năng tác động ngay lập tức và triệt để đến cuộc xung đột, bằng cách này hay cách khác”. Quan chức này cho biết thêm ông Macron sẽ tìm cách giữ vững lập trường về vấn đề Ukraine nhưng sẽ chọn “cách diễn đạt khác” thay vì giọng điệu đối đầu trực tiếp thường thấy từ Washington.


Mục tiêu của nhà lãnh đạo Pháp bao gồm duy trì và tái cân bằng quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và châu Âu cũng như bảo vệ lợi ích của Pháp ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương – nơi Paris tự coi mình là một bên tham gia vì họ có các lãnh thổ hải ngoại và triển khai các hoạt động quân sự tại đây.


Nhà Trắng cho biết trước khi tới Bắc Kinh, ông Macron đã điện đàm với Tổng thống Mỹ Joe Biden để thảo luận về chuyến thăm Trung Quốc và sự ủng hộ dành cho Ukraine. Theo một nguồn tin ngoại giao Pháp, hai nhà lãnh đạo muốn Trung Quốc giúp “đẩy nhanh” việc tìm kiếm giải pháp cho cuộc chiến. Nguồn tin này cho biết cuộc điện đàm cho thấy “ý chí chung của Pháp và Mỹ là lôi kéo Trung Quốc nhằm đẩy nhanh việc kết thúc chiến tranh ở Ukraine và xây dựng một nền hòa bình lâu dài”. Hai tổng thống cũng hy vọng “Trung Quốc đóng góp cho nỗ lực toàn cầu vì sự đoàn kết Bắc-Nam” và xây dựng “một chương trình nghị sự chung” về khí hậu và đa dạng sinh học.


Tình bạn ‘không giới hạn”


Rõ ràng chuyến thăm của Macron có tác động vượt ra ngoài nước Pháp và ảnh hưởng đến toàn bộ Liên minh châu Âu (EU) gồm 27 quốc gia thành viên, điều này thể hiện qua sự xuất hiện của Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen trong chuyến công du của Tổng thống Pháp. Hôm 3/4, bà đã gặp Tổng thống Macron ở Paris để phối hợp chuẩn bị cho chuyến công du. Trong một bài phát biểu hồi tuần trước, bà Von der Leyen đã cảnh báo Bắc Kinh không nên trực tiếp ủng hộ cuộc chiến, đồng thời bác bỏ khả năng khối này “xa lánh” Trung Quốc. Chuyên gia Antoine Bondaz của Tổ chức Nghiên cứu Chiến lược (FRS) có trụ sở tại Paris cho rằng châu Âu sẽ không ngăn cản Tập Cận Bình cung cấp vũ khí cho Nga với giọng điệu “nhẹ nhàng rằng ông ta không nên làm những gì”. Thay vào đó, Bondaz dự đoán các nhà lãnh đạo Pháp và EC sẽ công khai cảnh báo lãnh đạo Trung Quốc về việc cung cấp vũ khí cho Moskva trong khi đưa ra lời đe dọa trừng phạt trong các cuộc đàm phán với Tập Cận Bình.


Trung Quốc đã nỗ lực thể hiện họ đang tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho cuộc tấn công của Nga vào quốc gia láng giềng. Tuy nhiên, chuyến thăm của Tập Cận Bình tới Moskva hồi tháng 3 vừa qua và việc công bố một kế hoạch hòa bình được coi là nghiêng về phía Nga đang làm dấy lên sự hoài nghi ở các nước phương Tây. Bà Von der Leyen tuần trước đã phàn nàn rằng “không những không bị gián đoạn bởi cuộc xâm lược tàn bạo và bất hợp pháp của Nga vào Ukraine, Chủ tịch Tập Cận Bình vẫn duy trì ‘tình bạn không giới hạn’ với nước Nga của (Tổng thống Vladimir) Putin” – nhắc lại một cụm từ được đưa ra ngay trước khi Nga phát động cuộc tấn công xâm lược vào Ukraine hồi tháng 2/2022. Bà nói thêm: “Cách Trung Quốc tiếp tục tương tác với cuộc chiến của Putin sẽ là yếu tố quyết định cho quan hệ EU-Trung Quốc trong tương lai”.


