![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
Hải quân Pháp đăng video tàu chiến nước này đánh chặn tên lửa đạn đạo diệt hạm của Houthi ở Biển Đỏ, đánh dấu lần đầu hạ vũ khí này.

“Tàu hộ vệ Pháp ở phía nam Biển Đỏ sáng 21/3 phát hiện ba tên lửa đạn đạo diệt hạm phóng từ Yemen, hướng về tàu Pháp và tàu container mà nó hộ tống. Để tự vệ, chiến hạm Pháp đã đã can thiệp và phá hủy ba tên lửa”, Bộ Quốc phòng Pháp thông báo.
Video do hải quân Pháp đăng cho thấy các thủy thủ trên tàu làm việc trong đài chỉ huy và thảo luận về phương án đánh chặn tên lửa Houthi. Họ sau đó bấm nút khai hỏa tên lửa phòng không từ bệ phóng ở mũi tàu. Một lúc sau, quả đạn lao trúng tên lửa đạn đạo của Houthi, khiến nó phát nổ.
Theo hình ảnh do hải quân Pháp công bố, lực lượng này đã phóng liên tiếp ba tên lửa để đánh chặn toàn bộ đòn tập kích của Houthi.
Naval News cho biết chiến hạm Pháp thực hiện vụ đánh chặn là tàu hộ vệ Alsace, được triển khai tới Biển Đỏ từ ngày 21/1 để tham gia sứ mệnh Aspides của hải quân các nước Liên minh châu Âu (EU), nhằm bảo vệ tàu hàng ở Biển Đỏ và Vịnh Aden khỏi các cuộc tập kích bằng tên lửa, máy bay không người lái (UAV) và xuồng tự sát của nhóm vũ trang Houthi tại Yemen.
Lực lượng Houthi bắt đầu phóng tên lửa đạn đạo diệt hạm nhằm vào tàu hàng, tàu chiến trên Biển Đỏ từ cuối năm 2023, đánh dấu lần đầu tiên loại khí tài này được sử dụng trong điều kiện tác chiến thực tế.
Kể từ đó, nhóm thường xuyên khai hỏa tên lửa đạn đạo nhằm vào tuyến hàng hải ở vùng biển, bao gồm vụ tập kích vào tàu True Confidence treo cờ Barbados hôm 6/3 khiến một thủy thủ Việt Nam và hai thủy thủ Philippines thiệt mạng. Đây là lần đầu tiên các cuộc tập kích của lực lượng Houthi gây ra thương vong cho thủy thủ đoàn.
Naval News nhận định đánh chặn ba tên lửa đạn diệt hạm trong thời gian ngắn là nhiệm vụ phức tạp, cho thấy thủy thủ đoàn trên tàu Alsace đã được huấn luyện bài bản và có tính chuyên nghiệp cao, đồng thời chứng tỏ chiến hạm Pháp được trang bị hệ thống cảm biến và vũ khí có chất lượng tốt.
Tờ báo cho biết con tàu nhiều khả năng đã khai hỏa tên lửa phòng không Aster-30 trong vụ đánh chặn. Nhiệm vụ bám bắt mục tiêu do hệ radar mảng pha đa năng Thales Herakles có tầm hoạt động 250 km trên tàu thực hiện.
Đây là lần đầu tiên hải quân pháp đánh chặn tên lửa đạn đạo trong điều kiện thực chiến, đồng thời cũng là lần đầu tên lửa Aster phá hủy loại đạn này.
Alsace là hộ vệ hạm lớp Aquitaine do hải quân Pháp phát triển trong khuôn khổ chương trình chế tạo tàu hộ vệ đa nhiệm FREMM. Alsace là chiếc đầu tiên trong hai biến thể phòng không thuộc lớp con mang tên FREMM-DA của chương trình.
Con tàu hạ thủy vào tháng 4/2019 và biên chế cho hải quân Pháp sau đó hai năm. Chiến hạm được trang bị 4 bệ phóng thẳng đứng Sylver A-50 với khả năng khai hỏa tối đa 32 tên lửa phòng không Aster 15 hoặc Aster 30, pháo chính OTO Melara 76 mm, radar đa chức năng Thales Herakles và radar điều khiển hỏa lực Thales STIR EO MK 2.
Các khí tài này giúp tàu Alsace sở hữu năng lực phòng không tốt hơn so với các tàu thuộc lớp Aquitaine khác, đồng thời vẫn có khả năng chống ngầm tương đương.
![]()
Views: 0
Bắc Triều Tiên tuyên bố nước này thử nghiệm thành công động cơ tên lửa siêu vượt âm thế hệ mới.

Theo đó, hôm 19/3, Tổng cục Tên lửa Triều Tiên và Viện Động cơ trực thuộc cơ quan này thử nghiệm thành công phản lực trên mặt đất đối với động cơ sử dụng nhiên liệu rắn nhiều giai đoạn dành cho tên lửa siêu vượt âm tầm trung. Vụ thử nghiệm diễn ra ở bãi phóng vệ tinh Sohae.
Lãnh đạo Kim Jong-un trực tiếp giám sát, chỉ đạo thử nghiệm tại chỗ cùng các quan chức lãnh đạo trong lĩnh vực phát triển tên lửa Triều Tiên.
KCNA dẫn lời ông Kim Jong-un nói, xét từ nhu cầu cũng như bối cảnh đảm bảo an ninh, việc thử nghiệm thành công động cơ tên lửa siêu vượt âm thế hệ mới có “giá trị chiến lược quân sự ngang tầm với tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM)”.
Không cung cấp thêm thông tin chi tiết, KCNA cho biết Triều Tiên có thể đặt ra thời gian biểu để hoàn thành việc phát triển hệ thống vũ khí tên lửa siêu thanh mới sau thành công của cuộc thử nghiệm động cơ mặt đất mới nhất.
Là một phần trong nỗ lực cải tiến hệ thống vũ khí của mình, Triều Tiên đã tiến hành các cuộc thử nghiệm trên mặt đất đối với động cơ nhiên liệu rắn mới được phát triển cho một loại tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM) mới vào tháng 11 năm ngoái.
Vào ngày 14/1, Triều Tiên bắn thử tên lửa IRBM nhiên liệu rắn có gắn đầu đạn siêu thanh trong vụ phóng tên lửa đạn đạo đầu tiên trong năm nay.
Vụ thử nghiệm mới nhất của Triều Tiên diễn ra chỉ một ngày sau khi Triều Tiên tiến hành tập trận thử nghiệm bệ phóng đa tên lửa siêu lớn. Đây là vụ phóng tên lửa đạn đạo thứ hai trong năm.
Quân đội Hàn Quốc hôm 19/3 cho biết nước này đã phát hiện nhiều vụ bắn tên lửa đạn đạo tầm ngắn từ các khu vực gần Bình Nhưỡng.
Triều Tiên gia tăng các cuộc tập trận quân sự thời gian gần đây. Hồi tháng 1, nhà lãnh đạo Triều Tiên kêu gọi sửa đổi hiến pháp để xác định Hàn Quốc là “kẻ thù chính”.
Ngày 18/3, Triều Tiên cũng phóng thử các tên lửa đạn đạo ra vùng biển phía Đông nước này. Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc đều lên tiếng bày tỏ quan ngại về vụ việc.
BDN
![]()
Views: 0
Romania đã bắt đầu xây dựng căn cứ quân sự lớn nhất của NATO ở châu Âu, trị giá 2,7 tỉ USD.

Theo tạp chí Newsweek hôm 18-3, Romania đã bắt đầu hoạt động mở rộng căn cứ không quân số 57 hiện tại của không quân nước này ở sân bay Mihail Kogălniceanu. Dự án xây dựng trị giá 2,7 tỉ USD.
Sau khi mở rộng, cơ sở mới sẽ có quy mô bằng một thành phố nhỏ, nằm trên khu vực rộng gần 3.000ha, và sẽ là căn cứ quân sự lớn nhất của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) ở châu Âu.
Căn cứ này tọa lạc tại thành phố cảng Constanta, nằm bên bờ biển phía tây Biển Đen. Cơ sở mới sẽ có đường băng, nhà chứa máy bay quân sự, kho vũ khí… với sức chứa 10.000 binh sĩ NATO cùng gia đình của họ.
Romania từ lâu là trung tâm quan trọng hỗ trợ các hoạt động của liên minh quân sự NATO ở Biển Đen. Hàng ngàn binh sĩ Mỹ di chuyển qua Romania để thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện và an ninh kể từ khi xung đột Nga – Ukraine nổ ra vào tháng 2-2022.
Cuối tuần trước, kênh Euronews tường thuật hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản của căn cứ mới, chẳng hạn đường sá và lưới điện, đã bắt đầu. Một số đường băng mới dự kiến được xây dựng để hỗ trợ nhiều loại máy bay quân sự hoạt động.
Ông Nicolae Crețu, chỉ huy căn cứ không quân số 57, cho biết căn cứ mới sẽ có “nhà chứa máy bay, kho nhiên liệu, đạn dược, thiết bị, vật liệu kỹ thuật hàng không, thiết bị mô phỏng, cơ sở cung cấp thức ăn, chỗ ở” – những thứ cần thiết để hỗ trợ các hoạt động và nhiệm vụ của căn cứ với quy mô như thế này.
Romania đang hướng tới hợp tác chặt chẽ hơn với các đồng minh trong NATO, đặc biệt là Mỹ, khi Biển Đen ngày càng trở thành nơi đối đầu giữa Ukraine và Nga, cũng như giữa Matxcơva và các đối thủ phương Tây. Romania được coi như “điểm tựa” của sườn phía đông NATO.
BDN
![]()
Views: 0
Tháng 11 tới, ông Joe Biden và Donald Trump sẽ tham gia cuộc đua vào Nhà Trắng. Trò chuyện với Viettimes, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Vinh phân tích về cơ hội của 2 ứng viên.

