Category Archives: Aktuell

5th ARF Workshop on Implementing UNCLOS opens in Hanoi

The Ministry of Foreign Affairs on November 9 coordinated with the embassies of Canada, Australia, New Zealand, and the EU to organise the 5th ASEAN Regional Forum (ARF) Workshop on Implementing UNCLOS and other International Instruments to Address Emerging Maritime Issues in Hanoi.

The 5th ASEAN Regional Forum (ARF) Workshop on Implementing UNCLOS and other International Instruments to Address Emerging Maritime Issues is held in Hanoi on November 9. (Photo: The Ministry of Foreign Affairs)

The Ministry of Foreign Affairs on November 9 coordinated with the embassies of Canada, Australia, New Zealand, and the EU to organise the 5th ASEAN Regional Forum (ARF) Workshop on Implementing UNCLOS and other International Instruments to Address Emerging Maritime Issues in Hanoi.

The event in hybrid format attracted about 150 delegates from 27 ARF member countries, international and regional organisations, diplomatic representative agencies, research institutes, experts, reputable scholars, and ministries and branches.

At the event, participants discussed ways to cooperate and solve challenges in marine management in the region, based on the application and implementation of the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) and relevant international legal documents. 

In his opening remarks, Deputy Foreign Minister Do Hung Viet affirmed the extremely important role of UNCLOS 1982 – the constitution of the seas and oceans – in the context that the world and the region are facing more and more challenges.

He said that territorial disputes, strategic competition, on-site tensions as well as climate change, sea level rise, and unsustainable marine exploitation have posed many risks to the East Sea – the waters with strategic and economic significance – that threaten peace, security, and stability, particularly maritime security and safety of the region. 

He said the UNCLOS continues to demonstrate its irreplaceable role in solving issues and disputes at sea, serving as a solid foundation for continuing to develop an international legal framework to address emerging challenges.

Viet held that more than ever, countries can only find solutions to maritime problems in the region through promoting cooperation, and by fully respecting and implementing UNCLOS.

Co-chairing the workshop, Canadian Ambassador Shawn Steil, Australian Deputy Ambassador Mark Tattersall, New Zealand Ambassador Tredene Dobson, and Deputy Head of the EU Delegation to Vietnam all emphasised the important role and value of the UNCLOS.

At the workshop, participants discussed the regulation scale of the UNCLOS 1982 and relevant legal documents, conventional and emerging challenges in implementing the UNCLOS 1982./.VNA

Loading

Views: 0

11 chiến đấu cơ TQ vượt qua ranh giới trên eo biển Đài Loan

Ngày 22-11, Đài Loan báo cáo 11 chiến đấu cơ Trung Quốc đã băng qua đường trung tuyến giả định eo biển Đài Loan.

Hãng tin Reuters dẫn Cơ quan phòng vệ Đài Loan cho biết bắt đầu từ chiều ngày 22-11, họ đã phát hiện các máy bay chiến đấu J-10, J-16 cũng như máy bay ném bom H-6 và máy bay cảnh báo sớm của Trung Quốc.

Trong đó, 11 chiến đấu cơ đã vượt qua đường trung tuyến giả định của eo biển Đài Loan, bay trong không phận đến trung tâm và phía tây nam của hòn đảo này, hợp tác với các tàu chiến Trung Quốc để thực hiện “các cuộc tuần tra sẵn sàng chiến đấu chung”, cơ quan này tuyên bố.

Đường trung tuyến giả định là đường phân cách không chính thức giữa hai bên trên eo biển Đài Loan, do Đài Bắc đơn phương lập ra.

Phía Đài Loan nói đã cử lực lượng tới giám sát. Còn Bộ Quốc phòng Trung Quốc không trả lời các cuộc gọi yêu cầu bình luận về vụ việc.

Trung Quốc xem Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời của mình. Bắc Kinh nói rằng các hoạt động của họ gần Đài Loan nhằm ngăn chặn “sự thông đồng” giữa Đài Loan và Mỹ, đồng thời để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc.

Trong khi đó, Đài Loan bác chính sách của Bắc Kinh và nói rằng chỉ người dân trên hòn đảo mới có thể quyết định tương lai của họ.

Vụ việc diễn ra vào thời điểm chiến dịch bầu cử tại Đài Loan đang đến giai đoạn tăng tốc. Các ứng cử viên sẽ phải đăng ký với Ủy ban bầu cử của hòn đảo trong tuần này, nhằm chuẩn bị cho cuộc bầu cử vào tháng 1-2024.

Ông Lại Thanh Đức, hiện là phó lãnh đạo Đài Loan, là ứng cử viên của Đảng Tiến bộ dân chủ (DPP), sẽ ra tranh cử ghế lãnh đạo hòn đảo này. Ông đang dẫn đầu trong hầu hết các cuộc thăm dò dư luận trước cuộc bầu cử vào đầu năm sau.

Hôm 20-11, ông Lại cũng tuyên bố chọn bà Tiêu Mỹ Cầm, 52 tuổi, là người đồng hành của mình trong chiến dịch tranh cử. Bà Tiêu từng là đại diện Đài Loan tại Mỹ.

Đảng đối lập chính của Đài Loan, Quốc dân đảng (KMT), ủng hộ mối quan hệ chặt chẽ với Bắc Kinh và đã cam kết mở lại đối thoại với Trung Quốc nếu giành được chiến thắng trong cuộc bầu cử.

BDN

Loading

Views: 0

Việt – Trung sắp có đường dây nóng về vụ việc đột xuất của hoạt động nghề cá

Đây là một trong các nội dung được thảo luận trong cuộc gặp giữa đoàn Việt Nam và Trung Quốc tại Hà Nội ngày 9-11.

Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 10-11, cuộc gặp giữa hai trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc đã diễn ra ngày 9-11 tại Hà Nội.

Thứ trưởng thường trực Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ tham gia cuộc gặp, phía Trung Quốc là Thứ trưởng Ngoại giao Tôn Vệ Đông.

Hợp tác quản lý biên giới Việt Nam – Trung Quốc trên đất liền
Theo Bộ Ngoại giao, tại cuộc gặp, hai bên đã đi sâu trao đổi về quan hệ song phương, các vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước cũng như các vấn đề quốc tế, khu vực hai bên cùng quan tâm.

Hai bên đánh giá những tiến triển tích cực trong hợp tác quản lý biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc theo các văn kiện pháp lý.

Trong đó, cơ chế Ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc vận hành hiệu quả, thông suốt. Hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng, kết nối giao thông tại khu vực biên giới được đẩy mạnh.

Gần đây, hai nước đã phối hợp chặt chẽ đưa vào triển khai thí điểm hiệu quả khu cảnh quan thác Bản Giốc (Việt Nam) – Đức Thiên (Trung Quốc), thể hiện quyết tâm phối hợp nhằm tạo điểm đến tham quan an toàn, hấp dẫn cho khách du lịch.

Những điều này đã góp phần quan trọng duy trì ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực biên giới hai nước.

Hai bên nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới theo ba văn kiện pháp lý về biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc và các thỏa thuận có liên quan.

Việt Nam và Trung Quốc nhất trí hợp tác tốt trong công tác mở/nâng cấp/công nhận cửa khẩu, tạo điều kiện thuận lợi thông quan hàng hóa, thúc đẩy giao lưu, hợp tác thương mại, nhân văn… khu vực biên giới.

Hai nước sẽ tiếp tục cùng nỗ lực xây dựng đường biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.

Sớm ký thỏa thuận đường dây nóng nghề cá và cứu nạn
Về vấn đề trên biển, hai bên trao đổi thẳng thắn về một số diễn biến tại Biển Đông trong thời gian qua.

Hai bên khẳng định tầm quan trọng của việc tiếp tục thực hiện nghiêm túc nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc” năm 2011, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định, kiềm chế, tránh làm phức tạp tình hình trên biển.

Phía Việt Nam đề nghị hai bên thực sự tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, cùng nhau kiểm soát tốt bất đồng, duy trì thông suốt các kênh đàm phán về vấn đề trên biển, nỗ lực tìm kiếm một giải pháp cơ bản lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982.

Hai bên đánh giá tích cực kết quả triển khai các dự án trong khuôn khổ hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như “Triển khai hợp tác thả cá giống và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vịnh Bắc Bộ”, “Nghiên cứu hợp tác trong lĩnh vực môi trường địa chất và tai biến địa chất biển khu vực châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Trường Giang” và “Hợp tác nghiên cứu quản lý tổng hợp môi trường biển và hải đảo vùng vịnh Bắc Bộ”.

Hai bên nhất trí tiếp tục thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và hợp tác cùng phát triển trên biển đạt tiến triển thực chất.

Việt Nam và Trung Quốc sẽ sớm hoàn tất thủ tục và tiến tới ký kết “Thỏa thuận về việc thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển Việt Nam – Trung Quốc”, “Thỏa thuận hợp tác tìm kiếm cứu nạn Việt Nam – Trung Quốc” và tiếp tục thúc đẩy hợp tác về biển, nhất là trong lĩnh vực ít nhạy cảm.

Nhân dịp này, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã tiếp ông Tôn Vệ Đông. Trong đó ông Bùi Thanh Sơn đề nghị bộ ngoại giao hai nước phối hợp chặt chẽ, chuẩn bị tốt cho các hoạt động giao lưu giữa hai nước thời gian tới.

Ông cũng đề nghị tăng cường hợp tác thực chất trên các lĩnh vực, tăng cường phối hợp trong công tác quản lý biên giới đất liền, kiểm soát tốt bất đồng trên biển, đóng góp thiết thực vào quan hệ Việt – Trung hữu nghị, hợp tác và phát triển.

BDN

Loading

Views: 0

TQ “ đổ vạ” cho Nhật gây bất ổn khu vực

Bộ Quốc phòng Trung Quốc ngày 16/11, chỉ trích Nhật Bản đang nỗ lực can thiệp vào Biển Đông và là nhân tố gây bất ổn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Theo bản tóm tắt điều khoản do Bộ Ngoại giao Nhật Bản công bố vào đầu tháng 11, Nhật Bản đang có kế hoạch cung cấp hệ thống radar ven biển cho quân đội Philippines, điều này sẽ giúp cải thiện khả năng “nhận thức tình huống hàng hải”.

Phát ngôn viên bộ Quốc Phòng Trung Quốc, Trương Hiểu Cương nhấn mạnh rằng, hợp tác quốc phòng giữa các nước liên quan không được gây tổn hại đến lợi ích của bên thứ ba hoặc gây nguy hiểm cho hòa bình và an ninh khu vực.

Ông Trương cho biết, trong những năm gần đây, Nhật Bản đã vi phạm hiến pháp hòa bình trong nước, phá vỡ chiến lược thiên về phòng thủ độc quyền và tiếp tục xuất khẩu vũ khí, thiết bị ra nước ngoài, ngày càng tiến xa hơn trên con đường mở rộng quân sự.

Ông Trương cho rằng, Nhật Bản cũng đang tìm cách khuấy động tình hình Biển Đông bằng cách hình thành các khối nhằm phá hoại trật tự quốc tế thời hậu Thế chiến II, và ngày càng trở thành nhân tố gây bất ổn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

BDN

Loading

Views: 0

Quá trình chiếm hữu và thực thi chủ quyền của VN tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Sử sách Trung Hoa suốt từ các đời Tần, Hán đến tận sau Thế chiến thứ II, không có tài liệu nào xác nhận, Biển Đông với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc (Biển Đông được người Trung Quốc và giới hàng hải gọi là中国南海 Trung Quốc Nam Hải, 花南Hoa Nam, South China Sea, người Philippines từ 2012 gọi là biển Tây Philippines, West Philippine Sea; quần đảo Hoàng Sa được người Trung Quốc gọi là西沙Tây Sa, tiếng Anh: Paracels và Trường Sa người Trung Quốc được gọi là 南沙 Nam Sa, tiếng Anh: Spratlys). Trong khi đó, không ít bản đồ phương Tây vẽ trước thế kỷ XIX, thư tịch cổ Trung Hoa do chính người Trung Hoa viết, lại đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Ít nhất, từ thế kỷ XVII, Hoàng Sa không phải là lãnh thổ vô chủ (Terra Nullius)

Phía Trung Quốc thường tuyên truyền chủ quyền của họ đối với biển Đông có từ hơn 2000 năm trước. Nhưng những chứng cứ chủ yếu lại chỉ là những ghi chép của người đương thời và người đời sau về các con đường hàng hải từ Trung Quốc ra nước ngoài, các hoạt động thám hiểm, buôn bán, đánh cá… và qua đó có ghi chép về địa lý, lịch sử, phong tục… ở các vùng mà những người chứng kiến đã đi qua. Cũng có tài liệu nói người đánh cá Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và các nước khác khi buôn bán, đánh cá hoặc gặp thiên tai trên biển… đã từng sống trên các đảo tuỳ theo mùa vụ, nhưng cụ thể từ khi nào và mùa vụ là bao nhiêu lâu thì chưa thấy tài liệu nào ghi chép thật rõ, và chỉ riêng điều đó thì cũng không có ý nghĩa về mặt chủ quyền. Ở đây các nhà nghiên cứu đôi khi thường bắt gặp có sự nhầm lẫn hoặc cố tình nhầm lẫn của những người làm sử thiếu khách quan. Theo luật pháp quốc tế, việc thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền trên các vùng biển đảo, ngày nay, không phụ thuộc vào việc phát hiện, thám hiểm hay thực thi buôn bán, làm ăn trên biển. Cũng không phụ thuộc vào sự hiểu biết của người quan sát về biển đảo. Từ thế kỷ thứ VIII, người Bắc Âu, Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh… đã có tiếng là những Viking gồm những nhà thám hiểm, nhà buôn, chiến binh, và cả những hải tặc đã tung hoành trên nhiều vùng biển của địa cầu. Những ghi chép của người Anglo-Saxon về hải dương từ lâu đã là nguồn tra cứu phong phú và quý giá của nhân loại. Tiếp theo là những người Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Việt Nam… cũng có mặt ở nhiều vùng trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Phương Đông không có các Viking, ít các nhà thám hiểm nên người phương Đông có mặt trên biển chủ yếu là buôn bán, làm ăn, đánh cá…

Trước đây, phía Trung Quốc còn đưa thêm nhà thám hiểm người Hồi là Trịnh Hòa vào hồ sơ tranh chấp biển đảo. Nhưng thực ra Trịnh Hòa chỉ đi ngang qua biển Đông và các ghi chép về 7 chuyến đi của ông cũng không thấy nói gì đến Hoàng Sa, Trường Sa: Từ năm 1405-1433, Minh Thành Tổ cử Đô đốc Thái giám Trịnh Hòa chỉ huy đoàn thám hiểm “hạ Tây dương” 7 lần đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với trên 30 quốc gia duyên hải, triển khai Con đường Tơ lụa trên biển tại Ấn Độ, Phi Châu và Trung Đông. Những chuyến hải hành của Trịnh Hòa trên thực tế không hề dừng ở Biển Đông. Trạm trú chân duy nhất của đoàn trong khu vực này là Đồ Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều Minh đã phê phán những cuộc hải trình này chỉ là phô diễn và làm suy yếu kinh tế quốc gia. (Gần đây, khi đụng đến những vấn đề Biển Đông, các chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa không còn được phía Trung Quốc nhắc đến như trước đó nữa).