Trong EU, các cường quốc kinh tế như Pháp và Đức coi việc duy trì thương mại với Trung Quốc là ưu tiên hàng đầu, trong khi các quốc gia ở phía Đông – gần với biên giới Ukraine hơn và có ký ức đen tối về sự chiếm đóng của Nga – muốn tăng áp lực lên Bắc Kinh liên quan cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine.
Francois Godement, chuyên gia về châu Á tại viện nghiên cứu Institut Montaigne, cho rằng Macron và người đứng đầu EC sẽ đặt “nhấn mạnh vào việc giảm thiểu rủi ro thay vì cô lập (Trung Quốc)”. Ông nói thêm rằng hai nhà lãnh đạo này sẽ tìm cách “phản ứng nhẹ nhàng nhưng thiết thực” trước những mâu thuẫn với Bắc Kinh mà “không xúc phạm đến tương lai của Trung Quốc”, vì có vẻ Tập Cận Bình đang củng cố chắc chắn vị thế lãnh đạo.


Trung tâm đầu não


Tổng thống Macron sẽ dẫn đầu một phái đoàn gồm khoảng 60 nhà lãnh đạo doanh nghiệp đến Bắc Kinh, bao gồm cả các chủ tịch và giám đốc điều hành (CEO) của Airbus và EDF – một số người hy vọng sẽ ký được những hợp đồng mới béo bở. “Chúng tôi không muốn cắt đứt quan hệ kinh tế, xã hội, chính trị và khoa học” với Trung Quốc, bà Von der Leyen nói, mặc dù Brussels cũng như Paris đều hy vọng sẽ “tái cân bằng” mối quan hệ thương mại “trên cơ sở minh bạch, có thể dự đoán và có đi có lại”. Ngày 7/4, Tổng thống Macron sẽ tới Quảng Châu, miền Nam Trung Quốc, để nói chuyện với các sinh viên địa phương.
Ông Macron cũng sẽ để mắt đến “dấu chân” của Pháp trên khắp khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Khoảng 1,6 triệu công dân cư trú tại các vùng lãnh thổ hải ngoại của Pháp, từ đảo La Reunion ngoài khơi bờ biển phía Đông Madagascar đến New Caledonia ở phía Đông Bắc Australia và hàng chục hòn đảo ở Thái Bình Dương của Polynesia thuộc Pháp.


Cedric Perrin, đồng tác giả của một báo cáo của Thượng viện Pháp về khu vực, cho biết nhờ dân số đông đúc, tài nguyên thiên nhiên phong phú và sức mạnh kinh tế, châu Á-Thái Bình Dương đã trở thành “trung tâm đầu não của hành tinh”. Pháp hy vọng khu kinh tế rộng lớn và 7.000 binh sĩ được triển khai có thể giúp họ có chỗ tại bàn đàm phán trong trường hợp căng thẳng gia tăng ở khu vực, bao gồm Bán đảo Triều Tiên và xung đột Trung-Mỹ liên quan vấn đề Đài Loan./.

Theo AFP

Loading

Views: 0

Thách thức với vùng châu thổ sông Mekong

Khi các thủ tướng, nhà ngoại giao và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và tài chính tập trung tại thủ đô Viêng Chăn (Lào) để tham dự Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong (MRC) lần thứ tư trong tuần này, việc chuyển trọng tâm của các cuộc thảo luận trong khuôn khổ Hội nghị, từ nước sông sang những gì chảy dưới mặt sông là một nhu cầu cấp thiết. Nếu không làm như vậy sẽ dẫn đến nhiều quyết định không tính đến mối đe dọa lớn nhất đối với tương lai của châu thổ sông Mekong (gọi là Đồng bằng sông Cửu Long). Đó là lượng cát ở lòng sông giảm mạnh.

Một đoạn sông Mekong. (Nguồn: luxurycruisemekong.com)

Với độ cao trung bình dưới một mét so với mực nước biển, Đồng bằng sông Cửu Long đã là một trong những nơi dễ bị tổn thương nhất trên Trái Đất trước biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, việc mất lượng bùn và cát đang làm suy yếu nghiêm trọng sự ổn định và khả năng phục hồi của Đồng bằng sông Cửu Long, làm tăng mối đe dọa từ lũ lụt, hạn hán và bão ngày càng trầm trọng cũng như mực nước biển dâng. Ngoài ra, lượng trầm tích trên sông Mekong giảm cũng đang gây ra nhiều vấn đề cấp bách hơn, góp phần làm giảm mạnh mực nước ngầm và hút nước mặn vào sâu hơn trong đất liền – gây nguy hiểm cho một trong những vựa lúa năng suất cao nhất thế giới và sinh kế của hàng triệu người.


