Category Archives: Aktuell

Tàu tự hành Trung Quốc và tác động đến tình hình Biển Đông

Việc chính phủ Trung Quốc ban hành chính sách thúc đẩy nghiên cứu, chế tạo phương tiện tự hành cũng như những thành công bước đầu của các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực này sẽ khiến cho cục diện Biển Đông càng trở nên phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh quy định của luật pháp quốc tế vẫn còn nhiều “lỗ hổng” quanh khái niệm này.

Bảng: Hình ảnh các mẫu tàu không người lái tiêu biểu ở Trung Quốc

Tàu tự hành (“tàu không người lái”) không phải là một khái niệm mới xuất hiện, song ở khu vực Biển Đông, ứng dụng công nghệ này mới chỉ đang ở giai đoạn đầu phát triển. Trong đó, Trung Quốc hiện là nước tập trung cao độ vào việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ không người lái vào các hoạt động quân sự và dân sự trên biển.

Điều đáng quan ngại là, kế hoạch này được đặt trong tổng thể tham vọng hiện thực hóa chiến lược “Cường quốc biển”, Kế hoạch “Made in China 2025”, và mục tiêu đẩy mạnh khoa học, công nghệ kỹ thuật cao được Trung Quốc đề ra trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 mới thông qua tháng 3/2021 vừa qua. Việc chính phủ Trung Quốc ban hành chính sách thúc đẩy nghiên cứu, chế tạo phương tiện tự hành cũng như những thành công bước đầu của các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực này sẽ khiến cho cục diện Biển Đông càng trở nên phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh quy định của luật pháp quốc tế vẫn còn nhiều “lỗ hổng” quanh khái niệm này.

Tàu không người lái: khái niệm, phân loại và mục đích sử dụng

“Tự hành” về cơ bản là khả năng một cỗ máy có thể tự cảm nhận và phản ứng với môi trường xung quanh khi thực hiện nhiệm vụ đã được định sẵn. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các hệ thống tự hành đã được ứng dụng vào các loại phương tiện từ robot, xe hơi, máy bay, tàu thuyền,… Do đó, “tàu tự hành” là một loại phương tiện ứng dụng hệ thống tự hành trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về các phương tiện tự hành nói chung và tàu tự hành nói riêng. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng ta có thể rút ra được những đặc điểm chung của các phương tiện tự hành là: (i) là các thiết bị có khả năng tự vận hành mà không cần con người điều khiển trực tiếp; (ii) nguyên tắc xử lý thông tin gồm quan sát môi trường xung quanh, thu thập thông tin từ bộ phận cảm biến, đánh giá các hướng hành động để lựa chọn và cuối cùng là triển khai lựa chọn đó; (iii) có thể có con người điều khiển từ xa hoặc không cần sự can thiệp của con người mà dựa trên nguyên tắc đã được lập trình sẵn.

Về cách phân loại, theo Giáo sư Raul Pete Pedrozo, tàu tự hành được chia thành tàu không người lái trên mặt biển (unmanned surface vehicles, USV) và tàu không người lái dưới mặt biển (unmanned underwater vehicles, UUV). Đồng quan điểm này, Nhật Bản và Trung Quốc cũng chia tàu không người lái thành loại hoạt động trên mặt biển và loại hoạt động ngầm dưới mặt biển.

Về chức năng, nhiệm vụ, theo phân tích của Trung Quốc, hiện nay các nước sử dụng thiết bị không người lái trên biển cho mục đích quân sự chiếm đến 70%, còn những mục đích dân sự chỉ chiếm 30%.

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược phát triển điện tử Hàng Thiên Trung Quốc

Riêng với khu vực Biển Đông, theo Giáo sư Raul Pete Pedrozo, tàu tự hành chủ yếu được sử dụng để phục vụ các mục đích (i) tình báo, do thám, trinh sát và giám sát Biển Đông; (ii) nghiên cứu khoa học như thiết lập các hệ thống cảm biến đáy biển, vẽ bản đồ và khảo sát đáy biển thông qua các hoạt động khảo sát thủy văn.

Nghiên cứu chế tạo tàu thuyền không người lái là một nhiệm vụ trọng điểm của Trung Quốc hiện nay

So với các nước phát triển như Mỹ, Nga, Nhật,… ngành công nghiệp thiết bị không người lái trên biển của Trung Quốc phát triển sau khá lâu nhưng tốc độ tăng trưởng lại rất nhanh trong thời gian gần đây. Theo học giả Trung Quốc, đến tháng 7/2008, nước này mới bắt đầu cho nghiên cứu triển khai chiếc tàu không người lái đầu tiên phục vụ công tác dự báo khí tượng trên biển.

Tuy nhiên sau đó, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế tạo tàu không người lái ở Trung Quốc lại tăng rất nhanh. Đặc biệt từ năm 2016, nhận thấy xu hướng phát triển nhanh chóng của các thiết bị tự hành dẫn đến sự thay đổi cán cân lực lượng nếu không bắt kịp xu thế, Trung Quốc đã bắt đầu tập trung chú trọng vào lĩnh vực này. Tại văn bản chỉ đạo “Kế hoạch hành động ba năm nhằm phát triển trí tuệ nhân tạo kết hợp với internet” năm 2016 của Quốc vụ viện Trung Quốc xác định rõ “nghiên cứu chế tạo tàu thuyền không người lái là một nhiệm vụ trọng điểm của Trung Quốc”.

Ngày 27/12/2018, Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin, Bộ Giao thông vận tải, Cục Khoa học và công nghệ Quốc phòng Trung Quốc đã phối hợp ban hành “Kế hoạch hành động phát triển tàu thông minh giai đoạn 2019-2021” trong đó chỉ ra rằng, “tàu thông minh”  đang ở trong giai đoạn đầu nghiên cứu và phát triển ở các nước trên thế giới. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc “cần đẩy nhanh sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo tàu thông minh nhằm hướng tới vị trí dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực này”. Trong kế hoạch này, Trung Quốc xác định lộ trình 3 năm từ năm 2019 đến năm 2021 là giai đoạn để Trung Quốc hoàn tất việc xây dựng kế hoạch từ cấp cao nhất, đồng thời bước đầu thiết lập hệ thống tiêu chuẩn cho tàu thông minh trong đó bao gồm tàu không người lái.

Tiếp theo đó, ngày 9/5/2019, Bộ Giao thông vận tải và 7 Cục liên quan của Trung Quốc đã phối hợp ban hành “Ý kiến chỉ đạo về phát triển vận tải biển thông minh”, trong đó đã xây dựng lộ trình nhằm phát triển tàu tự hành ở Trung Quốc. Các bước cụ thể được đặt ra như sau:

–          Đến cuối năm 2020: Trung Quốc cơ bản hoàn thành khung xây dựng kế hoạch phát triển của phương tiện vận hành thông minh;

–          Đến năm 2025: chế tạo thành công các phương tiện tự vận hành và trở thành trung tâm công nghệ sáng tạo phát triển phương tiện vận tải thông minh toàn cầu;

–          Đến năm 2035: từng bước hình thành hệ thống vận tải thông minh;

–          Đến năm 2050: Hoàn thiện và đi vào vận hành hệ thống vận chuyển thông minh chất lượng cao trên toàn cầu.

Về lộ trình cụ thể trong giai đoạn hiện nay, ngày 30/4/2020, Vụ Công nghiệp Thiết bị và Công nghệ thông tin, Bộ Giao thông vận tải Trung Quốc, đã ban hành “Hướng dẫn xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tàu thông minh” trong đó xác định cụ thể hơn về nhiệm vụ hiện nay của Trung Quốc, theo đó, giai đoạn đầu tiên là từ năm 2020-2021, Trung Quốc sẽ tập trung vào hình thành các tiêu chuẩn cơ bản về tàu thông minh như khái niệm, phân loại, công nghệ được ứng dụng, quy định về thiết kế, tiêu chuẩn thử nghiệm, kiểm định,,…; giai đoạn 2 là từ năm 2022-2025, Trung Quốc sẽ ứng dụng các công nghệ vào chế tạo tàu không người lái, đồng thời ban hành các quy định về quản lý, vận hành.

Như vậy, từ các văn bản, chính sách quy định và hướng dẫn có thể thấy, hiện nay Trung Quốc đang rất coi trọng việc nghiên cứu, chế tạo và phát triển tàu không người lái, đây là một kế hoạch được đầu tư kỹ lượng với lộ trình bài bản và sự tham gia của nhiều bộ ban ngành cũng như các doanh nghiệp và viện nghiên cứu của Trung Quốc.

Từ chính sách đến triển khai hành động trên thực tế và kết quả đạt được

Với chính sách thúc đẩy như phân tích bên trên của chính quyền trung ương, tốc độ sản xuất tàu tự hành của các doanh nghiệp Trung Quốc đã tăng nhanh chóng trong thời gian gần đây. Theo báo cáo của Trung Quốc, năm 2014 nước này mới chỉ có 89 chiếc tàu không người lái, song đến năm 2019, Trung Quốc đã sản xuất được 1508 chiếc, tăng khoảng 15 lần so với năm 2014.

Bảng: Số lượng tàu không người lái được sản xuất ở Trung Quốc (Đơn vị: chiếc)

Nguồn: Báo cáo nghiên cứu tình hình thị trường sản xuất và tiêu thụ tàu không người lái ở Trung Quốc giai đoạn 2021-2027

Hiện nay, những đơn vị nghiên cứu chế tạo về tàu không người lái chủ yếu ở Trung Quốc gồm các trường đại học, cao đẳng như Đại học Công trình Duy Ngô Nhĩ , Đại học Thượng Hải, Đại học Hải dương Thượng Hải, Đại học Hải dương Đại Liên; một số viện nghiên cứu như Viện Nghiên cứu tự động hoá Thẩm Dương (Viện Khoa học Trung Quốc) và một số doanh nghiệp liên quan như Công ty Hàng Thiên Thẩm Dương, Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật trí tuệ năng lực Vân Châu (Chu Hải),… Các đơn vị này đã chế tạo thành công và đi vào vận hành một số tàu tự hành tiêu biểu dưới đây:

Tên/ số hiệu Tính năng Nhiệm vụ Đơn vị chế tạo
天象 1 号/Tian Xiang 1 (Thiên Tượng) Mỗi lần tác nghiệp được khoảng 20 ngày liên tục; hành trình đạt khoảng hàng trăm km Ứng phó với các sự cố khẩn cấp trên biển, giám sát môi trường biển, cảnh báo thiên tai,… Đây là chiếc tàu không người lái trên mặt biển đầu tiên của Trung Quốc được vận hành ứng dụng trên thực tế vào lĩnh vực khí tượng thuỷ văn, do Công ty con Tân Quang của Công ty Hàng Thiên Thẩm Dương nghiên cứu và chế tạo
精海/ Qing Hai (Thanh Hải) Vận tốc tối đa là 18 hải lý/giờ; độ bền tối đa là 120 hải lý, trọng lượng chở đại 2,3 tấn Thăm dò môi trường nước, đo lường biển, khảo sát thuỷ văn Đại học Thượng Hải
“Seafly01 Chiều dài 10,25 mét, tốc độ 45 hải lý / giờ và tầm hoạt động 400 km. Giám sát bờ biển Công ty TNHH Công nghệ điều khiển Sifang Intelligent (Vũ Hán) phát triển
海腾 01 号/ Hai Teng 1 (Hải Đằng) Tuần tra biển, đo đường biển,  kiểm soát và khắc phục sự cố tràn dầu, cứu hộ cứu nạn trên biển, thăm dò và tìm kiếm tàu Đại học Hải dương Thượng Hải
“领航者” 号海洋测 绘船/ tàu khảo sát đại dương “Ling Hang Zhe” Giám sát bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, lập bản đồ dưới nước, tìm kiếm cứu nạn, tuần tra biển, cứu hộ trên biển Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật trí tuệ năng lực Vân Châu sản xuất
“云洲”海 洋无人测 量艇/ tàu đo lường Yun Zhou (Vân Châu Hải ) Đo lường địa chất đáy biển, khảo sát biển, tìm kiến cứu nạn trên biển Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật trí tuệ năng lực Vân Châu sản xuất

Ở Biển Đông, theo nghiên cứu của Trung Quốc, nước này đã triển khai các loại tàu sau: (i) tàu không người lái cỡ nhỏ hoạt động độc lập; (ii) tàu không người lái cỡ trung bình hoạt động tương tác và (iii) tàu không người lái hoạt động tập thể. Cụ thể:

(i) Tàu không người lái cỡ nhỏ. Tháng 4/2016, Trung Quốc đã cho vận hành tàu không người lái cỡ nhỏ quanh 4 thực thể ở  Biển Đông nhằm khảo sát địa chấn (hình ảnh bên dưới). Chiếc tàu này dài 2,5m rộng 1,4m, cao 0,6m và nặng 120kg, độ mớn nước là 0,5m. Trong quá trình khảo sát chiếc tàu không người lái này vận hành với tốc độ 4,5-5,5 hải lý/giờ. Những vùng mà tàu này hoạt động có độ sâu không quá 40m và có cả những thực thể rất nông, đây là địa hình những tàu lớn không thể hoạt động được tuy nhiên những tàu không người lái do Trung Quốc chế tạo lại hoạt động rất tốt, đây được coi là thế mạnh của những tàu không người lái mà Trung Quốc đang triển khai.