Trên thực tế, kể từ Định ước Berlin năm 1885, nguyên tắc “quyền phát hiện” và nguyên tắc “chủ quyền lịch sử” không còn phù hợp và đã bị thay thế bới nguyên tắc “chiếm hữu thực sự” và “có hiệu lực”. Ngày nay, nguyên tắc chiếm hữu biển đảo còn được quy định chặt chẽ hơn: thực sự, không gián đoạn, hòa bình và minh bạch. Nghĩa là, nếu giả sử luật pháp quốc tế vẫn còn căn cứ vào luận thuyết chủ quyền lịch sử hay sự phát hiện biển đảo để xác định chủ quyền thì quyền chiếm hữu và sở hữu các châu lục ngày nay hầu hết đã thuộc về các Viking, các nhà thám hiểm hoặc các tay cướp biển Tây Âu.

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa được các triều đại phong kiến Việt Nam thực thi từ rất sớm. Có tài liệu nói từ thế kỷ XV. Nhưng rõ nhất là từ đầu thế kỷ XVII đến tận năm 1932, khi Pháp chính thức tuyên bố kế thừa và tiếp tục chủ quyền tại hai quần đảo này, các triều đại phong kiến Việt Nam đều đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền thực tế đối với Hoàng sa và Trường Sa. Quá trình này diễn ra một cách liên tục, với những hoạt động kinh tế – xã hội rất hòa bình và lúc đó cũng chưa hề có tranh chấp. Về mặt pháp lý, ít nhất từ thế kỷ XVII, Hoàng Sa đã không còn là lãnh thổ vô chủ nữa (Terra Nullius).

Năm 1698, Hoàng Sa trở thành địa danh nổi tiếng được các nhà hàng hải phương Tây biết đến qua các biên niên sử hàng hải với các vụ mắc cạn của tàu l’Amphitrite dưới thời vua Louis XIV khi đi từ Pháp sang Trung Quốc. Nghĩa là, Hoàng Sa được biết đến như một bãi cát nguy hiểm ở vùng Biển Đông Việt Nam. Tàu bè quốc tế đến vùng này nếu không biết có thể mắc cạn, làm mồi cho đói, khát và chết.

Thời các Chúa Nguyễn, tức là từ giữa thế kỷ XVI cho đến khi Tây Sơn chiến thắng năm 1777, hàng năm các Chúa nguyễn đều phái người ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ trên đảo nhằm thực thi chủ quyền và thu hoạch sản vật trên đảo cùng những sản vật của các tàu bị đắm trôi dạt vào đảo. Trong sách “Lịch triều Hiến chương loại chí” Quyển “chi Ngũ dư địa chí”, trang 11a, 12a, Phan Huy Chú ghi chép: “Các vương triều trước (thời các Chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa 70 suất, người xã An Vĩnh luân phiên đi. Hàng năm vào tháng 3 nhận chỉ thị sai đi, mang 6 tháng lương, dùng 5 chiếc thuyền nhỏ, trương buồm xuất dương, 3 ngày 3 đêm đến đảo. Đến đây mặc tình đánh bắt cá ăn, được đồ quí khí vật trên thuyền rất nhiều, lại lấy được hải sản rất nhiều. Tháng 8 trở về, vào cửa Eo (Thuận An) để đến thành Phú Xuân”.

Năm 1753, một sự kiện có liên quan đến chủ quyền Hoàng sa xảy ra với những người lính của Đội Bắc Hải đã được Lê Quý Đôn ghi chép khá kỹ trong “Phủ biên tạp lục”: “Hoàng Sa gần Hải Nam, châu Liêm. Người đi thuyền thường gặp người Bắc quốc (Trung Quốc) đánh cá ngoài biển, hỏi thăm thì được biết họ là người huyện Văn Xương, Quỳnh Châu. Quan Chính đường sưu tra công văn trong đó kể rằng vào tháng 7 năm Càn Long thứ 18 (1753), 10 người lính thuộc đội Cát Liêm, xã An Bình, huyện Chương Nghĩa (Quảng Ngãi ngày nay) đến Vạn Lý Trường Sa 萬里長沙 thu thập các vật, 8 tên lính lên bờ thu thập, chỉ có 2 người lưu lại giữ thuyền. Chợt cuồng phong nỗi lên, đẩy thuyền xa đến cảng Thanh Lan 青瀾港 (Hải Nam, Trung Quốc). Viên quan tại đây điều tra sự thực bèn cho áp giải trở về. Nguyễn Phúc Chu sai Cai bạ Thuận Hóa Thức lượng hầu gửi thư phúc đáp”. Sự kiện này cũng là một dấu hiệu về việc người Trung Quốc không coi Hoàng Sa là của mình.

Năm 1816, vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo Hoàng Sa, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Khâm sứ Pháp tại Đông Dương Jules Brevie đã ra lệnh thành lập cơ quan hành chính quản lý quần đảo Hoàng Sa và cho dựng trên quần đảo một tấm bia có dòng chữ “Cộng hòa Pháp – Vương quốc An Nam – quần đảo Hoàng Sa, 1816”.

Năm 1835, vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiệm vụ khai thác, tuần tiễu, thu thuế trên đảo, và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương. Từ đó đến năm 1847-1848, việc quản lý hành chính các đảo này được triều Nguyễn duy trì nhằm giúp đỡ các cuộc hải trình và cũng để thu thuế ngư dân trong vùng.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Quang Việt, các dữ kiện lịch sử chiếm hữu Hoàng Sa cho thấy “Việt Nam đã có tuyên bố rõ ràng và thực thi quyền của mình ở Paracels ít nhất suốt 70 năm từ trước 1770 cho tới khi vua Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền năm 1816, và tiếp tục cho đến thời Minh Mạng được ghi rõ ràng trong chính sử Việt Nam cho đến 1837… Thời gian có mặt của Việt Nam ở Paracels như thế kéo dài liên tục ít nhất là 74 năm từ 1774 tới ít nhất là (từ lúc Lê Quý Đôn nói về chuyến đi Hoàng Sa cho tới năm sau khi Minh Mạng ra lệnh vẽ bản đồ), thời gian này được ghi nhận trong chính sử. Ý chí và hành động nhằm khẳng định chủ quyền được vua Gia Long và vua Minh Mạng đã thể hiện trong văn bản. Các chuyến ra đảo dù chỉ kéo dài nhiều nhất là sáu tháng nhưng liên tục năm này qua năm khác. Và như thế là đủ”.

2. Nước Pháp công nhận việc thực thi chủ quyền của các triều đại phong kiến Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và chịu trách nhiệm kế thừa

Năm 1884, Hiệp ước Patenotre Huế áp đặt chế độ thuộc địa, nước Pháp có nghĩa vụ bảo hộ, giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ xứ An Nam. Ngày 9/6/1885, Hiệp ước Pháp – Thanh tại Thiên Tân chấm dứt xung đột Pháp Thanh; Việt Nam vĩnh viễn thoát khỏi chế độ phên thuộc. Ngày 26/6/1887, Hiệp ước Pháp – Thanh ấn định biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa. Nghĩa là từ đây, mọi tuyên bố hay hành vi của Pháp về Hoàng Sa, Trường Sa, được hiểu là và trên thực tế là, đại diện cho Việt Nam, của Việt Nam.

Năm 1895 con tàu La Bellona và năm 1896 con tàu Imeji Maru bị đắm gần Hoàng Sa. Những người đánh cá ở Hải Nam đến thu lượm đồng từ hai chiếc tàu đắm này. Các công ty bảo hiểm của hai con tàu này phản đối chính quyền Trung Hoa. Chính quyền Trung Hoa trả lời là không chịu trách nhiệm, lấy lý do là Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Hoa, cũng không phải là lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1899, Toàn quyền Paul Doumer đề nghị chính phủ Pháp xây ngọn hải đăng nhưng việc này không thành vì lý do tài chính.

Vào năm 1909, Tổng đốc Lưỡng Quảng ra lệnh cho đô đốc Lý Chuẩn đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa. Cuộc đổ bộ không quá 24 giờ. Họ kéo cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc. Sự kiện này không gây ra phản ứng gì của các nước, kể cả nước Pháp đại diện cho An Nam vì cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân chuyến thám sát đảo xa. Sự kiện này cũng làm lộ ra mâu thuẫn trong lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu, thì tại sao Lý Chuẩn lại không biết điều này và hành xử với tư cách là người lần đầu tiên phát hiện ra quần đảo.

Năm 1920, một công ty Nhật Bản là Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa, Pháp từ chối. Cũng bắt đầu năm 1920, Pháp kiểm soát quan thuế và tuần tiễu trên đảo.

Ngày 30/3/1921, Tổng đốc Lưỡng Quảng tuyên bố sát nhập Hoàng Sa với Hải Nam, Pháp không phản đối. Ngay sau đó các nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội người Pháp ở Hà Nội đã chỉ trích Toàn quyền Đông Dương về thái độ này. Ngày 8/3/1925 Toàn quyền Đông Dương là Martial Henri Merlin long trọng ra tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và Trương Sa là lãnh thổ của Pháp. Chính phủ bảo hộ nhận trách nhiệm về chủ quyền của mình ở Hoàng Sa, Trường Sa và đẩy mạnh các hoạt động tuần tra, kiểm soát và nghiên cứu khoa học.

Cũng bắt đầu từ năm 1925, Viện Hải dương học Nha Trang tiến hành những thí nghiệm khoa học trên đảo Hoàng Sa do tiến sỹ Krempt tổ chức.

Năm 1927, Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường Sa.

Đầu năm 1930, Ba tàu Pháp La Malicieuse, L’Alerte và L’Astrobale đã khảo sát chuẩn bị cho việc chiếm hữu quần đảo Trường Sa.

Ngày 13/4/1930, toàn quyền Đông Dương Pasquier điều Thông báo hạm La Malicieuse ra quần đảo Trường Sa. Tại đây, đại úy hải quân De Lattrie đã nhân danh nước Pháp bắn 21 loạt đại bác, tuyên bố chủ quyền toàn bộ các đảo ở Trường Sa với các vùng biển phụ cận và kéo cờ trên đảo “Île de la Tempête” (đảo Bão Tố, tức đảo Spratly, nay gọi là đảo Trường Sa Lớn). Văn bản báo cáo ghi rõ, Trường Sa nằm ở 8039 độ vĩ Bắc và 111055 kinh đông.

Ngày 23/9/1930 Pháp gửi thông báo ngoại giao tới các nước có liên quan về chủ quyền của Pháp trên đảo Trường Sa, Nói rõ: “Phủ Toàn quyền Đông Dương ra thông cáo để thông báo cho các nước thứ ba biết việc Cộng hòa Pháp chiếm hữu toàn bộ quần đảo Spratly (Trường Sa)”. Thông báo này cũng được đăng trên Công báo của Phủ Toàn quyền.

Năm 1931, Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa, bán quyền khai thác cho Công ty Anglo – Chinese Development. Pháp phản đối.

Năm 1932, Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa, sát nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên. Nghĩa là Pháp công nhận và chịu trách nhiệm kế thừa chủ quyền của Việt Nam từ trước đó, tiếp tục thực thi chủ quyền tại hai quần đảo này. Đây là một bước đi quan trọng và là sự kiện đặc biệt có ý nghĩa trong việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền một cách liên tục đối với lãnh thổ quốc gia.

Năm 1933, quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa. Ngày 26/7/1933 nước Pháp ra thông báo chính thức về sự chiếm hữu các đảo Trường Sa trên nhật báo của Pháp. Pháp cũng đề nghị với Trung Hoa đưa vấn đề ra Toà án Quốc tế, nhưng Trung Hoa từ chối.

Việc thuyết phục nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương quan tâm ngày càng thiết thực hơn đến chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào những năm đầu thế kỷ XX, nên hiểu là một quá trình không đơn giản. Lúc đó, khác với ngày nay, việc chiếm hữu các đảo xa mang lại tốn kém, phức tạp, nguy hiểm nhiều hơn là lợi ích. Chính chủ quyền hiển nhiên đã có từ lâu trong lịch sử của các vương triều An Nam đối với biển đảo mới là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy các quan chức Pháp tại Hà Nội thiết tha hơn và cảm thấy trách nhiệm nặng nề hơn với Hoàng Sa, Trường Sa. Công đầu trong việc này thuộc về tờ tuần báo “Thức tỉnh kinh tế Đông Dương” (L’Éveil Économique de l’Indochine).

Tuần báo L’Éveil économique de l’Indochine ra số đầu tiên vào thứ bảy, ngày 16/6/1917 và số cuối cùng vào năm 1934. Người sáng lập, là Chủ bút và cũng là tác giả của nhiều bài viết trong tuần báo này là Henri Cucheroussset (1879 – 1934, ông qua đời tại Hà Nội và cũng là người đặc biệt yêu mến Hoàng Sa, chiến đấu không mệt mỏi cho chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa). Trong 835 số tuần báo, Chính phủ Pháp và An Nam đã triệt để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa với chính quyền Quảng Đông (lúc đó ly khai khỏi Trung Quốc và cũng không được Trung Quốc và các nước khác thừa nhận). Ông Henri Cucheroussset đã đưa vấn đề ra Thượng viện và Hạ viện Pháp, vì lý do Toàn quyền Đông dương ở Hà Nội không đủ nỗ lực quan tâm đến vấn đề. Trên tờ tạp chí này, các sự kiện sau đây đã được phản ánh:

Các đề nghị đối với chính quyền bảo hộ: Đặt trạm hải đăng, trạm khí tượng, trạm phát sóng cực ngắn, các phao đèn và cọc tiêu, vẽ các bản đồ quần đảo Hoàng Sa: tỷ lệ 1:200.000, & 1 :25.000; Xây dựng cảng cá và tổ chức nơi trú ẩn cho ngư dân, phát triển công nghiệp cá, phát triển các tầu đánh cá có thể đánh bắt xa bờ từ 2 đến 300 km ; Thiết lập hệ thống hành chính trên hai quần đảo và cần thiết có quân đội thường trú bảo vệ và tuần tra khu vực.

