Category Archives: Literatur

Bảo vệ trật tự dựa trên quy tắc tại Biển Đông – ‘Mổ xẻ’ những luận điệu của Trung Quốc (Kỳ cuối)

Giáo sư Luật quốc tế Jonathan G. Odom thuộc Trung tâm George C. Marshall về an ninh châu Âu tại Garmisch-Partenkirchen (Đức) phân tích những lập luận không có giá trị của Trung Quốc trong việc ủng hộ bầu chọn một thẩm phán người Trung Quốc.

Khi cân nhắc quyết định có nên bỏ phiếu cho một ứng viên Trung Quốc hay không, các nước thành viên có thể phải đối mặt với những luận điệu mang tính đả phá. Dưới đây là một số luận điểm mà Chính phủ Trung Quốc hay lực lượng ủng hộ họ có thể đưa ra. Tất cả luận điểm đó đều không có giá trị.

Về lập luận cho rằng không bầu cho ứng cử viên của Trung Quốc là chối bỏ quyền của Trung Quốc theo Công ước: Việc đề cử một thẩm phán vào ITLOS có thể là quyền của mọi quốc gia thành viên, nhưng việc bầu chọn một thẩm phán tại tòa chắc chắn không phải là quyền của bất kỳ nước thành viên nào, kể cả Trung Quốc. Hãy xem xét số liệu thống kê sau: Có 168 quốc gia tham gia UNCLOS nhưng chỉ có 21 ghế thẩm phán tại tòa. Trên thực tế, trong suốt 25 năm qua kể từ khi được thành lập, có đến 80% số quốc gia thành viên chưa từng có đại diện của họ trong đội ngũ thẩm phán của tòa. Vì vậy, nếu nói quyền của Trung Quốc đang bị xâm phạm, thì điều đó cũng đúng với 147 quốc gia thành viên còn lại.

Về lập luận cho rằng việc không bỏ phiếu cho ứng viên Trung Quốc trong đợt bầu cử ITLOS lần này sẽ khiến Trung Quốc không còn cơ hội như vậy nữa: Thực ra, Trung Quốc đã có rất nhiều cơ hội. Trung Quốc đã có 3 đại diện trong đội ngũ thẩm phán của tòa, một trong số này vẫn đang tại nhiệm. Trên thực tế, Trung Quốc là một trong số ít các quốc gia thành viên hàng năm đều có đại diện trong đội ngũ thẩm phán suốt thời gian 25 năm tồn tại của tòa.

Về lập luận cho rằng việc bỏ phiếu cho các ứng viên khác không phải của Trung Quốc sẽ vi phạm quy định về tiêu chí bầu chọn thẩm phán của tòa quốc tế: Điều 2 Phụ lục VII của UNCLOS quy định rằng các quốc gia thành viên phải bầu chọn thẩm phán ITLOS trong số những người có uy tín nhất về sự công bằng, chính trực và năng lực đã được công nhận trong lĩnh vực luật biển. Tuy nhiên, tất cả 9 ứng viên còn lại xét về tiêu chuẩn đều hơn ứng cử viên của Trung Quốc. Vì vậy, cần tập trung vào những thành tích đáng chú ý của 9 ứng cử viên còn lại trong đợt bầu cử ITLOS lần này.

Hai trong số họ (thẩm phán Malta và Ukraine) hiện đang là thành viên của ITLOS và đều tìm cách tái đắc cử. Ba ứng viên (thẩm phán Chile, Uruguay và Italy) hiện đang là thành viên được chỉ định của Tòa Trọng tài Thường trực, và một trong số đó (thẩm phán Italy) từng có kinh nghiệm xử lý nhiều vụ kiện được trình lên ITLOS. Một ứng viên (thẩm phán Cameroon) đã phục vụ 12 năm trên cương vị thư ký của ICJ. Một ứng viên (thẩm phán Brazil) là học giả có nhiều công trình được công bố rộng rãi trong lĩnh vực luật biển và từng đảm nhiệm vị trí trợ lý riêng cho một thẩm phán ITLOS. Một ứng viên (thẩm phán Jamaica) đã phục vụ 12 năm trên cương vị đại diện thường trực và phó đại diện thường trực của chính phủ nước mình tại Cơ quan quản lý đáy biển quốc tế (Jamaica). Và ứng viên thứ chín (thẩm phán Zimbabwe) có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp lý, từng đảm nhiệm vị trí thẩm phán tại tòa tối cao của nước mình trong 8 năm qua.

Trong khi đó, tiểu sử công khai của ứng cử viên Trung Quốc cho thấy ông này không có bất kỳ kinh nghiệm nào trong vai trò thẩm phán hay trọng tài quốc tế; do vậy, ông này không có bất kỳ kinh nghiệm nào được ghi nhận trong việc xét xử tranh chấp giữa hai bên một cách công bằng và chính trực. Mặc dù ứng cử viên này có chút ít kinh nghiệm trong vai trò luật sư của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, nhưng kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp lý này mới chỉ được tích lũy trong vòng 10 năm. Bên cạnh đó, cấp trên của ứng viên này trong cơ quan luật pháp đó cũng chính là người đã ngang nhiên nói rằng phán quyết mang tính ràng buộc về mặt pháp lý của tòa trọng tài UNCLOS “chỉ là một mảnh giấy lộn”.

Trong thập kỷ qua, ứng cử viên Trung Quốc từng đảm nhiệm cương vị Tổng lãnh sự tại Australia, Đại sứ tại Singapore và Đại sứ tại Hungary – những cương vị chính trị-ngoại giao ấn tượng, nhưng ITLOS không phải là một diễn đàn ngoại giao hay chính trị. Hơn nữa, không rõ ông này có công trình nghiên cứu nào đã được công bố hay thành tích nào đã được ghi nhận trong lĩnh vực luật biển hay không. Nói tóm lại, khi so sánh hồ sơ nghiệp vụ của ứng viên Trung Quốc với trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của 9 ứng viên còn lại, có thể lập luận một cách chắc chắn rằng ít nhất 7/9 ứng viên còn lại có đủ tiêu chuẩn hơn ông này để đảm nhiệm cương vị thẩm phán tại ITLOS.

Về lập luận cho rằng việc không bỏ phiếu cho ứng cử viên Trung Quốc là loại bỏ “quan điểm châu Á” ra khỏi tòa án quốc tế này: Điều 2 Phụ lục VII của UNCLOS quy định rõ rằng các thành viên của ITLOS sẽ được lựa chọn trên cơ sở phân bố địa lý phù hợp. Theo Điều 3 của phụ lục này, mỗi nhóm địa lý theo quy định của Đại hội đồng Liên hợp quốc sẽ có ít nhất 3 đại diện trong đội ngũ thành viên của ITLOS. Theo quy định của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Trung Quốc là một trong số 55 thành viên của nhóm châu Á-Thái Bình Dương. Hiện tại, đội ngũ thành viên của ITLOS có 4 đại diện của nhóm châu Á-Thái Bình Dương gồm các thẩm phán Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan được bầu chọn trong các cuộc bỏ phiếu định kỳ 3 năm/lần trước đó.

Vì vậy, cho dù ứng cử viên của Trung Quốc không được chọn trong đợt bầu cử lần này, thì các nước thành viên châu Á-Thái Bình Dưỡng vẫn sẽ có ít nhất 3 đại diện trong đội ngũ thẩm phán của ITLOS.

Về lập luận cho rằng việc bỏ phiếu phản đối ứng cử viên của Trung Quốc là cách thức không thể chấp nhận được của các nước khác nhằm bày tỏ sự phản đối của họ về những hành vi gần đây của nước này: Một số người có thể đặt câu hỏi liệu những hành vi gây tranh cãi trước đó của các nước khác có tác động đến việc các ứng viên của họ được bầu vào các tòa án quốc tế hay không. Câu trả lời ngắn gọn là: Không rõ.

Ví dụ, năm 1986, ICJ ra phán quyết bất lợi cho Mỹ trong vụ tranh chấp với Nicaragua và phán quyết này cũng bị Mỹ ngang nhiên bác bỏ. Tại thời điểm đó, một thành viên của ICJ là thẩm phán Mỹ và người này đã đưa ra quan điểm phản đối thẩm quyền xét xử và nội dung phán quyết. Mặc dù vậy, 15 tháng sau, đa số các nước thành viên của Liên hợp quốc vẫn bầu chọn vị thẩm phán đó vào ICJ.

Theo Quy định 92 về thủ tục của Đại hội đồng Liên hợp quốc, cuộc bầu cử năm 1987 được thực hiện dưới hình thức bỏ phiếu kín, vì vậy không thể biết được những yếu tố nào đã tác động đến quyết định bỏ phiếu của các nước thành viên đối với vị thẩm phán đó, trừ khi những quốc gia này công khai lá phiếu của mình.

Gần đây hơn, trong cuộc bầu cử thẩm phán ICJ năm 2017, một loạt cuộc bỏ phiếu bổ sung giữa ứng viên của Anh và ứng viên Ấn Độ đã được tổ chức. Cuối cùng ứng cử viên của Anh bị đánh bại, dẫn đến việc lần đầu tiên Anh không có thẩm phán đại diện trong lịch sử 71 năm của tòa án này.

Sau cuộc bầu cử, Chính phủ Anh thừa nhận rằng quy trình bỏ phiếu kín khiến họ không thể nào biết được những nước nào đã bỏ phiếu chống lại ứng cử viên của họ và tại sao những nước này lại làm vậy. Tuy nhiên, báo chí Anh đưa tin rằng một số nước thành viên có thể đã bỏ phiếu chống lại ứng viên của Anh vì ông này trước đây từng là cố vấn pháp lý cho Thủ tướng Anh Tony Blair trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc xâm lược Iraq năm 2003.

Tóm lại, có ba vấn đề cần xem xét. Thứ nhất, luật pháp quốc tế không ngăn cấm các quốc gia thành viên UNCLOS xem xét các hành vi đáng tranh cãi trước đó của Trung Quốc khi quyết định bỏ phiếu cho ứng cử viên ITLOS nào; thứ hai, nếu một nước thành viên UNCLOS chọn hình thức ngấm ngầm phản đối cách hành xử của Trung Quốc, thì quốc gia đó không có nghĩa vụ phải thông báo hoặc giải thích về lá phiếu của mình với Trung Quốc hoặc bất kỳ ai khác, vì việc bỏ phiếu bầu chọn các thẩm phán ITLOS mang tính bí mật; và thứ ba, nếu một quốc gia thành viên UNCLOS chọn hình thức công khai phản đối cách hành xử của Trung Quốc, thì luật pháp quốc tế không cấm quốc gia đó tiết lộ về việc họ đã bỏ phiếu cho ai và lý do làm vậy trong các cuộc bầu cử ITLOS.

Đáp lại lời kêu gọi của Trung Quốc về thực thi luật pháp quốc tế

Tháng 1/2017, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tới Geneva (Thụy Sỹ), và có bài phát biểu quan trọng tại Văn phòng Liên hợp quốc về việc xây dựng một cộng đồng chung tương lai cho nhân loại mà ông gọi là “lời kêu gọi cho thời đại của chúng ta”.

Bài phát biểu của ông trước cử tọa quốc tế chạm đến nhiều khía cạnh của quan hệ quốc tế, bao gồm cả vai trò của luật pháp trong những mối quan hệ này. Ông tuyên bố rằng giá trị của luật pháp nằm ở việc thực thi. Do vậy, trách nhiệm của tất cả các quốc gia là nên cao tinh thần thượng tôn pháp luật, thực hiện các quyền của mình phù hợp với luật pháp và tự giác hoàn thành các nghĩa vụ của mình. Nếu không tính đến thực tế đầy mỉa mai rằng Tập Cận Bình đưa ra bài phát biểu này chỉ 6 tháng sau khi chính phủ của ông cố tình không tuân thủ một phán quyết mang tính ràng buộc thì có thể nói ý tưởng được chứa đựng trong bài phát biểu này là đáng khen ngợi và làm theo.

Các nước tham gia UNCLOS sẽ có một cơ hội hiếm hoi để đáp lại lời kêu gọi của Chủ tịch Tập Cận Bình về việc thực thi luật pháp quốc tế tại hội nghị thường niên năm nay. Điều đó có nghĩa là các quốc gia độc lập và có chủ quyền này có thể thực hiện một cách riêng rẽ quyền bỏ phiếu của mình theo quy định của UNCLOS để buộc một quốc gia thành viên khác phải chịu trách nhiệm vì đã không tự giác hoàn thành các nghĩa vụ của mình và tạo điều kiện cho tập hợp đông đảo các nước tham gia công ước nêu cao tinh thần thượng tôn pháp luật. Khi bỏ phiếu cho ứng viên ITLOS của một nước nào đó, các nước cần xem xét câu hỏi: Liệu chính phủ của hơn 160 nước tham gia công ước có can đảm tận dụng cơ hội đó và bỏ phiếu đúng theo lương tâm mình hay không?

Loading

Views: 0

Bảo vệ trật tự dựa trên quy tắc tại Biển Đông – Thách thức đầy rẫy và ‘mỏ neo’ quý giá (Kỳ 1)

Trang mạng www.lawfareblog.com mới đây có bài viết của Giáo sư Luật quốc tế người Đức Jonathan G. Odom nghiên cứu những khó khăn và triển vọng của việc đọ sức với Trung Quốc trong các vấn đề tại Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế.

“Đó chỉ là một mảnh giấy lộn: Người ta có thể vứt nó vào thùng rác, không thì để trên giá, hoặc cho vào kho lưu trữ”. Đó là lời của Lưu Chấn Dân, khi đó là Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, phát biểu tại một cuộc họp báo hồi tháng 7/2016 tại Bắc Kinh.

Vụ kiện lịch sử

Một ngày trước khi ông đưa ra những nhận xét này, một tòa án được thành lập theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) đã đưa ra phán quyết toàn diện, gồm 501 trang về vụ kiện ở Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc.

Với tư cách là một quốc gia thành viên của UNCLOS, Philippines đã khởi động tiến trình này từ 3 năm trước đó, nhưng Trung Quốc từ chối tham gia – mặc dù nước này cũng là một thành viên của UNCLOS.

Tại cuộc họp báo ở Bắc Kinh, Trung Quốc đã tuyên bố với thế giới rằng họ coi phán quyết trên là “không có giá trị”. Lưu Chấn Dân – một trong những quan chức ngoại giao cấp cao của Trung Quốc – còn tiến thêm một bước nữa: Ông đánh đồng một phán quyết tư pháp mang tính ràng buộc về mặt pháp lý với rác rưởi.

Sau phán quyết này, một số nước thành viên khác của UNCLOS đã kêu gọi Trung Quốc xem xét lại thái độ không chấp hành của mình. Ngay sau khi phán quyết được đưa ra, Philippines tuyên bố rằng: “Quyết định này của tòa tuân thủ luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982”.

Cùng ngày, Chính phủ Australia “kêu gọi Philippines và Trung Quốc tuân thủ phán quyết cuối cùng và mang tính ràng buộc đối với cả hai bên”.

Tương tự, Ngoại trưởng Nhật Bản tuyên bố “phán quyết của tòa là phán quyết cuối cùng và mang tính ràng buộc về pháp lý đối với các bên tranh chấp theo quy định của UNCLOS, các bên trong vụ kiện có nghĩa vụ tuân thủ phán quyết”.

Một tuần sau khi phán quyết được đưa ra, Ngoại trưởng Canada miêu tả phán quyết này là “mang tính ràng buộc đối với các bên” và tuyên bố rằng “Dù có đồng ý với phán quyết hay không, thì Canada tin rằng các bên liên quan nên tuân thủ nó”.

Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia thành viên khác của UNCLOS, đặc biệt là những nước gần gũi với Trung Quốc như Pakistan và Nga, lại chỉ trích phán quyết của Tòa Trọng tài.

Và ở giữa, nhiều nước khác tỏ thái độ trung lập và thể hiện cái mà giới ngoại giao miêu tả là “sự mơ hồ chiến lược”. Có lẽ những thành viên của phe đa số im lặng đó hy vọng rằng cuối cùng thì Trung Quốc sẽ tôn trọng những nghĩa vụ pháp lý của mình trong phán quyết mang tính ràng buộc này.

Sự ngoan cố của Trung Quốc

Tuy nhiên, trong 4 năm qua, Trung Quốc không hề tuân thủ phán quyết này. Chính phủ Trung Quốc đã tiếp tục phớt lờ và xem thường phán quyết. Tệ hơn thế, Trung Quốc đang có những hành động cứng rắn tại Biển Đông để đe dọa các bên tuyên bố chủ quyền khác, một vài hành động trong số này hoàn toàn đi ngược lại các nội dung trong phán quyết của tòa.

Chẳng hạn, tháng 1/2020, tàu Hải cảnh Trung Quốc hộ tống tàu đánh cá nước này đánh bắt cá trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia gần khu vực đảo Natuna không hề có tranh chấp của Indonesia.

Trung Quốc cố tình thực hiện những hành động này tại một khu vực mà vùng biển hợp pháp của Indonesia chồng lấn với mỏm cực nam của “đường 9 đoạn” đầy tai tiếng của Trung Quốc, mà tòa đưa ra phán quyết (đoạn 278) rằng “đường 9 đoạn” đó đi ngược lại với nghĩa vụ của Trung Quốc theo UNCLOS.

Các hành động của Trung Quốc xâm phạm các quyền của Indonesia được quy định trong công ước giống như cách Trung Quốc xâm phạm quyền lợi theo công ước của Philippines, mà tòa đã lên án (đoạn 1203).

Mới đây, vào tháng 4/2020, Bộ Dân chính Trung Quốc đã đơn phương công bố tên gọi chính thức của 25 đảo và bãi cạn trên Biển Đông, cùng 55 thực thể dưới nước. Việc Trung Quốc đặt tên cho những thực thể chìm này là điều rất đáng lo ngại, cho thấy tiếp theo đó Bắc Kinh có khả năng xây dựng một loạt đảo nhân tạo khác và tìm cách đưa ra yêu sách về các quyền lợi trên biển đối với các đảo nhân tạo này, điều mà UNCLOS (Điều 60) nghiêm cấm và phán quyết của tòa cũng nhắc lại (trong các đoạn 305-306).

Đây mới chỉ là hai hành động đáng ngờ của Trung Quốc – đáng tiếc là còn rất nhiều hành động khác.

Khi được tiến hành cùng nhau, những hành động này đặt ra câu hỏi liệu Trung Quốc, với tư cách là một bên tham gia UNCLOS, có thực sự cam kết tuân thủ trật tự quốc tế dựa trên quy tắc hay không, một trật tự mà công ước này cùng các tổ chức pháp lý thừa hành được thiết lập để củng cố.

