Quân đội Philippines khẳng định sẽ không để Trung Quốc dùng vũ lực kéo tàu, mà nước này dùng làm tiền đồnra khỏi Biển Đông.
Trong phỏng vấn mới đây trên tờ This week in Asia, lãnh đạo Văn phòng quan hệ công chúng của quân đội Philippines, đại tá Xerxes Trinidad, đã đề cập đến bình luận gần đây của các chuyên gia về tàu của Manila đóng ở Biển Đông.
Theo chuyên gia Hu Bo tại Bắc Kinh, Trung Quốc có thể đang cân nhắc kéo tàu BRP Teresa Magbanua của Philippines đóng ở bãi Sa Bin.
Trong khi đó, ông Ray Powell – cựu sĩ quan không quân Mỹ – nói trên kênh ABS-CBN News rằng Bắc Kinh có thể điều tàu hải cảnh lớn để vô hiệu hóa tàu Philippines và kéo nó ra khỏi khu vực này.
Cách đây khoảng 4 tháng, Manila triển khai tàu BRP Teresa Magbanua đến bãi cạn Sa Bin ở Biển Đông, nằm cách đảo Palawan của Philippines 200km và thuộc quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Một tàu khác của là BRP Sierra Madre được Philippines cố tình cho mắc cạn tại khu vực bãi Cỏ Mây để làm tiền đồn.
Đây cũng là trung tâm của những căng thẳng kéo dài thời gian qua giữa Manila và Bắc Kinh.
Ông Trinidad cho biết quân đội Philippines cũng có kế hoạch đối phó nếu Trung Quốc cưỡng ép di dời tàu BRP Teresa Magbanua.
“Chúng tôi có những phương án dự phòng. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ không cho phép điều đó vì nó xâm phạm quyền chủ quyền của chúng tôi ở Biển Tây Philippines”, tờ South China Morning Post ngày 9-9 dẫn lại lời ông Trinidad.
Biển Tây Philippines là tên Manila đặt cho những khu vực Biển Đông mà họ khẳng định là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.
“Chúng tôi sẽ không nhượng bộ một tấc lãnh thổ nào của mình”, ông Trinidad nhắc lại tuyên bố trước đó của Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr, khẳng định rằng sự hiện diện của Trung Quốc tại khu vực này là bất hợp pháp.
Trong nhiều tháng, nhiều cuộc đụng độ giữa tàu Philippines đã làm nóng căng thẳng ở Biển Đông. Đầu tháng này, Philippines cáo buộc tàu tuần duyên Trung Quốc đâm vào tàu BRP Teresa Magbanua gần bãi Sa Bin. Sự leo thang khiến các nhà phân tích lo ngại có thể xảy ra xung đột vũ trang. Trung Quốc cảnh báo quan hệ với Philippines đang ở ngã ba đường
Ngày 9-9, tờ People’s Daily của Trung Quốc đăng bài kêu gọi Philippines nghiêm túc cân nhắc tương lai của mối quan hệ song phương.
“Mối quan hệ Trung Quốc – Philippines đang ở ngã ba đường, phải lựa chọn hướng đi nào… Đối thoại và tham vấn là con đường đúng đắn, vì không có cách nào thoát khỏi xung đột thông qua đối đầu”, tờ này viết.
Theo đó, Trung Quốc đổ lỗi cho Philippines khi triển khai các thủy thủ trên “một con tàu mắc cạn bất hợp pháp” tại bãi cạn Sa Bin và thường xuyên tiếp tế cho họ.
Trước đó, Bắc Kinh đã yêu cầu Manila di dời con tàu BRP Teresa Magbanua.
Châu Á-Thái Bình Dương từ lâu đã là khu vực chiến lược quan trọng đối với Mỹ, là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của nước này. Vào năm 2011, Chính quyền Obama đã công bố chiến lược Xoay trục (Tái cân bằng) sang châu Á-Thái Bình Dương với nhiều điểm mới, thể hiện sự can dự sâu hơn vào khu vực Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á – Biển Đông nói riêng.
Nhóm tác chiến tàu sân bay USS Ronald Reagan của Hải quân Mỹ đã đi vào Biển Đông trong bối cảnh căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đang gia tăng. Ảnh: SCMP
Kiên trì với khẩu hiểu “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” (MAGA) từ lúc tranh cử cho đến khi trở thành chủ nhân Nhà Trắng nhiệm kỳ trước, đối với Donald Trump, việc giúp Mỹ trở lại vinh quang vốn có được coi là trách nhiệm cá nhân của ông. Khác với thời Obama, tập trung vào chủ nghĩa quốc tế và can dự vào nhiều điểm nóng trên thế giới để đảm bảo cái gọi là “tự do và dân chủ” mà Mỹ bảo vệ. Trump đã dần chuyển sang chủ nghĩa cô lập, ủng hộ “Nước Mỹ trên hết”, ưu tiên các lợi ích của Mỹ hơn so với lợi ích của các đồng minh và thậm chí là toàn bộ khu vực. Do đó, quan điểm của Trump trong giai đoạn này nhấn mạnh việc đảm bảo tự do hàng hải, duy trì lợi ích an ninh kinh tế của Mỹ ở khu vực, đồng thời không có quốc gia nào có quyền xâm phạm lợi ích của các quốc gia trong khu vực vượt luật pháp quốc tế. Nếu điều đó xảy ra, Mỹ có thể tiếp cận và can thiệp ở khu vực ngay lập tức. Chúng ta có thể nhận ra vài điều về cách tiếp cận của Donald Trump đối với Biển Đông. Thứ nhất, cựu Tổng thống theo đuổi một Biển Đông hòa bình và ổn định, mục tiêu xuất phát từ mong muốn có được các lợi ích kinh tế hơn là xung đột quân sự trên biển. Thứ hai, lập trường của Trump về Biển Đông và các quốc gia khu vực, bao gồm cả Trung Quốc, có thể được nhìn nhận theo hai cách. Khi mới nhậm chức, Trump đã mềm mỏng với các vấn đề ở Biển Đông và ủng hộ một khu vực hòa bình bằng cách sẵn sàng đóng vai trọng tài. Trong giai đoạn quan hệ Mỹ-Trung đối đầu căng thẳng, Biển Đông trở nên hỗn loạn hơn với sự xuất hiện của các tàu chiến Mỹ và các tuyên bố cứng rắn của Mỹ về khu vực. Trong trường hợp Trump thắng cử nhiệm kỳ thứ hai trong bối cảnh thế giới vô cùng bất ổn như hiện nay, Trump có thể đưa ra chiến lược Biển Đông theo hai hướng, kế thừa nó từ chính quyền Biden theo hướng ổn định và kiềm chế tình hình khu vực hoặc “làm nóng” bằng cách đối đầu quyết liệt với Trung Quốc về vấn đề Đài Loan. Cả Trung Quốc và Mỹ đều có tham vọng riêng. Đối với Trung Quốc, lợi ích của nước này ở Biển Đông được coi là lợi ích quốc gia quan trọng. Mặc dù không ảnh hưởng đến sự tồn vong của quốc gia, song nó đóng vai trò quan trọng trong ba phương diện kinh tế, quân sự và là hậu phương của sức mạnh hải quân của nước này. Trong bốn năm cầm quyền, Trump và nội các của ông chưa bao giờ ngừng chỉ trích hành động “bắt nạt” các nước khác của Bắc Kinh. Trong chiến lược quốc phòng mới, tư tưởng bao vây trên biển của Washington coi Biển Đông là trung tâm của Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong hệ thống bao vây và kiềm chế Trung Quốc. Điều này đã được tiếp nối từ nhiệm kỳ của Trump sang Biden, với mỗi chính quyền có cách thực thi khác nhau nhưng mục tiêu dài hạn vẫn giữ nguyên. Do đó, nếu Trump tái đắc cử vào năm 2024, cạnh tranh Mỹ-Trung vẫn sẽ là tình hình chính ở Biển Đông. Tầm quan trọng của bản chất cạnh tranh sẽ không giảm nhưng chiến lược được áp dụng ở đây sẽ khác. Mỹ sẽ đặt nhiều trách nhiệm lên các đối tác khu vực hơn, sẽ có cách tiếp cận khuyến khích từ xa thay vì can dự quân sự trực tiếp dựa trên các cơ chế hiện có như Bộ tứ, liên minh ba bên Australia-Anh-Mỹ (AUKUS), v.v… Vấn đề Đài Loan từ lâu đã được coi là trở ngại lớn nhất trong mối quan hệ giữa hai cường quốc hàng đầu là Mỹ và Trung Quốc do vị thế địa chính trị và kinh tế của hòn đảo này liên quan đến chiến lược của Bắc Kinh. Đài Loan không được công nhận là một quốc gia và trong quá khứ, dưới thời Mao Trạch Đông, Mỹ đã cắt đứt quan hệ với Đài Loan để công nhận Trung Quốc. Tuy nhiên, Đài Loan có giá trị quan trọng đối với Mỹ khi là một vùng lãnh thổ chiến lược, chặn Trung Quốc có thể đi ra ngoài biển. Ngược lại, việc giành lại và thống nhất Đài Loan vào đại lục đã trở thành mong muốn của bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào. Lợi dụng căng thẳng Eo biển Đài Loan năm 2022, Trump đã đưa ra nhiều tuyên bố trên Twitter chỉ trích các chính sách của đương kim Tổng thống Joe Biden. Ngoài ra, Trump cũng đưa ra các tuyên bố về cách nhanh chóng giải quyết các điểm nóng mà Mỹ quan tâm như xung đột Ukraine-Nga, Israel-Hamas và Eo biển Đài Loan. Trong năm 2024, vấn đề Đài Loan cũng sẽ thay đổi với vai trò của tân lãnh đạo Đảng Dân chủ Tiến bộ, ông Lại Thanh Đức. Viễn cảnh trong tương lai của Đài Bắc có thể sẽ bao gồm việc chung sống hòa bình với Đại lục hoặc nếu trong trường hợp hòn đảo này chọn đối đầu, không bao giờ có “một Trung Quốc”, từ đây mở ra một viễn cảnh tương đối mờ nhạt cho khu vực Biển Đông nếu Trump tái đắc cử Tổng thống Mỹ vì quan điểm của ông về Trung Quốc. Trung Quốc sẽ vẫn là đối thủ cạnh tranh chính và lớn nhất của Mỹ, trong khi Đài Loan khó có thể thoát khỏi thế tiến thoái lưỡng nan mà theo bà Rorry Daniels của ‘Business Insider’, “kịch bản ác mộng thật sự đối với Bắc Kinh không nhất thiết là thấy Lại Thanh Đức được bầu làm Tổng thống Đài Loan, mà là sự kết hợp của Lại Thanh Đức và có lẽ là Donald Turmp trở lại Nhà Trắng”, bao gồm cả nội các cũ của ông Trump. Một tương lai khó lường đến từ cả Donald Trump và tình hình thế giới, nhưng Biển Đông vẫn có thể ổn định trước vấn đề Đài Loan vì cả Trung Quốc và Mỹ đều nhìn thấy lợi ích từ việc mở cửa khu vực, vai trò thương mại quan trọng của tuyến đường Biển Đông với Bắc Kinh. Đầu năm 2024, trong thông điệp mừng năm mới, Tập Cận Bình đã khẳng định rằng “Thống nhất đất nước là điều tất yếu lịch sử, đồng bào hai bên chung tay, chung lòng, cùng nhau chia sẻ vinh quang vĩ đại của sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa” cho thấy Trung Quốc hiện đã đủ tỉnh táo trong vấn đề giành lại Đài Loan một cách hòa bình. Tuy nhiên, căng thẳng ở Hoàng Hải giữa Hàn Quốc và Triều Tiên đã nhen nhóm trở lại. Rất có thể vấn đề phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên sẽ là ưu tiên hàng đầu nếu Trump đắc cử. Điều này cũng có nghĩa là các quan ngại ở Biển Đông sẽ giảm bớt hoặc Mỹ sẽ đẩy trách nhiệm và tăng vai trò của các đối tác đồng minh của họ về các vấn đề ở Biển Đông./.
