Hãng Yonhap ngày 2.6 đưa tin CHDCND Triều Tiên sẽ ngừng thả bóng bay chứa rác qua biên giới Hàn Quốc, dù đe dọa sẽ tiếp tục nếu Seoul rải tờ rơi.
Trong tuyên bố được Hãng KCNA đăng tải, Thứ trưởng Quốc phòng Triều Tiên Kim Kang-il xác nhận Bình Nhưỡng đã thả 3.500 bóng bay chứa 15 tấn giấy vụn sang Hàn Quốc hồi tuần trước.
Ông Kim cho biết nếu Hàn Quốc tiếp tục rải tờ rơi, Triều Tiên sẽ đáp trả bằng bóng bay chứa rác “gấp 100 lần” số lượng tờ rơi của Hàn Quốc. Một số nhà hoạt động tại Hàn Quốc nhiều lần thả bóng bay chứa tờ rơi, đôi khi là tiền mặt, thực phẩm hoặc ổ đĩa USB chứa các bộ phim truyền hình và video ca nhạc Hàn Quốc. Triều Tiên tuần trước gọi bóng bay chứa rác là “món quà chân thành” để đáp trả hoạt động rải tờ rơi.
“Chúng tôi đã khiến Hàn Quốc trải nghiệm đủ những phiền toái và cho thấy phải vất vả thế nào để xử lý những mảnh giấy rác vương vãi”, ông Kim nói.
Quân đội Hàn Quốc thông báo có hơn 700 bóng bay được Triều Tiên thả vào nước này trong ngày 2.6. Những bóng bay chứa phân, giấy vụn và các loại rác thải khác.
Vào đầu ngày 2.6, giới chức Hàn Quốc cho biết sẽ đáp trả hành động khiêu khích của Bình Nhưỡng. Giới chuyên gia dự đoán Seoul có thể phát loa tuyên truyền dọc theo biên giới để trả đũa, biện pháp mà Hàn Quốc đã dừng sử dụng từ sau thượng đỉnh hai nước vào năm 2018.
Triều Tiên phóng loạt tên lửa ‘răn đe’ Hàn Quốc, ông Kim Jong-un giám sát
Theo quân đội Hàn Quốc, tại hội nghị Đối thoại Shangri-La ở Singapore ngày 2.6, Bộ trưởng Quốc phòng Hàn Quốc Shin Won-sik đã nói với người đồng cấp Mỹ Lloyd Austin rằng việc Bình Nhưỡng thả bóng bay đã vi phạm thỏa thuận đình chiến Hàn – Triều, theo Reuters.
Cảnh báo khẩn cấp đã được phát đi tại các tỉnh Bắc Kyungsang và Gangwon, cùng một số khu vực ở thủ đô Seoul (Hàn Quốc), yêu cầu người dân nếu thấy bóng bay thì báo cảnh sát và không được chạm vào.
Tàu thăm dò Chang’e-6 của Trung Quốc đã hạ cánh thành công xuống vùng tối của mặt trăng vào sáng 2.6 để thu thập mẫu vật.
Tàu thăm dò Yutu-2 của Trung Quốc tại vùng tối của mặt trăng hồi năm 2019
Tân Hoa xã đưa tin tàu Chang’e-6 (Thường Nga-6) đã hạ cánh xuống vùng tối không nhìn thấy của mặt trăng để thu thập mẫu vật trong nhiệm vụ được Cơ quan Không gian quốc gia Trung Quốc (CNSA) cho là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại tại vùng hiếm khi được khám phá này.
Được hỗ trợ bởi vệ tinh truyền tín hiệu Queqiao-2 (Thước Kiều-2), tàu Chang’e-6 đã hạ cánh thành công tại khu vực đã định gọi là lòng chảo Apollo thuộc lòng chảo Cực Nam-Aitken.
Tàu Chang’e-6 được phóng lên vào ngày 3.5 và đã trải qua nhiều giai đoạn trước khi bộ phận hạ cánh tách khỏi bộ phận bay quanh quỹ đạo vào ngày 30.5.
Lòng chảo Apollo là khu vực là một lòng chảo hình thành do va chạm với các vật thể ngoài không gian, được cho là nơi khám phá có tiềm năng giá trị khoa học. Việc chọn địa điểm này còn do yếu tố địa hình và điều kiện liên lạc.
Tàu thăm dò sẽ thu thập mẫu vật gồm đất và đá mặt trăng và thực hiện một số thử nghiệm khác tại khu vực hạ cánh. Để thu thập, tàu sẽ dùng 2 cách gồm khoan xuống bề mặt và dùng cánh tay robot để lấy mẫu vật trực tiếp. Quá trình này nên diễn ra không quá 2 ngày.
Sau đó, tàu phải cất cánh trở lại để quay về trái đất. Nửa kia của mặt trăng đôi khi được gọi là vùng tối của mặt trăng nhưng không thực sự luôn tối như thường nghĩ, mà là do đó là phần mà trái đất không bao giờ nhìn thấy do quỹ đạo quay. Các nhà khoa học cho rằng vùng này có tiềm năng nghiên cứu hứa hẹn vì những lòng chảo ở đó ít bị những dòng dung nham cổ xưa che phủ. Mẫu vật từ vùng này có thể hé lộ manh mối về cách mặt trăng được hình thành.
Trung Quốc dự tính đưa con người lên mặt trăng đến năm 2030 và xây dựng căn cứ trên đó. Mỹ cũng có kế hoạch đưa phi hành gia trở lại mặt trăng đến năm 2026.
Liên minh của Trung Quốc dẫn đầu là tổ chức khu vực lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 60% diện tích lục địa Á-Âu, 40% dân số thế giới và hơn 30% GDP toàn cầu.
Vào ngày 22/5 vừa qua, Algeria được xác nhận đã nộp đơn xin trở thành đối tác đối thoại của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), cho phép nước này đủ điều kiện trở thành thành viên đầy đủ sau một thời gian làm đối tác đối thoại và quan sát viên.
Khối do Trung Quốc và 5 quốc gia kế thừa của Liên Xô bao gồm Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan thành lập vào năm 2001, sau đó đã kết nạp thêm Pakistan, Ấn Độ và Iran. Tổ chức này đã tiến hành các cuộc tập trận quân sự chung, được phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa các thành viên kể từ cuối những năm 2010.
Algeria là một trong năm nước cộng hòa Ả Rập có mối liên hệ chặt chẽ với Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh. Trong bối cảnh Ai Cập đã thay đổi chính sách để liên kết chặt chẽ hơn với Khối phương Tây trong những năm 1970 và phương Tây đã tiến hành các cuộc tấn công quân sự nhắm vào vào Iraq, Libya và Syria, thì Algeria vẫn là quốc gia duy nhất trong cộng đồng các quốc gia Ả Rập, nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của phương Tây và có liên kết chặt chẽ với Liên Xô/Nga.
Nước này đã tăng gấp đôi đầu tư vào khả năng quân sự của mình, đặc biệt là khả năng tác chiến trên không và năng lực phòng không, nhất là sau cuộc tấn công của NATO vào nước láng giềng Libya năm 2011. Libya từng là quốc gia có lực lượng quân sự hùng hậu nhất khu vực, tuy nhiên sau hàng thập kỷ đầu tư kém hiệu quả đã khiến lực lượng vũ trang của Libya tụt hậu so với các quốc gia láng giềng và thất thủ nhanh chóng trước đòn tấn công của NATO. Bài học từ Libya đã thôi thúc chính quyền Algeria đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa lực lượng vũ trang của mình.
Lực lượng vũ trang Algeria luôn được giới chuyên gia đánh giá là có năng lực chiến đấu cao nhất ở châu Phi và thế giới Ả Rập. Và trong số các quốc gia có đa số người Hồi giáo thì chỉ có Pakistan và Iran – cả hai đều là thành viên hiện tại của SCO, có thể sánh ngang với Algeria.
Mặc dù phần lớn khí tài quân sự của Algeria được mua của Trung Quốc, từ các hệ thống tác chiến điện tử cho đến tên lửa hành trình, nhưng nước này vẫn là khách hàng quốc phòng lớn thứ hai của Nga sau Ấn Độ.
Quân đội Algeria.
Hiện tại, phương tiện chiến đấu chủ lực trong các đơn vị thiết giáp của Algeria là khoảng 700 xe tăng T-90SA được mua từ Nga. Trong khi đó, xương sống của phi đội máy bay chiến đấu Algeria là 72 máy bay chiến đấu hạng nặng Su-30MKA. Chiếc máy bay này được Algeria chọn vào giữa những năm 2000, bởi nó được đánh giá cao hơn những chiếc Rafale của Pháp nhờ bộ cảm biến mạnh mẽ hơn, độ bền cao hơn và hiệu suất bay vượt trội.
Các hệ thống vũ khí, trang thiết bị đáng chú ý khác của Nga đang có trong biên chế của Quân đội Algeria bao gồm hệ thống phòng không S-300PMU-2, hệ thống tên lửa đất đối không S-400, trực thăng tấn công Mi-28, hệ thống tên lửa đạn đạo Iskander-M và hệ thống pháo tên lửa nhiệt áp TOS-1A.
Lực lượng vũ trang Algeria thường xuyên tiến hành các cuộc tập trận quân sự lớn thể hiện mức độ sẵn sàng chiến đấu cao, điều này trở nên đặc biệt quan trọng khi các cuộc tập trận quân sự lớn do Mỹ dẫn đầu ở Bắc Phi dường như mô phỏng việc phát động các cuộc tấn công vào quốc gia này.
Algeria từ lâu đã là khách hàng được ưu tiên mua các thiết bị quân sự mới nhất của Liên Xô/Nga. Trong quá khứ, Algeria là nước đầu tiên được mua máy bay đánh chặn MiG-25 từ Liên Xô, nước này cũng đã mua các hệ thống phòng không Pantsir-SM trước khi phương tiện này được biên chế vào Lực lượng Vũ trang Nga.
Quốc gia này cũng là một trong những khách hàng đầu tiên đặt mua máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm Su-57 của Nga. Trong bối cảnh giá nhiên liệu hóa thạch tăng từ năm 2022 đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền Algeria đầu tư nhiều hơn vào việc mua vũ khí và hiện đại hóa lực lượng vũ trang đất nước.
Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ đã đưa ra nhận xét về cuộc tập trận gần đây của Trung Quốc xung quanh Đài Loan.
Tàu chiến Trung Quốc xuất hiện gần Đài Loan ngày 23.5, trong ảnh do Cơ quan Phòng vệ Đài Loan công bố ngày 24.5
Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ Samuel Paparo ngày 29.5 cho rằng cuộc tập trận gần đây của Trung Quốc xung quanh Đài Loan “trông giống như một cuộc diễn tập” tấn công, theo tờ Nikkei Asia.
Ông Paparo cho hay Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đã theo dõi và phân tích cuộc tập trận của Trung Quốc xung quanh Đài Loan trong hai ngày 23 và 24.5. “Chúng tôi đã xem cuộc tập trận đó. Chúng tôi đã ghi chú. Chúng tôi đã học được từ cuộc tập trận đó. Và họ đã giúp chúng tôi chuẩn bị cho tương lai”, ông Paparo cho biết thêm.
Trong khi đó, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Ngô Khiêm hôm nay 30.5 tuyên bố cuộc tập trận gần đây của Đài Loan “đã đạt được mục tiêu như mong đợi”. Ông Ngô còn tuyên bố quân đội Trung Quốc sẽ có biện pháp đối phó mạnh mẽ hơn mỗi khi “lực lượng ly khai” Đài Loan có hành động khiêu khích, theo Reuters.
Khi được hỏi về khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan, ông Paparo nhấn mạnh: “Điều quan trọng là đánh giá của chính Trung Quốc”, cảnh báo rằng Bắc Kinh tiếp tục “xây dựng năng lực ở mức đáng báo động”.
“Chính phủ Mỹ yêu cầu tôi phải sẵn sàng hôm nay, ngày mai, tháng tới và năm tới, phù hợp với Đạo luật Quan hệ Đài Loan”, ông Paparo cho hay. Đạo luật đó quy định Washington sẽ giúp Đài Loan tăng cường khả năng tự vệ.
Nếu súng nổ ra trong khu vực, ông Paparo cho hay ông tin tưởng Mỹ cùng các đồng minh và đối tác sẽ “thắng thế trong một cuộc xung đột”.
Mỹ đã và đang thúc đẩy “răn đe tổng hợp” với những đồng minh và đối tác này. Gọi liên minh Mỹ-Nhật là “liên minh quan trọng nhất hành tinh”, ông Paparo ca ngợi khả năng hoạt động chung của hai nước.
Ông Paparo cũng nhấn mạnh “sự cấp bách của việc đạt được sự thống nhất hoàn toàn về nỗ lực” với Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, và cho biết thêm nhiệm vụ của ông “trong những năm tới” là nâng cấp mối quan hệ chỉ huy và kiểm soát.
Nhật sẽ thành lập một bộ chỉ huy hoạt động chung trong Lực lượng Phòng vệ vào cuối tháng 3.2025. Bộ chỉ huy này sẽ đóng vai trò là cơ quan điều phối làm việc với quân đội Mỹ, với mục đích đẩy nhanh quá trình ra quyết định giữa hai đồng minh và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động chung.
Về tình hình Biển Đông, ông Paparo cho hay: “Chúng tôi đang theo dõi tình hình và sẵn sàng hỗ trợ đồng minh hiệp ước của chúng tôi, Philippines”. Ông cho biết thêm Hà Lan, Ý và Đức sẽ tăng cường khả năng răn đe ở Biển Đông thông qua các nỗ lực như điều động tàu, theo Nikkei Asia.
Chính phủ Thái Lan cho biết, tầm nhìn của Bangkok về tương lai phù hợp với các nguyên tắc của BRICS và việc tham gia nhóm sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nước này.
Ngày 28/5, RT đưa tin chính phủ Thái Lan sẽ nộp đơn xin gia nhập Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS) trong thời gian tới. Thái Lan cũng là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên công khai kế hoạch tham gia BRICS.
Theo người phát ngôn chính phủ Thái Lan Chai Wacharonke, nội các Thái Lan đã phê chuẩn các văn bản cần thiết nhằm chuẩn bị cho việc gia nhập BRICS.
Trong bức thư bày tỏ ý định gia nhập gửi cho BRICS, Bangkok cho biết hiểu rõ tầm quan trọng của thế giới đa cực và vai trò ngày càng tăng của các nước đang phát triển trong các vấn đề quốc tế.
Bức thư cũng cho biết tầm nhìn của Thái Lan về tương lai phù hợp với các nguyên tắc của BRICS và việc tham gia nhóm sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nước này về nhiều mặt, bao gồm nâng cao vị thế của Bangkok trên trường quốc tế và tạo cơ hội tham gia định hình trật tự thế giới mới.
Trước đó, BRICS đã mời các quốc gia không phải thành viên có mong muốn gia nhập nhóm tham dự hội nghị thượng đỉnh dự kiến diễn ra vào cuối tháng 10 tại Kazan, Nga.
Ông Chai cho biết, việc tham dự hội nghị thượng đỉnh BRICS sẽ là cơ hội để Thái Lan đẩy nhanh quá trình nộp đơn.
BRICS là nhóm các nền kinh tế mới nổi với 5 thành viên Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi, chiếm hơn 40% dân số toàn cầu và khoảng 1/4 GDP thế giới. Nam Phi đang là quốc gia chủ tịch.
Tại hội nghị thượng đỉnh tháng 8/2023, BRICS đã thông qua tuyên bố chung, trong đó có kết nạp 6 thành viên mới gồm Argentina, Ai Cập, Iran, Ethiopia, Ả Rập Xê-Út và Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) từ năm 2024
BRICS mở rộng chiếm khoảng 30% nền kinh tế toàn cầu với dân số khoảng 3,5 tỷ người, tương đương 45% tổng dân số thế giới. Nhóm này cũng chiếm hơn 40% sản lượng dầu của thế giới.
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, BRICS hiện chiếm tới 36% GDP toàn cầu xét theo sức mua tương đương (PPP), so với chỉ hơn 30% của G7. BRICS đặt mục tiêu vượt qua G7 về GDP danh nghĩa toàn cầu trong 4 năm tới.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Campuchia Sok Chenda Sophea vừa có chuyến thăm đầu tiên tới Trung Quốc từ ngày 23 đến 25-5, theo lời mời của Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị.
Hai bộ trưởng đã đạt được một loạt thỏa thuận, bao gồm nghiên cứu lập thêm đặc khu kinh tế (SEZ), khuyến khích đầu tư và tăng nhập khẩu nông sản từ Campuchia.