Những hành động “đáng ngờ” của Trung Quốc tại Biển Đông đặt ra câu hỏi liệu Trung Quốc, với tư cách là một bên tham gia UNCLOS, có thực sự cam kết tuân thủ trật tự quốc tế dựa trên quy tắc hay không?

Thách thức và cơ hội trong thực thi luật pháp quốc tế

Xét tới việc Trung Quốc coi thường phán quyết năm 2016 và cách hành xử hung hăng của nước này, các quốc gia khác nên làm gì để đáp lại hành vi trên? Và – ở mức độ cơ bản hơn – chính xác thì họ có thể làm gì trong quan hệ quốc tế để thể hiện rằng những hành động đơn phương như vậy là không thể chấp nhận được trong khuôn khổ trật tự quốc tế dựa trên quy tắc?

Tất nhiên, tình hình đang diễn ra không phải là một thách thức mới trong quan hệ quốc tế. Những người hoài nghi vẫn thường đặt câu hỏi liệu luật pháp quốc tế có thực sự là “luật pháp” hay không, khi mà chỉ hãn hữu hoặc hoàn toàn không có biện pháp nào bảo đảm rằng các quốc gia sẽ tuân thủ những quy định cụ thể được bao hàm trong đó.

Những người theo chủ nghĩa thực dụng lập luận rằng cộng đồng quốc tế gồm những quốc gia có chủ quyền sẽ hiếm khi tiến hành các hành động tập thể chống lại một nước khác, nhất là khi nước đó có ảnh hưởng kinh tế hoặc sức mạnh quân sự đáng kể, và khi hành vi vi phạm luật pháp quốc tế không đến mức xâm lược trắng trợn.

Xét ở góc độ thực tế, quan hệ quốc tế hiếm khi tạo ra cơ hội cho một nhóm quốc gia thể hiện sự phản đối của họ trước hành vi đáng ngờ của một quốc gia khác, ngoài việc đưa ra các công hàm ngoại giao chính thức vào lúc này hay lúc khác – thứ mà Trung Quốc xưa nay vẫn kiên quyết khẳng định là nước này sẽ không để tâm đến.

Tuy nhiên, đôi khi cũng xuất hiện những cơ hội trong trật tự quốc tế dựa trên quy tắc mà trong đó các quốc gia có thể làm gì đó để thể hiện sự ủng hộ đối với việc giữ gìn trật tự và thể hiện sự phản đối của mình trước hành vi đơn phương làm xói mòn trật tự đó của một quốc gia khác.

Có những thời điểm họ có thể thực hiện một hành động chính thức không thể bị bất kỳ nước thành viên thường trực nào của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc phủ quyết, kể cả Trung Quốc. Có những lúc họ có thể thực hiện hành động không cần viện đến một cơ quan có quyền tài phán trên toàn thế giới hoặc sức mạnh quân sự to lớn.

Đôi khi họ có thể thực hiện hành động bên trong khuôn khổ luật pháp có thể áp dụng được theo hiệp ước, mà không cần viện dẫn bất kỳ điều khoản mơ hồ nào của công ước. Và đôi khi họ có thể thực hiện hành động để không khiến tình hình leo thang, mà thay vào đó là nhằm đề cập cả “câu chữ và tinh thần” của cơ chế pháp lý mà quốc gia thành viên kia đã vi phạm.

Một “mỏ neo” trong duy trì luật pháp quốc tế

Trong những tháng tới, cộng đồng quốc tế sẽ có cơ hội để làm chính điều đó: Thể hiện sự ủng hộ đối với trật tự quốc tế dựa trên quy tắc và bày tỏ sự phản đối của mình đối với bất kỳ thành viên nào vi phạm. Vào tháng 6/2020, 167 nước thành viên UNCLOS dự kiến sẽ tham dự kỳ họp thường niên lần thứ 30, nơi các nước sẽ thực hiện một số quyền lợi mang tính thủ tục mà họ được hưởng theo quy định của công ước.

Trong cuộc họp này, các nước thành viên sẽ bầu ra 1/3 số thẩm phán của Tòa án Quốc tế về Luật biển (ITLOS) cho nhiệm kỳ 9 năm sắp tới – một quy trình được ghi rõ trong công ước (Phụ lục VII, Điều 4), diễn ra ba năm một lần. Trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc bỏ phiếu này, các quốc gia thành viên đã đề cử các cá nhân đảm nhiệm cương vị thẩm phán của ITLOS.

Để có đủ 7 ghế thẩm phán cho ITLOS, tổng cộng sẽ có 10 quốc gia thành viên thực hiện quyền đề cử ứng cử viên của mình: Brazil, Cameroon, Chile, Trung Quốc, Italy, Jamaica, Malta, Ukraine, Uruguay và Zimbabwe. Đáng chú ý là Trung Quốc đã đề cử Đoàn Khiết Long, người hiện là Đại sứ Trung Quốc tại Hungary.

Cuộc bầu chọn thẩm phán sắp tới cho ITLOS đem lại cơ hội quý giá cho cộng đồng quốc tế. 167 quốc gia này có một biện pháp hợp pháp, hòa bình và chính đáng để duy trì luật pháp quốc tế: không bỏ phiếu cho ứng cử viên do Trung Quốc giới thiệu vào ITLOS – và thay vào đó là bỏ phiếu cho 7 trong số các ứng cử viên khác.

Cách bỏ phiếu này hoàn toàn hợp pháp, vì mỗi quốc gia thành viên có quyền tự do bỏ phiếu cho ứng cử viên mà mình mong muốn. Bắc Kinh có thể lập luận rằng việc bỏ phiếu chống lại ứng cử viên của Trung Quốc vào ITLOS là “không thân thiện”, nhưng việc bỏ phiếu như vậy hoàn toàn đáp ứng định nghĩa của luật quốc tế về sự đáp trả: “Hành động không thân thiện nhưng không vi phạm nghĩa vụ quốc tế của quốc gia liên quan mặc dù đây có thể là đòn đáp trả lại một hành động sai trái trên phương diện quốc tế”.

Đây là hành động hòa bình, là hành động ngoại giao không sử dụng sức mạnh quân sự. Và đây cũng là cách bỏ phiếu chính đáng. Nói cách khác, hành động này là phản ứng đáp trả một tình huống cụ thể nhằm duy trì mục đích và các thể chế của công lý quốc tế, bằng cách áp đặt chế tài đối với một quốc gia-dân tộc có hành động phá hoại mục đích và các thể chế đó.

Ngoài ra, động thái này sẽ gửi đi một thông điệp tới Chính phủ Trung Quốc rằng những hành vi đáng lên án có thể hủy hoại vị thế của nước này trên trường quốc tế.

Lý do không bỏ phiếu cho Trung Quốc

So sánh trên cơ sở tiêu chí nghề nghiệp, có thể lập luận rằng trong danh sách các ứng viên năm 2020, sẽ có 7 người đủ tiêu chuẩn hơn ứng cử viên của Trung Quốc cho vị trí thẩm phán ITLOS, do họ có kinh nghiệm trong ngành tư pháp, trong khi tiểu sử của Đoàn Khiết Long cho thấy ông không có hiểu biết trong lĩnh vực này.

Nhưng khi gác sang một bên bất kỳ cuộc thảo luận nào khác về ứng cử viên của Trung Quốc thì điều quan trọng nhất vẫn là vấn đề mang tính nguyên tắc.

Mỗi quốc gia thành viên của UNCLOS phải cân nhắc câu hỏi sau: Liệu Trung Quốc có xứng đáng giữ một ghế thẩm phán nhiệm kỳ 9 năm tại một tòa án được UNCLOS công nhận (trong trường hợp này là ITLOS) hay không, xét tới việc nước này công kích trắng trợn tính hợp pháp của một tòa án khác (Tòa Trọng tài), vốn cũng được chính công ước này công nhận?

Chưa cần xét tới những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế nghiêm trọng mà Tòa trọng tài nhận thấy Trung Quốc đã thực hiện tại Biển Đông, mỗi quốc gia nên xem xét ba cách thức mà Trung Quốc đã làm suy yếu căn bản trật tự quốc tế dựa trên quy tắc trong vấn đề này.

Thứ nhất, tòa trọng tài thụ lý và ra phán quyết về vụ kiện Biển Đông là hoàn toàn hợp pháp. Trên thực tế, UNCLOS đã nêu rất rõ 4 tòa án đủ thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp theo công ước: Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ), ITLOS, “một tòa trọng tài” được thành lập theo một phụ lục của UNCLOS và một “tòa trọng tài đặc biệt” giải quyết một số hạng mục tranh chấp đặc biệt (Điều 287 (1)).

Đáng lưu ý là công ước hoàn toàn không đề cập thứ tự ưu tiên hoặc sự phân cấp giữa 4 cơ quan tư pháp này. Nói cách khác, các cơ quan này được coi là có thẩm quyền pháp lý như nhau trong việc thụ lý và xử lý các tranh chấp theo công ước này. Mỗi nước thành viên quyền “chọn” 1 trong 3 cơ quan tư pháp đầu tiên trong danh sách kể trên để giải quyết tranh chấp với các nước khác liên quan đến việc diễn giải hoặc áp dụng UNCLOS (Điều 287 (1)). Nếu một quốc gia thành viên không tuyên bố cơ quan ưu tiên của mình trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan, thì quốc gia đó “coi như chấp nhận sự phân xử” theo phụ lục UNCLOS (Điều 287 (13)).

Thứ hai, tòa trọng tài có thẩm quyền đưa ra phán quyết cuối cùng về việc có quyền xét xử vụ kiện ở Biển Đông hay không. Theo quy định của luật pháp quốc tế, các cơ quan pháp lý thường được trao quyền, hoặc cơ chế pháp lý, để xác định liệu họ có thẩm quyền xét xử các vụ tranh chấp được trình lên hay không.

Theo lời giải thích của một tòa án quốc tế, “đây là một yếu tố cần thiết trong việc thực thi chức năng tư pháp”. Không có yếu tố này, một bên trong vụ việc chỉ cần đưa ra phản đối chính thức, và tất cả mọi thủ tục tố tụng sau đó sẽ phải dừng lại.

Do vậy, trong các hiệp ước cho phép thiết lập tòa án quốc tế và tòa phân xử đều ghi rõ các điều khoản trong đó trao cho các cơ quan phân xử quyền phán quyết cuối cùng đối với thẩm quyền xét xử trong những vụ tranh chấp cụ thể.

Đối với các tranh chấp theo UNCLOS, công ước quy định cụ thể và rõ ràng: “Trong trường xảy ra tranh chấp về việc một tòa án hoặc một tòa trọng tài có thẩm quyền hay không, vấn đề sẽ được giải quyết bằng chính quyết định của tòa án hoặc tòa trọng tài đó” (Điều 288 (4)).

Đáng chú ý là như nhiều điều khoản khác của UNCLOS, cụm từ “một tòa án hoặc tòa trọng tài” bao gồm không chỉ ICJ và ITLOS mà còn cả các tòa phân xử khác như Tòa Trọng tài trong vụ kiện ở Biển Đông.

Sau khi Tòa Trọng tài ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện, Trung Quốc đã công kích Tòa Trọng tài “xâm phạm nghiêm trọng thông lệ chung về phân xử quốc tế, hoàn toàn đi chệch khỏi mục tiêu và mục đích của UNCLOS là thúc đẩy việc giải quyết các tranh chấp trong hòa bình, gây tổn hại nghiêm trọng tới tính chính trực và thẩm quyền của UNCLOS, xâm phạm nghiêm trọng các quyền hợp pháp của Trung Quốc với tư cách là một quốc gia có chủ quyền và thành viên của UNCLOS, đồng thời vừa bất công vừa bất hợp pháp”.

Nhưng liệu một quốc gia thành viên chịu ràng buộc về mặt pháp lý với tất cả các điều khoản của UNCLOS, trong đó có cả điều khoản trao quyền cho một tòa phân xử có tiếng nói cuối cùng về vấn đề thẩm quyền xét xử, có được phép coi thường thẩm quyền đó?

Nếu vậy, tất cả các quốc gia thành viên UNCLOS khác, những nước tin rằng quyền và lợi ích của họ đã bị một nước thành viên khác xâm phạm sẽ không đơn giản chỉ là phải chịu bất công, mà họ thậm chí còn không có bất kỳ cơ hội nào để tìm kiếm công lý.

Thứ ba, theo quy định pháp lý, các bên liên quan đến vụ tranh chấp ở Biển Đông có nghĩa vụ chấp hành mọi quyết định của tòa, không chỉ các quyết định thuộc thẩm quyền xét xử mà cả những quyết định dựa vào bản chất sự việc.

Công ước quy định: “Bất kỳ quyết định nào của tòa án có thẩm quyền xét xử theo mục này cũng sẽ là quyết định cuối cùng và sẽ được tất cả các bên liên quan đến tranh chấp tuân thủ” (Điều 296 9(1)). Công ước không quy định “một số” quyết định mà là “bất kỳ” quyết định nào.

Tất cả những quyết định này đều là các quyết định cuối cùng, nghĩa là không bên nào có cơ sở hay cách thức để khiếu nại quyết định của tòa.

Điều này áp dụng với bất kỳ quyết định nào của tòa có thẩm quyền xét xử theo mục này, kể cả quyết định của tòa trọng tài. Ngay sau khi tòa trọng tài đưa ra phán quyết dài 501 trang dựa vào bản chất sự việc, Trung Quốc đã tuyên bố phán quyết này là vô hiệu lực và không có tính ràng buộc.

Tuy nhiên tuyên bố này hoàn toàn đi ngược với nghĩa vụ pháp lý của Trung Quốc theo Công ước. Theo quy định của luật pháp quốc tế, Trung Quốc có nghĩa vụ tuân thủ các quyết định do tòa trọng tài đưa ra.

(còn tiếp)

Tác giả là Giáo sư Luật quốc tế thuộc Trung tâm George C. Marshall về an ninh châu Âu tại Garmisch-Partenkirchen (Đức). Ông từng là cố vấn chính sách đại dương trong Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ và là giáo sư luật quân sự và an ninh hàng hải tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương Daniel K. Inouye.

Loading

Views: 0

China’s use of force to take over features in Spratly Islands for monopoly of the South China Sea

It was not until 1988 that there was Chinese presence in the Spratly Islands (Itu Aba Island was occupied by the Republic of China in Taiwan). Taking advantage of Vietnam’s difficulties in the late 1980s, China dispatched its navy to take over the features in the Spratly Islands, establishing a foothold in the south of South China Sea in pursuit of its ambition.

In late 1987 and early 1988, Vietnam was at the bottom of a socio-economic crisis with a stagnant economy and an extremely hard life of its people. At that time, the Soviet Union – Vietnam’s biggest backing – was also experiencing a socio-political crisis. Beijing took advantage of this opportunity to take over some features in the Spratly Islands. In early 1988, China illegally occupied the Fiery Cross Reef, Cuarteron Reef, Gaven Reefs, Subi Reef, and Hughes Reef of the Spratly Islands.

Many military experts analyzed that China’s use of force and massacre 64 Vietnamese soldiers, to occupy the Johnson Reef at all cost was to serve its intention to draw a line of more than 300 km across the South China Sea, adjacent to the rocks and islands under Vietnam’s control. The Johnson Reef is a rock located in Namyit – Sin Cowe Island Group, not too far from other rocks under Vietnam’s control.

China had the intention to take over Johnson Reef a long time ago for its long-term plan in the South China Sea. Before that, in early 1988, it already sent forces to illegally occupy five other features in Spratly Islands, including Fiery Cross Reef. Next, in 1995, China also took over Mischief Reef, which was under the control of the Philippines, by force.

The Fiery Cross Reef, Johnson Reef and Mischief Reef are located on the same latitude, in which Johnson Reef lies in the middle (the Johnson Reef is 135 km away from the Fiery Cross Reef, and 170 km away from the Mischief Reef). By gaining control of these three features, China could control the entire Spratly Islands, thereby controlling Vietnam’s and the Philippines’ supply routes to their islands in the Spratly Islands.

Another reason for China’s occupation of these features is to gain a foothold to control Vietnam’s waters in the south of Vietnam and the Philippines’ waters as Fiery Cross Reef lies next to the 200 nautical mile of Vietnam’s EEZ, not too far from the Vanguard Bank and Rifleman Bank in Vietnam’s EEZ and continental shelf; while Mischief Reef lies within the 200 nautical mile EEZ and continental shelf of the Philippines.

Immediately after its occupation of the features in the Spratly Islands, in the 1990s, China started to reclaim and build facilities of moderate scale here as per its economic strength.

Onto the second decade of the 21st century, the Chinese economy made a great leap forward to become the second largest economy of the world after the US. The Chinese military capability, especially the navy, also grew significantly per se. Beijing decided to push forth and began building and expanding the occupied features in the Spratly Islands on large scale (constructing more than 3 km-long runway for combat aircrafts and shipyard for warships).

China has been reclaiming land and deploying weaponry, missiles, and military equipment since 2014 when the international community’s attention was focused on China’s placement of oil rig Haiyang Shiyou 981 within Vietnam’s EEZ and continental shelf.

To date, China has in general transformed the illegally occupied features in the Spratly Islands into artificial islands and military outposts for the purpose of further invasive expansion into the waters of the South China Sea littoral countries. In fact, this can be illustrated by the case of the Fiery Cross Reef in 2019. It now serves as a port for Chinese coast guard (CCG) and militia vessels (including the geological survey vessel Haiyang Dizhi 08) to come back after intruding in Vietnam’s EEZ and continental shelf from early July to the end of October 2019. It is also where the CCG and Chinese fishing vessels set sail to violate the waters of Indonesian Natuna Islands from late December 2019 to early January 2020.

Other Chinese geological survey vessels, CCG and militia vessels also set sail from other China-occupied features in the Spratly Islands to violate the Philippine waters or jeopardize Malaysian oil and gas activities in Malaysia’s waters.

Legally speaking, China has so far based its “Three Shas” and then “Four Shas” concepts on the illegal occupation of the seven features in the Spratly Islands to claim a vast area to the south of the South China Sea, calling it with vague names not defined in international law, such as “related waters” or “adjacent waters.”

China’s plot to dominate the South China Sea is persistent. It tries to draw a perfect scheme to realize its ambition and has been carrying it out step by step professionally. To begin with, China occupied seven features in the Spratly Islands by force, and then proceeded to reclaim, expand and militarize them. Currently, it is operating the facilities on the features to support its violations in the waters of the South China Sea littoral countries, at the same time, building arguments to advocate for its absurd claims in the South China Sea.

In July 2016, the Permanent Court of Arbitration (PCA) was established for the Philippines vs. China case under the Philippines’ request and gave a ruling confirming that there was no structure in the Spratly Islands (including Itu Aba Island) eligible, under the provision of Article 121 of the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) 1982, to generate an EEZ and continental shelf of its own, but rather a 12-nautical-mile territorial sea at best.

