Category Archives: Ostsee Vietnam

Hải quân Việt Nam chuẩn bị tham gia Diễn tập hàng hải Milan tại Ấn Độ

Ấn Độ sẽ chủ trì tổ chức cuộc Diễn tập Hàng hải đa phương quy mô lớn mang tên Milan từ ngày 19-27/2 tại thành phố Visakhapatnam, bang miền Đông Andhra Pradesh. Hải quân Nhân dân Việt Nam cũng sẽ cử tàu chiến tham dự hoạt động.

Diễn tập Hàng hải Milan 2024, với chủ đề “Xây dựng liên minh hải quân vì một tương lai hàng hải an toàn”, có sự tham gia của các lực lượng hải quân từ hơn 50 quốc gia. Tham gia cuộc diễn tập, phía Việt Nam cử Tàu 20 thuộc Hải đội 132, Lữ đoàn 172, Vùng 3 Hải quân cùng đoàn công tác Hải quân Nhân dân Việt Nam do Đại tá Đoàn Bảo Anh, Phó Tư lệnh Vùng 3 Hải quân, làm Trưởng đoàn.

Theo thông cáo của Hải quân Ấn Độ, cuộc diễn tập Milan 2024 nhằm tạo cơ hội cho các bên tham gia chia sẻ ý tưởng nhằm tăng cường an ninh trên biển và đảm bảo an toàn cho thương mại hàng hải vì sự tăng trưởng và thịnh vượng của tất cả các bên.

Cuộc diễn tập năm nay sẽ được tổ chức trong hai giai đoạn. Giai đoạn 1 diễn ra tại cảng, từ ngày 19-23/2, sẽ bao gồm các hoạt động như diễu hành quốc tế, hội thảo hàng hải quốc tế, triển lãm công nghệ hàng hải và trao đổi cấp chuyên gia về các chủ đề liên quan… Trong giai đoạn 2, các hoạt động tương tác diễn ra trên biển, hải quân các nước tham dự sẽ tiến hành các cuộc diễn tập phòng không, chống tàu ngầm và các hoạt động trên mặt nước. Các lực lượng cũng sẽ diễn tập bắn đạn thật vào các mục tiêu trên không và trên mặt nước, cũng như các hoạt động tiếp tế.

Ngoài việc xây dựng sự kết nối và tăng cường mối quan hệ, cuộc diễn tập trên biển sẽ góp phần tăng cường khả năng tương tác, tạo điều kiện để các bên tham gia trao đổi các kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất và tăng cường hợp tác trong thực hiện các nhiệm vụ trong tương lai, nhằm giải quyết các thách thức chung.

BDN

Loading

Views: 0

Thế cục Biển Đông và ứng phó của Việt Nam

Làm gì để giữ hòa bình, ổn định trên Biển Đông? Đó là câu hỏi tưởng như đã cũ nhưng lại rất mới, bởi tình hình thế giới và khu vực đã và đang có những thay đổi nhanh chóng, bất ngờ.

Khi nói đến tình hình, có ba điểm tác động rất mạnh đến sự yên ả hay sóng gió trên Biển Đông. Có một mối họa đối với Trung Quốc, tuy “xa” mà rất “gần” – mối họa sự can thiệp của Mỹ, nhất là khi cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump có thể trở lại làm Tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ tới. Một vị Tổng thống quyết tâm làm cho nước Mỹ “vĩ đại trở lại”, thề không để Trung Quốc làm mưa làm gió trên Biển Đông, vì lợi ích của Mỹ ở khu vực này là rất lớn.

Một mối họa khác đã hiện hữu là cuộc bầu cử ở Đài Loan vừa kết thúc với sự thắng lợi của Đảng Dân Tiến. Ông Lại Thanh Đức, người của Đảng này đã ngồi vào ghế Tổng thống. Bắc Kinh coi ông Lại là kẻ “li khai nguy hiểm”, bởi quan điểm cứng rắn của ông về một Đài Loan độc lập, quan điểm này không khác gì so với cựu Tổng thống Thái Anh Văn.

Theo các nhà bình luận quốc tế, “Kịch bản ác mộng” thật sự của Bắc Kinh không nhất thiết là chứng kiến Lại Thanh Đức đắc cử tổng thống Đài Loan, mà cần nhìn xa hơn là sự kết hợp giữa Lại Thanh Đức và có lẽ là Donald Trump, nếu Trump quay trở lại Nhà Trắng vào cuối năm 2024.

Mối họa thứ ba là, những căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên. Đầu năm 2024, trong thông điệp năm mới, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố: “Thống nhất đất nước là tất yếu lịch sử, đồng bào hai bờ chung tay đồng tâm, cùng hưởng vinh quang vĩ đại của sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa”. Có nghĩa là Trung Quốc đủ tỉnh táo trong vấn đề thu hồi Đài Loan trong hòa bình. Thế nhưng, căng thẳng ở biển Hoàng Hải giữa Hàn Quốc với Triều Tiên lại đang bùng phát dữ dội.

Từ đây có thể nảy sinh vấn đề: Phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên sẽ là ưu tiên hàng đầu trong chính sách của Nhà Trắng nếu Donald Trump đắc cử Tổng thống Mỹ. Khi ấy, mối quan tâm của Wasinghton đối với Biển Đông sẽ được giảm bớt. Mỹ sẽ đẩy trách nhiệm, làm tăng vai trò của các đối tác đồng minh của họ trong các vấn đề ở Biển Đông.

Năm 2024 cũng sẽ là một năm các nước ASEAN có sự điều chỉnh chiến lược ngoại giao và chính sách trên Biển Đông. Dự báo các cuộc diễn tập quân sự hỗn hợp giữa Mỹ với các quốc gia ven Biển Đông sẽ nhiều hơn về số lượng, lớn về quy mô, nâng cấp hơn về nội dung diễn tập. Các cuộc diễn tập quân sự không phải cốt để chống khủng bố, cướp biển mà giống như một sự răn đe Trung Quốc.

Căng thẳng giữa Trung Quốc- Philippines đang bị đẩy lên cao. Hôm 22/01/2024, Manila lên án hành động của hải cảnh Trung Quốc gây tổn hại đến ngư dân Philippines.

Một quốc gia vốn “hiền lành” như Brunei bỗng tỏ ra cứng rắn. Bộ Ngoại giao nước này đã ra tuyên bố khẳng định “duy trì cách tiếp cận hai bước trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông”; đối với các vấn đề cụ thể cần được giải quyết song phương bởi các quốc gia có liên quan trực tiếp thông qua đối thoại và tham vấn hòa bình. Các động thái này diễn ra khi Trung Quốc muốn đưa Brunei vào trục chiến lược của mình để không bị Mỹ lôi kéo.

Còn Malaysia thì chọn cách tiếp cận ôn hòa với hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc, tránh gây căng thẳng trong khu vực, thúc đẩy các bên đối thoại hòa bình. Đây cũng là cách của nhiều quốc gia có tranh chấp chủ quyền, đó là, hợp tác với Mỹ trên một mức độ nào đó, nhưng vẫn ngần ngại trước sức mạnh Trung Quốc.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn rộng ra thế giới xem các lực lượng bên ngoài sẽ can dự ra sao? Trước hết, hệ thống liên minh, đồng minh trên khắp thế giới của Mỹ có ưu thế vượt trội về mặt quân sự so với nhiều quốc gia khác. Tại khu vực Đông Nam Á – Biển Đông điển hình có cơ chế Tứ giác An ninh QUAD, chiến lược “liên kết tam hải” JAPHUS và bộ đối tác An ninh Ba bên Mỹ – Anh – Úc (AUKUS).

Tuy các thành viên không bao gồm các quốc gia Đông Nam Á, nhưng Đông Nam Á lại nằm trong phạm vi hoạt động trọng điểm của AUKUS. Ấy là chưa kể còn nhiều cơ chế hợp tác kinh tế, an ninh Mỹ lập nên để thu hút sự ủng hộ. Sự xuất hiện của các lực lượng bên ngoài khu vực ở Biển Đông sẽ góp phần làm giảm tình trạng mất cân bằng trong kết cấu an ninh khu vực để cùng kiềm chế Trung Quốc.

Trong bối cảnh nêu trên Việt Nam cần có những đối sách gì? Đối với khu vực ASEAN, quan hệ của khu vực với Bắc Kinh và Washington có xu hướng phân hóa dựa vào tầm ảnh hưởng thực tế của hai siêu cường. Còn đối với Việt Nam, nước này đang xây dựng mối quan hệ tích cực và cân bằng với cả Mỹ và Trung Quốc.

Hà Nội nhận rõ một điều, kể từ năm 2014, sau sự kiện Hải Dương-981 vi phạm chủ quyền Việt Nam trên biển, và sự hiện diện ngày càng gia tăng của hải quân Mỹ trong khu vực, đã đặt ra bài toán hóc búa trong việc điều hòa mối quan hệ của Việt Nam với hai siêu cường.

Năm 2023, Việt Nam – Mỹ nâng mức hợp tác lên Đối tác chiến lược toàn diện. Song không có nghĩa là từ đây Việt Nam dựa hẳn vào Mỹ để phục vụ cho việc đấu tranh gìn giữ chủ quyền biển đảo, bởi lợi ích cốt lõi của Việt Nam và các cường quốc có sự khác biệt rất lớn.

Từ tình hình trên, Hà Nội thể tập trung làm tốt một số công việc sau: Một là, tạo ra sự thống nhất về nhận thức và quan điểm, giữ vững ổn định nội bộ, ổn định chính trị trong nước; hai là, giữ vững chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, mang bản sắc “ngoại giao cây tre”, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, kiên trì thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”; ba là, tôn trọng vị thế nước lớn và đạt được sự cân bằng chính sách đối với cả Mỹ và Trung Quốc; bốn là, chủ động trong thúc đẩy quan hệ hợp tác cùng có lợi với các nước lớn phù hợp với lợi ích chính đáng của tất cả các bên có liên quan; năm là, dựa trên nền tảng ngoại giao đa phương, lấy ASEAN làm trung tâm và dựa vào hệ thống luật pháp quốc tế làm trung gian trọng tài xử lí các tranh chấp.

Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các nước trong khu vực như Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei để tăng cường hợp tác đa phương hẹp về vấn đề Biển Đông. Sự phối hợp chặt chẽ, ăn ý này bao gồm cả việc tổ chức đối thoại 5 bên, thậm chí tổ chức các cuộc tập trận chung trên biển, tuần tra chung và các hoạt động giao lưu hữu nghị trên các đảo, đá trong khuôn khổ đa phương hẹp.

BDN

Loading

Views: 0

Philippines cáo buộc TQ “hung hăng” trên biển

Ngày 11/2, Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines đã cáo buộc Trung Quốc thực hiện các hoạt động nguy hiểm và gây cản trở việc đi lại của tàu của nước này tuần tra gần bãi cạn Scarborough ở Biển Đông.

Lực lượng bảo vệ bờ biển Manila cho biết trong một tuyên bố rằng trong cuộc tuần tra kéo dài 9 ngày gần bãi cạn này bằng tàu Teresa Magbanua dài 97 mét, 4 tàu của lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc đã tiến hành theo dõi chiếc tàu này hơn 40 lần.

Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines cho biết 4 tàu dân quân biển Trung Quốc cũng có mặt gần bãi cạn này.

Nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, nhưng bãi cạn Scarborough vẫn được Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố chủ quyền. Tranh chấp này khiến bãi cạn trở thành một trong những thực thể biển có nhiều tranh chấp nhất ở châu Á và là điểm có nguy cơ cao bùng phát vụ xung đột.

Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines cho biết tàu của họ đang có mặt trong khu vực này, nơi vẫn được xem là ngư trường truyền thống của Philippines.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông, nơi vận chuyển hàng hải trị giá hơn 3 nghìn tỷ USD mỗi năm. Các tuyên bố về lãnh thổ của Trung Quốc chồng chéo lên các vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Brunei.

Vào năm 2016, Tòa án Trọng tài Thường trực ở La Hay cho biết những yêu sách trên của Trung Quốc ;là không có cơ sở pháp lý ,tuy nhiên Bắc Kinh đã bác bỏ những nội dung này.

BDN

Loading

Views: 0

“Bóng bay” làm “nóng eo biển

“Eo biển” trường hợp này là eo biển Đài Loan; còn “bóng bay” là một cách nói về sự kiện khinh khí cầu bay ngay phía trên hòn đảo này ngay trước thềm năm mới Giáp Thìn.

Vào tháng 1 năm nay, Đài Bắc từng đã 2 lần công bố phát hiện các khinh khí cầu Trung Quốc bay qua eo biển Đài Loan. Không rõ do thận trọng hay không muốn phức tạp thêm tình hình giữa hai bờ vốn đã và đang căng thẳng bấy nay, Đài Bắc chỉ nói một cách dè dặt: Các khinh khí cầu này có thể “đe dọa nghiêm trọng” đối với an toàn hàng không quốc tế vì đường bay của chúng, chứ chưa gắn vào đó các cáo buộc mang tính chính trị.

Vậy mà Bắc Kinh đã đùng đùng nổi giận, cho rằng, khinh khí cầu của Trung Quốc chỉ là phục vụ mục đích nghiên cứu khí tượng, và kêu gọi Đài Loan bỏ kiểu ăn nói hồ đồ, làm nghiêm trọng hóa sự việc.

Tuy nhiên, lần mới nhất này thì khác.Thông tin do Cơ quan Phòng vệ Đài Loan thông báo ngày 9/2: Đã phát hiện khinh khí cầu Trung Quốc ở độ cao từ 4.500 m đến 11.600 m, ngay trên vùng trời của hòn đảo. Mà có ít đâu: một “đàn” tới 8 quả – con số nhiều nhất kể từ khi Đài Bắc bắt đầu thường xuyên công bố dữ liệu về việc này vào tháng 12/2023.

Khác với sự đốp chát một cách nhanh nhảu trước kia, tận thời điểm này, Bắc Kinh vẫn chưa đưa ra phản ứng.

Cái im lặng khác thường của Bắc Kinh hóa ra càng làm dấy lên những lo lắng, dị nghị. Một số người thì cho rằng, nên coi im lặng cũng là một cách phản ứng. Thì đấy, cuối năm ngoài, Bắc Kinh chẳng đã nói rõ các khinh khí cầu chỉ để “phục vụ mục đích nghiên cứu khí tượng, thời tiết” đó sao. Lần này, dù “lượng” (số khinh khí cầu) tăng, nhưng tính chất vẫn thế. Vẫn thế thì hà tất phải nói lại cho “phí lời”, nhất là hạ mình đôi co với một hòn đảo mà lâu nay Trung Quốc chỉ coi là một tỉnh, trước sau gì cũng thu hồi.

Tuy nhiên, không ít người am hiểu thời cuộc, quan tâm tới câu chuyện Đài Loan, thì nghĩ khác. “Quá tam ba bận”, mới qua tháng đầu vắt sang tháng sau được ít ngày, mà thả khinh khí cầu ba lần, lần sau nhiều hơn lần trước, thì chẳng thể tin chỉ nhằm mục đích chuyên môn thời tiết. Người có tý kiến thức thiên văn, thì càng hoài nghi hơn, cho rằng: hai bờ eo biển Đài Loan cách nhau có bao xa mà phải thu thập nhiều đến thế các thông số kỹ thuật…?

