Tag Archives: Tin quân sự

Thế giới chi 2.400 tỉ USD cho quốc phòng và mua sắm vũ khí trong năm 2023

Trong bối cảnh căng thẳng gia tăng ở nhiều nơi, tổng chi tiêu quân sự của các quốc gia trên thế giới năm 2023 đã lên tới 2.400 tỉ USD, đạt mức tăng lớn nhất 6,8% kể từ năm 2009.

Chi tiêu quân sự của Mỹ đã lên tới gần 1 nghìn tỉ USD, vượt xa các quốc gia khác. Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), một cơ quan nghiên cứu của Thụy Điển chuyên về xung đột và vũ khí, đã công bố báo cáo chi tiêu quân sự năm 2023 của các quốc gia trên thế giới.

Bản báo cáo cho thấy chi tiêu quân sự toàn cầu đã tăng năm thứ 9 liên tiếp. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 2009, chi tiêu quân sự ở 5 khu vực chính trên thế giới là châu Phi, châu Âu, Trung Đông, châu Á – Thái Bình Dương và châu Mỹ đều tăng. Đặc biệt, châu Âu, châu Á – Thái Bình Dương và khu vực Trung Đông có mức tăng nhiều nhất.

Chi tiêu quân sự của Mỹ vượt xa các nước khác
Báo cáo của SIPRI chỉ ra rằng Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và Arab Saudi là 5 nước chi tiêu quân sự nhiều nhất trên thế giới.

Chi tiêu quân sự của Mỹ tăng 2,3% trong năm, đạt 916 tỉ USD, chiếm khoảng 2/5 của toàn thế giới. Trung Quốc đã tăng chi tiêu quân sự trong 29 năm liên tiếp, đứng thứ 2 với tổng chi tiêu trong năm 2023 là 296 tỉ USD, tăng 6%. Lần lượt xếp từ thứ 3 đến thứ 10 là các nước: Nga: 109 tỉ USD (tăng 24%), Ấn Độ: 83,6 tỉ USD (tăng 4,2%), Arab Saudi: 75,8 tỉ USD (tăng 4,3%), Anh: 74,9 tỉ USD (tăng 7,9%), Đức: 66,8 tỉ USD (tăng 9%), Ukraine: 64,8 tỉ USD (tăng 51%), Pháp: 61,3 tỉ USD (tăng 6,5%), Nhật Bản: 50,2 tỉ USD (tăng 11%).

Đứng thứ 11 đến 20 là các nước: Hàn Quốc, Italy, Australia, Ba Lan, Israel, Canada, Tây Ban Nha, Brazil, Algeria, Hà Lan.

Chi tiêu quân sự sẽ tiếp tục gia tăng
SIPRI phân tích chỉ ra cho rằng, với việc cuộc chiến Nga-Ukraine chưa có dấu hiệu kết thúc, cộng với tình hình phức tạp hiện tại ở Trung Đông và căng thẳng ngày càng gia tăng ở châu Á; dự đoán các nước có thể tiếp tục tăng cường năng lực quân sự của mình. Bởi vậy, chi tiêu quân sự toàn cầu sẽ tiếp tục gia tăng trong ít nhất vài năm nữa.

“Các nước đều đang ưu tiên xây dựng sức mạnh quân sự, nhưng họ phải đối mặt với nguy cơ xảy ra vòng xoáy tác dụng – phản tác dụng trong môi trường an ninh và địa chính trị ngày càng biến động khôn lường”, Reuters dẫn lời Tiannan, nhà nghiên cứu cấp cao tại Chương trình sản xuất vũ khí và chi tiêu quân sự của SIPRI, cho hay.

Báo cáo của SIPRI chỉ ra rằng chi tiêu quân sự của Nga đã tăng 24% trong năm ngoái, nâng tổng chi tiêu lên 109 tỉ USD, chiếm 4,5% của thế giới. Ukraine đã tăng chi tiêu quân sự thêm 51%, nâng tổng chi tiêu lên 65 tỉ USD. Ngoài ra, Ukraine cũng đã nhận được ít nhất 35 tỉ USD viện trợ quân sự từ các nước khác.

Báo cáo viết: “Sự kết hợp giữa viện trợ nước ngoài và chi tiêu quân sự của Ukraine khiến chi tiêu quân sự của nước này lên tới con số tương đương 91% chi tiêu quân sự của Nga, tăng 1.272% so với năm 2014″.

Chi tiêu quân sự của Trung Quốc năm ngoái xấp xỉ 296 tỉ USD, tăng 6% so với năm trước và chiếm 12% chi phí quân sự của toàn thế giới. Báo cáo nghiên cứu cho rằng sự gia tăng chi tiêu quân sự của Trung Quốc đã thúc đẩy các nước láng giềng Nhật Bản, Ấn Độ và vùng lãnh thổ Đài Loan tăng ngân sách quốc phòng theo, và xu hướng này sẽ tiếp tục tăng nhanh trong vài năm tới.

Trong khi đó chi tiêu quân sự của các nước NATO chiếm 55% chi tiêu quân sự toàn cầu.

Lorenzo Scarazzato, một nhà nghiên cứu khác tại SIPRI cho biết: “Đối với các nước NATO ở châu Âu, cuộc chiến kéo dài 2 năm ở Ukraine về cơ bản đã thay đổi nhận thức của họ về an ninh”.

“Nhận thức đang thay đổi này về các mối đe dọa được phản ánh qua tỉ lệ chi tiêu quân sự ngày càng tăng trong GDP và mục tiêu dành 2% GDP chi tiêu quân sự của NATO ngày càng được coi là ranh giới tối thiểu và không phải là ngưỡng để cố gắng đạt được”, ông Scarazzato nói.

Theo các nhà nghiên cứu, chi tiêu quân sự ở Ba Lan, quốc gia có biên giới với Ukraine, đã tăng 75% trong năm ngoái, trong khi Đức và Anh cũng có mức tăng lần lượt là 9% và 7,9%.

Báo cáo lưu ý rằng các nước thành viên NATO hiện dự kiến chi ít nhất 2% GDP của họ cho chi tiêu quân sự; đại đa số các quốc gia thành viên NATO đang tăng chi tiêu quân sự, trong khi ngân sách quốc phòng của Mỹ đã tăng 2% vào năm ngoái lên 916 tỷ USD, chiếm khoảng 2/3 tổng chi tiêu quân sự của NATO.

Từ tháng 10 năm ngoái, Israel đã xảy ra chiến tranh với Hamas và chi tiêu quân sự của nước này cũng tăng mạnh. Cuộc chiến Israel – Hamas cũng thúc đẩy các nước Ả Rập ở Trung Đông tiếp tục tăng ngân sách quốc phòng. Mức độ tăng trưởng chi tiêu quân sự ở Châu Phi và Châu Mỹ Latinh cũng khiến các nhà nghiên cứu bất ngờ.

BDN

Loading

Views: 0

Air Force B-52H Bombers Just Landed Right in China’s Backyard

For the first time in history, a U.S. Air Force B-52H bomber has arrived in Indonesia, a country in the South Pacific about 2,000 miles south of China and within strategic reach of the South China Sea, Taiwan, and other critical regions in the area. 

While nearby Singapore is a longstanding U.S. ally and F-35 partner, there has been far less involvement between the U.S. and Indonesia, so the arrival of the B-52 improves the U.S. deterrence posture and signifies a step forward in a collaborative relationship between Indonesia and the U.S.

Indo-Pacific Presence

In an immediate sense, the arrival of the B-52s in Indonesia is a symbolic gesture to rival China by demonstrating that the U.S. is further solidifying and strengthening its coalition in the Pacific, aimed at containing, challenging, and counterbalancing China.

There are several key critical factors to consider with this action, as the U.S. Air Force’s upgraded B-52 is quite capable of bomber task force and security patrols throughout the Pacific theater. Indonesia is indeed a strategically advantageous location for the B-52 as it places the South China Sea and mainland China itself within reach of bombing sorties.

With a reported range of 8,800 miles, the B-52H easily has the combat radius to travel roughly 2,500 miles from Indonesia to the Chinese mainland. With its range, a B-52 would have sufficient endurance throughout key parts of the region without having to refuel. Launching and landing B-52s from Indonesia offers a tactical and strategic advantage to the U.S. and its South Asian allies as it is closer to mainland China and the South China Sea than Guam, which is roughly 3,000 miles from mainland China and much farther away from the South China Sea than Indonesia. Therefore, having B-52s occasionally operate from Indonesia offers the U.S. an expanded geographical and strategic window with which to hold China at risk and conduct Bomber Task Force patrols over sensitive areas such as the highly contested South China Sea

A U.S. Air Force B-52 Stratofortress assigned to the 2nd Bomb Wing departs after receiving fuel from a KC-135 Stratotanker, assigned to the 340th Expeditionary Air Refueling Squadron, during a multi-day Bomber Task Force mission over Southwest Asia, Dec. 10th, 2020. The B-52 is a long-range bomber with a range of approximately 8,800 miles, enabling rapid support of BTF missions or deployments and reinforcing global security and stability. (U.S Air Force photo by Staff Sgt. Trevor T. McBride)

B-52H in Guam & Indonesia

It is likely that the U.S. will operate B-52s from Indonesia in an unpredictable fashion, similar in strategy to how B-52 arrivals and patrols are conducted in Guam. This means B-52 arrivals or Bomber Task Force operations will not be aligned with a particular schedule or routine in order to preserve the possibility of surprise. 

While the presence of B-52s is clearly significant, as Bomber Task Force patrols do demonstrate strength and resolve, there are certain limits to what it could accomplish in the Pacific. Much of the impact of this presence pertains to areas where it operates. For instance, B-52s would prove to be an impactful presence and demonstration of air power resolve and readiness throughout international air space in the Pacific, particularly over sensitive areas of the South China Sea where Chinese “island building” or weapons could be held at risk. 

However, B-52s themselves would be quite challenged to conduct attack missions over mainland China in the event of major conflict, unless of course the U.S. and its allies were first able to securely establish air superiority. Should B-52s attempt to operate in contested airspace, the large, non-stealthy planes would be quite vulnerable to Chinese fighter jets as well as ground-based air defenses. The advantage though, is one of readiness.

B-52H patrols from multiple points of entry, dispersed across critical parts of the Pacific, certainly demonstrate U.S. resolve and preparedness to harness instruments of national power in the region. /.

Kris Osborn

Kris Osborn is the Military Affairs Editor of 19FortyFive and President of Warrior Maven – Center for Military Modernization. 

http://msn.com/en-us/news/world

In an immediate sense, the arrival of the B-52s in Indonesia is a symbolic gesture to rival China by demonstrating that the U.S. is further solidifying and strengthening its coalition in the Pacific, aimed at containing, challenging, and counterbalancing China.

Loading

Views: 0

Tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân Mỹ điều tới Hàn Quốc có sức mạnh như thế nào?

Tuần này, hai tổng thống Mỹ và Hàn Quốc công bố “Tuyên bố Washington”, một thỏa thuận gồm một loạt biện pháp nhằm khiến Bình Nhưỡng phải suy nghĩ kỹ trước khi tấn công Seoul bằng vũ khí hạt nhân. Mỹ quyết định triển khai tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân tới Hàn Quốc lần đầu tiên kể từ năm 1981.

“Hiệp ước phòng thủ chung của chúng tôi là sắt thép và bao gồm cam kết của chúng tôi trong việc mở rộng khả năng răn đe, và điều đó bao gồm mối đe dọa hạt nhân, khả năng răn đe hạt nhân”, Tổng thống Mỹ Joe Biden hôm qua phát biểu trong một cuộc họp báo tại Nhà Trắng với Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol.

Trong khi quyết định đưa tàu ngầm tới Hàn Quốc có giá trị biểu tượng to lớn, một số chuyên gia đặt câu hỏi liệu đó có phải là một động thái quân sự hợp lý hay không. Một số người chỉ ra rằng, tàu ngầm hoàn toàn có khả năng tấn công Triều Tiên từ hàng ngàn cây số. Những người khác lập luận rằng, việc công khai điều tàu ngầm đến một cảng nước ngoài chỉ làm tổn hại đến hiệu quả của một loại vũ khí được thiết kế để tàng hình.

Hải quân Mỹ có 14 tàu ngầm tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) lớp Ohio. Tàu ngầm dài 171m, có lượng choán nước hơn 18.000 tấn khi lặn và mỗi chiếc được cung cấp năng lượng bởi một lò phản ứng hạt nhân. Hải quân cho biết, một tàu ngầm lớp Ohio được thiết kế để hoạt động trên biển trung bình 77 ngày, sau đó là 35 ngày ở cảng để bảo dưỡng. Mỗi tàu ngầm có hai thủy thủ đoàn (được mệnh danh là thủy thủ đoàn “xanh” và “vàng”) và những thủy thủ này được luân chuyển để 155 người trong mỗi thủy thủ đoàn được nghỉ ngơi và huấn luyện thích hợp giữa các chuyến tuần tra.

Mỗi tàu ngầm lớp Ohio mang tối đa 20 tên lửa đạn đạo Trident II. Tên lửa có tầm bắn 7.400 km, có khả năng tấn công mục tiêu ở Triều Tiên từ những vùng rộng lớn của Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương hoặc Bắc Băng Dương. Mỗi tên lửa Trident có khả năng mang nhiều đầu đạn có thể hướng tới các mục tiêu riêng biệt. Mỗi tên lửa có thể mang 4 đầu đạn hạt nhân, nghĩa là mỗi tàu ngầm tên lửa đạn đạo của Mỹ có thể mang khoảng 80 đầu đạn hạt nhân. Nói cách khác, một chiếc tàu ngầm được trang bị Trident có thể phá hủy toàn bộ Triều Tiên.

BDN

Loading

Views: 0

71 máy bay quân sự TQ áp sát Đài Loan trong một ngày

Khoảng 71 máy bay và tàu quân sự của Trung Quốc được cho là đã áp sát đảo Đài Loan trong vòng 24h qua, chính quyền hòn đảo cho hay.

Reuters dẫn thông tin từ Cơ quan phòng vệ Đài Loan cho hay, 71 máy bay quân sự này gồm cả máy bay chiến đấu và máy bay không người lái rạng sáng 25/12 đã đi vào vùng nhận diện phòng không ở phía nam hòn đảo. Trong đó, 43 chiếc vượt qua đường trung tuyến – ranh giới ngầm phân định eo biển Đài Loan.