Thus, China’s use of force to take control of the features in the Spratly Islands is a serious infringement of the UN Charter and international law. This also means Beijing’s suspension of its illegal occupation of the features to claim a larger area in the South China Sea constitutes an even more serious violation of international law, including the PCA’s ruling on July 12, 2016.

The PCA’s ruling on July 12, 2016 also clarifies that Chinese reclamation of the features in the South China Sea betrays its duty to protect and preserve maritime environment. Hence, China’s transformation of these features into military outposts to support its violation of the waters of other South China Sea littoral countries is another serious infringement of international law.

As a permanent member of the UN Security Council, China has seriously violated the UN Charter’s principle which prohibits the use of force by forcefully occupying the seven features in the Spratly Islands (it even caused a massacre when attacking Johnson Reef) to establish a foothold to realize the ill intent of monopolizing the South China Sea.

In the past 32 years since China first occupation of the features in the Spratly Islands by force, Beijing has been undermining international law, international opinion and keeps working on the expansion, buildup and militarization in the South China Sea to turn the occupied features into outposts for further expansion into the other South China Sea littoral countries’ waters.

Indeed, what Beijing is doing cannot create any “sovereignty” for China, but rather exposing China’s hegemonic and expansionist strategy, as well as its intent to monopolize the South China Sea, thereby raising concern for other South China Sea littoral countries and international community./.

Loading

Views: 0

Những thách thức cho Việt Nam khi sống cạnh người khổng lồ “Trung Quốc” – từ dịch nCoV đến các vấn đề kinh tế

Việt Nam phải sống cạnh một nước láng giềng có lãnh thổ rộng gấp 30 lần, dân số gấp 15 lần (dân số Việt Nam với 96 triệu dân, xếp thứ 15 thế giới, nhưng mới chỉ ngang dân số một tỉnh tầm trung của Trung Quốc và thua những tỉnh lớn như Quảng Đông, Tứ Xuyên). Suốt cả chiều dài lịch sử, lịch sử của Việt Nam phải chống chọi và hợp tác với nước láng giềng khổng lồ đó. Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp dẫn lại lý thuyết của Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia về cái gọi là “lời nguyền địa lý” của Việt Nam mà theo đó “Việt Nam không có sự lựa chọn nào khác ngoài học cách chia sẻ số phận của mình với người láng giềng Trung Quốc trong suốt từng bước đi lịch sử của mình” (1). Thực tế đã diễn ra như vậy. Vào những lúc Trung Quốc huy hoàng nhất của thời Hán, Đường, Việt Nam đã phải chịu ách đô hộ nghìn năm của Trung Quốc. Những triều đại Trung Quốc mạnh như nhà Nguyên, Minh, Thanh, Đại Việt cũng phải trường kì chống lại chủ nghĩa xâm lược Đại Hán.

Có thể nói, những gì xảy ra ở trên đất nước Trung Quốc đều có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến Việt Nam. Một cơn gió mùa Đông Bắc xuất phát từ lục địa Trung Nguyên cũng sẽ vượt qua cả nghìn km để đem cái lạnh và khô của nó xuống đồng bằng Bắc Bộ của Việt Nam. Ở phạm vi rộng hơn, chúng ta thấy rằng tất cả những dòng chảy từ hữu hình như hàng hóa, vật phẩm, con người cho tới những dòng chảy vô hình như văn hóa, tri thức, tư tưởng xuất phát từ Trung Quốc đều sẽ chảy xuống phương Nam, nhất là Việt Nam như một dòng chảy chính và chủ đạo. Nguyên nhân của điều này cũng xuất phát từ chính “sự minh định địa lý” của Trung Quốc. Dãy Vạn lý trường thành dài cả chục nghìn km không chỉ là trường thành bảo vệ Trung Nguyên khỏi các tộc người Hung Nô mà còn ngăn luôn cả Trung Quốc tiến lên phía Bắc trong suốt thời kỳ cổ trung đại. Về phía Tây, các sa mạc rộng lớn của cao nguyên Gô-bi và những dãy núi hiểm trở mênh mông của cao nguyên Thanh – Tạng cũng làm chùn bước các bước đi xa hơn để chinh phục miền viễn Tây của người Trung Hoa. Về phía Đông, biển và đại dương hiếm khi là thế mạnh của Trung Quốc suốt từ thời cổ đại đến trung đại và cận đại (trừ những chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa thời nhà Minh). Vì vậy chỉ còn mỗi phương Nam là dễ tiếp cận nhất, dễ xâm lấn nhất đối với các chiến lược địa chính trị – kinh tế của Nhà nước Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử của họ. Việt Nam nằm ở tuyến đầu của phương Nam Trung Quốc, nên chịu sự tác động mạnh mẽ của lịch sử trên tất cả các phương diện văn hóa, tư tưởng, tri thức, trao đổi thương mại, hàng hóa, vật phẩm, con người. Điều đó xuất phát từ “sư minh định” kép về địa lý của cả phía Việt Nam và phía Trung Quốc.

Cùng với thời gian, khi sự trao đổi kinh tế thương mại của hai quốc gia ngày càng lớn thì một thách thức kinh tế lớn khác lại đặt ra cho Việt Nam, đó là sự phụ thuộc vào xuất nhập khẩu với Trung Quốc cộng tình trạng thâm hụt thương mại không ngừng gia tăng. Nếu như năm 2011, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc chỉ khoảng 7,5 tỷ USD thì năm 2019, con số thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc lên tới khoảng 34 tỷ USD (năm 2019 Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 41 tỷ USD trong khi nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 75 tỷ USD). Như vậy, mức thâm hụt đã tăng gần 5 lần chỉ sau 8 năm. Đầu vào của các ngành chủ lực của công nghiệp nhẹ và công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam như dệt may, giày dép hay đồ nội thất… đều đến từ nguồn hàng giá rẻ của Trung Quốc. Một điểm dễ thấy nữa là kim ngạch song phương tăng chủ yếu là do nhập khẩu từ Trung Quốc tăng mạnh trong khi xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc tăng không tương xứng với tốc độ tăng nhập khẩu. Do đó, thách thức với Việt Nam về sự phụ thuộc vào Trung Quốc trong quan hệ thương mại là rất lớn. Nếu Trung Quốc quyết định ngưng trao đổi biên mậu với Việt Nam, hay việc Việt Nam đang phải tạm dừng tất cả các chuyến bay với Trung Quốc để ngăn chặn dịch virus nCoV, sẽ gây ra những thiệt hại to lớn cho kinh tế Việt Nam.

Các lĩnh vực như nông nghiệp hay du lịch của Việt Nam cũng phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc. Với lượng khách du lịch Trung Quốc chiếm tới 32% tổng lượng khách du lịch vào Việt Nam (2), việc các điểm đến lớn như Đà Nẵng, Nha Trang dừng tiếp nhận khách Trung Quốc và cửa khẩu quốc tế Lào Cai ngừng nhập cảnh du lịch Trung Quốc từ ngày 26/1 (3) sẽ làm cho lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam ở mùa cao điểm du lịch hiện nay giảm sút đáng kể. Đây là một bài toán khó cho du lịch Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh du lịch ngày càng gia tăng còn lượng khách du lịch Trung Quốc đóng góp chủ yếu vào các thành tích về số lượng du khách trong thời gian gần đây. Trong khi đó, nông sản Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm đến 70% tổng lượng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài. Việc biên giới Trung Quốc bị đóng cửa do dịch nCoV sẽ làm hàng nghìn tấn nông sản của Việt Nam, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long không bán được. Các mặt hàng trái cây như thanh long, dưa hấu, chôm chôm của khu vực Nam Bộ giá đã giảm mạnh từ Tết đến nay do không xuất khẩu được sang Trung Quốc.

Giới chuyên gia kinh tế (như Bảo Việt Securities) cho rằng, với các nước như Việt Nam, Philippines và Thái Lan, sự sụt giảm ~20% lượng du khách từ Trung Quốc sẽ tác động tiêu cực đến 0.6-1.3% GDP. Trong khi đó, những tính toán sơ bộ cho thấy nếu lượng khách Trung Quốc giảm 75% trong quý I/2020, xuất khẩu du lịch đối với Trung Quốc có thể giảm bằng 0.24% GDP năm 2019. Còn nếu xuất khẩu tới Trung Quốc giảm 20% trong quý I/2020, xuất khẩu hàng hóa tới Trung Quốc có thể giảm bằng 0.59% GDP năm 2019. Hãng VNDirect Securities cũng cho rằng tác động tiềm tàng đối với nền kinh tế Việt Nam khá đáng kể, bao gồm: Du lịch và giao thông là những ngành chịu tác động trực tiếp; Giao thương có thể gặp khó khăn do hạn chế qua lại biên giới, cửa khẩu và gián đoạn nguồn cung từ Trung Quốc; Nhu cầu đối với nhóm hàng hóa lâu bền và bán lẻ xa xỉ có thể chịu ảnh hưởng; Rủi ro kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, đặc biệt là Trung Quốc. Chỉ một số ít ngành có thể được hưởng lợi trong ngắn hạn như: Y tế, thép, săm lốp.

Có thể nói là tất cả hoạt động buôn bán theo kiểu hàng cư dân, thăm hỏi chúc tết lẫn nhau, du lịch giữa biên giới hai nước đã giảm rất mạnh do dịch corona virus. Nhiều lĩnh vực khác của kinh tế Việt Nam cũng đang bị ảnh hưởng và thiệt hại mạnh. Tất cả chứng minh một điều là sự phụ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc trên một số mặt như kinh tế, thương mại, du lịch đang ngày càng lớn và điều này tạo ra các rủi ro đáng kể cho Việt Nam nếu thị trường Trung Quốc chịu những cú sốc đột ngột như dịch bệnh corona virus hiện nay. Hơn bất kỳ nước nào khác, Việt Nam cần một Trung Quốc hòa bình và ổn định để Việt Nam có điều kiện phát triển. Trung Quốc tê liệt và các lĩnh vực giao thương Việt – Trung bị đình trệ, nhiều lĩnh vực kinh tế của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bài toán khó của Việt Nam là ở chỗ đó, nếu nhìn tương quan sang vấn đề Biển Đông. Yêu cầu đặt ra là nền sản xuất nội địa của Việt Nam cần nhanh chóng được củng cố, về ngoại thương Việt Nam cần nhanh chóng đa dạng hóa các thị trường của mình nếu không muốn bị phụ thuộc ngày càng nhiều vào thị trường Trung Quốc và những cú sốc đột ngột như hiện nay./.

Phan An

(1) : TS Lê Hồng Hiệp, Việt Nam và “lời nguyền địa lý”, nghiencuuquocte.org

(2) Báo cáo cập nhật tình kinh tế và du lịch Việt Nam tháng 7/2019 của World Bank

(3) Báo Thanh niên

Loading

Views: 0

Nhìn lại cuộc chiến Iraq 2003: Học thuyết “can thiệp và phủ đầu” của Mỹ

Các nước lớn như Mỹ thường có các học thuyết làm nền tảng, cơ sở biện hộ cho các hoạt động quân sự, ngoại giao của mình ở nước ngoài. Trước thềm cuộc xâm lược Iraq 2003 với cái cớ là phá hủy vũ khí hóa học của chính quyền Saddam Husein, chính quyền Mỹ đã đưa ra và phát triển một loạt lý luận biện minh cho học thuyết “can thiệp và phủ đầu”.

  1. Học thuyết “can thiệp và phủ đầu”

Ngày 29.1.2002, Tổng thống George Bush (con) trước Quốc hội Mỹ lần đầu tiên dùng cụm từ “trục ma quỷ” để chỉ một số nước như Triều Tiên, Iran, Syria, những nước được cho là có vũ khí hóa học, tiếp tay khủng bố, có quan hệ với Al Qaeda và đe dọa hòa bình thế giới.

Ngày 1.6.2002, tại Học viện quân sự West Point, ông Bush đưa ra luận điểm tiếp theo về khả năng “can thiệp phòng thủ và đánh đòn phủ đầu” ở bất kì nơi nào trên thế giới nhằm bảo vệ quyền lợi Mỹ. Điểm nhấn của học thuyết này là cho phép Mỹ “tiến hành những hành động chiến đấu bằng việc sử dụng không lực bất ngờ, thậm chí ngay cả khi không có tình trạng chiến tranh chính thức giữa Mỹ và các nước là đối tượng tấn công và cũng không cần thông báo trước cho họ”.

Tiếp đó, Mỹ công bố danh sách cái gọi là “rogue states” (những quốc gia cứng đầu) gồm Iran, Iraq, Triều Tiên, Sudan. Sau đó Mỹ thay “rogue states” bằng “states of concern” (những nước đáng lo ngại). Với cách hiểu của giới cầm quyền Mỹ, việc sử dụng vũ lực chống lại các nước này là điều được phép kể cả khi giữa hai bên không có xung đột trực tiếp.

Cũng trong năm 2002, Trợ lý An ninh quốc gia Mỹ Condoleezza Rice đề cập đến chiến lược thay đổi chế độ ở Trung Đông, bản chất là bằng cách gây áp lực, kể cả với biện pháp mạnh  nhằm hạ bệ quyền lực của chính quyền mà Mỹ coi là mối đe dọa với an ninh thế giới.

Những lập luận của Mỹ thực tế là sự tiếp nối và cải biên khái niệm “can thiệp nhân đạo”, được Mỹ dùng làm cái cớ cho cuộc chiến Nam Tư 1996-1999. “Can thiệp nhân đạo” không chỉ được thực hiện thông qua sử dụng vũ lực, mà còn bao gồm cả các hoạt động can thiệp không sử dụng vũ lực, như: chính trị, ngoại giao, kinh tế… Trước và sau cuộc chiến Iraq 2003, cách diễn giải của Mỹ cho thấy Mỹ tự cho mình quyền can thiệp với lý do mở rộng hơn cái gọi là “can thiệp nhân đạo”. Chỉ cần một quốc gia bị kết luận là đe dọa lợi ích an ninh của Mỹ là Mỹ can thiệp.

  1. Những hành động can thiệp của Mỹ ở nước ngoài trước năm 2003

Năm 2002, Mỹ triển khai chiến dịch chống Taliban tại Afghanistan. Thắng lợi tương đối của cuộc chiến này khiến chính quyền Mỹ khẳng định thêm ý kiến rằng có thể dùng biện pháp quân sự để loại bỏ các chính phủ không thân thiện đối với Mỹ tại những điểm quan trọng trên thế giới về kinh tế và chiến lược-quân sự đối với Mỹ.

Trước đó, tháng 12/1998, Mỹ cùng Anh tiến hành chiến dịch “Con cáo sa mạc” bằng 420 quả tên lửa nhằm “trừng trị” Iraq. Lý do của Mỹ là Iraq không thỏa mãn các yêu cầu của thanh sát viên Liên hợp quốc về vũ khí giết người hàng loạt. Bất chấp sự phản đối của Pháp, Nga tại Hội đồng Bảo an, Mỹ và Anh vẫn đơn phương triển khai chiến dịch tấn công Iraq.

Tên lửa Mỹ trong chiến dịch “Cáo sa mạc”

Trong tháng 8/1998, dưới thời chính quyền Bill Clinton, Mỹ phóng hàng loạt tên lửa nhằm vào Sudan và Afghanistan để tiêu diệt các nhà máy dược phẩm của Sudan, nơi Mỹ “cho là” đang sản xuất vũ khí hóa học, và tiêu diệt những phần tử khủng bố tại Afghanistan.

Còn những năm 1980, dưới thời chính quyền Ronald Reagan, Libya đã phải chịu những trận bom “càn quét” của không lực Mỹ.

Có thể thấy, Mỹ luôn tự cho mình quyền can thiệp quy mô lớn vào công việc nội bộ của một nước có chủ quyền, sử dụng sức mạnh quân sự để chống lại các nước yếu mà bỏ qua sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế.

Để biện minh cho hoạt động can thiệp, Mỹ và đồng minh cho rằng, trong trường hợp một quốc gia bị rơi vào nội chiến hoặc khi chính quyền sở tại áp bức người dân của chính nước họ thì các quốc gia khác không thể coi các nguyên tắc cơ bản của pháp lý quốc tế về tôn trọng chủ quyền và không can thiệp là bất khả xâm phạm. Với việc pháp điển hóa nhân quyền trong luật quốc tế, Mỹ đã đẩy khái niệm chủ quyền quốc gia xuống hàng thứ yếu. Để đảm bảo nhân quyền, theo họ, cần thiết phải giới hạn, thậm chí xâm phạm chủ quyền. Đây là những luận điểm một chiều của Mỹ, ảnh hưởng sâu sắc tới sự ổn định của các quốc gia có chủ quyền nói riêng, của nhiều khu vực trên thế giới nói chung./.

Phan An

Loading

Views: 0

Has China’s presence in the South China Sea exacerbated tensions with its smaller neighbours?

Right now, China and its southern neighbours are fighting a regional sea-battle with global implications. At stake is a cornerstone of the international rules-based system: should states respect the treaties they have signed or use force to get their way? Currently caught in the middle are several major European companies.

Since May, Chinese government ships have been attempting to coerce Vietnam and Malaysia into agreeing ‘joint development’ of their offshore oil and gas resources. To this end, Beijing has deployed large numbers of vessels from its coastguard and maritime militia. They have harassed drilling rigs, obstructed their support ships and tried to block off large areas of sea. Vietnamese sources say China sent an H-6K strategic bomber and Y-8X maritime patrol aircraft on low-level passes over a Japanese-owned oilrig operating nearby.

Xian H6 Bomber

These operations, and others like them, have affected the operations of companies including Shell of the UK/Netherlands and Repsol of Spain. They have implications for many other energy companies, too, as well as for the energy and fiscal security of Vietnam, Indonesia, Malaysia, Brunei and the Philippines.

When pressed to justify his country’s behaviour at the China-ASEAN summit meeting in July, the Chinese foreign minister claimed that the areas where the confrontations were taking place were ‘disputed’ between China and the other countries. In other words, he was arguing that China had at least as much right to the resources there as Vietnam or Malaysia. However, like so many Chinese officials before him, Wang Yi was unable to provide any details of the exact basis of China’s claim. On 19 August, when asked about the latest clashes, a Foreign Ministry spokesman in Beijing stated that China has, “sovereign rights and jurisdiction over the relevant waters” but failed to spell out the meaning of ‘relevant’.

“What China is currently doing in the South China Sea seems to be a clear violation of UNCLOS”.

