Lầu Năm Góc cho biết, quân đội Mỹ có kế hoạch mua sắm hàng nghìn UAV mới nhằm sẵn sàng cho một cuộc đối đầu quân sự tiềm tàng trong tương lai.
Phát biểu tại hội nghị của Hiệp hội Công nghiệp Quốc phòng (NDIA) tại Washington DC ngày 29/8, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Kathleen Hicksc cho biết, quân đội nước này đã triển khai một chương trình phát triển công nghệ “UAV bầy đàn” mới, đồng thời đề cập đến các mối đe dọa an ninh từ Trung Quốc.
Theo Thứ trưởng Hicksc, chương trình máy bay không người lái (UAV) trên có tên là Replicator (tạm dịch: Máy nhân bản) và nó được thiết kế để có thể kiểm soát đồng thời hàng nghìn UAV trên đất liền, trên biển và trên không.
Quan chức này cho biết, mặc dù quân đội Mỹ vẫn vận hành hiệu quả các hệ thống UAV tầm xa và tầm trung tiên tiến nhưng việc áp dụng các nền tảng UAV cỡ nhỏ hoặc drone lại dễ sản xuất hơn, bên cạnh đó chúng cũng thông minh. Cũng theo bà Hicksc, quân đội Trung Quốc sở hữu số lượng trang thiết bị quân sự vượt xa so với Mỹ, nhiều tàu chiến hơn, nhiều tên lửa, nhiều binh sĩ và giờ đây là nhiều UAV. Do đó quân đội Mỹ cần đến các hệ thống vũ khí tiên tiến để san bằng khoảng cách này.
“Nước Mỹ vẫn có thể đối phó với sự áp đảo về trang bị từ phía Trung Quốc bằng lực lượng hiện có, nhưng quân đội Mỹ sẽ gặp khó khăn trong tác chiến và đánh bại kẻ thù”, bà Hicksc nhấn mạnh
Để lấy lại những lợi thế đó, bà Hicks cho biết chương trình Replicator sẽ hoạt động để triển khai “hàng nghìn” UAV trên nhiều lĩnh vực và Lầu Năm Góc hy vọng sẽ hoàn thành dự án này trong vòng hai năm.
Còn theo Đô đốc John Aquilino, người đứng đầu Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của quân đội Mỹ (INDOPACOM), máy bay không người lái sẽ hữu ích trong cuộc xung đột tiềm tàng với Trung Quốc trong tương lai, các hệ thống vũ khí này có thể tấn công một số lượng lớn các mục tiêu trải rộng trên một khu vực rộng lớn.
“Đối với tôi, việc tấn công 1.000 mục tiêu trong 24 giờ là có thể làm được”, Đô đốc Aquilino nói và cho biết thêm rằng ông đã làm việc với Cơ quan các dự án nghiên cứu quốc phòng tiên tiến (DARPA) thuộc Lầu Năm Góc để tạo ra các hệ thống có thể thu thập và tích hợp dữ liệu mới cho UAV.
Đầu năm 2023, quân đội Mỹ, Anh và Australia đã tổ chức một “cuộc thử nghiệm năng lực chung” để trình diễn các hệ thống máy bay không người lái mới được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo (AI), được triển khai như một “bầy đàn UAV để phát hiện và theo dõi các mục tiêu quân sự”
Mặc dù chưa rõ chính xác trí tuệ nhân tạo sẽ tham gia chương trình Replicator như thế nào, cả ba quốc gia trên đã ngày càng tập trung vào việc kiểm soát sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cam kết phát triển và triển khai các năng lực quân sự mới trong khu vực để đối phó Bắc Kinh.
Bộ Quốc phòng Nhật Bản hôm 25/8 cho biết đã điều động tiêm kích phản lực theo dõi máy bay ném bom và máy bay không người lái (UAV) của Không quân Trung Quốc bay gần đảo Okinawa và đảo Đài Loan.
Tiêm kích F-2 của Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản
Theo tuyên bố của Bộ Quốc phòng Nhật Bản, quyết định trên được đưa ra sau khi họ phát hiện 2 máy bay ném bom H-6 của Trung Quốc bay qua eo biển nằm giữa đảo Okinawa và đảo Miyako ở phía tây nam nước này vào sáng cùng ngày.
Okinawa là nơi đặt một trong những căn cứ quân sự lớn của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương, và là trung tâm trong hoạt động tăng cường phòng thủ của Tokyo và Washington nhằm đề phòng nguy cơ Bắc Kinh tấn công đảo Đài Loan hoặc các đảo Nhật Bản gần đó.
Trong một tuyên bố riêng rẽ, Bộ Quốc phòng Nhật Bản cũng cho biết đã phát hiện một UAV quân sự của Trung Quốc và một UAV khác “có thể là của Trung Quốc” bay giữa đảo Yonaguni ở điểm cực tây của Nhật Bản và đảo Đài Loan trong cùng ngày.
Nhật Bản cho biết đã điều tiêm kích thuộc Lực lượng phòng vệ trên không Nhật Bản theo dõi các UAV này. Theo nguồn tin, các UAV cuối cùng đã di chuyển về hướng Trung Quốc đại lục.
Cơ quan Phòng vệ Đài Loan trước đó cũng báo cáo về hoạt động quân sự của Trung Quốc xung quanh vùng lãnh thổ này cùng ngày, gồm 13 máy bay đi vào vùng phản ứng của Đài Loan và 5 tàu thực hiện tuần tra sẵn sàng chiến đấu.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Indonesia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, bao gồm ở Biển Đông.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin đã có cuộc gặp với người đồng cấp Indonesia Prabowo Subianto tại Lầu Năm Góc vào ngày 24.8 (theo giờ Mỹ).
Hai bộ trưởng nhất trí rằng Tầm nhìn của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ chia sẻ các nguyên tắc cơ bản, chẳng hạn như cam kết duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và thịnh vượng trong khu vực thông qua vai trò trung tâm của ASEAN.
Hai bộ trưởng cũng nhất trí rằng hai bên nên làm việc cùng với những đối tác có chung những mục tiêu trên và cam kết về một trật tự rộng mở, toàn diện và dựa trên quy tắc, theo tuyên bố được đăng trên trang web của Bộ Quốc phòng Mỹ. Bộ trưởng Austin và Bộ trưởng Prabowo còn chia sẻ quan điểm rằng các yêu sách biển mở rộng của Trung Quốc ở Biển Đông là không phù hợp với luật pháp quốc tế như được phản ánh trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển.
Bộ trưởng Prabowo và Bộ trưởng Austin tái khẳng định rằng quan hệ đối tác quốc phòng song phương mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Hai ông còn tái khẳng định tầm quan trọng của việc hiện đại hóa quân sự của Indonesia và thảo luận về ý định chung của cả hai nước nhằm tăng cường khả năng tương tác thông qua các khả năng phòng thủ, như nâng cấp máy bay chiến đấu.
Indonesia và Mỹ dự kiến tổ chức cuộc tập trận chung vào tuần tới mang tên “Lá chắn Garuda”. Trước đây, cuộc tập trận này chỉ có sự tham gia của quân đội hai nước, nhưng năm nay sẽ được tổ chức với quy mô lớn hơn bao giờ hết, với sự tham gia của 17 quốc gia khác, theo Đài NHK.
Không quá ồn ào, nhưng căng thẳng giữa Mỹ cùng các đồng minh với Trung Quốc ở Biển Đông đang có nhiều diễn biến đáng quan ngại.
Tàu HMAS Canberra của hải quân Úc
Tối qua, tờ The Japan Times dẫn lời phát ngôn viên của hải quân Úc cho hay tàu chiến của nước này tham gia một cuộc tập trận chung cùng lực lượng phòng vệ trên biển của Nhật Bản khi hai bên đang trên đường đến Philippines.
Tập trận răn đe Cuộc tập trận có sự tham gia của tàu hộ tống lớp Anzac và đổ bộ tấn công HMAS Canberra (L02). Trong đó, HMAS Canberra là chiến hạm lớn nhất của Úc hiện nay. Dự kiến, hải quân Úc còn có thêm hoạt động tập trận khác cùng Philippines khi đến thăm nước này. Cụ thể, Úc và Philippines sắp điều động tàu chiến và máy bay cùng khoảng 2.000 quân nhân tham gia cuộc tập trận Alon. Cuộc tập trận còn có thêm sự tham gia của khoảng 150 binh sĩ thủy quân lục chiến Mỹ.
Tuy nhiên, đến hôm qua, cuộc tập trận của 3 nước Mỹ – Nhật – Úc ở Biển Đông vẫn chưa diễn ra. Trước đó, AP dẫn nguồn tin từ một quan chức an ninh Philippines tiết lộ Mỹ – Nhật – Úc sẽ điều động nhiều tàu chiến tham gia tập trận ở Biển Đông. Cuộc tập trận có thể diễn ra vào ngày 23.8, có sự tham gia của tàu HMAS Canberra cùng tàu đổ bộ tấn công USS America của Mỹ, tàu khu trục chở máy bay trực thăng lớp Izumo của Nhật. Tàu lớp Izumo đang được nâng cấp để có thể triển khai máy bay tiêm kích F-35 để tổ chức tác chiến như tàu sân bay. Còn tàu USS America tuy là tàu đổ bộ tấn công nhưng cũng có thể mang theo chiến đấu cơ F-35 để tác chiến tàu sân bay.
Chính vì thế, sự tập trung của các tàu chiến trên từ Mỹ, Nhật và Úc khi tham gia tập trận ở Biển Đông không những mang tính thị uy sức mạnh mà còn thể hiện mức độ phối hợp với sự tăng cường nguồn lực từ các đồng minh Tokyo và Canberra, chứ không phải chỉ dựa vào nguồn lực chính yếu của Washington.
Nhận xét về kế hoạch triển khai 3 chiến hạm trên tập trận ở Biển Đông khi trả lời Thanh Niên, TS Satoru Nagao (Viện nghiên cứu Hudson, Mỹ) cho rằng điều này mang 3 thông điệp. Thứ nhất, Mỹ – Nhật và Úc muốn gửi thông điệp răn đe nhằm vào Trung Quốc; Thứ hai là thông điệp dành cho các nước trong khu vực rằng Mỹ cùng các đồng minh sẽ sử dụng những nguồn lực mạnh nhất để hỗ trợ các bên trong khu vực; Thứ ba là thông điệp của Mỹ gửi tới Nhật Bản và Úc về việc cần chia sẻ gánh nặng cùng Washington.
TS Nagao nói thêm: “Các phương tiện truyền thông cho biết cuộc tập trận chung đã được lên kế hoạch từ vài tháng trước. Nếu đúng thì thời gian chuẩn bị tương đối ngắn. Bài tập này có thể là một ví dụ điển hình về quá trình chia sẻ gánh nặng an ninh và có sự phối hợp nhanh hơn.
Tương tự, TS James Holmes (chuyên gia chiến lược hàng hải – Đại học Hải chiến Mỹ) đánh giá: “Kế hoạch tập trận trên là cách thức truyền thông điệp với cả đối thủ lẫn đồng minh thông qua triển khai quân sự. Cuộc tập trận gửi thông điệp đến Trung Quốc rằng lực lượng vũ trang của 3 nước có thể hoạt động cùng nhau một cách gắn kết và hiệu quả ở khu vực lân cận các chiến trường tiềm năng ở quần đảo Trường Sa. Cả Tokyo, Canberra và Washington cùng Manila đang thể hiện khả năng quân sự và quyết tâm chính trị để sát cánh cùng nhau và sử dụng khả năng đó trong những hoàn cảnh mà họ nói rằng họ sẽ làm”.
“Nếu cuộc biểu dương lực lượng đủ ấn tượng, các đối tác tiềm năng khác sẽ an tâm hơn với cam kết của Mỹ cùng các đồng minh đối với khu vực”, TS Holmes nhận định thêm khi trả lời Thanh Niên.
Căng thẳng dền dứ Trong khi đó, căng thẳng giữa Philippines với Trung Quốc vẫn chưa có hồi kết. Đầu tuần này, Manila tuyên bố đã hoàn thành việc tiếp tế cho lực lượng của nước này ở một thực thể trên Biển Đông. Trước đó, hồi đầu tháng, Manila tố tàu hải cảnh Trung Quốc đã ngăn cản việc tàu Philippines tiếp tế đến thực thể trên. Một trong những lý do mà Bắc Kinh đưa ra để lý giải việc ngăn cản là vì Manila còn mang theo vật liệu xây dựng để tôn tạo, nâng cấp thực thể.
Từ sự ngăn cản của Bắc Kinh, sứ mệnh tiếp tế đầu tiên của Manila đã thất bại. Sau đó, Mỹ cùng các đồng minh đã lên tiếng chỉ trích Trung Quốc, đồng thời rò rỉ một số thông tin về kế hoạch tập trận. Sau đó, đến ngày 22.8, Philippines tổ chức tiếp tế lần 2 và công bố đã thành công. Trong khi đó, phía Trung Quốc tuyên bố việc tiếp tế thành công là do 2 bên có một thỏa thuận tạm thời và Manila đã không chuyển vật liệu xây dựng, theo tờ South China Morning Post. Tuy nhiên, giới quan sát cho rằng căng thẳng giữa 2 bên sẽ còn bùng phát trong các sự kiện tương tự.
Triển lãm “Di sản văn hóa biển, đảo Việt Nam” từ 27/8-3/9 tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Đây là sự kiện nằm trong khuôn khổ Năm Du lịch Quốc gia 2023 với chủ đề “Bình Thuận – Hội tụ xanh” do Trung tâm Triển lãm VHNT Việt Nam phối hợp với UBND 22 tỉnh, thành phố thực hiện.
