The Mekong is Southeast Asia’s longest river and the twelfth-largest in the world. It originates in Tibet, flows through the Chinese province of Yunnan, and continues southward across or alongside Cambodia, Laos, Myanmar, Thailand and Vietnam – half of ASEAN’s ten member states – before flowing into the South China Sea. The five ASEAN countries and the Chinese provinces of Yunnan and Guangxi, spanning some 2.6 million square kilometres and 326 million people, constitute the sub-regional grouping called the Greater Mekong Subregion (GMS).
Mekong river
Soon after the Cold War ended, a window of opportunity for reconciliation opened on the formerly war-torn Southeast Asian mainland. Since 1992, and for more than a quarter-century thereafter, the Asian Development Bank (ADB) has been helping the six participating countries cooperate in the development of the GMS by funding projects in the fields of transportation, energy, telecommunications, trade, investment, education, environment and many other sectors. The GMS has emerged as one of the most effective schemes in terms of facilitating cooperation among states that had previously been prevented from engaging in meaningful economic and political exchanges – in this case as a result of the confrontational structures of the Cold War.
Besides all this, during the last decade China has transformed from a mere participant in the GMS to being its most active and, as some note, dominant member.
Unlike China’s unilateral, state-led Belt and Road Initiative (BRI), the GMS programme for facilitating and expanding the movement of goods and people across the sub-region’s borders is multilateral and has taken a more market-based approach to building and improving regional infrastructure. In China’s discourse on the BRI the GMS has taken centre stage. The landlocked Yunnan Province, until recently a remote and backward province of China, has now emerged as a New Silk Road hub and as China’s strategic bridgehead into mainland Southeast Asia with the ultimate goal of connecting it to the Bay of Bengal and the wider Indian Ocean region.
However, Beijing’s interest in enhancing connectivity in the Mekong sub-region pre-dates the BRI.
In 2010, China signed a preliminary agreement with Laos and Thailand to build a high-speed railway from Kunming (Yunnan) to Bangkok that could eventually extend through peninsular Malaysia to Singapore. The section that China would build through Laos would be financed through Chinese loans then worth US$7 billion – a sum larger than the entire country’s GDP.
In the course of further plans, negotiations, disagreements and delays, the proposed railway from Singapore to Kunming broadened – on paper – into a larger network. A stem from Singapore to Bangkok would open into three separate lines north of the Thai capital, each of them ending in Kunming: one through Myanmar, another through Laos, and a third through Vietnam.
In 2014, the authorities in Myanmar cancelled the US$20 billion project to build the western branch of the railway through their country due to growing public resistance to Chinese influence. Ironically, this pushback was partly enabled by an earlier relaxation of repressive rule. Nonetheless, it did not deter Beijing. Since 2015 China has also been pushing a proposed railway linking Kunming to Kolkata via Mandalay that would require the support of the three countries en route: Myanmar, Bangladesh and India.
China’s enthusiasm for regional infrastructure is both economic and strategic in character. The proposed linkages would convey Chinese goods to foreign markets, bring needed resources into China, and speed the development of relatively poor Yunnan. Already since 2015, pipelines have been funnelling oil and gas from the Bay of Bengal through Myanmar straight to Kunming. Further, this infrastructure link de facto amounts to an insurance policy against the possible closure of the Malacca Strait – the so-called Malacca Dilemma. The Myanmar-Yunnan rail connection would open this southwestern backdoor for trade and transport even wider for Beijing’s compensatory use should a hostile power ever block China from using the South China Sea.
Concepts such as the ‘Mekong Mode’, depicting a naturally given and regionally accepted Chinese pre-eminence in the Greater Mekong Subregion, evoke a sense of newly won self-confidence and send a strong signal to the outside world that China is able and willing to provide leadership in Southeast Asia. Leadership in international relations can only emerge and be institutionalised if the dominant regional power is willing and able to assume the responsibilities associated with it.
Another precondition for regional leadership is being acceptable as a regional leader in the eyes of the medium and small powers. China’s approach to the GMS has strengthened Beijing’s quest to lead and demonstrates that the country possesses both the economic resources and the political will to assume this regional leadership role.