Hình ảnh: tàu không người lái cỡ nhỏ được hoạt động ở Biển Đông vào tháng 4/2016

(ii) Về tàu không người lái cỡ trung bình trên Biển Đông, theo báo cáo của Trung Quốc, vào tháng 9/2016, Trung Quốc đã triển khai 2 chiếc tàu cỡ trung bình hoạt động ở ven các đảo mà Trung Quốc đang quân sự hóa nhằm thực hiện công tác đo đạc địa chất và những công việc tổng hợp khác (hình bên dưới). Hai chiếc tàu không người lái này một chiếc dài 5,65m; rộng 2,4m; cao 2,9m; nặng 1,1 tấn và một chiếc dài 6,28m; rộng 2,86m; cao 3,3m; nặng 2,6 tấn. Theo báo cáo, các tàu này đều hoạt động an toàn, chính xác, tốc độ nhanh.

(iii) Ba là các tàu hoạt động tập thể. Theo báo cáo của Trung Quốc, vào tháng 9/2018, Trung Quốc đã cho triển khai một nhóm các tàu loại hình khác nhau cùng hoạt động tương tác trên Biển Đông cũng nhằm chức năng thăm dò địa chấn và đo đạc biển. Theo đó, có một tàu không người lái cỡ trung hoạt động cùng ba tàu không người lái cỡ nhỏ. Theo báo cáo, các tàu này được hoạt động ở vùng nước có độ sâu không quá 45m, trong quá trình tác nghiệp các tàu này có thể tự tương tác để cùng chìm xuống nước tác nghiệp, thời gian hoạt động tương tác lẫn nhau có thể lên tới 3 ngày liên tục, phạm vi hoạt động có thể tới 280 km.

Ngoài ra, hình ảnh công bố vào tháng 5/2018 cũng cho thấy Trung Quốc đã cho chạy thử nghiệm 56 chiếc tàu không người lái cỡ nhỏ trên Biển Đông. Oceanalpha là công ty đứng đằng sau dàn tàu này. Theo thông báo của Công ty này, họ đã thử nghiệm đội tàu nhằm kiểm tra năng lực hoạt động cũng như những ứng dụng tiềm năng trong các cuộc hải chiến. Trong clip thử nghiệm, đội tàu này xếp thành hình 2 chữ tiếng Trung “quân” và “dân” hàm ý chỉ các tàu không người lái này ở Trung Quốc sẽ được sử dụng nhằm cả mực đích quân sự và dân sự. Theo một số nhà phân tích, dù nhỏ, nhưng một dàn 56 chiếc tàu như vậy dàn hàng trên biển có thể trở thành “đàn cá mập” có khả năng nuốt chửng bất kỳ đối thủ nào trong các cuộc chiến trên biển.

Ngoài ra, trong năm 2019 và 2020, ngư dân Indonesia cũng đã hai lần phát hiện tàu ngầm không người lái của Trung Quốc ở khu vực gần quần đảo Selayar, ngoài khơi Indonesia. Đây được coi là cửa ngõ dẫn vào khu vực Ấn Độ Dương. Theo thông tin từ Indonesia, chiếc tàu ngầm không người lái này của Trung Quốc thuộc dòng Sea Wing với hệ thống cảm biến nằm ở phía trước cùng với một ăng-ten phía đuôi và nhiều khả năng được sử dụng để thăm dò thông tin dưới đáy đại dương.

Những hệ lụy trong tương lai

Qua nghiên cứu bên trên có thể thấy, mặc dù hiện nay, tàu không người lái của Trung Quốc mới chỉ đang ở giai đoạn đầu nghiên cứu chế tạo, thử nghiệm và bước đầu hiện diện ở khu vực Biển Đông. Tuy nhiên, không thể phủ nhận, trong số các bên yêu sách trên Biển Đông, hiện nay Trung Quốc là nước có thế mạnh vượt trội về ứng dụng khoa học công nghệ vào các thiết bị không người lái và cả mục đích dân sự và quân sự trên Biển Đông.

Theo TS Swee Lean Colin Koh, “ở Biển Đông, sau nhiều năm thực hiện chương trình toàn diện về hệ thống không người lái, cuối cùng Trung Quốc đã thành công với vị trí đứng đầu tuyệt đối trong lĩnh vực giám sát biển sử dụng các thiết bị không người lái trên không […] Ngoài ra, giữa Trung Quốc và các nước yêu sách ở Biển Đông còn tồn tại sự bất đối xứng lớn hơn về năng lực của các thiết bị không người lái, bao gồm cả mức độ hiện đại và quy mô các chương trình phát triển thiết bị tự hành”. Chính vì vậy, sự xuất hiện của các thiết bị không người lái trên Biển Đông dẫn đến cán cân lực lượng trên Biển Đông càng nghiêng về phía có lợi hơn cho Trung Quốc do nước này tiếp tục đi đầu về xu hướng công nghệ mới này.

Điều đáng lo ngại là, theo học giả Trung Quốc, đây là kế hoạch được gắn chặt với việc  hiện thực hóa giấc mộng “cường quốc biển” của Chủ tịch Tập Cận Bình. Do đó, trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục đầu tư nguồn lực nhằm phát triển ngành công nghiệp kỹ thuật cao mới nổi này. Điều này sẽ khiến cục diện Biển Đông ngày càng phức tạp bởi hiện nay, những quy định của luật pháp quốc tế cũng còn nhiều “lỗ hổng” quanh khái niệm này.

Hoàng Lan Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao.

Bài viết chỉ thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

Loading

Views: 0

Cập nhật về vùng nguy hiểm ở Biển Đông

Khác với nhận định trong bản tin ngày 12.4, khu vực nguy hiểm được thiết lập ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định không liên quan đến hoạt động diễn tập của Việt Nam mà liên quan đến hoạt động hàng không vũ trụ của Trung Quốc.

Theo một thông báo gửi đến phi công (NOTAM) do Trung tâm kiểm soát đường dài Hồ Chí Minh (ACC Ho Chi Minh) ban hành ngày 11.4, hoạt động hàng không vũ trụ của Trung Quốc sẽ gây ảnh hưởng đến an toàn bay tại khu vực có như trong hình.

Cụ thể rác vũ trụ chưa bị đốt cháy dự kiến sẽ rơi xuống vị trí có tọa độ 14°39’47″N/109°52’59″E trong khoảng thời gian từ 17 giờ 50 phút đến 19 giờ 06 phút ngày 15.4.2022 (giờ GMT), tức 0 giờ 50 phút đến 2 giờ 06 phút ngày 16.4 (giờ Việt Nam).

Hiện chưa rõ đây là loại rác vũ trụ gì. Tuy nhiên, Trung Quốc dự kiến sẽ đưa các phi hành gia trên phi thuyền Thần Châu 13 (Shenzhou-13) quay trở lại Trái Đất trong vài ngày tới, sau 6 tháng hoạt động ở trạm Thiên Cung.

Đáng chú ý, NOTAM viết rằng:

“Hoạt động bay hàng không vũ trụ do Trung Quốc tiến hành ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động bay trong Vùng thông báo bay Hồ Chí Minh. Trung Quốc được yêu cầu phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo các thủ tục được thiết lập trong Phụ lục 11 của Công ước Chicago và ASIA/PACIFIC SEAMLESS ANS PLAN.

Thông báo này được ban hành theo yêu cầu của ICAO về an toàn đối với hoạt động của máy bay trong FIR Hồ Chí Minh”.

Điều này gợi ý phía Trung Quốc đã đơn phương yêu cầu thiết lập khu vực cảnh báo nguy hiểm trong Vùng thông báo bay Hồ Chí Minh mà không có bất kỳ liên hệ nào khác với nhà chức trách Việt Nam.

Trước đó, vùng NAVAREA XI do Tuần duyên Nhật Bản đóng vai trò điều phối cũng đưa ra cảnh báo hàng hải về khu vưc nguy hiểm với tọa độ như trên trong khung thời gian từ 15 đến 19.4.

 

Đặng Duân

Loading

Views: 0

Mỹ nghi Trung Quốc hoàn tất quân sự hóa ba đảo nhân tạo ở Biển Đông

Đô đốc Mỹ Aquilino cho biết Trung Quốc có thể đã xây xong cơ sở quân sự trên ba thực thể thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam ngày 20/3. Ảnh: AP.

Hoạt động xây dựng kho tên lửa, nhà chứa máy bay, hệ thống radar và các cơ sở quân sự khác của Trung Quốc trên đá Vành Khăn, đá Subi và đá Chữ Thập dường như đã hoàn tất, song chưa rõ họ có xây thêm hạ tầng quân sự ở các thực thể khác hay không, tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ (USINDOPACOM) John Aquilino ngày 20/3 nói với AP khi đang ở trên trinh sát cơ P-8A Poseidon để tuần tra Biển Đông.

“Các thực thể đó có chức năng mở rộng khả năng tấn công của Trung Quốc ra ngoài bờ biển của họ”, đô đốc Aquilino nói. “Họ có thể cho tiêm kích và oanh tạc cơ xuất kích, cộng thêm khả năng tấn công bằng tên lửa”.

Đá Vành Khăn, đá Subi và đá Chữ thập là ba trong số 7 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng và bồi đắp trái phép thành đảo nhân tạo. Các thực thể còn lại là đá Gaven, đá Tư Nghĩa, đá Gạc Ma và đá Châu Viên.

Ông Aquilino cảnh báo bất cứ máy bay quân sự hay dân sự nào bay qua khu vực Biển Đông “có thể dễ dàng lọt vào tầm bắn của các hệ thống tên lửa Trung Quốc” triển khai trên những thực thể thuộc quần đảo Trường Sa.

“Đó là mối đe dọa hiện hữu và lý do khiến mọi người quan tâm tới hoạt động quân sự hóa các thực thể này”, đô đốc Aquilino cho biết. “Chúng đe dọa tất cả quốc gia hoạt động trong vùng lân cận, cũng như toàn bộ vùng biển và vùng trời quốc tế”.

Đô đốc Aquilino nhận định hoạt động quân sự hóa các đảo nhân tạo do Trung Quốc thực hiện trái ngược với tuyên bố trước đây của nước này. Ông đánh giá đây là một phần trong quá trình Trung Quốc củng cố sức mạnh quân sự của mình.

“Tôi cho rằng trong 20 năm qua, chúng ta chứng kiến đợt xây dựng lực lượng quân đội lớn nhất của Trung Quốc kể từ Thế chiến II”, đô đốc Aquilino nói. “Họ nâng cao tất cả năng lực của mình và hành động quân sự hóa đang gây bất ổn trong khu vực”.

Trung Quốc đơn phương vẽ ra cái gọi là “đường chín đoạn”, đòi chủ quyền phi lý với hầu hết diện tích Biển Đông. Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) năm 2016 bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Mỹ hồi tháng một công bố tài liệu 47 trang bác bỏ cơ sở địa lý và lịch sử liên quan đến “đường chín đoạn”.

Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam ngày 20/3. Ảnh: AP.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhiều lần khẳng định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp luật pháp quốc tế.

“Các hành vi dưới mọi hình thức vi phạm chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng biển của mình đều vô giá trị, không được công nhận và Việt Nam kiên quyết phản đối”, bà Hằng cho hay.

Người phát ngộn Bộ Ngoại giao đã đề nghị các bên không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, đóng góp tích cực vào duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông, tạo môi trường thuận lợi cho đàm phán Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

7 bãi đá thuộc Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc bồi đắp trái phép thành đảo nhân tạo. Đồ họa: NY Times.

east-sea.de

Loading

Views: 0

Bộ trưởng Quốc phòng Australia: Chúng tôi lo lắng về việc quân sự hóa 20 điểm trên Biển Đông

Ngày 5/4, Bộ trưởng Quốc phòng Australia Peter Dutton bày tỏ quan ngại về sự hiện diện quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông và cho biết, Canberra cần đẩy nhanh tiến độ nâng cấp lực lượng quân đội.
Bộ trưởng Quốc phòng Australia Peter Dutton quan ngại về việc quân sự hóa hàng chục điểm trên Biển Đông. (Nguồn: NCA NewsWire)

Ông Dutton bày tỏ: “Thành thật mà nói, chúng tôi rất lo lắng về việc quân sự hóa 20 điểm hiện diện quân sự trên Biển Đông hiện nay”.

Lưu ý đến cách hành xử của Trung Quốc trong khu vực, quan chức Australia đề cập các cuộc giao tranh gần đây giữa quân đội Trung Quốc và Ấn Độ, căng thẳng giữa hải quân Trung Quốc và lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật Bản…

Người đứng đầu ngành Quốc phòng Australia nhấn mạnh: “Đây đều là những dấu hiệu rất đáng lo ngại”.

Trả lời câu hỏi liệu thỏa thuận tàu ngầm hạt nhân, như một phần của hiệp ước an ninh ba bên Anh-Australia-Mỹ (AUKUS), có được thực hiện nhanh chóng hay không, Bộ trưởng Dutton cho biết, cả London và Washington đều đang hết sức nỗ lực.

Theo ông, “họ hiểu rõ mối đe dọa và cũng muốn tiếp cận khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương để ngăn chặn bất kỳ mối đe dọa nào. Họ rất muốn tiếp tục hỗ trợ Australia”.

th&vn

Loading

Views: 0

Hai cơn bão đang hoạt động gần Biển Đông

Chỉ trong ba ngày qua, 2 cơn bão đã hình thành trên khu vực Tây Thái Bình Dương.

Hai cơn bão đang hoạt động trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương

Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, sáng nay (10/4), một cơn bão đã hình thành ở phía Đông Philippines, có tên quốc tế là Megi. Đây là cơn bão thứ 2 trong năm 2022 xuất hiện ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương.

Dự báo, bão Megi sẽ đi chậm và hướng về phía Đông, ít khả năng đi vào Biển Đông.

Trước đó, sáng 8/4, một áp thấp nhiệt đới ở Tây Bắc Thái Bình Dương cũng đã mạnh lên thành bão, cơn bão đầu tiên trong năm 2022, có tên quốc tế là Malakas.

Cơn bão này chủ yếu di chuyển theo hướng Bắc, hầu như không có khả năng đi vào Biển Đông.

Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) cho hay, trung bình mỗi năm trên Trái Đất xuất hiện khoảng 86 cơn bão, trong đó 46 cơn xếp hàng “bão nhiệt đới”, khoảng 20 cơn còn lại đạt sức mạnh của một “siêu bão nhiệt đới”, đạt cường độ ít nhất là Cấp 3 (sức gió từ 178-208 km/h) trên thang bão Saffir-Simpson.

Lưu vực Tây Bắc Thái Bình Dương (trong đó có Biển Đông) là lưu vực bão hoạt động mạnh nhất, gần 1/3 tổng số bão nhiệt đới trên Trái Đất đều xảy ra ở đây. Ở đây cũng nổi tiếng là nơi sinh ra những siêu bão dữ dội nhất hành tinh.

east-sea.de

Loading

Views: 0

Philippines’ Duterte and China’s Xi discuss situation in South China Sea

MANILA: Philippines’ Rodrigo Duterte and Chinese President Xi Jinping stressed the need to exercise restraint to maintain peace in the South China Sea, Manila’s presidential office said on Saturday (Apr 9).

FILE PHOTO: Philippine President Rodrigo Duterte shakes hands with Chinese President Xi Jinping, before the meeting at the Great Hall of People in Beijing, China on April 25, 2019. Kenzaburo Fukuhara/Pool via REUTERS/File Photo

The two leaders held an hour-long telephone summit on Friday, discussing a broad range of topics including concerns over the Ukraine crisis and COVID-19 pandemic responses.

“The leaders stressed the need to exert all efforts to maintain peace, security and stability in the South China Sea by exercising restraint, dissipating tensions and working on a mutually agreeable framework for functional cooperation,” the presidential office said in a statement.

Both parties were committed to broaden the space for positive engagements even as disputes existed, Duterte’s office said.

Since taking office in 2016, Duterte has pursued warmer ties with Beijing, setting aside a longstanding territorial spat over the South China Sea in exchange for billions of dollars of aid, loans and investment pledges.

The two presidents spoke of the importance of continuing discussions and concluding the code of conduct on the South China Sea.

An international arbitration ruling in the Hague in 2016 invalidated China’s sweeping claims to the waterway, through which about US$3 trillion worth of ship-borne trade passes annually. The case was brought to the tribunal by Manila.

In March, the Philippines filed a diplomatic protest over a Chinese Coast Guard vessel engaging in “close distance manoeuvring” that heightened the risk of collision in the disputed waterway.

Duterte and Xi renewed calls for a peaceful resolution of the situation in Ukraine through dialogue, and pledged to work together in addressing the impacts of climate change, the presidential office said.

Duterte, 77, is set to end his single, six-year term in June./.

(Source: Reuters, Channelnewsasia)

Loading

Views: 0

Philippines, Trung Quốc sẽ cùng giải quyết chuyện Biển Đông

Ngày 9/4, Văn phòng Tổng thống Philippines cho biết Tổng thống Rodrigo Duterte và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện kiềm chế để duy trì hòa bình ở Biển Đông.

Loading

Views: 0

Liệu Việt Nam có thể giảm phụ thuộc vào vũ khí Nga?

Cuộc xâm lược Ukraine của Nga được cho là sẽ tạo ra những tác động sâu rộng đối với Đông Nam Á. Trong lĩnh vực an ninh, một trong những tác động chính sẽ là khả năng doanh số bán vũ khí của Nga cho khu vực sẽ giảm do các lệnh trừng phạt sâu rộng của phương Tây. Việt Nam, với tư cách là nhà nhập khẩu vũ khí lớn thứ năm của Nga trên toàn cầu và là nhà nhập khẩu lớn nhất ở Đông Nam Á, sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất, khiến Việt Nam phải đẩy nhanh việc đa dạng hóa nguồn cung vũ khí ra khỏi Nga.

Sự phụ thuộc của Việt Nam vào vũ khí Nga bắt nguồn từ mối quan hệ truyền thống của Việt Nam với Liên Xô cũ. Trong Chiến tranh Việt Nam, mặc dù Hà Nội nhận được viện trợ vũ khí từ một số nước trong khối xã hội chủ nghĩa, nhưng Liên Xô và Trung Quốc vẫn là những nhà tài trợ chính. Tuy nhiên, xét về các vũ khí hạng nặng quan trọng, Moscow là nhà cung cấp quan trọng nhất của Hà Nội. Theo thống kê chính thức của Việt Nam, từ năm 1955 đến 1975, Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam 1.357 hệ thống phóng tên lửa, hơn 18.300 tên lửa các loại, 316 máy bay chiến đấu, 52 tàu chiến, 21 tàu vận tải, 687 xe tăng, 601 xe bọc thép, 1.332 xe kéo pháo, bên cạnh các loại vũ khí và thiết bị quân sự khác.

Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, viện trợ của Liên Xô dành cho Việt Nam chủ yếu tập trung vào hỗ trợ kinh tế, nhưng các thiết bị quân sự còn sót lại từ thời chiến tranh đã tạo ra sự phụ thuộc cho Việt Nam, khuyến khích Hà Nội tìm kiếm vũ khí nhập khẩu từ Nga sau khi Liên Xô sụp đổ. Sự phụ thuộc của Việt Nam vào vũ khí Nga càng trở nên nặng nề hơn do Việt Nam không thể tìm được các nguồn nhập khẩu thay thế khả dĩ và đáng tin cậy. Vũ khí từ các nước phương Tây nhìn chung có giá đắt hơn vũ khí Nga. Ngay cả khi Việt Nam có đủ khả năng mua, Việt Nam cũng không thể mua được một số mặt hàng do các lệnh trừng phạt và kiểm soát xuất khẩu. Ví dụ, Hoa Kỳ đã không dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam mãi cho đến năm 2016. Trong khi đó, Việt Nam không quan tâm đến việc mua vũ khí của Trung Quốc do tình trạng thiếu tin cậy lẫn nhau giữa hai nước và tình hình tranh chấp Biển Đông kéo dài.

Kể từ khi Việt Nam bắt đầu chương trình hiện đại hóa quân đội vào cuối những năm 1990, hầu hết các loại vũ khí chính mà Việt Nam mua đều có nguồn gốc từ Nga, bao gồm 6 tàu ngầm lớp Kilo, 36 máy bay đa nhiệm Sukhoi Su-30MK2, 4 tàu hộ vệ lớp Gepard 3.9 và 2 hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion. Dữ liệu từ Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI) cho thấy từ năm 1995 đến năm 2021, tổng kim ngạch nhập khẩu vũ khí của Việt Nam là khoảng 9,07 tỷ USD, trong đó Nga chiếm 7,4 tỷ USD (81,6%).

Việt Nam bắt đầu đối mặt với những khó khăn ngày càng tăng trong việc mua vũ khí từ Nga sau khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014. Một trường hợp điển hình là việc Việt Nam mua các tàu hộ vệ lớp Gepard thứ ba và thứ tư từ Nga. Khi đó, Nga đang đóng các tàu này cho Việt Nam nhưng được cho là đã gặp khó khăn trong việc mua động cơ từ Ukraine. Do đó, Việt Nam phải tiến hành đàm phán song song với Nga để duy trì dự án, và với Ukraine để có thể mua được động cơ. Cuối cùng, sau một thời gian trì hoãn, hai con tàu này đã được đưa vào biên chế năm 2017, nhưng những thách thức kể trên đã khiến Việt Nam từ bỏ kế hoạch mua thêm hai tàu chiến tương tự từ Nga.

Những khó khăn gia tăng trong việc mua vũ khí từ Nga có thể cũng đã giải thích cho việc tại sao, cũng theo số liệu của SIPRI, Nga chiếm tới 90% lượng vũ khí nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2014 nhưng chỉ chiếm 68,4% trong giai đoạn 2015-2021. Trong giai đoạn sau, Việt Nam dường như đã cố gắng đa dạng hóa các nguồn cung cấp vũ khí của mình ra khỏi Nga. Một số nhà cung cấp vũ khí mới nổi cho Việt Nam trong giai đoạn 2015-2021 bao gồm Israel (13,7%), Belarus (5,7%), Hàn Quốc (3,3%), Hoa Kỳ (3%) và Hà Lan (2,4%).

Các biện pháp trừng phạt mới của phương Tây đối với Nga sau khi Nga xâm lược Ukraine sẽ khiến Việt Nam ngày càng khó tiếp tục nhập khẩu vũ khí từ Nga hơn. Thứ nhất, sẽ có những trở ngại về mặt kỹ thuật và tài chính vì Nga sẽ không tiếp cận được với một số bộ phận và linh kiện nhập khẩu cần thiết cho việc sản xuất vũ khí của mình, trong khi các ngân hàng lớn của Nga đã bị loại khỏi mạng lưới thanh toán toàn cầu SWIFT, khiến hai bên khó giải quyết các khoản thanh toán. Thứ hai, tiếp tục mua vũ khí từ Nga sẽ dẫn đến rủi ro về uy tín, khiến Việt Nam có thể phải chịu các lệnh trừng phạt tiềm tàng, chẳng hạn như Đạo luật Ứng phó với các đối thủ thông qua trừng phạt (CAATSA) năm 2017 của Washington. Do đó, trong tương lai, Việt Nam nhiều khả năng sẽ đẩy mạnh nỗ lực giảm phụ thuộc vào vũ khí Nga.