Tác phẩm “Du lịch vịnh Gia Luận” của tác giả Đức Nghĩa tại buổi triển lãm.
Với chủ đề “Bình Thuận – Hội tụ xanh”, triển lãm nhằm giới thiệu quảng bá, tôn vinh các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và sản phẩm du lịch đặc sắc của biển đảo Việt Nam; Góp phần khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Triển lãm cũng góp phần tăng cường giáo dục truyền thống cách mạng, nâng cao hơn nữa tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức tránh nhiệm với biển, đảo quê hương.
Trong triển lãm sẽ có khu trưng bày chung với chủ đề “Di sản văn hóa biển, đảo Việt Nam” với 270 hình ảnh, hiện vật, tạo góc nhìn tổng quát về biển, đảo Việt Nam. Khu trưng bày chia theo 4 nội dung chính. Đầu tiên là “Tư liệu, hiện vật về văn hóa biển, đảo Việt Nam trong lịch sử”.
Phần này trưng bày bản đồ cổ, các tư liệu Hán – Nôm, châu bản triều Nguyễn về chủ quyền biển đảo đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; hình ảnh, kỷ vật đoàn tàu không số, đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Bên cạnh đó là hiện vật cổ về văn hóa biển đảo Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử như: Trang phục lễ hội cư dân vùng biển; bộ sưu tập ngư cụ đánh bắt và công cụ lao động sản xuất cư dân vùng biển của các bảo tàng, nhà sưu tập tư nhân.
Tiếp theo là phần “Xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam” gồm những hình ảnh thể hiện sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước trong công cuộc xây dựng, bảo vệ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa của Tổ quốc gắn với xây dựng đời sống văn hóa cư dân trên các vùng biển, đảo Việt Nam…
Phần ba là “Trưng bày ảnh nghệ thuật về biển, đảo Việt Nam”, giới thiệu về nét đẹp văn hóa biển, đảo Việt Nam thông qua các tác phẩm ảnh nghệ thuật. Những hình ảnh này góp phần làm nổi bật tình yêu quê hương đất nước, giới thiệu các thành tựu phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương ven biển, tiềm năng phát triển du lịch biển, đảo; sản phẩm thủ công truyền thống của làng nghề vùng biển cùng hoạt động bảo vệ môi trường biển, đảo, bảo tồn hệ sinh thái biển; giới thiệu các tác phẩm văn học nghệ thuật, báo chí, âm nhạc về biển đảo.
Phần cuối là “Tuổi trẻ Việt Nam với biển, đảo quê hương” tập trung giới thiệu hình ảnh sinh động thắm tình quân dân miền biển đảo; hiện vật đặc biệt như cờ Tổ quốc được treo trên đảo Trường Sa và các nhà giàn DK1, hình ảnh đoàn công tác trao quà thăm hỏi động viên chiến sỹ ngoài đảo xa…
Triển lãm “Sắc màu di sản văn hóa, biển đảo” lần này có sự tham gia của 22 tỉnh, thành phố nên mang đến những sắc màu văn hóa đặc trưng, các di sản văn hóa, thiên nhiên, các danh thắng tiêu biểu, sinh hoạt đời sống cư dân gắn với biển đảo của từng địa phương và những điểm đến du lịch du khách yêu thích. Nội dung này cũng góp phần giới thiệu, quảng bá tiềm năng du lịch, các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch biển bền vững gắn với giá trị di sản văn hóa của địa phương.
Ngoài ra, trong khuôn khổ triển lãm sẽ diễn ra các chương trình nghệ thuật dân gian truyền thống giới thiệu nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể, trình diễn nghệ thuật đường phố giúp người dân và du khách hiểu hơn về nét đẹp của từng vùng, miền Việt Nam.
Tuyên bố được đưa ra trong cuộc hội đàm giữa ông Tập Cận Bình với người đồng cấp Cuba Miguel Diaz-Canel bên lề Hội nghị thượng đỉnh BRICS ở Nam Phi ngày 23/8.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gặp Chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel tại Johannesburg.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cam kết ủng hộ công tác bảo vệ chủ quyền quốc gia của Cuba, phản đối hành động can thiệp của nước ngoài cũng như lệnh cấm vận kinh tế của Mỹ, đồng thời sẽ tăng cường hợp tác chiến lược với La Habana.
Tuyên bố được đưa ra trong cuộc hội đàm giữa ông Tập Cận Bình với người đồng cấp Cuba Miguel Diaz-Canel bên lề Hội nghị thượng đỉnh BRICS ở Johannesburg (Nam Phi) ngày 23/8.
Theo tuyên bố từ Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình nhấn mạnh: “Trung Quốc sẽ tiếp tục ủng hộ vững chắc Cuba trong công tác bảo vệ chủ quyền tổ quốc, phản đối hành động can thiệp và phong tỏa từ nước ngoài, cũng như nỗ lực hết sức để hỗ trợ sự phát triển kinh tế và xã hội của Cuba”.
Về phần mình, Chủ tịch Diaz-Canel hoan nghênh quan hệ song phương ở mức “cao nhất mọi thời đại”.
Trong cuộc hội đàm có sự tham gia của cả Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị, ông Diaz-Canel nêu rõ: “Người dân Cuba vô cùng ngưỡng mộ Chủ tịch Tập Cận Bình và chân thành cảm ơn Trung Quốc vì sự hiểu biết và hỗ trợ quý báu đối với chính nghĩa của Cuba”.
Nhìn lại quá trình tranh chấp chủ quyền Biển Đông nói chung trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam nói riêng, có thể nói Malaysia lộ ý định nhảy vào cuộc tranh chấp quần đảo Trường Sa muộn hơn so với các quốc gia khác. Dù vậy, nước này vẫn đưa ra những tuyên bố phi pháp và hiện đang chiếm đóng cũng như xây dựng trái phép trên 7 thực thể địa lý thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Từ ngày 03/02/1971, Đại sứ quán Malaysia tại Sài Gòn đã gửi một công hàm cho chính quyền Sài Gòn nói một cách dè dặt rằng họ có chủ quyền đối với vùng phía Nam của quần đảo Trường Sa. Nơi mà họ gọi là Cộng hòa Morac-Songhrati-Meads nằm trong Liên bang Malaysia. Tới ngày 20/4/1971, chính quyền Sài Gòn đã gửi công hàm bác bỏ quan điểm, khẳng định quần đảo Trường Sa hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam, Malaysia lại im lặng không tỏ thái độ gì.
Dành cho những bạn chưa biết, thì nước Cộng hòa Morac-Songhrati-Meads là một vi quốc gia do Đại tá Hải quân người Anh là James George Meads lập ra vào thập niên 1870 tại khu vực quần đảo Trường Sa, bất chấp các tuyên bố chủ quyền trước đó của Việt Nam.
Tháng 10/1977, trong chuyến đi thăm Malaysia, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đồng ý với Thủ tướng Malaysia là Hussein Onn rằng hai bên sẽ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình. Tuy nhiên vào ngày 21/12/1979, Malaysia đã cho xuất bản một bản đồ vẽ ranh giới lãnh hải của Malaysia lấn vào vùng biển phía Nam của quần đảo Trường Sa.
Tới ngày 29/4/1980, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm cho Malaysia để phản đối việc làm này. Ngày 08/05/1980, nhân chuyến thăm và hội đàm với Malaysia, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đã khẳng định những thực thể ở quần đảo Trường Sa đều thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Bất chấp những thỏa thuận trước đó vào năm 1982, Malaysia đã cho người ra dựng cột mốc và cột cờ trên Đá Hoa Lau mà họ gọi là Terumbu Layang-Layang. Tháng 6/1982, đích thân Tổng tham mưu trưởng Quân đội Malaysia là tướng Ta Sri Mohamed Chazali, tổ chức một cuộc hành quân chiếm đóng Hoa Lau nhằm giành chủ quyền trên một vùng biển rộng 152 hải lý vuông tính từ thực thể này về vùng biển Malaysia và có chỗ đứng để tranh chấp một phần của quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Malaysia đã cho công binh đào một con kênh đi qua bãi san hô để cho tàu thuyền vào trong đảo trú đậu an toàn, đồng thời xây dựng một điểm tựa vững chắc cho các hành động lấn chiếm tiếp theo. Sau đó, Malaysia đã chính thức tuyên bố chủ quyền phi pháp đối với Đá Hoa Lau của quần đảo Trường Sa. Tuyên bố này nói rằng Đá Hoa Lau từ lâu đã là một sản phần của Malaysia.
Năm 1984, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối việc Malaysia chiếm đóng trái phép Đá Hoa Lau trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Tháng 12/1986, Malaysia lại tổ chức một cuộc hành quân ra chiếm đóng trái phép Đá Kỳ Vân và Bãi Kiệu Ngựa mà họ gọi là Terumbu Mantanani và Terumbu Ubi ở phía Bắc Đá Hoa Lau. Việt Nam đã phản đối hành động này của Malaysia. Nhưng sau đó quốc gia này vẫn tiếp tục chiếm đóng trái phép lần lượt hai đá là Đá Sác Lốt và Đá Suối Cát. Đến tháng 6/1999, Malaysia tiếp tục mở rộng chiếm đóng trái phép Đá Én Ca và Bãi Thám Hiểm, nâng tổng số thực thể ở quần đảo Trường Sa bị quốc gia này chiếm đóng lên đến 7 thực thể. Toàn bộ đều nằm ở phía Nam quần Đảo Trường Sa, tất cả những thực thể này đều là những rạn san hô. Sau khi chiếm đóng trái phép 7 thực thể từ đó đến nay, Malaysia đều dựa vào luận điểm của nước này đưa ra rằng quần đảo Trường Sa có vị trí địa lý gần về lãnh thổ của nước này để hợp pháp hóa chủ quyền các thực thể trên.
Theo đó Malaysia cho rằng, quần đảo Trường Sa nằm trên thềm lục địa của Malaysia. Vì vậy, nước này đòi hỏi đặc quyền đối với khu vực phía Nam của quần đảo Trường Sa. Bên cạnh đó, các nhà lãnh đạo Malaysia như là Mahathir Mohamad, Abu Dala Mauy, Naghip Tuna Zhap, các vị bộ trưởng nội các, các tư lệnh hải quân đều đã từng có những chuyến ra thăm những thực thể này tại quần đảo Trường Sa. Mục đích của những chuyến thăm của các quan chức Malaysia đều giống nhau. Đó là một tuyên bố với cộng đồng quốc tế rằng Malaysia có chủ quyền và có quyết tâm bảo vệ những lãnh thổ này.
Tổng quan 7 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa bị Malaysia chiếm đóng trái phép
1. Đá Hoa Lau
Trong số các thực thể mà Malaysia chiếm đóng trái phép tại quần đảo Trường Sa, Đá Hoa Lau là thực thể được quốc gia này chú trọng đầu tư và xây dựng nhiều nhất so với các thực thể còn lại.
Đá Hoa Lau là một rạn san hô vòng thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Malaysia từng có lúc gọi Đá Hoa Lau là Terumbu Layang-Layang tức là Rạn san hô Chim nhưng sau này đã đổi thành Pulau Layang-Layang (tức là Đảo Chim). Về vị trí, Đá này nằm cách bán đảo Cam Ranh khoảng 714 km, cách Đảo An Bang (Phú Lâm) 111 km về phía Đông Nam. Cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 290 km về phía Tây Bắc.
Đá Hoa Lau có hình dạng thon dài, hơi hẹp về bề ngang, với chiều dài lớn nhất khoảng 7,4 km và chiều rộng lớn nhất vào khoảng 2,2 km. Tổng diện tích tự nhiên của Đá Hoa Lau là 10,8 km2, tương đương với khoảng 1.080 ha. Khi thủy triều lên Đá này ngập hoàn toàn dưới nước, còn khi thủy triều xuống thấp một vài bãi san hô và đá nhô lên khỏi mặt nước.
Bên trong Đá Hoa Lau là một hồ nước sâu với diện tích vào khoảng 4,5 km2, lòng hồ có chiều dài vào khoảng 4km, chiều rộng 1,5 km và được bao quanh bởi một thềm san hô khép kín. Sau khi chiếm đóng trái phép Đá Hoa Lau, Malaysia đã nỗ lực xây dựng hòng biến Đá này trở thành một hòn đảo nhân tạo. Cụ thể là quốc gia này đã nạo vét cát và san hô ở khu vực trung tâm của Đá Hoa Lau rồi bồi đắp lên góc Đông Nam nơi từng có những tảng đá cao từ 1,5 đến 3m nhô lên khi thủy triều xuống thấp.
Ngoài công việc bồi đắp trái phép trên đảo nhân tạo ở phía Đông Nam, Malaysia còn tiến hành phá đá san hô để thông hai luồng ở phía Nam Đá Hoa Lau để tàu thuyền của nước này có thể dễ dàng di chuyển vào lòng hồ tránh trú.
Ngày 21/6/1980, một cột mốc được lực lượng tác chiến đặc biệt của Hải quân Hoàng gia Malaysia dựng lên tại đây, đến tháng 5/1983, 18 thành viên của lực lượng tác chiến đặc biệt đã xây dựng doanh trại đầu tiên của họ đánh dấu sự khởi đầu cho sự hiện diện của Hải quân Hoàng gia Malaysia tại khu vực phía Đông Nam của Đá Hoa Lau. Trạm hải quân Lima đã được xây dựng vào tháng 4/1986 bao gồm một trung tâm hoạt động kiêm sinh hoạt trong binh lính.