Hiệp ước phòng thủ giữa Philippines và Mỹ trở thành tâm điểm chú ý khi Trung Quốc liên tục đụng độ với quốc gia Đông Nam Á này ở Biển Đông trong những tháng gần đây. Ngoài ra, còn có đồn đoán về việc liệu Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. có kích hoạt Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng (EDCA), một trong những hiệp ước quốc phòng song phương của Manila với Washington, liên quan đến việc bảo vệ Đài Loan hay không.
Một thuyền đánh cá Philippines gần bãi cạn Scarborough. Ảnh: AFP.
“Lằn ranh đỏ” giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông
Theo Hiệp ước phòng thủ chung năm 1951, Manila và Washington được yêu cầu phải hỗ trợ quân sự cho nhau trong trường hợp bị tấn công vũ trang bởi một quốc gia thứ ba, có thể bao gồm các cuộc tấn công của Trung Quốc vào tàu bảo vệ bờ biển của Philippines. Tàu Trung Quốc đã nhiều lần đối đầu và giao tranh dữ dội với tàu Philippines vào mùa Xuân và mùa Hè này. Trong cuộc họp với Tổng thống Philippines Marcos Jr. và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida vào tháng 4 vừa qua tại Washington D. C., Tổng thống Mỹ Joe Biden đã khẳng định sự ủng hộ “sắt đá” đối với hiệp ước với Philippines, bao gồm cả việc bảo vệ lực lượng bảo vệ bờ biển của nước này, đồng thời nhấn mạnh lập trường của Mỹ về an ninh khu vực.
Những lo ngại nghiêm trọng về khả năng Philippines viện dẫn hiệp ước này đã nảy sinh vào tháng 6 vừa qua, khi căng thẳng bùng phát ở Biển Đông do Trung Quốc thực thi Luật hải cảnh năm 2021, theo đó có thể bắt và giam giữ những công dân nước ngoài bị cho là xâm nhập trái phép các khu vực thuộc yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh. Tổng thống Marcos Jr. cho rằng việc thực thi quy định mới là hành động “leo thang” và “khác biệt” so với bất kỳ quy định nào Bắc Kinh từng áp dụng trong khu vực này. Ông tiếp tục cảnh báo rằng “lằn ranh đỏ” sẽ bị vượt qua nếu một công dân Philippines bị sát hại vì căng thẳng leo thang. Ông cho rằng những đợt bùng phát bạo lực gần đây nhất rất gần với hành động chiến tranh.
Bắc Kinh khẳng định quyền lãnh thổ đối với 90% diện tích Biển Đông, theo yêu sách hàng hải mà họ gọi là “đường đứt đoạn”, cho dù các yêu sách không được luật pháp quốc tế công nhận. Hàng trăm hòn đảo và rạn san hô nằm trong khu vực này thuộc Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) trên biển của Philippines. Những EEZ này được xác định và phê chuẩn như một phần của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982, có hiệu lực vào năm 1994 và tạo cơ sở cho chủ quyền hàng hải trên toàn thế giới. Trung Quốc cũng tham gia thỏa thuận này.
Năm 2016, tòa án quốc tế tại La Haye đã ra phán quyết có lợi cho Philippines trong việc thực thi quyền tài phán đối với vùng biển và đất liền thuộc EEZ của nước này. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã phớt lờ phán quyết nói trên. Trong cuộc chạm trán dữ dội giữa tàu Trung Quốc và Philippines ngày 17/6, một quân nhân hải quân Philippines đã bị thương khi tàu Trung Quốc cố ý lao vào tàu Philippines với tốc độ cao. Cuộc đối đầu cũng liên quan đến việc các thủy thủ Trung Quốc vung rìu và dao trong khi tịch thu một số súng trường của hải quân Philippines. Gần đây nhất, vào giữa tháng 8, Trung Quốc còn tham gia vụ đâm vào tàu của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines.
Hành động và phản ứng
Bất chấp sự gây hấn công khai của Trung Quốc, Tổng thống Marcos Jr. vẫn không cho rằng những sự cố như vậy là động thái vượt qua “ranh giới đỏ” khiến Manila và Washington phải hành động theo nghĩa vụ hiệp ước. Bộ Ngoại giao Mỹ cáo buộc Trung Quốc có hành động nguy hiểm và vô trách nhiệm nhằm cản trở Philippines tiến hành các hoạt động hàng hải hợp pháp ở Biển Đông. Tuy nhiên, Tổng thống Marcos Jr. nhiều lần khẳng định rằng ông sẽ tìm kiếm các biện pháp hòa bình để giải quyết xung đột ở Biển Đông và không tìm cách khiến căng thẳng leo thang thành chiến tranh.
Để thực hiện mục tiêu này, Tổng thống Marcos Jr. đã mở các kênh liên lạc cấp cao mới với Bắc Kinh, và các đường dây nóng của tổng thống sẽ được sử dụng để ngăn các cuộc đối đầu trên biển vượt khỏi tầm kiểm soát. Ngày 21/7, Philippines và Trung Quốc tạm thời nhất trí về việc Manila thường xuyên tiếp tế cho quân đội Philippines đồn trú trên một tàu mắc cạn tại bãi Cỏ Mây (quốc tế gọi là Second Thomas Shoal), tâm chấn của các vụ bạo lực vào tháng 6 vừa qua. Hai bên cũng chính thức nhất trí giảm leo thang và quản lý bất đồng thông qua đối thoại và tham vấn, chủ yếu nhờ vào các sáng kiến mà Tổng thống Marcos Jr. đề xuất với Bắc Kinh.
Hợp tác Mỹ-Philippines về các vấn đề an ninh lớn hơn
Trong khi Tổng thống Marcos Jr. tiếp tục các nỗ lực gìn giữ hòa bình, Washington đã kêu gọi thảo luận một loạt biện pháp an ninh khu vực lớn hơn với Manila. Các cuộc tham vấn cấp bộ trưởng trong khuôn khổ 2+2, với sự tham gia của bộ trưởng quốc phòng và bộ trưởng ngoại giao hai nước, đã được tổ chức tại Manila hôm 30/7.
Đáng chú ý, đây chỉ là lần thứ tư các cuộc họp trong khuôn khổ 2+2 được khởi xướng kể từ năm 2012, khi nó được đưa ra thảo luận lần đầu tiên. Trong lần gần đây nhất, hai bên đã thảo luận về việc tăng cường các cam kết liên minh, bao gồm việc ủng hộ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, tăng cường quan hệ kinh tế, thúc đẩy sự thịnh vượng trên diện rộng, và tìm kiếm giải pháp cho các thách thức an ninh khu vực và toàn cầu ngày càng lớn. Họ cũng nhất trí rằng Mỹ sẽ cung cấp 500 triệu USD cho Manila để thực hiện các biện pháp an ninh, củng cố các thỏa thuận song phương và tuyên bố rằng các cuộc tham vấn 2+2 từ nay sẽ được tổ chức hằng năm, với cuộc họp tiếp theo sẽ diễn ra vào năm 2025 tại Washington.
Quan hệ an ninh và chính trị giữa Philippines và Mỹ đã được cải thiện đáng kể kể từ khi Tổng thống Marcos Jr. lên nắm quyền vào năm 2022. Trong thời gian đó, Mỹ đã được tiếp cận thêm 4 địa điểm quân sự theo EDCA.
Chương trình này đã phải đối mặt với sự phản đối chính trị đáng kể trước khi ra đời. Việc triển khai vào năm 2014 và mở rộng vào năm 2023 phụ thuộc vào sự ủng hộ của các tổng thống Philippines ngả về phía Mỹ. Thách thức đối với mối quan hệ này chủ yếu đến từ Tổng thống Rodrigo Duterte, người tiền nhiệm của Marcos Jr. Vị tổng thống này đã đưa Manila rời xa mối quan hệ truyền thống gắn bó chặt chẽ với Washington trong nỗ lực vun đắp mối quan hệ với Bắc Kinh và Moskva.