However, while the acceptance of a prominent Chinese role in the GMS and the wider Southeast Asian region has grown within the region itself, ASEAN governments – albeit to varying degrees – are not yet prepared to put all their eggs in the China basket at the expense of weakening their respective relations with the United States, Japan and, to a lesser extent, the European Union. Given that all these international actors are also important stakeholders in the GMS sub-region, a regional Pax Sinica is not (yet) on the horizon./.
(theasiadialogue.com)
Dr Joern Doschis Chair of International Politics and Development Cooperation at the University of Rostock.
Viện Lowy của Úc tiếp tục đánh động thế giới về mưu đồ của Trung Quốc đối với sông Mekong, đặc biệt sau khi nước này quân sự hóa xong Biển Đông. Đông Nam Á cần phải hành động trước khi quá muộn.
Bài viết dưới đây đăng trên trang The Interpreter của Viện Lowy do chuyên gia Elliot Brennan chấp bút. Ông Brennan là nhà nghiên cứu độc lập từng cộng tác với Viện An ninh và chính sách phát triển (Thụy Điển), trang phân tích quốc phòng IHS Jane, Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (Mỹ)…
Sau bao nhiêu ồn ào, đến giờ phút này có thể nói công cuộc bồi đắp và quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông đã gần xong. Bắc Kinh giờ đây có thể kiểm soát một trong những tuyến vận tải huyết mạch của thế giới, biến luật pháp quốc tế thành trò đùa.
Nhưng chưa dừng lại ở đó, đích nhắm sắp tới của Bắc Kinh sẽ là một động mạch quan trọng khác chạy xuyên lục địa Đông Nam Á: Sông Mekong.
Bắt nguồn từ Trung Quốc với tên gọi Lan Thương, sông Mekong kết nối các quốc gia Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Kiểm soát sông Mekong chính là “lát cắt salami” còn lại, với một nửa kia là Biển Đông, giúp Trung Quốc nắm thế chiến lược “kẹp sandwich” cả lục địa Đông Nam Á.
Campuchia, Việt Nam sẽ lãnh đủ
Kiểm soát dòng chảy Mekong bằng hệ thống đập dày đặc đồng nghĩa với kiểm soát khả năng tiếp cận nguồn lương thực – sinh kế của hàng chục triệu người thuộc các cộng đồng sống ven sông.
Trong tất cả đập thủy điện đang vận hành trên sông Mekong hiện nay, phần lớn công suất thuộc về các đập nằm trên đất Trung Quốc, chiếm hơn 15.000 Megawatt (MW). Chỉ riêng đập Nọa Trát Độ thuộc địa phận tỉnh Vân Nam đã có công suất 5.850 MW, chưa tính nửa tá đập khác công suất trên 1.000 MW.
Nếu gộp lại, các đập của Trung Quốc có thể giữ tổng cộng 23 tỉ m3 nước – tương đương 27% lượng nước chảy hàng năm giữa Trung Quốc và Thái Lan. Các đập khác nằm ở hạ lưu với công suất chỉ vài chục đến vài trăm MW không đáng là bao nếu mang ra so sánh.
Tóm lại, Trung Quốc bây giờ đã có thể điều khiển dòng chảy sông Mekong, đặc biệt là vào mùa khô, khi Cao nguyên Tây Tạng đóng góp đến 40-70% lượng nước cho dòng sông.
Tác động đối với an ninh lương thực bây giờ đã lớn, nhưng về sau sẽ còn kinh hoàng hơn nếu 11 dự án đập khổng lồ đang đề xuất được thông qua (trong đó hết một nửa do Trung Quốc chống lưng).
Một báo cáo gần đây của UNESCO và Viện Môi trường Stockholm dự báo lượng phù sa của sông Mekong sẽ giảm 94% một khi các con đập mới xây xong, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động đánh bắt cá và sức khỏe nói chung của sông Mekong.