Đây là đợt áp sát đảo Đài Loan với quy mô lớn nhất từ trước đến nay của phi đội Trung Quốc.

Ngoài 71 máy bay, 7 tàu quân sự của Trung Quốc cũng bị phát hiện hoạt động gần hòn đảo. Đài Loan đã điều động máy bay chiến đấu, tàu hải quân và triển khai hệ thống tên lửa mặt đất để giám sát.

Trung Quốc nói rằng, hôm 25/12, quân đội của nước này tập trận ở vùng biển và vùng trời xung quanh Đài Loan để đáp trả những hành động mà Bắc Kinh cho là “sự khiêu khích” của Mỹ và chính quyền đảo Đài Loan. Tuy nhiên, Đài Loan đã bác bỏ cáo buộc.

Trung Quốc luôn coi Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời và tuyên bố sẵn sàng thống nhất bằng mọi giá, kể cả phải dùng đến biện pháp quân sự.

Bắc Kinh liên tục đưa máy bay quân sự vào ADIZ của Đài Loan, trong một động thái được cho là nhằm “nắn gân” Đài Bắc cũng như các bên ủng hộ hòn đảo. Tần suất các chuyến bay áp sát Đài Loan có xu hướng tăng lên trong bối cảnh Bắc Kinh gia tăng sức ép quân sự lên Đài Loan bằng các biện pháp truyền thống và phi truyền thống.

BDN

Loading

Views: 0

Chiến thuật mới của Mỹ lấy “Chiến tranh hải quân là trọng tâm”

Quân đội Hoa Kỳ gần đây đã tiến hành cuộc tập trận chung “Lá chắn Garuda 2022”. Các chuyên gia cho rằng từ các cuộc tập trận của quân đội Hoa Kỳ trong những năm gần đây, có thể suy ra rằng nếu xung đột phát sinh giữa Mỹ và Trung Quốc trong tương lai, chiến tranh hải quân sẽ là trọng tâm và cũng có thể nhận xét rằng tư duy chiến thuật của quân đội Mỹ đã thay đổi trong hai thập niên qua.

Cuộc tập trận quân sự chung “Lá chắn Garuda 2022″ hai năm một lần là một cuộc huấn luyện tác chiến chung tổng hợp tập trung vào các môi trường khác nhau như trên biển, trên bộ, trên không, mạng và không gian. Trong một cuộc phỏng vấn với Epoch Times, ông Thư Hiếu Hoàng (Shu Xiaohuang), cộng tác viên nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng An ninh Đài Loan, đã phân tích rằng trong những năm gần đây, chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương đã trở thành trọng tâm của Hoa Kỳ, đây là yếu tố then chốt để quân đội Mỹ quay trở lại đại dương sau Thế chiến thứ 2. “Trọng tâm của cuộc tập trận bắt đầu tập trung vào sức mạnh chiến đấu thời gian thực của tác chiến hải quân”. Quan trọng hơn, các cuộc tập trận chung khác nhau của quân đội Hoa Kỳ trong những năm gần đây nhằm đối phó và ngăn chặn ý định bành trướng trên biển của ĐCSTQ.

“Nếu xảy ra xung đột giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong tương lai, đó nhất định sẽ là một trận chiến quyết định trên biển”. Ông cho rằng khả năng cao là nó sẽ diễn ra ở Tây Thái Bình Dương, và sự an toàn của eo biển Đài Loan là trọng tâm.

Chuyên gia: chỉ huy tác chiến thông qua mạng lưới đám mây, đồng minh đoàn kết để chống lại

Về mô hình chiến tranh mới do quân đội Hoa Kỳ phát triển trong tương lai, ông Thư Hiếu Hoàng cho rằng quân đội Hoa Kỳ sẽ áp dụng khái niệm “hoạt động phi tập trung”, nghĩa là quân đội Hoa Kỳ sẽ sử dụng các hoạt động khai triển lẻ tẻ và giống nhau trên biển, khác với phương thức tập hợp hàng loạt biên đội hàng không mẫu hạm truyền thống trước đây, nó tích hợp đồng thời hải quân, không quân, lục quân và áp dụng cơ cấu tác chiến “kết nối mạng dựa trên mạng lưới đám mây”.

Ông cho biết trong tương lai, các hoạt động hàng hải sẽ được chỉ huy bằng mạng lưới đám mây, chỉ cần sự cố khẩn cấp xảy ra ở một vùng biển nào đó, tổ chức hạm đội hàng hải gần nhất sẽ liên lạc tức thời, các máy bay chiến đấu phản ứng và phản công ngay lập tức, “có thể chỉ mất vài phút”.

Ông phân tích, ưu điểm của các hoạt động tổng hợp nói trên là vũ khí không cần quá mới, chỉ cần mạng lưới liên lạc quân sự được thiết lập tốt, quân đội Mỹ có thể tiến hành các hoạt động chung với nhiều quốc gia khác nhau. Ví dụ: miễn là vũ khí và đạn dược tương thích, quân đội Hoa Kỳ có thể tích hợp tên lửa, máy bay chiến đấu, v.v. của Pháp, Nhật và Anh, và hợp tác với họ trong cuộc chiến.

Hàng không mẫu hạm 003 của ĐCSTQ mang tên “Tàu Phúc Kiến” vừa được hạ thủy, làm dấy lên lo ngại liệu nó có trở thành mối đe dọa hàng hải đối với các nước láng giềng ở Đông và Nam Á hay không. Ông Thư Hiếu Hoàng nói rằng hoạt động của hàng không mẫu hạm hiện tại không còn là trọng tâm, vì hàng không mẫu hạm quá lớn và có thể dễ dàng trở thành mục tiêu tấn công trên biển, và hiệu suất của nó cần được thử nghiệm lâu dài để xem tác động tiếp theo.

Hoạt động phi tập trung trên biển, những chiến thuật mới của Hoa Kỳ trong 5 năm qua

Khái niệm hoạt động phi tập trung là một chiến thuật quy mô nhỏ được quân đội Mỹ phát triển trong 5 năm qua. Ông Trần Lượng Trí (Chen Liangzhi), cộng tác viên nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Tài nguyên và Chiến lược Quốc phòng, nói với Epoch Times rằng điều này khác với chiến thuật quy mô lớn của hạm đội và pháo kích trong Thế chiến II và Chiến tranh Lạnh, lúc ấy, máy bay dựa trên hàng không mẫu hạm có thể là một hình thức tấn công tầm xa mở rộng. Nhưng khi khoảng cách tấn công có thể được mở rộng hơn nữa, hạm đội không còn cần phải khai triển gần kẻ thù, và chiến thuật của quân đội Mỹ đã thay đổi .

Ông cho rằng, để tránh bị đối phương tấn công trên biển, tổng thể hạm đội phải thu hẹp lại, “tức là không tập trung, mà có thể phân tán khiến địch không thể tập trung vào hàng không mẫu hạm”.

Ông nói rằng sự thay đổi trong tư duy chiến thuật của quân đội Mỹ trong hai thập niên qua có thể được quan sát từ khái niệm hoạt động phi tập trung.

Ông Trần Lượng Trí cho biết, Hải quân Mỹ bố trí hàng không mẫu hạm và tàu chiến lớn ở chuỗi đảo thứ hai hoặc phía đông đảo Guam, nghĩa là chúng nằm rải rác xung quanh Nhật Bản, eo biển Đài Loan, Biển Đông và Biển Philippines, khiến phạm vi tấn công của đối phương rất rộng và phân tán, nếu thông tin chính xác, bạn có thể liên hệ ngay với một số ít tổ chức hạm đội địa phương để khởi động các biện pháp đối phó và tấn công.

Ông phân tích thêm rằng, căn cứ tên lửa liên hợp Mỹ-Nhật thậm chí có thể hợp nhất các lực lượng hải quân, lục quân và không quân để tấn công, mà không nhất thiết phải điều động toàn bộ hạm đội đến vùng biển phía đông Đài Loan, eo biển Đài Loan hoặc xung quanh vùng lân cận của đối phương để tấn công.

Về việc hạ thủy hàng không mẫu hạm 003 “Tàu Phúc Kiến” của ĐCSTQ, ông Trần Lượng Trí cho rằng ý định chiến lược hiện tại của ĐCSTQ là đưa hàng không mẫu hạm đến gần chuỗi đảo thứ nhất, hoặc thậm chí chuỗi đảo thứ hai ở vùng biển phía đông Đài Loan, nhằm buộc hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ phải rút lui, để eo biển Đài Loan giống như sở hữu của ĐCSTQ, và mục tiêu phát triển hàng không mẫu hạm của ĐCSTQ thực sự là nhằm vào Hoa Kỳ.

Ông nói rằng nó cũng là để thực hành “chống tiếp cận/từ chối khu vực” (A2/AD).

Cái gọi là “Chống tiếp cận/từ chối khu vực” (A2/AD) là một thuật ngữ quân sự, nói một cách đơn giản, đó là khả năng một trong các bên nhanh chóng phân định khu vực cấm trong trường hợp khẩn cấp để ngăn chặn sự can thiệp có vũ trang của bên thứ ba.

Ông nói rằng các phương tiện chống tiếp cận/từ chối khu vực cụ thể đối với quân đội ĐCSTQ là tấn công vào đội hình hàng không mẫu hạm của Mỹ để nó không dám tiếp cận vùng biển xung quanh của Trung Quốc một cách dễ dàng. Cụ thể hơn, quân đội ĐCSTQ ngăn cản quân đội Hoa Kỳ can thiệp vào các cuộc xung đột quân sự tiềm tàng ở Biển Hoa Đông, eo biển Đài Loan và Biển Đông, nhằm phá vỡ chuỗi đảo đầu tiên (Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, v.v.), và thậm chí ngăn chặn chuỗi đảo thứ hai (đảo Guam, Quần đảo Mariana, v.v.), và có được khả năng chiếm ưu thế quân sự địa phương.

Ông Trần Lượng Trí cũng cho biết, từ khi hạ thủy, thử nghiệm, nghiệm thu, huấn luyện,… cho đến hình thành sức chiến đấu thực tế, ước tính một cách dè dặt sẽ mất từ ​​3 đến 5 năm, nhưng hoạt động huấn luyện hàng không mẫu hạm của Mỹ đã có lịch sử hơn 90 năm và hàng không mẫu hạm Trung Quốc vẫn đang trong giai đoạn thăm dò, sẽ cần nhiều thời gian để quan sát tác động của cuộc đọ sức giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

BDN

Loading

Views: 0

Đài Loan chuẩn bị cho kịch bản bị TQ xâm lược

Tham vọng của Tập Cận Bình và quá trình hiện đại hóa quân đội Trung Quốc đang làm gia tăng lo ngại về nỗ lực sáp nhập Đài Loan.

Tháng trước, khi Joe Biden cam kết sẽ can thiệp quân sự nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan, tuyên bố của ông đã bị Bắc Kinh phản ứng gay gắt.

Một người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói, “Nếu Mỹ tiếp tục đi vào con đường sai lầm, họ sẽ phải trả một cái giá đắt không thể ngờ.”

Câu nói này có thể được hiểu là lời cảnh báo về một cuộc chiến. Cùng ngày, máy bay ném bom hạt nhân của Trung Quốc và Nga đã có một cuộc tập trận chung gần Nhật Bản.

Đó là những hành động mới nhất trong vòng xoáy trao đổi thông điệp quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc. Nó cũng phản ánh mối lo ngại gia tăng ở Washington, Đài Bắc, cũng như giữa các đồng minh của Mỹ, rằng Bắc Kinh có thể cố gắng thôn tính Đài Loan trong vài năm tới.

“Thập niên này thật đáng lo ngại, đặc biệt là giai đoạn từ nay đến năm 2027,” Phil Davidson, một đô đốc về hưu, người từng chỉ huy lực lượng Mỹ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nói. “Sở dĩ tôi nhận định như vậy là vì những cải thiện đáng kinh ngạc trong năng lực quân sự của Trung Quốc, tiến trình chính trị của Tập Cận Bình, và những thách thức kinh tế dài hạn trong tương lai của Trung Quốc”.

Dù lời đe dọa chiếm Đài Loan bằng vũ lực của Trung Quốc đã xuất hiện kể từ khi chính phủ và quân đội Quốc Dân Đảng chạy sang Đài Loan vào năm 1949, sau khi thua trong cuộc nội chiến ở đại lục, Bắc Kinh lâu nay vẫn tập trung lôi kéo hòn đảo vào quỹ đạo của mình bằng chiêu dụ kinh tế và áp lực chính trị.

Tuy nhiên, nhiều nhà hoạch định chính sách Đài Loan hiện tin rằng: khi Đảng Cộng sản Trung Quốc không còn hy vọng vào hiệu quả của các biện pháp kể trên, và với việc các lực lượng vũ trang đang hiện đại hóa nhanh chóng, Tập có thể sớm lựa chọn tham chiến.

Đài Loan trở thành “điểm nóng nguy hiểm” được chú ý chỉ vài ngày sau lễ nhậm chức của Biden hồi năm ngoái, khi máy bay chiến đấu của Trung Quốc tiến hành mô phỏng tấn công bằng tên lửa vào một tàu sân bay Mỹ đang hoạt động ở vùng lân cận của nước này. Trong những tháng tiếp theo, Trung Quốc đã gia tăng tần suất tập trận cũng như kích cỡ của những chiếc máy bay chiến đấu và máy bay ném bom bay gần Đài Loan.

Davidson từng lên tiếng cảnh báo vào tháng 3 năm ngoái, khi trình bày với ủy ban vũ trang Thượng viện rằng ông tin mối đe dọa về một cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào Đài Loan sẽ “trở thành hiện thực … trong vòng sáu năm tới.” Ngay sau đó, một quan chức cấp cao của Mỹ chia sẻ với Financial Times rằng Tập đang cân nhắc ý tưởng chiếm quyền kiểm soát hòn đảo.

Từ đó tới nay, những lời cảnh báo như vậy ngày càng phổ biến – và trở thành nền tảng cho những bình luận của Biden về việc đáp trả một cuộc xâm lược của Trung Quốc. Nó cũng đã thúc đẩy sự thay đổi trong các cuộc trao đổi giữa Đài Loan và Mỹ về cách bảo vệ hòn đảo.

