Các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương của G20 họp vào thứ Tư 20.4 tại Washington trong bối cảnh triển vọng tăng trưởng toàn cầu xấu đi. Hiện lãi suất có khả năng tăng cao ở Mỹ khi Cục Dự trữ Liên bang đẩy mạnh chống lạm phát – một việc có nguy cơ đẩy nền kinh tế vào suy thoái. Châu Âu đang vật lộn với giá năng lượng cao, vốn sẽ còn tăng nếu EU hạn chế nhập khẩu dầu từ Nga. Trong khi đó Trung Quốc kiên trì chiến lược “zero covid” với các đợt phong tỏa đầy tốn kém nhằm ngăn chặn biến thể Omicron bùng nổ.
Ngoài các vấn đề kinh tế và tài chính, G20 cũng phải thảo luận về Nga. Anton Siluanov, bộ trưởng tài chính của Nga, được cho là tham dự online. Hồi đầu tháng bộ trưởng tài chính Mỹ Janet Yellen đã tuyên bố Nga nên bị trục xuất khỏi G20 — và Mỹ dự kiến tẩy chay họp nếu Nga tham dự.
Sau hàng loạt động thái tăng cường sức mạnh không quân ở Biển Đông, Trung Quốc tiếp tục thêm bước mới khi điều động chiến đấu cơ thế hệ 5 tàng hình J-20 đến vùng biển này.
Tờ Hoàn Cầu thời báo mới đây đưa tin Trung Quốc đã bắt đầu triển khai chiến đấu cơ thế hệ 5 tàng hình J-20 tập luyện và tuần tra ở Biển Đông, biển Hoa Đông.
Chiến đấu cơ J-20 trong một lần xuất hiện CHINAMIL.COM.CN
Diễn biến quan trọng
Trả lời Thanh Niên hôm qua (18.4), ông Greg Poling, Giám đốc chương trình AMTI – Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ), đánh giá: “Việc điều chiến đấu cơ J-20 tham gia huấn luyện và tuần tra trên Biển Đông từ các căn cứ ở miền nam Trung Quốc là một diễn biến quan trọng. Bởi J-20 là chiến đấu cơ thế hệ 5 tàng hình, nên về nguyên tắc thì chiếm ưu thế hơn các dòng chiến đấu cơ thế hệ 4 mà các nước quanh Biển Đông đang sử dụng dù đây là các lực lượng không quân tốt nhất ở Đông Nam Á”.
Ông Poling phân tích thêm: “Diễn biến này có lẽ tạo ra một thách thức lớn cho Việt Nam cũng như các nước có vị trí gần với các căn cứ mà Trung Quốc sẽ đồn trú J-20. Loại chiến đấu cơ này ban đầu có thể chủ yếu hoạt động ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, chứ chưa thể tiến về phía nam, ở khu vực quần đảo Trường Sa. Vì quá trình tiến về phía nam đòi hỏi các điều kiện tiếp nhiên liệu trên không hoặc phải cất hạ cánh ở các đường băng mà J-20 chưa được thử nghiệm ở Trường Sa”.
Từ năm 2016, các hình ảnh vệ tinh cho thấy Bắc Kinh đã xây dựng xong đường băng dài 3.000 m, nhà chứa máy bay cỡ lớn… ở 3 đảo nhân tạo Vành Khăn, Chữ Thập và Xu Bi nằm ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép. Sau khi hoàn thiện các hạ tầng vừa nêu, Bắc Kinh liên tục điều động các chiến đấu cơ, máy bay trinh sát và máy bay vận tải quân sự đến các đảo nhân tạo trên.
“Trung Quốc chưa hạ cánh J-20 trên các đường băng đó và có thể họ sẽ thử nghiệm như cách từng thử nghiệm với các dòng chiến đấu cơ cũ hơn là J-10 và J-11”, theo ông Poling.
Ý đồ của Bắc Kinh
Cũng trả lời Thanh Niên vào hôm qua, ông Carl O.Schuster (cựu Giám đốc bộ phận điều hành của Trung tâm tình báo hỗn hợp – Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của hải quân Mỹ và đang giảng dạy tại Đại học Hawaii về quan hệ quốc tế, lịch sử) nhận định Trung Quốc có 3 mục đích khi điều động chiến đấu cơ J-20 tuần tra ở Biển Đông.
“Về mặt chính trị và chiến lược, động thái trên báo hiệu chiến đấu cơ thế hệ 5 tàng hình của Trung Quốc có đủ số lượng để tiến hành các hoạt động chiến thuật quan trọng thường xuyên”, cựu đại tá Schuster đánh giá và phân tích thêm: “Về mặt quân sự, các chuyến bay cấu thành quá trình huấn luyện làm quen liên quan 2 yêu cầu hoạt động: Thứ nhất, các phi công đang bay qua các khu vực hoạt động tiềm năng trong tương lai, làm quen với điều kiện môi trường khu vực hoạt động được chỉ định và các điểm điều hướng chính; Thứ hai, các phi công Trung Quốc đang được huấn luyện thực tế các mô hình đối tượng trên không và trên biển; và vị trí, hình ảnh radar và dấu hiệu điện tử của các mục tiêu tiềm năng hiện diện trong khu vực mà Trung Quốc đang hoạt động”.
Theo ông, yêu cầu thứ 2 vừa nêu có ý nghĩa trực diện với những bên đang hiện diện ở vùng biển này, đặc biệt là quân đội Mỹ.
“Chỉ dấu chính trị của các chuyến bay sẽ có tác động chiến lược tức thì lớn nhất vì củng cố thêm lo ngại về các ý định trong tương lai của Trung Quốc ở Biển Đông, biển Hoa Đông và khu vực eo biển Đài Loan”, ông Schuster nhận xét thêm và dự báo: “Diễn biến trên cũng gây tác động lâu dài. Cả quân đội Mỹ và các bên trong khu vực đều dự báo từ sớm về động thái trên của Trung Quốc khi Bắc Kinh từ năm 2017 đã tuyên bố J-20 chính thức hoạt động. Vì thế, các nước trong khu vực tìm cách đẩy nhanh tiến độ nâng cấp phòng không, mở rộng huấn luyện phòng không và thay đổi biện pháp để đối phó mối đe dọa khi Trung Quốc triển khai J-20 đến Biển Đông”.
Chính thức biên chế cho không quân Trung Quốc từ năm 2017, J-20 được xem là dòng chiến đấu cơ hiện đại nhất của nước này, thuộc thế hệ thứ 5 và có khả năng tàng hình. Vì thế, đây là dòng chiến đấu cơ được Trung Quốc so sánh với các loại chiến đấu cơ thế hệ 5 tàng hình F-22 và F-35 của Mỹ hiện nay. Về kiểu dáng thiết kế, J-20 khá giống với F-22 nên nhiều chuyên gia cho rằng Trung Quốc đã “sao chép” chiến đấu cơ Mỹ.
Kể từ khi được biên chế đến nay, J-20 từng được Trung Quốc điều động đến khu vực gần biên giới với Ấn Độ vào năm 2020 sau khi quân đội 2 bên xảy ra đụng độ dẫn đến thương vong.
Trang News.com.au ngày 5-4 dẫn một báo cáo mới đây lo ngại rằng Úc đang “chợp mắt trong lúc cầm lái” trong bối cảnh Trung Quốc đang thúc đẩy kho vũ khí công nghệ cao, tên lửa tầm xa.
Lo ngại trên đến trong bối cảnh chính phủ Úc ngày 5-4 tiết lộ kế hoạch mới về đẩy nhanh việc xây dựng kho vũ khí tầm xa mới của nước này, đồng thời cảnh báo về nguy cơ xảy ra xung đột với Trung Quốc trong vòng “vài năm tới”.
Bộ trưởng Quốc phòng Úc – ông Peter Dutton. Ảnh: NCA NEWSWIRE
Theo báo cáo do Viện Chính sách Chiến lược Úc (ASPI) công bố hôm 5-4, Trung Quốc đang phát triển loạt tên lửa hành trình, theo đó có thể gây rắc rối cho lực lượng hải quân Úc và đồng minh.
Kho vũ khí công nghệ cao của Trung Quốc
Tiến sĩ Sam Goldsmith – tác giả của báo cáo – cho biết những vũ khí này, trong một số trường hợp, có thể di chuyển với tốc độ siêu thanh trước khi hạ gục mục tiêu.
“Thông thường, tên lửa hành trình chống hạm tiên tiến (ASCM) có tầm bắn xa và hệ thống dẫn đường tiên tiến và trong một số trường hợp có thể kết hợp các tính năng thiết kế tàng hình, mồi nhử và các biện pháp đối phó để hỗ trợ tên lửa thâm nhập thành công các hệ thống phòng không tinh vi” – TS. Goldsmith nhận xét.
Theo TS. Goldsmith, kể từ sau cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan 1995–1996, Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều vào quân đội.
“Trong hơn hai thập niên, quân đội Trung Quốc đã liên tục mua lại, phát triển và bí mật thu được các công nghệ và năng lực mới, gồm một loạt ASCM ngày càng tinh vi, chẳng hạn tên lửa hành trình chống hạm siêu thanh YJ-12 với có tầm bắn khoảng 400–537km” – vị tiến sĩ cho hay.
“Quân đội Trung Quốc cũng đầu tư vào năng lực duy trì các hoạt động tấn công trên biển bằng ASCM ngay cả trong trường hợp chiến đấu cường độ cao với một cường quốc công nghệ tiên tiến như Mỹ” – ông Goldsmith cho hay.
Theo đó, ông Goldsmith cho rằng những vũ khí trên sẽ gây ra bốn thách thức lớn cho lực lượng hải quân Úc và đồng minh: khó phát hiện và đánh chặn; có thể “làm bão hòa các hệ thống phòng không”, đánh chìm hoặc gây hư hại cho tàu và cuối cùng là chúng có thể bị các nhóm khủng bố như Hezbollah, vốn trước đây đã tiếp cận các công nghệ tàn phá, nắm giữ.
TS. Goldsmith nhận định hạm đội hiện tại của Hải quân Hoàng gia Úc khó có thể đối phó mối đe dọa từ các vũ khí mới hiện nay.
“Một mối quan tâm lớn hơn nữa là quân đội Úc không sở hữu năng lực tấn công tầm xa cần thiết để tham chiến đáng kể vào cuộc chiến khu vực có cường độ cao trước một đối thủ công nghệ tiên tiến và tinh vi” – ông Goldsmith cho hay.
Úc thúc đẩy vũ khí tầm xa
Theo News.com.au, trong tuần này có thông tin tiết lộ rằng các máy bay chiến đấu và tàu hải quân của Úc sẽ được trang bị tên lửa tấn công tầm xa mới trước thời hạn nhiều năm.
Phát biểu trên chương trình Today sáng 5-4, Bộ trưởng Quốc phòng Úc – ông Peter Dutton – nói rằng trên thực tế Úc đã không “chợp mắt” trong quá trình củng cố quốc phòng, đúng hơn là chính phủ đã làm “hết mức”.
“Thế giới đang thực sự bị sốc trước những gì xảy ra ở châu Âu – không ai có thể đoán trước được điều đó kể cả hai hoặc năm năm trước – và chúng tôi cũng rất lo lắng về những gì đang xảy ra ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” – vị bộ trưởng nhấn mạnh.
“Trung Quốc đang theo lộ trình trong mối quan hệ với Đài Loan. Họ đang tích lũy vũ khí hạt nhân. Chúng tôi muốn đảm bảo rằng đất nước của chúng tôi có năng lực ngăn chặn bất kỳ hành động nào chống lại Úc” – ông Dutton nói.
“Đó là một tình huống rất nghiêm trọng và thực tế, và chúng ta cần phải thực tế về những gì sẽ xảy ra trong vài năm tới hoặc thập niên tới” – vị bộ trưởng nói thêm.
Theo ông Dutton, Bắc Kinh hiện có 20 điểm hiện diện quân sự ở Biển Đông và quân đội Trung Quốc đang duy trì “số lượng lớn tàu” trong khu vực.
“Đây không phải là điều chúng ta nói về những năm 2040. Có nguy cơ xảy ra xung đột trong vài năm tới” – ông Dutton cảnh báo.
Liên quan các năng lực quốc phòng mới mà chính phủ Úc đã công bố, các tàu và máy bay phản lực của Úc sẽ được trang bị tên lửa có thể tấn công các mục tiêu cách xa tới 900 km.
Chính phủ Úc cho biết sẽ tiếp nhận tên lửa trang bị cho máy bay phản lực trước kế hoạch ba năm và tên lửa cho hải quân trước năm năm.
Phát biểu trên kênh 7news sáng 5-4, ông Dutton cũng cho biết Úc sẽ tiếp nhận các tàu ngầm chạy bằng năng lượng sớm hơn nhiều so với dự kiến, theo đó chiếc đầu tiên dự kiến sẽ hạ thủy vào cuối những năm 2030.