Đáng lo hơn, các chuyên gia phát hiện những lời hứa hẹn “kích cầu kinh tế, tăng sản lượng điện” cho các nền kinh tế khu vực Hạ Mekong chỉ là dối trá. Phần lớn năng lượng trong các dự án đang đề xuất sẽ thẳng tiến Trung Quốc, trong khi các nước còn lại phải gánh những hậu quả kinh tế tiêu cực.
Người ta dự báo trong 50 năm tới, các nền kinh tế hạ lưu sông Mekong sẽ tổn thất ròng khoảng 7,3 tỉ USD, trong đó hai nước cuối nguồn là Việt Nam và Campuchia sẽ thiệt hại nhiều nhất. Đó là chưa kể những tổn thất không thể nào đo đếm được về mặt xã hội.
Công trường dự án đập Don Sahong ở Lào – Ảnh: BLOOMBERG
Dự án Thiên Hà – mối nguy mới
Đã có nhiều lo lắng về việc Bắc Kinh dùng đập nước như một “vũ khí hủy diệt”. Chỉ cần Trung Quốc xả một lượng nước lớn nhưng không thông báo trước, hiệu ứng domino sẽ buộc các đập dưới hạ nguồn phải xả đồng loạt và gây ra lũ quét trên diện rộng.
Trung Quốc còn một quân bài khác ít gây chú ý hơn nhưng không kém phần nguy hiểm: Dự án Thiên Hà. Nói vắn tắt, mục đích của dự án này là làm tăng lượng mưa ở các vùng khô hạn trên Cao nguyên Tây Tạng thêm 10 tỉ m3 – tương đương 7% mức tiêu thụ nước hiện tại của Trung Quốc – bằng công nghệ “cloud seeding” (gieo mây, làm mưa nhân tạo).
Nước mưa rơi xuống Cao nguyên Tây Tạng một phần sẽ chảy dồn vào lưu vực của các con sông xuyên quốc gia như Mekong, Brahmaputra, Indus, và Salween; phần còn lại Trung Quốc có thể điều tiết tùy theo nhu cầu của họ bằng hệ thống đập va công trình thủy lợi.
Tuy nhiên, chuyên gia Janos Pasztor thuộc Tổ chức Hội đồng Carnegie (Mỹ), lưu ý rằng công nghệ “cloud seeding” không tạo ra thêm mưa mà nó chỉ lấy ở nơi này chuyển sang nơi khác, tức là khiến mưa xảy ra ở một nơi nhất định, có nghĩa ở một nơi khác mưa sẽ biến mất”.
Kiểm soát thời tiết, bảo đảm rằng mưa rơi trên lãnh thổ Trung Quốc chính là bước tiếp theo giúp Bắc Kinh kiểm soát dòng nước chảy vào các nước láng giềng. Điều này đáng sợ một phần cũng do thành tích quản lý môi trường khét tiếng của Trung Quốc: 70% sông hồ ở Trung Quốc ô nhiễm nặng.
Trung Quốc thay trời làm mưa hẳn không phải tin lành. Lúc tốt thì nó khuyến khích các quốc gia láng giềng xây đập thủy điện, lúc (quan hệ) tồi tệ thì chúng ta có hạn hán nghiêm trọng ở cuối nguồn, và cả món vũ khí nước hủy diệt.
Bồi đắp ở Biển Đông, phá hủy ở Mekong
Đập nước và mưa cũng chưa phải là hết.
Trái ngược với hành động bồi đắp ở Biển Đông, Trung Quốc đã tiến hành trên sông Mekong cái gọi là “Dự án Cải thiện luồng lạch”.
Nói đơn giản, đó là hành động cho phá nổ các cồn đất, bãi đá và luồng xoáy trên sông Mekong để hình thành nên tuyến giao thông xuyên qua trái tim của lục địa Đông Nam Á đến tận Lào.
Trớ trêu nằm ở chỗ, cái giá để tạo ra tuyến vận chuyển mới cho hàng hóa Trung Quốc xâm chiếm khu vực lại là những tổn thất nặng nề về môi trường và xã hội của chính các nền kinh tế Đông Nam Á.
Có lẽ vì thấy trước điều này nên Thái Lan đến nay vẫn chưa đồng ý với dự án nạo vét sông Mekong trên phần đất của mình.