Suốt nhiều năm, Washington liên tục thúc giục Đài Bắc phải chú ý nhiều hơn đến rủi ro này, nhưng chính phủ và quân đội Đài Loan đã phản ứng chậm chạp. Tuy nhiên, cuộc chiến ở Ukraine đã trở thành hồi chuông cảnh tỉnh. Các quan chức cấp cao của Đài Loan nói rằng cuộc tấn công của Nga nhằm vào nước láng giềng đã làm nổi bật mối đe dọa mà chính họ phải đối mặt.

“Mối nguy đến từ Tập Cận Bình và thực tế rằng ông ấy sẽ bắt đầu nhiệm kỳ thứ ba vào cuối năm nay,” một quan chức cho biết. “Theo hiến pháp trước đây của Trung Quốc, nước này sẽ có nhà lãnh đạo mới sau mỗi 10 năm, và ‘sứ mệnh lịch sử’ thống nhất Đài Loan cũng sẽ được chuyển giao cho nhà lãnh đạo kế nhiệm. Nhưng khi sứ mệnh quốc gia trở thành sứ mệnh của một cá nhân, thì mức độ nguy hiểm sẽ tăng lên.”

“Putin đã chẳng đưa ra quyết định xâm lược Ukraine nếu ông không phải là người tự quyết định mọi thứ. Tương tự, Tập Cận Bình cũng có thể đánh giá sai lầm như vậy,” quan chức này cho biết thêm.

Chấm dứt thái độ mơ hồ

Dù cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine giúp người ta chú ý hơn vào mối đe dọa tiềm tàng đối với Đài Loan, có một điểm khác biệt lớn giữa hai bên: cuộc chiến của Trung Quốc nhắm vào Đài Loan có thể là cuộc chiến với Mỹ.

Khi Washington chuyển sự công nhận ngoại giao từ Đài Bắc sang Bắc Kinh vào năm 1979, nước này đã thay thế hiệp ước phòng thủ chung với Đài Loan bằng Đạo luật Quan hệ Đài Loan. Đạo luật này yêu cầu Mỹ cung cấp cho quốc đảo những vũ khí cần thiết để tự vệ, và duy trì năng lực của chính Mỹ trong việc chống lại vũ lực hoặc những hành động cưỡng bức khác có thể gây nguy hiểm cho an ninh của Đài Loan.

Trong quá khứ, người Mỹ luôn mơ hồ về mức độ cam kết của mình. Trong một nỗ lực để vừa ngăn cản Bắc Kinh xem xét sử dụng lực lượng quân sự, vừa không khuyến khích Đài Bắc chính thức hóa nền độc lập của mình, Washington đã từ chối giải thích rõ ràng liệu họ có tham gia vào một cuộc chiến tranh giữa hai bên hay không.

Sự mơ hồ đó đã giảm đi đáng kể dưới thời Biden. Khi được một phóng viên hỏi trong chuyến đi Nhật Bản gần đây, liệu ông có sẵn sàng sử dụng vũ lực để bảo vệ Đài Loan hay không, Tổng thống Mỹ đã trả lời. “Có. Đó là cam kết của chúng tôi.” Nhà Trắng đã vội vã đính chính – giống như việc họ đã làm đối với những tuyên bố tương tự trước đây của Biden, mà một số nhà phân tích coi là hớ hênh – rằng chính sách của Mỹ đối với Đài Loan không thay đổi.

Tuy nhiên, các quan chức cấp cao ở Đài Loan và các nước đồng minh với Mỹ tin rằng Biden đang cố gắng răn đe Bắc Kinh, bằng cách ra hiệu rõ ràng hơn rằng họ có thể sẽ phải chiến đấu với Mỹ. Một quan chức cấp cao của Đài Loan cho biết, “Chúng tôi nghĩ rằng Biden đã đi đến một quyết định chính trị, nhằm chứng minh rằng không thể loại trừ lựa chọn này [Mỹ tham chiến].”

“Đối với trường hợp Ukraine, ông ấy đã nói trước rằng Mỹ sẽ không tham chiến. Nhưng khi Trung Quốc cảm thấy rằng khả năng quân sự của họ đã đạt đến mức sẵn sàng để chiếm Đài Loan, thì việc chỉ sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế hoặc tài chính sẽ không còn là cách răn đe hiệu quả,” vị quan chức nhận định. “Vì vậy, tuyệt đối không được để Trung Quốc tin rằng người Mỹ sẽ không có hành động quân sự.”

Dù ngày càng xuất hiện nhiều lo ngại về khả năng xảy ra xâm lược, nhưng thời điểm chính xác của bất kỳ hành động quân sự nào – và ý định thực sự của Trung Quốc – vẫn là chủ đề được tranh luận gay gắt.

Thời điểm mà Davidson coi là có tiềm năng xảy ra một cuộc tấn công của Trung Quốc, năm 2027, là mốc kỷ niệm một trăm năm thành lập Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA). Tháng 01/2020, Đảng Cộng sản Trung Quốc tuyên bố mong muốn “đảm bảo đạt được mục tiêu xây dựng quân đội 100 năm vào năm 2027”, theo đó kêu gọi hiện đại hóa quân đội nhanh hơn, đồng thời nhắc lại mục tiêu chuẩn bị cho quân đội Trung Quốc tham gia chiến tranh mạng, chiến tranh “thông minh hóa”.

Lầu Năm Góc gọi năm 2027 là một “cột mốc mới” – cụm từ mà Trung Quốc đã từng sử dụng trước đây. “Nếu chúng trở thành hiện thực, các mục tiêu hiện đại hóa năm 2027 của PLA có thể cung cấp cho Bắc Kinh những lựa chọn quân sự đáng tin cậy hơn, trong trường hợp chiến tranh Đài Loan xảy ra,” trích báo cáo thường niên về quân đội Trung Quốc của Lầu Năm Góc hồi năm ngoái.

Một số nhà phân tích tỏ ý nghi ngờ về mốc thời gian mà Davidson chọn. Nhưng một năm sau khi ông đưa ra nhận xét của mình, các quan chức chính phủ và quân đội ở cả Đài Bắc lẫn Washington đều cho rằng giai đoạn từ nay đến năm 2027 quả thực là một mối đe dọa.

Tháng 10 năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan Khâu Quốc Chính cho biết PLA sẽ có “đầy đủ khả năng” tấn công Đài Loan vào năm 2025. “Tình hình hiện tại thực sự đang ở mức độ nguy hiểm nhất mà tôi từng chứng kiến trong hơn 40 năm làm việc trong quân đội,” ông nói với các nhà lập pháp.

Gần đây, Avril Haines, Giám đốc Tình báo Quốc gia Mỹ, đã nói với Quốc hội rằng Đài Loan đang bị đe dọa “nghiêm trọng” từ nay đến năm 2030 – theo đó ủng hộ ý kiến cấp bách của Davidson. John Aquilino, người đang là Tổng Tư lệnh khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, gần đây đã nói với Financial Times rằng cuộc xâm lược ở Ukraine đã cho thấy mối đe dọa của Trung Quốc đối với Đài Loan là không hề trừu tượng.

Các chuyên gia Đài Loan coi năm 2024 và năm 2025 là hai mốc đặc biệt nguy hiểm. Họ tin rằng Tập Cận Bình có thể bị cám dỗ sử dụng vũ lực nếu Đảng Dân Tiến, những người chủ trương duy trì nền độc lập trên thực tế của Đài Loan, tiếp tục giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo vào đầu năm 2024, hoặc nếu Tập cảm nhận được khoảng trống chính trị ở Mỹ sau kỳ bầu cử tổng thống tiếp theo vào cuối năm 2024.

Mackenzie Eaglen, chuyên gia quốc phòng tại American Enterprise Institute, một viện chính sách ở Washington, nói rằng có hai luồng ý kiến về thời điểm Trung Quốc có thể tấn công Đài Loan.

“Câu chuyện là giữa những người tin vào giai đoạn mà Davidson đề cập– thời điểm nguy hiểm tối đa – và những người tin rằng chúng ta vẫn còn thời gian để tạo dựng khả năng ngăn chặn và đánh bại Trung Quốc một ngày nào đó trong tương lai,” Eaglen nói. Bà cũng thêm rằng các lãnh đạo Lầu Năm Góc đang “cố gắng cân bằng giữa hai bên, đồng ý rằng hiện đang có một số lo ngại, nhưng chọn đặt trọng tâm vào trung hạn.”

Một người quen thuộc với các đánh giá của chính quyền Mỹ về mối đe dọa đối với Đài Loan nói đến một sự nhất trí chung, rằng Trung Quốc đang hướng tới việc phát triển các khả năng cần thiết để tấn công vào năm 2027, nhưng người này cho rằng điều đó rất khác với câu hỏi về ý định hay hành động.

“Tôi không nghĩ rằng [Trung Quốc] đã ra quyết định phải làm bất cứ điều gì ở bất cứ thời hạn nào, ngoài việc đạt được những khả năng nhất định. Tôi nghĩ rằng điều này đã không được nhắc đến trong cuộc tranh luận về thời gian [xảy ra chiến tranh],” bà nói.

Chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất

Sự lo lắng ngày càng gia tăng về một cuộc xâm lược tiềm tàng của Trung Quốc đang định hình lại cách suy nghĩ của Washington và Đài Bắc về việc bảo vệ hòn đảo.

Hơn mười năm qua, Washington đã cố gắng thuyết phục Đài Loan trở nên “mạnh mẽ” hơn trước cuộc xâm lược của Trung Quốc. Nhưng quân đội nước này vẫn chỉ lập kế hoạch với giả định rằng họ có nhiều thời gian hơn để chuẩn bị, hoặc sẽ không phải đối phó với một cuộc xâm lược toàn diện.

Nhiều chuyên gia quốc phòng Đài Loan xem đó là tình huống xấu nhất, nhưng họ lo ngại các động thái quân sự ngoài chiến tranh của Trung Quốc – chẳng hạn như việc Bắc Kinh thường xuyên tập trận trên không và trên biển gần Đài Loan, chiến tranh thông tin, hoặc thậm chí có thể phong tỏa đường biển – có thể làm suy yếu quyết tâm kháng cự của Đài Loan. Do đó, Đài Bắc cũng muốn duy trì các khả năng quân sự cần thiết để chống lại những động thái đó, ví dụ bằng tàu mặt nước, máy bay chiến đấu hiện đại, và hệ thống bay cảnh báo sớm.

Nhưng giờ đây, khi Mỹ đang ngày càng tập trung vào mối đe dọa xâm lược trong tương lai gần, họ lại buộc Đài Bắc phải tự hành động: chính quyền Mỹ đã bắt đầu từ chối yêu cầu của Đài Loan về các loại vũ khí lớn như trực thăng tác chiến chống tàu ngầm, thứ mà người Mỹ tin rằng có thể nhanh chóng bị phá hủy trong một cuộc tấn công của Trung Quốc, và sẽ làm tiêu tốn quá nhiều nguồn lực quý giá.

Thay vào đó, Mỹ đang thúc đẩy sự tập trung vào các loại vũ khí nhỏ, tương đối rẻ, và có thể tồn tại được lâu như tên lửa di động, thứ sẽ chỉ được sử dụng để chống lại âm mưu xâm lược và chiếm đóng của Trung Quốc.

Chính phủ Đài Loan cũng bị ép phải hành động sau khi chứng kiến những gì xảy ra trong cuộc chiến Ukraine.

Các quan chức cấp cao cho biết chính phủ của Tổng thống Thái Anh Văn hiện đang tập trung vào việc tăng cường khả năng linh hoạt của đất nước để chống lại cuộc tấn công của Trung Quốc. Thủ tướng Tô Trinh Xương đã cam kết ủng hộ việc kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự cơ bản từ mức bốn tháng hiện tại lên một năm, cũng như tăng ngân sách quốc phòng, mà cho đến nay vẫn chỉ ở mức trung bình 2% tổng sản phẩm quốc nội.

“Chúng tôi thực sự đang có các cuộc thảo luận quy mô lớn và kỹ lưỡng trong nội bộ, cũng như với người Mỹ, về những việc mình cần làm,” một người hiểu rõ tình hình tiết lộ. “Chúng tôi đang kiểm tra loạt ý tưởng khác biệt để làm cho đất nước của mình linh hoạt hơn, để xây dựng các tính năng mà chúng tôi cần trong thời chiến.”

Các chính sách đang được xem xét bao gồm một cuộc cải cách nhanh hơn và dứt khoát hơn đối với lực lượng dự bị còn hạn chế của Đài Loan; xây dựng mạng lưới điện và liên lạc phân tán, thứ mà các cuộc tấn công mạng và tên lửa của Trung Quốc không thể hủy diệt hoàn toàn; củng cố các hệ thống chỉ huy và kiểm soát; lập kế hoạch tiếp tế nhu yếu phẩm trong thời chiến; và phân công trách nhiệm hành chính cho phòng thủ dân sự. Vị quan chức cấp cao này cho biết, “Mục tiêu của chúng tôi là chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng vào khoảng năm 2025 đến 2027.”

Hiện đại hóa quân đội Trung Quốc

Có rất nhiều bằng chứng từ các nguồn công khai cho thấy PLA đang toàn tâm toàn ý theo đuổi các khả năng cần thiết để tiến hành một cuộc xâm lược.

Một trong những khả năng đó là tìm kiếm và nhắm mục tiêu vào các tàu ngầm có thể tấn công các tàu hải quân Trung Quốc đang chuyển quân xâm lược qua Eo biển Đài Loan. Trong số 1.543 lượt máy bay PLA đã bay vào vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của Đài Loan kể từ tháng 09/2020, có 262 chiếc là máy bay tác chiến chống tàu ngầm. ADIZ là một vùng đệm trong không phận quốc tế được theo dõi với mục đích cảnh báo sớm.

Tháng 04/2021, tàu đổ bộ trực thăng Type 075 đầu tiên của Hải quân PLA, một tàu tấn công đổ bộ cỡ lớn chuyên chở trực thăng và binh lính, đã đi vào hoạt động. Hai chiếc nữa đã bắt đầu được thử nghiệm trên biển.

Theo bài viết của các nhà nghiên cứu tại Đại học Giao thông Quân sự của PLA, lực lượng của họ vẫn còn thiếu năng lực vận tải cần thiết, nhưng họ đang lập kế hoạch sử dụng phà dân sự, sà lan, và bệ nổi để đưa quân vào bờ ngay cả khi không thể tiếp cận cảng biển.