Mặc dù vậy, sẽ không dễ để Việt Nam có thể mua được vũ khí và thiết bị quân sự mới từ các nước khác. Quá trình hiện đại hóa quân đội của Việt Nam đã bị chậm lại kể từ năm 2016, và ngân sách dành cho mua sắm các mặt hàng quân sự mới có vẻ eo hẹp, khiến vũ khí từ các nước phương Tây trở nên ít hấp dẫn hơn đối với Việt Nam về mặt giá cả. Khả năng tương thích giữa các nền tảng vũ khí của Liên Xô/Nga và các nền tảng mới hơn không phải của Nga cũng sẽ là một thách thức. Quan trọng hơn, vì nhiều quan chức cấp cao trong quân đội Việt Nam đã được đào tạo ở Liên Xô hay Nga, và đã quen làm ăn với các đối tác Nga, nên họ có thể gặp khó khăn khi giao dịch với các nhà cung cấp mới có văn hóa kinh doanh khác biệt, bao gồm cả các thông lệ kinh doanh minh bạch hơn, điều mà các quan chức Việt Nam có thể cảm thấy không thoải mái.

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào một nguồn vũ khí duy nhất sẽ khiến Việt Nam gặp nhiều rủi ro nghiêm trọng. Ngoài các vấn đề nêu trên, quan hệ ngày càng chặt chẽ của Moscow với Bắc Kinh là một nguồn rủi ro khác mà Hà Nội cần lưu tâm, nếu xét tình hình tranh chấp Biển Đông ngày càng phức tạp. Việc đưa ra các kế hoạch nhằm giảm phụ thuộc vào vũ khí Nga vì vậy sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với Việt Nam. Vấn đề tương thích có nghĩa là điều này cần phải được thực hiện theo từng giai đoạn, đồng bộ việc loại biên các nền tảng cũ của Nga với việc mua sắm các nền tảng mới từ các nhà cung cấp khác. Trong quá trình này, ngoài việc nâng cao năng lực sản xuất vũ khí trong nước, việc tăng cường hơn nữa quan hệ chiến lược với các nhà cung cấp thay thế tiềm năng cũng sẽ giúp Hà Nội quản lý tốt hơn các nỗ lực đa dạng hóa nguồn nhập vũ khí của mình.

Lê Hồng Hiệp

Loading

Views: 0

Tin thế giới 6/4: Nga không thể bị loại khỏi HĐBA LHQ; Tổng thống Ukraine nặng lời với EU; Sóng gió mới ở chính trường Israel

Điểm một số tin quốc tế nổi bật trong ngày: Nga không thể bị loại khỏi HĐBA LHQ, tranh cãi xung quanh vụ việc ở Bucha, Israel trước nguy cơ chính phủ sụp đổ… là những sự kiện quốc tế nổi bật 24 giờ qua.

Loading

Views: 0

Côn Đảo sẽ là “Thiên đường trần gian”

Phó Thủ tướng Lê Văn Thành vừa ký ban hành Quyết định số 417/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2045.
Côn Đảo có tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch.

Theo quyết định này, phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính huyện Côn Đảo, bao gồm 16 hòn đảo lớn, nhỏ với tổng diện tích đất nổi khoảng 75,78 km2, diện tích mặt biển thuộc Vườn quốc gia Côn Đảo khoảng 140,00 km2 và vùng biển xung quanh các đảo. (Diện tích cụ thể sẽ được xác định trong quá trình lập đồ án, đảm bảo thống nhất với ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển và phạm vi bảo tồn biển thuộc Vườn quốc gia Côn Đảo).

Thời hạn quy hoạch giai đoạn ngắn hạn đến năm 2030, giai đoạn dài hạn đến năm 2045.

Quyết định đặt mục tiêu điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo phù hợp định hướng phát triển du lịch, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, khai thác và bảo vệ sinh thái Vườn quốc gia, hướng tới phát triển Côn Đảo trở thành khu du lịch sinh thái biển đảo và văn hóa – lịch sử – tâm linh chất lượng cao, đặc sắc tầm cỡ khu vực và quốc tế với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có thương hiệu, sức cạnh tranh cao.

Đồng thời điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo để đáp ứng các yêu cầu mới trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của vùng TP.HCM và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; tạo điều kiện khả thi để thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề trong phát triển dân cư, du lịch với các yêu cầu về bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, bảo vệ tài nguyên và sinh thái, bảo đảm an ninh quốc phòng. Hướng tới phát triển Côn Đảo trở thành khu du lịch có thương hiệu, sức cạnh tranh cao, mang đậm đặc trưng văn hóa lịch sử, gắn với các khu đô thị xanh, thông minh.

Dự kiến quy mô dân số tối đa đến năm 2030 của Côn Đảo đạt khoảng 15.000 người; đến năm 2045 đạt khoảng 25.000 người (chưa bao gồm dân số quy đổi từ khách du lịch).

Côn Đảo có quỹ đất hạn chế, do đó, quy mô đất đai để xây dựng, phát triển khu dân cư và du lịch cần được cân nhắc để khai thác sử dụng hiệu quả. Quy mô dân số, đất đai và khách du lịch cần được dự báo trên cơ sở đánh giá quỹ đất, điều kiện hạ tầng kỹ thuật và các yêu cầu về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững tại Côn Đảo. (Việc phân tích, đánh giá, dự báo cụ thể quy mô dân số, khách du lịch và đất đai xây dựng theo từng giai đoạn được nghiên cứu, đề xuất trong quá trình nghiên cứu đồ án quy hoạch).

Để đạt được mục tiêu đề ra, Quyết định cũng nêu rõ các yêu cầu trọng tâm đối với điều chỉnh quy hoạch chung gồm: Rà soát tổng thể về nội dung quy hoạch chung đã được phê duyệt. Phân tích và đánh giá các nội dung của Quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo đã được phê duyệt năm 2011 trên cơ sở tình hình, thực tiễn phát triển dân cư, du lịch tại Côn Đảo; rà soát các dự án, quy hoạch trên địa bàn đã được lập và phê duyệt; định hướng phát triển không gian, quy hoạch sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật và xã hội với xu hướng phát triển thực tế hiện nay.

Bên cạnh đó, nghiên cứu đề xuất cấu trúc dân cư – du lịch, làm cơ sở đề xuất điều chỉnh định hướng phát triển không gian, tổ chức hệ thống trung tâm, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật tại Côn Đảo phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch, bảo vệ di tích và môi trường sinh thái tự nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đề xuất các giải pháp về thiết kế đô thị để quản lý phát triển theo quy hoạch.

Xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện quy hoạch, phân kỳ hợp lý, gắn với nguồn lực thực hiện. Lựa chọn các chương trình và các dự án chiến lược cần ưu tiên đầu tư có tính khả thi cao, có tính linh hoạt, đáp ứng các nhu cầu phát triển theo từng giai đoạn, tạo động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội tại Côn Đảo.

Cùng với đó, thống nhất về dữ liệu, dự báo, định hướng phát triển và những nội dung liên quan với Quy hoạch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và các quy hoạch ngành, quy hoạch chuyên ngành khác có liên quan.

Loading

Views: 0

Hợp tác quân sự hay thách thức an ninh khu vực?

Mối quan hệ Trung Quốc-Campuchia có vẻ như ngày càng keo sơn. Điều này có thể thấy qua các phát ngôn của lãnh đạo hai nước và qua các hợp tác chính trị, kinh tế, quân sự. Mới đây nhất hai nước lại ký thỏa thuận hợp tác về quân sự, tuy thỏa thuận này không được công bố trên báo chí.

Trong một phát biểu cách đây không lâu, Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã nói rằng: Không đi với Trung Quốc thì ai giúp chúng tôi? Không có vaccine của Trung Quốc thì chúng tôi lấy gì chống đại dịch Covid?

Quả là ông Hun Sen đã nói giữa dạ mình! Thời Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ngoảnh mặt với xứ sở có bức tượng khổng lồ Bay On bốn mặt. Đến thời kỳ của Tổng thống Joi Biden cũng kiên định như thế. Rằng, Campuchia là một nước mà ở đó ẩn chứa nhiều vấn đề khó tin cậy và thiếu minh bạch. Hành động rõ nhất của Washington là kiên quyết không bán vũ khí cho Campuchia.

Campuchia là nước độc tài, rất ít đồng minh. Nếu xảy ra chiến tranh sẽ không có sự giúp đỡ của quốc gia nào, ngoài Trung Quốc. Nước láng giềng gần đây nhất, thực hiện chiến lược “ngoại giao cây tre” biết rất rõ chân tướng Pnôm Pênh nhưng vẫn không bận lòng, “tươi cười” với người bạn chung đường biên giới phía Tây Nam. Dù người Việt Nam chưa quên hồi năm 1978, bọn diệt chủng Pôn Pốt – Iêng Xary đã xua quân tấn công biên giới gây bao tội ác với người dân Việt Nam.

Theo tin của báo South China Morning Post, hôm 31/3, quan chức quân đội cấp cao hai nước Campuchia và Trung Quốc đã ký biên bản ghi nhớ về hợp tác quân sự. Đây là thoả thuận hợp tác giữa lực lượng lục quân của hai nước. Đại diện phía Campuchia tham gia lễ ký trực tuyến là tướng Hun Manet (con trai của Thủ tướng Hun Sen) đại diện phía Trung Quốc là tướng Liu Zhenli. Nội dung chi tiết của thỏa thuận này nằm trong bức màn bí mật.

Trong một thập niên trở lại đây ý đồ của Bắc Kinh ngày càng thể hiện rõ: biến Campuchia trở thành tiền đồn quân sự ở phía nam. Hồi giữa năm 2019, tình báo Mỹ từng công bố một bản thảo nói về thỏa thuận cho Trung Quốc quyền tiếp cận căn cứ hải quân Ream của Campuchia ở vịnh Thái Lan trong 30 năm. Sau thời gian này, thỏa thuận sẽ được gia hạn 10 năm một lần.

Mặc dù người phát ngôn Chính phủ Campuchia nói rằng, thỏa thuận được tiết lộ này là “tin giả”, nhưng Washington khẳng định, tại căn cứ trên, Trung Quốc sẽ bố trí quân nhân, lưu trữ vũ khí và neo đậu tàu chiến. Đây sẽ là căn cứ hải quân đầu tiên ở Đông Nam Á cho phép Trung Quốc tiếp cận như vậy. Và vì thế, Washington lo ngại bất kỳ bước đi nào của chính phủ Hun Sen nhằm chào đón sự hiện diện quân sự nước ngoài ở Campuchia cũng sẽ quấy rối nền hòa bình và ổn định khu vực.

Việc Trung Quôc xây dựng tiền đồn quân sự ở Đông Nam Á cũng giống như việc đang tiến hành xây dựng tiền đồn quân sự ở Thái Bình Dương. Họ đang tìm cách để đặt căn cứ hải quân ở quần đảo Salomon trên biển Thái Bình Dương, khiến cho chính phủ Úc và New Zeland rất bức xúc và đang có những động thái mạnh mẽ để lên án, ngăn cản.

Việc Bắc Kinh tăng cường hợp tác quân sự với Phnôm Pênh không phải là vấn đề mới. Sắp tới có thể mức độ hợp tác còn được tăng cường hơn nữa. Thái độ của các quốc gia, nhất là những nước có chung đường biên giới là không can thiệp vào công việc “nội bộ” của họ. Nhưng bài học cảnh giác thì luôn luôn phải chú ý và nâng cao hơn nữa.

Hiện tại, Hà Nội thừa hiểu họ không còn ảnh hưởng quá lớn lên Campuchia. Quan hệ Việt Nam-Campuchia lúc này chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến lợi ích cốt lõi, như vấn đề an ninh biên giới, ngăn cản không cho đặt căn cứ quân sự ở Campuchia khi các căn cứ đó không khác gì những quả bom chờ nổ áp sát biên giới, gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia của Việt Nam.