Cuộc tranh cử giữa đương kim Tổng thống Mỹ Joe Biden và cựu Tổng thống Donald Trump là cuộc đối đầu giữa hai nhân vật cũ nhưng có khá nhiều điều mới mẻ. Kỳ bầu cử năm nay được dự đoán sẽ có những bất ngờ, nhất là khi các cuộc thăm dò dư luận 2 kỳ bầu cử trước đều sai.
Các cuộc thăm dò dư luận đều sai
Ông Phạm Quang Vinh: Nhìn lại cuộc bầu cử năm 2016, việc ông Trump đắc cử cho thấy xu thế “phản đối” lại nền chính trị “dòng chính thống” của người dân. Với khẩu hiệu dân túy “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” (MAGA) và “Nước Mỹ trên hết” (America First), ông Trump đã khơi dậy niềm hứng khởi trong giới cử tri.
Người dân Mỹ lúc bấy giờ chán dòng chính thống. Họ muốn một điều gì đó mới mẻ hơn. Chính vì vậy, một chính trị gia “chính thống” như bà Hillary Clinton đã thất bại.
Ông Trump cũng đã chiếm được lòng tin của cử tri khi hứa mang lại công ăn việc làm cho bộ phận cử tri khu vực “Vành đai Rỉ sét” (khu vực trải dài qua một số bang ở miền Trung, Tây của nước Mỹ: xuôi từ bang New York đến Wisconsin, qua phần lớn các bang Pennsylvania, Ohio, Indiana và Michigan, West Virginia và Illinois-NV). Trước đây khu vực này là các khu công nghiệp thuần túy, sau đó chuyển hướng sang làm dịch vụ và công nghệ nên đa phần các nhà máy được chuyển dịch ra nước ngoài, dẫn đến tình trạng công nhân mất việc làm.
Đến kỳ bầu cử năm 2020, với nền kinh tế Mỹ tăng trưởng 3-3,5%, người dân thu nhập cao hơn, công ăn việc làm nhiều hơn. Cuộc chiến thương mại gay gắt với Trung Quốc kéo theo công ăn việc làm về cho người dân Mỹ. Vậy tại sao ông Trump lại thua?
Ông Phạm Quang Vinh: Một trong những lý do lớn nhất là đại dịch Covid. Đại dịch này tác động đến tâm lý cử tri và làm mất đi những thành quả kinh tế dưới thời ông Trump. Trận đại dịch cũng khiến nền kinh tế Mỹ bị đình trệ. Người dân Mỹ bỗng dưng phải đeo khẩu trang, phải ngồi trong nhà…Tất cả điều này đã tác động rất lớn lên tâm lý cử tri Mỹ.
Nhiều bang trong “Vành đai Rỉ sét” vốn là nơi ông Trump giành được rất nhiều lá phiếu bầu trong năm 2016 cũng không còn ủng hộ ông. Chiến thắng cuối cùng thuộc về ông Biden.
Ông Phạm Quang Vinh: Kỳ bầu cử năm nay, ông Trump vẫn thúc đẩy chủ thuyết chính là “Nước Mỹ trên hết”. Ngoài sự khác biệt giữa hai đảng về dân chủ, thuế má, chi tiêu chính phủ, phúc lợi, thuế đánh vào người giàu hay người nghèo… thì khẩu hiệu tranh cử của đại diện hai đảng vẫn vậy.
Tuy nhiên, sự cực đoan của chủ nghĩa dân túy giờ đây đang tạo ra sự phân hóa ngày càng lớn trong lòng nước Mỹ nói chung và đảng Cộng hòa nói riêng.
Việc cựu Đại sứ Mỹ tại LHQ, bà Nikki Haley, rút khỏi cuộc đua nhưng không tuyên bố ủng hộ ông Trump cũng là bằng chứng cho thấy sự phân hóa trong đảng. Vậy liệu ông Trump có thể tạo ra được sự hứng khởi của cử tri như ông đã từng làm trong năm 2016 nữa không? Rất khó!
Những lợi thế và thách thức của đương kim Tổng thống Joe Biden
Ông Phạm Quang Vinh: Ông Biden được coi là người dẫn dắt nước Mỹ thoát khỏi đại dịch, kiểm soát được lạm phát, tái phục hồi nền kinh tế hiện đang có tốc độ tăng trưởng là 2,5%, đem công ăn việc làm trở lại cho người dân Mỹ.
Thế nhưng tại sao trong tất cả các cuộc thăm dò dư luận gần đây, ngay cả thành quả lớn nhất của ông Biden – phát triển kinh tế – lại không được đa số cử tri ủng hộ? Có nguyên nhân đằng sau.
Với người Mỹ, kinh tế phải cụ thể là “cơm áo gạo tiền”. Những chỉ số vĩ mô như đà tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát, tăng thêm việc làm…sẽ không có ý nghĩa nếu như túi tiền của người dân chưa được tăng thêm, trong khi giá cả tăng cao. Đó là chưa kể tới vấn đề sức khỏe do tuổi tác của ông Biden.
Ông Phạm Quang Vinh: Nhắc đến cơ hội của ông Biden, người ta thường xem xét hai khía cạnh: Khía cạnh cá nhân ông và đảng do ông đại diện.
Thông thường cử tri Mỹ chỉ quan tâm đến những vấn đề nội tại của nước Mỹ. Trước đây, trong lịch sử tranh cử ở Mỹ, từng có những vấn đề tuy là đối ngoại nhưng “nhảy vào” chương trình nghị sự tranh cử, ví dụ như cuộc chiến ở Iraq, trước đó nữa là chiến tranh Việt Nam. Nhưng những vấn đề này đụng chạm trực tiếp đến nội bộ nước Mỹ.
Trước hết nói về cử tri truyền thống. Các bang trung thành với đảng nào sẽ vẫn ủng hộ đảng ấy. Nghĩa là các bang trước đây ủng hộ đảng Dân chủ, về cơ bản họ vẫn không thay đổi. Chưa kể trong năm 2020, ông Biden còn giành được phiếu của một số bang thuộc “Vành đai Rỉ sét” mà trước đó ông Trump đã thắng bà Clinton.
Về cá nhân ông Biden thì sao? Ông được coi là chính trị gia có bề dày kinh nghiệm, tạo ra niềm tin đối với cử tri nhờ vào sự nhất quán chính sách điều hành đất nước. Một điểm mạnh nữa của ông Biden là nền kinh tế tăng trưởng tốt trong nhiệm kỳ của ông.
Ông Phạm Quang Vinh: Có 3 vấn đề có thể mang đến rủi ro lớn nhất cho ông Biden. Rủi ro đầu tiên là sức khỏe, đặc biệt là sau khi công tố viên đặc biệt Robert Hur đưa ra kết luận “Tổng thống Biden có trí nhớ kém”. Mặc dù ông Biden đã phản bác lại vấn đề này, nhưng nó cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của người dân Mỹ.
Tuy nhiên, ông Biden đã hoàn thành một số việc mang dấu ấn cá nhân, như trình bày Thông điệp liên bang một cách gãy gọn, không bị vấp váp. Ông cũng dám trực diện đối đầu với ông Trump. Thế nhưng vấn đề sức khỏe sẽ vẫn là điểm trừ, bởi kết luận của công tố viên đặc biệt vẫn luẩn quẩn trong tâm trí người dân Mỹ.
Điểm thứ hai là sức ép phải giữ cho kinh tế phát triển ổn định. Năm 2023 kinh tế Mỹ không rơi vào suy thoái như dự báo trước đó, mà chuyển sang một cú “hạ cánh mềm” và duy trì đà tăng trưởng. Nếu từ nay cho đến ngày bầu cử, chính quyền của ông Biden tiếp tục giúp kinh tế đi lên, người dân Mỹ có thu nhập cao hơn, đời sống được bảo đảm… điều đó sẽ làm tăng sự hài lòng của cử tri.
Cuối cùng là khủng khoảng nhân đạo ở Trung Đông liên quan đến dải Gaza, người Palestine và Israel. Nó tác động đến một bộ phận dân cư ở các bang như Michigan. Trước đây, cử tri trong bang ủng hộ đảng Dân chủ, nhưng nay họ không khẳng định là sẽ ủng hộ hay không ủng hộ, tạo ra “phong trào không cam kết” của giới cử tri gốc Palestine. Từ nay đến ngày bầu cử, nếu ông Biden không tác động được vào nhóm này, điều đó sẽ là một bước lùi.
Điểm cộng và điểm trừ của ông Donald Trump
Ông Phạm Quang Vinh: Cá nhân Trump có nhiều điểm được cho là mạnh. Trước tiên trong mắt cử tri Mỹ ông là người mạnh mẽ và quyết đoán, là người đáng tin cậy. Ông ấy đã nói là làm và đi thẳng vào vấn đề mà cử tri quan tâm.
Thứ hai là sức khỏe. Không ai đặt vấn đề hay nghi ngờ về sức khỏe của ông Trump. Đây là điểm cộng của cựu Tổng thống Trump, trong khi đối với ông Biden lại là điểm trừ.
Thứ ba là ông Trump tạo ra được một trào lưu dân túy với chính sách của mình. Chính sách này đã gắn kết những người ủng hộ ông một cách đầy nhiệt huyết. Nếu đã ủng hộ ông Trump thì họ sẽ ra đường bỏ phiếu nhiều hơn. Đây cũng là điểm mạnh của ông Trump.
Có lẽ điểm yếu nhất của ông Trump qua 3 cuộc tranh cử năm 2016, 2020 và cả năm nay là tính cách cá nhân và chủ thuyết “Nước Mỹ trên hết”. Do cá tính quá bộc trực mà ông Trump đã tạo ra hố ngăn cách và phân hóa trong lòng nước Mỹ và trong nội bộ đảng Cộng hòa. Hai là trong nội bộ đảng Cộng hòa cũng như nước Mỹ cũng có sự phân hóa về khẩu hiệu “nước Mỹ là trên hết” của ông.
Ông Phạm Quang Vinh: Ông Trump có đến hơn 90 tội danh cộng với 4 vụ kiện lớn. Về một số vụ kiện dân sự và kinh tế, tòa đã có phán quyết. Ông Trump cũng đã nộp tiền bảo lãnh.
Nhưng về các vụ hình sự thì có hai điểm đáng chú ý. Đó là Tòa án tối cao Mỹ hôm 4/3 đã ra phán quyết đảo ngược phán quyết mà tòa phúc thẩm bang Colorado đưa ra đối với ông Trump vào cuối năm ngoái. Trong phán quyết mới nhất, Tòa án tối cao kết luận rằng chỉ Quốc hội mới có quyền thực thi điều khoản trên đối với các quan chức và các ứng cử viên liên bang. Và nếu Tòa án tối cao phán quyết ông Trump có tội liên quan đến vụ bạo loạn năm 2021 ở Đồi Capitol thì đây sẽ là điểm trừ rất lớn cho ông.
Nếu nhìn lại nền kinh tế Mỹ dưới thời ông Trump, có thể thấy mặc dù ở năm cuối nhiệm kỳ và bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID, nhưng những thành quả mà ông đạt được trước đó là rất ngoạn mục. Vì vậy, các cuộc thăm dò gần đây cho thấy, ông Trump được đánh giá cao hơn ông Biden xét về quản lý nền kinh tế Mỹ.
Ông Phạm Quang Vinh: Có nhiều yếu tố quyết định điều đó. Một là, cử tri truyền thống của đảng nào thì vẫn ủng hộ ứng cử viên của đảng đó. Vấn đề quan trọng ở đây tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử. Cử tri thường nhìn vào lợi ích mà họ nhận được nếu bầu cho một ứng viên nào đó, nên nếu lợi ích là ngang nhau thì có thể họ sẽ không đi bầu. Tuy nhiên, số cử tri truyền thống, trung thành với ông Trump nhiệt huyết hơn cử tri của ông Biden.
Nếu ông Biden xoay chuyển được 3 vấn đề chính: sức khỏe, phát triển kinh tế, ngừng bắn ở dải Gaza, ông ấy có cơ hội tái đắc cử. Ngược lại, cơ hội sẽ thuộc về ông Trump. Với những vấn đề như vậy, tôi nghĩ rằng tỷ lệ hiện nay giữa hai ứng cử viên là 50/50.
Một yếu tố nữa khó có thể dự đoán được và cần phải chờ đợi thêm là lượng cử tri sẽ đi bỏ phiếu và tỷ lệ cử tri đi bầu của hai bên.
BDN
![]()
Views: 0
Lực lượng Hải quân Ấn Độ đã chặn con tàu chở hàng bị hải tặc Somalia chiếm giữ và yêu cầu nhóm cướp này phải đầu hàng.

Theo thông báo trên mạng X (trước đây là Twitter) ngày 16-3, Hải quân Ấn Độ cho biết đã ngăn cản cướp biển Somalia sử dụng một tàu đã chiếm được trước đó để cướp các tàu đi qua khu vực.
Cụ thể, con tàu chở hàng Ruen treo cờ Malta đã bị nhóm hải tặc Somalia kiểm soát từ ngày 14-12-2023.
Đến ngày 14-3, lực lượng hải quân của Liên minh châu Âu cho biết rất có thể toán cướp đã dùng tàu Ruen để chiếm giữ một tàu chở hàng treo cờ Bangladesh, ngoài khơi bờ biển Somalia, Hãng tin Reuters đưa tin.
Ngày 15-3, Hải quân Ấn Độ đã tiến hành ngăn chặn con tàu Ruen bị cướp biển kiểm soát.
Trong quá trình này, cướp biển đã nổ súng vào lực lượng của New Delhi. Đoạn clip dài 8 giây cho thấy một tên cướp biển bước lên boong tàu và nhắm súng vào trực thăng của Hải quân Ấn Độ.
Hải quân Ấn Độ khẳng định họ “thực hiện các hành động tuân theo luật pháp quốc tế để tự vệ và chống cướp biển, với lực lượng tối thiểu cần thiết để vô hiệu hóa mối đe dọa từ cướp biển với tàu bè và các thuyền viên”.
Họ cũng yêu cầu những tên cướp trên tàu đầu hàng, trả tự do cho con tàu Ruen và bất kỳ dân thường nào có thể đang bị giam giữ trái phép.
“Hải quân Ấn Độ tiếp tục cam kết với an ninh hàng hải và sự an toàn cho các thủy thủ trong khu vực”, thông báo nêu.
Tàu Ruen là tàu hàng đầu tiên bị cướp biển Somalia chiếm giữ kể từ năm 2017.
Kể từ tháng 12-2023, các quan chức Ấn Độ đã ghi nhận ít nhất 17 vụ cướp hoặc nỗ lực cướp biển.
Ấn Độ cũng đã triển khai ít nhất 10 tàu chiến ở phía đông Biển Đỏ kể từ tháng 1 để chống cướp biển, đồng thời đã tiến hành điều tra hơn 250 con tàu.
BDN
![]()
Views: 0
Những gián đoạn trong thương mại từ việc tàu hàng ở Biển Đỏ bị tấn công, khiến nhiều người phải thức tỉnh và đặt câu hỏi: Sẽ làm thế nào nếu Biển Đông bị “phong tỏa”?

Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), trong hai tháng đầu tiên của năm 2024, thương mại qua kênh đào Suez sụt giảm 50% so với năm trước. Đây được xem là hậu quả từ việc tàu bè trên Biển Đỏ bị tấn công, và buộc các công ty vận tải phải điều hướng tàu sang Mũi Hảo Vọng, dẫn tới gia tăng chi phí và trung bình kéo dài thời gian giao hàng thêm 10 ngày.
Lời cảnh báo cho Biển Đông
Kênh đào Suez là tuyến vận tải biển ngắn nhất nối châu Á và châu Âu, nơi khoảng 15% quy mô thương mại biển toàn cầu đi qua thường xuyên.
“Tình trạng hỗn loạn ở Biển Đỏ đã cho thấy các tuyến đường huyết mạch và điểm nghẽn hàng hải quan trọng có thể được sử dụng cho các mục tiêu địa chính trị. Đây cũng là một ví dụ về sự gián đoạn tại một hành lang hàng hải chính có thể gây ra hậu quả toàn cầu” – ông Nguyễn Minh Vũ, trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, phát biểu tại Đối thoại biển lần thứ 12, tổ chức ở TP.HCM vào ngày 15-3.
Theo ông Vũ, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề dù ở xa Biển Đỏ. Ông lấy dữ liệu từ Cục Hàng hải Việt Nam cho thấy giá cước vận chuyển từ Việt Nam đến bờ Đông nước Mỹ tăng từ 2.600 USD/container thời điểm tháng 12-2023 lên 4.100 – 4.500 USD vào tháng 1-2024, tăng 58 – 73%.
“Rủi ro lớn đã dẫn đến phí bảo hiểm cao hơn và chi phí năng lượng cũng cao hơn. Các khó khăn về vận chuyển hàng hải đã làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam và gây ra đình trệ trong chuỗi cung ứng. Thật không may, Việt Nam đã là một trong những nước bị tác động từ các cuộc tấn công tại Biển Đỏ”, ông nói.
Năm nay Đối thoại biển lấy chủ đề “Thúc đẩy kết nối trên biển – Tăng cường gắn kết toàn cầu”, tập trung vào việc đánh giá tầm quan trọng của việc kết nối các tuyến đường biển trọng yếu nhằm đảm bảo chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong khi đó, tạp chí tài chính Úc (AFR) nhận định còn có những điểm nghẽn vận tải lớn hơn Suez. AFR dẫn nghiên cứu của GS Lincoln Pratson (ĐH Duke) cho thấy chỉ riêng Biển Đông đã là nơi lưu thông của 27,9% thương mại hàng hóa khắp thế giới.
AFR cũng cảnh báo nguy cơ hiệu ứng dây chuyền khi một trong các tuyến hàng hải trên thế giới tê liệt vì một lý do nào đó, nó có thể dẫn đến việc đóng cửa eo biển Malacca hoặc Biển Đông. Vấn đề ở chỗ Biển Đông đang có sự tranh chấp của nhiều bên, do đó xung đột quân sự là rủi ro dễ hình dung nhất.
Mối lo từ căng thẳng trên biển
Tại Đối thoại biển lần thứ 12, ông Nguyễn Minh Vũ cũng đề cập tới lo lắng trong khu vực về “hàng loạt sự kiện gây bất ổn và khiêu khích ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đặc biệt là ở Biển Đông”.
Ông nói: “Đã có những hoạt động trong vùng xám làm suy yếu luật pháp về biển. Đã có những thách thức đối với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, làm dấy lên mối lo ngại về trật tự pháp lý trên biển, tự do hàng hải và hàng không, cũng như về việc bảo vệ chủ quyền và các quyền lợi hợp pháp của các quốc gia ven biển. Các yêu sách hàng hải mơ hồ và quá đáng và bất kỳ sự coi thường trật tự pháp lý trên biển dựa trên UNCLOS 1982, cũng như bất kỳ nỗ lực nào nhằm áp đặt chính sách thực dụng và tùy tiện trên biển, đều là những nguyên nhân gây ra các lo ngại”.
Theo ông Vũ, điều này càng làm nổi bật nhu cầu tăng cường kết nối giữa các quốc gia, khi đó có thể là giải pháp phát huy tiềm năng kinh tế của khu vực.
Tuy nhiên, trong khi đã có nhiều nỗ lực và sáng kiến thúc đẩy kết nối biển, vẫn còn nhiều thách thức khiến các nỗ lực này chưa được triển khai như mong đợi. Trả lời Tuổi Trẻ, PGS.TS Syuhaida binti Ismail (Viện Hàng hải Malaysia) cho rằng khó khăn đầu tiên bắt nguồn từ tài chính. Hầu hết các nước Đông Nam Á đều là nền kinh tế mới nổi và khó có tiềm lực tài chính mạnh như Nhật Bản hay Trung Quốc để đầu tư vào lĩnh vực chuyển đổi số, cảng thông minh… Thêm vào đó, việc chưa được đầu tư đúng mức cũng xuất phát từ thực tế rằng ý thức của các nước về chuỗi cung ứng cảng biển cũng như chuyển đổi số ở ngành này chưa cao.
“Chúng ta nên mời những chuyên gia về số hóa. Hãy tham gia vào quá trình vận chuyển và cố gắng tìm cách áp dụng một cách đầy đủ nhất quá trình số hóa này”, bà nói sau khi các diễn giả thảo luận về áp dụng công nghệ mới và đầu tư cho cảng thông minh.
BDN
![]()
Views: 0
Tuần trước, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hàn Quốc Lim Soo-suk, vừa lên tiếng trong một cuộc tiếp xúc với giới truyền thông quốc tế, rằng: Hàn Quốc “quan ngại sâu sắc về tình hình nguy hiểm” và “việc sử dụng vòi rồng chống lại các tàu Philippines ở Biển Đông”.

Cũng trong sự kiện trên, ông Lim Soo-suk nhấn mạnh: “Chúng tôi (Hàn Quốc) ủng hộ việc duy trì hòa bình, ổn định và trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông, cũng như tự do hàng hải và hàng không dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982”
Xét cho cùng, động thái trên của Seoul “chẳng có gì đáng làm ầm ĩ” như thái độ hậm hực, cay cú của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân ngày 12/3: “Hàn Quốc không phải là một bên trong vấn đề Biển Đông nhưng trong những năm gần đây, nước này đã thay đổi lập trường thận trọng và trung lập đã duy trì trong nhiều năm qua”. Phàm những ai nhận thức đúng về công pháp quốc tế, về lẽ công bằng, đều thấy đó là việc Hàn Quốc nên làm; tới nay, mới làm, là muộn.
Hơn 10 năm trước, trước những diễn biến căng thẳng trên Biển Đông, trong đó có việc Trung Quốc gia tăng các hoạt động bồi đắp, xây dựng các đảo nhân tạo trên một số đảo, đá, bất chấp hối thúc của Mỹ và các đồng minh phương Tây đòi Hàn Quốc phải chỉ trích Bắc Kinh, chính phủ Hàn Quốc từng “im lặng” một cách khó hiểu. Sau đó, cái họ làm chỉ là một tuyên bố không đứng về bên nào và giữ quan điểm trung lập.
Quan quan điểm trung lập của Hàn Quốc về vấn đề Biển Đông, theo một số nhà phân tích quốc tế, bắt nguồn từ việc Hàn Quốc từng là nạn nhân của cuộc cạnh tranh quyền lực lớn, hay nói đúng hơn, thành con tốt trong cuộc tranh giành quyền lực chính trị giữa các nước lớn. Điều đó đã dẫn đến một câu ngạn ngữ đầy ám ảnh của người Hàn, rằng “Trong một cuộc chiến giữa bầy cá voi, lưng con tôm bị “vỡ vụn” (tiếng Hàn: teojinda)”.
Vẫn theo các nhà phân tích quốc tế, cảm xúc đó, dần dần thành một phần trong thế giới quan của người Hàn, trong đó có cái gọi là “văn hóa chiến lược”, khiến họ tránh xa các tác nhân có thể ảnh hưởng, đe dọa quan hệ bang giao đang ngày một chồng chéo và dày đặc, song hành cùng các thành tựu của “kỳ tích sông Hàn”.
Xét theo giác độ ấy, Biển Đông hiển nhiên là một tác nhân Hàn Quốc cần phải thận trọng, nếu không nói là cảnh giác. Lý do, thứ nhất, khu vực này liên quan tranh chấp “5 nước, 6 bên”. Các bên tùy theo mức độ, không chỉ cùng khu vực, mà còn là các đối tác kinh tế quan trọng, trong đó có Trung Quốc, Việt Nam. Đồng thời, ASEAN cũng là đối tác chiến lược toàn diện của nền kinh tế có quy mô thứ 10 toàn cầu với GDP lên tới nghìn tỷ USD (năm 2023, con số này là gần 2000 tỷ. Vì thế, làm mếch lòng bất cứ bên nào, Seoul đều phải nghĩ tới hậu quả có thể đến.
Thứ hai, Biển Đông, trong thời gian gần đây, là nơi cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ với Trung Quốc. Mỹ thì là đồng minh nên gắn với đó là trách nhiệm. Nhưng “mất” một thị trường khổng lồ 1,4 tỷ dân như Trung Quốc thì Seoul quá thiệt hại. Vậy là, một lần nữa, nỗi “ám ảnh teojinda” lại hiện ra, buộc những nhà lãnh đạo xứ Kim Chi phải tính toán.
Nhưng có những thứ ngoài tầm tính khi câu chuyện Biển Đông ngày một phức tạp căng thẳng. Thành quả của công cuộc mở cửa đã giúp Trung Quốc không chỉ giàu mà còn vươn lên thành một siêu cường quân sự. Một quốc gia luôn nghĩ mình là trung tâm tất không thể bằng lòng với việc bị ai đó đè nén. Một nền kinh tế khổng lồ như Trung Quốc lúc nào cũng thèm khát nguồn năng lượng khiến Bắc Kinh càng tham vọng Biển Đông là của riêng mình…Trong khi đó, Washington choàng tỉnh trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, từ hơn 10 năm nay, triển khai chiến lược “xoay trục” Châu Á – Thái Bình Dương có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược toàn cầu của Mỹ.
Thế là, trong thực tế, một cuộc thách thức Mỹ – Trung đã hình thành, cuốn theo vào nhiều quốc gia.
Tới lúc này, Mỹ không thể không hối thúc thêm Hàn Quốc thể hiện trách nhiệm đồng minh trong vấn đề Biển Đông. Và trong thực tế, chưa cần Washington chỉ giáo, Seoul cũng nhận ra, cùng với những diễn biến địa chính trị phức tạp khác, nếu Trung Quốc khống chế, áp đặt thành công âm mưu độc chiếm Biển Đông – tuyến đường hàng hải quan trọng bậc nhất, cái nguy chẳng dành cho riêng ai, mà cho nhiều quốc, trong đó có Hàn Quốc. Thậm chí, thiệt hại của Hàn Quốc có thể nói là to lớn, bởi quy mô và độ mở của một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào thương mại.
Vậy nên tới lúc này, Hàn Quốc, dù muốn cũng không thể giữ mãi thái độ “trung lập” trong câu chuyện Biển Đông, qua tuyên bố của ông Lim Soo-suk. Seoul làm điều đó dù biết rằng thể nào Bắc Kinh cũng sẽ phản ứng một cách hậm hực và cay cú.
BDN
![]()
Views: 0
Các tàu chiến của Nga, Trung Quốc và Iran sẽ thực hiện một cuộc tập trận hải quân chung kéo dài đến hết tuần này.