Sử dụng các báo cáo trên kênh quân sự của truyền hình nhà nước Trung Quốc và các bức ảnh vệ tinh, Michael Dahm, một sĩ quan tình báo Hải quân Mỹ đã nghỉ hưu, hiện đang là nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Vật lý Ứng dụng của Đại học Johns Hopkins, đã phân tích hai cuộc tập trận liên quan vào mùa hè năm 2020 và năm 2021. Ông tin rằng PLA đang xây dựng kế hoạch huy động hàng hải “với quy mô khổng lồ”.

“Việc huy động vận tải biển dân sự để hỗ trợ các chiến dịch quân sự xuyên eo biển đi kèm rủi ro rất cao và có thể dẫn đến tổn thất rất lớn,” Dahm viết trong một bài nghiên cứu vào năm ngoái. “[Tuy nhiên] có nhiều thách thức liên quan đến tính hiệu quả và tiêu hao mà quân đội Trung Quốc có thể giải quyết chỉ đơn giản bằng quân số áp đảo và khả năng chịu đựng tổn thất.”

Một số nhà phân tích tin rằng cuộc xâm lược Đài Loan vẫn sẽ là một thách thức đáng kể đối với PLA trong nhiều năm tới – một thực tế mà họ cho là đã được nhấn mạnh bởi những khó khăn của người Nga trong một chiến dịch với bối cảnh ít phức tạp hơn nhiều.

“Những gì [PLA] muốn làm trong kịch bản yêu thích của họ phức tạp hơn nhiều so với những gì Nga đang cố gắng làm ở Ukraine. Nhìn chung, xét theo các kịch bản chinh phục quân sự, điều người Nga đang cố gắng làm là dễ nhất, còn điều người Trung Quốc muốn làm là khó nhất,” Taylor Fravel, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu An ninh tại MIT, đồng thời là chuyên gia về chiến lược quân sự của Trung Quốc, nhận xét. “Do đó, trong lúc quan sát những khó khăn của Nga khi tiến hành các hoạt động tương đối đơn giản, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể sẽ băn khoăn về khả năng thực hiện những chiến dịch phức tạp hơn nhiều của PLA, điều này có thể khiến họ tạm thời thận trọng hơn trong việc phát động một cuộc tấn công như vậy.”

Tô Tử Vân, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh, một viện chính sách được Bộ Quốc phòng Đài Loan hỗ trợ, lập luận rằng bất kể PLA lựa chọn bước đi nào, họ vẫn cần đưa được tàu qua eo biển. “Ở Ukraine, chúng ta đã chứng kiến cảnh các phương tiện của Nga kẹt cứng trên đường cao tốc. Trong kịch bản của Đài Loan, biển chính là đường cao tốc,” ông nói. “Đó chính là thời gian và địa điểm để tiêu diệt họ.”

Dù khả năng để thực sự tiến hành xâm lược của Trung Quốc vẫn chưa rõ ràng, quá trình hiện đại hóa nhanh chóng của lực lượng vũ trang nước này đã khiến các đối thủ của họ gặp phải bất lợi.

“Trung Quốc đang trên đà gia tăng đầu tư quân sự. Nếu Mỹ tiếp tục giữ nguyên cách tiếp cận đầu tư quốc phòng của mình, thì khoảng cách giữa hai bên sẽ nhanh chóng bị thu hẹp trong khoảng thời gian đó,” Davidson nói.

Sự mất cân bằng ấy có thể khiến tình hình càng thêm nguy hiểm. Một quan chức quân sự Đài Loan cho biết sẽ mất vài năm để thực hiện kế hoạch củng cố vị thế của Mỹ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, chẳng hạn như xây dựng lực lượng thủy quân lục chiến cơ động hơn và đe dọa tàu Trung Quốc bằng hệ thống tên lửa trên các đảo do đồng minh kiểm soát. “Chúng tôi lo ngại rằng Cộng sản Trung Quốc có thể nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu họ tấn công sớm – trước khi chúng tôi và Mỹ sẵn sàng,” ông nói.

Một số nhà phân tích cho rằng việc nhìn thấy Nga chật vật ở Ukraine cũng có thể chứng minh cho Bắc Kinh tầm quan trọng của việc hành động nhanh chóng. “Về mặt chính trị, nếu các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Mỹ đã hoặc sẽ mở rộng cam kết an ninh vô điều kiện với Đài Loan, thì giá trị của việc Trung Quốc thực hiện một số hành động quân sự để chứng tỏ quyết tâm và sự sẵn sàng chống lại Mỹ sẽ lớn hơn nhiều so với trước đây,” Fravel nói.

Một số chính trị gia Đài Loan cho rằng sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của Mỹ với Trung Quốc đang làm rủi ro tăng thêm. Hôm thứ Hai, Chu Lập Luân, chủ tịch Quốc Dân Đảng đối lập, chia sẻ với một nhóm thính giả trong giới tư vấn chính sách tại Washington rằng ông hy vọng sự chú ý của Mỹ sẽ không gây ra “rắc rối” ở châu Á. “Tôi đánh giá cao bất kỳ sự giúp đỡ nào từ Mỹ,” Chu nói. “Nhưng tôi hy vọng căng thẳng có thể [giảm bớt] trong những năm tới.”

BDN

Loading

Views: 0

20 tiêm kích F-22 của Mỹ tới Thái Bình Dương

Đài CNN cho biết không quân Mỹ sẽ điều hơn 20 tiêm kích tàng hình F-22 tới một cuộc tập trận ở Thái Bình Dương trong tháng này, nhằm gửi thông điệp mạnh mẽ tới Trung Quốc.

Lực lượng không quân Mỹ ở Thái Bình Dương dự tính cử 25 chiếc F-22 Raptor từ căn cứ chung Elmendorf-Richardson ở Alaska tới các đảo Guam và Tinian, nhằm phục vụ chiến dịch tập trận không quân mang tên Pacific Iron 2021.

“Chúng tôi chưa bao giờ triển khai cùng lúc nhiều chiếc Raptor như vậy trong khu vực hoạt động của lực lượng không quân Thái Bình Dương” – tướng Ken Wilsbach, chỉ huy lực lượng không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, nói với Đài CNN.

F-22 là máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5, tiên tiến nhất thế giới và tích hợp công nghệ tàng hình. Máy bay cũng có khả năng kết nối hệ thống cảm biến bên trong với hệ thống thông tin bên ngoài, giúp phi công có cái nhìn chi tiết về không gian chiến đấu.

Do khả năng né radar, F-22 được kỳ vọng sẽ là một trong những vũ khí được sử dụng đầu tiên trong bất kỳ cuộc xung đột nào, với nhiệm vụ tiêu diệt hệ thống phòng không của đối phương.

Mỹ điều hơn 20 tiêm kích F-22 tới Thái Bình Dương - Ảnh 2.

Hai chiếc F-22 Raptor của không quân Mỹ bay trên bầu trời Alaska – Ảnh: CNN

Carl Schuster, nhà phân tích quốc phòng tại Hawaii, cho biết một đợt triển khai F-22 thông thường bao gồm từ 6 đến 12 máy bay.

“Lực lượng không quân Thái Bình Dương đang chứng minh rằng họ có thể triển khai cùng lúc nhiều máy bay thế hệ thứ 5 hơn là số máy bay quân đội Trung Quốc sở hữu”, ông Carl nói.

Theo ông Carl, tuy không quân Trung Quốc có khoảng 20 đến 24 máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 đang hoạt động, nhưng khả năng đang được cải thiện nhanh chóng.

“Việc chứng minh khả năng chiến đấu nhanh của không quân Mỹ gửi tín hiệu răn đe mạnh mẽ đến Trung Quốc, và trấn an các đồng minh cũng như đối tác”, ông Carl nói.

Ông Layton, nhà phân tích người Úc, cho biết việc triển khai F-22 khiến không quân Mỹ gặp một số khó khăn.

“F-22 là một trong những loại máy bay khó triển khai nhất. Nếu Mỹ có thể làm được thì việc triển khai với những máy bay chiến đấu khác trở nên đơn giản – ông Layton nói – Một cuộc triển khai thành công sẽ có giá trị răn đe với Trung Quốc”.

Không quân Mỹ có khoảng 180 chiếc F-22, nhưng chỉ có một nửa trong số đó có thể thực hiện nhiệm vụ bất kỳ lúc nào vì lý do bảo trì. Như vậy, Mỹ sẽ cử khoảng 25% tiêm kích F-22 tham gia tập trận ở Thái Bình Dương.

BDN

Loading

Views: 0

Vụ Nga bắn cảnh cáo tàu Anh: Nga nghi ngờ Mỹ ‘dính líu’, Anh phản pháo, LHQ lên tiếng

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova cho rằng, vụ tàu khu trục HMS Defender của Anh xâm nhập lãnh hải Nga ở Biển Đen không thể được thực hiện mà không có sự đồng tình từ phía Mỹ.

Moscow cho rằng, vụ tàu khu trục HMS Defender của Anh xâm nhập lãnh hải Nga ở Biển Đen không thể được thực hiện mà không có sự đồng tình từ Mỹ. (Nguồn: PA)

Trên Telegram, bà Zakharova đặt nghi vấn về việc “Cơ quan báo chí của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đề nghị giới truyền thông chuyển câu hỏi về vụ việc liên quan đến tàu khu trục Anh tới các nhà chức trách Anh”.

Theo bà Zakharova, tàu HMS Defender đã ở phía Tây Bắc của Biển Đen để chuẩn bị cho cuộc tập trận Sea Breeze được tiến hành dưới sự chỉ huy của Mỹ.

Các chuyên gia Mỹ từng thông báo, vào thời điểm xảy ra vụ việc, trên tàu có các lực lượng đặc nhiệm Mỹ, Anh và Ukraine đang diễn tập huấn luyện.

Trong điều kiện như vậy, theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga, “việc di chuyển hòa bình” của tàu khu trục Anh không thể không có sự thỏa thuận với “người anh cả” Mỹ.

Hôm 23/6, Hạm đội Biển Đen của Hải quân Nga cùng Cơ quan An ninh Liên bang (FSB) thông báo đã ngăn chặn hành vi xâm phạm biên giới quốc gia Nga của tàu HMS Defender.

Theo thông báo, tàu khu trục Anh đã vượt qua biên giới Nga và đi sâu vào lãnh hải nước này 3km ở khu vực mũi Fiolent.

Bộ Quốc phòng Nga lưu ý, tàu khu trục HMS Defender đã được cảnh báo trước về việc Moscow sẽ sử dụng vũ khí trong trường hợp tàu xâm phạm hải giới, nhưng thủy thủ đoàn trên tàu không hề phản ứng.

Tàu Nga sau đó đã nổ súng cảnh báo trong khi máy bay Su-24M của nước này cũng thả bom cảnh cáo theo đường đi của tàu khu trục Anh.

Ngày 24/6, Bộ Ngoại giao Nga cho biết, cơ quan này đã trao cho Đại sứ Anh tại Moscow Deborah Bronnert công hàm phản đối quyết liệt về vụ việc trên.

Bộ trên cảnh báo Đại sứ Bronnert rằng, Anh sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với mọi hậu quả nếu tiếp tục để xảy vụ việc tương tự.

Bộ Ngoại giao Nga cho rằng, sự cố này có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng và khu vực Biển Đen đang trở thành khu vực đối đầu quân sự.

Nga cũng cáo buộc Anh đã tung tin dối trá về vụ đối đầu nói trên, đồng thời cảnh báo London rằng, Moscow sẽ kiên quyết đáp trả bất kỳ hành động khiêu khích nào của hải quân Anh ngoài khơi Bán đảo Crimea.

Trước đó, Ngoại trưởng Anh Dominics Raab đã bác thông báo của Hải quân Nga, cho hay, không có phát súng nào được bắn về phía tàu HMS Defender và lời giải thích của Moscow về vụ việc là “không chính xác”.

Trong khi đó, Bộ trưởng Môi trường Anh George Eustic cho rằng: “Không có điều gì phải quá lưu tâm trong vụ việc không mấy bất thường này. Tôi không cho rằng đó là những loạt đạn cảnh cáo”.

Cùng ngày, Thủ tướng Boris Johnson nhấn mạnh, tàu HMS Defender đang hoạt động hợp pháp trong vùng biển quốc tế sau cuộc đối đầu với quân đội Nga ở ngoài khơi Bán đảo Crimea được Nga sáp nhập.

Phát biểu với các phóng viên, Thủ tướng Johnson nói: “Tôi cho rằng việc sử dụng các vùng biển quốc tế là hoàn toàn phù hợp. Điều quan trọng là chúng tôi không công nhận việc Nga sáp nhập Crimea”.

Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Anh tuyên bố: “Hải quân Hoàng gia Anh sẽ luôn tôn trọng luật pháp quốc tế và không chấp nhận sự can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động di chuyển vô hại”.

Cũng trong ngày 24/6, người phát ngôn của Liên hợp quốc Stephane Dujarric cho biết, ông đã đọc thông tin trên báo nói về sự cố vừa xảy ra tại Biển Đen và mong muốn căng thẳng sẽ được giảm bớt, dù bằng cách này hay cách khác.

TG&VN

Loading

Views: 0

Mối đe doạ từ các căn cứ quân sự bên ngoài của TQ

Mới đây quân đội Mỹ xác nhận rằng Trung Quốc đã hoàn thành việc xây dựng một cầu tàu dài hơn 330 m tại căn cứ hải quân nước ngoài duy nhất của họ ở Djibouti bên bờ eo biển Bab el-Mandeb thuộc Đông Phi.

Việc hiện đại hóa cảng này sẽ cho phép Trung Quốc tiếp nhận các tàu sân bay cũng như phục vụ các tàu đổ bộ tấn công đa năng Type 075 mới, sẽ sớm chiếm vị trí then chốt trong các hoạt động trên bộ của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA). Đồng thời, kết quả phân tích hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đang xây dựng một bến tàu hoặc cầu cảng thứ hai để gia tăng khả năng cho căn cứ hải quân của mình.

Tất cả các hoạt động này có khả năng cho phép Hải quân PLA triển khai sức mạnh của mình bên ngoài các khu vực hoạt động truyền thống ở Biển Đông và biển Hoa Đông, qua đó nâng cao đáng kể vị thế của Bắc Kinh trên trường quốc tế.