Mối quan hệ chặt chẽ hơn với Bắc Kinh được thiết lập lần đầu tiên dưới thời Tổng thống Gloria Macapagal-Arroyo trong giai đoạn 2001-2010 mà Chính phủ Philippines và Chính phủ Trung Quốc đều gọi là “Thời kỳ hoàng kim”. Mặc dù Arroyo tuân thủ nguyên trạng trong các mối liên hệ an ninh với Mỹ, nhưng mục tiêu chính của bà trong việc vun đắp mối quan hệ nồng ấm hơn với Trung Quốc lại là mục tiêu kinh tế.
Chính phủ Philippines nhiệm kỳ tiếp theo, dưới thời Tổng thống Benigno Aquino III giai đoạn 2010-2016, đã tìm cách tăng cường đáng kể hợp tác quốc phòng với Mỹ, bao gồm cả việc thiết lập chương trình EDCA đầu tiên. Chương trình này bao gồm 5 căn cứ quân sự và cho phép tiếp nhận luân phiên quân đội Mỹ, tất cả đều được bố trí ở các khu vực phía Nam và trung tâm của Philippines. Mục đích chính là hỗ trợ quân đội Philippines trong các hoạt động nội bộ, bao gồm cả việc chống lại các cuộc nổi loạn và khủng bố Hồi giáo, đặc biệt phổ biến ở các đảo cực Nam Mindanao và Jolo. Trong khi đàm phán EDCA với Washington, Aquino cũng đã đệ đơn lên Tòa trọng tài tại La Haye về vấn đề Biển Đông.
Trong khi đó, Chính phủ Philippines giai đoạn 2016-2022 dưới thời Tổng thống Duterte lại làm cả thế giới kinh ngạc với sự thay đổi chưa từng có trong quan hệ với Washington. Vị tổng thống nóng tính này đã kêu gọi hiện đại hóa lực lượng vũ trang Philippines trong các thỏa thuận với Nga và Trung Quốc, trước khi đi đến ký thỏa thuận hợp tác quốc phòng và kỹ thuật với Moskva.
Tổng thống Duterte cũng đã tìm cách hủy bỏ Hiệp định các lực lượng thăm viếng (VFA) năm 1998 giữa Philippines và Mỹ, mà nền tảng thực thi là EDCA. Mặc dù EDCA không bị hủy bỏ, nhưng Tổng thống Duterte đã trì hoãn việc triển khai cho đến gần cuối nhiệm kỳ, khi ông rút khỏi việc chấm dứt VFA. Tổng thống Duterte phần lớn đã thất bại trong chiến lược ve vãn Bắc Kinh. Các hành động khiêu khích của Trung Quốc vẫn tiếp diễn, và lời hứa đầu tư vào Philippines vẫn chưa được thực hiện. Đến cuối nhiệm kỳ, Duterte lại tìm cách khởi xướng việc khôi phục quan hệ truyền thống với Mỹ.
Marcos Jr. thăm Washington
Vào đầu nhiệm kỳ của Tổng thống Marcos Jr. năm 2022, đã xuất hiện nhiều đồn đoán về việc liệu tân Tổng thống có theo đuổi nước cờ ban đầu của người tiền nhiệm là thắt chặt quan hệ với Trung Quốc hay không. Cả hai đều thuộc cùng một đảng chính trị, trong khi Phó Tổng thống Sara Duterte lại là con gái của người tiền nhiệm.
Tuy nhiên, những gì diễn ra lại hoàn toàn khác. Chỉ trong vài tháng sau khi lên nắm quyền, Tổng thống Marcos Jr. đã bắt tay vào việc tái thiết lập quan hệ quân sự với Washington, trở thành vị tổng thống Philippines đầu tiên đến thăm thủ đô của Mỹ sau 10 năm. Ông cũng đề xuất thành lập thêm 4 căn cứ theo EDCA. Không giống như các căn cứ ban đầu, các căn cứ mới chủ yếu nằm ở phía Bắc đất nước, bao gồm Căn cứ hải quân Camilo Osias và Căn cứ không quân Lal-lo ở tỉnh ven biển Cagayan, đối diện đảo Đài Loan, trong khi Trại Melchor Dela Cruz nằm ở tỉnh nội địa phía Bắc Isabela. Trên thực tế, 3 trong số 4 căn cứ mới đều nằm ở các vị trí địa lý mang tính chiến lược, gần Đài Loan. Điều này sẽ cho phép lực lượng Mỹ đồn trú tại đó phản ứng sớm trong trường hợp Bắc Kinh có khả năng xâm lược hòn đảo tự trị này.
Chỉ có 1 trong 4 căn cứ mới, trên đảo Balabac ở Palawan, nằm ở Biển Đông. Tuy nhiên, căn cứ này không có bất kỳ cơ sở hạ tầng nào có khả năng hỗ trợ nhiều cho hoạt động quân sự trong khu vực. Điều đó làm dấy lên suy đoán liệu đó có phải chỉ là một cử chỉ mang tính tượng trưng của Mỹ nhằm xoa dịu tư tưởng chống Mỹ ở Philippines – đặc biệt là của các nhóm vận động hành lang theo chủ nghĩa dân tộc – liên quan đến việc bố trí 3 căn cứ kia hay không. Xét đến vị trí của hầu hết các căn cứ mới, cùng với cuộc tập trận quy mô lớn gần đây mang tên “Balikatan” (có nghĩa là “vai kề vai” trong tiếng Tagalog) giữa Mỹ và Philippines tại Cagayan và quần đảo Batanes ở xa hơn về phía Bắc Luzon, có thể nói giai đoạn EDCA thứ hai phản ánh sự thỏa hiệp với Mỹ nhiều hơn là lợi ích của Philippines.
Lập trường của Tổng thống Marcos Jr. cũng làm dấy lên hồi chuông cảnh báo đối với các chính trị gia ở một số tỉnh có căn cứ quân sự, cũng như các nhà lập pháp quốc gia vốn lo ngại rằng đất nước có thể bị lôi kéo vào một cuộc đối đầu quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc về Đài Loan. EDCA đã trải qua nhiều thay đổi lớn trong thập kỷ qua, nhưng không theo cách dễ đoán và trực tiếp. Cách thức áp dụng trong tương lai gần sẽ phụ thuộc vào việc Tổng thống Marcos Jr. sử dụng nó vì lợi ích của Philippines và khu vực hay vì lợi ích của Mỹ trong cuộc cạnh tranh địa chính trị với Trung Quốc và khả năng bảo vệ Đài Loan./.
Tăng cường lực lượng hải quân là một nhiệm vụ cấp bách của Triều Tiên, nhà lãnh đạo Kim Jong-un cho biết trong chuyến thăm thực địa.
Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un.
Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đến thăm công trường xây dựng một “căn cứ hải quân hiện đại” mới và cam kết sẽ phát triển hơn nữa lực lượng hải quân. Ông cho biết vị trí của cơ sở mới sẽ mang lại cho Bình Nhưỡng một lợi thế chiến lược.
Cuối năm ngoái, ông Kim ra lệnh cho ngành công nghiệp sản xuất vũ khí và quân sự của Triều Tiên “tăng tốc hơn nữa công tác chuẩn bị chiến tranh” trước những gì ông mô tả là hành động đối đầu “chưa từng có” của Mỹ và các đồng minh khu vực.
Kể từ đó, Triều Tiên tăng cường các cuộc thử nghiệm tên lửa và công bố một bệ phóng tên lửa nhiều nòng mới và máy bay không người lái cảm tử, cùng với các loại vũ khí khác.
Hãng thông tấn Trung ương Triều Tiên (KCNA) đưa tin về chuyến thị sát công trường xây dựng cảng của ông Kim. Hãng này trích lời nhà lãnh đạo Triều Tiên chỉ ra việc phát triển một lực lượng hải quân hiện đại là ưu tiên cấp bách, xét đến “môi trường an ninh khu vực”.
Ông Kim cũng chỉ ra rằng việc một quốc gia như Triều Tiên đặc biệt chú trọng vào khu vực cụ thể này là điều tự nhiên, vì CHDCND Triều Tiên “được biển bao bọc ở phía đông và phía tây”.
Ngoài ra, ông nói thêm rằng với các tàu chiến và tàu ngầm lớn hơn và hiện đại hơn, dự kiến sẽ được hải quân đưa vào sử dụng trong tương lai gần, một căn cứ có khả năng tiếp nhận số trang bị này là điều cấp thiết.
Ông cũng tiết lộ kế hoạch xây dựng một “thành phố cảng hiện đại” sẽ đóng vai trò là căn cứ cho hải quân Triều Tiên.
Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản đã nhiều lần cáo buộc Triều Tiên làm gia tăng căng thẳng không cần thiết trong khu vực bằng các cuộc thử tên lửa và các hành động phô trương sức mạnh khác. Đổi lại, Bình Nhưỡng khẳng định rằng các chương trình quân sự của họ hoàn toàn mang tính phòng thủ và nhằm mục đích chống lại mối đe dọa từ bên ngoài. Triều Tiên nhiều lần trích dẫn các cuộc tập trận chung giữa Mỹ-Hàn Quốc và Mỹ-Nhật Bản gần nước này.
Một tạp chí của Đức đưa tin đầu tiên và các hãng truyền thông nước ngoài dẫn lại nhưng phía chính phủ Đức không xác nhận cũng không phủ nhận việc hai tàu chiến nước này sắp đi qua eo biển Đài Loan.
Tàu chiến Baden-Württemberg của Đức
Đây là hai tàu đã tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương từ cách đây vài tháng để tham gia các cuộc tập trận hải quân chung với hải quân Indonesia, Malaysia, Singapore, Philippines, Pháp, Mỹ, Ý và Nhật Bản.
Ngay từ tháng 8 vừa qua, Reuters đã đưa tin hai tàu chiến của Đức chờ lệnh đi qua eo biển Đài Loan. Cho tới nay, tàu chiến của Mỹ, Canada và một số quốc gia khác vẫn thường đi qua eo biển này. Nếu tới đây, tàu chiến Đức đi qua eo biển Đài Loan thì sẽ là lần đầu tiên kể từ năm 2002.