“Với mục tiêu mở rộng thêm quan hệ kinh tế và hợp tác, ông Vương Nghị hoan nghênh các đề xuất của ông Chenda Sophea về việc phía Trung Quốc nghiên cứu khả năng mở rộng hoặc thành lập thêm SEZ tại Campuchia”, báo Phnom Penh Post dẫn thông cáo của Bộ Ngoại giao Campuchia ngày 27-5.
“Ông Vương Nghị cũng cam kết khuyến khích các công ty và doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Campuchia và tăng cường nhập khẩu nông sản từ Campuchia”, thông cáo nêu rõ.
Bên cạnh đó, Bộ Ngoại giao Campuchia khẳng định Trung Quốc tiếp tục hỗ trợ đào tạo kỹ thuật và nghề nghiệp, nhằm tăng số lượng lao động có tay nghề tại Campuchia.
Trung Quốc một lần nữa khẳng định ủng hộ các dự án phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng tại Campuchia, bao gồm giao thông vận tải, logistics và hệ thống tưới tiêu, chẳng hạn như “kênh đào Phù Nam Techo có tầm quan trọng chiến lược”.
Hai bên nhất trí thúc đẩy hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực trọng điểm và tiềm năng như giáo dục, du lịch, nông nghiệp, kết nối, kinh tế số và trí tuệ nhân tạo (AI).
Ngoài cuộc gặp với ông Vương Nghị, ông Chenda Sophea cũng gặp Phó chủ tịch Trung Quốc Hàn Chính và Cục trưởng Cục Năng lượng quốc gia Trung Quốc Zhang Jianhua.
Bộ Ngoại giao Campuchia cho hay ông Chenda Sophea và các nhà lãnh đạo Trung Quốc đánh giá cao mối quan hệ hữu nghị vô cùng bền chặt và sự hợp tác tốt đẹp giữa hai nước đang ngày càng vững mạnh, được thúc đẩy bởi các chuyến thăm và đối thoại cấp cao thường xuyên”.
Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi và đối thoại thông qua cả khuôn khổ hành pháp và lập pháp. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh tiếp tục ủng hộ lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện quốc gia của Campuchia.
Phía Campuchia khẳng định lập trường và tuân thủ “Chính sách Một Trung Quốc”. Nước này xem Hong Kong, Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương là vấn đề nội bộ của Trung Quốc và sẽ tiếp tục ủng hộ vai trò tích cực của Trung Quốc trong các vấn đề quốc tế.
Một “cuộc chạy đua vũ trang AI” đã nổi lên khi các quốc gia hàng đầu dành những khoản ngân sách khổng lồ vào nghiên cứu, phát triển nhân tài và ứng dụng AI.
Ảnh minh hoạ
Trong thập kỷ qua, trí tuệ nhân tạo (AI) dần biến đổi mọi ngành công nghiệp. Từ chăm sóc sức khỏe, giao thông vận tải đến tài chính – ngân hàng, khả năng của AI đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển sản phẩm, tối ưu hóa hoạt động và nâng cao trải nghiệm của khách hàng.
Các công ty khởi nghiệp AI toàn cầu đã huy động được hơn 54 tỷ USD vốn đầu tư mạo hiểm vào năm 2021, tăng hơn gấp đôi so với năm 2020. Các Chính phủ cũng đã phân bổ hàng tỷ USD để hỗ trợ các chiến lược phát triển AI quốc gia.
Mỹ Mỹ hiện đang dẫn đầu cuộc đua AI với tổng vốn đầu tư 249 tỷ USD. Nền kinh tế lớn nhất thế giới đã khẳng định vị thế thống trị AI. Các “gã khổng lồ” công nghệ như Google, Microsoft, Amazon, Facebook và Apple đang đầu tư lớn vào nghiên cứu và phát triển AI. Nước này cũng sở hữu một hệ sinh thái mạnh mẽ gồm các công ty khởi nghiệp AI nhận được nguồn vốn đầu tư mạo hiểm đáng kể.
Chính phủ Mỹ đã ưu tiên phát triển AI thông qua các sáng kiến như Đạo luật sáng kiến AI quốc gia nhằm thúc đẩy đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) AI, nâng cấp các tiêu chuẩn kỹ thuật và đào tạo lực lượng lao động sẵn sàng cho cuộc đua ứng dụng AI.
Các cơ quan Chính phủ như DARPA và IARPA tài trợ cho các nghiên cứu AI tiên tiến để duy trì lợi thế công nghệ của Mỹ. Các trung tâm nghiên cứu học thuật như MIT, Stanford và Carnegie Mellon trở thành đơn vị tiên phong trong nghiên cứu và phát triển AI.
Nước này cũng có lợi thế thu hút nhân tài AI toàn cầu thông qua các trường đại học và doanh nghiệp công nghệ.
Trong khi Trung Quốc đang chạy đua để giành được chỗ đứng thì Mỹ vẫn là trung tâm thu hút AI với sự kết hợp giữa 3 yếu tố: Đổi mới ở khu vực tư nhân, tài trợ của Chính phủ và khả năng tiếp cận nhân tài. Việc duy trì vị trí dẫn đầu này đòi hỏi phải tăng cường đầu tư vào cả nghiên cứu và ứng dụng AI trong các ngành công nghiệp khác nhau.
Trung Quốc Trung Quốc đã nổi lên như một đối thủ chính của Mỹ trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo toàn cầu. Với tổng đầu tư AI ước tính là 95 tỷ USD, Trung Quốc có mức tài trợ vào AI cao thứ hai trên thế giới sau Mỹ.
Có nhiều yếu tố thúc đẩy sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc về AI. Năm 2017, Trung Quốc công bố Kế hoạch Phát triển trí tuệ nhân tạo thế hệ mới đến năm 2030, đặt mục tiêu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo lớn nhất thế giới trong lĩnh vực AI với dự đoán sẽ thu hút khoảng 150 tỷ USD từ ngành này.
Những “ông lớn” công nghệ như Baidu, Alibaba và Tencent rót hàng tỷ USD vào việc phát triển ứng dụng AI. Nghiên cứu của họ tập trung vào các lĩnh vực như thị giác máy, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, nhận dạng giọng nói và xe tự hành.
Thêm vào đó, dữ liệu dồi dào từ hơn 800 triệu người dùng internet của Trung Quốc có thể được tận dụng để đào tạo các thuật toán AI. Năm 2019, các công ty khởi nghiệp AI của Trung Quốc đã nhận được nhiều nguồn vốn đầu tư mạo hiểm hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên toàn cầu.
Trung Quốc cũng sở hữu đội ngũ nhân tài công nghệ cao gồm các nhà nghiên cứu và kỹ sư AI, với các trung tâm công nghệ ở Bắc Kinh, Thượng Hải và Thâm Quyến. Nghiên cứu mới nhất cho thấy Trung Quốc đã vượt qua Mỹ trong một số tiêu chí để trở thành nơi sản sinh những nhân tài AI bậc nhất. Theo thống kê, đất nước tỷ dân tạo ra gần một nửa số chuyên gia AI hàng đầu thế giới. Ngược lại, chỉ có khoảng 18% nhà nghiên cứu đến từ các tổ chức đại học của Mỹ.
Kết quả này cho thấy một bước nhảy vọt của Trung Quốc, khi mà 3 năm trước nước này chỉ cung cấp khoảng 1/3 nhân tài AI hàng đầu thế giới. Trong khi đó, Mỹ dường như giậm chân tại chỗ.
Với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ, nguồn dữ liệu khổng lồ và đầu tư lớn ở khu vực tư nhân, Trung Quốc đang nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với Mỹ trong cuộc đua AI toàn cầu. Các sáng kiến quan trọng như kế hoạch “Made in China 2025” nhằm nâng cấp năng lực sản xuất công nghệ cao của đất nước này đang đẩy nhanh tiến trình đưa Trung Quốc trở thành siêu cường về AI.
Vương quốc Anh Vương quốc Anh đứng ở vị trí thứ ba về tổng đầu tư vào AI với 18 tỷ USD và khẳng định mình là quốc gia đi đầu trong nghiên cứu và phát triển AI, phần lớn nhờ vào các trường đại học đẳng cấp thế giới như Oxford, Cambridge, Edinburgh và University College London. Những trường đại học này cung cấp một phần đáng kể các nhân tài AI hàng đầu của Vương quốc Anh.
Chính phủ Vương quốc Anh đã ưu tiên AI và thông qua Thỏa thuận ngành AI để thúc đẩy sự phát tiển của ngành này. Thỏa thuận này bao gồm hơn 1 tỷ USD tài trợ cho nghiên cứu và phát triển tài năng. Một số sáng kiến AI quan trọng được Chính phủ hỗ trợ bao gồm sáng kiến của Viện Alan Turing, Trung tâm Đạo đức Dữ liệu và Đổi mới sáng tạo (CDEI) cùng hơn 200 học bổng Tiến sĩ dành riêng cho nghiên cứu AI.
Ngoài giới học thuật, Vương quốc Anh còn có lĩnh vực AI tư nhân phát triển mạnh. Các công ty công nghệ lớn như DeepMind, Swiftkey, Babylon Health và BenevolentAI được thành lập ở Anh và đang có những bước tiến vượt trội trong phát triển AI.
Israel Israel đã đầu tư khoảng 11 tỷ USD vào các sáng kiến trí tuệ nhân tạo. Nước này hiện có hơn 1.100 công ty AI cốt lõi trong các lĩnh vực như tài chính, xe tự hành, an ninh mạng và chăm sóc sức khỏe. Các công ty khởi nghiệp của Israel đã thu hút hơn 2 tỷ USD vốn đầu tư mạo hiểm tập trung vào AI vào năm 2021.
Chính phủ Israel đã định hướng AI là ưu tiên quốc gia. Các trường đại học hàng đầu như Đại học Do Thái và Viện Công nghệ Technion đều có các trung tâm nghiên cứu AI quy mô lớn. Các công ty công nghệ lớn như Intel, Google, Microsoft, IBM và Amazon đều có trung tâm nghiên cứu AI ở Israel. Họ đang khai thác lực lượng lao động công nghệ tài năng của đất nước này.
Lực lượng Phòng vệ Israel cũng có các đơn vị AI chuyên biệt của riêng họ, tập trung vào thị giác máy, xử lý ngôn ngữ tự nhiên và phân tích dự đoán. Quân đội là động lực tiến hành nghiên cứu các AI tiên tiến.
Israel đặt mục tiêu trở thành một cường quốc toàn cầu về AI. Nước này có một hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển mạnh mẽ và các tài năng nghiên cứu để hỗ trợ các mục tiêu AI đầy tham vọng trong cả khu vực công lẫn tư.
Canada Canada là một “ngôi sao đang lên” trong cuộc đua AI toàn cầu. Nước này đã đầu tư khoảng 9 tỷ USD vào các sáng kiến trí tuệ nhân tạo. Mặc dù “chưa thấm vào đâu” so với các cường quốc AI như Mỹ và Trung Quốc, Canada vẫn nổi lên như một đối thủ đáng gờm trong một số lĩnh vực AI nhất định.
Phần lớn sức mạnh AI của Canada bắt nguồn từ trung tâm công nghệ sôi động ở Toronto-Waterloo, thường được gọi là “Thung lũng Silicon phía Bắc”. Khu vực này là nơi đặt trụ sở của các tổ chức nghiên cứu AI được công nhận trên toàn cầu như Viện Vector. Các gã khổng lồ công nghệ Google, Nvidia và OpenAI đều có các hoạt động AI lớn ở đó.
Canada công bố Chiến lược AI quốc gia vào tháng 3/2017, mang tên “Chiến lược AI Pan-Canada” trong 5 năm, với mức đầu tư 125 triệu đô la Canada (92 triệu USD) vào nghiên cứu và đào tạo tài năng AI. Nước này đã thành lập các viện nghiên cứu AI như Viện trí tuệ máy Alberta (Amii) và Viện trí tuệ nhân tạo Quebec (Mila) để tiến hành các hoạt động R&D tiên tiến.
Canada đặc biệt mạnh về các ứng dụng học sâu và học máy, với những người tiên phong về AI được công nhận trên toàn cầu như Yoshua Bengio và Geoffrey Hinton (đi đầu về kiến trúc mạng lưới thần kinh).
Sức mạnh của ngành công nghệ Canada trong các lĩnh vực như điện toán lượng tử cũng có thể mang lại lợi thế cho nước này trong việc phát triển các ứng dụng AI thế hệ tiếp theo. Mặc dù có thể thiếu ngân sách khổng lồ như Mỹ và Trung Quốc, nhưng cách tiếp cận tập trung hơn của Canada có thể cho phép nước này giành được ưu thế trong một số lĩnh vực AI tiên tiến được chọn lọc.
Pháp Tính đến năm 2022, Pháp đã đầu tư khoảng 7 tỷ USD vào các sáng kiến trí tuệ nhân tạo. Mặc dù con số này ít hơn đáng kể so với các cường quốc AI như Mỹ và Trung Quốc, nhưng Pháp có một số điểm mạnh giúp họ vươn lên trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu về AI.
Cụ thể, Pháp có lĩnh vực công nghệ phát triển mạnh, nơi đặt các phòng thí nghiệm nghiên cứu AI lớn của các công ty như Google, Facebook và Samsung. Chính phủ cũng đã tài trợ cho các viện và trung tâm nghiên cứu AI mới.
Chính phủ Pháp đã công bố chiến lược AI quốc gia vào năm 2018, cam kết chi 1,6 tỷ USD trong 5 năm cho các sáng kiến nghiên cứu và đào tạo AI. Con số này bao gồm hơn 700 triệu USD cho nghiên cứu công và tư cũng như các chương trình học thuật mới về AI.
Pháp đặt mục tiêu trở thành “quốc gia AI” thông qua đầu tư vào các ứng dụng giao thông, chăm sóc sức khỏe và phát triển bền vững gắn liền bảo vệ môi trường. Các sáng kiến chính bao gồm cơ sở hạ tầng phương tiện tự động, công cụ chẩn đoán AI và tối ưu hóa hệ thống năng lượng.
Pháp có lực lượng lao động có trình độ học vấn cao và đã đơn giản hóa quy trình cấp thị thực để thu hút nhân tài AI trên toàn cầu. Bốn trường đại học của Pháp được xếp hạng trong top 100 toàn cầu về nghiên cứu trí tuệ nhân tạo.
Mặc dù chưa đạt mức đầu tư như Trung Quốc và Mỹ, Pháp đã có những bước tiến trong việc phát triển hệ sinh thái AI thông qua tài trợ công-tư, các sáng kiến giáo dục và chiến lược quốc gia hướng dẫn phát triển và sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Các quốc gia đáng chú ý khác Một số quốc gia khác cũng đã đầu tư đáng kể vào nghiên cứu và phát triển AI, mặc dù chưa tương xứng với mức chi tiêu của các quốc gia hàng đầu.
Đâu tiên phải kể đến Ấn Độ. Nước này đã cam kết đầu tư khoảng 8 tỷ USD vào nghiên cứu và ứng dụng AI trong vài năm tới. Ấn Độ coi AI là cơ hội để đạt được tiến bộ trong các lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nông nghiệp và thành phố thông minh. Tuy nhiên, việc thiếu nhân tài AI và những hạn chế về cơ sở hạ tầng đặt ra nhiều thách thức.
Nhật Bản có kế hoạch đầu tư khoảng 4 tỷ USD vào công nghệ AI, tập trung sử dụng AI trong các lĩnh vực như di động, sản xuất, bán lẻ và dịch vụ khách hàng. Nhật Bản phải đối mặt với những thách thức về nhân khẩu học mà AI có thể giúp giải quyết điều này.
Đức đã phân bổ khoảng 7 tỷ USD cho nghiên cứu và thương mại hóa AI. Nước này đang hướng tới các ứng dụng sáng tạo của AI trong các lĩnh vực như lái xe tự động và mong muốn xây dựng một trung tâm quốc tế về nghiên cứu AI. Nhưng Đức cũng phải đối mặt với tình trạng thiếu chuyên gia AI.
Singapore đã cam kết khoảng 5 tỷ USD để hỗ trợ chiến lược “quốc gia thông minh” tập trung vào việc áp dụng AI. Quốc gia này coi AI là điều kiện tiên quyết để duy trì khả năng cạnh tranh kinh tế. Dù vậy, Singapore phải “nhập khẩu” hầu hết nhân tài AI do quy mô dân số nhỏ.
Với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ, nguồn dữ liệu khổng lồ và đầu tư lớn ở khu vực tư nhân, Trung Quốc đang nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với Mỹ trong cuộc đua AI toàn cầu.
Năm 2023, hacker rao bán quyền truy cập camera giám sát tại Việt Nam với giá 800.000 đồng/15 camera. Số lượng camera được quảng cáo là lên tới hàng trăm nghìn.