Năm 1989 chính quyền Malaysia đã quyết định phát triển Đảo Hoa Lau trở thành một địa điểm du lịch. Bước đầu cho kế hoạch này là bồi đắp khu vực phía Đông Nam của hòn đảo và biến Hoa Lau trở thành một đảo nổi với chiều dài khoảng 1.500 m, rộng khoảng 250m. Đến năm 1995, một đường băng và trung tâm nghỉ dưỡng đã được hoàn thành tại phần đất được bồi đắp. Ban đầu đường băng này chỉ có chiều dài 1064 m, nhưng vào ngày 20/7/2003, Malaysia đã cho tiến hành mở rộng đường băng, tăng chiều dài của nó lên 1.368m như hiện nay. Cho tới hiện nay, đây là một trong số 7 đường băng tồn tại ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ngoài đường băng trên Đảo Trường Sa Lớn của Việt Nam thì 6 đường băng còn lại, bao gồm đường băng tại Bãi Đá Hoa Lau đều là những đường băng được xây dựng trái phép.
Trên lý thuyết, đường băng này có thể tiếp nhận các chiến đấu cơ Su-30 với bán kính hoạt động đạt 1297 km, các loại máy bay vận tải C130 Helico cũng có thể cất và hạ cánh dễ dàng trên đường băng này. Tuy nhiên khác với những đường băng còn lại ở quần đảo Trường Sa, đường băng này được sử dụng trong cả mục đích quân sự và dân sự. Nằm ở phía Đông Bắc đường băng là một khu quân sự bao gồm một sân đỗ máy bay, một tháp canh, một trụ điện gió, một bãi đáp trực thăng, một tháp điều khiển không lưu và hai nhà chứa máy bay được bố trí sát cạnh. Trên đảo còn có một tòa nhà nghiên cứu thuộc Bộ Ngư nghiệp Malaysia mở vào tháng 7/2004, hai nhà máy khử nước mặn bằng phương pháp thẩm thấu ngược. Trung tâm đảo nhân tạo là khu vực nghỉ dưỡng dành cho khách du lịch.
Có thể nói, trong số các bên chiếm đóng trái phép các thực thể ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, Malaysia là quốc gia tổ chức hoạt động du lịch bài bản và thường xuyên nhất. Nằm giữa vùng nước sâu, khu vực Đá Hoa Lau là nơi có hệ sinh vật biển phong phú cùng với những làn gió biển trong lành hoàn toàn hòa hợp cùng thiên nhiên. Chính vì vậy, nơi đây vô cùng thích hợp để phát triển du lịch.
Kể từ năm 1993, Malaysia đã khai trương dịch vụ du lịch dành cho khách yêu thích lặn biển và mở các chuyến bay cho dân thường ra thăm Đảo Hoa Lau. Tại đây, có một khu nghỉ dưỡng có 86 phòng đạt tiêu chuẩn 3 sao, một trung tâm lặn biển là thành viên của PADI (Hiệp hội Hướng dẫn viên Lặn biển Chuyên nghiệp) cùng một nhà hàng 200 chỗ ngồi, một hồ bơi và một cửa hàng lưu niệm.
Mỗi tour xuất phát bằng máy bay từ sân bay Kota Kinabalu trên đảo Borneo đến sân bay trên Đá Hoa Lau với toàn bộ hoạt động ăn uống, nghỉ ngơi tại khu resort 3 sao, lặn biển trong 6 ngày có giá khoảng 1.200 USD (tương đương gần 29 triệu đồng).
2. Đá Kỳ Vân
Đá Kỳ Vân là một rạn san hô vòng thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đá này nằm cách bán đảo Cam Ranh khoảng 674km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 319 km về phía Tây Bắc, cách Đá Thuyền Chài khoảng 65km về phía Đông Nam và cách Đá Hoa Lau khoảng 62km về phía Bắc.
Đá Kỳ Vân trải dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với chiều dài khoảng 10km và chiều rộng lớn nhất vào khoảng 3km. Tổng diện tích của đá này vào khoảng 17km2 hay 1.700ha, phần giữa của đá này hẹp lại chỉ vào khoảng 0,6 km và chia đá này thành 2 phần ở mỗi phần lại có một lòng hồ riêng biệt. Cũng tại phần giữa, chia cách hai lòng hồ này còn có một dải cát cao khoảng 1,5 m và một vài hòn đá nổi lên trên mặt nước khi thủy triều xuống thấp. Nhìn chung, cũng giống như những đảo chìm khác, Đá Kỳ Vân không có nhiều thảm thực vật và thiếu nước ngọt. Tuy vậy, nơi đây lại thu hút rất nhiều rùa biển để sinh sản và chú ngụ vào.
Tháng 11/1986, Malaysia đã đưa một trung đội đến chiếm đóng trái phép tại Đá Kỳ Vân và kiểm soát thực thể này cho đến ngày nay. Malaysia đã tiến hành nạo vét và bồi đắp ở phía Tây của Đá Kỳ Vân với diện tích vào khoảng 2 ha, đồng thời duy trì 100 hải quân ở đó có tên gọi là Trạm Mike. Tại phần đất nhân tạo này, Malaysia đã cho xây dựng một bệ bê tông có chiều dài khoảng 60 m, chiều rộng khoảng 30 m. Trên bệ bê tông này họ còn cho xây dựng một trạm radar, tháp điều khiển không lưu và các cơ sở khác phục vụ cho binh lính cũng như sân đỗ cho máy bay trực thăng và hai cầu cảng. Tại đây, họ còn tiến hành đắp đê chắn sóng bằng đá san hô và đào một âu tàu nhỏ cùng một luồng nước đi ngang qua âu tàu vào lòng hồ bên trong để tàu thuyền có thể vào neo đậu. Bên cạnh đó, dù thiếu nước ngọt và đất đai nhưng tại đây vẫn thấy những hàng cây xanh được trồng rải rác ở phần đất cải tạo.
3. Bãi Kiệu Ngựa
Bãi Kiệu Ngựa là một rạn san hô vòng ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về vị trí, bãi đá này nằm cách bán đảo Cam Ranh khoảng 703 km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 276 km về phía Tây Bắc, cách Đá Thuyền Chài khoảng 88 km về phía Đông Nam, cách Đá Kỳ Vân khoảng 30km về phía Nam và cách Đá Hoa Lau khoảng 26 km về phía Đông Bắc.
Bãi Kiệu Ngựa được hợp thành từ 30 rạn san hô khác nhau nằm theo trục Đông Bắc – Tây Nam với chiều dài lên tới 70,4 km và chiều rộng tối đa vào khoảng 18,5 km. Tổng diện tích của bãi lên tới 850 km2, tức là 85.000 ha. Trong đó Đá Kiệu Ngựa là một trong số 30 rạn san hô thuộc Bãi Kiệu Ngựa là thực thể duy nhất nổi lên khi thủy triều xuống. Nhìn từ trên cao xuống Đá có hình dạng như là một tam giác cân với chiều dài khoảng 4,6 km và chiều rộng ở khoảng 3,4 km. Tổng diện tích của đá này vào khoảng 10km2, khoảng 1.000 ha.
Cũng giống như Đá Kỳ Vân sau khi chiếm đóng trái phép, Malaysia đã tiến hành nạo vét và bồi đắp trái phép ở phía Nam của Đá Cựu Ngựa với diện tích vào khoảng 1,6 ha. Đồng thời duy trì trạm hải quân ở đó có tên gọi là Trạm Mike. Đây cũng là rạn san hô duy nhất ở Bãi Kiệu Ngựa có binh lính của Malaysia đóng quân.
Tại phần đất nhân tạo này, Malaysia đã cho xây dựng một bệ tông có chiều dài khoảng 60m, chiều rộng khoảng 30m, trên bệ bê tông này họ còn cho xây dựng một trạm radar, tháp điều khiển không lưu và các cơ sở phục vụ cho binh lính cũng như là một sân đỗ máy bay trực thăng và một cầu cảng. Tại đây, họ còn tiến hành đắp đê chắn sóng bằng đá san hô và đào một âu tàu nhỏ cùng 2 luồng nước để vào âu tàu để tàu thuyền có thể vào neo đậu. Trong hình ảnh vệ tinh vào năm 2011, có thể thấy rõ luồng nước ở phía Tây âu tàu nhưng mà hiện nay nó đã bị bồi lấp gần như là hoàn toàn trên phần đất bồi đắp Malaysia cũng cho trồng một số cây xanh.
4. Đá Sác Lốt
Đá Sác Lốt là một rạn san hô vòng thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đá này nằm cách bán đảo Cam Ranh khoảng 730 km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 295 km về phía Tây Bắc, cách Đá Thuyền Chài vào khoảng 130km về phía Đông Nam và cách Đá Hoa Lau khoảng 54 km về phía Tây Nam.
Đá Sác Lốt có hình dạng tương đối tròn, với chiều dài khoảng 2,2 km, chiều rộng khoảng 1,6 km. Tổng diện tích của Đá Sác Lốt vào khoảng 3 km2, khoảng 300 ha. Đá Sác Lốt có địa hình khá bằng phẳng, với một lòng hồ rộng và khoảng 80 ha nằm ở giữa. Trong khu vực lòng hồ của đá này thì có nhiều tảng đá cao từ 0,6 đến 1,2 m nổi lên mặt nước. Trước đây, Malaysia đã xây dựng một ngọn hải đăng trên thực thể này nhưng hiện nay thì ngọn hải đăng này không còn hoạt động nữa. Hiện tại, tại Đá Sác Lốt không có lực lượng quân đội Malaysia đóng quân ở đó cũng như chưa ghi nhận bất kỳ hoạt động bồi đắp và cải tạo nào ở thực thể này. Nguyên nhân chính là do Đá Sác Lốt nằm rất xa những thực thể Malaysia đang đóng quân và cũng như được bảo vệ bởi một loạt đảo đá mà quốc gia này đang kiểm soát ở phía Bắc.
5. Đá Suối Cát
Đá Suối Cát là một rạn san hô vòng thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về vị trí, đá này nằm cách bán đảo Cam Ranh khoảng 690 km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 310 km về phía Tây Bắc, cách Đá Thuyền Chài khoảng 77 km về phía Đông Nam và cách Đá Kỳ Vân khoảng 35km về phía Tây Nam, cách Đá Hoa Lau khoảng 26 km về phía Bắc và cách Đá Kiệu Ngựa chỉ khoảng 10km về phía Tây.
Nhìn từ trên cao xuống, Đá Suối Cát có hình dạng khá thon dài và nằm theo hướng Đông Bắc – Tây Nam. Với chiều dài vào khoảng 9,3 km, chiều rộng vào khoảng 1,7 km, diện tích vào khoảng 14 km2, khoảng 1.400 ha. Đá Suối Cát là một rạn san hô khép kín. Ở bên trong là một hồ nước nông có diện tích vào khoảng 6 km2. Khi thủy triều lên đá này ngập hoàn toàn dưới nước. Nhưng khi thủy triều xuống thấp gần như toàn bộ vành đai san hô đều nổi lên mặt nước. Hiện tại cũng giống như Đá Sác Lốt, Đá Suối Cát không có lực lượng quân đội Malaysia đóng quân ở đây. Đồng thời chưa ghi nhận bất kỳ hoạt động bồi đắp và cải tạo nào ở thực thể này.
6. Đá Én Ca
Đá Én Ca là một rạn san hô vòng thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam nhưng hiện nay Malaysia đang kiểm soát trái phép thực thể này.
Về vị trí địa lý, Đá Én Ca cách bán đảo Cam Ranh khoảng 684 km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 319 km về phía Tây Bắc, cách Đá Thuyền Chài khoảng 88km về phía Tây, cách Đá Tốc Tan khoảng 64 km về phía Nam, cách Đá Kỳ Vân chỉ 25km về phía Đông Bắc.
Đá Én Ca có hình bầu dục với chiều dài vào khoảng 3,2 km, chiều rộng khoảng 1,9 km và có diện tích vào khoảng 4,7 km2. Đá này có địa hình khá bằng phẳng với một lòng hồ nông có diện tích gần 1km2 nằm ở giữa. Nhìn chung, khi thủy triều lên cao toàn bộ bãi đá ngập hoàn toàn trong nước. Còn khi thủy triều xuống thấp chỉ có một số hòn đá ở phía Đông thực thể này nổi lên.
Sau khi chiếm đóng đảo trái phép vào năm 1999, Malaysia đã tiến hành nạo vét và bồi đắp trái phép ở phía Nam của Đá Én Ca với diện tích vào khoảng 1,1 ha. Hải quân Hoàng gia Malaysia cũng đã duy trì một trạm hải quân ở đó có tên gọi là Trạm Mike. Tại phần đất nhân tạo này, Malaysia đã cho xây dựng một bệ tông có chiều dài khoảng 60m, chiều rộng khoảng 30m. Do diện tích không lớn nên Malaysia đã cho xây dựng một cụm kết cấu bao gồm một trạm radar, một tháp điều khiển không lưu và các cơ sở khác cùng với một sân bay trực thăng tiêu chuẩn và hai cầu cảng ở hai bên. Malaysia cũng đã nạo vét một âu tàu cỡ nhỏ và đắp đê bao xung quanh để tàu thuyền của nước này có thể vào neo đậu tại Đá Én Ca.