Chỉ là dự định không thôi chứ chưa phải là hành động cụ thể cũng đã đủ để khiến mối quan hệ giữa Đức và Trung Quốc bị ảnh hưởng tiêu cực. Sự khác biệt quan điểm ở chỗ Trung Quốc coi eo biển này là vùng nội thủy trong khi Đức và các nước nói trên coi là tuyến đường hàng hải quốc tế. Trung Quốc là đối tác kinh tế và thương mại rất quan trọng của Đức nhưng giống như EU nói chung và nhiều nước phương Tây khác, Đức dè chừng và đối phó Trung Quốc trên nhiều phương diện, đồng thời muốn tiếp cận và chinh phục khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Để đạt những mục tiêu này, Đức cũng chủ trương gây dựng và tăng cường sự hiện diện trực tiếp ở khu vực về chính trị, kinh tế, thương mại và đặc biệt về quân sự cũng như chính trị an ninh. Trong cục diện tình hình ấy, đưa tàu chiến đi qua eo biển Đài Loan luôn được họ nhìn nhận là phép thử ứng phó Trung Quốc.
Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đoàn đại biểu thăm chính thức Mỹ từ ngày 6 – 11/9.
Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Nhận lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin, đoàn đại biểu cấp cao Bộ Quốc phòng Việt Nam do Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu thăm chính thức Mỹ từ ngày 6 đến 11/9.
Chuyến thăm của Đại tướng Phan Văn Giang và đoàn đại biểu cấp cao Bộ Quốc phòng Việt Nam nhằm đáp lại chuyến thăm chính thức Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin vào tháng 7/2021; đồng thời trao đổi các vấn đề thế giới, khu vực cùng quan tâm, qua đó tăng cường lòng tin chiến lược và thúc đẩy hơn nữa hợp tác quốc phòng giữa hai nước, phù hợp với nội hàm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Mỹ, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Tàu sân bay thứ 3 và là chiếc tiên tiến nhất của hải quân Trung Quốc, CNS Phúc Kiến ngày 3/9 đã hạ thủy lần thứ 4 để thực hiện cuộc thử nghiệm trên biển mới sau khi ra khơi cách đây 2 năm.
Theo Newsweek, con tàu được đặt theo tên tỉnh Phúc Kiến, phía đông nam Trung Quốc. Các bức ảnh lan truyền trên mạng cho thấy, tàu CNS Phúc Kiến đã rời xưởng đóng tàu Giang Nam của Thượng Hải, nơi nó được đóng. Ít nhất hai máy bay trên tàu sân bay và nhiều công-ten-nơ có cửa sổ được đặt trên sàn bay phẳng của con tàu.
Tàu sân bay Phúc Kiến do Trung Quốc thiết kế và chế tạo hoàn toàn, được hạ thủy vào 17/6/2022 tại xưởng đóng tàu Giang Nam. Đây là tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc sử dụng máy phóng để máy bay cất cánh. Các tàu sân bay trước đó của Trung Quốc là CNS Liêu Ninh và CNS Sơn Đông sử dụng đường dốc cất cánh kiểu trượt tuyết.
Tàu chiến chưa được đưa vào biên chế này là tàu sân bay lớn nhất trong ba tàu, với lượng giãn nước hơn 80.000 tấn khi đầy tải, trong khi Liêu Ninh và Sơn Đông là 60.000 đến 70.000 tấn. Các tàu sân bay của hải quân Mỹ, với 11 chiếc đang hoạt động, có trọng tải 100.000 tấn.
Tàu Phúc Kiến có hệ thống máy phóng điện từ tương tự như tàu sân bay lớp Gerald R. Ford của Hải quân Hoa Kỳ. Đây là tàu thứ hai trên thế giới, sau tàu USS Gerald R. Ford, sở hữu công nghệ như vậy. Tuy nhiên, tàu Phúc Kiến có ba đường phóng so với bốn đường phóng của tàu Gerald R. Ford.
Các nhà quan sát cho biết, thời gian thử nghiệm của tàu Phúc Kiến đã tăng lên, cho thấy kết quả tích cực mỗi lần. Hôm qua (3/9), cơ quan quản lý hàng hải của tỉnh ven biển Liêu Ninh đã ban hành cảnh báo hàng hải, thiết lập một khu vực hạn chế dành cho hoạt động quân sự ở phía bắc biển Hoàng Hải. Theo giới quan sát, khu vực này là nơi tàu Phúc Kiến sẽ có chuyến đi thử nghiệm.
Quân đội Trung Quốc không công bố thời điểm bắt đầu thử nghiệm, nhưng một phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng cho biết hôm 25/7 rằng, các cuộc thử nghiệm tiếp theo có liên quan của tàu Phúc Kiến “sẽ được thực hiện dựa trên quá trình xây dựng”.
Thêm nhiều chuyển động quân sự tiếp tục diễn ra tại Biển Đông và khu vực xung quanh như những cơn sóng ngầm tiềm ẩn căng thẳng giữa một số bên.
Hình ảnh về cuộc tập trận chung của Mỹ, Philippines, Úc và Canada ở Biển Đông vào ngày 7.8
Hôm qua (10.8), Reuters dẫn lời Tư lệnh lực lượng vũ trang Philippines Romeo Brawner đưa ra cùng ngày để cực lực lên án “các hành động nguy hiểm và khiêu khích” của không quân Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough.
Tập trận căng thẳng Cụ thể, theo thông cáo trên, 2 máy bay của không quân Trung Quốc đã “thực hiện một động tác nguy hiểm và thả pháo sáng” trên đường bay của một máy bay cánh quạt NC-212i của không quân Philippines. Vụ việc xảy ra khi máy bay Philippines đang thực hiện tuần tra hàng hải định kỳ trên bãi cạn Scarborough vào ngày 10.8. Tư lệnh Romeo Brawner cho rằng hành động của phía Trung Quốc “gây nguy hiểm cho tính mạng của những người bên phía Philippines”. Theo Reuters, phía Trung Quốc chưa phản hồi cáo buộc trên.
Trong khi đó, tờ Hoàn Cầu thời báo dẫn thông báo từ Chiến khu nam Trung Quốc cho biết lực lượng này ngày 7.8 tổ chức một cuộc tuần tra sẵn sàng tác chiến ở Biển Đông nhằm thể hiện sự phản ứng cuộc tập trận chung của Philippines, Mỹ, Úc và Canada trong khu vực. Tờ báo dẫn lời một số chuyên gia Trung Quốc cho rằng cuộc tuần tra sẵn sàng tác chiến trên nhằm gửi cảnh báo tới các bên liên quan trong khu vực. Cuộc tuần tra vừa nêu cũng diễn ra tại khu vực bãi cạn Scarborough. Theo tờ Hoàn Cầu thời báo, động thái này của Trung Quốc được cho là còn nhằm phản ứng cuộc tập trận chung của Philippines và Nhật Bản diễn ra hồi tuần trước. Đầu tháng 7, Tokyo và Manila đã đạt thỏa thuận quan trọng để tăng cường hợp tác quân sự song phương ở mức độ chưa từng có giữa hai bên.
Tại sao Mỹ tăng cường thực lực tên lửa? Tuy nhiên, không chỉ có các cuộc tập trận trên vừa diễn ra ở Biển Đông. Tờ South China Morning Post đưa tin Mỹ và Philippines ngày 9.8 vừa tiến hành cuộc tập trận chung tại một căn cứ ở Philippines có hướng ra Biển Đông. Trong cuộc tập trận này, phía Mỹ đã khai hỏa Hệ thống pháo phản lực cơ động cao M142 (HIMARS) với giả định phòng thủ trong tình huống bao gồm một cuộc xung đột có thể xảy ra ở Biển Đông đe dọa chủ quyền của Philippines.
Trả lời Thanh Niên hôm qua (10.8), TS Satoru Nagao (Viện Nghiên cứu Hudson, Mỹ) phân tích: “Mỹ đang triển khai HIMARS và tiến hành các cuộc tập trận chung với Philippines. Cuộc tập trận chung này cho thấy các chiến thuật mới của Mỹ tại khu vực”.
Theo TS Nagao, Trung Quốc thời gian qua mở rộng tầm bắn tên lửa nên các căn cứ của Washington ở khu vực gặp rủi ro vì nằm trong tầm tấn công của Bắc Kinh. Vì thế, Washington đã tiến hành một số bước. Trong đó, lực lượng quân đội Mỹ ở khu vực đã tăng cường khả năng cơ động và triển khai các căn cứ luân phiên. Theo chiến thuật như vậy, Mỹ đang tổ chức các cuộc tập trận chung ở nhiều nơi. Đặc biệt là ở Philippines và Nhật Bản, vốn liên quan trực tiếp biển Hoa Đông và Biển Đông. Vào tháng 4 vừa qua, Mỹ triển khai hệ thống tên lửa tầm trung (MRC) tới Philippines lần đầu tiên. Hệ thống này có thể phóng tên lửa hành trình Tomahawk và tên lửa đối không SM-6. Mới nhất, Mỹ đã bắn thử HIMARS khi tập trận cùng Philippines.
“MRC có thể phóng tên lửa tầm xa hơn 1.000 km. Còn HIMARS có thể phóng tên lửa có tầm xa tối đa 300 km. Tuy có tầm bắn khác nhau, nhưng cả hai đều có khả năng chống lại tàu chiến và mục tiêu trên bộ. Cả MRC lẫn HIMARS đều có thể được vận chuyển bằng máy bay vận tải như C-17, nên có thể được triển khai và tái triển khai nhanh chóng. Là một căn cứ triển khai luân phiên, những tên lửa này là phù hợp. Nhờ đó, MRC và HIMARS rất khó bị xác định vị trí, tạo áp lực lớn lên đối thủ”, TS Nagao đánh giá.
“Hiện tại, cả lục quân và thủy quân lục chiến Mỹ đều đang thành lập đơn vị tác chiến các loại tên lửa trên. Trong tương lai gần, số lượng các đơn vị như vậy sẽ tăng lên và chúng sẽ là lực lượng chủ lực cùng với tàu hải quân và máy bay ném bom”, chuyên gia Nagao dự báo.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Philippines mong muốn đưa hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam – Philippines ngày càng phát triển thực chất và hiệu quả.
Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro.
Ngày 23/7, tại trụ sở Bộ Quốc phòng Philippines, đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Việt Nam do Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đã đến chào xã giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro.