China’s idea of joint development is that it would gain the right to extract a share of its Southeast Asian neighbours’ maritime resources regardless of international law. These kinds of disputes were supposed to have been consigned to history by the agreement of the United Nations Convention on the Law of Sea (UNCLOS) in 1982. To simplify things a little, UNCLOS gives each coastal country exclusive rights over the fish swimming in the sea and the minerals under the seabed up to a distance of 200 nautical miles (about 400km) from their coastline. This area is called an Exclusive Economic Zone or EEZ. China ratified UNCLOS in 1996 and is therefore bound by its rules.

Since China’s mainland coast is well over 1,000km from the areas in dispute, this cannot be the basis of its claim. The only legal explanation, therefore, is that China is claiming an EEZ from the nearby Spratly Islands. However, in July 2016, an International Arbitral Tribunal ruled that none of the Spratlys constituted full islands. They are all far too small and inhospitable to support human life for any length of time and therefore are not entitled to an EEZ.

However, that ruling is only binding for the country that brought forward the case, the Philippines, and the country it was brought against, China. For Vietnam and Malaysia to benefit from it, they would have to bring their own cases against China. This would not be too difficult. Vietnam’s lawyers could more-or-less copy the claim filed by Manila and simply replace the word ‘Philippines’ with ‘Vietnam’ or ‘Malaysia’. Exactly the same principles are at stake. So far, they have been unwilling to do so for fear of incurring Beijing’s wrath.

What China is currently doing in the South China Sea seems to be a clear violation of UNCLOS. The European Union has long argued that international rules and agreements are vital constituents of international peace. When they break down in one part of the world, they are weakened everywhere. If China continues to flout UNCLOS, then other countries may also decide to break the bonds of self-restraint that international law creates. The result, ultimately, would be a free-for-all where might beats right.

“The EU should be able to distinguish a legitimate claim to maritime resources from an illegitimate one”.

The current confrontations in the South China Sea are therefore something in which the EU should take an active interest. UNCLOS and its EEZ regime are cornerstones of international law. The EU needs to make clear that it supports the right of coastal countries to control the resources in their own EEZ. The EU should be able to distinguish a legitimate claim to maritime resources from an illegitimate one, and then orientate its policies accordingly.

While the deployment of naval ships gets a lot of attention, there are many other ways that the EU could help to protect the EEZ regime. It could require importers of fish, hydrocarbons or other marine products into the EU to prove that they were extracted lawfully. It could sanction companies and officials who violate other countries’ EEZs by poaching fish, drilling or exploring for oil and gas. It could use the power of satellites and other remote sensing systems to ‘name and shame’ violators. It can provide aid to coastguards and help coastal states improve their maritime domain awareness.

It could also think about deploying assets to defend the EEZ regime. Where a country, such as Vietnam or Malaysia, is engaged in a legitimate activity within its legitimate EEZ, the EU could post a coastguard or naval vessel to observe and publicise violations of international law. The ultimate step would be to intervene to prevent such violations, but we are some way from that. At the moment, the EU should use its reputation as a rule-builder, to encourage the spread of good behaviour and sanction examples of bad behaviour./.

Bill Hayton

Associate Fellow, Asia-Pacific Programme at Chatham House

Loading

Views: 0

Hiệu ứng tiêu cực cho luật pháp quốc tế nếu Trung Quốc tạo được tiền lệ ở biển Đông

Bill Hayton – một ký giả, đồng thời là nhà nghiên cứu chính trị quốc tế tại viện Chatham House (London, Anh) vừa qua đã có một bài viết đăng tải trên trang Friendofeurope.org với tựa đề “Sự hiện diện của Trung Quốc ở Biển Đông có làm gia tăng căng thẳng với các nước láng giềng nhỏ?”. Nội dung của bài viết lên án hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc, cảnh báo về nguy cơ sụp đổ của luật pháp quốc tế nếu để Trung Quốc phá luật ở Biển Đông, đồng thời khuyến nghị EU cần phân biệt rõ việc bảo vệ chủ quyền chính đáng của các quốc gia ở Đông Nam Á với hành vi xâm phạm lãnh thổ của Trung Quốc để từ đó có chính sách phù hợp.

Chuyên gia Bill Hayton, Viện nghiên cứu Chatham, Vương quốc Anh

Trung Quốc muốn biến “không” thành “có”

Mở đầu bài viết, Bill Hayton chỉ dẫn các hành động và tuyên bố đầy tính bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc thời gian qua với mục đích đòi quyền khai thác chung, đòi phân chia tài nguyên biển với các láng giềng Đông Nam Á trong chính vùng đặc quyền kinh tế của họ.

Kể từ tháng 5/2019, Trung Quốc liên tục đưa tàu thăm dò và tàu bảo vệ xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của các nước Đông Nam Á, quấy rối và cản trở các hoạt động khai thác dầu khí trên Biển Đông của các quốc gia này. Cùng với đó, Trung Quốc cố gắng tạo ra sức ép buộc Malaysia đồng ý khai thác chung trên biển. Các hành vi của Trung Quốc đã làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các công ty đang hợp tác khai thác dầu khí như Shell (Anh/Hà Lan) và Repsol (Tây Ban Nha). Điều này còn đe dọa đến an ninh – kinh tế năng lượng của Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines.

Trong Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN – Trung Quốc diễn ra tại Bangkok ngày 31/7/2019, Ngoại trưởng Vương Nghị tuyên bố rằng các vụ va chạm xảy ra tại vùng biển “tranh chấp” giữa Trung Quốc và các nước – trong khi thực tế đó là những xâm phạm của Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và Malaysia. Học giả Bill Hayton cho rằng, bằng cách đánh tráo khái niệm như vậy, ông Vương Nghị muốn đưa đến một kết luận: Trung Quốc cũng có những quyền tương tự Việt Nam hay Malaysia đối với các nguồn tài nguyên ở vùng biển vốn thuộc Vùng đặc quyền kinh tế của các nước đó.

Thế nhưng, ông Vương Nghị không thể đưa ra căn cứ cho các tuyên bố của mình. Ngày 18/9, khi được hỏi về những vụ đụng độ gần nhất, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng nói rằng, Trung Quốc có “quyền chủ quyền và quyền tài phán với các vùng biển liên quan”, nhưng lại không chỉ ra “liên quan” nghĩa là gì.

Sự vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc là quá rõ ràng

Chuyên gia Bill Hayton lập luận: “Trung Quốc và các nước láng giềng ở phía Nam đang trong một tranh chấp khu vực, nhưng ý nghĩa mang tầm quốc tế. Luật pháp quốc tế – nền tảng cho việc giữ gìn trật tự ổn định của thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng. Đó là việc các quốc gia có thể sẽ không còn tôn trọng các hiệp ước mà chính họ đã đặt bút ký vào.

Trung Quốc phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) vào năm 1996 và chịu ràng buộc bởi các quy định trong đó. UNCLOS đã cụ thể hóa vấn đề chủ quyền biển bằng cách trao những đặc quyền quản lý cho các quốc gia ven biển trong phạm vi 200 hải lý (trong khoảng 400km) kể từ đường bờ biển của họ (gọi là Vùng đặc quyền kinh tế – EEZ).

Bờ biển của Trung Quốc nằm cách khu vực tranh chấp tới hơn 1000 km nhưng họ lại tuyên bố đó là vùng biển của mình. Họ đưa ra cách lập luận là khu vực này gần với quần đảo Trường Sa (vốn là của Việt Nam). Với cách lập luận này Trung Quốc cũng hoàn toàn sai bởi trong phán quyết tháng 7/2016, Tòa Trọng tài Quốc tế PCA đã tuyên bố rằng, không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có thể xem là đảo hoàn chỉnh. Chúng quá nhỏ và không thể duy trì sự sống của con người trong một khoảng thời gian, vì vậy những thực thể này không thể tạo thành EEZ.

Chuyên gia Bill Hayton cho rằng, các luật lệ và thỏa thuận quốc tế là thành tố tối quan trọng đối với việc duy trì hòa bình trên toàn thế giới. Nếu tại một nơi nào đó, những trật tự này bị phá bỏ, đồng nghĩa với việc luật pháp quốc tế sẽ bị suy yếu đi trên toàn cầu. Nếu Trung Quốc tiếp tục xem thường UNCLOS, các nước khác có thể cũng sẽ quyết định phá vỡ tính tự kiềm chế mà luật lệ quốc tế đã tạo nên. Kết quả là luật pháp sẽ dần bị suy yếu và bất lực trước những vũ lực, đe dọa sức mạnh.

EU cần thể hiện vai trò bảo vẹ luật pháp quốc tế ở Biển Đông

Trước nguy cơ luật pháp quốc tế đang có nguy cơ bị xói mòn từ cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông, Bill Hayton khuyến nghị EU cần có những động thái rõ ràng, quyết liệt.

Trước hết EU cần thể hiện rõ quan điểm ủng hộ chủ quyền của các quốc gia ven biển trong phạm vi EEZ đã được quy định trong UNCLOS, mà cụ thể là họ được làm chủ nguồn tài nguyên trong vùng EEZ của họ. EU cần phân biệt rõ sự khác nhau về bản chất giữa hành động vi phạm chủ quyền và hành động bảo vệ chủ quyền, để từ đó điều chỉnh chính sách cho phù hợp.

Dù vậy, theo Bill Hayton việc điều động các tàu hải quân đến tuần tra tại Biển Đông lúc này chưa phải là một hành động hợp lý. Thay vào đó, EU có nhiều cách để ủng hộ quyền của các quốc gia ven biển đối với EEZ của họ. EU có thể yêu cầu các công ty nhập khẩu hải sản, năng lượng và các nguồn tài nguyên biển khác vào EU phải chứng minh được nguồn gốc khai thác hợp pháp. EU cũng có thể trừng phạt các công ty và quan chức vi phạm EEZ của nước khác, đánh bắt cá, thăm dò và khai thác dầu khí ở đó.

Với hệ thống vệ tinh và viễn thám hiện đại, EU có thể thu thập thông tin cụ thể về những hành vi vi phạm chủ quyền ở Biển Đông. Đồng thời cung cấp các thông tin tình báo hỗ trợ cho lực lượng cảnh sát biển và ngư dân các quốc gia ven biển vì sự an toàn và tăng cường ý thức về lãnh hải trong các  hoạt động của họ.

Ở một mức độ cao hơn, EU cũng có thể nghĩ đến việc triển khai các phương tiện để bảo vệ các quốc gia có EEZ. Khi một quốc gia ven biển thực thi hành động hợp pháp trong vùng EEZ hợp pháp của họ, EU có thể cử tàu hải quân quan sát và công bố các vi phạm và thậm chí có thể có hành động can thiệp hợp lý nếu xảy ra xung đột. Vào thời điểm này, EU chỉ nên sử dụng uy tín của mình như một định chế xây dựng luật pháp để khuyến khích các hành vi tốt và chỉ đích danh, có biện pháp trừng phạt những hành vi xấu trong các diễn biến ở Biển Đông.

Ngày 28/8/2019, Bộ ngoại giao Đức đã phát Tuyên bố chung của Pháp, Đức, Anh về “quan ngại về tình hình ở Biển Đông, vốn có thể dẫn đến mất an ninh và căng thẳng trong khu vực”. Nội dung của tuyên bố nêu rõ các bên ở Biển Đông cần “thực hiện những bước đi và biện pháp làm giảm căng thẳng, đóng góp vào việc duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh ổn định, an toàn trong khu vực, bao gồm cả quyền của các nước ven biển trong vùng biển của họ cũng như quyền tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Ấn Độ Raveesh Kumar phát biểu trong một buổi họp báo ngày 29/8/2019 nêu rõ: “Biển Đông là một phần của lợi ích chung toàn cầu. Ấn Độ có những lợi ích liên quan tới hòa bình và ổn định tại khu vực”, đồng thời khẳng định Ấn Độ kiên quyết ủng hộ tự do hàng hải và đường biển, các hoạt động giao thương hợp pháp không bị cản trở trong vùng biển quốc tế theo luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS.

Tại phiên điều trần về chính sách của Mỹ tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ngày 18/9/2019, Thượng nghị sĩ James Risch, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, cho rằng Mỹ phải hành động, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc có các hành động gây hấn trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam./.

Vũ Kê

Loading

Views: 0

Vietnam’s Need to Become a Proactive Middle Power

Vietnam’s Need to Become a Proactive Middle Power

The most frequently-asked question from U.S. scholars and experts visiting Vietnam these days is, “What does Vietnam want from the United States when it comes to the South China Sea?” Given the rapid improvement of the U.S.-Vietnam Comprehensive Partnership, especially in defense and security cooperation, this question comes as a surprise to some Vietnamese strategists. But those who are more deeply involved in the process understand both the frustration behind the question and the obstacles in strategic thinking that Vietnam faces in trying to calibrate its position on the South China Sea. It is essential that Vietnam pushes to overcome these obstacles and maximize both its relationship with the United States and its own potential as a proactive middle power if it hopes to ever achieve a winning strategy to safeguard its maritime interests.

Chinese activity within Vietnam’s exclusive economic zone (EEZ) near Vanguard Bank has shown that Vietnam’s previous approach to dissuading China’s assertive behavior was unsuccessful, but also that Hanoi seems to have shifted gears in an encouraging direction. When news of the standoff broke, several observers quickly reached the conclusion that the Vietnamese leadership was “paralyzed” and “disoriented” in formulating a response, but these assessments overlooked the quiet resolve within what has clearly been a calculated response on Hanoi’s part. Vietnam started its own oil exploration in Block 06-01 five months ago, and has sustained the project ever since. Despite facing enormous pressure from Beijing, both on the diplomatic front and on a tactical level at sea, Hanoi has chosen not to back down, to continue issuing diplomatic protests, and to keep confrontation running as long as possible without escalating the situation to a breaking point.

This approach is different from in previous cases such as the 2014 standoff over China’s deployment of the Haiyan Shiyou-981 deepwater drilling rig, and it may prove more effective. Hanoi’s strategy rests on the idea that China may, in fact, find itself bogged down in the South China Sea—if Hanoi simply endures, Beijing cannot easily withdraw and declare victory. Earlier this month, China withdrew its survey vessel from Vietnamese waters after the drilling rig operating in Vietnam’s Block 06-01 near Vanguard Bank also left. It is still unclear whether the rig was forced to cease operations, or if it completed its work despite Chinese pressure. If the latter, then the standoff will have proven a costly and face-losing adventure for China. But Hanoi also understands that Vietnam cannot stand alone if it wants to protect its maritime rights and interests, and by drawing out the incident it has created time for sentiment to build against China and for regional and international actors to respond.

Unfortunately, the standoff near Vanguard Bank has thus far been regarded as a regional problem rather than a global one. The loneliness of Vietnam in its maritime dispute with China reflects the reality that its rebalancing strategy has not been as effective as expected, and that international support for its position is, and will continue to be, hard to come by. ASEAN states seem both weak individually and fractured as a group, while outside powers such as Japan, Australia, and India prefer to manage their own complicated relationships with Beijing without the added risk that might come from supporting ASEAN claimants in the South China Sea. The established power of the region, the United States, considers China to be its main strategic competitor, but continues to struggle internally to articulate a strategy to deal with China’s rise and its carefully administered coercive gradualism.

These dynamics underscore the need for Hanoi to adopt a bolder strategy if it ever hopes to tip the balance in the South China Sea. Recent discussions among many Vietnamese observers suggest that Hanoi should adjust its “three nos” policy by getting proactive about increasing military cooperation with other countries in the region. It is significant that these discussions have sprung up before the announcement of the Fourth National Defense White Paper at the end of this year. Whether or not the Vietnamese leadership will readjust the current approach on maritime security remains to be seen, but one thing is certain: they need to be more proactive, confident, and forward-thinking. In other words, Vietnam needs to behave like a true middle power.

Vietnamese leaders have been too cautious and indecisive to expand cooperation with the United States, fearing that deeper connection with Washington will make relations with Beijing more complicated. Economic interdependence and political alignment are always cited as excuses for avoiding what is deemed “excessive risk.” This indecisiveness has frustrated the decision-making process, which in turn has slowed down other major security initiatives such as naval modernization as well as the development of potential legal options to confront China’s claims. The relationships between civilian leaders and military advisors, and between government departments, lack cohesion and focus.

The conservatism of the military apparatus exacerbates the problem. Though many Vietnamese officers have been abroad to study new fighting tactics and strategies, several veteran officials have indicated in private conversations that these have not been adopted or integrated into combat training or strategic doctrine in any meaningful way. The structure of both the military and the defense industry are still based on the inefficient Soviet model in a new era where rapid modernization is required. Finally, it remains the prevailing assumption within the military that the West, and the United States in particular, is still engaging in “peaceful revolution” to topple the Communist Party. This strain of thought continues to be harmful to Vietnamese interests and limits the potential of the U.S.-Vietnam relationship.

The United States, for its part, must recognize that the “three nos” defense policy and the mentality of seeing both the United States and China as “Partners of Cooperation and Objects of Struggle” remain core principles of Vietnam’s foreign and defense policies. What can be done at the moment would be to assure Vietnamese leaders that the United States is a reliable and trusted partner, and to reduce the uncertainty in its policies toward the region and its foreign policy in general. The sudden withdrawal of U.S. troops from Syria and the unpredictability of the Trump administration’s foreign policy are only reinforcing the concerns Vietnamese conservatives have about investing in a deeper relationship with the United States./.

Nguyen The Phuong

This article is first published at AMTI

Nguyen The Phuong is a research associate at the Centre for International Studies, University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University-HCMC.

Loading

Views: 0

Foreign scholars condemn China’s bullying behaviour in East Sea

China is engaged in a long-term and consistent campaign of coercing Southeast Asian countries to abandon their legitimate rights in the East Sea. China’s recent activities in the East Sea are contrary to international laws, including the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982 (UNCLOS 1982), according to international experts.

China’s recent activities in the East Sea are contrary to international laws, including the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982 (UNCLOS 1982), experts highlighted at a conference held at the Russian Academy of Justice (RGUP) on November 1.

At the conference (Photo: VNA)

The event drew the participation of many scientists, lecturers, post-graduate researchers and students from leading law schools in Russia.

In his presentation at the conference, Grigory Lokshin from the Centre for Vietnam and ASEAN Studies under the Russian Academy of Sciences’ Institute of Far Eastern Studies stressed China has systematically violated international laws by its illegal activities in the East Sea in the past decade.

He said China’s moves have turned the East Sea into a hot spot internationally, citing as examples its recent deployment of survey vessel group Haiyang Dizhi-8 in Vietnam’s exclusive economic zone and continental shelf, test landing of planes on an airstrip illegal built on the Chu Thap (Riery Cross) reef in Truong Sa (Spratly) archipelago, and militarisation of artificial features in the waters, among others.

Lokshin believed that China attempts to turn an area without disputes or overlapping claims in the East Sea into a disputed one, while hampering legal oil and gas activities of Vietnam and Russia in the waters. He affirmed that there is no legal basis for China to issue claims in those waters.