Công cụ gia tăng ảnh hưởng trên toàn cầu

Trung Quốc đang thảo luận về các phương án xây dựng và vận hành căn cứ quân sự ở nước ngoài nhằm bảo vệ các lợi ích ngày càng tăng của nước này trên toàn thế giới. Họ không chỉ tính đến vị thế của mình trong tương lai, mà còn tính đến các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, cũng như khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng khu vực.

Nền tảng để PLA mở rộng sự hiện diện ở các quốc gia khác là mạng lưới logistics thương mại, được các công ty tư nhân và nhà nước của Trung Quốc xây dựng thông qua việc thực hiện các dự án của riêng của họ, hoặc qua việc mua sắm, thuê dài hạn và sử dụng chung các cảng biển, sân bay và cơ sở vật chất sẵn có.

Nhiệm vụ bảo vệ các lợi ích của Trung Quốc ở nước ngoài chủ yếu do Hải quân PLA gánh vác, do đó họ có cơ hội tiến hành các hoạt động bên ngoài phạm vi truyền thống, vốn tương đối gần bờ biển Trung Quốc.

Trung Quốc cần các căn cứ ở nước ngoài chủ yếu để đảm bảo an ninh cho các tuyến thương mại đường biển và chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Điều này tạo ra mối liên kết không thể tránh khỏi giữa hiện diện quân sự của Bắc Kinh với sáng kiến “Vành đai và Con đường”.

000_GU1C5.jpg

Hình minh hoạ. Binh lính TQ tham lực lượng gìn giữ hoà bình của UN ở Châu Phi. AFP

Ngoài ra, các cơ sở quân sự của Trung Quốc ở nước ngoài còn có chức năng hỗ trợ hậu cần cho hoạt động chống cướp biển, triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình và các sứ mệnh nhân đạo, bao gồm cứu trợ thiên tai và các hoạt động quân sự ngoài chiến tranh như sơ tán dân thường và cứu hộ.

Mục đích của tất cả những điều này là nhằm nâng cao hình ảnh của Trung Quốc trên trường quốc tế, và về lâu dài sẽ cho phép Bắc Kinh gia tăng sức ảnh hưởng trên thế giới.

Trung Quốc đã chính thức thành lập căn cứ ở nước ngoài đầu tiên tại Djibouti vào tháng 8/2017, với chi phí xây dựng ban đầu khoảng 590 triệu USD. Căn cứ này do Hải quân PLA vận hành với mục đích chính là hỗ trợ hậu cần cho quân đội Trung Quốc ở vịnh Aden và Biển Đỏ, cũng như phục vụ các hoạt động gìn giữ hòa bình và nhân đạo ở châu Phi.

Vị trí chiến lược của căn cứ hải quân này mang lại cho Trung Quốc chỗ đứng vững chắc ở Tây Ấn Độ Dương. Như vậy, Bắc Kinh đang tìm cách bảo vệ các tuyến vận tải thương mại chính, vốn vận chuyển phần lớn năng lượng nhập khẩu và hàng hóa của Trung Quốc trên biển.

Sự hiện diện của binh sĩ Trung Quốc ở Djibouti, trong trường hợp cần thiết, sẽ gia tăng đáng kể khả năng của Bắc Kinh trong việc bảo vệ các khoản đầu tư và cơ sở hạ tầng trong khu vực, cũng như đảm bảo an ninh cho khoảng một triệu công dân Trung Quốc ở lục địa châu Phi và 500.000 người khác ở Trung Đông.

Căn cứ tiếp theo sẽ nằm ở đâu?

Kể từ khi Trung Quốc thiết lập căn cứ hải quân ở Djibouti, các nhà nghiên cứu trong và ngoài Trung Quốc đã cố gắng suy đoán xem thành trì chiến lược tiếp theo của Bắc Kinh ở nước ngoài sẽ nằm ở đâu.

Một báo cáo đặc biệt năm 2020 của quân đội Mỹ đã liệt kê các khu vực có khả năng trở thành nơi Trung Quốc mở rộng sự hiện diện. Theo tài liệu này, Trung Quốc có khả năng cân nhắc đặt các căn cứ hậu cần của PLA ở Myanmar, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Pakistan, Sri Lanka, Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất, Kenya, Seychelles, Tanzania, Angola và Tajikistan. Trung Quốc được cho là đã tìm cách xây dựng căn cứ ở Namibia, Vanuatu và quần đảo Solomon, nhưng Campuchia mới là nơi thu hút nhiều sự chú ý nhất của giới quan sát.

Tháng 7/2019, tờ Wall Street Journal dẫn lời các quan chức Mỹ giấu tên cho biết Bắc Kinh và Phnom Penh được cho là đã ký một thỏa thuận bí mật cho phép Trung Quốc tiếp cận căn cứ hải quân Ream trong 30 năm, và hiệp ước này sẽ tự động gia hạn 10 năm một lần. Đổi lại, Trung Quốc cam kết hiện đại hóa cơ sở hạ tầng của Campuchia, mà vì lẽ đó, trong nửa cuối năm 2020, một số công trình kỹ thuật và tòa nhà do Mỹ và Australia xây dựng đã bị phá bỏ, bao gồm cả trụ sở chỉ huy chiến thuật của Ủy ban An ninh hàng hải quốc gia.

Cả Trung Quốc và Campuchia đều kịch liệt phủ nhận việc họ ký thỏa thuận cho phép Hải quân PLA tiếp cận căn cứ Ream. Chính quyền Hun Sen cũng đề cập đến việc Hiến pháp Campuchia nghiêm cấm việc triển khai binh sĩ nước ngoài ở trong nước.

Một cơ sở hậu cần khác của PLA ở Campuchia có lẽ là dự án du lịch Dara Sakor trị giá 3,8 tỷ USD vào năm 2016 trong khuôn khổ sáng kiến “Vành đai và Con đường”. Chính phủ Campuchia đã ký hợp đồng cho thuê đất thời hạn 99 năm với Tập đoàn phát triển liên hiệp Thiên Tân của Trung Quốc đối với khoảng 20% bờ biển Campuchia thuộc tỉnh Koh Kong ở miền Nam nước này.

Sau đó, phần lớn dự án đã bị đình chỉ, ngoại trừ việc xây dựng sân bay quốc tế Dara Sakor với đường băng dài 3 km. Theo nhận định của một số chuyên gia, các cơ sở này có thể được quân đội Trung Quốc sử dụng cho mục đích riêng của họ trong tương lai.

2018-06-06T060448Z_132971813_RC18BDF3B9F0_RTRMADP_3_CHINA-SILKROAD-CAMBODIA.JPGCông trường xây dựng sân bay do Tập đoàn Union Development Group của Trung Quốc thực hiện ở Botum Sakor, tỉnh Koh Kong, Campuchia. Reuters

Mối nghi ngờ càng có cơ sở khi xét tới sự hợp tác ngày càng tăng giữa quân đội hai nước, cũng như việc Campuchia dần xa rời phương Tây như để phản ứng trước những lời chỉ trích thường xuyên về dân chủ và nhân quyền. Trong những năm gần đây, Chính quyền Hun Sen đã hủy bỏ các chương trình hợp tác với Hải quân Mỹ, hủy bỏ các cuộc tập trận quân sự Angkor Sentinel với Mỹ và tiến hành các cuộc tập trận tương tự mang tên Rồng Vàng với Trung Quốc.

Mặc dù hiện tại không có bằng chứng rõ ràng nào về sự hiện diện của PLA tại căn cứ Ream hoặc các địa điểm dân sự ở Dara Sakor, nhưng không thể loại trừ khả năng này trong tương lai, đặc biệt là khi xét tới các khoản nợ Trung Quốc ngày càng tăng của Campuchia và việc Phnom Penh ngày càng dấn sâu vào vùng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Campuchia có vị trí địa chiến lược quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, nằm án ngữ phía Tây và Tây Nam của Việt Nam, phía Đông của Thái Lan; giáp hạ nguồn lưu vực sông Mê Kông; vừa thông ra biển, vừa án ngữ đường thủy huyết mạch của khu vực Đông Nam Á lục địa; có cảng nước sâu Shihanoukville nằm trong đường hàng hải chiến lược từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương. Do vậy, Campuchia được coi là viên ngọc trai thứ hai trong “Chuỗi Ngọc trai”của Trung Quốc, nhằm kết nối đặc khu hành chính Hồng Kông với Sudan qua Ấn Độ Dương và giúp Trung Quốc tiếp cận Vịnh Thái Lan, Biển Đông một cách thuận tiện nhất. Việc chi phối Campuchia mang lại cho Trung Quốc nhiều lợi ích về chính trị và quốc phòng, an ninh. Với sự có mặt ở Campuchia, Trung Quốc có thể nắm giữ một địa bàn chiến lược, làm hạn chế sự gia tăng ảnh hưởng của Mỹ, Nhật Bản đối với khu vực trong bối cảnh sự ủng hộ của các nước này đối với Philippines và Việt Nam gây ra những thách thức đối với yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc ở Biển Đông; đồng thời, góp phần gia tăng sức ép đối với Việt Nam từ hướng Tây Nam trong trường hợp quan hệ Trung Quốc – Việt Nam căng thẳng.

Ngoài ra, nằm ở trung tâm của Đông Nam Á lục địa, cảng Sihanoukville của Campuchia được mệnh danh là một căn cứ có vị trí chiến lược quan trọng để triển khai sức mạnh quân sự ở khu vực vịnh Thái Lan và eo biển Malacca; có thể triển khai căn cứ hậu cần, bảo đảm xăng dầu cho ba hạm đội hiện tại để kiểm soát vùng Biển Đông, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Khu vực sân bay Kampong Chohnang có thể giúp kiểm soát không quân ở khu vực, tạo thành tiền phương phòng thủ từ xa cho Trung Quốc. Các căn cứ không quân và sân bay của Campuchia có thể phát huy vai trò trong trường hợp Trung Quốc thiếu khả năng tiếp dầu trên không để kiểm soát vùng trời trên biển. Chi phối được Campuchia, Trung Quốc có thể sử dụng các căn cứ quân sự của quốc gia này can dự vào ASEAN, đe doạ khu vực.

BDN

Loading

Views: 0

Nga xây dựng sân bay quân sự ở Lào, tăng cường hợp tác quốc phòng với quốc gia Đông Nam Á

Quân đội Nga dự định sẽ tăng cường hỗ trợ đáng kể cho Lào trong tương lai, gồm cả hoạt động đào tạo và phát triển các lực lượng vũ trang của nước này.

Theo các quan chức Lào, Quân đội Nga đã bắt đầu rà phá các vật liệu chưa nổ còn sót lại (UXO) tại một khu vực rộng khoảng 500 ha ở tỉnh Xiêng Khoảng nhằm phục vụ công tác xây dựng một sân bay và cơ sở quân sự mới trong kế hoạch mở rộng viện trợ quân sự cho quốc gia Đông Nam Á này.

Theo hãng tin VOA, một đội rà phá bom mìn của Nga đã làm việc với các đối tác của Lào để rà phá bom mìn kể từ ngày 5/12/2020.

“Người Nga đến đây để xây dựng một sân bay quân sự ở phía bên kia Cánh đồng Chum,” một trong những quan chức Lào cho VOA biết.

“Họ hiện đang thu dọn bom mìn và sau đó sẽ nâng cấp sân bay hiện tại, làm cho nó trở nên rộng rãi hơn và đẹp đẽ hơn”.

Một quan chức quân sự khác ở tỉnh Xiêng Khoảng cũng đã cung cấp thêm thông tin chi tiết về dự án sân bay mới với hãng thông tấn RFA.

“Các lực lượng vũ trang của Nga và Lào đang cùng nhau xây dựng sân bay mới này để biến nó thành một sân bay hiện đại và sẽ được chia thành hai khu vực khác nhau”, nguồn tin của RFA tiết lộ.

“Một phân khu sẽ dành cho lực lượng quân sự của Lào và Nga và khu còn lại dành cho mục đích dân sự”.

Nga xây dựng sân bay quân sự ở Lào, tăng cường hợp tác quốc phòng với quốc gia Đông Nam Á - Ảnh 1.

Đầu năm 2020, Quân đội Nga đã bàn giao cho Bộ Quốc phòng Lào một lô xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT) phiên bản nâng cấp T-72B1 có biệt danh “Đại Bàng Trắng”. Ảnh: Army Recognition

Viên sĩ quan trên nói rằng Quân đội Nga dự định sẽ tăng cường hỗ trợ đáng kể cho Lào trong tương lai, gồm cả hoạt động đào tạo và phát triển các lực lượng vũ trang của nước này.

“Một số công việc liên quan tới sân bay mới đã bắt đầu nhưng công tác xây dựng thực tế sẽ chưa thể sớm tiến hành vì hoạt động rà phá bom mìn sẽ mất một thời gian”.

“Khi bom mìn đã được dọn sạch, chúng tôi sẽ đặt đường dây điện ngầm. Chúng tôi sẽ thực hiện công việc của mình từng bước”.

Theo hãng tin Sputnik, bên cạnh sân bay, Nga còn có ý định mở rộng hợp tác quân sự hơn nữa với Lào, trong đó có việc xây dựng một cơ sở để huấn luyện cho Quân đội Lào về cách sử dụng các thiết bị quân sự của Nga.

Một cựu quan chức cấp cao của Chính phủ Lào nói với RFA rằng hai bên đang mở rộng hợp tác theo thỏa thuận mà họ đã đạt được về an ninh và quốc phòng cũng như với dự án sân bay mới.

“Theo các thỏa thuận, hầu hết chương trình hợp tác sẽ bao gồm đào tạo và giảng dạy kỹ thuật quân sự cho các lực lượng vũ trang Lào”, cựu quan chức giấu tên trên cho biết.

“Thời kỳ Xô Viết, chúng tôi đã từng có sự hợp tác nhiều hơn và Quân đội Liên Xô khi đó cũng hiện diện nhiều hơn ở Lào”.

Năm 2018, Lào đã đặt mua các xe tăng và một số lượng không xác định máy bay huấn luyện Yak-130 từ Nga sau chuyến thăm cấp nhà nước tới Moscow một năm trước đó của Thủ tướng Lào khi đó là ông Thongloun Sisoulith và hai quốc gia đã ký một thỏa thuận hợp tác quân sự.