Trách nhiệm của nước Pháp và các quan chức Pháp tại Đông Dương: Tác giả trách cứ một số quan chức Đông Dương vô trách nhiệm đối với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa như Ông Monguillot (Thống sứ Bắc Kỳ, có lúc được cử làm quyền Toàn quyền Đông Dương), Trung tá Rémy hạm trưởng Hải quân Pháp tại Sài Gòn và đặc biệt là ông Toàn quyền Pière Pasquier. Và nhờ đó, các chính khách đã quan tâm đến vấn đề quần đảo Hoàng Sa như Thượng nghị sĩ Albert Sarraut, Nghị sĩ Ernest Outrey, Thượng nghi sĩ Bergeon … và đề nghị tổ chức một hội nghị về quần đảo này tại Luxembourg (Thượng nghị viện Pháp) và lâu đài Bourbon (Hạ nghị viện Pháp).

Vỉa phốt phát có diện tích khoảng 4 triệu m2 có độ dầy trung bình 2m, tức 8 triệu mét khối và với có thể thu được 2 tấn / m3 phốt phát tức 16 triệu tấn. Phốt phát ở Hoàng Sa. Tuy nhiên, chính quyền quản lí lơ là để Nhật Bản và Trung Quốc khai thác bất hợp pháp, không mang lại lợi ích nào cho An Nam.

Bằng con tầu Malicieuse, ngày 13/4/1930, nước Pháp đã chính thức đặt chủ quyền của An Nam dưới sự bảo hộ của Pháp đối với quần đảo Trường Sa.

Chính quyền Pháp và An Nam đã dựng lại bia chủ quyền cho quần đảo Hoàng Sa trên đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) với dòng chữ: République française – Royaume d’An Nam – Archipel des Paracels 1816 – île Pattle – 1938 (Cộng hòa Pháp – Vương quốc An Nam – Quần đảo Paracels 1816 – đảo Pattle 1938). Chính quyền Pháp đã lần lượt đặt hai trạm khí tượng trên đảo Boisée (Phú Lâm) và trên đảo Pattle (Hoàng Sa). Trước đó, vào năm 1933, Quần đảo Trường Sa đã được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa.

3. Việt Nam “xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” trước cộng đồng quốc tế tại Sanfransico 1951

Ngày 14/3/1933, Pháp cho đội tàu gồm Malicieuse, tàu pháo Arlete và hai tàu thuỷ văn Astrobale và de Lanessan từ Sài Gòn đến Trường Sa với hàng loạt các đảo như đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), cụm rạn London Reefs (Trường Sa Đông, đá Đông, đá Tây và đá Châu Viên gọi là London Reefs), bãi san hô Tizard (Ba bình, Bàn Than, Sơn ca, Núi thị, Én đất, Nam yết, Đá Lạc, Ga ven), bãi san hô Loại Ta, cụm rạn Thị Tứ và rạn Thám hiểm Phía Bắc. Tại từng địa điểm đi qua, người Pháp đã tổ chức nghi lễ chiếm hữu các đảo chính thuộc nơi đó. White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands Republic of Vietnam Ministry of Foreign Affairs Saigon, 1975.

Ngày 19/7/1933, Bộ Ngoại giao Pháp ra bản thông báo về tuyên bố chủ quyền của Pháp, kèm theo danh sách liệt kê tên các đảo đã chiếm hữu, gồm: 6 thực thể

Trường Sa Lớn; tuyên bố chủ quyền 13/4/1930 (île de la Tempête, Spratly).

An Bang; tuyên bố chủ quyền 7/4/1933 (Caye-d’Amboine, Amboyna Cay; Trung Quốc gọi là 安波沙洲: An Ba sa châu).

Ba Bình; tuyên bố chủ quyền 10/4/1933 (Itu-Aba, Đài Loan gọi là太平).

Nhóm Song Tử; tuyên bố chủ quyền 10/4/1933 (Groupe de Deux-îles; Song Tử Đông (Northeast Cay, tiếng Filipino: Parola, Trung Quốc gọi là 北子岛 Bắc Tử đảo; & Song Tử Tây (Southwest Cay, Trung Quốc gọi là 南子岛 Nam Tử đảo),

Loại Ta, tuyên bố chủ quyền 11/4/1933 (Loaita Island (South Island of Horsburgh); Trung Quốc gọi là 南钥岛 Nam Thược đảo)

Thị Tứ; tuyên bố chủ quyền 12/4/1933 (Thitu Island; Trung Quốc gọi là中业岛 Trung Nghiệp đảo).

“Những hòn đảo nói trên và các đảo phụ thuộc từng đảo này thuộc chủ quyền của Pháp”

Từ ngày 24/7/1933 đến 25/9/1933, Pháp lần lượt thông báo cho các quốc gia có thể có lợi ích tại Trường Sa biết về hành động của Pháp. Trừ Nhật Bản, tất cả các nước được thông báo đều không phản đối; Trung Quốc, Hà Lan (đang kiểm soát Indonesia) và Mỹ đều im lặng.

Ngày 21/12/1933, thống đốc Nam Kỳ là Jean-Félix Krautheimer kí Nghị định số 4702-CP sát nhập số đảo trên và “các đảo phụ thuộc” vào địa phận tỉnh bà Rịa.

Năm 1939, Thứ trưởng Ngoại giao Anh là Butter tuyên bố rằng Pháp đã thực thi đầy đủ chủ quyền trên quần đảo.

Năm 1937, bất chấp sự phản đối của Pháp, Nhật chiếm các đảo nằm ngoài khơi Đông Dương, đổi tên thành Shinnan Gunto (Tân Nam Quần Đảo) và đặt dưới quyền tài phán của Cao Hùng (Đài Loan). Trong suốt thời gian Thế chiến II, các quần đảo bị Nhật tuyên bố là bị chiếm đóng.

Năm 1938, Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quần đảo Hoàng Sa. Ngày 4/4/1939, chính phủ Pháp gửi Công hàm phản đối các quyết định của Nhật và bảo lưu chủ quyền của Pháp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 5/5/1939, Toàn quyền Đông Dương J. Brevie ký Nghị định số 3282 tách đơn vị hành chính Hoàng Sa thành 2 đơn vị: “Croissant và các đảo phụ thuộc”, “Amphitrite và các đảo phụ thuộc”.

Khi Chiến tranh Thế giới II sắp kết thúc, ba cường quốc Anh – Mỹ – Trung (lúc đó Tưởng Giới Thạch đại diện cho Trung Quốc) đã nhóm họp tại Cairo, Ai Cập ngày 27/11/1943 để bàn về những quyết định hậu chiến và ra Tuyên bố Cairo. Về biển đảo ở Thái Bình Dương, Tuyên bố viết rõ: “Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng từ khi bắt đầu Chiến tranh thế giới I năm 1914 và tất cả những lãnh thổ mà Nhật đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa”. Trong Tuyên bố này, Không có gì liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này có nghĩa rằng, Tuyên bố Cairo khẳng định các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc chỉ có “Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ”. Và ngày 26/7/1945, tại Posdam của nước Đức bại trận, các nguyên thủ quốc gia gồm Harry Truman, Winston Churchill và Tưởng Giới Thạch khẳng định các Điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện. Tuyên bố Potsdam về “các điều kiện định cho sự đầu hàng của Nhật” tương tự như một tối hậu thư đối với Nhật Bản. Sự thực thì Trung Quốc lúc đó đã quá thỏa mãn với phần thưởng hậu chiến là có được Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ, mà không có Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 15/8/1945, Nhật Bản thua trận phải rút khỏi Đông Dương và ngày 26/8/1945, quân đội Nhật phải rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 6/1946, Pháp khôi phục lại sự có mặt của mình tại Hoàng Sa tại đảo An Vĩnh, nhưng ngay sau đó phải rút vì lý do chi viện cho chiến cuộc đang căng thẳng ở Bắc Việt Nam.

Chúng tôi một lần nữa muốn lưu ý rằng, suốt chiều dài lịch sử cho đến tận năm 1945, ngoài nỗ lực thị uy của chính quyền Quảng Đông năm 1909, Trung Quốc không hề có sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành chính thực tế nào trên các đảo ở biển Đông.

Cuối năm 1946, Trung Quốc (lúc đó là Chính thể Tưởng Giới Thạch) đưa quân chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa), sau khi Pháp đặt bia chủ quyền ở đó. Tháng 1/1947, Trung Quốc đổ bộ lên đảo Woody (Phú Lâm) của quần đảo Hoàng Sa. Pháp lập tức phản đối việc xâm phạm trái phép này của Trung Quốc và cử một phân đội ra quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí tượng này hoạt động trong suốt 26 năm với những nhân viên Việt Nam cần mẫn cho đến khi Trung Hoa đại lục cưỡng chiếm bằng quân sự vào năm 1974. Ngày nay thông tin về khí tượng thủy văn phát đi từ Hoàng Sa vẫn được toàn thế giới biết đến với danh nghĩa một trạm khí tượng của một hòn đảo nhiệt đới Việt Nam. Hai bên đàm phán tại Paris. Cũng năm 1947, Pháp đề nghị đưa vấn đề tranh chấp ra Trọng tài quốc tế nhưng Trung Hoa lại từ chối.

Tháng 10/1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, chính phủ Trung Hoa Dân quốc chạy ra Đài Loan. Tháng 5/1950, Quân đội Quốc dân Đảng phải rút khỏi các đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình (quần đảo Trường Sa). Các trại đồn trú của Pháp vẫn được tiếp tục duy trì ở Hoàng Sa.

Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý quần đảo này. Thủ hiến Trung phần Việt Nam lúc bấy giờ là Phan Văn Giáo đã chủ trì việc chuyển giao quyền hành quản lý quần đảo Hoàng Sa. Một năm sau đó, với thế giới và với Hoàng Sa – Trường Sa, đã diễn ra một sự kiện quan trọng, đó là hội nghị San Francisco, California (Mỹ) giữa lực lượng Đồng minh với Nhật Bản.

Trước khi hội nghị San Francisco diễn ra, Trung Quốc đại lục đã thể hiện yêu sách của họ đối với các quần đảo qua tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao Chu Ân Lai ngày 15/8/1951. Nhưng chính quyền Tưởng Giới Thạch thì không phản ứng gì. Lúc đó, đa số các nước vẫn công nhận chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch là đại diện chính thức cho Trung Quốc.

Hội nghị San Fransisco diễn ra từ ngày 5/9 đến 8/9/1951, có phái đoàn của 51 quốc gia tham dự để thảo luận về vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á – Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Trong hội nghị này, Trung Hoa Đại lục và Trung Hoa Dân quốc không được mời tham dự do giữa Mỹ và Liên Xô không thống nhất được ai là người đại diện chính thức cho quyền lợi của Trung Hoa.

Ngày 5/9/1951, Ngoại trưởng Liên Xô Gromyko đã đề nghị 13 khoản tu chính. Trong đó, có khoản tu chính liên quan đến việc Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Trung Hoa đại lục đối với đảo Hoàng Sa. Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 1 phiếu trắng và 2 phiếu thuận. Danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ của một hội nghị quốc tế.

Ngày 7/9/1951, cũng tại hội nghị, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã long trọng tuyên bố, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam: “Cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt các mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Kết thúc hội nghị là việc ký kết Hòa ước với Nhật ngày 8/9/1951. Trong hòa ước này, ở Điều 2, đoạn F, ghi rõ: “Nhật Bản khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. 50 phái đoàn nghe lời tuyên bố của phái đoàn Việt Nam, không quốc gia nào phản đối.

Sau Hội nghị San Francisco, 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do chính quyền Bảo Đại quản lý. Đến năm 1954, 2 quần đảo này được đặt dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Tháng 4/1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, đội tuần tra của Pháp trên đảo Hoàng Sa được thay thế bởi đội tuần tra của chính phủ Việt Nam cộng hòa. Nhưng khi đó chính quyền Trung Quốc đại lục đã bí mật cho quân đổ bộ chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (cụm An Vĩnh, Amphitrite Group, 宣德群岛, Tuyên Đức quần đảo). Trong khi phía Tây, nhóm Lưỡi Liềm, còn gọi là Nguyệt thiềm (Crescent Group, 永乐群岛, Vĩnh Lạc quần đảo) vẫn do quân đội Việt Nam đóng trên đảo Pattle nắm giữ. Ngày 1/6/1956, ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo. Ngày 22/8/1956, Một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hoà cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia. Ngày 13/7/1961, Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 174-NV về việc đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy danh là xã Định Hải thuộc quận Hoà Vang.

4. Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa là trắng trợn vi phạm tuyên ngôn 1970 của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc

Ngày 4/9/1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải lý, áp dụng cho cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 14/9/1958 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi công thư cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai thông báo “tán thành” và “tôn trọng” quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Công thư này không hề nói gì về Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1961, quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của tỉnh Quảng Nam. Năm 1973, thuộc tỉnh Phước Tuy.

Tháng 1/1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm các đảo do quân đội Việt Nam Cộng hoà đóng, 75 sĩ quan và binh sỹ Sài Gòn hy sinh, Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Nghĩa là kể từ 1974, trong vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Việt Nam đã bị tước mất yếu tố vật chất (Corpus), nhưng chủ quyền của Việt Nam vẫn không bị gián đoạn do được đảm bảo bằng yếu tố tinh thần (Animus). Tháng 12/1982, huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được thành lập. Nhưng điều quan trọng hơn, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24/10/1970 ghi rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lưc. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp”. Do đó, các hành động dùng vũ lực trái ngược với luật quốc tế của Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho nước này đối với quần đảo Hoàng Sa.

Đối với quần đảo Trường Sa, theo Jan Rowiński, cho đến thời điểm tháng 1/1974 “Trung Quốc không có khả năng gây ảnh hưởng đối với khu vực quần đảo Trường Sa, chứ chưa nói gì đến chuyện kiểm soát nó”.

Ngày 14/2/1975, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa công bố Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Tháng 5/1975, Việt Nam thống nhất, quân đội Nhân dân Việt Nam thay thế quân đội Việt Nam Cộng hoà tại quần đảo Trường Sa. Năm 1977, Việt Nam ra tuyên bố lãnh hải đất nước, kể cả lãnh hải của các đảo. Khoảng thời gian này, một số quốc gia Đông Nam Á khác cũng đã chiếm một số đảo của quần đảo Trường Sa.

Tháng 3/1988, lần đầu tiên Trung Quốc có mặt trên quần đảo Trường Sa bằng cách đưa quân tới xâm lược bãi đá Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma, do ba bãi đá này không có quân đội đồn trú nên Hải quân Việt Nam phải đưa quân ra bảo vệ. Ngày 11/3/1988, tàu HQ 604 (Lữ đoàn 125) của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ xuất phát từ Cam Ranh với 70 bộ đội công binh của Trung đoàn 83 và 22 bộ đội của Lữ đoàn 146 ra xây dựng cụm đảo Gạc Ma. Khi đang chuyển vật liệu lên đảo thì ba tàu chiến Trung Quốc áp sát, giật cờ, nã súng xâm chiếm đảo Gạc Ma trái phép. Sau đó, tàu Trung Quốc tiếp tục tấn công tàu HQ 605 đang bảo vệ và xây dựng đảo Len Đao và tàu HQ 505 canh giữ Cô Lin. Trận xung đột đã làm hai tàu của Việt Nam bị chìm, một tàu hỏng, 64 sỹ quan và chiến sĩ hy sinh, 9 người bị phía Trung Quốc bắt làm tù binh. Trung Quốc còn chặn không cho tàu mang cờ Chữ Thập Đỏ ra cứu hộ. Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, thương vong 24 thủy binh. Kể từ đó Trung Quốc chiếm đóng Gạc Ma.