Cuộc tấn công quân sự của Nga vào Ukraine vẫn đang tiếp diễn. Nó cũng bắt đầu từ những mâu thuẫn chung quanh biên giới hai nước, chung quanh các mối quan hệ đa chiều của các cường quốc. Và Ukraine trở thành cái chảo lửa diễn ra cuộc “chiến tranh ủy nhiệm”. Muốn hòa bình, yên ổn làm ăn, hãy cảnh giác ngăn chặn hiểm họa ngay từ khi nó mới manh nha!

BDN

Loading

Views: 0

TQ làm cao tốc Tân Cương-Tây Tạng khiến Ấn Độ lo lắng

Theo các chuyên gia, Trung Quốc đang nỗ lực liên kết khu tự trị Tây Tạng và khu tự trị Tân Cương lại với nhau bằng một con đường mới mang tên “G216”, có khả năng sẽ mang đến thách thức chiến lược lớn nhất cho Ấn Độ kể từ những năm 1950.

“Cao tốc G216 hiếm khi được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc; đó là một trong những dự án tối mật của Trung Quốc”, ông Claude Arpi, một tác giả kiêm chuyên gia về Tây Tạng, đã viết trong một bài xã luận đăng hôm 15/3 trên First Post.

“Cao tốc mới này một ngày nào đó sẽ nối hai khu tự trị là Tân Cương và Tây Tạng và trở thành một con đường thay thế cho con đường G219 (hay còn gọi là Aksai Chin), vốn được xây dựng trên lãnh thổ Ấn Độ vào đầu những năm 1950”.

G216 dự kiến sẽ cắt qua vùng lãnh thổ tranh chấp Aksai Chin, một khu vực do Trung Quốc quản lý như một phần của địa khu Hòa Điền (Hotan) ở Tân Cương. Trong khi đó, địa khu này được Ấn Độ tuyên bố là một phần của vùng Ladakh.

Theo ông Frank Lehberger, một nhà Hán học sống tại Đức, việc xây dựng đường cao tốc mới, thay thế cho con đường G219 hiện tại nối Tây Tạng và Tân Cương, sẽ là một mối quan tâm của Ấn Độ khi xét đến những lợi thế mà con đường này sẽ cung cấp cho quân đội Trung Quốc.

Ông Lehberger nói với The Epoch Times: “Khi đi vào hoạt động hoàn toàn, G216 sẽ cung cấp khả năng tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng từ khu vực phía đông này tới quân đội Trung Quốc, trong trường hợp G219 (chạy sát biên giới Ấn Độ hơn, tức là Aksai Chin) bị gián đoạn hoặc bị chiếm đóng”.

“Quân đội Trung Quốc có thể nhanh chóng tiếp tế cho các đơn vị đồn trú ở Tân Cương về phía bắc, điều mà trước đây chỉ có thể thực hiện được thông qua G219, vốn là một đường vòng dài về phía tây”, ông nói thêm.

Lợi thế này đặt ra một thách thức đặc biệt đối với Ấn Độ do những căng thẳng biên giới giữa hai nước gia tăng trong những năm gần đây. Vào năm 2020, các binh sĩ Ấn Độ đã tham gia vào một cuộc đụng độ đẫm máu với quân đội Trung Quốc ở khu vực Thung lũng Galwan đang tranh chấp về việc Bắc Kinh xây dựng cơ sở hạ tầng ở biên giới. Ấn Độ đã mất 20 binh sĩ trong cuộc xung đột này.

Theo ông Lehberger, vào đầu mùa hè năm 2020, chỉ vài ngày trước khi xảy ra cuộc đụng độ ở Galwan, các đoàn xe quân sự khổng lồ của quân đội Trung Quốc đã làm tắc nghẽn khu vực G219 gần Aksai Chin trong nhiều ngày, khiến nhiều người lái xe dân sự Trung Quốc giận dữ, buộc phải xuống đường và đăng tải những hình ảnh và video về đoàn xe này lên mạng xã hội Trung Quốc.

“Đây là một dấu hiệu chắc chắn rằng quân đội Trung Quốc đang lên kế hoạch cho một chiến dịch quân sự lớn ở đâu đó trong vùng [biên giới tranh chấp] này ở Ladakh”, ông Lehberger cho biết.

“Dựa trên tài liệu có sẵn công khai này, tôi đã có thể cảnh báo người dân ở Ấn Độ qua trang mạng xã hội của mình rằng một điều gì đó rất lớn sắp diễn ra ở khu vực [biên giới tranh chấp] này”, ông nói thêm.

“Nếu G216 vận hành hết công suất, mọi người sẽ gặp nhiều khó khăn hơn để phát hiện ra các hoạt động chuẩn bị chiến tranh trong tương lai của Trung Quốc”.

Cao tốc G216 mới

Ông Arpi cho biết trong bài báo của mình rằng, ông có thể xác nhận sự hiện hữu của Bắc Kinh trong việc xây dựng G216 từ những manh mối trong các chú thích ảnh được sử dụng trong một bài báo ảnh giới thiệu cảnh quan thiên nhiên của Tây Tạng được tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đăng tải.

Bài báo ảnh này mô tả vẻ đẹp của địa khu Ngari, vùng cực tây của Tây Tạng tiếp giáp với Ấn Độ.

“Bài báo này khắc họa những phong cảnh hùng vĩ, những ngọn núi phủ đầy tuyết trắng, những thảo nguyên rộng lớn, những hồ nước trong vắt một màu, các loài động vật hoang dã càng làm tôn thêm vẻ đẹp của khu vực này trong tiết trời đông lạnh giá”, ông Arpi viết.

“Hai chú thích nhỏ đã thu hút sự chú ý của tôi: ‘Linh dương Tây Tạng bên Quốc lộ 216 ở Quận Rutok (hoặc tiếng Trung gọi là Nhật Thổ) của Ngari’ và ‘Những con bò rừng bên cạnh Quốc lộ 216 ở Quận Rutok’”.

Việc xây dựng G216 là giấc mơ từ lâu của nhà lãnh đạo đầu tiên của ĐCSTQ Mao Trạch Đông, người coi đây là một vấn đề ưu tiên của quốc gia nhằm khai phá một tuyến đường giữa Tây Tạng và Tân Cương. Tuy nhiên, kế hoạch này đã bị hủy bỏ sau khi một số lượng lớn công nhân xây dựng con đường đã thiệt mạng, khi một ngọn núi lửa trong khu vực phun trào vào tháng 5/1951.

“Nhưng các nhà lãnh đạo của Trung Quốc không bao giờ quên ước mơ của những người tiền nhiệm. Ngày nay, một trong những dự án tối mật của Chủ tịch Tập Cận Bình là mở ra một con đường mới kết nối Tân Cương và Tây Tạng”, ông Arpi viết.

Cao tốc G216 mới này sẽ chạy về phía nam từ biên giới quốc tế với Mông Cổ tại cảng Hồng Sơn Chủy (Hongshanzui) ở địa khu A Lặc Thái, nằm ở cực bắc của vùng Tân Cương. Con đường này sẽ băng qua sa mạc Tân Cương về phía nam tại khu vực biên giới với Tây Tạng.

Sau đó, ở Tây Tạng, nó sẽ chạy về phía nam qua một số quốc gia và kết thúc ở biên giới Nepal, theo tài liệu “Quy hoạch mạng lưới Quốc Lộ (2013-2030)” của Trung Quốc.

Ông Lehberger cho biết G216 đã đi vào hoạt động ở một số nơi và cắt ngang qua lòng chảo Tarim, một vùng sa mạc ở Tân Cương, cũng như khu vực phía bắc Tây Tạng được gọi là Khương Đường (Chang Tang), một cao nguyên nổi tiếng với khí hậu khắc nghiệt tương tự như Bắc Cực.

Về căn bản, Khương Đường chiếm toàn bộ phía bắc của khu vực Tây Tạng, khoảng 900 dặm từ đông sang tây, kéo dài đến biên giới với Tân Cương. Mũi phía tây của Khương Đường kéo dài đến Ladakh ở Ấn Độ.

Ông Lehberger cho biết: “Cao tốc này giúp giảm thời gian di chuyển từ Ô Lỗ Mộc Tề của Tân Cương đến phía tây Tây Tạng … cũng như đến biên giới Nepal, nhưng không phải là đến biên giới với Ấn Độ”, ông Lehberger nói, đồng thời cho biết thêm rằng G216 có thể giúp người Nepal tiếp cận trực tiếp với Trung Á và Nga.

Trước đó, ông Arpi đã nói trong một bài bình luận hồi năm 2018 rằng G216 có thể mang lại những hậu quả kinh tế to lớn cho Ấn Độ vì con đường này có thể trở thành đầu mối của một tuyến đường thương mại mới nối liền Trung Á với Nepal và khu vực Nam Á.

Ông nói thêm rằng chính quyền Trung Quốc đang đẩy mạnh hơn nữa các kế hoạch phát triển kinh tế cho Tây Tạng, trong đó bao gồm việc tăng cường lưu lượng du lịch đến địa khu Ngari của nước này và xây dựng một sân bay mới ở phía tây Tây Tạng.

Ông Apri cho biết, điều này ngụ ý rằng khu vực Tây Tạng có thể trở thành một trung tâm kinh tế và du lịch lớn, đồng thời cũng là một trung tâm chiến lược để Trung Quốc bảo vệ biên giới của mình.

Ông Lehberger nói rằng lãnh thổ Ladakh và Galwan của Ấn Độ, nơi binh lính của Ấn Độ và Trung Quốc đụng độ vào năm 2020, nằm xa hơn về phía tây và không nằm trong phạm vi xung quanh cao tốc G216. Tuy nhiên, một cao tốc đông tây trong tương lai, mặc dù chưa được xây dựng, sẽ nối trực tiếp đường G216 từ huyện Cải Tắc (Gêrzê) của Tây Tạng về phía tây với đường G219 ở Rutok của Tây Tạng, có thể thay đổi tình hình đó.

“Giữa huyện Dân Phong ở phía nam Tân Cương và huyện Cải Tắc ở phía tây Tây Tạng là khu bảo tồn thiên nhiên Khương Đường hoang vắng, có vẻ như cao tốc G216 vẫn chưa hoàn thành. Điều này là do địa hình cao nguyên hiểm trở, bao gồm những vùng đất với đầm lầy rộng lớn hoặc lớp băng vĩnh cửu tan chảy”, ông nói và cho biết thêm là ông không rõ về tiến độ cụ thể của dự án này.

BDN

Loading

Views: 0

TQ, Campuchia ký kết văn bản hợp tác quân sự

Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho hay lục quân 2 nước đã ký kết bản ghi nhớ nhưng không nêu rõ chi tiết.

Hãng Bloomberg ngày 31.3 đưa tin quân đội 2 nước Trung Quốc và Campuchia đã ký bản ghi nhớ, trong bối cảnh Bắc Kinh tăng cường mối quan hệ an ninh trong khu vực.

Tại buổi họp báo thường kỳ ở Bắc Kinh, phát ngôn viên Ngô Khiêm của Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho hay các chỉ huy cấp cao từ lực lượng lục quân 2 nước đã gặp trực tuyến và ký văn bản trên. Tuy nhiên, ông không nêu chi tiết về nội dung bản ghi nhớ.

“Trung Quốc và Campuchia là láng giềng gần gũi và bạn bè vững chắc. Trong những năm gần đây, hợp tác thực chất giữa quân đội 2 nước trên nhiều lĩnh vực, bao gồm liên lạc chiến lược, diễn tập và huấn luyện chung, trao đổi và huấn luyện nhân sự tiếp tục sâu sắc thêm”, theo ông Ngô.

Thỏa thuận trên được ký bởi Tham mưu trưởng Lục quân Trung Quốc Lưu Chấn Lập và ông Hun Manet, Phó tổng tư lệnh Lục quân Hoàng gia Campuchia.

Ông Hun Manet từng học tại Học viện quân sự Mỹ ở West Point và là con trai cả của Thủ tướng Campuchia Hun Sen. Tướng Hun Manet còn là ứng viên thủ tướng của đảng Nhân dân Campuchia.