Theo RT, cuộc tập trận hải quân chung giữa Nga, Trung Quốc và Iran có tên gọi “Vành đai an ninh hàng hải”, diễn ra từ ngày 12/3 đến 15/3. Ngoài tàu chiến, các hoạt động diễn tập có sự tham gia của lực lượng không quân.
“Phần chính của cuộc tập trận sẽ diễn ra ở vùng biển Ả Rập, đặc biệt là Vịnh Ô man. Mục đích chính của cuộc diễn tập là đảm bảo an toàn cho các hoạt động kinh tế hàng hải”, Bộ Quốc phòng Nga cho biết trong một tuyên bố hôm 11/3.
Đại diện hải quân Nga là hai tàu thuộc Hạm đội Thái Bình Dương, tàu tuần dương mang tên lửa dẫn đường Varyag lớp Slava và khinh hạm Marshal Shaposhnikov lớp Udaloy.
Còn theo Bộ Quốc phòng Trung Quốc, hải quân nước này đã điều động tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường Urumqi, tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường Linyi và tàu hậu cần Dongpinghu đến tập trận
Hải quân Iran tham dự tập trận với một số máy bay trực thăng và nhiều tàu tuần tra cỡ nhỏ.
Tập trận “Vành đai an ninh hàng hải” được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2019 và là một trong những hoạt động quân sự thường niên của Nga, Trung Quốc và Iran.
Trong cuộc tập trận vào năm 2023, hải quân ba nước đã thực hiện triển khai tàu chiến theo đội hình, tiến hành các cuộc diễn tập bắn đạn thật, đồng thời mô phỏng giải cứu con tin khỏi tàu bị cướp biển bắt và hỗ trợ tàu gặp nạn trên biển.
Khu vực tập trận nằm gần lối vào Vịnh Ba Tư, nơi xuất phát phần lớn lượng dầu vận chuyển của thế giới.
Ở phía bên kia bán đảo Ả Rập, ngoài khơi Yemen, Mỹ và các đồng minh đã triển khai nhiều tàu chiến trong nỗ lực ngăn chặn lực lượng Houthis can thiệp vào hoạt động thương mại hàng hải liên quan đến Israel. Tuy nhiên các hoạt động của liên quân không thành công và Houthi bắt đầu chuyển sang tấn công các tàu chở hàng của Mỹ và Anh gây ra nhiều thiệt hại.
BDN
![]()
Views: 0
“Phía đất liền những ngọn nến lung linh. Thả ra biển gọi hồn thiêng đất nước”. Câu thơ của nhà thơ Đinh Văn Hồng (Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ngãi) khiến tôi nao lòng khi nhớ đến ngày giỗ các liệt sĩ ở Gạc Ma (14.3.1988).

Đã không bao giờ anh quay trở lại để lấy chiếc khăn của mình
Trong hành trình ra thăm quần đảo Trường Sa, chúng tôi đã được đến thăm Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma (thuộc xã Cam Hải Đông, H.Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa). Nơi đây đã để lại nhiều xúc động cho du khách, không chỉ bởi không gian tươi đẹp, xanh mát hướng ra biển cả mênh mông mà còn bởi lưu giữ kỷ vật của những chiến sĩ đã anh dũng hy sinh ngày 14.3.1988, tại đảo Gạc Ma, quần đảo Trường Sa. Tất cả những gì hiện hữu ở đây đã gợi lại khúc bi tráng về 64 liệt sĩ Gạc Ma đã vĩnh viễn nằm dưới lòng biển khơi, để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Công trình trung tâm của Khu tưởng niệm là Tượng đài chiến sĩ Gạc Ma sừng sững, hiên ngang cùng lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nền trời xanh thẳm. Tượng đài có tên “Những người nằm lại phía chân trời” khắc họa hình ảnh 64 người con quả cảm của Tổ quốc, trong giây phút cuối cùng, vẫn giữ chặt lá cờ Tổ quốc trên tay để đánh dấu chủ quyền trên đảo Gạc Ma. Trước lúc hy sinh, các anh đứng thành vòng tròn, quyết tâm bảo vệ lá cờ Tổ quốc giữa mênh mông biển trời Trường Sa và hóa thành Vòng tròn bất tử.
Từ khu tượng đài nhìn xuống là biểu tượng Vòng tròn bất tử với 64 đóa hoa tượng trưng cho 64 chiến sĩ cùng ôm lấy lá cờ đỏ và ngôi sao vàng năm cánh nổi trên mặt nước. Xúc động nhất là khi chúng tôi tận mắt chứng kiến những hiện vật ở khu Bảo tàng ngầm, được xây dựng bên cạnh Vòng tròn bất tử. Nơi đây là không gian linh thiêng đã bảo quản, lưu giữ hiện vật lịch sử về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và kỷ vật của các chiến sĩ Gạc Ma trong sự kiện ngày 14.3.1988.
Trong số những kỷ vật của các liệt sĩ được lưu giữ ở đây, câu chuyện về chiếc khăn (kỷ vật số 13) khiến chúng tôi không cầm được nước mắt. Chiếc khăn là do mẹ của liệt sĩ Vũ Văn Thắng (quê Thái Bình) tặng lại bảo tàng bởi chủ nhân của nó đã mãi mãi không về. Chiếc khăn này, anh cũng chưa từng quàng. Trước khi lên đường ra Trường Sa thì miền Bắc còn đang lạnh. Mẹ liệt sĩ đan khăn và dặn con cầm ra đảo quàng cho đỡ lạnh. Bà không biết rằng ở đảo quanh năm chỉ có nắng, gió, bão, mà không có mùa đông. Vì thế người con đã nói: “Mẹ ơi, mẹ để ở nhà, quàng trước đi, để mồ hôi của mẹ thấm vào chiếc khăn. Khi con về lấy đưa ra đảo, con nhớ mẹ, con quàng cho đỡ nhớ”. Thế nhưng, đã không bao giờ anh quay trở lại để lấy chiếc khăn của mình.
Ở vị trí số 6 là chiếc áo của liệt sĩ Phạm Huy Sơn (quê Nghệ An), cũng được vợ anh tặng lại cho bảo tàng. Đây là chiếc áo y sĩ, trước khi làm nhiệm vụ ở Trường Sa, anh đã để áo ở nhà cho vợ và dặn: “Khi nào con nhớ cha, thì đem áo ra đắp cho con đỡ nhớ”. Anh còn hứa với vợ là sẽ về đưa con đi khám bệnh vì cháu bị bệnh não, nhưng anh không thực hiện được lời hứa của mình…
Xin thắp một nén hương cho người nằm dưới biển
Cũng tại khu tưởng niệm, chúng tôi đã được nghe kể những câu chuyện xúc động về tấm di ảnh của liệt sĩ Trần Quốc Trị (quê Quảng Bình). Trước đây, trên tấm bảng ghi danh các liệt sĩ không có ảnh của anh, vì gia đình chỉ có một bức ảnh duy nhất anh chụp chung với bạn, nhưng cũng đã bị một cơn bão cuốn trôi.
Năm 2019, trong một lần đến đây, PGS-TS Ngô Văn Minh (Trưởng khoa Dân tộc và Tôn giáo, Học viện Chính trị Khu vực III) rất day dứt khi nhìn thấy một ô trống thiếu di ảnh. Ông hứa: “Tôi sẽ đi tìm di ảnh cho anh”. Trong những chuyến giảng dạy tại Quảng Bình, quê hương của liệt sĩ Trần Quốc Trị, ông luôn chia sẻ thông tin với nhiều học viên các khóa về tâm tư đi tìm di ảnh cho anh. Sau nhiều tháng tìm kiếm, ông may mắn tìm được di ảnh của anh ở nơi lưu giữ hồ sơ làm chứng minh thư. Vậy là anh đã được về “đoàn tụ” với gia đình và 63 đồng đội tại khu tưởng niệm.
Đến thăm khu mộ gió, khu vực tâm linh nhất của Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma, chúng tôi lặng đi vì xúc động. Mộ không có hài cốt, chỉ nhờ gió đưa hương hồn các anh hội tụ về đây. Trước mộ đặt bia tưởng niệm, ghi danh 64 liệt sĩ hy sinh tại đảo Gạc Ma. “Cha ơi con đã đến đây rồi”, giọng thiếu tá Lê Thị Minh Thủy (con gái duy nhất của liệt sĩ Lê Đình Thơ ở Thanh Hóa, hy sinh tại đảo Gạc Ma) khóc nghẹn, khi chạm tay lên tấm bia ghi tên cha mình. Đây cũng là lần đầu tiên sau 35 năm cha hy sinh, chị mới được đến thắp hương cho cha mình tại khu mộ gió. Bàn tay chị níu mãi vào dòng tên cha mà không muốn rời đi, khiến ai cũng rưng rưng xúc động. Chị cũng mồ côi cả mẹ cùng năm cha hy sinh vì mẹ chị đã không chịu nổi cú sốc đau đớn đó.
Chứng kiến hình ảnh này, nhà thơ Đinh Văn Hồng đã có bài thơ động viên chị Thủy: Thủy ơi em ơi. Hãy nén lại đau thương. Con đường còn dài lắm. Bên em. Còn đồng đội. Bên em. Còn nhân dân. Lau nước mắt đi em. Cha không lạnh đâu em. Cả trăm triệu đồng bào. Nước mắt ấm Biển Đông. Cho tháng năm Cha vắng. Kìa lá cờ chiến thắng. Giữa vòng tròn bất tử. Em ơi, đồng chí ơi. Giữa biển khơi mênh mông. Bia tưởng niệm hùng dũng. Gọi tên các Anh hùng. Cùng chúng ta giữ đảo. Xích lại gần anh bảo. Rồi sẽ có một ngày. Mình tát cạn Biển Đông. Đón Cha và đồng đội. Về thăm lại quê hương. Cha mãi là tấm gương. Của biết bao thế hệ. Dưới lá cờ tuyên thệ. Gìn giữ Tổ quốc mình.
Nhà thơ cũng đã gửi cho tôi nhiều bài thơ về Trường Sa, Hoàng Sa với sự tri ân sâu sắc những người đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền đất nước. Trong bài Một lần ra biển ông viết: Lấy máu mình giữ biển mãi màu xanh. Giữ lấy chủ quyền ông cha tạo dựng. Nơi biển cả bao linh hồn chứa đựng. Câu chuyện thần tiên khi biển yên bình. Phía đất liền những ngọn nến lung linh. Thả ra biển gọi hồn thiêng đất nước.
Hôm nay (14.3), ngày giỗ các liệt sĩ ở Gạc Ma, tôi và những người dân đất Việt sẽ luôn hướng về các anh, những người đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. Xin thắp một nén hương cho người nằm dưới biển!
BDN
![]()
Views: 0
Philippines tin tưởng vào vai trò quan trọng của Mỹ và các đồng minh trong kế hoạch khám phá các nguồn năng lượng ở Biển Đông.

Theo báo South China Morning Post (SCMP) ngày 11-3, Đại sứ Philippines tại Mỹ Jose Manuel Romualdez cho biết Manila đang tìm cách biến mối quan hệ an ninh ngày càng sâu sắc với Washington và các đồng minh thành lợi ích kinh tế rộng lớn hơn.
“Tới lúc chúng tôi bắt đầu khám phá (tài nguyên năng lượng), chúng tôi sẽ có các lựa chọn để tìm cách nào bảo đảm cho chuyến thám hiểm này. Chúng tôi đang làm việc chặt chẽ với các đồng minh, không chỉ Mỹ mà còn cả Nhật Bản và Úc”, ông Romualdez nói.
Ông cũng cho biết Philippines đang xem xét việc mời các công ty Mỹ đầu tư vào nỗ lực thăm dò cũng như phát triển năng lượng.
Philippines và các đồng minh “đang tiến hành một cách có tính toán”, đại sứ Philippines tại Mỹ cho biết và không tiết lộ nhiều về các kế hoạch.
“Đó là một phần trong chiến lược năng lượng của chúng tôi”, ông nói, đề cập đến chiến lược hạ giá điện để thu hút nhà đầu tư.
SCMP cho biết giá điện của Philippines thuộc vào hàng cao nhất trong khu vực.
Theo ông Romualdez, giá điện cao vẫn là một trong những trở ngại lớn nhất với các nhà đầu tư, song cũng là động lực thúc đẩy việc Philippines khám phá các nguồn năng lượng.
Hồi đầu năm nay, trong bối cảnh một mỏ khí đốt quan trọng sắp cạn kiệt, Philippines đã nhấn mạnh tính cấp bách của việc theo đuổi hoạt động thăm dò tài nguyên ở Biển Đông – vùng biển được Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ ước tính chứa một lượng dầu và khí đốt đáng kể.
Philippines phải nhập khẩu gần như toàn bộ nhu cầu nhiên liệu. Trong nhiều năm qua, Manila đã cố gắng thăm dò các nguồn năng lượng ở Biển Đông, bao gồm cả các nỗ lực thông qua quan hệ đối tác với Trung Quốc.
Tuy nhiên các cuộc thảo luận giữa Bắc Kinh và Manila đã bị đình trệ trong bối cảnh căng thẳng gia tăng do các vụ va chạm trên Biển Đông giữa tàu của hai nước.
Vào tháng trước, Philippines đã ra tín hiệu cởi mở đối với các cuộc đàm phán về năng lượng với Trung Quốc, song nhấn mạnh Manila sẽ không trao quyền kiểm soát các dự án cho Bắc Kinh.
Vào tuần này, Đại sứ Romualdez cũng cho biết Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đang nỗ lực tận dụng ảnh hưởng ngày càng tăng của mình để giành được các thỏa thuận cho đất nước.
Tổng thống Philippines sẽ có cuộc gặp Bộ trưởng Thương mại Mỹ Gina Raimondo vào hôm nay (11-3).
Theo SCMP, bà Raimondo dẫn đầu phái đoàn gồm 20 nhà điều hành các tập đoàn lớn của Mỹ như Microsoft, United Airlines, Google và một số công ty năng lượng đến Manila, nhằm tăng cường quan hệ kinh tế và thúc đẩy đầu tư vào Philippines.
BDN
![]()
Views: 0
Theo báo cáo của một tổ chức tư vấn Thụy Điển, bất chấp xung đột, Ukraine vẫn là nguồn cung cấp thiết bị quốc phòng lớn thứ ba của Trung Quốc. Mặt hàng nổi bật là tua-bin khí cho các tàu khu trục và động cơ cho máy bay chiến đấu/huấn luyện hạng nhẹ L-15.