Các đập thủy điện và nạn khai thác cát không bền vững là nguyên nhân dẫn đến xu hướng tai hại này. Do vậy, điều cần thiết là đảo ngược những tổn thất này và đảm bảo đủ lượng trầm tích trong sông. Để bảo tồn vùng châu thổ sông Mekong cần tự động bổ sung trầm tích mới cho đất để giữ cho vùng này cao hơn mực nước biển dâng và duy trì các bãi cát ngoài khơi để bảo vệ bờ biển và rừng ngập mặn trước những cơn sóng ngày càng hung dữ.


Châu thổ sông Mekong đã mất hơn 2/3 lượng trầm tích tự nhiên và lượng trầm tích sẽ chỉ còn dưới 3% vào năm 2040. Tuy nhiên, đây chỉ là một phần của câu chuyện vì chỉ xét đến lượng trầm tích lơ lửng trong nước sông vốn dễ theo dõi hơn. Không có dữ liệu đáng tin cậy về lượng cát còn lại ở đáy sông bởi có thể mất hàng thập kỷ mới đi hết được chiều dài của sông Mekong. 


Nếu hoạt động khai thác cát không bền vững như hiện nay vẫn được tiếp tục, thì trữ lượng cát có thể khai thác ở sông Mekong sẽ cạn kiệt trong vòng 10 năm, gây phương hại cho các hoạt động phát triển phụ thuộc vào cát cũng như sự tồn tại của Đồng bằng sông Cửu Long. 


Tác động của việc khai thác cát ở sông Mekong cũng đã được cảm nhận ở thượng nguồn sông ở Campuchia, Lào và Thái Lan. Việc đáy sông Mekong bị sụt do hoạt động khai thác cát, đang làm xói mòn bờ sông, làm giảm nguồn nước phục vụ cho nông nghiệp và ảnh hưởng đến hoạt động đánh bắt cá tự nhiên có năng suất, thiên nhiên cũng như chuỗi cung ứng dệt may và điện tử quan trọng trên toàn cầu. Các quốc gia này cũng cần đảm bảo đủ lượng cát còn lại ở sông Mekong. 


Vấn đề có quy mô toàn lưu vực sông Mekong này chỉ có thể được giải quyết thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và hành động tập thể.


Cát từ mọi nguồn chảy qua sông Mekong ra biển. Đây là nguồn tài nguyên quý giá được chia sẻ giữa các quốc gia ven sông, trở thành một vấn đề quản trị dòng sông xuyên biên giới – và là vấn đề trọng tâm đối với nhiệm vụ của MRC. Hội nghị cấp cao MRC lần thứ tư đã nhấn mạnh rằng có cơ sở pháp lý cho sự hợp tác giữa các quốc gia và rằng ủy ban là nền tảng để đối thoại và giải quyết các vấn đề cũng như cho việc lập kế hoạch lưu vực chủ động chung. Đây là những bước đi đúng hướng cần được thực hiện, trong đó cần ưu tiên việc đảo ngược các tác động tiêu cực của việc khai thác cát trên sông Mekong và đối với người dân trong các cộng đồng ven sông.

Kết quả của hội nghị phải là lộ trình dẫn đến sự bền vững. Điều quan trọng là các nhà lãnh đạo cần cân nhắc kỹ lưỡng và coi trọng cát không chỉ là nguyên vật liệu cơ bản miễn phí cho hoạt động xây dựng mà còn là tài sản mang lại lợi ích vô giá cho sông và bờ biển, cộng đồng và thành phố, con người và thiên nhiên. Các nhà lãnh đạo cần kiến thức và công cụ hỗ trợ cho việc ra quyết định về những nơi nào cần cát nhất như trong các tòa nhà, bãi chôn lấp hoặc trên sông. Các nhà lãnh đạo cần biết những gì khác thay thế cát để đáp ứng nhu cầu như vật liệu thay thế, cát nhân tạo, tái chế và khai thác cát từ các nguồn khác bền vững hơn. Tất cả điều này phải được xem xét trong khuôn khổ một bức tranh lớn hơn. Đó là việc duy trì cát ở sông Mekong có thể là chiến lược thích ứng khí hậu hiệu quả nhất về chi phí của khu vực, một cách tích cực tự nhiên để xây dựng khả năng phục hồi.


