Hội Nghề cá Việt Nam vừa có văn bản phản đối hành động đơn phương và không có giá trị pháp lý của Trung Quốc về việc ban hành Quy chế cấm đánh bắt cá trên Biển Đông.
Cụ thể, thông tin trên website của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đơn phương thông báo điều chỉnh quy chế cấm đánh bắt cá trên biển bao gồm một số vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam có hiệu lực từ 12 giờ ngày 1/5/2018 đến 12 giờ ngày 16/8/2018.
Hội Nghề cá Việt Nam cho rằng, hành động đơn phương ban hành Quy chế cấm đánh bắt cá của Trung Quốc trên biển Đông gây cản trở sản xuất trên biển của ngư dân, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và vùng biển vịnh Bắc Bộ, vi phạm các quyền lợi và lợi ích pháp lý của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế; trong đó có Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và các văn bản pháp lý quốc tế liên quan, đi ngược lại với tinh thần và lời văn của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002, không phù hợp với xu thế phát triển của quan hệ hai nước trong bối cảnh hiện nay, không có lợi cho hòa bình và ổn định ở khu vực.
Do vậy, Hội Nghề cá Việt Nam kịch liệt phản đối hành động đơn phương và không có giá trị pháp lý của Trung Quốc. Quyết định trên của Trung Quốc là vô giá trị.
Hội Nghề cá Việt Nam đề nghị các cơ quan chức năng có biện pháp hữu hiệu sớm ngăn chặn để chấm dứt hành động trên của Trung Quốc; cần thường xuyên có lực lượng tàu chấp pháp trên biển để tăng cường bảo vệ ngư dân, tạo điều kiện cho ngư dân an tâm sản xuất trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam./.
Tàu đánh cá Việt Nam. (Ảnh minh họa: Công Thử/TTXVN)
Chiều ngày 25/3/2018, tại thành phố Nürnberg, CHLB Đức, Trung tâm Văn hóa Phật giáo Việt Nam Franken đã phối hợp cùng chùa Vĩnh Nghiêm tổ chức Lễ cầu siêu tưởng nhớ 64 chiến sỹ hải quân Việt Nam đã hy sinh khi chiến đấu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trước hành động xâm lược của Trung Quốc ngày 14/3/1988 tại bãi Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
(Quang cảnh Lễ cầu siêu tại chùa Vĩnh Nghiêm Nuernberg)
Trước khi tiến hành các nghi lễ cầu siêu, ông Lâm Quang Ngọc, đại diện Trung tâm Văn hóa Phật giáo Việt Nam Franken đã phát biểu, ôn lại sự kiện bi tráng tại bãi Gạc Ma ngày 14/3/1988, thời điểm hải quân Trung Quốc đưa quân đánh chiếm bãi Gạc Ma và một số bãi đá khác thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Qúa trình chiến đấu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, 64 chiến sỹ Việt Nam đã anh dũng hy sinh, 11 người bị thương, 3 tàu hải quân Việt Nam bị đánh chìm.
Ông Ngọc cũng khẳng định tinh thần uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và bà con Việt kiều tại Đức nói riêng luôn phát huy truyền thống dân tộc, đoàn kết, xây dựng và bảo vệ đất nước. Cộng đồng người Việt Nam sinh sống, học tập tại Đức ghi ơn công lao của các chiến sỹ đã hy sinh để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời sẵn sàng góp phần cùng người Việt năm châu đấu tranh đánh đuổi kẻ thù xâm lược.
(Quang cảnh Lễ cầu siêu tại chùa Vĩnh Nghiêm Nuernberg)
Lễ cầu siêu được tổ chức trang trọng dưới sự chủ trì của Đại Đức Thích Giác Đạo, các tăng ni, phật tử và nhà chùa đã tiến hành các nghi lễ phật giáo linh thiêng, tụng kinh cầu cho quốc thái dân an, cầu vong linh các chiến sỹ đã hy sinh trong quá trình chiến đấu bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước được siêu sinh, tịnh độ.
Buổi lễ còn có sự tham gia đông đảo của bà con Việt kiều ở Nuernberg, Regensburg và các vùng lân cận. Buổi lễ cầu siêu kết thúc bằng nghi lễ cúng chúng sinh.
Thông qua việc tổ chức lễ cầu siêu tưởng nhớ 64 chiến sỹ hy sinh tại bãi Gạc Ma, ngoài ý nghĩa tâm linh, đây còn là dịp để Cộng đồng người Việt Nam tại CHLB Đức thể hiện tinh thần yêu nước./.
Moscow lên án các nước ủng hộ Anh trong vụ cựu điệp viên Nga bị đầu độc và thề sẽ đáp trả.
Cảnh sát Pháp bên ngoài Đại sứ Nga tại Paris sau khi có lệnh trục xuất. Ảnh: AP.
Bộ Ngoại giao Nga ngày 26/3 “phản đối quyết liệt” với các lệnh trục xuất của phương Tây, cho hay sẽ đáp trả “hành động thiếu thân thiện”, theo Guardian.
Tuyên bố này của Moscow được đưa ra sau khi Tổng thống Mỹ trục xuất 60 nhà ngoại giao của Nga, bị nghi là các nhân viên tình báo, để phản đối vụ đầu độc cựu gián điệp hai mang ở Anh. Nhà Trắng cũng ra lệnh đóng cửa lãnh sự quán Nga tại thành phố Seattle, do lo ngại về hoạt động phản gián, bởi nó nằm gần một căn cứ hải quân.
24 nước, trong đó có 16 nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), đồng loạt trục xuất các nhà ngoại giao Nga.
Ông Alexei Chepa, Phó chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề đối ngoại của Duma Quốc gia Nga, cho rằng Moscow “phải trục xuất các nhà ngoại giao của các nước này”. Ông cho hay Nga không cho phép mình “bị bắt nạt” và Moscow phải đáp trả mạnh hơn. Đại sứ quán Nga tại Mỹ còn đăng trên Twitter thăm dò về việc lãnh sự quán nào của Mỹ ở Nga nên bị đóng cửa, trong số các cơ quan đại diện ở St Petersburg, Yekaterinburg và Vladivostok.
Cựu điệp viên Nga Sergei Skripal và con gái Yulia bị đầu độc bằng chất độc thần kinh Novichok ở thành phố Salisbury, Anh hôm 4/3. Anh cáo buộc Nga đứng sau cuộc tấn công, nhưng Moscow nhiều lần bác bỏ. Anh trục xuất 23 nhà ngoại giao Nga còn Nga đáp trả bằng hành động tương tự với cùng số lượng nhà ngoại giao Anh.
24 nước trục xuất nhà ngoại giao Nga vì vụ đầu độc cựu điệp viên. Đồ họa: Việt Chung
Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ vạch trần âm mưu đằng sau lệnh cấm đánh cá vô giá trị Trung Quốc đơn phương áp đặt ở Biển Đông.
Ngày 22/3 vừa qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối Trung Quốc ban hành quy chế cấm đánh bắt cá trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam từ 1/5 – 16/8/2018.
Để làm rõ hơn vấn đề này, trả lời phỏng vấn VTC News, Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ cho rằng: “Phạm vi của lệnh cấm đánh cá mà Trung Quốc công bố hàng năm được coi là “bẫy pháp lý” nhằm hợp thức hóa tham vọng mở rộng vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho toàn bộ quần đảo Hoàng Sa”.
Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ.
– Ai cũng thấy Trung Quốc đơn phương cấm đánh bắt cá trên Biển Đông là phi lý, thể hiện sự ngang ngược, tư tưởng bá quyền, coi thường luật pháp quốc tế, coi thường chủ quyền của các quốc gia láng giềng. Sao họ có thể làm như thế, thưa ông?
Căn cứ vào nội dung Tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, chúng ta thấy rõ, sở dĩ Việt Nam kiên quyết bác bỏ Lệnh cấm đành bắt cá do Bộ Nông nghiệp Trung Quốc thông báo ngày 8/2/2018, vì có những lý do chính đáng sau đây.
Thứ nhất, lệnh cấm đánh bắt cá này là quyết định vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.
Lý do là phạm vi áp dụng của nó bao trùm lên toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo mà nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử chiếm hữu và thực thi chủ quyền, khi quần đảo này còn là đất vô chủ, chí ít là từ thế kỷ XVII.
Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền nảy là thật sự, rõ ràng, liên tục, hòa bình, phù hợp với nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ của Luật pháp quốc tế hiện hành. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý để chứng minh và bảo vệ chân lý đó.
Trong khi đó, Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, với 3 lần sử dụng vũ lực bất hợp pháp từ cuộc đổ bộ chớp nhoáng của Lý Chuẩn năm 1909; bí mật đưa quân chiếm đóng nhóm đảo phía Đông năm 1956 và huy động lực lượng Hải quân, Không quân xâm chiếm nhóm phía Tây năm 1974.
Sau khi thâu tóm xong toàn bộ quần đảo này, Trung Quốc áp dụng nhiều thủ đoạn, để hợp thức hóa “chủ quyền lịch sử” đối với “Tây Sa quần đảo”, như xây dựng các căn cứ quân sự kiên cố; ồ ạt đưa quân, dân ra quần đảo để tạo lập các đơn vị hành chính “Tam Sa”, ‘Tứ Sa”; công bố văn bản pháp lý quy định hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng các vùng biển và thềm lục địa bao lấy toàn bộ quần đảo; thường xuyên ra các lệnh, quyết định hành chính, lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm là một ví dụ điển hình.
“Phạm vi của lệnh cấm đánh cá mà Trung Quốc công bố hàng năm được coi là “bẫy pháp lý” nhằm hợp thức hóa tham vọng mở rộng vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.”
Tiến sỹ Trần Công Trục
Thứ hai, phạm vi của Lệnh cấm đánh cá này xâm phạm các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.
Theo quy định của UNCLOS 1982, Việt Nam công bố Tuyên bố về hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam, ngày 12/11/1982. Đó là một đường, bao gồm những đoạn thẳng gãy khúc, nối liền 11 điểm có tọa độ ghi trong Phụ lục kèm theo Tuyên bố này. Điều 8 của Luật biển Việt Nam 2012 quy định: “Đường có sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường có sở thẳng được Chính phủ công bố. Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn”.
Dựa vào Tuyên bố 12/11/1982, Việt Nam hoàn toàn có quyền xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa ven bờ lục địa hình cong chữ S của mình. Phạm vi mà Lệnh cấm đánh cá của Trung quốc có giới hạn phía Nam từ vĩ tuyến 12° vĩ Bắc, gộp một phần vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đoạn cơ sở thẳng nối các điểm A7, Tại Hòn Đôi, tọa độ: 12°39’0, 109°28’0; A8,Tại Mũi Đại Lãnh, tọa độ: 12°53’8, 109°27’2; A9, Tại Hòn Ông Căn, Tọa độ: 13°54’0, 109°21’0; A10, Tại đảo Lý Sơn, Tọa độ: 15°23’1, 109°09’0; A11, Tại đảo Cồn Cỏ, Tọa độ: 17°10’, 107°20’6.