Ngày 22/5, tọa đàm “Tiêu chuẩn an toàn thông tin mạng cơ bản cho camera giám sát” đã diễn ra dưới sự chủ trì của Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) và VietNamNet phối hợp tổ chức với sự tham gia của các doanh nghiệp, chuyên gia trong lĩnh vực này.
Theo thông tin được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay, xu hướng sử dụng camera giám sát ngày càng phổ biến tại Việt Nam. Không chỉ được nhiều gia đình sử dụng, camera giám sát cũng là thiết bị quan trọng trong hệ thống chính phủ điện tử, chính quyền số và thành phố thông minh, giúp giám sát giao thông, an ninh trật tự…
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, nhiều trường hợp hình ảnh đời tư của những nhân vật nổi tiếng đã bị đưa lên mạng xã hội do lộ lọt từ camera giám sát trong chính ngôi nhà của họ. Bên cạnh đó, có quá nhiều camera lưu hành không rõ nguồn gốc, lưu trữ dữ liệu người dùng Việt Nam ở nước ngoài và không có tiêu chuẩn bảo đảm an toàn thông tin cho người dùng .
Camera là sản phẩm nhạy cảm, tiềm ẩn nguy cơ lộ lọt thông tin
Thống kê của các doanh nghiệp cho thấy có khoảng 90% sản phẩm camera giám sát tại Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc theo đường chính ngạch và tiểu ngạch.
Thậm chí, một số dòng camera hoạt động theo cơ chế cloud, kết nối về server đặt tại nước ngoài và người dùng ở Việt Nam phải “vòng” qua server này trước khi kết nối vào camera của người dùng.
Thông tin cá nhân qua bước trung gian khi không có các cơ chế bảo mật sẽ gây rủi ro cho người dùng. Trong đó, các hành vi riêng tư có thể bị công khai khi kênh truyền bị chặn hoặc server bị tấn công. Ngoài ra, không loại trừ thông tin cá nhân sẽ bị khai thác mà không có sự xin phép.
Tại tọa đàm “Tiêu chuẩn an toàn thông tin mạng cơ bản cho camera giám sát”, ông Vũ Ngọc Sơn – Trưởng ban Công nghệ – Hiệp hội An ninh mạng quốc gia (NCA) đánh giá về góc độ an ninh mạng, có thể xem camera như máy tính, thậm chí là loại “đặc biệt” vì có thể nghe, nhìn, suy nghĩ (nếu tích hợp AI), phát hiện và phân tích vật thể xuất hiện trong tầm quan sát. Những thiết bị này gần như không bao giờ tắt, ít được vá lỗi và cũng rất hiếm có bản vá hay cài đặt phần mềm diệt virus.
“ Do đó, nếu bị tấn công sẽ không có ai bảo vệ ”, ông Sơn nhận định. Cũng theo lãnh đạo NCA, dù rủi ro tiềm ẩn vô cùng cao, camera lại không được đối xử như một máy tính khi không có tiêu chuẩn hay xuất xứ rõ ràng.
Theo ông Vũ Ngọc Sơn – Trưởng ban Công nghệ, Hiệp hội An ninh mạng quốc gia: ” Tiêu chuẩn camera là rất cần thiết để có hành lang cho nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ tại Việt Nam “. Cũng theo ông Sơn, trên thế giới đã có những vụ tấn công vào camera rất lớn. Ở Việt Nam, tuy chưa ghi nhận vụ việc lớn nhưng báo động tình trạng nguy cơ mất an toàn thông tin từ camera.
Sẽ ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho thiết bị camera giám sát
Ý kiến của các chuyên gia tại sự kiện cũng cho thấy việc ban hành các tiêu chuẩn cho camera và chủ động sản xuất camera Make in Vietnam là nhu cầu cấp thiết để đảm bảo an toàn, an ninh thông tin cho Việt Nam.
Tại tọa đàm, ông Trần Đăng Khoa, Phó cục trưởng phụ trách Cục An toàn thông tin, Bộ TT&TT cho biết, việc ban hành bộ tiêu chí có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ đây là tiền đề để các doanh nghiệp tham gia sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh sản phẩm, thiết bị camera giám sát trên thị trường Việt Nam triển khai rà soát, đánh giá lại một cách tổng thể các nguy cơ mất an toàn thông tin đối với các sản phẩm, thiết bị camera do đơn vị mình cung cấp.
Đặc biệt, bộ tiêu chí này cũng là bước đầu để Bộ có cơ sở xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu an toàn thông tin mạng cơ bản cho thiết bị camera giám sát.
Thông qua việc ban hành bộ tiêu chí, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có nhu cầu mua sắm, trang bị các sản phẩm, thiết bị camera giám sát cũng sẽ bước đầu có ý thức hơn trong việc cần phải lựa chọn, tìm kiếm các sản phẩm, thiết bị camera được đánh giá là an toàn.
Theo ông Võ Đức Thọ, Tổng Giám đốc Hanet Technology, bộ tiêu chí về tiêu chuẩn an toàn thông tin mạng cơ bản cho camera giám sát mới được Bộ TT&TT ban hành là phù hợp với tình hình thực tiễn giai đoạn hiện tại. Đối với thị trường, bộ tiêu chí có tác động lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp dịch vụ. Mặc dù mới chỉ là tiêu chí, chưa bắt buộc song hiện nay các doanh nghiệp cũng đang tiến hành rà soát để đáp ứng các nội dung thuộc Nghị định 13 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Về phía chủ thể sử dụng camera giám sát, bộ tiêu chí sẽ giúp gia tăng nhận thức an toàn thông tin nói chung, nhất là của các doanh nghiệp, tổ chức cũng như các phường, xã trang bị nhiều camera. Bộ tiêu chí này cũng rất công bằng cho các doanh nghiệp, không chỉ nghiêng về doanh nghiệp Việt Nam. Các hãng lớn nước ngoài cũng có thể đáp ứng các tiêu chí này để kinh doanh tại Việt Nam.
Dự kiến, quy chuẩn này sẽ được ban hành trong năm 2024. Khi đó, tất cả camera được sản xuất ở Việt Nam và camera nhập khẩu, bắt buộc phải được kiểm định, chứng nhận hợp quy mới đủ điều kiện đưa ra thị trường…
Kế hoạch của Việt Nam nhằm phát triển năng lực tình báo, giám sát và trinh sát (ISR) đang được định hình.
Trong nhiều năm, Việt Nam dần mua sắm thêm nhiều loại vũ khí để “làm mới” kho vũ khí vốn đã lạc hậu từ thời Chiến tranh Lạnh, phần lớn mua từ Nga nhưng từ các nguồn khác cũng ngày càng nhiều. Tuy nhiên, hiệu quả về mặt quân sự rõ ràng không chỉ phụ thuộc vào các loại vũ khí nóng; mà năng lực phát hiện, theo dõi, và chỉ đường cho vũ khí tạo nên các yếu tố quan trọng khác. Nhận thức được điều này, bên cạnh việc tiếp tục mua thêm vũ khí, Hà Nội đã tiến hành những bước đi ban đầu, nhưng quan trọng, trong việc thiết lập một mạng ISR toàn diện.
Thông qua bối cảnh này, chúng ta có thể lý giải được tiềm năng quân sự to lớn của thỏa thuận giữa Việt Nam và Ấn Độ nhằm thành lập một trạm theo dõi vệ tinh ở Thành phố Hồ Chí Minh, và một báo cáo trước đó vào năm ngoái về thiết bị bay không người lái (UAV) mới của Việt Nam sẽ tuần tra trên Biển Đông.
Một kế hoạch tổng thể về ISR?
UAV và các chương trình vệ tinh viễn thám của Việt Nam thường được quan tâm đầu tư vì ưu thế của chúng trong nông nghiệp, quản lý thiên tai và quản lý nghề cá. Thoạt nhìn, bước đi này phù hợp với các khuôn mẫu chung thường thấy ở Đông Nam Á – như Indonesia (xem ở đây và ở đây) và Singapore, là những nước có chương trình UAV đã và đang được triển khai tích cực. Với các vệ tinh quan sát trái đất, Singapore đã triển khai TeLEOS-1, hợp tác thiết kế bởi ST Electronics, Đại học Công nghệ Nanyang và Các phòng nghiên cứu Khoa học Quốc phòng (Defence Science Organisation Laboratories) vào tháng 12 năm 2015. Philippines cũng sẵn sàng triển khai vệ tinh quan sát trái đất siêu nhỏ Diwata-1.
Thế nhưng rõ ràng công dụng của các vệ tinh vẫn có thể được sử dụng vào mục đích quốc phòng, vì chúng tạo ra hệ thống dữ liệu có thể được dùng cho nhiều mục đích khác nhau. Như vệ tinh dân sự chẳng hạn, dù có thể không sở hữu năng lực tương đương như các biến thể quân sự, chúng vẫn có thể hoàn thành một số nhiệm vụ quân sự cường độ thấp trong thời bình và cả trong thời chiến. Một số vệ tinh sử dụng cho mục đích dân sự nhưng cho thấy hiệu suất và năng lực tương đương một vệ tinh quân sự. Ví dụ như vệ tinh TeLEOS-1 có độ phân giải toàn sắc ở mức 1 mét (ở điểm thấp nhất), vì vậy rất hữu dụng về mặt quân sự. Ranh giới giữa ứng dụng quân sự và dân sự thường bị xóa mờ trong các dạng công nghệ lưỡng dụng như thế. Điều này đặc biệt đúng trong môi trường hàng hải.
Những năm gần đây, có dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang thực hiện chiến lược thiết lập cái gọi là “nhận thức biển” (maritime domain awareness) tại Biển Đông. Đáng chú ý, vào tháng 2 năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam cho biết họ sẽ dần hiện đại hóa các “trạm quan sát khí tượng thủy văn và môi trường biển” cũng như xây dựng các trạm quan trắc mới tại những vùng biển quan trọng như một phần của một kế hoạch tổng thể nhằm thiết lập một hệ thống gồm tổng cộng 35 trạm quan sát tài nguyên và môi trường biển trước năm 2020. Mạng lưới tích hợp này, một phần quan trọng của một dự án gồm 3 giai đoạn được lên kế hoạch bởi Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (VASI), sẽ giúp cải thiện năng lực quản lý quốc gia đối với biển và các đảo thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Trong đó, mạng lưới này cũng được thiết kế với mục đích an ninh quốc phòng, tạo ra một nền tảng rõ ràng cho các nỗ lực phát triển năng lực ISR của Việt Nam.
Do đó, rất có khả năng những cải thiện về năng lực ISR của Việt Nam phần nào nhằm đối phó với những diễn biến gần đây ở Biển Đông, nơi căng thẳng luôn tái diễn. Hà Nội dường như đang cố gắng theo đuổi những động thái tương tự của Bắc Kinh, bao gồm toan tính tạo ra một hệ thống các vệ tinh giám sát biển HY-3 mới vào năm 2019, mà theo Lin Mingsen – phó giám đốc Cục ứng dụng Vệ tinh Hải dương Quốc gia Trung Quốc, là có “một vai trò quan trọng trong việc củng cố và bảo vệ quyền lợi trên biển, giám sát và thực thi pháp luật trên biển, quản lý vùng nước gần bờ, cứu trợ và giảm thiểu thiên tai trên biển của Trung Quốc”. Cũng không thể bỏ qua sự phát triển nhanh chóng của công nghệ UAV do Trung Quốc tự mình phát triển, ví dụ như chiếc UAV Ứng Long I có trần bay trung bình nhưng có độ ổn định cao (MALE), được cho là đã được sản xuất đại trà trong năm 2015, trong cùng năm hậu bối của Ứng Long I là Ứng Long II đã được ra mắt.
Với đường bờ biển dài 3.444km (không tính các đảo) và vùng biển rộng lớn bao gồm các khu vực có đòi hỏi chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam rõ ràng cần một chiến lược ISR toàn diện để tăng cường năng lực nhận thức biển cũng như năng lực định vị mục tiêu trên biển trong thời chiến cũng như thời bình. Không giống như việc mua sắm những vũ khí đắt tiền như máy bay chiến đấu phản lực Su-30MK2 hay tàu ngầm lớp Kilo, những dự án bí mật liên quan đến ISR hiện nay tránh né được hầu hết sự chú ý từ dư luận trong khi vẫn đang được âm thầm triển khai.
Vệ tinh quan sát trái đất cho mục đích dân sự?
Năng lực ISR liên quan đến các hệ thống được đặt trên không gian, thường được ẩn giấu dưới lớp vỏ nghe có vẻ dân sự là phát triển “vệ tinh quan sát trái đất”, cấu thành một khía cạnh quan trọng trong nỗ lực cải thiện năng lực ISR của Việt Nam. Điều đó bắt đầu với “Chiến lược Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Vũ trụ của Việt Nam đến năm 2020” được thông qua vào tháng 6 năm 2006 với vốn đầu tư 2 tỷ đôla. Chưa đầy một năm sau, Viện Công nghệ Vũ trụ (STI) đã được thành lập để đảm nhiệm việc nghiên cứu khoa học và công nghệ vũ trụ, dường như tập trung hơn vào các ứng dụng dân sự. Phó Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) Nguyễn Đình Công cho biết chiến lược giúp phát triển những vệ tinh quan sát trái đất nhỏ nội địa.
Nhưng ở đây rõ ràng có một ý nghĩa quân sự nhất định. Trở lại tháng 12 năm 2008, Chủ tịch Chương trình Nghiên cứu Quốc gia về Khoa học và Công nghệ Vũ trụ Nguyễn Khoa Sơn nói rằng “Nếu chúng tôi có vệ tinh riêng, chúng tôi có thể ứng phó nhanh chóng hơn với thiên tai và chủ động hơn trong các hoạt động quốc phòng an ninh”. Ngoài ra, Ủy ban Vũ trụ Việt Nam, thành lập năm 2010 và có nhiệm vụ tư vấn cho thủ tướng về việc thực thi chiến lược vũ trụ, đã được tăng cường nhân sự vào tháng 1 năm 2013 bao gồm đại diện từ các cơ quan chính phủ khác, đặc biệt là bộ Quốc phòng.
Theo xu hướng vốn điển hình cho một quốc gia mới nổi muốn sở hữu vệ tinh, Việt Nam trước tiên khởi đầu với các vệ tinh liên lạc (communications satellites). Sau vài trì hoãn, Việt Nam đã phóng vệ tinh VINASAT-1 vào tháng 4 năm 2008, sau đó là VINASAT-2 vào tháng 5 năm 2012. Người Việt Nam đã cho thấy họ học hỏi nhanh như thế nào. Lockheed Martin, nhà thầu cho cả hai vệ tinh VINASAT, ca ngợi năng lực của các kỹ sư Việt Nam trong việc làm chủ kỹ năng điều khiển các vệ tinh. Lockheed Martin trao quyền điều khiển VINASAT-2 cho chính quyền Việt Nam vào tháng 7 năm 2012, hai tháng sau khi vệ tinh được phóng đi. Việc chuyển giao rút ngắn chỉ còn phân nửa thời gian giành cho VINASAT-1, được giao lại cho Hà Nội vào tháng 8 năm 2008 – chứng minh ở một mức độ nào đó khả năng chiếm lĩnh kỹ thuật của Việt Nam.
Nhưng Việt Nam phải đối mặt với khó khăn lớn hơn nhiều khi tiến vào lĩnh vực viễn thám (remote-sensing). Vào tháng 7 năm 2012, Việt Nam phóng vệ tinh quan sát trái đất nội địa đầu tiên, vệ tinh F-1, thiết kế bởi Phòng nghiên cứu không gian (FSpace) của Đại học Công nghệ FPT. Nó có kích thước 10 x 10 x 10 cm, chỉ nặng 1 kg và có khả năng chụp ảnh có độ phân giải thấp (640×480). Vũ Trọng Thư – Trưởng Phòng nghiên cứu không gian, nói rằng Việt Nam mong muốn làm chủ công nghệ không gian về nhiều mục đích khác nhau, bao gồm do thám trên Biển Đông – chứng minh vai trò ISR của F-1. Nhưng vệ tinh siêu nhỏ này đã không thể truyền tín hiệu về Trái đất, có thể do vấn đề về pin. Tham vọng của Việt Nam dần khiến quốc gia này từ bỏ sự phụ thuộc của mình vào dữ liệu viễn thám có nguồn gốc từ nước ngoài vốn được bán với “giá cắt cổ”, theo ông Phạm Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Vệ tinh Quốc gia Việt Nam (VNSC). Trong cuộc phỏng vấn vào tháng 3 năm 2015, ông Tuấn lý giải: “Hiện tại, để có một bức ảnh vệ tinh, Việt Nam phải đặt hàng trước, và sẽ chỉ nhận được ảnh sau hai ngày. Thực ra, trong vài trường hợp Việt Nam không thể có được hình ảnh mà chúng tôi cần kịp thời. Tuy nhiên, nếu chúng tôi có được vệ tinh và một trung tâm vũ trụ riêng, mọi thứ có thể được xử lý trong vòng 6-12 tiếng, bao gồm chụp ảnh và xử lý dữ liệu”.