Nghĩa là, cái sự thanh minh, thanh nga nóng nảy của Bắc Kinh hồi cuối năm ngoái chẳng thể tin được. Hàng đàn khinh khí cầu, cùng tần xuất cao, nhất định Bắc Kinh nhằm một mục tiêu khác.

Từ cái khác này, họ không thể không liên hệ vụ “bóng bay” Trung Quốc “lạc” vào không phận Mỹ hồi tháng 2 năm 2022. Cùng là khinh khí cầu, nhưng cái khác ở đây là chuyện xảy ra giữa hai siêu cường đang gầm gừ nhau, chứ không phải giữa Trung Hoa đại lục và hòn đảo nhỏ nhỏ tý Đài Loan đang muốn thoát ly đại lục. Chính thế, khinh khính cầu đã tạo nên một cuộc khủng hoảng thực sự Mỹ – Trung. Vụ việc càng căng thẳng hơn khi Mỹ dùng tên lửa trị giá nửa triệu USD bắn hạ không thương tiếc khinh khí cầu trị giá có vài chục USD của Trung Quốc, vì cho rằng, nó đang thực thi việc “do thám, thu thập tin tức tình báo” nước Mỹ.

Nhà ngoại giao hàng đầu Trung Quốc Vương Nghị đã dùng các cụm từ “không thể tưởng tượng được”, “quá kích động”, “vô lý”, “vi phạm các chuẩn mực quốc tế”, “manh động”… để cáo buộc cách phản ứng của Mỹ.

Nhưng với Mỹ, thế cũng còn là chưa đủ. Ngay sau đó, ngoại trưởng Mỹ Blinken đã hủy chuyến thăm Trung Quốc (do đích thân tổng thống Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đấu mối nhân nhà lãnh đạo gặp nhau tại hội nghị thượng đỉnh G20 ở Indonesia vào tháng 11/2021). Dư luận đều biết, bằng cú hãm bang giaop này, Washington coi đó như sự trừng phạt cho những hành vi nghiêm trọng mà Bắc Kinh cố tình thực hiện nhằm vào nước Mỹ.

Bảy tháng sau, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ – ông Mark Milley – mới cho biết: “Tóm lại, đó là một khinh khí cầu do thám nhưng nó không làm nhiệm vụ do thám…”. Nên hiểu rằng, đó không phải một câu đãi bôi, ân hận. Một siêu cường ngạo mạn như Mỹ, cho dù do thám hay không, chỉ cần “đụng” tới không phận nước Mỹ, Washington lệnh khai hỏa tên lửa để bắn hạ là điều không thể nghi ngờ…

Sau vụ việc căng thẳng nêu trên, Trung Quốc, chừng như thấm thía cái giá phải trả, đồng thời, cảnh giác về những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, đã “đình chỉ chương trình khinh khí cầu giám sát” – theo giới thạo tin phương Tây lan truyền. Nhưng “đình chỉ…” nếu có, chỉ là với Mỹ, chứ không bao gồm các khu vực, đối thủ, đối tượng khác, trong đó có Đài Loan. Thế nên, trong hơn năm qua, các vụ thả khinh khí cầu lơ lửng trên eo biển Đài Loan, thậm chí, bay ngang qua hòn đảo ly khai Đài Loan, đã liên tục diễn ra. Các vụ việc diễn ra ngay trước và sau bầu cử lãnh đạo và Đài Loan cùng thắng lợi của ông Lại Thanh Đức – nhân vật chính trị mà Bắc Kinh cho là “”kẻ ly khai nguy hiểm” càng cho thấy, cùng với may bay, tàu chiến, việc Trung Quốc sử dụng khinh khí cầu như biện pháp đe dọa Đài Loan, không chỉ là câu chuyện suy diễn, thêu dệt, mà nhiều khả năng là sự thật.

Mới đầu năm, eo biển Đài Loan đã có chiều hướng “nóng” hơn năm ngoái rồi.

BDN

Loading

Views: 0

TQ chính thức khai trương trạm nghiên cứu Nam Cực thứ 5

Trạm nghiên cứu Nam Cực thứ 5 của Trung Quốc ngày 7/2 đã chính thức đi vào hoạt động. Trạm mang tên Tần Lĩnh (Qinling) và là trạm nghiên cứu đầu tiên của nước này hướng tới khu vực Thái Bình Dương.

Thông tin khai trương trạm khoa học Tần Lĩnh được Bộ Tài nguyên thiên nhiên Trung Quốc công bố ngày 7/2. Đây là trạm nghiên cứu khoa học thứ 5 của nước này được xây ở Nam Cực, tiếp sau các trạm Trường Thành, Trung Sơn, Côn Lôn và Thái Sơn.

Trạm Tần Lĩnh nằm trên đảo Inexpressible thuộc biển Ross của Nam Cực, có diện tích 5.244 mét vuông. Đây cũng là trạm nghiên cứu khoa học quanh năm thứ 3 sau các trạm Trường Thành và Trung Sơn, đồng thời là trạm nghiên cứu đầu tiên hướng với khu vực Thái Bình Dương.

Biển Ross, nơi đặt trạm Tần Lĩnh, là vùng biển gần Nam Cực nhất và là nơi lý tưởng cho các chuyến thám hiểm khoa học vùng cực. Dự kiến, sau khi hoàn thành, trạm này có thể chứa 80 người vào mùa Hè và 30 người vào mùa Đông.

Cùng ngày, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã gửi thư chúc mừng việc nước này hoàn thành xây dựng trạm Tần Lĩnh và hoạt động của nó ở Nam Cực. Lưu ý rằng năm nay đánh dấu kỷ niệm 40 năm Trung Quốc thám hiểm vùng cực, ông nhấn mạnh, hoạt động nghiên cứu vùng cực của nước này đã đạt được những thành quả to lớn và “việc hoàn thành trạm Tần Lĩnh sẽ mang lại sự đảm bảo mạnh mẽ cho các nhà khoa học Trung Quốc và trên thế giới tiếp tục khám phá những bí ẩn của thiên nhiên và dũng cảm leo lên đỉnh cao của khoa học”.

Chiều ngày 7/2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân cho biết, cơ sở nghiên cứu này sẽ giúp nâng cao hiểu biết khoa học của nhân loại về Nam Cực, tạo nền tảng để Trung Quốc hợp tác với các nước trong các cuộc thám hiểm khoa học, thúc đẩy việc phát triển hòa bình và bền vững khu vực này.

Trong khi đó, theo ông Hà Kiếm Phong, nghiên cứu viên của Trung tâm Nghiên cứu Địa cực Trung Quốc, trạm Tần Lĩnh sẽ giúp nước này lấp đầy khoảng trống ở khu vực Thái Bình Dương về mặt bố trí mạng lưới quan sát dài hạn và giúp hiểu sâu hơn về những thay đổi môi trường ở toàn bộ khu vực quanh Nam Cực. Ba trạm nghiên cứu quanh năm gồm Trường Thành, Trung Sơn và Tần Lĩnh lần lượt tương ứng với các khu vực Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Mạng lưới quan sát lâu dài này ở Nam Cực được xây dựng một cách có hệ thống để trả lời tốt hơn các câu hỏi khoa học tiền duyên về biến đổi khí hậu, băng tuyết và các cơ chế thay đổi của môi trường sinh thái.

Được biết, trạm Tần Lĩnh sử dụng công nghệ và vật liệu xây dựng nhẹ, cường độ cao, có thể chịu được nhiệt độ cực thấp âm 60 độ C và sự ăn mòn mạnh ở môi trường ven biển. Sức cản gió thiết kế đạt 65 mét/giây, tương đương với sức gió trên cấp 17.

BDN

Loading

Views: 0

Một số thông tin liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa

Sử sách Trung Hoa suốt từ các đời Tần, Hán đến tận sau Thế chiến thứ hai không có tài liệu nào xác nhận Biển Đông với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. 

Bản đồ Đông Ấn Độ do Jodocus Hondius I vẽ năm 1613 ghi nhận sự liên hệ mật thiết giữa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (tác giả đặt tên là Pracel), rất sát với vùng biển miền Trung Việt Nam (tác giả đặt tên là Costa de Pracel).

Trước đây, biển Đông được người Trung Quốc và giới Hàng Hải gọi là Trung Quốc Nam Hải hay là Biển Hoa Nam, hay là South China Sea. Người Philippines từ năm 2012 gọi là Biển Tây Philippines (West Philippines Sea). Quần đảo Hoàng Sa được người Trung Quốc gọi là Tây Sa, tiếng Anh là Paracel. Còn quần đảo Trường Sa, người Trung Quốc gọi là Nam Sa, tiếng Anh là Spratly. Trong khi đó, không ít bản đồ phương Tây vẽ trước thế kỷ thứ 19, thư tịch cổ Trung Hoa do người Trung Hoa viết lại đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Phía Trung Quốc thường xuyên tuyên truyền quyền của họ đối với biển Đông có từ hơn 2000 năm trước, khi mà cả quận Giao Chỉ là của Trung Quốc. Nhưng những chứng cứ chủ yếu lại chỉ từ những ghi chép của người đương thời và người đời sau về các con đường hàng hải từ Trung Quốc ra nước ngoài, hoặc các hoạt động thám hiểm, buôn bán, đánh cá… qua đó có ghi chép về lịch sử, địa lý, phong tục ở các vùng mà những người chứng kiến đã đi qua. Cũng có những tài liệu nói người đánh cá Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và các nước khi buôn bán, đánh cá, hoặc gặp thiên tai trên biển đã từng sống trên các đảo tùy theo mùa vụ. Nhưng cụ thể là vào mùa nào, vụ nào, bao nhiêu lâu, chưa thấy tài liệu nào ghi chép rõ. Chỉ riêng điều đó thì cũng không có ý nghĩa về mặt chủ quyền.

Các nhà nghiên cứu đôi khi phát hiện sự nhầm lẫn hoặc cố tình nhầm lẫn những người làm sử thiếu khách quan. Theo luật pháp quốc tế, việc thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền trên các biển đảo ngày nay không phụ thuộc vào việc phát hiện, thám hiểm hay thực thi việc buôn bán, làm ăn trên biển. Cũng không phụ thuộc vào sự hiểu biết của người quan sát về biển đảo. Bởi từ thế kỷ thứ 7, người châu Âu hay là những người ViKing, gồm những nhà thám hiểm, nhà buôn, chiến binh, và cả những hải tặc đã tung hoành trên nhiều vùng biển của trái đất. Những ghi chép của người Anglo-Saxon về Hải Dương từ lâu đã là nguồn tra cứu phong phú và quý giá của nhân loại. Tiếp theo là những người Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Việt Nam cũng đã có mặt ở nhiều vùng biển trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Phương Đông không có các ViKing, ít các nhà thám hiểm nên người Phương Đông có mặt trên biển chủ yếu là để buôn bán, làm ăn và đánh cá. Trước đây, phía Trung Quốc còn đưa thêm nhà thám hiểm người Hồi tên là Trịnh Hòa và hồ sơ tranh chấp biển đảo. Nhưng thực ra, Trịnh Hòa chỉ đi ngang qua biển Đông. Các ghi chép về 7 chuyến đi của ông cũng không thấy nói gì đến Hoàng Sa và Trường Sa cả. Từ năm 1405 – 1433, Minh Thành Tổ đã cử đô đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy đoàn thám hiểm của Trung Quốc hạ Tây Dương bảy lần. Họ đã đi đến Ấn Độ và biển Ả Rập nhằm thiết lập mối quan hệ bang giao với trên 30 quốc gia vùng Duyên Hải, triển khai con đường tơ lụa trên biển tại Ấn Độ, Châu Phi và cả Trung Đông.

Những chuyến hải trình của Trịnh Hòa trên thực tế không hề dừng ở Biển Đông. Trạm chân duy nhất của đoàn trong khu vực này chính là Đồ Bàn, thủ phủ của nước Chiêm Thành lúc bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều Minh đã phê phán những cuộc hải trình này chỉ là phô diễn, làm hao tiền tốn của làm suy yếu nền kinh tế quốc gia. Gần đây, khi đụng đến những vấn đề Biển Đông, các chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa đã không còn được phía Trung Quốc nhắc đến như trước đó nữa.

Trên thực tế, kể từ Định ước Berlin năm 1885, nguyên tắc quyền phát hiện và nguyên tắc chủ quyền lịch sử đã không còn phù hợp, bị thay thế bởi nguyên tắc chiếm hữu thực sự và có hiệu lực. Ngày nay, nguyên tắc chiếm hữu biển đảo còn được quy định một cách chặt chẽ hơn. Nó bao gồm thực sự, không gián đoạn, hòa bình và minh bạch. Nghĩa là, nếu giả sử như luật pháp quốc tế vẫn còn căn cứ vào chuyện là luận thuyết chủ quyền lịch sử hay là sự phát hiện biển đảo để xác định chủ quyền thì quyền chiếm hữu và quyền sở hữu các châu lục ngày nay hầu hết đã thuộc về các nhóm Viking và các nhà thám hiểm hay là các tay cướp biển châu Âu.

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được các triều đại phong kiến Việt Nam thực thi từ rất sớm. Có tài liệu nói là từ thế kỷ thứ 15, nhưng rõ nét nhất là từ đầu thế kỷ thứ 17 đến tận năm 1932, khi Pháp chính thức tuyên bố kế thừa và tiếp tục quyền chủ quyền tại hai quần đảo này.

Các triều đại phong kiến Việt Nam đều đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền thực tế đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Quá trình này diễn ra một cách liên tục với những hoạt động kinh tế xã hội rất hòa bình. Lúc đó cũng chưa hề có tranh chấp về mặt pháp lý, ít nhất từ thế kỷ thứ 17, Hoàng Sa đã không còn là lãnh thổ vô chủ nữa.

Năm 1688, Hoàng Sa đã trở thành địa danh nổi tiếng được các nhà hàng hải Phương Tây biết đến qua biển đến Biên niên sử Hàng Hải với các vụ mắc cạn của tàu Lamps. Dưới thời vua Louis XIV, khi đi từ Pháp sang Trung Quốc, Hoàng Sa được biết đến như một bãi cát nguy hiểm ở vùng biển Đông Việt Nam. Tàu bè quốc tế đến vùng này, nếu không biết và đề phòng có thể bị mắc cạn, đói khát và chết.

Đến thời các chúa Nguyễn, tức là từ giữa thế kỷ thứ 16 cho đến khi Tây Sơn chiến thắng năm 1777, hàng năm các chúa Nguyễn đều phái người ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ trên đảo nhằm thực thi chủ quyền, thu hoạch sản vật trên đảo cùng những sản vật của các tàu bị đắm trôi dạt vào đảo.

Trong sách Lịch triều Hiến chương loại chí, quyển “Chi ngũ dư địa chí”, trang 11A-12A, Phan Huy Chú đã ghi chép: “Thời các chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa, 70 suất người xã An Vĩnh luân phiên đi hàng năm vào tháng 3, nhận chỉ thị sai đi mang sáu tháng lương, dùng năm chiếc thuyền nhỏ chương buồm xuất dương ba ngày ba đêm là đến đảo. Đến đây mặc tình đánh bắt cá ăn, nhặt được rất nhiều đồ vật quý, lại lấy được hải sản rất nhiều. Tháng 8 trở về, vào cửa eo Thuận An để đến thành Phú Xuân”.