His view was shared by Dmitri Mosyakov, Director of the Centre for Southeast Asia, Australia and Oceania Studies of the Russian Academy of Sciences’ Institute of Oriental Studies, who emphasized the rule of law in the negotiations on a Code of Conduct (COC) in the East Sea.

All speakers affirmed that all parties should respect recognised international laws including the UNCLOS 1982 to which China is a signatory.

Meanwhile, over 50 experts from research institutes and universities in the Czech Republic gathered also at a recent workshop in Prague on resolving disputes in the East Sea.

In his speech, the main speaker at the event – Dr. Bill Hayton, senior expert of the Asia-Pacific Programme at Chatham House of the UK, said that the dispute in the East Sea is a complex issue, not only involving China and ASEAN member countries that have claimed sovereignty in the sea, but also concerning geopolitical competition between big countries, especially the US and China.

The dispute in the East Sea is increasingly attracting the attention of the international community, including the European Union (EU), as this is an issue affecting the stability and development of the region, he said.

Hayton recalled that the EU issued a joint statement in late August, expressing its concern about recent unilateral actions that have increased tensions and harmed maritime security, threatened peace and development environment in the region.

He called on the EU to continue to pay more attention to the issue, and to help ASEAN countries involved in the sovereignty disputes in the East Sea to enhance their maritime security capabilities.

China has no evidence and legal basis to claim sovereignty over most of the East Sea under the “9-dash line” claims, he said, noting that China’s sovereignty claim goes contrary to international law as well as its own commitment to maintaining good relations with other countries in the region.

He stressed in the process of resolving disputes in the East Sea, one of the most important factors is evaluating evidence presented by claimant states, while claimant countries should promote negotiations, and commit to maintain the status quo.

Sharing Hayton’s opinion that China has no legal foundation to claim sovereignty under the “9-dash line” claim, Dr. Takashi Hosoda – a researcher of Asia-Pacific security at Charles University, the Czech Republic, expressed concern that current tension in the East Sea is threatening regional peace and security.

He emphasized that China’s unilateral activities have increased tensions in the sea, especially its violation of international law by sending the Haiyang Dizhi 8 survey ship into Vietnam’s exclusive economic zone (EEZ) near the Tu Chinh reef in the last two months.

China must comply with international law and common value and standards, he said.

Dr. Richard Turcsanyi from Palacky Olomouc University also expressed concern about China’s activities to build and militarize artificial islands in the East Sea, causing negative impact on regional security.

In an interview with the Vietnam News Agency correspondent, Dr. Hayton said that the operation of China’s Haiyang Dizhi 8 with the escort of coast guard vessels inside Vietnam’s EEZ shows that China is using the strength of a great power to threaten and coerce countries in the region to give up their sovereignty and jurisdiction as well as their legitimate interests.

This is a violation of international law, especially the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) in 1982, he said./.

 

Loading

Views: 0

On the way to the largest naval power: China wants sea

The “New Silk Road” is to extend Beijing’s influence on the water – to the North Sea. It’s not just about economic interests. The huge project intensifies military tensions.

Hardly any major project of the Chinese government is internationally so controversial and yet as successful as the “New Silk Road”. Just last weekend, dozens of heads of state and government gathered in Beijing for the summit to discuss the gigantic infrastructure plans.

New harbors, roads and railway lines are to open up trade routes between China and other parts of the world – as far as Europe. At the end of the two-day summit, Switzerland, like Austria and Italy, had signed a joint declaration to join the initiative.

President Xi Jinping’s “New Silk Road” aims to expand China’s economic and political influence not only by land, but also at sea. The quest for it goes way back. During the Ming Dynasty in the early 15th century, China was the most important naval power. The government in Beijing wants to build on that. “The task of forming a strong navy has never been as urgent as it is today,” Xi said last year.

The chances of success are good: The economic upturn of the past few years provides plenty of financial resources, and at the same time there are more and more experts with technical know-how in the country.

The “Pearl Necklace” model provides for a worldwide network of strategic ports, marine bases and special trade zones. The route runs from China’s coastline across the South China Sea through the Straits of Malacca and the Indian Ocean and on through the Mediterranean to the North Sea.

Beijing is mainly about economic interests . The so-called Blue Economy already accounts for about ten percent of China’s gross domestic product. The focus is on the economic use of waters:

  • by fishing and
  • the extraction of raw materials .
  • China also handles much of its international trade by sea.

The maritime infrastructure is thus a decisive factor for the further rise of the country.

A major problem now seems solved: “Chinese strategists have been complaining for a long time the so-called Malacca dilemma, so the vulnerability of China’s raw material import routes through possible blockages of maritime bottlenecks,” said Sarah Kirchberger of the Institute for Security Policy magazine “military”.

Now an alternative for the previous way of the oil transport is found. According to Germany Trade & Invest (GTAI), the foreign trade agency of the Federal Republic of Germany, the deep-sea port in Gwadar in Pakistan offers an alternative to the Malacca-threatened Strait. The port is located at the entrance to the Strait of Hormuz, which pass 40 percent of petroleum shipments.

China also pursues military interests with the “Maritime Silk Road”. Beijing, for example, has set up its first naval base abroad, the Djibouti port, officially to support peacekeeping missions and humanitarian aid in Africa and West Asia. Also as a logistical support of the anti-piracy struggle in the Horn of Africa. (Read more about the background here.) In addition, China has been steadily expanding its naval fleet for years.

However, the growing Chinese presence causes tensions, especially in the South China Sea between China, Vietnam, Malaysia and the Philippines. Beijing claims 80 percent of the sea area, through which important shipping lanes pass. In the seabed rich oil and gas resources are suspected.

Beijing is shelling islands within the zone, armed forces are building harbors and runways, and deploying rockets. In May last year, the Chinese Air Force landed long-range bombers in the disputed area for the first time. Many of the islands and reefs are also claimed by other states in the region, most of which are US allies.

Tellerreport/ Spiegel Online

Loading

Views: 0

Fish for peace in the South China Sea

This article comments favorably on the CSIS expert working group’s blueprint for establishing regional cooperative arrangements in the South China Sea. Yet this article proposes an alternative—or supplementary—approach.

Quite a few scholars have come up with proposals for how to establish cooperative arrangements in the South China Sea, mostly focusing on joint development of oil and gas. Hitherto, however, all such proposals have fallen by the wayside since governments are afraid that they may affect the disputes over sovereignty or sovereign rights. The main stumbling block has been the question of which geographical areas to include under cooperative schemes.

The CSIS Blueprints

On October 15, 2018, the Center for Strategic and International Studies launched a stimulating “regional blueprint” from an international expert working group consisting of almost thirty individuals from countries around the South China Sea. The group put forward three “blueprints”: one for a broad code of conduct including practical cooperation in areas like combating transnational crime and joint marine research; one for fisheries management and environmental cooperation; and one for cooperation on oil and gas production. All three blueprints are highly constructive. Yet two factors may reduce their chance of being realized.

The first is that they are highly comprehensive. The group suggests complex institutional frameworks for the whole of the South China Sea, both for areas around disputed islands and off the main coasts. The second difficulty is the group’s proposal to divide the South China Sea into national areas of responsibility. Although this is meant as an interim arrangement with no prejudice for future decisions on sovereign rights, the suggested division roughly converges with the 200 nm Exclusive Economic Zones that states may claim under the law of the sea. China will no doubt fear that a division of this kind will have lasting effects.

The expert group also suggests that the countries that occupy islands shall be responsible for resource management in 20-nautical-mile zones around those islands. This might be practical. Since China has established seven major bases on reefs in the Spratlys, it might conceivably accept a preliminary, non-prejudicial system where the Philippines, Vietnam, China, the Taiwan authority and Malaysia manage fisheries within the seas around the islands each occupies. Yet some would see this as unjust, since Vietnam and the Philippines control many more islands than the others, and since fishermen from many countries have traditionally been fishing there.

A Seven-step Alternative Proposal

The seven-step proposal below has much in common with the expert group blueprint. Yet it takes a less comprehensive, more step-by-step approach. It does not require that all the South China Sea states be party to all agreements, but instead operates with a combination of bilateral and multilateral arrangements. And it concentrates on fisheries, not oil. It is easier to cooperate on fish than on oil. Oil discoveries in disputed areas may exacerbate conflict instead of reducing it. To cooperate on fishery management is also urgent for everyone concerned, since the fish stocks in the South China Sea have already been depleted and may in just a few years disappear.

The alternative proposal begins by asking where cooperation may be least problematic for the claimant states. These are not the areas off the mainland coasts, although they should be less disputable under the law of the sea. The areas most likely to see cooperation are those that are the most disputed. Instead of apportioning rights or duties in zones measured from mainland coasts, this proposal therefore starts by delimiting the zones that everyone may agree are disputed, namely the 12 nm territorial seas of disputed islands, which are also the richest fishing grounds, with multiple coral reefs.

Step 1: China and the Philippines agree to establish a Joint Management Zone (JMZ) for fishing within the 12 nm territorial sea of Scarborough Shoal/Huangyan. They invite Vietnam and the Taiwan authorities, since their fishermen have also traditionally been fishing there, to take part in managing the zone, receive fishing quotas, and enforce agreed rules and regulations. China and the Philippines declare that Scarborough Shoal will remain demilitarized and that no edifice will be built on any part of the shoal.

Step 2: China, the Taiwan authorities, Vietnam, the Philippines, Malaysia and Brunei jointly delimit 12 nm territorial waters around all such disputed features in the Spratlys that everyone agrees are “islands” or rocks (above water at high tide).

Step 3: China, the Taiwan authorities, Vietnam, the Philippines, Malaysia and Brunei pledge to: a) abstain from any activities that may cause violent incidents in the territorial waters of the Spratly islands; b) declare demilitarization of the Spratly islands as a goal to be achieved before 2030; c) commit to jointly take measures to protect the natural environment and manage fisheries within the territorial seas of the Spratly Islands, following the example from Scarborough Shoal.

Step 4: ASEAN and China take the initiative to apply the 2014 Code for Unplanned Encounters at Sea (CUES) also to coastguard and fishing vessels with detailed rules for how law enforcement vessels shall proceed when preventing illegal fishing, without running any risk of collision. A program is initiated to familiarize fishing boat captains and their crew with the International Regulations for Preventing Collisions at Sea.

Step 5: As a step towards demilitarization and following the example of the Chinese and Indian practice along their disputed land border, the states that occupy features in the Spratlys establish “lines of actual control” between protection zones, and set rules for the minimal distance that vessels carrying different flags must keep from each other when approaching another country’s protection zone.

Step 6: Without any prejudice for China’s affirmation that no sovereignty dispute exists in the Paracels or for Vietnam’s claim to sovereignty, China and Vietnam agree that both countries’ fishermen have traditionally been fishing there. They set up a joint management authority for the territorial waters of the Paracel islands, and jointly ensure enforcement of rules to prevent overfishing.

Step 7: China, the Taiwan authorities and ASEAN, based on a joint marine research effort, jointly declare seasonal fishing bans for all those parts of the South China Sea that are threatened with depletion. While waiting for the sea to be divided into national zones, limits are agreed for the allowed annual catch by each state’s fishing fleet in the sea as a whole, and measures are taken to allow the states to monitor compliance. A regional commission to oversee the enforcement mechanisms is established with headquarters in Singapore, Phnom Penh or Bangkok (capitals of non-claimant fishing states).

This proposal aims at once to save the fish and prevent conflict between states. Fishery cooperation can be a precursor for conflict resolution and peace.

Stein Tønnesson

Stein Tønnesson is research professor at the Peace Research Institute Oslo (PRIO). During 2011-17 he served as leader of the East Asian Peace program at the University of Uppsala, Sweden. His most recent monograph is Explaining the East Asian Peace (NIAS Press 2017).

Loading

Views: 0

Biển Đông và các giá trị chiến lược với Hoa Kỳ

Trong những năm gần đây, các nhà hoạch định quân sự của Hoa Kỳ đã chuyển trọng tâm của họ từ chống khủng bố, xung đột cường độ thấp sang các mối đe dọa cường độ cao và từ cường quốc khác. Kịch bản có khả năng nhất cho một cuộc giao chiến quân sự lớn chống lại một kẻ thù lớn sẽ là kịch bản chống lại Trung Quốc, trong đó tập trung vào Biển Đông. Chắc chắn có những tình huống khác liên quan đến những thách thức khác, nhưng nguy cơ đối đầu với Trung Quốc là điều hợp lý và nguy hiểm nhất. Bất kỳ khẳng định nào như vậy đều phải dựa trên sự hiểu biết rằng các lợi ích quốc gia quan trọng của Hoa Kỳ, bao gồm cả lợi ích kinh tế và an ninh, đang bị đe dọa và có nguy cơ bị đe dọa. Biển Đông là một vấn đề chiến lược ưu tiên hàng đầu đối với Hoa Kỳ. Bài viết này trước hết sẽ đánh giá các lợi ích của Mỹ. Thứ hai là sẽ phân tích bối cảnh chiến lược trong và xung quanh Biển Đông. Thứ ba sẽ đánh giá các chính sách/chiến lược hiện đang được Hoa Kỳ sử dụng trong khu vực này cũng như các lựa chọn hợp lý khác.

DÒNG CHẢY LỊCH SỬ

Những phát triển hiện tại ở Biển Đông phải được đặt trong bối cảnh lịch sử gần đây. Hoa Kỳ nổi lên từ Thế chiến II với tư cách là một cường quốc thường trú tại Đông Á. Ngoài các lãnh thổ đảo xa (trước đây là Nhật Bản chiếm đóng) ở Nam Thái Bình Dương, Hoa Kỳ có một đơn vị đồn trú quân sự đáng kể ở Nhật Bản và quan hệ chặt chẽ với Hàn Quốc và Philippines – một thuộc địa cũ. Chiến tranh Triều Tiên đã tạo ra các hiệp ước quốc phòng chính thức với mỗi quốc gia này cộng với sự hiện diện quân sự mới, thường trực ở Hàn Quốc. Thách thức chính đối với ưu thế khu vực của Mỹ đến từ Trung Quốc của Mao Trạch Đông – đầu tiên là qua Chiến tranh Triều Tiên và sau đó là qua các cuộc nổi dậy của lực lượng cộng sản trên khắp Đông Nam Á – lên đến đỉnh điểm trong Chiến tranh Việt Nam (1963-75). Mặc dù cuối cùng không thành công ở Việt Nam, Mỹ vẫn nổi trội về vai trò chiến lược có lợi thế đáng ngạc nhiên ở Đông Nam Á với các liên minh còn nguyên vẹn gồm Thái Lan và Philippines và quan hệ hữu nghị với Singapore, Malaysia và Indonesia. Đến cuối những năm 1970, các cuộc nổi dậy của lực lượng cộng sản bên ngoài Đông Dương đã bị khống chế một cách hiệu quả. Đến giữa thập niên 1990, quan hệ với Việt Nam đã bắt đầu cải thiện nhanh chóng. Hạm đội 7 của Hoa Kỳ đã tuần tra các tuyến đường biển khu vực, bao gồm cả Biển Đông, không bị cản trở – bao gồm cả quyền tiếp cận các cảng đã được thống nhất trên khắp khu vực.

Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh đã đặt Đông Á và Tây Thái Bình Dương vào sự yên tĩnh chiến lược. Các nước trong khu vực ưu tiên tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa. Các đảm bảo an ninh được cung cấp bởi sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ cùng với sự ra đời của các tổ chức khu vực, đặc biệt là ASEAN và Ngân hàng Phát triển Châu Á, đã nuôi dưỡng sự tăng trưởng đó. Trung Quốc thời hậu Mao Trạch Đông, với sự xuất hiện của Đặng Tiểu Bình với tư cách là nhà lãnh đạo tối cao, đã trở thành một động lực mang tính xây dựng cho khu vực nhờ tốc độ phát triển kinh tế được thúc đẩy bằng cải cách mở cửa của Trung Hoa với khu vực và thế giới. Bối cảnh chiến lược của Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á vào đầu những năm 1990 là vô cùng lành tính với sự lạc quan tối đa của nó.

Tuy nhiên, những dấu hiệu cảnh báo đã xuất hiện cho những ai quan tâm đến khu vực. Năm 1974, các tay súng Trung Quốc đã tấn công và đánh bại một tiền đồn nhỏ của quân đội Nam Việt Nam tại Hoàng Sa – một quần đảo gồm các rạn san hô, đảo san hô và đảo nhỏ ở Biển Đông. Nhóm đảo này nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc – một sự kiện gần như hoàn toàn không được chú ý trong thế giới rộng lớn lúc đó, khi mà “bộ phim” đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Việt Nam vừa diễn ra. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã thực hiện bước đầu tiên để kiểm soát Biển Đông. Năm 1989, Quân đội Giải phóng Nhân dân tiến vào Quảng trường Thiên An Môn và chấm dứt các cuộc biểu tình dân chủ do sinh viên lãnh đạo và hàng trăm người chết. Thông điệp địa chính trị là không thể nhầm lẫn: kỳ vọng của phương Tây rằng Trung Quốc đang chuyển sang chế độ dân chủ chính trị là hoàn toàn ảo tưởng. Năm 1995, Philippines phát hiện ra rằng Trung Quốc đã chiếm đóng và quân sự hóa một đảo san hô (Mischief Reef) trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và trong lãnh hải do Manila tuyên bố chủ quyền. Những hành vi này đặt trong bối cảnh Trung Quốc đã xuất bản các bản đồ chính thức từ lâu cho thấy một ranh giới bao trùm gần như toàn bộ Biển Đông – đường chín đoạn.

Khai niệm đó đã ít được chú ý ở Hoa Kỳ – hoặc ở Châu Á – trong năm thập kỷ đầu tiên của lịch sử CHND Trung Hoa. Tuy nhiên, có một số lý do để kết luận rằng đường chín đoạn này là một bất thường về mặt địa lý; đó cũng là một dấu hiệu chính thức cho yêu sách của Bắc Kinh, rằng lãnh thổ có chủ quyền của Trung Quốc bao gồm Biển Đông. Yêu sách đó vẫn bị che mờ trong một màn sương mù mơ hồ được tính toán cho đến năm 2010 khi Ngoại trưởng Clinton đề cập đến tình trạng Biển Đông và các tuyến đường biển của nó tại một cuộc họp của Diễn đàn an ninh khu vực (ARF) tại Hà Nội. Trong một cuộc họp có sự tham dự của các bộ trưởng ngoại giao của 26 quốc gia thuộc khu vực rộng lớn hơn, bà Clinton chỉ khẳng định rằng Biển Đông phải chịu nhiều yêu sách lãnh thổ và cần thiết lập một cơ chế đa quốc gia để tìm giải pháp ngoại giao hòa bình. Bà cũng quan sát thấy rằng các tuyến đường biển qua Biển Đông tạo thành một chuỗi toàn cầu, không phải chịu các yêu sách chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào. Phản ứng của Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc là rất quyết liệt – và tham vọng. Ngay sau khi ARF đưa ra tuyên bố chung, một phát ngôn viên chính thức của Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của Trung Quốc trên Biển Đông. Hiện tại, Chủ tịch Tập Cận Bình thường xuyên nhắc đến việc Trung Quốc sở hữu Biển Đông “kể từ thời cổ đại” – một khẳng định thiếu bất kỳ giá trị nào về mặt lịch sử hoặc pháp lý.

