Category Archives: Ostsee Vietnam

Làm thế nào nếu Biển Đông bị “phong tỏa” như Biển Đỏ?

Những gián đoạn trong thương mại từ việc tàu hàng ở Biển Đỏ bị tấn công, khiến nhiều người phải thức tỉnh và đặt câu hỏi: Sẽ làm thế nào nếu Biển Đông bị “phong tỏa”?

Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), trong hai tháng đầu tiên của năm 2024, thương mại qua kênh đào Suez sụt giảm 50% so với năm trước. Đây được xem là hậu quả từ việc tàu bè trên Biển Đỏ bị tấn công, và buộc các công ty vận tải phải điều hướng tàu sang Mũi Hảo Vọng, dẫn tới gia tăng chi phí và trung bình kéo dài thời gian giao hàng thêm 10 ngày.
Lời cảnh báo cho Biển Đông

Kênh đào Suez là tuyến vận tải biển ngắn nhất nối châu Á và châu Âu, nơi khoảng 15% quy mô thương mại biển toàn cầu đi qua thường xuyên.

“Tình trạng hỗn loạn ở Biển Đỏ đã cho thấy các tuyến đường huyết mạch và điểm nghẽn hàng hải quan trọng có thể được sử dụng cho các mục tiêu địa chính trị. Đây cũng là một ví dụ về sự gián đoạn tại một hành lang hàng hải chính có thể gây ra hậu quả toàn cầu” – ông Nguyễn Minh Vũ, trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, phát biểu tại Đối thoại biển lần thứ 12, tổ chức ở TP.HCM vào ngày 15-3.

Theo ông Vũ, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề dù ở xa Biển Đỏ. Ông lấy dữ liệu từ Cục Hàng hải Việt Nam cho thấy giá cước vận chuyển từ Việt Nam đến bờ Đông nước Mỹ tăng từ 2.600 USD/container thời điểm tháng 12-2023 lên 4.100 – 4.500 USD vào tháng 1-2024, tăng 58 – 73%.

“Rủi ro lớn đã dẫn đến phí bảo hiểm cao hơn và chi phí năng lượng cũng cao hơn. Các khó khăn về vận chuyển hàng hải đã làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam và gây ra đình trệ trong chuỗi cung ứng. Thật không may, Việt Nam đã là một trong những nước bị tác động từ các cuộc tấn công tại Biển Đỏ”, ông nói.

Năm nay Đối thoại biển lấy chủ đề “Thúc đẩy kết nối trên biển – Tăng cường gắn kết toàn cầu”, tập trung vào việc đánh giá tầm quan trọng của việc kết nối các tuyến đường biển trọng yếu nhằm đảm bảo chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong khi đó, tạp chí tài chính Úc (AFR) nhận định còn có những điểm nghẽn vận tải lớn hơn Suez. AFR dẫn nghiên cứu của GS Lincoln Pratson (ĐH Duke) cho thấy chỉ riêng Biển Đông đã là nơi lưu thông của 27,9% thương mại hàng hóa khắp thế giới.

AFR cũng cảnh báo nguy cơ hiệu ứng dây chuyền khi một trong các tuyến hàng hải trên thế giới tê liệt vì một lý do nào đó, nó có thể dẫn đến việc đóng cửa eo biển Malacca hoặc Biển Đông. Vấn đề ở chỗ Biển Đông đang có sự tranh chấp của nhiều bên, do đó xung đột quân sự là rủi ro dễ hình dung nhất.
Mối lo từ căng thẳng trên biển

Tại Đối thoại biển lần thứ 12, ông Nguyễn Minh Vũ cũng đề cập tới lo lắng trong khu vực về “hàng loạt sự kiện gây bất ổn và khiêu khích ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đặc biệt là ở Biển Đông”.

Ông nói: “Đã có những hoạt động trong vùng xám làm suy yếu luật pháp về biển. Đã có những thách thức đối với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, làm dấy lên mối lo ngại về trật tự pháp lý trên biển, tự do hàng hải và hàng không, cũng như về việc bảo vệ chủ quyền và các quyền lợi hợp pháp của các quốc gia ven biển. Các yêu sách hàng hải mơ hồ và quá đáng và bất kỳ sự coi thường trật tự pháp lý trên biển dựa trên UNCLOS 1982, cũng như bất kỳ nỗ lực nào nhằm áp đặt chính sách thực dụng và tùy tiện trên biển, đều là những nguyên nhân gây ra các lo ngại”.

Theo ông Vũ, điều này càng làm nổi bật nhu cầu tăng cường kết nối giữa các quốc gia, khi đó có thể là giải pháp phát huy tiềm năng kinh tế của khu vực.

Tuy nhiên, trong khi đã có nhiều nỗ lực và sáng kiến thúc đẩy kết nối biển, vẫn còn nhiều thách thức khiến các nỗ lực này chưa được triển khai như mong đợi. Trả lời Tuổi Trẻ, PGS.TS Syuhaida binti Ismail (Viện Hàng hải Malaysia) cho rằng khó khăn đầu tiên bắt nguồn từ tài chính. Hầu hết các nước Đông Nam Á đều là nền kinh tế mới nổi và khó có tiềm lực tài chính mạnh như Nhật Bản hay Trung Quốc để đầu tư vào lĩnh vực chuyển đổi số, cảng thông minh… Thêm vào đó, việc chưa được đầu tư đúng mức cũng xuất phát từ thực tế rằng ý thức của các nước về chuỗi cung ứng cảng biển cũng như chuyển đổi số ở ngành này chưa cao.

“Chúng ta nên mời những chuyên gia về số hóa. Hãy tham gia vào quá trình vận chuyển và cố gắng tìm cách áp dụng một cách đầy đủ nhất quá trình số hóa này”, bà nói sau khi các diễn giả thảo luận về áp dụng công nghệ mới và đầu tư cho cảng thông minh.

BDN

Loading

Views: 0

DK1 platform stands firm on the wave front

The DK1 platform, which are clusters of Vietnamese economic and technical services built on its southern continental shelf, have been standing firm on the wave front for the past 35 years, thanks to the dedicated efforts of officials and soldiers protecting the country’s national sovereignty over seas and islands.

The platform features modern equipment to help officials and soldiers better perform their tasks. (Photo: VNP/VNA)
Officials and solders of the DK1/18 platform welcome a working delegation. (Photo: VNP/VNA)
Books and newspapers are now readily available on the platform. (Photo: VNP/VNA)
The platform is about 250-350 nautical miles from the mainland. It has contributed significantly to the development of marine economic activities and the protection of Vietnam’s national sovereignty over seas and islands. (Photo: VNP/VNA).

Loading

Views: 0

Biển Đông: Hàn Quốc không thể ngoài cuộc

Tuần trước, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hàn Quốc Lim Soo-suk, vừa lên tiếng trong một cuộc tiếp xúc với giới truyền thông quốc tế, rằng: Hàn Quốc “quan ngại sâu sắc về tình hình nguy hiểm” và “việc sử dụng vòi rồng chống lại các tàu Philippines ở Biển Đông”.

Cũng trong sự kiện trên, ông Lim Soo-suk nhấn mạnh: “Chúng tôi (Hàn Quốc) ủng hộ việc duy trì hòa bình, ổn định và trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông, cũng như tự do hàng hải và hàng không dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982”

Xét cho cùng, động thái trên của Seoul “chẳng có gì đáng làm ầm ĩ” như thái độ hậm hực, cay cú của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân ngày 12/3: “Hàn Quốc không phải là một bên trong vấn đề Biển Đông nhưng trong những năm gần đây, nước này đã thay đổi lập trường thận trọng và trung lập đã duy trì trong nhiều năm qua”. Phàm những ai nhận thức đúng về công pháp quốc tế, về lẽ công bằng, đều thấy đó là việc Hàn Quốc nên làm; tới nay, mới làm, là muộn.

Hơn 10 năm trước, trước những diễn biến căng thẳng trên Biển Đông, trong đó có việc Trung Quốc gia tăng các hoạt động bồi đắp, xây dựng các đảo nhân tạo trên một số đảo, đá, bất chấp hối thúc của Mỹ và các đồng minh phương Tây đòi Hàn Quốc phải chỉ trích Bắc Kinh, chính phủ Hàn Quốc từng “im lặng” một cách khó hiểu. Sau đó, cái họ làm chỉ là một tuyên bố không đứng về bên nào và giữ quan điểm trung lập.

Quan quan điểm trung lập của Hàn Quốc về vấn đề Biển Đông, theo một số nhà phân tích quốc tế, bắt nguồn từ việc Hàn Quốc từng là nạn nhân của cuộc cạnh tranh quyền lực lớn, hay nói đúng hơn, thành con tốt trong cuộc tranh giành quyền lực chính trị giữa các nước lớn. Điều đó đã dẫn đến một câu ngạn ngữ đầy ám ảnh của người Hàn, rằng “Trong một cuộc chiến giữa bầy cá voi, lưng con tôm bị “vỡ vụn” (tiếng Hàn: teojinda)”.

Vẫn theo các nhà phân tích quốc tế, cảm xúc đó, dần dần thành một phần trong thế giới quan của người Hàn, trong đó có cái gọi là “văn hóa chiến lược”, khiến họ tránh xa các tác nhân có thể ảnh hưởng, đe dọa quan hệ bang giao đang ngày một chồng chéo và dày đặc, song hành cùng các thành tựu của “kỳ tích sông Hàn”.

Xét theo giác độ ấy, Biển Đông hiển nhiên là một tác nhân Hàn Quốc cần phải thận trọng, nếu không nói là cảnh giác. Lý do, thứ nhất, khu vực này liên quan tranh chấp “5 nước, 6 bên”. Các bên tùy theo mức độ, không chỉ cùng khu vực, mà còn là các đối tác kinh tế quan trọng, trong đó có Trung Quốc, Việt Nam. Đồng thời, ASEAN cũng là đối tác chiến lược toàn diện của nền kinh tế có quy mô thứ 10 toàn cầu với GDP lên tới nghìn tỷ USD (năm 2023, con số này là gần 2000 tỷ. Vì thế, làm mếch lòng bất cứ bên nào, Seoul đều phải nghĩ tới hậu quả có thể đến.

Thứ hai, Biển Đông, trong thời gian gần đây, là nơi cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ với Trung Quốc. Mỹ thì là đồng minh nên gắn với đó là trách nhiệm. Nhưng “mất” một thị trường khổng lồ 1,4 tỷ dân như Trung Quốc thì Seoul quá thiệt hại. Vậy là, một lần nữa, nỗi “ám ảnh teojinda” lại hiện ra, buộc những nhà lãnh đạo xứ Kim Chi phải tính toán.

Nhưng có những thứ ngoài tầm tính khi câu chuyện Biển Đông ngày một phức tạp căng thẳng. Thành quả của công cuộc mở cửa đã giúp Trung Quốc không chỉ giàu mà còn vươn lên thành một siêu cường quân sự. Một quốc gia luôn nghĩ mình là trung tâm tất không thể bằng lòng với việc bị ai đó đè nén. Một nền kinh tế khổng lồ như Trung Quốc lúc nào cũng thèm khát nguồn năng lượng khiến Bắc Kinh càng tham vọng Biển Đông là của riêng mình…Trong khi đó, Washington choàng tỉnh trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, từ hơn 10 năm nay, triển khai chiến lược “xoay trục” Châu Á – Thái Bình Dương có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược toàn cầu của Mỹ.

Thế là, trong thực tế, một cuộc thách thức Mỹ – Trung đã hình thành, cuốn theo vào nhiều quốc gia.

Tới lúc này, Mỹ không thể không hối thúc thêm Hàn Quốc thể hiện trách nhiệm đồng minh trong vấn đề Biển Đông. Và trong thực tế, chưa cần Washington chỉ giáo, Seoul cũng nhận ra, cùng với những diễn biến địa chính trị phức tạp khác, nếu Trung Quốc khống chế, áp đặt thành công âm mưu độc chiếm Biển Đông – tuyến đường hàng hải quan trọng bậc nhất, cái nguy chẳng dành cho riêng ai, mà cho nhiều quốc, trong đó có Hàn Quốc. Thậm chí, thiệt hại của Hàn Quốc có thể nói là to lớn, bởi quy mô và độ mở của một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào thương mại.