Liên quan đến nội dung xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa tại khu vực này, tôi xin lưu ý đến hiệu lực của các thực thể địa lý của quần đảo Hoàng Sa trong việc mở rộng phạm vi các vùng biển và thềm lục địa theo quy định của UNCLOS 1982.
Trung Quốc đã và đang cố tình giải thích và áp dụng sai UNCLOS1982 để xác lập hệ thống đường cơ sở của quần đảo Hoàng Sa theo tiêu chuẩn xác lập đường cơ sở “quốc gia quần đảo”.
Họ công bố chính thức hệ thống đường cơ sở ở quần đảo này và hầu hết các chuyên gia tin rằng, Trung Quốc có thể sẽ tuyên bố cái gọi là đường cơ sở quần đảo ở Trường Sa như từng làm với Hoàng Sa (Đà Nẵng, Việt Nam) năm 1996, để biến các vùng nước bên trong đó trở thành “ao nhà” của họ.
Phạm vi của lệnh cấm đánh cá mà Trung Quốc công bố hàng năm được coi là một “bẫy pháp lý” nhằm hợp thức hóa tham vọng mở rộng vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
Tuy nhiên, “bẫy pháp lý” đó bị phát hiện và bị vô hiệu hóa không những trên thực tế mà còn cả về mặt lý thuyết. Đó là sự kiện giàn khoan HD 981 năm 2014, Trung Quốc cố tình hoạt động cách đảo Tri Tôn 16 hải lý, với lập luận rằng giàn khoan này hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của quần đảo Tây Sa của Trung Quốc.
Tuy nhiên, phía Việt Nam phát hiện và khẳng định giàn khoan HD981 cắm sâu vào trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam, không liên quan gì đến vùng biển quần đảo Hoàng Sa.
Video: Tàu đánh cá Trung Quốc bị tuần duyên Argentina truy đuổi
Về mặt lý thuyết, Phán quyết Tòa Trong tài tháng 7/ 2016 cũng bác bỏ cơ sở pháp lý của yêu sách “đường lưỡi bò” mà điểm mấu chốt là Trung Quốc khẳng định các thực thể địa lý ở các quần đảo nằm giữa Biển Đông đáp ứng đủ điều kiện để mở rộng phạm vi vàng đặc quyền kinh tế 200 hải lý xung quanh chúng.
Thứ ba, phạm vi lệnh cấm đánh cá còn vi phạm quy chế của vùng chồng lấn nằm ở cửa vịnh Bắc Bộ. Hiện nay, giữa Việt Nam và Trung Quốc đang đàm phán phân định vùng chồng lấn này.
Theo quy định của UNCLOS1982 và theo thực tiễn quốc tế, trong khi đàm phán phân định vùng chồng lấn, các bên liên quan không được phép đơn phương tiến hành bất kỳ một hoạt động nào.
Việc Trung Quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh cá ở vùng chồng lấn là trái với quy định của UNCLOS1982, bất chấp thông lệ quốc tế và hoàn toàn đi ngược lại cam kết chính trị của hai bên.
– Liên tục bị phản đối và vô giá trị, theo ông, dựa vào điều gì mà năm nào Trung Quốc cũng đưa ra lệnh cấm này?
Mặc dù liên tục bị phản đối và bị vô hiệu hóa, nhưng Trung Quốc năm nào cũng đưa ra lệnh cấm đánh cá phi lý này vì nhiều nguyên nhân.
Thứ nhất, để thực hiện tham vọng độc chiếm Biển Đông, Trung Quốc áp dụng và phối hợp đồng bộ các mũi tiên công lợi hai; trong đó không thể không nói đến mũi tiến công pháp lý.
Nhiều học giả không sai khi ví mũi tiến công này là “cuộc chiến pháp lý”. Họ tính toán rất kỹ để phát động “cuộc chiến pháp lý”, có tính toán kết hợp với các cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ lực và các cuộc chiến tranh khác mà dư luận được biết với tên gọi “chiến tranh mềm”, “xâm lược mềm”…
“Cuộc chiến tranh pháp lý” mà Trung Quốc tính toán triển khai trong thực tế nhằm thực hiện chủ trương chiến lược “giành lấy sự công nhận trên thực tế” yêu sách phi lý của họ trên biển, thông qua việc cố tình giải thích và áp dụng sai các quy định của Luật pháp và Thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước của LHQ về Luật biên năm 1982, để hợp thức hóa yêu sách “đường lưỡi bò” đầy tham vọng trong Biển Đông.
Tàu cá Trung Quốc.
Thứ hai, một trong số những nội dung của “cuộc chiến pháp lý” do Trung Quốc phát động là việc công bố chính thức đường cơ sở ở quần đảo Hoàng Sa năm 1996; trong đó họ công khai xác nhận họ sẽ làm điều tương tự cho các quần đảo khác trong Biển Đông, trong đó có quần đảo Trường Sa mà gọi là Nam Sa, vào lúc thích hợp.
Việc làm này được các chuyên gia pháp lý khẳng định Trung Quốc giải thích và áp dụng sai quy định của UNCLOS 1982, bằng cách dùng quy định về hệ thống đường cơ sở của các quốc gia quần đảo để áp dụng cho các quần đảo xa bờ không phải là quốc gia quần đảo.
Từ đó, Trung Quốc luôn luôn khẳng định họ có các vùng biển và thềm lục địa liền kề với 4 quần đảo (Tứ Sa) ở giữa Biển Đông. Sau khi chiếm đóng các thực thể địa lý không phải là đảo, họ bắt tay đầu tư cải tạo chúng thành các đảo nhân tạo cực lớn, việc đưa người ra sống trên các thực thể đó, xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế, dân sự, quân sự, thành lập các đơn vị hành chính (thành phố Tam Sa…) công bố các quyết định hành chính, cấc lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm nhằm chứng minh các thực thể địa lý đó hoàn toàn “thích hợp cho con người ở và có đời sống kinh tế riêng”.
Vì vậy, chúng có hiệu lực trong việc mở rộng phạm vi các vùng biển và thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý. Và với bằng chứng ngụy tạo đó, họ khẳng định rằng yêu sách “đường lưỡi bò” hoàn toàn có cơ sở pháp lý; thậm chí rất phù hợp với quy định của Công ước luật biển 1982.
– Những chiêu trò phi pháp này sẽ gây ra ảnh hưởng gì, thưa ông?
Mỗi khi họ giành lấy “sự công nhận trên thực tế” yêu sách phi lý do họ chính thức nêu ra, các bên phải chính thức công nhận yêu sách phi lý này và đó là cơ sở để họ đòi quyền “thăm dò, khai thác chung” tài nguyên trong vùng chồng lấn được tạo nên bởi yêu sách đầy tham vọng này.
Trong thực tế, họ sử dụng lý lẽ này để mặc cả, răn đe, hăm dọa, mua chuộc các quốc gia, các công ty, các cá nhân đang thực hiện các dự án đầu tư khai thác tài nguyên trong phạm vi hoàn toàn nằm trong các vùng biển hợp pháp của các quốc gia ven Biển Đông.
Video: Ngư dân Quảng Ngãi trúng mẻ cá hiếm
Với thực trạng Trung Quốc đầu tư xây dựng ở Trường Sa trong thời gian qua, đứng trước yêu yêu cầu thực hiện “Trung Hoa mộng” theo định hướng chiến lược xây dựng thành công “Chủ nghĩa Xã hội đặc sắc Trung Quốc” được nêu tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 19 và, đặc biệt là dư luận trong và ngoài nước đang đòi cắt bỏ “đường lưỡi bò” bởi tính chất bất hợp pháp, phi lý, phản khoa học của nó.
Trung Quốc sẽ tính đến việc sớm công bố hệ thống đường cơ sở ở Trường Sa theo cách mà họ thực hiện ở Hoàng Sa năm 1996 và họ có thể coi đây là một mũi tiến công chủ lực trong “cuộc chiến pháp lý” đã và đang phát động.
– Theo ông, những lệnh cấm này vô giá trị này ảnh hưởng thế nào đến ngư dân Việt Nam?
Trong nhiều năm qua, mặc dù Nhà nước Việt Nam kiên quyết phản đối và không thừa nhận giá trị hiệu lực của nó, nhưng phía Trung Quốc vẫn ngang nhiên sử dụng sức mạnh để ngăn cản các ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản trên các vùng biển thuộc các quyền hợp pháp của mình.
Bắt bớ, giam giữ, bắn cháy tàu thuyền, phá hủy ngư cụ, tịch thu hải sản,… là những hành xử bị nghiêm cấm bởi UNCLOS 1982 và đặc biệt là cố tình tước mất nguồn sống của biết bao ngư dân Việt Nam vô tội bao đời nay gắn bó với biển khơi, phải vượt qua sóng gió, bão bùng vì mưu sinh.
– Vậy ngư dân Việt có thể phớt lờ lệnh cấm vô giá trị này và chỉ cần tuân theo luật của Việt Nam và thế giới khi khai thác trong vùng biển chủ quyền?
Trong nhiều năm qua, ngư dân Việt Nam từng phớt lờ lệnh cấm phi pháp này. Họ vẫn ra khơi bám biển, vẫn góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong Biển Đông theo đúng luật pháp Việt Nam và Quốc tế, cho dù nhiều lần bị Trung Quốc cản phá, gây thiệt hại về người và của cải.
Tuy nhiên, để tránh được những thiết hại do phía Trung Quốc gây ra, các Cơ quan quản lý nhà nước, các lực lượng chức năng cần tiếp tục nghiên cứu đề xuất các phương án cụ thể, thiết thức để vừa bảo đảm an toàn cho các hoạt động bình thường, vì mưu sinh của ngư dân Việt Nam, vừa góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, bảo vệ các quyền hợp pháp đối với các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.
– Các biện pháp đó là gì?
Kiên quyết phản đối bất kỳ một động thái nào của Trung Quốc vi phạm các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam trong Biển Đông là việc làm hoàn toàn chính đáng và rất cần thiết trong bối cảnh có những tranh chấp phức tạp đang diễn ra hiện nay, nhất là trong trường hợp Trung Quốc xâm chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đang tìm mọi cách hợp thức hóa yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý.
Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở những tuyên bố cần thiết đó, theo tôi, Nhà nước Việt Nam nên tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ cho ngư dân và những người hoạt động trên biển có đủ các điều kiện cần thiết cả về vật chất, lẫn tinh thần và cả kiến thức, để luôn vững tin khi đối mặt trước những đe dọa, thách thức luôn luôn rình rập mỗi một chuyến bám biển ra khơi.
Điều quan trọng là, theo tôi, lệnh cấm bắt cá mà Trung Quốc hàng năm công bố, là một trong những nội hàm quan trọng của “cuộc chiến pháp lý” thực sự. Vì vậy, chúng ta nên tạo được sự đồng thuận trong dư luận.