Rõ ràng là nếu không giải quyết được vấn nạn khai thác cát hiện nay, chúng ta sẽ chứng kiến Đồng bằng sông Cửu Long chìm dưới những con sóng. Đồng bằng cần cả bùn và cát. Do vai trò cụ thể của cát không được hiểu và đánh giá đúng nên khả năng phục hồi và sự tồn tại lâu dài của sông Mekong đã bị “hy sinh” vì lợi ích ngắn hạn. Các nước có thể ngừng hoạt động khai thác cát không bền vững và để sông Mekong làm việc cho mình. Các nước cần vạch ra một lộ trình mới hướng tới sự phát triển toàn diện, kiên cường và bền vững – một lộ trình mà các quyết định có tính đến giá trị của một dòng Mekong khỏe mạnh và những lợi ích đa dạng mà dòng sông mang lại cho con người và thiên nhiên./.

BND

Loading

Views: 0

Châu Á-Thái Bình Dương: Nguy cơ chạy đua vũ trang mới từ những điểm nóng

Quân sự hóa toàn cầu đã phát triển nhanh chóng trong suốt thế kỷ XXI, với sự điều chỉnh rõ rệt hướng về khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Từ năm 2000-2021, chi tiêu quốc phòng hàng năm đã tăng từ 1.120 tỷ USD lên 2.110 tỷ USD. Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, trong giai đoạn này, chi tiêu quốc phòng toàn cầu ở châu Á và châu Đại Dương đã tăng từ 18% lên 28%. 

Đảo An Bang thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Những lo ngại ngày càng tăng đối với Trung Quốc, quốc gia có chi tiêu quốc phòng tăng đều đặn trong gần 3 thập kỷ, đã thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực, phá hoại các công ước khu vực đã tồn tại hàng thập kỷ và phơi bày một số điểm nóng tiềm tàng.

Đài Loan
Mối lo ngại lớn nhất về sự bành trướng quân sự của Trung Quốc liên quan kế hoạch thôn tính Đài Loan. Nguy cơ Trung Quốc xâm lược Đài Loan đang ở mức cao nhất trong nhiều thập kỷ, nhưng các dự đoán về thời điểm nó có thể xảy ra lại khác nhau. Gần đây, một số nhà lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ đã đưa ra những dự báo đáng báo động, đó là các thời điểm năm 2023, 2025 và 2027. Các đánh giá của Mỹ là rất quan trọng, vì có thể quân đội Mỹ sẽ giúp bảo vệ Đài Loan trước các cuộc tấn công của Trung Quốc. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cảnh báo rằng những dự báo này có khả năng bị phóng đại nhằm mục đích vận động hành lang để có thêm kinh phí. Các nguồn tin cho biết những dự đoán công khai đó đã khiến Tổng thống Đài Loan thất vọng, vì bà đang cố gắng đảm bảo rằng dư luận đủ quan tâm về mối đe dọa Trung Quốc có thể gây ra cho Đài Loan.

Tuy nhiên, quy mô mở rộng quân sự của Trung Quốc cung cấp cho các nhà phân tích một số manh mối về tham vọng của Bắc Kinh nước này đối với Đài Loan.

Mặc dù vẫn dành một phần GDP nhỏ hơn cho quốc phòng so với Mỹ, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc dự báo sẽ tăng 7,2% trong năm nay, đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Bộ Quốc phòng Mỹ ước tính chi tiêu quốc phòng thực tế của Trung Quốc có thể gấp đôi so với con số được báo cáo chính thức. Đáp lại, ngân sách quốc phòng mới nhất của Mỹ đã ưu tiên tăng cường sự hiện diện quân sự ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Trong tháng này, Mỹ đã phê duyệt thương vụ bán vũ khí mới trị giá 619 triệu USD cho Đài Loan.

Việc tăng chi tiêu quốc phòng rõ ràng đã ảnh hưởng đến sự cân bằng lực lượng quân sự trong khu vực. Năm 2000, Trung Quốc là nước chi tiêu quốc phòng lớn thứ hai ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Năm 2021, ngân sách quốc phòng của nước này lớn hơn cả tổng ngân sách quốc phòng của 13 quốc gia khu vực xếp sau Trung Quốc trong danh sách cộng lại.

Triều Tiên

Sau khi đã phóng khoảng 90 tên lửa đạn đạo và các loại vũ khí khác trong năm 2022, nhiều nhất từ trước đến giờ, Triều Tiên dường như có ý định lập kỷ lục mới trong năm nay. Từ đầu năm đến nay, Bình Nhưỡng đã tiến hành 11 vụ thử tên lửa, bao gồm 2 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa và thậm chí cả, theo truyền thông nhà nước đưa tin, tên lửa hành trình chiến lược có khả năng mang đầu đạn hạt nhân.