Báo cáo của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI) công bố ngày 11/3 cho biết, nhập khẩu vũ khí của Trung Quốc trong giai đoạn 2019-2023 giảm 44% so với 5 năm trước đó, đưa nước này đứng ở vị trí thứ 10 trong danh sách những quốc gia nhập khẩu vũ khí nhiều nhất thế giới.
Nga cung cấp 77% nhu cầu của Trung Quốc, bao gồm động cơ máy bay và hệ thống trực thăng, tiếp theo là Pháp với 13%.
Bất chấp xung đột, Ukraine vẫn là nguồn cung cấp lớn thứ ba của Trung Quốc với 8,2%, cung cấp tua-bin khí cho các tàu khu trục và động cơ cho máy bay chiến đấu/huấn luyện hạng nhẹ L-15 của Bắc Kinh.
SIPRI không cho biết lượng nhập khẩu vũ khí của Trung Quốc từ Nga và Ukraine thay đổi như thế nào sau khi Nga mở chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine đầu năm 2022. Các báo cáo trước đây của viện này cho biết, Ukraine chiếm 5,9% tổng lượng vũ khí nhập khẩu của Trung Quốc trong giai đoạn 2017-2021.
Siemon Wezeman, nhà nghiên cứu cấp cao của Chương trình chuyển giao vũ khí thuộc SIPRI, cho biết Nga không thể thay thế Ukraine trong cung cấp một số thiết bị nhất định cho Trung Quốc.
“Nga không sản xuất các loại tua-bin khí hoặc động cơ phản lực cho tàu và máy bay mà Trung Quốc thiết kế. Nga thực sự cũng phụ thuộc vào Ukraine về những động cơ tương tự cho tàu và máy bay huấn luyện/chiến đấu của họ”, Wezeman cho biết.
Báo cáo phân tích, sự sụt giảm nhanh chóng trong nhập khẩu vũ khí của Trung Quốc nhìn chung là nhờ khả năng thiết kế và sản xuất của ngành công nghiệp vũ khí nội địa.
Trung Quốc đã nội địa hóa một số hệ thống trong vài năm qua, như động cơ cho máy bay chiến đấu và vận tải mà họ nhập khẩu từ Nga hay động cơ tàu từ Ukraine, Pháp và Đức.
Báo cáo lưu ý không có dấu hiệu nào cho thấy cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine ảnh hưởng đến mua bán vũ khí giữa Kiev và Bắc Kinh.
“Cuộc xung đột khiến các công ty Ukraine gặp nhiều khó khăn hơn trong việc cung cấp cho Trung Quốc, điều này có thể tạo thêm động lực để Trung Quốc tự làm. Tuy nhiên, chúng tôi chưa thấy rạn nứt chính trị giữa Ukraine và Trung Quốc ảnh hưởng đến quan hệ mua bán vũ khí”, báo cáo viết.
Nhìn chung, 6 trong số 10 nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới trong giai đoạn 2019–2023 tập trung ở châu Á và châu Đại Dương, gồm: Ấn Độ, Pakistan, Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Ấn Độ đứng đầu danh sách với 9,8% lượng nhập khẩu vũ khí toàn cầu, tăng từ mức 9,1% trong giai đoạn 2014-2018, phần lớn là do căng thẳng với Pakistan và Trung Quốc.
Nhật Bản và Hàn Quốc cũng nhập khẩu vũ khí nhiều hơn, trong đó lượng mua của Tokyo tăng 155% và Seoul tăng 6,5%. Mỹ là nguồn cung cấp lớn nhất cho cả hai nước.
“Có rất ít nghi ngờ rằng lượng nhập khẩu vũ khí cao kéo dài của Nhật Bản cũng như các đồng minh và đối tác khác của Mỹ ở châu Á và châu Đại Dương phần lớn là do một yếu tố chính”, Wezeman đánh giá.
Trung Quốc chiếm 19% thị phần xuất khẩu vũ khí ở khu vực châu Phi cận Sahara, vượt qua Nga (17%) để trở thành nhà cung cấp vũ khí lớn nhất cho khu vực trong giai đoạn 2019-2023.
Các nước châu Âu gần như tăng gấp đôi lượng nhập khẩu vũ khí trong giai đoạn 2014-2018 và 2019-2023, với hơn một nửa số vũ khí do Mỹ cung cấp.
Ukraine trở thành nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất châu Âu và lớn thứ tư trên thế giới sau khi có ít nhất 30 quốc gia cung cấp viện trợ quân sự để giúp Kiev trong cuộc xung đột với Nga.
Dù chiến sự đang diễn ra ở Dải Gaza và Biển Đỏ, lượng vũ khí nhập khẩu của khu vực Trung Đông giảm 12% trong giai đoạn 2019-2023 so với 5 năm trước đó. Tuy nhiên, 3 quốc gia, gồm Ả-rập Xê-út, Qatar và Ai Cập, nằm trong top 10 quốc gia nhập khẩu vũ khí nhiều nhất.
Về xuất khẩu, Trung Quốc bán vũ khí cho 40 quốc gia, đứng thứ tư về thị phần toàn cầu với mức ổn định 5,8%, dù khối lượng xuất khẩu giảm 5,3%.
Pakistan mua 61% lượng vũ khí xuất khẩu của Trung Quốc, tiếp theo là Bangladesh với 11% và Thái Lan 6%.
Xuất khẩu vũ khí toàn cầu của Mỹ tăng 17%, cung cấp cho 107 quốc gia trong 5 năm qua, nhiều hơn bất kỳ giai đoạn nào trước đó và nhiều hơn bất kỳ nhà xuất khẩu vũ khí nào khác. Thị phần chung của Mỹ đã tăng từ 34% lên 42%.
Pháp lần đầu tiên trở thành nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai với 11%, vượt qua Nga. Lượng xuất khẩu vũ khí của Nga giảm 53% trong giai đoạn 2014-2018 và 2019-2023.
Trung Quốc mua 21% lượng xuất khẩu của Nga, sau Ấn Độ với 34%.
BDN
![]()
Views: 0
Bộ trưởng Quốc phòng Litva – Arvydas Anusauskas tuyên bố Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) sẽ triển khai các hệ thống tên lửa phòng không Patriot do Mỹ sản xuất ở nước này. Litva có chung đường biên giới với vùng Kaliningrad của Nga cũng như với đồng minh Belarus của Nga.

Đài truyền hình nhà nước LRT dẫn lời Anusauskas trong cuộc họp báo ở Vilnius hôm 7/3: “Năm nay, hệ thống phòng không luân phiên cuối cùng sẽ đi vào hoạt động, ít nhất là một phần”.
“Mục tiêu của chúng tôi là có một đợt luân chuyển tương tự như nhiệm vụ kiểm soát trên không”, Bộ trưởng nói thêm, đề cập đến các chuyến tuần tra thường xuyên của máy bay NATO trong không phận Litva, Latvia và Estonia.
Năm ngoái, Mỹ và các đồng minh ở châu Âu đã chuyển giao một số khẩu đội Patriot cho Ukraine như một phần trong nỗ lực hỗ trợ Kiev đối phó với Mátxcơva.
Khối do Mỹ dẫn đầu đã triển khai thêm lực lượng tới Đông Âu và các nước vùng Baltic trong những năm gần đây, viện dẫn chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine.
Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg hồi tháng trước cảnh báo rằng liên minh phương Tây “phải chuẩn bị cho một cuộc đối đầu có thể kéo dài hàng thập kỷ”.
Về phần mình, Nga cho rằng việc NATO tiếp tục mở rộng về phía đông và sự hợp tác của khối này với Kiev là một trong những nguyên nhân sâu xa của cuộc xung đột hiện nay. Các quan chức Nga nhiều lần nhấn mạnh rằng Moscow coi các đơn vị quân đội NATO gần biên giới nước này là mối đe dọa an ninh quốc gia.
Hồi tháng 1, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova cảnh báo rằng việc đồn trú thêm lực lượng nước ngoài ở Litva “chỉ dẫn đến căng thẳng quân sự leo thang”.
BDN
![]()
Views: 0
Cho đến cuối Thế kỷ 19, Trung Quốc vẫn hiểu biết rất ít về quần đảo Hoàng Sa và có thái độ bàng quang, thờ ơ đối với quần đảo này. Điều đó thể hiện qua việc Tổng đốc Lưỡng Quảng (quan chức địa phương của Trung Quốc) trút bỏ trách nhiệm đối với vụ đắm tàu xảy ra tại quần đảo Hoàng Sa năm 1895 – 1896.