Mối quan ngại về sông Mekong và nhiều con sông khác trong chiến lược địa chính trị của Trung Quốc không phải mới mẻ, nhưng dường như nhiều sự kiện nhỏ đã dẫn cả khu vực đến “điểm tới hạn” – tức bước ngoặt dẫn đến những thay đổi lớn.
Các nước Đông Nam Á chỉ có 2 lựa chọn, phản ứng hoặc ngồi yên chịu tổn thất.
Nhìn nhận câu chuyện an ninh năng lượng của Trung Quốc dưới lăng kính địa chính trị mới thấy rằng: suốt hơn 2 thập kỷ qua nước này phát triển thủy điện ồ ạt trên thượng nguồn sông Mê Kông (bao gồm cả các dự án đầu tư trên đất Myanmar và Lào) là không nhằm mục tiêu “giải tỏa cơn khát năng lượng” như nhiều người lầm tưởng. Theo Tiến sĩ Yu Xiaogang, nhà sáng lập tổ chức Green Watershed tại Vân Nam, nhu cầu năng lượng tại Tây Nam Trung Quốc đã không còn là vấn đề chính trong chính sách quy hoạch thủy điện của nước này. Bài viết dưới đây của ThS. Nguyễn Minh Quang – Giảng viên Nghiên cứu chính trị – An ninh môi trường (Đại học Cần Thơ) đề cập một số vấn đề nổi bật về mặt an ninh chính trị và quan hệ quốc tế thông qua cách tiếp cận trên quan điểm địa chính trị để phân tích về bối cảnh “cuộc chiến nguồn nước” (water war) đang hình thành trên dòng Mê Kông và những nguy cơ Việt Nam sẽ phải đối mặt khi phải đương đầu với “gọng kìm” Trung Quốc.
THS. NGUYỄN MINH QUANG – ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Gã khổng lồ “gác nước” sông Mê Kông
Là nước thượng nguồn, sở hữu gần một nửa chiều dài trong tổng số 4.909km của sông Mê Kông, Trung Quốc có lợi thế tuyệt đối trong việc quyết định vận mệnh của dòng sông và khống chế khả năng tiếp cận nguồn nước bền vững của các quốc gia hạ nguồn. Trong cơn khát năng lượng để phục vụ công nghiệp hóa và duy trì tăng trưởng kinh tế, nguồn thủy năng trên 2.200km sông Lan Thương [1] đã được Bắc Kinh khai thác triệt để.
Từ năm 1992 đến năm 2016, Trung Quốc đã xây dựng và đưa vào sử dụng 7 đập thủy điện và đang triển khai thêm khoảng 20 dự án xây đập khác, tạo nên một chuỗi hồ chứa liên hoàn trên thượng nguồn sông Mê Kông. Trong đó, các bậc thang thủy điện Nọa Trát Độ (Nuozhadu), Tiểu Loan (Xiaowan), Cảnh Hồng (Jinghong), Mạn Loan (Manwan) và Đại Triều Sơn (Dachaosan) có công suất thiết kế và quy mô hồ chứa lớn nhất. [2]
Mạng lưới bậc thang thủy điện của Trung Quốc trên thượng nguồn sông Mê Kông. Nguồn: Timo, A. và cộng sự (2017).
Mặc dù một số công trình thủy điện được xây dựng theo công nghệ “run-of-river” (không hồ chứa hoặc hồ chứa dung tích nhỏ), nhưng các nghiên cứu độc lập cho thấy chúng đã làm đổi hướng dòng chảy và thay đổi hoàn toàn chế độ thủy văn ở bên dưới cửa đập. Tổng hợp số liệu về dung tích các hồ chứa, có thể thấy 7 đập thủy điện trên đã giữ lại gần 42 tỷ m3 nước, tức khoảng 40% lưu lượng nước từ thượng nguồn đổ về đến biên giới Thái Lan. [3]
Nghiêm trọng hơn, sụt giảm phù sa và trầm tích sau khi đi qua các hồ thủy điện còn đe dọa sự tồn tại của nhiều hệ sinh thái ngập nước ven sông Mê Kông và gây tác động sụt lún, thoái hóa đất và sạt lở ở vùng đồng bằng hạ lưu. Các tác động xuyên biên giới về môi trường, sinh thái và sinh kế do các đập thủy điện Trung Quốc gây ra đã được minh chứng rõ rệt ở Lào, Đông Bắc Thái Lan, Campuchia và ĐBSCL của Việt Nam những năm gần đây.