Trước mắt, cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ mọi động thái của Trung Quốc để kịp thời có những cảnh báo và phân tích, thông tin cho mọi người hiểu rõ bản chất của “cuộc chiến pháp lý” này và không để Trung Quốc mua chuộc, lôi kéo, kích động, đe dọa hay gây sức ép.
Chiều ngày 18/3, chùa Từ Ân tại thủ đô Berlin – CHLB Đức đã tổ chức Đại lễ cầu siêu, tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh anh dũng trong trận chiến Gạc Ma (14/3/1988 – 14/3/2018) vì độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, hải đảo của Tổ quốc.
Với sự chủ trì của Thượng tọa Thích Từ Nhơn – trụ trì chùa Từ Ân, đại lễ cầu siêu được tổ chức trang trọng với sự tham dự đông đảo của các phật tử, đại diện Hội cựu chiến binh Việt Nam tại Berlin-Brandenburg, các hội đoàn và gần 100 bà con cộng đồng người Việt sinh sống tại Berlin và các vùng lân cận.
Mở đầu buổi lễ, Thượng tọa Thích Từ Nhơn cùng các tăng ni, phật tử và bà con kiều bào dành phút mặc niệm theo nghi thức Phật giáo và dâng hương bày tỏ lòng thành kính, tưởng nhớ các chiến sỹ đã ngã xuống trong các cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ biên giới, biển đảo của Tổ quốc. Trong không khí trang nghiêm, Thượng tọa Thích Từ Nhơn đọc diễn văn cầu siêu cho 64 anh hùng liệt sỹ, cầu mong cho vong linh các anh hùng liệt sỹ được siêu thoát.
Ban tổ chức đã thuật lại những diễn biến chính về sự kiện Gạc Mavà khắc họa chân dung các liệt sỹ trong trận chiến không cân sức này. Ngày 14/3/1988, khi các tàu vận tải cùng bộ đội Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đảo Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa thì nhiều tàu chiến Trung Quốc ngang ngược lao đến dùng pháo lớn bắn vào các tàu HQ-604 (đảo Gạc Ma), HQ-605 (đảo Len Đao) và HQ-505 (đảo Cô Lin). Quân Trung Quốc sau đó đổ bộ lên đảo Gạc Ma nhổ cờ Việt Nam, nổ súng vào các chiến sỹ của ta. Đó là các biên đội tàu chiến thật sự với hỏa lực mạnh của Trung Quốc, trong khi các tàu Việt Nam chỉ là loại hải vận và đa số chiến sỹ trên tàu là công binh làm nhiệm vụ xây dựng đảo, không phải lính chiến đấu, trong tay chỉ có cuốc, xẻng, xà beng. Cuộc chiến không cân sức đã cướp đi sinh mạng của 64 chiến sĩ. Những đồng đội của các anh bị thương giữa đạn pháo và sóng biển 30 năm đã trôi qua, sự kiện lịch sử đau thương xảy ra vào ngày 14/3/1988 vẫn còn nguyên giá trị và in đậm trong tâm khảm người dân Việt Nam.
Các cựu chiến binh, các tăng ni, phật tử và bà con cộng đồng người Việt tham dự đại lễ cầu siêu bày tỏ sự xúc động và lời cảm ơn chân thành tới chùa Từ Ân cùng bà con người Việt tại Berlin đã tổ chức Đại lễ cầu siêu cho những anh hùng đã hy sinh thân mình vì biên cương, biển đảo của Tổ quốc. Theo Thượng tọa Thích Từ Nhơn, đại lễ cầu siêu được tổ chức hàng năm cũng với mục đích để các thế hệ ngày nay sẽ mãi khắc ghi những công ơn to lớn và luôn thể hiện tấm lòng tri ân sâu sắc trước sự hy sinh cao cả của những anh hùng liệt sỹ.
Trong Đại lễ cầu siêu, các thành viên hội Phật tử của chùa Từ Ân cũng đã thể hiện nhiều ca khúc như “Cùng anh tiến quân trên đường dài,” “Gần lắm Trường Sa ơi”… để ca ngợi sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước.
Theo phóng viên TTXVN tại Đức, trong chương trình quảng bá du lịch Việt Nam tại khuôn khổ Hội chợ Du lịch quốc tế – ITB Berlin 2018, từ ngày 7 đến 11/3, một số gian hàng du lịch Việt Nam đã tổ chức giới thiệu triển lãm bản đồ Việt Nam với khách tham quan.
Giới thiệu bản đồ Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam với du khách quốc tế. (Ảnh: Thanh Bình/TTXVN)
Theo phóng viên TTXVN tại Đức, trong chương trình quảng bá du lịch Việt Nam tại khuôn khổ Hội chợ Du lịch quốc tế – ITB Berlin 2018, từ ngày 7 đến 11/3, một số gian hàng du lịch Việt Nam đã tổ chức giới thiệu triển lãm bản đồ Việt Nam với khách tham quan.
Bên cạnh việc giới thiệu và quảng bá các sản phẩm du lịch, dịch vụ và biểu diễn các chương trình văn hóa nghệ thuật truyền thống, hoạt động triển lãm bản đồ Việt Nam đã góp phần tích cực quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, giúp bạn bè quốc tế có thêm nhiều thông tin hữu ích và chính xác về du lịch Việt Nam cũng như về chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Rất nhiều du khách đến với gian hàng du lịch Việt Nam đều bày tỏ sự quan tâm, có thiện cảm với các gói sản phẩm du lịch và triển lãm bản đồ.
Hội chợ Du lịch quốc tế – ITB Berlin 2018 chính thức mở cửa đón khách từ ngày 7 đến ngày 11/3 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Messe ở thủ đô Berlin.
Giới thiệu bản đồ Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam với du khách quốc tế. (Ảnh: Thanh Bình/TTXVN)
Tham dự Hội chợ ITB 2018 lần này có hơn 10.000 doanh nghiệp, công ty du lịch, lữ hành đến từ 189 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó Việt Nam tiếp tục góp mặt tại sự kiện lớn này với hơn 40 doanh nghiệp du lịch hàng đầu trong nước tham gia.
Ban tổ chức cho biết trong 5 ngày diễn ra hội chợ, các đơn vị, doanh nghiệp du lịch các nước trên thế giới sẽ trưng bày, giới thiệu và quảng bá các sản phẩm du lịch của mình tới các du khách tham quan trong những gian hàng có thiết kế riêng, mang nét truyền thống của từng nước trên diện tích hơn 160.000m2.
ITB được đánh giá là sân chơi bổ ích, phản ánh toàn diện giá trị của ngành công nghiệp du lịch thế giới. Tại đây, các doanh nghiệp, công ty du lịch lữ hành nhiều nước trên thế giới có thêm cơ hội được giao lưu, mở rộng quan hệ cũng như tìm kiếm thêm nhiều đối tác kinh doanh mới././
Cuốn sách “Trường Sa-Nơi ta đến” của nữ nhà báo Nguyễn Mỹ Trà (Đài Tiếng nói Việt Nam) là cuốn sách ảnh giàu nữ tính, mang tới những thông điệp dịu dàng về tình yêu Tổ quốc.
Cuốn sách tập hợp khoảng 150 bức ảnh nghệ thuật, tái hiện vẻ đẹp trong trẻo, tráng lệ của Trường Sa qua nhiều thời khắc: một cơn dông, cây cầu vồng, khung trời qua ô cửa, tiếng ê a vọng ra từ những lớp học bên bờ sóng trong tiếng ngân nga của chuông chùa, một mầm cây đang vươn mình ra ánh sáng, một cơn mưa chập chờn phía xa khơi… Nhưng bên cạnh đó là cuộc sống khắc nghiệt in hằn trên làn da của người lính đảo, là cảm xúc nhớ đất liền và nhớ về những người đã ngã xuống.
Cuộc sống của trẻ em Trường Sa được tác giả đặc biệt chú ý. Các em học thế nào, chơi ra sao, sinh hoạt đời thường của các em có gì khác với trẻ em trong đất liền? Các em có cảm thấy hạnh phúc? Qua những khuôn hình dung dị và ánh mắt trẻ thơ, bạn đọc có thể tìm thấy được câu trả lời.
“Trường Sa-Nơi ta đến” khiến bất cứ ai đã từng đặt chân đến Trường Sa hoặc chỉ biết Trường Sa trong những câu chuyện kể đều rung lên những cảm xúc đẹp đẽ. Tình yêu quê hương, tình yêu biển đảo ngân vang từ những khoảnh khắc vừa đời thường, dung dị, vừa cảm động, hấp dẫn.
Ông Nguyễn Thế Kỷ, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam ghi nhận sau những chuyến đi Trường Sa, phóng viên Mỹ Trà đã có một triển lãm những hình ảnh về quần đảo này ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Nữ nhà báo Nguyễn Mỹ Trà. (Ảnh tác giả cung cấp)
Sau những cuộc triển lãm như thế, Mỹ Trà đã in thành một cuốn sách. Đây là cách làm lan tỏa tình yêu Trường Sa, Hoàng Sa cũng như quê hương, đất nước tới cộng đồng, đặc biệt là trong lứa tuổi học sinh, sinh viên; từ đó góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của tuổi trẻ đối với Tổ quốc.
Cuốn sách “Trường Sa-Nơi ta đến” được thể hiện ở dạng song ngữ Anh-Việt, phần dịch do các biên tập viên Kênh tiếng Anh 24/7 (VOV5-Đài Tiếng nói Việt Nam) đảm nhận.
Sách được nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành, trong Tủ sách Biển đảo Việt Nam./.
The Comprehensive and Progressive Trans-Pacific Partnership, a new version of the Trans-Pacific Partnership will be signed by 11 member countries Thursday in Chile. The agreement is expected to bring new opportunities for a free trade area stretching from the North America to Asia and a new leverage for global trade.
The Comprehensive and Progressive Trans-Pacific Partnership, CPTPP, also known as TPP-11, was agreed by 11 countries on the sidelines of the APEC Summit in Da Nang last November. At a meeting in Tokyo in January, the 11 countries discussed pending issues, reviewed legal matters, and finalized procedures to move toward the official signing which will take place on Thursday.
The CPTPP marks a turning point in global trade, reflecting a great effort led by Japan following the US’s withdrawal.
New-generation trade agreement advantages
The new agreement will eliminate more than 98% of tariffs in a region with a GDP of 13 trillion USD, accounting for 13.5% of the global economy. Last year, trade between the 11 CPTPP member countries totaled nearly 360 billion USD.
The CPTPP retains principal elements of the TPP – investment liberalization, investor protection, government procurement, and intellectual property rights. Under the deal, countries are required to open their doors to companies and investors of other members and provide them equal treatment and preferences to create fair competition between foreign and domestic enterprises. The deal includes provisions that create job opportunities for workers, farmers, traders, and consumers.
For developing countries like Malaysia, Vietnam, Singapore, Peru, and Chile, the CPTPP brings about opportunities to expand export markets. In return, provisions concerning government procurement and intellectual property will attract developed countries. The CPTPP is open to new membership, even by non-Asia-Pacific countries, and would even welcome the return of the US.
