Trong khi hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc tăng cường các hoạt động ngoại giao, họ vẫn đặc biệt quan tâm đến tình hình Biển Đông. Đây là khu vực nóng bỏng, nhạy cảm, liên quan đến sự tranh giành ảnh hưởng, sự “phân chia thế giới” trong thập niên thứ ba, thế kỷ XXI.
Đương nhiên, can dự vào cuộc chiến âm thầm, quyết liệt này không chỉ có hai “Ông lớn”. Các đồng minh của Mỹ, những người bạn hữu hảo của Trung Quốc luôn sát cánh, cùng chia lửa với Wasinghton và Bắc Kinh. Còn các nước Đông Nam Á, nhất là những nước đang có tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải trên Biển Đông thì chủ động cao nhất cho đấu tranh ngoại giao, kinh tế và quốc phòng, với phương châm muốn ngăn chặn chiến tranh thì phải chuẩn bị cao nhất, tốt nhất cho chiến tranh.
Năm 2023, “Nhóm A5” (bao gồm: Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines và Việt Nam) – khu vực được cho là chồng lấn giữa EEZ của các nước A5 với “Đường 9 đoạn phi pháp” của Bắc Kinh, đã có nhiều động thái tích cực ngăn chặn chiến thuật “vùng xám”, cùng các hành động gia tăng quân sự trên biển của Trung Quốc.
Philippines liên tục phản đối Trung Quốc vì các hành động xâm lấn, gây rối ở các khu vực mà nước này cho rằng chủ quyền thuộc về họ. Hôm 3/12, Manila thông báo, hơn 135 tàu Trung Quốc tràn xuống khu vực Bãi đá ngầm trên Biển Đông, đây là sự kiện “đáng báo động”. “Các tàu dân quân biển Trung Quốc đã không có phản hồi khi cảnh sát biển Philippines đưa ra cảnh báo. Sự hiện diện của các tàu thuyền này là nguy hiểm và bất hợp pháp” – Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines cho biết.
Cụ thể, các tàu Trung Quốc đã “tràn vào” rạn san hô ở bãi đá ngầm Ba Đầu. Bãi này nằm trên cụm đảo Sinh Tồn trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ba Đầu cách thị trấn Bataraza, tỉnh Palawan, miền Tây Philippines, khoảng 324km về phía Tây.
Trước đó, hồi giữa tháng 11 có tới 111 “tàu dân quân biển” của Trung Quốc cũng đã ngang nhiên tràn vào khu vực này. Còn cách đây hai năm, năm 2021, hơn 200 tàu Trung Quốc bất ngờ neo đậu, ăn vạ ở Bãi đá san hô này. Mặc cho Manila chỉ trích việc tàu Trung Quốc xâm nhập trái phép vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, Trung Quốc bác bỏ và nói rằng, những tàu đánh cá chỉ đang tìm, đang trú tạm khi thời tiết xấu. Không ai có quyền ngăn cản.
Sự kiện mới nhất là, hôm 1/12 Philippines thông báo, nước này thành lập một trạm bảo vệ bờ biển trên đảo Thị Tứ, nhằm tăng cường hoạt động giám sát với các tàu Trung Quốc. Trạm bảo vệ bờ biển sẽ được trang bị các “hệ thống tiên tiến”, bao gồm radar, thông tin vệ tinh, camera ven biển và quản lý giao thông tàu thuyền.
Rõ ràng, căng thẳng vẫn đang gia tăng và không có dấu hiệu hạ nhiệt. Cái phao cứu sinh là Công ước quốc tế về luật biển (UNCLOC-1982) cùng Phán quyết của Tòa trọng tài Quốc tế, LHQ, tại Lahaye vào năm 2016 đã hoàn toàn mất tác dụng.
Tại sao nói căng thẳng gia tăng? Bạn đọc có thể thấy rõ điều này qua chiến lược, chiến thuật “tằm ăn dâu” và các bước đi bài bản, khôn khéo của Trung Quốc. Gần đây dưới cái ô lớn “Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại”, Bắc Kinh đã khôn khéo kéo các quốc gia vào cùng núp dưới cái ô ấy, vì mục đích… hòa bình.
Trên Biển Đông, họ tổ chức ra 5 lực lượng phối hợp. Thực ra là họ đang thực hiện thế trận “vây lấn”. Thế trận này mang tính phức hợp, liên hoàn và được triển khai đồng loạt ở nhiều vị trí chiến lược. Họ đã huy động đến 5 lực lượng tham gia với những nhiệm vụ cụ thể: “Vây”, “lấn” và “tấn”. Các lực lượng đó bao gồm: dân binh, hải cảnh, hải tuần, hải quân và cuối cùng là các tàu khảo sát hàng hải.
Sự phân nhiệm giữa các lực lượng này nhằm thực hiện định hướng “bình thường hóa” các cuộc đối đầu trong phạm vi “đường 9 đoạn”.
Họ “bình thường hóa” bằng cách: Đưa lực lượng dân binh tham gia, giữ vai trò thường trực ở cả hai chức năng trong công tác “vây”. Chức năng thứ nhất là phong tỏa các thực thể chưa có người ở khu vực trung tâm “đường 9 đoạn”. Kế đến là bảo vệ vòng trong cùng khi hộ tống các tàu khảo sát hàng hải hoặc các khu vực do Trung Quốc kiểm soát trái phép.
Sự kiện 8 tàu dân binh Trung Quốc được phát hiện di chuyển cắt ngang đội hình các tàu hải quân của ASEAN và Ấn Độ, trong khuôn khổ diễn tập AIME-23 vào tháng 5/2023, là minh chứng điển hình cho chức năng này.
Họ “bình thường hóa” bằng cách, với chức năng chấp pháp, cho lực lượng hỉa cảnh thực hiện công tác “lấn” một cách chủ động, nhằm hỗ trợ lực lượng dân binh Trung Quốc ở trên đối trọng với các tàu chấp pháp của ASEAN. Điển hình là sự túc trực thường xuyên của hai tàu hải cảnh Trung Quốc 4303 và 5305 hộ tống tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 ở khu vực bãi Tư Chính của Việt Nam từ giữa tháng 5/2023.
Họ “bình thường hóa” bằng cách đưa lực lượng hải quân góp mặt ở vòng ngoài, không can dự trực tiếp vào thế trận do dân binh – hải cảnh thực hiện. Trung Quốc tuyên bố tự tập trận ở một số khu vực trên Biển Đông và tiến hành tập trận song phương tại vùng biển quốc tế sát mũi phía nam của Biển Đông Mục đích tập trận của Trung Quốc nhằm “thúc đẩy sự cởi mở và hiểu biết lẫn nhau” . Xem ra, chả ai “khôn” bằng Trung Quốc.
Ngoài ra, cũng có ghi nhận về hiện diện không rõ chủ ý của tàu hải quân Trung Quốc, quanh khu vực đảo Thị Tứ (của Việt Nam nhưng phía Philippines chiếm đóng trái phép) vào ngày 23-4 trong động thái hỗ trợ công tác “tấn” của hải cảnh Trung Quốc.
Hai lực lượng còn lại là nhóm tàu khảo sát hàng hải và tàu hải tuần. Mặc dù hai nhóm tàu này xuất hiện đơn lẻ nhưng lại có sự phối hợp hoạt động rất tinh vi. Chẳng hạn, Tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 hiện diện trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở bãi Tư Chính, nhưng vẫn còn hai tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 14 và Hướng Dương Hồng 31 được xác định vẫn đang hiện diện trong khu vực quanh cụm Sinh Tồn thuộc quần đảo Trường Sa, thuộc chủ quyền Việt Nam.
Trung Quốc hiểu hơn ai hết nơi đây là “mỏ vàng”, bởi có trữ lượng dầu mỏ lớn, cùng những ngư trường dồi dào trên Biển Đông, đặc biệt là bãi Tư Chính (ước tính có đến 5 tỉ tấn dầu).
Sức hấp dẫn của Biển Đông về giao thông, khoáng sản, hải sản… là rất lớn. Có nhà bình luận nói rằng, quốc gia nào chiếm được Biển Đông, quốc gia đó sẽ có cả thế giới. Chiến lược “vây”, “lấn” và “tấn” – thế trận phức hợp trên Biển Đông- nằm trong âm mưu lâu dài bá chủ thế giới của Bắc Kinh. Đương nhiên, đó là đại chiến lược, là mục tiêu lâu dài. Muốn thực hiện đại chiến lược thì phải vận dụng nghệ thuật chiến tranh “biết thắng từng bước”.
Một lần nữa, câu hỏi nghi ngờ này trở lại với nhiều người quan tâm tình hình Biển Đông, trước diễn biến căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines trong vài ngày vừa qua.
Philippines cáo buộc Trung Quốc đã dùng vòi rồng ngăn chặn một tàu tiếp tế của nước này, ngày 10/12/2023
Chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của nhà lãnh đạo tối cao Trung Quốc Tập Cận Bình trong hai ngày 12-13/12 vừa qua, là một sự kiện ngoại giao quan trọng, thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận, nhất là các quốc gia trong khu vực ASEAN.
Quan trọng bởi Trung Quốc là một siêu cường, nếu tính về thứ bậc, thời điểm này chỉ còn xếp sau Mỹ. Thứ nữa, với các nước ASEAN, Trung Quốc đã thành đối tác hợp tác chiến lược toàn diện từ tháng 10/2021, sau Hội nghị cấp cao Trung Quốc-ASEAN lần thứ 24 (diễn ra với hình thức trực tuyến do đại dịch COVID-19). Thế nên, động thái ngoại giao của một nước thành viên (trong trường hợp này là Việt Nam) với một cường quốc, đều khiến các nước thành viên khác quan tâm, theo dõi.
Về mặt tâm thế, các nước ASEAN thảy đều mong kiến tạo, thiết lập được với Bắc Kinh mối quan hệ tích cực, tốt đẹp. Họ hiểu rằng, điều đó tối quan trọng cho việc giữ được ổn định, hòa bình khu vực. Do vậy, một điểm nóng trong khu vực bùng phát, không chỉ một quốc gia liên quan trực tiếp chịu hậu quả, mà ảnh hưởng tiêu cực có thể lan tỏa, tác động tới mọi nước thành viên.
Thế nên, khi chuyến công du Việt Nam của ông Tập kết thúc, toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc được công bố, dư luận các nước ASEAN đã cả mừng trước những ngôn từ lộng lẫy thể hiện tinh thần trách nhiệm và lạc quan của Hà Nội và Bắc Kinh vào mục tiêu, triển vọng xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc”, được nhấn mạnh là “có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại”.
Cái mừng càng như được nhân lên khi nhiều tờ báo chính thống của Hà Nội và Bắc Kinh cùng thể hiện sự hân hoan qua nhiều bài viết về kết quả vừa đạt được. Nhiều bỉnh bút các tờ báo lớn Trung Quốc và Việt Nam đã không ngần ngại gọi đây là “bước ngoặt” tích cực, tràn trề tương lai của mối bang giao giữa hai quốc gia láng giềng “núi liền núi, sông liền sông” vốn nhiều ân oán này.
Các quốc gia bấy lâu nay thường bị Trung Quốc quấy nhiễu, gây hấn trên biển như Philippines, Malaysia, Indonesia càng hy vọng, việc hai bên cam kết “kiểm soát tốt hơn và tích cực giải quyết bất đồng trên biển, duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông và khu vực…” thực sự xuất phát từ sự chân thành, thay vì chỉ là các diễn ngôn hào nhoáng.
Tuy nhiên, đúng thời điểm này, những gì diễn ra trên Biển Đông khiến những người lạc quan nhất cũng đang tắt đi niềm hy vọng. Ngày 9 và 10/12/2023, Philippines cáo buộc tàu hải cảnh Trung Quốc đã phun vòi rồng, thậm chí “đâm vào” các tàu tiếp liệu của Philippines tại Bãi Cỏ Mây (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, hiện Philippines kiểm soát), và bãi cạn Scarborough – điểm nóng dẫn tới vụ kiện Bắc Kinh đình đám của Manila tại Tòa trọng tài PCA năm 2013.
Va chạm, gây hấn của Trung Quốc với Philippines gia tăng trong thời gian gần đây – điều đó ai cũng biết. Tuy nhiên, giới truyền thông, trong đó có đài RFI, đã coi sự cố các ngày 10-12/12/2023 là những vụ “va chạm nghiêm trọng nhất” từ nhiều năm trở lại đây. Đặc biệt, nó lại “diễn ra chưa đầy một tháng sau cuộc trao đổi giữa lãnh đạo Philippines Ferdinand Marcos Jr. và Trung Quốc Tập Cận Bình bên lề diễn đàn APEC tại Los Angeles, Hoa Kỳ”. Hàm ý của truyền thông ở đây là gì? Là ngay cả khi các nhà lãnh đạo cao nhất giữa các quốc gia nắm tay nhau nồng nhiệt, kèm theo đó những lời có cánh về sự thiện chí, cũng đừng có mà lấy đó làm niềm tin tuyệt đối rằng, những điều tích cực nhất định sẽ đến.
Trở lại câu chuyện “vòi rồng” xuất hiện trên Biển Đông nêu trên. Một cuộc đấu khẩu dữ dội đã lập tức diễn ra giữa hai bên. Trong một thông báo phát đi, Bộ Ngoại giao Philippines đã cáo buộc Trung Quốc “đe dọa hòa bình, trật tự và ổn định” trong khu vực; Bắc Kinh hành động “trái ngược với những cam kết trước đây…”. Thậm chí, nhà lãnh đạo cao nhất của Manila là ông Ferdinand Marcos Jr, đích thân lên tiếng quy hành động của Bắc Kinh là những hành vi hù dọa và uy hiếp ở vùng biển mà Manila cho là mình có chủ quyền “không thể chối cãi”. Trong khi đó, Bắc Kinh lên án Philippines cho tàu bè “xâm nhập trái phép hải phận” và gọi đó là “các hành vi khiêu khích”.
Một số cơ quan truyền thông phương Tây, nhân vụ này muốn kéo Mỹ vào cuộc bằng những bình luận kiểu “đèn khò”, rằng: với các động thái trên, đối tượng Bắc Kinh nhằm vào là Washington – đồng minh từng thề sống chết với Philippines nếu nước này bị đe dọa – chứ chưa chưa hẳn đã là Manila. Nói cách khác, Trung Quốc muốn thử xem Mỹ có hành động nào khác hơn những động thái hùng hổ…miệng như lâu nay.
Cho dù nhằm vào Philippines hay ra bài test với Mỹ, những hành động gây căng thẳng mới nhất vừa diễn ra tại khu vực Bãi Cỏ Mây và bãi cạn Scarborough, trùng thời điểm tại Hà Nội, ông Tập Cận Bình đưa ra những hứa hẹn đầy trách nhiệm về vấn đề Biển Đông, cho thấy, với Bắc Kinh, việc nhất quán giữa lời nói và việc làm mới khó làm sao.
Ngoại trưởng Pháp Catherine Colonna kêu gọi Bắc Kinh kiềm chế, ngăn chặn nguy cơ bùng phát căng thẳng ở Biển Đông.
Tàu khu trục giám sát Prairial của Hải qhân Pháp và tàu tuần tra BRP Capones của Philippines.
Phát biểu tại Câu lạc bộ Báo chí Australia ở Canberra, Ngoại trưởng Pháp Catherine Colonna cho biết Trung Quốc nên góp phần giảm bớt căng thẳng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
“Tất nhiên là chúng tôi lo ngại về những gì đã xảy ra với hải quân Australia vài ngày trước, cũng như những gì đã xảy ra với Philippines vài tuần trước”, Ngoại trưởng Pháp Catherine Colonna nói.
Tháng trước, Australia chỉ trích Bắc Kinh vì hành vi “không an toàn và thiếu chuyên nghiệp” trên biển. Australia cho rằng một trong những thợ lặn hải quân của nước này đã bị thương do sóng siêu âm của tàu khu trục gây ra khi tàu HMAS Toowoomba – tàu khu trục tầm xa của Australia, đang hỗ trợ việc thực thi lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của Nhật Bản ngày 14/11.
Trong khi đó, lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc bị cáo buộc quấy rối các tàu đánh cá Philippines ở Biển Đông. Hôm 3/12, Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines triển khai hai tàu đến Biển Đông sau khi theo dõi sự gia tăng “đáng báo động” về số lượng tàu dân quân hàng hải của Trung Quốc tại bãi Whitsun (Ba Đầu). Theo đó, hơn 135 tàu Trung Quốc hiện diện ở bãi đá ngầm trên Biển Đông.