7. Bãi Thám Hiểm
Bãi Thám Hiểm là một rạn san hô vòng lớn thuộc cụm Thám Hiểm của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Bãi này cách bán đảo Cam Ranh khoảng 735 km về phía Đông Nam, cách thành phố Kota Kinabalu thuộc bang Sabah của Malaysia khoảng 276 km về phía Tây Bắc, cách Đá Tiên Nữ khoảng 73km về phía Nam, cách Đá Én Ca khoảng 40km về phía Đông và cách Bãi Kiệu Ngựa khoảng 20km về phía Đông Bắc.
Bãi Thám Hiểm có chiều dài tính theo trục Đông Tây lên tới 33 km và chiều rộng khoảng 11 km. Tổng diện tích của bãi này lên tới 205 km2, khoảng 205.000 ha. Trong khi phần phía Tây của Bãi Thám Hiểm có dáng thon hẹp thì phần phía Đông lại mở rộng và có một lòng hồ sâu tối thiểu 45m, có chiều dài khoảng 23 km ở bên trong. Khi thủy triều xuống thấp thì Bãi Thám Hiểm chỉ có một số bãi đá nhô lên chủ yếu tại phần phía Đông, còn lại thì hoàn toàn nằm sâu dưới nước từ 5,5 m đến 18,3 m. Ngoài ra, trong khu vực Bãi Thám Hiểm có những rạn san hô nổi bật và đã được đặt tên như là Đá Gia Hội ở phía Bắc, Đá Gia Phú ở phía Đông và Đá Sâu ở phía Tây.
Sau khi chiếm đóng trái phép Bãi Thám Hiểm vào năm 1999, Malaysia đã tiến hành nạo vét và bồi đắp ở rìa phía Tây Nam của bãi đá này với diện tích khoảng 0,87 ha, tức khoảng 8.700 m2. Hải quân Hoàng gia Malaysia cũng đã duy trì một trạm hải quân tại đây với tên gọi là Trạm Papa.
Tại phần đất nhân tạo này, cũng giống như những đảo đá khác, Malaysia đã cho xây dựng một bệ bê tông có chiều dài khoảng 60 m, chiều rộng 30 m. Trên bệ bê tông này Malaysia tiếp tục cho xây dựng một số tòa nhà bê tông, trạm radar, tháp điều khiển không lưu cùng với một bãi đáp trực thăng tiêu chuẩn và hai cầu cảng ở hai phía. Ngoài ra, nước này cũng cho đắp một con đê chắn sóng nối từ phía Nam của bệ bê tông ra vùng nước sâu.
Nhìn chung, ngoại trừ Đá Hoa Lau được xây dựng và bồi đắp nhiều nhất, hai Đá Sác Lốt và Đá Suối Cát chưa được cải tạo thì bốn thực thể còn lại bao gồm Đá Én Ca, Đá Kỳ Vân, Đá Kiệu Ngựa và Bãi Thám Hiểm cũng đều được Malaysia bồi đắp nhưng với một diện tích rất nhỏ và các cấu trúc đều giống nhau.
Có thể nói, việc Malaysia bồi đắp và xây dựng trái phép trên những thực thể thuộc quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam là không ồ ạt, không đầu tư kinh phí đắt đỏ như Trung Quốc hay là Đài Loan. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng: Dù đầu tư xây dựng ít hay nhiều việc Malaysia chiếm đóng và xây dựng trái phép trên những thực thể này đã vi phạm đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.
Ngoài ra, những luận điểm mà Malaysia đưa ra hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và yêu sách của Malaysia về chủ quyền cũng không có một cơ sở lịch sử nào.
Doanh nghiệp EU phá sản cao mức kỷ lục kể từ 2015. Theo giới phân tích, tăng trưởng kinh tế chậm và thiếu sự hỗ trợ của chính phủ khiến nhiều công ty ngừng hoạt động.
Cờ EU treo bên ngoài trụ sở Ủy ban châu Âu tại Brussels, Bỉ.
Số vụ tuyên bố phá sản ở EU đạt mức cao nhất trong 8 năm qua vào quý 2 năm 2023, cơ quan thống kê Eurostat thông tin trong tuần trước.
Theo dữ liệu, số công ty ngừng hoạt động ở EU trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 đã tăng 8,4% so với quý trước. Điều này đánh dấu mức tăng số công ty phá sản trong 6 quý liên tiếp, Eurostat lưu ý.
Cũng trong kỳ báo cáo này, số lượng doanh nghiệp tuyên bố phá sản đạt mức cao nhất kể từ khi Eurostat bắt đầu theo dõi dữ liệu năm 2015.
Việc xin phá sản đang tăng lên trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế. Tuy nhiên, số doanh nghiệp phá sản tăng nhiều nhất được ghi nhận ở dịch vụ lưu trú và ăn uống (tăng 23,9%), vận chuyển và kho bãi (15,2%), giáo dục, y tế và hoạt động xã hội (10,1%).
Trong số 27 quốc gia thành viên EU, số lượng doanh nghiệp xin phá sản tăng nhiều nhất ở Hungary (tăng 40,8%), Latvia (24,8%) và Estonia (24,6%).
Lượng công ty phá sản sụt giảm đáng kể nhất được ghi nhận tại Síp (giảm 48,5%), Croatia (23,6%) và Đan Mạch (15,9%).
Trong khi đó, số lượng đăng ký doanh nghiệp mới trên toàn khối giảm 0,6% trong kỳ báo cáo, dữ liệu của Eurostat chỉ ra.
Các chuyên gia cho rằng, số vụ phá sản tăng là do thiếu sự ổn định chung và tăng trưởng kinh tế chậm lại ở EU. Khối vốn đang vật lộn với lãi suất cao hơn do lạm phát tăng.
Thomas Humblot – nhà kinh tế tại BNP Paribas – chia sẻ với Wall Street Journal rằng, số vụ phá sản tăng là một “sự bình thường hóa”. Ông lưu ý, viện trợ cho các doanh nghiệp từ thời kỳ đại dịch bị dỡ bỏ “có xu hướng góp phần làm tăng số vụ phá sản do môi trường kinh tế suy thoái”.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình không xuất hiện tại Diễn đàn Doanh nghiệp BRICS ở Nam Phi nhưng ông sau đó vẫn dự tiệc tối do nước chủ nhà chủ trì.
Bộ trưởng Thương mại Vương Văn Đào đọc bài phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong hội nghị thượng đỉnh BRICS hôm 22/8.
Ông Tập Cận Bình dự bữa tối hôm 22/8 cùng lãnh đạo 2 nước Brazil và Ấn Độ, và ngoại trưởng Nga, trong khuôn khổ hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 15 được tổ chức tại Johannesburg, Nam Phi.
Trước đó, ông Tập đã không xuất hiện tại Diễn đàn Doanh nghiệp BRICS để có bài phát biểu như kế hoạch. Thay vào đó, Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Vương Văn Đào thay mặt ông Tập tại sự kiện này.
Bài phát biểu của ông Tập do ông Vương đọc tại Trung tâm Hội nghị Sandton ở Johannesburg nói Mỹ thường chống lại các quốc gia đe dọa vị thế thống trị của họ trong các vấn đề toàn cầu và thị trường tài chính.
Bài phát biểu còn nói mọi quốc gia đều có quyền phát triển và mọi người phải có quyền tự do mưu cầu cuộc sống hạnh phúc. Nhưng có một quốc gia “bị ám ảnh với việc duy trì bá quyền và đã tìm mọi cách để vô hiệu hóa các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển”.
“Ai phát triển trước sẽ trở thành mục tiêu bị họ kiềm chế. Ai dần bắt kịp đều trở thành mục tiêu bị cản trở”, bài phát biểu của ông Tập viết.
Ông Tập cho biết việc các nước BRICS và hơn 50 quốc gia từ châu Phi tập hợp “không phải là hoạt động yêu cầu các nước đứng về phía nào, cũng không phải là hoạt động nhằm tạo ra sự đối đầu. Thay vào đó, đây là nỗ lực để mở rộng cấu trúc của hòa bình và phát triển”.
Một số nhân vật trong giới quan sát cho rằng sự vắng mặt của ông Tập tại diễn đàn trên là điều đáng chú ý. Bonnie Glaser, Giám đốc điều hành Chương trình Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tại Quỹ Marshall của Đức, đặt câu hỏi liệu sự vắng mặt của ông có thể hiện có điều gì khác thường hay không.
BRICS là nhóm các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển hàng đầu bao gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi.
Hơn 30 nguyên thủ quốc gia khác và nhà lãnh đạo từ các tổ chức toàn cầu, bao gồm cả Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres sẽ tham dự thượng đỉnh BRICS, dự kiến diễn ra trong các ngày 22-24/8.
Điểm nổi bật nhất trong chương trình thượng đỉnh lần này là khả năng kết nạp các thành viên mới vào khối. Đây được coi là cách để giảm bớt thế thống trị của phương Tây trong địa chính trị toàn cầu, cũng như giảm sự phụ thuộc vào đồng đôla Mỹ trong thương mại toàn cầu.
Người Việt nhập cư tại Đài Loan được ghi nhận có sự gia tăng về số lượng cũng như đóng góp kinh tế cho hòn đảo này.
Người Việt Nam đang ngày càng gia tăng sự hiện diện tại Đài Loan.
Cách đây 10 năm, bà Trần Thị Hoa, 50 tuổi, kết hôn với một người Đài Loan bản xứ sau đó chuyển từ Việt Nam để đến sinh sống tại đây.
Khoảng 5 tháng trước, bà Trần mở một tiệm bún gạo gần chợ đêm Đài Bắc, phục vụ thực khách ba món bún có nguồn gốc từ Việt Nam được gọi là he-fen theo tiếng Đài Loan.
Bà Trần phải nỗ lực gầy dựng danh tiếng cho tiệm ăn nhằm cạnh tranh với một nhà hàng Việt Nam khác cách đó chừng hai dãy nhà.
“Tại sao bà mở nhà hàng?”. “Vì tôi thích nấu ăn, tôi cũng đang rất bận rộn”, bà Trần nói với báo SCMP trong khi đang phục vụ hàng chục thực khách trong tiệm ăn có 10 bàn của mình.
Khác với người nhập cư từ các quốc gia khác, phụ nữ Việt thường có xu hướng lấy chồng người bản xứ. Điều này cho phép họ trở thành cư dân Đài Loan và có nhiều cơ hội việc làm hơn, cũng như được phép mở các tiệm ăn hay các salon làm đẹp.
Người Việt tại Đài Loan làm rất nhiều công việc. Phần đông làm việc tại các nhà máy, một số đảm nhận việc chăm sóc người già, phục vụ tại nhà hàng hoặc làm việc tại các công trường xây dựng, tham gia các đội tàu đánh cá.
Người Việt được ghi nhận đang ngày càng trở nên đông đúc tại Đài Loan và chấp nhận làm nhiều loại công việc hơn so với các nhóm nhập cư từ nhiều quốc gia khác, ngay cả với người Đài Loan.
Theo Cơ quan Di trú Đài Loan, 70% trong số 240.000 lao động Việt nhập cư nhưng chưa chính thức là cư dân làm việc trong lĩnh vực sản xuất, theo sau đó là giúp việc nhà và công nhân công trường.
Trước đó, vào năm 2016, chỉ 171.000 người Việt được ghi nhận sống tại Đài Loan và có khoảng 133.000 người làm việc tại các nhà máy.
Số liệu từ Ủy ban Đầu tư Đài Loan cũng cho thấy nhóm người có quốc tịch Việt Nam đã đầu tư khoảng 366.000 Đài tệ (11.460 USD) cho 25 doanh nghiệp trên hòn đảo này trong nửa đầu năm 2023, trong đó có 150.000 Đài tệ đầu tư cho lĩnh vực ăn uống – giải khát và 121.000 Đài tệ đầu tư trong lĩnh vực bán lẻ – bán buôn.
Số liệu trên chưa tính đến các khoản đầu tư của 170.000 người Việt là cư dân chính thức tại Đài Loan.
Khảo sát từ Cơ quan Lao động Đài Loan tuần rồi cũng cho thấy hòn đảo này cần thêm 52.000 lao động từ đây cho đến tháng 10, nhằm duy trì được sự phục hồi của nền kinh tế sau đại dịch COVID-19.
Trước đó, vào tháng 9-2022, Đài Loan cho biết sẽ nỗ lực thu hút 400.000 lao động, phần lớn là nhân viên văn phòng trong thập kỷ tới, với mục tiêu hỗ trợ thêm cho nhiều ngành công nghiệp trụ cột, như công nghiệp công nghệ cao, trong bối cảnh dân số tại đây đang ngày càng suy giảm.
Theo một người phát ngôn của Hiệp hội Công nghiệp máy móc Đài Loan, nhiều thành viên của hiệp hội này đang cần thêm lao động nước ngoài, và lao động từ Việt Nam là một nguồn tiềm năng.
“Lao động Việt Nam nhập cư chiếm tỉ trọng lớn nhất cho lao động nhập cư trong mảng công nghiệp”, nghị sĩ Lo Mei-ling thuộc đảng cầm quyền tại Đài Loan nói.
“Dù là sản xuất, ngư nghiệp hay xây dựng, lao động Việt Nam đều tham gia đóng góp. Đặc biệt trong những năm gần đây với sự bùng nổ của lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, nhu cầu về lao động tăng mạnh và chúng tôi cần lực lượng lao động nhập cư lấp đầy khoảng trống đó”, bà Lo nói thêm.
Hết “bộ Tứ kim cương”, nay tới “bộ tam” Mỹ, Nhật, Hàn ngồi với nhau bàn về chuyện thế giới đại sự và Trung Quốc là chủ đề không thể thiếu.