Cơ chế hợp tác 3 bên Nga, Trung Quốc, Ấn Độ được kỳ vọng tạo ra tam giác chiến lược
Cộng hoà Ấn Độ là quốc gia ở Nam Á, sở hữu vũ khí hạt nhân, lớn thứ 7 về diện tích và dân số đứng thứ 2 trên thế giới với 1,38 tỷ người. Về địa lý, phía Nam là Ấn Độ Dương, Tây Nam biển Ả Rập và Đông Nam vịnh Bengal, biên giới đất liền phía Tây giáp Pakistan, Đông Bắc giáp Trung Quốc, Nepal và Bhutan và phía Đông là Myanmar cùng Bangladesh. Về kinh tế Ấn Độ đang đứng thứ 6 trên thế giới sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Đức và Vương quốc Anh. Theo dự báo của HIS Markit, tăng trưởng GDP của Ấn Độ sẽ đạt 8,4 ngàn tỷ USD vào năm 2030 vượt qua Nhật Bản đứng thứ 2 sau ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và nền kinh tế sẽ có qui mô vượt qua các nền kinh tế lớn ở Tây Âu là Đức, Pháp và Anh để được xếp thứ 3 trên thế giới.
Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là quốc gia ở Đông Á, sở hữu vũ khí hạt nhân, lực lượng quân nhân thường trực đông nhất thế giới và chi phí quân sự đứng thứ 2, có tổng diện tích lục địa lớn thứ 4 và đông dân nhất thế giới với trên 1,4 tỷ người. Trung Quốc có đường biên giới chung với 14 quốc gia bao gồm: Nga, Triều Tiên, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikstan, Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Myanmar, Lào và Việt Nam, phía Đông là bờ biển trải dọc theo Thái Bình Dương dài 14.500 km, giáp với các biển Bột Hải, Hoàng Hải, Hoa Đông và Biển Đông. Nền kinh tế của Trung Quốc hiện đứng thứ 2 thế giới sau Mỹ với GDP 2021 là 16.64 nghìn tỷ USD. Dự báo đến năm 2028 GDP danh nghĩa của Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ và trở thành cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới.
Cộng hoà Liên bang Nga, là quốc gia sở hữu lượng vũ khí hạt nhân nhiều nhất thế giới với 5.977 đầu đạn hạt nhân. Nga nằm phía Bắc lục địa Á – Âu và có diện tích lớn nhất thế giới với số dân 146 triệu người. Từ Tây Bắc đến Đông Nam Nga có chung biên giới đường bộ với Na Uy, Phần Lan, Estonia, Latvia, Litva, Ba Lan, Belarus, Ukraina, Gruzia, Azerbaijan, Kazakhstan, Trung Quốc, Mông Cổ và Bắc triều Tiên. Nước này có biên giới đường biển với Nhật Bản qua biển Okhotsk, với Thổ Nhĩ Kỳ qua Biển Đen, với Mỹ qua eo biển Bering, Canada qua Bắc Băng Dương. Nga có diện tích rừng lớn nhất thế giới, chiếm 25% trữ lượng nước ngọt không đóng băng trên trái đất, có trữ lượng khoáng sản và năng lượng lớn nhất thế giới, được coi là siêu cường năng lượng. Tuy nhiên, nền kinh tế của Nga chỉ được xếp hạng thứ 11.
Việc Nga mở „chiến dịch quân sự đặc biệt“ xâm lược Ukraine đã làm dấy lên làn sóng chống Nga mạnh mẽ trên toàn thế giới, khiến nước này bị cộng đồng quốc tế cô lập ở mức chưa từng có trong tiền lệ. Tuy vậy, có hai cường quốc rất quan trọng công khai hành động ngược lại, thậm chí âm thầm hỗ trợ Nga đó là Trung Quốc và Ấn Độ. Không ngạc nhiên là Trung Quốc đã từ lâu cùng với LB Nga cấu kết với nhau tạo thành một „trục ma quái“ và nay có khả năng chuyển đổi sang một cấu trúc mới trong quan hệ quốc tế (?); bất ngờ lớn lại chính là Ấn Độ – nước được xem là dân chủ và yêu chuộc hòa bình. Ý thức chung của cả 3 nước Nga-Trung-Ấn là đều không muốn làm „chư hầu“của Mỹ.
Từ khi chiến tranh Ukraine bùng nổ, Ấn Độ là một trong số ít cường quốc đã không lên án cuộc xâm lược của Nga. Hơn thế, Ấn Độ cũng đang hỗ trợ kinh tế cho Nga môt cách đáng kể bằng cách mua một lượng lớn dầu của Nga. Theo thông tin, lượng dầu thô mà Ấn Độ mua từ Nga tiếp tục tăng, kể từ tháng 3 đến nay có khoảng 6 triệu thùng dầu đã được chuyển đến Ấn Độ, tương đương 50% trong tổng số 12 triệu thùng được giao trong cả năm 2021. Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergey Lavrov ngày 1/4 đã có chuyến thăm đặc biệt tới Ấn Độ và ca ngợi vị thế của Ấn Độ, gọi “Ấn Độ là bạn của Nga”. Nga hy vọng rằng Ấn Độ có thể hợp tác sâu hơn trong các giao dịch hàng hóa thông qua hệ thống trao đổi thông tin tài chính của hai nước, nhằm vượt qua các loại tiền tệ như USD và Euro để qua đó phá vỡ các lệnh trừng phạt kinh tế của phương Tây.
Đã từ lâu Ấn Độ đã luôn tìm cách thiết lập vị thế độc lập trong ngoại giao, còn trong xây dựng quân đội thì vẫn nhập khẩu các sản phẩm quân sự. Nga là nhà cung cấp thiết bị quốc phòng lớn nhất của Ấn Độ. Đối với một nước đang mong muốn mở rộng sức mạnh kinh tế như Ấn Độ, việc tận dụng cơ hội mua dầu mỏ, vũ khí và các mặt hàng khác của Nga với giá rẻ cũng là vì lợi ích quốc gia của mình. Ngoài ra, Ấn Độ đã không hài lòng về việc Mỹ lâu nay hỗ trợ Pakistan và hạn chế Ấn Độ trong việc phát triển vũ khí hạt nhân, bao gồm cả việc Mỹ rút khỏi Afghanistan. Đó cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thái độ của Ấn Độ trong thời điểm này.
Mối quan hệ Nga – Trung luôn được nhắc đến bằng những mỹ từ “đang nồng ấm” và “chưa từng có” và gần đây hai nước hứa sẽ duy trì “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện”. Các nhà lãnh đạo của hai nước ngày càng trở nên thân thiết hơn, gặp nhau hơn 30 lần kể từ năm 2013.
Một liên minh Nga – Trung đã hình thành trong những năm gần đây với 3 mục đích chính là:
kìm hãm ảnh hưởng của Mỹ,
giảm giá dầu và
mở rộng quan hệ thương mại.
Sau khi sáp nhập Crimea, các biện pháp trừng phạt của phương Tây đã đẩy Nga xích lại gần Trung Quốc. Thương mại Nga – Trung đã tăng gấp đôi, lên 108 tỷ USD. Ngân hàng Trung ương Nga tăng dự trữ tiền tệ của Trung Quốc từ dưới 1% lên trên 13% và Trung Quốc vượt qua Đức trở thành nhà cung cấp chính về công nghệ và hoạt động của nhà máy công nghiệp tại Nga. Về phần mình, Nga đã rất cân nhắc trong các tuyên bố của mình về các vấn đề nhạy cảm nhất đối với Bắc Kinh như, triển khai mạng 5G của Huawei, vấn đề Hong Kong, vấn đề Đài Loan, Covid-19 và ngay cả những đòi hỏi vô lý trên Biển Đông theo đường lưỡi bò…
Tưởng chừng như nồng ấm, nhưng thực tế mối quan hệ Nga – Trung đã bắt đầu xuất hiện những rạn nứt, mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn. Nền móng xây dựng mối quan hệ cũng không vững chắc mà ngày càng trở nên lung lay hơn. Điều đó bắt nguồn từ sự xung khắc về lịch sử liên quan đến vùng Vladivostok, từ các hợp đồng vũ khí Nga bán cho Ấn Độ, và cả việc Nga trì hoãn chuyển giao hệ thống tên lửa S-400 cho Bắc Kinh.
Những bất đồng về Vladivostok đã khiến dư luận Trung Quốc phản ứng dữ dội khi đại sứ quán Nga đăng tải video kỷ niệm 160 năm thành lập thành phố. Một số người Trung Quốc cho rằng, Bắc Kinh nên phản ứng với bài đăng bằng cách đưa ra lập trường về vấn đề Crimea, bởi vốn dĩ Trung Quốc vẫn giữ quan điểm trung lập kể từ năm 2014. Sự việc chỉ là một trong những dấu hiệu thực tế cho thấy các tranh cãi về lãnh thổ vẫn chưa dừng lại và đang trở thành rào cản trong mối quan hệ Nga – Trung.
Trung Quốc và Ấn Độ ủng hộ Nga, xem bề ngoài thì dường như là cục diện liên minh 3 nước, nhưng trò “tam quốc diễn nghĩa” này thực sự phức tạp hơn nhiều. Trước hết, Ấn Độ ủng hộ Nga nhưng không có nghĩa là Ấn Độ sẽ trở thành đồng minh của Trung Quốc. Từ lâu, Ấn Độ đã công khai rằng chừng nào còn các vấn đề về lãnh thổ thì quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ sẽ không được cải thiện. Trong khi ủng hộ Nga, Ấn Độ vẫn tham gia vào „diễn đàn chiến lược 4 nước, còn gọi là Đối thoại Tứ giác An ninh hay Tứ giác kim cương gồm: Mỹ-Ấn Độ-Nhật Bản-Úc“ chống lại Trung Quốc do Mỹ dẫn đầu. Ngoại trưởng Ấn Độ Jaishankar đã nói rõ về các nguyên tắc đối ngoại của Ấn Độ rằng, một trong những thách thức chính của Ấn Độ là “sự trỗi dậy của một Trung Quốc hung hăng hơn”. Gần đây, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã đến thăm Ấn Độ, muốn nhân cơ hội lôi kéo Ấn Độ nhưng e rằng chỉ uổng công.
Điều đáng để quan sát hơn là thái độ của Nga. Nga nhận thức rõ về cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng như những mâu thuẫn không thể hòa giải về vấn đề lãnh thổ của họ, nhưng Nga chưa bao giờ chọn một bên giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Một câu hỏi đáng chú ý: Giả sử xảy ra xung đột quy mô lớn giữa Trung Quốc và Ấn Độ thì Nga sẽ đứng về phía nào? Việc Nga lâu nay giúp Ấn Độ tăng cường sức mạnh quân sự thực sự đe dọa lợi ích của Trung Quốc, điều này làm cho mối quan hệ “tam quốc diễn nghĩa” giữa Trung Quốc, Nga và Ấn Độ ngày càng trở nên phức tạp hơn.
Tóm lại, Trung Quốc có khuynh hướng thân Nga về vấn đề chiến tranh Nga-Ukraine, toan tính xây dựng liên minh Trung – Nga chặt chẽ để cùng đối phó với phương Tây do Mỹ dẫn đầu. Nhưng người ta vẫn nghi ngờ liệu Nga và Putin thực sự có thiện chí đáp lại sự ủng hộ của Trung Quốc hay không. Trong thực tế cho thấy, Nga chưa bao giờ yên tâm về Trung Quốc, hy vọng dùng Ấn Độ để cân bằng và kiềm chế Bắc Kinh, nhằm ngăn chặn mối đe dọa lợi ích của mình. Về cuộc chiến Nga-Ukraine này, nhìn bề ngoài thì có vẻ cho thấy Trung Quốc, Nga và Ấn Độ đoàn kết trong cùng một chiến tuyến, nhưng những liên minh như vậy đều có nền tảng dựa trên những lợi ích cụ thể chứ không có bất kỳ sự gắn kết ý thức hệ nào.
Trong khủng hoảng tại châu Âu lần này thì sự kết hợp của ba nước Nga-Trung-Ấn có thể hình dung bằng thuật ngữ “đồng sàng dị mộng”!
Tuy nhiên, một Liên minh kinh tế giữa Nga và Trung Quốc sẽ là mối đe doạ đến vị thế của Mỹ trong tương lai, điều làm phương Tây rất lo ngại và chắc chắn họ sẽ điều chỉnh chiến lược của mình nhằm đối phó với sự chuyển động từ „đơn cực“ sang „đa cực“.
Bắc Kinh liên tục có các đợt tập trận kéo dài ở Biển Đông gần đây. Các cuộc tập trận này chia thành hai đợt: đợt 1 từ ngày 4 đến 15-3 và đợt 2 từ ngày 19-3 đến 9-4. Khu vực tập trận trong 2 đợt này nằm ở giữa tỉnh Hải Nam và Việt Nam.
Tàu chiến Trung Quốc trong một cuộc tập trận ở Biển Đông – Ảnh: TÂN HOA XÃ
Một số ý kiến cho rằng Bắc Kinh đang tận dụng việc thế giới dồn sự tập trung vào tình hình ở Ukraine để tranh thủ phô trương sức mạnh ở Biển Đông.