Bốn trong số các xe tăng sau đó đã được Công ty Rosoboronexport của Nga chuyển giao cho Bộ Quốc phòng Lào và chúng từng tham gia cuộc diễu binh năm 2019 kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Lực lượng vũ trang Nhân dân Lào tại thủ đô Viêng Chăn.

Tháng 4/2019, hãng thông tấn TASS đưa tin Bộ Quốc phòng Nga và Lào đã nhất trí về các lĩnh vực mở rộng hợp tác quân sự giữa hai nước bên lề Hội nghị về An ninh Quốc tế tại Moscow.

 

https://www.youtube.com/watch?v=PLh3ypSJzY0
soha.vn

Loading

Views: 0

Việt Nam làm chủ hầu hết vũ khí cho bộ binh

VN làm chủ, sản xuất, sửa chữa hầu hết vũ khí trang bị cho sư đoàn bộ binh đủ quân và một số vũ khí trang bị kỹ thuật mới, hiện đại.

Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang

Đây là thông tin được Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang cho biết trong bài tham luận trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII hôm 27/1.

Trong bài tham luận có tựa đề “Củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân, tiếp tục xây dựng QĐND cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang cho biết, bên cạnh thuận lợi là cơ bản, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó đoán định; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra gay gắt; các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng hơn. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo đứng trước nhiều khó khăn, thử thách; các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ và Quân đội ta ngày càng tinh vi, thâm hiểm, công khai, trực diện hơn.

Trong bối cảnh đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệm kỳ 2016 – 2021 đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, cụ thể hóa và triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; tập trung củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tiếp tục giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống Quân đội anh hùng, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ, nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt, trong đó có một số nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, với nhiều dấu ấn nổi bật.

Thứ nhất, đã lãnh đạo, chỉ đạo Quân đội thực hiện tốt công tác nghiên cứu, nắm, đánh giá, dự báo tình hình, tham mưu chiến lược; kiên quyết, kiên trì, xử lý kịp thời, linh hoạt, mềm dẻo, có hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, nhất là tình hình Biển Đông, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Chỉ đạo tổng kết thực tiễn, xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện đồng bộ Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Luật Quốc phòng năm 2018, Luật Biên phòng Việt Nam và nhiều nghị quyết, kết luận, văn bản pháp luật về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận, hoàn thiện đường lối, chính sách quốc phòng, nghệ thuật quân sự Việt Nam, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài.

Thứ hai, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, phòng thủ quân khu và khu vực phòng thủ các cấp được lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố ngày càng vững chắc. Thế bố trí chiến lược quốc phòng được quy hoạch, điều chỉnh phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế – xã hội. Từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống công trình phòng thủ, căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, hệ thống phòng thủ dân sự…, đảm bảo cho tác chiến, phòng tránh, khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai, thảm họa; ưu tiên xây dựng tại các vùng căn cứ chiến lược đặc biệt quan trọng (CT229), hướng chủ yếu, địa bàn trọng điểm, tuyến biên giới, các đảo gần bờ. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng đường tuần tra biên giới, cơ bản hoàn thành xây dựng đường Trường Sơn Đông.

Thực hiện tốt chủ trương dân sự hóa quần đảo Trường Sa. Tổ chức tốt giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, nâng cao ý thức, trách nhiệm của toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên được xây dựng, tổ chức chặt chẽ, nâng cao hiệu quả hoạt động, là lực lượng nòng cốt giữ gìn an ninh trật tự và trực tiếp tham gia phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Chỉ đạo xây dựng, phát huy hiệu quả của 28 khu kinh tế – quốc phòng ở địa bàn chiến lược đặc biệt khó khăn dọc biên giới đất liền, trên biển và hải đảo.

Các cấp, các ngành, các địa phương đã chỉ đạo khảo sát, đánh giá, nâng cao năng lực sửa chữa, sản xuất của các cơ sở sản xuất để sẵn sàng động viên công nghiệp cho quốc phòng. Hệ thống kho dự trữ, mạng lưới cung ứng, phân phối hàng hóa được quy hoạch, xây dựng rộng khắp, hợp lý, vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh, vừa bảo đảm dự trữ, sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng…

Tiềm lực, sức mạnh của các khu vực phòng thủ được nâng lên, bảo đảm tính độc lập, tự lực, tại chỗ, liên kết chặt chẽ, thực hiện được mục tiêu “làng giữ làng, xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh”, đáp ứng yêu cầu phòng thủ gắn với phát triển kinh tế – xã hội trên từng địa bàn và cả nước. Quân đội luôn phát huy tốt vai trò xung kích, nòng cốt, kịp thời có mặt ở những nơi xung yếu, gian khó, hiểm nguy, giúp nhân dân phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới…, góp phần thắt chặt đoàn kết quân dân, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc, làm đẹp thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Thứ ba, Đảng bộ Quân đội được chăm lo xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; gương mẫu, đoàn kết, giữ vững nguyên tắc, phát huy tốt vai trò lãnh đạo; trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội được giữ vững; toàn quân luôn vững vàng, kiên định, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Quân đội tiếp tục được quan tâm đầu tư xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và đạt nhiều kết quả quan trọng; chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu được nâng lên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Tổ chức lực lượng Quân đội được điều chỉnh tinh, gọn, mạnh và bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật theo Kết luận số 16-KL/TW và Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị. Từ năm 2016 đến nay, toàn quân đã điều chỉnh trên 800 tổ chức; trong đó, giải thể 260 tổ chức trung gian, phục vụ từ cấp tiểu đoàn và tương đương đến cấp cục và tương đương, giảm 10% quân số cơ quan chiến dịch, chiến lược, ưu tiên quân số cho các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, tuyến biên giới, hải đảo; đầu tư thích đáng cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Công tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo có nhiều đổi mới theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá; tổ chức tốt nhiều cuộc diễn tập quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong chiến tranh hiện đại và ứng phó hiệu quả các thách thức an ninh phi truyền thống.

Công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng và các mặt công tác khác có bước phát triển mới; đặc biệt, đã nghiên cứu, làm chủ, sản xuất, sửa chữa hầu hết vũ khí trang bị cho sư đoàn bộ binh đủ quân và một số vũ khí trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, góp phần tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, giảm nhập khẩu, tiết kiệm ngân sách.

Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được triển khai tích cực, chủ động, mềm dẻo, linh hoạt, phát huy tốt sức mạnh tổng hợp, mở rộng hợp tác cả song phương và đa phương đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực. Ưu tiên hợp tác, giải quyết tốt mối quan hệ với các nước láng giềng, các nước có ý nghĩa chiến lược, các nước ASEAN và bạn bè truyền thống. Tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Đối ngoại quốc phòng đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược, tạo thế chủ động để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN đánh giá: “Những kết quả trên đã góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, tăng cường tiềm lực, sức mạnh, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước và Quân đội; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Nhận định đất nước ta đứng trước những thời cơ, vận hội mới nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức, nhất là tình hình Biển Đông, ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, các thách thức an ninh phi truyền thống và sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, Đoàn đại biểu  Đảng bộ Quân đội đề xuất một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cần tập trung thực hiện trong nhiệm kỳ 2021 – 2026 như sau:

Một là, tập trung lãnh đạo Quân đội, các lực lượng chức năng tăng cường cảnh giác, nâng cao năng lực dự báo, tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghiên cứu xác định chủ trương, giải pháp tổng thể, cơ bản, lâu dài, hoá giải nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chủ động, sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống, bảo vệ an toàn tài sản của Nhà nước, tính mạng và công cuộc lao động hòa bình của Nhân dân.

Hai là, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh; trọng tâm là khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và trách nhiệm của toàn dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phát huy tốt vai trò của Quân đội, Công an và các lực lượng trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 28-NQ/TW, Kết luận số 64-KL/TW của Bộ Chính trị, nâng cao chất lượng xây dựng và hoạt động khu vực phòng thủ các cấp gắn kết chặt chẽ với thế trận phòng thủ của các quân khu và phạm vi cả nước. Coi trọng đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, nhất là dân quân biển, dân quân thường trực, cơ động và lực lượng động viên khẩn cấp. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh. Tiếp tục xây dựng, phát huy hiệu quả các đoàn, khu kinh tế – quốc phòng ở vùng biên giới, biển, đảo, địa bàn chiến lược, trọng điểm, tạo thế trận, “phên dậu” vững chắc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài.

Ba là, tập trung lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng, tạo tiền đề vững chắc để phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại. Thường xuyên giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, tiêu biểu, mẫu mực; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, bảo đảm có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao, phát huy tốt phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học quân sự; thực hiện tốt công tác hậu cần, kỹ thuật, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia; ứng dụng hiệu quả thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng thực chất, hiệu quả, góp phần nâng cao uy tín quốc tế, củng cố vị thế chiến lược của đất nước, Quân đội, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình.

BDN

Loading

Views: 0

Nga-Trung Quốc ‘liên thủ’ đối đầu Mỹ ở Ấn Độ Dương?

Những bình luận cho rằng Nga-Trung Quốc đang hợp sức trong một cuộc chơi quyền lực ở Ấn Độ Dương đã nhận được nhiều phản ứng trái chiều từ các nhà phân tích khu vực, trong đó một số ý kiến cho rằng Moscow và Bắc Kinh đang muốn tăng cường phô trương sức mạnh ra bên ngoài vùng biển nước mình để đối phó các động thái của Mỹ tại khu vực này.
Nga-Trung Quốc 'liên thủ' đối đầu Mỹ ở Ấn Độ Dương?
Tổng thống Nga Putin (trái) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Brazil đầu năm 2019. (Nguồn: THX)

Xích lại gần nhau

Tháng trước, Oriana Skylar Mastro, chuyên gia nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quốc tế Freeman Spogli tại Đại học Stanford (Mỹ), đã nhận định rằng hợp tác Nga-Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương sẽ đe dọa vai trò và tầm ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực lớn hơn nhiều so với từng quốc gia riêng rẽ.

Ông Mastro nhấn mạnh, hai cuộc tập trận hải quân gần đây được tổ chức giữa Nga và Trung Quốc – cuộc tập trận đầu tiên có sự tham gia của Nam Phi diễn ra hồi tháng 11/2019 ở ngoài khơi Cape Town và cuộc tập trận thứ hai là với Iran diễn ra một tháng sau đó ở Vịnh Oman – là bằng chứng cho thấy hai “gã khổng lồ” Á-Âu đang tăng cường trọng tâm vào khu vực Ấn Độ Dương.

Bên cạnh đó, tháng 11/2020, Nga đã thông qua dự thảo thỏa thuận thành lập một căn cứ hải quân ở Port Sudan, trên bờ Biển Đỏ của Sudan, cửa ngõ trực tiếp đi ra Ấn Độ Dương.

Hãng thông tấn Nga TASS đưa tin căn cứ này, ngoài tính chất phòng thủ và duy trì hòa bình ổn định trong khu vực, sẽ được sử dụng để sửa chữa tàu thuyền, cung cấp tiếp tế và làm nơi nghỉ ngơi cho lực lượng hải quân Nga.

Về phần Trung Quốc, nước này đã thành lập căn cứ hải quân đầu tiên ở nước ngoài tại Djibouti vào năm 2017, và hải quân nước này được cho là đã tăng cường hoạt động ở khu vực Ấn Độ Dương trong 3 thập kỷ qua.

Trong bài phân tích đăng trên tờ The Interpreter của Viện Lowy, chuyên gia Mastro cho rằng mặc dù đại dịch Covid-19 có lẽ đã làm giảm tốc độ can dự quân sự giữa Nga và Trung Quốc, song các cuộc tập trận trên đã báo hiệu mong muốn hợp tác của Moscow và Bắc Kinh trong khu vực.

“Quan trọng hơn, các cuộc tập trận đó cho thấy các cường quốc khu vực như Nam Phi và Iran, cũng như các quốc gia khác, hoan nghênh vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc và Nga”, chuyên gia này nhấn mạnh:

Năm 2019, Vinay Kaura, Giáo sư về các vấn đề quốc tế và an ninh tại Trung tâm Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột ở Ấn Độ, nói rằng phạm vi hợp tác chính trị và an ninh đang phát triển giữa Trung Quốc và Nga là một thách thức đối với Ấn Độ, trong bối cảnh “New Delhi và Bắc Kinh không có các mối quan hệ êm thấm”.

Còn trong một bài viết đăng trên Tạp chí Ấn Độ về các vấn đề châu Á, Giáo sư Kaura nhận định rằng Bắc Kinh đang tiến hành một chiến dịch tinh vi để mở rộng tầm ảnh hưởng của họ ở Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.

Trò chơi quyền lực của Nga

Một nhà phân tích đã chỉ ra việc Nga đề xuất xây dựng căn cứ trên Biển Đỏ ở Port Sudan là một bước ngoặt quan trọng trong sự hồi sinh của nước này với tư cách một cường quốc, như thời Liên Xô cũ khi Moscow sở hữu các căn cứ hải quân ở Nam Yemen, Somalia và Ethiopia, qua đó cho phép họ có vị trí và vai trò quan trọng ở Bán đảo Arab và vùng Sừng châu Phi.

Trong một bài bình luận đăng trên trang của Viện Royal United Services (Anh), Samuel Ramani – chuyên gia Quan hệ quốc tế tại Trường St Antony thuộc Đại học Oxford (Anh) – cho rằng với việc chỉ có một căn cứ hải quân lớn trong khu vực như hiện nay (ở Syria), căn cứ ở Biển Đỏ sẽ “giúp cho Moscow sớm được công nhận là lực lượng hải quân hùng mạnh và làm sống lại những ký ức lịch sử về vị thế siêu cường của Liên Xô”.

Dmitry Stefanovich, nhà nghiên cứu của Trung tâm An ninh Quốc tế tại Viện Kinh tế Thế giới và Quan hệ Quốc tế thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, nhận định việc hải quân Nga muốn vươn ra toàn cầu, bao gồm cả Ấn Độ Dương, là điều hoàn toàn tự nhiên.

Ông nói thêm rằng các hành động của Mỹ chống lại Nga và Trung Quốc là nguyên do chính dẫn đến “mức độ hợp tác chưa từng có” giữa Moscow và Bắc Kinh.