Tháng 4/1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 5/1989, Trung Quốc chiếm thêm một đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa.

Năm 1990, Trung Quốc đề nghị khai thác chung quần đảo Trường Sa.

Năm 1992, Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nữa.

Năm 1994, Đụng độ giữa Việt Nam và một chiếc tàu Trung Quốc nghiên cứu cho Công ty Crestone.

Tháng 2/1995, Trung Quốc chiếm bãi đá Vành Khăn, một đảo đá nhỏ do Philippines quản lý trên quần đảo Trường Sa.

Hiện nay Trung Quốc kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Còn quần đảo Trường Sa thì do sáu quốc gia và vùng lãnh thổ chiếm giữ là Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei.

Những sự kiện điển hình vừa dẫn ra ở trên cho thấy ý đồ và bước đi của nhà cầm quyền Trung Quốc trong nhiều thế kỷ qua đã diễn ra theo một logic đáng ngại cho hòa bình và công pháp quốc tế. Nhưng không dừng ở đó, Ngày 26/5/2011 và này 30/11/2012 tàu Trung Quốc đã vào tận khu vực thềm lục địa Việt Nam và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cắt cáp địa chấn, cáp thu tín hiệu của tàu Binh Minh 02 thuộc Tập đoàn PetroViệt Nam. Tháng 5/2014 Trung Quốc đã đưa giàn khoan khổng lồ Haiyang Shiyou 981 cùng với hàng chục máy bay chiến đấu, hàng trăm tàu bán quân sự và quân sự vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ngày 26/5/2014, tàu Trung Quốc số 11209 đã đâm chìm tàu cá ĐNa 90152 của ngư dân Đà Nẵng trong ngư trường truyền thống của Việt Nam ở vị trí cách giàn khoan này 17 hải lý. Tháng 6/2014 Trung Quốc đưa tiếp nhiều giàn khoan khác xuống biển Đông, trong đó giàn khoan Nam Hải 09 hạ đặt ngay tại cửa vịnh Bắc Bộ, nơi đang chờ được phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thực chất đây là một cuộc xâm lăng với tất cả các dấu hiệu vừa “cổ điển” vừa chưa có tiền lệ của nó. Cổ điển vì đã vượt biên giới, có vũ khí, hành động đơn phương với mưu đồ cưỡng chiếm lãnh thổ và thôn tính dài lâu. Nhưng lại chưa có tiền lệ vì sử dụng “lãnh thổ di động”, chưa nổ súng và có thể không nổ súng nhưng vẫn có khả năng biến lãnh thổ quốc gia khác thành vùng tranh chấp rồi mới cưỡng đoạt. Giấc mộng Trung Hoa trên thực tế đã dần trút bỏ “lá nho che đậy không kém phần trơ trẽn” của nó.

“Những gì mà Trung Quốc đang làm khác rất xa những gì mà Trung Quốc nói”, đây là nhận định của Thủ tướng Việt Nam tại cuộc họp báo ngày 22/5/2014 tại Manila, nhân chuyến viếng thăm Philippines và tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á 2014. Tại cuộc họp báo này, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam nói rõ: “Chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển. Nhất định Việt Nam không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.

Điều Thủ tướng nói chính là điều thuộc về ý nguyện của nhân dân.

BDN

Loading

Views: 0

Lời “mật ngọt” của ông Tập

Chủ tịch Tập Cận Bình khẳng định Trung Quốc không có mong muốn bá quyền và sẽ không tiến hành chiến tranh nóng hay lạnh với bất kỳ ai.

“Dù đạt đến giai đoạn phát triển nào, Trung Quốc sẽ không bao giờ theo đuổi quyền bá chủ và sẽ không bao giờ áp đặt ý muốn của mình lên người khác”, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cho biết tại một cuộc họp sau hội đàm với Tổng thống Mỹ Joe Biden tại San Francisco (Mỹ) hôm 15/11 (giờ địa phương).

Tân Hoa Xã dẫn lời nhà lãnh đạo Trung Quốc nói thêm: “Trung Quốc không có ý định tìm kiếm phạm vi ảnh hưởng và sẽ không tiến hành chiến tranh lạnh hay chiến tranh nóng với bất kỳ ai”.

Cuộc hội đàm ngày 15/11 là lần gặp mặt trực tiếp thứ hai giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Joe Biden kể từ khi ông Biden nhậm chức vào năm 2021. Cuộc gặp đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo diễn ra vào tháng 11 năm ngoái tại đảo Bali (Indonesia).

Trong cuộc hội đàm kéo dài 4 giờ đồng hồ ngày 15/11 vừa qua, ông chủ Nhà Trắng lưu ý hai nước cần đảm bảo các cuộc cạnh tranh hiện nay không dẫm đến “xung đột”. Đáp lại nhận định trên, ông Tập Cận Bình khẳng định: “Trái đất đủ lớn cho hai quốc gia cùng thành công”.

Chủ tịch Tập Cận Bình nói thêm rằng thế giới đã thay đổi rất nhiều từ sau cuộc gặp với Tổng thống Biden hồi năm ngoái. Ông khẳng định quan hệ Mỹ – Trung Quốc là “quan hệ song phương quan trọng nhất thế giới”, lưu ý rằng các lãnh đạo hai nước đang “gánh trọng trách nặng nề với người dân, thế giới và lịch sử”.

Đồng thời, nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh: “Quay lưng với nhau không phải lựa chọn cho hai quốc gia lớn như Trung Quốc và Mỹ. Thật phi thực tế khi một bên tìm cách thay đổi phía còn lại, đối đầu và xung đột sẽ mang đến những hậu quả không thể tưởng tượng cho cả hai phía”.

Đây cũng là chuyến đi đầu tiên của ông Tập Cận Bình tới Mỹ kể từ tháng 4/2017. Sau cuộc hội đàm với ông Biden, ông Tập Cận Bình sẽ tham dự Tuần lễ cấp cao Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), gặp gỡ với các lãnh đạo doanh nghiệp ở Mỹ.

Cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh quan hệ giữa hai cường quốc căng thẳng do hàng loạt vấn đề. Đầu năm nay, Mỹ bắn rơi một khinh khí cầu của Trung Quốc đi vào không phận vì nghi ngờ đây là khinh khí cầu do thám.

BDN

Loading

Views: 0

Quan hệ Mỹ – Trung sau cuộc gặp Biden – Tập Cận Bình sẽ ra sao?

Nhiều câu hỏi đặt ra về tương lai quan hệ Mỹ – Trung Quốc sau cuộc gặp bên lề hội nghị APEC giữa Tổng thống Joe Biden và Chủ tịch Tập Cận Bình.

Mỹ và Trung Quốc là 2 cường quốc về kinh tế, quân sự… của thế giới. Do đó, di biến động trong quan hệ 2 nước nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận, cộng đồng quốc tế. Cuộc gặp bên lề Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Giữa Tổng thống Joe Biden và Chủ tịch Tập Cận Bình được cho sẽ mở ra những tín hiệu tích cực, hàn gắn mối quan hệ giữa hai nước.

Loạt tín hiệu tích cực

Đầu tiên, cần phải nhắc đến quan hệ cá nhân giữa ông Biden và ông Tập Cận Bình khi lãnh đạo Mỹ – Trung đã cho thấy thiện chí, sẵn sàng nói chuyện về các vấn đề 2 bên cùng quan tâm. Sau cuộc hội đàm kéo dài hơn 4 giờ đồng hồ tại California, Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã ăn trưa cùng nhau.
Sau bữa trưa kết hợp làm việc, hai nhà lãnh đạo Mỹ – Trung đi dạo cùng nhau trong khuôn viên mà không có phiên dịch viên đi cùng. Điều này cho thấy những giây phút trò chuyện thân mật, thư thái, nhẹ nhàng của hai nhà lãnh đạo sau nhiều giờ hội đàm.

Tiếp đến, một trong những quan ngại lớn nhất trong quan hệ 2 cường quốc quân sự Mỹ – Trung đó là đường dây liên lạc quân sự. Thời gian qua, Mỹ liên tục đề nghị Trung Quốc nối lại đường dây này, tránh những rủi ro không đáng có. Thế nhưng, điều này đã đượng giải quyết sau cuộc gặp ông Biden – Tập Cận Bình.

Phía Trung Quốc cho biết, 2 nhà lãnh đạo đã đồng ý nối lại các liên hệ quân sự. Ông Biden đã yêu cầu 2 nước thể chế hóa các cuộc đối thoại cấp quân sự và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin sẽ gặp người đồng cấp Trung Quốc khi vị trí này được bổ nhiệm.

Bắc Kinh đã cắt đứt liên lạc quân sự với Trung Quốc vào tháng 8/2022 sau khi Chủ tịch Hạ viện Mỹ khi đó là bà Nancy Pelosi đến thăm Đài Loan. Quân đội Mỹ và Trung Quốc đã có một số cuộc chạm trán gay gắt và suýt xảy ra sự cố trong năm qua.

Chưa hết, Tổng thống Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc đã đồng ý giải quyết vấn đề liên quan đến nguồn gốc của opioid fentanyl, nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng sử dụng ma túy quá liều ở Mỹ. Theo thỏa thuận, Trung Quốc sẽ truy lùng trực tiếp các công ty hóa chất sản xuất tiền chất fentanyl.

Nhà Trắng cho biết, các nhà lãnh đạo Mỹ – Trung “đã có cuộc thảo luận thẳng thắn và mang tính xây dựng về một loạt vấn đề song phương và toàn cầu, đồng thời trao đổi quan điểm về các lĩnh vực còn khác biệt”.

Tại cuộc gặp, Chủ tịch Tập Cận Bình gọi quan hệ Mỹ – Trung là “mối quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới”, đồng thời cho biết ông và Tổng thống Joe Biden “gánh vác trách nhiệm nặng nề đối với hai dân tộc, đối với thế giới và đối với lịch sử”.

“Đối với hai nước lớn như Trung Quốc và Mỹ, việc quay lưng lại với nhau không phải là một lựa chọn. Xung đột và đối đầu sẽ gây ra những hậu quả khó lường cho cả hai bên”, ông Tập Cận Bình cho hay.

Trong khi đó, ông Biden cho biết, Mỹ và Trung Quốc phải đảm bảo rằng sự cạnh tranh giữa 2 nước “không dẫn đễn xung đột” và quản lý mối quan hệ song phương một cách “có trách nhiệm”. Các vấn đề như biến đổi khí hậu, chống ma túy và trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đòi hỏi sự quan tâm chung của 2 nước.
Còn nhiều bất đồng

Dù đã có những tín hiệu tích cực song quan hệ Mỹ – Trung vẫn còn rất nhiều bất đồng, khó có thể hàn gắn “ngày một, ngày hai”. Theo quan chức Mỹ, trong cuộc hội đàm, Chủ tịch Tập Cận Bình nói Đài Loan là vấn đề lớn nhất, nguy hiểm nhất trong quan hệ Mỹ – Trung. Ông Biden đảm bảo với ông Tập Cận Bình rằng Washington quyết tâm duy trì hòa bình trong khu vực.

Nhà lãnh đạo Trung Quốc nói với Tổng thống Mỹ Joe Biden “ngừng trang bị vũ khí cho Đài Loan”, nhấn mạnh việc Trung Quốc thống nhất hòn đảo tự trị này là “không thể ngăn cản”.

“Phía Mỹ nên… ngừng trang bị vũ khí cho Đài Loan và ủng hộ sự thống nhất hòa bình của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ thực hiện sự thống nhất và điều này là không thể ngăn cản”, Bộ Ngoại giao Trung Quốc dẫn lời ông Tập Cận Bình nói với ông Biden trong cuộc hội đàm.

Hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc – hai nền kinh tế lớn thứ nhất và thứ hai trên thế giới, vẫn rất quan trọng cho sự tiến bộ trong các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu… Tuy nhiên, cả hai bên đều có những bất đồng về các vấn đề như công nghệ và chính trị toàn cầu.

Hai bên cũng có quan điểm khác nhau về các vấn đề ở Trung Đông, nơi Trung Quốc kêu gọi ngừng bắn giữa Israel và Hamas. Mỹ phủ quyết các lời kêu gọi ngừng bắn và bày tỏ sự ủng hộ đối với Israel.

Mỹ và Trung Quốc cũng xung đột về vấn đề công nghệ và thương mại, trong đó Mỹ đưa ra các biện pháp mới nhằm gây khó khăn cho ngành công nghiệp vi mạch của Trung Quốc.

Rana Mitter, giáo sư về quan hệ Mỹ-Trung tại Trường Harvard Kennedy, cho rằng mục tiêu của phía Mỹ sẽ là “giữ nhiệt độ ở châu Á – Thái Bình Dương ở mức thấp nhất có thể”, trong bối cảnh chiến xung đột phát ở Ukraine và Gaza, Mỹ “không mong muốn có mặt trận chiến sự thứ ba”.

Trong khi đó, chuyên gia Rana Mitter nhận định, Trung Quốc đang muốn thúc đẩy nền kinh tế của nước này nên mục tiêu của Bắc Kinh sẽ là muốn Washington “giảm bớt những hạn chế về công nghệ”.

Đây là cuộc hội đàm trực tiếp đầu tiên trong một năm giữa lãnh đạo Mỹ – Trung Quốc. Tổng thống Joe Biden và Chủ tịch Tập Cận Bình gặp nhau lần gần nhất vào tháng 11 năm ngoái, bên lề hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo G20 ở Bali, Indonesia.

Đây cũng là chuyến đi đầu tiên của ông Tập Cận Bình tới Mỹ kể từ tháng 4/2017. Sau cuộc hội đàm với ông Biden, ông Tập Cận Bình sẽ tham dự Tuần lễ cấp cao Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), gặp gỡ với các lãnh đạo doanh nghiệp ở Mỹ.

Cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh quan hệ giữa hai cường quốc căng thẳng do hàng loạt vấn đề. Đầu năm nay, Mỹ bắn rơi một khinh khí cầu của Trung Quốc đi vào không phận vì nghi ngờ đây là khinh khí cầu do thám.

BDN

Loading

Views: 0

Chủ tịch Tập Cận Bình: ‘Trái đất đủ rộng lớn để Mỹ và TQ cùng thành công’

Ngày 15.11 (giờ Mỹ) Tổng thống Mỹ Joe Biden đã có cuộc gặp Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình để đàm phán nhằm giảm bớt những bất đồng giữa 2 nước về hàng loạt vấn đề.