Tập trận cả ngày lẫn đêm
Nhận định về các cuộc tập trận kéo dài gần đây của Trung Quốc, giáo sư Carl Thayer – Học viện Quốc phòng Úc – cho rằng các cuộc tập trận phức tạp đã được lên kế hoạch từ trước và phục vụ một số mục đích như đào tạo, tích hợp các nền tảng và công nghệ mới, để liên kết giữa các lực lượng như hải quân và không quân.
Theo chuyên gia người Úc, các cuộc tập trận của hải quân và không quân Trung Quốc từ ngày 4 đến 15-3 bao gồm các cuộc tập trận không quân phức tạp. Lực lượng không quân Trung Quốc đã tập trận cả ngày lẫn đêm với nhiều loại máy bay chiến đấu và thực hiện nhiệm vụ từ các căn cứ không quân trong khoảng 20 giờ.
“Bức tranh toàn cảnh cho chúng ta thấy rằng Trung Quốc và Mỹ là đối thủ chiến lược và đang tham gia một vòng xoáy hành động và “trả đũa” ở Biển Đông. Nói cách khác, mỗi bên phản ứng lại các hoạt động quân sự của bên kia”, giáo sư Thayer nhận định.
Ông Thayer cho rằng các cuộc tập trận quân sự được thiết kế để chứng minh khả năng cụ thể và quyết tâm chống lại sức mạnh hải quân của đối thủ. Các cuộc tập trận vào ban đêm và rạng sáng của họ là để đáp ứng thời điểm của các hoạt động không quân của đối thủ.
Theo một nhà nghiên cứu tại viện nghiên cứu khoa học và công nghệ quân sự ở Bắc Kinh, “lịch trình huấn luyện mới nhằm đáp ứng các hoạt động của máy bay và tàu chiến Mỹ, luôn diễn ra từ nửa đêm đến 2h sáng”, ông Thayer dẫn chứng.
Ngoài ra, có thể suy đoán rằng thời điểm được chọn là trước cuộc tập trận Balikatan thường niên giữa Philippines và Mỹ – một trong những cuộc tập trận lớn nhất trong những năm gần đây, giáo sư Thayer trả lời Tuổi Trẻ.
Ngoài hai đợt tập trận nêu trên, báo South China Morning Post đưa ra số thống kê đáng chú ý: Trung Quốc đã tiến hành gần 100 cuộc tập trận ban đêm trong năm 2021 so với chỉ 30 cuộc trong năm 2020.
Bình luận về các động thái này của Trung Quốc, ông Hoàng Việt, Trường ĐH Luật TP.HCM, cho rằng có thông tin cho biết Trung Quốc đã liên tục đưa ra các thông báo tập trận từ ngày 19-3 tới nay là để tìm kiếm một chiếc máy bay quân sự của họ đã bị rơi ở đây trong lúc tập trận. Tuy nhiên, việc kéo dài hoạt động tập trận cho dù máy bay đã được tìm thấy cho thấy Trung Quốc có thể có những ý đồ khác ở đây.
“Trước tình hình chiến sự căng thẳng ở Ukraine khiến cả thế giới tập trung vào đây, sẽ có thể dẫn đến sự lơ là ở Biển Đông. Trong bối cảnh đó, có những lo ngại rằng Trung Quốc sẽ tìm cách gia tăng các vị trí và ảnh hưởng của họ ở Biển Đông”, ông Việt nhận định.
Phô trương sức mạnh
Ông Murray Hiebert, chuyên gia cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) tại Mỹ, nhận định Trung Quốc dường như muốn chứng tỏ rằng nước này không bị đe dọa bởi việc điều các tàu chiến qua lại khu vực tranh chấp ở Biển Đông của Mỹ, Nhật, Anh… cuối năm ngoái. Ngoài ra, cuộc khủng hoảng ở Ukraine có thể là một nguyên do ảnh hưởng đến quyết định của Trung Quốc về thời điểm tập trận.
Nhắc đến việc Trung Quốc đã điều các máy bay chiến đấu J-11B mới nhất tham gia các cuộc tập trận, chuyên gia của CSIS đánh giá động thái này được xem như nhằm phô trương các công nghệ quân sự mới của Bắc Kinh.
Ông Thayer cũng nhìn nhận một loạt động thái của Trung Quốc ở Biển Đông thời gian vừa qua là nỗ lực tuyên truyền của Trung Quốc, nhằm chứng minh lực lượng không quân của họ hiện đại và tinh vi đến mức nào.
Đồng ý với nhận định chiến dịch quân sự của Nga tại Ukraine hiện là ưu tiên hàng đầu đối với chính quyền Tổng thống Biden, song giáo sư Thayer cho rằng chính quyền Biden sẽ không giảm nhẹ sự can dự với khu vực Đông Nam Á hoặc mối quan tâm với Biển Đông.
Ông Murray Hiebert cho rằng vừa qua Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN đã hoãn lại nhưng nguyên nhân chủ yếu là các nước chưa thống nhất về vấn đề thời điểm tổ chức. Ông cũng nhận định Mỹ sẽ không xem nhẹ vấn đề Biển Đông vì tình hình Ukraine.
Bình luận về thông tin Trung Quốc đã quân sự hóa hoàn toàn 3 thực thể gồm: đá Vành Khăn, đá Subi và đá Chữ Thập ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, ông Hiebert cho rằng thông tin này không mới.
“Các thực thể mà Trung Quốc quân sự hóa trái phép đã được nước này sử dụng để tiến hành quấy rối hoạt động khai thác dầu khí và khí đốt ngoài khơi phía nam Việt Nam, Malaysia và Indonesia”, ông Murray Hiebert nói.
Việc chính phủ Trung Quốc ban hành chính sách thúc đẩy nghiên cứu, chế tạo phương tiện tự hành cũng như những thành công bước đầu của các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực này sẽ khiến cho cục diện Biển Đông càng trở nên phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh quy định của luật pháp quốc tế vẫn còn nhiều “lỗ hổng” quanh khái niệm này.
Bảng: Hình ảnh các mẫu tàu không người lái tiêu biểu ở Trung Quốc
Tàu tự hành (“tàu không người lái”) không phải là một khái niệm mới xuất hiện, song ở khu vực Biển Đông, ứng dụng công nghệ này mới chỉ đang ở giai đoạn đầu phát triển. Trong đó, Trung Quốc hiện là nước tập trung cao độ vào việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ không người lái vào các hoạt động quân sự và dân sự trên biển.
Điều đáng quan ngại là, kế hoạch này được đặt trong tổng thể tham vọng hiện thực hóa chiến lược “Cường quốc biển”, Kế hoạch “Made in China 2025”, và mục tiêu đẩy mạnh khoa học, công nghệ kỹ thuật cao được Trung Quốc đề ra trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 mới thông qua tháng 3/2021 vừa qua. Việc chính phủ Trung Quốc ban hành chính sách thúc đẩy nghiên cứu, chế tạo phương tiện tự hành cũng như những thành công bước đầu của các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực này sẽ khiến cho cục diện Biển Đông càng trở nên phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh quy định của luật pháp quốc tế vẫn còn nhiều “lỗ hổng” quanh khái niệm này.
Tàu không người lái: khái niệm, phân loại và mục đích sử dụng
“Tự hành” về cơ bản là khả năng một cỗ máy có thể tự cảm nhận và phản ứng với môi trường xung quanh khi thực hiện nhiệm vụ đã được định sẵn. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các hệ thống tự hành đã được ứng dụng vào các loại phương tiện từ robot, xe hơi, máy bay, tàu thuyền,… Do đó, “tàu tự hành” là một loại phương tiện ứng dụng hệ thống tự hành trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về các phương tiện tự hành nói chung và tàu tự hành nói riêng. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng ta có thể rút ra được những đặc điểm chung của các phương tiện tự hành là: (i) là các thiết bị có khả năng tự vận hành mà không cần con người điều khiển trực tiếp; (ii) nguyên tắc xử lý thông tin gồm quan sát môi trường xung quanh, thu thập thông tin từ bộ phận cảm biến, đánh giá các hướng hành động để lựa chọn và cuối cùng là triển khai lựa chọn đó; (iii) có thể có con người điều khiển từ xa hoặc không cần sự can thiệp của con người mà dựa trên nguyên tắc đã được lập trình sẵn.
Về cách phân loại, theo Giáo sư Raul Pete Pedrozo, tàu tự hành được chia thành tàu không người lái trên mặt biển (unmanned surface vehicles, USV) và tàu không người lái dưới mặt biển (unmanned underwater vehicles, UUV). Đồng quan điểm này, Nhật Bản và Trung Quốc cũng chia tàu không người lái thành loại hoạt động trên mặt biển và loại hoạt động ngầm dưới mặt biển.
Về chức năng, nhiệm vụ, theo phân tích của Trung Quốc, hiện nay các nước sử dụng thiết bị không người lái trên biển cho mục đích quân sự chiếm đến 70%, còn những mục đích dân sự chỉ chiếm 30%.
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược phát triển điện tử Hàng Thiên Trung Quốc
Riêng với khu vực Biển Đông, theo Giáo sư Raul Pete Pedrozo, tàu tự hành chủ yếu được sử dụng để phục vụ các mục đích (i) tình báo, do thám, trinh sát và giám sát Biển Đông; (ii) nghiên cứu khoa học như thiết lập các hệ thống cảm biến đáy biển, vẽ bản đồ và khảo sát đáy biển thông qua các hoạt động khảo sát thủy văn.
Nghiên cứu chế tạo tàu thuyền không người lái là một nhiệm vụ trọng điểm của Trung Quốc hiện nay
So với các nước phát triển như Mỹ, Nga, Nhật,… ngành công nghiệp thiết bị không người lái trên biển của Trung Quốc phát triển sau khá lâu nhưng tốc độ tăng trưởng lại rất nhanh trong thời gian gần đây. Theo học giả Trung Quốc, đến tháng 7/2008, nước này mới bắt đầu cho nghiên cứu triển khai chiếc tàu không người lái đầu tiên phục vụ công tác dự báo khí tượng trên biển.
Tuy nhiên sau đó, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế tạo tàu không người lái ở Trung Quốc lại tăng rất nhanh. Đặc biệt từ năm 2016, nhận thấy xu hướng phát triển nhanh chóng của các thiết bị tự hành dẫn đến sự thay đổi cán cân lực lượng nếu không bắt kịp xu thế, Trung Quốc đã bắt đầu tập trung chú trọng vào lĩnh vực này. Tại văn bản chỉ đạo “Kế hoạch hành động ba năm nhằm phát triển trí tuệ nhân tạo kết hợp với internet” năm 2016 của Quốc vụ viện Trung Quốc xác định rõ “nghiên cứu chế tạo tàu thuyền không người lái là một nhiệm vụ trọng điểm của Trung Quốc”.
Ngày 27/12/2018, Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin, Bộ Giao thông vận tải, Cục Khoa học và công nghệ Quốc phòng Trung Quốc đã phối hợp ban hành “Kế hoạch hành động phát triển tàu thông minh giai đoạn 2019-2021” trong đó chỉ ra rằng, “tàu thông minh” đang ở trong giai đoạn đầu nghiên cứu và phát triển ở các nước trên thế giới. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc “cần đẩy nhanh sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo tàu thông minh nhằm hướng tới vị trí dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực này”. Trong kế hoạch này, Trung Quốc xác định lộ trình 3 năm từ năm 2019 đến năm 2021 là giai đoạn để Trung Quốc hoàn tất việc xây dựng kế hoạch từ cấp cao nhất, đồng thời bước đầu thiết lập hệ thống tiêu chuẩn cho tàu thông minh trong đó bao gồm tàu không người lái.
Tiếp theo đó, ngày 9/5/2019, Bộ Giao thông vận tải và 7 Cục liên quan của Trung Quốc đã phối hợp ban hành “Ý kiến chỉ đạo về phát triển vận tải biển thông minh”, trong đó đã xây dựng lộ trình nhằm phát triển tàu tự hành ở Trung Quốc. Các bước cụ thể được đặt ra như sau:
– Đến cuối năm 2020: Trung Quốc cơ bản hoàn thành khung xây dựng kế hoạch phát triển của phương tiện vận hành thông minh;
– Đến năm 2025: chế tạo thành công các phương tiện tự vận hành và trở thành trung tâm công nghệ sáng tạo phát triển phương tiện vận tải thông minh toàn cầu;
– Đến năm 2035: từng bước hình thành hệ thống vận tải thông minh;
– Đến năm 2050: Hoàn thiện và đi vào vận hành hệ thống vận chuyển thông minh chất lượng cao trên toàn cầu.