Thông tin về bản ghi nhớ trên được đưa ra vài ngày sau khi có thông tin Trung Quốc và Quần đảo Solomon chuẩn bị ký thỏa thuận an ninh, với nội dung bị rò rỉ cho rằng có thể bao gồm việc cho phép các tàu chiến của Trung Quốc cập cảng ở Quần đảo Solomon, cách bờ biển Úc khoảng 2.000 km.

Giới chức Úc và New Zealand đã bày tỏ quan ngại rằng thỏa thuận của Quần đảo Solomon với Trung Quốc sẽ ảnh hưởng lớn đến an ninh khu vực nam Thái Bình Dương. Trong khi đó, phía Solomon bác bỏ lo ngại.

BDN

Loading

Views: 0

TQ điều máy bay chiến đấu J-11B tham gia cuộc diễn tập giả định ở khu vực Biển Đông.

Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) hôm 22/3 đưa tin Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Nam của quân đội Trung Quốc vừa điều máy bay chiến đấu J-11B vừa được nâng cấp tham gia cuộc diễn tập giả định ở khu vực Biển Đông.

Thông tin không cho biết cụ thể cuộc tập trận diễn ra ở khu vực nào của Biển Đông và vào khoảng thời gian nào.

Theo Global Times của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ít nhất một chiếc J-11B đã tham gia tập trận trong tổng số 10 máy bay chiến đấu tham gia cuộc diễn tập này.

Theo thông tin được Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Nam quân đội Trung Quốc đăng trên tài khoản mạng xã hội Weibo, cuộc tập trận ngày đêm bao gồm diễn tập trận đánh trên không, chiến thuật tấn công và phòng thủ.

CCTV cho biết cuộc diễn tập đối đầu bao gồm diễn tập tác chiến theo đội hình bốn đấu hai và hai đấu hai ở Biển Đông.

Hôm 19/3, Cục Hải sự Trung Quốc đưa thông báo trên trang web của cơ quan này rằng Trung Quốc tiếp tục thêm một cuộc trận tại Biển Đông kéo dài từ ngày 19/3 đến 9/4 tới đây.

Trước đó, vào ngày 4/3, Cục Hải sự Trung Quốc (MSA) đăng thông tin cho biết quân đội nước này sẽ tiến hành tập trận từ 6 giờ chiều cùng ngày đến 6 giờ chiều ngày 15 tháng ba trên vùng biển ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Nếu đối chiếu các toạ độ được MSA đăng với bản đồ Google thì vùng tập trận gần với thành phố Huế của Việt Nam hơn là khu vực đảo Hải Nam của Trung Quốc. Khoảng cách từ khu vực tập trận đến Huế ước tính khoảng 100 km.

Global Times cho biết phiên bản J-11B được cải tiến của Trung Quốc có tầm quan sát và phát hiện mục tiêu rộng, có khả năng sử dụng các vũ khí hiện đại hơn như tên lửa tầm ngắn PL-10 và PL-15 vượt qua giới hạn của tên lửa không đối không.

Global Times trích phát biểu của các nhà phân tích quân sự Trung Quốc cho biết, hiện Trung Quốc có một số lượng lớn máy bay chiến đấu J-11B, và những cải tiến đối với loại máy bay này sẽ cho phép cải thiện đáng kể khả năng tác chiến của quân đội Trung Quốc.

BDN

Loading

Views: 0

Thỏa thuận an ninh giữa Quần đảo Solomon với TQ đáng lo ngại

Thủ tướng New Zealand Ardern cho biết bà “vô cùng lo ngại” về thỏa thuận an ninh được đề xuất giữa Quần đảo Solomon với Trung Quốc. Trước đó, chính quyền Quần đảo Solomon xác nhận đang mở rộng hợp tác an ninh với Trung Quốc và thúc đẩy đa dạng hóa quan hệ an ninh đối ngoại.

Nhật báo Pháp trị chính thức của ĐCSTQ đưa tin vào ngày 18/3 rằng ông Vương Tiểu Hồng (Wang Xiaohong), Bí thư Đảng ủy và Thứ trưởng Bộ Công an, đã tổ chức một cuộc họp trực tuyến cùng ngày với Cảnh sát Quần đảo Solomon và ký kết biên bản ghi nhớ về hợp tác cảnh sát, kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ hai nước phát triển nhanh chóng và đạt được nhiều kết quả tốt đẹp.

Quần đảo Solomon tuyên bố vào năm 2019 rằng họ đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan sau 36 năm và thay vào đó thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Quyết định này đã làm dấy lên các cuộc biểu tình lớn ở đảo quốc này.

Chính quyền Quần đảo Solomon đã không tiết lộ nội dung của biên bản ghi nhớ này với Trung Quốc cho đến khi văn bản, được dán nhãn là một thỏa thuận dự thảo, xuất hiện trực tuyến vào thứ Năm tuần trước. Theo thỏa thuận, Quần đảo Solomon sẽ cho phép binh lính và tàu chiến Trung Quốc tiến vào quốc đảo Thái Bình Dương quan trọng về mặt chiến lược.

Bà Ardern đã được hỏi vào thứ Hai (28/3) liệu New Zealand có thể chấp nhận việc khai triển tàu chiến của Trung Quốc ở quần đảo Solomon hay không. Bà trả lời: “Chúng tôi thấy những hành động như vậy có khả năng dẫn đến việc quân sự hóa khu vực và chúng tôi không thấy cần thiết phải có sự hiện diện quân sự như vậy đối với an ninh Thái Bình Dương.”

Thủ tướng Úc Scott Morrison đã đưa ra nhận xét tương tự vào hôm thứ Bảy. Ông cho biết Úc và New Zealand là một phần của “gia đình Thái Bình Dương” và có truyền thống cung cấp hỗ trợ an ninh và ứng phó với khủng hoảng cho khu vực.

Ngoại trưởng New Zealand, bà Mahuta, cho biết trong một tuyên bố rằng dự thảo thỏa thuận của Quần đảo Solomon với Trung Quốc “sẽ làm suy yếu các cơ chế và thỏa thuận hiện có từ lâu đã củng cố an ninh ở Thái Bình Dương”.

Các quan chức Mỹ đã tuyên bố công khai rằng Bắc Kinh đang tìm kiếm quan hệ quân sự với các quốc đảo ở Thái Bình Dương, đặc biệt là Quần đảo Solomon, nơi sinh sống của 700.000 dân, là “khẩn cấp nhất”.

Ngoại trưởng Blinken tuyên bố vào ngày 12/2 trong chuyến thăm tới quốc đảo Fiji láng giềng rằng Hoa Kỳ đã sẵn sàng mở lại đại sứ quán của mình tại Quần đảo Solomon. Động thái này được cho là một nỗ lực nhằm kiềm chế sự bành trướng của Trung Quốc ở đó.

Các chuyên gia quốc phòng cho rằng nỗ lực của Trung Quốc nhằm giành quyền kiểm soát các hệ thống vệ tinh và liên lạc địa phương, cũng như việc sử dụng quân sự các cảng và sân bay địa phương, nếu thành công, nó sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sự tự do và cởi mở của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà các đồng minh như Hoa Kỳ và Úc đã hình dung.

BDN

Loading

Views: 0

Cuộc tập trận lớn chưa từng có giữa Mỹ và Philippine

Ngày 28-3, quân đội Mỹ và Philippines đã khởi động cuộc tập trận chung lớn nhất từ trước đến nay, kéo dài trong 12 ngày trên đảo Luzon, với sự tham gia của khoảng 9.000 binh sĩ.

Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Philippines, tướng Andres Centino, mô tả việc đưa cuộc tập trận chung Balikatan 2022 lên quy mô lớn chưa từng có phản ánh “quan hệ đồng minh ngày càng sâu sắc giữa hai nước”.

Philippines là đồng minh hiệp ước duy nhất của Mỹ tại Đông Nam Á và đang vướng vào tranh chấp lãnh thổ với một Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán trên Biển Đông.

Nội dung tập trận sẽ bao gồm đảm bảo an ninh hàng hải, các hoạt động đổ bộ, huấn luyện bắn đạn thật, chống khủng bố, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa.

Theo Hãng tin Reuters, các cuộc diễn tập gần đây giữa Mỹ và Philippines đều tập trung vào xung đột tiềm tàng ở Biển Đông, nơi Trung Quốc đưa ra yêu sách chủ quyền vô lý chiếm gần như toàn bộ vùng biển này.

Mỹ, Philippines tập trận lớn chưa từng có - Ảnh 2.

Các quan chức Mỹ và Philippines trong lễ khai mạc tập trận Balikatan 2022 ngày 28-3 – Ảnh: BỘ QUỐC PHÒNG MỸ

Trước cuộc tập trận chung, lực lượng tuần duyên Philippines cáo buộc phía Trung Quốc đã điều tàu hải cảnh áp sát tàu Philippines ở khoảng cách chỉ vài mét tại bãi cạn Scarborough, nơi Bắc Kinh đã kiểm soát trên thực tế từ năm 2012.

Sự việc xảy ra chỉ vài tuần sau khi Manila triệu đại sứ Trung Quốc tại nước này tới để phản đối và yêu cầu giải thích sự hiện diện của một tàu hải quân Trung Quốc trong vùng biển Philippines đưa ra yêu sách hàng hải.

Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila đã không trả lời ngay lập tức yêu cầu bình luận về cuộc tập trận Balikatan 2022 hay sự cố tại bãi Scarborough.

Kể từ khi lên nắm quyền vào năm 2016, Tổng thống Rodrigo Duterte đã theo đuổi quan hệ kinh tế gần gũi với Trung Quốc và tránh đối đầu trong vấn đề Biển Đông.

Lập trường này vấp phải sự phản đối từ dư luận và quân đội Philippines vì lo ngại Bắc Kinh sẽ không dừng tham vọng mở rộng kiểm soát ở Biển Đông.

BDN

Loading

Views: 0

Nga tập trận trên các đảo tranh chấp với Nhật Bản

Nga hôm 25/3 đã khởi động cuộc tập trận trên một chuỗi đảo, trong đó có cả những hòn đảo tranh chấp với Nhật Bản.

Theo hãng tin Kyodo, cuộc tập trận có sự tham gia của hơn 3.000 binh sĩ cùng với hàng trăm trang thiết bị quân sự. Cuộc tập trận diễn ra theo kịch bản các binh sĩ Nga sẽ tiến hành đòn phản công chống lại nỗ lực đổ bộ của đối phương giả định.

Đây là cuộc tập trận đầu tiên của quân đội Nga trên quần đảo tranh chấp ngoài khơi Hokkaido, Nhật Bản kể từ khi Bộ Ngoại giao Nga rút khỏi đàm phán về lãnh thổ với Nhật Bản vào ngày 21/3.

Bộ Ngoại giao Nga khi đó tuyên bố sẽ không tiếp tục đàm phán hiệp ước hòa bình với chính quyền Tokyo để đáp trả các lệnh trừng phạt của họ nhằm vào Moscow, có liên quan tới tình hình chiến sự đang diễn ra ở Ukraine.

Nhóm đảo này nằm ở phía bắc Hokkaido, được Tokyo gọi là “Lãnh thổ phương bắc” trong khi Nga gọi là Nam Kurils. Tranh chấp giữa hai nước quanh một số hòn đảo trong chuỗi đảo này đã ngăn cản Nhật-Nga ký hiệp ước hòa bình sau Thế chiến II.

BDN

Loading

Views: 0

Một Vài Suy Nghĩ Về Vấn Đề Biển Đông

Tác giả: Nguyễn Bá Sơn

Việc vừa qua phía Trung Quốc tập trận xâm phạm Vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam đúng vào thời điểm đang diễn ra cuộc chiến tranh tàn khốc ở Đông Âu đã gây ra những tranh luận và suy luận trong nội bộ nhiều người Việt Nam. Ngày 07/03/2022, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cũng đã phải có phản ứng về vấn đề này. Không phải là chuyên gia về Trung Quốc, nhưng do có một thời gian được tham gia đàm phán về biên giới lãnh thổ nên tôi muốn được chia sẻ đôi điều suy nghĩ của mình. Mong rằng sẽ không ai cho là “múa rìu qua mắt thợ”.
Bản đồ hoạt động của tàu nghiên cứu/khảo sát Trung Quốc ở Biển Đông trong hai năm 2020 và 2021, với bộ dữ liệu từ Asia Maritime Transparency Initiative (AMTI) và Dự án Đại Sự Ký Biển Đông. Bản đồ được dựng bởi AMTI.