“Sự ổn định phải được đề cao ở eo biển Đài Loan và chắc chắn thế giới không cần một cuộc khủng hoảng mới”, Ngoại trưởng Colonna nhấn mạnh, cho rằng Trung Quốc nên tự do theo đuổi “sự trỗi dậy kinh tế” của mình, song đổi lại nước này cần phải đáp ứng những kỳ vọng của quốc tế về các vấn đề khác.
“Vì những lý do này, chúng tôi sẽ tiếp tục hợp tác với Trung Quốc một cách xây dựng và thực sự có những dấu hiệu đáng khích lệ. Những nỗ lực của chúng tôi đang sẽ tạo ra những xu hướng hợp tác tích cực”, Ngoại trưởng Pháp cho biết thêm.
Thời gian gần đây, Trung Quốc tăng cường hoạt động hiện diện quân sự gần eo biển Đài Loan, cũng như gia tăng hoạt động tàu cá, tàu hải cảnh ở khu vực Biển Đông. Philippines cho rằng động thái của Bắc Kinh là “đáng báo động”, đi ngược lại các quy định của luật pháp quốc tế.
Chiếc tàu tuần tra cao tốc mới có khả năng hoạt động xa bờ, tốc độ cao, tính năng quay trở linh hoạt, có khả năng tham gia hiệu quả vào nhiều nhiệm vụ và tình huống khác nhau.
Thiếu tướng Lê Quang Đạo (Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam) và Thượng tá Phạm Văn Tuấn (Giám đốc Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà) ký kết hợp đồng đóng mới tàu tuần tra cao tốc TT-400.
Vừa qua, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển và Công ty TNHH Một thành viên Đóng tàu Hồng Hà (thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) tổ chức Hội nghị ký kết Hợp đồng “Thi công đóng tàu” theo Dự án đóng mới tàu tuần tra cao tốc TT-400 chiếc số 10 của Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển.
Thiếu tướng Lê Quang Đạo – Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, đại diện chủ đầu tư chủ trì Hội nghị. Đại diện phía nhà thầu có Thượng tá Phạm Văn Tuấn – Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Đóng tàu Hồng Hà, cùng các đại biểu đại diện các cơ quan chức năng hai bên.
Tại Hội nghị, hai Bên đã thảo luận các điều khoản của hợp đồng và thống nhất ký Biên bản Hợp đồng đóng mới tàu tuần tra cao tốc TT- 400 chiếc số 10, đảm bảo đúng thủ tục theo quy định.
Hợp đồng đóng mới tàu TT-400 chiếc số 10 được ký kết có ý nghĩa chính trị quan trọng trong bối cảnh tại Nghị trường kỳ họp thứ 6, Quốc hội đang sôi nổi thảo luận Dự án Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp, nhằm xây dựng chính sách đặc thù và lưỡng dụng trong phát triển nền công nghiệp quốc phòng của Việt Nam.
Sự kiện này không chỉ đánh dấu bước phát triển mới của lực lượng tàu thuyền Cảnh sát biển mà một lần nữa khẳng định năng lực, kinh nghiệm của các đơn vị đóng tàu Quân đội, khẳng định sự phát triển của nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng tiềm lực công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự lực, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng trong tình hình mới.
Tàu tuần tra cao tốc TT-400 là tàu có khả năng hoạt động xa bờ, dài ngày trên biển, tốc độ trên 34 hải lý/giờ, tính năng quay trở linh hoạt, tham gia hiệu quả vào các nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, tìm kiếm cứu nạn, huấn luyệ̉n, hợp tác quốc tế, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Được biết, đây là hợp đồng đóng tàu thứ 17 giữa Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển và Công ty TNHH Một thành viên Đóng tàu Hồng Hà. Trước đó, Công ty TNHH Một thành viên Đóng tàu Hồng Hà – một đơn vị có bề dày về năng lực và kinh nghiệm của nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam đã thi công đóng mới cho Cảnh sát biển 16 tàu, bao gồm 9 tàu tuần tra cao tốc TT-400, 6 tàu tuần tra cao tốc TT-200, 1 tàu vận tải đa năng tiếp dầu trên biển H222.
Đến thời điểm hiện tại, Công ty TNHH Một thành viên Đóng tàu Hồng Hà là một trong 2 đơn vị duy nhất tại Việt Nam đóng thành công tàu chiến đấu công nghệ cao, đồng thời tham gia tích cực vào lĩnh vực đóng tàu phục vụ các thành phần kinh tế trong nước và xuất khẩu. Với số lượng lớn tàu xuồng các loại đã đóng mới cho Lực lượng Cảnh sát biển, Công ty TNHH Một thành viên Đóng tàu Hồng Hà đã góp phần quan trọng vào xây dựng, bổ sung, phát triển biên chế lực lượng tàu thuyền Cảnh sát biển, trực tiếp góp phần tăng cường năng lực quản lý, bảo vệ biển đảo và thực thi pháp luật trên biển cho Lực lượng Cảnh sát biển.
Thị Tứ là một đảo san hô trong cụm Thị Tứ của quần đảo Trường Sa. Việt Nam có nhiều bằng chứng xác thực quá trình thực thi chủ quyền với Hoàng Sa, trong đó có bia chủ quyền tại đảo Thị Tứ do Hải quân Việt Nam Cộng hòa cắm từ năm 1963.
Philippines khánh thành cơ sở giám sát mới trên đảo Thị Tứ.
Tuy nhiên, năm 1971, Philippines cho quân bí mật chiếm đóng Thị Tứ cùng một số đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa. Để kiểm soát và chiếm giữ lâu dài, cũng là một cách chứng minh chủ quyền, Manila còn cho dân ra ở trong một dự án di dân triển khai khá bài bản. Ngoài Việt Nam và Philippines, Thị Tứ còn là đối tượng tranh chấp của Trung Quốc và Đài Loan.
Từ diện tích ban đầu hơn 30ha, tới nay, với sự bồi đắp của Philippines, đảo “nở” ra thành 44ha, căn cứ vào ảnh chụp của vệ tinh Sentinel-2 của Cơ quan vũ trụ Châu Âu. Cùng với các công trình dân sinh và hạ tầng kinh tế-du lịch khác, Philippines còn đầu tư xây dựng một đường băng từ năm 1975, có khả năng tiếp nhận máy bay cỡ lớn.
Nhận thấy Thị Tứ là một vị trí quan trọng trên Biển Đông, các bên liên quan ngày một to tiếng hơn trong việc khẳng định, đòi chủ quyền. Việt Nam chẳng hạn, mỗi khi Philippines có động thái nào đó (như vụ một tướng của Philippines tới Đảo hồi đầu tháng 6/2021) Hà Nội lại cho người phát ngôn ngoại giao tuyên bố “có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp với luật pháp quốc tế; kiên quyết phản đối mọi hành động xâm phạm chủ quyền và các quyền liên quan đến quần đảo này”. To tiếng tới mấy, suy cho cùng vẫn chỉ là đấu khẩu. Đấu khẩu dữ dội cũng vẫn ít nguy cơ dẫn đến các tình huống căng thẳng vượt ngoài tầm kiểm soát. Có điều, đó là với Việt Nam – một quốc gia láng giềng của Philippines vốn chỉ chủ trương giải quyết tranh chấp trên biển bằng đối thoại, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước LHQ về Luật biển 1981, chứ không phải bằng sức mạnh cơ bắp.
Còn với Trung Quốc, đó lại là câu chuyện khác. Bắc Kinh luôn sử dụng các thủ đoạn mà họ vẫn làm nhằm uy hiếp các bên trực tiếp liên quan vấn đề chủ quyền trên Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia, là: quấy nhiễu, ngăn cản hoạt động tiếp tế; ban hành lệnh cấm đánh bắt cá…
Với Thị Tứ, Trung Quốc triệt để sử dụng “chiến thuật vùng xám” – tức sử dụng lực lượng dân quân biển vũ trang, các hạm đội đánh cá vũ trang để đạt mục tiêu kiểm soát không gian biển, biến khu vực không tranh chấp thành tranh chấp (nhưng dưới ngưỡng chiến tranh để không gây ra xung đột quân sự…) – để uy hiếp Philippines.
Tiếp theo các phản ứng Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế trong năm 2018-2019 khiến cựu ngoại trưởng Albert Del Rosario phải lên tiếng trong một sự kiện bên lề hội nghị của Hiệp hội luật sư Philippines (PAS) tổ chức tháng 8/2019, ở thành phố Makati, rằng: “Tôi nghĩ đã tới lúc chúng ta cân nhắc việc tới Đại hội đồng Liên hợp quốc để có thể đạt đủ số phiếu cần thiết, nhằm thuyết phục Trung Quốc tuân thủ phán quyết của trọng tài”, từ năm 2021, chiều hướng câu chuyện Thị Tứ còn căng thẳng hơn, khiến dư luận Philippines nổi sóng dữ dội.
Thứ nhất, tháng 11/2021, máy bay chở đoàn của Thượng nghị sĩ Philippines Panfilo “Ping” Lacson đến đảo Thị Tứ, đã bị hải quân Trung Quốc cảnh báo bằng vô tuyến.
Thứ hai, sau đó đúng một năm, tháng 11/2022, Trung Quốc ngang nhiên giành lại, thực chất, là cướp lại, một mảnh vỡ tên lửa mà các thủy thủy Philippines phát hiện được tại khu vực quanh đảo Thị Tứ. Các nhà bình luận cho rằng, để khẳng định chủ quyền, với hành động này, Bắc Kinh đã tỏ ra là một kẻ thô lỗ.
Tháng 3 năm nay, chuyện nghiêm trọng hơn khi Philippines tố cáo Trung Quốc cho một tàu hải quân, một tàu hải cảnh cùng hơn 40 tàu dân quân xung quanh đảo Thị Tứ, nhấn mạnh rằng: “Sự hiện diện trái phép liên tục của Trung Quốc rõ ràng không phù hợp với quyền đi lại vô hại của tàu thuyền và một sự vi phạm trắng trợn đối với sự toàn vẹn lãnh thổ của Philippines”. Dù vậy, các tàu Trung Quốc vẫn nghênh ngang trong khu vực này như đi vào chỗ không người.
So với Trung Quốc, Philippines là một quốc gia bé nhỏ. Nhưng “Con giun xéo lắm cũng quằn”. Phản ứng lại, thời gian gần đây, ngoài việc lầm ầm ĩ lên trước thiên hạ nhằm làm Trung Quốc bẽ mặt và gia tăng triển khai xây dựng biến Thị Tứ thành một trung tâm hậu cần ở Biển Đông, từ năm 2021, Philippines đã úp mở một kế hoạch nhiều tham vọng: nâng cấp cơ sở hạ tầng ở đảo Thị Tứ để cải thiện năng lực giám sát tại các vùng biển tranh chấp.
Trước thông tin này, Bắc Kinh đã gửi những tín hiệu đe dọa về phía Manila.
Những tưởng những lời đe dọa đó sẽ khiến Manila cân nhắc lại hành động. Nào ngờ, vào ngày 1/12 vừa qua, PLP đã tổ chức một lễ hoành tráng khánh thành trạm gác mới trên đảo Thị Tứ gồm ba tầng, được trang bị các công nghệ giám sát và viễn thông tân tiến, như các radar, thông tin liên lạc qua vệ tinh hay hệ thống nhận dạng tự động hàng hải…
Cùng sự kiện, chẳng úp mở, Philippines hoan hỷ bắn tin qua lời một chuyên gia quân sự: “thu thập thông tin theo thời gian thực’’ là một ‘‘bước ngoặt quan trọng’’, ‘‘cho phép cải thiện đáng kể khả năng kiểm soát hoạt động của tàu thuyền Trung Quốc và một số nước khác’’ tại khu vực mà Philippines có chủ quyền.
“Một số nước khác” – đành là có thể Manila hàm ý Việt Nam và Đài Loan, nhưng trong bối cảnh hiện nay, ai cũng thấy, Trung Quốc mới là nguyên nhân chính khiến Philippines phải cố công để có được trạm gác nêu trên bằng được vào thời điểm này.
Chưa thu nhận được phản ứng của Bắc Kinh. Tuy nhiên, với những gì từng trải, nhiều người nhận định: rất có thể sắp tới, câu chuyện Thị Tứ sẽ còn “nóng” hơn nữa với sự gia tăng các hành động gây hấn của Trung Quốc nhằm vào Philippines.
Quân đội Trung Quốc khẳng định một tàu khu trục của Hải quân Mỹ đã tiến vào lãnh hải nước mình mà không có sự cho phép của Bắc Kinh.
Theo Hãng tin Reuters, ngày 25-11, Chiến khu Nam bộ Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc tuyên bố trên WeChat rằng tàu khu trục USS Hopper của Hải quân Mỹ đã đi vào lãnh thổ của nước này mà không có sự chấp thuận của Bắc Kinh.
Chiến khu này khẳng định đã huy động lực lượng trên biển và trên không nhằm “định vị, theo dõi và cảnh báo” tàu trên.
Bên cạnh đó, lực lượng này còn tuyên bố vụ việc “chứng minh Mỹ chắc chắn là người tạo rủi ro an ninh trên Biển Đông”.
Tuy nhiên, phía Trung Quốc không nêu rõ tàu USS Hopper đã tiến vào những khu vực nào.
Động thái trên của Chiến khu Nam bộ được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Bắc Kinh chỉ trích việc Philippines “lôi kéo lực lượng bên ngoài để tuần tra ở Biển Đông và gây rối, phá hoại hòa bình cùng ổn định khu vực”, ám chỉ việc Manila tổ chức tuần tra chung với Mỹ trên Biển Đông hôm 21-11.
Trong tuyên bố hôm 22-11, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh nói: “Trung Quốc đã nêu rõ quan điểm của mình với Philippines và Mỹ rằng các cuộc tuần tra chung giữa Philippines – Mỹ không được phá hoại chủ quyền cũng như quyền lợi của Trung Quốc trên biển”.
Hiện Mỹ chưa phản hồi tuyên bố trên của Bắc Kinh.
Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền trên 90% Biển Đông, đưa ra những tấm bản đồ thể hiện “chủ quyền” như “đường chín đoạn” và “đường mười đoạn”, ôm lấy cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã bác bỏ tấm bản đồ này tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 31-8, khẳng định tấm bản đồ vi phạm chủ quyền Việt Nam.
Cuộc bầu cử Tổng thống Đài Loan vào tháng 1/2024 đã cận kề. Ý đồ của Bắc Kinh về việc hợp tác giữa “phe Trắng” và “phe Xanh” đã thất bại. Vậy là âm mưu chọn người đứng đầu chính quyền Đài Bắc thân cận với Trung Nam Hải đã tan thành mây khói.
Phe Trắng ám chỉ Quốc dân đảng còn phe xanh là Đảng Nhân dân Đài Loan. Đảng thứ ba là Đảng Dân chủ tiến bộ (DPP), Tổng thống Thái Anh Văn và Ứng cử viên Tổng thống năm 2024 Lại Thanh Đức thuộc Đảng này.
Trung Quốc đại lục muốn hợp nhất phe Trắng và phe Xanh để tăng cường sức mạnh, tăng số phiếu bầu cho ứng viên của hai đảng này, hy vọng sự bắt tay nhau giữa hai thế lực sẽ áp đảo Đảng Dân chủ tiến bộ. Và khi một trong hai ứng viên của hai đảng trúng cử Tổng thống thì Bắc Kinh sẽ dễ bề sai bảo. Khi ấy, không cần đến vũ lực, Đài Loan sẽ sớm bị thu hồi.
Thế nhưng việc hợp nhất hai phe/đảng bất thành. Và khả năng rất cao là Lại Thành Đức, người của đảng DPP sẽ thắng cuộc. Ông Lại sinh năm 1959, là một chính trị gia Đài Loan, đương kim Phó Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, từng là Phó Thủ tướng. Ông này cùng với Tổng thống đương nhiệm Thái Anh Văn bị xem là “cái gai” trong mắt chính quyền Bắc Kinh.