Vì vậy vệ tinh nhỏ thứ hai của Việt Nam, VNREDSat-1, có kích thước 600 x 570 x 500 mm và nặng 120kg, đã được đưa vào quỹ đạo vào tháng 5 năm 2013 và truyền tải thành công những hình ảnh đầu tiên trở về Trái đất hai ngày sau khi phóng. VNREDSat-1 được thiết kế bởi Astrium SAS, một công ty con của Công ty Phòng không và Vũ trụ châu Âu (EADS), và chi phí dự án trị giá 70 triệu đôla do chính phủ Pháp và Việt Nam cung cấp. Khi công ty Astrium SAS trao quyền điều khiển VNREDSat-1 cho VAST bốn tháng sau đó, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã gọi đó là một cột mốc lịch sử trong sự phát triển công nghệ vũ trụ của Việt Nam, khẳng định sự làm chủ hoàn toàn “công nghệ vệ tinh nhỏ” và khả năng xử lý hình ảnh độc lập. Quan trọng nhất là, theo Chủ tịch Chương trình Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Quốc gia Nguyễn Khoa Sơn, VNREDSat-1 giúp giảm thiểu sự phụ thuộc của Việt Nam vào hình ảnh từ nguồn nước ngoài.
Chắc chắn rằng tầm quan trọng về quân sự của VNREDSat-1 không thể bị bỏ qua. Vào tháng 2 năm 2014, Nguyễn Xuân Lâm, Cục trưởng Cục Viễn thám Quốc gia thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, cho biết VNREDSat-1 sẽ được dùng để giám sát vùng biển và các đảo của Việt Nam vì mục đích phát triển kinh tế xã hội cũng như an ninh quốc phòng, theo dự án “Giám sát biển và các đảo trọng yếu ngoài khơi bằng công nghệ viễn thám”. Tại một hội nghị vào tháng 5 cùng năm, Phó Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai cho biết VNREDSat-1 sẽ là một công cụ hiệu quả trong việc quản lý tài nguyên môi trường và bảo vệ chủ quyền đối với đất liền, biển, đảo và vùng trời của Việt Nam.
Việt Nam rõ ràng cảm thấy phấn chấn hơn sau thành công của VNREDSat-1 và của Pico Dragon – vệ tinh có kích thước hầu như tương tự vệ tinh F-1 xấu số và đã được phóng đi không lâu sau đó, truyền được tín hiệu đầu tiên đến Trái đất. Trước năm 2016, theo ông Tuấn, Việt Nam dự định phóng vệ tinh NanoDragon nặng 10kg hoàn toàn do Việt Nam phát triển, sau đó là vệ tinh MicroDragon nặng 50kg vào năm 2018, và sau đó nữa là vệ tinh LOTUSat-2 nặng 500-600kg có khả năng chụp ảnh radar có khẩu độ tổng hợp băng X với độ phân giải từ 1-16m, trước năm 2020. Rõ ràng là Hà Nội đã chọn hướng tiếp cận tăng dần đều, đi từ vệ tinh nhỏ đến lớn hơn và có hiệu suất cao hơn.
Căn cứ vào thực tế thì VNREDSat-1 mang một camera chụp ảnh có độ phân giải 2.5 m, chắc chắn không đáp ứng được tiêu chuẩn độ phân giải cao (1 m hoặc ít hơn) vốn là đặc điểm quan trọng của các vệ tinh quân sự. Điều này ngăn cản Việt Nam xác định và quan sát với độ chính xác cao các hoạt động diễn ra ở Biển Đông. Hạn chế của VNREDSat-1 và tình hình căng thẳng ngày càng gia tăng ở Biển Đông là chất xúc tác cho những kế hoạch tiếp theo. Vào tháng 10 năm 2014, Hà Nội ký thỏa thuận với Bỉ phát triển vệ tinh VNREDSAT-1B, dự kiến phóng lên quỹ đạo vào năm 2017. Tuy nhiên, không may là sau đó họ đã rút khỏi thỏa thuận này, theo sau sự đổ vỡ của các cuộc đàm phán kéo dài liên quan tới một điều khoản của hợp đồng.
Thoả thuận với Ấn Độ nhằm xây dựng một trạm theo dõi vệ tinh ở Việt Nam, cho phép Hà Nội truy cập vào dữ liệu từ cụm vệ tinh viễn thám dân sự và quân sự của Ấn Độ. Phải đối mặt với lỗ hổng về năng lực viễn thám cho đến khi vệ tinh hiệu quả hơn LOTUSat-2 đi vào hoạt động, Việt Nam có thể xem đây là một biện pháp thay thế tạm thời trong ngắn hạn để có được các dữ liệu quân sự hữu dụng và có độ chính xác cao hơn từ các vệ tinh của Ấn Độ như vệ tinh chụp ảnh bằng radar RISAT-2. Cho dù các quan chức Ấn Độ luôn khẳng định rằng RISAT-2 chỉ được dùng để phòng chống thiên tai, vệ tinh này hoàn toàn có khả năng quan sát các vật thể với kích thước nhỏ chỉ vào khoảng 10cm. Trong dài hạn, Hà Nội có thể đã cho rằng việc hợp tác với New Delhi tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu tối thượng của Việt Nam là giành được sự tự chủ về năng lực viễn thám vệ tinh.
Máy bay không người lái cho thấy tiến bộ ngày càng vững chắc hơn
So với vệ tinh, thiết bị bay không người lái (UAV) là lĩnh vực mà Việt Nam được cho là đã đạt được nhiều thành công, một phần không nhỏ bởi sự tiếp cận tương đối dễ dàng với những công nghệ lưỡng dụng thường thấy trong những thiết bị này. UAV đã trở thành một khía cạnh quan trọng trong kế hoạch phát triển năng lực ISR, và cũng rất chính đáng vì máy bay không người lái đã trở thành thứ vũ khí xuất hiện thường trực trong chiến tranh hiện đại. Thực tế là Việt Nam đã bắt đầu phát triển UAV từ khá lâu vào năm 1978 khi Viện Công nghệ không quân triển khai chương trình TL-1. HL-1, UAV quân sự chuyên dụng đầu tiên, được thiết kế dựa trên một nguyên mẫu của Pháp nhưng những hạn chế về tài chính khiến cho HL-1 chỉ mới hoàn thiện được một phần.
Trong những năm gần đây, Hà Nội đã có những bước đi nhằm hồi sinh chương trình UAV của mình. Từ năm 2010, họ đã hợp tác với tập đoàn hàng không vũ trụ Irkut của Nga để phát triển UAV. Hợp tác Nga-Việt về UAV được tăng cường vào tháng 3 năm 2012 với một thỏa thuận mới được ký giữa Hiệp hội Hàng không Vũ trụ Việt Nam (VASA) và Irkut để phát triển một UAV khối lượng nhỏ hơn 100kg với thời gian bay 16 giờ. Hợp đồng được cho là trị giá 10 triệu đôla và bao gồm chuyển giao công nghệ cho Việt Nam. Nhưng cũng rõ ràng rằng Hà Nội đang tìm cách đa dạng hóa nguồn cung cấp công nghệ UAV. Đáng chú ý hơn, vào tháng 12 năm 2012, VASA ký một thỏa thuận UAV với một công ty Thụy Điển, giai đoạn đầu bao gồm sự hỗ trợ từ phía Thụy Điển để bước đầu chế tạo 2 máy bay UAV Magic Eye-1, mỗi chiếc nặng 40kg và có thể ở trên không trong 6 giờ. Các giai đoạn tiếp theo bao gồm hợp tác kỹ thuật trong các thiết bị điện tử tích hợp trong UAV (như cơ chế lái tự động, camera) và hợp tác xuất khẩu.
Hà Nội dường như đã chọn một chiến lược hai mũi nhọn là cố gắng có được những hệ thống ngoại nhập đồng thời vận hành chúng thông qua chuyển giao công nghệ. Ít nhất năm mẫu UAV đã được thử nghiệm cho đến nay, trang bị các loại thiết bị chuyên dụng đa dạng. Tuy nhiên, không phải mọi nỗ lực đều dẫn đến thành công. Chẳng hạn như, cũng vào tháng 2 năm 2014 hải quân Việt Nam được cho là đã thảo luận với công ty Schiebel của Áo để mua máy bay UAV trực thăng S-100 Camcopter, dường như là được dùng để triển khai trên những tàu hộ tống SIGMA của Hà Lan mà Hà Nội được cho là đã đặt mua trước đó. Nhưng thương vụ tàu hộ tống đã thất bại, dù thật ra không có gì khó hiểu nếu chiếc UAV tương tự sẽ cất cánh từ các loại tàu chiến khác nếu Việt Nam kiên trì trong vụ mua bán này. Không nản lòng, Hà Nội vẫn kiên trì với chiến lược phát triển UAV hai mũi nhọn này, bắt đầu với các hệ thống chiến thuật được tối ưu hóa cho hoạt động ISR tầm ngắn trên chiến trường.
Chuyến bay thử thành công của chiếc AV.UAV.S2 nguyên mẫu trên bầu trời tỉnh Lâm Đồng thuộc Tây Nguyên vào tháng 5 năm 2013, được đưa tin trên truyền thông quốc gia Việt Nam là đã mở đường cho sự phát triển tiếp theo của chương trình UAV nhằm giải quyết “các nhiệm vụ cấp bách khác”. Sau đó vào tháng 2 năm sau, Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel đã ra mắt chiếc UAV chiến thuật Patrol VT được sản xuất trong nước, trang bị một bộ cảm biến hồng ngoại độ nét cao có khả năng chụp ảnh chất lượng cao trong phạm vi 600m. Khoảng bảy tháng sau, Việt Nam đưa vào trang bị UAV mini Orbiter-2 từ Israel. Nó ra mắt truyền thông Việt Nam vào tháng 12, yểm trợ cho buổi tập bắn đạn thật của lực lượng pháo binh phòng thủ bờ biển thuộc hải quân, trong đó nổi bật nhất là dàn rocket EXTRA do Israel sản xuất. Hà Nội có thể đã hài lòng với Orbiter-2 và do đó quyết định tiếp tục đặt mua thêm, đồng thời đặt hàng UAV Orbiter-3 lớn hơn có khả năng bay trong 7 giờ.
Nhưng những chiếc UAV chiến thuật như vậy thì có đặc thù khá bất lợi bởi thời gian bay và tải trọng hạn chế. Việt Nam rõ ràng đang tìm kiếm nhiều loại UAV mạnh mẽ hơn. Một cán bộ cấp cao chịu trách nhiệm về phát triển UAV tại Trung tâm khí cụ bay của Viettel tuyên bố vào tháng 6 năm 2013 rằng mục tiêu dài hạn của công ty là phát triển một chiếc UAV có khả năng bay trong 15-24 giờ đồng hồ. Về phía cạnh này, Việt Nam dường như đã hưởng lợi phần nhiều từ mối quan hệ kỹ thuật quân sự với Belarus, với một thương vụ mua UAV và một hiệp định phát triển chung được ký kết vào tháng 5 năm 2013. Rất có khả năng là HS-6L – một máy bay không người lái tầm bay cao, thời gian bay dài (HALE) được báo cáo vào tháng 12 năm 2015 – đã được phát triển với sự hỗ trợ của Belarus. Có phạm vi hoạt động 4000km và thời gian bay 35 giờ, chiếc UAV này sẵn sàng thực hiện các chuyến bay thử trên biển Đông trong quý 2 năm 2016.
Tuy lép vế so với Trung Quốc, Việt Nam vẫn kiên trì phát triển một hệ thống UAV có tầm hoạt động bao quát, tối ưu cho những nhiệm vụ chiến lược và chiến thuật quân sự đa dạng. Trong vòng không quá một thập niên, họ đã có những tiến bộ vượt bậc bởi một phần không nhỏ nhờ vào sự tiếp cận với công nghệ nước ngoài. Trong tương lai gần, Hà Nội sẽ có được một mức độ tự chủ nhất định về UAV để hoàn thiện một khía cạnh quan trọng tổng thể năng lực ISR.
Khoảng cách về sức mạnh ISR khó san lấp
Dù con đường mà Hà Nội chọn trong việc xây dựng khả năng ISR của mình cho đến nay là khá tốt và thực tế, nhưng rõ ràng là vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi một hệ thống ISR đa lớp hoàn thiện được được xây dựng cho hoạt động nhận thức biển (MDA) cũng như năng lực định vị ở Biển Đông. Có sự thiếu hụt lực lượng các thiết bị ISR bay có người lái, và đặc biệt là các loại máy bay kiểm soát và cảnh báo sớm trên không (AEW&C) và máy bay tuần tra trên biển.
Một chiếc máy bay AEW&C chủ yếu dành cho việc giám sát trên không và sở hữu chức năng thứ hai là giám sát biển nhưng những loại vũ khí như thế thường rất đắt. Máy bay tuần tra trên biển là sự thay thế tiếp theo, được tối ưu hóa cho nhiệm vụ giám sát trên biển. Hiện tại, các loại máy bay tuần tra và giám sát biển mà Việt Nam đang sở hữu như DHC-6 Guardian-400 của Canada và CASA-212 của Tây Ban Nha gặp bất lợi do các hạn chế về thời gian bay, trọng tải và tầm bay. Chỉ có các loại máy bay tuần thám biển lớn hơn mới có thể thực hiện các nhiệm vụ ISR phức tạp với độ chính xác về thời gian cao hơn, nếu xét tới vùng biển chủ quyền rộng lớn của Việt Nam.
Kể từ khi có tin Hà Nội thể hiện sự “quan tâm sâu sắc” với việc muốn mua các máy bay P-3C Orion từ Mỹ vào tháng 4 năm 2013, vẫn chưa có động thái kế tiếp nào được đưa ra dù rằng Washington đã nới lỏng phần nào cấm vận xuất khẩu vũ khí đối với Việt Nam vào tháng 9 năm 2010. Một chiến lược ít tốn kém hơn có thể là cải tiến máy bay vận chuyển tầm trung C-295 mới để thực hiện nhiệm vụ ISR. Nhưng những máy bay này dự định ban đầu là để thay thế các phi đội máy bay vận tải cánh cố định đã lỗi thời của Liên Xô, do đó không còn chiếc nào còn thừa ra cho quá trình chuyển đổi này.
Trong bất cứ trường hợp nào, việc Việt Nam chuyển trọng tâm từ việc hồi sinh vũ khí động năng trước đây sang hoạt động ISR hiện tại là một sự chuyển biến hợp lý. Đã đầu tư không ít vào máy bay phản lực, tên lửa, tàu chiến và tàu ngầm mới, Hà Nội rõ ràng nhận ra sự cần thiết phải chú ý hơn đến năng lực ISR. Những chương trình cải thiện năng lực ISR sắp tới của Việt Nam hướng đến xây dựng những thiết bị viễn thám từ vũ trụ và thiết bị bay không người lái vốn sẽ giúp củng cố thêm khả năng ISR “truyền thống” của Việt Nam hiện tại trên các loại vũ khí trên không, đất liền, dưới mặt nước và trên bờ biển.
Cuối cùng, việc phát triển một năng lực ISR toàn diện rốt cuộc sẽ cho phép Việt Nam tăng cường tiềm lực cho kho vũ khí của mình lên mức tối đa cho mục đích thực hiện các nhiệm vụ ngăn chặn và kiểm soát trên các vùng biển, thực tế là thực hiện chiến lược chống xâm nhập/chống tiếp cận (A2/AD) của riêng mình ở Biển Đông. Suy cho cùng các loại vũ khí mà Hà Nội nắm trong tay vẫn khá nhỏ về số lượng nếu so với Trung Quốc, như vậy một hệ thống ISR toàn diện sẽ đóng vai trò như một nhân tố quý giá giúp gia tăng sức mạnh.
Yadea là hãng xe máy điện lớn nhất của Trung Quốc. Từ năm 2019, hãng đã có nhà máy đầu tiên ở tỉnh Bắc Giang của Việt Nam và hiện nay Việt Nam là thị trường nước ngoài lớn nhất của hãng.
Bản đồ trên hệ thống website của Yadea Việt Nam hiển thị sai tên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Mức giá phù hợp, sản phẩm phong phú, trang bị một số tính năng khá hiện đại so với các loại xe điện cùng phân khúc, Yadea được cho là bán chạy trên thị trường Việt Nam.