Vậy nên tới lúc này, Hàn Quốc, dù muốn cũng không thể giữ mãi thái độ “trung lập” trong câu chuyện Biển Đông, qua tuyên bố của ông Lim Soo-suk. Seoul làm điều đó dù biết rằng thể nào Bắc Kinh cũng sẽ phản ứng một cách hậm hực và cay cú.

BDN

Loading

Views: 0

Những câu chuyện bi tráng về các liệt sĩ ở Gạc Ma

“Phía đất liền những ngọn nến lung linh. Thả ra biển gọi hồn thiêng đất nước”. Câu thơ của nhà thơ Đinh Văn Hồng (Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ngãi) khiến tôi nao lòng khi nhớ đến ngày giỗ các liệt sĩ ở Gạc Ma (14.3.1988).

Đã không bao giờ anh quay trở lại để lấy chiếc khăn của mình
Trong hành trình ra thăm quần đảo Trường Sa, chúng tôi đã được đến thăm Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma (thuộc xã Cam Hải Đông, H.Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa). Nơi đây đã để lại nhiều xúc động cho du khách, không chỉ bởi không gian tươi đẹp, xanh mát hướng ra biển cả mênh mông mà còn bởi lưu giữ kỷ vật của những chiến sĩ đã anh dũng hy sinh ngày 14.3.1988, tại đảo Gạc Ma, quần đảo Trường Sa. Tất cả những gì hiện hữu ở đây đã gợi lại khúc bi tráng về 64 liệt sĩ Gạc Ma đã vĩnh viễn nằm dưới lòng biển khơi, để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Công trình trung tâm của Khu tưởng niệm là Tượng đài chiến sĩ Gạc Ma sừng sững, hiên ngang cùng lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nền trời xanh thẳm. Tượng đài có tên “Những người nằm lại phía chân trời” khắc họa hình ảnh 64 người con quả cảm của Tổ quốc, trong giây phút cuối cùng, vẫn giữ chặt lá cờ Tổ quốc trên tay để đánh dấu chủ quyền trên đảo Gạc Ma. Trước lúc hy sinh, các anh đứng thành vòng tròn, quyết tâm bảo vệ lá cờ Tổ quốc giữa mênh mông biển trời Trường Sa và hóa thành Vòng tròn bất tử.

Từ khu tượng đài nhìn xuống là biểu tượng Vòng tròn bất tử với 64 đóa hoa tượng trưng cho 64 chiến sĩ cùng ôm lấy lá cờ đỏ và ngôi sao vàng năm cánh nổi trên mặt nước. Xúc động nhất là khi chúng tôi tận mắt chứng kiến những hiện vật ở khu Bảo tàng ngầm, được xây dựng bên cạnh Vòng tròn bất tử. Nơi đây là không gian linh thiêng đã bảo quản, lưu giữ hiện vật lịch sử về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và kỷ vật của các chiến sĩ Gạc Ma trong sự kiện ngày 14.3.1988.

Trong số những kỷ vật của các liệt sĩ được lưu giữ ở đây, câu chuyện về chiếc khăn (kỷ vật số 13) khiến chúng tôi không cầm được nước mắt. Chiếc khăn là do mẹ của liệt sĩ Vũ Văn Thắng (quê Thái Bình) tặng lại bảo tàng bởi chủ nhân của nó đã mãi mãi không về. Chiếc khăn này, anh cũng chưa từng quàng. Trước khi lên đường ra Trường Sa thì miền Bắc còn đang lạnh. Mẹ liệt sĩ đan khăn và dặn con cầm ra đảo quàng cho đỡ lạnh. Bà không biết rằng ở đảo quanh năm chỉ có nắng, gió, bão, mà không có mùa đông. Vì thế người con đã nói: “Mẹ ơi, mẹ để ở nhà, quàng trước đi, để mồ hôi của mẹ thấm vào chiếc khăn. Khi con về lấy đưa ra đảo, con nhớ mẹ, con quàng cho đỡ nhớ”. Thế nhưng, đã không bao giờ anh quay trở lại để lấy chiếc khăn của mình.

Ở vị trí số 6 là chiếc áo của liệt sĩ Phạm Huy Sơn (quê Nghệ An), cũng được vợ anh tặng lại cho bảo tàng. Đây là chiếc áo y sĩ, trước khi làm nhiệm vụ ở Trường Sa, anh đã để áo ở nhà cho vợ và dặn: “Khi nào con nhớ cha, thì đem áo ra đắp cho con đỡ nhớ”. Anh còn hứa với vợ là sẽ về đưa con đi khám bệnh vì cháu bị bệnh não, nhưng anh không thực hiện được lời hứa của mình…

Xin thắp một nén hương cho người nằm dưới biển
Cũng tại khu tưởng niệm, chúng tôi đã được nghe kể những câu chuyện xúc động về tấm di ảnh của liệt sĩ Trần Quốc Trị (quê Quảng Bình). Trước đây, trên tấm bảng ghi danh các liệt sĩ không có ảnh của anh, vì gia đình chỉ có một bức ảnh duy nhất anh chụp chung với bạn, nhưng cũng đã bị một cơn bão cuốn trôi.

Năm 2019, trong một lần đến đây, PGS-TS Ngô Văn Minh (Trưởng khoa Dân tộc và Tôn giáo, Học viện Chính trị Khu vực III) rất day dứt khi nhìn thấy một ô trống thiếu di ảnh. Ông hứa: “Tôi sẽ đi tìm di ảnh cho anh”. Trong những chuyến giảng dạy tại Quảng Bình, quê hương của liệt sĩ Trần Quốc Trị, ông luôn chia sẻ thông tin với nhiều học viên các khóa về tâm tư đi tìm di ảnh cho anh. Sau nhiều tháng tìm kiếm, ông may mắn tìm được di ảnh của anh ở nơi lưu giữ hồ sơ làm chứng minh thư. Vậy là anh đã được về “đoàn tụ” với gia đình và 63 đồng đội tại khu tưởng niệm.

Đến thăm khu mộ gió, khu vực tâm linh nhất của Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma, chúng tôi lặng đi vì xúc động. Mộ không có hài cốt, chỉ nhờ gió đưa hương hồn các anh hội tụ về đây. Trước mộ đặt bia tưởng niệm, ghi danh 64 liệt sĩ hy sinh tại đảo Gạc Ma. “Cha ơi con đã đến đây rồi”, giọng thiếu tá Lê Thị Minh Thủy (con gái duy nhất của liệt sĩ Lê Đình Thơ ở Thanh Hóa, hy sinh tại đảo Gạc Ma) khóc nghẹn, khi chạm tay lên tấm bia ghi tên cha mình. Đây cũng là lần đầu tiên sau 35 năm cha hy sinh, chị mới được đến thắp hương cho cha mình tại khu mộ gió. Bàn tay chị níu mãi vào dòng tên cha mà không muốn rời đi, khiến ai cũng rưng rưng xúc động. Chị cũng mồ côi cả mẹ cùng năm cha hy sinh vì mẹ chị đã không chịu nổi cú sốc đau đớn đó.

Chứng kiến hình ảnh này, nhà thơ Đinh Văn Hồng đã có bài thơ động viên chị Thủy: Thủy ơi em ơi. Hãy nén lại đau thương. Con đường còn dài lắm. Bên em. Còn đồng đội. Bên em. Còn nhân dân. Lau nước mắt đi em. Cha không lạnh đâu em. Cả trăm triệu đồng bào. Nước mắt ấm Biển Đông. Cho tháng năm Cha vắng. Kìa lá cờ chiến thắng. Giữa vòng tròn bất tử. Em ơi, đồng chí ơi. Giữa biển khơi mênh mông. Bia tưởng niệm hùng dũng. Gọi tên các Anh hùng. Cùng chúng ta giữ đảo. Xích lại gần anh bảo. Rồi sẽ có một ngày. Mình tát cạn Biển Đông. Đón Cha và đồng đội. Về thăm lại quê hương. Cha mãi là tấm gương. Của biết bao thế hệ. Dưới lá cờ tuyên thệ. Gìn giữ Tổ quốc mình.

Nhà thơ cũng đã gửi cho tôi nhiều bài thơ về Trường Sa, Hoàng Sa với sự tri ân sâu sắc những người đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền đất nước. Trong bài Một lần ra biển ông viết: Lấy máu mình giữ biển mãi màu xanh. Giữ lấy chủ quyền ông cha tạo dựng. Nơi biển cả bao linh hồn chứa đựng. Câu chuyện thần tiên khi biển yên bình. Phía đất liền những ngọn nến lung linh. Thả ra biển gọi hồn thiêng đất nước.

Hôm nay (14.3), ngày giỗ các liệt sĩ ở Gạc Ma, tôi và những người dân đất Việt sẽ luôn hướng về các anh, những người đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. Xin thắp một nén hương cho người nằm dưới biển!

BDN

Loading

Views: 0

Philippines muốn Mỹ tham gia cùng khai thác dầu, khí đốt ở Biển Đông

Philippines tin tưởng vào vai trò quan trọng của Mỹ và các đồng minh trong kế hoạch khám phá các nguồn năng lượng ở Biển Đông.

Theo báo South China Morning Post (SCMP) ngày 11-3, Đại sứ Philippines tại Mỹ Jose Manuel Romualdez cho biết Manila đang tìm cách biến mối quan hệ an ninh ngày càng sâu sắc với Washington và các đồng minh thành lợi ích kinh tế rộng lớn hơn.

“Tới lúc chúng tôi bắt đầu khám phá (tài nguyên năng lượng), chúng tôi sẽ có các lựa chọn để tìm cách nào bảo đảm cho chuyến thám hiểm này. Chúng tôi đang làm việc chặt chẽ với các đồng minh, không chỉ Mỹ mà còn cả Nhật Bản và Úc”, ông Romualdez nói.

Ông cũng cho biết Philippines đang xem xét việc mời các công ty Mỹ đầu tư vào nỗ lực thăm dò cũng như phát triển năng lượng.

Philippines và các đồng minh “đang tiến hành một cách có tính toán”, đại sứ Philippines tại Mỹ cho biết và không tiết lộ nhiều về các kế hoạch.

“Đó là một phần trong chiến lược năng lượng của chúng tôi”, ông nói, đề cập đến chiến lược hạ giá điện để thu hút nhà đầu tư.

SCMP cho biết giá điện của Philippines thuộc vào hàng cao nhất trong khu vực.

Theo ông Romualdez, giá điện cao vẫn là một trong những trở ngại lớn nhất với các nhà đầu tư, song cũng là động lực thúc đẩy việc Philippines khám phá các nguồn năng lượng.

Hồi đầu năm nay, trong bối cảnh một mỏ khí đốt quan trọng sắp cạn kiệt, Philippines đã nhấn mạnh tính cấp bách của việc theo đuổi hoạt động thăm dò tài nguyên ở Biển Đông – vùng biển được Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ ước tính chứa một lượng dầu và khí đốt đáng kể.

Philippines phải nhập khẩu gần như toàn bộ nhu cầu nhiên liệu. Trong nhiều năm qua, Manila đã cố gắng thăm dò các nguồn năng lượng ở Biển Đông, bao gồm cả các nỗ lực thông qua quan hệ đối tác với Trung Quốc.

Tuy nhiên các cuộc thảo luận giữa Bắc Kinh và Manila đã bị đình trệ trong bối cảnh căng thẳng gia tăng do các vụ va chạm trên Biển Đông giữa tàu của hai nước.

Vào tháng trước, Philippines đã ra tín hiệu cởi mở đối với các cuộc đàm phán về năng lượng với Trung Quốc, song nhấn mạnh Manila sẽ không trao quyền kiểm soát các dự án cho Bắc Kinh.

Vào tuần này, Đại sứ Romualdez cũng cho biết Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đang nỗ lực tận dụng ảnh hưởng ngày càng tăng của mình để giành được các thỏa thuận cho đất nước.

Tổng thống Philippines sẽ có cuộc gặp Bộ trưởng Thương mại Mỹ Gina Raimondo vào hôm nay (11-3).