Cơn bão ngoại giao tại ARF diễn ra khi sự chú ý về an ninh của Hoa Kỳ còn đang bận tâm đến các hoạt động quân sự diễn ra ở Afghanistan và Iraq cũng như chiến dịch chống khủng bố toàn cầu với Osama bin Laden còn lớn. Rất ít người ở Washington có khuynh hướng coi Biển Đông là ưu tiên chiến lược nhằm thu hút các lợi ích quốc gia quan trọng của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nó đã – và là – tất cả những thứ đó.

LỢI ÍCH QUỐC GIA

Lợi ích của Hoa Kỳ ở Biển Đông được chia thành ba loại chính bao gồm: (1) Lợi ích kinh tế gắn liền với đường biển; (2) Quan hệ quốc phòng với các đồng minh và các đối tác an ninh khác; và (3) Ý nghĩa đối với sự cân bằng quyền lực và ảnh hưởng toàn cầu. Trong mỗi đấu trường này, một nỗ lực thành công của Trung Quốc nhằm giành quyền kiểm soát Biển Đông sẽ có tác động sâu sắc.

Đường biển

Các tuyến đường biển đi qua Biển Đông là tuyến đường thủy bận rộn nhất, quan trọng bậc nhất trên thế giới. Trong năm 2016, tuyến hàng hải này đã thực hiện đầy đủ một phần ba vận chuyển toàn cầu với giá trị ước tính là 3,4 nghìn tỷ đô la. Con số đó bao gồm gần 40% tổng thương mại của Trung Quốc và 90% nhập khẩu xăng dầu của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc – và gần 6% tổng thương mại của Hoa Kỳ. Những tuyến đường biển này còn là một huyết mạch quân sự quan trọng khi Hạm đội 7 của Hoa Kỳ di chuyển thường xuyên giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương (bao gồm cả Vịnh Bengal).

Hợp tác quốc phòng

Mỹ có các liên minh quốc phòng/an ninh chính thức với năm quốc gia châu Á: Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan và Úc. Ngoài ra, Hoa Kỳ đã khẳng định một số trách nhiệm đối với quốc phòng Đài Loan và có quan hệ an ninh chặt chẽ với Singapore và New Zealand. Ngoài ra, có nhiều thỏa thuận hợp tác an ninh chính thức với Việt Nam, Indonesia và Malaysia. Tập trận Hổ mang vàng, được tổ chức bởi Thái Lan và dẫn đầu bởi Hoa Kỳ, là cuộc tập trận quân sự đa phương hàng năm lớn nhất ở châu Á. Tóm lại, Hoa Kỳ đã xây dựng và duy trì một mạng lưới liên kết và nghĩa vụ an ninh dày đặc trên khắp Đông và Đông Nam Á – tất cả đều được duy trì nhờ liên lạc thường xuyên với Hạm đội 7 khi nó đi qua khu vực qua Biển Đông.

Sự cân bằng sức mạnh

Thành phần quan trọng nhất và ít hữu hình nhất ở Biển Đông liên quan đến việc duy trì (hoặc không) một trật tự dựa trên các quy tắc của khu vực được hỗ trợ bởi sức mạnh của Hoa Kỳ. Trật tự này bao hàm một số nguyên tắc chính trị nền tảng nhất định – như tôn trọng luật pháp quốc tế, giữ gìn độc lập chủ quyền thực sự của các quốc gia trong khu vực, từ chối mở rộng lãnh thổ đơn phương bất hợp pháp và chấp nhận vô điều kiện các tuyến đường biển như một thông lệ toàn cầu. Các giá trị bảo tồn – như bảo vệ môi trường sống biển chống lại khai thác bừa bãi, những giải thích pháp lý khác – cũng rất cần thiết. Khái niệm về trật tự khu vực này liên kết chặt chẽ với một nhóm lợi ích, giá trị và thể chế rộng lớn hơn được thể hiện trong hệ thống quốc tế sau Thế chiến II – một hệ thống phản ánh các giá trị của Hoa Kỳ, vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ và phù hợp với lợi ích của Hoa Kỳ.

Nếu Trung Quốc thành công trong việc thay thế sức mạnh của Hoa Kỳ ở Tây Thái Bình Dương, việc mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông trở thành vĩnh viễn và được thừa nhận, địa chính trị toàn cầu sẽ bước vào một kỷ nguyên mới và rất khác. Đông Nam Á chắc chắn sẽ trở thành phiên thuộc và tuân thủ theo ý chí của Trung Quốc. Australia sẽ bị cô lập với một tương lai không chắc chắn. Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ phải đối mặt một thực tế mới đầy nguy hiểm với Trung Quốc trong việc kiểm soát những đường biển huyết mạch của cả hai nước. Sự tín nhiệm của các đồng minh và đối tác vào sự hỗ trợ an ninh của Mỹ sẽ bị giảm sút. Ấn Độ sẽ mất quyền tự do tiếp cận vào Biển Đông và phần lớn Đông Nam Á. Châu Âu muốn tiếp cận châu Á sẽ phải thông qua Bắc Kinh. Tất cả điều này sẽ xảy ra tại nơi đang ngày càng trở thành trung tâm sôi động của nền kinh tế thế giới. Thông điệp sẽ rõ ràng: thời đại của sự lãnh đạo và chiếm ưu thế quốc tế của Mỹ đã qua và một quyền lực ưu việt mới sẽ thay thế nó.

Điều này nghe có vẻ cường điệu hoặc quá xa lạ – không hề. Hoa Kỳ và rộng hơn là phương Tây có thể sống với triển vọng như vậy. Tuy nhiên, đối với nước Mỹ, thế giới mới này sẽ vô cùng thất vọng và thậm chí là xa lạ. Tóm lại, Biển Đông là đấu trường trực tiếp, nơi hai mô hình địa chính trị có tính thay thế đang tranh giành quyền lực tối cao. Kết quả của cuộc đấu đó sẽ ảnh hưởng sâu sắc, nếu không muốn nói là định hình thế giới thế kỷ 21.

Marvin Ott/ Trung tâm nghiên cứu Winson – Hoa Kỳ

Marvin Ott là Giáo sư thỉnh giảng, Đại học Johns Hopkins; Nguyên Giáo sư Chính sách An ninh Quốc gia, Đại học Chiến tranh Quốc gia và Phó Giám đốc thuộc Ủy ban Tình báo Thượng viện

Các quan điểm thể hiện là của riêng tác giả và không đại diện cho các quan điểm của Chính phủ Hoa Kỳ.

Loading

Views: 0

Bài 3: Chúng ta có thể giữ được Biển Đông một cách hòa bình

Loading

Views: 0

Bài 2: Không gian sinh tồn của dân tộc đang bị thách thức

Cuối thế kỷ này dân số nước ta lên khoảng 140 triệu người, con cháu chúng ta sống ở đâu nếu không tiến ra biển.

 Xin giới thiệu góc nhìn của Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Brunei, Viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao Nguyễn Trường Giang nói tại CLB Cafe Số gần đây về sách lược người Việt Nam cần thực hiện để bảo vệ chủ quyền Biển Đông.Đầu tiên, cần phải nhận diện được thách thức của mình. Người Việt Nam có một điểm yếu, đó là có thể nhận diện được tất cả mọi thứ, trừ bản thân mình. Nếu chúng ta không sợ chiến tranh và chuẩn bị kỹ cho chiến tranh thì chúng ta sẽ có hòa bình. Còn nếu chúng ta sợ hãi thì lập tức chiến tranh sẽ đến, chúng ta mất hòa bình và mất cả chủ quyền lãnh thổ. Đây là vấn đề căn bản của mọi binh pháp trên thế giới.

Qua bức tranh thực trạng Biển Đông như tôi đã nói phần 1, có thể thấy mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là độc chiếm Biển Đông, tức là chiếm toàn bộ các đảo trong vùng biển này (bao gồm 4 quần đảo Tây Sa, Nam Sa, Đông Sa, Trung Sa theo cách gọi của Trung Quốc).

Trung Quốc cũng muốn chiếm chủ quyền với khoảng 80% diện tích Biển Đông và toàn bộ tài nguyên trong khu vực biển này. Bên cạnh đó là quyền kiểm soát với vùng trời, vùng biển và đáy biển. Điều này mang đến thách thức nghiêm trọng đối với chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông.

Trong 6 thập kỷ qua, có thể thấy rõ các biện pháp và kế sách mà Trung Quốc đã áp dụng để triển khai mục tiêu này. Nước này đã dùng đến mọi biện pháp, từ kinh tế, chính trị, ngoại giao cho đến tâm lý và cả thông tin tuyên truyền.

Do vậy, có thể thấy thông tin tuyên truyền là một trong những mặt trận rất quan trọng. Có những thời điểm, mặt trận tuyên truyền còn quan trọng hơn cả mặt trận quân sự, ngoại giao hay pháp lý.

Các kế sách của Trung Quốc trên Biển Đông 

Người Trung Quốc ngày nay học tập nhiều từ binh pháp Tôn Tử, nhưng cũng có rất nhiều cải tiến đối với loại binh pháp này. Người Trung Quốc biến các loại mưu kế trở thành một bộ môn khoa học và đưa vào các nội hàm mới cho những mưu kế này.

Các ví dụ có thể kể đến là kế sách “tằm ăn dâu”, “biến không thành có”, “gác tranh chấp cùng khai thác”, “cây gậy và củ cà rốt”,…

Trong đó, một trong những kế sách thâm độc nhất của Trung Quốc là chiến thuật “vùng xám”, tức dân sự hoá các hoạt động quân sự và bán quân sự, không sử dụng hải quân cũng như các hoạt động có cường độ quá mạnh hay vượt qua một giới hạn đỏ nào đó. Mục đích của điều này là không để tạo ra những phản ứng quá quyết liệt từ các nước khác.

Nhìn vào quá khứ, dự đoán tương lai 

Trong bức tranh về thực trạng ở Biển Đông, chúng ta có thể dựa vào những gì đã xảy ra trong quá khứ để nhìn nhận và dự đoán tương lai.

Về trung hạn, Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục đưa dàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam. Khả năng thứ 2 là Trung Quốc sẽ tạo ra một vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông. Trung Quốc cũng có thể sẽ tiến hành chiếm giữ một số bãi đá ngầm mà chưa có quốc gia nào chiếm đóng.

Dù rất hãn hữu, thế nhưng không loại trừ khả năng Trung Quốc sẽ đánh chiếm Trường Sa. Tuy nhiên điều này chỉ có thể xảy ra nếu họ có một thời cơ thích hợp. Người Trung Quốc thường chỉ hành động khi có thiên thời, địa lợi, nhân hòa và tính toán được rất kỹ cái giá phải trả. Đây chính là điểm để Việt Nam hoạch định các kế sách đối phó.

Nếu Việt Nam có thể làm cho Trung Quốc không có được thiên thời, địa lợi, nhân hòa hoặc trong trường hợp có chiến tranh, nước này sẽ phải trả một cái giá rất đắt thì họ sẽ không dám đánh chiếm Trường Sa nữa.

Trong 2 năm tới trước Đại hội, việc quân sự hoá Biển Đông sẽ được Trung Quốc thực hiện ráo riết hơn. Trung Quốc có thể đưa những lực lượng quân sự đông hơn ra chiếm đóng tại Trường Sa. Nước này cũng có thể vẽ ra lãnh hải của những hòn đảo mà hiện tại họ đang chiếm đóng, cũng như vùng nội thuỷ của các đảo này. Đây là những cảnh báo mà chúng ta cần phải lưu ý.

Trung Quốc sẽ sớm thông qua Luật An toàn giao thông hàng hải sửa đổi. Từ dự thảo của bộ luật này, có thể thấy Trung Quốc có khả năng dựa vào đây để lập các vùng an toàn hàng hải trên biển. Điều gì sẽ xảy ra nếu vùng an toàn bao chùm lên các nhà giàn DK1 của Việt Nam. Bên cạnh đó,  tàu thuyền sẽ phải xin phép khi tiến vào vùng biển Trường Sa. Điều này cũng có nghĩa là các đảo của Việt Nam sẽ bị phong toả.

Năm 2016, 2017, trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc đưa ra một dự báo cho thấy, Trung Quốc có thể đưa những nhà máy điện hạt nhân nổi ra Biển Đông.

Nếu như các nhà máy điện hạt nhân nổi được triển khai tại Biển Đông, nó sẽ mang lại rất nhiều thách thức về chủ quyền, môi trường, kinh tế, tài nguyên và  đối với mạng sống của hàng trăm triệu người…

Trung Quốc đưa dàn khoan HD 981 vào vùng biển của Việt Nam năm 2014
Đánh giá về tình hình hiện nay, có thể thấy vấn đề Biển Đông đang ngày càng phức tạp và diễn biến khó lường. Chủ quyền biển đảo Việt Nam đang bị thách thức nghiêm trọng và thách thức này sẽ còn nghiêm trọng hơn nữa trong tương lai.

Các thách thức mà Việt Nam sẽ phải đối mặt là về chủ quyền, kinh tế biển, an ninh quốc phòng, môi trường phát triển và thách thức đối với không gian sinh tồn của dân tộc. Cuối thế kỷ 21, Việt Nam sẽ có quy mô dân số khoảng 140 triệu người. Lúc này chúng ta cần phải tiến ra biển, biển là niềm hy vọng và là không gian sinh tồn của những thế hệ sau này.

Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với một kiểu xâm lược như vậy: tiến dần dần. Vì thế, tôi muốn nhấn mạnh về thách thức không gian sinh tồn của dân tộc .

Cuối thế kỷ này dân số nước ta lên khoảng 140 triệu người, con cháu chúng ta sống ở đâu nếu không tiến ra biển. Lúc đấy là chúng ta cần có thành phố biển, có làng mạc biển, có nông nghiệp biển, có công nghiệp biển, có cảng biển, có sân bay trên biển. Biển là niềm hi vọng, là không gian sinh tồn của những thế hệ sau này.

Và tôi muốn nhấn mạnh điểm này: không gian sinh tồn của dân tộc mình đang bị thách thức.

(Còn nữa)

Tư Giang lược ghi

Loading

Views: 0

Bài 1: Mưu đồ chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Biển Đông được xác định là con đường sinh mệnh của nền kinh tế Trung Quốc, giúp kết nối Trung Quốc với 125 nước và vận chuyển 3/4 lượng dầu nhập khẩu vào nước này.

 Xin giới thiệu góc nhìn của Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Brunei, nguyên Viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao Nguyễn Trường Giang nói tại CLB Cafe Số gần đây về mưu đồ chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông.Thứ nhất, lợi ích của Biển Đông là về vấn đề kinh tế, đầu bảng là tài nguyên dầu khí, sau đó là băng cháy. Khu vực Đông Nam Á có lượng băng cháy cực lớn. Đây là nguồn năng lượng của tương lai, có thể sử dụng trong nhiều thế kỷ, theo tính toán sơ bộ là khoảng 800 năm tới.

Việt Nam là một trong những quốc gia sở hữu lượng băng cháy tương đối lớn. Chúng ta có khoảng 2.400 tỷ mét khối băng cháy, là quốc gia có thứ hạng ở Châu Á về loại tài nguyên này. Đây là nguồn năng lượng tuyệt vời. Do đó, Trung Quốc nhìn vào nguồn băng cháy như một loại tài nguyên thay thế cho dầu khí đang dần trở nên cạn kiệt.

Thứ hai, Biển Đông được xác định là một trong 4 khu vực đánh cá chủ yếu của ngư dân Trung Quốc.

Thứ ba, Biển Đông cũng được xác định là con đường sinh mệnh của nền kinh tế Trung Quốc. Trong số 27 tuyến vận tải của Trung Quốc, 17 trong số đó nằm ở Biển Đông. Biển Đông giúp kết nối Trung Quốc với 125 nước và vận chuyển 3/4 lượng dầu nhập khẩu vào nước này.

Đại sứ Nguyễn Trường Giang

Về an ninh quốc phòng, đây là một bức trường thành tự nhiên trên biển. Biển Đông như một vành đai quân sự, phòng thủ, là rào cản an ninh để ngăn chặn những rủi ro và uy hiếp từ bên ngoài.

Về mặt địa chiến lược, Trung Quốc xác định Biển Đông như sân sau, nơi tập dượt của hải quân Trung Quốc để tiến ra thế giới bên ngoài.

Biển Hoa Đông ở phía đông Trung Quốc quá nông, lại có một đối thủ khó nhằn là Nhật Bản án ngữ phía ngoài. Còn đối với Biển Đông, vùng biển này rộng 3,4 triệu km2, độ sâu trung bình là 1.400 mét và có rất nhiều rãnh sâu. Đây là địa điểm tuyệt vời cho sự hoạt động của các loại tàu ngầm.

Muốn thành bá chủ toàn cầu, Trung Quốc phải trở thành cường quốc trên biển. Điều này chỉ có thể thực hiện được ở Biển Đông, vùng biển mà xung quanh đó toàn các quốc gia nhỏ bé. Về mặt địa chiến lược, đây là cửa ngõ duy nhất, là bàn đạp để Trung Quốc đi ra thế giới bên ngoài. Do vậy, trong cái nhìn đại chiến lược của người Trung Quốc, Biển Đông có lợi ích sống còn.

Trung Quốc sắp đặt Biển Đông trong chiến lược an ninh – phát triển như thế nào?

Từ các văn kiện Đại hội Đảng, chương trình nghị sự của chính phủ và thông tin chính thức từ phía Trung Quốc, nước này xác định Biển Đông là một phần quan trọng, cũng là điểm khởi đầu cho con đường tơ lụa trên biển. Con đường này là trọng tâm của sáng kiến Vành đai – Con đường. Sáng kiến này là một phần của giấc mơ chấn hưng Trung Quốc.

Biển Đông là một phần của chiến lược biến Trung Quốc thành một cường quốc biển. Một quốc gia muốn tiến vào vị trí trung tâm quyền lực chính trị của thế giới thì không thể không trở thành một cường quốc biển.