Mặt khác, trong bối cảnh biến đổi khí hậu với diễn biến khô hạn thường xuyên và mực biển dâng ở ĐBSCL, nguồn nước từ thượng nguồn trở nên vô cùng cần thiết để cân bằng chế độ thủy văn và duy trì sản xuất vào mùa khô ở vùng hạ lưu. Mặc dù phần lưu vực thuộc Trung Quốc chỉ đóng góp khoảng 16% tỷ lệ dòng chảy, nhưng vào mùa hè, lượng nước tan chảy từ vùng băng hà Tây Tạng lại chiếm ưu thế giúp cân bằng lưu lượng dòng chảy về hạ nguồn.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy lượng nước được xả ra từ các con đập luôn lệ thuộc vào nhu cầu an ninh nguồn nước và sản xuất điện của Trung Quốc hơn là trách nhiệm quốc tế mà Trung Quốc phải thực thi trên sông Mê Kông. Trung Quốc hiện đang đối mặt với thực trạng mất an ninh nguồn nước nghiêm trọng nhất kể từ thập niên 1960 với lượng nước sạch bình quân đầu người chỉ bằng 1/3 mức trung bình của thế giới. Bùng nổ dân số và công nghiệp hóa tràn lan đang tạo ra áp lực rất lớn đến nguồn cung nước sạch trong nước.
Vì vậy, nỗ lực giữ “độc quyền” khai thác và tích trữ nguồn nước ở thượng nguồn sông Mê Kông cho nhu cầu quốc nội của Trung Quốc tạo ra mối nguy đáng lo ngại cho các cộng đồng dân cư ở hạ nguồn.
Sự kiện hạn – mặn lịch sử năm 2016 là một minh chứng cho thấy vai trò “gác nước” và khả năng khống chế dòng sông Mê Kông của Trung Quốc. Hầu hết các khu vực Hạ Lào, Đông Bắc Thái Lan, Campuchia và ĐBSCL của Việt Nam đều bị tàn phá nặng nề của thời tiết khô hạn cực đoan. Trong bối cảnh tăng trưởng nông nghiệp bị lao dốc xuống mức 1,36% (mức thấp nhất kể từ năm 2011) kéo theo nhiều xáo trộn xã hội do thiếu nước ngọt, Việt Nam đã phải kiến nghị Trung Quốc xả nước tiếp ứng. Bất chấp sự thật rằng các hồ chứa là nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng thiếu hụt nguồn nước ở hạ lưu, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nhanh chóng phát đi tuyên bố biện minh rằng EI Nino mới là thủ phạm chính, phủ nhận vai trò của các hồ thủy điện và “quyết định khắc phục khó khăn và làm hết sức có thể để giúp đỡ các nước ứng phó với tình trạng khô hạn”.
Việc Trung Quốc xả đập Cảnh Hồng trong 1 tháng để gia tăng lưu lượng nước ở vùng hạ lưu một mặt giúp “đánh bóng” hình ảnh ngoại giao của nước này, nhưng mặt khác lại là tín hiệu cho thấy sự lệ thuộc lâu dài của các nước hạ lưu vào vai trò điều tiết nguồn nước sông Mê Kông của Trung Quốc.
Dù đối mặt với sự chỉ trích đáng kể từ quốc tế, nhưng rõ ràng “vũ khí nước” mà Trung Quốc nắm giữ đang đặt Việt Nam vào tình thế bất lợi trên diễn đàn ngoại giao Mê Kông, nhất là khi Trung Quốc phủ quyết tham gia Công ước Liên Hợp Quốc về Nguồn nước (UNWC).