Cách đây chưa lâu, vào tối hôm 19/8, vào lúc quân đội Trung Quốc tổ chức tập trận áp sát Hòn đảo, Truyền hình Đài Loan đã phát bài phỏng vấn Phó Tổng thống Lại Thanh Đức. Ông này hướng đến cử tri Đài Loan với lời kêu gọi: “Bằng lá phiếu của mình, người dân Đài Loan sẽ phải dứt khoát lựa chọn giữa dân chủ và độc tài chuyên chế ”. Thật là một cú đấm trời giáng vào nhà cầm quyền Bắc Kinh!
Nhưng ai đã “phá” sự hợp nhất hai phe Trắng và Xanh?
Chuyện là thế này: Cuộc đàm phán liên kết giữa Quốc dân đảng – Đảng Nhân dân Đài Loan, cùng người sáng lập Hon Hai (Foxconn) Quách Đài Minh hôm 24/11 đã thảm bại. Đương nhiên, vẫn còn đủ 3 ứng cử viên chính là ông Lại Thanh Đức – đảng Dân chủ tiến bộ (DPP), Hầu Hữu Nghi – Quốc dân đảng (KMT) và ông Kha Văn Triết – đảng Nhân dân Đài Loan (TPP).
Trước đó, tại khách sạn Grand Hyatt ở Đài Bắc, Hầu Hữu Nghi đã có buổi gặp gỡ công khai với ứng viên Tổng thống Đảng TPP Kha Văn Triết và người sáng lập Hon Hai Quách Đài Minh. Bất ngờ cuộc gặp này lại có cả hai ông Cựu Tổng thống Mã Anh Cửu và Chủ tịch Quốc dân đảng Chu Lập Luân.
Xin nói thêm về Quách Đài Minh. Ông sinh năm 1950, là một doanh nhân, tỷ phú người Đài Loan, nhà sáng lập kiêm chủ tịch và tổng giám đốc của Foxconn – nhà sản xuất thiết bị điện tử theo hợp đồng lớn nhất thế giới. Trước khi tham dự, ông Quách tưởng rằng cuộc gặp chỉ có 3 yếu nhân, nhưng không ngờ trở thành cuộc họp … 5 người.
Không giải thích lý do, tỉ phú Quách xin rút khỏi danh sách ứng cử Tổng thống. Sự kiện ở “phút thứ 89” này đánh dấu sự kết thúc chủ trương thúc đẩy liên kết các bên đối đầu với Đảng DPP của ông Lại Thanh Đức.
Rõ ràng vai trò của cựu Tổng thống Mã Anh Cửu còn rất lớn. Hôm 15/11, các các ông Kha Văn Triết, Chu Lập Luân, và Hầu Hữu Nghi, đã dự định ký kết văn bản “Đồng thuận 6 điểm”, dưới sự chứng kiến của ông Mã. Thế nhưng, mọi việc đã diễn ra không như tính toán, họ đã không đồng thuận, cho rằng có sự can thiệp thô bạo từ Bắc Kinh. Và rồi, Quách Đài Minh tuyên bố “rời sân”.
Chủ trương liên kết phe Xanh-phe Trắng là tính toán của Bắc Kinh đối với cuộc bầu cử ở Đài Loan. Thế nhưng, hai phe Xanh và Trắng đã đi theo con đường riêng, thậm chí tấn công lẫn nhau. Đây là kết quả mà Bắc Kinh hết sức bất ngờ. Thật đúng là “gậy ông đập lưng ông”.
Theo các nhà phân tích, tình hình cạnh tranh và đối lập lẫn nhau giữa các phe ở Đài Loan có thể ngày càng gay gắt hơn, sau khi tan vỡ ý định liên kết phe Trắng và Xanh. Một khi cạnh tranh quá mức, thậm chí không ngừng gia tăng thành thù địch nhau thì có lẽ Trung Quốc nhân cơ hội này có những biện pháp cứng rắn hơn.
Trước đây phe Trắng từng nói về “ứng xử bình đẳng giữa các cường quốc”, theo đó nhấn mạnh cần ứng xử như nhau giữa Mỹ (nước đang hỗ trợ Đài Loan) và Trung Quốc (nước đang thúc đẩy gây chiến ở Đài Loan). Còn nay, theo ông Kha Văn Triết thì, “hai bên eo biển Đài Loan là một nhà”. Nói như thế, liệu ông có phớt lờ các cuộc tập trận quân sự của Trung Quốc xung quanh Đài Loan? Quan điểm như vậy là không phân biệt bạn và thù.
Có điều, gần như chắc chắn, người thần phục Bắc Kinh như Kha Văn Triết sẽ khó có thể trúng cử. Gần như Lại Thanh Đức và Đảng DPP của ông đã đến gần chiến thắng. Nếu ông Lại trúng cử Tổng thống thì đây sẽ là lần đầu tiên một đảng giành được ba nhiệm kỳ liên tiếp kể từ cuộc bầu cử dân chủ bắt đầu vào năm 1996.
Tuần trước Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. khẳng định nước này đang tiếp cận Việt Nam và Malaysia để thúc đẩy một “bộ quy tắc ứng xử của riêng chúng tôi” ở Biển Đông.
Philippines, Việt Nam và Malaysia đều là thành viên Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Chuyện các nước ASEAN cố gắng quản lý va chạm trên biển, hoặc đối thoại một cách hòa bình trong các tuyên bố chủ quyền chồng lấn là điều không lạ.
Nhưng phát biểu của ông Marcos có thể khơi lại sự quan tâm của cộng đồng quốc tế với một câu chuyện cũ: Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).
Ai “ứng xử” với ai ở Biển Đông?
COC được kỳ vọng là một bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc về pháp lý, mang lại giải pháp quản lý xung đột hiệu quả để duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông. Đây là một trong những thỏa thuận quan trọng đối với mối quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN.
Dù vậy tại một sự kiện ở Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á – Thái Bình Dương Daniel K. Inouye (Hawaii) ngày 20-11, Tổng thống Philippines Marcos nhìn nhận tiến trình đàm phán COC giữa ASEAN và Trung Quốc đang chậm chạp, vì vậy Manila đã có “sáng kiến tiếp cận các nước khác trong ASEAN mà chúng tôi cũng có tranh chấp lãnh thổ”, bao gồm Việt Nam và Malaysia. Ông Marcos cho rằng Philippines muốn cùng hai nước này tạo ra một bộ quy tắc ứng xử riêng.
Trong các phát biểu gần đây, Trung Quốc bày tỏ thiện chí và mong muốn đẩy nhanh đàm phán COC. Nhưng trong mắt một số nhà quan sát, tiến độ đàm phán diễn ra không nhanh như kỳ vọng.
Hơn 20 năm trôi qua, Biển Đông xuất hiện thêm những diễn biến phức tạp và gây lo ngại rằng việc các bên tìm thấy sự thống nhất quanh một bộ quy tắc ứng xử sẽ càng trở nên khó hơn, đòi hỏi đối thoại sâu hơn.
Trong phát biểu ở Hawaii, Tổng thống Marcos không quên đề cập tới những va chạm giữa nước này với Trung Quốc thời gian qua, và mô tả tình hình Biển Đông đang trở nên “khốc liệt hơn”.
Đó là lý do Philippines cảm thấy cần phải phối hợp với các đồng minh và nước láng giềng khác để “ứng xử” đúng mực nhằm duy trì hòa bình, trước lúc có thể “ứng xử” như bộ quy tắc mà ông cho rằng không thể sớm hình thành.
Con đường khác tới COC
Sáng kiến của Philippines không dừng lại ở Việt Nam và Malaysia. Ý tưởng của ông Marcos là tìm thấy điểm chung với Việt Nam và Malaysia trong chuyện quản lý tranh chấp trước, sau đó nới rộng mô hình này ra các nước ASEAN khác. Về lý thuyết, đây có thể là một con đường thay thế cho lộ trình tiến tới COC hiện tại.
Trong các phát biểu liên quan tới tranh chấp Biển Đông lâu nay, cả Philippines, Việt Nam và Malaysia đều đề cao vai trò của luật pháp quốc tế, đặc biệt Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982.
Việc thượng tôn pháp luật là xuất phát điểm tốt, có thể làm nền tảng cho các nước ASEAN khác tìm thấy đồng thuận và sớm hình thành nhận thức chung, quan điểm chung về cách ứng xử đúng luật. Nếu làm được điều này, từ một nhóm nhỏ (Philippines, Việt Nam và Malaysia), khuôn khổ thảo luận này có thể mở rộng và đáp ứng yêu cầu – lập trường của “nhóm lớn” với toàn bộ thành viên ASEAN, sau đó mở đường cho đàm phán với Trung Quốc.
Một cách dễ hình dung, nếu mô hình của Philippines được chào đón, “bộ quy tắc riêng” trong lòng ASEAN có thể tương tự một dạng nhất trí “tiến bộ” như trong Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
Nghĩa là các nước tham gia sẽ chỉ có thể tiếp tục đàm phán dựa trên những gì đã thống nhất từ trước và cứ thế “tiến bộ” chứ không bàn lại. Nói cách khác, sự nhất trí ASEAN đạt được trong “bộ quy tắc riêng” ấy có thể được bảo vệ.
Một điều chắc chắn rằng mọi thảo luận về quy tắc ứng xử sẽ không thể bỏ qua Trung Quốc. Trả lời về bình luận của Tổng thống Philippines ngày 20-11, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh nhấn mạnh mọi nỗ lực tách khỏi khuôn khổ Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và tinh thần của DOC đều vô giá trị.
Phản ứng của Trung Quốc cho thấy ý tưởng bàn về “bộ quy tắc ứng xử riêng” mà Philippines vừa đưa ra nhiều khả năng không phải rào cản lớn đối với COC. Trong những phát biểu chính thức tới nay, các nước ASEAN vốn đã thể hiện sự tôn trọng đối với DOC, dù đây không phải một văn bản ràng buộc về mặt pháp lý.
Trung Quốc phản đối Philippines tuần tra
Ngày 23-11, Bộ tư lệnh Chiến khu Nam Bộ của Trung Quốc nói Philippines đã “đưa thế lực bên ngoài” vào tuần tra ở Biển Đông và khẳng định đây là hành động gây phức tạp tình hình kể từ ngày 21-11.
Phía Trung Quốc nhấn mạnh sẽ duy trì cảnh giác cao độ, “kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền và lợi ích hàng hải, đồng thời bảo vệ hòa bình và ổn định” ở Biển Đông.
Theo Hãng tin Reuters, Trung Quốc ám chỉ Mỹ là “thế lực nước ngoài” trong tuyên bố trên, vì quân đội Mỹ và Philippines đã tổ chức tuần tra chung từ ngày 21-11 tại vùng biển gần Đài Loan.
Đây là một trong các nội dung được thảo luận trong cuộc gặp giữa đoàn Việt Nam và Trung Quốc tại Hà Nội ngày 9-11.
Cuộc gặp giữa hai thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc ngày 9-11 – Ảnh: Bộ Ngoại giao cung cấp
Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 10-11, cuộc gặp giữa hai trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc đã diễn ra ngày 9-11 tại Hà Nội.
Thứ trưởng thường trực Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ tham gia cuộc gặp, phía Trung Quốc là Thứ trưởng Ngoại giao Tôn Vệ Đông.
Hợp tác quản lý biên giới Việt Nam – Trung Quốc trên đất liền Theo Bộ Ngoại giao, tại cuộc gặp, hai bên đã đi sâu trao đổi về quan hệ song phương, các vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước cũng như các vấn đề quốc tế, khu vực hai bên cùng quan tâm.
Hai bên đánh giá những tiến triển tích cực trong hợp tác quản lý biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc theo các văn kiện pháp lý.
Trong đó, cơ chế Ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc vận hành hiệu quả, thông suốt. Hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng, kết nối giao thông tại khu vực biên giới được đẩy mạnh.
Gần đây, hai nước đã phối hợp chặt chẽ đưa vào triển khai thí điểm hiệu quả khu cảnh quan thác Bản Giốc (Việt Nam) – Đức Thiên (Trung Quốc), thể hiện quyết tâm phối hợp nhằm tạo điểm đến tham quan an toàn, hấp dẫn cho khách du lịch.
Những điều này đã góp phần quan trọng duy trì ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực biên giới hai nước.
Hai bên nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới theo ba văn kiện pháp lý về biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc và các thỏa thuận có liên quan.
Việt Nam và Trung Quốc nhất trí hợp tác tốt trong công tác mở/nâng cấp/công nhận cửa khẩu, tạo điều kiện thuận lợi thông quan hàng hóa, thúc đẩy giao lưu, hợp tác thương mại, nhân văn… khu vực biên giới.
Hai nước sẽ tiếp tục cùng nỗ lực xây dựng đường biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.
Sớm ký thỏa thuận đường dây nóng nghề cá và cứu nạn Về vấn đề trên biển, hai bên trao đổi thẳng thắn về một số diễn biến tại Biển Đông trong thời gian qua.
Hai bên khẳng định tầm quan trọng của việc tiếp tục thực hiện nghiêm túc nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc” năm 2011, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định, kiềm chế, tránh làm phức tạp tình hình trên biển.
Phía Việt Nam đề nghị hai bên thực sự tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, cùng nhau kiểm soát tốt bất đồng, duy trì thông suốt các kênh đàm phán về vấn đề trên biển, nỗ lực tìm kiếm một giải pháp cơ bản lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982.
Hai bên đánh giá tích cực kết quả triển khai các dự án trong khuôn khổ hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như “Triển khai hợp tác thả cá giống và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vịnh Bắc Bộ”, “Nghiên cứu hợp tác trong lĩnh vực môi trường địa chất và tai biến địa chất biển khu vực châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Trường Giang” và “Hợp tác nghiên cứu quản lý tổng hợp môi trường biển và hải đảo vùng vịnh Bắc Bộ”.
Hai bên nhất trí tiếp tục thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và hợp tác cùng phát triển trên biển đạt tiến triển thực chất.
Việt Nam và Trung Quốc sẽ sớm hoàn tất thủ tục và tiến tới ký kết “Thỏa thuận về việc thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển Việt Nam – Trung Quốc”, “Thỏa thuận hợp tác tìm kiếm cứu nạn Việt Nam – Trung Quốc” và tiếp tục thúc đẩy hợp tác về biển, nhất là trong lĩnh vực ít nhạy cảm.
Nhân dịp này, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã tiếp ông Tôn Vệ Đông. Trong đó ông Bùi Thanh Sơn đề nghị bộ ngoại giao hai nước phối hợp chặt chẽ, chuẩn bị tốt cho các hoạt động giao lưu giữa hai nước thời gian tới.
Ông cũng đề nghị tăng cường hợp tác thực chất trên các lĩnh vực, tăng cường phối hợp trong công tác quản lý biên giới đất liền, kiểm soát tốt bất đồng trên biển, đóng góp thiết thực vào quan hệ Việt – Trung hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Bộ Quốc phòng Trung Quốc ngày 16/11, chỉ trích Nhật Bản đang nỗ lực can thiệp vào Biển Đông và là nhân tố gây bất ổn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Trung Quốc chỉ trích Nhật Bản can thiệp vào Biển Đông.
Theo bản tóm tắt điều khoản do Bộ Ngoại giao Nhật Bản công bố vào đầu tháng 11, Nhật Bản đang có kế hoạch cung cấp hệ thống radar ven biển cho quân đội Philippines, điều này sẽ giúp cải thiện khả năng “nhận thức tình huống hàng hải”.
Phát ngôn viên bộ Quốc Phòng Trung Quốc, Trương Hiểu Cương nhấn mạnh rằng, hợp tác quốc phòng giữa các nước liên quan không được gây tổn hại đến lợi ích của bên thứ ba hoặc gây nguy hiểm cho hòa bình và an ninh khu vực.
Ông Trương cho biết, trong những năm gần đây, Nhật Bản đã vi phạm hiến pháp hòa bình trong nước, phá vỡ chiến lược thiên về phòng thủ độc quyền và tiếp tục xuất khẩu vũ khí, thiết bị ra nước ngoài, ngày càng tiến xa hơn trên con đường mở rộng quân sự.