Bộ trưởng Gilberto Teodoro gửi lời chia buồn sâu sắc và chân thành với Việt Nam trước sự ra đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; cho rằng đây là mất mát to lớn và tin tưởng Việt Nam sẽ sớm vượt qua để tiếp tục công cuộc phát triển đất nước.
Bộ trưởng Gilberto Teodoro hoan nghênh Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến và đoàn sang thăm Philippines, tham dự Đối thoại Chính sách quốc phòng Việt Nam – Philippines lần thứ 6; khẳng định, Philippines rất coi trọng việc củng cố và tăng cường hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược với Việt Nam, quyết tâm cùng Việt Nam đưa quan hệ song phương giữa hai nước lên một tầm cao mới, sâu rộng, toàn diện, bền vững, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng của khu vực và thế giới.
Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến khẳng định, Việt Nam và Philippines là hai nước láng giềng chung đường biên giới trên biển và cùng là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Cộng đồng ASEAN. Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược năm 2015 và chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr. vào tháng 1-2024 là những dấu mốc quan trọng tạo động lực và cơ hội để phát triển quan hệ hữu nghị hai nước ngày càng thực chất và hiệu quả.
Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đã thông báo tới Bộ trưởng Gilberto Teodoro về kết quả Phiên Đối thoại Chính sách Quốc phòng lần thứ 6, với những nội dung thúc đẩy tham vấn và đối thoại hiệu quả, duy trì trao đổi thông tin và đào tạo; tăng cường hợp tác trên biển; cứu hộ cứu nạn, ứng phó thảm họa thiên tai, phòng, chống tội phạm, đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống…
Bộ trưởng Gilberto Teodoro đánh giá cao kết quả Đối thoại Chính sách quốc phòng lần thứ 6 mà hai bên vừa tổ chức, đề nghị hai bên tích cực triển khai hiệu quả các nội dung hợp tác đã được hai Trưởng đoàn Đối thoại Chính sách quốc phòng lần thứ 6 thống nhất, đưa hợp tác quốc phòng giữa hai nước ngày càng phát triển thực chất, hiệu quả, góp phần làm sâu sắc hơn mối quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam – Philippines.
Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ của Bộ trưởng Gilberto Teodoro đối với các lĩnh vực còn nhiều tiềm năng giữa hai Bộ Quốc phòng như: An ninh, an toàn hàng hải; hợp tác giữa các cơ quan, viện nghiên cứu; hậu cần; quân y; hợp tác cứu hộ – cứu nạn trên biển; gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; công nghiệp quốc phòng.
Mong muốn lãnh đạo Bộ Quốc phòng Philippines ủng hộ các sự kiện do Việt Nam tổ chức, đặc biệt là những hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam lần thứ hai vào tháng 12/2024.
Cùng ngày, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến và đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Việt Nam đã đến thăm trụ sở Bộ tư lệnh Hải quân Philippines.
Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đánh giá cao kết quả hợp tác giữa Hải quân hai nước thời gian qua, nổi bật là các hoạt động như: Trao đổi đoàn, tiếp xúc thường xuyên, duy trì hiệu quả cơ chế Tham vấn Hải quân, giao lưu giữa hai lực lượng, trao đổi tình hình, phối hợp hỗ trợ ngư dân hai nước gặp nạn trên biển.
Bộ Quốc phòng Việt Nam luôn ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi để Hải quân hai nước nói riêng, các lực lượng thực thi pháp luật hai bên nói chung tăng cường giao lưu, hợp tác, đồng thời đề nghị hải quân hai nước tăng cường chia sẻ thông tin, tình hình, hỗ trợ kịp thời ngư dân gặp nạn trên biển, đóng góp tích cực cho an ninh, an toàn hàng hải trong khu vực.
Lãnh đạo Bộ tư lệnh Hải quân Philippines bày tỏ nhất trí với những nội dung mà Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến chia sẻ; nhất trí tăng cường, thúc đẩy hợp tác hải quân giữa hai nước, nhất là hợp tác cứu hộ cứu nạn, chia sẻ thông tin, ứng phó thảm họa thiên tai, phòng, chống tội phạm, đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, hỗ trợ ngư dân gặp nạn và tuyên truyền cho ngư dân hai nước về các quy định đánh bắt, khai thác trên biển.
Tàu ngầm Trung Quốc được trang bị vũ khí laser có thể tiêu diệt vệ tinh Starlink của Công ty SpaceX (Mỹ), theo nghiên cứu của các nhà khoa học quân đội Trung Quốc.
Tàu ngầm của Trung Quốc
Trong nghiên cứu nói trên, một tàu ngầm Trung Quốc, với vũ khí laser rắn và có công suất lên tới nhiều megawatt được lắp đặt ở phần giữa của tàu, có thể ở trong tình trạng đang lặn khi nâng một “cột quang điện tử” lên khỏi mặt nước để bắn vào các vệ tinh, trước khi lặn xuống sâu hơn, theo tờ South China Morning Post (SCMP) hôm nay 20.7.
Loại tàu ngầm tấn công bằng laser này có thể được sản xuất hàng loạt trong tương lai và triển khai ở nhiều đại dương khác nhau để chống lại các mối đe dọa quân sự đối với Trung Quốc, theo Giáo sư Vương Đạm thuộc Học viện Tàu ngầm Hải quân (Trung Quốc), dẫn đầu nghiên cứu nói trên. Nghiên cứu mới được đăng trên tạp chí Command Control & Simulator trong tháng trước.
Các nhà khoa học Trung Quốc đánh giá rằng đối với các nhiệm vụ chống vệ tinh, thách thức lớn nhất không phải là bắn trúng vệ tinh mà là che giấu cuộc tấn công.
“Hiện nay, phương tiện chính của các hoạt động chống vệ tinh dựa vào tên lửa đất đối không, nhưng cách tiếp cận này có một số vấn đề nhất định, chủ yếu là về khả năng che giấu”, bà Vương cùng và các đồng nghiệp viết trong nghiên cứu.
Những cuộc phóng tên lửa thường kèm theo vệt khói dài. Tiến hành tấn công từ vị trí trên mặt đất có thể dễ dàng làm lộ vị trí của mình, dẫn đến bị hỏa lực của đối phương tiêu diệt. Điều này “quá rủi ro”, theo nhóm nghiên cứu.
Vệ tinh cũng ngày càng nhỏ hơn. “Lấy các vệ tinh do chương trình Starlink phóng lên làm ví dụ, chúng rất nhiều, dày đặc và có kích thước nhỏ, khiến mạng lưới vệ tinh có khả năng phục hồi cực kỳ cao. Ngay cả khi một số lượng đáng kể các vệ tinh bị phá hủy, vẫn còn có những vệ tinh dư thừa để thay thế chúng. Từ đó cho thấy việc sử dụng tên lửa để tấn công các vệ tinh như thế là rất kém hiệu quả. Vũ khí laser được phóng từ tàu ngầm có thể giải quyết những vấn đề này”, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh.
Nghiên cứu mới cũng đưa ra hướng dẫn từng bước về cách tấn công các vệ tinh giống Starlink từ biển.
“Đầu tiên, một hoặc một số tàu ngầm được trang bị vũ khí laser sẽ được triển khai tới vùng biển mà cuộc tấn công sẽ được tiến hành. Tàu ngầm tiến vào vùng biển đó theo hướng dẫn của chỉ huy và chờ đợi các vệ tinh di chuyển vào phạm vi tấn công. Thời gian nâng vũ khí laser được xác định dựa trên thời gian vệ tinh di chuyển đã được thu thập trước đó”, nhóm nghiên cứu viết.
“Khi vệ tinh đi vào phạm vi có thể tấn công, vũ khí laser sẽ được nâng lên. Do hạn chế về thiết bị phát hiện của tàu ngầm, những lực lượng khác buộc phải cung cấp hướng dẫn vị trí vệ tinh để tàu ngầm tấn công vệ tinh. Sau khi tấn công, tàu ngầm có thể lặn xuống chờ nhiệm vụ tiếp theo hoặc quay về cảng nhà”, nhóm nghiên cứu viết.
Dù Trung Quốc hợp tác với tỉ phú Mỹ Elon Musk về xe điện nhưng họ xem Công ty SpaceX của ông là một mối đe dọa, theo SCMP.
SCMP dẫn số liệu chính thức được công bố trong tháng này cho hay Trung Quốc có hơn 900 vệ tinh trên quỹ đạo. Con số đó của Mỹ gấp 7 lần, trong đó có nhiều vệ tinh Starlink.
Trong năm 2021, hai vệ tinh Starlink đã tiếp cận trạm vũ trụ Trung Quốc một cách nguy hiểm, khiến các phi hành gia phải bắt đầu thủ tục sơ tán khẩn cấp. Vụ việc đã thuyết phục Bắc Kinh rằng Mỹ có thể sử dụng những vệ tinh giá rẻ này để tấn công các tài sản không gian đắt tiền của Trung Quốc, theo SCMP.
Quân đội Trung Quốc và Nga tổ chức cuộc tập trận chung mang tên “Liên hợp trên biển – 2024” (Maritime Joint – 2024) từ đầu cho đến giữa tháng 7.
Một cuộc tập trận chung của Trung Quốc – Nga trên biển.
Cuộc tập trận tổ chức tại vùng biển và vùng trời gần Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, diễn ra theo kế hoạch thường niên và sự đồng thuận giữa Trung Quốc và Nga, nhằm tăng cường hơn nữa sự hợp tác giữa quân đội hai nước.
Lực lượng tham gia diễn tập chung của hai nước đã tập trung đầy đủ vào hôm qua (12/7).
Theo Tân Hoa xã, cuộc trận này có chủ đề “Cùng đối phó với các mối đe dọa an ninh trên biển”, với mục đích thể hiện quyết tâm và khả năng của cả hai bên trong việc ứng phó với các mối đe dọa an ninh hàng hải, bảo vệ hòa bình, ổn định quốc tế và khu vực, đồng thời làm sâu sắc thêm mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Nga trong thời đại mới.
Trung Quốc và Nga đã điều động tổng cộng 7 tàu chiến, trong đó Trung Quốc có 4 tàu, gồm 1 tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường, 2 tàu hộ vệ tàu tên lửa dẫn đường và 1 tàu tiếp tế tổng hợp, cùng các máy bay trực thăng trên tàu. Phía Nga có 2 tàu hộ vệ và 1 tàu chở dầu.