Multilateral trade inevitable
The trade pact is set to take effect in the beginning of 2019 after it is ratified by at least six member countries. The signing of the deal represents a spectacular recovery from the collapse of the TPP, showing that Asian Pacific countries are determined to boost cooperation and integration. The deal proves that multilateral trade freedom is an irreversible trend. It defies US President Donald Trump’s motto “America first”.
The CPTPP with its high standards is likely to become a model for other multilateral trade deals like the Regional Comprehensive Economic Partnership led by ASEAN. The CPTPP is expected to expand its membership. The Republic of Korea, Taiwan (China), Thailand, Indonesia, and the Philippines have already expressed an interest in joining./.
Prime Minister Nguyen Xuan Phuc and his spouse and a high-level delegation left Hanoi on Sunday for an official visit to New Zealand from March 11 -14 at the invitation of New Zealand Prime Minister Jacinda Ardern.
Prime Minister Nguyen Xuan Phuc
The Vietnamese PM will also make an official visit to Australia and attend the ASEAN-Australia Special Summit in Sydney from March 14-18 at the invitation of Australian Prime Minister Malcolm Turnbull.
Vietnam and New Zealand set up diplomatic relations in 1975. Vietnam is New Zealand’s 16th largest trade partner with the two-way trade hitting about 1.2 billion USD in 2017. The two nations aim to raise bilateral trade to 1.7 billion USD by 2020, making economic cooperation a pillar of their relationship.
Meanwhile, Vietnam and Australia have celebrated the 45th anniversary of their diplomatic ties early this year. The two nations are enjoying sound bilateral trade with average annual growth standing at 12.5 percent and trade value hitting over 9 billion USD in 2017. Australia has landed 378 projects valued at 1.7 billion USD in Vietnam, focusing on industry and construction, services, education, processing industry and agro-forestry-fisheries sector.
Vietnam and Australia are expected to elevate their relationship to a strategic partnership during Prime Minister Nguyen Xuan Phuc’s visit./.
Nhiều học giả cho rằng dường như đang có hai châu Á: Về kinh tế, đây là khu vực phát triển năng động bậc nhất thế giới, có xu hướng trở thành trung tâm quyền lực của thế giới trong thế kỷ XXI; liên kết, hợp tác kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ. Nhưng về an ninh, châu Á là nơi hội tụ nhiều điểm nóng tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, là địa bàn cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và là nơi chủ nghĩa khu vực và các thể chế hợp tác an ninh đa phương phát triển khó khăn.
Đặc biệt, bốn điểm nóng ở Đông Á là bán đảo Triều Tiên, biển Hoa Đông, Đài Loan và Biển Đông đều tiềm ẩn nguy cơ xung đột kéo theo sự can dự trực tiếp của hai cường quốc hàng đầu thế giới là Mỹ và Trung Quốc (TQ). Đây là đặc điểm nổi bật của khu vực châu Á – Thái Bình Dương từ nhiều năm qua, nhưng trong năm 2018, xu thế này sẽ rõ ràng hơn.
Nếu như năm 2017, quan hệ Trung – Mỹ cơ bản ổn định do hai bên vẫn đang thăm dò, thử các giới hạn của nhau và đều có nhu cầu tạm tập trung vào các vấn đề nội bộ thì sang năm 2018, mặt cạnh tranh, cọ xát chiến lược sẽ bộc lộ rõ hơn. Sau 1 năm, chính quyền Trump dường như đã nhận ra rằng TQ sẽ không bao giờ đánh đổi điều gì lấy vùng đệm chiến lược ở Triều Tiên. Cũng như các chính quyền trước, chính quyền Trump cũng đã bắt đầu thất vọng về sự hợp tác của TQ. Trong Chiến lược An ninh quốc gia công bố ngày 18/12/2017, Mỹ đã xác định đích danh TQ là đối thủ chiến lược. Trong năm 2018, chắc chắn các mâu thuẫn lợi ích mang tính bản chất giữa Mỹ và TQ về các vấn đề an ninh khu vực sẽ bộc lộ rõ hơn, đi liền theo đó là sự gia tăng cọ xát về kinh tế – thương mại. Ít có khả năng xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, nhưng chắc chắn sức ép bảo hộ từ chính quyền Trump đối với TQ sẽ tăng hơn so với năm 2017. Những động thái ép thuế phá giá đối với thép xuất xứ từ TQ và phản đối WTO công nhận quy chế kinh tế thị trường cho thấy trong năm 2018, chính quyền Trump sẽ mạnh tay hơn với TQ trong chính sách kinh tế thương mại.
Về phần mình, sau Đại hội 19, TQ sẽ bộc lộ tham vọng lớn trong việc khẳng định vai trò “cường quốc trung tâm” ở khu vực, quyết liệt hơn trong việc cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ để tạo đà vươn lên trở thành cường quốc thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà Báo cáo chính trị Đại hội 19 khẳng định “TQ đã tiến gần hơn bao giờ hết tới vũ đài trung tâm thế giới”. Trong năm 2017, để bảo đảm môi trường ổn định nhằm tập trung tổ chức Đại hội 19, TQ tạm ứng xử hòa hoãn với Mỹ. Nhưng sang năm 2018, một Tập Cận Bình đầy quyền lực và tham vọng sẽ không dễ gì xuống nước trước một nước Mỹ “đang trên đà đi xuống” và sắp hết thời theo cách nhìn của người TQ.
Bên cạnh đó, việc Mỹ – Nhật – Ấn – Australia tăng cường hợp tác lực lượng thông qua Chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” chắc chắn sẽ dẫn tới các phản ứng quyết liệt hơn của TQ. TQ sẽ tiếp tục củng cố, tăng cường quan hệ Trung – Nga để tạo thành một trục đối trọng với hệ thống đồng minh và đối tác an ninh chủ chốt của Mỹ ở khu vực, đồng thời gia tăng chính sách “cây gậy và củ cà rốt” với các nước láng giềng, khu vực để lôi kéo các nước này về phía TQ. Cạnh tranh chiến lược Trung – Mỹ, Trung – Nhật, Trung – Ấn sẽ gay gắt hơn trước. Các điểm nóng tiềm tàng như bán đảo Triều Tiên, Biển Đông và biển Hoa Đông sẽ tiếp tục là đấu trường để các nước lớn kiềm chế lẫn nhau. Môi trường chiến lược khu vực do vậy sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường hơn năm 2017./.
A group of four allied nations – Australia, India, Japan and the United States – intends to maintain open access to the South China Sea for international use, despite China’s growing control. These countries will probably make tough claims to help China’s maritime rivals, and hold joint naval exercises near the disputed waterline in 2018.
(USS Carl Vinson aircraft carrier)
Australia, India, Japan and the United States are likely to adopt these measures rather than directly challenge China’s activities, such as Beijing’s deployment of military facilities in the region of 500 small islands in the South China Sea.
Professor Stuart Orr, who specializes in strategic management at Deakin University in Australia, said: “First, active presence may be driven by the United States, followed by India, whereas Japan plays the same role as Australia – providing advanced logistics support. ”
The quartet wants to keep the resource-rich marine area of 3.5 million square kilometers open, while maintaining economic ties with Beijing, experts say. Many countries are still traveling, fishing and exploring oil and gas in the South China Sea.
In November, the four coalition leaders met in Manila to discuss keeping the openness in the South China Sea. Australia and Japan then in turn called for a “law-based order” and “respect international law “in the South China Sea.
Indian Prime Minister Narendra Modi told leaders from 10 Southeast Asian countries, including four countries in dispute with China over territorial waters, that India is committed to work with them on maritime issues.
Ben Ho of the Military Research Program at Singapore’s S. Rajaratnam School of International Studies, said: “The most practical thing they can do is to issue some statement on the South China Sea dispute. I do not think they will name China specifically in such a statement. ”
Experts say the combination of the four nations could be achieved by bringing naval ships to the South China Sea, particularly along the coasts of smaller nations that want to fight Chinese ships.
The United States, the world’s leading military power, has deployed naval vessels to the South China Sea five times under President D. Trump, extending its predecessor’s activities to affirm Washington’s views on freedom of navigation in the South China Sea. On the issue of securing maritime security in the South China Sea, Daniel Russel said the United States has been and will continue to deploy forces to international waters in the South China Sea, deploy carriers and even F35 fighters. The purpose of this expedition is to encourage small waterways to travel freely in international waters without fear of any “bullying” forces. However, Russell noted that the United States continued to hold neutral in the face of the territorial disputes in the South China Sea. The United States will not be involved in judging “to whom the island belongs,” but instead the United States is concerned only with international norms and laws. The United States wants countries, especially powerful ones (in particular China) to respect international law, to ensure a stable environment in the South China Sea.
Oh Ei Sun, an associate professor of international studies at Nanyang University in Singapore, said Japan might follow the United States as it tries to “get rid of self-imposed restrictions”.
Tokyo commissioned a prototype helicopter to cross the disputed waters in June 2017. Japan also challenged China on the islands of the East China Sea. Tokyo’s leaders are working to change the constitution so that the armed forces have more power. “You will see Japan trying to make port visits more often and actually take part in military drills, training, or similar things for countries,” said Professor Oh.
Analysts also say India and Australia will also support any military move to alert China. According to Professor Orr, Australia can become a place to keep track of “what’s happening” and update information.
According to Sameer Lalwani, deputy director of the South Asian Program at the US-based Stimson Research Center, India will conduct port visits and participate in any naval patrols. India is competing with China for geopolitical control in South and Central Asia. “India can also increase the number of military exercises, both at national level and with other countries, to improve its capabilities, strengthen cooperation and signal capabilities,” Lalwani said. Greater cooperation with the United States will send a stronger message”.
Professor Stephen Nagy, who studied politics and international studies at Christian International University in Tokyo, says that Japan will “continue to improve capabilities of Asian allies. New equipment and two naval destroyer will be deployed to Vietnam this year, as a message of deepening ties between the two countries.”
Vietnam is considered the most active nation in the South China Sea dispute with China. Nagy said: “As the United States deploy ships to Vietnam, Vietnam and other countries are invited to cooperate on security.”
According to experts, India has previously helped Vietnam to explore oil and gas. This country can rely on the quartet to have the opportunity to develop economy, technology and diplomatic relations.
China’s response
Ho said China is expected to react to the quartet’s actions at the same time. If these countries make a statement, China will use words to retaliate. If the countries hold military exercises, China could double the consolidation of the islands that Beijing holds in the Paracel and Spratly Islands chain.
Still, according to Ho, it is unlikely that India and Japan will accelerate the problem in general as they have to deal with their disputes involving China. India and China are disputing two areas in the mountainous border.
China’s main threat to the “Quartet” may be economic potential. For example, Australia regards China as its No. 1 trading partner, with exports rising by 27% in 2016 and 2017. Therefore, a naval exercise is unlikely to happen. “Canberra has too many economic links with Beijing to take such a strong measure. Ultimately, China remains Australia’s leading trading partner, both in terms of imports and exports, and Canberra will not do anything drastic to harm the relationship”./.