Năm 1753, một sự kiện có liên quan đến chủ quyền của Hoàng Sa xảy ra với những người lính của đội Bắc Hải đã được Lê Quý Đôn ghi chép khá kỹ trong Phủ biên tạp lục. Đó là: “Hoàng Sa gần Hải Nam, Châu Liêm, người đi thuyền thường gặp người Bắc Quốc đánh cá ngoài biển, hỏi thăm biết được họ là người huyện Văn Xương, Quỳnh Châu, quan Chính đường sưu tra công văn trong đó kể rằng vào tháng 7 năm Càn Long thứ 18 (1753), 10 người lính thuộc đội Cát Liêm, xã An Bình, huyện Chương Nghĩa, Quảng Ngãi ngày nay, đến Vạn Lý Trường Sa thu thập các vật. Tám tên lính lên bờ thu thập, chỉ có hai người lưu lại giữ thuyền, chợt có một cơn bão nổi lên, đưa thuyền ra đến tận cảng Thanh Lam ở Hải Nam, Trung Quốc. Viên quan Trung Quốc ở đây bèn cho điều tra, sau khi biết sự thật đành cho áp giải trở về. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã sai cai bạ Thuận Hóa thức thượng hầu gửi thư phúc đáp”. Sự kiện này cũng là một bằng chứng cho thấy người Trung Quốc không coi Hoàng Sa là của mình.

Năm 1816, vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo Hoàng Sa, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thủy trình. Xin nhắc lại là chính thức vào năm 1816, Việt Nam ra lệnh cắm cờ trên đảo Hoàng Sa. Khâm sứ Pháp tại Đông Dương lúc đó là Jules Brévié đã ra lệnh thành lập cơ quan hành chính quần đảo Hoàng Sa và cho dựng trên quần đảo một tấm bia có dòng chữ là “Cộng hòa Pháp – Vương quốc An Nam – Quần đảo Hoàng Sa”. Năm 1816 – 1835, vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia, móng, đóng cọc, rồi trồng cây.

Đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải được trao nhiệm vụ khai thác, tuần tiễu, thu thuế trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội lính hải quân này tiếp tục duy trì công việc cho đến khi người Pháp vào Đông Dương. Việc quản lý hành chính các đảo đã được triều Nguyễn duy trì nhằm giúp đỡ các tàu bè cũng như là để thu thuế ngư dân trong vùng.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Quang Việt, các dữ kiện lịch sử chiếm hữu Hoàng Sa cho thấy Việt Nam đã có tuyên bố rõ ràng và thực thi quyền của mình ở Paracel ít nhất suốt 70 năm trước, từ năm 1770 cho tới khi vua Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền vào năm 1816 và tiếp tục cho đến thời Minh Mạng. Được ghi rõ ràng trong Chính sử Việt Nam cho đến năm 1837.

Thời gian có mặt của Việt Nam ở Paracel, tức quần đảo Hoàng Sa, như vậy, là đã kéo dài liên tục ít nhất là 74 năm, từ năm 1774, được ghi nhận trong chính sử. Ý chí và hành động nhằm khẳng định chủ quyền được vua Gia Long và vua Minh Mạng đã thể hiện trong văn bản “Các chuyến ra đảo”. Dù chỉ kéo dài nhiều nhất là 6 tháng nhưng liên tục từ năm này qua năm khác như thế là đủ. Nước Pháp công nhận việc thực thi chủ quyền của các chúa đại phong kiến Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và chịu trách nhiệm kế thừa.

Năm 1884, hiệp ước Patenôtre Huế đã áp đặt chế độ thuộc địa của Việt Nam. Nước Pháp có nghĩa vụ bảo hộ, giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ của xứ An Nam.

Ngày 9/6/1885, hiệp ước Pháp – Thanh tại Thiên Tân chấm dứt xung đột Pháp – Thanh. Việt Nam đã chính thức vĩnh viễn thoát khỏi chế độ phong kiến với phương Bắc.

Ngày 26/6/1887, thêm một hiệp ước Pháp – Thanh nữa được ký kết về vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nghĩa là từ đây, mọi tuyên bố hay hành vi của Pháp về Hoàng Sa, Trường Sa được hiểu và trên thực tế là đại diện cho Việt Nam, của Việt Nam.

Năm 1895, con tàu La Bona và năm 1896 con tàu Imeji Maru đã bị đắm ở gần Hoàng Sa. Những người đánh cá ở đảo Hải Nam đã đến thu lượm đồng nát từ hai chiếc tàu đắm này. Các công ty bảo hiểm của hai con tàu này đã lên tiếng phản đối với chính quyền Nhà Thanh. Chính quyền Nhà Thanh trả lời rằng họ không chịu trách nhiệm, lấy lý do là Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc, cũng không phải là lãnh thổ của Việt Nam.

Năm 1899, toàn quyền Pondichéry đề nghị chính phủ Pháp xây dựng ngọn hải đăng tại Hoàng Sa nhưng việc này không thành vì lý do tài chính.

Năm 1909, Tổng đốc Lưỡng Quảng đã ra lệnh cho Đô đốc Lý Chuẩn đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa, cuộc đổ bộ này kéo dài không quá 24 giờ. Họ lên Hoàng Sa, kéo cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc. Tuy nhiên, chưa đầy 24 giờ thì lại rút đi.

Sự kiện này không gây ra phản ứng gì của các nước, kể cả là Pháp, đại diện cho An Nam, vì Pháp cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân chuyến thăm sát đảo này. Điều này cũng làm lộ ra mâu thuẫn trong các lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu thì tại sao Lý Chuẩn lại không biết điều này và đã hành xử như là kiểu người đầu tiên phát hiện ra quần đảo vậy?

Đến năm 1920, một công ty Nhật Bản là Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa, đã bị Pháp từ chối. Cũng kể từ đó, Pháp kiểm soát thuế quan và tuần tiễu trên đảo.

Đến tháng 3/1921, Tổng đốc Lưỡng Quảng lại tuyên bố sáp nhập Hoàng Sa với đảo Hải Nam. Pháp không phản đối, nhưng ngay sau đó, các nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội người Pháp ở Hà Nội đã chỉ trích Ông Toàn quyền Đông Dương về thái độ hững hờ này. Đến tháng 3/1925, Toàn quyền Đông Dương lúc đó là Martial Henri Merlin long trọng tuyên bố là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp. Chính phủ bảo hộ thuộc địa nhận trách nhiệm về chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa, đẩy mạnh các hoạt động tuần tra, kiểm soát và nghiên cứu khoa học. Cũng kể từ năm 1925, Viện Hải dương học Nha Trang đã tiến hành những thí nghiệm khoa học đầu tiên trên quần đảo Hoàng Sa do Tiến sĩ Gruvel tổ chức.

Năm 1927, Tàu de Maleisie đã viễn thăm quần đảo Trường Sa. Đầu năm 1930, ba tàu của Pháp là La Malicieuse, L’Alerte, L’Astrobale đã khảo sát, chuẩn bị cho việc chiếm hữu quần đảo Trường Sa.

Ngày 13/4/1930, Toàn quyền Đông Dương là Pasquier đã điều tàu La Malicieuse ra quần đảo Trường Sa. Tại đây, Đại úy hải quân De Lattrie đã nhân danh nước Pháp bắn 21 loạt đại bác, tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ tất cả các hòn đảo ở Trường Sa và các vùng biển phụ cận, và kéo cờ trên đảo Bão Tố (tức đảo Spratly, nay còn được gọi là đảo Trường Sa lớn). Văn bản báo cáo ghi rõ: “Trường Sa nằm ở 8 độ 39 phút Vĩ Bắc và 111 độ 55 phút Kinh Đông”.

Ngày 23/9/1930, Pháp gửi thông báo ngoại giao tới tất cả các nước có liên quan về chủ quyền của Pháp trên quần đảo Trường Sa. Trong thông báo ghi rõ: “Phủ Toàn quyền Đông Dương ra thông cáo để thông báo cho các nước thứ ba biết về việc Cộng hòa Pháp chiếm hữu toàn bộ quần đảo Spratly”. Thông báo này cũng được đăng trên công báo của Phủ Toàn quyền.

Năm 1931, Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa và bán quyền khai thác cho công ty Anglo-Chinese Development. Tuy nhiên, Pháp đã phản đối.

Năm 1932, Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa, sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghĩa là, Pháp công nhận và chịu trách nhiệm thừa kế chủ quyền của Việt Nam từ trước đó. Tiếp tục thực thi chủ quyền tại hai quần đảo này. Đây là một bước đi quan trọng và là sự kiện đặc biệt có ý nghĩa trong việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền một cách liên tục đối với lãnh thổ quốc gia.

Năm 1933, quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa. Pháp đã ra thông báo chính thức về sự chiếm hữu của các đảo Trường Sa trên nhật báo của Pháp. Pháp cũng đề nghị với Trung Quốc là đưa vấn đề này ra tòa án quốc tế, nhưng Trung Quốc đã từ chối. Việc thuyết phục các nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương quan tâm một cách thiết thực hơn đối với chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào những năm đầu thế kỷ 20 là một quá trình không đơn giản, bởi lúc đó, khác với ngày nay, việc chiếm hữu các đảo ở xa chỉ mang đến sự tốn kém, phức tạp, nguy hiểm, rất ít lợi ích.

Chính chủ quyền hiển nhiên đã có từ lâu trong lịch sử của các vương triều An Nam đối với biển đảo mới là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy các quan chức Pháp tại Hà Nội thiết tha hơn và cảm thấy có trách nhiệm nặng nề hơn với Hoàng Sa và Trường Sa. Công đầu trong việc thúc đẩy này thuộc về tờ tuần báo Thức tỉnh Kinh tế Đông Dương. Tờ tuần báo L’Éveil Economique de l’indochine, ra số đầu tiên vào thứ bảy ngày 16/6/1917 và số cuối cùng là vào năm 1934. Người sáng lập và là chủ bút, cũng là tác giả của nhiều bài viết trong tuần báo này là Henri Cucherousset, ông qua đời tại Hà Nội vào năm 1934 và cũng là người đặc biệt yêu mến Hoàng Sa, chiến đấu không mệt mỏi cho chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong 835 số tuần báo, chính phủ Pháp và An Nam đã triệt để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa với chính quyền quân phiệt Quảng Đông lúc đó đã ly khai khỏi Trung Quốc, cho nên, chính quyền Quảng Đông không được Trung Quốc và các nước khác thừa nhận. Ông Henri Cucherousset đã đưa vấn đề ra Thượng viện và Hạ viện Pháp, vì lý do là Toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội đã không nỗ lực quan tâm đến vấn đề Hoàng Sa.

Về trách nhiệm của nước Pháp và các quan chức Pháp tại Đông Dương, tác giả trách cứ một số quan chức Đông Dương vô trách nhiệm đối với chủ quyền của Quần đảo Hoàng Sa và nhờ đó các chính khách đã quan tâm đến vấn đề quần đảo Hoàng Sa hơn.

Ngày 14/3/1933, Pháp cho đội tàu gồm La Malicieuse, L’Alerte, L’Astrobale và De Lanessan từ Sài Gòn đến Trường Sa, ghé qua hàng loạt các cụm đảo, cụm này gồm Trường Sa Đông, Đá Đông, Đá Tây và Đá Châu Viên, bãi san hô gồm; đảo Ba Bình, đảo Bàn Than, đảo Sơn Ca, đảo Núi Thị, Én Đất, Nam Yết, Đá Lạc, Ga Ven, bãi san hô Loại Ta, cụm rạn Thị Tứ và rạn Thám Hiểm phía Bắc. Tại từng địa điểm đi qua, người Pháp đã tổ chức nghi lễ chiếm hữu tại các đảo chính thuộc nơi đó.

Ngày 19/7/1933, Bộ Ngoại giao Pháp ra thông báo về tuyên bố chủ quyền của Pháp, kèm theo danh sách liệt kê tên các đảo đã chiếm hữu, gồm sáu thực thể. Thứ nhất là Trường Sa Lớn, tuyên bố chủ quyền ngày 13/11930. Đảo An Bang, tuyên bố chủ quyền ngày 7/4/1933. Đảo Ba Bình, tuyên bố chủ quyền ngày 10/4/1933. Nhóm Song Tử gồm Song Tử Đông và Song Tử Tây, tuyên bố chủ quyền cũng ngày 10/4/1933. Đảo Loại Ta, tuyên bố chủ quyền ngày 11/4. Đảo Thị Tứ, tuyên bố chủ quyền ngày 12/4. Pháp tuyên bố những hòn đảo nói trên và các đảo phụ thuộc của từng hòn đảo này đều thuộc chủ quyền của Pháp.

Sau đó, Pháp lần lượt thông báo cho các quốc gia có thể có lợi ích tại Trường Sa biết về hành động của Pháp. Trừ Nhật Bản, tất cả các nước được thông báo trong đó có Trung Quốc, Hà Lan Mỹ đều không có phản đối hoặc không có phản hồi.

Ngày 21/12/1933, Thống đốc Nam Kỳ là Jean-Felix Krautheimer ký Nghị định số 4702, sát nhập một số đảo trên và các đảo phụ thuộc vào tỉnh Bà Rịa. Tuy nhiên, năm 1937, bất chấp sự phản đối của Pháp, Nhật đã chiếm tất cả các đảo ở ngoài khơi Đông Dương và đổi tên thành Shiman Gunto, tức là Tân Nam Quần đảo và đặt Hoàng Sa, Trường Sa dưới quyền Tài phán của Cao Hùng, Đài Loan.

Trong suốt thời gian Thế chiến thứ hai, cả hai quần đảo đều bị Nhật tuyên bố là đang bị Nhật chiếm đóng. Tuy nhiên, Nhật không cho quân đồn trú hay là tuần tra trên hai quần đảo.

Năm 1938, Pháp đã cho xây dựng bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa bộ đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle, (tức là Đảo Hoàng Sa của Quần đảo Hoàng Sa).

Ngày 4/4/1939, chính phủ Pháp gửi đi công hàm phản đối quyết định của Nhật và bảo lưu chủ quyền của Pháp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 6/5/1939, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định số 3282, tách đơn vị hành chính Hoàng Sa thành hai đơn vị là Croissant và các đảo phụ thuộc, Am Phichit và các đảo phụ thuộc.

Khi chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, ba cường quốc là Anh, Mỹ và Trung Quốc lúc bấy giờ, Tưởng Giới Thạch đại diện cho Trung Quốc đã nhóm họp tại Cairo, Ai Cập vào ngày 27/11/1943, để bàn về những quyết định hậu chiến và ra Tuyên bố Cairo.

Về biển đảo ở Thái Bình Dương tuyên bố đã viết rõ: Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng kể từ khi bắt đầu cuộc Thế chiến thứ nhất năm 1914 và tất cả những lãnh thổ mà Nhật đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu lý Đài Loan và bành hồ sẽ được trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa.

Tuyên bố này không có liên quan gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này có nghĩa rằng, Tuyên bố Cairo khẳng định các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc chỉ có Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ.

Ngày 26/7/1945, tại Potsdam của nước Đức bại trận, các nguyên thủ quốc gia của các nước thắng trận, bao gồm Harry Truman của Mỹ, Winston Churchill của Anh và Tưởng Giới Thạch khẳng định lại các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện.

Tuyên bố Potsdam về các điều khoản cho sự đầu hàng của Nhật Bản tương tự như một tối hậu thư đối với Nhật. Sự thực thì Trung Quốc lúc đó đã quá thỏa mãn với phần thưởng hậu chiến có được là Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ mà không có Hoàng Sa và Trường Sa trong đó.