Theo SCMP, bà Raimondo dẫn đầu phái đoàn gồm 20 nhà điều hành các tập đoàn lớn của Mỹ như Microsoft, United Airlines, Google và một số công ty năng lượng đến Manila, nhằm tăng cường quan hệ kinh tế và thúc đẩy đầu tư vào Philippines.

BDN

Loading

Views: 0

Nhìn lại quá trình gặm nhấm, thôn tính Hoàng Sa của TQ

Cho đến cuối Thế kỷ 19, Trung Quốc vẫn hiểu biết rất ít về quần đảo Hoàng Sa và có thái độ bàng quang, thờ ơ đối với quần đảo này. Điều đó thể hiện qua việc Tổng đốc Lưỡng Quảng (quan chức địa phương của Trung Quốc) trút bỏ trách nhiệm đối với vụ đắm tàu xảy ra tại quần đảo Hoàng Sa năm 1895 – 1896.

Đó là vụ đắm tàu của Đức Bellona và vụ đắm tàu của Nhật Imegi Maru. Hai chiếc tàu vận chuyển đồng này do các công ty Anh bảo hiểm. Hàng hóa trên tàu bị người đánh cá Trung Quốc lấy cắp và gặp phải sự lên án của công ty bảo hiểm. Tuy nhiên, các nhà chức trách Trung Quốc đã cãi lại và trút bỏ mọi trách nhiệm với lý do là quần đảo Hoàng Sa là các đảo đã bị bỏ rơi, không thuộc về Trung Quốc và đồng thời cũng không được sáp nhập vào bất cứ một huyện nào của đảo Hải Nam. Giới chuyên gia kết luận sự thờ ơ nói trên có thể coi như tuyên bố phủ quyết chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

Mãi đến đầu thế kỷ 20, Trung Quốc mới quan tâm tới Hoàng Sa và bắt đầu những động thái sơ khai trong yêu sách chủ quyền thể hiện tham vọng thôn tính Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa. Đầu tiên là chuyến tàu của Đô đốc Lý Chuẩn tới Hoàng Sa năm 1909 với tên gọi “thị sát Tây Sa”. Tại đây, Lý Chuẩn đã thượng cờ và bắn đại bác tuyên bố chủ quyền. Chính điều này cho thấy rằng từ trước đến nay Trung Quốc chưa hề có chủ quyền tại Hoàng Sa. Tuy nhiên, vào thời điểm này quần đảo Hoàng Sa đã thuộc về Việt Nam, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã khai phá, thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ thế kỷ 16-17 và lúc bấy giờ chính quyền bảo hộ Pháp đang thay mặt nhà nước Việt Nam quản lý và thực thi chủ quyền. Pháp đã thay mặt Việt Nam phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và nêu rõ chủ quyền của Hoàng Sa đã được xác lập bởi Việt Nam. Trước yêu sách của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, ngày 18/2/1937 lần đầu tiên Pháp có công hàm gửi tới Trung Quốc đề nghị Trung Quốc giải quyết vấn đề bằng Trọng tài quốc tế, nhưng Trung Quốc đã từ chối.

Vào giữa thế kỷ 20, đặc biệt là giai đoạn sau Thế chiến 2, Trung Quốc dưới sự cầm quyền của Quốc Dân đảng đứng đầu là Tưởng Giới Thạch đã nhiều lần lăm le chiếm một số đảo thuộc cụm An Vĩnh. Lợi dụng tình hình rối ren khi Nhật đầu hàng đồng minh, giải giáp quân Nhật theo Hiệp định Postdam 1945 và Pháp dồn sức cho chiến trường Đông Dương, năm 1946, chính quyền Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch tiến đã xâm nhập trái phép đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Năm 1947, Pháp đã ra tuyên bố phản đối sự xâm nhập này, yêu cầu hai bên tiến hành đàm phán và giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế, nhưng chính quyền Trung Hoa Dân quốc lại một lần nữa từ chối. Chính quyền Tưởng Giới Thạch sau đó đã rút khỏi đảo Phú Lâm.

Đến năm 1956, tranh thủ nhập nhèm giữa lúc Pháp bàn giao lại quần đảo Hoàng Sa cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc, lúc này do đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo sau khi đánh đuổi Quốc Dân đảng ra đảo Đài Loan, đã lén lút đổ quân lên đảo Phú Lâm, bắt đầu thực hiện sự chiếm đóng đối với cụm An Vĩnh và Linh Côn.

Bắc Kinh đã từng bước thực hiện việc gặm nhấm quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam trong giai đoạn sau Thế chiến 2 và mưu toan thôn tính hoàn toàn quần đảo này, tuy nhiên trong giai đoạn trước những năm 70, quần đảo Hoàng Sa do Việt Nam Cộng hòa quản lý (theo Hiệp định Geneve 1954 về phân chia lãnh thổ Việt Nam) nằm dưới sự bảo trợ của Mỹ với sự hùng mạnh về quân sự nên Trung Quốc không dám có các hành vi manh động. Sau khi ký Hiệp định Paris tháng 1/1973, quân Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam và từng bước bỏ rơi chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đến đầu năm 1974, Trung Quốc nhận thấy cơ hội đã chín muồi cho một cuộc tấn công để chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Cơ hội đó chính là cái bắt tay giữa Trung Quốc với Mỹ, để nước Mỹ làm ngơ trước các động thái của Bắc Kinh tại biển Đông. Cơ hội đó còn là tình hình chiến sự tại Việt Nam, khi mà Việt Nam Cộng hòa, là chủ sở hữu hợp pháp duy nhất đối với quần đảo Hoàng Sa lúc bấy giờ, đang dần bị Mỹ bỏ rơi và đang gặp nhiều khó khăn trên chiến trường ở trong nước. Trong tình cảnh khá đơn độc, khả năng bảo vệ Hoàng Sa của chính quyền Việt Nam Cộng hòa suy giảm nghiêm trọng, dù họ vẫn sở hữu lực lượng hải quân và không quân có thể nói là khá mạnh.

Ngày 11/1/1974, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố “nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc mà Việt Nam Cộng hòa chiếm cứ bất hợp pháp”.  Để làm hậu thuẫn cho những lời tuyên bố vô căn cứ, Trung Quốc tung nhiều tàu đánh cá võ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ quân giả dạng ngư phủ lên các đảo không có lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng. Đến ngày 17/1/1974, tàu và quân lính Trung Quốc đã lởn vởn nhiều nơi quanh cụm Lưỡi Liềm và phía Việt Nam Cộng Hòa đã điều tàu và quân ra để bảo vệ Hoàng Sa.

Đêm 17 tháng 1 năm 1974Chu Ân Lai nhận báo cáo tình hình Hoàng Sa từ Trường Lý Lực, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Sau đó Chu Ân Lai cùng với Diệp Kiếm Anh viết báo cáo gửi Mao Trạch Đông đề nghị phái quân ra quần đảo Hoàng Sa. Mao Trạch Đông phê vào bản báo cáo của Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh: “Đồng ý!” và nói rằng, “trận này không thể không đánh”; “xem ra không đánh một trận thì không bảo vệ được quyền và lợi ích của Trung Quốc trên biển”. Mao Trạch Đông giao cho Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình trực tiếp chỉ huy trận đánh tại quần đảo Hoàng Sa. Đây là trận đánh đầu tiên của Đặng Tiểu Bình khi mới được phục chức sau 7 năm đi “cải tạo”.

Ngày 18/1/1974, Chu Ân Lai triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc để thảo luận về tình hình Hoàng Sa và lập ra ban chuyên trách năm người để đối phó với các diễn biến có thể xảy ra tại Hoàng Sa. Ban chuyên trách gồm: Diệp Kiếm Anh (chủ nhiệm ban chuyên trách), Vương Hồng VănTrương Xuân Kiều, Đặng Tiểu Bình và Trần Tích Liên. Ban chuyên trách nghe Phó Tư lệnh Hải quân Trung Quốc Tô Chấn Hoa báo cáo sau đó quyết định tấn công hạm đội Việt Nam Cộng hòa. Đồng thời, ban chuyên trách công bố bản hướng dẫn nhằm đánh lại các Tuần dương hạm của Việt Nam Cộng hòa. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, Hải quân Trung Quốc lập kế hoạch chuẩn bị cho chiến dịch.

Ngày 19/1/1974, chính quyền Bắc Kinh đã đưa quân tấn công lực lượng đồn trú của Việt Nam Cộng hòa trên quần đảo Hoàng Sa, gây ra cuộc hải chiến Hoàng Sa đẫm máu, kiến 74 binh sĩ (sau này tìm ra danh tính một binh sĩ nữa tổng cộng là 75) Việt Nam Cộng hòa hy sinh. Trong khi chiến sự đang diễn ra tại Hoàng Sa, Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa báo cáo lên Mao Trạch Đông đề nghị cho phép quân đội Trung Quốc chiếm tất cả các đảo do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Mao đã chấp thuận đề nghị này. Khi hải chiến Hoàng Sa kết thúc, sau khi nghe báo cáo, Đặng Tiểu Bình đã chỉ thị cho Quân khu Quảng Châu tiếp tục đánh chiếm các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật và Quang Ảnh.

Nhằm lên án hành động Bắc Kinh sử dụng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa, ngày 14/2/1974, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ra Tuyên cáo vạch trần hành vi vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế của Trung Quốc. Tuyên cáo nhấn mạnh: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo này”. Từ cuộc hải chiến Hoàng Sa, có thể rút ra 2 điều sau:

Thứ nhất, Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa giữa lúc tình hình quốc tế, khu vực có những diễn biến phức tạp, Washington nhận thấy sự thất bại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước quân đội Bắc Việt là không thể tránh khỏi hơn thế nữa lúc bầy giờ Trung Quốc và Mỹ có lợi ích song trùng trong việc chống lại Liên Xô nên Lầu Năm Góc đã nhắm mắt làm ngơ để Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa phục vụ yêu cầu chiến lược đó.

Theo các chuyên gia quân sự, quần đảo Hoàng Sa nằm khá gần các căn cứ hải quân và không quân Mỹ tại Philippines, việc Trung Quốc phái quân ra Hoàng Sa chắc chắn là không thoát khỏi sự phát hiện và theo dõi của Hải quân Mỹ. Tuy nhiên, việc các lãnh đạo Trung Quốc quyết định phái tàu ra Hoàng Sa mà không lo ngại sẽ dẫn tới xung đột với Mỹ, chứng tỏ rằng lãnh đạo cấp cao Mỹ – Trung Quốc đã ngầm có sự tán đồng với nhau trong việc Trung Quốc sẽ chiếm đánh Hoàng Sa, rằng khi nào Trung Quốc điều tàu thì hải quân Mỹ sẽ làm ngơ, coi như không biết chuyện đó. Cho tới năm 1974, Mỹ biết rằng họ sẽ thất bại ở Việt Nam nên đã ngầm “bật đèn xanh” cho Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa nhằm mượn tay Trung Quốc ngăn cản hạm đội Liên Xô hoạt động ở vùng Biển Đông.

Giới phân tích nhận định mâu thuẫn giữa Moscow và Bắc Kinh lên tới đỉnh điểm qua cuộc đụng độ biên giới năm 1969. Trung Quốc bắt đầu thực hiện sáng kiến đối ngoại mới bằng cách thúc đẩy quan hệ với Mỹ, cao trào là chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon tháng 2/1972, đưa Trung Quốc trở thành “đồng minh giai đoạn” của Mỹ để kìm chân và chống lại Liên Xô. Mỹ không muốn vụ Hoàng Sa ảnh hưởng tới mục tiêu chiến lược của mình là kéo Trung Quốc kiềm chế Liên Xô. Ngoài ra, Mỹ được cho là có một “toan tính” sâu xa hơn khi không can dự vào trận Hải chiến 1974 vì khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đều đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Việc Washington “làm ngơ” cho Bắc Kinh ngang nhiên chiếm Hoàng Sa sẽ tạo thù địch giữa Hà Nội và Bắc Kinh, dẫn đến chia rẽ giữa các nước cộng sản.