Đó là vụ đắm tàu của Đức Bellona và vụ đắm tàu của Nhật Imegi Maru. Hai chiếc tàu vận chuyển đồng này do các công ty Anh bảo hiểm. Hàng hóa trên tàu bị người đánh cá Trung Quốc lấy cắp và gặp phải sự lên án của công ty bảo hiểm. Tuy nhiên, các nhà chức trách Trung Quốc đã cãi lại và trút bỏ mọi trách nhiệm với lý do là quần đảo Hoàng Sa là các đảo đã bị bỏ rơi, không thuộc về Trung Quốc và đồng thời cũng không được sáp nhập vào bất cứ một huyện nào của đảo Hải Nam. Giới chuyên gia kết luận sự thờ ơ nói trên có thể coi như tuyên bố phủ quyết chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.
Mãi đến đầu thế kỷ 20, Trung Quốc mới quan tâm tới Hoàng Sa và bắt đầu những động thái sơ khai trong yêu sách chủ quyền thể hiện tham vọng thôn tính Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa. Đầu tiên là chuyến tàu của Đô đốc Lý Chuẩn tới Hoàng Sa năm 1909 với tên gọi “thị sát Tây Sa”. Tại đây, Lý Chuẩn đã thượng cờ và bắn đại bác tuyên bố chủ quyền. Chính điều này cho thấy rằng từ trước đến nay Trung Quốc chưa hề có chủ quyền tại Hoàng Sa. Tuy nhiên, vào thời điểm này quần đảo Hoàng Sa đã thuộc về Việt Nam, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã khai phá, thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ thế kỷ 16-17 và lúc bấy giờ chính quyền bảo hộ Pháp đang thay mặt nhà nước Việt Nam quản lý và thực thi chủ quyền. Pháp đã thay mặt Việt Nam phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và nêu rõ chủ quyền của Hoàng Sa đã được xác lập bởi Việt Nam. Trước yêu sách của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, ngày 18/2/1937 lần đầu tiên Pháp có công hàm gửi tới Trung Quốc đề nghị Trung Quốc giải quyết vấn đề bằng Trọng tài quốc tế, nhưng Trung Quốc đã từ chối.
Vào giữa thế kỷ 20, đặc biệt là giai đoạn sau Thế chiến 2, Trung Quốc dưới sự cầm quyền của Quốc Dân đảng đứng đầu là Tưởng Giới Thạch đã nhiều lần lăm le chiếm một số đảo thuộc cụm An Vĩnh. Lợi dụng tình hình rối ren khi Nhật đầu hàng đồng minh, giải giáp quân Nhật theo Hiệp định Postdam 1945 và Pháp dồn sức cho chiến trường Đông Dương, năm 1946, chính quyền Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch tiến đã xâm nhập trái phép đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Năm 1947, Pháp đã ra tuyên bố phản đối sự xâm nhập này, yêu cầu hai bên tiến hành đàm phán và giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế, nhưng chính quyền Trung Hoa Dân quốc lại một lần nữa từ chối. Chính quyền Tưởng Giới Thạch sau đó đã rút khỏi đảo Phú Lâm.
Đến năm 1956, tranh thủ nhập nhèm giữa lúc Pháp bàn giao lại quần đảo Hoàng Sa cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc, lúc này do đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo sau khi đánh đuổi Quốc Dân đảng ra đảo Đài Loan, đã lén lút đổ quân lên đảo Phú Lâm, bắt đầu thực hiện sự chiếm đóng đối với cụm An Vĩnh và Linh Côn.
Bắc Kinh đã từng bước thực hiện việc gặm nhấm quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam trong giai đoạn sau Thế chiến 2 và mưu toan thôn tính hoàn toàn quần đảo này, tuy nhiên trong giai đoạn trước những năm 70, quần đảo Hoàng Sa do Việt Nam Cộng hòa quản lý (theo Hiệp định Geneve 1954 về phân chia lãnh thổ Việt Nam) nằm dưới sự bảo trợ của Mỹ với sự hùng mạnh về quân sự nên Trung Quốc không dám có các hành vi manh động. Sau khi ký Hiệp định Paris tháng 1/1973, quân Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam và từng bước bỏ rơi chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đến đầu năm 1974, Trung Quốc nhận thấy cơ hội đã chín muồi cho một cuộc tấn công để chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
Cơ hội đó chính là cái bắt tay giữa Trung Quốc với Mỹ, để nước Mỹ làm ngơ trước các động thái của Bắc Kinh tại biển Đông. Cơ hội đó còn là tình hình chiến sự tại Việt Nam, khi mà Việt Nam Cộng hòa, là chủ sở hữu hợp pháp duy nhất đối với quần đảo Hoàng Sa lúc bấy giờ, đang dần bị Mỹ bỏ rơi và đang gặp nhiều khó khăn trên chiến trường ở trong nước. Trong tình cảnh khá đơn độc, khả năng bảo vệ Hoàng Sa của chính quyền Việt Nam Cộng hòa suy giảm nghiêm trọng, dù họ vẫn sở hữu lực lượng hải quân và không quân có thể nói là khá mạnh.
Ngày 11/1/1974, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố “nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc mà Việt Nam Cộng hòa chiếm cứ bất hợp pháp”. Để làm hậu thuẫn cho những lời tuyên bố vô căn cứ, Trung Quốc tung nhiều tàu đánh cá võ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ quân giả dạng ngư phủ lên các đảo không có lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng. Đến ngày 17/1/1974, tàu và quân lính Trung Quốc đã lởn vởn nhiều nơi quanh cụm Lưỡi Liềm và phía Việt Nam Cộng Hòa đã điều tàu và quân ra để bảo vệ Hoàng Sa.
Đêm 17 tháng 1 năm 1974, Chu Ân Lai nhận báo cáo tình hình Hoàng Sa từ Trường Lý Lực, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Sau đó Chu Ân Lai cùng với Diệp Kiếm Anh viết báo cáo gửi Mao Trạch Đông đề nghị phái quân ra quần đảo Hoàng Sa. Mao Trạch Đông phê vào bản báo cáo của Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh: “Đồng ý!” và nói rằng, “trận này không thể không đánh”; “xem ra không đánh một trận thì không bảo vệ được quyền và lợi ích của Trung Quốc trên biển”. Mao Trạch Đông giao cho Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình trực tiếp chỉ huy trận đánh tại quần đảo Hoàng Sa. Đây là trận đánh đầu tiên của Đặng Tiểu Bình khi mới được phục chức sau 7 năm đi “cải tạo”.
Ngày 18/1/1974, Chu Ân Lai triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc để thảo luận về tình hình Hoàng Sa và lập ra ban chuyên trách năm người để đối phó với các diễn biến có thể xảy ra tại Hoàng Sa. Ban chuyên trách gồm: Diệp Kiếm Anh (chủ nhiệm ban chuyên trách), Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Đặng Tiểu Bình và Trần Tích Liên. Ban chuyên trách nghe Phó Tư lệnh Hải quân Trung Quốc Tô Chấn Hoa báo cáo sau đó quyết định tấn công hạm đội Việt Nam Cộng hòa. Đồng thời, ban chuyên trách công bố bản hướng dẫn nhằm đánh lại các Tuần dương hạm của Việt Nam Cộng hòa. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, Hải quân Trung Quốc lập kế hoạch chuẩn bị cho chiến dịch.
Ngày 19/1/1974, chính quyền Bắc Kinh đã đưa quân tấn công lực lượng đồn trú của Việt Nam Cộng hòa trên quần đảo Hoàng Sa, gây ra cuộc hải chiến Hoàng Sa đẫm máu, kiến 74 binh sĩ (sau này tìm ra danh tính một binh sĩ nữa tổng cộng là 75) Việt Nam Cộng hòa hy sinh. Trong khi chiến sự đang diễn ra tại Hoàng Sa, Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa báo cáo lên Mao Trạch Đông đề nghị cho phép quân đội Trung Quốc chiếm tất cả các đảo do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Mao đã chấp thuận đề nghị này. Khi hải chiến Hoàng Sa kết thúc, sau khi nghe báo cáo, Đặng Tiểu Bình đã chỉ thị cho Quân khu Quảng Châu tiếp tục đánh chiếm các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật và Quang Ảnh.
Nhằm lên án hành động Bắc Kinh sử dụng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa, ngày 14/2/1974, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ra Tuyên cáo vạch trần hành vi vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế của Trung Quốc. Tuyên cáo nhấn mạnh: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo này”. Từ cuộc hải chiến Hoàng Sa, có thể rút ra 2 điều sau:
Thứ nhất, Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa giữa lúc tình hình quốc tế, khu vực có những diễn biến phức tạp, Washington nhận thấy sự thất bại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước quân đội Bắc Việt là không thể tránh khỏi hơn thế nữa lúc bầy giờ Trung Quốc và Mỹ có lợi ích song trùng trong việc chống lại Liên Xô nên Lầu Năm Góc đã nhắm mắt làm ngơ để Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa phục vụ yêu cầu chiến lược đó.
Theo các chuyên gia quân sự, quần đảo Hoàng Sa nằm khá gần các căn cứ hải quân và không quân Mỹ tại Philippines, việc Trung Quốc phái quân ra Hoàng Sa chắc chắn là không thoát khỏi sự phát hiện và theo dõi của Hải quân Mỹ. Tuy nhiên, việc các lãnh đạo Trung Quốc quyết định phái tàu ra Hoàng Sa mà không lo ngại sẽ dẫn tới xung đột với Mỹ, chứng tỏ rằng lãnh đạo cấp cao Mỹ – Trung Quốc đã ngầm có sự tán đồng với nhau trong việc Trung Quốc sẽ chiếm đánh Hoàng Sa, rằng khi nào Trung Quốc điều tàu thì hải quân Mỹ sẽ làm ngơ, coi như không biết chuyện đó. Cho tới năm 1974, Mỹ biết rằng họ sẽ thất bại ở Việt Nam nên đã ngầm “bật đèn xanh” cho Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa nhằm mượn tay Trung Quốc ngăn cản hạm đội Liên Xô hoạt động ở vùng Biển Đông.
Giới phân tích nhận định mâu thuẫn giữa Moscow và Bắc Kinh lên tới đỉnh điểm qua cuộc đụng độ biên giới năm 1969. Trung Quốc bắt đầu thực hiện sáng kiến đối ngoại mới bằng cách thúc đẩy quan hệ với Mỹ, cao trào là chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon tháng 2/1972, đưa Trung Quốc trở thành “đồng minh giai đoạn” của Mỹ để kìm chân và chống lại Liên Xô. Mỹ không muốn vụ Hoàng Sa ảnh hưởng tới mục tiêu chiến lược của mình là kéo Trung Quốc kiềm chế Liên Xô. Ngoài ra, Mỹ được cho là có một “toan tính” sâu xa hơn khi không can dự vào trận Hải chiến 1974 vì khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đều đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Việc Washington “làm ngơ” cho Bắc Kinh ngang nhiên chiếm Hoàng Sa sẽ tạo thù địch giữa Hà Nội và Bắc Kinh, dẫn đến chia rẽ giữa các nước cộng sản.
Trên vùng biển Đông ngoài khơi Việt Nam gần với đảo Hải Nam, Trung Quốc và quần đảo Hoàng Sa vào thời điểm đó có mặt Hải đoàn 77 (Task Force 77) của Hải quân Mỹ gồm hàng không mẫu hạm và các chiến hạm yểm trợ đủ khả năng hỗ trợ Hải quân Việt Nam Công hòa chống lại Bắc Kinh trong cuộc hải chiến Hoàng Sa. Tuy nhiên, Mỹ đã hoàn toàn đứng ngoài cuộc. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã nhiều lần thông báo tình hình trận Hoàng Sa với Đại sứ quan Mỹ nhưng Washington không hề có động thái hỗ trợ gì.
Nhiều tài liệu mật của Bộ Ngoại Mỹ giải mã trong thời gian qua đã chứng minh cho việc Washington ngầm “bật đèn xanh” cho Bắc Kinh đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Theo đó, từ năm 1970, Đô đốc Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ Elmo Zumwalt tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược phát triển các hải đảo của Hạm đội 7. Sau trận hải chiến Hoàng Sa, Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, từng báo cáo với Ngoại trưởng Mỹ lúc bấy giờ là ông Henry Kissinger rằng: “Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa, Hoàng Sa và các đảo khác có cùng vấn đề – đó là vùng lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó”. Ngày 23/1/1974, trong cuộc gặp với ông Hàn Tự, quyền trưởng phái đoàn liên lạc của Trung Quốc tại Washington, Ngoại trưởng Kissinger nói: “Mỹ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này”.
Các chuyên gia quân sự nhận định không quân của Việt Nam Cộng hòa với thực lực F-5 lúc bấy giờ có thể giúp Việt Nam Cộng hòa giành lại được Hoàng Sa từ tay Trung Quốc sau cuộc hải chiến hôm 19/1, song chính quyền Tổng thống Thiệu đã không ra lệnh cho chiến đấu cơ xuất kích để oanh tạc tàu chiến Trung Quốc. Nhiều tài liệu quốc tế cho rằng chính Mỹ đã gây áp lực để chính quyền ông Thiệu không ra lệnh xuất kích vì không muốn đụng chạm đến Trung Quốc, lo ngại điều này sẽ làm ảnh hưởng đến kế hoạch rút quân của Mỹ, ảnh hưởng đến việc cải thiện quan hệ Mỹ-Trung.
Thứ hai, Trung Quốc đã dùng tàu cá và dân quân biển đội lốt tàu cá làm mồi nhử, khiêu khích để đối Hải quần Việt Nam Cộng hòa nổ súng trước và Trung Quốc lấy cớ để tấn công vũ lực gây ra trận hải chiến Hoàng Sa đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Lấy cớ đó, Bắc Kinh ngang nhiên tuyên truyền rằng cuộc tấn công vào khu vực quần đảo Hoàng Sa năm 1974 chỉ mang tính “tự vệ”, tuy nhiên giới quan sát quốc tế chỉ rõ, tuyên truyền của Bắc Kinh là bịa đặt trắng trợn về bản chất cuộc hải chiến.
Chiến thuật dùng tàu cá và dân quân biển để thúc đẩy các yêu sách về lãnh thổ này tiếp tục được Bắc Kinh sử dụng đến tận ngày nay. Trong vụ việc chiếm Bãi cạn Scarborough của Philippines năm 2012, Bắc Kinh cũng dùng chiêu bài này. Trung Quốc cho tàu cá và tàu dân quân biển giả danh tàu cá khiêu khích để Philippines điều tàu chiến đến bảo vệ ngư dân thì Bắc Kinh điều ngay tàu chiến đến để khống chế toàn bộ Bãi cạn này. Trong mấy năm trở lại đây Trung Quốc có lúc đã cho hàng trăm tàu cá và tàu dân quân biển tụ tập ở khu vực Đá Ba Đầu thuộc quần đảo Trường Sa, gây căng thẳng ở Biển Đông.
Thời gian gần đây, giới chuyên gia nhận định trong mục tiêu độc chiếm Biển Đông, Bắc Kinh đề ra chiến lược 3 bước gồm: 1. Kiểm soát (1970-2010); 2. Làm chủ (2011-2025) và 3. Độc chiếm (2026-2050). Cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 đánh dấu một trong những bước đầu tiên trong chiến lược ba bước của Trung Quốc đối với Biển Đông. Ngay sau khi trận hải chiến Hoàng Sa kết thúc, Đặng Tiều Bình (thành viên Ban chuyên trách đánh Hoàng Sa) đã nói “Sân bay Tây Sa (tức Hoàng Sa) sau này nhất định phải xây, chỗ đó vị trí quan trọng, có thể vươn tới Nam Sa (tức Trường Sa, đồng thời khống chế Nam Sa (Trường Sa)”. Phát biểu của Đặng Tiểu Bình thể hiện rõ tham vọng bành trướng ở Biển Đông của Bắc Kinh.
Như vậy, trận hải chiến Hoàng Sa là một bước ngoặt trong chiến lược bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông. Hiện Trung Quốc đang dùng mọi thủ đoạn để triển khai bước 2, trong đó tiến hành bồi đắp mở rộng các thực thể ở quần đảo Hoàng Sa và những thực thể Trung Quốc chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa; quân sự hóa Biển Đông thông qua việc biến những thực thể này thành các đồn điền quân sự của chúng; đồng thời, Bắc Kinh đẩy mạnh chiến thuật “vùng xám” hòng từng bước làm chủ Biển Đông.
Sau khi đánh chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đã tiếp tục có nhiều hành động vi phạm luật pháp quốc tế để khẳng định chỗ đứng của mình như tự ý vạch đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa; quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa; truy đuổi ngư dân Việt Nam ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa…. Trước những hành vi hung hăng của Trung Quốc, chính quyền Washington nhận thức rõ những sai lầm khi đã làm ngơ để Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa. Thời gian gần đây, Hải quân Mỹ nhiều lần tiến hành tự do hàng hải (FONOP) ở khu vực Hoàng Sa và tuyên bố rõ ràng rằng mục tiêu của Hải quân Mỹ là bác bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc bảo vệ luật pháp quốc tế. Tóm lại, Trung Quốc đã có ý đồ thôn tính Hoàng Sa từ đầu Thế kỷ 20, quá trình thực hiện âm mưu này được đánh dấu bằng cuộc tấn công vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và tiếp tục được triển khai trong năm 50 năm qua. Đã có sự “đi đêm” giữa Bắc Kinh và Washington để Trung Quốc tấn công vũ lực quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, hành động sử dụng vũ lực của Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa như Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định hôm 20/1/2024 “là hoàn toàn đi ngược lại các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, không thể tạo ra danh nghĩa chủ quyền cũng như không làm thay đổi sự thật chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam”.
BDN
![]()
Views: 0
Hôm 7/3 Trung Quốc bất ngờ công bố Đường cơ sở trên Vịnh Bắc Bộ mà không hề bàn bạc, trao đổi với Việt Nam thì đây rõ ràng là một hành động tùy tiện, sai trái, bởi nó không tuân thủ Công ước quốc tế về luật biển.