Ngày 15/8/1945, Nhật Bản thua trận, phải rút khỏi Đông Dương, ngày 26/8/1945, quân đội Nhật phải rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 6/1946, Pháp khôi phục lại sự có mặt của mình tại Hoàng Sa, tại đảo An Vĩnh, nhưng ngay sau đó đã phải rút đi vì lý do chi viện cho cuộc chiến đang căng thẳng ở miền Bắc Việt Nam.

Chúng tôi một lần nữa muốn lưu ý rằng suốt chiều dài lịch sử cho đến tận những năm 1945, ngoài nỗ lực thị uy của chính quyền Quảng Đông vào năm 1909, cho quân lên đảo bắn mấy phát súng rồi rút, Trung Quốc không hề có sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành chính thực tế nào trên các đảo ở biển Đông.

Cuối năm 1946, Tưởng Giới Thạch đưa quân chiếm đóng đảo Ba Bình ở Trường Sa. Tháng 1/1947, xua quân lên chiếm Phú Lâm của Hoàng Sa. Ngay lập tức, Pháp đã phản đối việc xâm phạm trái phép này của Trung Quốc, và cử một phân đội ra quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí tượng này về sau đã hoạt động liên tục trong suốt 26 năm, với những nhân viên Việt Nam cần mẫn, cho đến khi Trung Hoa Đại Lục cưỡng chiếm bằng quân sự vào năm 1974.

Ngày nay, thông tin về khí tượng, thủy văn phát đi từ Hoàng Sa vẫn được toàn thế giới biết đến với danh nghĩa là một trạm khí tượng của một hòn đảo nhiệt đới Việt Nam.

Cũng năm 1947, Pháp đã đề nghị đưa vấn đề tranh chấp ra trọng tài quốc tế, nhưng Trung Quốc lại một lần nữa từ chối.

Tháng 10/1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc chạy ra Đài Loan.

Tháng 5/1950, quân Đài Loan phải rút ra khỏi các đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa, đảo Ba Bình ở Trường Sa. Các trại đồn chú của Pháp tiếp tục được duy trì ở Hoàng Sa.

Năm 1950, chính phủ Pháp đã chính thức chuyển giao cho chính phủ Bảo Đại quyền quản lý quần đảo này. Một năm sau đó, với thế giới và với Hoàng Sa, Trường Sa đã diễn ra một sự kiện quan trọng, đó là hội nghị San Francisco ở California, nước Mỹ, giữa lực lượng đồng minh với Nhật Bản. Trước khi hội nghị San Francisco diễn ra, Trung Quốc Đại Lục đã thể hiện yêu sách của họ đối với các quần đảo qua tuyên bố của Bộ Trưởng ngoại giao Chu Ân Lai nhưng chính quyền Tưởng Giới Thạch không phản ứng gì. Lúc đó, đa số các nước vẫn công nhận chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch mới là đại diện chính thức cho Trung Quốc. Hội nghị San Francisco diễn ra từ ngày 4/9 – 8/9/1951, có phái đoàn của 51 quốc gia tham dự, để thảo luận về vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á- Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến.

Trong hội nghị này, Trung Hoa đại lục và Trung Hoa Dân Quốc đều không được tham dự, do Mỹ và Liên Xô không thống nhất được ai mới là đại diện chính thức cho quyền lợi của Trung Quốc.

Ngày 6/9/1951, ngoại trưởng Liên Xô là Gromyko đã đề nghị 13 khoản tu chính, trong đó có khoản tu chính liên quan đến việc Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc đại lục đối với quần đảo Hoàng Sa. Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu trống, một phiếu trắng và hai phiếu thuận. Danh nghĩa chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo ở ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ của một hội nghị quốc tế.

Đến ngày 7/9/1951, cũng tại hội nghị, Thủ tướng, kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã tuyên bố, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam.

Ông đã nói rằng, cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt các mầm mống chiến tranh sau này. Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Kết thúc hội nghị là việc ký kết hòa ước với Nhật. Trong hòa ước này, ở điều hai, đoạn F có ghi rõ: Nhật Bản phải khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau hội nghị tại San Francisco, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do chính quyền Bảo Đại quản lý. Đến năm 1954, hai quần đảo này được đặt dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Tháng 5/1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương. Đội tuần tra của Pháp trên đảo Hoàng Sa được thay thế bởi đội tuần tra của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Nhưng khi đó, chính quyền Trung Quốc Đại Lục đã bí mật cho quân đội bộ binh chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, là các đảo thuộc cụm đảo An Vĩnh (phía Trung Quốc gọi là Tuyên Đức quần đảo). Trong khi đó, ở phía Tây, nhóm lưỡi liềm (còn gọi là Nguyệt Thiềm) thì vẫn do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng trên đảo Pattle nắm giữ.

Ngày 22/8/1956, một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hòa đã cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia. Đến ngày 13/7/1961, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa là Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 174 về việc đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang.

Ngày 4/9/1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải lý, áp dụng cho cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đến ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là ông Phạm Văn Đồng đã gửi công thư cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai, thông báo tán thành và tôn trọng quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Công thư này không hề nói gì về Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 1/1974, Trung Quốc tiến quân chiếm các đảo ở Hoàng Sa lúc đó đang do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ, 75 sĩ quan và binh sĩ Sài Gòn hy sinh. Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Như vậy, từ năm 1974, trong vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa, Việt Nam đã bị tước mất yếu tố vật chất, nhưng chủ quyền của Việt Nam vẫn không bị gián đoạn do được đảm bảo bằng yếu tố tinh thần.

Tháng 12/1982, huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được thành lập. Nhưng điều quan trọng hơn, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ 20, việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 ghi rõ: lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng chiếm đoạt bởi một quốc gia khác bằng cách đe dọa sử dụng vũ lực hoặc là sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự chiếm đóng lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc là sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp. Do đó, các hành động dùng vũ lực của Trung Quốc là đi ngược lại với luật pháp quốc tế. Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho đất nước này đối với quần đảo Hoàng Sa.

Đối với Trường Sa, ngày 14/2/1975, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố chính sách về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Tháng 5/1975, Việt Nam thống nhất hai miền. Quân đội Nhân dân Việt Nam thay thế quân đội Việt Nam Cộng hòa tại quần đảo Trường Sa.

Năm 1977, Việt Nam ra tuyên bố lãnh hải đất nước, kể cả lãnh hải của các quần đảo. Khoảng thời gian này, một số quốc gia Đông Nam Á khác cũng đã chiếm một số đảo ở quần đảo Trường Sa.

Tháng 3/1988, lần đầu tiên Trung Quốc đặt chân lên quần đảo Trường Sa bằng cách đưa quân tới xâm lược bãi đá Colin, bãi đá Len Đao và đảo Gạc Ma. Do ba bãi đá này không có quân đội đồn trú nên hải quân Việt Nam phải đưa quân ra bảo vệ.

Ngày 11/3/1988, tàu HQ 604 lữ đoàn 125 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ xuất phát từ vịnh Cam Ranh với 70 chiến sĩ của Trung đoàn 82 và 22 bộ đội của lữ đoàn 146 ra xây dựng cụm đảo Gạc Ma. Khi đang vận chuyển vật liệu lên đảo thì ba tàu chiến Trung Quốc áp sát, giật cờ, nã súng xâm chiếm đảo Gạc Ma. Sau đó, tàu Trung Quốc tiếp tục tấn công tàu HQ 605 đang bảo vệ và xây dựng đảo Len Đao và tàu HQ 505 canh giữ đảo Colin.

Trận chiến này đã làm hai tàu chiến của Việt Nam bị chìm, một tàu hỏng, 64 sĩ quan và chiến sĩ hy sinh, chín người bị phía Trung Quốc bắt giữ làm tù binh. Trung Quốc còn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu hộ. Phía Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, thương vong 24 thủy binh. Kể từ đó, Trung Quốc đã chiếm đóng đảo Gạc Ma.

Tháng 4/1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo Hải Nam và hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Tháng 5/1989, Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa. Năm 1990, Trung Quốc đề nghị khai thác chung quần đảo Trường Sa. Năm 1992, Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nữa. Năm 1994, đụng độ giữa Việt Nam và một số tàu cá Trung Quốc nghiên cứu cho công ty Crestone.

Tháng 2/1995, Trung Quốc lại huy động quân đội đánh chiếm đá Vành Khăn, một đảo đá nhỏ lúc đó đang do Philippines chiếm đóng. Hiện nay, họ đang sử dụng sức mạnh để bao vây và chiếm đóng bãi cạn Cỏ Mây. Đây là bãi cạn nằm về phía Đông, gần với đá Vành Khăn. Tuy nhiên, vẫn chưa thành công.

Như vậy, tổng số bãi đá, bãi cạn mà phía Trung Quốc đã dùng sức mạnh để đánh chiếm ở quần đảo Trường Sa cho đến nay là bảy vị trí, bao gồm đá Châu Viên, đá Chữ Thập, cụm đá Gaven, đá Gạc Ma, đá Subi, đá Tư Nghĩa và đá Vành Khăn. Philippines cũng là nước tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa.

Philippines bắt đầu tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng sự kiện ngày 17/5/1951, tổng thống Philippines tuyên bố các đảo ở quần đảo Trường Sa phải thuộc về lãnh thổ gần nhất là Philippines.

Trong cuộc họp báo ngày 15/9/1956, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Philippines khẳng định rằng, nhóm đảo Trường Sa, trong đó có đảo Ba Bình và đảo Trường Sa, phải thuộc về chủ quyền Philippines vì chúng nằm gần Philippines nhất. Quần đảo Trường Sa chỉ cách Philippines có 300 km. Từ năm 1971 – 1973, Philippines đưa quân ra chiếm đóng năm đảo.

Từ năm 1977 – 1978, Philippines chiếm thêm hai đảo. Năm 1979, Tổng thống Philippines Marcos ra sắc lệnh gộp toàn bộ quần đảo Trường Sa, trừ đảo Trường Sa lớn, vào trong một đơn vị hành chính gọi là Kalayaan, thuộc lãnh thổ Philippines.

Năm 1980, Philippines chiếm đóng thêm một đảo nữa nằm về phía Nam của Trường Sa. Đó là đảo Công Đỏ. Hiện nay Philippines đang chiếm đóng 9 vị trí trong quần đảo Trường Sa, bao gồm bảy đảo, đá san hô và hai bãi cạn, rạn san hô. Cụ thể bao gồm; đảo Bến Lạc, đảo Bình Nguyên, đảo Loại Ta, đảo Song Tử Đông, đảo Thị Tứ, đảo Vĩnh Viễn, đảo Loại Ta Tây, đá Công Đỏ, bãi Cỏ Mây.

Trên thực địa tại Trường Sa, Malaysia cũng đang nắm giữ mấy đảo, mở đầu bằng sự việc Sứ quán Malaysia ở Sài Gòn ngày 3/2/1971 đã gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa và hỏi rằng đảo Trường Sa hiện thời thuộc nước Cộng Hòa Morac Songhrati và nó có thuộc về lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng hòa có yêu sách gì đối với quần đảo đó hay không?

Ngày 20/2/1971, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã trả lời rằng, quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ của Việt Nam, mọi xâm phạm chủ quyền ở quần đảo này đều bị coi là vi phạm luật pháp quốc tế. Đến tháng 12/1979, chính phủ Malaysia xuất bản bản đồ gộp vào lãnh thổ Malaysia khu vực phía Nam Trường Sa, bao gồm đảo An Bang và Thuyền Chài, đã từng do quân đội Việt Nam Cộng Hòa đóng giữ. Từ năm 1983 – 1984, Malaysia cho quân chiếm đóng ba bãi ngầm ở phía Nam Trường Sa là Hoa Lau, Kiệu Ngựa, Kỳ Vân. Đến năm 1988, họ chiếm đóng thêm hai bãi ngầm nữa là Én Đất và Thám Hiểm. Đến nay, số điểm đóng quân của Malaysia là năm điểm, đều nằm ở phía Nam quần đảo Trường Sa, tất cả đều là các rạn san hô. Cụ thể là đá Én Ca, đá Hoa Lau, đá Kỳ Vân, đá Kiệu Ngựa, bãi Thám Hiểm.

Tiếp theo là Đài Loan. Đài Loan hiện đang chiếm đóng đảo Ba Bình, đây là hòn đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa và mở rộng thêm một bãi cạn, đá san hô.

Brunei tuy được coi là một bên tranh chấp liên quan đến khu vực quần đảo Trường Sa, nhưng trên thực tế Brunei chưa chiếm đóng một vị trí cụ thể nào. Yêu sách của họ là ranh giới vùng biển và thềm lục địa được thể hiện trên bản đồ có phần chồng lấn lên khu vực phía Nam Trường Sa.

Các bạn hãy cùng nhìn lại một lần nữa toàn cảnh thực trạng ở Trường Sa. Việt Nam hiện đang chiếm giữ 21 đảo, đá. Trung Quốc 7. Philippines 9. Malaysia 5. Đài Loan 1. Brunei không chiếm đảo nào. Như vậy, có tới sáu quốc gia và vùng lãnh thổ tuyên bố chủ quyền với quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Quay trở lại với câu chuyện của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa, những sự kiện điển hình vừa dẫn ở trên đã cho thấy ý đồ và những bước đi của nhà cầm quyền Trung Quốc trong nhiều thế kỷ qua đã diễn ra theo một logic đáng ngại cho hòa bình và công pháp quốc tế.

Nhưng không dừng ở đó, ngày 26/2/2011 và ngày 30/11/2012, tàu Trung Quốc đã vào đến tận khu vực thềm lục địa của Việt Nam và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cắt cáp địa chấn, cáp thu tín hiệu của tàu Bình Minh 02 thuộc tập đoàn Petro Việt Nam.

Đến tháng 5/2014, Trung Quốc lại đưa giàn khoan khổng lồ Hải Dương 981. Cùng với đó là hàng chục máy bay chiến đấu, hàng trăm tàu quân sự vào thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Ngày 26/5/2014, tàu Trung Quốc số 11209 đã đâm chìm tàu cá DNA 90152 của ngư dân Đà Nẵng trong ngư trường truyền thống của Việt Nam, cách vị trí giàn khoan này 17 hải lý.

Tháng 6/2014, Trung Quốc tiếp tục đưa nhiều dàn khoan khác xuống biển Đông, trong đó có giàn khoan Nam Hải 09, đặt hạ ngay tại cửa vịnh Bắc Bộ, nơi đang được chờ phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thực chất, đây là một cuộc xâm lăng với tất cả các dấu hiệu vừa cổ điển, vừa chưa từng có trong tiền lệ. Cổ điển vì nó đã vượt biên giới, có vũ khí, hành động đơn phương với mưu đồ cưỡng chiếm, đánh thổ và thôn tính lâu dài. Nhưng lại chưa có tiền lệ vì sử dụng lãnh thổ di động, chưa nổ súng và có thể không nổ súng, nhưng vẫn có khả năng biến lãnh thổ quốc gia khác thành vùng tranh chấp rồi mới cưỡng đoạt.

Giấc Mơ Trung Hoa trên thực tế đã dần trút bỏ lớp lá nho che đậy nhưng cũng không kém phần trơ trẽn của nó. Những gì mà Trung Quốc đang làm khác xa với những gì mà Trung Quốc nói.