Chính giới Trung Quốc đã lồng ghép vấn đề Biển Đông vào mục tiêu trăm năm, coi đó là việc triển khai thực hiện giấc mộng Trung Hoa. Nước này thậm chí còn đưa vấn đề chủ quyền và lợi ích trên biển thành một trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, tương tự như vấn đề Đài Loan, Tân Cương và Tây Tạng. Tần suất Trung Quốc đưa ra lời khẳng định các đảo ở Biển Đông thuộc về mình từ ngàn đời đang không ngừng tăng lên.

Nguyên thủ các quốc gia trên thế giới thường ít nói về vấn đề chủ quyền. Thay vào đó, họ thường để cho những cơ quan có thẩm quyền lên tiếng. Tuy nhiên, liên tiếp trong năm 2016, Chủ tịch Trung Quốc đã 3 lần phát biểu câu chuyện này ở nước ngoài, điều trước đây chưa từng có đã thể hiện sự quan tâm đến mức tối đa của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông.

Bên cạnh đó, cơ quan truyền thông nhà nước Trung Quốc liên tục khẳng định rằng nước này không có gene xâm lược, không xâm phạm vào lợi ích của các nước khác, thế nhưng Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ quyền lợi của mình.

Tàu cảnh sát biển Trung Quốc. Ảnh: Reuters

Năm 2021, Trung Quốc sẽ diễn ra sự kiện kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng. Cùng với các sự kiện lớn này, Trung Quốc sẽ tiến hành nhiều hành động lớn, tình hình Biển Đông vì thế cũng sẽ liên quan đến câu chuyện này.

Trung Quốc không đem lợi ích cốt lõi ra trao đổi, không có chuyện nhân nhượng, thỏa thuận và từ bỏ tham vọng Biển Đông. Đây là một thông điệp rất rõ ràng.

Chủ tịch Trung Quốc từng có một câu nói mà chúng ta cần phải lưu ý: “Quân đội Trung Quốc triệu tập là có, đến là có thể đánh và đánh là có thể thắng, để bảo vệ chủ quyền và các quyền liên quan ở Biển Đông”.

Vậy vài chục năm nữa Biển Đông sẽ như thế nào? Biển Đông đại khái sẽ thế này, lúc nóng, lúc lạnh, lúc căng thẳng lúc hòa hoãn. Tất nhiên, chúng ta cần có những nhìn nhận đúng đắn, có những động thái kiên quyết đối với vấn đề này.

Truyền thông Trung Quốc

Báo chí Trung Quốc nói, những nước như Việt Nam, Phillipines, Brunei, Malaysia… là những kẻ đang cướp đảo, cướp biển, cuớp tài nguyên của Trung Quốc, do đó chúng ta phải thu hồi. Điều này được thực hiện bằng chiến lược ngoại giao đi trước, hải quân đi sau, văn công vũ vệ (tiến công bằng văn, bảo vệ bằng vũ lực).

Có những tờ báo liệt kê 6 cuộc chiến tranh mà Trung Quốc phải đánh, một trong số đó là cuộc chiến trên Biển Đông để thu hồi những đảo bị các nước chiếm đóng trái phép. Truyền thông Trung Quốc là một dấu hiệu giúp Việt Nam có thể dự báo trước.

Trung Quốc đang làm gì từ năm 1949 đến nay?

1. Đưa ra các yêu sách chủ quyền và yêu sách trên biển.

2. Thực hiện những biện pháp hành chính. Thể hiện Biển Đông và Hoàng Sa, Trường Sa trên bản đồ, đặt tên cho các đảo, quy thuộc sát nhập Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển vào lãnh thổ Trung Quốc và các đơn vị hành chính thuộc Trung Quốc.

3. Áp đặt nội luật của Trung Quốc vào khu vực Biển Đông, coi Biển Đông thành khu vực của mình.

4. Các hoạt động kiểm soát, khống chế và làm chủ Biển Đông trên thực địa. Bao gồm việc từng bước thay đổi nguyên trạng của Biển Đông, tạo ra một cục diện quân sự thuận lợi cho Trung Quốc, dần dần khống chế, kiểm soát Biển Đông, tiến tới mục tiêu lâu dài là độc chiếm toàn diện Biển Đông.

5. Sử dụng vũ lực. Từ năm 1956 đến nay, tất cả các bước tiến của Trung Quốc trên Biển Đông đều là nhờ vũ lực. Trung Quốc liệu có tiếp tục sử dụng vũ lực nữa hay không? Nếu không trả lời được câu hỏi này thì cực kỳ nguy hiểm.

(Còn nữa)

Tư Giang lược ghi

Loading

Views: 0

Lộ diện bộ ba răn đe chiến lược mới của thế kỷ 21

Khi thế kỷ 21 mở ra với nhiều biến động, một dạng bộ ba răn đe chiến lược mới đang hiện hình rõ ràng. Minh chứng gần đây nhất chính là vụ tấn công tinh vi nhằm vào các cơ sở lọc dầu trọng yếu của Saudi Arabia.

Hàng thập kỷ nay, các quốc gia vẫn nghĩ về bộ ba răn đe chiến lược là sự kết hợp của ba hệ thống vũ khí hạt nhân: tên lửa đạn đạo liên lục địa đặt trên đất liền; máy bay ném bom chiến lược tầm xa như (B-52, B-1 và Tu-160); và tàu ngầm trang bị tên lửa hạt nhân.

Cùng với nhau, các hệ thống này có thể ngăn chặn kẻ thù từ cuộc tấn công đầu tiên, cung cấp một nền tảng mạnh mẽ tạo thành sức mạnh quân sự quốc gia. Chế tạo ra bộ ba răn đe chiến lược này là quá trình vô cùng tốn kém, đòi hỏi công nghệ tối tân cũng như cần đến lực lượng chuyên gia tay nghề cực cao.

Tuy nhiên, theo nhận định của tạp chí Time, khi thế kỷ 21 nhiều biến động mở ra, một dạng bộ ba răn đe chiến lược mới đang hiện hình rõ ràng. Minh chứng gần đây nhất chính là vụ tấn công tinh vi nhằm vào các cơ sở lọc dầu trọng yếu của Saudi Arabia – làm giảm 5% nguồn cung dầu mỏ hàng ngày trên toàn cầu – chỉ bằng thiết bị bay không người lái giá rẻ, đồng thời sử dụng công nghệ Google Earth để định vị tấn công mà các hệ thống phòng thủ hiện đại phải “bó tay”.

Bộ ba chiến lược mới sẽ bao gồm thiết bị không người lái (trên không, trên mặt đất và trong lòng biển), tấn công mạng cùng các lực lượng đặc nhiệm. Tất cả các yếu tố trên đều không đắt đỏ, dễ dàng đưa vào triển khai, ngay cả đối với những nước không mạnh.

Năng lực gây thiệt hại lớn của hệ thống trên – cả chế độ độc lập lẫn hiệp đồng tác chiến – đang tăng lên. Tấn công mạng có thể gây tê liệt mạng lưới điện của một quốc gia, hệ thống dẫn nước, các thị trường tài chính và mạng lưới giao thông. Các thiết bị không người lái – khả năng trực chiến trong thời gian dài – có thể được sử dụng để tấn công tại những vùng chiến sự quan trọng với độ chính xác cao.

Trong khi đó, các lực lượng đặc nhiệm, giống như đặc nhiệm SEAL của Hải quân Mỹ, sẽ là người kích hoạt tấn công mạng và máy bay không người lái bằng cách cấy ổ đĩa hoặc cài mã vào những hệ thống quan trọng này. Sau đó, họ sẽ cung cấp mục tiêu cho các vũ khí dẫn đường có độ chính xác cao gắn trên thiết bị bay không người lái, hoặc những hệ thống tấn công di động ở gần biên giới.

Tất nhiên, không chỉ các nước nhỏ như Triều Tiên và Iran đang khai thác bộ ba mới này, Mỹ và Nga đã bắt tay vào nghiên cứu từ lâu. Có lẽ đáng lo ngại nhất, việc sở hữu những dạng thiết bị trên cũng không nằm ngoài tầm với của bọn tội phạm như khủng bố và buôn ma túy.

Hiện tại, các quốc gia chưa đặc biệt chuẩn bị sẵn sàng để phòng thủ trước những hệ thống như trên. Nền quốc phòng Mỹ cần triển khai một mạng lưới tinh vi và nguy hiểm hơn những cái đang sở hữu. Cụ thể là một lực lượng an ninh mạng mới, sản xuất thêm thiết bị không người lái tàng hình, nâng cao khả năng phát hiện thiết bị của kẻ thù; cùng các lực lượng đặc nhiệm tinh nhuệ hơn.

Vụ tấn công nhằm vào các cơ sở lọc dầu của Saudi Arabia là bài học không thể bỏ qua. Riyadh đã chi hàng tỷ USD cho hệ thống phòng không hiện đại và hệ thống cảnh báo sớm. Tuy nhiên, chỉ cần vài quả tên lửa hành trình và máy bay không người lái là kẻ thù có thể xâm nhập không phận Saudi Arabia và gây thiệt hại nặng nề cho nhà máy lọc dầu lớn nhất thế giới.

Theo kênh CNN, điều đó cho thấy những bất cập nghiêm trọng tại nơi Saudi Arabia đặt các hệ thống phòng không và cảnh báo sớm cũng như điểm yếu của các hệ thống này. Tuy nhiên, điều đó cũng cho thấy một vấn đề lớn hơn: kỷ nguyên chiến tranh bằng máy bay không người lái là một thách thức lớn với các chính phủ toàn thế giới./.

Hoàng Trang (TTXVN)

 

Loading

Views: 0

What Vietnam needs to do to counter Chinese intrusion in the Vanguard Bank

From July 3, 2019, Chinese survey ship Haiyang Dizhi 8 entered the Vanguard Bank in Vietnam’s EEZ to “conduct a seismic survey”. This is the most serious incident by China in the last 5 years since its installation of the Haiyang Shiyou – 981 oil rig in Vietnam’s exclusive economic zone and continental shelf in 2014. Vietnam is now managing and enforcing its sovereignty over the area by building many rigs in her southern continental shelf.

In a Twitter post on July 9, Ryan Martinson, Assistant Professor at the US Naval War College shared that the survey ship was escorted by many China’s Coast Guard cutters, among which he recognized 37111. On July 10, Ryan Martinson twitted that among Chinese maritime vessels were escorting the survey ship, there was the 10,000+ ton CCG 3901. Ryan Martinson also posted a graph showing that four Chinese marine vessels were closely followed by three Vietnamese vessels, including two law enforcement vessels signed Kn-472 and Kn-468, along with Nam Yet 207008 coast guard vessel.

China’s act to dispatch the survey ship into the water around Vietnam’s Vanguard Bank is an act of invasion, violating international law, Vietnamese laws and bilateral agreements on the South China Sea that the two sides signed and publicized. The relationship between China and Vietnam hit its lowest level in a decade in May 2014, when China’s National Offshore Oil Corporation moved Haiyang Shiyou –981 oil platform into waters within Vietnam’s central continental shelf. Vietnam sent vessels to stop the oil rig being fixed to the seabed, leading to collisions between ships of the two countries and anti-China protests outbreak across Vietnam.

For a long time, China often conducted many encroachment activities at sea against Vietnam before or during visits to China by Hanoi’s top leaders. Again, this incident took place just before and during the visit of Vietnamese National Assembly’s Chairwoman Nguyen Thi Kim Ngan to China. This is an extremely dangerous and intentional act by China to block Hanoi’s publicity of the incident. In China’s view, its encroachment act in the South China Sea during the visit to China by Vietnamese leaders will not be made public by Vietnam out of fear of affecting the visits. Hanoi fell into Beijing’s “trap” to remain silent after two weeks since the Haiyang Dizhi 8 started its operation in the Vanguard Bank.

This is not a single act but a carefully calculated one by China to assert its unilateral sovereignty claim over much of the South China Sea on the ground, which is delineated by the “u-shaped line”, also known as the “nine-dash line”. Three years ago, on July 12, 2016, the Arbitral Tribunal under Annex VII to the UNCLOS has ruled against the validity of the “nine-dash line” while at the same time not recognizing features in the Spratly as islands, therefore the Spratly cannot have a 200 nautical mile exclusive economic zone. However, China does not recognize and accept this ruling.

The Vanguard Bank is the area where China once sold its rights for oil and gas exploitation to the US company Crestone in 1992, to which Vietnam then voiced its protest. In 1994, armed Vietnamese vessels forced Chinese survey ship Shiyan 2 (Experiment 2) out of the area after a three-day stand-off. In 2012, China’s National Offshore Oil Corporation (CNOOC) announced to open bid for 9 oil and gas blocks covering the area. No foreign company participated in the bidding for these 9 oil and gas blocks because they knew that China’s tender invitation was contrary to international law, violating Vietnam’s waters in accordance with the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982. This is an area located entirely within Vietnam’s exclusive economic zone, also within the “nine-dash line” drawn on the sea by China.

What should Vietnam do to protect its sovereignty and jurisdiction over China’s new intrusion in Vanguard Bank? Vietnam should resolutely fight against Beijing’s hegemony, otherwise China will be more aggressive in its strategy to occupy the South China Sea. The fact that Vietnam dispatched coast guard and fisheries surveillance ships to this area to confront Chinese ships as posted on Twitter by Ryan Martinson is encouraging. However, it could be seen that it is a challenge for Vietnam’s coast guard and fisheries surveillance ships to deal with Chinese law enforcement forces. In particular, with China’s construction, expansion and militarization of the Fiery Cross Reef into a military outpost, it would be more difficult for Vietnamese forces to confront Chinese ships on the ground. Some sources also said that in addition to law enforcement vessels, China has also mobilized dozens of its fishing and militia vessels to protect the survey ship.

Earlier, China found it hard to deploy a large number of ships to the area to protect its illegal activities because it is more than 600 nautical miles away from China’s Hainan Island. With the military outpost in the Fiery Cross Reef very close to this area, China could quickly dispatch a large number of ships to protect its activities.

In this context, to protect its interests, Vietnam needs to take media and legal measures to fight Bejing’s intrusion. These are the china’s weakness and the Vietnam’s strength.

First of all, Vietnam needs to quickly bring the case to the world public showcasing Beijing’s real face, taking advantage of international public opinion to condemn China’s intrusion. Given the concerns expressed by the US and other countries about China’s expansion in the South China Sea, Vietnam’s publicity of the case will receive strong support from these countries. Vietnam should highlight and refer to the ruling of the Arbitral Tribunal in the South China Sea lawsuit, which by July 12, 2019 has been awarded for exactly 3 years, in its fight on public opinion front. In particular, over the time the US has repeatedly voiced its opposition to China’s pressure on littoral countries in the South China Sea. European countries, Japan, Australia and India have also repeatedly affirmed the need to maintain rules-based order in accordance in the South China Sea. Against this backdrop, early publicity about China’s intrusion in the Vanguard Bank will be a premise for these countries to voice their opposition to China’s invasion.

On the other hand, Vietnam needs to get ready for filing a lawsuit against China in the Arbitral Tribunal under Annex VII to the UN Convention on the Law of the Sea 1982 for invasions that violate the provisions of the Convention. Vietnam has many advantages in the legal struggle in this case for the following reasons:

First, the relevant content of this case is the application of the provisions of the UN Convention on the Law of the Sea 1982 in determining to whom this water belongs. The Arbitration Court has full jurisdiction over the case as in the South China Sea lawsuit filed by the Philippines in 2013.

Second, the ruling of the Arbitral Tribunal on July 12, 2016 in the South China Sea lawsuit has completely rejected China’s “nine-dash line” claim, rejecting the so-called “historic rights” of China in the South China Sea. Therefore, it is illegal for China to claim a water that is more than 600 nautical miles away from Chinese territory.

Third, in any case, this area is entirely under the sovereignty and jurisdiction of Vietnam. Some people may be concerned that the straight baselines in southern Vietnam are not suitable. However, even if Vietnam narrows the baselines in this area close to the coast, Vietnam’s Con Dao and Phu Quy islands are fully qualified for 200 nautical mile exclusive economic zone and continental shelf of Vietnam under Article 121 of the UN Convention on the Law of the Sea 1982. Vanguard Bank is entirely within the exclusive economic zone and continental shelf of Vietnam defined from Con Dao or Phu Quy island.

The authorities in Hanoi should continue to take relevant, bold and persistent actions to prevent China from encroaching in its waters./.

Loading

Views: 0

Châu Âu “quyết tâm can dự” vào châu Á-Thái Bình Dương và Biển Đông?

Theo giới phân tích, các nước lớn ở châu Âu đang tìm cách tăng cường sự hiện diện của họ ở châu Á-Thái Bình Dương bằng các chiến dịch tự do hàng hải trong bối cảnh lo ngại căng thẳng gia tăng ở Biển Đông.

Ông Frans-Paul van der Putten, thuộc Viện nghiên cứu Clingendael ở Hà Lan, nói: “Một vài năm trước, các nước châu Âu tỏ ra không mấy quan tâm đến các vấn đề an ninh ở khu vực Đông Á, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, điều đó đang thay đổi. Việc điều tàu chiến đến Biển Đông có thể cung cấp cho các chính phủ châu Âu nhiều đòn bẩy hơn khi nói đến việc đối phó với Mỹ và Trung Quốc trong các vấn đề địa chính trị ở gần họ. Từ lâu, châu Âu đã quen với việc nằm giữa hai cường quốc Mỹ và Nga, nhưng mối quan hệ Mỹ-Trung ngày càng xác định vị trí địa chính trị của châu Âu. Điều này tạo ra những tình huống khó xử cho các chính phủ châu Âu, vốn đang chịu áp lực phải chọn bên”.

Đánh giá của ông Van der Putten được đưa ra sau khi Anh, Pháp và Đức cho biết trong một tuyên bố chung hồi tháng trước rằng họ “lo ngại về tình hình ở Biển Đông, có thể dẫn đến bất ổn an ninh và căng thẳng khu vực”. Họ cũng kêu gọi tất cả các bên liên quan đến tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông “thực hiện các bước đi và biện pháp để giảm căng thẳng, đóng góp vào việc duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn ở khu vực”.

Trung Quốc, nước tuyên bố chủ quyền phần lớn ở Biển Đông, đang tham gia nhiều tranh chấp với các nước láng giềng, bao gồm Malaysia, Việt Nam, Philippines và Brunei. Trong khi Mỹ không phải là một bên yêu sách, nhưng nước này coi khu vực này là một phần trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nhằm kiềm chế sự bành trướng quân sự của Trung Quốc ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Trong một động thái biểu dương sức mạnh và đoàn kết, Mỹ và Anh đã tiến hành một cuộc tập trận hải quân chung ở Biển Đông hồi tháng 2 năm nay, trong khi Pháp đưa tàu tấn công Dixmude và một tàu khu trục đến gần quần đảo Trường Sa tranh chấp hồi năm ngoái. Anh rất muốn khẳng định quyền tự do hàng hải ở các vùng biển quốc tế và cùng với các đồng minh Mỹ và Úc đã thẳng thắn bảo vệ các hành động như vậy trước một Trung Quốc ngày càng hiếu chiến. Năm ngoái, Anh đã lên kế hoạch điều một tàu sân bay mới HMS Queen Elizabeth đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong lần triển khai hoạt động đầu tiên, dự kiến vào năm 2021.