Ông Trương cho rằng, Nhật Bản cũng đang tìm cách khuấy động tình hình Biển Đông bằng cách hình thành các khối nhằm phá hoại trật tự quốc tế thời hậu Thế chiến II, và ngày càng trở thành nhân tố gây bất ổn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Sử sách Trung Hoa suốt từ các đời Tần, Hán đến tận sau Thế chiến thứ II, không có tài liệu nào xác nhận, Biển Đông với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc (Biển Đông được người Trung Quốc và giới hàng hải gọi là中国南海 Trung Quốc Nam Hải, 花南Hoa Nam, South China Sea, người Philippines từ 2012 gọi là biển Tây Philippines, West Philippine Sea; quần đảo Hoàng Sa được người Trung Quốc gọi là西沙Tây Sa, tiếng Anh: Paracels và Trường Sa người Trung Quốc được gọi là 南沙 Nam Sa, tiếng Anh: Spratlys). Trong khi đó, không ít bản đồ phương Tây vẽ trước thế kỷ XIX, thư tịch cổ Trung Hoa do chính người Trung Hoa viết, lại đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Ít nhất, từ thế kỷ XVII, Hoàng Sa không phải là lãnh thổ vô chủ (Terra Nullius)
Phía Trung Quốc thường tuyên truyền chủ quyền của họ đối với biển Đông có từ hơn 2000 năm trước. Nhưng những chứng cứ chủ yếu lại chỉ là những ghi chép của người đương thời và người đời sau về các con đường hàng hải từ Trung Quốc ra nước ngoài, các hoạt động thám hiểm, buôn bán, đánh cá… và qua đó có ghi chép về địa lý, lịch sử, phong tục… ở các vùng mà những người chứng kiến đã đi qua. Cũng có tài liệu nói người đánh cá Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và các nước khác khi buôn bán, đánh cá hoặc gặp thiên tai trên biển… đã từng sống trên các đảo tuỳ theo mùa vụ, nhưng cụ thể từ khi nào và mùa vụ là bao nhiêu lâu thì chưa thấy tài liệu nào ghi chép thật rõ, và chỉ riêng điều đó thì cũng không có ý nghĩa về mặt chủ quyền. Ở đây các nhà nghiên cứu đôi khi thường bắt gặp có sự nhầm lẫn hoặc cố tình nhầm lẫn của những người làm sử thiếu khách quan. Theo luật pháp quốc tế, việc thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền trên các vùng biển đảo, ngày nay, không phụ thuộc vào việc phát hiện, thám hiểm hay thực thi buôn bán, làm ăn trên biển. Cũng không phụ thuộc vào sự hiểu biết của người quan sát về biển đảo. Từ thế kỷ thứ VIII, người Bắc Âu, Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh… đã có tiếng là những Viking gồm những nhà thám hiểm, nhà buôn, chiến binh, và cả những hải tặc đã tung hoành trên nhiều vùng biển của địa cầu. Những ghi chép của người Anglo-Saxon về hải dương từ lâu đã là nguồn tra cứu phong phú và quý giá của nhân loại. Tiếp theo là những người Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Việt Nam… cũng có mặt ở nhiều vùng trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Phương Đông không có các Viking, ít các nhà thám hiểm nên người phương Đông có mặt trên biển chủ yếu là buôn bán, làm ăn, đánh cá…
Trước đây, phía Trung Quốc còn đưa thêm nhà thám hiểm người Hồi là Trịnh Hòa vào hồ sơ tranh chấp biển đảo. Nhưng thực ra Trịnh Hòa chỉ đi ngang qua biển Đông và các ghi chép về 7 chuyến đi của ông cũng không thấy nói gì đến Hoàng Sa, Trường Sa: Từ năm 1405-1433, Minh Thành Tổ cử Đô đốc Thái giám Trịnh Hòa chỉ huy đoàn thám hiểm “hạ Tây dương” 7 lần đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với trên 30 quốc gia duyên hải, triển khai Con đường Tơ lụa trên biển tại Ấn Độ, Phi Châu và Trung Đông. Những chuyến hải hành của Trịnh Hòa trên thực tế không hề dừng ở Biển Đông. Trạm trú chân duy nhất của đoàn trong khu vực này là Đồ Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều Minh đã phê phán những cuộc hải trình này chỉ là phô diễn và làm suy yếu kinh tế quốc gia. (Gần đây, khi đụng đến những vấn đề Biển Đông, các chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa không còn được phía Trung Quốc nhắc đến như trước đó nữa).
Trên thực tế, kể từ Định ước Berlin năm 1885, nguyên tắc “quyền phát hiện” và nguyên tắc “chủ quyền lịch sử” không còn phù hợp và đã bị thay thế bới nguyên tắc “chiếm hữu thực sự” và “có hiệu lực”. Ngày nay, nguyên tắc chiếm hữu biển đảo còn được quy định chặt chẽ hơn: thực sự, không gián đoạn, hòa bình và minh bạch. Nghĩa là, nếu giả sử luật pháp quốc tế vẫn còn căn cứ vào luận thuyết chủ quyền lịch sử hay sự phát hiện biển đảo để xác định chủ quyền thì quyền chiếm hữu và sở hữu các châu lục ngày nay hầu hết đã thuộc về các Viking, các nhà thám hiểm hoặc các tay cướp biển Tây Âu.
Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa được các triều đại phong kiến Việt Nam thực thi từ rất sớm. Có tài liệu nói từ thế kỷ XV. Nhưng rõ nhất là từ đầu thế kỷ XVII đến tận năm 1932, khi Pháp chính thức tuyên bố kế thừa và tiếp tục chủ quyền tại hai quần đảo này, các triều đại phong kiến Việt Nam đều đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền thực tế đối với Hoàng sa và Trường Sa. Quá trình này diễn ra một cách liên tục, với những hoạt động kinh tế – xã hội rất hòa bình và lúc đó cũng chưa hề có tranh chấp. Về mặt pháp lý, ít nhất từ thế kỷ XVII, Hoàng Sa đã không còn là lãnh thổ vô chủ nữa (Terra Nullius).
Năm 1698, Hoàng Sa trở thành địa danh nổi tiếng được các nhà hàng hải phương Tây biết đến qua các biên niên sử hàng hải với các vụ mắc cạn của tàu l’Amphitrite dưới thời vua Louis XIV khi đi từ Pháp sang Trung Quốc. Nghĩa là, Hoàng Sa được biết đến như một bãi cát nguy hiểm ở vùng Biển Đông Việt Nam. Tàu bè quốc tế đến vùng này nếu không biết có thể mắc cạn, làm mồi cho đói, khát và chết.
Thời các Chúa Nguyễn, tức là từ giữa thế kỷ XVI cho đến khi Tây Sơn chiến thắng năm 1777, hàng năm các Chúa nguyễn đều phái người ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ trên đảo nhằm thực thi chủ quyền và thu hoạch sản vật trên đảo cùng những sản vật của các tàu bị đắm trôi dạt vào đảo. Trong sách “Lịch triều Hiến chương loại chí” Quyển “chi Ngũ dư địa chí”, trang 11a, 12a, Phan Huy Chú ghi chép: “Các vương triều trước (thời các Chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa 70 suất, người xã An Vĩnh luân phiên đi. Hàng năm vào tháng 3 nhận chỉ thị sai đi, mang 6 tháng lương, dùng 5 chiếc thuyền nhỏ, trương buồm xuất dương, 3 ngày 3 đêm đến đảo. Đến đây mặc tình đánh bắt cá ăn, được đồ quí khí vật trên thuyền rất nhiều, lại lấy được hải sản rất nhiều. Tháng 8 trở về, vào cửa Eo (Thuận An) để đến thành Phú Xuân”.
Năm 1753, một sự kiện có liên quan đến chủ quyền Hoàng sa xảy ra với những người lính của Đội Bắc Hải đã được Lê Quý Đôn ghi chép khá kỹ trong “Phủ biên tạp lục”: “Hoàng Sa gần Hải Nam, châu Liêm. Người đi thuyền thường gặp người Bắc quốc (Trung Quốc) đánh cá ngoài biển, hỏi thăm thì được biết họ là người huyện Văn Xương, Quỳnh Châu. Quan Chính đường sưu tra công văn trong đó kể rằng vào tháng 7 năm Càn Long thứ 18 (1753), 10 người lính thuộc đội Cát Liêm, xã An Bình, huyện Chương Nghĩa (Quảng Ngãi ngày nay) đến Vạn Lý Trường Sa 萬里長沙 thu thập các vật, 8 tên lính lên bờ thu thập, chỉ có 2 người lưu lại giữ thuyền. Chợt cuồng phong nỗi lên, đẩy thuyền xa đến cảng Thanh Lan 青瀾港 (Hải Nam, Trung Quốc). Viên quan tại đây điều tra sự thực bèn cho áp giải trở về. Nguyễn Phúc Chu sai Cai bạ Thuận Hóa Thức lượng hầu gửi thư phúc đáp”. Sự kiện này cũng là một dấu hiệu về việc người Trung Quốc không coi Hoàng Sa là của mình.
Năm 1816, vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo Hoàng Sa, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Khâm sứ Pháp tại Đông Dương Jules Brevie đã ra lệnh thành lập cơ quan hành chính quản lý quần đảo Hoàng Sa và cho dựng trên quần đảo một tấm bia có dòng chữ “Cộng hòa Pháp – Vương quốc An Nam – quần đảo Hoàng Sa, 1816”.
Năm 1835, vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiệm vụ khai thác, tuần tiễu, thu thuế trên đảo, và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương. Từ đó đến năm 1847-1848, việc quản lý hành chính các đảo này được triều Nguyễn duy trì nhằm giúp đỡ các cuộc hải trình và cũng để thu thuế ngư dân trong vùng.
Theo nhà nghiên cứu Vũ Quang Việt, các dữ kiện lịch sử chiếm hữu Hoàng Sa cho thấy “Việt Nam đã có tuyên bố rõ ràng và thực thi quyền của mình ở Paracels ít nhất suốt 70 năm từ trước 1770 cho tới khi vua Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền năm 1816, và tiếp tục cho đến thời Minh Mạng được ghi rõ ràng trong chính sử Việt Nam cho đến 1837… Thời gian có mặt của Việt Nam ở Paracels như thế kéo dài liên tục ít nhất là 74 năm từ 1774 tới ít nhất là (từ lúc Lê Quý Đôn nói về chuyến đi Hoàng Sa cho tới năm sau khi Minh Mạng ra lệnh vẽ bản đồ), thời gian này được ghi nhận trong chính sử. Ý chí và hành động nhằm khẳng định chủ quyền được vua Gia Long và vua Minh Mạng đã thể hiện trong văn bản. Các chuyến ra đảo dù chỉ kéo dài nhiều nhất là sáu tháng nhưng liên tục năm này qua năm khác. Và như thế là đủ”.
2. Nước Pháp công nhận việc thực thi chủ quyền của các triều đại phong kiến Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và chịu trách nhiệm kế thừa
Năm 1884, Hiệp ước Patenotre Huế áp đặt chế độ thuộc địa, nước Pháp có nghĩa vụ bảo hộ, giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ xứ An Nam. Ngày 9/6/1885, Hiệp ước Pháp – Thanh tại Thiên Tân chấm dứt xung đột Pháp Thanh; Việt Nam vĩnh viễn thoát khỏi chế độ phên thuộc. Ngày 26/6/1887, Hiệp ước Pháp – Thanh ấn định biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa. Nghĩa là từ đây, mọi tuyên bố hay hành vi của Pháp về Hoàng Sa, Trường Sa, được hiểu là và trên thực tế là, đại diện cho Việt Nam, của Việt Nam.
Năm 1895 con tàu La Bellona và năm 1896 con tàu Imeji Maru bị đắm gần Hoàng Sa. Những người đánh cá ở Hải Nam đến thu lượm đồng từ hai chiếc tàu đắm này. Các công ty bảo hiểm của hai con tàu này phản đối chính quyền Trung Hoa. Chính quyền Trung Hoa trả lời là không chịu trách nhiệm, lấy lý do là Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Hoa, cũng không phải là lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1899, Toàn quyền Paul Doumer đề nghị chính phủ Pháp xây ngọn hải đăng nhưng việc này không thành vì lý do tài chính.
Vào năm 1909, Tổng đốc Lưỡng Quảng ra lệnh cho đô đốc Lý Chuẩn đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa. Cuộc đổ bộ không quá 24 giờ. Họ kéo cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc. Sự kiện này không gây ra phản ứng gì của các nước, kể cả nước Pháp đại diện cho An Nam vì cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân chuyến thám sát đảo xa. Sự kiện này cũng làm lộ ra mâu thuẫn trong lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu, thì tại sao Lý Chuẩn lại không biết điều này và hành xử với tư cách là người lần đầu tiên phát hiện ra quần đảo.
Năm 1920, một công ty Nhật Bản là Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa, Pháp từ chối. Cũng bắt đầu năm 1920, Pháp kiểm soát quan thuế và tuần tiễu trên đảo.
Ngày 30/3/1921, Tổng đốc Lưỡng Quảng tuyên bố sát nhập Hoàng Sa với Hải Nam, Pháp không phản đối. Ngay sau đó các nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội người Pháp ở Hà Nội đã chỉ trích Toàn quyền Đông Dương về thái độ này. Ngày 8/3/1925 Toàn quyền Đông Dương là Martial Henri Merlin long trọng ra tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và Trương Sa là lãnh thổ của Pháp. Chính phủ bảo hộ nhận trách nhiệm về chủ quyền của mình ở Hoàng Sa, Trường Sa và đẩy mạnh các hoạt động tuần tra, kiểm soát và nghiên cứu khoa học.
Cũng bắt đầu từ năm 1925, Viện Hải dương học Nha Trang tiến hành những thí nghiệm khoa học trên đảo Hoàng Sa do tiến sỹ Krempt tổ chức.
Năm 1927, Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường Sa.
Đầu năm 1930, Ba tàu Pháp La Malicieuse, L’Alerte và L’Astrobale đã khảo sát chuẩn bị cho việc chiếm hữu quần đảo Trường Sa.
Ngày 13/4/1930, toàn quyền Đông Dương Pasquier điều Thông báo hạm La Malicieuse ra quần đảo Trường Sa. Tại đây, đại úy hải quân De Lattrie đã nhân danh nước Pháp bắn 21 loạt đại bác, tuyên bố chủ quyền toàn bộ các đảo ở Trường Sa với các vùng biển phụ cận và kéo cờ trên đảo “Île de la Tempête” (đảo Bão Tố, tức đảo Spratly, nay gọi là đảo Trường Sa Lớn). Văn bản báo cáo ghi rõ, Trường Sa nằm ở 8039 độ vĩ Bắc và 111055 kinh đông.
Ngày 23/9/1930 Pháp gửi thông báo ngoại giao tới các nước có liên quan về chủ quyền của Pháp trên đảo Trường Sa, Nói rõ: “Phủ Toàn quyền Đông Dương ra thông cáo để thông báo cho các nước thứ ba biết việc Cộng hòa Pháp chiếm hữu toàn bộ quần đảo Spratly (Trường Sa)”. Thông báo này cũng được đăng trên Công báo của Phủ Toàn quyền.
Năm 1931, Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa, bán quyền khai thác cho Công ty Anglo – Chinese Development. Pháp phản đối.
Năm 1932, Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa, sát nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên. Nghĩa là Pháp công nhận và chịu trách nhiệm kế thừa chủ quyền của Việt Nam từ trước đó, tiếp tục thực thi chủ quyền tại hai quần đảo này. Đây là một bước đi quan trọng và là sự kiện đặc biệt có ý nghĩa trong việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền một cách liên tục đối với lãnh thổ quốc gia.
Năm 1933, quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa. Ngày 26/7/1933 nước Pháp ra thông báo chính thức về sự chiếm hữu các đảo Trường Sa trên nhật báo của Pháp. Pháp cũng đề nghị với Trung Hoa đưa vấn đề ra Toà án Quốc tế, nhưng Trung Hoa từ chối.
Việc thuyết phục nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương quan tâm ngày càng thiết thực hơn đến chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào những năm đầu thế kỷ XX, nên hiểu là một quá trình không đơn giản. Lúc đó, khác với ngày nay, việc chiếm hữu các đảo xa mang lại tốn kém, phức tạp, nguy hiểm nhiều hơn là lợi ích. Chính chủ quyền hiển nhiên đã có từ lâu trong lịch sử của các vương triều An Nam đối với biển đảo mới là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy các quan chức Pháp tại Hà Nội thiết tha hơn và cảm thấy trách nhiệm nặng nề hơn với Hoàng Sa, Trường Sa. Công đầu trong việc này thuộc về tờ tuần báo “Thức tỉnh kinh tế Đông Dương” (L’Éveil Économique de l’Indochine).