Bán chạy thì mừng cho Yadea chứ sao? Tất nhiên rồi. Tuy nhiên, một khi Yadea vướng vào sự cố truyền thông như vừa qua, câu chuyện có thể lại ngả theo một chiều hướng khác.
Nhắc lại chút về sự cố truyền thông liên quan đến Yadea. Cũng như các hãng hàng hóa khác, Yadea quan tâm xây dựng trang web phục vụ cho việc kinh doanh. Trong thực tế, nhiều khách hàng thường truy cập vào trang web của Yadea để tìm hiểu hệ thống phân phối sản phẩm, mẫu mã, giá, chế độ hậu mãi…Đương lúc mọi thứ đang hanh thông, vui vẻ, thì ngày 18-5-2024, không ít người Việt Nam đã tá hỏa khi phát hiện bản đồ ghi tên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ bằng duy nhất tiếng Hoa – lần lượt là Tây Sa và Nam Sa.
Chuyện không chỉ nhạy cảm mà còn tày trời bởi Hoàng Sa và Trường Sa là hai cái tên mà dư luận biết tới như hai điểm nóng trong khu vực Biển Đông. Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc cưỡng chiếm năm 1974. Còn Trường Sa – câu chuyện còn có phần phức tạp hơn khi tranh chấp chủ quyền quần đảo này liên quan tới “5 nước, 6 bên” bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và vùng lãnh thổ Đài Loan. Hiện tại, trừ Brunei, mỗi “bên” còn lại đều chiếm giữ một số điểm đảo, đá, trong đó, Việt Nam nhiều nhất.
Việt Nam kiểm soát nhiều hơn chẳng phải nước này nhanh chân hay nhanh tay. Điều cơ bản, xét về luật pháp quốc tế, Việt Nam mạnh lý hơn các bên còn lại trong việc khẳng định chủ quyền với quần đảo Trường Sa. Chính thế, cùng với kế thừa quyền quản lý từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, sau năm 1975, nhà nước Việt Nam đã thực thi chủ quyền chính đáng qua việc quản lý thêm một số đá, bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa, đưa tổng số điểm đảo mà quốc gia này kiểm soát lên con số 21.
Dường như biết mình yếu lý, cái lý của mình không thuyết phục được ai, kể cả Tòa án Trọng tài (PCA) trong câu chuyện Biển Đông, từ nhiều năm nay, Bắc Kinh dùng mọi cách, tận dụng mọi thứ có thể để khẳng định yêu sách “đường 9 đoạn” độc chiếm Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Một trong những phương châm của họ là làm cho dư luận quen; từ quen đến chấp nhận Biển Đông là của Trung Quốc.
Chính thế, “đường 9 đoạn” mà dư luận gọi là “đường lưỡi bò” để mỉa mai lòng tham của Trung Quốc, ngoài hiện diện thường xuyên trên báo chí, nhiều trường hợp còn “chui” vào các diễn đàn khoa học; in trên hộ chiếu, áo phông để theo khách du lịch Trung Quốc đi tứ xứ.
Thậm chí, Trung Quốc dùng món lợi kinh tế để chi phối, đưa đường lưỡi bò vào các bộ phim như “Điệp vụ Biển Đỏ”, “Everest Người tuyết bé nhỏ”; và cả phim “Barbie” – bộ phim do Warner Bros – một trong những hãng phim lớn nhất Hollywood, sản xuất; lợi dụng sự sơ hở của các nhà quản lý để các bộ phim trên vào được một số nhà rạp Việt Nam, trong đó có hệ thống rạp CGV.
Tất nhiên, khi phát hiện, các phim trên lập tức bị khán giả Việt Nam tẩy chay, phải rút khỏi rạp.
Liên quan sản phẩm hàng hóa, đường lưỡi bò cũng từng in trên quả địa cầu và lên một số sàn giao dịch điện tử phân phối cho học sinh. Chưa lâu, cũng “lưỡi bò” cùng bị phát hiện đã lẻn vào cả hệ thống bán lẻ của hãng H&M tại Hà Nội, TP.HCM và một số thành phố lớn.
Ngỡ sau các trường hợp bị dư luận phê phán, tẩy chay, các cơ sở bán hàng “chừa hẳn”. Vậy mà không, “đùng” cái, nay lại đến chuyện trang web của Yadea treo bản đồ ghi tên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ bằng duy nhất tiếng Hoa – lần lượt là Tây Sa và Nam Sa.
Điều khác thường, ngược với tình huống trên, là: cùng bản đồ trên web của Yadea, các địa danh khác của Việt Nam đều chú bằng cả hai thứ tiếng Hoa và Việt Nam; và bản đồ này chỉ xuất hiện nếu dùng địa chỉ IP từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam để truy cập. Nếu truy cập từ trong lãnh thổ Việt Nam thì lại không thấy…
Trước phản ứng quyết liệt của các cơ quan chức năng và dư luận Việt Nam, chiều ngày 20-5, đại diện hãng Yadea đã lên tiếng xin lỗi về cái mà họ gọi là “sơ xuất”; đồng thời, hứa sẽ “rà soát thật chặt chẽ để đảm bảo sự việc tương tự không xảy ra trong tương lai”. Tuy nhiên, điều khác thường nêu trên đã khiến dư luận nghĩ tới khả năng đây không thể là sơ xuất, mà do “ban biên tập” web của hãng Yadea chủ trương và tính toán kỹ.
Nếu thật thế, là một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, hành vi đó của Yadea có thể ví như “đùa với lửa”. Bởi với mọi người dân Việt Nam, Trường Sa và Hoàng Sa là phần lãnh thổ thiêng liêng và máu thịt, không thể là của ai khác.
Hải quân Mỹ vừa thông báo họ và Hải quân Hà Lan ‘đã tiến hành các hoạt động song phương ở Biển Đông’ vào ngày 22-5.
Các tàu tham gia những hoạt động trên bao gồm tàu chiến USS Mobile, tàu chở hàng khô USNS Wally Schirra của Hải quân Mỹ và tàu khu trục HNLMS Tromp của Hải quân Hoàng gia Hà Lan.
“Hoạt động song phương này mang lại cơ hội quý giá để cải thiện khả năng tương tác của đồng minh và tiến hành các kịch bản phức tạp nhằm cải thiện khả năng sẵn sàng” – Hải quân Mỹ thông tin.
Không rõ các hoạt động song phương trên cụ thể là gì và diễn ra tại vị trí nào ở Biển Đông.
Tuy nhiên, Hải quân Mỹ nói rằng họ thường xuyên cùng các đồng minh và đối tác tham gia các cuộc tập trận và hoạt động hàng hải – những hoạt động tiếp tục gia tăng về quy mô, phạm vi và độ phức tạp, từ đó giúp tăng cường khả năng tương tác, sự răn đe và thể hiện quyết tâm chung.
“Các hoạt động đa phương cải thiện khả năng tương tác giữa hải quân các đồng minh cũng như ủng hộ một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” – Hải quân Mỹ nói thêm.
Hôm 10-5, Hải quân Mỹ thông báo điều tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS Halsey thực thi quyền tự do hàng hải phù hợp với luật pháp quốc tế gần quần đảo Hoàng Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép).
Lúc đó quân đội Trung Quốc tuyên bố đã giám sát chặt chẽ và “xua đuổi” tàu USS Halsey khi khu trục hạm Mỹ áp sát quần đảo Hoàng Sa.
Trước đó, hôm 22-4, gần 17.000 binh sĩ Philippines và Mỹ đã bắt đầu cuộc tập trận huấn luyện chiến đấu chung kéo dài 3 tuần ở Philippines, bao gồm các cuộc tập trận hàng hải ở Biển Đông.
Cuộc tập trận thường niên này có tên Balikatan (Vai kề vai), diễn ra trong bối cảnh căng thẳng ngoại giao leo thang và các cuộc chạm trán trên biển giữa Philippines và Trung Quốc, gồm cả việc tàu hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu Philippines.
Quân đội Trung Quốc hôm nay 23.5 tuyên bố bắt đầu cuộc tập trận tác chiến quanh Đài Loan, vài ngày sau lễ nhậm chức của tân lãnh đạo Đài Loan.
Chiến đấu cơ thuộc Chiến khu Đông bộ của Trung Quốc trong một cuộc tập trận tác chiến
Tân Hoa xã đưa tin vào lúc 7 giờ 45 phút sáng 23.5, Chiến khu Đông bộ của quân đội Trung Quốc đã bắt đầu cuộc tập trận kéo dài hai ngày với sự tham gia của các tàu hải quân và máy bay “bao quanh đảo Đài Loan”. Cuộc tập trận đang được tiến hành ở eo biển Đài Loan, hướng về phía bắc, phía nam và phía đông Đài Loan, theo Tân Hoa xã.
Tân Hoa xã dẫn lời phát ngôn viên Chiến khu Đông bộ Lý Hy cho hay cuộc tập trận sẽ “tập trung vào tuần tra chung, sẵn sàng chiến đấu trên không, trên biển, chiếm quyền kiểm soát chiến trường toàn diện và tấn công chính xác chung vào các mục tiêu chính”.
Ông Lý còn nói rằng cuộc tập trận “bao gồm việc tuần tra của các tàu và máy bay đóng tại những khu vực xung quanh đảo Đài Loan và các hoạt động phối hợp trong và ngoài chuỗi đảo để kiểm tra khả năng tác chiến chung thực sự của các lực lượng chỉ huy”.
Ông Lý còn nhấn mạnh cuộc tập trận mới là phản ứng “trừng phạt mạnh” đối với các “hành động ly khai” ở Đài Loan và “là lời cảnh báo nghiêm khắc trước sự can thiệp và khiêu khích của các thế lực bên ngoài”, theo Tân Hoa xã.
Truyền thông nhà nước Trung Quốc công bố bản đồ các khu vực tập trận ở 5 khu vực xung quanh Đài Loan và những đảo do Đài Loan kiểm soát gần bờ biển Trung Quốc.
Quân đội Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận nói trên 3 ngày sau khi ông Lại Thanh Đức nhậm chức làm lãnh đạo Đài Loan.
Cơ quan Phòng vệ Đài Loan lập tức lên án việc Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận nói trên, xem đó là “hành động khiêu khích phi lý nhằm phá hoại hòa bình và ổn định trong khu vực”, theo AFP. “Chúng tôi đã cử các lực lượng trên biển, trên không và trên bộ để đáp trả”, Cơ quan Phòng vệ Đài Loan khẳng định.
Một quan chức Đài Loan cấp cao nói với Reuters rằng cuộc tập trận là một phần trong kịch bản mà Đài Loan đã lường trước và chính quyền Đài Loan đã “nắm bắt toàn diện” những động thái quân sự của Trung Quốc.
Giới chức Đài Loan cho hay trước lễ nhậm chức của ông Lại rằng họ đang theo dõi các hoạt động quân sự của Trung Quốc, theo Reuters.
Nhiều tuyến cáp quang biển mới đang vòng tránh Trung Quốc, trung tâm dữ liệu của các doanh nghiệp công nghệ thông tin toàn cầu đang gia tăng “phi Trung Quốc hóa”.
Nhiều dự án cáp ngầm dưới đáy biển đang vòng tránh Trung Quốc
Trước đây có ý kiến cho rằng Trung Quốc sẽ là nút kết nối của mạng lưới cáp ngầm đáy biển. Tuy nhiên, nhiều dự án cáp ngầm được lên kế hoạch hiện đang bắt đầu vòng qua Trung Quốc và kết nối trực tiếp với Đông Nam Á. Việc thiếu kế hoạch triển khai cáp quang dưới đáy biển sẽ cản trở việc xây dựng các trung tâm dữ liệu của Trung Quốc.
Tờ Nikkei Asia của Nhật Bản đã phân tích dữ liệu từ công ty nghiên cứu TeleGeography của Mỹ, chỉ ra rằng sau năm 2026, Trung Quốc không có kế hoạch lắp đặt bất kỳ tuyến cáp ngầm mới nào và 3 tuyến cáp ngầm cuối cùng nối Trung Quốc đại lục với Hong Kong sẽ được hoàn thành vào năm 2025.
Để so sánh, vào năm tới sẽ có thêm 7 tuyến cáp ngầm được nối tới Singapore, nhiều hơn gấp đôi so với Trung Quốc. Sau đó, Singapore sẽ bổ sung thêm 9 tuyến cáp ngầm tới Guam và 4 tuyến cáp ngầm tới Nhật Bản.
Cáp ngầm là “xương sống” của Internet, vận chuyển 99% lưu lượng dữ liệu của thế giới. Theo dữ liệu từ TeleGeography, khoảng 140.000 km cáp ngầm sẽ được lắp đặt dưới đáy đại dương trên thế giới trong năm 2024, gấp ba lần so với 5 năm trước. Sự tăng trưởng này phản ánh sự gia tăng nhu cầu lưu lượng truy cập do sự phổ biến của dịch vụ video trực tuyến và đám mây.
Ngày 10/4 vừa qua, Google đã công bố một dự án trị giá 1 tỉ USD để xây dựng 2 tuyến cáp ngầm dưới biển nối Nhật Bản – Guam – Hawaii. Khi Google thông báo tin này, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida và Tổng thống Mỹ Joe Biden đang có hội nghị thượng đỉnh ở Washington. Hai nhà lãnh đạo cho biết trong một tuyên bố chung rằng họ hoan nghênh khoản đầu tư này và thêm rằng nó sẽ “cải thiện cơ sở hạ tầng truyền thông kỹ thuật số giữa Mỹ, Nhật Bản và các quốc đảo Thái Bình Dương”.
Các nhà phân tích cho rằng trong khi mức tiêu thụ dữ liệu của Trung Quốc ngày càng tăng thì các dự án cáp ngầm mới của họ lại đang giảm dần, điều này phản ánh sự đối kháng giữa Mỹ và Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ.
Ông Alan Mauldin, Giám đốc nghiên cứu của TeleGeography, nói với Nikkei Asia rằng, đằng sau hành động tưởng chừng như có sự phối hợp nhất trí này là “the subsea cold war” (cuộc chiến tranh lạnh dưới đáy biển) giữa Mỹ và Trung Quốc.
Xu hướng bị đảo ngược Là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, Trung Quốc hiện đang tiêu thụ lượng dữ liệu khổng lồ. Kể từ năm 1994, 15 tuyến cáp ngầm dưới biển với tổng chiều dài hơn 1.000 km đã được đưa vào vận hành toàn bộ, kết nối Trung Quốc với thế giới. Công ty China Mobile và các doanh nghiệp nhà nước khác của Trung Quốc đã chủ đạo các dự án xuyên Thái Bình Dương này, đôi khi còn hợp tác với các công ty Mỹ hùn vốn.
Tuy nhiên, xu hướng này đã thay đổi vào năm 2020, khi chính phủ Tổng thống Mỹ Donald Trump thông qua sáng kiến ”The Clean Network” (còn gọi là Mạng sạch) nhằm loại bỏ các công ty Trung Quốc khỏi các dự án cơ sở hạ tầng viễn thông. Kể từ đó, Mỹ đã duy trì lập trường cứng rắn này với lý do cần phải đảm bảo an ninh dữ liệu.
Năm 2020, Bộ Tư pháp Mỹ đã đốc thúc Google và Meta xem lại kế hoạch lắp đặt 13.000 km cáp ngầm dưới đáy biển giữa Los Angeles và Hong Kong. Khi đó, dự án này đang ở giai đoạn cuối nhưng hai gã khổng lồ công nghệ vẫn quyết định loại trừ Trung Quốc và hạn chế các điểm đến là Đài Loan (Trung Quốc) và Philippines.
Dự án cáp ngầm dưới biển do Ngân hàng Thế giới (WB) chủ trì ở các quốc đảo Nam Thái Bình Dương cũng đã loại bỏ các công ty Trung Quốc, phù hợp với chính sách của Mỹ.
Những hành động phối hợp nhất trí này đã nhanh chóng làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc trong mạng lưới cáp ngầm đáy biển. Những người trong ngành cho biết các công ty Mỹ đóng vai trò quan trọng trong việc lắp đặt các tuyến cáp đi vòng qua Trung Quốc. Một một quan chức của một công ty quản lý cáp nói với Nikkei Asia: “Những nỗ lực này do một số công ty như Google chủ đạo”.
Từ năm 2021 đến năm 2025, tổng chiều dài các dự án cáp biển quốc tế do các ông lớn công nghệ Mỹ tham gia đạt 220.000 km, chiếm 48% tổng số dự án cáp ngầm biển mới trên toàn cầu, tăng 15 điểm phần trăm so với giai đoạn trước.