Trong một dấu hiệu cho thấy Bình Nhưỡng không có ý định từ bỏ vũ khí hủy diệt hàng loạt, gần đây họ đã công khai các đầu đạn hạt nhân mới, nhỏ hơn và tuyên bố sẽ sản xuất nhiều vật liệu hạt nhân cấp vũ khí hơn. Cuối năm 2022, Kim Jong-un đã kêu gọi “tăng theo cấp số nhân” kho vũ khí hạt nhân của nước này. Những hành động khiêu khích của Triều Tiên nhằm vào kẻ thù của họ là Mỹ và Hàn Quốc. Triều Tiên lên án các cuộc tập trận chung Mỹ-Hàn (có sự tham gia của tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân USS Nimitz) là cuộc diễn tập cho một cuộc xâm lược, mặc dù các đồng minh khẳng định cuộc tập trận hoàn toàn mang tính chất phòng thủ.

Căng thẳng gia tăng trên Bán đảo Triều Tiên đã khiến Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk-yeol có phản ứng cứng rắn, cảnh báo rằng Seoul sẽ không cung cấp “một xu” cho Triều Tiên chừng nào nước này vẫn tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhân. Đáng lo ngại hơn, tại Hàn Quốc bắt đầu xuất hiện cuộc tranh luận nghiêm túc về việc nước này có nên sở hữu khả năng răn đe hạt nhân của riêng mình hay không. Theo các cuộc thăm dò dư luận, đa số người dân Hàn Quốc ủng hộ động thái này. 

Tại Nhật Bản, mối lo ngại về Triều Tiên và một Trung Quốc ngày càng quyết đoán đã thúc đẩy nước này rời bỏ “chủ nghĩa hòa bình”. Cuối năm ngoái, chính phủ của Thủ tướng Fumio Kishida tuyên bố Nhật Bản sẽ tăng gấp đôi chi tiêu quốc phòng lên 2% GDP vào năm 2027.

Môi trường an ninh ngày càng bất ổn ở châu Á-Thái Bình Dương là chất xúc tác cho sự tan băng được chờ đợi lâu nay trong quan hệ Nhật-Hàn. Tháng 3 vừa qua, Tổng thống Yoon Suk-yeol và Thủ tướng Kishida đã trở thành nhà lãnh đạo Hàn Quốc và Nhật Bản đầu tiên tổ chức hội đàm song phương sau 12 năm. Hội nghị thượng đỉnh giữa hai nhà lãnh đạo ở Tokyo đã dẫn đến một thỏa thuận nối lại các chuyến thăm lẫn nhau và đối thoại an ninh sau 5 năm gián đoạn.

Biển Đông

Biển Đông là một trong những tuyến đường thủy quan trọng nhất về mặt chiến lược và kinh tế, có nhiều sinh vật biển sinh sống và được cho là có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên đáng kể, đồng thời là nơi xảy ra tranh chấp trong suốt nhiều thập kỷ. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông, với cái gọi là “Đường 9 đoạn” do họ tự vạch ra để đánh dấu giới hạn yêu sách chủ quyền – mặc dù Tòa trọng tài quốc tế ở The Hague đã bác bỏ điều này. Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Đài Loan cũng có các tuyên bố chủ quyền chồng chéo. Mỹ, mặc dù không phải là một bên tranh chấp, cũng coi vùng biển này là vô cùng quan trọng đối với lợi ích quốc gia của họ.

Dưới thời Tổng thống Ferdinand Marcos, Philippines đã có lập trường cứng rắn hơn về những tranh chấp ở Biển Đông. Manila mới đây cáo buộc các tàu Trung Quốc có “các hành động gây hấn” ở Biển Đông. Manila đã cam kết Philippines “sẽ không để mất một tấc” lãnh thổ, và đã có sự thay đổi lớn trong chính sách đối ngoại, tăng cường quan hệ quốc phòng với Mỹ và các đồng minh của Mỹ. Tháng 3 vừa qua, Philippines đã mở rộng quyền tiếp cận của Mỹ đối với các căn cứ quân sự của nước này, tăng cường dấu ấn của Washington trong khu vực và cho phép Mỹ dễ dàng giám sát hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông gần Đài Loan. Manila cũng tăng cường hợp tác quân sự với Nhật Bản và Australia, hai đồng minh của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương.