Tuần báo L’Éveil économique de l’Indochine ra số đầu tiên vào thứ bảy, ngày 16/6/1917 và số cuối cùng vào năm 1934. Người sáng lập, là Chủ bút và cũng là tác giả của nhiều bài viết trong tuần báo này là Henri Cucheroussset (1879 – 1934, ông qua đời tại Hà Nội và cũng là người đặc biệt yêu mến Hoàng Sa, chiến đấu không mệt mỏi cho chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa). Trong 835 số tuần báo, Chính phủ Pháp và An Nam đã triệt để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa với chính quyền Quảng Đông (lúc đó ly khai khỏi Trung Quốc và cũng không được Trung Quốc và các nước khác thừa nhận). Ông Henri Cucheroussset đã đưa vấn đề ra Thượng viện và Hạ viện Pháp, vì lý do Toàn quyền Đông dương ở Hà Nội không đủ nỗ lực quan tâm đến vấn đề. Trên tờ tạp chí này, các sự kiện sau đây đã được phản ánh:
Các đề nghị đối với chính quyền bảo hộ: Đặt trạm hải đăng, trạm khí tượng, trạm phát sóng cực ngắn, các phao đèn và cọc tiêu, vẽ các bản đồ quần đảo Hoàng Sa: tỷ lệ 1:200.000, & 1 :25.000; Xây dựng cảng cá và tổ chức nơi trú ẩn cho ngư dân, phát triển công nghiệp cá, phát triển các tầu đánh cá có thể đánh bắt xa bờ từ 2 đến 300 km ; Thiết lập hệ thống hành chính trên hai quần đảo và cần thiết có quân đội thường trú bảo vệ và tuần tra khu vực.
Trách nhiệm của nước Pháp và các quan chức Pháp tại Đông Dương: Tác giả trách cứ một số quan chức Đông Dương vô trách nhiệm đối với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa như Ông Monguillot (Thống sứ Bắc Kỳ, có lúc được cử làm quyền Toàn quyền Đông Dương), Trung tá Rémy hạm trưởng Hải quân Pháp tại Sài Gòn và đặc biệt là ông Toàn quyền Pière Pasquier. Và nhờ đó, các chính khách đã quan tâm đến vấn đề quần đảo Hoàng Sa như Thượng nghị sĩ Albert Sarraut, Nghị sĩ Ernest Outrey, Thượng nghi sĩ Bergeon … và đề nghị tổ chức một hội nghị về quần đảo này tại Luxembourg (Thượng nghị viện Pháp) và lâu đài Bourbon (Hạ nghị viện Pháp).
Vỉa phốt phát có diện tích khoảng 4 triệu m2 có độ dầy trung bình 2m, tức 8 triệu mét khối và với có thể thu được 2 tấn / m3 phốt phát tức 16 triệu tấn. Phốt phát ở Hoàng Sa. Tuy nhiên, chính quyền quản lí lơ là để Nhật Bản và Trung Quốc khai thác bất hợp pháp, không mang lại lợi ích nào cho An Nam.
Bằng con tầu Malicieuse, ngày 13/4/1930, nước Pháp đã chính thức đặt chủ quyền của An Nam dưới sự bảo hộ của Pháp đối với quần đảo Trường Sa.
Chính quyền Pháp và An Nam đã dựng lại bia chủ quyền cho quần đảo Hoàng Sa trên đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) với dòng chữ: République française – Royaume d’An Nam – Archipel des Paracels 1816 – île Pattle – 1938 (Cộng hòa Pháp – Vương quốc An Nam – Quần đảo Paracels 1816 – đảo Pattle 1938). Chính quyền Pháp đã lần lượt đặt hai trạm khí tượng trên đảo Boisée (Phú Lâm) và trên đảo Pattle (Hoàng Sa). Trước đó, vào năm 1933, Quần đảo Trường Sa đã được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa.
3. Việt Nam “xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” trước cộng đồng quốc tế tại Sanfransico 1951
Ngày 14/3/1933, Pháp cho đội tàu gồm Malicieuse, tàu pháo Arlete và hai tàu thuỷ văn Astrobale và de Lanessan từ Sài Gòn đến Trường Sa với hàng loạt các đảo như đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), cụm rạn London Reefs (Trường Sa Đông, đá Đông, đá Tây và đá Châu Viên gọi là London Reefs), bãi san hô Tizard (Ba bình, Bàn Than, Sơn ca, Núi thị, Én đất, Nam yết, Đá Lạc, Ga ven), bãi san hô Loại Ta, cụm rạn Thị Tứ và rạn Thám hiểm Phía Bắc. Tại từng địa điểm đi qua, người Pháp đã tổ chức nghi lễ chiếm hữu các đảo chính thuộc nơi đó. White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands Republic of Vietnam Ministry of Foreign Affairs Saigon, 1975.
Ngày 19/7/1933, Bộ Ngoại giao Pháp ra bản thông báo về tuyên bố chủ quyền của Pháp, kèm theo danh sách liệt kê tên các đảo đã chiếm hữu, gồm: 6 thực thể
Trường Sa Lớn; tuyên bố chủ quyền 13/4/1930 (île de la Tempête, Spratly).
An Bang; tuyên bố chủ quyền 7/4/1933 (Caye-d’Amboine, Amboyna Cay; Trung Quốc gọi là 安波沙洲: An Ba sa châu).
Ba Bình; tuyên bố chủ quyền 10/4/1933 (Itu-Aba, Đài Loan gọi là太平).
Nhóm Song Tử; tuyên bố chủ quyền 10/4/1933 (Groupe de Deux-îles; Song Tử Đông (Northeast Cay, tiếng Filipino: Parola, Trung Quốc gọi là 北子岛 Bắc Tử đảo; & Song Tử Tây (Southwest Cay, Trung Quốc gọi là 南子岛 Nam Tử đảo),
Loại Ta, tuyên bố chủ quyền 11/4/1933 (Loaita Island (South Island of Horsburgh); Trung Quốc gọi là 南钥岛 Nam Thược đảo)
Thị Tứ; tuyên bố chủ quyền 12/4/1933 (Thitu Island; Trung Quốc gọi là中业岛 Trung Nghiệp đảo).
“Những hòn đảo nói trên và các đảo phụ thuộc từng đảo này thuộc chủ quyền của Pháp”
Từ ngày 24/7/1933 đến 25/9/1933, Pháp lần lượt thông báo cho các quốc gia có thể có lợi ích tại Trường Sa biết về hành động của Pháp. Trừ Nhật Bản, tất cả các nước được thông báo đều không phản đối; Trung Quốc, Hà Lan (đang kiểm soát Indonesia) và Mỹ đều im lặng.
Ngày 21/12/1933, thống đốc Nam Kỳ là Jean-Félix Krautheimer kí Nghị định số 4702-CP sát nhập số đảo trên và “các đảo phụ thuộc” vào địa phận tỉnh bà Rịa.
Năm 1939, Thứ trưởng Ngoại giao Anh là Butter tuyên bố rằng Pháp đã thực thi đầy đủ chủ quyền trên quần đảo.
Năm 1937, bất chấp sự phản đối của Pháp, Nhật chiếm các đảo nằm ngoài khơi Đông Dương, đổi tên thành Shinnan Gunto (Tân Nam Quần Đảo) và đặt dưới quyền tài phán của Cao Hùng (Đài Loan). Trong suốt thời gian Thế chiến II, các quần đảo bị Nhật tuyên bố là bị chiếm đóng.
Năm 1938, Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quần đảo Hoàng Sa. Ngày 4/4/1939, chính phủ Pháp gửi Công hàm phản đối các quyết định của Nhật và bảo lưu chủ quyền của Pháp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 5/5/1939, Toàn quyền Đông Dương J. Brevie ký Nghị định số 3282 tách đơn vị hành chính Hoàng Sa thành 2 đơn vị: “Croissant và các đảo phụ thuộc”, “Amphitrite và các đảo phụ thuộc”.
Khi Chiến tranh Thế giới II sắp kết thúc, ba cường quốc Anh – Mỹ – Trung (lúc đó Tưởng Giới Thạch đại diện cho Trung Quốc) đã nhóm họp tại Cairo, Ai Cập ngày 27/11/1943 để bàn về những quyết định hậu chiến và ra Tuyên bố Cairo. Về biển đảo ở Thái Bình Dương, Tuyên bố viết rõ: “Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng từ khi bắt đầu Chiến tranh thế giới I năm 1914 và tất cả những lãnh thổ mà Nhật đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa”. Trong Tuyên bố này, Không có gì liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này có nghĩa rằng, Tuyên bố Cairo khẳng định các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc chỉ có “Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ”. Và ngày 26/7/1945, tại Posdam của nước Đức bại trận, các nguyên thủ quốc gia gồm Harry Truman, Winston Churchill và Tưởng Giới Thạch khẳng định các Điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện. Tuyên bố Potsdam về “các điều kiện định cho sự đầu hàng của Nhật” tương tự như một tối hậu thư đối với Nhật Bản. Sự thực thì Trung Quốc lúc đó đã quá thỏa mãn với phần thưởng hậu chiến là có được Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ, mà không có Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 15/8/1945, Nhật Bản thua trận phải rút khỏi Đông Dương và ngày 26/8/1945, quân đội Nhật phải rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 6/1946, Pháp khôi phục lại sự có mặt của mình tại Hoàng Sa tại đảo An Vĩnh, nhưng ngay sau đó phải rút vì lý do chi viện cho chiến cuộc đang căng thẳng ở Bắc Việt Nam.
Chúng tôi một lần nữa muốn lưu ý rằng, suốt chiều dài lịch sử cho đến tận năm 1945, ngoài nỗ lực thị uy của chính quyền Quảng Đông năm 1909, Trung Quốc không hề có sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành chính thực tế nào trên các đảo ở biển Đông.
Cuối năm 1946, Trung Quốc (lúc đó là Chính thể Tưởng Giới Thạch) đưa quân chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa), sau khi Pháp đặt bia chủ quyền ở đó. Tháng 1/1947, Trung Quốc đổ bộ lên đảo Woody (Phú Lâm) của quần đảo Hoàng Sa. Pháp lập tức phản đối việc xâm phạm trái phép này của Trung Quốc và cử một phân đội ra quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí tượng này hoạt động trong suốt 26 năm với những nhân viên Việt Nam cần mẫn cho đến khi Trung Hoa đại lục cưỡng chiếm bằng quân sự vào năm 1974. Ngày nay thông tin về khí tượng thủy văn phát đi từ Hoàng Sa vẫn được toàn thế giới biết đến với danh nghĩa một trạm khí tượng của một hòn đảo nhiệt đới Việt Nam. Hai bên đàm phán tại Paris. Cũng năm 1947, Pháp đề nghị đưa vấn đề tranh chấp ra Trọng tài quốc tế nhưng Trung Hoa lại từ chối.
Tháng 10/1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, chính phủ Trung Hoa Dân quốc chạy ra Đài Loan. Tháng 5/1950, Quân đội Quốc dân Đảng phải rút khỏi các đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình (quần đảo Trường Sa). Các trại đồn trú của Pháp vẫn được tiếp tục duy trì ở Hoàng Sa.
Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý quần đảo này. Thủ hiến Trung phần Việt Nam lúc bấy giờ là Phan Văn Giáo đã chủ trì việc chuyển giao quyền hành quản lý quần đảo Hoàng Sa. Một năm sau đó, với thế giới và với Hoàng Sa – Trường Sa, đã diễn ra một sự kiện quan trọng, đó là hội nghị San Francisco, California (Mỹ) giữa lực lượng Đồng minh với Nhật Bản.
Trước khi hội nghị San Francisco diễn ra, Trung Quốc đại lục đã thể hiện yêu sách của họ đối với các quần đảo qua tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao Chu Ân Lai ngày 15/8/1951. Nhưng chính quyền Tưởng Giới Thạch thì không phản ứng gì. Lúc đó, đa số các nước vẫn công nhận chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch là đại diện chính thức cho Trung Quốc.
Hội nghị San Fransisco diễn ra từ ngày 5/9 đến 8/9/1951, có phái đoàn của 51 quốc gia tham dự để thảo luận về vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á – Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Trong hội nghị này, Trung Hoa Đại lục và Trung Hoa Dân quốc không được mời tham dự do giữa Mỹ và Liên Xô không thống nhất được ai là người đại diện chính thức cho quyền lợi của Trung Hoa.
Ngày 5/9/1951, Ngoại trưởng Liên Xô Gromyko đã đề nghị 13 khoản tu chính. Trong đó, có khoản tu chính liên quan đến việc Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Trung Hoa đại lục đối với đảo Hoàng Sa. Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 1 phiếu trắng và 2 phiếu thuận. Danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ của một hội nghị quốc tế.
Ngày 7/9/1951, cũng tại hội nghị, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã long trọng tuyên bố, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam: “Cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt các mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Kết thúc hội nghị là việc ký kết Hòa ước với Nhật ngày 8/9/1951. Trong hòa ước này, ở Điều 2, đoạn F, ghi rõ: “Nhật Bản khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. 50 phái đoàn nghe lời tuyên bố của phái đoàn Việt Nam, không quốc gia nào phản đối.
Sau Hội nghị San Francisco, 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do chính quyền Bảo Đại quản lý. Đến năm 1954, 2 quần đảo này được đặt dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Tháng 4/1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, đội tuần tra của Pháp trên đảo Hoàng Sa được thay thế bởi đội tuần tra của chính phủ Việt Nam cộng hòa. Nhưng khi đó chính quyền Trung Quốc đại lục đã bí mật cho quân đổ bộ chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (cụm An Vĩnh, Amphitrite Group, 宣德群岛, Tuyên Đức quần đảo). Trong khi phía Tây, nhóm Lưỡi Liềm, còn gọi là Nguyệt thiềm (Crescent Group, 永乐群岛, Vĩnh Lạc quần đảo) vẫn do quân đội Việt Nam đóng trên đảo Pattle nắm giữ. Ngày 1/6/1956, ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo. Ngày 22/8/1956, Một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hoà cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia. Ngày 13/7/1961, Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 174-NV về việc đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy danh là xã Định Hải thuộc quận Hoà Vang.
4. Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa là trắng trợn vi phạm tuyên ngôn 1970 của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc
Ngày 4/9/1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải lý, áp dụng cho cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 14/9/1958 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi công thư cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai thông báo “tán thành” và “tôn trọng” quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Công thư này không hề nói gì về Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1961, quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của tỉnh Quảng Nam. Năm 1973, thuộc tỉnh Phước Tuy.
Tháng 1/1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm các đảo do quân đội Việt Nam Cộng hoà đóng, 75 sĩ quan và binh sỹ Sài Gòn hy sinh, Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Nghĩa là kể từ 1974, trong vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Việt Nam đã bị tước mất yếu tố vật chất (Corpus), nhưng chủ quyền của Việt Nam vẫn không bị gián đoạn do được đảm bảo bằng yếu tố tinh thần (Animus). Tháng 12/1982, huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được thành lập. Nhưng điều quan trọng hơn, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24/10/1970 ghi rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lưc. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp”. Do đó, các hành động dùng vũ lực trái ngược với luật quốc tế của Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho nước này đối với quần đảo Hoàng Sa.
Đối với quần đảo Trường Sa, theo Jan Rowiński, cho đến thời điểm tháng 1/1974 “Trung Quốc không có khả năng gây ảnh hưởng đối với khu vực quần đảo Trường Sa, chứ chưa nói gì đến chuyện kiểm soát nó”.
Ngày 14/2/1975, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa công bố Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Tháng 5/1975, Việt Nam thống nhất, quân đội Nhân dân Việt Nam thay thế quân đội Việt Nam Cộng hoà tại quần đảo Trường Sa. Năm 1977, Việt Nam ra tuyên bố lãnh hải đất nước, kể cả lãnh hải của các đảo. Khoảng thời gian này, một số quốc gia Đông Nam Á khác cũng đã chiếm một số đảo của quần đảo Trường Sa.