Theo ông Stefanovich, tuy sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương ngày càng thách thức vai trò chiến lược của Ấn Độ trong khu vực, nhưng Nga lại đang cố tránh ngả về một bên nào.

“Nga vẫn là nhà cung cấp tất cả các loại công nghệ, trong đó gồm quân sự, đồng thời là trung gian hòa giải có thể giúp xoa dịu xung đột giữa Bắc Kinh và New Delhi”, ông Stefanovich cho hay.

Chuyên gia này cũng nói thêm rằng Nga và Trung Quốc sẽ tìm kiếm những cách thức mới để hợp tác hơn nữa ở Ấn Độ Dương.

Nga-Trung Quốc 'liên thủ' đối đầu Mỹ ở Ấn Độ Dương?
Nga-Trung Quốc triển khai tập trận ở Ấn Độ Dương tháng 12/2019. (Nguồn: Reuters)

Tượng trưng hay thực chất?

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã tăng cường sự hiện diện ở Ấn Độ Dương bằng cách mở rộng quan hệ hàng hải với các nước như Sri Lanka và Maldives, đồng thời gia tăng hạm đội tàu ngầm và hàng không mẫu hạm.

Tuy nhiên, Zhiqun Zhu – Chủ nhiệm khoa Quan hệ quốc tế tại Đại học Bucknell ở Mỹ và cũng là chuyên gia về chính sách đối ngoại của Trung Quốc và các vấn đề Đông Á, người từng viết cuốn Một thập kỷ quan trọng: Chính sách đối ngoại của Trung Quốc 2008-2018 – cho rằng việc Trung Quốc hợp sức với Nga tiến hành các cuộc tập trận chung chủ yếu nhằm đáp trả các cuộc diễn tập thường xuyên và quyết đoán hơn của Washington ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, đồng thời khẳng định hợp tác Nga-Trung “chỉ mang tính biểu tượng hơn là thực chất”.

Tháng 11 vừa qua, Mỹ cùng với Ấn Độ, Nhật Bản và Australia trong khuôn khổ liên minh Bộ Tứ mới được tái khởi động, đã tiến hành các cuộc tập trận hải quân chung ở Ấn Độ Dương. Đây không chỉ như các cuộc tập trận trên biển, trên không thông thường, mà còn có cả sự tham gia của tàu sân bay USS Nimitz.

Trong chương trình This Week in Asia, Zhiqun Zhu nói rằng Trung Quốc và Nga có thể là đối tác chính trị và ngoại giao, nhưng “khó mà trở thành đồng minh chiến lược”. Theo ông, Nga đã không ủng hộ một cách rõ ràng lập trường của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông và eo biển Đài Loan (Trung Quốc), đồng thời sẽ rất khó để trông đợi Moscow viện trợ cho Bắc Kinh nếu Trung Quốc tham gia vào một cuộc xung đột quân sự với Mỹ.

Ông nhấn mạnh: “Nhận thức được tầm ảnh hưởng toàn cầu và sức mạnh kinh tế hạn chế của mình, Nga cũng không bỏ tất cả trứng vào một giỏ. Các mối quan hệ quân sự nồng ấm của nước này với Ấn Độ rõ ràng không được Bắc Kinh hoan nghênh”, đồng thời đề cập việc Nga bán vũ khí cho Ấn Độ và mối quan hệ hợp tác quốc phòng lâu đời giữa hai nước.

Ông nói thêm rằng việc Nga bán các vũ khí chiến lược cho Ấn Độ vào thời điểm căng thẳng biên giới Ấn Độ-Trung Quốc leo thang đã đặc biệt gây thất vọng cho Bắc Kinh. Ông nhấn mạnh: “Chúng ta không nên cường điệu sự gần gũi trong quan hệ Nga-Trung Quốc hiện nay”.

Vai trò chiến lược của Ấn Độ

Mặc dù Ấn Độ tỏ ra quan ngại về việc Nga và Trung Quốc ngày càng tăng cường lợi ích các cuộc tập trận ở Ấn Độ Dương, nhưng Giáo sư Swaran Singh – Giám đốc Trung tâm Chính trị Quốc tế, Tổ chức và Giải trừ Quân bị tại Đại học Jawaharlal Nehru ở New Delhi – khẳng định rằng Ấn Độ đã chọn cách đáp trả bằng cách xích lại gần Mỹ và các đồng minh khác.

Theo “hành động cân bằng can dự với tất cả các nước lớn” này, ông Singh cho hay Ấn Độ tiếp tục can dự với Nga và Trung Quốc thông qua các nền tảng khu vực như Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và khối BRICS (gồm 5 nền kinh tế mới nổi hàng đầu là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi).

Và mặc dù vẫn thận trọng trước sự hiện diện ngày càng mở rộng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương, New Delhi “không thấy điều gì đáng lo ngại” trong các cuộc tập trận hải quân Nga-Trung Quốc với các quốc gia ven biển như Nam Phi và Iran, đặc biệt là với “lợi thế địa lý và hải quân hùng mạnh của Ấn Độ ”.

Cũng bày tỏ sự hoài nghi về mọi hình thức hợp tác an ninh Nga-Trung Quốc ở Ấn Độ Dương, ông Derek Grossman, nhà phân tích quốc phòng cấp cao tại Rand Corporation cho rằng các cuộc tập trận hải quân giữa hai nước chủ yếu mang tính biểu tượng và đã ít nhiều thành công trong việc trao đổi về chiến thuật, kỹ thuật và thủ tục (TTP) hoặc nâng cao khả năng tương tác.

Theo ông Grossman, không giống như Trung Quốc, Nga đang thiếu nguồn lực để phục vụ “các vấn đề quan trọng hơn”.

TG&VN

Loading

Views: 0

Tên lửa 2.000km của Nhật chỉ dùng tấn công trên biển?

Theo tờ Sankei, Lực lượng vũ trang Nhật Bản đang nghiên cứu chế tạo loại tên lửa tấn công tầm bắn 2.000km, có khả năng thay đổi quỹ đạo trong khi bay.

Chiến hạm Aegis của Nhật Bản.

Báo Nhật cho biết tên lửa có khả năng tấn công các mục tiêu nằm trong tầm bắn. Đặc biệt, tên lửa sẽ được phát triển thành nhiều phiên bản để có thể phóng từ mặt đất, trên biển và trên không.

Trước đó,  Nhật Bản đã thông qua quyết định hiện đại hóa tên lửa thuộc loại đất đối hạm mà quân đội nước này đang sở hữu, nâng tầm bắn của chúng từ 200km lên 900km và sau đó lên 1.500km.

Nhật cũng có ý định mua tên lửa hành trình có tầm bắn 500km từ Na Uy để trang bị cho loại máy bay chiến đấu đa năng F-35 tối tân thế hệ thứ năm, hiện đã được phiên chế cho lực lượng không quân và sẽ sớm trở thành loại vũ khí tấn công chủ lực.

Giới chuyên gia cho rằng, do bị ràng buộc bởi Hiến pháp Hòa Bình hạn chế về tầm bắn của tên lửa tấn công trên bộ nên dù có tầm bắn tới 2.000km nhưng nhiều khả năng vũ khí mới của Nhật có thể chỉ tấn công mục tiêu trên biển.

Cùng với đó, tờ EurAsian Times đưa tin, do mối đe dọa của Trung Quốc với các nước láng giềng đang treo lơ lửng ở Châu Á, Nhật Bản khẩn trương đưa vào trang bị tên lửa chống hạm ASM-3.

Tên lửa siêu âm ASM-3 do Tập đoàn Mitshubishi Heavy Industry (Tập đoàn Công nghiệp năng Mitshubishi) thiết kế hoàn toàn có khả năng làm thay đổi tình hình theo hướng có lợi cho Nhật Bản.

Tên lửa di chuyển đến mục tiêu với tốc độ nhanh hơn nhiều so với tốc độ âm thanh và việc ứng dụng công nghệ tàng hình trong thiết kế khiến nó cực kỳ khó bị phát hiện.

Tên lửa ASM-3 mang đầu tác chiến Sea Buster có chức năng tiêu diệt các tàu chiến mặt nước cỡ lớn, kể cả các tàu sân bay. Trong trường hợp xảy ra xung đột trực tiếp, Hải quân Nhật Bản sẽ không cho phép kẻ thù ra được Thái Bình Dương và ASM-3 sẽ giúp người Nhật đạt được mục tiêu này.

Công nghệ quân sự tiên tiến của Nhật có thể tự hào với tầm bắn của tên lửa lên tới 200 dặm biển, tăng gấp đôi so với các tham số được công bố vào thời gian đầu khi mới thiết kế hoặc có thể xa hơn nữa, và nó bay với tốc độ tối đa Mach 3, khiến nó rất khó đánh chặn.

Mặc dù các số liệu về trọng lượng đầu tác chiến được giữ bí mất, nhưng nhiều khả năng là nó có thể nặng tới hàng trăm Pounds Anh, đủ sức đánh chìm hoặc loại khỏi vòng chiến đấu các tàu chiến chỉ bằng một quả đạn

Các chuyên gia quân sự viết cho tờ EurAsian Times này đặt tên cho tên lửa ASM-3 Nhật Bản là “tên lửa xé tàu thành từng mảnh” và cho rằng nó có thể trở thành một trong những luận chứng quyết định trong các trường hợp xảy ra xung đột.

Vào thời điểm hiện tại, phương tiện mang duy nhất của tên lửa ASM-3 vẫn là máy bay tiêm kích Nhật Bản F-2. Vì tên lửa ASM-3 quá lớn nên không thể lắp trong khoang chứa bom của máy bay tiêm kích thế hệ 5 F-35 mà Tokyo hiện đang mua của Mỹ

Tạp chí Mỹ Forbes dự báo rằng việc phải đảm bảo khả năng tương thích với tên lửa ASM-3 sẽ là một yêu cầu bắt buộc đối với máy bay tiêm kích tàng hình triển vọng F-3 mà Nhật Bản đang thiết kế.

Vì vậy, rất có thể tên lửa mới do Nhật Bản phát triển sẽ cùng với ASM-3 là cặp vũ khí đối hải đáng sợ nhất của Hải quân nước này trong thời gian tới.

BDN

Loading

Views: 0

Bất ngờ quốc gia sở hữu dàn xe tăng đắt đỏ nhất hành tình, Nga-Mỹ không phải đối thủ

Bất ngờ quốc gia sở hữu dàn xe tăng đắt đỏ nhất hành tình, Nga-Mỹ không phải đối thủ
(Ảnh minh họa)

Theo tờ Topwar của Nga, Quân đội Ấn Độ sau một thời gian tạm hoãn đã khởi động lại chương trình mua sắm dòng xe tăng chiến đấu chủ lực Arjun do nước này tự phát triển, không những thế họ còn nâng cấp những chiếc Arjun lên biến thể Mk-1A.

Cụ thể, Quân đội Ấn Độ đã đặt mua thêm ít nhất 118 chiếc Arjun Mk-1A trong vài năm tới. Toàn bộ số xe tăng trên đều do các công ty quốc phòng Ấn Độ tự lắp ráp, tổng giá trị của hợp đồng này rơi vào khoảng 1,2 tỷ USD.

Các chuyên gia quân sự của Topwar phân tích, nếu dựa trên giá trị hợp đồng và số xe tăng mà Quân đội Ấn Độ sẽ nhận được, mỗi chiếc Arjun Mk-1A sẽ có mức giá hơn 10 triệu USD. Để so sánh, một chiếc Mk-1A đắt gấp đôi M1 Abrams của Mỹ, T-90S của Nga và cao hơn khoảng 15% so với K2 của Hàn Quốc, vốn được xem là chiếc xe tăng đắt nhất thế giới.

Bất ngờ quốc gia sở hữu dàn xe tăng đắt đỏ nhất hành tình, Nga-Mỹ không phải đối thủ - Ảnh 1.

Một biến thể nâng cấp của dòng xe tăng Arjun do Ấn Độ phát triển. Ảnh: idrw.org.

Cùng với kế hoạch đưa vào trang bị Arjun Mk-1A, Ấn Độ sẽ là quốc gia sở hữu dàn xe tăng đắt đỏ nhất thế giới

Tuy nhiên, dư luận Ấn Độ tỏ ra không hài lòng với kế hoạch trên của quân đội nước này, họ cho rằng xe tăng Arjun Mk-1A có mức giá cao bất thường ngay cả khi do Ấn Độ tự sản xuất và yêu cầu một lời giải thích thỏa đáng.

 

Tờ The Hindu dẫn một nguồn tin giấu tên trong Quân đội Ấn Độ cho biết, sở dĩ Arjun Mk-1A có mức giá như vậy là vì những thứ người ta thêm vào chiếc xe tăng này sau quá trình nâng cấp. Nguồn tin này cũng khẳng định các vấn đề kỹ thuật còn tồn đọng ở phiên bản Mk1 đã được giải quyết triệt để trên Arjun MK-1A.

Cũng theo nguồn tin của The Hindu, Arjun Mk-1A có khoảng 14 cải tiến so với Mk1, hầu hết trong số đó đều có liên quan đến hệ thống đạn dược, trang thiết bị điện tử dành cho trưởng xe và vị trí xạ thủ.

Chưa dừng ở đó dư luận Ấn Độ còn tỏ ra hoài nghi về thời gian biểu bàn giao những chiếc Arjun Mk-1A. Theo như công bố, 5 xe tăng đầu tiên trong số 118 xe sẽ đến tay Quân đội Ấn Độ trong giữa năm 2023, vậy để hoàn tất hợp đồng này phải mất bao lâu?

Những người chỉ trích hợp đồng trên còn cho biết mức giá hơn 10 triệu USD cho mỗi chiếc Arjun Mk-1A chưa bao gồm đạn dược và hỗ trợ hậu cần đi kèm.

Loading

Views: 0

Phát hiện công nghệ Mỹ trong quá trình lắp ráp Su-57 “tiên tiến”

Theo Defense Blog, trong sản xuất máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm Su-57 của Nga có sử dụng công nghệ của Mỹ.

Công nghệ của Mỹ trong việc lắp ráp máy bay chiến đấu của Nga

© Sputnik / Maksim Blinov

Ấn phẩm tuyên bố rằng kính HoloLens của Microsoft được sử dụng để lắp ráp máy bay. Defense Blog đưa ra kết luận này sau khi phân tích các video xuất hiện trên mạng về quá trình sản xuất  Su-57 “tiên tiến” trong xưởng của Nhà máy Hàng không Komsomolsk-on-Amur  mang  tên Yuri Gagarin (KnAAZ).