Cuộc tập trận lần này được chia làm 3 giai đoạn, bao gồm tập trung quân, hoạt động tại cảng và diễn tập trên biển. Trong giai đoạn hoạt động tại cảng, Trung Quốc và Nga sẽ tổ chức các cuộc giao lưu, thảo luận chuyên môn và xây dựng kế hoạch chung, tham quan tàu, tổ chức các hoạt động giao lưu võ thuật, thể thao.
Trong giai đoạn diễn tập trên biển, hai bên tập trung vào nhiều khoa mục như trinh sát chung, cảnh báo sớm, cùng chống tàu ngầm, cùng tấn công trên biển và phòng thủ chung chống tên lửa.
Philippines yêu cầu Trung Quốc bồi thường 1 triệu USD vụ đụng độ khiến 8 thủy thủ bị thương, trong bối cảnh các nhà ngoại giao hai nước đã gặp nhau để xoa dịu căng thẳng.
Theo Independent, Philippines yêu cầu Trung Quốc bồi thường 1 triệu USD cho vụ đụng độ hồi tháng 6 trên Biển Đông khiến 8 thủy thủ bị thương.
Trước đó, Philippines đã cáo buộc lực lượng hải cảnh Trung Quốc triển khai xuồng máy để chặn và liên tục đâm vào một cặp thuyền cao su của Philippines, phá hủy các tàu hải quân và tịch thu tám khẩu súng. Trong khi đó, hải cảnh Trung Quốc đã cáo buộc hải quân Philippines châm ngòi cho cuộc đối đầu khi điều khiển một trong những thuyền của mình đi quá gần một tàu Trung Quốc. Philippines cáo buộc lực lượng hải cảnh Trung Quốc triển khai xuồng máy chặn và liên tục đâm vào một cặp thuyền Philippines. Trong khi đó, hải cảnh Trung Quốc đã cáo buộc hải quân Philippines châm ngòi cho cuộc đối đầu.
Philippines cáo buộc lực lượng hải cảnh Trung Quốc triển khai xuồng máy chặn và liên tục đâm vào một cặp thuyền Philippines. Trong khi đó, hải cảnh Trung Quốc đã cáo buộc hải quân Philippines châm ngòi cho cuộc đối đầu.
Tham mưu trưởng Philippines, Tướng Romeo S Brawner Jr, cho biết, khoản bồi thường mà nước này yêu cầu chỉ cho thiệt hại về tài sản, không bao gồm thương tích của thủy thủ.
Trước đó, ông đã yêu cầu Trung Quốc trả lại súng trường và thiết bị đã tịch thu trong vụ đụng độ.
Trong bối cảnh căng thẳng song phương gia tăng, các nhà ngoại giao Trung Quốc và Philippines đã tổ chức một cuộc họp và “khẳng định cam kết hạ nhiệt căng thẳng mà không ảnh hưởng đến lập trường của mỗi bên”.
Hai bên chưa đề cập đến thỏa thuận nào nhằm cố gắng ngăn chặn sự việc hôm 17/6 tại bãi Cỏ Mây lặp lại. Tuy nhiên, họ đã ký một thỏa thuận cải thiện thông tin liên lạc trong các trường hợp khẩn cấp trên biển và nhất trí tiếp tục đàm phán về việc tăng cường quan hệ giữa hai lực lượng bảo vệ bờ biển.
Một thỏa thuận tương tự được ký kết vào tháng 1 đã không ngăn chặn được các cuộc đối đầu giữa lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines và Trung Quốc.
Trong bối cảnh căng thẳng khu vực gia tăng, từ ngày 27/6, Mỹ tổ chức tập trận Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC) 2024 trong 5 tuần tại Hawaii.
Trong bối cảnh căng thẳng khu vực gia tăng, từ ngày 27/6, Mỹ tổ chức tập trận Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC) 2024 trong 5 tuần tại Hawaii, đây được ví như “cuộc tập trận hàng hải quốc tế lớn nhất thế giới”.
Điểm nóng an ninh
Thành lập năm 1971 với ba nước ban đầu là Australia, Canada và Mỹ, RIMPAC 2024, quy tụ lực lượng vũ trang của 29 quốc gia, với mục tiêu tăng cường quan hệ đa phương và hiện thực hóa tầm nhìn “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Cuộc tập trận năm nay có sự tham gia của quân đội Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, cũng như các quốc gia ở Đông Nam và Nam Á, Mỹ Latinh và bảy quốc gia châu Âu.
Chương trình RIMPAC 2024 tập trung vào chiến đấu và huấn luyện dự phòng trên đất liền, trên không và trên biển, với 150 máy bay, 40 tàu mặt nước, 3 tàu ngầm và hơn 25.000 quân nhân thực hiện các cuộc đổ bộ, huấn luyện chiến đấu đô thị, tác chiến chống tàu ngầm, diễn tập đánh chìm tàu, cũng như các hoạt động mạng và không gian.
Cuộc tập trận sẽ tổ chức hoạt động huấn luyện cứu trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai lớn nhất từ trước đến nay. Lực lượng viễn chinh và 2.500 người tham gia từ tám nước phối hợp với các tổ chức bên ngoài, gồm Liên hợp quốc và các nhóm phi lợi nhuận. Theo người phát ngôn RIMPAC, cuộc tập trận đề cao tính chiến thuật, củng cố năng lực cứu trợ thảm họa và nhân đạo toàn diện, cũng như chiến tranh tích hợp đa miền.
RIMPAC năm nay diễn ra trong bối cảnh căng thẳng khu vực dâng cao. Mỹ tìm cách tăng cường quan hệ đối tác đa phương liên khu vực, thiết lập các thỏa thuận quốc phòng mới và phát triển năng lực quân sự trên khắp châu Á-Thái Bình Dương. Vài ngày trước khi diễn ra RIMPAC, Washington còn tiến hành các cuộc tập trận ném bom chiến lược, điều một tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân tới bán đảo Triều Tiên và tiến hành các cuộc tập trận chiến đấu tại Thái Bình Dương với đồng minh.
Trong khi đó, Trung Quốc từng tham gia RIMPAC năm 2014 và 2016, nhưng trong bối cảnh căng thẳng khu vực gia tăng, Bắc Kinh không được mời tham dự năm 2018 và cả năm nay. Gần đây, Trung Quốc tăng cường tập trận quân sự quanh Đài Loan (Trung Quốc) và nhiều lần đụng độ với Philippines tại các đảo và bãi cạn tranh chấp ở Biển Đông.
Mặt khác, Nga đang tích cực triển khai hoạt động ngoại giao trong khu vực. Trong hai tháng qua, Tổng thống Vladimir Putin đã có chuyến thăm cấp cao tới Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam. Đặc biệt, việc Moscow ký kết thỏa thuận quốc phòng với Bình Nhưỡng báo hiệu giai đoạn hợp tác mới đáng chú ý của hai nước.
Trả lời tờ Al Jazeera, Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của Pacific Forum, Viện nghiên cứu chính sách châu Á Thái Bình Dương ở Hawaii, ông David Santoro cho biết, sau 25 năm tập trung chống khủng bố, thế giới đang chứng kiến xung đột nóng quay trở lại, như những gì đang diễn ra tại châu Âu, Trung Đông và nguy cơ có thể xảy ra với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Trung tâm địa chính trị
Trong bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore hồi đầu tháng, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin cho biết, châu Á-Thái Bình Dương là trung tâm chiến lược an ninh của Mỹ và khẳng định “Mỹ chỉ có thể an toàn nếu châu Á an toàn”.
Trả lời câu hỏi liệu Washington có đang cố gắng xây dựng một liên minh giống Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) trong khu vực, ông Austin cho hay, các nước cùng chí hướng, cùng giá trị và tầm nhìn về một Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở đang hợp tác để cùng đạt mục tiêu. Theo đó, Nhà Trắng đang tăng cường quan hệ với các đồng minh, đối tác và các nước khác cũng dần củng cố quan hệ lẫn nhau trong khu vực.
Cựu Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg nhấn mạnh tầm quan trọng của an ninh ở châu Á-Thái Bình Dương. Phát biểu trước chuyến thăm của ông Putin tới Bình Nhưỡng, ông Stoltenberg lưu ý: “Những gì xảy ra ở châu Âu quan trọng với châu Á và những gì xảy ra ở châu Á quan trọng với châu Âu”.
Trong khi RIMPAC được ngợi khen vì thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia đối tác, cuộc tập trận đang vấp phải chỉ trích từ nhà hoạt động môi trường và người dân bản địa. Họ khẳng định cuộc tập trận gây ra suy thoái môi trường trên diện rộng, đe dọa hệ sinh thái mỏng manh của Hawaii và xâm phạm lợi ích an ninh của quốc đảo.
Phản ứng trước các cuộc biểu tình bên ngoài trụ sở Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ tại Trân Châu Cảng, Hạm đội 3 của Washington tuyên bố, mục tiêu của RIMPAC là tăng cường an ninh và cho phép Nhà Trắng thực thi các quyền tự do và quyền bảo vệ môi trường.
Trợ lý Giáo sư nghiên cứu sắc tộc tại Đại học Hawaii, ông Kyle Kajihiro đã chỉ ra nhiều ví dụ về ô nhiễm quân sự ở Hawaii và các khu vực khác của Thái Bình Dương, ông cho rằng tác động của hoạt động diễn tập quân sự khiến đất khó phát triển, biến những nơi có sự sống thành không gian của cái chết.
Như vậy, RIMPAC 2024 diễn ra trong bối cảnh căng thẳng khu vực dâng cao, ba nước lớn Mỹ, Trung Quốc và Nga đẩy mạnh hoạt động ngoại giao và quân sự nhằm củng cố an ninh, tăng cường vị thế trong khu vực. Trong khi đó, các bên liên quan đều nhấn mạnh châu Á-Thái Bình Dương là trọng điểm địa chính trị của thế giới, hứa hẹn khu vực này xuất hiện nhiều diễn biến khó lường trong thời gian tới.