Tháng 3/1988, lần đầu tiên Trung Quốc có mặt trên quần đảo Trường Sa bằng cách đưa quân tới xâm lược bãi đá Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma, do ba bãi đá này không có quân đội đồn trú nên Hải quân Việt Nam phải đưa quân ra bảo vệ. Ngày 11/3/1988, tàu HQ 604 (Lữ đoàn 125) của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ xuất phát từ Cam Ranh với 70 bộ đội công binh của Trung đoàn 83 và 22 bộ đội của Lữ đoàn 146 ra xây dựng cụm đảo Gạc Ma. Khi đang chuyển vật liệu lên đảo thì ba tàu chiến Trung Quốc áp sát, giật cờ, nã súng xâm chiếm đảo Gạc Ma trái phép. Sau đó, tàu Trung Quốc tiếp tục tấn công tàu HQ 605 đang bảo vệ và xây dựng đảo Len Đao và tàu HQ 505 canh giữ Cô Lin. Trận xung đột đã làm hai tàu của Việt Nam bị chìm, một tàu hỏng, 64 sỹ quan và chiến sĩ hy sinh, 9 người bị phía Trung Quốc bắt làm tù binh. Trung Quốc còn chặn không cho tàu mang cờ Chữ Thập Đỏ ra cứu hộ. Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, thương vong 24 thủy binh. Kể từ đó Trung Quốc chiếm đóng Gạc Ma.
Tháng 4/1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tháng 5/1989, Trung Quốc chiếm thêm một đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa.
Năm 1990, Trung Quốc đề nghị khai thác chung quần đảo Trường Sa.
Năm 1992, Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nữa.
Năm 1994, Đụng độ giữa Việt Nam và một chiếc tàu Trung Quốc nghiên cứu cho Công ty Crestone.
Tháng 2/1995, Trung Quốc chiếm bãi đá Vành Khăn, một đảo đá nhỏ do Philippines quản lý trên quần đảo Trường Sa.
Hiện nay Trung Quốc kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Còn quần đảo Trường Sa thì do sáu quốc gia và vùng lãnh thổ chiếm giữ là Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei.
Những sự kiện điển hình vừa dẫn ra ở trên cho thấy ý đồ và bước đi của nhà cầm quyền Trung Quốc trong nhiều thế kỷ qua đã diễn ra theo một logic đáng ngại cho hòa bình và công pháp quốc tế. Nhưng không dừng ở đó, Ngày 26/5/2011 và này 30/11/2012 tàu Trung Quốc đã vào tận khu vực thềm lục địa Việt Nam và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cắt cáp địa chấn, cáp thu tín hiệu của tàu Binh Minh 02 thuộc Tập đoàn PetroViệt Nam. Tháng 5/2014 Trung Quốc đã đưa giàn khoan khổng lồ Haiyang Shiyou 981 cùng với hàng chục máy bay chiến đấu, hàng trăm tàu bán quân sự và quân sự vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ngày 26/5/2014, tàu Trung Quốc số 11209 đã đâm chìm tàu cá ĐNa 90152 của ngư dân Đà Nẵng trong ngư trường truyền thống của Việt Nam ở vị trí cách giàn khoan này 17 hải lý. Tháng 6/2014 Trung Quốc đưa tiếp nhiều giàn khoan khác xuống biển Đông, trong đó giàn khoan Nam Hải 09 hạ đặt ngay tại cửa vịnh Bắc Bộ, nơi đang chờ được phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thực chất đây là một cuộc xâm lăng với tất cả các dấu hiệu vừa “cổ điển” vừa chưa có tiền lệ của nó. Cổ điển vì đã vượt biên giới, có vũ khí, hành động đơn phương với mưu đồ cưỡng chiếm lãnh thổ và thôn tính dài lâu. Nhưng lại chưa có tiền lệ vì sử dụng “lãnh thổ di động”, chưa nổ súng và có thể không nổ súng nhưng vẫn có khả năng biến lãnh thổ quốc gia khác thành vùng tranh chấp rồi mới cưỡng đoạt. Giấc mộng Trung Hoa trên thực tế đã dần trút bỏ “lá nho che đậy không kém phần trơ trẽn” của nó.
“Những gì mà Trung Quốc đang làm khác rất xa những gì mà Trung Quốc nói”, đây là nhận định của Thủ tướng Việt Nam tại cuộc họp báo ngày 22/5/2014 tại Manila, nhân chuyến viếng thăm Philippines và tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á 2014. Tại cuộc họp báo này, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam nói rõ: “Chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển. Nhất định Việt Nam không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.
Điều Thủ tướng nói chính là điều thuộc về ý nguyện của nhân dân.
Bắc Kinh từng tuyên bố “Họ có thể đợi một trăm năm để giành lại Đài Loan”, nhưng giờ đây có vẻ như Chính quyền Trung Quốc có vẻ đang ngày càng mất kiên nhẫn với sự chờ đợi của họ. Vậy Đài Loan có thể có những cách gì để “ngăn chặn” một cuộc xâm lược vũ trang của Trung Quốc?.
Vào tháng 1/2023, Tướng Không quân Mỹ Mike Minihan từng viết một bản ghi nhớ cho các sĩ quan trong Bộ Tư lệnh Cơ động Không quân, gần như ngay lập tức bản ghi nhớ bị rò rỉ ra ngoài. Nội dung bản ghi nhớ cảnh báo: Mỹ và Trung Quốc đang dồn toàn lực hướng tới chống lại một biến động lớn sẽ sớm xảy ra – chiến tranh ở Đài Loan – và tướng Minihan viết rõ: “Trực giác mách bảo, tôi sẽ chiến đấu vào năm 2025”.
Minihan cho biết trong bản ghi nhớ: vì cả Đài Loan và Mỹ sẽ tổ chức bầu cử tổng thống vào năm 2024, Mỹ sẽ “bị phân tâm” và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ nhân cơ hội tiến đánh Đài Loan.
Điều đáng báo động là ông Minihan cũng không phải là nhân vật quân đội Mỹ duy nhất đưa ra những dự đoán về chiến tranh sắp xảy ra.
Vào năm 2021, Philip David, lúc đó là đô đốc bốn sao của Hải quân Mỹ và là tư lệnh Bộ chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ đã dự đoán: khả năng chiến tranh Trung Quốc và Eo biển Đài Loan có thể xảy ra vào năm 2027.
Ngay trong năm nay, năm 2023, cả Ngoại trưởng Mỹ Anthony Blinken và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân, Tướng Mark Milley đều cảnh báo: mặc dù chiến tranh với Trung Quốc không phải là sắp xảy ra và cũng không phải là không thể tránh khỏi, nhưng Trung Quốc đang tích cực tìm cách có được khả năng tấn công, chiếm đảo về mặt quân sự, chậm nhất là vào năm 2027.
Vào tháng 4/2023, John Aquilino, một Đô đốc khác và là Tư lệnh hiện tại của Bộ chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ đã tuyên bố rõ ràng; Trung Quốc đang tăng cường xây dựng quân đội lớn nhất, nhanh nhất, toàn diện nhất kể từ Thế chiến II. Tính theo tổng số tàu chiến, Hải quân Trung Quốc đã nổi lên là lực lượng lớn nhất thế giới trong những năm 2020, vượt qua tổng số tàu của Hải quân Mỹ.
Chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc gần bằng 1/3 chi tiêu quốc phòng của Mỹ và đã vượt quá ngân sách quân sự của Nga, Ấn Độ, Anh và Pháp cộng lại. Do đó, khả năng quân sự của Trung Quốc đã được mở rộng đáng kể trong vai trò mới, được cho là cường quốc quân sự mạnh thứ hai trên thế giới.
Vào tháng 8/2022, Chủ tịch Hạ viện Mỹ khi đó là bà Nancy Pelocy đã có chuyến thăm chính thức cấp nhà nước tới Đài Loan. Chuyến thăm đã gây ra cuộc khủng hoảng xuyên Eo biển lớn nhất trong một phần tư thế kỷ qua ở Trung Quốc.
Các máy bay chiến đấu của Trung Quốc liên tục vượt qua “đường trung tuyến” ranh giới trên biển không chính thức giữa Trung Quốc đại lục và đảo Đài Loan, thậm chí còn tuần tra quanh bờ biển phía đông của Đài Loan.
Tên lửa đạn đạo của Trung Quốc phóng ra ngoài khơi và rơi quanh hòn đảo với một số đã lao vào trong vùng lãnh hải của Đài Loan và một số khác bay thẳng qua không phận của hòn đảo và lao vào vùng đặc quyền kinh tế của Nhật Bản. Những sự kiện này là mới, tính đến lúc đó là hoàn toàn chưa từng có.
Đồng thời, các sự kiện lúc đó phù hợp với dự đoán của các nhà hoạch định quân sự Mỹ xung quanh khả năng rất thực tế về một cuộc xâm lược toàn diện của Trung Quốc vào hòn đảo, sẽ xảy ra vào thời điểm nào đó trong thời gian tới.
Một biến cố như vậy có thể dễ dàng lôi Mỹ vào cuộc chiến với siêu cường toàn cầu khác trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương rộng lớn và thảm khốc của thế kỷ 21.
Nhưng tại sao tất cả những điều này lại xảy ra đột ngột vào những năm 2020 và điều gì ở hòn đảo này khiến nó trở nên có giá trị đối với cả Mỹ và Trung Quốc. Tại sao nó được cho là điểm bùng phát nguy hiểm nhất trong toàn bộ thế kỷ 21.
Nhìn lại lịch sử: Trung Quốc hiện nay là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với chính phủ của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Còn Đài Loan là chính phủ nối tiếp của Cộng hòa Trung Hoa cũ (hay còn gọi Trung Hoa Dân quốc).
Trong suốt đầu thế kỷ 20, hai bên đã tiến hành một cuộc nội chiến tàn khốc để giành quyền kiểm soát toàn bộ Trung Quốc. Đỉnh điểm là năm 1949, ĐCSTQ giành quyền thống trị trên khắp lục địa Trung Quốc, còn Chính phủ Trung Hoa Dân quốc rút lui về đảo Đài Loan.
Đài Loan, hòn đảo bị triều đại nhà Thanh của Trung Quốc sáp nhập từ nhiều thế kỷ trước, vào năm 1683, sau đó bị Nhật Bản sáp nhập vào năm 1895, cuối cùng quay trở lại dưới quyền kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc sau Thế chiến II vào năm 1945.
Mặc dù việc Trung Hoa Dân Quốc rút lui hoàn toàn về đảo Đài Loan năm 1949, đã đánh dấu sự kết thúc của cuộc giao tranh trực tiếp giữa hai bên trong Nội chiến Trung Quốc.
Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có một hiệp ước hòa bình chính thức nào để chấm dứt cuộc nội chiến này.
Như vậy, nói theo một cách nào đó, cuộc nội chiến Trung Quốc vẫn đang tạm dừng một cách hiệu quả trong suốt 74 năm, khiến nó trở thành một trong những cuộc xung đột “bị đóng băng” kéo dài nhất lịch sử thế giới đương đại.
Kể từ đó, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã liên tục khẳng định họ là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn bộ Trung Quốc đại lục và Đài Loan là một phần không thể tách rời.
Đây được gọi là chính sách Một Trung Quốc và đó là lý do tại sao Bắc Kinh không coi Đài Loan là một quốc gia độc lập mà là một phần của Trung Quốc, hiện đang nổi loạn và được lãnh đạo bởi chính phủ Trung Hoa Dân Quốc.
Nhiều nước trên thế giới đã từ bỏ quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan để quay sang thiết lập quan hệ với Trung Quốc.
Tính đến năm 2023, chỉ còn 13 quốc gia trên thế giới duy trì quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, và hầu hết trong số đó là những quốc gia rất nhỏ, lớn nhất là các nước Guatemala, Haiti và Paraguay.
Kể từ năm 2018, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có thể nói, đã thành công trong việc thuyết phục các nước đồng minh của Trung Hoa Dân quốc từ bỏ Đài Loan.
Mặt khác, Trung Hoa Dân quốc cũng có “chính sách Một Trung Quốc”, nói Đài Loan là một phần không thể tách rời của Trung Quốc, nhưng khẳng định nó không thuộc về Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Ngoại giới cho rằng, với cách nói này, Đài Loan có thể coi tất cả đại lục là một loạt các tỉnh rất lớn, đang trong tình trạng nổi loạn dưới sự lãnh đạo của chính quyền hà khắc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Qua đó cho thấy, quan điểm của Trung Hoa Dân quốc về chính sách Một Trung Quốc có thể coi là một vở diễn trên sân khấu.
Nhưng vấn đề là, nếu họ ngừng duy trì quan điểm đó và bắt đầu khẳng định, họ là chính phủ duy nhất của Đài Loan thì điều đó có thể được xem là một tuyên bố chính thức độc lập, tách khỏi Trung Quốc, và gần như ngay lập tức có thể gây ra phản ứng quân sự từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Đó là lý do tại sao Trung Hoa Dân Quốc chưa bao giờ thực hiện bất kỳ nỗ lực chính thức nào, nhằm từ bỏ chính sách Một Trung Quốc, để tìm kiếm độc lập chính thức.
Trong nhiều thập niên, chính quyền Trung Quốc chủ yếu cố gắng đặt Đài Loan dưới quyền của mình thông qua các biện pháp ngoại giao.
Năm 1972, Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Mao Trạch Đông từng có câu nói nổi tiếng với Tổng thống Mỹ Richard Nixon rằng: Trung Quốc “có thể đợi một trăm năm” cho đến khi chiếm được Đài Loan, nhưng bây giờ, năm 2023, đã hơn 70 năm trôi qua, có vẻ như Bắc Kinh thực sự ngày càng mất kiên nhẫn với sự chờ đợi của họ.
Mục tiêu mong muốn từ lâu trong 74 năm qua, tính từ năm 1949 là điều mà Bắc Kinh gọi là “thống nhất hòa bình”, đã không xảy ra và hiện trạng vẫn được giữ nguyên.
Trong khi đó, triển vọng kinh tế và nhân khẩu học của Trung Quốc sau những năm 2020 được cho là đáng lo ngại.
Bắc Kinh hiểu rằng sau năm 2030, nhân khẩu học và nền kinh tế của họ sẽ bắt đầu ngày càng trở nên tồi tệ hơn, vì vậy họ biết rằng lựa chọn chiếm Đài Loan bằng vũ lực quân sự sẽ dễ dàng hơn trong thập niên này, so với thập niên tiếp theo, khi hiện tại họ còn tương đối mạnh.
Chính quyền Trung Quốc đã nói rất rõ rằng, họ chưa bao giờ và sẽ không bao giờ từ bỏ quyền sử dụng vũ lực một ngày nào đó, để đưa Đài Loan vào tầm kiểm soát của mình.
Nhằm cố gắng ngăn cản Trung Quốc sử dụng vũ lực, Mỹ và Đài Loan đang ngày càng chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến với siêu cường, cho dù họ không muốn nó xảy ra, vì nếu xảy ra, nó sẽ làm đảo lộn toàn bộ thế giới.
Bản thân Đài Loan cũng hiểu rõ tình hình địa chính trị bấp bênh, tồn tại trong nhiều thập niên với một nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày càng hung hăng, trong khi mối quan hệ ngoại giao và sự hỗ trợ nước ngoài dành cho họ ngày càng suy giảm.
Vì vậy Đài Loan đã đã áp dụng ba chiến lược tổng thể rất khác nhau, tất cả đều kết nối với nhau. Từ quan điểm của phía họ, họ hy vọng sẽ ngăn cản việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm lược.
Trong video hôm nay, chúng ta sẽ tập trung nói về 2 chiến lược về mặt ngoại giao và Kinh tế, tạm gác lại chiến lược về mặt quân sự.
Chiến lược ngoại giao cốt lõi của Đài Loan được áp dụng đối với cả Trung Quốc đại lục và với phần còn lại của thế giới bên ngoài, chính là: Trung Hoa Dân quốc tiếp tục cam kết chính thức với “chính sách Một Trung Quốc”, trao cho Bắc Kinh quyền khẳng định Đài Loan là một phần của Trung Quốc.
Vào năm 1945, khi người Nhật trao trả Đài Loan cho Trung Hoa Dân Quốc, Quốc Dân Đảng đã kiểm soát hoàn toàn hòn đảo. Sau khi thua trong cuộc nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quốc Dân Đảng đã lui về Đài Loan.
Quốc Dân Đảng đã thiết lập chế độ độc đảng nghiêm ngặt trên hòn đảo, đó là một thời kỳ thiết quân luật kéo dài gần 4 thập niên, mãi cho đến năm 1987.
Trong thời gian dài đó, bản sắc truyền thống của dân tộc Trung Hoa đã được Quốc Dân Đảng duy trì và áp dụng thống nhất trên toàn bộ hòn đảo, người dân chỉ được phép nói tiếng Quan thoại.