Trên vùng biển Đông ngoài khơi Việt Nam gần với đảo Hải Nam, Trung Quốc và quần đảo Hoàng Sa vào thời điểm đó có mặt Hải đoàn 77 (Task Force 77) của Hải quân Mỹ gồm hàng không mẫu hạm và các chiến hạm yểm trợ đủ khả năng hỗ trợ Hải quân Việt Nam Công hòa chống lại Bắc Kinh trong cuộc hải chiến Hoàng Sa. Tuy nhiên, Mỹ đã hoàn toàn đứng ngoài cuộc. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã nhiều lần thông báo tình hình trận Hoàng Sa với Đại sứ quan Mỹ nhưng Washington không hề có động thái hỗ trợ gì.

Nhiều tài liệu mật của Bộ Ngoại Mỹ giải mã trong thời gian qua đã chứng minh cho việc Washington ngầm “bật đèn xanh” cho Bắc Kinh đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Theo đó, từ năm 1970, Đô đốc Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ Elmo Zumwalt tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược phát triển các hải đảo của Hạm đội 7. Sau trận hải chiến Hoàng Sa, Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, từng báo cáo với Ngoại trưởng Mỹ lúc bấy giờ là ông Henry Kissinger rằng: “Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa, Hoàng Sa và các đảo khác có cùng vấn đề – đó là vùng lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó”. Ngày 23/1/1974, trong cuộc gặp với ông Hàn Tự, quyền trưởng phái đoàn liên lạc của Trung Quốc tại Washington, Ngoại trưởng Kissinger nói: “Mỹ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này”.

Các chuyên gia quân sự nhận định không quân của Việt Nam Cộng hòa với thực lực F-5 lúc bấy giờ có thể giúp Việt Nam Cộng hòa giành lại được Hoàng Sa từ tay Trung Quốc sau cuộc hải chiến hôm 19/1, song chính quyền Tổng thống Thiệu đã không ra lệnh cho chiến đấu cơ xuất kích để oanh tạc tàu chiến Trung Quốc. Nhiều tài liệu quốc tế cho rằng chính Mỹ đã gây áp lực để chính quyền ông Thiệu không ra lệnh xuất kích vì không muốn đụng chạm đến Trung Quốc, lo ngại điều này sẽ làm ảnh hưởng đến kế hoạch rút quân của Mỹ, ảnh hưởng đến việc cải thiện quan hệ Mỹ-Trung.

Thứ hai, Trung Quốc đã dùng tàu cá và dân quân biển đội lốt tàu cá làm mồi nhử, khiêu khích để đối Hải quần Việt Nam Cộng hòa nổ súng trước và Trung Quốc lấy cớ để tấn công vũ lực gây ra trận hải chiến Hoàng Sa đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Lấy cớ đó, Bắc Kinh ngang nhiên tuyên truyền rằng cuộc tấn công vào khu vực quần đảo Hoàng Sa năm 1974 chỉ mang tính “tự vệ”, tuy nhiên giới quan sát quốc tế chỉ rõ, tuyên truyền của Bắc Kinh là bịa đặt trắng trợn về bản chất cuộc hải chiến.

Chiến thuật dùng tàu cá và dân quân biển để thúc đẩy các yêu sách về lãnh thổ này tiếp tục được Bắc Kinh sử dụng đến tận ngày nay. Trong vụ việc chiếm Bãi cạn Scarborough của Philippines năm 2012, Bắc Kinh cũng dùng chiêu bài này. Trung Quốc cho tàu cá và tàu dân quân biển giả danh tàu cá khiêu khích để Philippines điều tàu chiến đến bảo vệ ngư dân thì Bắc Kinh điều ngay tàu chiến đến để khống chế toàn bộ Bãi cạn này. Trong mấy năm trở lại đây Trung Quốc có lúc đã cho hàng trăm tàu cá và tàu dân quân biển tụ tập ở khu vực Đá Ba Đầu thuộc quần đảo Trường Sa, gây căng thẳng ở Biển Đông.

Thời gian gần đây, giới chuyên gia nhận định trong mục tiêu độc chiếm Biển Đông, Bắc Kinh đề ra chiến lược 3 bước gồm: 1. Kiểm soát (1970-2010); 2. Làm chủ (2011-2025) và 3. Độc chiếm (2026-2050). Cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 đánh dấu một trong những bước đầu tiên trong chiến lược ba bước của Trung Quốc đối với Biển Đông. Ngay sau khi trận hải chiến Hoàng Sa kết thúc, Đặng Tiều Bình (thành viên Ban chuyên trách đánh Hoàng Sa) đã nói “Sân bay Tây Sa (tức Hoàng Sa) sau này nhất định phải xây, chỗ đó vị trí quan trọng, có thể vươn tới Nam Sa (tức Trường Sa, đồng thời khống chế Nam Sa (Trường Sa)”. Phát biểu của Đặng Tiểu Bình thể hiện rõ tham vọng bành trướng ở Biển Đông của Bắc Kinh.

Như vậy, trận hải chiến Hoàng Sa là một bước ngoặt trong chiến lược bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông. Hiện Trung Quốc đang dùng mọi thủ đoạn để triển khai bước 2, trong đó tiến hành bồi đắp mở rộng các thực thể ở quần đảo Hoàng Sa và những thực thể Trung Quốc chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa; quân sự hóa Biển Đông thông qua việc biến những thực thể này thành các đồn điền quân sự của chúng; đồng thời, Bắc Kinh đẩy mạnh chiến thuật “vùng xám” hòng từng bước làm chủ Biển Đông.

Sau khi đánh chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đã tiếp tục có nhiều hành động vi phạm luật pháp quốc tế để khẳng định chỗ đứng của mình như tự ý vạch đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa; quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa; truy đuổi ngư dân Việt Nam ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa…. Trước những hành vi hung hăng của Trung Quốc, chính quyền Washington nhận thức rõ những sai lầm khi đã làm ngơ để Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa. Thời gian gần đây, Hải quân Mỹ nhiều lần tiến hành tự do hàng hải (FONOP) ở khu vực Hoàng Sa và tuyên bố rõ ràng rằng mục tiêu của Hải quân Mỹ là bác bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc bảo vệ luật pháp quốc tế. Tóm lại, Trung Quốc đã có ý đồ thôn tính Hoàng Sa từ đầu Thế kỷ 20, quá trình thực hiện âm mưu này được đánh dấu bằng cuộc tấn công vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và tiếp tục được triển khai trong năm 50 năm qua. Đã có sự “đi đêm” giữa Bắc Kinh và Washington để Trung Quốc tấn công vũ lực quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, hành động sử dụng vũ lực của Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa như Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định hôm 20/1/2024 “là hoàn toàn đi ngược lại các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, không thể tạo ra danh nghĩa chủ quyền cũng như không làm thay đổi sự thật chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam”.

BDN

Loading

Views: 0

Đơn phương công bố Đường cơ sở trên Vịnh Bắc Bộ – hành động sai trái của TQ

Hôm 7/3 Trung Quốc bất ngờ công bố Đường cơ sở trên Vịnh Bắc Bộ mà không hề bàn bạc, trao đổi với Việt Nam thì đây rõ ràng là một hành động tùy tiện, sai trái, bởi nó không tuân thủ Công ước quốc tế về luật biển.

Việc vạch ra hệ thống đường cơ sở là nhằm tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa, đường cơ sở của các hải đảo, quần đảo xa bờ, của các quốc gia có chủ quyền. Do vậy, vấn đề hệ trọng này thường có sự khác nhau, dẫn tới hình thành nên các vùng chống lấn to nhỏ khác nhau.

Đường cơ sở là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và là ranh giới phía ngoài của nội thủy, do nước ven biển quy định trên cơ sở phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOC-năm 1982). Đây chính là căn cứ để xác định phạm vi, chiều rộng của lãnh hải và các vùng biển khác như vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế.

Đương nhiên, không phải quốc gia nào cũng tự ý mình “vẽ” ra được. Vậy mà, trên trang chủ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc hồi đầu tháng 3/2024 đã công bố “7 điểm để hình thành đường cơ sở tại Vịnh Bắc Bộ”. Không ai còn lạ gì đây là vùng biển Việt Nam và Trung Quốc cùng chia sẻ quyền lợi chung.

Cái đường cơ sở quái dị này chưa từng tồn tại trong lịch sử. Vậy mà Bắc Kinh không rõ vì lý do gì quyết định công bố vào thời điểm này – thời điểm mà quan hệ hai nước đang có nhiều dấu ấn tốt đẹp.

Gần 30 năm trước, vào ngày 15/5/1996, Bắc Kinh đã công bố “49 điểm cơ sở cho vùng biển từ đảo Hải Nam đến Thanh Đảo” (không có điểm nào chung ở Vịnh Bắc Bộ). Vào năm 2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ, với lằn ranh rõ ràng để đường cơ sở mới không gây hại nhiều đến quyền lợi kinh tế của Việt Nam, miễn là Bắc Kinh không yêu cầu đàm phán lại.

Tưởng mọi tranh chấp đã được gác lại. Bỗng dưng một ngày xấu trời, Trung Quốc đã lại giở con bài đường cơ sở. Sự tùy tiện ở chỗ, họ không hề bàn bạc với Việt Nam. Một số điểm cơ sở mà Trung Quốc công bố cách bờ quá xa, vi phạm nghiêm trọng Luật biển của Liên hợp quốc.

Tạm gọi là “Đường cơ sở mới” mà Trung Quốc công bố chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động tự do hàng hải, lắp đặt cáp và đường ống dưới biển, cũng như hoạt động cải tạo đảo của Việt Nam. Theo Giáo sư Carl Thayer – Học viện Quốc phòng Australia – Đường cơ sở mới của Trung Quốc vừa vạch ra “dường như quá mức”. Nó sẽ dẫn đến tình trạng chồng lấn lớn hơn của vùng đặc quyền kinh tế của Hoa Lục với đường trung tuyến và khu vực đánh cá chung mà hai bên đã thống nhất tại Vịnh Bắc Bộ.

Thưa các nhà “thiết kế” biển Trung Quốc, các ngài đã sai rồi! Theo quy định tại điều 5 và điều 7 của Công ước, các quốc gia ven biển (không phải là quốc gia quần đảo) có hai loại đường cơ sở là đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng.

Đường cơ sở thông thường là ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc theo bờ biển. Còn nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển; hoặc bờ biển cực kỳ không ổn định do có sự hiện diện của các châu thổ hoặc các đặc điểm tự nhiên khác, thì áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng. Đường cơ sở này nối liền các điểm thích hợp để có thể sử dụng để vạch đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Cần lưu ý, đường cơ sở thẳng phải đáp ứng hai điều kiện quy định trong Công ước, đó là “tuyến các đường cơ sở thẳng không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển” và các vùng biển ở bên trong các đường có sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức đạt được chế độ nội thủy (khoản 3 điều 7).

Căn cứ theo Công ước, căn cứ theo địa hình bờ biển Việt Nam, đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam, ngày 12/11/1982, Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Theo đó, “đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam là đường thẳng gãy khúc nối liền các điểm có toạ độ ghi trong phụ lục kèm theo Tuyên bố này”.

Điều 8 của Luật Biển Việt Nam quy định: “Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn”.

Xem ra “ván đã đóng thuyền” hơn 40 năm nay. Nếu có gì cần điều chỉnh thì hai bên cần đàm phán, tiến hành hoạch định theo những nguyên tắc nhất định, tùy theo chế độ pháp lý của từng vùng biển và thềm lục địa do Công ước quy định. Thế nhưng, Bắc Kinh đã không đếm xỉa gì đến việc thương thuyết, cứ như Vịnh Bắc Bộ là của riêng họ.

Đến hiện tại chưa thấy Hà Nội có phản ứng gì. Nhưng chắc chắn trong vài ngày tới Bộ Ngoại giao nước này sẽ phải lên tiếng về đường cơ sở vô lối trên biển do Bắc Kinh vừa công bố tại Vịnh Bắc Bộ. Bởi đây là trò lố, không thể “cả vú lấp miệng em” như thế được.

BDN

Loading

Views: 0

ASEAN, Úc đề nghị các nước tránh mâu thuẫn tạo hòa bình ở Biển Đông

Lãnh đạo các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Úc khuyến khích tất cả các nước hãy kiềm chế hành động đơn phương trước những hành động của Trung Quốc tại Biển Đông.