BDN

Loading

Views: 0

Bàn về sự được – mất trong tranh chấp tại Biển Đông

Bước sang thế kỷ 21 thế giới đã thay đổi rất nhiều đã dẫn tới xu hướng mới của thời đại đó là, đối thoại thay cho đối đầu bằng những cuộc chiến đẫm máu. Nhìn vào gương nước Nga hiện nay, khi dùng vũ lực với Ukraine sẽ biết, dẫu có đánh được họ đi chăng nữa, thì cũng sẽ bị cả thế giới lên án cấm vận, khiến cho nền kinh tế và vị thế ngoại giao bị suy yếu đi rất nhiều.

Bản thân Việt Nam cũng ý thức được tầm quan trọng của ngoại giao đa phương. Chúng ta nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với những cường quốc hàng đầu thế giới như Nga, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc. Việc gia tăng ngoại giao đa phương giúp Việt Nam có thể tự chủ trong đường lối phát triển, tránh tình trạng trở thành chư hầu của bất kỳ một quốc gia nào và quan trọng hơn, là gắn chặt lợi ích của một số cường quốc vào lợi ích của Việt Nam. Điều này giúp cho Việt Nam giảm thiểu nguy cơ bị kéo vào một cuộc chiến tranh tổng lực bất đối xứng.

Từ ý trên, ta có thể rút ra rằng, trong vấn đề biển đảo hiện nay, chúng ta không thể dùng đơn thuần quân sự hay là cắt đứt quan hệ đối tác với đối thủ phương Bắc được. Phương pháp tốt nhất vẫn là vừa hợp tác vừa đấu tranh. Trong vấn đề đấu tranh ngoại giao nhất định phải luôn kiên trì, bền bỉ, không ngừng nghỉ. Chúng ta vẫn luôn lên tiếng phản đối, không bỏ qua bất kỳ một hành động nào, dù là nhỏ nhất của phía Trung Quốc nếu gây tổn hại tới lợi ích của ta. Trên biển Đông, ta cũng kiên quyết hỗ trợ và bảo vệ cho ngư dân bám biển.

Trong tình thế như hiện nay, chỉ cần ta bỏ qua, ta im lặng trước một số hành động của họ, thì dần dà chúng ta sẽ mất đi lợi ích vĩnh viễn. Thế nhưng, cũng cần phải thực tế, làm sao đừng để lợi bất cập hại. Cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông là tranh thủ luật pháp quốc tế. Thế giới sẽ ủng hộ chúng ta, không chỉ vì ta mà còn vì lợi ích của chính họ. Chẳng ai muốn một Trung Quốc bành trướng rồi trở thành siêu cường và có thể tùy tiện áp đặt mọi sở thích cũng như tham vọng của họ lên toàn thế giới.

Năm 1956, khi Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Genève 1954, trong bối cảnh ta chưa củng cố và quản lý tốt các vùng biển đảo, Trung Quốc đã tranh thủ chiếm cụm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa. Tới năm 1974, được sự thỏa hiệp của Mỹ, Trung Quốc đã khiêu khích, dẫn tới sự manh động nổ súng trước của quân Việt Nam Cộng hòa, rồi lấy cớ mạnh tay đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Đối với Trường Sa, chúng ta là nước đầu tiên làm chủ cả một vùng biển đảo rộng lớn, nhưng chúng ta cũng chỉ đóng giữ được một số đảo nổi.

Không chỉ Trung Quốc, năm 1971 Philippines, cũng đã lấn chiếm 5 đảo phía đông Trường Sa. Rồi tới năm 1973, họ lấn tiếp hai đảo ở phía bắc. Với Malaysia, năm 1979, họ đã chiếm được bảy đảo của phía nam Trường Sa. Đặc biệt, năm 1988, nhân cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, ta đang tập trung vào việc rút quân khỏi Campuchia, Trung Quốc đã tranh thủ đánh chiếm thêm 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa. Bắt đầu là bãi đá Chữ Thập, mà ngày nay họ đã cải tạo thành một pháo đài.

Như vậy, hậu quả của các cuộc xung khắc thực là tai hại nhất là khi có các nước lớn sát vách như Trung Quốc. Họ luôn tranh thủ cơ hội để xâm lấn đất của ta. Rồi dù có bình thường hóa trở lại thì việc đòi lại những gì đã mất là rất khó. Nhất là những vùng hải đảo xa xôi, họ hoàn toàn có thể bịa ra căn cứ pháp lý chủ quyền như hiện nay mọi người vẫn thấy về cái “đường lưỡi bò”.

Việt Nam có sợ Trung Quốc không?

Câu trả lời đương nhiên là không! Chúng ta đã chiến đấu với họ cả nghìn năm nay và chưa bao giờ chúng ta chịu khuất phục họ hoàn toàn. Thế nhưng, với tương quan tiềm lực hiện nay giữa hai nước, nếu phải bước vào một cuộc chiến, dù là tổng thể hay xé lẻ ra là điều nên tránh. Chắc tất cả chúng ta đều chưa quên cuộc chiến 10 năm dài đằng đẵng ở biên giới phía Bắc đã khiến đất nước khó khăn thế nào.

Mặc dù, tháng 3/1979, Trung Quốc đã rút hết quân khỏi lãnh thổ Việt Nam, thế nhưng tiếng súng tại mặt trận biên giới vẫn chưa hề ngưng trong 10 năm tiếp theo. Việt Nam phải căng mình trên hai mặt trận là Campuchia và biên giới phía bắc, phải tiêu tốn nhân lực, vật lực vô cùng cho quân đội. Phải duy trì một đội quân khổng lồ và chịu nhiều thiệt hại to lớn về kinh tế trong suốt 10 năm trời đen tối.

Vì lẽ đó, mục tiêu duy trì sự ổn định, hòa bình trong khu vực là yếu tố tiên quyết trong cuộc chiến này. Đứng từ góc nhìn của Việt Nam, càng bất ổn, càng xung đột, nước yếu hơn sẽ càng thiệt hại so với nước lớn.

Với bộ máy tuyên truyền khổng lồ và đồ sộ, bất cứ một hành động thiếu cẩn trọng nào của phía Việt Nam cũng sẽ trở thành một sơ hở để Trung Quốc khai thác triệt để. Chính vì vậy, việc những thế lực chống phá hải ngoại thường xuyên kích động, chửi bới rồi chê bai chính quyền trong nước cũng chỉ nhằm một mục đích là kích động tâm lý của người dân, hướng tới những cục diện hỗn loạn hơn là đúng với ý đồ của phía Trung Quốc.

Chúng ta liên tục và thường xuyên phản đối cấp quốc gia và quốc tế đối với những tuyên bố của Trung Quốc và những hành động hành xử chủ quyền, hợp tác khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp. Chúng ta liên tục, thường xuyên công khai và chính thức khẳng định chủ quyền lãnh thổ mà Trung Quốc cũng tuyên bố. Chúng ta bác bỏ những tuyên bố chính thức của phía Trung Quốc. Chúng ta cũng liên tục nâng cấp vũ khí, liên tục hiện đại hóa hải quân, không quân, liên tục mua sắm mới và tự chủ sản xuất mới trong khi đang có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc. Chúng ta cũng nhiều lần tập trận bắn đạn thật, phóng tên lửa thật ở Trường Sa trên vùng biển Đông, ngay cả trên những vùng Trung Quốc coi là chủ quyền của họ và tuyên bố chủ quyền.

Việt Nam công khai và chính thức, quang minh chính đại làm những hành động trực tiếp như trên khiến cả thế giới biết Việt Nam đang có tranh chấp bất đồng về biển đảo, lãnh hải, lãnh thổ với Trung Quốc. Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết.

Tất cả những gì liên quan tới chủ quyền lãnh thổ Việt Nam đều đã làm những gì có thể làm, những gì trong khả năng thực tế mà thế và lực của Việt Nam hiện nay có thể làm.

Năm 1988, trong chiến dịch CQ 88 ở Trường Sa, chúng ta không thể để leo thang chiến tranh thành một chiến quy mô lớn trên biển. Trong tất cả những hành động đó, có thể thấy rõ ràng xưa nay Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết. Vì chủ quyền, khi cần đánh, chúng ta vẫn đánh, ta không hy sinh chủ quyền chỉ vì muốn hòa bình. Ta không dùng chủ quyền để đánh đổi hòa bình phụ thuộc.

Những năm tháng chống Trung Quốc thời gian 1979 – 1989 đã cho chúng ta thấy rất rõ sự nhất quán. Chúng ta vừa đánh để bảo vệ chủ quyền, vừa tìm cách giữ cho nó trong sự kiểm soát, không để bất kỳ một thế lực nào thứ ba lợi dụng, khoét sâu, kích động làm leo thang cuộc chiến này. Cố gắng vãn hồi hòa bình, cố gắng tránh xung đột quy mô lớn. Người làm chính trị luôn lo tới cái lợi lớn của đất nước, cái tổng thể, cái chung nhất, cái lâu dài, cái bền vững. Không thể để những tiểu tiết làm hư đại sự, không vì muốn thỏa mãn những cảm tính, những tự ái nhất thời mà làm hỏng đại cuộc.

Đồng thời, không để thế lực thứ ba nào đó lợi dụng tình hình căng thẳng để mà trục lợi. Thử hỏi rằng, nếu Việt Nam chuyển sang chống Trung Quốc giống như giai đoạn 1979 – 1989, thì liệu rằng những con người đó có trở về nước, có chung tay với đất nước, chính quyền mà chống Trung Quốc hay không? Câu trả lời rõ ràng là không. Trái lại, họ sẽ lại càng lợi dụng mà phá thêm, thậm chí có thể là mong muốn Trung Quốc chiến thắng. Như họ đã từng mong muốn rằng Trung cộng đánh thẳng vào Hà Nội mà giết sạch Việt cộng đi như năm 1979, Fulro và những nhóm khủng bố tiền thân của Việt Tân, mà điển hình nhất là cái tên Hoàng Cơ Minh, đã từng nhân cơ hội chiến tranh mà đục nước béo cò, thừa nước đục thả câu, rồi thừa cơ đánh phá vào trong nước, đem tiền giả, chất cấm, súng đạn vào tấn công trong nước. Những kinh nghiệm lịch sử vẫn còn rành rành. Mối quan hệ phức tạp Việt – Trung chính là một trong những chiêu bài để họ nắm lấy, khai thác và lợi dụng để thực hiện mục đích tối hậu đó, vì lợi ích riêng của chính bản thân họ, bất chấp lợi ích chung của đất nước và dân tộc.

Người làm chính trị có thực tâm và thực tài là những người biết phân biệt giữa cái lợi của một người, cái lợi của một nhóm người và cái lợi tổng thể của tất cả dân tộc, đất nước. Chủ quyền cũng như hòa bình chính là cái lợi lớn đó. Lãnh đạo có tài và có tâm phải luôn biết đặt nặng và coi trọng vào cái lợi lớn, vào cái lợi chung của tất cả.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu hải cảnh TQ yêu cầu máy bay quân sự Nhật rời khỏi không phận đảo tranh chấp

Kyodo News ngày 3.2 loan tin tàu hải cảnh Trung Quốc trong tháng trước bắt đầu đưa ra cảnh báo yêu cầu máy bay của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (SDF) rời khỏi không phận trên và xung quanh quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư.

Kyodo News dẫn một số nguồn thạo tin cho hay cảnh báo qua liên lạc vô tuyến nói trên dựa trên tuyên bố của Bắc Kinh rằng máy bay SDF có thể vi phạm không phận lãnh thổ của Trung Quốc xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và đã được đưa ra nhiều lần kể từ tháng 1.

Cũng theo các nguồn tin, Tokyo đã bác bỏ tuyên bố nói trên và nói với Bắc Kinh thông qua các kênh ngoại giao rằng những cảnh báo như thế là “hoàn toàn không thể chấp nhận được”.

Tokyo không công bố động thái mới của Bắc Kinh trong nỗ lực dường như không muốn làm tổn hại thêm quan hệ song phương, theo Kyodo News. Hiện chưa có thông tin về phản ứng của Trung Quốc.

Các nguồn tin còn nói rằng trong số các tàu hải cảnh Trung Quốc đưa ra cảnh báo cho máy bay SDF khi đi vào vùng tiếp giáp bên ngoài vùng biển Nhật xem là lãnh hải có một tàu được trang bị pháo 76 mm với tầm bắn khoảng 12 km.

Trước đây, các tàu quân sự Trung Quốc đã yêu cầu máy bay thuộc Lực lượng Phòng vệ biển của Nhật rời khỏi không phận gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Một quan chức chính phủ Nhật khẳng định đây là lần đầu tiên các tàu hải cảnh thường xuyên đi quanh Senkaku/Điếu Ngư đưa ra cảnh báo đối với các máy bay SDF trong “không phận chủ quyền Nhật”.

Việc đưa ra cảnh báo có thể mới được bổ sung vào nhiệm vụ của Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc, lực lượng thường xuyên cử tàu tới vùng biển gần Senkaku/Điếu Ngư và truy đuổi các tàu đánh cá Nhật trong vùng biển khu vực, theo Kyodo News.

Trước đó, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi củng cố yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trong chuyến thăm hiếm hoi tới văn phòng chỉ huy khu vực biển Hoa Đông của Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc ở Thượng Hải vào ngày 29.11.2023, theo Kyodo News.

Trong chuyến thăm ngày 29.11, ông Tập nhấn mạnh Bắc Kinh cần phải “không ngừng tăng cường” các nỗ lực bảo vệ chủ quyền về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, theo Kyodo News dẫn các nguồn tin thạo tin.

Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc sau đó được cho là đã soạn thảo kế hoạch duy trì sự hiện diện của các tàu hải cảnh gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hằng ngày trong năm 2024 và tiến hành kiểm tra các tàu đánh bắt cá của Nhật trong khu vực, nếu cần thiết.

BDN

Loading

Views: 0

TQ phóng thành công tên lửa Jielong-3

Ngày 3/2, Trung Quốc phóng thành công Jielong-3, tên lửa đẩy loại nhỏ nhưng có khả năng mang tải trọng lớn với chi phí cạnh tranh.

Theo China News, Jielong-3 được Trung tâm Phóng Vệ tinh Thái Nguyên phóng ngoài khơi vùng biển Dương Giang (thuộc tỉnh Quảng Đông, miền nam Trung Quốc), để đưa 9 vệ tinh vào quỹ đạo. Đây là lần phóng thứ ba của Jielong-3, sau lần đầu tiên vào tháng 12/2022 và lần thứ 2 cách đây một tháng.

Tên lửa đẩy Jielong-3 được Tập đoàn Khoa học công nghệ hàng không vũ trụ Trung Quốc (CASC) phát triển, có khả năng mang trọng tải 1.500kg vào quỹ đạo 500km, và có thể phóng từ trên biển hoặc mặt đất.

CASC từng tuyên bố rằng Jielong-3 có thể mang theo hơn 20 vệ tinh với chi phí phóng dưới 10.000 USD/kg, một mức giá cạnh tranh trên toàn cầu trong phân khúc tên lửa hạng nhỏ.

Theo Reuters, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi mở rộng các ngành công nghiệp chiến lược, bao gồm cả lĩnh vực không gian thương mại, coi đây là chìa khóa để xây dựng các “chòm sao vệ tinh” phục vụ liên lạc, cảm biến từ xa và định vị.

Đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng mạng lưới vệ tinh thương mại của Trung Quốc là khả năng mở rộng hệ thống phóng, đa dạng hóa các loại tên lửa để phù hợp với kích cỡ hàng hóa khác nhau, giảm chi phí phóng và tăng số lượng địa điểm phóng vệ tinh, bao gồm cả việc xây dựng thêm cảng vũ trụ và sử dụng tàu phóng trên biển.