Sau khi thiết quân luật được dỡ bỏ vào năm 1987, quá trình chuyển đổi sang hình thức quản lý dân chủ của Đảo quốc, diễn ra đồng thời với quá trình tự xác nhận “bản sắc riêng”.
Một thời gian ngắn sau khi có chuyển đổi, vào năm 1992, một cuộc thăm dò cho thấy: chỉ 17,6% người dân trên đảo nhận mình là người Đài Loan, trong khi 25,5% nhận là người Trung Quốc và 46,4% nhận cả hai.
Chỉ ba thập niên sau, vào năm 2020, một cuộc thăm dò khác, được thực hiện bởi trung tâm nghiên cứu bầu cử của Đại học Quốc lập Chính trị Đài Loan – Chengchi, cho thấy: có 61% người được hỏi nhận mình là người Đài Loan.
Một chiến lược khác của Đài Loan nhằm ngăn chặn cuộc xâm lược của Trung Quốc liên quan đến kinh tế, trong bối cảnh ban đầu, không có sự quan tâm nào cùa thế giới bên ngoài.
Nhắc lại tình huống lúc bấy giờ, Đài Loan đã mất sự công nhận của Nhật Bản, Australia và hầu hết các nước châu Âu trong những năm 1970 và thậm chí mất đi sự công nhận của Mỹ.
Vào năm 1979, Đài Loan đã phải tìm đủ mọi cách để khuyến khích các cường quốc bên ngoài quan tâm đến việc can thiệp nếu một ngày nào đó Trung Quốc quyết định xâm chiếm Đài Loan.
Mỹ đã can thiệp chống lại cuộc xâm lược Kuwait của Saddam Hussein vào năm 1991, chủ yếu lo ngại việc nguồn cung dầu toàn cầu sẽ dần rơi vào tay Saddam.
Nhưng không giống như Kuwait, Đài Loan hầu như không có tài nguyên thiên nhiên, để khiến các cường quốc bên ngoài quan tâm đến việc ai đang thực sự kiểm soát hòn đảo.
Hòn đảo này gần như không có dầu, than cũng như khí đốt. Trong nhiều thập niên, nền kinh tế trên đảo tương đối nghèo, cho đến khi xuất hiện một nhân vật góp một phần khá quan trọng trong việc thay đổi cục diện nền kinh tế Đài Loan.
Morris Chang, (Trương Trung Mưu) một doanh nhân huyền thoại của Trung Hoa Dân quốc, người sáng lập tập đoàn sản xuất chất bán dẫn Đài Loan TSMC.
Ông Trương đã chuyển đến Mỹ khi còn trẻ và đã có quãng thời gian 25 năm làm việc tại Texas Instruments, một trong những tập đoàn hàng đầu trong thị trường bán dẫn. Ông từng giữ chức Tổng giám đốc tập đoàn này.
Chất bán dẫn, dùng để sản xuất các con chíp vi mạch, là một tập hợp các mạch điện tử trên một miếng silicon phẳng nhỏ.
Trên những con chip này, các bóng bán dẫn hoạt động như những công tắc nhỏ để điều khiển chuyển động của các electron.
Các chip tiên tiến nhất ngày nay được sản xuất bằng quy trình được gọi là quy trình sản xuất 7 nanomet. Số đo 1 nanomet là để chỉ đến con số một phần tỷ mét.
Các quy trình với số nanomet nhỏ hơn rất quan trọng, vì chúng tăng hiệu suất mạch và giảm tiêu thụ điện năng.
Vi mạch là một nguồn tài nguyên mới nhưng ngày càng quan trọng trong thế giới hiện đại, có mặt trong mọi thiết bị điện tử, từ máy tính đến điện thoại thông minh, từ máy ảnh cho đến máy bay không người lái, từ lò vi sóng đến máy điều hòa không khí… có những thiết bị quân sự quan trọng như máy bay chiến đấu, tên lửa dẫn đường và trí tuệ nhân tạo mới nổi.
Vào những năm 1980, ông Trương đã quay trở lại với Trung Hoa Dân quốc ở Đài Loan khi ông và chính phủ Trung Hoa Dân quốc đưa ra một ý tưởng mới táo bạo, thành lập một công ty tập trung nghiên cứu sản xuất vi mạch.
Ngay từ đầu TSMC đã là dự án của nhà nước Đài Loan với 48% khởi nghiệp cần thiết để vận hành đến từ chính phủ Trung Hoa Dân quốc, trong khi phần lớn số còn lại được gây quỹ từ những công dân Đài Loan giàu có, với sự vận động của chính phủ yêu cầu đầu tư vào công ty mới.
Theo thời gian, TSMC đã có thể quảng bá mình là một cơ sở sản xuất có chi phí thấp, để thuyết phục ngày càng nhiều công ty vi mạch lớn từ khắp Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản, thuê họ gia công một số hoặc thay thế tất cả quy trình sản xuất.
Khách hàng của TSMC bao gồm các công ty lớn như AMD, Nvidia, Intel, IBM, Sony, Qualcomm và Apple.
Kết quả là TSMC đã có thể nổi lên không chỉ là một công ty bán dẫn lớn nhất thế giới mà còn là một trong những công ty có giá trị hàng đầu thế giới với vốn hóa thị trường hơn 450 tỷ USD tính đến tháng 10/2023, theo dữ liệu Nasdaq.
TSMC và tất cả các công ty sản xuất vi mạch khác của Đài Loan tính gộp lại, sản xuất tổng cộng khoảng 68% số vi mạch toàn cầu.
Vì vậy ngành công nghiệp vi mạch khổng lồ này được coi là “Lá chắn silicon” của Đài Loan.
Lý thuyết về lá chắn silicon cho rằng, các cường quốc bên ngoài phải dựa vào cơ sở sản xuất vi mạch của Đài Loan, trong đó có Mỹ, EU và Nhật Bản, do đó những nước này đều sẽ có sự khuyến khích mạnh mẽ về mặt tài chính nhằm bảo vệ những cơ sở sản xuất vi mạch ở Đài Loan khỏi bất kỳ cuộc tấn công nào đến từ Trung Quốc, thậm chí được khuyến khích cả về mặt quân sự trong việc bảo vệ chủ quyền của Đài Loan khi Trung Quốc xâm lược.
Nhưng việc khuyến khích các bên thứ ba bảo vệ Đài Loan chỉ là một nửa của chiến lược Lá chắn Silicon. Phần còn lại, chính là nó trực tiếp ngăn chặn Trung Quốc phát động một cuộc tấn công.
Bởi vì, giống như Mỹ, lĩnh vực công nghệ của Trung Quốc ngày càng trở nên phụ thuộc vào các công ty sản xuất chip của Đài Loan, mặc dù Trung Quốc đã đổ hàng tỷ đô la vào phát triển ngành công nghiệp vi mạch của riêng mình.
Trung Quốc cho đến nay vẫn chưa có khả năng trở thành đối thủ cạnh tranh thực sự trong lĩnh vực chip bán dẫn, dù trước đó đã đặt mục tiêu đạt được 70% khả năng tự cung cấp sản xuất vi mạch vào năm 2025.
Câu hỏi đặt ra là liệu Trung Quốc có thực sự mạo hiểm xâm lược Đài Loan khi mà họ có thể chứng kiến các công ty sản xuất chip mà họ rất phụ thuộc vào, bị phá hủy trong chiến tranh hoặc do chính Đài Loan sẽ tự phá hủy hay không.
Nhật Bản sẽ hợp tác với Philippines và Mỹ để bảo vệ quyền tự do trên Biển Đông, đồng thời cam kết giúp tăng cường khả năng an ninh của Philippines.
Phát biểu trước Quốc hội Philippines ở thủ đô Manila, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida nhấn mạnh sự hợp tác ba bên giữa Nhật Bản-Mỹ-Philippines đang được thực hiện ở Biển Đông để bảo vệ quyền tự do trên biển.
Hai bên trước đó cũng nhất trí bắt đầu các cuộc đàm phán chính thức về một Thỏa thuận tiếp cận đối ứng (RAA) nhằm tạo điều kiện tổ chức các cuộc diễn tập chung và những chuyến thăm lẫn nhau giữa lực lượng hai nước. Tại cuộc gặp với Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr, Thủ tướng Fumio Kishida cho biết Philippines và Nhật Bản bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, tái khẳng định cam kết đối với quyền tự do hàng hải và hàng không ở khu vực này. Trong tuyên bố báo chí chung, hai nhà lãnh đạo cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tuân thủ “cách tiếp cận dựa trên luật lệ”.
Trong khuôn khổ chuyến thăm hai ngày đến Manila của Thủ tướng Nhật Bản, Philippines đã đạt được thỏa thuận trị giá 570 triệu peso từ Nhật Bản liên quan đến an ninh hàng hải và ứng phó thảm họa.
Ngoài việc cung cấp hỗ trợ quân sự cho Manila, chuyến thăm của Thủ tướng Nhật Bản cũng hứa hẹn về một loạt gói viện trợ phát triển cho Philippines, nhằm củng cố mối quan hệ song phương. Tổng thống Philippines nhấn mạnh Nhật Bản tài trợ cho dự án Tàu điện ngầm Metro Manila và các dự án Đường sắt Bắc-Nam, ước tính trị giá hàng tỷ USD.
Giới phân tích khu vực nhận định, chuyến thăm Philippines của ông Kishida diễn ra vào thời điểm Nhật Bản ngày càng công khai mong muốn đóng vai trò lớn hơn với tư cách là đối tác an ninh và phát triển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Trong khi đó, đối với Philippines, chuyến thăm mở ra cơ hội hợp tác chặt chẽ hơn về mặt song phương và đa phương với các nước khu vực trong bối cảnh bất ổn địa chính trị ngày càng gia tăng. Chính phủ Philippines gần đây đã hủy bỏ các thỏa thuận tài trợ của Trung Quốc cho 3 dự án đường sắt lớn trị giá 2,8 nghìn tỷ peso trong bối cảnh căng thẳng gia tăng trên biển giữa hai nước.
Chuyến công du của Thủ tướng Nhật Fumio Kishida đến Philippines vừa qua đã thúc đẩy quan hệ hợp tác 2 bên thêm chặt chẽ, giữa bối cảnh Biển Đông có nhiều căng thẳng.
Hôm qua (5.11), tờ The Inquirer đưa tin Nhật Bản đã chuyển giao hệ thống radar giám sát tầm xa đầu tiên cho Không quân Philippines.
Nhật Bản hỗ trợ mạnh mẽ cho Philippines
Đó là một trong các hệ thống mà Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida công bố viện trợ cho Manila khi đến thăm chính thức Philippines từ ngày 3 – 4.11. Thực tế, hệ thống radar đầu tiên trong số này vừa nêu đã được triển khai từ tháng 10 và hệ thống được đặt hướng ra Biển Đông. Manila kỳ vọng thông qua những radar giám sát tầm xa, sẽ có thể nhanh chóng phát hiện, xác định những mối đe dọa và hành vi xâm nhập trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines.
Trong chuyến thăm trên, Thủ tướng Kishida cho biết số radar được hỗ trợ theo chương trình mới có tên Hỗ trợ An ninh chính thức (OSA). Nằm trong danh sách tiếp nhận OSA của Nhật còn có Malaysia, Bangladesh và Fiji. Trong cuộc hội đàm diễn ra vào ngày 3.11, Thủ tướng Kishida và Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. còn đồng ý bắt đầu đàm phán Hiệp định Tiếp cận đối ứng (RAA) để tăng cường hợp tác giữa Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản và quân đội Philippines.
Về kinh tế, hai nhà lãnh đạo tái khẳng định kế hoạch được thảo luận vào tháng 2 để Nhật Bản cung cấp gói tài chính lên đến 4,02 tỉ USD hỗ trợ Philippines phát triển cơ sở hạ tầng công và tư nhân từ tháng 3.2024.
Phát biểu trước Quốc hội Philippines vào ngày 4.11, Thủ tướng Kishida nhấn mạnh Nhật Bản cùng với Mỹ và Philippines đang hợp tác để bảo vệ quyền tự do trên Biển Đông. Sự hợp tác đó song hành cùng cam kết của Tokyo trong việc giúp Manila tăng cường khả năng an ninh.
Tuyên bố của ông được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng liên tục xảy ra gần đây ở Biển Đông.
Chia sẻ nhiều giá trị chung
Trả lời Thanh Niên ngày 5.11, GS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế – Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) nhận định: “Việc Thủ tướng Kishida thăm Philippines và đưa ra những thông điệp mạnh mẽ về việc bảo vệ các tuyến thông thương trên biển ở Biển Đông là minh chứng cho cam kết của Nhật Bản trong việc đóng góp cho trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”.
“Lợi ích hàng hải của Tokyo và Manila có sự thống nhất cao ở chỗ cả hai nước đều không chấp nhận các hành vi dùng vũ lực, cưỡng ép và sử dụng chiến lược vùng xám để độc chiếm Biển Đông. Tokyo sẽ tiếp tục cung cấp phương tiện để Manila nâng cao năng lực hàng hải. Nhật cũng sẽ thúc đẩy phối hợp ngoại giao song phương và với ASEAN để giúp đỡ cùng hợp tác với các nước liên quan nhằm đảm bảo an ninh ở Biển Đông”, GS Nagy khẳng định.
Tương tự, trả lời Thanh Niên, TS Satoru Nagao (Viện Nghiên cứu Hudson, Mỹ) phân tích: “Trước nay, Tokyo không phải là bên bảo trợ an ninh ở khu vực này vì các nước xung quanh lo ngại Nhật Bản vì vấn đề lịch sử. Tuy nhiên, điều đó đã thay đổi gần đây. Trong đó, nguyên nhân quan trọng nhất làm thay đổi quan hệ Nhật Bản – Philippines chính là do tình hình căng thẳng ở Biển Đông”.
“Nhật Bản đã tặng 12 tàu cho Lực lượng Tuần duyên Philippines. Và giờ đây, Nhật Bản thực hiện cả OSA, trong đó viện trợ radar cho Philippines. Rồi RAA cho phép 2 bên tăng cường trao đổi, đào tạo hướng dẫn lực lượng quân sự của nhau. Ở đây, RAA cho phép hai bên dễ dàng tập trận chung, Nhật đào tạo cho lực lượng Philippines sử dụng những thiết bị mà Nhật đã viện trợ”, TS Nagao chỉ ra.
Mạng lưới nhiều bên
Theo ông Nagao, cùng với Mỹ, Nhật Bản và Philippines sẽ còn tiếp tục thúc đẩy hợp tác an ninh và đối phó thách thức đang trỗi dậy.
Thực sự, Philippines thời gian qua không ngừng mở rộng hợp tác với cả Nhật Bản lẫn Mỹ về các vấn đề hàng hải.
Đầu năm nay, Manila công bố thỏa thuận cho phép binh sĩ Mỹ có thể sử dụng thêm 4 căn cứ quân sự ở Philippines. Hồi tháng 3, Nhật Bản tham gia cuộc tập trận quân sự của Mỹ và Philippines với tư cách quan sát viên. Đến tháng 6, lực lượng tuần duyên của 3 nước lần đầu tiến hành huấn luyện cùng nhau.
Trước đó, cuối tháng 2, Reuters đưa tin Mỹ và Philippines đang thảo luận về việc tiến hành tuần tra chung giữa lực lượng tuần duyên 2 nước, trong đó có khu vực Biển Đông.
Không dừng lại ở đó, Philippines gần đây liên tục đẩy mạnh hợp tác với Úc, vốn là một đồng minh khác của Mỹ. Hợp tác giữa Manila với Canberra không chỉ bằng hình thức song phương, mà còn bao hàm đa phương với Tokyo và Washington. Chính vì thế, giới chuyên gia đánh giá rằng sau nhiều hợp tác song phương lẫn đa phương, Mỹ cùng Nhật Bản, Úc và Philippines dường như đang tiến đến hình thành một liên minh 4 bên nhằm đối phó các nguy cơ, bao gồm tại Biển Đông.
Lực lượng của Nhật Bản và Trung Quốc đều cho biết đã yêu cầu các tàu của đối phương rời quần đảo Senkaku/Điếu Ngư tranh chấp.