Việc lắp đặt cáp ngầm cũng sẽ ảnh hưởng đến vị trí của các trung tâm dữ liệu. Công ty tư vấn bất động sản Cushman & Wakefield của Mỹ dự đoán tỷ trọng doanh thu của Trung Quốc trong trung tâm dữ liệu toàn cầu sẽ giảm từ 9% năm 2023 xuống còn 7% vào năm 2028 và tỷ trọng của Mỹ cũng sẽ giảm từ 49% xuống 38%; trong khi thị phần của các nước ASEAN có khả năng tăng từ 9% lên 11% nhờ một loạt kế hoạch lắp đặt cáp ngầm dưới biển.
Tàu chiến tàng hình mới của Trung Quốc được đóng với tốc độ rất nhanh nhưng chưa rõ nhiệm vụ của lớp tàu này và đến này mới chỉ ghi nhận một chiếc được chế tạo.
Hình ảnh tàu chiến tàng hình bí ẩn của hải quân Trung Quốc.
Nhiều nguồn thông tin cho hay một tàu chiến mới của Trung Quốc có các đặc điểm tàng hình dường như vừa thực hiện chuyến hải hành thử nghiệm đầu tiên.
Theo nhận định của The War Zone (TWZ), thiết kế của con tàu Trung Quốc có một số điểm tương đồng lớn với các tàu hộ tống tàng hình lớp Visby của Thụy Điển, bao gồm một pháo chính giấu bên trong mái vòm thấp, nhưng kích cỡ lớn hơn. Tốc độ đóng con tàu này cho thấy quy mô và năng lực đóng tàu của Trung Quốc, đặt ra những thách thức lớn đối với ngay cả những đối thủ được trang bị tốt nhất như Mỹ.
Chỉ hai tuần trước, Phúc Kiến, tàu sân bay đầu tiên do Trung Quốc tự thiết kế, có máy phóng máy bay kèm theo các công nghệ cải tiến khác so với các tàu sân bay biên chế trước đó của hải quân nước này, bắt đầu chuyến thử nghiệm trên biển đầu tiên.
Con tàu bí ẩn
Hình ảnh con tàu bí ẩn đã xuất hiện trên mạng xã hội từ cuối tuần qua. Hiện vẫn chưa rõ con tàu rời cảng khi nào, đi đâu và đã quay trở lại cảng hay chưa.
Hình ảnh đầu tiên về con tàu xuất hiện tháng 11/2023, là một bức ảnh chụp Nhà máy đóng tàu Liêu Ninh, còn được gọi là Nhà máy đóng tàu Nam Đại Liên Liêu Ninh. Theo Tom Shugart, chuyên gia cao cấp của Trung tâm An ninh Mỹ mới (CNAS), hình ảnh vệ tinh cho thấy con tàu đã được đóng ở đó ít nhất từ tháng 8/2023.
Ngoài khẩu pháo chính được giấu ở mũi tàu, bức ảnh xuất hiện trên mạng hồi tháng 11 năm ngoái cho thấy một dãy ống phóng thẳng đứng phía trước cấu trúc thượng tầng chính và một sàn đáp cho trực thăng ở đuôi tàu. Con tàu có thiết kế ưu tiên các tính năng tàng hình, với một cấu trúc cột tích hợp trên nóc buồng lái, không thấy có sự hiện diện của các ăng-ten chính và thiết bị phản xạ radar trên cấu trúc thượng tầng hoặc mặt boong.
Thân tàu được thiết kế với các bề mặt phẳng và cắt vát, nghiêng vào phía trong tính từ thân giữa trở lên. Các tàu hộ tống tàng hình lớp Visbly của Thụy Điển và tàu khu trục tàng hình lớp Zumwalt của Hải quân Mỹ đều có dạng thiết kế tương tự được gọi là ngôn ngữ tumblehome.
Tumblehome là một thiết kế kiến trúc có các mặt phẳng hoặc mặt phẳng nghiêng vào phía trong từ một điểm nhất định, tạo ra hình dạng thu hẹp dần về phía trên. Nó được sử dụng trong thiết kế tàu thuyền, giúp cải thiện độ ổn định và hiệu suất khí động học.
Ông Shugart ước tính con tàu chiến tàng hình mới của Trung Quốc dài khoảng 97 mét dựa trên so sánh với các tàu hộ tống Type 056 không tàng hình (NATO gọi là lớp Giang Đảo) cũng được thấy trong các hình ảnh vệ tinh. Tàu Type 056 dài 90 mét, lượng giãn nước khoảng 1.500 tấn. Nhà máy đóng tàu Liêu Ninh từng đóng tàu Type 056.
Chưa rõ hải quân Trung Quốc sử dụng tàu tàng hình mới vào nhiệm vụ gì. Andreas Rupprecht, một nhà quan sát Trung Quốc lâu năm, cộng tác viên của TWZ, viết trên X rằng rất có thể con tàu lạ này là một “nền tảng thử nghiệm toàn diện” mà người bên ngoài chưa rõ mục tiêu.
Shugart cũng nhận định tương tự. “Đã có tin đồn rằng thiết kế này là một loại nền tảng thử nghiệm nào đó và điều này là hoàn toàn có thể xảy ra”, ông nói. “Hoặc đây cũng có thể là lớp tàu hộ tống mới của hải quân Trung Quốc.
Tại thời điểm này, thật khó để biết chắc chắn. Chúng ta chỉ thấy việc đóng mới tàu loại này chỉ diễn ra ở nhà máy Đại Liên, trong khi việc chế tạo các khinh hạm Type 054B mới đang được thực hiện ở nhiều nhà máy. Có lẽ hải quân Trung Quốc sẽ áp dụng cách tiếp cận chờ – đợi – xem- xét, vì đây là một thiết kế khá khác biệt, dường như tập trung vào các tính năng khó bị phát hiện”.
“Chờ đợi và xem xét” là chiến lược trì hoãn đưa ra quyết định hoặc thực hiện hành động cho đến khi có thêm thông tin hoặc cho đến khi tình hình trở nên rõ ràng hơn. Cách tiếp cận này thường được sử dụng khi có nhiều điều không chắc chắn hoặc rủi ro liên quan đến một tình huống. Bằng cách chờ đợi, cá nhân hoặc tổ chức có thể thu thập thêm thông tin và đánh giá tốt hơn các lựa chọn của họ, từ đó tăng cơ hội đưa ra quyết định đúng đắn.
Dù vậy, lớp tàu hộ tống tàng hình mới được cho là sẽ rất có giá trị đối với hải quân Trung Quốc và có thể được sử dụng trong một số vai trò, đặc biệt là ở các vùng ven biển.
Shugart nói: “Giả sử lớp tàu này cuối cùng sẽ thay thế các tàu hộ tống cũ của Trung Quốc, tôi nghĩ nó sẽ có vai trò hộ tống, tác chiến chống tàu ngầm và có lẽ là phòng không điểm”. Tàu chiến làm nhiệm vụ phòng không điểm được thiết kế và trang bị các vũ khí phòng không để bảo vệ hạm đội hoặc các đoàn tàu khỏi các cuộc tấn công từ trên không. Tàu phòng không điểm thường nhỏ và linh hoạt, được trang bị radar, tên lửa và pháo phòng không.
Nếu những nhận định của ông Shugart chính xác thì vai trò của con tàu mới có thể tương tự các tàu hộ tống Type 056 với khả năng đa nhiệm trong biên chế hải quân Trung Quốc.
Cuối năm 2021, lực lượng này chuyển giao 22 tàu hộ tống Type 056, chiếc đầu tiên được đưa vào biên chế vào đầu năm 2013, cho lực lượng hải cảnh. Hải quân Trung Quốc hiện có 50 tàu hộ tống Type 056A đang hoạt động, chiếc đầu tiên được đưa vào biên chế vào cuối năm 2014, chủ yếu thực hiện các hoạt động chống tàu ngầm.
Nhiệm vụ của con tàu mới?
Tuy nhiên, không giống như Type 056, khả năng tàng hình của con tàu bí ẩn có thể đặc biệt hấp dẫn đối với hải quân Trung Quốc. Thiết kế không khiến con tàu trở nên vô hình, nhưng tàu khó bị phát hiện và phân loại trên radar ở khoảng cách xa. Đối với các đối thủ, sẽ rất khó xác định và tấn công con tàu này ở tầm xa trong các vùng ven biển vì nó lẫn vào các thuyền nhỏ hơn trên radar và tận dụng sự rối loạn địa lý để tránh bị phát hiện.
Rối loạn địa lý là thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực radar và xử lý tín hiệu, mô tả các tín hiệu radar không mong muốn do các vật thể địa lý như núi, đồi, tòa nhà và cây cối tạo ra. Rối loạn địa lý có thể che khuất các mục tiêu mà radar đang cố gắng phát hiện và theo dõi, làm giảm hiệu suất của hệ thống radar.
Các khu vực ven biển đông đúc, giống như các khu vực trong Chuỗi đảo thứ nhất, khu vực bên trong vành đai nối từ quần đảo Kuril qua Nhật Bản, đảo Okinawa, đảo Đài Loan và tới Philippines, có ý nghĩa quan trọng đối với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, Chuỗi đảo thứ nhất còn trải dài đến Biển Đông có tính chiến lược cao. Bắc Kinh đã quân sự hóa trái phép phần lớn khu vực thông qua việc xây dựng các pháo đài trên đảo nhân tạo.
Ngoài ra còn có khả năng hải quân Trung Quốc sẽ sử dụng một hạm đội tàu hộ tống tàng hình mới phòng thủ bờ biển, cho phép các tàu khác, ví dụ khinh hạm Type 054A, thực hiện các nhiệm vụ xa bờ hơn.
Theo nhận định của TWZ, sự xuất hiện tàu hộ tống tàng hình phù hợp với xu hướng đang diễn ra trên thế giới, khi các tàu hộ tống, khinh hạm được trang bị vũ khí hạng nặng ngày càng phổ biến.
Dù thế nào đi nữa, chắc chắn rằng sự phát triển của con tàu tàng hình bí ẩn đã diễn ra cực kỳ nhanh chóng – ngay cả theo ước tính của Shugart.
“Lần đầu tiên tôi phát hiện con tàu đang được chế tạo là tháng 8 năm ngoái và bây giờ chúng ta thấy con tàu đi thử nghiệm trên biển, 9 tháng sau đó,” ông nói.
Đây là dấu hiệu cho thấy tốc độ đóng tàu quân sự của Trung Quốc thời gian gần đây ngày càng gia tăng. Gần một năm trước, Văn phòng Tình báo Hải quân Mỹ cảnh báo rằng tốc độ đóng tàu của Trung Quốc nhanh hơn 200 lần so với Mỹ và không chỉ số lượng, chất lượng của các tàu cũng được nâng lên ở mức “ít nhất là ở một khía cạnh nào đó”.
“Ngược lại với tốc độ đóng tàu nhanh chóng của Trung Quốc, tàu khu trục lớp Constellation mới của hải quân Mỹ ban đầu dự kiến hoàn thành trong 48 tháng kể từ khi khởi đóng đến khi giao hàng, và giờ chúng tôi nhận được tuyên bố từ hải quân Mỹ là tiến độ sẽ chậm hơn nhiều so với con số 48 tháng”, ông Shugart, cựu sỹ quan hải quân Mỹ, nói.
Trong bối cảnh Việt Nam đang ngày càng hướng ra biển, làm thế nào để Việt Nam có thể cân bằng giữa việc tập trung vào biên giới phía tây trên đất liền và vùng biển phía đông?
Việt Nam là một quốc gia lục địa hướng biển. Việt Nam là một nước lục địa do tiến trình phát triển lịch sử của nước này luôn dựa trên nền tảng chủ yếu là lục địa. Văn hóa chiến lược của Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi tư duy lục địa bị chi phối bởi tầng lớp cầm quyền Nho giáo chống giao thương trong giai đoạn phong kiến. Trong thế kỷ 20, Việt Nam chủ yếu đối phó với các mối đe dọa an ninh trên bộ và chiến tranh chủ yếu diễn ra trên đất liền. Vị trí địa lý và văn hóa gần gũi với Trung Quốc đã tạo ra mối quan hệ yêu-ghét giữa Việt Nam và người khổng lồ ở phía bắc, vốn đã chi phối tư duy chiến lược an ninh của Việt Nam theo hướng lục địa trong nhiều thế kỷ.
Tuy nhiên, trong một sự thay đổi chiến lược quan trọng, Việt Nam đã bắt đầu chú trọng hơn đến biển cả trong thế kỷ 21. Tầm quan trọng chiến lược của biển lần đầu tiên được công nhận chính thức vào năm 1993, và sự thay đổi này tiếp tục được thể chế hóa trong những thập kỷ tiếp theo. Ngay cả khi đó, mục tiêu chiến lược đã rất rõ ràng: biến Việt Nam thành một “quốc gia mạnh về biển”. Mục tiêu này đã được nhấn mạnh trong Chiến lược Biển Việt Nam tới năm 2020 và Chiến lược Phát triển bền vững Kinh tế Biểnđược sửa đổi vào năm 2018.
Những tài liệu này thể hiện rõ ràng tư duy chiến lược biển. Trong Chiến lược Biển Việt Nam tới năm 2020, lãnh đạo Việt Nam nhận định thế kỷ 21 sẽ là “thế kỷ của đại dương”, đồng thời tài liệu này đưa ra phương châm “hướng ra biển là thịnh vượng”. Chiến lược Biển cũng miêu tả biển là “không gian phát triển” của đất nước, đóng vai trò then chốt cho sự phát triển và an ninh quốc gia. Do đó, Việt Nam “phải là một quốc gia biển mạnh và có thể làm giàu từ biển”.
Đánh giá thế bố phòng của Việt Nam và phân tích chiến lược mua sắm quân sự đòi hỏi phải hiểu rõ những ưu tiên chiến lược tổng thể của Việt Nam, đặc biệt là trụ cột kinh tế. Xét đến nhu cầu tạo ra môi trường hòa bình cho tăng trưởng kinh tế, trụ cột quốc phòng trong chiến lược tổng thể của đất nước phải được thiết kế phù hợp, tuân theo thực tế là nhận thức về mối đe dọa và ưu tiên kinh tế hiện tại của Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ về phía đông hướng ra biển. Như tôi đã đề cập ở những nơi khác, Việt Nam đang phải đối mặt với các mối đe dọa lớn và cấp bách đến từ biển, bao gồm các chiến thuật vùng xám cường độ thấp (hoạt động phi pháp, cưỡng ép, hung hăng và lừa dối của Trung Quốc) đến các cuộc xung đột trên biển cường độ cao (giả định về một cuộc chiến tranh hải quân hạn chế mang tính cục bộ và một cuộc phong tỏa hải quân tiềm tàng). Một cuộc chiến tranh biên giới trên bộ quy mô lớn tương tự như những gì đã xảy ra vào cuối những năm 1970 và 1980 là điều rất khó xảy ra, mặc dù không thể loại trừ hoàn toàn.
Những lập luận kêu gọi quay trở lại với chiến lược an ninh lục địa đã bỏ qua sự đồng thuận được thiết lập trong giới lãnh đạo về vai trò trung tâm của biển trong chiến lược tổng thể của Việt Nam. Những lập luận này cũng khó có thể biện minh theo quan điểm địa chiến lược ở thời điểm hiện tại vì chúng có xu hướng coi miền tây lục địa và miền đông biển cả là hai khu vực địa chính trị riêng biệt, không có mối liên hệ nào có ý nghĩa. Trong thực tế, tình thế tiến thoái lưỡng nan mang tính nhị phân, phân chia lục địa hay biển cả hoàn toàn mang tính chất nhân tạo, vì Việt Nam sẽ tiếp tục hướng về lục địa để đảm bảo an ninh và, ở một mức độ nào đó, để đảm bảo thịnh vượng cho chính mình.
Ngoài ra, nhìn nhận các tuyến biên giới phía tây lục địa qua lăng kính lịch sử của Chiến tranh Lạnh sẽ làm sai lệch bản chất thực sự của các mối đe dọa mà Việt Nam phải đối mặt trên đất liền. Trong thế giới kết nối ngày nay, mối quan hệ của Việt Nam với ba nước láng giềng dựa trên các nguyên tắc, ưu tiên, động lực và tư duy khác biệt so với thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Vùng biên giới phía tây giáp với Campuchia và Lào ngày càng được định hình bởi hợp tác kinh tế hòa bình và khái niệm thịnh vượng chung. Biên giới phía tây này là nơi tồn tại các loại mối đe dọa an ninh “phi truyền thống” hoàn toàn khác biệt, đòi hỏi các phương thức và cách tiếp cận khác nhau để giải quyết. Do đó, thật vô lý khi cho rằng Việt Nam nên tích trữ trang thiết bị quân sự để đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống ở phía tây trong khi Hà Nội sở hữu các bộ công cụ chính sách phù hợp hơn để giải quyết những thách thức đó.