Tổng thống Mỹ Joe Biden, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk-yeol và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida tại Trại David ngày 18/8.
Truyền thông quốc tế cố ý nhấn mạnh chi tiết “đây là lần đầu tiên kể từ năm 2015, Tổng thống Mỹ đón lãnh đạo nước ngoài đến khu nghỉ ngơi của tổng thống tại Trại David gần Washington” để nêu bật tính chất đặc biệt của sự kiện này.
Thế cũng còn chưa đủ, tính chất đặc biệt còn thể hiện ở chỗ đây là cuộc gặp ba bên trực tiếp giữa ba nhà lãnh đạo Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc mà không phải bên lề một sự kiện nào đó, mà là chính thức. Thậm chí, có người còn kỳ vọng: sự kiện ngoại giao mang tầm quốc tế này sẽ “mở ra trang sử mới” trong quan hệ hợp tác giữa ba đồng minh chí cốt do Mỹ cầm chịch.
Những vấn đề trong chương trình nghị sự toàn mang tính toàn cầu, như việc phát triển hạt nhân, tên lửa của Triều Tiên, hợp tác an ninh tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, xung đột Nga-Ukraine…
Trong thân phận “kẻ bên lề”, Trung Quốc chỉ quan tâm, ba “ông kễnh” hình thành 2 cặp đồng minh Mỹ – Nhật và Mỹ – Hàn này thì thào với nhau thế nào về thế giới. Và đặc biệt, cái Trung Quốc soi mói nhất là liên quan tới Trung Quốc, nội dung câu chuyện giữa “bộ tam” là gì, thiện ý hay ác ý?
Thế nên, nghe ngóng, dự đoán trong sự cay cú, hậm hực – nếu điều đó đang hiện diện và làm nóng ran những cái đầu tại Trung Nam Hải – thì cũng đâu có gì là lạ.
Thực ra, quan ngại, lo lắng của Bắc Kinh có từ trước khi hội nghị diễn ra kia. Chẳng thế mà, trả lời câu hỏi xóc óc của cánh báo chí đề nghị bình là sự kiện này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân nói rằng Bắc Kinh phản đối “tập hợp nhiều nhóm nhỏ khác nhau của các nước liên quan”; “Trung Quốc phản đối những việc làm gia tăng đối đầu và ảnh hưởng đến an ninh chiến lược của các nước khác”. Nói cách khác, không nói trắng phớ, nhưng Bắc Kinh coi sự kiện xảy ra tại trại David như một cái gì mờ ám và không tử tế.
Giới chức Trung Quốc còn hẳn phải điên lên trước nhận định của một chuyên gia quốc tế Lu Chao, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Mỹ và Đông Á tại ĐH Liêu Ninh: “Hội nghị của lãnh đạo Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc sắp tới có thể dẫn đến hình thành một liên minh quân sự ba bên”…
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược căng thẳng giữa các quốc gia, trong đó, Trung Quốc là một đối thủ nặng ký nhất so đo với Mỹ, một “bộ tứ kim cương” bao gồm Mỹ, Úc, Nhật, Ấn Độ (QUAD), tiếng là cam kết hợp tác để đảm bảo khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, nhưng thực chất, ai cũng hiểu, Bắc Kinh càng hiểu, là công cụ kiềm chế Trung Quốc, đã đủ khiến Trung Quốc điên đầu, tức lồng lộn, nay thêm một liên minh quân sự “tay ba” Mỹ, Nhật, Hàn, bảo Trung Quốc không tức tối, không lo lắng sao được?
Sự tức tối càng tăng thêm khi những suy đoán đa nghi của Bắc Kinh, cũng là dự đoán của giới quan sát quốc tế đã thành sự thật. Điều đó trước tiên thể hiện qua tấm ảnh ba nhà lãnh đạo hồ hởi như không thể hồ hởi hơn; phấn khởi như không thể phấn khởi hơn, được Nhà trắng tung ra cho cánh truyền thông phóng ra khắp thế giới.
Phải thành công tốt đẹp, Tổng thống Mỹ Joe Biden, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk-yeol và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida mới cùng cả cười và rạng rỡ được đến thế chứ! Còn ngược lại, bất đồng quan điểm, mỗi người một phách, thì dẫu quốc tiệc của ngài chủ nhà thịnh tình Biden toàn những mỹ vị thượng đẳng đến mức nào, hai ông Yoon Suk-yeol, ông Fumio Kishida cũng lầm lũi mỗi người ngảnh mặt đi một hướng mà thôi.
Mới biết, mới thấy ông Biden tài đến mức nào khi kéo và gắn hai cựu thù Nhật và Hàn dính lại được với nhau. Mà dính vì cái gì? Vì chuyện hạt nhân Triều Tiên, chuyện Ukraine – đành thế, nhưng điều quan trọng, một trong những chất kết dính là Trung Quốc.
Nói cách khác, hóa ra, cho dù Trung Quốc cùng là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu của Nhật và Hàn, nhưng cũng như Mỹ, cả Nhật và Hàn, dù không là những bên liên quan trực tiếp chủ quyền Biển Đông, đều khó chịu và nhìn thấy nguy cơ nghiêm trọng với cả thế giới, chứ không chỉ vài bốn nước Đông Nam Á, từ những hành vi ngang ngược, coi thường pháp luật của Trung Quốc trên Biển Đông.
Chính vì thế, trong Tuyên bố chung nóng hổi của Hội nghị thượng đỉnh tại Trại David mà truyền thông quốc tế vừa đưa hổi hả, nhiều tờ báo lớn đã xoáy vào đoạn nói về Trung Quốc: “Liên quan đến những hành động nguy hiểm của Trung Quốc mà chúng ta chứng kiến gần đây nhằm củng cố các yêu sách lãnh thổ phi pháp ở Biển Đông, chúng tôi… phản đối mạnh mẽ bất kỳ nỗ lực nào nhằm đơn phương thay đổi hiện trạng ở vùng biển Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”, và coi đó như những ngôn từ mạnh mẽ nhất của Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc phê phán, chỉ trích Trung Quốc.
Việt Nam và Mỹ nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược là tất yếu. Tuy nhiên quá trình đó bị trì hoãn quá lâu, lúc này là thời điểm tốt nhất để hai nước “trở về tương lai”. Trước bước ngoặt mới, để lâu hơn nữa sẽ mất nốt cơ hội.
Ảnh minh họa.
Nhìn lại quá khứ
Cách đây 10 năm, trong chuyến thăm Mỹ để thiết lập quan hệ đối tác toàn diện (23-26/7/2013), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã trao cho Tổng thống Barack Obama những bức thư và điện của Hồ Chí Minh gửi phía Mỹ. Trong hai năm 1945-1946, Hồ Chí Minh đã gửi 11 bức thư và điện cho Tổng thống Harry Truman và Ngoại trưởng James Byrnes. Nếu lúc đó Washington đáp lại thiện chí của Hồ Chí Minh, chắc lịch sử đã rẽ lối khác.
Trong bài báo đăng trên Washington Post (27/7/2013), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh “Hôm nay, khi tôi tới thăm đất nước và nhân dân Hoa Kỳ, chúng ta cùng chia sẻ niềm vui vì ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gần 70 năm trước về mối quan hệ “hợp tác đầy đủ” giữa hai dân tộc nay đã thành hiện thực”. Lịch sử quan hệ Viêt-Mỹ đầy nghịch lý. “Tuy không thể thay đổi được quá khứ, nhưng có thể thay đổi tương lai”.
Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đặt tên “Việt Nam Độc lập Đồng minh” (Việt Minh) cho mặt trận dân tộc, để cộng tác với đồng minh chống phát xít Nhật. Tháng 3/1945, Hồ Chí Minh sang Côn Minh để bắt liên lạc với Charles Fenn (GBT) và tướng Lee Chenault (tư lệnh không đoàn 14 “Hổ bay”). Sau đó, Archimedes Parti (OSS) đã thiết lập quan hệ với Việt Minh. GBT đã cử Frank Tan và OSS đã cử Dan Phelan tới Việt Bắc.
Tháng 7/1945, OSS đã cử nhóm “Con Nai” (Dear Team) của thiếu tá Allison Thomas đến Việt Bắc để huấn luyện cho các đơn vị Việt Minh. Nhóm “Con Nai” đã huấn luyện 40 người được chọn trong số 110 quân du kích của tướng Đàm Quang Trung. Hồ Chí Minh đã đặt tên cho đơn vị đó là trung đội “Bộ đội Việt-Mỹ”, được thành lập ngày 20/8/1945, do ông Võ Nguyên Giáp chỉ huy, tham gia chiến đấu chống Nhật tại Thái Nguyên.
Mặc dù tình hình Đông Dương lúc đó và nội bộ GBT, AGAS và OSS rất phức tạp, nhưng Hồ Chí Minh tranh thủ được cảm tình và ủng hộ của Charles Fenn và Archimedes Parti. Họ là những người bạn của Việt Nam lúc cách mạng còn non trẻ. Tuy tôi không gặp được Charles Fenn như đã hứa với anh Phạm Xuân Ẩn, nhưng đã gặp Archimedes Parti tại Bangkok năm 1990 khi ông tới Hà Nội dự kỷ niệm 100 năm ngày sinh Cụ Hồ.
Lịch sử quan hệ Việt-Mỹ đã trải qua nhiều thăng trầm đầy bi kịch. Sau chiến tranh Việt Nam, lẽ ra hai nước đã bình thường hóa quan hệ từ 1977-1978, nhưng Việt Nam đã để tuột mất cơ hội, do nhiều yếu tố. Vì vậy, Việt Nam đã bị xô đẩy vào cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba (1979-1989). Chuyến thăm Mỹ lịch sử của TBT Nguyễn Phú Trọng (6-10/7/2015) là một cột mốc đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ hai nước để “bỏ qua quá khứ”.
Trở về tương lai
Từ đầu năm 2023 đến nay, ngoài chuyến thăm của các đoàn Quốc hội và đoàn doanh nghiệp Mỹ gồm 50 công ty hàng đầu do USABC tổ chức, nhiều quan chức cấp cao Mỹ đã sang thăm Việt Nam để tăng cường hợp tác giữa hai nước. Đó là Đại diện Thương mại Catherine Tai, Giám đốc CDC Rochelle Walensky, Tổng Giám đốc USAID Samantha Power, Bộ trưởng bộ Nông nghiệp Thomas Vilsack, Bộ trưởng bộ Tài chính Janet Yellen.
Về ngoại giao, sau chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Antony Blinken (14-16/4/2023), Trưởng ban Đối ngoại Lê Hoài Trung đã sang thăm Mỹ (28/6-2/7/2023) để chuẩn bị cho chuyến thăm của lãnh đạo nhằm nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược. Đặc biệt là chuyến thăm của ông Kurt Campbell, Điều phối viên của Hội đồng An ninh Quốc gia về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, vào giữa tháng 7 để chuẩn bị cho chuyến thăm của Tổng thống Biden (dự kiến ngày 10/9).
Trong điện đàm với TBT Nguyễn Phú Trọng ngày 29/3, Tổng thống Biden đã khẳng định Việt Nam là đối tác quan trọng và Mỹ ủng hộ Việt Nam mạnh, độc lập, tự chủ và thịnh vượng. Hai nhà lãnh đạo đã nhận lời mời đi thăm lẫn nhau. Khi tiếp Ngoại trưởng Antony Blinken ngày 15/4, TBT Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh “những kết quả tích cực trong quan hệ hai nước thời gian qua là cơ sở để tiếp tục nâng quan hệ hai nước lên tầm cao mới”.
Trong dịp đến bang New Mexico để vận động tranh cử, Tổng thống Biden đã nói ngày 8/8: “Tôi sẽ sớm đến Việt Nam, vì Việt Nam muốn thay đổi mối quan hệ với chúng ta để trở thành một đối tác chủ chốt”. Trước đó, ngày 28/7, Tổng thống Biden cho biết “Lãnh đạo cao nhất của Việt Nam rất muốn gặp tôi để thảo luận việc nâng cấp quan hệ hai nước lên đối tác lớn, ngang hàng với Nga và Trung Quốc”.
Tuy báo chí trong nước không đưa tin vì những lý do tế nhị, nhưng báo chí nước ngoài đã loan báo mặc dù Nhà Trắng chưa thông báo chính thức. Theo báo chí, Tổng thống Joe Biden sẽ đến New Delhi dự Thượng đỉnh G-20 (9-10/9), sau đó sẽ đi Việt Nam, vì vậy sẽ không đến Jakarta dự Cấp cao ASEAN. Trước đó, ông Blinken đã nói tại Hà Nội ngày 15/4 rằng quan hệ Việt-Mỹ sẽ được nâng cấp “trong những tuần và những tháng tới”.
Việt Nam và Mỹ đã sẵn sàng nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược sau nhiều lần “nâng lên đặt xuống” vì những lý do nhạy cảm. Yếu tố Trung Quốc đã giảm thiểu sau khi TBT Nguyễn Phú Trọng đi thăm Trung Quốc ngày 1/11/2022. Vấn đề nhân quyền được xếp sau lợi ích chiến lược song trùng. Vấn đề khắc phục hậu quả chiến tranh được Mỹ tích cực giải quyết. Hai bên đang thúc đẩy hợp tác kinh tế và khai thác tài nguyên, bao gồm đất hiếm.
Bước ngoặt mới
Theo Kurt Campbell, Việt Nam là “một nước bản lề quan trọng” (a critical swing state) tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, vì có vị trí chiến lược, vai trò địa chính trị và địa kinh tế ngày càng quan trọng, kiên quyết chống lại sự bành trướng trên biển của Trung Quốc”. Năm 2010, Ngoại trưởng Hillary Clinton đề xuất nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược. Tháng 8/2021, Phó Tổng thống Kamala Harris cũng đặt vấn đề như vậy.