Khác với các quốc gia láng giềng từng bày tỏ lo ngại về AUKUS, cho rằng nó có thể châm ngòi cho một cuộc chạy đua vũ trang gây bất ổn cho khu vực, Philippines đã ủng hộ liên minh quân sự này. Cách tiếp cận của Marcos, người lên nắm quyền vào năm ngoái, hoàn toàn trái ngược với cách tiếp cận của người tiền nhiệm Rodrigo Duterte – người đã tìm kiếm mối quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với Bắc Kinh và phớt lờ các động thái gây hấn của Bắc Kinh ở Biển Đông, ngay cả khi Trung Quốc xây dựng căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo và tàu Trung Quốc quấy rối hoặc đâm tàu của Philippines.

Các đảo quốc Thái Bình Dương

Các nhà lãnh đạo Thái Bình Dương đã nhiều lần nhấn mạnh rằng họ không muốn bị lôi kéo vào một cuộc cạnh tranh địa chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc cũng như từ chối việc phải chọn bên. Họ đã nhiều lần nói rằng khủng hoảng khí hậu mới là mối đe dọa an ninh hàng đầu. Tuy nhiên, Trung Quốc đang ngày càng tích cực tìm kiếm ảnh hưởng ở các đảo quốc Thái Bình Dương, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh và chính trị. Những nỗ lực này đã khiến Australia, New Zealand và Mỹ đẩy mạnh các nỗ lực ngoại giao của họ.

Những bước tiến của Bắc Kinh trong khu vực được minh họa rõ nhất qua việc ký kết thỏa thuận an ninh với Quần đảo Solomon gần một năm trước. Một văn kiện dự thảo rò rỉ cho thấy thỏa thuận này có thể mở đường cho sự hiện diện của hải quân Trung Quốc trong tương lai, chỉ cách bờ biển của Australia khoảng 1.700 km, bất chấp Thủ tướng Solomon Manasseh Sogavare đã nhiều lần khẳng định với Australia và các quốc gia khác rằng sẽ không bao giờ cho phép thiết lập một căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ quần đảo này.

Năm ngoái, Trung Quốc cũng đã nỗ lực tìm kiếm một thỏa thuận an ninh khu vực sâu rộng với 10 đảo quốc Thái Bình Dương, nhưng đã bị các nhà lãnh đạo Thái Bình Dương từ chối vì lo ngại Bắc Kinh đang cố gắng phá vỡ các cấu trúc đã được thiết lập như Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương (PIF). Các quốc gia khác nhanh chóng đáp trả các động thái ngoại giao này của Trung Quốc.  Chính phủ của Công đảng Australia đã ưu tiên khôi phục lòng tin với các nhà lãnh đạo Thái Bình Dương. Ngoại trưởng Penny Wong và các quan chức khác đã thực hiện một loạt chuyến thăm cấp cao, nhấn mạnh an ninh phải là trách nhiệm trực tiếp của khu vực (chứ không phải của Trung Quốc). Australia đặt mục tiêu hoàn tất đàm phán hiệp định an ninh song phương với Papua New Guinea vào cuối tháng 4, sau khi đã ký một hiệp định tương tự với Vanuatu hồi tháng 12/2022.

Mỹ đã nhận thấy sự cần thiết cần phải tăng cường can dự vào khu vực và họ đã mở lại đại sứ quán ở Quần đảo Solomon hồi tháng 2 vừa qua. Tuy nhiên, các quan chức phương Tây không ảo tưởng về xu hướng này. Bất chấp sự nhẹ nhõm ban đầu trước quyết định của các đảo quốc Thái Bình Dương trong việc trì hoãn các đề xuất an ninh sâu rộng của Trung Quốc, Chính phủ Australia cho rằng đây có thể chỉ là một sự trì hoãn tạm thời. Một quan chức cấp cao của chính phủ đã thừa nhận: “Mọi thứ sẽ không trở lại như cũ”./.

Theo theguardian.com

Loading

Views: 4

Điều gì ẩn sau những cam kết ở Biển Đông

Ngày 4/4, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim cho biết Bắc Kinh đã nêu quan ngại về các hoạt động năng lượng của doanh nghiệp quốc doanh Petronas tại Biển Hoa Nam (Biển Đông) dù Kuala Lumpur tin rằng các dự án liên quan được tiến hành trong phạm vi lãnh thổ chủ quyền của nước này. Các bình luận của ông Anwar được đưa ra sau khi ông mở cánh cửa ngoại giao với Trung Quốc hồi đầu tuần trong bối cảnh có dấu hiệu các dự án năng lượng của Malaysia tại vùng biển Bắc Kinh có yêu sách chủ quyền phải đối mặt với áp lực ngày càng gia tăng.

Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường và Thủ tướng Malaysia Datuk Seri Anwar Ibrahim tại lễ đón ở Bắc Kinh, ngày 1/4/2023. Ảnh: THX


Công ty Petronas vận hành các mỏ khai thác dầu và khí đốt trong phạm vi Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của Malaysia. Vài năm trở lại đây, người ta đã chứng kiến một số vụ đụng độ giữa Petronas và tàu thuyền Trung Quốc. Thủ tướng Anwar nói rằng Trung Quốc lo ngại “Petronas tiến hành hoạt động quy mô tại khu vực mà họ tuyên bố chủ quyền… Tuy nhiên tôi đã nhấn mạnh rằng đây là lãnh thổ của Malaysia và vì vậy Petronas sẽ tiếp tục các hoạt động khai thác trong khu vực”. Ông không nói cụ thể dự án hay địa điểm nào được nhắc đến trong các phát biểu này, song khẳng định Malaysia vẫn cởi mở với đàm phán “nếu Trung Quốc cảm thấy họ có quyền chính đáng với vùng biển này”.


Mỏ khí đốt Kasawari có trữ lượng ước tính 3 nghìn tỷ mét khối và dự kiến sẽ bắt đầu được đưa vào sản xuất trong năm nay. Trong phát biểu trước Quốc hội, Thủ tướng Anwar nói rằng Trung Quốc tuyên bố các tàu thuyền nước này hoạt động trong vùng biển quốc tế. Ông khẳng định Bộ Ngoại giao Malaysia sẽ gửi phản đối ngoại giao nếu xảy ra đụng độ giữa tàu thuyền hai nước trong khu vực. Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng Bắc Kinh bảo vệ “các quyền hợp pháp và lợi ích” ở Biển Đông.


Nhà phân tích chính sách đối ngoại Collins Chong Yew Keat, làm việc tại Đại học Malaya, cho rằng những phát biểu này là cần thiết để thể hiện chủ quyền của Malaysia, song thực tế có thể khó khăn hơn nhiều so với kỳ vọng.


Giống nước láng giềng Philippines, Malaysia rất muốn tách các vấn đề liên quan đến Biển Đông khỏi mối quan hệ song phương rộng lớn hơn với Trung Quốc, với hy vọng rằng điều này sẽ không cản trở nhu cầu tăng cường quan hệ kinh tế. Tuy nhiên, ông cho rằng Malaysia “không chia sẻ tính toán chiến lược của Manila trong việc cởi mở hơn với các đảm bảo an ninh từ Mỹ, khía cạnh mà Bắc Kinh đang khai thác nhiều nhất”. Trao đổi với phóng viên “This Week in Asia”, ông cho rằng Malaysia nên tránh đàm phán song phương với Trung Quốc nhất là trong các vấn đề liên quan tới tuyến đường thủy đang tranh chấp – nơi trung chuyển ít nhất 3 nghìn tỷ USD hàng hóa hằng năm – vì Trung Quốc sẽ sử dụng tất cả đòn bẩy để đưa ra các điều khoản có lợi hơn cho nước này.


Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 4/4 nói rằng Trung Quốc sẵn sàng làm việc với Malaysia để giải quyết các bất đồng tại Biển Đông thông qua đối thoại và tham vấn một cách phù hợp.


Tuần trước, viện nghiên cứu chính sách Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI), cho biết một tàu tuần duyên Trung Quốc đã hoạt động suốt tháng qua gần mỏ khí đốt Kasawari của Petronas, gần bang Sarawak, và thậm chí có lúc áp sát ở cự ly rất gần. Một tàu hải quân Malaysia sau đó cũng có mặt trong khu vực. Ngày 3/4, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng họ không biết về vụ việc, song thừa nhận nếu có, hành vi của tàu tuần duyên này là rất đáng xấu hổ.


Tháng 8/2022, Proofpoint, một công ty an ninh mạng hàng đầu có trụ sở tại California, đã công bố báo cáo về một hoạt động tin tặc bất thường ở Biển Đông. Theo báo cáo, chiến dịch này diễn ra từ tháng 3/2021-6/2022, nhằm vào các công ty năng lượng đang hoạt động tại mỏ khí đốt Kasawari.


Các công ty liên quan đã nhận được thư điện tử chứa liên kết dẫn đến một trang web tin tức hợp pháp của Australia. Tuy nhiên, việc nhấn vào các liên kết đã kích hoạt phần mềm độc hại có tên ScanBox, giúp tin tặc kiểm soát một phần máy tính của nạn nhân, với khả năng theo dõi các lần gõ phím và hoạt động của trình duyệt.