Theo Hãng tin Reuters, lãnh đạo các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Úc cho biết trong một tuyên bố chung khi kết thúc hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN – Úc ngày 6-3 rằng tất cả các nước nên kiềm chế hành động đơn phương ở Biển Đông, những hành động có thể gây nguy hiểm đến hòa bình, an ninh và ổn định tại khu vực đang tranh chấp.

Hãng tin AFP nhận xét những căng thẳng vốn đang âm ỉ trong hành lang thương mại Biển Đông có nguy cơ bùng phát vào đầu tuần này, khi các tàu của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp bị cáo buộc “quấy rối” các tàu tuần duyên của Philippines.

“Chúng tôi khuyến khích tất cả các nước tránh mọi hành động đơn phương gây nguy hiểm cho hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực”, tuyên bố chung của các nước ASEAN và Úc viết.

Hiện phía Trung Quốc vẫn chưa phản hồi về tuyên bố này.

Vào sáng 5-3, lực lượng đặc nhiệm của Chính phủ Philippines cho hay các tàu hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc đã “quấy rối, chặn đầu, triển khai vòi rồng và thực hiện các hoạt động nguy hiểm” dẫn đến va chạm giữa một tàu tuần duyên Philippines và một tàu hải cảnh Trung Quốc ở Biển Đông.

Quân đội Philippines cho biết Philippines đang tiến hành nhiệm vụ tiếp tế cho lực lượng nước này trên tàu chiến cũ BRP Sierra Madre ở bãi Cỏ Mây.

Phía Philippines nói rằng các tàu hải cảnh Trung Quốc gây ra hai vụ va chạm với các tàu Philippines và bắn vòi rồng vào một trong số các tàu này, khiến bốn thủy thủ đang thực hiện nhiệm vụ tiếp tế bị thương.

Trong khi đó, Thời báo Hoàn Cầu tường thuật hải cảnh Trung Quốc “đã thực hiện các biện pháp có kiểm soát một cách hợp pháp vào ngày 5-3 đối với một tàu Philippines xâm nhập trái phép vùng biển gần Nhân Ái Tiêu (cách Bắc Kinh gọi bãi Cỏ Mây)”.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu hải cảnh TQ va chạm với tàu tuần duyên Philippines ở Biển Đông

Tuần duyên Philippines cho biết tàu của lực lượng này đã bị hư hại trong vụ va chạm với tàu hải cảnh Trung Quốc ở Biển Đông.

Hình ảnh được ông Jay Tarriela, người phát ngôn Lực lượng tuần duyên Philippines (PCG), đăng lên mạng xã hội X về vụ va chạm giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu tuần duyên Philippines ngày 5-3 – Ảnh: Lực lượng tuần duyên Philippines

Ngày 5-3, Philippines cáo buộc hải cảnh Trung Quốc có “những hành động nguy hiểm”, dẫn đến va chạm giữa một tàu tuần duyên Philippines và một tàu hải cảnh Trung Quốc ở Biển Đông, theo Hãng tin Reuters.

Video tàu hải cảnh Trung Quốc va chạm tàu tuần duyên Philippines ở Biển Đông

Ông Jay Tarriela, người phát ngôn Lực lượng tuần duyên Philippines (PCG), cho biết tàu của lực lượng này bị hư hại nhẹ.

Ông Jay Tarriela viết trên mạng xã hội X: “Sáng nay các tàu tuần duyên BRP Cabra và BRP Sindangan được đô đốc Ronnie Gil Gavan, chỉ huy Lực lượng tuần duyên Philippines, triển khai để hỗ trợ ‘hoạt động luân chuyển và tái cung cấp của Các lực lượng vũ trang Philippines’.

Trong suốt quá trình hoạt động, các tàu tuần duyên Philippines đã đối mặt với những hành động nguy hiểm và sự ngăn chặn từ các tàu hải cảnh và dân quân biển của Trung Quốc.

Hành động liều lĩnh và bất hợp pháp của họ đã dẫn đến vụ va chạm giữa tàu MRRV-4407 (tức tàu BRP Sindangan) và tàu hải cảnh Trung Quốc 21555, khiến tàu tuần duyên Philippines bị hư hại nhẹ về cấu trúc. Nhiệm vụ vẫn đang tiếp tục”.

Quân đội Philippines cho biết Philippines đang tiến hành nhiệm vụ tiếp tế cho lực lượng nước này trên tàu chiến cũ BRP Sierra Madre ở bãi Cỏ Mây.

Cùng ngày, Thời báo Hoàn Cầu tường thuật hải cảnh Trung Quốc “đã thực hiện các biện pháp có kiểm soát một cách hợp pháp vào ngày 5-3 đối với một tàu Philippines xâm nhập trái phép vùng biển gần Nhân Ái Tiêu (cách Bắc Kinh gọi bãi Cỏ Mây)”.

Thời gian qua Philippines tố tàu hải cảnh Trung Quốc và các tàu khác đã “quấy rối”, “ngăn chặn”, và thực hiện các hành động “nguy hiểm” nhằm vào tàu Philippines ở Biển Đông.

Chẳng hạn, Manila cáo buộc hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu chở hàng tiếp tế cho lực lượng Philippines ở bãi Cỏ Mây.

Hôm 4-3, Ngoại trưởng Philippines Enrique Manalo cho biết nước này muốn giải quyết các tranh chấp trên biển với Trung Quốc một cách hòa bình, nhưng Bắc Kinh “hãy dừng quấy rối chúng tôi”.

BDN

Loading

Views: 0

TQ lên tiếng về phát biểu của đại sứ Philippines về Biển Đông tại Mỹ

Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines phê phán gay gắt phát ngôn gần đây của quan chức ngoại giao Manila liên quan đến tình hình khu vực.

Hãng tin Reuters cho biết ngày 3-3, Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines đã phê phán gay gắt những phát ngôn liên quan đến Trung Quốc gần đây của Đại sứ Philippines tại Mỹ Jose Manuel Romualdez.

Cụ thể, hôm 28-2, ông Romualdez khẳng định Mỹ xem vấn đề Biển Đông và vấn đề Đài Loan là “mối quan tâm nghiêm túc”. Ông cũng cho rằng “ngòi nổ thật sự” chính là Biển Đông, nơi “rất nhiều cuộc đụng độ đã diễn ra”.

Đáp lại, Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines tuyên bố toàn bộ những gì ông Romualdez nói “không tôn trọng các sự thật căn bản”.

Phái đoàn ngoại giao này cho rằng những lập luận trên “thổi phồng vấn đề Biển Đông một cách độc hại, đưa ra những phỏng đoán và phỉ báng ác ý chống lại Trung Quốc”.

Đại sứ quán Trung Quốc không quên chỉ trích nặng nề việc Manila phối hợp quân sự cùng Washington: “Mời bầy sói vào nhà và hoạt động theo các nhóm nhỏ không những không giải quyết được khác biệt về Biển Đông mà còn làm phức tạp tình hình khu vực, xói mòn hòa bình và ổn định khu vực”.

Cuối cùng, cơ quan ngoại giao Bắc Kinh yêu cầu đại sứ Philippines tại Mỹ ngừng lan truyền “lý thuyết về mối nguy Trung Quốc” và “nỗi sợ bị hãm hại”, đồng thời ngưng “làm người phát ngôn cho những quốc gia khác”.

Phía Philippines hiện chưa phản hồi về tuyên bố trên.

Trước đó, hồi cuối tháng 2, Hãng tin Reuters cho biết phía Philippines khẳng định đã phát hiện sự hiện diện của các tàu hải quân Trung Quốc, khi tàu của Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản (BFAR) làm nhiệm vụ tuần tra gần bãi cạn Scarborough ở Biển Đông.

Tàu BFAR lúc đó cũng cung cấp nhiên liệu cho ngư dân Philippines trong khu vực. Theo lực lượng tuần duyên Philippines, con tàu này đã bị tàu hải cảnh Trung Quốc theo dõi và chặn lại.

Đến hôm 28-2, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. khẳng định sự hiện diện của hải quân Trung Quốc ở Biển Đông “sẽ không thể ngăn cản Philippines có những hành động để bảo vệ lãnh hải và ngư dân của mình”.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ tất cả ngư dân của mình, những ngư dân kiếm sống từ các ngư trường. Và chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ họ bất chấp những nỗ lực ngăn chặn, theo dõi” – Tổng thống Marcos nói với báo giới trước khi lên đường đi thăm Úc.

Bãi cạn Scarborough cách đảo Luzon của Philippines khoảng 230km và cách bờ biển đông nam Trung Quốc khoảng 1.000km.

Cả Trung Quốc và Philippines đều tuyên bố chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough. Năm 2012, Trung Quốc giành quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough từ tay Philippines.

BDN

Loading

Views: 0

Biển Đông 2024: TQ thay đổi chiến thuật?

Biển Đông đầu năm 2024 lại tiếp tục rắc rối với việc Trung Quốc giăng một hàng rào nổi ở khu vực bãi cạn Scarborough, khiến Manila và Bắc Kinh căng thẳng cả trên biển và trên các diễn đàn.

Nhà nghiên cứu Ray Powell, giám đốc nhóm Hải Đăng của Trung tâm Đổi mới an ninh quốc gia Gordian Knot thuộc Đại học Stanford chuyên nghiên cứu “vùng xám” hàng hải (những sự việc xảy ra trên biển mà ai đó không muốn công chúng biết đến), đã liên tục đưa tin về các vụ vi phạm chủ quyền các nước láng giềng của tàu bè Trung Quốc.

“Bình thường hóa” chuyện phi pháp
Trong bản tin 7h20 ngày 19-2, Ray Powell cho hay qua ảnh chụp vệ tinh vị trí tàu hải cảnh Trung Quốc 5402 với đầy đủ mã nhận dạng dịch vụ di động hàng hải (MMSI) và số nhận diện tàu biển (IMO) tìm cách xâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Theo marinetraffic.com, chiếc 5402 này là một tàu không rõ loại, treo cờ Trung Quốc, chiều dài 99m và chiều rộng 15m, mớn nước là 6,3m.

Có thể đồng ý với giải thích của Ray Powell trong một tweet ngày hôm sau, 20-2, về mưu mô của các tàu hải cảnh này: “Các tàu hải cảnh Trung Quốc (CCG) tiến hành tuần tra xâm nhập sâu vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước láng giềng rồi lần hồi bình thường hóa quyền tài phán của Trung Quốc với các khu vực thuộc quyền tài phán của các nước láng giềng theo luật pháp quốc tế”.

Nôm na mà nói, các tàu hải cảnh cứ tà tà lẻn vào EEZ các nước láng giềng, nhưng không tỏ ra hung hãn, tránh nổ ra xung đột, nhưng qua đó “cắm dùi” trong khu vực, để bình thường hóa chuyện vốn là phi pháp.

Nhà nghiên cứu chiến lược cao cấp chuyên về sức mạnh không quân Eric Chan cho không lực Hoa Kỳ đã từng vạch trần mưu mô này. Theo Chan, các hoạt động vùng xám trên biển của Trung Quốc được thiết kế để thiết lập sự hiện diện, tạo “tính chính đáng” cho những phủ nhận sau này của họ với các nước láng giềng.

Do đó, Hải quân Trung Quốc (PLAN) không phải là lực lượng dẫn đầu. Thay vào đó là Lực lượng Dân quân biển của Lực lượng Vũ trang nhân dân (PAFMM), và Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc (CCG). PLAN đóng vai trò bảo đảm ngăn leo thang vũ trang, đồng thời là lực lượng răn đe.

Ba lực lượng hàng hải này phối hợp với nhau trong “chiến lược bắp cải” gồm mấy lớp bao bọc, buộc đối thủ để đối phó phải thâm nhập từng lớp, dẫn đến phí tổn chiến lược, điều phối hoạt động, và cả thông tin tuyên truyền ngày càng tăng với các nước khác.

Chan đánh giá: “PAFMM đi đầu trong việc thiết lập “tính chính đáng” này, với tư cách là “trợ thủ của Giải phóng quân” hoạt động trong cơ cấu kép quân sự-dân sự.

Sự cố ở bãi Scarborough năm 2012 là bước ngoặt đối với PAFMM, qua đó Bắc Kinh nhận ra rằng sự tham gia của PAFMM là rất quan trọng trong việc cho phép họ giành quyền kiểm soát một thực thể đất đai đang tranh chấp lớn mà không phải trả giá đắt”.