Việt Nam không cần phải hướng “đông” hay hướng “tây”. Là một quốc gia lục địa hướng biển, Việt Nam cần tập trung vào cả hai địa vực để đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế trong tương lai. Vấn đề là với nguồn lực hạn chế, làm thế nào để Việt Nam cân bằng đầu tư quốc phòng giữa biên giới lục địa phía tây và vùng biển phía đông. Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào tầm nhìn chiến lược tổng thể và nhận thức về các mối đe dọa của đất nước. Quân đội Việt Nam cần đầu tư bao nhiêu tiền để phát triển khả năng răn đe trên biển, chống lại các chiến thuật vùng xám của Trung Quốc và tăng cường khả năng phòng thủ trên đất liền?
Việt Nam đang nỗ lực hiện đại hóa quân đội để đạt mục tiêu trở thành một lực lượng quân sự hùng mạnh và hiện đại vào năm 2030. Sách Trắng Quốc phòng năm 2019 nhấn mạnh việc hiện đại hóa một số quân chủng then chốt, trong đó Hải quân và Không quân đi đầu (không đề cập đến Lục quân). Sự hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông dường như là lý do chính cho điều này. Tầm nhìn kinh tế biển của đất nước cũng thuyết phục Đảng Cộng sản đầu tư vào sức mạnh trên biển và trên không.
Điều đó không có nghĩa là Lục quân bị bỏ bê và không được quan tâm. Những nỗ lực hiện đại hóa gần đây bao gồm nâng cấp đội hình xe tăng T-54/T-55 cũ kỹ của quân đội bằng xe tăng T-90 mua từ Nga, khả năng mua Pháo tự hành K-9 của Hàn Quốc và thực hiện một số dự án để sản xuất xe chiến đấu bộ binh do chính Việt Nam sản xuất và nội địa hóa một phần. Điều này cho thấy đã đến lúc Quân đội nhân dân Việt Nam cần nâng cấp trang thiết bị và học thuyết lỗi thời, lạc hậu nhiều thập kỷ để sánh kịp các nước láng giềng. Điều này phản ánh cách tiếp cận của quân đội nhằm duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu của Lục quân để duy trì mức răn đe tối thiểu trước một cuộc xâm lược quy mô lớn trên bộ, giống như cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine, mặc dù đây vẫn là kịch bản khó xảy ra. Nó không ngụ ý sự thay đổi ưu tiên chiến lược từ hướng đông sang hướng tây.
Cuộc tranh luận cần được đào sâu hơn: Liệu các khoản đầu tư vào năng lực bảo vệ vùng biển của đất nước đã đủ hiệu quả chưa? Tại sao Việt Nam ngừng mua sắm các trang bị và phương tiện mới cho hạm đội hải quân kể từ năm 2016, khi họ đưa vào hoạt động hai cặp tàu hộ vệ Gepard cuối cùng? Tại sao Việt Nam không tìm kiếm thay thế cho đội máy bay Su-22 cũ kỹ hàng thập kỷ của mình, mặc dù tai nạn xảy ra ngày càng nhiều mỗi năm? Các lựa chọn nào để mở rộng thêm đội máy bay tiêm kích của Không quân? Liệu Việt Nam có nên ưu tiên các khả năng chống chiến thuật vùng xám bằng cách đầu tư vào lực lượng thực thi pháp luật trên biển và dân quân tự vệ thay vì đầu tư vào khả năng tác chiến và răn đe trên biển? Mở rộng và bảo vệ lợi ích trên biển có thể đặt ra một tình thế khó khăn cho một quốc gia lục địa hướng biển có năng lực hạn chế: một đồng chi đầu tư cho lực lượng mặt đất sẽ là giảm một đồng đầu tư cho lực lượng trên biển, và việc đầu tư vào năng lực hải quân vốn nổi tiếng là tốn kém.
Cuộc tranh luận xung quanh chiến lược mua sắm quốc phòng của Việt Nam cũng không nên chỉ tập trung vào sự cạnh tranh mang tính nhị nguyên giữa lục địa và biển cả mà là tập trung vào việc củng cố tính tự chủ của Việt Nam trong việc duy trì năng lực quân sự của mình trong một khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương bị chi phối bởi biển cả. Dưới bóng đen của cuộc chiến tranh Nga-Ukraine, quân đội Việt Nam đang củng cố chiến lược mua sắm ba mũi nhọn để đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa, tập trung vào việc xây dựng tổ hợp công nghiệp quân sự lưỡng dụng của riêng mình. Làm thế nào để tổ hợp công nghiệp quân sự này hoạt động bền vững là một câu hỏi quan trọng. Điều này sẽ bao gồm việc lựa chọn các đối tác quốc phòng đáng tin cậy, phân bổ nguồn lực giữa các công ty nhà nước và khu vực tư nhân, xây dựng khuôn khổ pháp lý phù hợp và tìm kiếm thị trường cho ngành công nghiệp quốc phòng non trẻ đó.
Lập luận rằng Việt Nam nên chuyển hướng bố phòng sang phía tây lục địa với cái giá phải trả là phía đông biển cả là một điều sai lầm vì Việt Nam coi trọng cả hai địa vực. Không gian biển sẽ định hình tương lai của Việt Nam, cùng với sự hậu thuẫn kiên định từ vùng đất liền lục địa của mình. Phân tích thực tế về thế bố trí phòng thủ và chiến lược quân sự của Việt Nam nên dựa trên sự hiểu biết thực tế về nhận thức mối đe dọa và giả định về môi trường quốc tế của Việt Nam, chứ không phải dựa trên quan điểm lục địa cực đoan dựa trên nhận thức lịch sử lỗi thời.
Các quan chức Mỹ mới đây hé lộ thông tin mới về vũ khí hạt nhân chống vệ tinh của Nga và một vệ tinh thử nghiệm có thể liên kết với vũ khí đó.
Các quan chức cấp cao trong chính quyền Mỹ gợi ý rằng Nga đã hoàn thành một cơ sở thử nghiệm bí mật trong không gian như một phần của chương trình phát triển vũ khí hạt nhân diệt vệ tinh trong quỹ đạo. Các quan chức này cũng cảnh báo quốc hội Mỹ rằng loại vũ khí trên có khả năng hủy hoại môi trường tại quỹ đạo trái đất tầm thấp (LEO) trong thời gian dài, theo trang The War Zone.
Mỹ cực kỳ lo ngại
Tại một hội thảo do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ) tổ chức tại Washington D.C hôm 3.5, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về kiểm soát vũ khí, răn đe và ổn định Mallory Stewart đã có những thảo luận chi tiết về chương trình phát triển vũ khí hạt nhân chống vệ tinh của Nga. Bà cho biết dựa trên những thông tin mà Washington cho là đáng tin cậy, Mỹ cực kỳ lo ngại Nga có thể đang cân nhắc kết hợp vũ khí hạt nhân vào các chương trình chống lại các hệ thống trong không gian. “Mỹ đã biết về việc Nga theo đuổi dạng năng lực này trong nhiều năm nhưng chỉ đến gần đây chúng tôi mới có thể đưa ra đánh giá chính xác hơn về sự tiến triển của họ”, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ nói.
Ông Putin chỉ thị tập trận hạt nhân chiến thuật để đáp trả đe dọa từ phương Tây
Theo tường thuật của The War Zone, bà Stewart nhiều lần nhấn mạnh trong cuộc đối thoại rằng chính phủ Mỹ không cho là Nga đã triển khai năng lực nêu trên và Washington đang cố gắng khuyến khích Moscow không nên làm điều đó. Tuy nhiên, bà Stewart ngụ ý rằng một phần của việc phát triển vũ khí hạt nhân chống vệ tinh này đã được đưa vào không gian.
Theo vị quan chức, Nga tuyên bố vệ tinh của họ được sử dụng cho mục đích khoa học. Tuy nhiên, việc vệ tinh này hoạt động trong một quỹ đạo không được sử dụng bởi bất kỳ vệ tinh nào khác là một sự bất thường nhất định. Ngoài ra, quỹ đạo này có mức độ bức xạ cao hơn so với các quỹ đạo thấp hơn của trái đất, nhưng mức độ bức xạ đó không đủ cao để cho phép kiểm tra các thiết bị điện tử trong môi trường khắc nghiệt như mục đích mà Nga đã mô tả.
Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ không nêu cụ thể tên của vệ tinh được nhắc đến cũng như mục đích của nó. Tuy nhiên, The War Zone cho rằng việc đưa một hệ thống thử nghiệm lên quỹ đạo trước khi triển khai vũ khí không gian thực tế, đặc biệt là vũ khí hạt nhân, là điều hợp lý.
“Chúng tôi không nói về một vũ khí có thể được sử dụng để tấn công con người hoặc gây thiệt hại nặng cho trái đất. Thay vào đó, các nhà phân tích của chúng tôi đánh giá rằng việc kích nổ một thiết bị hạt nhân trong một vị trí cụ thể trong quỹ đạo sẽ khiến quỹ đạo trái đất ở tầm thấp hơn sẽ không thể được sử dụng trong một thời gian nhất định”, bà Stewart nói. LEO là tầng không gian cao khoảng 160 km đến 1.931 km tính từ trái đất, là nơi có rất nhiều vệ tinh có tầm quan trọng đặc biệt đối với con người.
Nguy cơ từ vụ nổ hạt nhân trong không gian
Tại phiên điều trần trước Ủy ban Quân vụ Hạ viện Mỹ ngày 1.5, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách chính sách không gian John Plumb cũng nói về cùng chủ đề, gồm các năng lực của vũ khí chống vệ tinh. “Khái niệm mà chúng tôi đang lo ngại là Nga đang phát triển và, nếu chúng tôi không thể thuyết phục họ làm ngược lại, sẽ triển khai một vũ khí hạt nhân trong không gian. Lo ngại này liên quan một vũ khí bừa bãi không bị giới hạn trong biên giới quốc gia, không xác định đâu là vệ tinh quân sự, dân sự hay thương mại”, ông Plumb nói.
Khi được Chủ tịch Ủy ban Tình báo Hạ viện Mike Turner đặt câu hỏi về tác động của một vụ nổ do vũ khí như trên trong không gian, ông Plumb thừa nhận rất khó để đưa ra kết luận chắc chắn. Tuy nhiên, vị quan chức cảnh báo rằng hầu hết vệ tinh trong không gian có thể bị hư hại bởi một vụ nổ như thế và không thể tồn tại. Nếu một vụ nổ hạt nhân xảy ra, trái đất sẽ bị bao quanh bởi hai vành đai phóng xạ lơ lửng trong LEO, khiến tầng không gian này không thể là môi trường cho vệ tinh hoạt động trong một năm. Toàn bộ vệ tinh của các nước và công ty trên toàn cầu, các dịch vụ liên lạc, khoa học, khí tượng, nông nghiệp, thương mại và an ninh quốc gia quan trọng mà con người đang sử dụng đều bị đe dọa nghiêm trọng.
Ông Plumb cho rằng vũ khí hạt nhân chống vệ tinh chưa phải là mối đe dọa tức thì nhưng chính quyền Mỹ đang lo ngại và cũng nghiêm túc nghiên cứu vấn đề này.
Hồi cuối tháng 4, Nga phủ quyết một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc do Mỹ và Nhật Bản đề xuất, theo đó yêu cầu các thành viên tuân thủ Điều 4 của Hiệp ước không gian 1967, cấm các nước đưa vũ khí hạt nhân vào quỹ đạo hay các thực thể trong không gian. Hiệp ước còn cấm các nước phát triển vũ khí hạt nhân hay vũ khí hủy diệt hàng loạt để sử dụng trong quỹ đạo. Hiệp ước này từng được Liên Xô ký vào 56 năm về trước. Nhà Trắng lên án việc Nga phủ quyết. Trong một tuyên bố khi đó, chính quyền Mỹ lần đầu tiên xác nhận vũ khí chống vệ tinh mới của Nga là vũ khí hạt nhân.
“Mỹ đánh giá rằng Nga đang phát triển một vệ tinh mới mang một thiết bị hạt nhân. Chúng tôi đã nghe thấy Tổng thống (Vladimir) Putin công khai nói rằng Nga không có ý định triển khai vũ khí hạt nhân trong không gian. Nếu điều đó là thật, Nga sẽ không phủ quyết nghị quyết này”, Cố vấn an ninh quốc gia Nhà Trắng Jake Sullivan nói trong tuyên bố hôm 24.4.
Trong khi đó, Nga đã cho lưu hành nghị quyết Liên Hiệp Quốc do nước này soạn thảo, theo đó không chỉ kêu gọi ngăn chặn việc triển khai vũ khí hạt nhân trong không gian mà còn dừng đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong không gian.
Cổng thông tin Hải quân hôm 15/5 cho biết, Trung Quốc vừa chế tạo hàng không mẫu hạm chuyên dụng đầu tiên trên thế giới dành cho máy bay không người lái. Con tàu này được hạ thủy vào tháng 12 năm 2022 nhưng chưa được công bố chính thức và nhìn chung, nhiều tình tiết liên quan đến việc tạo ra nó vẫn còn là một ẩn số.
Trung Quốc chế tạo hàng không mẫu hạm không người lái chuyên dụng đầu tiên trên thế giới?.
Nguồn tin đã hợp tác với Michael Dahm, Nghiên cứu viên cấp cao của Viện Mitchell để phân tích hàng không mẫu hạm Trung Quốc này đang neo đậu tại một xưởng đóng tàu trên sông Dương Tử, cách xa các xưởng đóng tàu chính của Thượng Hải ở thượng nguồn.
Con tàu mới được cho là nhỏ hơn các hàng không mẫu hạm thông thường. Sàn đáp của nó có chiều dài bằng 1/3 và chiều rộng bằng một nửa so với hàng không mẫu hạm thông thường của Mỹ hoặc Trung Quốc.
Cổng thông tin viết: “Để so sánh, nó ngắn hơn một chút nhưng rộng hơn so với hàng không mẫu hạm hộ tống thời Thế chiến thứ hai. Nó có thể điều khiển máy bay cánh cố định, nhưng sàn thẳng của nó sẽ lỗi thời, vì máy bay sẽ không thể cất cánh và hạ cánh ở thời điểm đó. Đồng thời, có vẻ như không có chỗ cho một nhà chứa máy bay thông thường nên số lượng máy bay sẽ bị hạn chế đáng kể. Tuy nhiên, sẽ hợp lý nếu nó là hàng không mẫu hạm không người lái”.
Michael Dam lưu ý rằng xưởng đóng tàu, nơi đang chế tạo hàng không mẫu hạm không người lái, trước đây đã chế tạo mô phỏng tàu địch mà Trung Quốc sử dụng để huấn luyện và thử nghiệm vũ khí.
Đặc biệt, xưởng đóng tàu này đã chế tạo một số sà lan mục tiêu công nghệ cao và 2 hàng không mẫu hạm cỡ lớn, đóng vai trò lực lượng tác chiến trong các cuộc tập trận. Cổng thông tin không loại trừ khả năng con tàu mới cũng được dùng để tập trận.
Các nhà báo nhấn mạnh rằng UAV đang ngày càng trở thành một phần quan trọng trong tác chiến hải quân. Hải quân hàng đầu đã thử nghiệm chúng từ các hàng không mẫu hạm thông thường. Và một số lực lượng hải quân, đặc biệt là lực lượng hải quân Iran và Thổ Nhĩ Kỳ, đang thực hiện kế hoạch tạo ra “máy bay không người lái”.
Việc có được tiếng nói chung với Kremlin chỉ trích Mỹ và phương Tây “nhúng mũi vào Biển Đông” như một sự can thiệp vào câu chuyện nội bộ của các nước trong khu vực, là điều có ý nghĩa rất lớn với Trung Nam Hải.
Cái bắt tay mặn nồng giữa ông Tập Cận Bình và ông Putin ngày 16/5/2024, tại Bắc Kinh
Chẳng đợi ông Yury Ushakov, trợ lý chính sách đối ngoại của Tổng thống Nga, tiết lộ, dư luận cũng thừa biết, Trung Quốc không phải là địa điểm được chọn ngẫu nhiên cho chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông Putin, kể từ khi ông tuyên thệ nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ thứ 5 đầu tháng 5 vừa qua, mà là để đáp lại cử chỉ hữu nghị tương tự của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
“Cử chỉ tương tự” mà Kremlin rất mực coi trọng đó là gì? Là chuyến thăm cấp nhà nước tới Nga theo lời mời của Tổng thống nước chủ nhà Vladimir Putin, cũng là chuyến công du nước ngoài đầu tiên của Chủ tịch Trung Quốc sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ 3, diễn ra từ ngày 20/3/2023.