Diễn ra tại điền trang Filoli (TP.San Francisco, bang California, Mỹ) bên lề Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), đây là cuộc hội đàm trực tiếp đầu tiên giữa các lãnh đạo sau 1 năm. Tại cuộc họp kéo dài 4 giờ, các bên đều tin rằng họ đã đạt được “tiến bộ thực sự”, theo Reuters.
Mở đầu bài phát biểu tại cuộc gặp thượng đỉnh, Tổng thống Biden nói rằng căng thẳng Mỹ-Trung “không nên chuyển sang xung đột”. Theo ông, 2 nước cần quản lý quan hệ một cách “có trách nhiệm”, bởi các vấn đề như biến đổi khí hậu, chống ma túy và kiểm soát trí tuệ nhân tạo (AI) đòi hỏi sự quan tâm chung.

Trong thông điệp gửi đến ông Tập, ông Biden nói rằng điều quan trọng nhất là sự hiểu nhau giữa các lãnh đạo, không có quan niệm sai lầm hay thông tin sai lệch.

‘Trái đất đủ rộng lớn’ để Mỹ và Trung Quốc cùng thành công

Đáp lại, tờ The Guardian dẫn lời ông Tập cho rằng “quay lưng lại với nhau không phải là lựa chọn” đối với các cường quốc. “Trái đất đủ rộng lớn để 2 nước thành công và thành công của một quốc gia là cơ hội cho quốc gia kia”, ông nói.

Nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng gọi quan hệ với Mỹ là “quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới”, đồng thời cho biết ông và ông Biden “gánh vác trách nhiệm nặng nề đối với 2 dân tộc, đối với thế giới và đối với lịch sử”.

“Đối với 2 nước lớn như Trung Quốc và Mỹ, việc quay lưng lại với nhau không phải là một lựa chọn. Việc bên này thay đổi bên còn lại là không thực tế, xung đột và đối đầu sẽ gây ra những hậu quả khó lường cho cả 2”, ông Tập nói thêm.

Theo Tân Hoa xã, ông Tập cũng đề xuất Trung-Mỹ nên có tầm nhìn mới và cùng nhau xây dựng 5 trụ cột cho quan hệ song phương.

Nhà Trắng sau đó mô tả cuộc gặp là “thẳng thắn và mang tính xây dựng”, xác nhận 2 lãnh đạo đã thảo luận về “một loạt vấn đề song phương và toàn cầu cũng như trao đổi quan điểm về các lĩnh vực khác biệt”, đài NBC News đưa tin.

Hội nghị thượng đỉnh giữa ông Tập và ông Biden được các quan chức Mỹ coi là cơ hội để giảm bớt xích mích trong cuộc cạnh tranh được cho là nguy hiểm nhất thế giới. Các diễn biến mới khơi dậy hy vọng rằng 2 quốc gia có thể hàn gắn quan hệ sau nhiều năm bất đồng.

Dự kiến tại hội nghị APEC, cùng với lãnh đạo của 19 nền kinh tế khác, ông Biden và ông Tập sẽ tiếp tục thảo luận về một loạt vấn đề bao gồm Đài Loan, Biển Đông, các cuộc xung đột Hamas-Israel và Nga-Ukraine, và căng thẳng ở bán đảo Triều Tiên.

BDN

Loading

Views: 0

Nhóm nổi dậy ở Myanmar muốn kiểm soát biên giới với Ấn Độ

Các tay súng của một nhóm vũ trang nổi dậy ở Myanmar đang lên kế hoạch kiểm soát một phần biên giới với Ấn Độ sau khi đoạt được 2 tiền đồn quân sự của quân đội chính phủ Myanmar tại bang Chin.

Hôm nay 14.11, Reuters dẫn lời Phó chủ tịch Sui Khar của tổ chức vũ trang Mặt trận Quốc gia bang Chin (CNF) cho biết các tay súng của nhóm này đã giao tranh với quân đội Myanmar từ rạng sáng ngày 13.11 và giành được quyền kiểm soát 2 tiền đồn tiếp giáp bang Mizoram của Ấn Độ.

Cụ thể, khoảng 80 tay súng đã tấn công các trại lính Rihkhawdar và Khawmawi thuộc bang Chin vào khoảng 4 giờ sáng 13.11 (giờ địa phương), và đạt được lợi thế sau vài giờ.

Sau đó, 43 binh sĩ Myanmar đã đầu hàng cảnh sát Ấn Độ và hiện được cho tạm trú tại bang Mizoram của nước này, theo lời quan chức lực lượng cảnh sát địa phương Lalmalsawma Hnamte.

Các phát ngôn viên thuộc quân đội Myanmar và Bộ Ngoại giao Ấn Độ chưa bình luận về tuyên bố trên của CNF về diễn biến tại biên giới Myanmar-Ấn Độ.

Ba nhóm vũ trang thiểu số Myanmar đã phối hợp tiến hành cuộc tấn công vào cuối tháng 10 và đoạt được một số thị trấn và tiền đồn quân sự ở bang Shan.

“Chúng tôi đang tiếp tục triển khai các cuộc tấn công ở bang miền bắc Shan”, Reuters dẫn lời người phát ngôn Kyaw Naing của nhóm vũ trang thiểu số Quân đoàn Liên minh Dân chủ Myanmar.

Giao tranh cũng nổ ra ở hai mặt trận mới trong tuần này, cụ thể là ở các bang miền tây Rakhine và Chin.

BDN

Loading

Views: 0

TQ đưa “ngoại giao đậu nành” trở lại?

Bloomberg cho rằng Trung Quốc đang quay trở lại với cái gọi là chính sách ngoại giao đậu nành khi nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới chuẩn bị cho cuộc gặp giữa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình với Tổng thống Mỹ Joe Biden.

Là nền kinh tế lớn nhất châu Á, Trung Quốc là nhà nhập khẩu đậu nành lớn nhất thế giới. Chỉ trong tuần này, họ mua hơn 3 triệu tấn đậu nành từ Mỹ, khối lượng khiến thị trường kinh ngạc. Theo những nguồn thạo tin, động thái này là cách Bắc Kinh thể hiện thiện chí trước cuộc gặp giữa ông Biden và ông Tập, dự kiến diễn ra ở San Francisco vào tuần tới.

Theo Bloomberg, Trung Quốc từng sử dụng đậu nành để tác động tới các mối quan hệ địa chính trị. Bắc Kinh từng mua và tạm dừng mua đậu nành – vốn được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi và dầu ăn – nhiều lần kể từ khi xung đột thương mại Mỹ – Trung bắt đầu dưới thời Tổng thống Mỹ Donald Trump. Gần đây, Trung Quốc nhập khẩu nhiều đậu nành hơn từ Brazil.

Khi Mỹ và Trung Quốc đang nỗ lực cải thiện mối quan hệ trong thời gian gần đây, đậu nành lại một lần nữa được đặt vào vị trí trung tâm. Mới tháng trước, các nhà nhập khẩu ngũ cốc Trung Quốc đã ký 11 thỏa thuận với các nhà cung cấp nông sản của Mỹ bên lề một diễn đàn ở Iowa. Đây là lần đầu tiên các bên ký kết thỏa thuận này kể từ khi xung đột thương mại bùng phát dưới thời Tổng thống Donald Trump.

Stephen Nicholson, chiến lược gia toàn cầu về ngũ cốc và hạt có dầu tại Rabobank, một trong những ngân hàng cho vay lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, cho biết: “Chắc chắn đã có rất nhiều hoạt động ‘ngoại giao con thoi’ trong 6 tháng qua”.

Các giao dịch mới nhất khiến thị trường ngạc nhiên được thực hiện bởi Sinograin, một công ty quốc doanh và sẽ giúp gia tăng lượng hàng tồn kho của Trung Quốc. Tuy nhiên, đậu nành Mỹ giá cao hơn so với đậu nành Brazil nên nhiều chuyên gia hàng hóa tin rằng Trung Quốc có toan tính khi mua hàng. Dẫu vậy, số khác tin rằng đậu nành Mỹ có lợi thế dễ bảo quản và Trung Quốc tăng mua vì muốn gia tăng kho dự trữ của mình.

BDN

Loading

Views: 0

Lãnh đạo Mỹ – Trung thảo luận gì khi hội đàm bên lề hội nghị APEC?

Nội dung thảo luận giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bên lề hội nghị cấp cao APEC nhận được sự quan tâm của dư luận.


Hôm qua 13/11 Nhà Trắng cho biết, Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ thảo luận về việc tăng cường liên lạc và quản lý cạnh tranh khi gặp nhau bên lề Hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) trong tuần này.

Theo Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan, ông Biden tin rằng không có biện pháp thay thế nào cho ngoại giao trực tiếp để giải quyết mối quan hệ phức tạp giữa Mỹ và Trung Quốc.

“Chúng tôi dự đoán rằng các nhà lãnh đạo sẽ thảo luận về một số yếu tố cơ bản nhất của mối quan hệ song phương Mỹ – Trung, bao gồm tầm quan trọng liên tục của việc tăng cường các đường dây liên lạc mở và quản lý cạnh tranh một cách có trách nhiệm để quan hệ 2 nước không chuyển sang xung đột”, ông Sullivan nói.

“Cách chúng tôi đạt được điều đó là thông qua ngoại giao. Đó là cách chúng tôi làm sáng tỏ những khác biệt và tránh những rủi ro”, ông Sullivan cho biết thêm.

Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ cho hay, Washington mong đợi những kết quả cụ thể từ cuộc gặp và hy vọng sẽ thấy sự tiến bộ trong việc thiết lập lại mối quan hệ quân sự với Trung Quốc cũng như trong việc chống lại hoạt động buôn bán fentanyl vốn đã trở thành tai họa ở Mỹ.

Trung Quốc đã cắt đứt liên lạc quân sự với Mỹ vào năm ngoái sau chuyến thăm Đài Loan của Chủ tịch Hạ viện Mỹ lúc đó là bà Nancy Pelosi. Mối quan hệ căng thẳng giữa hai bên trở nên tồi tệ hơn khi Mỹ bắn hạ khinh khí cầu do thám của TQ vào tháng 2.

Ông Sullivan cho biết liên lạc giữa quân đội hai nước là cách để đảm bảo cạnh tranh không dẫn đến xung đột và Trung Quốc đã có thái độ “mang tính xây dựng” về vấn đề này trong cuộc đối thoại trước hội nghị thượng đỉnh.

Cuộc họp cũng dự kiến ​​cũng sẽ đề cập đến các vấn đề toàn cầu từ cuộc chiến Israel – Hamas đến việc Nga phát động chiến dịch quân sự ở Ukraine, mối quan hệ của Triều Tiên với Nga, Đài Loan, nhân quyền, trí tuệ nhân tạo cũng như quan hệ kinh tế và thương mại “công bằng”.

Theo ông Sullivan, Tổng thống Biden sẽ đề cao sự ổn định trên khắp Trung Đông, đồng thời cho rằng Bắc Kinh nên chia sẻ lợi ích trong việc giảm leo thang ở đó. Ông Biden cũng sẽ đưa ra tầm nhìn kinh tế cho khu vực và nhấn mạnh “Mỹ sẽ là động lực cho tăng trưởng kinh tế toàn diện, bền vững ở châu Á – Thái Bình Dương”.

Các nhà lãnh đạo diễn đàn APEC gồm 21 thành viên sẽ tập trung tại San Francisco từ 15-17/11. Cuộc gặp mặt trực tiếp tại San Francisco hôm 15/11 sẽ là cuộc gặp đầu tiên giữa ông Biden và ông Tập Cận Bình trong một năm, diễn ra trong bối cảnh Mỹ và Trung Quốc nỗ lực đẩy mạnh biện pháp ngoại giao nhằm kiềm chế căng thẳng giữa hai bên.

BDN

Loading

Views: 0

TQ sắp tổ chức tập trận chung với 5 nước Đông Nam Á

Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết, quân đội nước này sẽ tổ chức cuộc tập trận chung đa quốc gia với 5 nước Đông Nam Á trong tháng này tại tỉnh Quảng Đông.


Theo thông tin trên tài khoản WeChat chính thức của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, quân đội nước này sẽ tổ chức cuộc tập trận chung đa quốc gia mang tên “Hòa bình hữu nghị-2023” với quân đội của Campuchia, Lào, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam ở Trạm Giang, Quảng Đông vào giữa đến cuối tháng 11.

Bộ này cho biết, đây là lần đầu tiên loạt tập trận này được tổ chức tại Trung Quốc với chủ đề “hành động quân sự phối hợp chống khủng bố và duy trì an ninh hàng hải”.

Cuộc tập trận sẽ chia theo các hướng trên bộ và trên biển, tổ chức huấn luyện chung theo phân đội, diễn tập chỉ huy chung và diễn tập chống khủng bố, chống cướp biển thực binh, nhằm nâng cao năng lực của các bên trong chống khủng bố ở đô thị, cũng như chống khủng bố và chống cướp biển ở trên biển, làm sâu sắc hơn tin cậy quân sự và hợp tác thực chất, cùng nhau duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.

Cũng theo Bộ Quốc phòng Trung Quốc, lực lượng tham gia cuộc tập trận của quân đội nước này chủ yếu được điều từ Chiến khu miền Nam, còn lại là một số phân đội thủy quân lục chiến và chiến hạm mặt nước của những nơi khác​.

BDN

Loading

Views: 0

TQ tăng cường sản xuất người máy

Các quan chức chính phủ Trung Quốc cho rằng tương lai ngành công nghiệp của họ có thể phụ thuộc vào robot hình người nếu mục tiêu đặt ra được đáp ứng.

Theo Wionews, Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin Trung Quốc (MIIT) đã tải lên một hướng dẫn dài 9 trang trên trang web của mình để tuyên bố rằng việc sản xuất hàng loạt robot hình người sẽ diễn ra vào năm 2025 tại quốc gia này.

MIIT tuyên bố Trung Quốc sẽ đặt mục tiêu thiết lập hệ thống đổi mới robot hình người nhằm tạo bước đột phá trong một số công nghệ then chốt và đảm bảo cung cấp an toàn cũng như hiệu quả cho các bộ phận cốt lõi. Họ cũng kêu gọi đưa robot hình người trở thành một động cơ tăng trưởng kinh tế mới quan trọng ở Trung Quốc vào năm 2027.

Văn bản nêu rõ đến thời điểm đó, sự đổi mới công nghệ của robot hình người sẽ được cải thiện đáng kể, hệ thống chuỗi cung ứng công nghiệp an toàn và đáng tin cậy sẽ hình thành và một hệ sinh thái công nghiệp có khả năng cạnh tranh quốc tế sẽ được xây dựng giúp Trung Quốc có thể vươn đến trình độ tiên tiến của thế giới.