Về lộ trình cụ thể trong giai đoạn hiện nay, ngày 30/4/2020, Vụ Công nghiệp Thiết bị và Công nghệ thông tin, Bộ Giao thông vận tải Trung Quốc, đã ban hành “Hướng dẫn xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tàu thông minh” trong đó xác định cụ thể hơn về nhiệm vụ hiện nay của Trung Quốc, theo đó, giai đoạn đầu tiên là từ năm 2020-2021, Trung Quốc sẽ tập trung vào hình thành các tiêu chuẩn cơ bản về tàu thông minh như khái niệm, phân loại, công nghệ được ứng dụng, quy định về thiết kế, tiêu chuẩn thử nghiệm, kiểm định,,…; giai đoạn 2 là từ năm 2022-2025, Trung Quốc sẽ ứng dụng các công nghệ vào chế tạo tàu không người lái, đồng thời ban hành các quy định về quản lý, vận hành.
Như vậy, từ các văn bản, chính sách quy định và hướng dẫn có thể thấy, hiện nay Trung Quốc đang rất coi trọng việc nghiên cứu, chế tạo và phát triển tàu không người lái, đây là một kế hoạch được đầu tư kỹ lượng với lộ trình bài bản và sự tham gia của nhiều bộ ban ngành cũng như các doanh nghiệp và viện nghiên cứu của Trung Quốc.
Từ chính sách đến triển khai hành động trên thực tế và kết quả đạt được
Với chính sách thúc đẩy như phân tích bên trên của chính quyền trung ương, tốc độ sản xuất tàu tự hành của các doanh nghiệp Trung Quốc đã tăng nhanh chóng trong thời gian gần đây. Theo báo cáo của Trung Quốc, năm 2014 nước này mới chỉ có 89 chiếc tàu không người lái, song đến năm 2019, Trung Quốc đã sản xuất được 1508 chiếc, tăng khoảng 15 lần so với năm 2014.
Bảng: Số lượng tàu không người lái được sản xuất ở Trung Quốc (Đơn vị: chiếc)
Nguồn: Báo cáo nghiên cứu tình hình thị trường sản xuất và tiêu thụ tàu không người lái ở Trung Quốc giai đoạn 2021-2027
Hiện nay, những đơn vị nghiên cứu chế tạo về tàu không người lái chủ yếu ở Trung Quốc gồm các trường đại học, cao đẳng như Đại học Công trình Duy Ngô Nhĩ , Đại học Thượng Hải, Đại học Hải dương Thượng Hải, Đại học Hải dương Đại Liên; một số viện nghiên cứu như Viện Nghiên cứu tự động hoá Thẩm Dương (Viện Khoa học Trung Quốc) và một số doanh nghiệp liên quan như Công ty Hàng Thiên Thẩm Dương, Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật trí tuệ năng lực Vân Châu (Chu Hải),… Các đơn vị này đã chế tạo thành công và đi vào vận hành một số tàu tự hành tiêu biểu dưới đây:
Tên/ số hiệu
Tính năng
Nhiệm vụ
Đơn vị chế tạo
天象 1 号/Tian Xiang 1 (Thiên Tượng)
Mỗi lần tác nghiệp được khoảng 20 ngày liên tục; hành trình đạt khoảng hàng trăm km
Ứng phó với các sự cố khẩn cấp trên biển, giám sát môi trường biển, cảnh báo thiên tai,…
Đây là chiếc tàu không người lái trên mặt biển đầu tiên của Trung Quốc được vận hành ứng dụng trên thực tế vào lĩnh vực khí tượng thuỷ văn, do Công ty con Tân Quang của Công ty Hàng Thiên Thẩm Dương nghiên cứu và chế tạo
精海/ Qing Hai (Thanh Hải)
Vận tốc tối đa là 18 hải lý/giờ; độ bền tối đa là 120 hải lý, trọng lượng chở đại 2,3 tấn
Thăm dò môi trường nước, đo lường biển, khảo sát thuỷ văn
Đại học Thượng Hải
“Seafly01
Chiều dài 10,25 mét, tốc độ 45 hải lý / giờ và tầm hoạt động 400 km.
Giám sát bờ biển
Công ty TNHH Công nghệ điều khiển Sifang Intelligent (Vũ Hán) phát triển
海腾 01 号/ Hai Teng 1 (Hải Đằng)
–
Tuần tra biển, đo đường biển, kiểm soát và khắc phục sự cố tràn dầu, cứu hộ cứu nạn trên biển, thăm dò và tìm kiếm tàu
Đại học Hải dương Thượng Hải
“领航者” 号海洋测 绘船/ tàu khảo sát đại dương “Ling Hang Zhe”
–
Giám sát bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, lập bản đồ dưới nước, tìm kiếm cứu nạn, tuần tra biển, cứu hộ trên biển
Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật trí tuệ năng lực Vân Châu sản xuất
Đo lường địa chất đáy biển, khảo sát biển, tìm kiến cứu nạn trên biển
Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật trí tuệ năng lực Vân Châu sản xuất
Ở Biển Đông, theo nghiên cứu của Trung Quốc, nước này đã triển khai các loại tàu sau: (i) tàu không người lái cỡ nhỏ hoạt động độc lập; (ii) tàu không người lái cỡ trung bình hoạt động tương tác và (iii) tàu không người lái hoạt động tập thể. Cụ thể:
(i) Tàu không người lái cỡ nhỏ. Tháng 4/2016, Trung Quốc đã cho vận hành tàu không người lái cỡ nhỏ quanh 4 thực thể ở Biển Đông nhằm khảo sát địa chấn (hình ảnh bên dưới). Chiếc tàu này dài 2,5m rộng 1,4m, cao 0,6m và nặng 120kg, độ mớn nước là 0,5m. Trong quá trình khảo sát chiếc tàu không người lái này vận hành với tốc độ 4,5-5,5 hải lý/giờ. Những vùng mà tàu này hoạt động có độ sâu không quá 40m và có cả những thực thể rất nông, đây là địa hình những tàu lớn không thể hoạt động được tuy nhiên những tàu không người lái do Trung Quốc chế tạo lại hoạt động rất tốt, đây được coi là thế mạnh của những tàu không người lái mà Trung Quốc đang triển khai.
Hình ảnh: tàu không người lái cỡ nhỏ được hoạt động ở Biển Đông vào tháng 4/2016
(ii) Về tàu không người lái cỡ trung bình trên Biển Đông, theo báo cáo của Trung Quốc, vào tháng 9/2016, Trung Quốc đã triển khai 2 chiếc tàu cỡ trung bình hoạt động ở ven các đảo mà Trung Quốc đang quân sự hóa nhằm thực hiện công tác đo đạc địa chất và những công việc tổng hợp khác (hình bên dưới). Hai chiếc tàu không người lái này một chiếc dài 5,65m; rộng 2,4m; cao 2,9m; nặng 1,1 tấn và một chiếc dài 6,28m; rộng 2,86m; cao 3,3m; nặng 2,6 tấn. Theo báo cáo, các tàu này đều hoạt động an toàn, chính xác, tốc độ nhanh.
(iii) Ba là các tàu hoạt động tập thể. Theo báo cáo của Trung Quốc, vào tháng 9/2018, Trung Quốc đã cho triển khai một nhóm các tàu loại hình khác nhau cùng hoạt động tương tác trên Biển Đông cũng nhằm chức năng thăm dò địa chấn và đo đạc biển. Theo đó, có một tàu không người lái cỡ trung hoạt động cùng ba tàu không người lái cỡ nhỏ. Theo báo cáo, các tàu này được hoạt động ở vùng nước có độ sâu không quá 45m, trong quá trình tác nghiệp các tàu này có thể tự tương tác để cùng chìm xuống nước tác nghiệp, thời gian hoạt động tương tác lẫn nhau có thể lên tới 3 ngày liên tục, phạm vi hoạt động có thể tới 280 km.
Ngoài ra, hình ảnh công bố vào tháng 5/2018 cũng cho thấy Trung Quốc đã cho chạy thử nghiệm 56 chiếc tàu không người lái cỡ nhỏ trên Biển Đông. Oceanalpha là công ty đứng đằng sau dàn tàu này. Theo thông báo của Công ty này, họ đã thử nghiệm đội tàu nhằm kiểm tra năng lực hoạt động cũng như những ứng dụng tiềm năng trong các cuộc hải chiến. Trong clip thử nghiệm, đội tàu này xếp thành hình 2 chữ tiếng Trung “quân” và “dân” hàm ý chỉ các tàu không người lái này ở Trung Quốc sẽ được sử dụng nhằm cả mực đích quân sự và dân sự. Theo một số nhà phân tích, dù nhỏ, nhưng một dàn 56 chiếc tàu như vậy dàn hàng trên biển có thể trở thành “đàn cá mập” có khả năng nuốt chửng bất kỳ đối thủ nào trong các cuộc chiến trên biển.
Ngoài ra, trong năm 2019 và 2020, ngư dân Indonesia cũng đã hai lần phát hiện tàu ngầm không người lái của Trung Quốc ở khu vực gần quần đảo Selayar, ngoài khơi Indonesia. Đây được coi là cửa ngõ dẫn vào khu vực Ấn Độ Dương. Theo thông tin từ Indonesia, chiếc tàu ngầm không người lái này của Trung Quốc thuộc dòng Sea Wing với hệ thống cảm biến nằm ở phía trước cùng với một ăng-ten phía đuôi và nhiều khả năng được sử dụng để thăm dò thông tin dưới đáy đại dương.
Những hệ lụy trong tương lai
Qua nghiên cứu bên trên có thể thấy, mặc dù hiện nay, tàu không người lái của Trung Quốc mới chỉ đang ở giai đoạn đầu nghiên cứu chế tạo, thử nghiệm và bước đầu hiện diện ở khu vực Biển Đông. Tuy nhiên, không thể phủ nhận, trong số các bên yêu sách trên Biển Đông, hiện nay Trung Quốc là nước có thế mạnh vượt trội về ứng dụng khoa học công nghệ vào các thiết bị không người lái và cả mục đích dân sự và quân sự trên Biển Đông.
Theo TS Swee Lean Colin Koh, “ở Biển Đông, sau nhiều năm thực hiện chương trình toàn diện về hệ thống không người lái, cuối cùng Trung Quốc đã thành công với vị trí đứng đầu tuyệt đối trong lĩnh vực giám sát biển sử dụng các thiết bị không người lái trên không […] Ngoài ra, giữa Trung Quốc và các nước yêu sách ở Biển Đông còn tồn tại sự bất đối xứng lớn hơn về năng lực của các thiết bị không người lái, bao gồm cả mức độ hiện đại và quy mô các chương trình phát triển thiết bị tự hành”. Chính vì vậy, sự xuất hiện của các thiết bị không người lái trên Biển Đông dẫn đến cán cân lực lượng trên Biển Đông càng nghiêng về phía có lợi hơn cho Trung Quốc do nước này tiếp tục đi đầu về xu hướng công nghệ mới này.
Điều đáng lo ngại là, theo học giả Trung Quốc, đây là kế hoạch được gắn chặt với việc hiện thực hóa giấc mộng “cường quốc biển” của Chủ tịch Tập Cận Bình. Do đó, trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục đầu tư nguồn lực nhằm phát triển ngành công nghiệp kỹ thuật cao mới nổi này. Điều này sẽ khiến cục diện Biển Đông ngày càng phức tạp bởi hiện nay, những quy định của luật pháp quốc tế cũng còn nhiều “lỗ hổng” quanh khái niệm này.
Hoàng Lan Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao.
Bài viết chỉ thể hiện quan điểm riêng của tác giả.
Khác với nhận định trong bản tin ngày 12.4, khu vực nguy hiểm được thiết lập ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định không liên quan đến hoạt động diễn tập của Việt Nam mà liên quan đến hoạt động hàng không vũ trụ của Trung Quốc.
Theo một thông báo gửi đến phi công (NOTAM) do Trung tâm kiểm soát đường dài Hồ Chí Minh (ACC Ho Chi Minh) ban hành ngày 11.4, hoạt động hàng không vũ trụ của Trung Quốc sẽ gây ảnh hưởng đến an toàn bay tại khu vực có như trong hình.
Cụ thể rác vũ trụ chưa bị đốt cháy dự kiến sẽ rơi xuống vị trí có tọa độ 14°39’47″N/109°52’59″E trong khoảng thời gian từ 17 giờ 50 phút đến 19 giờ 06 phút ngày 15.4.2022 (giờ GMT), tức 0 giờ 50 phút đến 2 giờ 06 phút ngày 16.4 (giờ Việt Nam).
Hiện chưa rõ đây là loại rác vũ trụ gì. Tuy nhiên, Trung Quốc dự kiến sẽ đưa các phi hành gia trên phi thuyền Thần Châu 13 (Shenzhou-13) quay trở lại Trái Đất trong vài ngày tới, sau 6 tháng hoạt động ở trạm Thiên Cung.
Đáng chú ý, NOTAM viết rằng:
“Hoạt động bay hàng không vũ trụ do Trung Quốc tiến hành ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động bay trong Vùng thông báo bay Hồ Chí Minh. Trung Quốc được yêu cầu phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo các thủ tục được thiết lập trong Phụ lục 11 của Công ước Chicago và ASIA/PACIFIC SEAMLESS ANS PLAN.