Cuộc đua trong vai trò dẫn dắt khu vực
Thái độ thiếu thiện chí của Trung Quốc với các Công ước, luật pháp và tổ chức quốc tế liên quan đến “nước” như UNWC (Công ước Liên Hợp Quốc về nguồn nước) và UNCLOS (Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển)… đang khiến các tranh chấp có liên quan đến Trung Quốc trở nên phức tạp. Trong bối cảnh đó, các cơ chế và sáng kiến khu vực như ASEAN, Ủy hội sông Mê Kông (MRC) và Sáng kiến Hạ lưu Mê Kông (LMI) được xem là diễn đàn hay “chiếc phao ngoại giao” cuối cùng mà các nước có thể trông chờ.
Tuy nhiên, mối bận tâm lớn nhất ở các cơ chế này chính là sự thiếu hụt tính ràng buộc pháp lý và sự hợp tác thiện chí của chính quyền Bắc Kinh.
Sau gần 4 năm đàm phán trong bế tắc, ASEAN và Trung Quốc vừa thông qua dự thảo khung Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) với không nhiều tín hiệu tích cực cho các vùng nước tranh chấp trên Biển Đông. Ở phía Tây, cả MRC và LMI đều không có được tư cách thành viên của Trung Quốc cũng như thiếu hụt sự đồng thuận giữa các nước tham gia. Vì vậy, suốt nhiều năm qua các cơ chế này không đạt được tiếng nói chung hay giải pháp ngoại giao đáng kể nào trong nỗ lực giải quyết các tranh chấp nguồn nước.
Trong nỗ lực duy trì cân bằng cán cân khu vực và kiềm chế sự bành trướng của Trung Quốc, LMI với sự bảo trợ từ Chính phủ Mỹ được kỳ vọng mang lại diễn đàn ngoại giao đột phá. Tuy nhiên, chính sách cắt giảm đáng kể viện trợ cho các nước hạ nguồn sông Mê Kông, nhất là Campuchia, của Chính quyền Donald Trump đang được xem bước thoái lui ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực. Điều này buộc các nước vốn lệ thuộc nặng nề kinh tế vào Trung Quốc phải lựa chọn quay lại quỹ đạo ảnh hưởng mà Bắc Kinh mong đợi.
Năm 2016 còn chứng kiến bước tiến dài của Trung Quốc trong nỗ lực gia tăng ảnh hưởng trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) khi triển khai sáng kiến Hợp tác Lan Thương – Mê Kông (LMCM). Được Trung Quốc bảo trợ triệt để, LMCM được xem là diễn đàn để Bắc Kinh thúc đẩy các đối thoại hợp tác kinh tế và mở rộng hạ tầng với các nước trong khu vực.
Theo Courtney Weatherby (học giả cao cấp tại Stimson Center) và một số nhà phân tích, LMCM cùng với các hợp tác trong sáng kiến Một vành đai – Một con đường (OBOR) sẽ mau chóng định hình vị thế ảnh hưởng vững chắc của Trung Quốc ở toàn khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông. Trong viễn cảnh đó, Việt Nam cần đối sách ngoại giao linh hoạt để đảm bảo các lợi ích và vị thế chính trị của mình ở các thị trường truyền thống, như Lào và Campuchia, không bị đe dọa. [4]
Sóng ngầm xung đột
Tháng 10/2016, Operation Mekong (“Điệp vụ Tam giác Vàng”) – một bộ phim hành động mang nhiều thông điệp ngoại giao của Trung Quốc được trình chiếu khắp các rạp phim ở Đông Nam Á. Nội dung phim được phát triển dựa trên một sự kiện có thật xảy ra ngày 5/10/2011: hai tàu buôn Trung Quốc bị tấn công trên khúc sông Mê Kông đoạn qua khu vực Tam giác Vàng (Lào-Thái Lan-Myanmar) khiến khiến 13 thuyền viên Trung Quốc bị sát hại. Biến cố này đã tạo ra cơ sở để Trung Quốc thành lập hoạt động tuần tra chung với Thái Lan, Lào và Myanmar kể từ 12/2011 nhằm kiểm soát mọi hoạt động trên chiều dài 500km từ Cảng Guanlei (Vân Nam) đến khu vực biên giới Lào-Thái Lan.