Ngoài CASC, lĩnh vực phóng vệ tinh thương mại của Trung Quốc còn có sự tham gia của nhiều công ty khác như Công ty Năng lượng Thiên hà (Galactic Energy). Tên lửa Ceres-1 của công ty này thực hiện chuyến bay đầu tiên vào tháng 11/2020. Điểm nổi bật của Ceres-1 là khả năng mang theo trọng tải 300kg lên quỹ đạo 500km.

Công ty Năng lượng Thiên hà đã thực hiện 7 vụ phóng Ceres-1 trong năm 2023, so với 4 vụ trong giai đoạn năm 2020 – 2022.

Trong cuộc đua không gian thương mại của Trung Quốc, không thể không nhắc đến Landspace. Năm 2023, công ty này đã ghi dấu lịch sử với tên lửa Zhuque-2, thực hiện thành công vụ phóng vệ tinh đầu tiên trên thế giới sử dụng nhiên liệu khí metan và oxy hóa lỏng. Đây được coi là một bước đột phá trong việc sử dụng nhiên liệu giá rẻ cho tên lửa ở Trung Quốc.

Với thị trường tên lửa cỡ lớn, Orienspace được thành lập từ năm 2020, đã thực hiện một bước đột phá vào tháng 1 năm nay với vụ phóng tên lửa Gravity-1 từ con tàu ngoài khơi tỉnh Sơn Đông (phía đông Trung Quốc).

Gravity-1 có khả năng đưa trọng tải lên tới 6.500kg lên quỹ đạo Trái Đất thấp, trở thành phương tiện phóng mạnh mẽ nhất do một doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc phát triển.

Tên lửa hạng nhỏ có thể mang trọng tải 2.000kg, phù hợp với các vệ tinh nhỏ và siêu nhỏ. Trong khi tên lửa hạng trung có thể mang trọng tải 20.000kg, phù hợp với các vệ tinh quan sát Trái Đất, viễn thông và các nhiệm vụ khoa học.

Cuối cùng là tên lửa hạng nặng có thể mang trọng tải hơn 20.000kg, thường được sử dụng cho các sứ mệnh liên hành tinh, lắp đặt trạm vũ trụ và phóng các vệ tinh lớn. Tên lửa Falcon do SpaceX phát triển có sức trở 64.000kg lên quỹ đạo.

BDN

Loading

Views: 0

Gửi thông điệp răn đe TQ – Mỹ điều động 3 tàu sân bay đến châu Á

Quân đội Mỹ đã tăng gấp đôi nỗ lực răn đe Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên bằng cách triển khai ba tàu sân bay tới Tây Thái Bình Dương, theo tờ Nikkei Asia hôm 1.2.

Hải quân Mỹ đã cho phép phóng viên từ một số cơ quan truyền thông, trong đó có cả Nikkei Asia, lên tàu sân bay USS Carl Vinson khi tàu này tham gia cuộc tập trận với Nhật Bản ở biển Philippines ngày 31.1.

Tàu USS Carl Vinson đi theo đội hình cùng với một tàu sân bay khác của Mỹ là USS Theodore Roosevelt và tàu khu trục trực thăng JS Ise của Nhật. Tham gia cuộc tập trận còn có 9 tàu khác, theo tuyên bố từ Lực lượng Phòng vệ biển của Nhật Bản.

Ngoài ra, tàu sân bay USS Ronald Reagan, tàu sân bay tiền phương duy nhất của Mỹ đóng tại Yokosuka ở Nhật, hiện đang ở cảng nhà, nghĩa là ba trong số 11 tàu sân bay của Mỹ đang ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Đây dường như là lần đầu tiên sau hai năm, 3 tàu sân bay Mỹ được bố trí gần cái gọi là chuỗi đảo thứ nhất, nối liền đảo Okinawa của Nhật và Đài Loan với Philippines, theo Viện Hải quân Mỹ.

Theo một quan chức Hải quân Mỹ, một tàu do thám thuộc hải quân Trung Quốc đã bị phát hiện cách tàu sân bay USS Carl Vinson từ 8 đến 16 km. Tàu Trung Quốc này bị nghi là đang thu thập thông tin tình báo về khả năng và hoạt động của Mỹ và Nhật Bản trong cuộc tập trận nói trên, theo Nikkei Asia.

Chuẩn Đô đốc Christopher Alexander, chỉ huy nhóm tác chiến tàu sân bay USS Theodore Roosevelt, khẳng định “việc tàu [hải quân Trung Quốc] đến đây cùng chúng tôi không khiến chúng tôi lo ngại”. Ông nhấn mạnh: “Vào lúc này, chúng tôi ở đây để tăng cường mối quan hệ với các đồng minh và đối tác của mình, đồng thời để thể hiện rằng chúng tôi có thể ứng phó với bất kỳ cuộc khủng hoảng hoặc tình huống bất ngờ nào đang xảy ra ở Tây Thái Bình Dương”.

Trước đó, vào tháng 11.2023, Hải quân Mỹ cũng đã mời một số cơ quan truyền thông tới quan sát các cuộc tập trận của tàu sân bay ở biển Philippines, cho thấy rằng họ mong muốn công chúng chú ý nhiều hơn đến các hoạt động của mình ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, theo Nikkei Asia.

Trong khi kế hoạch triển khai tàu sân bay được cho là đã hoàn tất từ nhiều tháng trước, một loạt cuộc tập trận có tác dụng nhắc nhở rằng quân đội Mỹ không phớt lờ khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong lúc một cuộc chiến tranh khu vực có thể nổ ra ở Trung Đông.

“Đó là một thông điệp răn đe. Việc gửi thông điệp này sẽ tiếp diễn bất kể điều kiện ở những nơi khác trên thế giới như thế nào vì Trung Quốc là một mối đe dọa ngày càng tăng”, nhà khoa học chính trị cấp cao Jeffrey Hornung tại tổ chức nghiên cứu Rand Cooperation (Mỹ) nhận định.

Ngoài ra, chuyên gia Patrick Cronin, giám đốc an ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Viện Hudson (Mỹ), nhận định: “Với cuộc chiến ở châu Âu và nguy cơ xung đột rộng hơn ở Trung Đông, Hải quân [Mỹ] biết đây là thời điểm quan trọng để tăng cường răn đe và trấn an các đồng minh rằng Mỹ sẵn sàng hành động nếu lợi ích của nước này bị đe dọa”.

Ở Trung Đông, USS Dwight Eisenhower là tàu sân bay duy nhất của Mỹ xử lý căng thẳng gia tăng trong khu vực. Tàu sân bay USS Gerald Ford, được điều đến phía đông Địa Trung Hải, đã rời khu vực vào tháng 1 và được thay thế bằng tàu đổ bộ tấn công USS Bataan.

Hiện chưa có thông tin về phản ứng của Trung Quốc cũng như Triều Tiên đối với động thái trên của Mỹ.

BDN

Loading

Views: 0

Nga triển khai vũ khí mới đến đảo Kuril tranh chấp với Nhật

Liên quan đến quần đảo tranh chấp, Thủ tướng Nhật Fumio Kishida nói Tokyo mong muốn có hiệp ước hòa bình với Nga, nhưng không từ bỏ các lệnh trừng phạt Nga.

Theo Hãng thông tấn Tass, Phó chủ tịch Hội đồng An ninh Nga Dmitry Medvedev ngày 30-1 nói Nga sẽ triển khai nhiều vũ khí mới đến quần đảo Kuril đang tranh chấp với Nhật Bản.

Theo đó, Nga và Nhật Bản chưa từng ký một hiệp ước hòa bình chính thức chấm dứt xung đột giữa hai bên liên quan đến quần đảo Kuril kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2.

Quần đảo Kuril, phía Tokyo gọi là lãnh thổ phương bắc, là trung tâm trong cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa Nga và Nhật.

Ông Medvedev nói Nga không phản đối việc ký kết hiệp ước hòa bình với Nhật Bản, chỉ khi Tokyo không còn tranh chấp chủ quyền của quần đảo này với Nga.

Trong Sách xanh ngoại giao 2022 công bố ngày 22-4, Nhật Bản đã gọi bốn hòn đảo đang tranh chấp với Nga ở phía bắc nước này là “nơi bị Nga chiếm đóng trái phép”.

Trong khi đó, Điện Kremlin khẳng định bốn hòn đảo trên là một phần không thể thiếu của lãnh thổ Nga.

Cũng trong ngày 30-1, phát biểu trước Hạ viện, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida cho biết Nhật muốn ký kết hiệp ước hòa bình với Nga, nhưng đồng thời có ý định tiếp tục chính sách trừng phạt chống lại Nga và ủng hộ Ukraine.

“Chúng ta sẽ tiếp tục tích cực thúc đẩy các lệnh trừng phạt đối với Nga và ủng hộ Ukraine”, ông Kishida nói. Thủ tướng Nhật cũng nêu tình thế khó khăn trong quan hệ song phương Nhật – Nga, khi Matxcơva tiến hành cuộc chiến tại Ukraine.

“Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn cam kết kiên quyết với lộ trình cho việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ và kết thúc bằng một hiệp ước hòa bình”, ông Kishida nói thêm.

Tháng 3-2022, Bộ Ngoại giao Nga ra thông báo Matxcơva đã chấm dứt đàm phán với Tokyo cho một hiệp ước hòa bình, khi Nhật Bản đơn phương có các biện pháp hạn chế đối với Nga do cuộc chiến tại Ukraine.

Nga cũng đã rút khỏi đối thoại với Nhật Bản cho các hoạt động kinh tế chung ở phía nam quần đảo Kuril và ngăn chặn việc gia hạn tư cách đối tác đối thoại của Nhật Bản trong Tổ chức Hợp tác kinh tế Biển Đen.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu chiến Nga tập trận tại Biển Đông

Tàu hộ tống Nguyên soái Shaposhnikov của Nga đã thực hiện cuộc tập trận chống ngầm tại Biển Đông, một phần trong chuyến hải trình xa từ hôm 22.1.

Tàu hộ tống Nguyên soái Shaposhnikov của Hạm đội Thái Bình Dương Nga đã thực hiện một cuộc tập trận chống ngầm tại Biển Đông, Reuters ngày 29.1 dẫn thông tin từ truyền thông Nga, vốn trích lại từ thông báo của hạm đội.

Nội dung của cuộc tập trận là tìm kiếm và tiêu diệt tàu ngầm. Cụ thể, sau khi phát hiện tàu ngầm của đối phương và xác định tọa độ nhờ máy bay trực thăng, tàu chiến phóng các ngư lôi và thả vũ khí chống ngầm để tiêu diệt.

Tàu Nguyên soái Shaposhnikov rời khỏi cảng Vladivostok ở vùng Viễn Đông của Nga vào ngày 22.1. Một biên đội tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương Nga, gồm soái hạm Varyag và tàu Nguyên soái Shaposhnikov, đang trong chuyến hải trình xa bờ, gồm các hoạt động tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thăm cảng nước ngoài cho mục đích ngoại giao. Chưa rõ sứ mệnh này kéo dài bao lâu.

Trang tin Eurasian Times hôm 26.1 đưa tin hai tàu chiến nói trên đã thực hiện một cuộc tập trận chiến lược tại biển Hoa Đông, ngăn chặn một cuộc tấn công giả định trên không của đối phương.

Trong cuộc tập trận, các tàu chiến phô diễn chuyên môn bằng cách phát hiện nhiều mục tiêu trên không tiếp cận đội tàu, sau đó kích hoạt hệ thống tác chiến điện tử và hệ thống tên lửa chống máy bay để ngăn chặn mối đe dọa tiềm tàng.

Cuộc tấn công giả định trên không được thực hiện trên máy tính và không có tên lửa phòng không thực tế nào được phóng, Eurasian Times dẫn thông báo của Quân khu miền Đông của Nga.

BDN

Loading

Views: 0

Biển Đông là tài sản chung toàn cầu cần được bảo tồn bảo vệ

Biển Đông có diện tích hơn 3,6 triệu km2 có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng về kinh tế, quân sự và môi trường.

Biển Đông là vùng biển có hệ sinh thái biển đa dạng sinh học nhất hành tinh này. Nguồn hải sản phong phú ở đây đã tạo việc làm cho hàng triệu người và nuôi sống hàng trăm triệu người của các quốc gia ven Biển Đông mà còn cung cấp nguồn hải sản cho hàng triệu người trên thế giới. Hệ sinh thái biển ở đây, đặc biệt là các rạn san hô không chỉ đảm bảo môi trường biển bền vững cho khu vực mà cho cả Thái Bình Dương. Biển Đông cũng là nơi có nhiều tài nguyên đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt góp phần bảo đảm an ninh năng lượng chung cho khu vực và thế giới, giúp cho nhiều quốc gia trong khu vực trở lên thịnh vượng.

Biển Đông là nơi diễn ra các hoạt động thương mại quốc tế có tổng giá trị hơn 5.300 tỷ USD mỗi năm. Đây là con đường hàng hải nối từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương có tầm quan trọng bậc nhất trên thế giới. Các nền kinh tế lớn nhất, nhì thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đều phải vận chuyển hàng hóa trên con đường này.

Cũng chính vì Biển Đông có vai trò, vị trí quan trọng như vậy, khi các quốc gia ven biển đều cho rằng kinh tế biển là hết sức quan trọng thì việc tranh chấp chủ quyền, khai thác tài nguyên biển ở Biển Đông càng trở lên phức tạp, xung đột liên tục diễn ra.

Trong các quốc gia ven Biển Đông, hầu hết có nền kinh tế chưa phát triển, kinh tế biển mới phát triển vài thập kỷ gần đây và quan hệ tương đối hòa bình thì Trung Quốc ngày càng làm cho Biển Đông dậy sóng.

Trước hết là việc Trung Quốc thôn tính các đảo, quần đảo bất chấp chủ quyền của các nước đe dọa an ninh hàng hải và hòa bình trong khu vực.

Về môi trường, Trung Quốc cũng bị các nhà nghiên cứu về biển cho là Trung Quốc hủy hoại môi trường biển của Biển Đông nhiều nhất và lớn nhất. Trung Quốc đã ngang nhiên bồi đắp các đảo ngầm ở khu vực quần đảo Trường Sa, hủy hoại hàng loạt rạn san hô cả một vùng rộng lớn.

Trung Quốc có đội tàu đánh bắt cá khổng lồ. Chính phủ Trung Quốc nói rằng đội tàu đánh bắt xa bờ của họ khoảng 2.600 chiếc, nhưng Viện Phát triển hải ngoại của Anh cho rằng đội tàu này có tới 17.000 chiếc. Những tàu này được trang bị nhiều thiết bị điện tử để tìm kiếm nguồn cá và đánh bắt theo kiểu tiêu diệt. Hiện nay, Trung Quốc đánh bắt và tiêu thụ hải sản hơn bất kỳ quốc gia nào khác.

Trung Quốc cũng được cho là đã thải ra 1/3 lượng rác thải nhựa gây ô nhiễm các đại dương trong đó có Biển Đông.

Biển Đông là một phần trong tài sản chung toàn cầu cần phải được bảo tồn và bảo vệ. Các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc cần phải ý thức được điều đó.

BDN

Loading

Views: 0

ASEAN kêu gọi duy trì ổn định không gian biển ở Đông Nam Á

Các Ngoại trưởng ASEAN ra tuyên bố bày tỏ quan ngại về tình hình Biển Đông, kêu gọi duy trì và thúc đẩy ổn định không gian biển ở Đông Nam Á.