Việc vạch ra hệ thống đường cơ sở là nhằm tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa, đường cơ sở của các hải đảo, quần đảo xa bờ, của các quốc gia có chủ quyền. Do vậy, vấn đề hệ trọng này thường có sự khác nhau, dẫn tới hình thành nên các vùng chống lấn to nhỏ khác nhau.
Đường cơ sở là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và là ranh giới phía ngoài của nội thủy, do nước ven biển quy định trên cơ sở phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOC-năm 1982). Đây chính là căn cứ để xác định phạm vi, chiều rộng của lãnh hải và các vùng biển khác như vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế.
Đương nhiên, không phải quốc gia nào cũng tự ý mình “vẽ” ra được. Vậy mà, trên trang chủ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc hồi đầu tháng 3/2024 đã công bố “7 điểm để hình thành đường cơ sở tại Vịnh Bắc Bộ”. Không ai còn lạ gì đây là vùng biển Việt Nam và Trung Quốc cùng chia sẻ quyền lợi chung.
Cái đường cơ sở quái dị này chưa từng tồn tại trong lịch sử. Vậy mà Bắc Kinh không rõ vì lý do gì quyết định công bố vào thời điểm này – thời điểm mà quan hệ hai nước đang có nhiều dấu ấn tốt đẹp.
Gần 30 năm trước, vào ngày 15/5/1996, Bắc Kinh đã công bố “49 điểm cơ sở cho vùng biển từ đảo Hải Nam đến Thanh Đảo” (không có điểm nào chung ở Vịnh Bắc Bộ). Vào năm 2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ, với lằn ranh rõ ràng để đường cơ sở mới không gây hại nhiều đến quyền lợi kinh tế của Việt Nam, miễn là Bắc Kinh không yêu cầu đàm phán lại.
Tưởng mọi tranh chấp đã được gác lại. Bỗng dưng một ngày xấu trời, Trung Quốc đã lại giở con bài đường cơ sở. Sự tùy tiện ở chỗ, họ không hề bàn bạc với Việt Nam. Một số điểm cơ sở mà Trung Quốc công bố cách bờ quá xa, vi phạm nghiêm trọng Luật biển của Liên hợp quốc.
Tạm gọi là “Đường cơ sở mới” mà Trung Quốc công bố chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động tự do hàng hải, lắp đặt cáp và đường ống dưới biển, cũng như hoạt động cải tạo đảo của Việt Nam. Theo Giáo sư Carl Thayer – Học viện Quốc phòng Australia – Đường cơ sở mới của Trung Quốc vừa vạch ra “dường như quá mức”. Nó sẽ dẫn đến tình trạng chồng lấn lớn hơn của vùng đặc quyền kinh tế của Hoa Lục với đường trung tuyến và khu vực đánh cá chung mà hai bên đã thống nhất tại Vịnh Bắc Bộ.
Thưa các nhà “thiết kế” biển Trung Quốc, các ngài đã sai rồi! Theo quy định tại điều 5 và điều 7 của Công ước, các quốc gia ven biển (không phải là quốc gia quần đảo) có hai loại đường cơ sở là đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng.
Đường cơ sở thông thường là ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc theo bờ biển. Còn nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển; hoặc bờ biển cực kỳ không ổn định do có sự hiện diện của các châu thổ hoặc các đặc điểm tự nhiên khác, thì áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng. Đường cơ sở này nối liền các điểm thích hợp để có thể sử dụng để vạch đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.
Cần lưu ý, đường cơ sở thẳng phải đáp ứng hai điều kiện quy định trong Công ước, đó là “tuyến các đường cơ sở thẳng không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển” và các vùng biển ở bên trong các đường có sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức đạt được chế độ nội thủy (khoản 3 điều 7).
Căn cứ theo Công ước, căn cứ theo địa hình bờ biển Việt Nam, đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam, ngày 12/11/1982, Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Theo đó, “đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam là đường thẳng gãy khúc nối liền các điểm có toạ độ ghi trong phụ lục kèm theo Tuyên bố này”.
Điều 8 của Luật Biển Việt Nam quy định: “Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn”.
Xem ra “ván đã đóng thuyền” hơn 40 năm nay. Nếu có gì cần điều chỉnh thì hai bên cần đàm phán, tiến hành hoạch định theo những nguyên tắc nhất định, tùy theo chế độ pháp lý của từng vùng biển và thềm lục địa do Công ước quy định. Thế nhưng, Bắc Kinh đã không đếm xỉa gì đến việc thương thuyết, cứ như Vịnh Bắc Bộ là của riêng họ.
Đến hiện tại chưa thấy Hà Nội có phản ứng gì. Nhưng chắc chắn trong vài ngày tới Bộ Ngoại giao nước này sẽ phải lên tiếng về đường cơ sở vô lối trên biển do Bắc Kinh vừa công bố tại Vịnh Bắc Bộ. Bởi đây là trò lố, không thể “cả vú lấp miệng em” như thế được.
BDN
![]()
Views: 0
Lãnh đạo các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Úc khuyến khích tất cả các nước hãy kiềm chế hành động đơn phương trước những hành động của Trung Quốc tại Biển Đông.

Theo Hãng tin Reuters, lãnh đạo các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Úc cho biết trong một tuyên bố chung khi kết thúc hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN – Úc ngày 6-3 rằng tất cả các nước nên kiềm chế hành động đơn phương ở Biển Đông, những hành động có thể gây nguy hiểm đến hòa bình, an ninh và ổn định tại khu vực đang tranh chấp.
Hãng tin AFP nhận xét những căng thẳng vốn đang âm ỉ trong hành lang thương mại Biển Đông có nguy cơ bùng phát vào đầu tuần này, khi các tàu của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp bị cáo buộc “quấy rối” các tàu tuần duyên của Philippines.
“Chúng tôi khuyến khích tất cả các nước tránh mọi hành động đơn phương gây nguy hiểm cho hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực”, tuyên bố chung của các nước ASEAN và Úc viết.
Hiện phía Trung Quốc vẫn chưa phản hồi về tuyên bố này.
Vào sáng 5-3, lực lượng đặc nhiệm của Chính phủ Philippines cho hay các tàu hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc đã “quấy rối, chặn đầu, triển khai vòi rồng và thực hiện các hoạt động nguy hiểm” dẫn đến va chạm giữa một tàu tuần duyên Philippines và một tàu hải cảnh Trung Quốc ở Biển Đông.
Quân đội Philippines cho biết Philippines đang tiến hành nhiệm vụ tiếp tế cho lực lượng nước này trên tàu chiến cũ BRP Sierra Madre ở bãi Cỏ Mây.
Phía Philippines nói rằng các tàu hải cảnh Trung Quốc gây ra hai vụ va chạm với các tàu Philippines và bắn vòi rồng vào một trong số các tàu này, khiến bốn thủy thủ đang thực hiện nhiệm vụ tiếp tế bị thương.
Trong khi đó, Thời báo Hoàn Cầu tường thuật hải cảnh Trung Quốc “đã thực hiện các biện pháp có kiểm soát một cách hợp pháp vào ngày 5-3 đối với một tàu Philippines xâm nhập trái phép vùng biển gần Nhân Ái Tiêu (cách Bắc Kinh gọi bãi Cỏ Mây)”.
BDN
![]()
Views: 0
Quyết định nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Úc đã được đưa ra sau buổi hội đàm giữa Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Anthony Albanese.

Sáng 7.3, sau lễ đón chính thức trọng thể tại Nhà Quốc hội, thủ đô Canberra với nghi thức cao nhất dành cho người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có cuộc hội đàm sâu rộng với Thủ tướng Úc Anthony Albanese.
Trên tinh thần chân thành, tin cậy, hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng trước sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ hữu nghị và Đối tác Chiến lược giữa hai nước, nhất trí nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện.
Thủ tướng hai nước cùng thống nhất phối hợp chặt chẽ để thực hiện 6 phương hướng lớn nhằm đưa hợp tác trên các lĩnh vực đi vào chiều sâu, hiệu quả, thực chất hơn.
Thứ nhất, tin cậy chính trị, ngoại giao cao hơn, chiến lược hơn. Theo đó, hai bên nhất trí tăng cường trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao; duy trì các cơ chế hợp tác song phương; triển khai hiệu quả các văn kiện ký kết và chuẩn bị xây dựng Chương trình Hành động cho giai đoạn 2024 – 2028; đẩy mạnh giao lưu nhân dân, tạo điều kiện cho các hội đoàn hữu nghị hai nước tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, từ thiện; tăng cường hợp tác thiết thực giữa các địa phương; đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực bình đẳng giới và bảo vệ quyền cho các nhóm dễ bị tổn thương…
Thứ hai, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư bao trùm, thực chất, hiệu quả hơn, tận dụng các tiềm năng của hai nền kinh tế có tính bổ trợ cao. Theo đó, hai bên nhất trí tạo thuận lợi cho việc mở cửa thị trường đối với các mặt hàng nông sản của nhau, hướng tới mục tiêu đa dạng hóa chuỗi cung ứng cho hai nước.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Úc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh, đầu tư tại Úc; hoan nghênh các doanh nghiệp Úc đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, đặc biệt là các dự án chất lượng cao, công nghệ hiện đại, là thế mạnh của Úc.
Thứ ba, thúc đẩy hợp tác khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh mạnh mẽ hơn. Hai bên nhất trí triển khai hiệu quả Bản Ghi nhớ trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Úc hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam; kêu gọi các doanh nghiệp công nghệ Úc hợp tác với các trung tâm đổi mới sáng tạo, công viên phần mềm, sản xuất chíp bán dẫn tại Việt Nam.
Thứ tư, hợp tác văn hoá, giáo dục – đào tạo, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu toàn diện, sâu sắc hơn. Hai bên nhất trí tăng cường các hoạt động giao lưu văn hoá; thúc đẩy hợp tác giáo dục nghề, tăng số lượng học bổng cho sinh viên Việt Nam sang học tập tại Úc; mở thêm chi nhánh các trường đại học lớn của Úc tại Việt Nam. Thúc đẩy ngành công nghiệp sản xuất hydrogen xanh tại Việt Nam; hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu, hỗ trợ Việt Nam đạt mục tiêu đưa mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Thứ năm, giao lưu nhân dân, kết nối giữa các thế hệ rộng mở và chân thành hơn. Ngoài các hợp tác tốt đẹp hiện nay, hai bên nhất trí thúc đẩy ký kết một thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực du lịch, phấn đấu đưa hai nước lọt vào nhóm các thị trường du lịch hàng đầu của nhau; sớm triển khai Bản Ghi nhớ giữa hai Chính phủ về việc hỗ trợ công dân Việt Nam làm việc trong ngành nông nghiệp Úc.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Chính phủ Úc tiếp tục tạo thuận lợi cho cộng đồng người Việt tại Úc sinh sống, lao động, học tập, thành lập các hội đoàn…
Thứ sáu, hiểu biết, thông cảm và chia sẻ nhiều hơn về hợp tác an ninh quốc phòng. Hai bên nhất trí triển khai hiệu quả Thỏa thuận Đối tác Gìn giữ Hòa bình; tiếp tục hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực đào tạo, huấn luyện, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, chia sẻ thông tin, trao đổi kinh nghiệm giữa các quân, binh chủng, khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng dữ liệu quốc gia…
Trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai Thủ tướng nhất trí tiếp tục ủng hộ lẫn nhau và hợp tác chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là Liên Hiệp Quốc, ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt.
Người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đánh giá cao quan điểm của Úc về ủng hộ thượng tôn pháp luật quốc tế ở khu vực và giải quyết tranh chấp tại Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.
Kết thúc hội đàm, hai Thủ tướng đã trao Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Úc, đồng thời chứng kiến lễ trao 11 văn kiện hợp tác trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo; gìn giữ hòa bình; bảo vệ người tiêu dùng; xúc tiến thương mại, đầu tư; khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo; tài chính; ngân hàng; nghiên cứu khoa học để phát triển nông, lâm, thủy sản; lao động; tài nguyên môi trường; năng lượng, khoáng sản.
BDN
![]()
Views: 0
Tuần duyên Philippines cho biết tàu của lực lượng này đã bị hư hại trong vụ va chạm với tàu hải cảnh Trung Quốc ở Biển Đông.