Với lực lượng tham dự đông đảo (trên 200 binh sĩ từ tỉnh Vân Nam) và hỗ trợ chủ chốt về trang bị và đào tạo cho các nước khác trong mỗi đợt tuần tra, có thể thấy rằng sự hiện diện quân sự của Trung Quốc về phía hạ nguồn đang củng cố ảnh hưởng và mở ra nhiều lợi thế cho các hoạt động giao thương của nước này. Thống kê cho thấy, số lượng tàu buôn Trung Quốc đã tăng lên liên tục sau mỗi đợt tuần tra chung. [5]
Hoạt động này còn mở đường cho hàng loạt các dự án công nghiệp, khai khoáng và đồn điền của thương nhân Trung Quốc đầu tư vào các vùng đất màu mỡ ven sông Mê Kông thuộc lãnh thổ Myanmar, Lào và Thái Lan.
Tuy nhiên, sự hiện diện gia tăng của dòng người Trung Quốc đã tạo ra những phản ứng gay gắt từ cộng đồng địa phương – nơi hứng chịu các xáo trộn về xã hội và ô nhiễm môi trường do các dự án kinh tế gây ra. Hàng loạt các vụ tấn công nhằm vào công dân Trung Quốc đã xảy ra ở Lào và Myanmar, khiến nhiều người lao động Trung Quốc thương vong kể từ đầu năm 2016. [6]
Tại Thái Lan và Campuchia, mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương với các nhà đầu tư và sự hiện diện của quân đội đến từ Trung Quốc thường xuyên nổ ra. Nhiều dự án xây đập thủy điện, khai thác cát, nạo vét và khai phá lòng sông Mê Kông do Trung Quốc triển khai cũng bị các tổ chức phi chính phủ (NGO) và cư dân địa phương phản ứng quyết liệt. Nguy cơ về các hoạt động khủng bố và chống phá vũ trang cũng trở nên hiện hữu ở các dự án do Trung Quốc đầu tư ở Campuchia.
Rõ ràng Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong nỗ lực mở rộng ảnh hưởng về phía hạ nguồn sông Mê Kông. Trong khi chính phủ các nước Myanmar, Lào, Campuchia tuyên bố tìm thấy lợi ích to lớn từ các sáng kiến hợp tác và OBOR mà Bắc Kinh khởi xướng, những “sóng ngầm” đang nổ ra dọc sông Mê Kông phản ánh mặt trái của quá trình mở rộng ảnh hưởng đầy tham vọng của Trung Quốc tại Tiểu vùng sông Mê Kông.
Lời kết
Mùa mưa đến sớm với lượng mưa dồi dào qua các tháng gần đây đang hứa hẹn diễn biến thời tiết tích cực hơn cho ĐBSCL năm 2017. Tuy nhiên, dựa trên nguyên tắc khí tượng học nhị nguyên (dualist meteorology) có thể hiểu rằng sau tác động khô hạn nghiêm trọng của El Nino năm 2016, La Nina – với đặc trưng đối lập: gây mưa bão với cường độ lớn sẽ xuất hiện để kết thúc chu trình hoàn lưu khí tượng luân phiên mỗi 2-4 năm/lần. Điều này có nghĩa là trong những năm tới, rất có thể kịch bản khô hạn – biển tiến ở ĐBSCL của Việt Nam sẽ trở nên thường xuyên hơn.
Trong viễn cảnh đó, khả năng lệ thuộc của các nước hạ lưu sông Mê Kông, trong đó có ĐBSCL của Việt Nam, vào chính sách “ngoại giao nước” của Bắc Kinh là khó tránh khỏi.