1.

Trung Quốc là một dân tộc vĩ đại, nhân dân Trung Quốc rất tốt, hào hiệp, kiên cường, cần cù và vô cùng năng động, tài hoa. Nền văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh cổ đại huy hoàng, có những đóng góp không thể phai mờ cho sự tiến bộ của nhân loại, và duy nhất còn tồn tại, phát triển cho đến ngày hôm nay. Trung Quốc là thị trường rộng lớn nhất thế giới mà mọi quốc gia trong mọi thời đại đều mơ ước được giao thương. Công cuộc cải cách mở cửa do ông Đặng Tiểu Bình khởi xướng vào năm 1978 đã đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc, đưa nước Trung Hoa đông dân và nghèo nàn lạc hậu trở thành một cường quốc giàu có và hiện đại. Suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, từ Triều đại Nhà Thương – khoảng 1500 TCN, chưa bao giờ nước Trung Quốc lại phát triển hùng cường như ngày hôm nay.

Nhưng cũng chính dân tộc vĩ đại đó, nền văn minh huy hoàng đó đã sản sinh ra Chủ nghĩa đại Hán (Hán bản vị) mà một trong những biểu hiện hay được các học giả nhắc đến là chính sách bành trướng. Tiềm lực kinh tế – quốc phòng hùng mạnh ngày hôm nay càng làm cho biểu hiện này trở nên đáng lo ngại hơn bao giờ hết.

Tôi không đồng quan điểm với những người phản đối bất cứ điều gì Trung Quốc muốn làm tại Việt Nam (đường sá, nhà máy, sân bay, dự án đầu tư, sản xuất…) cũng như tẩy chay bất kỳ sản phẩm nào của Trung Quốc vì cho rằng độc hại và kém chất lượng; bác bỏ hoàn toàn ý nghĩa lịch sử của quan hệ hai nước trong thời kỳ cùng nhau chống thực dân đế quốc, sự giúp đỡ và viện trợ chí tình, hiệu quả cho Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến; bài xích chính sách xây dựng mối quan hệ láng giềng hữu nghị chân thành bền vững giữa hai dân tộc…

Nhiều người thường lấy Nhà máy thép Thái Nguyên, Đường sắt Cát Linh – Hà Đông… để dẫn chứng cho sự yếu kém về kỹ thuật, sự gian manh trong làm ăn của người Trung Quốc. Nhưng nếu không có các quan tham Việt Nam, không do trình độ quản lý và kỹ thuật kém cỏi của chúng ta thì liệu những điều đáng xấu hổ đó có thể dễ dàng xảy ra như vậy hay không? Trung Quốc xây dựng nhiều nhà máy, đường sá, công trình… với chất lượng cao và giá cả cạnh tranh chẳng những chỉ trong nước, mà còn cả ở nước ngoài. Ngày nay khó có thể tìm được một quốc gia nào mà phần lớn hàng hóa tiêu dùng bán trên thị trường không phải là của Trung Quốc… Yêu hay ghét một quốc gia nào là quyền riêng tư cần được tôn trọng của mỗi người. Nhưng để cho tình cảm đó làm mất đi tính khách quan, vô tư trong đánh giá về một đất nước cũng như tất cả những gì liên quan đến đất nước đó thì liệu có phải là sáng suốt hay không?

2.

Việt Nam có vị trí địa lý rất thuận lợi để tiếp cận một thị trường vô cùng rộng lớn, để giao lưu với một nền văn hóa vĩ đại, để một người dân bình thường cũng có thể xuất nhập khẩu hàng hóa theo đường tiểu ngạch…, điều mà nhiều quốc gia trên thế giới mơ cũng không thể có được. Kinh tế Việt Nam phát triển khá nhanh trong mấy thập niên vừa qua, nhất là nông nghiệp, có vai trò không thể thiếu của Trung Quốc và thị trường Trung Quốc. Một thị trường rộng lớn và thuận lợi như Trung Quốc mà không biết trân trọng, gìn giữ thì sao có thể nói đến việc phát triển xuất nhập khẩu với các thị trường khác, xa cách và khó khăn hơn nhiều.[1]

Các thành viên Đoàn đàm phán Trung Quốc thường nói với tôi là trên thế giới này không có dân tộc nào hiểu Trung Quốc bằng Việt Nam. Có lẽ đúng như vậy. Mối quan hệ nhiều thế kỷ giữa hai nước trong thời kỳ phong kiến, sự ảnh hưởng về ngôn ngữ và văn hóa của Trung Quốc đối với Việt Nam, việc hai nước cùng trải qua thời kỳ “bao cấp tem phiếu” cũng như cùng cải cách mở cửa thành công… đã cho chúng ta vốn hiểu biết quý báu về Trung Quốc mà không phải ai cũng có được. Bên cạnh việc đa dạng hóa các thị trường và đối tác thương mại, Việt Nam cần phát huy những tiềm năng, lợi thế nói trên để xây dựng quan hệ láng giềng hữu nghị bền vững và phát triển hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư cùng có lợi với Trung Quốc.

Người Trung Quốc rất tài giỏi và mưu lược, ít ai lừa được họ trong làm ăn. Vì vậy, nếu muốn hợp tác cùng có lợi được với Trung Quốc thì phải có ý thức cảnh giác cao độ, có một đội ngũ quan chức liêm chính, một lực lượng lao động (quản lý, chuyên gia, công nhân) có trình độ giỏi, không để cho họ qua mặt. Mặc dù hợp tác với ai cũng cần phải như vậy, nhưng với Trung Quốc lại càng cần hơn. Mỹ, các nước EU… có tiềm lực kinh tế, quốc phòng, trình độ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm hơn hẳn chúng ta, lại không ở bên cạnh Trung Quốc, mà còn lo ngại và phải có những biện pháp đề phòng, ngăn chặn thì Việt Nam cảnh giác hơn cũng không thừa. Vai trò chính trong việc này phải là của Nhà nước, không thể phó mặc cho các công ty tư nhân, cho người dân. Chúng ta cần hoàn thiện những văn bản quy phạm pháp luật và củng cố bộ máy thực thi pháp luật để Nhà nước, vì lý do an ninh, có thể can thiệt vào các dự án đầu tư, vào các hợp đồng mua bán, sáp nhập công ty, chuyển giao công nghệ… như quy định của pháp luật hầu hết các nước trên thế giới.

Nói tóm lại, để hợp tác có hiệu quả với Trung Quốc cần có bản lĩnh, trình độ và lòng yêu nước. Hơn ngàn năm nay cha ông chúng ta đã giao thương, cùng tồn tại và phát triển bên cạnh quốc gia phương Bắc hùng mạnh này, chẳng lẽ ngày nay chúng ta lại thua kém.

3.

Nhưng trên thế gian này không có gì là hoàn hảo, mọi sự vật luôn có hai mặt. Những thuận lợi nói trên lại đi kèm với sức ép vô cùng mạnh và nóng, lớn hơn đối với bất kỳ một quốc gia nào khác. Trong giai đoạn hiện nay, Biển Đông với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chính sách bành trướng của Trung Quốc. Bất chấp quyền và lợi ích chính đáng của tất cả các nước xung quanh một biển quốc tế nửa kín rộng lớn và quan trọng, từ năm 2010 Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”[2] của mình và coi gần như toàn bộ Biển Đông là lãnh thổ của Trung Quốc.[3] Khi coi là “lợi ích cốt lõi” tức là Trung Quốc đặt lợi ích của họ ở Biển Đông ngang hàng với Đài Loan, Tây Tạng… Vì vậy, dù có muốn hay không, có nói thẳng ra hay không thì cục diện đối đầu trên Biển Đông là thực tế khách quan, không thể nào lẩn tránh được. Và sự đối đầu này hết sức quyết liệt, giữa một Bên là “lợi ích cốt lõi” với một Bên là “sinh tồn và phát triển”.[4]

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng “lợi ích cốt lõi” thể hiện tham vọng của Trung Quốc trong rất nhiều lĩnh vực: từ chiến lược phá thế bị bao vây của vòng cung chuỗi đảo thứ nhất để mở đường ra đại dương rộng lớn, khẳng định vị thế cường quốc biển trong thế kỷ 21, mở rộng bờ cõi quốc gia ra một không gian mới và rộng lớn; cho đến những mục tiêu cụ thể về lãnh thổ, về tài nguyên, về quyền kiểm soát đối với mọi hoạt động trên Biển Đông… Đối tượng tranh chấp của Trung Quốc không chỉ là các quốc gia ven Biển Đông mà còn bao gồm tất cả những cường quốc ngoài khu vực có lợi ích trên Biển Đông… Trong khi đó mục tiêu của Việt Nam là giữ hòa bình, ổn định và bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ các quyền chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên được luật pháp quốc tế công nhận là hoàn toàn chính nghĩa và không thách thức toàn bộ “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc…

Mặc dù vậy, đây sẽ là cuộc đấu tranh trường kỳ, vì người Trung Quốc rất biết chờ đợi thời cơ, họ có thể chờ đợi hàng chục, thậm chí hàng trăm năm để thực hiện cho được mục tiêu của mình. Một học giả nước ngoài đã viết về điều này như sau: “Trung Quốc, một nền văn minh 5.000 năm tuổi, biết rằng những kẻ tuyệt vọng tìm kiếm một thỏa thuận cuối cùng sẽ thua cuộc, trong khi những người kiên nhẫn và tỉnh táo sẽ chiến thắng. Lập trường đó sẽ định hướng chiến lược cho Trung Quốc, cả trong thời gian trước mắt cũng như trong dài hạn.”[5] Câu châm ngôn “Quân tử báo thù 10 năm chưa muộn” thể hiện ý chí sắt đá này của người Trung Quốc. Vì vậy, chúng ta cần phải có một tư duy chiến lược mới, đáp ứng được với những thách thức lâu dài và chưa từng có như hiện nay.

4.

Tháng 12 năm 2017, với tư cách là Phó Chủ tịch của Quỹ Hòa bình và Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HPDF), tôi được tham gia Đoàn của Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam (PDF) thăm Bắc Kinh và Vân Nam theo lời mời của Tổ chức Hòa Tài (Hòa Bình và Tài giảm binh bị), một tổ chức trực thuộc Ban Đối ngoại Đảng Cộng sản Trung Quốc. Lúc này Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 19 vừa kết thúc, uy tín của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình lên rất cao, người dân Trung Quốc đang hồ hởi với những mục tiêu mà Đại hội Đảng đề ra (ví dụ như năm 2049, vào dịp 100 năm ngày thành lập nước, sẽ vượt Mỹ trở thành cường quốc số 1 trên thế giới)…

Khi trình bày kết quả Đại hội Đảng, ông Phó trưởng Ban Đối ngoại nhấn mạnh với chúng tôi hai điểm cốt lõi của học thuyết đối ngoại Tập Cận Bình: thứ nhất, về “mối quan hệ quốc tế kiểu mới” (xác định vị thế cường quốc toàn cầu của Trung Quốc); và thứ hai, về “cộng đồng cùng chung vận mệnh” của nhân loại. Trên tinh thần trao đổi thân tình và thẳng thắn, tôi có nói: Người dân Việt Nam khó có thể chấp nhận khái niệm “cộng đồng cùng chung vận mệnh”. Làm sao cùng chung vận mệnh được khi trên một con sông quốc tế chảy qua hai nước mà thượng nguồn xây hàng loạt con đập lớn để hạ lưu khốn đốn vì khô hạn và ngập mặn. Con sông chung mà cuộc sống của những người dân hai bên bờ sông còn trái ngược nhau, có chung vận mệnh được đâu”. Không hài lòng, ông Phó Trưởng Ban trả lời rất thẳng: “Nếu chẳng may Đảng Cộng sản Việt Nam có làm sao thì Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ vẫn vững vàng, nhưng nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc mà làm sao thì Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ hết sức khó khăn”. Trong đầu tôi đã có câu trả lờinhưng im lặng, vì nghĩ rằng mình chỉ nói những điều rất thật lòng và không muốn làm mất hòa khí của một chuyến thăm hữu nghị.