Tuyên bố Ngoại trưởng ASEAN công bố ngày 30/12 tái khẳng định quan điểm chung của khối về hợp tác biển trong khu vực. Đây là nguyên tắc căn bản trong ứng xử của các nước trên những vùng biển ở Đông Nam Á, trong đó có Biển Đông, theo Bộ Ngoại giao.

“Chúng tôi theo dõi sát sao và quan ngại về những diễn biến gần đây ở
Biển Đông”, tuyên bố có đoạn. Các bộ trưởng tái khẳng định tính cấp thiết của khôi phục, tăng cường lòng tin và tin cậy, kêu gọi “tự kiềm chế khi tiến hành những hoạt động có thể làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định”.

Các ngoại trưởng cũng kêu gọi các bên tránh những hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Ngoại trưởng các nước ASEAN nhấn mạnh tầm quan trọng của thực hiện đầy đủ và hiệu quả toàn bộ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và cam kết hợp tác chặt chẽ để sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Các ngoại trưởng ASEAN hoan nghênh Mỹ và Trung Quốc tổ chức tham vấn về biển tại Bắc Kinh, cũng như cuộc gặp giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bên lề Hội nghị các nhà lãnh đạo APEC tại bang California.

ASEAN kỳ vọng những cuộc đối thoại như vậy sẽ thúc đẩy nỗ lực của khối nhằm tăng cường ổn định và hợp tác trong không gian biển ở khu vực.

Khu vực Biển Đông. Đồ họa: CSIS
Khu vực Biển Đông. Đồ họa: CSIS

Đây là lần thứ năm ASEAN ra tuyên bố riêng về các vấn đề trên biển kể từ 1995. Lần gần nhất ASEAN ra tuyên bố riêng về Biển Đông là năm 2014.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ triển khai quân sự, TQ kêu gọi các nước trong khu vực cảnh giác

Trong buổi họp báo ngày 28-12, Bộ Quốc phòng Trung Quốc kêu gọi các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương cảnh giác khi Mỹ tăng cường triển khai quân sự.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc ngày 28-12 kêu gọi khu vực châu Á – Thái Bình Dương cảnh giác khi Mỹ tăng cường triển khai quân sự trong khu vực.

Lời kêu gọi được đưa ra trong bối cảnh truyền thông đưa tin Washington đang có kế hoạch khôi phục một sân bay ở Thái Bình Dương từng thực hiện nhiệm vụ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản.

Phát biểu trong buổi họp báo thường kỳ hôm 28-12, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Ngô Khiêm nói quân đội Trung Quốc đang theo dõi các động thái của Mỹ và sẽ bảo vệ vững chắc các quyền hàng hải, an ninh và chủ quyền của Bắc Kinh trong khu vực.

Vào đầu tháng 12, trong cuộc phỏng vấn với báo Nikkei Asia, Tướng Kenneth Wilsbach, chỉ huy Lực lượng không quân Thái Bình Dương, cho biết quân đội Mỹ sẽ đạt được “bước tiến quan trọng” khi dọn dẹp sân bay Bắc (North Field) trên đảo Tinian khỏi tình trạng rừng rậm vào các tháng tới.

Theo đó, động thái này là một phần trong kế hoạch phân bố các chiến đấu cơ của Mỹ trên khắp khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong bối cảnh mối đe dọa tên lửa từ Trung Quốc ngày một gia tăng.

Tinian là một trong ba đảo chính của quần đảo Bắc Mariana, một lãnh thổ của Mỹ ở Thái Bình Dương, cách đảo Hawaii khoảng 6.000km về phía tây và cách đảo Guam khoảng 200km về phía bắc.
Trung Quốc sẽ không làm ngơ trước Philippines ở Biển Đông

Cũng tại buổi họp báo, ông Ngô Khiêm nói Trung Quốc sẽ không “làm ngơ” trước những “khiêu khích và quấy rối” liên tục từ Philippines, trong bối cảnh căng thẳng gia tăng liên quan đến hàng loạt đụng độ ở Biển Đông.

Manila vào đầu tháng 12 cáo buộc lực lượng bảo vệ bờ biển và dân quân biển Trung Quốc liên tục phun vòi rồng vào các tàu tiếp tế của Philippines, gây “hư hỏng động cơ nghiêm trọng” một tàu và “cố tình” đâm vào một tàu khác.

Ông Ngô Khiêm gọi những cáo buộc của Manila là “hoàn toàn sai sự thật”, cho rằng phía Philippines đã cho tàu “xâm nhập” vào vùng biển gần bãi cạn đang tranh chấp và “chủ động đâm” vào một tàu thuộc Cảnh sát biển Trung Quốc.

Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp đáp trả hợp lý và hợp pháp.

Truyền thông nhà nước Trung Quốc cáo buộc Philippines dựa vào sự hỗ trợ của Mỹ để liên tục đối đầu với Trung Quốc.

“Chúng tôi kêu gọi Mỹ ngay lập tức ngừng can thiệp vào vấn đề Biển Đông, ngừng khuyến khích và ủng hộ hành vi xâm phạm, khiêu khích của Philippines, đồng thời bảo vệ an ninh khu vực bằng các hành động cụ thể”, ông Ngô nói tại cuộc họp báo.

BDN

Loading

Views: 0

Biển Đông, thách thức và ứng phó

Với tham vọng độc chiếm Biển Đông, trong những năm gần đây Trung Quốc đã công khai tham vọng này bằng việc công bố yêu sách “Đường lưỡi bò” phi pháp chiếm gần 90% diện tích Biển Đông. Nước này cũng tăng cường việc cải tạo trái phép các bãi đá trong khu vực thành các đảo nhân tạo.

Trong trật tự thế giới đa cực hiện nay, Trung Quốc không dễ hiện thực hoá các tham vọng của mình. Con đường soán ngôi bá chủ thế giới gặp quá nhiều thách thức đến từ Mỹ, cùng hệ thống các nước đồng minh và các thể chế trong khu vực.

Thách thức đầu tiên là, Mỹ triển khai hàng loạt các chiến lược kiềm toả Trung Quốc và tăng cường sự hiện diện của mình tại Biển Đông, thông qua nhiều phương tiện và cách thức ngăn chặn. Mỹ tiếp tục triển khai các chiến lược tự do hàng hải (FONOPs), tuy có sự suy giảm về tần suất hoạt động.

Theo thống kê, năm 2020, Mỹ đã tiến hành 9 hoạt động FONOPs. Năm 2021 và năm 2022, con số này giảm xuống một nửa. Còn tính đến tháng 9/2023, mới chỉ có 2 hoạt động FONOPs.

Mỹ cũng đẩy mạnh các hoạt động phát triển năng lực hải quân cho các quốc gia đồng minh, tiến hành các cuộc tập trận chung hợp pháp tại các vùng biển. Các đồng minh quan trọng trong khu vực như Philippines, Hàn Quốc, Nhật Bản, đã liên tục tập trận chung với Mỹ trong năm 2023. Mỹ cũng công khai ủng hộ Philippines trong hoạt động tiếp tế tại bãi Cỏ Mây và tham gia giải quyết các mâu thuẫn khác trên biển Đông với Trung Quốc.

Ngoài lực cản lớn nêu trên, một số quốc gia trong khối ASEAN đang tìm kiếm các cơ chế hợp tác an ninh với Mỹ và đồng minh nhằm nâng cao năng lực hải quân. Sự hợp tác này còn nhằm đối phó với các nguy cơ xung đột với tàu thuyền Trung Quốc. Philippines là một bên tranh chấp với Trung Quốc tại khu vực bãi Hoàng Nham (Scarborough). Trong Chiến lược An ninh quốc gia, Manila khẳng định, sẽ tiếp tục tăng cường thực hiện Hiệp ước Phòng thủ chung với Mỹ.

“Bộ tứ” mới giữa 4 quốc gia Mỹ, Philippines, Nhật Bản, Australia tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng ngày càng tăng cường hợp tác. Sự hợp tác Philippines – Nhật Bản xuất phát từ việc cả hai quốc gia đều có những mâu thuẫn với Trung Quốc.

Philippines và Nhật Bản được cho là đang xây dựng Thoả thuận Các lực lượng Thăm viếng, tương tự như các Thoả thuận giữa Philippines và Mỹ hoặc giữa Philippines và Australia. Trong tương lai, một Thoả thuận như vậy giữa Philippines và Nhật Bản sẽ giúp Philippines nâng cao vị thế năng lực quân sự – hải quân, hưởng lợi từ sự hiện diện của quân đội Nhật Bản trên lãnh thổ Philippines, cùng với sự chuyển giao vũ khí quân sự từ Nhật Bản.

Việt Nam là một trong số những quốc gia có tranh chấp phức tạp với Trung Quốc tại Biển Đông. Việt Nam luôn khẳng định nhất quán với chính sách “Bốn không”, tuy vậy Hà Nội cũng tìm kiếm sự hợp tác về an ninh với các nước trong và ngoài khu vực thông qua các hoạt động mua bán tàu và tập trận chung nhằm tăng cường sức mạnh hải quân và nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu.

Việt Nam đồng thời tìm kiếm các cơ hội hợp tác quốc phòng sâu rộng hơn với các quan hệ đối tác quốc phòng truyền thống như Nga, tương ứng với chính sách “bốn không” và chủ nghĩa đa phương mà Việt Nam đang theo đuổi. Ấn Độ là một đối tác quan trọng của Việt Nam về an ninh – quốc phòng trong thời gian tới. Tuy không có lợi ích trực tiếp tại Biển Đông, nhưng Ấn Độ chia sẻ với Việt Nam trong việc giải quyết các thách thức về xung đột biên giới, lãnh thổ với Trung Quốc.

Bước sang năm 2024, các cơ chế hợp tác an ninh hiện có và mới hình thành khu vực tiếp tục được đề cao, với sự tham gia của các nước có tranh chấp tại Biển Đông. Các quốc gia trong khu vực đang nỗ lực hình thành văn kiện ràng buộc pháp lý với các bên liên quan tại Biển Đông nhằm đảm bảo tình hình ổn định, hợp tác và phát triển cũng như giải quyết thực chất các tranh chấp còn tồn đọng.

Trọng tâm của các đối thoại giữa các quốc gia trong khu vực đều nhằm thảo luận cơ chế thực thi luật biển và đảm bảo an ninh, ổn định hàng hải, chống cướp biển và chống đánh bắt cá bất hợp pháp. Đối thoại giữa các bên được nêu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đều nhấn mạnh vai trò trung tâm của UNCLOS 1982.

Sự hình thành của Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông (COC) bắt đầu từ năm 1992 tại Hội nghị Bộ trưởng các nước ASEAN, tới năm 1995, COC song phương giữa Philippines – Trung Quốc và Philippines – Việt Nam đã được thông qua. Các bên đã thống nhất chấp thuận việc tiến hành đàm phán, tiến tới việc cho ra đời một bản COC áp dụng cho toàn khu vực ASEAN.

Song, tiến trình đàm phán diễn ra một cách ì ạch do phía Trung Quốc cố tình gây khó khăn. Các vướng mắc chủ yếu đến từ các xung đột sẵn có về tuyên bố chủ quyền giữa các bên xung quanh các thực thể trên Biển Đông. Dẫu sao việc đàm phán không thể kéo dài vô thời hạn. COC được kỳ vọng mang tính ràng buộc pháp lý ở mức cao phải được thông qua để góp phần xây dựng Biển Đông hoà bình, ổn định.

Năm 2024, nhìn chung, tình hình Biển Đông vẫn có những diễn biến hết sức phức tạp. Tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung quốc không dễ thực hiện, trước hết là do sự kiềm toả của Mỹ và hệ thống các nước đồng minh trong khu vực. Tiếp đến là bởi các nước trong khu vực ngày càng gắn bó, với các cơ chế hợp tác cụ thể, ngăn chặn các thách thức đến từ tham vọng bành trướng của Bắc Kinh.

Khu vực Biển Đông nói riêng và Châu Á – Thái Bình Dương nói chung sẽ còn chịu tác động lâu dài từ những biến động của môi trường quốc tế.

BDN

Loading

Views: 0

Campuchia đào kênh, Việt Nam lo lắng

Đang quan ngại trước những động thái mới diễn ra tại quân cảng Ream của Campuchia, Hà Nội phải quan tâm tới dự án kênh đào Phù Nam – Techo mà Phnom Penh sắp triển khai.

“Động thái mới” nêu trên là sự hiện diện của ít nhất nhóm 2 tàu chiến Trung Quốc tại quân cảng Ream của Campuchia ngay trong tuần đầu tháng 12 này, để “tham gia chương trình huấn luyện” với hải quân Campuchia – theo thông báo của Phnom Penh.

Dù hoài nghi, Hà Nội cũng chỉ ngấm ngầm theo dõi, chứ chẳng thể lên tiếng phản đối chính thức. Ream thuộc tỉnh Sihanoukville, nên Campuchia toàn quyền sử dụng, ai có thể can thiệp nào? Đến Mỹ, hậm hực thế, mà cũng đành chịu thúc thủ nữa là.

Tất nhiên, Phnom Penh cũng ranh mãnh lắm. Cả thiên hạ thừa biết trong vụ Ream, họ biệt đãi Bắc Kinh, nhưng ngoài mặt, các nhà lãnh đạo Campuchia, hết ông này tới ông khác thảy đều một giọng: Trung Quốc không phải là quốc gia duy nhất được phép tiếp cận căn cứ (Ream). Thậm chí, để mọi người tin Campuchia “vô tư”, đích thân ông Hun Sen trấn an mạnh mẽ: “Campuchia không cần hiện diện của quân đội nước ngoài trên lãnh thổ của mình”.

Nhưng với “vụ” kênh đào Phù Nam – Techo, thì Campuchia không thể bắt người khác vẫn phải ứng xử như thế, nhất là Việt Nam chỉ im lặng. Im lặng sao được khi dự án này liên quan sông Mekong. Liên quan sông Mekong thì một quốc gia hạ lưu sông này như Việt Nam có thể “bình chân như vại” chăng?.

Ngay sau khi chính thức được Quốc hội Campuchia xem xét, cho ý kiến vào 19/05/2023, đặt tên là Dự án “kênh đào Phù Nam – Techo”, Phnom Penh đã tỏ ra vô cùng hào hứng. Bằng chứng là chỉ hơn nửa tháng sau đó, ngày 07/06/2023, chính phủ Campuchia đã ra quyết định thành lập Ủy ban liên bộ để triển khai dự án này. Thông tin cho biết, kênh Phù Nam – Techo có chiều dài 180 km, đi qua 4 tỉnh (tỉnh Kandal, tỉnh Takeo, tỉnh Kampot và tỉnh Kep) với tổng dân số 1,6 triệu người sinh sống hai bên ven sông. Chi phí xây dựng ước tính khoảng 1,7 tỉ USD, trong thời gian 4 năm. Hoàn thành, kênh Phù Nam – Techo sẽ có 2 làn tàu thuyền, giúp lưu thông 2 chiều cùng lúc, giúp Campuchia tiết kiệm chi phí vận chuyển bằng đường thủy, góp phần phát triển kinh tế vùng, thúc đẩy phát triển đô thị hóa, cũng như tăng trưởng bất động sản…

Tuy nhiên, sự hào hứng của Phnom Penh lại chính là điều lo lắng của Hà Nội. Các chuyên gia thủy lợi của Việt Nam cho rằng: việc Campuchia xây dựng tuyến giao thông đường thuỷ này có thể sẽ làm giảm lưu lượng nước trên dòng sông Hậu (phía Campuchia gọi là dòng sông Basac thuộc hệ thống sông Mekong), tác động tiêu cực đến đồng bằng Sông Cửu Long – vựa lúa của Việt Nam, nhưng cũng là khu vực đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn.