Nhìn nhận câu chuyện an ninh năng lượng của Trung Quốc dưới lăng kính địa chính trị mới thấy rằng: suốt hơn 2 thập kỷ nước này phát triển thủy điện ồ ạt trên thượng nguồn sông Mê Kông (bao gồm cả các dự án đầu tư trên đất Myanmar và Lào) là không nhằm mục tiêu “giải tỏa cơn khát năng lượng” như nhiều người lầm tưởng. Theo Tiến sĩ Yu Xiaogang, nhà sáng lập tổ chức Green Watershed tại Vân Nam, nhu cầu năng lượng tại Tây Nam Trung Quốc đã không còn là vấn đề chính trong chính sách quy hoạch thủy điện của nước này.
Trên thực tế, Vân Nam đã có 5 năm liên tiếp dư thừa nguồn điện và đang nỗ lực xuất khẩu sang Myanmar và Bangladesh. Vì vậy, các nỗ lực “trị thủy” của Trung Quốc rõ ràng đang mở ra nhiều điều kiện thuận lợi để nước này giữ vai trò “độc quyền” trong điều tiết nguồn nước từ thượng nguồn. Đối mặt “cơn khát” giữa hạn hán ở hạ lưu, các lợi ích kinh tế và ngoại giao luôn là mục tiêu thỏa hiệp cuối cùng để Bắc Kinh quyết định đóng, hay mở các con đập.
Là nước cuối nguồn sông Mê Kông, Việt Nam hoàn toàn gánh chịu những tác động tiêu cực về mặt môi trường lẫn ngoại giao do các quyết sách phát triển mang tính “dân tộc vị kỷ” mà các nước thượng nguồn theo đuổi. Các bước đi của Trung Quốc trên sông Mê Kông một mặt tạo ra các nguy cơ mất an ninh nguồn nước, cùng những hệ lụy môi trường và xã hội cho Việt Nam, mặt khác còn tạo ra một “gọng kìm” thứ 2 uy hiếp lợi ích quốc gia của nước ta từ phía Tây.
Chính vì vậy, vấn đề tranh chấp nguồn nước sông Mê Kông cần phải được nhìn nhận đầy đủ hơn ở khía cạnh địa chính trị để có đối sách ứng phó kịp thời, nhất là trong bối cảnh căng thẳng ở các vùng nước tranh chấp trên Biển Đông đang phức tạp trở lại.
[1] Đoạn thượng nguồn sông Mekong chảy trong lãnh thổ Trung Quốc (Tây Tạng và Vân Nam).
[2] Tổng công suất thiết kế của các con đập này đạt gần 20,000MW, chiếm gần 2/3 tổng trữ năng thủy điện của toàn lưu vực thượng lưu sông Mekong (29,000MW).
[3] Timo A. Rasanen và cộng sự (2017), Observed river discharge changes due to hydropower operations in the Upper Mekong Basin. Journal of Hydrology (545) 28-41.
[4] Những năm gần đây, dòng đầu tư và viện trợ của Trung Quốc vào Lào, Campuchia liên tục tăng mạnh và hiện đã vượt qua Việt Nam để trở thành nhà đầu tư số lớn nhất ở 2 nước này. Tại Lào, các tập đoàn Trung Quốc đã đầu tư và sở hữu 6 dự án đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong. Trung Quốc cũng đang xây dựng mạng lưới đường sắt 6 tỷ USD (tương đương 50% GDP của Lào) kết nối Lào với các tỉnh phía Nam Trung Quốc. Quy mô đầu tư khổng lồ đã cho thấy viễn cảnh lệ thuộc kinh tế vào quỹ đạo của Trung Quốc là khó tránh khỏi.
[5] Trong đợt tuần tra chung đầu tiên vào 12/2011 ghi nhận được 10 buôn Trung Quốc đang hoạt động trên sông Mekong. Đến đợt tuần tra thứ 5 vào tháng 8/2012, con số này đã tăng lên gần 6 lần với 59 tàu đăng ký hoạt động.
[6] Tháng 1/2016, ít nhất 2 công nhân Trung Quốc bị chết và nhiều người khác bị thương trong vụ nổ bom ở Lào. Đến tháng 6/2017, 1 công dân Trung Quốc bị sát hại và 3 người khác bị thương trong một vụ tấn công khác ở tỉnh Luang Prabang.