Thông báo này được ban hành theo yêu cầu của ICAO về an toàn đối với hoạt động của máy bay trong FIR Hồ Chí Minh”.
Điều này gợi ý phía Trung Quốc đã đơn phương yêu cầu thiết lập khu vực cảnh báo nguy hiểm trong Vùng thông báo bay Hồ Chí Minh mà không có bất kỳ liên hệ nào khác với nhà chức trách Việt Nam.
Trước đó, vùng NAVAREA XI do Tuần duyên Nhật Bản đóng vai trò điều phối cũng đưa ra cảnh báo hàng hải về khu vưc nguy hiểm với tọa độ như trên trong khung thời gian từ 15 đến 19.4.
Đô đốc Mỹ Aquilino cho biết Trung Quốc có thể đã xây xong cơ sở quân sự trên ba thực thể thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam ngày 20/3. Ảnh: AP.
Hoạt động xây dựng kho tên lửa, nhà chứa máy bay, hệ thống radar và các cơ sở quân sự khác của Trung Quốc trên đá Vành Khăn, đá Subi và đá Chữ Thập dường như đã hoàn tất, song chưa rõ họ có xây thêm hạ tầng quân sự ở các thực thể khác hay không, tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ (USINDOPACOM) John Aquilino ngày 20/3 nói với AP khi đang ở trên trinh sát cơ P-8A Poseidon để tuần tra Biển Đông.
“Các thực thể đó có chức năng mở rộng khả năng tấn công của Trung Quốc ra ngoài bờ biển của họ”, đô đốc Aquilino nói. “Họ có thể cho tiêm kích và oanh tạc cơ xuất kích, cộng thêm khả năng tấn công bằng tên lửa”.
Đá Vành Khăn, đá Subi và đá Chữ thập là ba trong số 7 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng và bồi đắp trái phép thành đảo nhân tạo. Các thực thể còn lại là đá Gaven, đá Tư Nghĩa, đá Gạc Ma và đá Châu Viên.
Ông Aquilino cảnh báo bất cứ máy bay quân sự hay dân sự nào bay qua khu vực Biển Đông “có thể dễ dàng lọt vào tầm bắn của các hệ thống tên lửa Trung Quốc” triển khai trên những thực thể thuộc quần đảo Trường Sa.
“Đó là mối đe dọa hiện hữu và lý do khiến mọi người quan tâm tới hoạt động quân sự hóa các thực thể này”, đô đốc Aquilino cho biết. “Chúng đe dọa tất cả quốc gia hoạt động trong vùng lân cận, cũng như toàn bộ vùng biển và vùng trời quốc tế”.
Đô đốc Aquilino nhận định hoạt động quân sự hóa các đảo nhân tạo do Trung Quốc thực hiện trái ngược với tuyên bố trước đây của nước này. Ông đánh giá đây là một phần trong quá trình Trung Quốc củng cố sức mạnh quân sự của mình.
“Tôi cho rằng trong 20 năm qua, chúng ta chứng kiến đợt xây dựng lực lượng quân đội lớn nhất của Trung Quốc kể từ Thế chiến II”, đô đốc Aquilino nói. “Họ nâng cao tất cả năng lực của mình và hành động quân sự hóa đang gây bất ổn trong khu vực”.
Trung Quốc đơn phương vẽ ra cái gọi là “đường chín đoạn”, đòi chủ quyền phi lý với hầu hết diện tích Biển Đông. Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) năm 2016 bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Mỹ hồi tháng một công bố tài liệu 47 trang bác bỏ cơ sở địa lý và lịch sử liên quan đến “đường chín đoạn”.
Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam ngày 20/3. Ảnh: AP.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhiều lần khẳng định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp luật pháp quốc tế.
“Các hành vi dưới mọi hình thức vi phạm chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng biển của mình đều vô giá trị, không được công nhận và Việt Nam kiên quyết phản đối”, bà Hằng cho hay.
Người phát ngộn Bộ Ngoại giao đã đề nghị các bên không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, đóng góp tích cực vào duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông, tạo môi trường thuận lợi cho đàm phán Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).
7 bãi đá thuộc Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc bồi đắp trái phép thành đảo nhân tạo. Đồ họa: NY Times.
Ngày 5/4, Bộ trưởng Quốc phòng Australia Peter Dutton bày tỏ quan ngại về sự hiện diện quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông và cho biết, Canberra cần đẩy nhanh tiến độ nâng cấp lực lượng quân đội.
Bộ trưởng Quốc phòng Australia Peter Dutton quan ngại về việc quân sự hóa hàng chục điểm trên Biển Đông. (Nguồn: NCA NewsWire)
Ông Dutton bày tỏ: “Thành thật mà nói, chúng tôi rất lo lắng về việc quân sự hóa 20 điểm hiện diện quân sự trên Biển Đông hiện nay”.
Lưu ý đến cách hành xử của Trung Quốc trong khu vực, quan chức Australia đề cập các cuộc giao tranh gần đây giữa quân đội Trung Quốc và Ấn Độ, căng thẳng giữa hải quân Trung Quốc và lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật Bản…
Người đứng đầu ngành Quốc phòng Australia nhấn mạnh: “Đây đều là những dấu hiệu rất đáng lo ngại”.
Trả lời câu hỏi liệu thỏa thuận tàu ngầm hạt nhân, như một phần của hiệp ước an ninh ba bên Anh-Australia-Mỹ (AUKUS), có được thực hiện nhanh chóng hay không, Bộ trưởng Dutton cho biết, cả London và Washington đều đang hết sức nỗ lực.
Theo ông, “họ hiểu rõ mối đe dọa và cũng muốn tiếp cận khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương để ngăn chặn bất kỳ mối đe dọa nào. Họ rất muốn tiếp tục hỗ trợ Australia”.
Chỉ trong ba ngày qua, 2 cơn bão đã hình thành trên khu vực Tây Thái Bình Dương.
Hai cơn bão đang hoạt động trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương
Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, sáng nay (10/4), một cơn bão đã hình thành ở phía Đông Philippines, có tên quốc tế là Megi. Đây là cơn bão thứ 2 trong năm 2022 xuất hiện ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương.
Dự báo, bão Megi sẽ đi chậm và hướng về phía Đông, ít khả năng đi vào Biển Đông.
Trước đó, sáng 8/4, một áp thấp nhiệt đới ở Tây Bắc Thái Bình Dương cũng đã mạnh lên thành bão, cơn bão đầu tiên trong năm 2022, có tên quốc tế là Malakas.
Cơn bão này chủ yếu di chuyển theo hướng Bắc, hầu như không có khả năng đi vào Biển Đông.
Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) cho hay, trung bình mỗi năm trên Trái Đất xuất hiện khoảng 86 cơn bão, trong đó 46 cơn xếp hàng “bão nhiệt đới”, khoảng 20 cơn còn lại đạt sức mạnh của một “siêu bão nhiệt đới”, đạt cường độ ít nhất là Cấp 3 (sức gió từ 178-208 km/h) trên thang bão Saffir-Simpson.
Lưu vực Tây Bắc Thái Bình Dương (trong đó có Biển Đông) là lưu vực bão hoạt động mạnh nhất, gần 1/3 tổng số bão nhiệt đới trên Trái Đất đều xảy ra ở đây. Ở đây cũng nổi tiếng là nơi sinh ra những siêu bão dữ dội nhất hành tinh.
Japan strongly supports compliance with the 2016 Arbitral Tribunal Award on the East Sea arbitration case, Japanese Ambassador to the Philippines Kashikawa Kazuhiko has twitted.
Japan strongly supports compliance with the 2016 Arbitral Tribunal Award on the East Sea arbitration case, Japanese Ambassador to the Philippines Kashikawa Kazuhiko has twitted.
He affirmed that ensuring a rules-based, free and open order in the sea is a legitimate concern of the international community, including Japan, as it has been a vital sea lane and needs to remain free and open.
Regarding the recent incident around Scarborough Shoal, the diplomat reiterated Japan’s position that any actions by force or coercion are utterly unacceptable.
The Permanent Court of Arbitration’s ruling, issued on July 12, 2016, rejects China’s irrational claim over 80 percent of the East Sea.
On February 2022, the Foreign Ministers of Australia, India and Japan and the Secretary of State of the US have committed to ensuring freedom of navigation and overflight in the South China Sea (called the East Sea in Vietnam) and the East China Sea, and deepening engagement with regional partners to protect their ability to develop offshore resources.
Australian Foreign Minister (FM) Marise Payne, Indian FM Subrahmanyam Jaishankar, Japanese FM Yoshimasa Hayashi and US Secretary of State Antony Blinken, made the commitment in a joint statement issued after the fourth Quad Foreign Ministers’ Meeting in Melbourne, Australia, on February 11.
From left: US Secretary of State Antony Blinken, Australian Foreign Minister (FM) Marise Payne, Indian FM Subrahmanyam Jaishankar and Japanese FM Yoshimasa Hayashi at a press conference in Melbourne, Australia on February 11, 2022. (Photo: AFP/VNA)
The ministers recognise that international law, peace, and security in the maritime domain underpins the development and prosperity of the Indo-Pacific.
“We reiterate the importance of adherence to international law, particularly as reflected in the UN Convention on the Law of the Sea (UNCLOS), to meet challenges to the maritime rules-based order, including in the South and East China Seas. We are determined to deepen engagement with regional partners, including through capacity-building and technical assistance, to strengthen maritime domain awareness; protect their ability to develop offshore resources, consistent with UNCLOS; ensure freedom of navigation and overflight; combat challenges, such as illegal, unreported, and unregulated fishing; and promote the safety and security of sea lines of communication,” they said in the joint statement./.
Ngày 9/4, Văn phòng Tổng thống Philippines cho biết Tổng thống Rodrigo Duterte và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện kiềm chế để duy trì hòa bình ở Biển Đông.
Tổng thống Philippines Duterte (trái) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. (Nguồn: AP)
Tại cuộc điện đàm kéo dài một giờ ngày 8/4, hai nhà lãnh đạo đã thảo luận về một loạt chủ đề gồm những quan ngại liên quan tới cuộc khủng hoảng Ukraine và cách đối phó với đại dịch Covid-19.
Tuyên bố của văn phòng trên nêu rõ: “Các nhà lãnh đạo nhấn mạnh sự cần thiết phải nỗ lực để duy trì hòa bình, an ninh và ổn định ở Biển Đông bằng cách thực hiện kiềm chế, làm giảm căng thẳng và làm việc theo khuôn khổ đã được cả hai bên nhất trí cho sự hợp tác thiết thực”. Cả hai bên đã cam kết mở rộng không gian cho sự can dự tích cực ngay cả khi có tranh chấp.
Hai nhà lãnh đạo cũng đánh giá cao tầm quan trọng của việc tiếp tục thảo luận và ký kết Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)
Ngoài ra, hai bên cũng tái kêu gọi giải quyết hòa bình tình hình ở Ukraine thông qua đối thoại và cam kết hợp tác giải quyết các tác động của biến đổi khí hậu.
Cuộc xâm lược Ukraine của Nga được cho là sẽ tạo ra những tác động sâu rộng đối với Đông Nam Á. Trong lĩnh vực an ninh, một trong những tác động chính sẽ là khả năng doanh số bán vũ khí của Nga cho khu vực sẽ giảm do các lệnh trừng phạt sâu rộng của phương Tây. Việt Nam, với tư cách là nhà nhập khẩu vũ khí lớn thứ năm của Nga trên toàn cầu và là nhà nhập khẩu lớn nhất ở Đông Nam Á, sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất, khiến Việt Nam phải đẩy nhanh việc đa dạng hóa nguồn cung vũ khí ra khỏi Nga.
Sự phụ thuộc của Việt Nam vào vũ khí Nga bắt nguồn từ mối quan hệ truyền thống của Việt Nam với Liên Xô cũ. Trong Chiến tranh Việt Nam, mặc dù Hà Nội nhận được viện trợ vũ khí từ một số nước trong khối xã hội chủ nghĩa, nhưng Liên Xô và Trung Quốc vẫn là những nhà tài trợ chính. Tuy nhiên, xét về các vũ khí hạng nặng quan trọng, Moscow là nhà cung cấp quan trọng nhất của Hà Nội. Theo thống kê chính thức của Việt Nam, từ năm 1955 đến 1975, Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam 1.357 hệ thống phóng tên lửa, hơn 18.300 tên lửa các loại, 316 máy bay chiến đấu, 52 tàu chiến, 21 tàu vận tải, 687 xe tăng, 601 xe bọc thép, 1.332 xe kéo pháo, bên cạnh các loại vũ khí và thiết bị quân sự khác.
Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, viện trợ của Liên Xô dành cho Việt Nam chủ yếu tập trung vào hỗ trợ kinh tế, nhưng các thiết bị quân sự còn sót lại từ thời chiến tranh đã tạo ra sự phụ thuộc cho Việt Nam, khuyến khích Hà Nội tìm kiếm vũ khí nhập khẩu từ Nga sau khi Liên Xô sụp đổ. Sự phụ thuộc của Việt Nam vào vũ khí Nga càng trở nên nặng nề hơn do Việt Nam không thể tìm được các nguồn nhập khẩu thay thế khả dĩ và đáng tin cậy. Vũ khí từ các nước phương Tây nhìn chung có giá đắt hơn vũ khí Nga. Ngay cả khi Việt Nam có đủ khả năng mua, Việt Nam cũng không thể mua được một số mặt hàng do các lệnh trừng phạt và kiểm soát xuất khẩu. Ví dụ, Hoa Kỳ đã không dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam mãi cho đến năm 2016. Trong khi đó, Việt Nam không quan tâm đến việc mua vũ khí của Trung Quốc do tình trạng thiếu tin cậy lẫn nhau giữa hai nước và tình hình tranh chấp Biển Đông kéo dài.
Kể từ khi Việt Nam bắt đầu chương trình hiện đại hóa quân đội vào cuối những năm 1990, hầu hết các loại vũ khí chính mà Việt Nam mua đều có nguồn gốc từ Nga, bao gồm 6 tàu ngầm lớp Kilo, 36 máy bay đa nhiệm Sukhoi Su-30MK2, 4 tàu hộ vệ lớp Gepard 3.9 và 2 hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion. Dữ liệu từ Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI) cho thấy từ năm 1995 đến năm 2021, tổng kim ngạch nhập khẩu vũ khí của Việt Nam là khoảng 9,07 tỷ USD, trong đó Nga chiếm 7,4 tỷ USD (81,6%).
Việt Nam bắt đầu đối mặt với những khó khăn ngày càng tăng trong việc mua vũ khí từ Nga sau khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014. Một trường hợp điển hình là việc Việt Nam mua các tàu hộ vệ lớp Gepard thứ ba và thứ tư từ Nga. Khi đó, Nga đang đóng các tàu này cho Việt Nam nhưng được cho là đã gặp khó khăn trong việc mua động cơ từ Ukraine. Do đó, Việt Nam phải tiến hành đàm phán song song với Nga để duy trì dự án, và với Ukraine để có thể mua được động cơ. Cuối cùng, sau một thời gian trì hoãn, hai con tàu này đã được đưa vào biên chế năm 2017, nhưng những thách thức kể trên đã khiến Việt Nam từ bỏ kế hoạch mua thêm hai tàu chiến tương tự từ Nga.
Những khó khăn gia tăng trong việc mua vũ khí từ Nga có thể cũng đã giải thích cho việc tại sao, cũng theo số liệu của SIPRI, Nga chiếm tới 90% lượng vũ khí nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2014 nhưng chỉ chiếm 68,4% trong giai đoạn 2015-2021. Trong giai đoạn sau, Việt Nam dường như đã cố gắng đa dạng hóa các nguồn cung cấp vũ khí của mình ra khỏi Nga. Một số nhà cung cấp vũ khí mới nổi cho Việt Nam trong giai đoạn 2015-2021 bao gồm Israel (13,7%), Belarus (5,7%), Hàn Quốc (3,3%), Hoa Kỳ (3%) và Hà Lan (2,4%).
Các biện pháp trừng phạt mới của phương Tây đối với Nga sau khi Nga xâm lược Ukraine sẽ khiến Việt Nam ngày càng khó tiếp tục nhập khẩu vũ khí từ Nga hơn. Thứ nhất, sẽ có những trở ngại về mặt kỹ thuật và tài chính vì Nga sẽ không tiếp cận được với một số bộ phận và linh kiện nhập khẩu cần thiết cho việc sản xuất vũ khí của mình, trong khi các ngân hàng lớn của Nga đã bị loại khỏi mạng lưới thanh toán toàn cầu SWIFT, khiến hai bên khó giải quyết các khoản thanh toán. Thứ hai, tiếp tục mua vũ khí từ Nga sẽ dẫn đến rủi ro về uy tín, khiến Việt Nam có thể phải chịu các lệnh trừng phạt tiềm tàng, chẳng hạn như Đạo luật Ứng phó với các đối thủ thông qua trừng phạt (CAATSA) năm 2017 của Washington. Do đó, trong tương lai, Việt Nam nhiều khả năng sẽ đẩy mạnh nỗ lực giảm phụ thuộc vào vũ khí Nga.
Mặc dù vậy, sẽ không dễ để Việt Nam có thể mua được vũ khí và thiết bị quân sự mới từ các nước khác. Quá trình hiện đại hóa quân đội của Việt Nam đã bị chậm lại kể từ năm 2016, và ngân sách dành cho mua sắm các mặt hàng quân sự mới có vẻ eo hẹp, khiến vũ khí từ các nước phương Tây trở nên ít hấp dẫn hơn đối với Việt Nam về mặt giá cả. Khả năng tương thích giữa các nền tảng vũ khí của Liên Xô/Nga và các nền tảng mới hơn không phải của Nga cũng sẽ là một thách thức. Quan trọng hơn, vì nhiều quan chức cấp cao trong quân đội Việt Nam đã được đào tạo ở Liên Xô hay Nga, và đã quen làm ăn với các đối tác Nga, nên họ có thể gặp khó khăn khi giao dịch với các nhà cung cấp mới có văn hóa kinh doanh khác biệt, bao gồm cả các thông lệ kinh doanh minh bạch hơn, điều mà các quan chức Việt Nam có thể cảm thấy không thoải mái.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào một nguồn vũ khí duy nhất sẽ khiến Việt Nam gặp nhiều rủi ro nghiêm trọng. Ngoài các vấn đề nêu trên, quan hệ ngày càng chặt chẽ của Moscow với Bắc Kinh là một nguồn rủi ro khác mà Hà Nội cần lưu tâm, nếu xét tình hình tranh chấp Biển Đông ngày càng phức tạp. Việc đưa ra các kế hoạch nhằm giảm phụ thuộc vào vũ khí Nga vì vậy sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với Việt Nam. Vấn đề tương thích có nghĩa là điều này cần phải được thực hiện theo từng giai đoạn, đồng bộ việc loại biên các nền tảng cũ của Nga với việc mua sắm các nền tảng mới từ các nhà cung cấp khác. Trong quá trình này, ngoài việc nâng cao năng lực sản xuất vũ khí trong nước, việc tăng cường hơn nữa quan hệ chiến lược với các nhà cung cấp thay thế tiềm năng cũng sẽ giúp Hà Nội quản lý tốt hơn các nỗ lực đa dạng hóa nguồn nhập vũ khí của mình.
Điểm một số tin quốc tế nổi bật trong ngày: Nga không thể bị loại khỏi HĐBA LHQ, tranh cãi xung quanh vụ việc ở Bucha, Israel trước nguy cơ chính phủ sụp đổ… là những sự kiện quốc tế nổi bật 24 giờ qua.
Trụ sở Bộ Ngoại giao Nga. (Nguồn: AP)
Nga phản ứng mạnh mẽ về việc các nhà ngoại giao bị trục xuất
Thứ trưởng Ngoại giao Nga Alexander Grushko ngày 6/4 cho biết, Nga muốn duy trì quan hệ ngoại giao với các nước phương Tây bất chấp hàng loạt vụ trục xuất các nhà ngoại giao của nước này.
Ông Grushko cho rằng, việc các nước châu Âu làm gián đoạn công việc của các nhà ngoại giao Nga – đang làm tổn hại đến lợi ích của chính các nước đó.
Bên cạnh đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova cho rằng, phương Tây lợi dụng quyết định trục xuất các nhà ngoại giao Nga để thực hiện cuộc tấn công thông tin và chính trị nhằm vào Moscow.
Ngoài ra, bà Zakharova cáo buộc Mỹ lợi dụng diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc (LHQ) để thúc đẩy mục đích chính trị và thậm chí là cả mục đích bầu cử.
Trong những ngày vừa qua, các quốc gia phương Tây đã trục xuất hàng loạt nhà ngoại giao Nga.
Hôm nay (6/4), Bộ Ngoại giao Hy Lạp tuyên bố, Athens sẽ yêu cầu 12 nhà ngoại giao Nga rời khỏi nước này để phản đối cuộc chiến ở Ukraine. (Sputnik/Reuters)
Mỹ khẳng định Nga không thể bị loại khỏi HĐBA LHQ
Ngày 5/4, Đại sứ Mỹ tại LHQ Linda Thomas-Greenfield cho rằng, Nga không thể bị loại khỏi Hội đồng Bảo an (HĐBA) LHQ.
Bà Thomas-Greenfield nêu rõ: “HĐBA được thành lập như một sản phẩm của việc thành lập LHQ sau Thế chiến II. Họ (Nga) là thành viên của HĐBA. Đó là thực tế. Chúng ta không thể thay đổi thực tế đó”.
Việc Nga tham gia HĐBA LHQ với tư cách là thành viên thường trực được quy định trong Điều 23 của Hiến chương LHQ. Do đó, để loại Nga khỏi HĐBA, cần phải sửa đổi Hiến chương LHQ.
Theo Hiến chương, các sửa đổi cần có chữ ký của toàn bộ thành viên thường trực của HĐBA và Moscow có quyền phủ quyết một đề xuất như vậy. (Sputnik)
Vụ việc tại Bucha, Ukraine:
* Trung Quốc kêu gọi điều tra vụ việc tại Bucha kỹ lưỡng, dựa trên sự thật: Ngày 5/4, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên khẳng định, tất cả cáo buộc liên quan đến tình hình ở thị trấn Bucha của Ukraine nên dựa trên sự kiện có thật, vì ông cho rằng, bất kỳ tình huống nhân đạo nào cũng không nên bị “chính trị hóa”.
Đồng thời, ông Triệu Lập Kiên kêu gọi các nước cần phải kiềm chế cho đến khi một cuộc điều tra được tiến hành. Nhà ngoại giao này cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tìm ra “điều gì thực sự đã xảy ra và lý do đằng sau nó”.
Trung Quốc “rất chú ý đến thiệt hại mà dân thường phải gánh chịu” và “sẵn sàng làm việc với cộng đồng quốc tế để tránh bất kỳ tổn hại nào cho dân thường”. (THX)
* Ngoại trưởng Nga lên tiếng về cáo buộc mộ tập thể tại Ukraine: Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov hôm 5/4 cho biết, cáo buộc do phương Tây đưa ra về những ngôi mộ tập thể được phát hiện ở thị trấn Bucha là “hành động khiêu khích” nhằm cản trở các cuộc đàm phán hòa bình giữa Nga và Ukraine.
“Một câu hỏi được đặt ra là: Sự khiêu khích trắng trợn, không trung thực này nhằm mục đích gì? Chúng tôi tin rằng đây là cái cớ để phá hoại các cuộc đàm phán đang diễn ra”, ông Lavrov nhấn mạnh. (TASS)
* Quốc tế lên án và lên tiếng kêu gọi điều tra: Ngày 5/4, Đại sứ Ấn Độ tại LHQ T.S. Tirumurti khẳng định: “Những báo cáo gần đây về việc giết hại dân thường tại Bucha là vô cùng đáng ngại. Chúng tôi kịch liệt lên án những vụ sát hại này và ủng hộ lời kêu gọi về một cuộc điều tra độc lập”.
Ngày 6/4, phát biểu trong buổi tiếp kiến chung hàng tuần, Giáo hoàng Francis nói: “Những tin tức gần đây về cuộc chiến ở Ukraine, thay vì mang lại sự thở phào và hy vọng, lại chứng thực những hành động tàn bạo mới, chẳng hạn như vụ thảm sát ở Bucha.
Ngày càng có nhiều sự tàn ác khủng khiếp hơn đang xảy ra, ngay cả đối với dân thường, phụ nữ và trẻ em không nơi nương tựa.
Cầu cho cuộc chiến này chấm dứt! Cầu cho vũ khí im lặng. Hãy ngừng gieo rắc chết chóc và hủy diệt”.
Hòa đàm Nga-Ukraine không diễn ra như mong muốn
Ngày 6/4, Điện Kremlin cho biết cuộc đàm phán hòa bình giữa Moscow và Kiev không tiến triển nhanh hoặc mạnh mẽ như mong muốn.
Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov cho hay, công tác chuẩn bị cho vòng đàm phán mới đang được tiến hành nhưng vẫn còn chặng đường dài phía trước để đạt được bất kỳ tiến triển nào. (Reuters)
EU áp đặt thêm biện pháp trừng phạt Nga
Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen ngày 6/4 cho biết, Liên minh châu Âu (EU) sẽ áp đặt thêm các biện pháp trừng phạt chống lại Nga theo gói mới nhất được công bố hôm 5/4, có khả năng nhằm vào hoạt động nhập khẩu dầu của Nga.
Phát biểu trước Nghị viện châu Âu (EP) về gói biện pháp trừng phạt mới nhất bao gồm lệnh cấm mua than của Nga, bà Leyen nói: “Các biện pháp trừng phạt này sẽ không phải là biện pháp trừng phạt cuối cùng của chúng tôi. Bây giờ chúng ta phải nhắm vào dầu mỏ và doanh thu mà Nga có được từ nhiên liệu hóa thạch”. (Reuters)
Hungary triệu tập đại sứ Ukraine
Bộ Ngoại giao Hungary ngày 6/4 triệu tập Đại sứ Ukraine tại Hungary Lyubov Nepop để phản đối những bình luận được cho là ‘công kích’ từ phía Kiev về lập trường của Budapest trong xung đột tại Ukraine.