Nhưng trong nội bộ Việt Nam, những người bảo thủ vẫn lo ngại Mỹ “diễn biến hòa bình” khi ủng hộ nhân quyền và dân chủ. Họ sợ nâng cấp quan hệ với Mỹ sẽ mở cửa cho Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Đây chính là những gì mà Trung Quốc muốn, nhằm gạt ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi khu vực để độc chiếm Biển Đông và giữ Việt Nam trong vòng tay của họ. Vì vậy, nếu Việt Nam quá lo ngại bị Trung Quốc trừng phạt, sẽ rơi vào bẫy của họ.
Việt Nam muốn làm đối tác chiến lược với 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc trong đó có Mỹ, nhưng đến nay quan hệ với Mỹ vẫn thấp nhất so với bốn nước kia. Đó là nghịch lý. Đối tác chiến lược Việt-Mỹ phù hợp với chủ trương đối ngoại của Việt Nam là “độc lập, tự chủ, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ”. Đối tác chiến lược với Mỹ không chỉ là tượng trưng mà còn thực chất, để Hà Nội vận dụng “ngoại giao cây tre”.
Trung Quốc đã tin tưởng hơn vào sự trung lập của Việt Nam, để cho Việt Nam có thể mở rộng hợp tác quốc phòng với các nước khác, trong đó có Mỹ. Việt Nam đã duy trì quan hệ tốt với Trung Quốc với nguyên tắc “bốn không”. Ngoài ra, dù lo ngại “diễn biến hòa bình” vẫn còn nhưng đã giảm thiểu sau khi lãnh đạo Mỹ cam kết tôn trọng hệ thống chính trị của Việt Nam, và ủng hộ một nước Việt Nam “mạnh, độc lập, tự chủ và thịnh vượng”.
Theo Chiến lược An ninh Quốc gia mới, Chính quyền Biden “sẵn sàng cộng tác với các chế độ chuyên chế không theo thể chế dân chủ nhưng ủng hộ hệ thống quốc tế dựa trên luật lệ”. Việt Nam nằm trong số đó. Nay Mỹ tìm cách để hóa giải những khác biệt với Hà Nội để thúc đẩy các mục tiêu chiến lược.
Lời kết
Đến nay, quan hệ hai nước đã có những bước tiến dài. Nhưng so với các cơ hội đã bị lỡ trước đây cũng như lợi ích chiến lược song trùng hiện nay, những gì đã đạt được vẫn còn “quá ít và quá chậm”. Nếu nhìn ngược lại lịch sử thì lẽ ra Việt Nam và Mỹ đã trở thành đối tác chiến lược từ lâu. Nhưng đáng tiếc là điều đó đã không trở thành hiện thực sớm hơn.
Người Hà Nội thích nói đùa “Hà Nội không vội được đâu”. Nhưng giới quan sát cho rằng hiện nay hai nước đã sẵn sàng nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược. Điều này phải được thực hiện “ngay bây giờ hoặc không bao giờ”. Đối tác Chiến lược Mỹ-Việt là tín hiệu tích cực và cơ hội tốt cho Việt Nam. Nó không chỉ mở rộng và làm sâu sắc liên kết kinh tế và ngoại giao, mà còn thúc đẩy hai nước cộng tác tốt hơn về an ninh quốc phòng.
Đêm nay (theo giờ VN), Tổng thống Mỹ Joe Biden cùng Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida và Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol có cuộc gặp thượng đỉnh 3 bên được xem như một bước ngoặt tiến tới mô hình “NATO châu Á”.
Hôm qua (17.8), Reuters dẫn lời ông Kurt Campbell, điều phối viên Nhà Trắng phụ trách Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cho biết cuộc gặp thượng đỉnh 3 bên Mỹ – Nhật – Hàn sẽ hướng đến một loạt các sáng kiến đầy tham vọng nhằm đạt được tiến bộ giữa 3 nước. Bước tiến cho bức tranh an ninh chung
Phát biểu của ông Campbell được đưa ra trong một sự kiện diễn ra tại Viện Brookings (New York, Mỹ) vào ngày 16.8 (theo giờ địa phương). Ông Campbell khẳng định cuộc gặp sẽ “định hình mối quan hệ 3 bên cho thế kỷ 21”.
Mặc dù vậy, ông cũng cho biết “có thể hình dung một tương lai với nhiều tham vọng hơn”, nhưng “hãy thực hiện từng bước một để xây dựng một cách thích hợp để không vượt ra khỏi bối cảnh nội bộ từng nước”. Điều phối viên Campbell cũng cho biết các thỏa thuận đạt được tại hội nghị thượng đỉnh sẽ là “một bước tiến đáng kể trong việc công nhận bức tranh an ninh chung mà mỗi quốc gia đang phải đối mặt” và “điều đó sẽ đòi hỏi các hành động chung”. Đến nay, Washington có các thỏa thuận phòng thủ chung chính thức với cả Tokyo và Seoul, nhưng giữa Tokyo và Seoul thì lại có nhiều bất đồng và cách biệt bắt nguồn từ yếu tố lịch sử. Theo Reuters, trong cuộc gặp lần này, 3 nước sẽ đạt nhiều thỏa thuận về quốc phòng và công nghệ.
Ông Campbell cũng ca ngợi lãnh đạo Nhật Bản lẫn Hàn Quốc trong việc hàn gắn bất đồng, và việc hàn gắn đó là “sáng kiến ngoại giao của thời hiện đại”. Đầu tháng 5 vừa qua, Thủ tướng Kishida đã đến Seoul, bắt đầu chuyến thăm chính thức Hàn Quốc trong 2 ngày. Ông Kishida trở thành thủ tướng đầu tiên của Nhật thăm Hàn Quốc sau 12 năm. Trước khi Thủ tướng Kishida thăm Hàn Quốc, Tổng thống Yoon hồi tháng 3 cũng đã có chuyến thăm Nhật Bản, đồng thời có những nỗ lực tăng cường quan hệ giữa Seoul với Tokyo.
Tổng thống Biden đặt mục tiêu thắt chặt quan hệ Nhật Bản, Hàn Quốc
Trong khi đó, theo tờ South China Morning Post, Trung Quốc đang “cảnh giác cao độ” trước cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Nhật – Hàn. Cũng theo tờ báo, với nhiều nhà quan sát thì cuộc gặp kia là một bước tiến mới cho việc xây dựng nên một NATO phiên bản châu Á. Cơ hội để hợp tác giải quyết vấn đề Triều Tiên
Trả lời Thanh Niên ngày 17.8, GS Yoichiro Sato (chuyên gia về quan hệ quốc tế, Đại học Ritsumeikan châu Á – Thái Bình Dương, Nhật Bản; học giả cao cấp của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Yusof Ishak, Singapore) nhận xét: “Cuộc gặp thượng đỉnh sẽ là cơ hội để tiến xa hơn trong việc tăng cường hợp tác an ninh giữa 3 nước”.
Theo ông, động lực hợp tác 3 bên có được dưới thời Tổng thống Mỹ George W. Bush đã mất từ lâu, phần lớn là do những hạn chế trong quan hệ song phương Nhật – Hàn. “Sự trỗi dậy của Trung Quốc gây nhiều quan ngại khiến chính dư luận Hàn Quốc cũng ủng hộ một nhà lãnh đạo thực tế hơn chứ không phải chỉ cố xoa dịu CHDCND Triều Tiên để giải quyết căng thẳng ở bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên, trong hội nghị thượng đỉnh, Tổng thống Yoon rất có thể sẽ né việc xác định rõ ràng các thách thức từ Bắc Kinh như một lý do để tăng cường hợp tác, mà thay vào đó sẽ vẫn tập trung vào vấn đề Triều Tiên. Hội nghị thượng đỉnh sẽ là một cơ hội tốt để 3 nước đưa ra chiến lược hợp tác giải quyết vấn đề bán đảo Triều Tiên”.
Vấn đề đáng lo nhất cho 3 nước trong việc hợp tác là liệu chương trình nghị sự của các cuộc đàm phán khả thi với Triều Tiên có thể bao gồm (theo yêu cầu của Triều Tiên) các vấn đề như tình trạng của quân đội Mỹ tại Hàn Quốc và vũ khí hạt nhân của Mỹ có phải là đối tượng cần được kiểm soát hay không.
Thông điệp cho Trung Quốc
Cũng trả lời Thanh Niên, TS Timothy R.Heath (chuyên gia nghiên cứu cấp cao, Tổ chức RAND, Mỹ) đặt vấn đề: “Yếu tố quan trọng thúc đẩy hợp tác 3 bên thuận lợi hơn là Hàn Quốc và Nhật Bản dường như đang cải thiện quan hệ song phương. Tuy nhiên, không rõ sự hợp tác giữa Tokyo và Seoul sẽ kéo dài bao lâu sau khi nội các hiện tại hết nhiệm”.
“Sự hợp tác 3 bên được cải thiện sẽ cho phép Washington và các đồng minh hợp tác chặt chẽ hơn trước Bình Nhưỡng. Hợp tác chặt chẽ hơn giữa ba nước cũng có thể mang đến một thông điệp chính trị quan trọng cho Trung Quốc rằng sự hiện diện của Mỹ ở châu Á sẽ tiếp tục lâu dài. Các quốc gia khác trong khu vực có thể sẽ xem mối quan hệ ngày càng sâu sắc giữa Mỹ – Nhật – Hàn như một sự cân bằng trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuy nhiên, xu hướng tương tự có thể thúc đẩy Trung Quốc, Nga và Triều Tiên càng gắn kết hơn”, TS Heath phân tích.
Trong những ngày mà cả thế giới còn đang tập trung vào cuộc chiến giữa Nga và Ukraine. Tại Đông Nam Á, Trung Quốc và Campuchia đã âm thầm tiến hành nâng cấp và cải tạo quân cảng Ream. Dù đã cố gắng che giấu nhưng nó thì vẫn bị Hoa Kỳ phát hiện và đặt ra câu hỏi: “Điều gì đã khiến Trung Quốc thuê quân cảng Ream?”. Quân cảng này có gì quan trọng? Trung Quốc muốn gì ở nó?
Quân cảng Ream – mũi tên trúng hai đích của TQ.
Lời giải cho con đường vươn ra biển lớn
Trước hết chúng ta hãy cùng nhìn qua lịch sử của quân cảng này, và vị trí địa lý của nó. Trong suốt một khoảng thời gian dài quân cảng này gần như bị bỏ không, từ thời kỳ chính quyền Lon Nol do Hoa Kỳ dựng lên nắm quyền và sau đó là Khmer Đỏ. Vùng đất này, có cơ sở hạ tầng kém và các tàu cỡ lớn gần như không thể tiếp cận. Thế nhưng vị trí địa lý của nó thì lại quá tuyệt vời. Nếu Cam Ranh của Việt Nam có thể phong tỏa vùng Biển Đông và tuyến đường thương mại đi qua đây, thì Ream cũng có vị trí đắc địa không kém. Đó là khống chế toàn bộ vùng Vịnh Thái Lan, vùng biển Tây Nam của Việt Nam và quan trọng nhất đó là eo biển Malacca, nói chung là rất nhiều lợi ích. Thế nhưng các bạn chỉ cần quan tâm nhất đến cụm từ eo biển Malacca mà thôi. Tại sao lại quan trọng? Đặc biệt là với Trung Quốc?
Bởi Trung Quốc phải đối mặt với cái gọi là “Thế tiến thoái lưỡng nan Malacca”, trong đó thì các tuyến đường vận tải của họ đi qua Malacca, giữa Malaysia và Indonesia có khả năng bị hải quân Mỹ cản trở nếu xung đột thực sự xảy ra. Phần lớn nhập khẩu của Trung Quốc trong đó 80% là nguyên liệu đều phải đi qua khu vực này, và bất kỳ sự bao vây thương mại nào cũng sẽ bóp nghẹt nền kinh tế của Trung Quốc. Đó là lý do mà Trung Quốc cần phải xây dựng gấp căn cứ quân sự tại đây, họ có thể cơ động quân đội gấp xuống đây, chuẩn bị cho một cuộc chiến tiềm tàng với Hoa Kỳ.
Hơn nữa chúng ta cần nhìn vào vị trí của Trung Quốc hiện tại, họ đang bị bao vây bởi vô số căn cứ quân sự và các đồng minh của Mỹ. Phía Đông có là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan; phía Bắc là Nga dù là đồng minh nhưng chắc chắn họ cũng không thể đưa quân lên đất Nga tạo căn cứ được; phía Tây, Tây Nam thì có Ấn Độ. Hơn nữa Tân Cương, Tây Tạng thì luôn có phong trào đòi ly khai bất ổn, vậy thì chỉ còn phía Nam mà thôi.
Biển Đông thì đang đầy biến động khó lường với Philippines, Indonesia, Malaysia đều là đồng minh của Mỹ, còn Việt Nam thì là đối thủ mà Trung Quốc luôn tranh chấp. Thế nhưng đặc điểm chung của các quốc gia này, là tiềm lực yếu hơn Trung Quốc khá nhiều và dễ bị lôi kéo nếu cho họ những lợi ích to lớn. Hơn nữa nếu so với ba phía kia, thì phía Nam là nơi dễ tác động nhất, khi Trung Quốc có những quốc gia thân mình đó là Campuchia và Myanmar, còn Thái Lan cũng đang xoay trục dần về phía họ. Chính vì vậy, muốn vươn ra biển lớn mà ít rủi ro nhất thì Biển Đông là lựa chọn hoàn hảo. Và để làm được điều này, họ cần các tiền đồn quân sự để hiện diện quân sự lâu dài và thường xuyên ở đây. Hải Nam thì ở quá xa, Hoàng Sa – Trường Sa họ có căn cứ quan trọng nhưng lại tồn tại nhiều rủi ro khi động binh vì nó thì đều nằm trong tầm ngắm của Việt Nam, và các căn cứ của Hoa Kỳ tại Philippines.