Thâm hụt ngân sách tăng vọt và cuộc đối đầu với Brussels và Berlin là công thức dẫn đến rắc rối.
Cuối tháng 4, Emmanuel Macron cảnh báo “Châu Âu của chúng ta cũng chỉ là một con người, nó có thể chết.” Không một ai biết rằng chỉ vài tuần sau, Tổng thống Pháp sẽ bắt đầu chứng minh quan điểm của mình bằng cách kêu gọi một cuộc bầu cử sớm, với nguy cơ đẩy toàn bộ EU vào một cuộc khủng hoảng ‘chết người’?
Hiện tại, sự chú ý của toàn cầu đang đổ dồn vào những diễn biến chính trị nóng bỏng tại Pháp. Vòng bỏ phiếu đầu tiên sẽ diễn ra vào ngày 30/06. Đảng cực hữu Tập hợp Dân tộc (Rassemblement National, RN) hiện đang dẫn đầu các cuộc thăm dò, tiếp theo là Mặt trận Bình dân Mới, một liên minh do phe cực tả thống trị.
Trong trường hợp tốt nhất, một quốc hội bị các phe phái chính trị cực đoan thống trị sẽ đẩy nước Pháp vào thời kỳ bất ổn kéo dài. Trong trường hợp tệ nhất, nó sẽ dẫn đến việc áp dụng các chính sách hoang phí và chủ nghĩa dân tộc, theo đó nhanh chóng gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội ở Pháp.
Một cuộc khủng hoảng ở Pháp cũng sẽ nhanh chóng trở thành vấn đề của toàn EU. Sẽ có hai cơ chế truyền tải chính. Thứ nhất là tài chính. Thứ hai là ngoại giao.
Pháp đang lâm vào tình trạng tài chính rối ren. Nợ công lên tới 110% GDP và chính phủ đã ghi nhận thâm hụt ngân sách ở mức 5,5% trong năm ngoái. Cả phe cực hữu và cực tả đều cam kết tăng mạnh chi tiêu và giảm thuế, nhưng điều này sẽ làm tăng nợ công và thâm hụt ngân sách, đồng thời vi phạm các quy tắc của EU.
Bruno Le Maire, Bộ trưởng Tài chính Pháp, đã cảnh báo rằng chiến thắng của bất kỳ phe cực đoan nào cũng có thể dẫn đến khủng hoảng nợ công ở Pháp, và các tổ chức như IMF hoặc Ủy ban Châu Âu có thể sẽ phải giám sát tình hình tài chính của đất nước. Le Maire cũng nhấn mạnh đến phản ứng của thị trường đối với “ngân sách mini” của chính phủ Truss ở Anh, để minh họa rằng thị trường sẽ quay lưng nhanh đến mức nào với một chính phủ quản lý tài chính thiếu thận trọng.
Trên thực tế, cuộc khủng hoảng tài chính ở Pháp có thể còn tồi tệ hơn thử thách mà nước Anh và Liz Truss phải đối diện. Ở Anh, người ta có một cơ chế để nhanh chóng sa thải Truss và đưa một chính phủ lý trí hơn lên nắm quyền. Nhưng điều đó khó có thể được thực hiện ở Pháp, nơi mà phe cực hữu và cực tả đều có những lãnh đạo đứng vững trong thể chế, mà lại thiếu những chính trị gia thận trọng, thực tế hơn đứng bên lề.
Vấn đề thứ hai là Pháp là một trong 20 quốc gia sử dụng đồng tiền chung châu Âu.
Điều gì sẽ xảy ra nếu lãi suất trái phiếu Pháp tăng vọt vì phải bù đắp rủi ro? Hiện tại, EU có các cơ chế để can thiệp vào hoạt động mua trái phiếu. Nhưng liệu Brussels hay Berlin có sẵn sàng đồng ý với một động thái như vậy không, nếu cuộc khủng hoảng bị kích động bởi những cam kết chi tiêu không được tài trợ của Pháp? Chính phủ Đức hiện đang phải chật vật tìm kiếm khoản tiết kiệm hàng tỷ đô la trong ngân sách quốc gia của mình. Vậy thì tại sao họ lại chấp nhận cứu trợ cho một nước Pháp chi tiêu hoang phí?
Cả phe cực hữu và cực tả của Pháp đều đang cực kỳ hoài nghi châu Âu – và đã chỉ trích những mệnh lệnh từ Brussels, cũng như bày tỏ thái độ thù địch với Đức. Cương lĩnh bầu cử của RN nói về “khác biệt sâu sắc và không thể hòa giải” giữa thế giới quan của Pháp và Đức. Jordan Bardella, người nhiều khả năng sẽ trở thành ứng viên thủ tướng của RN, gần đây đã đe dọa cắt giảm khoản đóng góp của Pháp cho ngân sách EU từ 2 đến 3 tỷ euro mỗi năm.
Trong cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp kéo dài gần một thập kỷ, thái độ thách thức của Athens đối với EU cuối cùng đã bị dập tắt bởi lời đe dọa trục xuất Hy Lạp khỏi khu vực đồng euro – một động thái có thể hủy hoại các khoản tiền tiết kiệm của người Hy Lạp. Nhưng việc trục xuất Pháp khỏi khu vực đồng euro – hoặc khỏi EU – là điều không thể tưởng tượng được. Toàn bộ dự án châu Âu đã được xây dựng xung quanh cặp đôi Pháp-Đức kể từ những năm 1950.
Nhiều khả năng Pháp sẽ ở lại EU và tiếp tục sử dụng đồng tiền chung, nhưng lại đóng vai trò là kẻ phá hoại. Điều đó sẽ phá hủy sự gắn kết và ổn định của châu Âu, vào thời điểm EU đang nỗ lực đoàn kết trước mối đe dọa từ Nga.
Trừ khi Macron chịu từ chức (vốn rất khó xảy ra), ông sẽ tiếp tục đại diện cho Pháp tại các hội nghị thượng đỉnh quốc tế và các cuộc họp của EU. Tuy nhiên, nếu không có sự thay đổi phút chót nào trong các cuộc thăm dò, thì Tổng thống Pháp có lẽ sẽ xuất hiện sau cuộc bầu cử lần này như một nhân vật với quyền lực bị suy giảm nghiêm trọng. Một số đồng nghiệp châu Âu của Macron có lẽ sẽ mừng thầm trước cảnh tượng “Sao Mộc” bị hạ bệ. Nhưng tác động tổng thể từ một nước Pháp suy yếu và giận dữ lên châu Âu sẽ rất tồi tệ.
Bản năng ban đầu của RN sẽ là đối đầu với Brussels nhân danh chủ quyền của nước Pháp. Nhưng trong những năm gần đây, các nhà lãnh đạo cực hữu đã phần nào nhận thức được rằng thái độ hoài nghi châu Âu một cách cứng rắn có thể khiến cử tri và thị trường sợ hãi và xa lánh. Sau khi thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2017, RN đã âm thầm từ bỏ việc thảo luận về việc rời khỏi khu vực đồng euro.
Một cuộc khủng hoảng kinh tế – kết hợp cùng một cuộc đối đầu với Brussels và Berlin – có thể khiến RN quay trở lại với bản năng đối đầu và chủ nghĩa dân tộc của mình. Mặt khác, thực tế của việc cầm quyền có thể buộc họ phải hợp tác với EU.
Những ai có trí nhớ tốt có thể chỉ ra cuộc khủng hoảng kinh tế ở Pháp vào đầu những năm 1980, khi chính phủ Xã hội chủ nghĩa cố gắng thực hiện một chương trình nghị sự cấp tiến, thiên tả. Cuộc khủng hoảng đó cuối cùng đã dẫn đến sự nổi lên của Jacques Delors, đầu tiên là trong vai trò Bộ trưởng Tài chính Pháp, và sau đó là Chủ tịch Ủy ban châu Âu. Tại Brussels, Delors đã thúc đẩy những tiến bộ đáng kể trong quá trình hội nhập châu Âu và ra mắt đồng tiền chung.
Lịch sử khó có thể lặp lại chính xác như vậy. Nhưng nhiều thập kỷ kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng: sẽ là một sai lầm khi đặt cược chống lại khả năng vượt qua các mối đe dọa chết người của EU.
Cuộc bầu cử sớm mà Tổng thống Pháp Emmanuel Macron kêu gọi có thể là sự kiện có sức tàn phá lớn nhất kể từ sau chiến tranh, không chỉ đối với Pháp mà cả Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và phương Tây.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và bà Marine Le Pen.
Vai trò lãnh đạo của Pháp trong EU, ghế của nước này trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và tầm ảnh hưởng quân sự với tư cách là một cường quốc toàn cầu khiến cuộc bầu cử sắp tới gần giống như “sự kiện thế giới”, tương đương màn tái đấu giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và đối thủ Donald Trump vào tháng 11 năm nay.
Tất cả các cuộc bầu cử đều quan trọng, nhưng một số cuộc bầu cử mang tầm ảnh hưởng toàn cầu.
Vấn đề quan trọng nhất là đảng Tập hợp Quốc gia ( RN ) cực hữu có thể chiến thắng.
Tổng thống Macron có thể sẽ thua, sau những nỗ lực của ông nhằm củng cố EU, điều tiết kinh tế dựa trên các yếu tố thị trường và tìm kiếm sự cân bằng mới và bền vững giữa châu Âu và Mỹ.
Cuộc bầu cử vào cuối tháng này và đầu tháng 7 có thể sẽ đánh dấu không chỉ sự thất bại mà còn xóa bỏ “chủ nghĩa Macron” – cuộc thử nghiệm lộn xộn của Tổng thống Macron với những cải cách theo định hướng thị trường nhằm giải phóng sức sáng tạo của nước Pháp, bài viết trên Politico nhận định.
Các lực lượng trung hữu và trung tả trước đây thống trị đời sống hậu chiến của Pháp, giờ đây đã bị thu gọn thành một số nhóm tranh giành nhau. Hai quyền lực thống trị đời sống chính trị Pháp hiện nay và có thể tồn tại trong nhiều năm nữa là cánh tả chia rẽ và cánh hữu theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Chưa chắc bà Marine Le Pen, lãnh đạo RN, sẽ giành chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc hội gồm hai vòng, vào ngày 30/6 và 7/7. Ông Jordan Bardella , ứng cử viên cho chức thủ tướng, tuyên bố sẽ từ chối thành lập chính phủ trừ khi giành được đa số rõ ràng (ít nhất 289) trong số 577 ghế tại Quốc hội.