Chẳng ai hời hợt nghĩ các động thái của ông Putin là nặng về hình thức, chỉ có tính đáp lễ. Ngược lại, nó thể hiện thông điệp về mối quan hệ khăng khít giữa hai siêu cường trong bối cảnh xung đột địa chính trị diễn ra vô cùng phức tạp.
Trở lại sự hiện diện của ông Putin 2 ngày vừa qua tại Bắc Kinh và Cáp Nhĩ Tân một thành phố lớn của Trung Quốc – dù không ồn ào (và dường như cả hai cùng chủ ý thế”, nhưng sự trọng thị và nồng nàn mà Trung Nam Hải dành cho ông chủ điện Kremlin như một sự “biệt đãi”, là không thể nghi ngờ. Đặc biệt, kết quả của chuyến thăm, cũng là điều mà dư luận quan tâm, trông đợi nhất, càng củng cố thêm nhận định trên.
Liên quan vấn đề này, những lời nói tốt đẹp từ hai phía dành cho nhau, tỷ như ông Tập nói rằng: mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc đã vượt qua những thử thách của môi trường quốc tế đầy biến động và trở thành chuẩn mực cho mối quan hệ giữa các cường quốc; quan hệ Trung-Nga đã trở nên mạnh mẽ trong những điều kiện khó khăn, vượt qua thử thách của tình hình quốc tế đầy biến động…”; còn ông Putin thì, cùng với việc nêu con số kim ngạch thương mại giữa Nga và Trung Quốc đã tăng trong năm 2023 và đạt 227 tỷ USD; Nga và Trung Quốc đã có những hoạt động hợp tác thực chất; Trung Quốc là đối tác chính của Nga trong lĩnh vực kinh tế và thương mại, đã nhấn mạnh rằng: “Cùng nhau, chúng ta bảo vệ các nguyên tắc công bằng và trật tự thế giới dân chủ dựa trên thực tế đa cực và luật pháp quốc tế”.
Tự tin tới mức ấy vào “sứ mệnh” chung, trách gì Bắc Kinh chẳng lấy làm hoan hỷ mấy ngày nay. Nhưng gặt hái lớn nhất của Bắc Kinh trong cuộc đón ông Putin, là đưa được vấn đề Biển Đông vào Bản tuyên bố chung dài 30 trang.
Một văn bản tuyên bố chung nhắc đến Biển Đông mà Bắc Kinh hài lòng – chỉ cần thế, đủ biết, nó không thể ngược với quan điểm của Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông lâu nay được.
Nhưng câu từ như “Hai bên thừa nhận rằng vấn đề Biển Đông nên được giải quyết bởi các bên liên quan, thông qua các cuộc đàm phán và tham vấn”; “Nga hoan nghênh những tiến triển bước đầu trong việc xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN”; Nga “ủng hộ những nỗ lực của Trung Quốc và các nước ASEAN để cùng nhau bảo vệ hòa bình, ổn định ở Biển Đông”…chưa phải những gì Bắc Kinh hào hứng nhất. Bởi suy cho cùng, nội dung ấy cũng chỉ là những nhận định, kêu gọi chung, không hề trái lập trường giải quyết vấn đề Biển Đông mà lâu nay, cả Trung Quốc lẫn các nước ASEAN vẫn nói.
Quan trọng nhất với Bắc Kinh là nội dung hai bên “phản đối mạnh mẽ sự can thiệp của các lực lượng ngoài khu vực vào vấn đề này”.
Các lực lượng ngoài khu vực là lực lượng nào? Chẳng ai là không hiểu, Nga và Trung Quốc ám chỉ Mỹ và đồng minh phương Tây.
Sự trở lại của Mỹ trong khu vực với chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương, nơi có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, bắt đầu từ năm 2011, với mục tiêu quan trọng nhất: bảo đảm duy trì vị thế lãnh đạo của Mỹ trước những thay đổi nhanh chóng tại khu vực, kiềm chế tham vọng vươn lên của Trung Quốc…, đã và đang khiến Bắc Kinh khó chịu.
Liên quan vấn đề Biển Đông, Bắc Kinh càng cay cú hơn khi họ cho rằng, Mỹ ngày một lộng quyền, nhân danh tự do hàng hải ngăn cản Bắc Kinh hiện thực hóa yêu sách “đường 9 đoạn” chiếm tới 90% diện tích Biển Đông; Mỹ, dù không tham gia Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) 1982, tháng 7 năm 2023, bỗng trịch thượng to tiếng “lên lớp” Bắc Kinh về đạo đức và đòi Trung Quốc phải tuân thủ Phán quyết ngày 12-7-2016 của Tòa trọng tài (PCA) do Hội đồng trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982 để thụ lý vụ kiện Biển Đông của Philippines, bắt đầu từ năm 2013.
Chính thế, với việc có được tiếng nói chung với Kremlin chỉ trích Mỹ và phương Tây can thiệp vào câu chuyện nội bộ của các nước trong khu vực, là điều có ý nghĩa rất lớn với Trung Nam Hải.
Éo le thay, nhìn rộng ra, trên bình diện quốc tế, dư luận rất khó đồng thuận với nhận định này.
Khó là bởi, là tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất gánh tới 5 nghìn tỷ USD giá trị hàng hóa lưu thông, rõ ràng, tự do hàng hải là câu chuyện quan trọng với cả thế giới, đâu phải chỉ với Mỹ, phương Tây, hay một nền kinh tế nào.
Khó là bởi, nhìn chung, sự phức tạp của câu chuyện Biển Đông, suy cho cùng, là “nguyên nhân nội sinh”: do sự tranh chấp của các bên liên quan trong khu vực, trong đó, Trung Quốc khổng lồ gần như là một bên, còn lại là những Việt Nam, Philippines, Malaysia…nhỏ xíu. Thậm chí, không nói ra, nhưng dư luận hiểu, nếu không e dè Mỹ, bây lâu nay, rất có thể Trung Quốc đã ra đòn nặng tay với các đối thủ mà họ cho là ương bướng, dám chống lại tham vọng chiếm hữu Biển Đông của họ rồi.
Đó cũng là lý do trước việc câu chuyện Biển Đông tràn vào Tuyên bố chung tăng cường quan hệ “trong kỷ nguyên mới” của ông Tập và ông Putin, Washington chắc chắn là bên đang cảm thấy tổn thương nhiều nhất.
Nhà lãnh đạo CHDCND Triều Tiên Kim Jong-un đã thị sát một hệ thống vũ khí tên lửa chiến thuật mới và chỉ đạo chuẩn bị chiến tranh bằng cách đạt được các kế hoạch sản xuất vũ khí, theo Hãng thông tấn KCNA.
Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un thị sát hệ thống vũ khí tên lửa chiến thuật tại một địa điểm không xác định ngày 14.5, trong ảnh do KCNA công bố ngày 15.5
Cụ thể, KCNA hôm nay 15.5 đưa tin ông Kim Jong-un ngày 14.5 đã giám sát “hệ thống vũ khí tên lửa chiến thuật mới mà sẽ được trang bị cho các đơn vị tên lửa kết hợp của Quân đội Nhân dân Triều Tiên (KPA) phụ trách nhiệm vụ khai hỏa quan trọng”. KCNA không cung cấp thêm thông tin chi tiết về hệ thống vũ khí mới hoặc nơi diễn ra cuộc kiểm tra, theo Hãng tin Yonhap.
KCNA còn đưa tin ông Kim lệnh hoàn thành kịp thời các kế hoạch sản xuất vũ khí đang diễn ra. Nhà lãnh đạo Triều Tiên “đặc biệt nhấn mạnh cần có sự thay đổi mang tính thời đại trong quá trình chuẩn bị cho chiến tranh của KPA bằng cách thực hiện các kế hoạch sản xuất đạn dược cho năm 2024 mà không có thất bại”.
Cũng theo KCNA, các nhà máy vũ khí của Triều Tiên, vốn đã hoàn thành kế hoạch sản xuất trong 6 tháng đầu năm, sẽ thực hiện kế hoạch sản xuất hệ thống vũ khí tên lửa chiến thuật vào cuối năm nay. Những bệ phóng tên lửa được sản xuất trong nửa đầu năm nay sẽ được triển khai cho các đơn vị tổng hợp thuộc nhóm hoạt động miền tây của KPA.
Diễn biến trên diễn ra một ngày sau khi Bộ Ngoại giao Triều Tiên lên án việc các đồng minh Mỹ tăng cường giám sát nước này dưới vỏ bọc theo dõi hành vi vi phạm các nghị quyết trừng phạt của Liên Hiệp Quốc, đồng thời tuyên bố thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền và an ninh.
Bình Nhưỡng kêu gọi Anh, Canada, Đức, New Zealand, Pháp và Úc ngay lập tức chấm dứt việc sử dụng các lệnh trừng phạt Triều Tiên làm cái cớ để “can thiệp quân sự trắng trợn ở châu Á – Thái Bình Dương”, theo tuyên bố từ Bộ Ngoại giao Triều Tiên do KCNA đăng tải ngày 13.5.
Trong tuyên bố, Bộ Ngoại giao Triều Tiên cho rằng các nước nói trên đã triển khai tàu và máy bay chiến đấu tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương với lý do theo dõi các nghị quyết trừng phạt mà Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc áp đặt đối với Bình Nhưỡng.
Bộ Quốc phòng Hàn Quốc trước đó cho hay lực lượng nước này và Anh đã tiến hành tuần tra chung ở vùng biển gần bán đảo Triều Tiên hồi tháng 4 để thực thi các nghị quyết trừng phạt của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đối với Triều Tiên.
Có một cuộc “chạm trán tình cờ giữa Hải quân Mỹ và Hải quân Đài Loan trên biển Thái Bình Dương. “Tình cờ” là cách nói của Đài Bắc thôi. Thật ra ai cũng biết tỏng rằng, lính thủy hai nước đã tổ chức tập trận.
Vì cuộc tập trận rất chi là bí mật, cho nên từ tháng 4 đến nay sự việc mới vỡ lở. Ngay cả cái địa điểm diễn ra cuộc tập trận lặng lẽ cũng rất chung chung: biển Thái Bình Dương – một vùng biển mênh mông, chỉ tính riêng Tây Thái Bình Dương đã có nhiều vùng biển cận biên lớn, bao gồm Biển Philippines, Biển Đông, Biển Hoa Đông, Biển Nhật Bản, Biển Okhotsk, Biển Bering…
Vì lẽ đó cho nên cả Washington và Bắc Kinh đều im lặng, không có phản ứng gì trước thông tin này. Đặc biệt là Trung Quốc, họ thừa hiểu đây là sự bắt tay ngầm, bất hợp pháp giữa hải quân Mỹ và hải quân Đài Loan. Đại diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc chỉ nói: Họ kiên quyết phản đối “sự cấu kết quân sự” không đàng hoàng.
“Lặng lẽ tập trận hải quân chung trên Thái Bình Dương” là thông tin ngắn gọn mà các tờ báo, hãng tin phương Tây đưa tin hôm 14/5. Cuộc tập trận chung của hải quân Mỹ và Đài Loan diễn ra vào tháng 4 trên vùng biển Tây Thái Bình Dương. Tại đây, “nhiều khí tài quân sự” đã được sử dụng. Cuộc tập trận này không được chính thức loan báo và được gọi là “các cuộc chạm trán trên biển không lên kế hoạch trước”.
Cả hai bên đều tuyên bố rằng, các màn diễn tập đó chỉ đơn thuần là do “chạm trán tình cờ”. Một nhân vật giấu tên nói: “Nó giống như là tôi đang đi ăn tối trong quán ăn này và bạn cũng tình cờ có mặt ở đó. Sau đó, tình huống giống như là tôi chỉ là đang chia sẻ bàn ăn với ai đó”.
Theo một nguồn tin có nêu cụ thể thêm một chút, khoảng gần 10 tàu hải quân của cả Mỹ và Đài Loan tham gia diễn tập. Trong số này có các tàu khu trục nhỏ, các tàu tiếp tế và hỗ trợ, đã tham gia vào các màn diễn tập kéo dài trong nhiều ngày. Cuộc “chạm trán” đủ để thực hành các hoạt động “cơ bản” như trao đổi thông tin, tiếp nhiên liệu, và tái tiếp tế.
Về phía Hải quân Đài Loan, có thông tin cho hay, chúng tôi cùng nhau phối hợp xử lý các kịch bản bất ngờ trên biển và để giảm thiểu “xâm phạm” nhau. Chúng tôi “hành động phù hợp với Quy tắc Chạm trán Bất ngờ trên Biển (CUES)”. Hải quân Đài Loan thường xuyên liên lạc với các tàu của các quốc gia khác và tiến hành các màn diễn tập chạm trán khi cần thiết.
Xin nói rõ, CUES là Bộ quy tắc do Mỹ đề xuất cách đây 10 năm, nhằm giúp giảm căng thẳng giữa các quân đội trên biển, cung cấp những hướng dẫn chẳng hạn như về tốc độ và khoảng cách an toàn, ngôn ngữ liên lạc chung, và những hành động cần tiến hành nếu một tàu bị ngừng hoạt động.
Bộ Quy tắc CUES đã được 21 lực lượng hải quân thông qua tại Hội nghị chuyên đề Hải quân Tây Thái Bình Dương hồi tháng 4/2014, nhấn mạnh việc bảo đảm an toàn trong các vụ đối đầu trên biển.
Cuộc tập trận lặng lẽ của Hải quân Mỹ và Đài Loan là các màn diễn tập cơ bản, những cuộc tập dượt để bảo đảm chắc chắn lực lượng hải quân hai bên có thể phối hợp hoạt động hiệu quả trong các tình huống khẩn cấp, nguy hiểm. Trong số các màn diễn tập chiến thuật có hoạt động tìm kiếm các mục tiêu dưới nước.
Cho đến nay, sau nửa tháng, Bộ Quốc phòng Mỹ và Bộ Quốc phòng Trung Quốc đều không có phản hồi với báo chí về cuộc tập trận này. Được biết tháng 4/2024, Lãnh đạo Hải quân Đài Loan đã đến thăm Mỹ, thảo luận về cách tăng cường hợp tác giữa Hải quân hai bên.
Im lặng là một cách phản ứng bình tĩnh và khôn ngoan của Trung Nam Hải trước một đối phương khổng lồ như Mỹ. Họ không muốn gia tăng căng thẳng thêm với Nhà Trắng vào lúc quan hệ hai nước đang ở mức tồi tệ sau rất nhiều cố gắng hóa giải.
Từ bỏ xích mích nhỏ, tranh cãi nhỏ để hướng tới mục tiêu lớn. Mục tiêu đó của Trung Quốc là hoạt động tiến ra biển, trước hết là nhắm vào Đài Loan -hòn đảo bướng bỉnh. Cố nhiên khi nhắm tới Đài Loan, Bắc Kinh chạm ngay Hải quân Mỹ – đồng minh của hòn đảo.
Từ thời Mao Trạch Đông, khi xảy ra đụng độ Kim Môn, Mã Tổ năm 1958, Mao Trạch Đông đã thấy rõ sức mạnh của Hải quân Mỹ. Ông Mao dặn dò con cháu tránh đối đầu trực tiếp với Mỹ, nhất là trên biển sẽ bị nhấn chìm. Sau này khi đã thống trị các quốc gia khác nhưng Trung Quốc vẫn bị phương Tây tấn công, đáng sợ là bị tấn công từ phía biển. Đó là một nỗi đau, nỗi nhục của người Trung Quốc.
Bắc Kinh nhận rõ, muốn trở thành cường quốc thì phải phát triển về phía biển, cho nên họ nuôi tham vọng độc chiếm Biển Đông để làm cửa ngõ tiến ra ngoài.
Hiện nay, về thế trận quân sự trên Biển Đông, nhờ các căn cứ trên đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã xây dựng, nếu xảy ra một cuộc đụng độ quân sự trong khu vực, Trung Quốc sẽ không khó để kiểm soát vùng biển và vùng trời. Điều này Mỹ chưa có được và sẽ gặp rất nhiều khó khăn, tốn kém, nếu muốn vô hiệu hóa những tiền đồn của Trung Quốc trên Biển Đông.
Phải chăng vì những lý do đó mà Trung Quốc vẫn thản nhiên trước những cuộc tập trận bí mật ngoài khơi xa của Mỹ và đồng minh. Người Trung Quốc có câu “nước xa không cứu được lửa gần”. Gì chứ “tìm kiếm các mục tiêu dưới nước” thì còn… xa lắm.
Và vì thế họ im lặng, chẳng thèm đoái hoài đến công việc của hàng xóm.