Phát biểu tại London hồi tuần trước, Thiếu tướng Su Guanghui – tùy viên quân sự Trung Quốc tại Anh – nói: “Nếu Mỹ và Anh bắt tay nhau hoặc vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, đó sẽ là hành động thù địch”. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Lê Thị Thúy Hằng, nói hồi tuần trước rằng Hà Nội hoan nghênh mọi hoạt động đảm bảo tự do hàng hải và hàng không.

Bất chấp sự hợp tác quân sự, Mỹ và châu Âu có những khác biệt trên mặt trận kinh tế và chính trị. Ngày 12/9 vừa qua, thông báo của Ngân hàng Trung ương châu Âu về gói cắt giảm lãi suất và kích thích kinh tế trong 3 năm đã vấp phải sự giận dữ của Tổng thống Mỹ Donald Trump trên Twitter. Ông nói: “Họ đang cố gắng giảm giá đồng Euro so với đồng USD rất mạnh, làm tổn thương đến xuất khẩu của Mỹ”. Tháng trước, Trump đã chỉ trích chính phủ Pháp về thuế dịch vụ kỹ thuật số mà theo ông là nhằm vào các công ty công nghệ của Mỹ và tuyên bố sẽ trả đũa bằng cách đánh thuế vào rượu vang Pháp.

Chủ tịch Hội đồng châu Âu Donald Tusk nói EU sẽ “đáp trả tương đương” nếu Mỹ áp đặt bất kỳ hình phạt nào như vậy. EU cũng bị lôi kéo vào một cuộc tranh chấp gay gắt với Trung Quốc về những gì họ coi là đối xử không công bằng với các doanh nghiệp EU hoạt động ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trong một báo cáo hồi đầu năm, Ủy ban châu Âu (EC) đã kêu gọi các nhà lãnh đạo EU chấp thuận một kế hoạch hành động 10 điểm gán mác cho Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh có hệ thống”.

Căng thẳng giữa Bắc Kinh và Berlin đã leo thang sau khi Ngoại trưởng Đức Heiko Maas gặp nhà hoạt động dân chủ Hong Kong Hoàng Chi Phong ở thủ đô của nước Đức hồi đầu tuần trước. Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng họ “thực sự không hài lòng” và đồng thời triệu tập Đại sứ Đức tại Bắc Kinh để phản đối. Bà Sarah Raine, chuyên gia tư vấn cấp cao về địa chính trị và chiến lược thuộc Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế ở London, cho biết không ngạc nhiên khi EU muốn can dự vào các tranh chấp Biển Đông và mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực này. Bà nói: “Đây là một kết quả thực tế ở châu Á, EU đã chán việc bị đối xử còn thấp hơn cả một đối tác thương mại và không liên quan đến các vấn đề chiến lược lớn của châu lục, thậm chí ngay cả họ có lợi ích thực sự ở trong đó”.

“Để can dự sâu hơn vào các diễn biến ở Biển Đông, các quốc gia lãnh đạo EU nên hợp tác để ủng hộ các giải pháp đa phương cho các vấn đề đa phương thông qua các đối tác đa phương – dưới hình thức ASEAN [Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – tất cả trong khuôn khổ luật pháp quốc tế”. Theo ông Siemon Wezeman, nhà nghiên cứu cao cấp thuộc chương trình chuyển giao vũ khí và chi tiêu quân sự SIPRI ở Thụy Điển, EU đang cố gắng tăng ảnh hưởng đối với Trung Quốc và Mỹ bằng cách cho họ thấy rằng EU cũng là một bên quan trọng trong các vùng biển tranh chấp. Ông Wezeman nói: “EU không phải Trung Quốc, và tất nhiên không phải nước Mỹ của Trump. Họ muốn chứng tỏ họ vẫn ở đó. Ba nước ký tuyên bố chung (Anh, Pháp và Đức) có lợi ích đặc biệt ở khu vực này. Họ có những lợi ích thương mại… Nếu có bất kỳ sự cố nào ở Biển Đông, các ngành công nghiệp châu Âu sẽ bị ảnh hưởng”./.

Theo SMCP

Loading

Views: 0

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Trung Quốc đang lớn giọng khẳng định đặc quyền hàng hải trên Biển Đông trong cái gọi là “đường 9 đoạn” dường như được xuất hiện trên các bản đồ chính thức của nước này. Nguồn gốc chính xác của đường ranh giới này hiện vẫn rất mơ hồ. “Đường 9 đoạn” không xuất hiện trên các bản đồ của chính phủ trước năm 1947 hay trên các bản đồ mang tính cá nhân được vẽ trước năm 1933. Đến năm 2013, các học giả nổi tiếng của Trung Quốc thừa nhận rằng Trung Quốc chưa bao giờ công khai khẳng định tầm quan trọng pháp lý của đường ranh giới này.Việc Trung Quốc trong thời gian gần đây khẳng định quyền tài phán với các tài nguyên trong “đường 9 đoạn” đã làm leo thang căng thẳng không chỉ trong lĩnh vực dầu mỏ mà còn với nguồn cá đang được khai thác cạn kiệt vốn “rất quan trọng với an ninh lương thực của cư dân ven biển vốn lên tới hàng trăm triệu người”. Tuy nhiên, lập luận pháp lý của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông nên được xem xét cả trong bối cảnh lịch sử của họ cũng như dưới học thuyết của Trung Quốc về chiến tranh thông tin.

Luật pháp đóng vai trò quan trọng trong cuộc tranh cãi về “đường 9 đoạn” bởi đường ranh giới này cắt sâu vào Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của nhiều nước ven biển gồm Việt Nam và Philippines theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Một điều trớ trêu đó là trong các cuộc đàm phán trường kỳ để tiến tới UNCLOS, Trung Quốc từng là nhân tố chính ủng hộ khái niệm EEZ, đứng về phía các nước đang phát triển chống lại Nga và Mỹ.

Việc xem xét lại các vấn đề từng là mối quan ngại cơ bản của Trung Quốc trong các cuộc đàm phán về UNCLOS là rất hữu ích. Các vấn đề này được ghi trong các tài liệu làm việc của Trung Quốc gửi lên Ủy ban Đáy biển Liên hợp quốc hồi đầu những năm 70 của thế kỷ XX và trong các bài phát biểu của Trung Quốc trong tiến trình đàm phán.

Trung Quốc chủ trương ủng hộ 5 luận điểm chính: Thứ nhất, không có chiều rộng tối đa cố định với vùng lãnh hải. Thứ hai, các tàu chiến không có quyền đi lại vô hại tất yếu qua lãnh hải và các eo biển. Thứ ba, eo biển Quỳnh Châu và vịnh Bột Hải của Trung Quốc là “nội thủy” của Trung Quốc. Thứ tư, các tranh chấp trên biển nên chỉ được giải quyết thông qua tham vấn và UNCLOS không nên đưa ra quy định về việc giải quyết pháp lý đối với các tranh chấp như vậy. Thứ năm, một quốc gia lục địa có chủ quyền với quần đảo xa bờ có thể vẽ đường cơ sở thẳng quanh nó và sử dụng đường cơ sở này để đo đạc lãnh hải của họ.

Đáng chú ý, mặc dù Trung Quốc công khai tuyên bố vị thế đặc biệt ở một số vùng biển, nhưng họ chưa bao giờ làm vậy ở Biển Đông. Trung Quốc vẫn duy trì quan điểm của họ về eo biển Quỳnh Châu và vịnh Bột Hải trong các cuộc đàm phán, cũng như quan điểm về các tàu chiến và quyền đi lại vô hại. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã từ bỏ quan điểm về chiều rộng của vùng lãnh hải và về “các quần đảo xa bờ”. Thực tế này cho thấy việc Trung Quốc cho rằng họ có “các quyền đặc biệt trong lịch sử” trong “đường 9 đoạn” là kết quả của tuyên bố pháp lý mới.

Trung Quốc đã hứng chịu đòn giáng sau khi Tòa trọng tài ở La Hay đưa ra phán quyết có lợi cho các nước ven biển trong vụ kiện của Philippines chống lại Trung Quốc. Kể từ đó, chính phủ Trung Quốc đã xoay trục trở lại lập trường cũ về “quần đảo xa bờ” từng bị phủ nhận trong các cuộc đàm phán về UNCLOS. Trung Quốc giờ đây khẳng định rằng họ có thể tập hợp nhiều thực thể khác nhau trên biển thành “các quần đảo” và “bao bọc” chúng trong các đường cơ sở thẳng và xác lập EEZ từ các thực thể này.

Lập luận này vừa mang tính theo chủ nghĩa xét lại và vừa không thuyết phục về mặt pháp lý. Tuy nhiên, bên cạnh việc xác lập các EEZ, việc cải tạo các thực thể thành đảo hay quần đảo cho phép Trung Quốc khẳng định rằng các tàu chiến Mỹ bị hạn chế tiến gần các thực thể đó. Mỹ khăng khăng rằng các thực thể đó không tạo thành lãnh hải và rằng họ đang thực thi chiến dịch tự do hàng hải vốn được chấp nhận trong EEZ hay ở hải phận quốc tế. Tuy nhiên, tại sao Trung Quốc lại bận tâm đưa ra những lập luận như vậy?

Trung Quốc đánh giá cao sức mạnh của pháp quyền. Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công không tiếp xúc để đạt được các mục tiêu quốc gia của Trung Quốc: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý được nhà bình luận Doug Livermore lý giải là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Nhiệm vụ của “tam chiến” là nhằm củng cố tính hợp pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) cả trong và ngoài nước. Việc tranh cãi về các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông bị coi là âm mưu nhằm xói mòn tính hợp pháp của CCP. CCP cho rằng họ đang bị bao vây bởi các mối đe dọa trong và ngoài nước, và coi lập luận pháp lý chống lại họ là một hình thức xung đột chiến lược.

Trung Quốc cũng hiểu rằng việc tận dụng và khai thác những gì giành được từ vũ lực đòi hỏi sự củng cố thông qua luật pháp. Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc không chỉ đơn giản là cách thức giải quyết vấn đề “cướp đất” trên biển. Nó chính là một phần của chiến lược “cướp đất”.

Douglas Guilfoyle là Phó Giáo sư Luật Quốc tế và An ninh tại Đại học New South Wales (UNSW), Canberra, nơi ông là trưởng Nhóm Nghiên cứu An ninh Hàng hải.

Bài viết này được trích ra từ “Luật pháp và an ninh hàng hải: Hiểu về cuộc chiến pháp lý ở Biển Đông” (The Rule of Law and Maritime Security:Understanding Lawfare in South China Sea) của tác giả Douglas Guilfoyle, được đăng gần đây trên International Affairs. Bài viết được đăng trên trang East Asia Forum.

Loading

Views: 0

Năng lượng và hiệu quả: Hợp tác Nga – Việt trên đà phát triển

Nga có lợi khi thể hiện tiềm năng và kinh nghiệm hòa giải ở Đông Nam Á

Sự gia tăng hiện diện của Nga tại phía Đông, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á không phải là sự phô diễn đối với phương Tây sau sự kiện năm 2014, mà là nhu cầu cần thiết nhằm đẩy mạnh hội nhập với các nước trong khu vực này, thậm chí đây còn là nhu cầu của thời đại. Mặc dù cách đây không lâu Nga dường như có ý định trông chờ cho quan hệ phức tạp với EU và Mỹ tại châu Á qua đi, để sau đó quay trở lại hướng này.

Việt Nam – đối tác chiến lược của chúng ta là một trong những ví dụ điển hình và rõ nét về việc Nga củng cố sự hiện diện tại châu Á. Nga cùng với Việt Nam đang phối hợp triển khai nhiều hướng hợp tác kinh tế, gồm cả hợp tác hiệu quả trong lĩnh vực khai thác dầu khí.

Đương nhiên, châu Á cũng có những vấn đề lớn của riêng mình, có hệ thống những kiềm chế và đối trọng quốc tế, có cạnh tranh đặc biệt của mình, chưa kể tới tình hình tranh chấp lãnh thổ căng thẳng tại Biển Đông – cụ thể là các bãi đá ngầm.

Do đó, việc thiết lập quan hệ hợp tác Nga – Việt trong giai đoạn lịch sử mới không hề đơn giản. Tuy nhiên, các nhiệm vụ, vấn đề trước mắt sẽ được giải quyết dần dần, và hiện nay có thể nói rằng, cùng với sự hỗ trợ của đối tác tin cậy Việt Nam, Nga sẽ tìm được vị trí xứng đáng trong bản đồ năng lượng khu vực Đông Nam Á, đồng thời hỗ trợ hiệu quả cho các đối tác tin cậy của mình tại đây.

Một trong những minh chứng thuyết phục nhất cho các thành tựu này là lời cảm ơn chính thức của Tổng thống Nga V.Putin dành cho Giám đốc công ty Rosneft Việt Nam B.V. Hoàng Vũ Nam vì những đóng góp trong phát triển tổ hợp nhiên liệu – năng lượng. Công ty con của Rosneft đã thực hiện khoan công nghệ cao trên thềm lục địa Việt Nam, tạo điều kiện đưa việc cung cấp nguyên liệu thiên nhiên lên tầm cao mới, góp phần thúc đẩy ổn định và an ninh khu vực nói chung.

Bởi vậy, lãnh đạo cấp cao của Nga ghi nhận việc hợp tác không chỉ đơn thuần là giải quyết nhiệm vụ kinh tế, mà rộng hơn là nhiệm vụ chính trị chiến lược. Từ năm 2016, giếng khoan thăm dò đầu tiên được thực hiện trên thềm lục địa Việt Nam, và chỉ sau một thời gian ngắn, công trình này đã chuyển sang hoạt động quy mô công nghiệp.

Đồng thời, giới truyền thông Nga cũng nhận định, Nga đang tập trung đẩy mạnh hợp tác kinh tế, hội nhập đa phương và giảm đối đầu. Chính định hướng này góp phần củng cố lòng tin, mang lại hiệu quả kinh tế cho nhau. Điều này đã được thảo luận tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Bangkok gần đây, trong đó bao gồm vấn đề Biển Đông.

Lợi thế cho sự hiện diện của Nga tại khu vực đó là Nga không phải là một bên tranh chấp trong các vấn đề nội bộ khu vực như ở Biển Đông. Do đó, Nga không chỉ có vai trò kinh tế mà còn giữ vai trò hòa giải. Theo đó, không nên coi Nga là cường quốc ngoài khu vực, bởi phần lớn diện tích lãnh thổ của chúng ta nằm ở châu Á.

Ngoài ra, nếu xem xét kỹ tình hình khu vực giàn khoan thềm lục địa, thì Nga là nhân tố duy nhất đảm bảo duy trì cân bằng lực lượng khu vực, không để căng thẳng chính trị leo thang và quân sự hóa, gồm cả duy trì giao thông vận tải tại khu vực Biển Đông và tự do hàng hải. Việc các tàu thuyền bị đốt cháy, may chưa phải là tàu quân sự, là dấu hiệu bạo lực gây bất ổn khu vực Biển Đông. Trong khi đó, Việt Nam đang có đóng góp lớn trong việc duy trì ổn định.

Nói đơn giản hơn, Nga không nên né tránh việc đánh giá các xung đột lãnh thổ khu vực, mà thậm chí còn có thể củng cố uy tín địa chính trị khi thể hiện kinh nghiệm và tiềm năng hòa giải của mình tại đây. Rõ ràng, việc tìm kiếm  cân bằng khu vực là quan trọng đối với Trung Quốc. Nếu thiếu đối trọng này, yếu tố hải quân Mỹ sẽ trở thành vấn đề lớn đối với Bắc Kinh.

Cần phải hiểu, nếu không giải quyết các vấn đề lãnh thổ nêu trên giữa các bên liên quan, thì về nguyên tắc sẽ không đạt được bất cứ sự phát triển kinh tế nào. Sớm hay muộn, một nền kinh tế như vậy sẽ rơi vào bế tắc. Do đó, thỏa hiệp với nhau là cách duy nhất thoát khỏi tình hình hiện nay, một tình hình mà có thể dẫn tới chiến tranh thế giới tại châu Á.

Theo quan điểm của mình, Nga luôn tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc pháp luật quốc tế, Công ước LHQ về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông và toàn bộ điều lệ trong các văn bản liên quan, cũng như hỗ trợ thúc đẩy quá trình soạn thảo Bộ Quy tắc ứng xử có giá trị pháp lý bắt buộc tại Biển Đông.

Nga hiểu rằng các văn bản pháp lý, đáng tiếc, không phải lúc nào cũng giải quyết tình hình thực tế. Chính vì vậy, các văn bản cần được hoàn thiện bởi quốc gia uy tín, có thể kiểm soát việc tuân thủ và thực hiện. Rõ ràng, Nga có phẩm chất này. Có nghĩa là Nga có thể củng cố vai trò và uy tín tại khu vực khi xây dựng hình thức hợp tác cụ thể với Việt Nam, nếu không, các sự cố sẽ xảy ra thường xuyên hơn đối với các công ty khai thác Nga – Việt tren Biển Đông như những gì xảy ra với Rosneft cách đây không lâu.

Các nhà tự do cấp tiến, bao gồm cả ở Nga cố gắng thuyết phục cộng đồng về việc kinh tế phải đi trước chính trị. Tuy nhiên, thực tế thì không vậy. Bởi vì nếu không giải quyết các vấn đề chính trị thì kinh tế không thể phát triển tối đa. Và nếu chúng ta nói về việc thúc đẩy hợp tác giữa Nga – Việt, sự hiện diện của Nga tại châu Á nói chung thì cần phải xóa bỏ những cản trở không thể tránh khỏi trong công cuộc này.

Hy vọng rằng, với các đối tác lâu năm như Việt Nam và các thành viên khác trong khu vực kinh tế đang phát triển châu Á, các vấn đề hiện tại sẽ được giải quyết trên cơ sở cùng có lợi./.

          Grigory Trofimchuk – chuyên gia trong lĩnh vực chính sách đối nội – đối ngoại, quốc phòng và an ninh; hiện là Chủ tịch Hội đồng chuyên gia thuộc Quỹ hỗ trợ nghiên cứu khoa học “Ý tưởng Á – Âu” (Nga).

          Bài viết trên được đăng trên báo điện tử của hãng thông tấn Realist của Nga ngày 12/8/2019.

Loading

Views: 0