“Trong đoạn video ngắn được phát hành, các kỹ sư của công ty đeo các thiết bị đặc biệt trên đầu, tương tự như Microsoft HoloLens”,- ấn phẩm lưu ý.

Theo The Drive, công nghệ này lần đầu tiên được sử dụng vào những năm 1990 tại Nhật Bản để lắp ráp xe hơi. Ấn phẩm nhắc  lại rằng  phương pháp tương tự đã được sử dụng trong quá trình sản xuất máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm F-35 Lightning II của Mỹ.

Su-57

Su-57 (trước đây gọi là PAK FA (Tổ hợp Hàng không tương lai cho Không quân chiến thuật), tên thử nghiệm T-50) – máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm do Nga sản xuất được thiết kế để tiêu diệt tất cả các loại mục tiêu trên không, mặt đất và  trên mặt nước. Lần đầu tiên lên  máy bay cất cánh vào năm 2010. Hợp đồng cung cấp 76 máy bay chiến đấu Su-57 cho Lực lượng hàng không vũ trụ Nga đã được ký tại diễn đàn “Army-2019”. Hiện đang diễn ra các thử nghiệm của máy bay này, trong tiến trình đó thử nghiệm hoạt động của các hệ thống của nó, cũng như các chế độ hoạt động của động cơ giai đoạn hai. Bộ quốc phòng Nga đã nhiều lần tuyên bố rằng Su-57 đã được thử nghiệm thành công ở Syria.

https://vn.sputniknews.com/military/202012139827599-phat-hien-cong-nghe-my-trong-qua-trinh-lap-rap-su-57-tien-tien/

Loading

Views: 0

Nga phóng thử tên lửa siêu thanh Zircon

Tên lửa siêu thanh Zircon của Nga đã được phóng từ khinh hạm Đô đốc Gorshkov ở Bạch Hải.

Tên lửa bay được 350 km, tốc độ vượt quá Mach 8, Bộ Quốc phòng Nga nói với các phóng viên hôm thứ Sáu.

© Sputnik / Ildus Gilyazutdinov

Thử tên lửa “Zircon”

Bộ Quốc phòng Nga cho biết: “Khinh hạm dẫn đầu Đề án 22350 “Đô đốc Hạm đội Liên Xô Gorshkov” đã phóng tên lửa hành trình siêu thanh Zircon từ Bạch Hải vào mục tiêu ven biển đặt tại thao trường Chizha ở tỉnh Arkhangelsk”.

“Theo dữ liệu điều khiển khách quan, tên lửa hành trình siêu thanh Zircon đã bắn trúng mục tiêu ven biển nằm ở khoảng cách trên 350 km, tốc độ bay của tên lửa hơn Mach 8”, – Bộ Quốc phòng Nga cho biết.

https://vn.sputniknews.com/military/202012119825203-nga-phong-thu-ten-lua-sieu-thanh-Zircon/

Loading

Views: 0

Đưa tàu ngầm thăm căn cứ Mỹ ở đảo Guam, Pháp gửi thông điệp gì tới Trung Quốc tại Biển Đông?

Tàu ngầm hạt nhân tấn công Emeraude của Pháp gần đây đã ghé thăm căn cứ hải quân Mỹ ở đảo Guam. Đây được cho là động thái phản đối Trung Quốc tại Biển Đông.

Tàu ngầm hạt nhân lớp Barracuda của Pháp. Ảnh: Zing News

Trong một động thái phá vỡ quy tắc hải quân Pháp, vốn thường tránh bình luận về việc triển khai tàu ngầm, chuyến thăm của tàu Emeraude tới Guam lần này được thông báo công khai. Điều đó chứng tỏ đây là một tín hiệu có tính toán gửi tới Bắc Kinh rằng Chính phủ Pháp ngày càng quan ngại về chiến lược Biển Đông của Trung Quốc.Tuy nhiên, đây không chỉ là hoạt động phô trương bề ngoài. Tàu Emeraude được cho là sẽ tiến hành tập trận chống ngầm và chống hạm với một hoặc nhiều hơn trong số 4 tàu ngầm hạt nhân tấn công của Mỹ thuộc Đội tàu ngầm số 15 của Guam.

Diễn biến trên được đánh giá là đáng chú ý khi lực lượng tàu ngầm của Pháp nổi tiếng với năng lực, trình độ cao.

TG&VN

(theo Washingtonexaminer.com)

Loading

Views: 0

Đô đốc Hoa Kỳ đã rời Đài Loan sau chuyến thăm “bí ẩn” trong ba ngày

Theo Taiwan News, máy bay đưa Đô đốc Hải quân Mỹ Michael Studeman đến Đài Loan ba ngày trước đã rời khỏi sân bay Tùng Sơn lúc 7:10 tối thứ Ba (24/11).

Các nguồn tin của Reuters trước đó cho biết Chuẩn Đô đốc Michael Studeman, người đứng đầu bộ phận tình báo tại Bộ Chỉ huy Ấn Độ – Thái Bình Dương của quân đội Hoa Kỳ, đã đến Đài Bắc trên máy bay này vào hôm Chủ nhật.

Chuyến đi bí mật này đã đưa ông Studeman trở thành một trong những sĩ quan quân đội cấp cao nhất của Hoa Kỳ đến thăm Đài Loan trong những năm gần đây, CNA đưa tin.

Mặc dù Bộ Ngoại giao Đài Loan (MOFA) xác nhận vào Chủ nhật về chuyến viếng thăm, cả chính phủ Đài Loan và Hoa Kỳ đều không tiết lộ thêm chi tiết. Tại cuộc họp báo thường kỳ vào sáng thứ Ba, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Joanna Ou chỉ nói rằng hai nước thường xuyên trao đổi hợp tác hữu nghị.

Bà Ou cho biết MOFA luôn chào đón các quan chức Mỹ đến Đài Loan. Tuy nhiên, bà cho biết Bộ sẽ không xác nhận, giải thích hay bình luận về chuyến thăm.

Hôm 23/11, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố nước này sẽ đáp trả chuyến thăm của đô đốc Hải quân Mỹ đến Đài Loan và kiên quyết phản đối bất kỳ mối quan hệ quân sự nào giữa Đài Bắc và Washington.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Triệu Lập Kiên kêu gọi Mỹ “hoàn toàn thừa nhận mức độ nhạy cảm cực độ của vấn đề Đài Loan.”

“Phía Trung Quốc, tùy theo tình hình phát triển như thế nào, sẽ đưa ra phản ứng hợp pháp và cần thiết”, ông Triệu nói nhưng không tiết lộ thêm chi tiết.

trithucvn.org

Loading

Views: 0

Vì sao Nga chuyển quân tới Viễn Đông

Nga vừa có động thái tăng cường lực lượng quân sự gần biên giới với Trung Quốc. Điều này làm dấy lên nhiều câu hỏi.

Theo EurAsian Times, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã bắt đầu các nỗ lực nhằm gia tăng sự hiện diện quân sự của Nga tại vùng Viễn Đông dọc biên giới với Trung Quốc, trong bối cảnh các mối đe dọa từ nước ngoài đang lớn dần.

Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu cho biết, Moscow quyết định thêm lực lượng tới đây sau khi ghi nhận các căng thẳng gia tăng tại “hướng chiến lược phía đông” – khu vực bao gồm vùng biên giới phía đông của Nga với Trung Quốc, và rộng hơn là châu Á-Thái Bình Dương.

Mặc dù không nói cụ thể những mối đe dọa mới là gì, hay đích xác lực lượng tăng cường sẽ được triển khai ở đâu nhưng ông Shoigu cam kết cung cấp 500 đơn vị thiết bị mới và được hiện đại hóa cho khu vực này, cũng như một số nâng cấp dành cho hải quân.

Chuyên gia phân tích Alexander Gabuev tại Trung tâm Carnegie của Moscow nhận định, Nga muốn đề phòng những tình huống bất ngờ thông qua việc đảm bảo năng lực quân sự tại khu vực này.

Nơi đây có nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu xảy ra tình huống xấu nhất là nổ ra xung đột, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do căng thẳng tích tụ giữa hải quân Mỹ và hải quân Trung Quốc.

Theo các báo cáo, đại diện phát ngôn của Kremlin – ông Dmitry Peskov – cho biết mối lo ngại của Moscow tập trung quanh các hành động của những quốc gia nằm ở phía ngoài vùng này.

“Tất cả các hành động đó, tất nhiên, không đóng góp chút nào vào sự ổn định của khu vực” – Ông Peskov nói.

Căng thẳng đã leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc tại Biển Đông sau khi chính quyền Tổng thống Donald Trump tăng cường hiện diện quân sự trong khu vực, khiến Bắc Kinh giận dữ.

Ngoài ra, các chuyên gia đánh giá, mối quan hệ ngày càng khăng khít giữa Mỹ và Đài Loan – hòn đảo mà Bắc Kinh xem là một vùng lãnh thổ của mình – có thể sẽ dẫn tới một cuộc xung đột tiềm tàng trong khu vực.

Trước đó, bình luận về việc Nga tăng cường hiện diện quân sự ở Viễn Đông, trang tin TFI cho rằng có vẻ động thái của Nga còn có liên quan tới việc thời gian gần đây, một lượng lớn người dùng mạng tại Trung Quốc tuyên bố rằng Vladivostok là một phần của Trung Quốc.

Theo những người này, nơi đây vốn là quê hương Mãn Châu của nhà Thanh nhưng đã bị Đế quốc Nga thôn tính vào năm 1860, sau khi Trung Quốc bị Anh và Pháp đánh bại trong cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ hai.

EurAsian Times cho hay, mặc dù mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, nhưng việc Moscow quyết định đình chỉ lô tên lửa đất-đối-không S-400 thứ hai cho Bắc Kinh đã làm dấy lên nhiều câu hỏi.

Trung Quốc đã tiếp nhận lô tên lửa S-400 đầu tiên vào năm 2018. Theo truyền thông Trung Quốc, sở dĩ Nga đình chỉ vô thời hạn lô S-400 thứ 2 là do lo ngại công tác chuyển giao sẽ gây ảnh hưởng tới các hoạt động chống đại dịch COVID-19 của quân đội Trung Quốc.

Tuy nhiên, EurAsian Times lưu ý rằng, quyết định trên được đưa ra sau khi Nga cáo buộc Bắc Kinh thực hiện các hoạt động do thám.

BDN

Loading

Views: 0

TQ chạy đua vũ trang với Mỹ

Trung Quốc và Mỹ đang ra sức chế tạo vũ khí laser năng lượng cao cho lực lượng hải quân trong một cuộc chạy đua vũ trang quân sự, báo Anh Express cho biết.

Nhiều cường quốc quân sự đã nghiên cứu, chế tạo vũ khí laser

Mỹ, Trung Quốc, Israel, Pháp, Đức và Nga đều đã nghiên cứu vũ khí laser, nhưng các cường quốc quân sự trên thế giới đang tăng cường nỗ lực của họ để chế tạo vũ khí laser năng lượng cao, giúp họ có cách tự vệ hiệu quả trước tên lửa.

Một nhà bình luận quân sự tại Hong Kong, Song Zhongping cho biết vũ khí laser có khả năng thay đổi cục diện chiến tranh.

Phát biểu với tờ South China Morning Post, ông Song tuyên bố: “Một cuộc chạy đua vũ trang vũ khí laser đã bắt đầu từ lâu. Mỹ có nền tảng công nghệ vững chắc hơn, nhưng Trung Quốc đang nỗ lực để thu hẹp khoảng cách. Vũ khí laser cũng có thể được coi là một biểu tượng quan trọng cho sự chuyển mình của quân đội Trung Quốc, vì việc sử dụng chúng sẽ thay đổi hình thức chiến tranh trong tương lai”.

Theo ông Song, Mỹ đang dẫn đầu trong việc phát triển vũ khí laser. Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ cho biết, tàu USS Portland của Hải quân Mỹ đã thử nghiệm vũ khí laser có khả năng tiêu diệt các mối đe dọa trên không, trên biển và trên bộ ở Thái Bình Dương.

Vào tháng 11, Hải quân Mỹ cũng đã lắp đặt vũ khí laser lên tàu khu trục tên lửa lớp Arleigh Burke USS Dewey.

Hải quân Mỹ dự kiến sẽ có 8 tàu chiến được trang bị ODIN – một loại vũ khí laser được thiết kế để chống lại các hệ thống máy bay không người lái trong ba năm tới.

Trung Quốc cũng đang tăng cường khả năng vũ khí laser của mình trên cả tàu hải quân và máy bay chiến đấu.

Vào tháng 7, Trung Quốc cho biết, họ đã trang bị cho các tàu chiến của mình những máy phát điện tối tân để cung cấp năng lượng cho vũ khí laser và súng lục. Không rõ chính xác loại tàu chiến nào của Trung Quốc được trang bị máy phát điện.

Nhưng các nhà phân tích cho rằng đó là các tàu khu trục tối tân nhất của Trung Quốc. Trong một thông báo của quân đội Trung Quốc vào đầu năm nay, các nhà phân tích nói rằng, nước này có thể đang phát triển khả năng gắn một vũ khí laser mới lên máy bay của họ.

Vào tháng 2, Hải quân Mỹ cho biết một tàu chiến Trung Quốc đã dùng vũ khí laser bắn vào một trong những máy bay giám sát của Mỹ.

Đây không phải là lần đầu tiên Mỹ cáo buộc Trung Quốc sử dụng vũ khí laser.

Vào năm 2018, các quan chức quân sự Mỹ đã cảnh báo các phi công về một căn cứ không quân của Trung Quốc ở Djibouti có thể đã nhắm mục tiêu vào máy bay Mỹ bằng vũ khí laser.

Quy định về vũ khí laser đã được áp dụng từ năm 1998 để giúp xoa dịu xung đột. Liên Hợp Quốc đã tạo ra Nghị định thư về vũ khí laser và tính đến năm 2018, nó đã được 108 quốc gia đồng ý. Theo đó, các nước bị cấm sử dụng vũ khí laser được thiết kế đặc biệt để gây mù vĩnh viễn.

BDN

Loading

Views: 0