Đây là bước đi mới nhất mà Trung Quốc thực hiện nhằm thúc đẩy khả năng tự chủ về công nghệ và thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp robot địa phương khi nước này phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ Mỹ trong các lĩnh vực công nghệ lớn như chip. Báo cáo World Robotics 2022 do Liên đoàn Robot Quốc tế công bố chỉ ra rằng Trung Quốc đã đạt được tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực robot công nghiệp khi nước này vượt qua Mỹ lần đầu tiên vào năm 2021 để trở thành quốc gia tự động hóa thứ 5 trên thế giới.

Theo hướng dẫn được chia sẻ từ MIIT, các ngành như dịch vụ gia đình, nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe và hậu cần có thể chứng kiến sự bùng nổ trong việc sử dụng robot. MIIT tin rằng robot hình người có thể trở thành một sự đổi mới đột phá khác sau smartphone và tablet, cũng như có thể nổi lên như một công nghệ có khả năng thay đổi hoạt động sản xuất và cách sống của con người, định hình lại mô hình phát triển công nghiệp toàn cầu.

Văn bản cũng yêu cầu ngành tập trung mạnh đến “tiểu não”, “bộ não” và “tay chân” của robot hình người với sự trợ giúp của những đột phá về AI như các mô hình ngôn ngữ lớn. Ngoài ra, văn bản kêu gọi ngành công nghiệp robot tăng cường phát triển robot hình người để chúng có thể được sử dụng trong những điều kiện nguy hiểm và khắc nghiệt.

BDN

Loading

Views: 0

Các chuyên gia dự đoán gì về cuộc gặp giữa lãnh đạo Mỹ – Trung?

Một tuần trước khi cuộc gặp dự kiến diễn ra, người Trung Quốc vẫn chưa chính thức xác nhận sự tham gia của ông Tập Cận Bình tại hội nghị thượng đỉnh APEC.

Các chuyên gia cho rằng, niềm tin giữa Mỹ và Trung Quốc có thể chưa đủ nhiều để cuộc gặp giữa hai nhà lãnh đạo dự kiến diễn ra sắp tới có được những kết quả đáng kể.

Chuyên gia Bonny Lin thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, một tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Washington, cho biết: “Cả Mỹ và Trung Quốc đều không tham gia cuộc gặp tiềm năng giữa Tổng thống Biden và Chủ tịch Tập với mong muốn cải thiện đáng kể hoặc thiết lập lại mối quan hệ. Thay vào đó, cuộc gặp sẽ nhằm mục đích quản lý và ổn định mối quan hệ song phương, cải thiện liên lạc và giảm bớt những hiểu lầm.”

Nếu các cuộc đàm phán diễn ra mà không gặp trở ngại lớn nào, điểm cộng lớn sẽ là thông điệp mà hai nhà lãnh đạo gửi tới bộ máy tương ứng của họ, rằng việc tái tham gia các hoạt động song phương, dù có dè dặt, sẽ trở lại chương trình nghị sự.

Bonny Glaser cho biết: “Điều quan trọng nhất là nó gửi tín hiệu đến hệ thống của họ rằng hai bên cần phải đối thoại và phần còn lại của hệ thống sẽ đi vào hoạt động. Có thể sẽ khó thực hiện được nhiều việc hơn nếu không có cuộc họp cấp cao hơn đó”.

Khó có tuyên bố chung

Các lĩnh vực có thể đem đến kết quả trong cuộc gặp bao gồm thỏa thuận để đàm phán sâu hơn hoặc hợp tác ở mức khiêm tốn về biến đổi khí hậu, fentanyl và trí tuệ nhân tạo. Một lĩnh vực khác đã chín muồi để tiến hành là cải thiện liên lạc giữa Lầu Năm Góc và quân đội Trung Quốc, khi các kênh quân sự bị gián đoạn sau khi Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi đến thăm Đài Loan 14 tháng trước.

Nhưng cả Mỹ và Trung Quốc đều chưa có khả năng đạt được từ bên kia những gì họ mong muốn.

Đối với Mỹ, đó là sự đảm bảo rằng những hành vi “liều lĩnh” và các động thái hung hãn của tàu, máy bay chiến đấu và các lực lượng bán dân sự “vùng xám” của Trung Quốc sẽ chấm dứt và các đường dây nóng hiệu quả cũng như các kênh liên lạc khác sẽ được mở nếu có sự cố xảy ra.

Bên cạnh đó là nối lại cam kết nghiêm túc về ổn định chiến lược, kiểm soát vũ khí và đàm phán hạt nhân. Mặc dù hai bên đã tổ chức các cuộc đàm phán hiếm hoi về kiểm soát vũ khí và một cuộc họp về Biển Đông trong những ngày gần đây, nhưng các cuộc đàm phán này đều được dẫn dắt bởi các nhà ngoại giao chứ không phải quân đội.

Chuyên gia Zack Cooper thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ, một tổ chức tư vấn có trụ sở tại Washington, cho biết: “Tôi không nghĩ họ muốn cuộc khủng hoảng thực sự có thể vượt khỏi tầm kiểm soát, mặc dù họ muốn những rủi ro cao hơn sẽ buộc các bên khác phải rút lui”.

Đối với Trung Quốc, đó là sự chấm dứt các mức thuế trừng phạt do chính quyền ông Donald Trump áp đặt – chương trình vẫn tiếp tục dưới thời ông Biden. Một ưu tiên lớn khác là chấm dứt các hạn chế xuất khẩu của Mỹ do Washington áp đặt với Trung Quốc trong chất bán dẫn cao cấp và các công nghệ khác có tiềm năng ứng dụng quân sự.

Jude Blanchette từ CSIS cho biết: “Họ đang dần hiểu rằng chính quyền Biden đang theo đuổi một con đường thậm chí còn hung hãn hơn chính quyền Trump về mức độ phức tạp, bề rộng và phạm vi trong hạn chế về công nghệ”.

Bắc Kinh coi cuộc gặp sắp tới là cơ hội để cố gắng thay đổi quỹ đạo này, hoặc ít nhất là tìm cách hãm lại tốc độ hành động của Mỹ.“Tôi nghĩ họ sẽ thất vọng”, Blanchette nói thêm.

Bắc Kinh cũng sẽ tìm kiếm sự đảm bảo đối với các chính sách về Đài Loan.

Các nhà phân tích cũng cho biết, Trung Quốc quan tâm đến việc giảm bớt căng thẳng – ngay cả khi điều đó chỉ kéo dài đến tháng 11/2024 (thời điểm diễn ra bầu cử tổng thống Mỹ) – để họ có thể tập trung vào các vấn đề trong nước khác.

Glaser bình luận: “Người Trung Quốc quan tâm đến việc ổn định mối quan hệ trong thời gian ngắn. Đó là chiến thuật chứ không phải chiến lược. Việc ổn định quan hệ trong năm tới sẽ là điều tốt, ngay cả khi có một tổng thống Mỹ mới. Và họ cần thêm thời gian cho nền kinh tế của mình”.

Những kết quả sau ống kính

Một kết quả quan trọng khác sẽ diễn ra ngoài phạm vi camera khi cả hai cố gắng đánh giá lẫn nhau, theo các chuyên gia.

Đối với người Trung Quốc, điều đó bao gồm việc đánh giá xem phía Mỹ cam kết như thế nào đối với các hạn chế xuất khẩu công nghệ của họ; và có bao nhiêu khoảng trống trong chiến lược “sân nhỏ hơn, hàng rào cao hơn” của Washington khi hạn chế chặt chẽ hơn đối với số ít mặt hàng hơn.

Đối với người Mỹ, điều này có nghĩa là đánh giá xem liệu ông Tập coi trọng các vấn đề kinh tế của Trung Quốc đến mức nào.

“Điều quan trọng nhất có được từ cuộc gặp với ông Tập không phải là kết quả đạt được. Đó là khả năng nhìn thẳng vào mắt ông ấy và vừa cố gắng hiểu một chút về cách ông ấy suy nghĩ về các vấn đề, vừa để nhận được một số thông điệp từ ông ấy”, Cooper, cựu quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ, cho biết.

Nhưng những chuyên gia khác nói rằng khả năng đem đến hiểu biết sâu sắc của cuộc gặp cũng khá thấp.

Jeffrey Moon, người sáng lập China Moon Strategies, một công ty tư vấn có trụ sở tại Washington, cho biết: “Chúng tôi cho rằng họ sẽ có một cuộc trò chuyện thực sự, nhưng trên thực tế, nhiều cuộc trong số này được viết kịch bản rất kỹ và liên quan đến việc đọc đi đọc lại các bài báo. Đây không phải là một cuộc trò chuyện quá thoải mái”.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ liên tục phản đối lệnh ngừng bắn hoàn toàn ở Dải Gaza

Hiện nay chính quyền Tổng thống Joe Biden phản đối lệnh ngừng bắn hoàn toàn ở Dải Gaza, thay vào đó chỉ ủng hộ “tạm ngừng bắn nhân đạo”.

Những ngày qua Mỹ đã kêu gọi “tạm ngừng bắn nhân đạo” trong cuộc xung đột Israel – Hamas. Trong cuộc điện đàm ngày 6-11, Tổng thống Mỹ Joe Biden còn thảo luận với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu về “khả năng tạm ngừng bắn chiến thuật” ở Dải Gaza.

Lập trường của Mỹ khác với Trung Quốc, các quốc gia Ả Rập hay lãnh đạo của các cơ quan Liên Hiệp Quốc. Đây là những bên kêu gọi “ngừng bắn ngay lập tức”.

Bắc Kinh đã bày tỏ quan ngại sâu sắc trước tình hình an ninh và nhân đạo ngày càng xấu đi trong cuộc xung đột Israel – Palestine. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi ngừng bắn ngay lập tức và kêu gọi các quốc gia Ả Rập làm trung gian cho một “giải pháp lâu dài”.

Liên Hiệp Quốc định nghĩa tạm ngừng bắn nhân đạo là “ngừng tạm thời các hành động thù địch vì mục đích nhân đạo, thường là trong một khoảng thời gian xác định và khu vực địa lý cụ thể, nơi các hoạt động nhân đạo sẽ được thực hiện”.

Trong khi đó, lệnh ngừng bắn là “sự đình chiến được các bên tham gia xung đột đồng ý, thường là một phần của tiến trình chính trị, với mục đích cho phép các bên tham gia đối thoại, gồm cả khả năng đạt được một giải pháp chính trị lâu dài”.

Theo Hãng tin Reuters, chính quyền Tổng thống Biden và Israel đã liên tục bác bỏ lời kêu gọi ngừng bắn ở Dải Gaza, với lý do: Lệnh ngừng bắn sẽ cho các chiến binh Hamas thời gian tái tập hợp lực lượng và tiến hành các cuộc tấn công quy mô lớn tương tự vụ tấn công vào lãnh thổ Israel hôm 7-10.

“Lệnh ngừng bắn sẽ cho phép Hamas nghỉ ngơi, tái trang bị và sẵn sàng tiếp tục phát động các cuộc tấn công chống lại Israel. Các bạn có thể hiểu rất rõ tại sao đó là một tình huống không thể chấp nhận được đối với Israel, vì đó cũng là tình huống không thể chấp nhận được đối với bất kỳ quốc gia nào đã hứng chịu một cuộc tấn công tàn bạo như vậy và tiếp tục chứng kiến mối đe dọa ngay trên biên giới của mình” – người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Matthew Miller nói với báo giới.
Ông Ivo Daalder – cựu đại sứ Mỹ tại Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) – nói thêm hiện tại Israel chưa đạt được mục tiêu loại bỏ phong trào Hồi giáo Hamas của Palestine, do đó Israel vẫn phản đối lệnh ngừng bắn.

Hiện nay Mỹ – đồng minh thân thiết nhất của Israel – công khai ủng hộ quyền tự vệ của Israel và cũng phản đối lệnh ngừng bắn. Tuy nhiên, theo Đài NPR, trong bối cảnh số người chết ở Dải Gaza tăng lên và các cuộc biểu tình bên trong nước Mỹ (kêu gọi ngừng bắn ở Gaza), chính quyền ông Biden dường như đang tìm kiếm một giải pháp cân bằng.

Trong những ngày gần đây, các quan chức hàng đầu của Mỹ đã kêu gọi Chính phủ Israel tạm ngừng chiến dịch quân sự một số khu vực nhất định ở Gaza để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải cứu con tin và chuyển hàng viện trợ.

Về việc Washington chỉ ủng hộ tạm ngừng bắn nhân đạo lúc này, Nhà Trắng giải thích rằng cách tiếp cận này sẽ trao cho dân thường Palestine cơ hội rời khỏi các khu vực giao tranh an toàn, đảm bảo hàng viện trợ đến được tay những người dân đang cần, và tạo điều kiện cho việc giải cứu con tin.

BDN

Loading

Views: 0

Đài Loan sẽ chống lại TQ như thế nào?

Bắc Kinh từng tuyên bố “Họ có thể đợi một trăm năm để giành lại Đài Loan”, nhưng giờ đây có vẻ như Chính quyền Trung Quốc có vẻ đang ngày càng mất kiên nhẫn với sự chờ đợi của họ. Vậy Đài Loan có thể có những cách gì để “ngăn chặn” một cuộc xâm lược vũ trang của Trung Quốc?.

Vào tháng 1/2023, Tướng Không quân Mỹ Mike Minihan từng viết một bản ghi nhớ cho các sĩ quan trong Bộ Tư lệnh Cơ động Không quân, gần như ngay lập tức bản ghi nhớ bị rò rỉ ra ngoài. Nội dung bản ghi nhớ cảnh báo: Mỹ và Trung Quốc đang dồn toàn lực hướng tới chống lại một biến động lớn sẽ sớm xảy ra – chiến tranh ở Đài Loan – và tướng Minihan viết rõ: “Trực giác mách bảo, tôi sẽ chiến đấu vào năm 2025”.

Minihan cho biết trong bản ghi nhớ: vì cả Đài Loan và Mỹ sẽ tổ chức bầu cử tổng thống vào năm 2024, Mỹ sẽ “bị phân tâm” và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ nhân cơ hội tiến đánh Đài Loan.

Điều đáng báo động là ông Minihan cũng không phải là nhân vật quân đội Mỹ duy nhất đưa ra những dự đoán về chiến tranh sắp xảy ra.

Vào năm 2021, Philip David, lúc đó là đô đốc bốn sao của Hải quân Mỹ và là tư lệnh Bộ chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ đã dự đoán: khả năng chiến tranh Trung Quốc và Eo biển Đài Loan có thể xảy ra vào năm 2027.

Ngay trong năm nay, năm 2023, cả Ngoại trưởng Mỹ Anthony Blinken và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân, Tướng Mark Milley đều cảnh báo: mặc dù chiến tranh với Trung Quốc không phải là sắp xảy ra và cũng không phải là không thể tránh khỏi, nhưng Trung Quốc đang tích cực tìm cách có được khả năng tấn công, chiếm đảo về mặt quân sự, chậm nhất là vào năm 2027.