Việc tàu sân bay USS Carl Vinson đến Việt Nam không chỉ phản ánh một mốc quan trọng mới trong quan hệ quốc phòng Việt-Mỹ mà còn thể hiện chiến lược quốc phòng của Mỹ với khu vực.
Vào đầu tuần tới, tàu USS Carl Vinson sẽ ghé thăm thành phố Đà Nẵng tại Việt Nam. Trên thực tế, ý tưởng về chuyến thăm này lần đầu xuất hiện trong tuyên bố chung sau cuộc gặp mặt giữa Tổng thống Donald Trump và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hồi tháng 5/2017.
Sau đó nó được đề cập cụ thể hơn trong cuộc hội đàm giữa Bộ trưởng Quốc phòng Jim Mattis và người đồng cấp Việt Nam Ngô Xuân Lịch vào tháng 8/2017. Trang The Diplomat nêu lên 3 ý nghĩa từ sự kiện này.
Đầu tiên, việc tàu USS Carl Vinson đến Việt Nam nằm trong một loạt hành động nhằm thúc đẩy quan hệ quốc phòng Việt-Mỹ vốn đang trong đà phát triển những năm qua. Trước chuyến đi của tàu sân bay này, Hải quân Mỹ đã cử nhiều đoàn tàu khác đến Việt Nam. Cả hai bên thống nhất tiếp tục mở rộng những nỗ lực hợp tác khi Mỹ thay đổi chính quyền. Dưới thời chính quyền Trump, việc cử tàu sân bay ghé thăm Việt Nam là biểu tượng có ý nghĩa mạnh mẽ hơn nhằm chứng minh cam kết của Mỹ đối với mối quan hệ với Việt Nam.
Tuy nhiên, cần lưu ý đây không chỉ là sự kiện nhất thời, mà là diễn biến của quá trình tích hợp dần sự hiện diện của tàu sân bay trong mối quan hệ. Tháng 10/2017, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chính Vịnh trở thành quan chức Việt Nam cấp cao nhất chính thức thăm một tàu sân bay Mỹ, khi đó cũng là tàu USS Carl Vinson. Vào cuối tháng 2 vừa qua, Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Phạm Quang Vinh cũng thăm tàu sân bay USS George H.W. Bush khi ông công tác tại Norfolk, bang Virginia.
Ý nghĩa thứ hai, một chuyến thăm của tàu sân bay là diễn biến quan trọng đối với chiến lược quốc phòng khu vực của Mỹ. Tàu sân bay chính là phương tiện để tăng cường sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ trong khu vực. Đây là điều quan trọng trong bối cảnh các tranh chấp và diễn biến căng thẳng ở Biển Đông.
Trên thực tế, trước khi tàu USS Carl Vinson đến Việt Nam thì nó cũng dừng chân ở Philippines. Ngoài ra, Hải quân Mỹ cũng tiến hành nhiều hoạt động phối hợp với các bên liên quan khác trong tranh chấp trên Biển Đông, như tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS Wayne E. Meyer đã đến Kota Kinabalu, Malaysia, vào tuần trước.
Ngoài ra, những chuyến thăm này cũng nhấn mạnh vai trò của tàu USS Carl Vinson với việc hoạch định hành động quốc phòng của Mỹ. Khi Washington đang cố gắng giải toả những gánh nặng trong việc vận hành các đội tàu, thể hiện qua những tai nạn gần đây của Hạm đội 7, thì việc Hạm đội 3 tham gia nhiều hơn ở khu vực Tây Thái Bình Dương là một giải pháp. Kể từ năm 2016, sáng kiến này khiến việc vận hành linh hoạt hơn với những tàu được chỉ định làm nhiệm vụ là tăng cường sự hiện diện của Mỹ.
Ý nghĩa cuối cùng, chuyến thăm này phản ánh nhiều ý đồ quan trọng đối với tình hình khu vực. Những bên liên quan chính ở Đông Nam Á có thể chứng kiến một tình hình Biển Đông căng thẳng hơn, các hành động khiêu khích xuất hiện nhiều hơn sau một năm 2017 được cho là tương đối “lặng sóng”.
Có nhiều sự kiện dẫn đến dự đoán này, như Trung Quốc đã kết thúc giai đoạn củng cố quyền lực sau kỳ Đại hội đảng năm ngoái; còn chính quyền Trump đang tỏ ra sẵn sàng cứng rắn hơn với Trung Quốc khiến Bắc Kinh bị dồn vào thế trả đũa. Trong bối cảnh đó, sự hiện diện của tàu sân bay Mỹ chính là cách củng cố quan điểm của Washington với tình hình Biển Đông./.
Truyền thông Philippines và Australia ngày 27/2 đưa tin rằng một nhóm tàu tấn công của Mỹ, do tàu sân bay USS Carl Vinson dẫn đầu, đã đi qua các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông từ hôm 23/2 và đã hiện diện trong vùng biển thuộc Quần đảo Trường Sa hôm 25/2.
Trang mạng Philstar.com của Philippines trích lời Thiếu tá Tim Hawkins, người phát ngôn của Hải quân Hoa Kỳ, cho biết: “Đây là những hoạt động thường lệ. Hải quân Hoa Kỳ là một lực lượng hải quân toàn cầu. Sự hiện diện của chúng tôi là nhằm đảm bảo rằng các vùng biển được thông thoáng”.
Đây là lần thứ hai trong tháng này tàu sân bay của Hoa Kỳ vào vùng Biển Đông. Theo giới chức Mỹ, trước đó tàu Carl Vinson đã tiến hành một sứ mệnh thường lệ đi xuyên qua khu vực Biển Đông vào ngày 14/2, động thái được hãng tin AFP đánh giá là một thông điệp trực tiếp Mỹ gửi tới Trung Quốc.
USS Carl Vinson được ví như một thành phố nổi, có cả một khu phẫu thuật nha khoa, phòng tập thể dục, một quán cà phê Starbucks, phòng karaoke đêm thứ Sáu, thậm chí có cả phòng cầu nguyện cho các tín đồ Công giáo, Tin lành, Phật tử. Có khoảng 3000 nhân viên thường trực và 2000 người trên tàu sân bay điều khiển và phục vụ 70 máy bay, bao gồm F-18, EA 18 G Growlers, trực thăng Nighthawk, máy bay trinh sát.
USS Carl Vinson là siêu tàu sân bay lớp Nimitz thứ ba của Mỹ, đặt theo tên nghị sĩ Carl Vinson để ghi nhận sự đóng góp của ông cho hải quân Mỹ. Tàu được hạ thủy năm 1980 và đi vào biên chế sau đó hai năm. USS Carl Vinson có lượng giãn nước 103.000 tấn, dài 333 m và rộng 77 m, đủ sức chở theo tối đa 90 máy bay các loại. Đóng vai trò là kỳ hạm của Nhóm tác chiến tàu sân bay số 1 (CSG-1), tàu USS Carl Vinson đang hoạt động ở khu vực Tây Thái Bình Dương.
Dù phía Mỹ chưa có thông báo chính thức, Thông tấn xã Việt Nam hôm 25/2 cũng đưa tin rằng đoàn tàu hải quân Mỹ gồm tàu sân bay USS Carl Vinson, tàu tuần dương USS Lake Champlain và tàu khu trục USS Wayne E. Meyer “sẽ thăm thành phố Đà Nẵng từ ngày 5 đến 9/3”. Theo tờ New York Times, nhóm tàu này “đánh dấu sự hiện diện lớn nhất của lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam kể từ khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975”./.
Đã xuất hiện những động thái bất ngờ của Anh được cho là “thách thức các tuyên bố chủ quyền” của Trung Quốc. Nhưng liệu nó sẽ đi đến đâu?
Tàu HMS Sutherland dự kiến đi ngang qua Biển Đông vào tháng 3-2018 – Ảnh: Hải quân hoàng gia Anh
“Biển Đông không phải chỗ cho sự phiêu lưu khờ khạo” – bài xã luận trên báo South China Morning Post (Hong Kong) ngày 22-2 giật tít, đề cập câu chuyện về con tàu khu trục HMS Sutherland của Anh dự kiến đi ngang qua Biển Đông vào tháng 3 này.
Ủng hộ FONOPs
Báo chí Trung Quốc đang nóng mặt về sự hiện diện của HMS Sutherland, nếu mọi thứ diễn ra đúng như dự kiến. Tờ Hoàn cầu Thời báo hôm 14-2 đăng bài viết chỉ trích quyết định điều tàu chiến tới Biển Đông. Tờ báo Trung Quốc chế nhạo rằng người Anh muốn chơi trội: “Nếu không phải là khiêu khích, Hải quân hoàng gia Anh nên hành xử chừng mực khi di chuyển qua Biển Đông. Bằng việc hành động cứng rắn với Trung Quốc, Bộ Quốc phòng Anh đang cố thể hiện sự tồn tại của họ và thu hút sự chú ý”.
Phản ứng trên diễn ra chỉ một ngày sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Anh Gavin Williamson, trong một chuyến thăm Úc, xác nhận kế hoạch điều HMS Sutherland đến Biển Đông. Theo đó, chiếc tàu khu trục Type 23 của Hải quân hoàng gia này sẽ đi ngang Biển Đông trên đường trở về từ Úc.
Ông Williamson không xác nhận có thực hiện cái gọi là quyền đi lại vô hại xung quanh 12 hải lý của các thực thể do Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng trái phép hay không, nhưng đó chính là một hoạt động tự do hàng hải (FONOPs) tương tự những chuyến tàu của Mỹ từ thời cựu tổng thống Barack Obama.
Bộ trưởng Quốc phòng Anh cũng không che giấu động cơ rằng Anh và Úc cũng như các quốc gia khác sẽ “khẳng định giá trị” ở Biển Đông. Tuyên bố của Bộ Quốc phòng Anh lần này, trùng hợp hay cố ý, đã diễn ra đúng thời điểm mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc căng thẳng xung quanh vấn đề Biển Đông. Ông Williamson trong đó cũng khẳng định “hoàn toàn ủng hộ cách tiếp cận của Mỹ (đối với FONOPs), chúng tôi ủng hộ những gì Mỹ đã và đang làm”.
Đối tác lớn
Sự lấn cấn của Anh được thể hiện ở chính con bài HMS Sutherland, vì Trung Quốc cũng dĩ nhiên là một đối tác lớn, một sự lựa chọn khả thi về mặt kinh tế để Anh không lệ thuộc vào EU. Báo Asia Times gọi đó là khái niệm “global Britain” (Anh toàn cầu) để nói về nỗ lực đa dạng hóa lựa chọn của chính quyền bà May, và điều này đẩy Anh vào tình thế tương tự các nước láng giềng của Trung Quốc: một mặt đối chọi với các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh, một mặt vẫn phải để ngỏ khả năng hợp tác kinh tế.