Khu vực quần đảo Senkaku/Điếu Ngư tranh chấp
Hãng Reuters ngày 1.11 đưa tin Nhật Bản và Trung Quốc đều cáo buộc lẫn nhau về việc đưa các tàu tuần tra đến khu vực quần đảo Senkaku/Điếu Ngư tranh chấp, đồng thời cho biết đã yêu cầu các tàu của đối phương rời vùng biển này.
Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc cho hay có 3 tàu và một số tàu tuần tra của Nhật “xâm nhập trái phép lãnh hải”, nên phía Trung Quốc đã tiến hành “các biện pháp cần thiết theo pháp luật”.
Trong khi đó, Lực lượng Tuần duyên Nhật cho hay các tàu tuần tra của mình đã yêu cầu 3 tàu hải cảnh của Trung Quốc rời khỏi vùng biển trên. Trước đó hôm 17.10, vùng biển này cũng đã xảy ra sự việc tương tự liên quan tàu của 2 nước.
Quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hiện do Nhật Bản kiểm soát và Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền. Vùng lãnh thổ Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền với quần đảo này ở biển Hoa Đông và gọi là Điếu Ngư Đài.
Trong một diễn biến khác, chính quyền Đài Loan ngày 1.11 cho hay Trung Quốc đại lục điều 43 máy bay quân sự và 7 tàu đến gần hòn đảo, theo AP.
Theo Cơ quan Phòng vệ Đài Loan, số máy bay và tàu trên tiếp cận trong vòng 24 giờ tính đến 6 giờ ngày 1.11 (giờ địa phương), trong đó có 37 máy bay đã bay qua đường trung tuyến ở eo biển Đài Loan hoặc đi vào vùng đông nam và tây nam của vùng nhận diện phòng không (ADIZ) Đài Loan.
Trong số các máy bay đi vào ADIZ của Đài Loan có 6 chiếc Su-30, 16 chiếc J-16, 4 chiếc J-10, 4 chiếc H-6, 2 chiếc KJ-500, một chiếc Y-9, một chiếc Y-8, một chiếc WZ-7 và 2 chiếc Y-20.
Phía Đài Loan đã theo dõi tình hình, điều các tiêm kích và tàu, cũng như kích hoạt các hệ thống tên lửa trên bộ theo các biện pháp ứng phó đối với hoạt động của quân đội Trung Quốc đại lục.
Ngày 2-11, Bộ Ngoại giao Philippines cáo buộc tàu Trung Quốc xâm phạm vùng biển của nước này ở Biển Đông, đáp trả lại tuyên bố trước đó của Bắc Kinh: một tàu quân sự Philippines đã di chuyển “trái phép” vào vùng biển gần bãi cạn Scarborough.
Thủy thủ trên tàu Datu Bankaw của Cục Thủy sản và tài nguyên dưới nước Philippines giám sát một tàu hải cảnh Trung Quốc gần bãi cạn Scarborough ở Biển Đông hồi tháng 9 năm nay.
Đầu tuần này quân đội Trung Quốc nói rằng một tàu quân sự Philippines đã di chuyển “trái phép” vào vùng biển gần bãi cạn Scarborough (hiện do Trung Quốc kiểm soát), đồng thời thúc giục Manila “dừng ngay các hành vi xâm phạm và khiêu khích”.
Quân đội Trung Quốc nói rằng họ đã theo dõi, giám sát, cảnh báo và chặn tàu Philippines.
Tuy nhiên, ngày 2-11, Bộ Ngoại giao Philippines đáp trả rằng tuyên bố nói trên của Trung Quốc “không có cơ sở pháp lý và chỉ nhằm mục đích làm gia tăng căng thẳng” ở Biển Đông, theo Hãng tin Reuters.
“Chính Trung Quốc mới đang xâm phạm vùng biển Philippines” – Bộ Ngoại giao Philippines nói.
Bộ Ngoại giao Philippines lập luận bãi cạn Scarborough nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và nước này có quyền chủ quyền cũng như quyền tài phán đối với Scarborough.
“Philippines yêu cầu các tàu Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough rời khỏi khu vực này ngay lập tức” – Bộ Ngoại giao Philippines nhấn mạnh.
Bãi cạn Scarborough nằm cách đảo Luzon của Philippines khoảng 230km và cách bờ biển đông nam Trung Quốc khoảng 1.000km.
Cả Trung Quốc và Philippines đều tuyên bố chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough. Năm 2012, Trung Quốc giành quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough từ tay Philippines.
Theo Hãng tin Reuters, mối quan hệ giữa Philippines và Trung Quốc gần đây đã xấu đi, phần lớn là do tổng thống Philippines quyết định tăng cường hợp tác quốc phòng với Mỹ, gồm cả việc cho phép Mỹ tiếp cận thêm nhiều căn cứ quân sự ở Philippines.
Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông tại TP.HCM ngày 26-10 cho thấy các vấn đề ở Biển Đông luôn sôi động trên nhiều lĩnh vực. Hội thảo cũng tạo không gian cho thế hệ kế cận của các quốc gia liên quan học hỏi và chia sẻ.
Các đại biểu trẻ thảo luận tại buổi hội thảo ngày 26-10
Hợp tác cảnh sát biển
Trong phiên 5 “Vai trò của cảnh sát biển trong tăng cường hợp tác ở Biển Đông”, các học giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các lực lượng cảnh sát biển ở khu vực.
Ý kiến của các học giả hầu hết đều nhấn mạnh tầm quan trọng của ngoại giao cảnh sát biển, trong đó các nước vừa và nhỏ nên đẩy mạnh hợp tác, tương tác, hành động nhất quán và đoàn kết dựa trên luật pháp quốc tế để tạo sức mạnh tập thể.
Bên cạnh đó, tham dự hội thảo qua hình thức trực tuyến, bà Paola Pampaloni – quyền vụ trưởng Vụ châu Á và Thái Bình Dương thuộc Cơ quan Đối ngoại châu Âu (EEAS) – phát biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương.
Bà Pampaloni cho biết Liên minh châu Âu (EU) có lợi ích chiến lược và kinh tế sống còn gắn liền với an ninh trên không gian biển và sự thịnh vượng của các quốc gia ven Biển Đông. Vì vậy, EU phản đối mạnh mẽ bất cứ hành vi nào làm gia tăng căng thẳng và làm suy yếu trật tự dựa trên luật lệ.
Bà Pampaloni cũng khẳng định Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là “ngọn đèn dẫn đường”, “kim chỉ nam” định hướng cho giải quyết hòa bình các tranh chấp tại khu vực.
Tài nguyên và cơ sở hạ tầng đáy biển
Phát triển điện gió ngoài khơi, chuyển đổi năng lượng và khai thác tài nguyên đất hiếm là nội dung được thảo luận tại phiên 6 của buổi hội thảo.
Có ý kiến cho rằng việc khai thác điện gió ngoài khơi cần chú ý quy định của UNCLOS 1982 liên quan đến khu vực an toàn 500m và các “biện pháp phù hợp” để bảo đảm an toàn giao thông hàng hải.
Hội thảo cũng nêu lên vấn đề cho việc tài nguyên biển sâu ở khu vực nằm ngoài vùng tài phán quốc gia là tài sản chung của nhân loại và bên nào sẽ có quyền tiếp cận với nguồn tài nguyên này.
Khai thác tài nguyên biển sâu vì vậy không chỉ là vấn đề môi trường mà còn đang trở thành vấn đề địa chính trị trong cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn.
Ngoài ra, hội thảo cũng bàn về cơ sở hạ tầng dưới đáy Biển Đông, trong đó có hệ thống cáp ngầm để kết nối và truyền tải thông tin, dữ liệu.
Mạng lưới cáp ngầm là hạ tầng cứng, không thể di chuyển, cùng với vị trí nằm dưới đáy biển dẫn đến việc khó giám sát và mất thời gian xử lý sự cố, khiến hệ thống này dễ trở thành mục tiêu tấn công và bị phá hoại.
Vì vậy, có ý kiến cho rằng các quốc gia cần đặt an ninh cơ sở hạ tầng đáy biển là cơ sở hạ tầng thiết yếu, ở mức ưu tiên tương đương với an ninh kinh tế, quốc phòng.
Biển Đông và thế hệ kế cận
Hội thảo năm này dành phiên đặc biệt cho các bài tham luận của đại diện thanh niên từ Úc, Indonesia, Philippines, Việt Nam và Tổ chức Đối tác về quản lý môi trường biển Đông Á (PEMSEA).
Trả lời Tuổi Trẻ Online, đại biểu Nicolás Antonio, sinh viên khoa luật tại Đại học Philippines, nhấn mạnh về các giải pháp hòa bình cho khu vực.
“Chúng tôi không muốn chiến tranh. Điều chúng tôi muốn là đối thoại và luật pháp, với gốc rễ là các nguyên tắc của luật pháp quốc tế”, anh Antonio nói.
Bên cạnh đó, Antonio cho rằng người trẻ cũng có cách riêng để đóng góp cho các vấn đề hiện tại ở Biển Đông.
“Chúng ta là thế hệ của mạng xã hội, chúng ta có thể dùng tiếng nói của mình để lên tiếng cho những người đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề. Đến từ một quốc gia mà những ngư dân là nhóm nghèo thứ hai, tôi tin rằng mình có thể dùng mạng xã hội để giúp câu chuyện của họ sáng tỏ”, Antonio nói thêm.
Theo bạn Đinh Thị Tùng Lâm, sinh viên năm thứ tư ngành luật quốc tế, Học viện Ngoại giao (Việt Nam), việc Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông năm nay dành một phiên để người trẻ được chia sẻ và lắng nghe là rất hữu ích.
“Tôi nghĩ rằng các vấn đề xoay quanh Biển Đông là rất phức tạp, không chỉ giải quyết trong hiện tại mà còn ở tương lai. Vì vậy, tiếng nói của người trẻ rất cần được lắng nghe và tôn trọng”, Lâm chia sẻ.
Phát biểu bế mạc hội thảo, tiến sĩ Nguyễn Hùng Sơn, phó giám đốc Học viện Ngoại giao, nhấn mạnh việc cần hướng tới tương lai, xây dựng đội ngũ chuyên gia, nhà lãnh đạo trẻ khu vực quan tâm, hiểu biết và có thói quen đối thoại và hợp tác.
Trong phiên khai mạc Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 15 tại TP Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt đánh giá cao việc lựa chọn chủ đề của hội thảo: “Thu hẹp vùng biển xám, mở rộng vùng biển xanh”. Thứ trưởng nhấn mạnh, chỉ thông qua hợp tác, chúng ta mới có thể giúp Biển Đông chuyển màu sắc từ “xám” sang “xanh”, hướng tới hoà bình và phát triển bền vững.
Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 15 “Thu hẹp vùng biển xám, mở rộng vùng biển xanh” diễn ra trong hai ngày 25 và 26.10.
Tại lễ khai mạc, chia sẻ về lý do lựa chọn chủ đề của hội thảo năm nay, Quyền Giám đốc Học viện Ngoại giao Phạm Lan Dung cho biết, Ban Tổ chức mong muốn các chuyên gia cùng nhau phân tích về thực trạng Biển Đông và khu vực, làm rõ các quy tắc điều chỉnh chung, xác định các chính sách thúc đẩy lòng tin và hợp tác, làm sáng tỏ những hành vi có tác động tiêu cực tới trật tự dựa trên luật lệ và gia tăng căng thẳng. “Thu hẹp vùng biển xám” hướng tới mục tiêu khiến không gian biển trở nên minh bạch và hoà bình hơn. “Mở rộng vùng biển xanh” nhằm xác định những tiềm năng của biển và tương lai, thông qua việc thúc đẩy những thực tiễn tốt trong những lĩnh vực quan trọng như chuyển đổi xanh, các công nghệ, nghiên cứu và đầu tư liên quan đến năng lượng điện gió, chuyển đổi năng lượng biển…
Hội thảo cũng tập trung trao đổi, thảo luận về cách thức các lực lượng trên biển và các cơ chế khu vực có thể đóng góp một cách xây dựng vì mục tiêu hướng tới một Biển Đông “xanh hơn”, “hoà bình hơn”.
Trong bài diễn văn chính tại phiên khai mạc, Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt cho rằng, hiện nay trọng tâm toàn cầu đang tiếp tục chuyển dịch về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Khu vực này đã và đang trở thành trung tâm của tăng trưởng toàn cầu và là đầu tàu quan trọng cho phục hồi toàn cầu và thịnh vượng tương lai. Nhưng tương lai đó không thể được đảm bảo nếu thiếu đi hoà bình, ổn định bền vững nói chung và trên không gian biển khu vực nói riêng.
Hiện nay, cạnh tranh chiến lược đang tạo ra những “chia rẽ lớn” và “rạn nứt lớn” theo như nhận định của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Guterres. Xung đột đang diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới; trên không gian biển tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, chắc chắn không tránh khỏi nguy cơ đối đầu và xung đột. Tình hình đó buộc chúng ta phải liên tục nhận diện những mối đe doạ tiềm tàng trên biển, rà soát những cơ chế hợp tác hiện hành để giải quyết những thách thức mới nổi và cùng nhau hành động ngăn chặn những mối đe doạ đó. So với 15 năm trước, tình hình Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp hơn, nhiều “vùng xám” mới nảy sinh cần phải được làm sáng tỏ. Bên cạnh đó, Biển Đông vẫn là khu vực mang lại nhiều cơ hội hợp tác tiềm năng. Đáng chú ý, hiệp định mới về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học tại khu vực nằm ngoài quyền tài phán quốc gia là minh chứng cho thấy các nước có mối quan tâm chung đối với biển. Việt Nam tự hào là một trong những nước tham gia ký kết đầu tiên. Trong bối cảnh đó, Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt đánh giá cao việc lựa chọn chủ đề của hội thảo; nhấn mạnh rằng chỉ thông qua hợp tác, chúng ta mới có thể giúp Biển Đông chuyển màu sắc từ “xám” sang “xanh”, hướng tới hoà bình và phát triển bền vững. Để làm được điều đó, điều quan trọng là phải tôn trọng và tuân thủ luật biển quốc tế, được thể hiện trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
Trong thời gian qua, Việt Nam và các quốc gia ASEAN luôn nỗ lực hướng tới một trật tự khu vực, bao gồm không gian biển ổn định, dựa trên luật lệ. Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ việc hiện thực hoá và triển khai hiệu quả Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Tầm nhìn Hợp tác biển vừa mới được ASEAN thông qua. Đồng thời, Việt Nam luôn luôn ủng hộ những sáng kiến mới vì mục tiêu chung, thông qua các cơ chế song phương, đa phương và mới.
Hội thảo quốc tế về Biển Đông lần thứ 15 diễn ra trong hai ngày 25-26.10 với 8 phiên về các chủ đề đa dạng như: Biển Đông: Chặng đường 15 năm qua; Cách tiếp cận đa phương về Biển Đông: Một xu hướng mới?…
Tàu chiến của 5 quốc gia gồm Mỹ, Australia, Canada, Nhật Bản và New Zealand bắt đầu tập trận chung ở Biển Đông từ ngày 24/10.
Mỹ, Australia, Canada, Nhật Bản và New Zealand tập trận chung ở Biển Đông từ hôm 24/10
Cuộc tập trận Hải quân chung lần này do Mỹ dẫn đầu mang tên “Noble Caribou”.
Đây là cuộc tập trận nhằm mục đích nâng cao kỹ năng chiến thuật và tăng cường hợp tác với hải quân các nước tham gia ở Biển Đông, Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản (JDMSF) cho biết.
“Chúng tôi tin rằng thông qua cuộc tập trận đa phương này, chúng tôi có thể nâng cao năng lực chiến thuật và tăng cường hợp tác với hải quân các nước tham gia, cũng như thể hiện ý chí và khả năng mạnh mẽ trong chiến đấu, tạo ra môi trường an ninh không chấp nhận những thay đổi đơn phương về hiện trạng bằng vũ lực”, Tư lệnh lực lượng Nhật Bản Togawa Hisado nêu rõ.
Tư lệnh Hisado nhấn mạnh thêm rằng: “Chúng tôi sẽ tham gia vào các nhiệm vụ sắp tới của mình đồng thời duy trì tư thế sẵn sàng ứng phó nhanh chóng với bất kỳ tình huống khẩn cấp nào”.
Cuộc tập trận hải quân đa quốc gia trên diễn ra trong bối cảnh căng thẳng leo thang gần đây giữa Trung Quốc và Philippines trên Biển Đông.