Trong bài viết đăng tải trên Facebook, Ngoại trưởng Hungary Peter Szijjarto cho biết: “Các nhà lãnh đạo Ukraine nên ngừng xúc phạm Hungary và công nhận ý chí của người dân Hungary.
Đây không phải là cuộc xung đột của chúng tôi, vì vậy chúng tôi mong muốn và sẽ tránh không can dự”.
Ông nhắc lại lập trường này đã giúp ông Orban giành chiến thắng trong nhiệm kỳ thứ tư liên tiếp. (TASS)
Ông Zelensky chỉ trích EU ‘thiếu quyết đoán’
Trong bài phát biểu trước Quốc hội Ireland ngày 6/4, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã chỉ trích sự do dự của châu Âu trong việc cấm nhập khẩu năng lượng từ Nga.
Tổng thống Zelensky cho rằng, một số nhà lãnh đạo châu Âu chỉ lo sợ và quan tâm đến thiệt hại về kinh tế.
Những lời hùng biện về các lệnh trừng phạt đã xuất hiện, “nhưng tôi không thể dung thứ cho bất cứ sự thiếu quyết đoán nào, sau tất cả những gì chúng tôi đã trải qua và mọi thứ Nga đã làm”.
Tổng thống Ukraine cũng yêu cầu Ireland thể hiện vai trò lãnh đạo nhiều hơn nữa và thuyết phục đối tác EU đưa ra các biện pháp trừng phạt cứng rắn nhằm vào Nga. (Irish Times)
Đức đập tan nhóm khủng bố tân phát xít
Sáng 6/4, hàng trăm cảnh sát đã được triển khai tại 11 bang ở Đức trong vụ điều tra các thành viên của tổ chức có tên gọi “Sư đoàn vũ khí hạt nhân” (AWD), trong đó có 50 phần tử cực đoan thuộc diện điều tra.
Cơ quan Tổng công tố liên bang Đức cho biết, lực lượng gồm khoảng 800 người thuộc Cục Hình sự liên bang (BKA), sáng sớm 6/4, đã tiến hành đột kích và lục soát tại 61 địa điểm là các căn hộ và văn phòng của 50 phần tử cực đoan tại 11 bang, trong vụ điều tra nêu trên, bắt giữ 4 nghi phạm.
Cuộc điều tra được tiến hành theo 5 vụ việc khác nhau, nhằm vào các đối tượng ủng hộ một mạng lưới tân phát xít có nhiều nhánh hoạt động.
Một phần trong số các đối tượng bị điều tra bị cáo buộc âm mưu thành lập hoặc hỗ trợ tổ chức khủng bố, một nhóm khác là thành viên của tổ chức tội phạm, trong khi một nhóm bị cáo buộc điều hành tổ chức tân phát xít bị cấm hoạt động.
Ngoài ra, một nhóm bị nghi là thành viên của AWD và một nhánh có cùng hệ tư tưởng.
Mạng lưới tân phát xít khủng bố cánh hữu có nguồn gốc ở Mỹ, được hành lập năm 2015 với thành phần là các phần tử phân biệt chủng tộc trẻ tuổi am hiểu Internet.
Năm 2018, các đối tượng cực đoan cánh hữu đã lập một nhánh AWD ở Đức. (Spiegel)
Sóng gió mới ở chính trường Israel
Sáng 6/4, nữ nghị sĩ Idit Silman thuộc đảng Yamina – người đứng đầu liên minh 8 đảng trong Knesset (Quốc hội) Israel – bất ngờ tuyên bố từ chức, kéo theo nguy cơ chính phủ liên minh của Thủ tướng Naftali Bennett đứng trước nguy cơ sụp đổ.
Được biết, việc bà Silman xin từ chức là do bản thân cảm thấy bị áp lực và không muốn tiếp tục làm tổn hại đến tính chính danh của Nhà nước Do Thái.
Động thái của bà Silman khiến chính phủ liên minh trở về thế cân bằng với phe đối lập về số ghế trong quốc hội 120 ghế của Knesset.
Nếu thêm một người thông báo rời chính phủ liên minh, phe đối lập có thể chiếm thế đa số trong Quốc hội, dẫn tới nguy cơ chính phủ liên minh sụp đổ và buộc phải diễn ra một cuộc tổng tuyển cử khác. (Times of Israel)
Phó Thủ tướng Lê Văn Thành vừa ký ban hành Quyết định số 417/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2045.
Côn Đảo có tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch.
Theo quyết định này, phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính huyện Côn Đảo, bao gồm 16 hòn đảo lớn, nhỏ với tổng diện tích đất nổi khoảng 75,78 km2, diện tích mặt biển thuộc Vườn quốc gia Côn Đảo khoảng 140,00 km2 và vùng biển xung quanh các đảo. (Diện tích cụ thể sẽ được xác định trong quá trình lập đồ án, đảm bảo thống nhất với ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển và phạm vi bảo tồn biển thuộc Vườn quốc gia Côn Đảo).
Thời hạn quy hoạch giai đoạn ngắn hạn đến năm 2030, giai đoạn dài hạn đến năm 2045.
Quyết định đặt mục tiêu điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo phù hợp định hướng phát triển du lịch, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, khai thác và bảo vệ sinh thái Vườn quốc gia, hướng tới phát triển Côn Đảo trở thành khu du lịch sinh thái biển đảo và văn hóa – lịch sử – tâm linh chất lượng cao, đặc sắc tầm cỡ khu vực và quốc tế với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có thương hiệu, sức cạnh tranh cao.
Đồng thời điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo để đáp ứng các yêu cầu mới trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của vùng TP.HCM và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; tạo điều kiện khả thi để thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề trong phát triển dân cư, du lịch với các yêu cầu về bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, bảo vệ tài nguyên và sinh thái, bảo đảm an ninh quốc phòng. Hướng tới phát triển Côn Đảo trở thành khu du lịch có thương hiệu, sức cạnh tranh cao, mang đậm đặc trưng văn hóa lịch sử, gắn với các khu đô thị xanh, thông minh.
Dự kiến quy mô dân số tối đa đến năm 2030 của Côn Đảo đạt khoảng 15.000 người; đến năm 2045 đạt khoảng 25.000 người (chưa bao gồm dân số quy đổi từ khách du lịch).
Côn Đảo có quỹ đất hạn chế, do đó, quy mô đất đai để xây dựng, phát triển khu dân cư và du lịch cần được cân nhắc để khai thác sử dụng hiệu quả. Quy mô dân số, đất đai và khách du lịch cần được dự báo trên cơ sở đánh giá quỹ đất, điều kiện hạ tầng kỹ thuật và các yêu cầu về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững tại Côn Đảo. (Việc phân tích, đánh giá, dự báo cụ thể quy mô dân số, khách du lịch và đất đai xây dựng theo từng giai đoạn được nghiên cứu, đề xuất trong quá trình nghiên cứu đồ án quy hoạch).
Để đạt được mục tiêu đề ra, Quyết định cũng nêu rõ các yêu cầu trọng tâm đối với điều chỉnh quy hoạch chung gồm: Rà soát tổng thể về nội dung quy hoạch chung đã được phê duyệt. Phân tích và đánh giá các nội dung của Quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo đã được phê duyệt năm 2011 trên cơ sở tình hình, thực tiễn phát triển dân cư, du lịch tại Côn Đảo; rà soát các dự án, quy hoạch trên địa bàn đã được lập và phê duyệt; định hướng phát triển không gian, quy hoạch sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật và xã hội với xu hướng phát triển thực tế hiện nay.
Bên cạnh đó, nghiên cứu đề xuất cấu trúc dân cư – du lịch, làm cơ sở đề xuất điều chỉnh định hướng phát triển không gian, tổ chức hệ thống trung tâm, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật tại Côn Đảo phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch, bảo vệ di tích và môi trường sinh thái tự nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đề xuất các giải pháp về thiết kế đô thị để quản lý phát triển theo quy hoạch.
Xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện quy hoạch, phân kỳ hợp lý, gắn với nguồn lực thực hiện. Lựa chọn các chương trình và các dự án chiến lược cần ưu tiên đầu tư có tính khả thi cao, có tính linh hoạt, đáp ứng các nhu cầu phát triển theo từng giai đoạn, tạo động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội tại Côn Đảo.
Cùng với đó, thống nhất về dữ liệu, dự báo, định hướng phát triển và những nội dung liên quan với Quy hoạch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và các quy hoạch ngành, quy hoạch chuyên ngành khác có liên quan.
Mối quan hệ Trung Quốc-Campuchia có vẻ như ngày càng keo sơn. Điều này có thể thấy qua các phát ngôn của lãnh đạo hai nước và qua các hợp tác chính trị, kinh tế, quân sự. Mới đây nhất hai nước lại ký thỏa thuận hợp tác về quân sự, tuy thỏa thuận này không được công bố trên báo chí.
Trong một phát biểu cách đây không lâu, Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã nói rằng: Không đi với Trung Quốc thì ai giúp chúng tôi? Không có vaccine của Trung Quốc thì chúng tôi lấy gì chống đại dịch Covid?
Quả là ông Hun Sen đã nói giữa dạ mình! Thời Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ngoảnh mặt với xứ sở có bức tượng khổng lồ Bay On bốn mặt. Đến thời kỳ của Tổng thống Joi Biden cũng kiên định như thế. Rằng, Campuchia là một nước mà ở đó ẩn chứa nhiều vấn đề khó tin cậy và thiếu minh bạch. Hành động rõ nhất của Washington là kiên quyết không bán vũ khí cho Campuchia.
Campuchia là nước độc tài, rất ít đồng minh. Nếu xảy ra chiến tranh sẽ không có sự giúp đỡ của quốc gia nào, ngoài Trung Quốc. Nước láng giềng gần đây nhất, thực hiện chiến lược “ngoại giao cây tre” biết rất rõ chân tướng Pnôm Pênh nhưng vẫn không bận lòng, “tươi cười” với người bạn chung đường biên giới phía Tây Nam. Dù người Việt Nam chưa quên hồi năm 1978, bọn diệt chủng Pôn Pốt – Iêng Xary đã xua quân tấn công biên giới gây bao tội ác với người dân Việt Nam.
Theo tin của báo South China MorningPost, hôm 31/3, quan chức quân đội cấp cao hai nước Campuchia và Trung Quốc đã ký biên bản ghi nhớ về hợp tác quân sự. Đây là thoả thuận hợp tác giữa lực lượng lục quân của hai nước. Đại diện phía Campuchia tham gia lễ ký trực tuyến là tướng Hun Manet (con trai của Thủ tướng Hun Sen) đại diện phía Trung Quốc là tướng Liu Zhenli. Nội dung chi tiết của thỏa thuận này nằm trong bức màn bí mật.
Trong một thập niên trở lại đây ý đồ của Bắc Kinh ngày càng thể hiện rõ: biến Campuchia trở thành tiền đồn quân sự ở phía nam. Hồi giữa năm 2019, tình báo Mỹ từng công bố một bản thảo nói về thỏa thuận cho Trung Quốc quyền tiếp cận căn cứ hải quân Ream của Campuchia ở vịnh Thái Lan trong 30 năm. Sau thời gian này, thỏa thuận sẽ được gia hạn 10 năm một lần.
Mặc dù người phát ngôn Chính phủ Campuchia nói rằng, thỏa thuận được tiết lộ này là “tin giả”, nhưng Washington khẳng định, tại căn cứ trên, Trung Quốc sẽ bố trí quân nhân, lưu trữ vũ khí và neo đậu tàu chiến. Đây sẽ là căn cứ hải quân đầu tiên ở Đông Nam Á cho phép Trung Quốc tiếp cận như vậy. Và vì thế, Washington lo ngại bất kỳ bước đi nào của chính phủ Hun Sen nhằm chào đón sự hiện diện quân sự nước ngoài ở Campuchia cũng sẽ quấy rối nền hòa bình và ổn định khu vực.
Việc Trung Quôc xây dựng tiền đồn quân sự ở Đông Nam Á cũng giống như việc đang tiến hành xây dựng tiền đồn quân sự ở Thái Bình Dương. Họ đang tìm cách để đặt căn cứ hải quân ở quần đảo Salomon trên biển Thái Bình Dương, khiến cho chính phủ Úc và New Zeland rất bức xúc và đang có những động thái mạnh mẽ để lên án, ngăn cản.
Việc Bắc Kinh tăng cường hợp tác quân sự với Phnôm Pênh không phải là vấn đề mới. Sắp tới có thể mức độ hợp tác còn được tăng cường hơn nữa. Thái độ của các quốc gia, nhất là những nước có chung đường biên giới là không can thiệp vào công việc “nội bộ” của họ. Nhưng bài học cảnh giác thì luôn luôn phải chú ý và nâng cao hơn nữa.