Tìm điểm cân bằng
Rõ ràng với động thái này, người Anh đang đi ngược lại “kỷ nguyên vàng” trong quan hệ Anh – Trung Quốc, khái niệm được đưa ra khi Thủ tướng Anh David Cameron tiếp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình năm 2015. Nó cũng là một chuyển động không thực sự được đánh giá cao về mặt thực tế, bởi chính quyền Thủ tướng Theresa May lúc này còn trăm thứ lo. Còn nói theo cách châm biếm như Hoàn cầu Thời báo thì chưa chắc HMS Sutherland thực hiện được chuyến đi Biển Đông bởi ngân sách bị cắt giảm. Dự kiến đến hết đêm nay (23-2), bà May sẽ ở nhà riêng cùng với 11 đồng sự cấp cao của mình bàn về vấn đề Anh rời EU (Brexit).
Brexit vẫn đang là ưu tiên trong các bản tin chính trị Anh lúc này, với mấu chốt là các điều khoản cụ thể về tự do đi lại, luật pháp và đặc biệt là thương mại. Chính quyền Scotland và ngay cả quan chức Anh cũng chưa thống nhất được rằng họ sẽ rời EU theo cách nào, để Brexit không phải là đòn giáng chết người vào lĩnh vực thương mại. Có thể thấy rằng Thủ tướng May đang vừa ra sức kêu gọi sự nhất trí nội bộ về Brexit, vừa tranh thủ tận dụng lợi ích chính trị để đa dạng hóa các lựa chọn thương mại trong trường hợp họ không rời khỏi EU với những thỏa thuận như mong muốn.
Để tận dụng lợi ích thương mại từ các đồng minh và bạn hữu lâu nay, Anh phải sát cánh với Mỹ và Úc trong những lĩnh vực khác, mà chính trị và yếu tố Trung Quốc là điển hình. Vì thế không ngạc nhiên khi đầu tuần này, Ngoại trưởng Úc Julie Bishop và nhà đàm phán Nhật Bản Kazuyoshi Umemoto đều “hoan nghênh” ý tưởng rằng hậu Brexit, Anh sẽ tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP (nay có tên mới là Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương – CPTPP).
Nghiêm túc hay PR?
Sự tham gia của Anh vào câu chuyện Biển Đông ở thời điểm này khiến nhiều nhà quan sát hoài nghi. Trang phân tích The Interpreter của Cơ quan nghiên cứu độc lập Lowy Institute (Úc) cho rằng người Anh nên cân nhắc tham gia các đợt tuần tra chung để đạt hiệu quả thông điệp cao về FONOPs hơn là thực hiện các nỗ lực đơn lẻ như vậy. Trang này khẳng định nếu Anh muốn tạo ảnh hưởng lên Trung Quốc và khu vực châu Á – Thái Bình Dương thì cần thiết phải duy trì một sự hiện diện thường xuyên, bền vững, chứ đừng chỉ là một chiêu PR./.
Trong khi các quốc gia ở nhiều nơi trên thế giới đang giảm chi tiêu cho quân sự, nhiều quốc gia ở Đông Nam Á đang đi theo chiều hướng ngược lại. Tổng mức chi cho quốc phòng của các nước ASEAN tăng gấp đôi trong 15 năm qua, với các nước như Indonesia và Thái Lan có mức tăng chi quân sự 10% mỗi năm.
Việc gia tăng chi cho quân sự gắn chặt với việc tăng cường mua sắm vũ khí. Một số nước Ðông Nam Á đang chi nhiều tiền cho vũ khí và mua các tàu khu trục nhỏ, xe tăng, máy bay trực thăng, máy bay tiêm kích và tàu ngầm. Nhập khẩu vũ khí của Việt Nam đã tăng gần 7 lần trong thập kỷ qua.
Nhiều cơ quan truyền thông và nhà quan sát đã nhìn nhận việc thay đổi trên như là một cuộc chạy đua vũ trang ở Đông Nam Á. Cuộc chạy đua vũ trang này do nhiều yếu tố, trong đó có sự không chắc chắn về an ninh khu vực do tăng cường quân sự của Trung Quốc, lo lắng về việc Mỹ rút khỏi khu vực và sự tồn tại của nhiều điểm nóng khác nhau giữa các nước ASEAN.
Việc tăng chi phí quân sự của ASEAN tỷ lệ thuận với tổng GDP của khu vực và tỷ lệ chi phí quân sự/GDP không thay đổi trong thập kỷ qua. Chi phí quân sự của những nước chi nhiều như Indonesia không tăng nhiều trong khi Singapore giảm nhẹ trong giai đoạn này.
Vậy các nước Đông Nam Á mua những loại vũ khí gì? Rất nhiều tiền đang được tiêu xài để hiện đại hoá những hệ thống đã tồn tại nhiều năm. Hãy xem lực lượng Hải quân Indonesia, nhiều nhà quan sát nhận thấy 1/3 tàu chiến không còn thích hợp. Gần đây, việc Philippines mua một tá chiến đấu cơ từ Hàn Quốc không mang lại ấn tượng gì nếu người ta biết rằng máy bay chiến đấu cuối cùng của không quân nước này đã “về hưu” từ năm 2005.
Dễ nhận thấy là việc chạy đua vũ trang ở Đông Nam Á không phải do mâu thuẫn giữa các quốc gia trong khu vực. Trong khi bất đồng trong nội bộ ASEAN đôi khi bùng phát, không có sự đối kháng kéo dài giữa hai hoặc nhiều quốc gia trong khu vực. Các quốc gia này cũng không nâng cấp quân sự để phản ứng đối với việc mua sắm vũ khí của các nước khác trong khối.
Tuy nhiên, trong khi sự gia tăng chi tiêu quân sự ở Đông Nam Á vẫn còn dưới ngưỡng của một cuộc chạy đua vũ trang, thì việc chi tiêu này lại vượt quá mức cần thiết để duy trì hiện trạng của khu vực.
Các quốc gia ven biển ở Biển Đông đã cam kết chi tiêu quân sự nhiều hơn để nâng cao năng lực hải quân, bao gồm hải không quân, hệ thống chống tàu ngầm và giám sát hàng hải.
Đối với một quốc gia như Việt Nam, việc mua sáu tàu ngầm Nga gần đây không đồng nghĩa với việc giành được ưu thế quân sự so với các cường quốc khu vực khác. Tuy nhiên, việc mua bán này cho phép Việt Nam bắt đầu theo đuổi các chiến lược Chống tiếp cận không cho phép để bảo vệ hải phận của mình. Vì vậy, trong một số lĩnh vực, việc tái vũ trang diễn ra thực sự có tính cạnh tranh và thay đổi cân bằng quân sự khu vực.
Những thay đổi quan trọng về sở hữu vũ khí ở Đông Nam Á phù hợp với hai xu hướng lớn hơn.
Nhiều quân đội của khu vực đang trải qua tái định hướng chiến lược từ việc tập trung vào chống nổi dậy và ổn định trong nước đến quốc phòng bên ngoài, thể hiện sức mạnh quân sự và chiến tranh thông thường. Xu hướng này liên quan đến bất ổn ngày càng tăng ở Đông Nam Á do sự hung hăng của Trung Quốc cũng như tác động có thể có đối với an ninh khu vực do sự cạnh tranh địa chính trị Mỹ-Trung Quốc.
Đông Nam Á cũng bị phá hoại bởi quá trình quân sự hoá các cuộc xung đột khu vực (như ở Biển Đông), cùng với nhận thức rằng sự yếu kém quân sự là bất lợi cho an ninh quốc gia. Các yếu tố nội bộ cũng xuất hiện ở đây: Thái Lan đã tăng mạnh chi tiêu quốc phòng sau những cuộc đảo chính quân sự năm 2006 và 2014, và Myanmar lấy sự xuất hiện của nhiều nhóm nổi dậy vũ trang trong nước để hợp pháp hoá các khoản tăng chi tiêu quốc phòng gần đây.
Trong khi nhiều nghiên cứu đưa ra nghi ngờ về sự tồn tại của một mối quan hệ nhân quả giữa tăng chi tiêu cho quốc phòng và sự bùng nổ xung đột quân sự, việc nâng cấp quốc phòng diễn ra ở Đông Nam Á chắc chắn góp phần làm sự căng thẳng trong khu vực gia tăng.
Các xu hướng mới trong chi tiêu cho vũ khí đang làm tăng sự nghi ngờ về ý định và tham vọng của các quốc gia láng giềng.Sự không tin tưởng này tăng lên do thiếu cơ chế giám sát và kiểm soát vũ khí hiệu quả. Không có thỏa thuận khu vực về kiểm soát vũ khí, và nhiều quốc gia trong khu vực đã nhiều lần phá vỡ các thỏa thuận quốc tế như Đăng kiểm các vũ khí thông thường của Liên Hợp quốc hoặc Hiệp định về Thương mại Vũ khí. Và việc tăng cường các hệ thống vũ khí sẵn có làm cho khả năng xung đột quân sự trở nên trầm trọng hơn. Rất nhiều loại vũ khí mới có sức mạnh huỷ diệt và nguy hiểm hơn.
Nếu các xu hướng hiện tại trong chi tiêu quốc phòng ở Đông Nam Á tiếp tục, khả năng quân sự của khu vực này thay đổi, có thể có tác động tiêu cực kéo dài đối với an ninh và ổn định khu vực trong tương lai gần./.
Tiến sỹ Felix Heiduk – chuyên gia cao cấp Ban châu Á của Viện Khoa học và Chính trị Đức (SWP) có trụ sở tại Berlin
Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Cùng với việc Donald Trump lên cầm quyền, chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã chính thức kết thúc. Trong buổi họp báo được tổ chức ngày 13/3/2017, quyền Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương Susan Thornton cho biết chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Chính quyền Donald Trump có thể sẽ có phương thức mới. Chính quyền Donald Trump hiển nhiên nhận thức được khu vực châu Á-Thái Bình Dương chứa đựng tiềm lực phát triển kinh tế rất lớn, Mỹ vẫn sẽ tăng cường mức độ can dự của nước này đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhưng cụm từ “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương”, “quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương” đã lỗi thời. Đến nay, chính sách “tái cân bằng” của Chính phủ Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương được thực hiện từ năm 2009 đến nay đã kết thúc. Tuy nhiên, ảnh hưởng của chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” được coi là chính sách châu Á-Thái Bình Dương quan trọng nhất của Mỹ trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc.
Từ khi bước vào thế kỷ 21 đến nay, khu vực châu Á-Thái Bình Dương không những ngày càng trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới, mà còn trở thành tiêu điểm cạnh tranh địa chiến lược của các nước lớn. Để giành được ưu thế từ sự thay đổi của địa chính trị toàn cầu, tiếp tục bảo vệ địa vị bá quyền toàn cầu của mình, Mỹ phải duy trì sức mạnh quân sự hùng mạnh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, từ năm 2009 đề xuất “phải quay trở lại châu Á”, “tăng cường sự hiện diện chiến lược ở châu Á”, năm 2011 tuyên bố “xoay trục sang châu Á”, năm 2012 đề xuất thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương”, lấy chiến lược này để cân bằng và kiềm chế sự trỗi dậy về chiến lược của Trung Quốc, tăng cường sự kiểm soát đối với khu vực trung tâm về chính trị, kinh tế và thương mại của thế giới.