Tôi kể lại chuyện trên vì câu trả lời của ông Phó Trưởng Ban Đối ngoại đã thể hiện tư duy về mối quan hệ với Việt Nam. Tư duy này có nguồn gốc lịch sử sâu xa, từ thời các triều đình phong kiến Trung Quốc dành cho mình quyền sắc phong cho vua chúa Việt Nam, từ sự phân công của Quốc tế cộng sản cho Đảng Cộng sản Trung Quốc phụ trách các tổ chức cộng sản ở Đông Dương và Đông Nam Á vào những năm đầu thế kỷ 20, cũng như từ việc năm 1950 Liên Xô giao Trung Quốc trách nhiệm viện trợ cho Việt Nam kháng chiến chống Pháp. Cũng không loại trừ khả năng, có ai đó đã làm cho phía Trung Quốc ngộ nhận như vậy…

Thời đại đó đã qua từ lâu lắm rồi. Ngày nay, chống chính sách bành trướng, trước hết là phải chống những ngộ nhận, những tư duy cổ lỗ như vậy. Đảng Cộng sản Việt Nam có vững mạnh hay không là phụ thuộc vào Dân tộc Việt Nam. Trong quan hệ với Trung Quốc, Đảng và Dân tộc Việt Nam là một, cả Dân tộc luôn đoàn kết bên Đảng.

Chúng ta trừng trị nghiêm khắc những hành động đập phá nhà máy, văn phòng của các Công ty Trung Quốc, kiên quyết chống việc cổ súy cho hận thù dân tộc…; nhưng chúng ta phải thông tin đầy đủ những hành động vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông; tạo điều kiện cho người dân được tự do thể hiện tiếng nói yêu nước, chống bành trướng phù hợp với quy định của pháp luật…

5.

Trong cuộc đấu tranh này, Việt Nam và các nước xung quanh Biển Đông không đơn độc, chúng ta có sự ủng hộ mạnh mẽ về cả chính trị, ngoại giao và pháp lý của rất nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế. Ngày 12 tháng Bảy năm 2016, Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) trong Vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc đã đưa ra Phán quyết bác bỏ hoàn toàn những yêu sách vô lý của Trung Quốc liên quan đến thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của các nước xung quanh Biển Đông.[6] Phán quyết này đã lật đổ những tuyên truyền, lập luận của Trung Quốc từ trước đến nay về các quyền của họ trên Biển Đông. Trừ Trung Quốc, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ủng hộ Phán quyết, coi Phán quyết là một bộ phận của luật pháp quốc tế mà tất cả các nước có nghĩa vụ phải thi hành.[7]

Ngày nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới đều nhận thức rõ âm mưu cũng như những hành động bành trướng. Mỹ, EU, Ấn Độ, Anh, Nhật Bản, Australia, Indonesia và nhiều nước khác… đã lên tiếng phê phán và có biện pháp đáp trả, đặc biệt là đối với những hành động của Trung Quốc trên Biển Đông. Ai đó có thể biện minh rằng Mỹ chống Trung Quốc là do muốn kiềm chế Trung Quốc trở thành cường quốc số một,[8] nhưng thử hỏi các nước khác thì sao? Họ thực lòng mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị, mở rộng hợp tác thương mại – đầu tư với thị trường hơn một tỷ dân, họ đâu có mục tiêu cạnh tranh vị trí số 1 với Trung Quốc. Các nước Anh, Pháp, Đức… nếu không vì hòa bình, ổn định, trật tự pháp lý quốc tế thì những sự việc xảy ra ở Biển Đông đâu có đụng chạm trực tiếp tới họ?

Thực tế là chưa bao giờ chính sách bành trướng lại bị phê phán mạnh mẽ như hiện nay. Sức mạnh kinh tế và quân sự to lớn chưa từng có cũng không giúp cho Trung Quốc buộc các nước phải làm ngơ trước các hoạt động bất hợp pháp trên Biển Đông.

Mặc dù không có một từ nào nói đến Trung Quốc, nhưng rõ ràng là để đối phó với những hành động bành trướng quân sự trên biển và đại dương, năm 2017 Mỹ đã đưa ra chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, gần đây Mỹ cùng với các nước Nhật, Australia và Ấn Độ đã hướng các hoạt động trong hợp tác an ninh của “Nhóm Bộ Tứ – Quad” (Đối thoại tứ giác an ninh) vào lĩnh vực an ninh biển. Tháng Chín năm 2021, Mỹ, Anh, Australia thành lập AUKUS (Hiệp định đối tác và tăng cường an ninh ba bên – còn gọi là Liên minh tầu ngầm hạt nhân),[9] đồng thời Liên minh châu Âu (EU) cũng đưa ra “Chiến lược của EU hợp tác ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” kêu gọi tăng cường sự hiện diện của EU tại khu vực này… Và những liên minh đã ra đời rất lâu trước đó như: Hiệp định Ngũ cường (Five Powers Defense Agreement – FPDA), giữa Anh, Australia, Brunei, Malaysia và Singapore; Ngũ Nhãn (FVEY – liên minh chia sẻ thông tin tình báo) bao gồm Anh, Canada, Mỹ, New Zealand và Australia… ngày nay cũng được kích hoạt trở lại để đối phó với những căng thẳng mới trong khu vực. Đánh giá về những sự kiện trên, Gideon Rachman nhận xét như sau: “Trung Quốc tố cáo tất cả các động thái này là khiêu khích. Nhưng chính các hành động lấn lướt của Bắc Kinh trong khu vực đã kích động những nỗ lực nhằm cân bằng lại với quyền lực của họ.“[10]

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 34 diễn ra tại Bangkok vào tháng 6/2019 đã thông qua Quan điểm ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (AOIP) và ASEAN cũng nhiều lần ra Tuyên bố về Tình hình Biển Đông, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như lợi ích của việc duy trì hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn và tự do hàng hải, hàng không, kêu gọi tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982. Các nước ASEAN và Trung Quốc đang đàm phán xây dựng Bộ quy tắc ứng xử (COC), với hiệu lực pháp lý cao nhất có thể, để bảo vệ hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Thế giới ngày nay đã thay đổi, đã bước sang kỷ nguyên của hội nhập quốc tế. Phải chăng Trung Quốc nên thay đổi chính sách bành trướng không còn phù hợp với xu thế của thời đại? Liệu Trung Quốc có nên tìm cách lấy lại hình ảnh của mình trong trái tim và khối óc những dân tộc bị áp bức như là thời kỳ những năm 1950, khi khởi xướng 5 nguyên tắc Chung sống hòa bình[11] mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị hay không?

6.

Có người nói Trung Quốc ở quá gần và đã quá mạnh để có thể đương đầu. Cũng chính vì Trung Quốc quá gần và quá mạnh nên chỉ có khối đại đoàn kết dân tộc cùng với sự hợp tác quốc tế rộng lớn và một chính sách đúng đắn thì mới có thể ngăn chặn được những hành vi bành trướng trên Biển Đông. Chính sách nhất quán của chúng ta đối với Trung Quốc, bao gồm cả Biển Đông nên như sau: Việt Nam sẽ phấn đấu hết sức xây dựng, vun đắp mối quan hệ láng giềng hữu nghị chân thành và phát triển sự hợp tác sâu rộng về mọi măt với Trung Quốc; Việt Nam không chống Trung Quốc, không chọn phe và cũng không theo ai chống lại những quyền và lợi ích chính đáng của Trung Quốc; nhưng Việt Nam cương quyết chống những chính sách, hành động bành trướng trên Biển Đông và sẵn sàng hợp tác/liên kết với tất cả các quốc gia cùng có chung mục tiêu này.

Việt Nam không bao giờ chấp nhận “gác tranh chấp cùng khai thác” trên phần thềm lục địa và vùng đặc quyền về kinh tế đã được Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 quy định thuộc về mình và đã được khẳng định tại Phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài quốc tế trong Vụ kiện Biển Đông.

Trung Quốc có bằng lòng với chính sách hợp tình hợp lý này hay không là tùy ở sự suy xét của họ, chúng ta đã biết trước là việc giải quyết những xung đột lợi ích chồng chéo trên Biển Đông sẽ vô cùng phức tạp. Nhưng tôi có niềm tin vững chắc là công lý và lý trí sẽ chiến thắng, tình hình sẽ không diễn biến theo chiều hướng xấuNgười Trung Quốc thừa thông minh để có quyết định phù hợp.

Thế giới ngày nay đã không còn chia thành phe, chiến tranh ngày càng không còn là biện pháp được ưu tiên lựa chọn để giải quyết xung đột giữa các quốc gia… Vì vậy, trên Biển Đông, Việt Nam luôn lựa chọn đối thoại thay cho đối đầu, lựa chọn chính sách đối ngoại và quan hệ đối tác phù hợp với lợi ích của dân tộc.

Có người đã từng hỏi là nếu các nước lớn thỏa hiệp với nhau, bỏ rơi các nước nhỏ như trong quá khứ, làm cho Việt Nam bị rơi vào tình thế cô độc trên Biển Đông thì làm sao? Vậy chẳng lẽ chỉ vì nỗi sợ này mà chúng ta lại từ bỏ hai quần đảo của cha ông để lại, từ bỏ thềm lục địa và vùng đặc quyền về kinh tế cùng với quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với tài nguyên thiên nhiên do Luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc 1982 mang lại cho các quốc gia ven biển hay sao? Và trong khi giả định các nước lớn thỏa hiệp bỏ rơi nước nhỏ chưa biết sẽ xảy ra hay không thì chẳng lẽ chúng ta lại cứ tự hù dọa mình, từ chối những đề nghị hợp tác phù hợp với thông lệ quốc tế, với lợi ích bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông?

Việt Nam ngày nay không còn là một đất nước phải dựa vào nước ngoài. Đúng là suốt từ 1950 cho đến 1990, hơn 40 năm, Việt Nam đã tồn tại và phát triển nhờ có sự viện trợ của nước ngoài. Không ai quên cái cảnh hàng năm Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa để xin viện trợ và rồi kế hoạch cũng như ngân sách Nhà nước được xác định dựa vào kết quả của các chuyến thăm đó. Sự phụ thuộc vào Mỹ của miền Nam Việt Nam trước năm 1975 còn nặng nề hơn nhiều. Bài phát biểu khi từ chức vào tháng Tư năm 1975 của ông Nguyễn Văn Thiệu, phê phán Mỹ bỏ rơi chính quyền Sài Gòn, đã nói rõ về sự thật này.

Ngày nay, chúng ta đã biết dựa vào nội lực của chính mình, không cần bất kỳ một sự “chống lưng” của ai. Đó là bài học quý báu nhất mà công cuộc Đổi mới, do Đại hội Đảng lần thứ 6 vạch ra, đã đem lại cho Dân tộc Việt Nam! Chúng ta, như hầu hết các quốc gia trên thế giới, không nhất thiết phải dựa vào ai mới có thể tồn tại và phát triển. Trên Biển Đông cũng vậy, chúng ta tranh thủ tối đa sự hợp tác và liên kết quốc tế, nhưng không có sự liên kết đó thì Việt Nam sẽ vẫn kiên quyết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Những biến động rung chuyển châu Âu trong những ngày vừa qua cho thấy ý chí kiên cường của một dân tộc và sự đoàn kết quốc tế rộng rãi nhất định sẽ ngăn chặn được những hành động phiêu lưu của một trong những cường quốc quân sự hàng đầu trên thế giới.

Chúng ta không chống lại tất cả nội dung của “lợi ích cốt lõi”, mà chỉ chống lại những hành động làm ảnh hưởng đến sự sinh tồn và phát triển chính đáng, phù hợp với luật quốc tế, của Việt Nam trên Biển Đông. Kiên trì với lập trường đúng đắn này chúng ta sẽ thành công.

TS. Nguyễn Bá Sơn nguyên là Chủ tịch Hội Luật Quốc tế Việt Nam (Vietnam Society of International Law – VSIL).

Loading

Views: 0