Hiện tại, Hà Nội thừa hiểu họ không còn ảnh hưởng quá lớn lên Campuchia. Quan hệ Việt Nam-Campuchia lúc này chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến lợi ích cốt lõi, như vấn đề an ninh biên giới, ngăn cản không cho đặt căn cứ quân sự ở Campuchia khi các căn cứ đó không khác gì những quả bom chờ nổ áp sát biên giới, gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia của Việt Nam.
Cuộc tấn công quân sự của Nga vào Ukraine vẫn đang tiếp diễn. Nó cũng bắt đầu từ những mâu thuẫn chung quanh biên giới hai nước, chung quanh các mối quan hệ đa chiều của các cường quốc. Và Ukraine trở thành cái chảo lửa diễn ra cuộc “chiến tranh ủy nhiệm”. Muốn hòa bình, yên ổn làm ăn, hãy cảnh giác ngăn chặn hiểm họa ngay từ khi nó mới manh nha!
Theo các chuyên gia, Trung Quốc đang nỗ lực liên kết khu tự trị Tây Tạng và khu tự trị Tân Cương lại với nhau bằng một con đường mới mang tên “G216”, có khả năng sẽ mang đến thách thức chiến lược lớn nhất cho Ấn Độ kể từ những năm 1950.
“Cao tốc G216 hiếm khi được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc; đó là một trong những dự án tối mật của Trung Quốc”, ông Claude Arpi, một tác giả kiêm chuyên gia về Tây Tạng, đã viết trong một bài xã luận đăng hôm 15/3 trên First Post.
“Cao tốc mới này một ngày nào đó sẽ nối hai khu tự trị là Tân Cương và Tây Tạng và trở thành một con đường thay thế cho con đường G219 (hay còn gọi là Aksai Chin), vốn được xây dựng trên lãnh thổ Ấn Độ vào đầu những năm 1950”.
G216 dự kiến sẽ cắt qua vùng lãnh thổ tranh chấp Aksai Chin, một khu vực do Trung Quốc quản lý như một phần của địa khu Hòa Điền (Hotan) ở Tân Cương. Trong khi đó, địa khu này được Ấn Độ tuyên bố là một phần của vùng Ladakh.
Theo ông Frank Lehberger, một nhà Hán học sống tại Đức, việc xây dựng đường cao tốc mới, thay thế cho con đường G219 hiện tại nối Tây Tạng và Tân Cương, sẽ là một mối quan tâm của Ấn Độ khi xét đến những lợi thế mà con đường này sẽ cung cấp cho quân đội Trung Quốc.
Ông Lehberger nói với The Epoch Times: “Khi đi vào hoạt động hoàn toàn, G216 sẽ cung cấp khả năng tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng từ khu vực phía đông này tới quân đội Trung Quốc, trong trường hợp G219 (chạy sát biên giới Ấn Độ hơn, tức là Aksai Chin) bị gián đoạn hoặc bị chiếm đóng”.
“Quân đội Trung Quốc có thể nhanh chóng tiếp tế cho các đơn vị đồn trú ở Tân Cương về phía bắc, điều mà trước đây chỉ có thể thực hiện được thông qua G219, vốn là một đường vòng dài về phía tây”, ông nói thêm.
Lợi thế này đặt ra một thách thức đặc biệt đối với Ấn Độ do những căng thẳng biên giới giữa hai nước gia tăng trong những năm gần đây. Vào năm 2020, các binh sĩ Ấn Độ đã tham gia vào một cuộc đụng độ đẫm máu với quân đội Trung Quốc ở khu vực Thung lũng Galwan đang tranh chấp về việc Bắc Kinh xây dựng cơ sở hạ tầng ở biên giới. Ấn Độ đã mất 20 binh sĩ trong cuộc xung đột này.
Theo ông Lehberger, vào đầu mùa hè năm 2020, chỉ vài ngày trước khi xảy ra cuộc đụng độ ở Galwan, các đoàn xe quân sự khổng lồ của quân đội Trung Quốc đã làm tắc nghẽn khu vực G219 gần Aksai Chin trong nhiều ngày, khiến nhiều người lái xe dân sự Trung Quốc giận dữ, buộc phải xuống đường và đăng tải những hình ảnh và video về đoàn xe này lên mạng xã hội Trung Quốc.
“Đây là một dấu hiệu chắc chắn rằng quân đội Trung Quốc đang lên kế hoạch cho một chiến dịch quân sự lớn ở đâu đó trong vùng [biên giới tranh chấp] này ở Ladakh”, ông Lehberger cho biết.
“Dựa trên tài liệu có sẵn công khai này, tôi đã có thể cảnh báo người dân ở Ấn Độ qua trang mạng xã hội của mình rằng một điều gì đó rất lớn sắp diễn ra ở khu vực [biên giới tranh chấp] này”, ông nói thêm.
“Nếu G216 vận hành hết công suất, mọi người sẽ gặp nhiều khó khăn hơn để phát hiện ra các hoạt động chuẩn bị chiến tranh trong tương lai của Trung Quốc”.
Cao tốc G216 mới
Ông Arpi cho biết trong bài báo của mình rằng, ông có thể xác nhận sự hiện hữu của Bắc Kinh trong việc xây dựng G216 từ những manh mối trong các chú thích ảnh được sử dụng trong một bài báo ảnh giới thiệu cảnh quan thiên nhiên của Tây Tạng được tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đăng tải.
Bài báo ảnh này mô tả vẻ đẹp của địa khu Ngari, vùng cực tây của Tây Tạng tiếp giáp với Ấn Độ.
“Bài báo này khắc họa những phong cảnh hùng vĩ, những ngọn núi phủ đầy tuyết trắng, những thảo nguyên rộng lớn, những hồ nước trong vắt một màu, các loài động vật hoang dã càng làm tôn thêm vẻ đẹp của khu vực này trong tiết trời đông lạnh giá”, ông Arpi viết.
“Hai chú thích nhỏ đã thu hút sự chú ý của tôi: ‘Linh dương Tây Tạng bên Quốc lộ 216 ở Quận Rutok (hoặc tiếng Trung gọi là Nhật Thổ) của Ngari’ và ‘Những con bò rừng bên cạnh Quốc lộ 216 ở Quận Rutok’”.
Việc xây dựng G216 là giấc mơ từ lâu của nhà lãnh đạo đầu tiên của ĐCSTQ Mao Trạch Đông, người coi đây là một vấn đề ưu tiên của quốc gia nhằm khai phá một tuyến đường giữa Tây Tạng và Tân Cương. Tuy nhiên, kế hoạch này đã bị hủy bỏ sau khi một số lượng lớn công nhân xây dựng con đường đã thiệt mạng, khi một ngọn núi lửa trong khu vực phun trào vào tháng 5/1951.
“Nhưng các nhà lãnh đạo của Trung Quốc không bao giờ quên ước mơ của những người tiền nhiệm. Ngày nay, một trong những dự án tối mật của Chủ tịch Tập Cận Bình là mở ra một con đường mới kết nối Tân Cương và Tây Tạng”, ông Arpi viết.
Cao tốc G216 mới này sẽ chạy về phía nam từ biên giới quốc tế với Mông Cổ tại cảng Hồng Sơn Chủy (Hongshanzui) ở địa khu A Lặc Thái, nằm ở cực bắc của vùng Tân Cương. Con đường này sẽ băng qua sa mạc Tân Cương về phía nam tại khu vực biên giới với Tây Tạng.
Sau đó, ở Tây Tạng, nó sẽ chạy về phía nam qua một số quốc gia và kết thúc ở biên giới Nepal, theo tài liệu “Quy hoạch mạng lưới Quốc Lộ (2013-2030)” của Trung Quốc.
Ông Lehberger cho biết G216 đã đi vào hoạt động ở một số nơi và cắt ngang qua lòng chảo Tarim, một vùng sa mạc ở Tân Cương, cũng như khu vực phía bắc Tây Tạng được gọi là Khương Đường (Chang Tang), một cao nguyên nổi tiếng với khí hậu khắc nghiệt tương tự như Bắc Cực.
Về căn bản, Khương Đường chiếm toàn bộ phía bắc của khu vực Tây Tạng, khoảng 900 dặm từ đông sang tây, kéo dài đến biên giới với Tân Cương. Mũi phía tây của Khương Đường kéo dài đến Ladakh ở Ấn Độ.
Ông Lehberger cho biết: “Cao tốc này giúp giảm thời gian di chuyển từ Ô Lỗ Mộc Tề của Tân Cương đến phía tây Tây Tạng … cũng như đến biên giới Nepal, nhưng không phải là đến biên giới với Ấn Độ”, ông Lehberger nói, đồng thời cho biết thêm rằng G216 có thể giúp người Nepal tiếp cận trực tiếp với Trung Á và Nga.
Trước đó, ông Arpi đã nói trong một bài bình luận hồi năm 2018 rằng G216 có thể mang lại những hậu quả kinh tế to lớn cho Ấn Độ vì con đường này có thể trở thành đầu mối của một tuyến đường thương mại mới nối liền Trung Á với Nepal và khu vực Nam Á.
Ông nói thêm rằng chính quyền Trung Quốc đang đẩy mạnh hơn nữa các kế hoạch phát triển kinh tế cho Tây Tạng, trong đó bao gồm việc tăng cường lưu lượng du lịch đến địa khu Ngari của nước này và xây dựng một sân bay mới ở phía tây Tây Tạng.
Ông Apri cho biết, điều này ngụ ý rằng khu vực Tây Tạng có thể trở thành một trung tâm kinh tế và du lịch lớn, đồng thời cũng là một trung tâm chiến lược để Trung Quốc bảo vệ biên giới của mình.
Ông Lehberger nói rằng lãnh thổ Ladakh và Galwan của Ấn Độ, nơi binh lính của Ấn Độ và Trung Quốc đụng độ vào năm 2020, nằm xa hơn về phía tây và không nằm trong phạm vi xung quanh cao tốc G216. Tuy nhiên, một cao tốc đông tây trong tương lai, mặc dù chưa được xây dựng, sẽ nối trực tiếp đường G216 từ huyện Cải Tắc (Gêrzê) của Tây Tạng về phía tây với đường G219 ở Rutok của Tây Tạng, có thể thay đổi tình hình đó.
“Giữa huyện Dân Phong ở phía nam Tân Cương và huyện Cải Tắc ở phía tây Tây Tạng là khu bảo tồn thiên nhiên Khương Đường hoang vắng, có vẻ như cao tốc G216 vẫn chưa hoàn thành. Điều này là do địa hình cao nguyên hiểm trở, bao gồm những vùng đất với đầm lầy rộng lớn hoặc lớp băng vĩnh cửu tan chảy”, ông nói và cho biết thêm là ông không rõ về tiến độ cụ thể của dự án này.
Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho hay lục quân 2 nước đã ký kết bản ghi nhớ nhưng không nêu rõ chi tiết.
Hãng Bloomberg ngày 31.3 đưa tin quân đội 2 nước Trung Quốc và Campuchia đã ký bản ghi nhớ, trong bối cảnh Bắc Kinh tăng cường mối quan hệ an ninh trong khu vực.
Tại buổi họp báo thường kỳ ở Bắc Kinh, phát ngôn viên Ngô Khiêm của Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho hay các chỉ huy cấp cao từ lực lượng lục quân 2 nước đã gặp trực tuyến và ký văn bản trên. Tuy nhiên, ông không nêu chi tiết về nội dung bản ghi nhớ.
“Trung Quốc và Campuchia là láng giềng gần gũi và bạn bè vững chắc. Trong những năm gần đây, hợp tác thực chất giữa quân đội 2 nước trên nhiều lĩnh vực, bao gồm liên lạc chiến lược, diễn tập và huấn luyện chung, trao đổi và huấn luyện nhân sự tiếp tục sâu sắc thêm”, theo ông Ngô.
Thỏa thuận trên được ký bởi Tham mưu trưởng Lục quân Trung Quốc Lưu Chấn Lập và ông Hun Manet, Phó tổng tư lệnh Lục quân Hoàng gia Campuchia.
Ông Hun Manet từng học tại Học viện quân sự Mỹ ở West Point và là con trai cả của Thủ tướng Campuchia Hun Sen. Tướng Hun Manet còn là ứng viên thủ tướng của đảng Nhân dân Campuchia.
Thông tin về bản ghi nhớ trên được đưa ra vài ngày sau khi có thông tin Trung Quốc và Quần đảo Solomon chuẩn bị ký thỏa thuận an ninh, với nội dung bị rò rỉ cho rằng có thể bao gồm việc cho phép các tàu chiến của Trung Quốc cập cảng ở Quần đảo Solomon, cách bờ biển Úc khoảng 2.000 km.
Giới chức Úc và New Zealand đã bày tỏ quan ngại rằng thỏa thuận của Quần đảo Solomon với Trung Quốc sẽ ảnh hưởng lớn đến an ninh khu vực nam Thái Bình Dương. Trong khi đó, phía Solomon bác bỏ lo ngại.