Các cuộc thăm dò cho thấy ông Bardella sẽ giành được tối đa 260 ghế, nhưng sự ủng hộ có thể tiếp tục thay đổi trong những ngày cuối cùng.
Ngay cả khi ông Bardella trở thành thủ tướng, ông Macron sẽ vẫn là tổng thống cho đến năm 2027.
Tuy nhiên, hệ thống của Pháp tập trung quyền lực ở quốc hội, thủ tướng và chính phủ. Nếu có quan điểm chính trị khác với tổng thống, họ sẽ là người nắm quyền quyết định.
Điều đó từng xảy ra ba lần trong nửa thế kỷ qua, trong những khoảng thời gian ngắn “chung sống” giữa phe trung tả và phe trung hữu. Trong những lần đó, hai phe bất đồng về nhiều vấn đề cụ thể, nhưng thống nhất về các nguyên tắc cơ bản, từ vị trí của Pháp trong EU đến cam kết về nhân quyền.
Trong khi đó, đảng RN của bà Le Pen thù ghét EU và tuyên bố sẽ làm mọi cách trong khả năng của mình để làm suy yếu, thậm chí phá hủy nó. Bà cam kết sẽ thực hiện chính sách phân biệt đối xử giữa người Pháp và người nước ngoài cư trú ở Pháp, thậm chí giữa các nhóm người Pháp khác nhau, tùy theo nơi sinh hoặc chủng tộc.
Bà cũng không chỉ trích gay gắt việc Nga mở chiến dịch quân sự ở Ukraine. Trước đây, bà từng vay khoản tiền lớn từ một ngân hàng Nga và một khoản từ ngân hàng liên quan đến Thủ tướng Hungary Viktor Orbán. Bà nói rằng sự can thiệp của Nga vào Syria là điều “tốt cho thế giới”.
Bà Le Pen từng nói: “Các chính sách mà tôi ủng hộ đều được Tổng thống Nga Vladimir Putin thực hiện”.
Bà Marine Le Pen muốn rời khỏi cánh quân sự của NATO, tổ chức mà bà coi là công cụ bá chủ của Mỹ.
Do đó, nếu RN điều hành chính phủ, đó sẽ không khác gì con dao chặt đứt sự thống nhất của phương Tây và châu Âu.
Tại sao người Pháp thường thận trọng lại chấp nhận rủi ro như vậy?
Một số người cho biết họ đã trải qua những điều tồi tệ nhất trong những năm qua, khi chi phí sinh hoạt cao, lương thấp, tội phạm và nhập cư nằm ngoài tầm kiểm soát, dịch vụ đang sụp đổ, thâm hụt nghiêm trọng…
Pháp có vẻ đã làm tốt hơn các quốc gia EU khác về tăng trưởng việc làm và giảm lạm phát trong những năm gần đây. Tổng thống Macron chi nhiều hơn các nước khác để làm hạ giá hàng hoá, do đó thâm hụt ngân sách tăng vọt.
Nhập cư và tội phạm là vấn đề đau đầu, nhưng về thống kê vẫn ở mức thấp hơn so với một số thập kỷ trước. Dịch vụ đang chịu áp lực nhưng vẫn hoạt động. Tình hình ở Pháp được đánh giá là tốt hơn ở Anh.
Tổng thống Macron không được ghi nhận cho những thành công của mình và bị chỉ trích nặng nề vì những thất bại. Điều đó có thể một phần do lỗi của chính ông.
Ông Macron hứa sẽ trở thành một nhà cách mạng và làm chính trị kiểu khác, nhưng hóa ra ông vẫn thuộc dòng chính. Ông không nỗ lực xây dựng phong trào chính trị cấp cơ sở. Những người dân bình thường cảm thấy xa lạ khi nghe những lời hùng biện của ông.
Bằng cách quét sạch những dư âm của phe trung hữu và trung tả, ông đã tạo ra một sự đối ngẫu chính trị mới giữa phe trung hữu và phe cực hữu. Điều đó đã giúp ích cho ông chiến thắng trong hai cuộc bầu cử tổng thống.
Nhưng người Pháp là một dân tộc luôn muốn sự luân phiên thường xuyên. Đối với nhiều cử tri ôn hòa trước đây, giải pháp thay thế cho ông Macron là phe cực hữu đang cố gắng làm dịu hình ảnh.
Kết quả của cuộc bầu cử sắp tới có thể dẫn đến một sự thay thế khác. Nó sẽ đưa Pháp, châu Âu và thế giới bước vào giai đoạn mà Nga và Trung Quốc có thể hài lòng hơn.
Ship 251 of Brigade 127 under Naval Region 5 of the Vietnam People’s Navy successfully completed the 75th joint patrol with Ship 1141 of Ream Naval Base of the Royal Cambodian Navy in the waters between the two countries.
Vietnam and Cambodia navies conduct their 75th joint patrol. (Photo: VOV)
During the patrol last Saturday, both sides exchanged information, trained in flag signaling, practiced search and rescue operations, and the Code for Unplanned Encounters at Sea (CUES), which is used by the navies of Western Pacific countries.
Within the framework of the patrol, through communication channels, the naval forces of both countries also actively encouraged fishermen of the two sides to strictly adhere to laws and regulations while fishing, ensuring they do not violate the sovereignty of neighboring countries.
This patrol contributed to maintaining security, peace, and stability, thereby allowing citizens of both countries to conduct business in the shared waters. Additionally, it helped to strengthen the cooperative relationship, enhance mutual understanding, trust, and assistance between the two navies./.
The PM made the trip to attend the 15th Annual Meeting of the New Champions of the World Economic Forum (WEF) in Dalian and pay a working visit to China from June 24-27.
Talking with the press, Son highlighted the trip’s significance in implementing Vietnam’s foreign policy as outlined at the 13th National Party Congress and Directive 25 on elevating multilateral diplomacy issued by the Party Central Committee’s Secretariat. It also served to realise the high-level common perceptions reached by Vietnamese and Chinese leaders in the spirit of comprehensive strategic cooperative partnership and building the Vietnam-China Community with a Shared Future that carries strategic significance.
He stressed that PM Chinh, as one of only two invited heads of state/government, played a key role at the WEF meeting. He and the Vietnamese delegation delivered impactful messages and joined discussions and meetings with various partners.
The PM’s keynote address resonated with an audience of 1,700 guests from 80 countries. He shared Vietnam’s inspiring story of Doi Moi (renewal), integration and development, solidifying Vietnam’s role and position on the international stage.
Advocating global cooperation to build trust, prioritise dialogue and adopt new approaches, he stressed the importance of promoting science and innovation to create new engines of growth, urging collaboration in policy frameworks, resource utilisation, and future workforce development.
Through open, sincere and insightful discussions with partners and businesses, the PM showcased Vietnam’s commitment to innovation and a pro-business environment. WEF Founder Klaus Schwab commended Vietnam’s dynamic economy which he said is a regional growth leader.
During talks and meetings with Chinese leaders, PM Chinh reiterated the importance of strengthening and developing friendly cooperation with China as an objective requirement, a strategic choice and a top priority in Vietnam’s foreign policy of independence, self-reliance, peace, cooperation and development, diversification and multilateralisation of external ties.
The host leaders reciprocated the sentiment, saying that they attach importance to relationship with Vietnam, considering it a priority in China’s overall neighbouring diplomacy policy.
Both sides agreed on directions and specific measures to intensify cooperation, while unceasingly working to solidify the strong social foundation for bilateral relations, upholding agreements and high-level shared perceptions, adhering to international law, and effectively and properly resolving disputes to prevent them from affecting the overall bilateral relations and contribute to global and regional peace and stability, concluded Foreign Minister Son./.
Bộ Quốc phòng Nhật Bản ngày 25.6 thông báo Lực lượng phòng vệ trên không (ASDF) của nước này sẽ tiến hành một loạt cuộc tập trận chung với Đức, Pháp và Tây Ban Nha tại Nhật Bản vào tháng 7 tới.
Bộ Quốc phòng Nhật Bản cho biết một đội gồm hơn 30 máy bay quân sự từ Đức, Pháp và Tây Ban Nha sẽ triển khai lực lượng tới Nhật Bản để tiến hành một loạt cuộc tập trận mang tên Vùng trời Thái Bình Dương (Pacific Skies) – hiện được không quân 3 nước châu Âu nói trên tổ chức. Cuộc tập trận này kéo dài khoảng 2 tháng bắt đầu từ giữa tháng 6 tại nhiều khu vực, trong đó có Hawaii và Úc, theo The Japan Times.
Tham gia tập trận, Đức và Tây Ban Nha sẽ gửi chiến đấu cơ Eurofighter Typhoon, còn Pháp sẽ điều máy bay phản lực Rafale đến Nhật Bản. Ngoài ra, cuộc diễn tập còn góp mặt của một số máy bay vận tải và tiếp nhiên liệu trên không cũng như hàng trăm nhân viên quân sự.
Hải quân, không quân châu Âu dồn đến Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương
Ông Kihara đánh giá các chuyến thăm thường xuyên tới khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của lực lượng vũ trang của Đức, Pháp, Tây Ban Nha là bằng chứng cho thấy quyết tâm dấn thân và thể hiện vai trò rõ ràng hơn của họ ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Bên cạnh đó, các cuộc tập trận chung của Nhật Bản với quân đội nước khác không chỉ giúp cải thiện kỹ năng chiến thuật của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản mà còn thắt chặt quan hệ hợp tác với các bên, cũng như góp phần hiện thực hóa tầm nhìn khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở của Tokyo.
Chuỗi động thái trên diễn ra trong bối cảnh cả Nhật Bản và châu Âu đều lo ngại về các thách thức gia tăng đối với trật tự quốc tế, bao gồm xung đột ở Ukraine, sự gián đoạn chuỗi cung ứng và căng thẳng an ninh ở Đông Á.