Xét thấy địa vị chiến lược quan trọng của khu vực Biển Đông trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Mỹ coi Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, là khu vực then chốt để kiềm chế sự phát triển, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc, bảo vệ địa vị lãnh đạo khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ. Ngày 28/5/2015, Tổng thống Mỹ Obama đã có bài phát biểu trong lễ tốt nghiệp của Học viện quân sự West Point, nêu rõ ý đồ Mỹ can dự vào các vấn đề an ninh của châu Á như vấn đề Biển Đông…, tuyên bố “quân đội Mỹ phải chuẩn bị tốt cho các nguy cơ, ‘sự xâm lược mang tính chiến lược’ đối với các khu vực như Biển Đông… sẽ ảnh hưởng đến đồng minh của Mỹ, có thể làm cho quân đội Mỹ bị cuốn vào trong đó”. Khi đến thăm Philippines, Obama cho biết “Cam kết bảo vệ Philippines của Mỹ kiên định như sắt”. Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden thì cho rằng “Biển Đông gây nguy hiểm cho lợi ích của Mỹ”. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter cho biết Mỹ sẽ không chấp nhận lập trường Trung Quốc có chủ quyền trên những đảo, đá nhân tạo này, đồng thời liên tục cử máy bay và tàu chiến đến vùng biển này dựa trên luật pháp quốc tế thực hiện quyền tự do hàng hải. Chính phủ Mỹ coi Biển Đông là biện pháp để thúc đẩy chiến lược châu Á-Thái Bình Dương, kiềm chế và cản trở sự trỗi dậy của Trung Quốc, khuấy động Biển Đông trở thành điểm nóng khu vực và không ngừng nóng lên, từng bước tiến ra sân khấu sử dụng biện pháp quân sự để đối đầu với Trung Quốc. Cùng với việc Donald Trump lên cầm quyền, tuy chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đã kết thúc, nhưng sự quan tâm và can dự của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông không những không kết thúc, mà còn ngày càng tăng lên. Từ khi thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đến nay, bố cục quân sự ở xung quanh Biển Đông vẫn là điểm quan trọng nhất để Mỹ can dự vào vấn đề Biển Đông, nảy sinh ảnh hưởng sâu sắc đối với vấn đề này, đã nhận được sự quan tâm của mọi người. Bài viết này tập trung phân tích từ phương diện bố cục quân sự, bố cục quân sự của Mỹ ở xung quanh Biển Đông từ khi thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đến nay.
Tăng cường quan hệ đồng minh quân sự, thúc đẩy hợp tác quân sự song phương và đa phương
Đến nay, Mỹ đã ký hiệp ước hợp tác quốc phòng với 32 nước trên thế giới, trong đó có 5 nước ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương là Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan và Úc. Mỹ cho rằng quan hệ đồng minh ở châu Á-Thái Bình Dương là ưu thế đặc biệt của Mỹ trong khu vực này, cũng là cơ sở để Mỹ bảo vệ an ninh và ổn định của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, phải xây dựng mạng lưới quan hệ đồng minh ở châu Á-Thái Bình Dương, tăng cường bố trí quân sự của Mỹ ở khu vực này, tổ chức tập trận chung nhiều hơn, tăng cường sự hiện diện của Mỹ ở khu vực này, nâng cao mức độ răn đe tiền duyên mà Mỹ có thể cung cấp cho các đồng minh. Trong bối cảnh này, Mỹ áp dụng nhiều biện pháp, bên cạnh việc tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với các đồng minh truyền thống như Philippines, Thái Lan, Nhật Bản, Úc…, còn tăng cường quan hệ quân sự với các nước đối tác hợp tác chiến lược mới nổi như Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Singapore, Malaysia…
Tăng cường hợp tác quân sự với các đồng minh truyền thống như Philippines, Thái Lan, Nhật Bản, Úc…
Vai trò quan trọng nhất của cơ chế hợp tác quân sự Mỹ-Philippines là nâng cao sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực Biển Đông, dựa vào căn cứ không quân và hải quân có ưu thế và điều kiện tốt về địa lý gần Biển Đông của Philippines, bao đảm ưu thế chiến lược của Mỹ ở khu vực Biển Đông, Mỹ coi Philippines là cầu nối để can dự vào khu vực Biển Đông, kiềm chế Trung Quốc, tiến vào châu Á-Thái Bình Dương. Dưới chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Obama, cơ chế hợp tác chiến lược và an ninh giữa Mỹ và Philippines được tăng cường liên tục, việc hai nước liên tục tiến hành bàn bạc về sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Philippines trên thực tế là để cùng đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông. Năm 2010, hai nước ký Hiệp ước hợp tác an ninh Mỹ-Philippines với thời hạn 10 năm. Ngày 12/1/2016, Mỹ và Philippines xác nhận Tòa án tối cao Philippines đã thông qua Thỏa thuận tăng cường hợp tác an ninh, đồng thời đạt được sự nhất trí về việc tăng cường hợp tác an ninh trên biển. Philippines cung cấp cho quân đội Mỹ 8 căn cứ, quân đội Mỹ có thể xây dựng các công trình ở những căn cứ này, cất giữ và cung ứng trang thiết bị vũ khí. Tám căn cứ quân sự mà Philippines cung cấp cho quân đội Mỹ bao gồm 5 sân bay quân dụng, 2 căn cứ hải quân và 1 trại huấn luyện trong rừng sâu. Tám căn cứ này lần lượt là căn cứ không quân Basa và Clark ở tỉnh Pampanga, căn cứ Fort Magsaysay nằm ở tỉnh Nueva Ecija, căn cứ không quân Antonio Bautista và 1 cảng biển ở tỉnh Palawan; căn cứ không quân Mactan-Benito Ebuen và 1 cảng biển ở tỉnh Cebu; sân bay Laguindingan ở thành phố Cagayan de Oro; trong đó có 4 căn cứ nằm ở đảo Luzon phía Đông Biển Đông, 2 căn cứ nằm ở đảo Palawan, gần quần đảo Trường Sa, mưu đồ lôi kéo Mỹ can dự vào Biển Đông, đối đầu với Trung Quốc của Philippines là rất rõ ràng.
Nhật Bản là đồng minh quan trọng nhất của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, quan hệ Mỹ-Nhật luôn là cơ sở trong chính sách an ninh châu Á của Mỹ. Nhật Bản đóng vai trò không thể thiếu trong hệ thống đồng minh của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự bá quyền của Mỹ, kiềm chế Trung Quốc. Tuyên bố chung bảo đảm an ninh và Phương châm hợp tác quốc phòng mà Mỹ và Nhật Bản ký từ năm 1996 đến năm 1997, trở thành khung cơ bản mới của quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật. Hai hiệp ước này đã làm thay đổi tính chất của đồng minh Mỹ-Nhật, thay đổi từ đồng minh mang tính phòng ngự ban đầu sang đồng minh có tính chất tấn công. Trong thời kỳ Chính quyền Obama, sự phân công và hợp tác của liên minh Mỹ-Nhật về quân sự ngày càng đi sâu. Mỹ hoan nghênh Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tiến hành giải thích cho việc dỡ bỏ lệnh cấm quyền tự vệ tập thể và sửa đổi hiến pháp, đồng thời đã tăng thêm nội dung của quản lý toàn cầu trong đề tài hợp tác đồng minh. Do Nhật Bản cách Biển Đông tương đối gần, có quan hệ đồng minh ổn định lâu dài với Mỹ, nên Mỹ coi Nhật Bản là quốc gia then chốt để can dự vào Biển Đông, phát huy ảnh hưởng. Mỹ liên tục tăng cường quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật, để Nhật Bản chịu trách nhiệm phòng ngự giúp đỡ Mỹ trong các sự kiện bất ngờ xảy ra trong khu vực, trở thành cơ sở và trọng tâm để Mỹ kiềm chế Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, thậm chí là khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Úc tiếp giáp Biển Đông, Đông Nam Á, đồng thời có vị trí địa lý đặc biệt gần Ấn Độ Dương, làm cho Mỹ coi nước này là cứ điểm quan trọng của mình trong chiến lược châu Á-Thái Bình Dương để có thể kiểm soát đồng thời cả Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Từ khi Mỹ thực hiện chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đến nay, Úc là lực lượng ủng hộ quan trọng của Mỹ trong chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”. Sau sự kiện “11/9/2001”, hai nước đã tăng cường hơn nữa quan hệ quân sự song phương, mở rộng hoạt động quân sự, tiến hành tập trận và diễn tập chung, đóng quân tại căn cứ quân sự Darwin. Darwin là cửa ngõ để Úc tiến vào Biển Đông, có thể làm giảm khoảng cách và nâng cao thời gian phản ứng để lực lượng quân sự Mỹ tiến vào Biển Đông. Obama nêu rõ Darwin ở gần Biển Đông, Mỹ sẽ có thể phản ứng kịp thời đối với các sự kiện bất ngờ xảy ra ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, bảo đảm và bảo vệ lợi ích các nước đồng minh trong khu vực này. Ngoài ra, Mỹ còn bán cho Úc hệ thống chiến đấu Aegis và máy bay chiến đấu F-35 để nước này tăng cường sức mạnh quốc phòng.
Thái Lan luôn là đồng minh kiên định của Mỹ ở Đông Nam Á, cung cấp căn cứ quân sự, thông tin tình báo và các điều kiện thuận lợi khác từ lâu nay cho Mỹ, những điều này đã tăng cường năng lực hành động quân sự của Mỹ ở khu vực Biển Đông. Thái Lan cung cấp cảng biển, sân bay cho Mỹ, Mỹ cung cấp trang thiết bị vũ khí và viện trợ vốn mua trang thiết bị cho Thái Lan. Sau sự kiện “11/9/2001”, cảng biển, sân bay của Thái Lan đóng vai trò then chốt trong tác chiến chống khủng bố của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Hàng năm đều có hàng chục nghìn binh sĩ của quân đội Thái Lan được cử đến Mỹ để tham gia “kế hoạch giáo dục và bồi dưỡng quân sự quốc tế” và phát triển chuyên nghiệp dân sự, đồng thời hàng năm đều tiến hành hơn 40 lần tập trận chung để kiểm chứng thành quả.
Tăng cường phát triển quan hệ quân sự với các nước đối tác hợp tác chiến lược mới nổi như Ấn Độ, Indonesia, Singapore, Malaysia, Việt Nam…
Trong chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương”, Chính quyền Obama phát triển một cách tích cực hơn quan hệ đối tác mới, nhất là quan hệ quân sự với các nước như Ấn Độ, Indonesia, Myanmar và Việt Nam, đồng thời liên tục triển khai tập trận chung trên biển, bán trang thiết bị quân sự tiên tiến cho những nước này.