Vào tháng 4/2023, John Aquilino, một Đô đốc khác và là Tư lệnh hiện tại của Bộ chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ đã tuyên bố rõ ràng; Trung Quốc đang tăng cường xây dựng quân đội lớn nhất, nhanh nhất, toàn diện nhất kể từ Thế chiến II. Tính theo tổng số tàu chiến, Hải quân Trung Quốc đã nổi lên là lực lượng lớn nhất thế giới trong những năm 2020, vượt qua tổng số tàu của Hải quân Mỹ.

Chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc gần bằng 1/3 chi tiêu quốc phòng của Mỹ và đã vượt quá ngân sách quân sự của Nga, Ấn Độ, Anh và Pháp cộng lại. Do đó, khả năng quân sự của Trung Quốc đã được mở rộng đáng kể trong vai trò mới, được cho là cường quốc quân sự mạnh thứ hai trên thế giới.

Vào tháng 8/2022, Chủ tịch Hạ viện Mỹ khi đó là bà Nancy Pelocy đã có chuyến thăm chính thức cấp nhà nước tới Đài Loan. Chuyến thăm đã gây ra cuộc khủng hoảng xuyên Eo biển lớn nhất trong một phần tư thế kỷ qua ở Trung Quốc.

Các máy bay chiến đấu của Trung Quốc liên tục vượt qua “đường trung tuyến” ranh giới trên biển không chính thức giữa Trung Quốc đại lục và đảo Đài Loan, thậm chí còn tuần tra quanh bờ biển phía đông của Đài Loan.

Tên lửa đạn đạo của Trung Quốc phóng ra ngoài khơi và rơi quanh hòn đảo với một số đã lao vào trong vùng lãnh hải của Đài Loan và một số khác bay thẳng qua không phận của hòn đảo và lao vào vùng đặc quyền kinh tế của Nhật Bản. Những sự kiện này là mới, tính đến lúc đó là hoàn toàn chưa từng có.

Đồng thời, các sự kiện lúc đó phù hợp với dự đoán của các nhà hoạch định quân sự Mỹ xung quanh khả năng rất thực tế về một cuộc xâm lược toàn diện của Trung Quốc vào hòn đảo, sẽ xảy ra vào thời điểm nào đó trong thời gian tới.

Một biến cố như vậy có thể dễ dàng lôi Mỹ vào cuộc chiến với siêu cường toàn cầu khác trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương rộng lớn và thảm khốc của thế kỷ 21.

Nhưng tại sao tất cả những điều này lại xảy ra đột ngột vào những năm 2020 và điều gì ở hòn đảo này khiến nó trở nên có giá trị đối với cả Mỹ và Trung Quốc. Tại sao nó được cho là điểm bùng phát nguy hiểm nhất trong toàn bộ thế kỷ 21.

Nhìn lại lịch sử: Trung Quốc hiện nay là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với chính phủ của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Còn Đài Loan là chính phủ nối tiếp của Cộng hòa Trung Hoa cũ (hay còn gọi Trung Hoa Dân quốc).

Trong suốt đầu thế kỷ 20, hai bên đã tiến hành một cuộc nội chiến tàn khốc để giành quyền kiểm soát toàn bộ Trung Quốc. Đỉnh điểm là năm 1949, ĐCSTQ giành quyền thống trị trên khắp lục địa Trung Quốc, còn Chính phủ Trung Hoa Dân quốc rút lui về đảo Đài Loan.

Đài Loan, hòn đảo bị triều đại nhà Thanh của Trung Quốc sáp nhập từ nhiều thế kỷ trước, vào năm 1683, sau đó bị Nhật Bản sáp nhập vào năm 1895, cuối cùng quay trở lại dưới quyền kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc sau Thế chiến II vào năm 1945.

Mặc dù việc Trung Hoa Dân Quốc rút lui hoàn toàn về đảo Đài Loan năm 1949, đã đánh dấu sự kết thúc của cuộc giao tranh trực tiếp giữa hai bên trong Nội chiến Trung Quốc.

Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có một hiệp ước hòa bình chính thức nào để chấm dứt cuộc nội chiến này.

Như vậy, nói theo một cách nào đó, cuộc nội chiến Trung Quốc vẫn đang tạm dừng một cách hiệu quả trong suốt 74 năm, khiến nó trở thành một trong những cuộc xung đột “bị đóng băng” kéo dài nhất lịch sử thế giới đương đại.

Kể từ đó, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã liên tục khẳng định họ là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn bộ Trung Quốc đại lục và Đài Loan là một phần không thể tách rời.

Đây được gọi là chính sách Một Trung Quốc và đó là lý do tại sao Bắc Kinh không coi Đài Loan là một quốc gia độc lập mà là một phần của Trung Quốc, hiện đang nổi loạn và được lãnh đạo bởi chính phủ Trung Hoa Dân Quốc.

Nhiều nước trên thế giới đã từ bỏ quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan để quay sang thiết lập quan hệ với Trung Quốc.

Tính đến năm 2023, chỉ còn 13 quốc gia trên thế giới duy trì quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, và hầu hết trong số đó là những quốc gia rất nhỏ, lớn nhất là các nước Guatemala, Haiti và Paraguay.

Kể từ năm 2018, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có thể nói, đã thành công trong việc thuyết phục các nước đồng minh của Trung Hoa Dân quốc từ bỏ Đài Loan.

Mặt khác, Trung Hoa Dân quốc cũng có “chính sách Một Trung Quốc”, nói Đài Loan là một phần không thể tách rời của Trung Quốc, nhưng khẳng định nó không thuộc về Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Ngoại giới cho rằng, với cách nói này, Đài Loan có thể coi tất cả đại lục là một loạt các tỉnh rất lớn, đang trong tình trạng nổi loạn dưới sự lãnh đạo của chính quyền hà khắc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Qua đó cho thấy, quan điểm của Trung Hoa Dân quốc về chính sách Một Trung Quốc có thể coi là một vở diễn trên sân khấu.

Nhưng vấn đề là, nếu họ ngừng duy trì quan điểm đó và bắt đầu khẳng định, họ là chính phủ duy nhất của Đài Loan thì điều đó có thể được xem là một tuyên bố chính thức độc lập, tách khỏi Trung Quốc, và gần như ngay lập tức có thể gây ra phản ứng quân sự từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Đó là lý do tại sao Trung Hoa Dân Quốc chưa bao giờ thực hiện bất kỳ nỗ lực chính thức nào, nhằm từ bỏ chính sách Một Trung Quốc, để tìm kiếm độc lập chính thức.

Trong nhiều thập niên, chính quyền Trung Quốc chủ yếu cố gắng đặt Đài Loan dưới quyền của mình thông qua các biện pháp ngoại giao.

Năm 1972, Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Mao Trạch Đông từng có câu nói nổi tiếng với Tổng thống Mỹ Richard Nixon rằng: Trung Quốc “có thể đợi một trăm năm” cho đến khi chiếm được Đài Loan, nhưng bây giờ, năm 2023, đã hơn 70 năm trôi qua, có vẻ như Bắc Kinh thực sự ngày càng mất kiên nhẫn với sự chờ đợi của họ.

Mục tiêu mong muốn từ lâu trong 74 năm qua, tính từ năm 1949 là điều mà Bắc Kinh gọi là “thống nhất hòa bình”, đã không xảy ra và hiện trạng vẫn được giữ nguyên.

Trong khi đó, triển vọng kinh tế và nhân khẩu học của Trung Quốc sau những năm 2020 được cho là đáng lo ngại.

Bắc Kinh hiểu rằng sau năm 2030, nhân khẩu học và nền kinh tế của họ sẽ bắt đầu ngày càng trở nên tồi tệ hơn, vì vậy họ biết rằng lựa chọn chiếm Đài Loan bằng vũ lực quân sự sẽ dễ dàng hơn trong thập niên này, so với thập niên tiếp theo, khi hiện tại họ còn tương đối mạnh.

Chính quyền Trung Quốc đã nói rất rõ rằng, họ chưa bao giờ và sẽ không bao giờ từ bỏ quyền sử dụng vũ lực một ngày nào đó, để đưa Đài Loan vào tầm kiểm soát của mình.

Nhằm cố gắng ngăn cản Trung Quốc sử dụng vũ lực, Mỹ và Đài Loan đang ngày càng chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến với siêu cường, cho dù họ không muốn nó xảy ra, vì nếu xảy ra, nó sẽ làm đảo lộn toàn bộ thế giới.

Bản thân Đài Loan cũng hiểu rõ tình hình địa chính trị bấp bênh, tồn tại trong nhiều thập niên với một nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày càng hung hăng, trong khi mối quan hệ ngoại giao và sự hỗ trợ nước ngoài dành cho họ ngày càng suy giảm.

Vì vậy Đài Loan đã đã áp dụng ba chiến lược tổng thể rất khác nhau, tất cả đều kết nối với nhau. Từ quan điểm của phía họ, họ hy vọng sẽ ngăn cản việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm lược.

Trong video hôm nay, chúng ta sẽ tập trung nói về 2 chiến lược về mặt ngoại giao và Kinh tế, tạm gác lại chiến lược về mặt quân sự.

Chiến lược ngoại giao cốt lõi của Đài Loan được áp dụng đối với cả Trung Quốc đại lục và với phần còn lại của thế giới bên ngoài, chính là: Trung Hoa Dân quốc tiếp tục cam kết chính thức với “chính sách Một Trung Quốc”, trao cho Bắc Kinh quyền khẳng định Đài Loan là một phần của Trung Quốc.

Vào năm 1945, khi người Nhật trao trả Đài Loan cho Trung Hoa Dân Quốc, Quốc Dân Đảng đã kiểm soát hoàn toàn hòn đảo. Sau khi thua trong cuộc nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quốc Dân Đảng đã lui về Đài Loan.

Quốc Dân Đảng đã thiết lập chế độ độc đảng nghiêm ngặt trên hòn đảo, đó là một thời kỳ thiết quân luật kéo dài gần 4 thập niên, mãi cho đến năm 1987.

Trong thời gian dài đó, bản sắc truyền thống của dân tộc Trung Hoa đã được Quốc Dân Đảng duy trì và áp dụng thống nhất trên toàn bộ hòn đảo, người dân chỉ được phép nói tiếng Quan thoại.

Sau khi thiết quân luật được dỡ bỏ vào năm 1987, quá trình chuyển đổi sang hình thức quản lý dân chủ của Đảo quốc, diễn ra đồng thời với quá trình tự xác nhận “bản sắc riêng”.

Một thời gian ngắn sau khi có chuyển đổi, vào năm 1992, một cuộc thăm dò cho thấy: chỉ 17,6% người dân trên đảo nhận mình là người Đài Loan, trong khi 25,5% nhận là người Trung Quốc và 46,4% nhận cả hai.

Chỉ ba thập niên sau, vào năm 2020, một cuộc thăm dò khác, được thực hiện bởi trung tâm nghiên cứu bầu cử của Đại học Quốc lập Chính trị Đài Loan – Chengchi, cho thấy: có 61% người được hỏi nhận mình là người Đài Loan.

Một chiến lược khác của Đài Loan nhằm ngăn chặn cuộc xâm lược của Trung Quốc liên quan đến kinh tế, trong bối cảnh ban đầu, không có sự quan tâm nào cùa thế giới bên ngoài.

Nhắc lại tình huống lúc bấy giờ, Đài Loan đã mất sự công nhận của Nhật Bản, Australia và hầu hết các nước châu Âu trong những năm 1970 và thậm chí mất đi sự công nhận của Mỹ.

Vào năm 1979, Đài Loan đã phải tìm đủ mọi cách để khuyến khích các cường quốc bên ngoài quan tâm đến việc can thiệp nếu một ngày nào đó Trung Quốc quyết định xâm chiếm Đài Loan.

Mỹ đã can thiệp chống lại cuộc xâm lược Kuwait của Saddam Hussein vào năm 1991, chủ yếu lo ngại việc nguồn cung dầu toàn cầu sẽ dần rơi vào tay Saddam.

Nhưng không giống như Kuwait, Đài Loan hầu như không có tài nguyên thiên nhiên, để khiến các cường quốc bên ngoài quan tâm đến việc ai đang thực sự kiểm soát hòn đảo.

Hòn đảo này gần như không có dầu, than cũng như khí đốt. Trong nhiều thập niên, nền kinh tế trên đảo tương đối nghèo, cho đến khi xuất hiện một nhân vật góp một phần khá quan trọng trong việc thay đổi cục diện nền kinh tế Đài Loan.

Morris Chang, (Trương Trung Mưu) một doanh nhân huyền thoại của Trung Hoa Dân quốc, người sáng lập tập đoàn sản xuất chất bán dẫn Đài Loan TSMC.

Ông Trương đã chuyển đến Mỹ khi còn trẻ và đã có quãng thời gian 25 năm làm việc tại Texas Instruments, một trong những tập đoàn hàng đầu trong thị trường bán dẫn. Ông từng giữ chức Tổng giám đốc tập đoàn này.

Chất bán dẫn, dùng để sản xuất các con chíp vi mạch, là một tập hợp các mạch điện tử trên một miếng silicon phẳng nhỏ.

Trên những con chip này, các bóng bán dẫn hoạt động như những công tắc nhỏ để điều khiển chuyển động của các electron.

Các chip tiên tiến nhất ngày nay được sản xuất bằng quy trình được gọi là quy trình sản xuất 7 nanomet. Số đo 1 nanomet là để chỉ đến con số một phần tỷ mét.

Các quy trình với số nanomet nhỏ hơn rất quan trọng, vì chúng tăng hiệu suất mạch và giảm tiêu thụ điện năng.

Vi mạch là một nguồn tài nguyên mới nhưng ngày càng quan trọng trong thế giới hiện đại, có mặt trong mọi thiết bị điện tử, từ máy tính đến điện thoại thông minh, từ máy ảnh cho đến máy bay không người lái, từ lò vi sóng đến máy điều hòa không khí… có những thiết bị quân sự quan trọng như máy bay chiến đấu, tên lửa dẫn đường và trí tuệ nhân tạo mới nổi.

Vào những năm 1980, ông Trương đã quay trở lại với Trung Hoa Dân quốc ở Đài Loan khi ông và chính phủ Trung Hoa Dân quốc đưa ra một ý tưởng mới táo bạo, thành lập một công ty tập trung nghiên cứu sản xuất vi mạch.

Ngay từ đầu TSMC đã là dự án của nhà nước Đài Loan với 48% khởi nghiệp cần thiết để vận hành đến từ chính phủ Trung Hoa Dân quốc, trong khi phần lớn số còn lại được gây quỹ từ những công dân Đài Loan giàu có, với sự vận động của chính phủ yêu cầu đầu tư vào công ty mới.