Theo Eric Chan, chiến lược này được sử dụng thường xuyên nhất ở Biển Đông, và sau này được triển khai cả với Đài Loan.

Tái diễn màn kịch Scarborough
Một thí dụ kinh điển của “chiến lược bắp cải” là sự cố ở bãi đá Scarborough tháng 4-2012, mà hầu như ai cũng nhớ rằng Philippines đã trúng kế khi điều động chiến hạm BRP Gregorio del Pilar mới nhận từ hải quân Mỹ để “dằn mặt” các ghe đánh cá của ngư dân Trung Quốc đang trải ra ở đây.

Các ngư dân này điện báo cầu cứu với phân bộ Hải Nam thuộc Bộ tư lệnh Hải cảnh Hoa Nam, và được hai tàu hải giám đến cứu.

Qua tháng 5, Trung Quốc điều đến thêm 7 tàu hải giám khác. Hậu quả là chiếc BRP Greorio del Pilar phải rời đi, bỏ lại bãi Scarborough cho Trung Quốc đóng quân luôn từ tháng 6 năm đó. Do đây là khu vực mà ngư dân Philippines vẫn đến bỏ lưới, Trung Quốc bèn “rào” luôn bãi này bằng một sợi dây nối các phao đặt ở hai đầu lối vào khu vực bãi hầu chặn lối ra vào duy nhất khu vực đầm phá, không cho tàu đánh cá Philippines và các nước khác vào.

12 năm sau, hàng rào dựng trên biển này vẫn còn làm nổi sóng. Trong cuộc họp báo hôm thứ hai 26-2, nữ phát ngôn Mao Ninh của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, khi bị hỏi “liệu Trung Quốc có căng lại dây rào ở cửa bãi Scarborough không”, đã tự tin trả lời rằng đó là do lỗi của Philippines: “Đảo Hoàng Nham luôn là lãnh thổ của Trung Quốc.

Để đáp lại một loạt động thái của Philippines tại vùng biển đảo Hoàng Nham xâm phạm chủ quyền Trung Quốc, Trung Quốc buộc phải thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ và các quyền và lợi ích hàng hải của mình” (nhật báo The Manila Times 26-2 đưa tin).

Câu chuyện trên cho thấy: chỉ trong vòng 12 năm, từ chỗ dùng số đông đuổi chủ cũ đi rồi chiếm ngụ, Bắc Kinh nay cư xử cứ như là chủ nhân tự nhiên của bãi Scarborough.

Năm 2012 đó, Bắc Kinh còn kéo cả bầy tàu hải cảnh tới uy hiếp. Năm nay 2024, họ đã có sách lược tinh vi hơn khi thôi không cậy số đông vũ lực nữa mà sử dụng dân quân biển, thậm chí tuy sử dụng tàu chấp pháp song lại “nhu mì” không chống trả như trường hợp chiếc hải cảnh 5402 – một hình mẫu của sách lược “nhũn nhặn” thâm nhập, cắm dùi rồi loan báo là của mình, mà Eric Chan đã vạch rõ chân tướng.

Đòn thế phối hợp
Bắc Kinh còn tung ra một chiêu mới hầu như đồng thời: gây nhiễu phá sóng tàu bè các nước “đối tượng”. Cụ thể, Philippines tố cáo rằng khoảng 8h sáng hôm 22-2 tuần rồi, tàu hải cảnh 3105 của Trung Quốc đã gây nhiễu nhằm ngăn chặn hoạt động của hệ thống nhận dạng tự động (AIS) của tàu BRP Datu Sanday thuộc Cục Đánh cá và Tài nguyên hải sản (BFAR) vốn đang được triển khai để cung cấp nhiên liệu và đảm bảo an ninh cho ngư dân Philippines.

AIS là hệ thống thông tin liên lạc trợ giúp hàng hải, cho phép tàu bè trao đổi những thông tin về nhận dạng vị trí, hướng, tốc độ với nhau, và giúp trao đổi với các trạm trên bờ. Khoảng cách thu phát, nhận tín hiệu của các máy AIS trên dưới 20 hải lý.

Theo phía Philippines, chiếc BRP Datu Sanday của họ đã bị phá sóng AIS tại khu vực bãi Scarborough, nơi mà Philippines có một ít binh sĩ đóng trên một xác tàu mắc cạn từ năm 1999, tức trước khi Scarborough rơi vào tay Trung Quốc vào năm 2012, nên từ đó Philippines cứ tới hạn thì thay quân hoặc tiếp tế.

Lần này, như nhiều lần trước, chiếc BRP Datu Sanday bị phá sóng, hậu quả là mất liên lạc. Phó đề đốc Hải quân Philippines Roy Vincent Trinidad xác nhận Trung Quốc đã can thiệp vào “khả năng điện tử” của Hải quân nước này ở biển Tây Philippines trong 3 đến 4 năm qua (ABS-CBN News 27-2).

Phía Philippines còn nêu ra một vấn đề lớn hơn, đó là cứ mỗi lần phía Trung Quốc ra tay phá sóng, họ lại ra thông cáo tố cáo do “tàu của Philippines xâm nhập bất hợp pháp vào vùng biển tiếp giáp với đảo Hoàng Nham của Trung Quốc” nên họ mới phải “xua đuổi tàu Philippines”, nhật báo The Inquirer của Philippines 26-2 nói.

Theo báo này, mỗi lần như thế, Hải cảnh Trung Quốc còn được cơ quan ngôn luận Global Times do Nhà nước Trung Quốc hậu thuẫn bằng cách đăng bản tiếng Anh lên mạng xã hội chỉ vài phút sau vụ việc xảy ra, khiến bị hại biến thành kẻ gây hại.

Không lạ khi ngay hôm 21-2, Global Times đã có sẵn một bài để đăng, đổ lỗi cho Philippines và vơ lý lẽ về phần mình:

“Bằng chứng lịch sử chắc chắn cho thấy yêu sách của Philippines đối với đảo Hoàng Nham là một trò hề vô căn cứ. Trung Quốc là quốc gia đầu tiên trong lịch sử bắt đầu và tiếp tục quản lý các đảo ở Biển Đông và tham gia vào các hoạt động hàng hải liên quan. Các chính phủ kế tiếp của Trung Quốc ở tất cả các triều đại đều có quyền tài phán liên tục và hòa bình đối với các đảo ở Biển Đông. Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với đảo Hoàng Nham và vùng biển lân cận…”.

Không chỉ mỗi một bài trên mà ra rả ngày nào cũng đăng bài mới. Tỉ như bài “Các tàu có tổ chức Philippines chính thức xâm phạm vùng biển Hoàng Nham, lấy hoạt động đánh bắt làm vỏ bọc” của tác giả Lưu Huyền Tôn, xuất bản tối 25-2.

Trong bối cảnh đó, từ đầu năm nay, Trung Quốc lại điều động tàu hải cảnh lớn nhất của mình, nặng 12.000 tấn, mang số hiệu 3901, lảng vảng gần các khu vực mỏ dầu của Việt Nam. Cũng thế, việc Trung Quốc hôm 25-2 bố trí hai tàu hải cảnh cùng hai chiến hạm: một Type 52 và một Type 54 tại Đá Chữ Thập, dù qua hôm sau chỉ còn lưu lại một chiếc hải cảnh và một chiến hạm Type 54, các chiếc khác đã rời đi, theo Twitter của nhà phân tích MT Anderson.

BDN

Loading

Views: 0

Úc phản đối TQ đưa cảnh sát biển vào Thái Bình Dương

Ông Pat Conroy, Bộ trưởng phụ trách các vấn đề Thái Bình Dương của Úc, nói rằng Trung Quốc “không nên có vai trò gì” về trị an ở các đảo quốc Thái Bình Dương và Úc sẽ đào tạo thêm lực lượng an ninh để lấp khoảng trống.

Phát biểu được đưa ra sau khi báo chí đưa tin về việc cảnh sát Trung Quốc đang làm nhiệm vụ tại Kiribati.

Đầu tuần này, Mỹ cảnh báo các đảo quốc Thái Bình Dương không nên nhận hỗ trợ của lực lượng an ninh Trung Quốc, sau khi quyền cảnh sát trưởng Kiribati Eeri Aritiera nói với báo chí rằng cảnh sát mặc đồng phục Trung Quốc đang làm việc với cảnh sát đảo quốc này theo chương trình hợp tác về trị an và cơ sở dữ liệu tội phạm.

Úc chưa có cảnh sát nào ở Kiribati, dù Canberra cam kết sẽ tài trợ xây mạng radio, đồn cảnh sát mới, và 2 cố vấn về an ninh biển đang hỗ trợ cảnh sát Kiribati duy trì một tàu tuần tra mà Úc tặng.

Kiribati là quốc gia có 115.000 dân, với hòn đảo gần nhất cách Honolulu 2.160 km về phía nam.

Cảnh sát Trung Quốc làm việc ở đó trong bối cảnh Bắc Kinh tiếp tục nỗ lực mở rộng quan hệ ở khu vực gần Úc.

“Chúng tôi biết rằng họ (Trung Quốc) đang tìm kiếm vai trò an ninh lớn hơn ở Thái Bình Dương và chúng tôi nhất quán với quan điểm của mình rằng Trung Quốc không có vai trò nào trong việc quản lý trật tự hay an ninh rộng hơn ở Thái Bình Dương”, ông Conroy nói với Reuters trong cuộc phỏng vấn ngày 29/2.

Ông cho biết, từ năm 2022, các nhà lãnh đạo đảo Thái Bình Dương đã đồng ý chủ trương lấp đầy mọi khoảng trống an ninh từ trong “gia đình Thái Bình Dương”.

Cảnh sát Trung Quốc được đưa đến Quần đảo Solomon từ năm 2022. Ông Conroy cho biết, Úc muốn thấy cảnh sát từ Papua New Guinea, Fiji và các đảo quốc Thái Bình Dương khác đóng vai trò lớn hơn trong việc hỗ trợ an ninh cho láng giềng, như họ từng làm trong Thế vận hội Thái Bình Dương vào tháng 12 năm ngoái, tại Quần đảo Solomon.

Ông Conroy nhấn mạnh, Canberra đang tài trợ một trung tâm đào tạo cảnh sát khu vực ở Papua New Guinea cho mục đích này.

“Đó là một mô hình trong tương lai, khi Thái Bình Dương cùng nhau hỗ trợ nhu cầu và nguyện vọng an ninh của các quốc gia Thái Bình Dương khác. Úc đóng một vai trò nào đó, nhưng không phải lúc nào chúng tôi cũng có thể dẫn đầu”, ông nói.

Ngày 26/2, Bộ Ngoại giao Mỹ cảnh báo các đảo quốc Thái Bình Dương không nên nhập khẩu lực lượng an ninh từ Trung Quốc, để tránh “nguy cơ gây căng thẳng trong khu vực và quốc tế”.

Trung Quốc chưa trả lời đề nghị bình luận về vai trò của cảnh sát nước này ở Kiribati.

Tháng trước, Đại sứ Trung Quốc tại Úc cho biết, Bắc Kinh muốn thiết lập quan hệ an ninh với các quốc đảo Thái Bình Dương để giúp duy trì trật tự xã hội, và Úc không nên lo lắng về điều này.

BDN

Loading

Views: 0

Xâm nhập Bãi ngầm Tư Chính, TQ toan tính giải cơn khát năng lượng

Gần ba tháng qua Trung Quốc đã đưa tàu hải cảnh vào khu vực Bãi ngầm Tư Chính trên Biển Đông, thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thế nhưng mãi tới hôm 29/2, Bộ Ngoại giao Việt Nam mới chính thức lên tiếng.

Dư luận trong nước và thế giới đều tỏ ra sốt ruột, bất bình với hành động tái đi tái lại nhiều lần của Bắc Kinh. Bản Tuyên bố “cùng chia sẻ tương lai” giữa hai nước Trung-Việt còn nóng hổi, vậy mà Trung Quốc nỡ nào tiếp tục đưa lực lượng hải cảnh quấy rối trong khu vực thuộc chủ quyền Việt Nam!