Nể tình hữu nghị lâu đời hai nước anh em, báo chí “quốc doanh” của Hà Nội, có lẽ được “định hướng” (?) nên không công khai làm to chuyện. Tuy nhiên, mạng xã hội thì chẳng ai định hướng nổi, làm um lên rằng: Dự án kênh đào nhân tạo này có thể là chiếc đinh cuối cùng đóng vào quan tài (chỉ Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam); là một bước đi chiến lược của Trung Quốc để đánh vào hạ lưu sông Mekong… – như ý kiến một chuyên gia là ông Phạm Phan Long, Chủ tịch Viet Ecology Foundation- một Tổ chức Phi chính phủ (NGO) ở Mỹ.

Trước cảnh báo trên, Hà Nội sao thể không giật mình. Năm 2016 nào đã xa. Năm đó, người dân miền Tây Nam Bộ Việt Nam đã chứng kiến sự xâm nhập mặn khác thường, ồ ạt, gây nhiều thiệt hại ở đồng bằng Sông Cửu Long. Mặc cho Trung Quốc bai bải chối, nhưng đận đó, nhiều người không thể không nghĩ hiện tượng khác thường này liên quan Trung Quốc hạn chế xả nước ở một đập thủy điện trên sông Lan Thương (tên gọi khác của sông Mekong) phục vụ cho sản xuất điện.

Nhưng dự án kênh Phù Nam – Techo của Campuchia, sao lại liên quan tới Trung Quốc? Định kiến quá, tới mức cái gì cũng quy, cũng đổ cho “nhà Tàu” chăng?

Hóa ra, cái ông kỹ sư Phạm Phan Long có lý. Chuyện là dự án Phù Nam – Techo này được Trung Quốc hỗ trợ kinh phí (1,7 tỷ USD). Tất nhiên, Trung Quốc chẳng cho không ai bao giờ. Campuchia được lợi, thì Trung Quốc cũng có lợi. Thậm chí, nhiều người cho rằng: Trung Quốc còn “được” nhiều hơn nước sở tại khi việc triển khai siêu kênh đào này là một phần trong sáng kiến “Vành đai và Con đường của Trung Quốc”, thúc đẩy nó chuyển sang giai đoạn mới ở Campuchia.

Nói trần trụi hơn, hiện thực hóa dự án, thế và lực của Trung Quốc tại đất nước Chùa Tháp sẽ được khẳng định, mở rộng hơn rất nhiều. Điều đó đồng nghĩa Phnom Penh, thời ông Hun Sen đã phụ thuộc, tới thời ông Manet, sẽ càng phụ thuộc vào Bắc Kinh hơn nữa, trong tư cách là…con nợ.

Phụ thuộc tới mức đó, chẳng nói thì ai cũng biết, một khi Bắc Kinh yêu cầu, đặt điều kiện gì đó, Phnom Penh …khó chối lắm. Trong các yêu cầu đó, ai dám chắc không liên quan tới lợi ích, chủ quyền của Việt Nam.

Thế nên, Hà Nội lo lắng là phải.

BDN

Loading

Views: 0

Mảnh vỡ tên lửa vũ trụ TQ rơi xuống Biển Đông

Trung Quốc cảnh báo các mảnh vỡ tên lửa của nước này sẽ rơi xuống Biển Đông ngày 26-12. Cách đây 11 ngày, nước này từng phóng tên lửa vũ trụ Trường Chinh 5.

Trung Quốc đã phóng tên lửa Trường Chinh 5 (Long March 5) – tên lửa vũ trụ mạnh nhất của Trung Quốc – từ bãi phóng Văn Xương ở tỉnh Hải Nam vào hôm 15-12, đưa thành công vệ tinh viễn thám vào quỹ đạo định trước.

Sáng 26-12, truyền thông Trung Quốc dẫn thông tin của Cục Hải sự Trung Quốc cảnh báo “xác tên lửa” sẽ rơi xuống một khu vực ở Biển Đông, ngoài khơi đảo Hải Nam trong khoảng thời gian từ 11h tới 12h ngày 26-12 (giờ địa phương).

Thông báo trên không nói rõ tên lửa này là gì. Tuy nhiên, Hãng tin Reuters cho biết đây là tên lửa vũ trụ – thông thường bốc cháy khi hồi quyển.

Căn cứ vào thời gian quay trở lại Trái đất, có thể đoán được tên lửa này chính là Trường Chinh 5. Vào năm 2021, tên lửa đẩy Trường Chinh 5B được phóng từ đảo Hải Nam của Trung Quốc (ngày 29-4) và rơi xuống Trái đất (ngày 9-5) sau số ngày tương tự.

Trong vụ phóng hôm 15-12, tên lửa đẩy Trường Chinh 5 mang theo vệ tinh viễn thám quang học quỹ đạo cao Dao Cảm-41. Lần phóng này đánh dấu nhiệm vụ thứ 502 của dòng tên lửa đẩy Trường Chinh.

Vệ tinh Dao Cảm-41 sẽ được ứng dụng trong việc khảo sát đất đai, ước tính năng suất cây trồng, quản lý môi trường, cảnh báo và dự báo khí tượng, phòng ngừa và giảm nhẹ thiên tai.

BDN

Loading

Views: 0

Philippines tìm cách mở dự án thăm dò dầu khí mới ở Biển Đông

Nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr cho biết nước này đang nỗ lực giải quyết các vấn đề để triển khai các dự án thăm dò dầu khí mới.

Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr cho biết Manila đang nỗ lực giải quyết “các vấn đề thăm dò” ở Biển Đông nhằm bắt đầu các dự án thăm dò dầu khí mới, đáp ứng cho nhu cầu năng lượng quốc gia.

Theo đó, trong cuộc phỏng vấn với truyền thông Nhật Bản ngày 16-12, ông Marcos cho biết trong nhiều tháng gần đây, căng thẳng ở Biển Đông đã “gia tăng thay vì hạ nhiệt”.

“Tôi e rằng chúng ta phải nhìn nhận căng thẳng đã gia tăng thay vì hạ nhiệt trong những tháng gần đây hay trong những năm qua” – ông Marcos nói.

Tổng thống Philippines cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng các liên minh mạnh mẽ với các đồng minh có cùng chí hướng, giống như sự hợp tác ba bên giữa Philippines, Nhật Bản và Mỹ.

Ông Marcos cảnh báo rằng một “Trung Quốc quyết đoán hơn” đang đặt ra “thách thức thực sự” cho các nước láng giềng châu Á. Ông cho rằng các thách thức mà Trung Quốc đặt ra cần phải có “các giải pháp mới”.

Theo Hãng tin Reuters, Philippines và Trung Quốc đã nối lại đàm phán cho việc cùng khai thác dầu khí ở Biển Đông – khu vực từ lâu đã có nhiều tranh cãi về chủ quyền và quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Tuy nhiên, theo thông cáo báo chí từ văn phòng ông Marcos trong lúc ông đang tham dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN – Nhật Bản tại Tokyo, tổng thống Philippines nói các cuộc đàm phán có “rất ít tiến triển”.

“Chúng tôi hiện vẫn bế tắc” – ông Marcos nói, đồng thời nhấn mạnh quyền khai thác tài nguyên ở vùng Biển Tây Philippines, tên gọi Manila dùng để chỉ các vùng biển ở Biển Đông nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của họ.

Vào tuần trước, Manila và Bắc Kinh đã có cáo buộc qua lại trong một vụ đối đầu giữa các tàu của hai bên ở khu vực một bãi cạn đang vướng tranh chấp ở Biển Đông.

Sau vụ va chạm, ông Marcos tuyên bố sẽ nỗ lực bảo vệ các quyền của Philippines tại Biển Đông.

BDN

Loading

Views: 0

Sau dệt may, có thể đến da giày, đồ gỗ… mất vị thế xuất khẩu

Bangladesh đã vượt qua Việt Nam để trở thành quốc gia xuất khẩu hàng dệt may thứ 2 thế giới.

“Sau dệt may, có thể đến da giày, đồ gỗ… bị mất vị thế trên bản đồ xuất khẩu thế giới. Chúng ta đã sẵn sàng, đã chuẩn bị, bây giờ phải tham gia ngay vào cuộc cạnh tranh mới trong hoạt động xuất khẩu”, TS. Nguyễn Quốc Việt, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Chính sách (VEPR) phát biểu.

Cảm giác của ông thế nào khi Bangladesh chiếm ngôi vị “á quân” trong xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam?

Ngay từ năm 2021, VEPR đã nghiên cứu về các lĩnh vực xuất khẩu chủ lực mà Việt Nam có lợi thế, trong đó có dệt may, da giày, đồ gỗ và dự báo việc chúng ta có thể mất vị thế dẫn đầu về xuất khẩu các mặt hàng này. Lý do là, sau đại dịch, xu hướng đầu tư nước ngoài, hoạt động ngoại thương toàn cầu và xu hướng tiêu dùng ở những nền kinh tế phát triển đã có sự thay đổi nhanh chóng.

Theo đó, người tiêu dùng không còn quá chú trọng đến yếu tố “ngon – bổ – rẻ”, mà yêu cầu quá trình sản xuất phải bảo đảm các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường, sản xuất xanh, sản xuất tuần hoàn, giảm phát thải khí carbon… Các chính phủ cũng đặt ra nhiều yêu cầu, tiêu chuẩn về sản xuất, buộc doanh nghiệp sản xuất hàng hóa phải đáp ứng. Với những nền kinh tế phát triển, những yêu cầu, tiêu chuẩn này không khó, nhưng với nền kinh tế mới bắt đầu vào giai đoạn phát triển như Việt Nam thì là thách thức rất lớn.

Sau khi ngôi vị “á quân” trong xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam bị Bangladesh giành lấy, có thể ngôi vị thứ 3 trong xuất khẩu hàng dệt may, vị thế xuất khẩu hàng da giày, đồ gỗ và nhiều ngành gia công thâm dụng lao động khác của Việt Nam cũng không còn giữ được nếu doanh nghiệp không đáp ứng được đòi hỏi về sản xuất của nước nhập khẩu.

Những quốc gia cạnh tranh trực diện với Việt Nam về xuất khẩu các mặt hàng trên như Bangladesh, Indonesia, Philippines, Pakistan, Ấn Độ… cũng gặp khó khăn trong chuyển đổi mô hình sản xuất mới như Việt Nam?

Hiện tại, dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ đứng ở vị trí thứ 4, thứ 5 và thứ 6 trong các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Năm 2022, 3 mặt hàng này xuất khẩu 37,496 tỷ USD, 23,932 tỷ USD và 15,857 tỷ USD; tăng tương ứng 14,5%, 34,8% và hơn 7%.

Tuy nhiên, trong 11 tháng đầu năm nay, các mặt hàng trên mới xuất khẩu được 28,961 tỷ USD; 17,360 tỷ USD và 11,487 tỷ USD; giảm tương ứng 12,7%, 17,7% và 18,4%. Sự sụt giảm này có một phần là thương mại thế giới với các mặt hàng này suy giảm, nhưng quan trọng hơn là chúng ta đã bị các đối thủ chiếm lĩnh thị phần.

Ngay cả trong trường hợp các đối thủ xuất khẩu như doanh nghiệp của Banladesh, Indonesia, Philippines, Pakistan, Ấn Độ… chưa đổi mới quy trình sản xuất để đáp ứng tất cả đòi hỏi của nước nhập khẩu về sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, thân thiện với môi trường như doanh nghiệp Việt Nam, thì họ cũng có lợi thế hơn khi chi phí sản xuất rẻ hơn.

Nhưng thưa ông, Việt Nam có lợi thế mà các đối thủ không có được là đã ký kết và thực thi hàng loạt hiệp định thương mại tự do?

Chúng ta có lợi thế, nhưng chưa khai thác được bao nhiêu, vì nguyên liệu để sản xuất ra hàng dệt may, da giày, gỗ và sản phẩm gỗ chủ yếu vẫn phải nhập khẩu, chủ yếu từ những nước không nằm trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết. Đơn cử, doanh nghiệp xuất khẩu dệt may nhập nguyên liệu từ Trung Quốc hay Ấn Độ để sản xuất hàng xuất khẩu sang EU hay trong khu vực CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) thì không được hưởng ưu đãi về thuế quan vì không đáp ứng được quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi”.

Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam phải làm gì để giữ vững thị trường truyền thống?

Chúng ta không thể cạnh tranh bằng lương nhân công giá rẻ, nên phải cạnh tranh bằng cách đáp ứng quy trình sản xuất của nhà nhập khẩu, như giảm phát thải carbon, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đáp ứng các yêu cầu về lao động, bảo vệ người lao động, an toàn vệ sinh lao động, xuất xứ hàng hóa…

Để thực hiện điều đó, một ngành hàng hàng, khu công nghiệp, khu chế xuất không thể làm được, mà là trách nhiệm của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương. Riêng các yếu tố liên quan đến môi trường – ngày càng được các nước nhập khẩu đặt ra khắt khe hơn, rất mừng là Chính phủ đặc biệt quan tâm. Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương rất quyết liệt triển khai các cơ chế, chính sách để thực hiện Net Zero vì đây là “tấm thẻ bài” để duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu – một trong 3 động lực tăng trưởng kinh tế.

Việt Nam đã qua thời kỳ thu hút đầu tư nước ngoài bằng mọi giá, đã đến lúc “nhường sân” xuất khẩu dệt may, da giày, đồ gỗ cho nước khác để tập trung vào các mặt hàng công nghệ cao như chip bán dẫn. Ông có nghĩ vậy không?

Đây là hướng đi đúng và Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chuyển hướng thu hút đầu tư nước ngoài, không còn quá quan tâm đến những ngành có giá trị gia tăng thấp, thâm dụng lao động, chủ yếu là làm thuê (gia công)…, mà đặt mục tiêu thu hút những doanh nghiệp sản xuất điện tử, quang học, máy tính, điện thoại… và đặc biệt là chip bán dẫn – lĩnh vực đang và tiếp tục rất “hot” trong tương lai gần, vì con người càng ngày càng phụ thuộc vào chip bán dẫn.

Thực tế, đã có hàng loạt hoạt động mời gọi đầu tư, hàng loạt doanh nghiệp sản xuất chip bán dẫn đến Việt Nam. Trong đó, sự kiện đang gây nóng trên truyền thông là ông Jensen Huang, Chủ tịch Tập đoàn Nvidia (hãng sản xuất chip lớn nhất thế giới) đang thăm và làm việc tại Việt Nam. Qua truyền thông, tôi được biết, ông Jensen Huang đã cam kết với Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng và các quan chức Việt Nam là sẽ thành lập cứ điểm sản xuất chip bán dẫn của Nvidia tại Việt Nam.

Cơ hội đã mở ra, mong rằng chúng ta tận dụng được. Nếu chúng ta tận dụng được cơ hội trở thành cứ điểm sản xuất hàng công nghệ cao, chip bán dẫn…, thì cũng không ngại khi thứ tự xuất khẩu dệt may, da giày, đồ gỗ rơi vào tay các đối thủ khác.

BDN

Loading

Views: 0