Giờ thì hãy nhìn vào Ream, nếu đóng quân ở đây, họ có một tuyến đường ngắn nhất để đến được eo biển Malacca so với các vùng biển đang tranh chấp giữa các bên, thì khu vực giữa Campuchia, Việt Nam, Thái Lan là yên ổn nhất với những tranh chấp không đáng kể. Chính vì vậy, đầu tư vào Ream là một dự án có lợi và ít rủi ro nhất cho Trung Quốc.
Theo CSIS, các tàu nạo vét giúp căn cứ Ream có cảng nước sâu hơn, vốn là điều kiện cần thiết để các tàu quân sự lớn cập cảng. Báo cáo dẫn lại một bài viết đăng trên tạp chí The Wall Street Journal cho biết : “Thỏa thuận đề cập ở trên cho phép quân đội Trung Quốc tiếp cận căn cứ Ream, đổi lại việc tài trợ cho các nâng cấp căn cứ này”. Báo cáo cũng cho biết các tàu nạo vét có thể được nhìn thấy trong bức ảnh của chính phủ Campuchia công bố trong tháng vừa qua và trong các bức ảnh vệ tinh thương mại. Theo báo cáo, những hình ảnh cho thấy việc xây dựng trên bờ tại Ream vẫn đang được tiếp tục, việc xây dựng trên bờ và các tàu nạo vét cho thấy căn cứ đang chuẩn bị cho những nâng cấp hạ tầng quan trọng.
Phản ứng trước thông tin của CSIS, hãng tin Reuters đưa tin: “Bộ Ngoại giao Mỹ cũng cân nhắc lại những lo ngại nghiêm trọng, về hoạt động xây dựng và sự hiện diện quân sự của Trung Quốc tại căn cứ Ream, những diễn biến này đe dọa lợi ích của Mỹ và các đối tác an ninh khu vực và chủ quyền của Campuchia”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết, Mỹ cũng kêu gọi Campuchia “minh bạch hoàn toàn về ý định, bản chất và phạm vi của dự án tại Ream, và vai trò của quân đội Trung Quốc trong việc xây dựng căn cứ”.
Tháng 06/2021, Campuchia xác nhận Trung Quốc đang hỗ trợ quốc gia này nâng cấp căn cứ hải quân Ream, bao gồm việc hiện đại hóa, mở rộng căn cứ và giúp Campuchia có một địa điểm thích hợp, một xưởng sửa chữa tàu bè và một bến cảng neo đậu. Lời xác nhận liên quan tới Trung Quốc và cảng Ream được đưa ra sau khi một số báo, đài của Mỹ cáo buộc Phnom Penh cho phép Bắc Kinh lập căn cứ quân trên đất của Campuchia. Năm 2022, những bức ảnh mới nhất của CSIS đã cho thấy sự hiện diện trực tiếp của quân đội Trung Quốc. Theo tốc độ xây dựng hiện tại, thì các chuyên gia ước tính khi nâng cấp xong, quân cảng này sẽ có thể chứa được các tàu có trọng tải lên đến 5.000 tấn. Dù phía Campuchia liên tục phủ nhận rằng đó chỉ là các con tàu của các hãng tư nhân của Trung Quốc được gọi thuê để nạo vét cảng. Tuy nhiên vải thưa thì không thể che được mắt thánh.
Ngay từ những bước động thổ đầu tiên, Hoa Kỳ đã giám sát chặt chẽ nó qua vệ tinh và thông tin tình báo. Ngay cả khi vấn đề Nga – Ukraina đang căng thẳng cũng không rời mắt khỏi nơi đây. Trung Quốc hiện nay còn thúc đẩy việc xây kênh đào Kra của Thái Lan, là một phần của chính sách “Vành đai và Con đường” do ông Tập Cận Bình vạch ra. Không những vậy, Trung Quốc còn liên tục kêu gọi các nước xung quanh như Myanmar, Campuchia và cả Việt Nam ủng hộ họ xây con kênh đào này và hứa hẹn những lợi ích có được, kênh đào Kra dự kiến sẽ tiêu tốn khoảng 20 đến 30 tỷ USD, tùy theo tuyến xây dựng và có thể mất đến 10 năm để hoàn thành. Tuy nhiên, nó sẽ giúp tiết kiệm được khoảng 1.200 km quãng đường di chuyển so với các lộ trình hàng hải hiện nay qua eo biển Malacca, nơi 84.000 tàu thuyền và 30% giao thông toàn cầu đi qua mỗi năm. Nếu kênh đào được xây thì Malaysia và Singapore sẽ thiệt hại một phần, thế nhưng eo biển Malacca thì vẫn là tuyến giao thông quan trọng giữa vịnh Ba Tư và Indonesia hoặc Australia. Trong khi đó thì Myanmar, Campuchia và Việt Nam thì sẽ có lợi nhờ quãng đường sang Ấn Độ Dương được rút ngắn. Con dao sau lưng
Dù Ream là một vị trí đắc địa cho việc phá vỡ thế tiến thoái lưỡng nan ở Malacca, nhưng nó thì có một điểm yếu cố hữu đó là chỉ có thể chứa được các tàu 5.000 tấn, tức là khinh hạm hoặc tàu hộ vệ. Chính vì vậy, quân bài thứ hai được tung ra tại Campuchia, ngoài Ream Trung Quốc hiện tại vẫn còn một dự án nữa được xem là quân sự đội lốt du lịch. Dự án Dara Sakor – tỉnh Koh Kong, với tổng giá trị lên tới 3,8 tỷ USD, là một phần trong sáng kiến vành đai và con đường. Dự án này sẽ được xây dựng theo từng giai đoạn, đầu tiên là một sân bay quốc tế, tiếp đến là một cảng nước sâu, sau đó là các nhà máy và khu nghỉ dưỡng. Một điều đáng nói ở dự án này, đó là không biết Bộ Tài chính Campuchia tính nhầm hay là họ quá giàu mà giá thuê khu đất 40.000 ha hướng ra biển trong 99 năm rẻ gần như cho, chỉ là 1 triệu USD/năm – tức là tính ra Trung Quốc chỉ phải trả 25 USD/1ha/năm, và các doanh nghiệp của Trung Quốc được miễn thuế 10 năm đầu.
Chuyện sẽ chẳng có gì đáng nói nếu quy mô của các công trình không để lại cho người ta nhiều nghi vấn.
Thứ nhất, dự án này trái với pháp luật của Campuchia. Theo luật của đất nước này thì doanh nghiệp nước ngoài chỉ được phép thuê đất 99 năm với diện tích là dưới 10.000ha, tức là dự án này đã gấp 4 lần quy định cho phép. thế nhưng bằng cách nào đó nó vẫn được thông qua.
Thứ hai, theo dự án này sân bay sẽ dài 3.400m và có công suất là 10 triệu hành khách mỗi năm, gấp đôi công suất tại sân bay Phnom Penh và gấp hơn 40 lần số lượng khách đến sân bay Sihanoukville. Một sân bay với chiều dài đủ sức để cho bất kỳ một máy bay chiến đấu nào của Trung Quốc có thể cất hoặc hạ cánh ở đây.
Thứ ba, việc xây dựng cảng nước sâu không thích hợp để đón tàu khách du lịch, chưa kể quy mô cảng này là quá lớn để có thể tiếp đón các tàu có trọng tải là 10.000 tấn, và thật trùng hợp trọng tải này lại phù hợp với đa phần các tàu khu trục và khinh hạm của Trung Quốc.
Hơn nữa xét về vị trí, nơi này khá là hoang vu cách khá xa với các thành phố tấp nập, ngay cả với những nơi mà người Trung Quốc kinh doanh. Dù chính quyền Campuchia liên tục khẳng định nơi này được dùng với mục đích dân sự và du lịch, thế nhưng như đã nói “vải thưa thì không che nổi mắt thánh”.
Ngay từ khi nó bắt đầu, đã bị đưa vào tầm ngắm của dư luận, đặc biệt là phía Hoa Kỳ. Họ cho rằng Trung Quốc muốn biến nơi đây thành một căn cứ quân sự, các nhà phân tích đến từ Hoa Kỳ đều có chung nhận định rằng: “Một khả năng là nó sẽ gây áp lực cho các cơ sở quân sự chiến lược của Việt Nam đóng tại Cam Ranh. Một căn cứ quân sự tại Koh Kong sẽ buộc Hà Nội phải hướng sự chú ý nào đó sang phía Tây, do đó Koh Kong chắc chắn có thể sẽ gây phức tạp cho việc lập kế hoạch của Việt Nam cho một cuộc xung đột vũ trang trong tương lai”.
Việt Nam hiện đang là đối thủ hàng đầu và là tấm đê ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông, quan hệ Việt – Mỹ sở dĩ có thể tốt lên nhanh chóng chính là nhờ chính sách của Hà Nội chống lại tham vọng nuốt chửng Biển Đông của Bắc Kinh, và Trung Quốc đương nhiên là biết điều này nên họ đã biến Campuchia thành một cái gai khó chịu khiến Việt Nam phải phân tán sự chú ý.
Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn chống lại những tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông, vì vậy Trung Quốc cần một quân bài hữu hiệu để khắc chế điều này. Các bạn hãy nhớ rằng trong quá khứ Khmer Đỏ tồn tại được chính là nhờ Trung Quốc viện trợ, gây ra căng thẳng trên hai đầu đất nước buộc Việt Nam phải căng mình đối phó.
Khi có căn cứ tận Campuchia, “một mũi tên đã trúng hai đích”, Trung Quốc vừa kiềm chế vừa tạo ra mối đe dọa tiềm tàng của Việt Nam, vừa khắc phục điểm yếu của mình với Mỹ nếu xung đột xảy và tạo bàn đạp giúp họ khống chế khu vực và vươn ra biển lớn.
Ngoại trưởng Trung Quốc cáo buộc Mỹ và một số thế lực khác khuấy động, dùng những rắc rối giữa Trung Quốc và Philippines nhằm mục đích riêng.
Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị.
Ngày 12/8, Tân Hoa Xã đưa tin, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã trao đổi quan điểm với các quan chức Singapore và Malaysia về tình hình hiện tại ở Biển Đông và làm rõ lập trường của Trung Quốc khi ông đang có chuyến thăm tới hai nước này lần lượt vào các ngày 10 và 11/8.
Trong bình luận mới nhất, Ngoại trưởng Trung Quốc cho biết, Bắc Kinh đã nhiều lần bày tỏ sẵn sàng giải quyết những bất đồng với Philippines thông qua đối thoại song phương, hy vọng phía Philippines sẽ tuân thủ sự đồng thuận đã đạt được trước đây và trân trọng sự tin tưởng lẫn nhau được tích lũy thông qua việc cải thiện quan hệ song phương.
Ông Vương Nghị cũng nói trong những năm qua, nhờ nỗ lực chung của Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tình hình ở Biển Đông đã đạt được sự ổn định tổng thể và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các nước trong khu vực.
Song, quan chức Trung Quốc cáo buộc Mỹ và một số thế lực khác đã liên tục khuấy động khu vực này, dùng những rắc rối giữa Trung Quốc và Philippines … nhằm phục vụ chiến lược địa chính trị của riêng họ.
Ngoại trưởng Trung Quốc hy vọng các nước trong khu vực duy trì cảnh giác cần thiết trước những mưu đồ đằng sau và hành động đóng góp vai trò vào duy trì hoà bình, ổn định trên Biển Đông.
Ông Vương nhấn mạnh, Bắc Kinh sẵn sàng cùng các nước ASEAN thúc đẩy tham vấn về Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC), nỗ lực sớm đạt được thỏa thuận về các quy tắc áp dụng trong khu vực có hiệu quả, thực chất và phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS).
“Trung Quốc và các nước ASEAN có năng lực và trí tuệ để duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông” – người đứng đầu ngành ngoại giao Trung Quốc nói.
Theo Tân Hoa Xã, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đang có chuyến công du tới Singapore, Malaysia và Campuchia.
Những bình luận trên được đưa ra trong bối cảnh những ngày qua, Bắc Kinh và Manila chỉ trích lẫn nhau về vụ tàu hải cảnh Trung Quốc bị tố xịt vòi rồng tàu tiếp tế Philippines đến Bãi Cỏ Mây hôm 5/8.
Thực thể này nằm trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam, cách đảo Palawan của Philippines khoảng 200km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 1.000km.
Hiện phía Philippines, Mỹ chưa bình luận trước những phát ngôn nêu trên của ông Vương Nghị.
Tờ Business Insider đưa tin Anh đang triển khai kế hoạch phát triển tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo (SSBN) loại mới mang tên Dreadnought, trong đó tập trung hợp tác với Mỹ để đẩy mạnh các tên lửa đạn đạo Trident II D5 có thể mang đầu đạn hạt nhân, loại vũ khí quan trọng của toàn hệ thống.