Có nguồn tin cho rằng vụ việc liên quan tới nhóm gián điệp mạng được gọi là TA423/Red Ladon hoặc APT40, có trụ sở tại Hải Nam, và có liên hệ với Bộ An ninh Quốc gia (MSS) Trung Quốc.


Petronas từ chối bình luận về vụ việc, chỉ khẳng định công ty được bảo vệ trước các cuộc tấn công trực tuyến. Truyền thông Malaysia dường như cũng không để tâm tới sự kiện này. “The Diplomat” cho rằng sự im lặng của Malaysia có thể phản ánh lập trường chính sách không đối đầu của nước này trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Emirza Adi Syailendra, nhà nghiên cứu về các vấn đề chiến lược, làm việc tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, viết: “Lằn ranh đỏ của Malaysia là những can thiệp mang tính vật lý đối với các hoạt động khai thác của nước này. Hơn nữa, các cường quốc phương Tây như Mỹ và Australia không được khuyến khích tham gia các tranh cãi này”.


Với tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế, mỏ khí đốt Kasawari được cho là mục tiêu của một số chiến thuật “vùng xám” đáng chú ý vào năm 2021. Ngày 1/6/2021, thời điểm giàn khoan vẫn đang được lắp ráp, người ta đã phát hiện 16 máy bay Trung Quốc “bay theo đội hình” ngoài khơi bờ biển Sarawak. Malaysia điều máy bay chiến đấu để theo sát các diễn biến, trong khi Ngoại trưởng Hishammuddin Hussein gửi thư phản đối với Bắc Kinh về việc “xâm phạm không phận và chủ quyền của Malaysia”. Bộ Ngoại giao Trung Quốc phủ nhận tính nghiêm trọng của vụ việc, gọi đây là “hoạt động huấn luyện thông thường”. Ông Hussein sau đó đã trao đổi với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc và nhấn mạnh “sự cần thiết của việc tự kiềm chế” ở Biển Đông.


Vụ tin tặc tấn công kể trên diễn ra ngay sau các diễn biến kể trên. Proofpoint dự đoán các hành vi tương tự sẽ tiếp diễn chừng nào các công ty khai thác còn hoạt động trong khu vực.


Kasawari là 1 trong 19 dự án năng lượng mới được kỳ vọng sẽ giúp nâng cao vị thế của Malaysia trong các nhà xuất khẩu khí đốt tự nhiên. Theo một báo cáo của Fitch Solutions về ngành dầu khí của nước này, “việc triển khai thành công đường ống ngoài khơi theo kế hoạch sẽ đưa Malaysia trở thành một trong những quốc gia vượt trội ở châu Á về tăng trưởng sản xuất khí đốt trong vòng 3 đến 4 năm tới”.


Câu hỏi đặt ra là vì sao tin tặc lại nhắm đến các công ty nước ngoài tại Kasawari? Địa chỉ IP của Red Ladon có thể cung cấp manh mối nhất định. Hoạt động gần Căn cứ Hải quân Ngọc Lâm ở đảo Hải Nam, nhóm này được cho là tích cực thu thập thông tin tình báo để phục vụ các mục tiêu chiến lược của Trung Quốc, bao gồm giám sát các quốc gia đối tác tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường. Năm 2019, các nhà nghiên cứu tại công ty an ninh mạng Mandiant (hiện thuộc sở hữu của Google) viết: “Chúng tôi tin rằng việc APT40 tập trung vào các vấn đề hàng hải và công nghệ hải quân thực chất là nhằm thúc đẩy tham vọng thành lập lực lượng hải quân biển xanh của Trung Quốc”.

Tuy nhiên, chiến dịch tin tặc dường như có trọng tâm là các vấn đề thương mại hơn là quân sự. Bắc Kinh coi Biển Đông là không gian chung để khai thác năng lượng, đặc biệt là trong phạm vi cái gọi là “Đường 9 đoạn”. Năm 2018, Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc đã mời “tất cả các công ty dầu khí… cùng đầu tư và hoạt động ở ngoài khơi Trung Quốc để cùng đạt được thành công”. Gần đây hơn, một cơ quan truyền thông nhà nước cho rằng Trung Quốc đang tìm kiếm “quan hệ đối tác kinh tế xanh” với các quốc gia ASEAN./.

Theo Reuters/thediplomat.com/scmp.com

Loading

Views: 0