Chậm còn hơn không, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Phạm Thu Hằng tuyên bố rành rẽ: “Bãi ngầm Tư Chính là một phần thềm lục địa của Việt Nam và được xác lập hoàn toàn phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982”- bà Hằng nói trong cuộc họp báo, khi các nhà báo hỏi về thông tin Trung Quốc gần đây điều tàu hải cảnh hoạt động trong khu vực này.

Theo đó, lập trường của Việt Nam với bãi ngầm Tư Chính là nhất quán và đã được khẳng định nhiều lần. Việt Nam kiên quyết phản đối mọi hành động vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển của Việt Nam được xác lập hoàn toàn hợp pháp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.

Đã bị dằn mặt thì đối phương chỉ có cách tốt nhất là đưa tàu ra khỏi khu vực Bãi ngầm Tư Chính. Để xem người “bạn bè tốt, đồng chí tốt” xử lý ra sao.

Nói có sách mách có chứng, chúng tôi xin nói cụ thể thêm. Theo thông tin từ Atlas News BNN: Tàu hải cảnh Trung Quốc số hiệu 5901 đã ngang ngược thâm nhập vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam từ hôm 21/2 để “tuần tra” gần Bãi Tư Chính.

Con tàu khổng lồ thuộc lớp Triệu Đà, có lượng choán nước gần 11.000 tấn và là tàu hải cảnh lớn nhất thế giới hiện nay. Con “khủng long” sắt đã đi tuần quanh các lô dầu khí gần Bãi Tư Chính, nơi có các nhà giàn và giàn khoan dầu khí của Việt Nam.

Tàu 5901 trang bị 1 pháo lớn 76 ly, 2 pháo 30 ly và 2 súng máy phòng không hạng nặng. Nó có tầm hoạt động trong khoảng giữa 10.000 và 15.000 hải lý (18.500 và 27.700 km), với tốc độ tối đa lên đến 25 hải lý/h (46 km/h). Đặc biệt trên tàu có bãi đáp trực thăng.

Không bỏ sót mục tiêu, tàu kiểm ngư 261 của Việt Nam đã bám sát tàu hải cảnh của Trung Quốc. Việc tàu của Việt Nam bám theo tàu hải cảnh Trung Quốc thể hiện tư thế đối phó của các nước nhỏ hơn, ở vào thế khó – phải cân bằng giữa một bên là chủ quyền còn bên kia là ngoại giao.

Có lẽ cảm thấy hành động vô lối của mình, tàu Trung Quốc lượn lờ vài giờ rồi rời đi. Hồi đầu tháng 12/2023, chính con tàu này của Trung Quốc đã hoạt động trong cùng khu vực thuộc vùng EEZ của Việt Nam, sau đó quay về “cố hương”.

Không phải ngẫu nhiên Trung Quốc tiến hành các cuộc tuần tra có tính xâm phạm vào các vùng EEZ của Philippines, Việt Nam, Indonesia, Malaysia. Đây là động thái có tính toán để thể hiện yêu sách của Bắc Kinh về lãnh hải. Đây là tuyên bố không lời rằng, họ sẵn sàng bảo vệ ranh giới mà họ đặt ra, thậm chí sẽ mở rộng thêm nữa.

Hành động ngang ngược này nhằm xác định quyền kiểm soát trên thực tế đối với các tuyến hàng hải chiến lược. Trung Quốc cố gắng “bình thường hóa” sự hiện diện liên tục của mình trong khu vực “Đường lưỡi bò”. Nếu láng giềng không lên tiếng phản đối vô hình trung đã công nhận chủ quyền của họ.

Các tranh chấp trong khu vực tiếp tục thu hút các cường quốc bên ngoài và làm phức tạp thêm nỗ lực mang lại ổn định và an ninh ở đây. Mỹ và một số nước đã chống đối các yêu sách chủ quyền, các hành động ngang ngược của Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời giúp đỡ các đối tác ở Đông Nam Á củng cố các năng lực an ninh hàng hải.

Việc đưa tàu lớn nhất từ trước đến nay vào Bãi ngầm Tư Chính là một trong những hành động thể hiện tham vọng độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh. Tham vọng này đã được “lập trình” từ rất lâu, được phôi thai ngay từ khi thành lập Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949 – tham vọng vươn lên làm bá chủ thế giới.

Muốn vậy nhất định phải trở thành cường quốc biển, phải chiếm bằng được Biển Đông – kho báu tài nguyên thiên nhiên và tuyến hàng hải quan trọng nhất của thế giới. Vào năm 1958, khi ban hành Luật về Lãnh hải, Trung Quốc đã ngang nhiên tuyên bố “Trung Quốc có chủ quyền đối với Tây Sa và Nam Sa” (Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).

Đến năm 1992, Trung Quốc bất ngờ ký hợp đồng thăm dò dầu khí trên bãi Tư Chính của Việt Nam với một công ty tư nhân của Mỹ – Công ty Crestone. Việt Nam đã kiên quyết phản đối. Năm 2009, Trung Quốc chính thức đệ trình lên Liên hợp quốc yêu sách “đường lưỡi bò” phi pháp, chiếm gần trọn Biển Đông. Tay trái kí vào Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, tay phải Bắc Kinh kéo lực lượng hải quân trá hình, tàu bè, súng ống vào khu vực này.

Không còn nghi ngờ gì nữa, việc Trung Quốc quần thảo nhiều năm nay ở khu vực Bãi ngầm Tư Chính và một số đảo đá khác là nhằm cạnh tranh, muốn cho Việt Nam chấp thuận hợp tác cùng khai thác dầu khí. Bởi, hiện tại, Trung Quốc đang nhập khẩu tới gần 60% dầu mỏ, đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên 66,6% và đến năm 2040 sẽ là 75%.

Các lô dầu khí khu vực Bãi ngầm Tư Chính mà Việt Nam đang hợp tác thăm dò với các đối tác chính là miếng mồi béo bở đối với Trung Quốc, song cũng là cái gai chọc vào mắt họ. Vì thế dù họ có nói bao nhiêu lời ngon ngọt cũng chỉ là để dễ bề thực hiện âm mưu thôn tính Biển Đông, trước mắt là giải “cơn khát năng lượng”.

BDN

Loading

Views: 0

11 tàu chiến TQ hiện diện gần Đài Loan

Cơ quan Phòng vệ Đài Loan cho biết 11 tàu hải quân Trung Quốc hiện diện quanh hòn đảo này và là con số cao nhất trong năm nay.


Theo cơ quan Phòng vệ Đài Loan, trong 24 giờ tính đến 6 giờ sáng 27/2, Trung Quốc điều 15 máy bay chiến đấu, 11 tàu hải quân và một khinh khí cầu vào vùng biển và bầu trời xung quanh đảo Đài Loan.

Theo dữ liệu chính thức của Đài Loan, số lượng tàu hải quân Trung Quốc hiện diện quanh đảo Đài Loan nhiều hơn mức thông thường từ 4 đến 6 chiếc, tính trong khoảng thời gian 24 giờ và là mức cao nhất từ ​​đầu năm đến nay.

Vào tháng 12 năm ngoái, 11 tàu hải quân Trung Quốc cũng hiện diện quanh Đài Loan trước cuộc bầu cử lãnh đạo Đài Loan vào tháng 1.

Đài Loan trước đó cho hay, 5 tàu hải cảnh Trung Quốc hôm 26/2 đi vào vùng biển bị cấm hoặc hạn chế xung quanh quần đảo Kim Môn do Đài Loan kiểm soát.

Lực lượng hải cảnh Trung Quốc mới đây cho biết các tàu hải cảnh tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc đã tiến hành tuần tra ở vùng biển gần quần đảo Kim Môn vào hôm 25/2.

Lực lượng hải cảnh Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp trong quá trình tuần tra “nhằm tăng cường kiểm tra thực thi pháp luật ở các khu vực trọng điểm, duy trì hiệu quả trật tự hoạt động ở các vùng biển liên quan và bảo vệ hiệu quả sự an toàn tính mạng và tài sản của ngư dân”.

Trong tháng 2, lực lượng hải cảnh Trung Quốc đã bắt đầu tuần tra thường xuyên xung quanh quần đảo Kim Môn sau khi 2 công dân Trung Quốc thiệt mạng khi cố chạy trốn khỏi lực lượng tuần duyên Đài Loan. Đài Loan cho biết, vào thời điểm đó, tàu của công dân Trung Quốc đi vào vùng biển cấm hôm 14/2.

BDN

Loading

Views: 0

Bãi cạn Scarborough tâm điểm căng thẳng giữa TQ và Philippines

Bãi cạn Scarborough mà Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham vốn được Philipines tuyên bố chủ quyền. Thực tế hàng trăm năm qua Philippines vẫn đánh bắt hải sản ở đây và là nơi có nhiều nguồn lợi hải sản. Vừa qua có ngày ngư dân Philippines đã đánh bắt được hơn 140 tấn hải sản. Nhưng gần đây Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố rằng đảo Hoàng Nham là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc.

Thời ông Dute làm tổng thống Philippines với chủ trương cải thiện quan hệ với Trung Quốc, thậm chí đã lờ đi phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế, không công nhận chủ quyền 80% diện tích Biển Đông của Trung Quốc. Chính vì thế Trung Quốc càng lấn tới, cho tàu hải quân, hải cảnh ngăn chặn không cho ngư dân Philippines vào đánh cá ở khu vực này.

Ông Marcos lên làm Tổng thống Philippines một mặt vẫn giữ quan hệ bình thường với Trung Quốc, mặt khác ông bày tỏ rằng, cứng rắn về việc kiên quyết ngăn chặn các hành động gây hấn của Trung Quốc. Nhà lãnh đạo Philippines thề rằng đất nước của ông sẽ không nhượng bộ dù chỉ “một tấc” lãnh thổ trên tuyến đường thủy chiến lược.

Khác với ông Dute, ông Marcos đã quay lại thân thiện với Mỹ. Dựa trên hiệp ước quốc phòng song phương từ năm 2014, Philippines cho phép Mỹ mở rộng hiện diện quân sự, không chỉ tăng quân, tăng vũ khí, phương tiện ở các căn cứ cũ mà còn cho Mỹ mở thêm căn cứ quân sự ở Philippines. Đầu năm nay Philippines và Mỹ còn tổ chức tập trận với quy mô lớn và hợp tác tuần tra chung trên Biển Đông.

Điều này đã làm Trung Quốc tức giận và có hành động quyết liệt hơn. Không chỉ cho tàu hải quân bám sát tàu Mỹ và Philippines khi họ tập trận chung Trung Quốc còn lấn tới bằng việc thả hàng rào dài 300 mét ở lối vào rạn san hô vòng Scarborough.

Dựa vào hậu thuẫn của Mỹ, Hải quân Philippines đã cho tàu dỡ bỏ hàng rào 300 mét của Trung Quốc và bảo vệ cho ngư dân vào đánh bắt hải sản ở khu vực này.

Trả lời báo chí trong cuộc họp báo ở tỉnh Susigao del Norte, Tổng thống Marcos đã nói: “Chúng tôi không muốn gây rắc rối nhưng điều chúng tôi sẽ làm là tiếp tục bảo vệ lãnh thổ trên biển của Philippines và quyền của ngư dân chúng tôi.

Dù Trung Quốc chưa có hành động làm lại hàng rào bị dỡ bỏ, nhưng người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Bân đã phát biểu tại một cuộc họp báo ở Bắc Kinh rằng bãi cạn Hoàng Nham là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc, Trung Quốc sẽ tiếp tục bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cũng như các quyền về lợi ích hàng hải của đảo Hoàng Nham.

Bãi cạn Scarborough- Hoàng Nham đang là tâm điểm căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc. Liệu Trung Quốc có dám lấn tới khi mà Hải quân Philippines đang được lực lượng của Mỹ ở các căn cứ quân sự hậu thuẫn.

BDN

Loading

Views: 0

Tuần duyên Mỹ lục soát 2 tàu đánh cá của TQ gần Kiribati

Trong cuộc tuần tra chung chống đánh bắt cá trái phép, lực lượng tuần duyên Mỹ và cảnh sát Kiribati đã lên hai tàu đánh cá Trung Quốc tại khu vực gần quốc đảo Kiribati.