Được bắt đầu vào năm 2008, Mỹ và Anh đã thống nhất phát triển một loại khoang tên lửa chung (CMC) cho tất cả SSBN của hải quân 2 nước trong tương lai. Đây chính là nơi cất giữ và phóng tên lửa Trident II D5. Ngoài ra, Anh cũng tham gia chương trình kéo dài tuổi thọ cho Trident II D5 của hải quân Mỹ, nhằm đảm bảo vũ khí sẽ trụ đến đầu những năm 2060. Chính phủ Anh trước đây ước tính Tridents của nước này sẽ cần được thay thế vào khoảng năm 2040. Trong khi đó, tờ South China Morning Post đưa tin các nhà khoa học tại Đại học Công nghệ quốc phòng tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) đã công bố bước đột phá lớn trong công nghệ vũ khí laser. Đột phá đó là hệ thống làm mát mới giúp loại bỏ hoàn toàn lượng nhiệt có hại sinh ra trong quá trình hoạt động của tia laser năng lượng cao, nhằm tránh hỏng hóc cho toàn hệ thống. Vấn đề này là một thách thức kỹ thuật lớn đối với tham vọng phát triển vũ khí laser của bất kỳ nước nào. Với công nghệ mới, các nhà khoa học Trung Quốc tuyên bố hệ thống vũ khí giờ đây có thể tạo ra chùm tia laser bao lâu tùy thích mà không bị gián đoạn hoặc suy giảm hiệu suất.
Tuy vậy, theo South China Morning Post, các bước tiến của Trung Quốc vẫn còn nhiều hạn chế. Phạm vi hiệu quả tối đa của những vũ khí này chỉ là vài ki lô mét. Hơn nữa, việc hệ thống làm mát thổi khí gas có thể dẫn đến tình trạng nhiễu loạn và rung động, ảnh hưởng tính ổn định và chất lượng của chùm laser.
Ngoại trưởng giao Trung Quốc Vương Nghị cuối tuần qua đã đến thăm Campuchia để tái khẳng định cam kết của nước ông đối với quốc gia Đông Nam Á này sau khi thủ tướng đương nhiệm của nước này giao lại công việc cho con trai ông sau cuộc bầu cử một chiều vào tháng trước, theo AP đưa tin.
Ông Vương là nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên đến thăm Campuchia, vài ngày sau khi Hun Sen tuyên bố rằng con trai 45 tuổi của ông và người đứng đầu quân đội nước này, Hun Manet, sẽ thay thế ông để điều hành đất nước.
Eang Sophalleth, phát ngôn viên của Hun Sen, nói với các phóng viên sau cuộc họp rằng, ông Vương bày tỏ Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với thủ tướng mới được bổ nhiệm.
Bộ Ngoại giao Campuchia sau đó đã đưa ra một tuyên bố trích dẫn lời ông Vương bày tỏ sự ủng hộ của Trung Quốc đối với “lãnh đạo chính phủ mới nổi của Vương quốc Campuchia”.
Hun Sen, người đứng đầu chính phủ tại vị lâu nhất ở châu Á, và đảng của ông đã giành chiến thắng áp đảo trong cuộc tổng tuyển cử ở nước này sau khi ngăn cản nhóm đối lập chính – Đảng Ánh nến – phản đối các cuộc thăm dò về mặt kỹ thuật. Các quốc gia phương Tây và các nhóm nhân quyền đã chỉ trích cuộc bầu cử, nói rằng nó không “tự do” và cũng không “công bằng”.
Ông Vương cũng ca ngợi cuộc bầu cử của Campuchia, nói rằng nó diễn ra tự do và công bằng, với hơn 80% người dân Campuchia tham gia trước sự chứng kiến của hàng chục quan sát viên nước ngoài.
Vào ngày 7 tháng 8, Quốc vương Norodom Sihamoni chính thức bổ nhiệm Hun Manet làm thủ tướng mới. Ông sẽ nhậm chức vào ngày 22 tháng 8, khi Quốc hội khóa mới thông qua nội các mới.
Campuchia là một đối tác ngoại giao quan trọng của Trung Quốc, giúp giảm bớt sự chỉ trích đối với Bắc Kinh trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á gồm 10 thành viên, một số thành viên đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông.
Đổi lại, Trung Quốc đã đạt được một vai trò to lớn trong chính trị và kinh tế Campuchia, như đã thấy trong nhiều dự án, khách sạn và sòng bạc do Trung Quốc tài trợ rải rác khắp nơi.
Các ngân hàng nhà nước của Trung Quốc cũng đã tài trợ cho các sân bay, đường xá và các cơ sở hạ tầng khác được xây dựng bằng các khoản vay của Trung Quốc. Hơn 40% trong số 10 tỷ USD nợ nước ngoài của Campuchia là nợ Trung Quốc.
Vào tháng 6 năm ngoái, Trung Quốc và Campuchia đã động thổ dự án mở rộng cảng hải quân khiến Mỹ và các nước khác lo ngại rằng dự án này có thể trao cho Bắc Kinh một tiền đồn quân sự quan trọng chiến lược trên Vịnh Thái Lan.
Hun Sen vào năm 2019 được cho là đã trao cho Trung Quốc quyền thiết lập căn cứ quân sự tại Căn cứ Hải quân Ream. Ông từ lâu đã phủ nhận điều đó, nói rằng hiến pháp Campuchia nghiêm cấm các cơ sở quân sự nước ngoài.
Nhà lãnh đạo vừa bước sang tuổi 71 vào thứ Bảy tuần trước, nói rằng việc từ chức thủ tướng “vẫn chưa phải là kết thúc” và ông sẽ đảm nhiệm các vị trí khác ít nhất cho đến năm 2033, tức là nhiệm kỳ của ông kéo dài nửa thế kỷ. Ông dự kiến sẽ giữ một lượng lớn quyền kiểm soát với tư cách là chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia của mình và với tư cách là chủ tịch Thượng viện.
Các nhà khoa học quân sự Trung Quốc tuyên bố tạo ra được hệ thống vũ khí laser hoạt động liên tục mà không bị quá nhiệt.
RT dẫn lại báo cáo của các nhà khoa học quân sự Trung Quốc cho biết những thành công trong nghiên cứu tia laser năng lượng cao có thể giúp nước này tạo ra hệ thống vũ khí laser bắn liên tục tùy theo nhu cầu tác chiến mà không bị gián đoạn hay suy giảm hiệu năng.
Nghiên cứu này do nhóm khoa học thuộc Đại học công nghệ quốc phòng Trường Sa phát triển và được công bố lần đầu tiên trên tạp chí Acta Optica Sinica vào đầu tháng 8.
Trọng tâm của nghiên cứu này là tạo ra hệ thống tản nhiệt cho các hệ thống tia laser năng lượng cao, từ đó cho phép chúng hoat động liên tục mà không bị quá tải. “Đây là bước đột phá lớn trong việc cải thiện hiệu suất của các hệ thống laser năng lượng cao. Các chùm tia laser có thể được tạo ra không chỉ trong giây đầu tiên mà còn được duy trì vô hạn tùy theo nguồn năng lượng nó được cấp”, nhóm nghiên cứu cho biết:
Hệ thống làm mát mới kiểm soát các luồng khí để loại bỏ nhiệt từ bên trong vũ khí laser, ngăn rung động và gián đoạn hoạt động. Các nhà khoa học cho biết hệ thống này có thể cho phép vũ khí hoạt động lâu hơn, tăng phạm vi và hỏa lực mạnh hơn.
Các nhà khoa học Trung Quốc nhấn mạnh sau 60 năm kể từ khi phát minh ra thiết bị chiếu tia laser đầu tiên, các nhà phát triển vũ khí vẫn chưa thể tạo ra vũ khí laser có thể thực hiện tấn công mục tiêu ngay lập tức.
Giới hạn về nguồn năng lượng và quá tải từng khiến một số chương trình vũ khí laser của Mỹ bị hủy bỏ mặc dù chúng đã bắn hạ các mục tiêu trong quá trình thử nghiệm.
Các nhà khoa học Trung Quốc cho biết: “Lý do thực sự của việc Mỹ hủy bỏ các dự án này là sức mạnh năng lượng từ chùm tia laser không đáp ứng được kỳ vọng. Điều quan trọng là hệ thống cần hoạt động liên tục, lâu hơn để mở rộng phạm vi của vũ khí laser lên vài km”.
Những vũ khí như vậy tạo ra các chùm năng lượng cao làm nóng khí trên đường đi của chúng khi chúng đi qua không khí, tạo ra nhiễu loạn. Hiệu ứng này có thể làm biến dạng chùm tia, làm giảm độ chính xác và cường độ của nó. Khí nóng cũng có thể làm nhiễm bẩn các thấu kính trong vũ khí laser, làm giảm hiệu suất và có khả năng làm hỏng hệ thống.
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho biết họ đã phát triển một hệ thống tản nhiệt qua vũ khí để loại bỏ nhiệt thải và giữ cho các thấu kính trong suốt. Công nghệ của họ đã được sử dụng trong một số vũ khí laser mà quân đội Trung Quốc đang phát triển.
Bắc Kinh được cho là có ý định sử dụng những vũ khí như vậy để chống lại máy bay không người lái, tên lửa và máy bay. Chúng cũng có thể được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các vệ tinh, làm gián đoạn khả năng liên lạc, điều hướng và giám sát của kẻ thù.
Sau vụ “xịt vòi rồng” ở Biển Đông, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 8-8 kêu gọi Philippines di dời tàu chiến mắc cạn ra khỏi khu vực bãi Cỏ Mây.
Xác tàu đổ bộ BRP Sierra Madre của Philippines tại bãi Cỏ Mây, được sử dụng như một tiền đồn có bố trí binh sĩ.
Theo Hãng tin Reuters, Trung Quốc ngày 8-8 lặp lại lời kêu gọi Philippines di dời tàu chiến mắc cạn ra khỏi bãi Cỏ Mây.
“Trung Quốc một lần nữa kêu gọi phía Philippines ngay lập tức rút tàu chiến khỏi bãi Cỏ Mây và đưa nó trở lại trạng thái không bị chiếm đóng”, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố.
Bắc Kinh cho biết đã “nhiều lần” liên lạc với Manila về vấn đề ở bãi Cỏ Mây thông qua các kênh ngoại giao, nhưng thiện chí và sự chân thành của họ đã bị “phớt lờ”.
Trung Quốc khẳng định sẵn sàng xử lý các vấn đề hàng hải qua đàm phán và tham vấn.
Động thái diễn ra sau khi Philippines tố tàu hải cảnh Trung Quốc hôm 5-8 đã xịt vòi rồng vào các tàu của Philippines đang thực hiện nhiệm vụ tiếp tế trên Biển Đông.
Trong tuyên bố của lực lượng hải cảnh hôm 7-8, Trung Quốc khẳng định đã cảnh báo trước Philippines chuyện không đưa tàu đến bãi Cỏ Mây. Bắc Kinh cũng nhấn mạnh đã yêu cầu Manila không đưa vật liệu gia cố và sửa chữa xác một chiếc tàu chiến mắc cạn ở khu vực.
Tuy nhiên theo phía Trung Quốc, Philippines đã phớt lờ và đưa tàu tuần duyên cùng tàu tiếp tế đến bãi Cỏ Mây ngày 5-8.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng cáo buộc động thái của Philippines là “vi phạm chủ quyền của Trung Quốc” và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Bộ này cũng nhấn mạnh việc ngăn chặn tàu Philippines là đúng luật.
Ngày 8-8, Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila cho biết trong cuộc gặp hôm 7-8 với Thứ trưởng ngoại giao Philippines Theresa Lazaro, đại sứ Huang Xilian nói rằng Trung Quốc không có lựa chọn nào khác ngoài việc “đáp trả”.
“Trung Quốc đang chờ phản hồi từ phía Philippines và hy vọng cả hai bên sẽ bắt đầu đàm phán càng sớm càng tốt để cùng duy trì hòa bình ở vùng biển liên quan”, đại sứ Huang nói.
Ông Jonathan Malaya, trợ lý tổng giám đốc của Hội đồng An ninh quốc gia Philippines, lặp lại bình luận ông đã đưa ra hôm 7-8: “Philippines sẽ không bao giờ từ bỏ vị trí của mình ở bãi cạn Ayungin (cách mà nước này gọi bãi Cỏ Mây)”.
Quan chức Philippines kêu gọi Trung Quốc “không làm leo thang vấn đề bằng vòi rồng hoặc tia laser cấp độ quân sự – điều gây nguy hiểm cho tính mạng của người dân Philippines”. Đồng thời, ông đề xuất “các cuộc đàm phán chân thành và các biện pháp ngoại giao khác”.
Nằm trong khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam, bãi Cỏ Mây nằm cách đảo Palawan của Philippines khoảng 200km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 1.000km.
Theo phán quyết của Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông năm 2016, bãi Cỏ Mây nằm trên thềm lục địa Philippines.
Trong tuyên bố ngày 6-8, Bộ Ngoại giao Mỹ ủng hộ việc tiếp tế của Philippines, đồng thời cho rằng hành động ngăn cản của Trung Quốc không phù hợp với luật pháp quốc tế.
Mỹ kế đó nhắc lại phán quyết năm 2016, kêu gọi Bắc Kinh tuân thủ phán quyết này và tôn trọng quyền tự do hàng hải. Washington đồng thời nhắc nhở khả năng kích hoạt Hiệp ước phòng thủ chung với Manila nếu các tàu công vụ, máy bay và quân đội Philippines bị tấn công vũ trang.
Trung Quốc hôm 7-8 đã chỉ trích Mỹ vì đã lên tiếng ủng hộ đồng minh Philippines.