Theo thời gian, TSMC đã có thể quảng bá mình là một cơ sở sản xuất có chi phí thấp, để thuyết phục ngày càng nhiều công ty vi mạch lớn từ khắp Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản, thuê họ gia công một số hoặc thay thế tất cả quy trình sản xuất.

Khách hàng của TSMC bao gồm các công ty lớn như AMD, Nvidia, Intel, IBM, Sony, Qualcomm và Apple.

Kết quả là TSMC đã có thể nổi lên không chỉ là một công ty bán dẫn lớn nhất thế giới mà còn là một trong những công ty có giá trị hàng đầu thế giới với vốn hóa thị trường hơn 450 tỷ USD tính đến tháng 10/2023, theo dữ liệu Nasdaq.

TSMC và tất cả các công ty sản xuất vi mạch khác của Đài Loan tính gộp lại, sản xuất tổng cộng khoảng 68% số vi mạch toàn cầu.

Vì vậy ngành công nghiệp vi mạch khổng lồ này được coi là “Lá chắn silicon” của Đài Loan.

Lý thuyết về lá chắn silicon cho rằng, các cường quốc bên ngoài phải dựa vào cơ sở sản xuất vi mạch của Đài Loan, trong đó có Mỹ, EU và Nhật Bản, do đó những nước này đều sẽ có sự khuyến khích mạnh mẽ về mặt tài chính nhằm bảo vệ những cơ sở sản xuất vi mạch ở Đài Loan khỏi bất kỳ cuộc tấn công nào đến từ Trung Quốc, thậm chí được khuyến khích cả về mặt quân sự trong việc bảo vệ chủ quyền của Đài Loan khi Trung Quốc xâm lược.

Nhưng việc khuyến khích các bên thứ ba bảo vệ Đài Loan chỉ là một nửa của chiến lược Lá chắn Silicon. Phần còn lại, chính là nó trực tiếp ngăn chặn Trung Quốc phát động một cuộc tấn công.

Bởi vì, giống như Mỹ, lĩnh vực công nghệ của Trung Quốc ngày càng trở nên phụ thuộc vào các công ty sản xuất chip của Đài Loan, mặc dù Trung Quốc đã đổ hàng tỷ đô la vào phát triển ngành công nghiệp vi mạch của riêng mình.

Trung Quốc cho đến nay vẫn chưa có khả năng trở thành đối thủ cạnh tranh thực sự trong lĩnh vực chip bán dẫn, dù trước đó đã đặt mục tiêu đạt được 70% khả năng tự cung cấp sản xuất vi mạch vào năm 2025.

Câu hỏi đặt ra là liệu Trung Quốc có thực sự mạo hiểm xâm lược Đài Loan khi mà họ có thể chứng kiến ​​các công ty sản xuất chip mà họ rất phụ thuộc vào, bị phá hủy trong chiến tranh hoặc do chính Đài Loan sẽ tự phá hủy hay không.

BDN

Loading

Views: 0

Nhật Bản hợp tác với Mỹ và Philippines để đảm bảo tự do ở Biển Đông

Nhật Bản sẽ hợp tác với Philippines và Mỹ để bảo vệ quyền tự do trên Biển Đông, đồng thời cam kết giúp tăng cường khả năng an ninh của Philippines.

Phát biểu trước Quốc hội Philippines ở thủ đô Manila, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida nhấn mạnh sự hợp tác ba bên giữa Nhật Bản-Mỹ-Philippines đang được thực hiện ở Biển Đông để bảo vệ quyền tự do trên biển.

Hai bên trước đó cũng nhất trí bắt đầu các cuộc đàm phán chính thức về một Thỏa thuận tiếp cận đối ứng (RAA) nhằm tạo điều kiện tổ chức các cuộc diễn tập chung và những chuyến thăm lẫn nhau giữa lực lượng hai nước.
Tại cuộc gặp với Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr, Thủ tướng Fumio Kishida cho biết Philippines và Nhật Bản bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, tái khẳng định cam kết đối với quyền tự do hàng hải và hàng không ở khu vực này. Trong tuyên bố báo chí chung, hai nhà lãnh đạo cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tuân thủ “cách tiếp cận dựa trên luật lệ”.

Trong khuôn khổ chuyến thăm hai ngày đến Manila của Thủ tướng Nhật Bản, Philippines đã đạt được thỏa thuận trị giá 570 triệu peso từ Nhật Bản liên quan đến an ninh hàng hải và ứng phó thảm họa.

Ngoài việc cung cấp hỗ trợ quân sự cho Manila, chuyến thăm của Thủ tướng Nhật Bản cũng hứa hẹn về một loạt gói viện trợ phát triển cho Philippines, nhằm củng cố mối quan hệ song phương. Tổng thống Philippines nhấn mạnh Nhật Bản tài trợ cho dự án Tàu điện ngầm Metro Manila và các dự án Đường sắt Bắc-Nam, ước tính trị giá hàng tỷ USD.

Giới phân tích khu vực nhận định, chuyến thăm Philippines của ông Kishida diễn ra vào thời điểm Nhật Bản ngày càng công khai mong muốn đóng vai trò lớn hơn với tư cách là đối tác an ninh và phát triển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Trong khi đó, đối với Philippines, chuyến thăm mở ra cơ hội hợp tác chặt chẽ hơn về mặt song phương và đa phương với các nước khu vực trong bối cảnh bất ổn địa chính trị ngày càng gia tăng. Chính phủ Philippines gần đây đã hủy bỏ các thỏa thuận tài trợ của Trung Quốc cho 3 dự án đường sắt lớn trị giá 2,8 nghìn tỷ peso trong bối cảnh căng thẳng gia tăng trên biển giữa hai nước.

BDN

Loading

Views: 0

Hợp tác quân sự chặt chẽ giữa Nhật Bản – Philippines giữa lúc Biển Đông căng thẳng

Chuyến công du của Thủ tướng Nhật Fumio Kishida đến Philippines vừa qua đã thúc đẩy quan hệ hợp tác 2 bên thêm chặt chẽ, giữa bối cảnh Biển Đông có nhiều căng thẳng.

Hôm qua (5.11), tờ The Inquirer đưa tin Nhật Bản đã chuyển giao hệ thống radar giám sát tầm xa đầu tiên cho Không quân Philippines.

Nhật Bản hỗ trợ mạnh mẽ cho Philippines

Đó là một trong các hệ thống mà Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida công bố viện trợ cho Manila khi đến thăm chính thức Philippines từ ngày 3 – 4.11. Thực tế, hệ thống radar đầu tiên trong số này vừa nêu đã được triển khai từ tháng 10 và hệ thống được đặt hướng ra Biển Đông. Manila kỳ vọng thông qua những radar giám sát tầm xa, sẽ có thể nhanh chóng phát hiện, xác định những mối đe dọa và hành vi xâm nhập trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines.

Trong chuyến thăm trên, Thủ tướng Kishida cho biết số radar được hỗ trợ theo chương trình mới có tên Hỗ trợ An ninh chính thức (OSA). Nằm trong danh sách tiếp nhận OSA của Nhật còn có Malaysia, Bangladesh và Fiji.
Trong cuộc hội đàm diễn ra vào ngày 3.11, Thủ tướng Kishida và Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. còn đồng ý bắt đầu đàm phán Hiệp định Tiếp cận đối ứng (RAA) để tăng cường hợp tác giữa Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản và quân đội Philippines.

Về kinh tế, hai nhà lãnh đạo tái khẳng định kế hoạch được thảo luận vào tháng 2 để Nhật Bản cung cấp gói tài chính lên đến 4,02 tỉ USD hỗ trợ Philippines phát triển cơ sở hạ tầng công và tư nhân từ tháng 3.2024.

Phát biểu trước Quốc hội Philippines vào ngày 4.11, Thủ tướng Kishida nhấn mạnh Nhật Bản cùng với Mỹ và Philippines đang hợp tác để bảo vệ quyền tự do trên Biển Đông. Sự hợp tác đó song hành cùng cam kết của Tokyo trong việc giúp Manila tăng cường khả năng an ninh.

Tuyên bố của ông được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng liên tục xảy ra gần đây ở Biển Đông.

Chia sẻ nhiều giá trị chung

Trả lời Thanh Niên ngày 5.11, GS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế – Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) nhận định: “Việc Thủ tướng Kishida thăm Philippines và đưa ra những thông điệp mạnh mẽ về việc bảo vệ các tuyến thông thương trên biển ở Biển Đông là minh chứng cho cam kết của Nhật Bản trong việc đóng góp cho trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”.

“Lợi ích hàng hải của Tokyo và Manila có sự thống nhất cao ở chỗ cả hai nước đều không chấp nhận các hành vi dùng vũ lực, cưỡng ép và sử dụng chiến lược vùng xám để độc chiếm Biển Đông. Tokyo sẽ tiếp tục cung cấp phương tiện để Manila nâng cao năng lực hàng hải. Nhật cũng sẽ thúc đẩy phối hợp ngoại giao song phương và với ASEAN để giúp đỡ cùng hợp tác với các nước liên quan nhằm đảm bảo an ninh ở Biển Đông”, GS Nagy khẳng định.

Tương tự, trả lời Thanh Niên, TS Satoru Nagao (Viện Nghiên cứu Hudson, Mỹ) phân tích: “Trước nay, Tokyo không phải là bên bảo trợ an ninh ở khu vực này vì các nước xung quanh lo ngại Nhật Bản vì vấn đề lịch sử. Tuy nhiên, điều đó đã thay đổi gần đây. Trong đó, nguyên nhân quan trọng nhất làm thay đổi quan hệ Nhật Bản – Philippines chính là do tình hình căng thẳng ở Biển Đông”.

“Nhật Bản đã tặng 12 tàu cho Lực lượng Tuần duyên Philippines. Và giờ đây, Nhật Bản thực hiện cả OSA, trong đó viện trợ radar cho Philippines. Rồi RAA cho phép 2 bên tăng cường trao đổi, đào tạo hướng dẫn lực lượng quân sự của nhau. Ở đây, RAA cho phép hai bên dễ dàng tập trận chung, Nhật đào tạo cho lực lượng Philippines sử dụng những thiết bị mà Nhật đã viện trợ”, TS Nagao chỉ ra.

Mạng lưới nhiều bên

Theo ông Nagao, cùng với Mỹ, Nhật Bản và Philippines sẽ còn tiếp tục thúc đẩy hợp tác an ninh và đối phó thách thức đang trỗi dậy.

Thực sự, Philippines thời gian qua không ngừng mở rộng hợp tác với cả Nhật Bản lẫn Mỹ về các vấn đề hàng hải.

Đầu năm nay, Manila công bố thỏa thuận cho phép binh sĩ Mỹ có thể sử dụng thêm 4 căn cứ quân sự ở Philippines. Hồi tháng 3, Nhật Bản tham gia cuộc tập trận quân sự của Mỹ và Philippines với tư cách quan sát viên. Đến tháng 6, lực lượng tuần duyên của 3 nước lần đầu tiến hành huấn luyện cùng nhau.

Trước đó, cuối tháng 2, Reuters đưa tin Mỹ và Philippines đang thảo luận về việc tiến hành tuần tra chung giữa lực lượng tuần duyên 2 nước, trong đó có khu vực Biển Đông.

Không dừng lại ở đó, Philippines gần đây liên tục đẩy mạnh hợp tác với Úc, vốn là một đồng minh khác của Mỹ. Hợp tác giữa Manila với Canberra không chỉ bằng hình thức song phương, mà còn bao hàm đa phương với Tokyo và Washington. Chính vì thế, giới chuyên gia đánh giá rằng sau nhiều hợp tác song phương lẫn đa phương, Mỹ cùng Nhật Bản, Úc và Philippines dường như đang tiến đến hình thành một liên minh 4 bên nhằm đối phó các nguy cơ, bao gồm tại Biển Đông.

BDN

Loading

Views: 0

Dutch PM attends roundtable on international law, order at sea in Hanoi

Dutch Prime Minister Mark Rutte visited the Diplomatic Academy of Vietnam (DAV) and delivered a speech at a round-table conference on “International Law and Order at Sea” co-hosted by the DAV and the Clingendael Institute of the Netherlands in Hanoi on November 2.

Dutch Prime Minister Mark Rutte speaks at the event. (Photo: VNA)

Dutch Prime Minister Mark Rutte visited the Diplomatic Academy of Vietnam (DAV) and delivered a speech at a roundtable on “International Law and Order at Sea” co-hosted by the DAV and the Clingendael Institute of the Netherlands in Hanoi on November 2.

PM Rutte also presented certificates to students of the second Law of the Sea course co-hosted by the DAV and the Clingendael Institute from October 30 to November 2, as part of the “Train the Trainers” programme to improve diplomatic capabilities between the two sides.

In his speech, PM Rutte underscored the importance of upholding the rule of law, including the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS).

Speaking highly of cooperation prospects between Vietnam and the Netherlands, he pledged to maintain existing partnerships while expanding potential collaboration in other areas.

Judge Horinouchi Hidehisa, from the International Tribunal for the Law of the Sea (ITLOS), affirmed that the 1982 UNCLOS is the “Constitution of the Oceans,” and therefore, all issues related to maritime law must develop in accordance with the 1982  UNCLOS.

He stressed the need to expand the scope of maritime law to encompass new horizons, such as emerging technologies (unmanned vehicles), sustainable and efficient exploration of uncharted seabed areas, while still working on improving legal frameworks to address traditional issues in the field.

Prof. Alfred H.A. Soons from the Netherlands’ Utrecht University underlined the importance of dispute settlement mechanism in the UNCLOS. He said countries need to continue developing and clarifying UNCLOS provisions in the context of technological and, socio-economic advancements.

In his presentation, Dr. Seline Trevisanut from the Utrecht University mentioned the impacts of climate change on international law and order at sea, including issues related to the climate, ocean usage, climate and human rights, and climate-induced migration.

Dr. Nguyen Thi Lan Anh, Director of the East Sea Institute under the DAV, emphasized the importance of UNCLOS, the dispute solving mechanism in the UNCLOS and affirmed that the UNCLOS is the only legal basis for marine rights and claims.

In the context of many changes in the world, the UNCLOS is still a “living document” that can continue to be improved and is a comprehensive legal framework to manage activities at sea.

Dr. Pham Lan Dung, DAV’s Acting Director, affirmed the importance of protecting the marine order established since the launch of the UNCLOS and upholding the rules-based spirit.

She highly appreciated new advances in international law to address emerging challenges and disputes at sea through peaceful means, while noting that there are still many cases of disregard for marine law, which threaten security at sea and increase the risk of conflicts such as the recent situation in the East Sea.

At the sideline of the conference, the DAV held an exhibition of maps of Vietnam and Southeast Asia countries dated from the 16th-17th centuries which were presented by the Dutch embassy in Hanoi.

On the afternoon of November 2, the Dutch Prime Minister visited the Hanoi-Amsterdam High School for the Gifted which is an important symbol of the cooperation between the Netherlands and Vietnam./.

Loading

Views: 0