Hình ảnh được ông Jay Tarriela, người phát ngôn Lực lượng tuần duyên Philippines (PCG), đăng lên mạng xã hội X về vụ va chạm giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu tuần duyên Philippines ngày 5-3 – Ảnh: Lực lượng tuần duyên Philippines
Ngày 5-3, Philippines cáo buộc hải cảnh Trung Quốc có “những hành động nguy hiểm”, dẫn đến va chạm giữa một tàu tuần duyên Philippines và một tàu hải cảnh Trung Quốc ở Biển Đông, theo Hãng tin Reuters.
Video tàu hải cảnh Trung Quốc va chạm tàu tuần duyên Philippines ở Biển Đông
Ông Jay Tarriela, người phát ngôn Lực lượng tuần duyên Philippines (PCG), cho biết tàu của lực lượng này bị hư hại nhẹ.
Ông Jay Tarriela viết trên mạng xã hội X: “Sáng nay các tàu tuần duyên BRP Cabra và BRP Sindangan được đô đốc Ronnie Gil Gavan, chỉ huy Lực lượng tuần duyên Philippines, triển khai để hỗ trợ ‘hoạt động luân chuyển và tái cung cấp của Các lực lượng vũ trang Philippines’.
Trong suốt quá trình hoạt động, các tàu tuần duyên Philippines đã đối mặt với những hành động nguy hiểm và sự ngăn chặn từ các tàu hải cảnh và dân quân biển của Trung Quốc.
Hành động liều lĩnh và bất hợp pháp của họ đã dẫn đến vụ va chạm giữa tàu MRRV-4407 (tức tàu BRP Sindangan) và tàu hải cảnh Trung Quốc 21555, khiến tàu tuần duyên Philippines bị hư hại nhẹ về cấu trúc. Nhiệm vụ vẫn đang tiếp tục”.
Quân đội Philippines cho biết Philippines đang tiến hành nhiệm vụ tiếp tế cho lực lượng nước này trên tàu chiến cũ BRP Sierra Madre ở bãi Cỏ Mây.
Cùng ngày, Thời báo Hoàn Cầu tường thuật hải cảnh Trung Quốc “đã thực hiện các biện pháp có kiểm soát một cách hợp pháp vào ngày 5-3 đối với một tàu Philippines xâm nhập trái phép vùng biển gần Nhân Ái Tiêu (cách Bắc Kinh gọi bãi Cỏ Mây)”.
Thời gian qua Philippines tố tàu hải cảnh Trung Quốc và các tàu khác đã “quấy rối”, “ngăn chặn”, và thực hiện các hành động “nguy hiểm” nhằm vào tàu Philippines ở Biển Đông.
Chẳng hạn, Manila cáo buộc hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu chở hàng tiếp tế cho lực lượng Philippines ở bãi Cỏ Mây.
Hôm 4-3, Ngoại trưởng Philippines Enrique Manalo cho biết nước này muốn giải quyết các tranh chấp trên biển với Trung Quốc một cách hòa bình, nhưng Bắc Kinh “hãy dừng quấy rối chúng tôi”.
BDN
![]()
Views: 0
Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines phê phán gay gắt phát ngôn gần đây của quan chức ngoại giao Manila liên quan đến tình hình khu vực.

Hãng tin Reuters cho biết ngày 3-3, Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines đã phê phán gay gắt những phát ngôn liên quan đến Trung Quốc gần đây của Đại sứ Philippines tại Mỹ Jose Manuel Romualdez.
Cụ thể, hôm 28-2, ông Romualdez khẳng định Mỹ xem vấn đề Biển Đông và vấn đề Đài Loan là “mối quan tâm nghiêm túc”. Ông cũng cho rằng “ngòi nổ thật sự” chính là Biển Đông, nơi “rất nhiều cuộc đụng độ đã diễn ra”.
Đáp lại, Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines tuyên bố toàn bộ những gì ông Romualdez nói “không tôn trọng các sự thật căn bản”.
Phái đoàn ngoại giao này cho rằng những lập luận trên “thổi phồng vấn đề Biển Đông một cách độc hại, đưa ra những phỏng đoán và phỉ báng ác ý chống lại Trung Quốc”.
Đại sứ quán Trung Quốc không quên chỉ trích nặng nề việc Manila phối hợp quân sự cùng Washington: “Mời bầy sói vào nhà và hoạt động theo các nhóm nhỏ không những không giải quyết được khác biệt về Biển Đông mà còn làm phức tạp tình hình khu vực, xói mòn hòa bình và ổn định khu vực”.
Cuối cùng, cơ quan ngoại giao Bắc Kinh yêu cầu đại sứ Philippines tại Mỹ ngừng lan truyền “lý thuyết về mối nguy Trung Quốc” và “nỗi sợ bị hãm hại”, đồng thời ngưng “làm người phát ngôn cho những quốc gia khác”.
Phía Philippines hiện chưa phản hồi về tuyên bố trên.
Trước đó, hồi cuối tháng 2, Hãng tin Reuters cho biết phía Philippines khẳng định đã phát hiện sự hiện diện của các tàu hải quân Trung Quốc, khi tàu của Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản (BFAR) làm nhiệm vụ tuần tra gần bãi cạn Scarborough ở Biển Đông.
Tàu BFAR lúc đó cũng cung cấp nhiên liệu cho ngư dân Philippines trong khu vực. Theo lực lượng tuần duyên Philippines, con tàu này đã bị tàu hải cảnh Trung Quốc theo dõi và chặn lại.
Đến hôm 28-2, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. khẳng định sự hiện diện của hải quân Trung Quốc ở Biển Đông “sẽ không thể ngăn cản Philippines có những hành động để bảo vệ lãnh hải và ngư dân của mình”.
“Chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ tất cả ngư dân của mình, những ngư dân kiếm sống từ các ngư trường. Và chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ họ bất chấp những nỗ lực ngăn chặn, theo dõi” – Tổng thống Marcos nói với báo giới trước khi lên đường đi thăm Úc.
Bãi cạn Scarborough cách đảo Luzon của Philippines khoảng 230km và cách bờ biển đông nam Trung Quốc khoảng 1.000km.
Cả Trung Quốc và Philippines đều tuyên bố chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough. Năm 2012, Trung Quốc giành quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough từ tay Philippines.
BDN
![]()
Views: 0
Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Đức thừa nhận cuộc thảo luận giữa các sĩ quan nước này về việc hỗ trợ Ukraine trong một cuộc tấn công vào cầu Crimea là có thật.

“Theo đánh giá của chúng tôi, một cuộc trò chuyện trong Lực lượng Không quân đã bị chặn thu”, Người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Đức tuyên bố hôm 2/3.
Tuyên bố được đưa ra một ngày sau khi Tổng biên tập kênh truyền hình RT Margarita Simonyan cho biết đã nhận được đoạn ghi âm các cuộc trò chuyện từ các quan chức an ninh Nga.
Bà Simonyan ban đầu công bố bản ghi âm cuộc trò chuyện bằng tiếng Nga, sau đó đăng bản ghi âm bằng tiếng Đức lên mạng xã hội.
Bà cho biết các sĩ quan quân sự Đức được cho là đã thảo luận về một chiến dịch đánh bom cầu Crimea.
Đoạn ghi âm dài 38 phút ngày 19/2 ghi lại cuộc trò chuyện giữa bốn sĩ quan của lực lượng không quân Đức, trong đó có chỉ huy của lực lượng này, Trung tướng Ingo Gerhartz.
Các sĩ quan Đức đã thảo luận về các chi tiết hoạt động và nhắm mục tiêu của tên lửa tầm xa Taurus mà Đức đang xem xét gửi tới Kiev.
Các sĩ quan cũng thảo luận về việc đưa ra tuyên bố bác bỏ hợp lý trong trường hợp xảy ra vụ tấn công vào cầu Crimea nhằm giúp Berlin tránh bị lôi kéo vào cuộc xung đột giữa Kiev và Moscow.
Trước đó, truyền thông Đức cũng đưa tin đoạn ghi âm có vẻ là xác thực. Hãng tin DPA của Đức cho biết các sĩ quan đã trao đổi bằng cách sử dụng nền tảng gọi điện, nhắn tin và họp trực tuyến Webex. Der Spiegel cho rằng “theo đánh giá ban đầu, khả năng làm giả với sự hỗ trợ của AI (trí tuệ nhân tạo) phần lớn đã bị loại trừ”.
Thủ tướng Đức Olaf Scholz đã gọi vụ rò rỉ là “vấn đề rất nghiêm trọng”.
“Đó là lý do vụ việc này đang được điều tra rất kỹ lưỡng, cẩn trọng và nhanh chóng”, ông nói, đồng thời cho biết một cuộc điều tra như vậy là “cần thiết”.
Tuy nhiên, ông không bình luận về nội dung đoạn ghi âm và không nói rõ liệu Berlin có biết về kế hoạch mà các sĩ quan quân đội cấp cao thảo luận hay không.
Một số chính trị gia Đức cho rằng vụ việc có thể còn có những hệ lụy sâu xa hơn. Vụ việc đã vấp phải sự chỉ trích mạnh mẽ từ các chính trị gia Đức.
Cầu Crimea được xây dựng từ năm 2016 đến năm 2018 và là tuyến đường sắt và đường bộ duy nhất nối bán đảo Crimea với đất liền Nga.
Moscow đã mở một hành lang trên bộ rộng lớn tới Crimea sau khi Nga tuyên bố sáp nhập 4 vùng ở Ukraine vào mùa thu năm 2022.
Sau khi bùng nổ xung đột giữa Nga và Ukraine, nhiều quan chức và chỉ huy Ukraine, bao gồm Tổng thống Volodymyr Zelensky, đã đe dọa phá hủy cầu Crimea.
Cầu Crimea, dài 18km, đã nhiều lần trở thành mục tiêu của tên lửa và máy bay không người lái của hải quân Ukraine, nhưng Nga tuyên bố hầu hết các cuộc tấn công đều bị đẩy lùi.
Sau những vụ tấn công liên tiếp nhằm vào cầu Crimea, Moscow huy động nhiều biện pháp nhằm bảo vệ công trình huyết mạch này.
BDN
![]()
Views: 0