Ngày 26-2, Hãng tin Reuters dẫn lời quan chức tuần duyên Mỹ xác nhận vụ việc diễn ra trong tháng này khi họ tham gia cuộc tuần tra chung chống đánh bắt trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế của đảo quốc Thái Bình Dương.

Người phát ngôn của tuần duyên Mỹ tại đảo Guam cho biết các cảnh sát Kiribati đã tuần tra cùng lực lượng Mỹ từ ngày 11 đến ngày 16-2. Đây là cuộc tuần tra chung đầu tiên của 2 nước sau gần một thập kỷ.

“Chúng tôi đã lên 2 tàu đánh cá treo cờ Trung Quốc, một phần của hoạt động thực thi pháp luật hàng hải thường lệ nhằm đảm bảo tuân thủ các quy định trong vùng đặc quyền kinh tế Kiribati”, người phát ngôn lực lượng Mỹ nói.

Tuy nhiên họ không phát hiện vấn đề đáng lo ngại gì trên tàu.

Phía Mỹ cho rằng các sĩ quan của lực lượng cảnh sát hàng hải Kiribati cũng lên các tàu Trung Quốc. “Sự hợp tác này nhấn mạnh mối quan hệ đối tác giữa 2 quốc gia trong việc duy trì luật hàng hải và quản lý tốt”, người phát ngôn Mỹ nói.

Mỹ đang tìm cách tăng cường vai trò của mình thông qua việc giúp các đảo quốc Thái Bình Dương giám sát hàng triệu km đại dương, một ngư trường giàu cá ngừ. Động thái này cũng nhằm cạnh tranh với Trung Quốc tại khu vực.

Ngoài ra, Washington đã lên kế hoạch xây dựng đại sứ quán ở Kiribati để cạnh tranh với Trung Quốc nhưng vẫn chưa triển khai.

Trong khi đó Trung Quốc đã xây dựng một đại sứ quán lớn trên đảo chính Tarawa sau khi Kiribati “nghỉ chơi” với Đài Loan và tăng cường quan hệ với Bắc Kinh vào năm 2019.

Mới đây Reuters đưa tin cảnh sát Trung Quốc đang có mặt tại Kiribati, tham gia vào hoạt động trị an và chương trình cơ sở dữ liệu tội phạm.

Kiribati, một quốc gia với 115.000 cư dân, dù có diện tích nhỏ nhưng nằm ở vị trí chiến lược tương đối gần Hawaii và kiểm soát vùng đặc quyền kinh tế rộng đến 3,5 triệu km2. Đây cũng là nơi đặt trạm theo dõi vệ tinh của Nhật Bản.

BDN

Loading

Views: 0

TQ lại lập hàng rào nổi ở bãi cạn Scarborough

Hình ảnh vệ tinh mới nhất cho thấy một hàng rào nổi lại xuất hiện ở bãi cạn Scarborough, nơi lực lượng Trung Quốc và Philippines thường xuyên đụng độ.

Hãng tin Reuters dẫn hình ảnh vệ tinh của Công ty Maxar Technologies chụp ngày 22-2 cho thấy hàng rào nổi này chặn cửa bãi cạn Scarborough.

Đây cũng là nơi lực lượng hải cảnh Trung Quốc tuần trước tuyên bố đã xua đuổi một tàu Philippines “xâm phạm trái phép”. Đáp lại, Manila khẳng định tuyên bố của Bắc Kinh là “không chính xác” và các hoạt động của Philippines là hợp pháp.

Hình ảnh trên tương tự báo cáo và video do Lực lượng tuần duyên Philippines (PCG) công bố ngày 25-2 cho thấy 2 tàu bơm hơi của lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc đang triển khai các rào chắn nổi ở lối vào bãi cạn Scarborough vào ngày 22-2.

Các bức ảnh không cho thấy rõ hàng rào này chắc chắn đến mức nào và liệu nó có chặn được các tàu chiến lớn hơn hay không.

Tuần trước Philippines đã triển khai tàu của Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản (BFAR) để tuần tra bãi cạn và vận chuyển nhiên liệu cho ngư dân Philippines trong khu vực.

PCG cho biết một tàu hải cảnh Trung Quốc đã theo dõi tàu BFAR, “tiến hành các hành động ngăn chặn” cách bãi cạn Scarborough khoảng 2,4km và sau đó lại gần tàu này.

“Có thể nói (rào chắn) là dành cho các tàu của Chính phủ Philippines vì họ lắp đặt nó mỗi khi thấy sự hiện diện của chúng tôi trong khu vực lân cận BDM”, ông Jay Tarriela nói, trong đó đề cập đến Bajo de Masinloc (BDM) là tên mà Manila gọi bãi cạn Scarborough. Trong sự kiện này, hàng rào được gỡ bỏ vài giờ sau khi tàu của Manila rời đi.

Trong khi đó, người phát ngôn Mao Ninh của Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định đảo Hoàng Nham, tên mà Trung Quốc đặt cho bãi cạn này, thuộc lãnh thổ của Bắc Kinh.

“Trung Quốc phải thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ cũng như quyền và lợi ích hàng hải của mình”, bà Mao nói.

Bãi cạn Scarborough nằm cách đảo Luzon của Philippines khoảng 230km và cách bờ biển đông nam Trung Quốc khoảng 1.000km.

Cả Trung Quốc và Philippines đều tuyên bố chủ quyền đối với bãi cạn này. Năm 2012, Trung Quốc giành quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough từ tay Philippines.

Năm 2016, Hội đồng trọng tài thành lập theo phụ lục VII của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 khẳng định các tuyên bố của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên Bắc Kinh đã bác bỏ phán quyết này.

Kể từ khi Tổng thống Ferdinand Marcos Jr nhậm chức vào tháng 6-2022, Philippines đã thách thức sự hiện diện của Trung Quốc tại Scarborough và những nỗ lực của nước này nhằm ngăn chặn việc tiếp tế cho quân đội Philippines đóng tại bãi Cỏ Mây thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Năm ngoái, PCG đã gỡ thành công đoạn phao chắn dài khoảng 300m của Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough.

BDN

Loading

Views: 0

Khách Tây đến Phú Quốc tăng đột biến

Sở Du lịch Kiên Giang cho hay, trong 2 tháng đầu năm, lượng khách đến Phú Quốc tăng đột biến, đặc biệt là khách quốc tế. Chỉ riêng dịp Tết Nguyên đán vừa qua, đảo ngọc Phú Quốc đã đón lượng khách quốc tế tăng tới hơn 500% so với cùng kỳ năm trước. Khách du lịch mang tới cho tỉnh Kiên Giang hơn 5.200 tỷ đồng doanh thu trong 2 tháng đầu năm.

UBND TP. Phú Quốc thông tin, tổng lượt khách đến huyện đảo này trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 (từ ngày 8 – 13/2) đạt trên 160.000 lượt. Trong đó, khách lưu trú trên 56.000 lượt. Đáng chú ý, lượng khách quốc tế đến Phú Quốc dịp Tết vừa qua đạt trên 43.200 lượt tăng gần 517% so với cùng kỳ Tết năm 2023.

Trong những ngày Tết, sân bay Phú Quốc có khoảng 454 chuyến bay hạ/cất cánh; với tổng số khách đi/đến trên 84.500 lượt. Tàu và phà cao tốc ra vào đảo có 104 chuyến, phục vụ khoảng 32.200 lượt khách.

Đặc biệt, ngày 2/2 (ngày 23 Tết), Phú Quốc đón tàu du lịch Costa Serena với gần 1.100 khách đến từ Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)…

Ngày 9/2 (tức 30 Tết), đảo ngọc đón tàu du lịch Aida Bella cập cảng với 1.979 du khách Châu Âu (hầu hết là du khách quốc tịch Đức).

Với lượng khách dịch Tết vừa qua tăng đột biến, nhiều khách sạn từ 4 sao trở lên tại Phú Quốc đạt công suất đặt phòng trên 90%, đa phần khách quốc tế lưu trú.

Ngày 22/2, trao đổi với PV Tiền Phong , ông Nguyễn Vũ Khắc Huy – Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch tỉnh Kiên Giang – cho biết, dịp Tết năm nay, khách nội địa đến Kiên Giang có tăng, nhưng “chưa đáng kể”. Điều này một phần do giá vé máy bay nội địa cao, người dân ưu tiên lựa chọn điểm đến có thể đi bằng ô tô, hoặc du lịch nước ngoài.

Với khách quốc tế tới Phú Quốc tăng mạnh dịp Tết, theo ông Huy, ngoài hiệu quả từ hoạt động quảng bá, liên kết du lịch trong và ngoài nước, cũng có nhiều dự án du lịch đi vào hoạt động, góp phần nâng chất lượng dịch vụ.

Lãnh đạo UBND TP. Phú Quốc cho biết, việc kết nối các đường bay quốc tế đến Phú Quốc cũng là một trong những yếu tố hút khách tới đảo dịp đầu năm. Phú Quốc đang đẩy mạnh kết nối và thu hút khách tới từ các thị trường như: Thái Lan, Malaysia, Nga, Trung Quốc, Kazakhstan, Cộng hòa Czech, Ba Lan, Mỹ, Mông Cổ… Bên cạnh đó, Vietjet mở đường bay Phú Quốc – Đài Loan (Trung Quốc), tần suất 7 chuyến khứ hồi/ngày tạo thêm nhiều cơ hội hút khách cho du lịch địa phương.

Số liệu từ Sở Du lịch Kiên Giang cho thấy, tính chung 2 tháng đầu năm nay, địa phương đón gần 2 triệu lượt khách (tăng hơn 79% so với cùng kỳ, bằng 21% kế hoạch năm). Tổng doanh thu từ du lịch ước đạt 5.232 tỷ đồng.

Trong đó, khách quốc tế đến Kiên Giang đạt trên 215.000 lượt, tăng gần 105% so với cùng kỳ.

Thời gian tới, Sở Du lịch Kiên Giang sẽ xây dựng và triển khai Đề án xây dựng Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái chất lượng cao, du lịch biển, đảo tầm cỡ quốc gia và quốc tế; triển khai phát triển các điểm đến, đặc biệt vùng nông thôn; hợp tác du lịch 13 tỉnh/thành Đồng bằng sông Cửu Long và TP.HCM; kiểm tra chất lượng dịch vụ các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn…

Với các giải pháp trên, ngành du lịch Kiên Giang kỳ vọng tiếp tục duy trì vị thế điểm đến du lịch hàng đầu khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và cả nước.

BDN

Loading

Views: 0

Hải cảnh TQ tuyên bố xua đuổi tàu Philippines khỏi Scarborough

Hải cảnh Trung Quốc nói tàu của Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản Philippines đã ‘xâm nhập trái phép’ vào vùng biển tiếp giáp với bãi cạn Scarborough.

Ngày 22-2, Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) đưa tin hải cảnh Trung Quốc vừa xua đuổi tàu mang số hiệu 3002 của Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản Philippines.

Hải cảnh Trung Quốc cáo buộc tàu này “xâm nhập trái phép vào vùng biển tiếp giáp với đảo Hoàng Nham (cách Bắc Kinh gọi bãi cạn Scarborough)”.

CCTV dẫn thông báo ngắn gọn của hải cảnh Trung Quốc trên mạng xã hội Weibo, cho biết vụ việc diễn ra ngày 22-2.

Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản (BFAR) là cơ quan của Chính phủ Philippines. BFAR trực thuộc Bộ Nông nghiệp Philippines và chịu trách nhiệm phát triển, cải thiện, quản lý và bảo tồn nghề cá cũng như nguồn lợi thủy sản của Philippines.

Hiện BFAR chưa lên tiếng về thông tin trên của hải cảnh Trung Quốc.

Bãi cạn Scarborough nằm cách đảo Luzon của Philippines khoảng 230km và cách bờ biển đông nam Trung Quốc khoảng 1.000km.

Cả Trung Quốc và Philippines đều tuyên bố chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough. Năm 2012, Trung Quốc giành quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough từ tay Philippines.

Hải cảnh Trung Quốc nói rằng Trung Quốc “có chủ quyền không thể tranh cãi” đối với bãi cạn Scarborough và vùng biển lân cận.

Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Philippines lập luận bãi cạn Scarborough nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và nước này có quyền chủ quyền cũng như quyền tài phán đối với Scarborough.

BDN

Loading

Views: 0