Mỹ xác định quan hệ Mỹ-Ấn là quan hệ đối tác chiến lược toàn cầu thế kỷ 21. Mỹ nhận thức được sự phát triển của kinh tế Ấn Độ trong nhiều năm qua đã được coi là nước lớn chi phối khu vực Nam Á, đồng thời có tiềm lực của cường quốc thế giới. Mỹ tích cực tìm cách duy trì, làm sâu sắc quan hệ đối tác hợp tác chiến lược thực chất quan trọng với Ấn Độ, cũng như quan hệ kinh tế thương mại song phương. Từ năm 2000 Mỹ và Ấn Độ bắt đầu kế hoạch cùng triển khai hoạt động gìn giữ hòa bình và tổ chức tập trận chung đa phương, đồng thời bắt đầu khôi phục hoạt động bán vũ khí quân sự cho Ấn Độ. Về số lượng, Ấn Độ là quốc gia có số lần tập trận nhiều nhất với Mỹ, trong tổng số lần tập trận chung do Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ tổ chức có hơn 1/3 là triển khai hợp tác với Ấn Độ. Từ năm 2005 đến 2006, hai nước ký Hiệp định khung về quốc phòng và khuôn khổ hợp tác an ninh trên biển, mở rộng hợp tác an ninh song phương Mỹ-Ấn.
Singapore nằm ở phía Nam bán đảo Mã Lai, gần cửa ngõ phía Nam của eo biển Malacca, trấn giữ yết hầu của eo biển này, là con đường chiến lược nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, có địa vị chiến lược quan trọng, vì vậy cũng trở thành đối tượng để Mỹ tập trung tăng cường quan hệ đối tác chiến lược. Những năm 90 của thế kỷ 20, Singapore đã cung cấp căn cứ quân sự chuyên dụng cho quân đội Mỹ, bảo đảm sự hiện diện quân sự của quân đội Mỹ ở khu vực này. Năm 2005, hai nước ký Hiệp định khung chiến lược Mỹ-Singapore, Singapore trở thành cứ điểm chiến lược quan trọng của Mỹ ở khu vực Biển Đông. Tháng 6/2012, Mỹ hoàn thành quá trình xây dựng căn cứ hải quân ở Changi, có thể cho các biên đội tàu chiến cỡ lớn như tàu sân bay, tàu viễn dương… cập bến, đồng thời lắp đặt hệ thống nhà kho cất giữ và giám sát tự động tiên tiến, Singapore đồng ý để tàu chiến đấu ven biển mới nhất của quân đội Mỹ đồn trú. Căn cứ hải quân Changi cung cấp dịch vụ tiếp tế hậu cần và sửa chữa các tàu cỡ lớn như tàu sân bay… cho quân đội Mỹ. Changi cũng trở thành căn cứ cập bến tàu sân bay đầu tiên của quân đội Mỹ ở Đông Nam Á từ khi rút khỏi vịnh Subic đến nay, căn cứ này đã trở thành căn cứ thường được sử dụng nhất để Mỹ can dự vào Biển Đông. Dựa vào căn cứ này, đội tàu của Mỹ có thể trực tiếp tiến vào Biển Đông theo hướng Đông, có thể xuyên qua eo biển Malacca bất kỳ lúc nào theo hướng Tây, tiến vào Ấn Độ Dương, biển Arập, đến khu vực vùng Vịnh.
Việc Mỹ dốc sức tăng cường quan hệ quân sự song phương với Malaysia, trước tiên là muốn đạt được thỏa thuận mở không phận, cho phép máy bay Mỹ được bay trên không phận Malaysia, sau đó hai nước bắt đầu triển khai hợp tác về thông tin tình báo quân sự. Từ khi Mohd Najib bin Abdul Razak được bầu làm thủ tướng Malayssia tháng 4/2009 đến nay, quan hệ Mỹ-Malaysia phát triển nhanh chóng. Tháng 4/2014, Obama lần đầu tiên đến thăm Malaysia, hai nước tuyên bố xây dựng quan hệ đối tác toàn diện. Các cuộc tập trận chung giữa hai nước ngày càng tăng, Mỹ liên tục bán trang thiết bị vũ khí tiên tiến như máy bay chiến đấu F18, tên lửa không đối không tầm xa AIM-120…
Được coi là quốc gia có dân số đông nhất, diện tích lớn nhất của Đông Nam Á, Indonesia có giá trị chiến lược rất quan trọng đối với Mỹ. Từ khi thực hiện chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đến nay, Mỹ và Indonesia đã tăng cường quan hệ song phương trên các phương diện như chuyến thăm cấp cao, hợp tác an ninh, viện trợ quân sự…, thể hiện đặc điểm chuyến thăm cấp cao tương đối nhiều, hợp tác an ninh ngày càng tăng lên, viện trợ quân sự liên tục. Sau khi ký Hiệp định quan hệ đối tác toàn diện năm 2009, hai nước cũng bắt đầu tổ chức tập trận chung thường niên, bao gồm tập trận chuẩn bị chiến đấu và huấn luyện trên biển chung, cuộc tập trận chung “Lá chắn Garuda” do Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ và lục quân Indonesia tổ chức định kỳ… Viện trợ quân sự của Mỹ cho Indonesia cũng liên tục tăng lên, Indonesia đã trở thành một trong những quốc gia nhận viện trợ quân sự lớn thứ 3 của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á.
Việt Nam là quốc gia trọng điểm của Mỹ ở khu vực Biển Đông. Mỹ nỗ lực thiết lập quan hệ đối tác hợp tác toàn diện với Việt Nam, hợp tác an ninh quân sự Mỹ-Việt được thúc đẩy nhanh chóng. Tháng 9/2011, hai nước ký Bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác an ninh song phương, thống nhất trước tiên tập trung vào 5 lĩnh vực (thiết lập các cơ chế đối thoại thường xuyên cấp cao giữa Bộ Quốc phòng Mỹ và Bộ Quốc phòng Việt Nam, an ninh biển, tìm kiếm cứu nạn, nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm về hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa), đây cũng là lần chính thức Mỹ và Việt Nam thiết lập quan hệ hợp tác quân sự sau chiến tranh. Về mối quan hệ qua lại với Việt Nam, cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đặc biệt cho rằng “Mỹ và Việt Nam đang thiết lập sự hợp tác khó có thể tưởng tượng ở 10 năm trước, quan hệ về kinh tế và ngoại giao hiệu quả hơn so với bất kỳ thời điểm nào trước đây”. Căn cứ không quân, hải quân ở vịnh Cam Ranh của Việt Nam có điều kiện ưu việt, là căn cứ quân sự nổi tiếng thế giới, luôn là cứ điểm quân sự mà quân đội Mỹ rất muốn sử dụng ở Biển Đông.
Tổ chức tập trận chung bằng nhiều hình thức, thể hiện sự hiện diện quân sự
Để tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực Biển Đông, kiềm chế ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, Mỹ liên tục mở rộng hoạt động tập trận với các nước xung quanh Biển Đông, tổ chức tập trận chung, tăng cường ảnh hưởng quân sự đối với khu vực Biển Đông. Các cuộc tập trận chung định kỳ hiện nay chủ yếu có “Hợp tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu trên biển” (CARAT), “Hổ mang vàng” (Cobra Gold) và “Vai kề vai” (Balikatan), hình thành cuộc tập trận bao hàm cả hải, lục và không quân. Quy mô tập trận liên tục mở rộng, nội dung tập trận cũng từng bước được diễn biến từ diễn tập chống khủng bố đến hạng mục mang tính tấn công quân sự mạnh mẽ như đổ bộ lưỡng cư và đánh úp bất ngờ, chiếm đảo…, khu vực tập trận ngày càng áp sát vùng biển tranh chấp ở Trường Sa. Ngoài tập trận thường niên, Mỹ còn tiến hành tập trận chung không thường niên với các nước khác.
Cuộc tập trận “CARAT”
Cuộc tập trận “CARAT” là cuộc tập trận chung do Mỹ lần lượt tiến hành với nhiều nước Đông Nam Á như Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Timor Leste… Mục đích chủ yếu của cuộc tập trận này là nâng cao mức độ chia sẻ thông tin và hiệp đồng tác chiến của Mỹ với các nước tham gia tập trận, xây dựng quan hệ quân sự bền vững, tăng cường năng lực cùng đối phó với khủng hoảng quân sự khu vực ở Biển Đông. Kể từ năm 1995, các cuộc tập trận hàng năm đều do Tư lệnh Hạm đội 7 của Mỹ lên kế hoạch. Các hạng mục tập trận bao gồm tác chiến lưỡng cư, tuần tra trên biển, đánh chặn trên biển, tìm kiếm cứu nạn, chống tàu ngầm… Tháng 5/2008, tàu chỉ huy USS Blue Ridge (LCC-19) của Hạm đội 7 tổ chức tập trận chung trên biển CARAT ở đảo Palawan và vùng biển của Philippines gần quần đảo Trường Sa. Giai đoạn cuối cùng của tập trận năm 2012 do hải quân Mỹ và Philippines triển khai ở vùng biển đảo Mindanao phía Nam Philippines, các hạng mục tập trận bao gồm tập chỉ huy chiến trường, đánh chặn trên biển, lặn, bắn đạn thật trên biển và tìm kiếm cứu nạn. Do thời điểm này xảy ra vụ đảo Hoàng Nham/Scarborough lần thứ 2 giữa Trung Quốc và Philippines, nên địa điểm, hạng mục và mục tiêu thực sự của tập trận Mỹ-Philippines nhận được sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế.
Cuộc tập trận chung “Hổ mang vàng”
Cuộc tập trận “Hổ mang vàng” là cuộc tập trận đa phương có tính cơ chế hàng năm do Thái Lan và Mỹ cùng tổ chức, là một trong những cuộc diễn tập chung có ảnh hưởng nhất ở khu vực Đông Nam Á, từ năm 1982 đến nay mỗi năm đều tổ chức một lần. Cuộc tập trận “Hổ mang vàng” được coi là cuộc tập trận mang lại lợi ích rất lớn cho các nước đồng minh của Mỹ ở khu vực, được cho là cam kết bảo đảm an ninh của Mỹ đối với các nước đồng minh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cũng là hành động quan trọng để Mỹ thể hiện ảnh hưởng quân sự của nước này ở khu vực Biển Đông. Các hạng mục tập trận bao gồm tác chiến trên đất liền, trên biển và trên không, tác chiến lưỡng cư, tác chiến đặc nhiệm, tác chiến rừng sâu và vận chuyển nhân viên… Mục đích của cuộc tập trận này là nâng cao năng lực chống lại các mối đe dọa và xâm lược, kiểm tra năng lực chỉ huy, chia sẻ thông tin tình báo, đối phó khủng hoảng của quân đội các nước tham gia tập trận như Mỹ, Thái Lan… Những năm gần đây, quy mô tập trận liên tục mở rộng, số lượng các nước tham gia tập trận cũng không ngừng tăng lên, các nước như Singapore, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Mông Cổ… đều lần lượt tham gia. Năm 2000 mới chỉ có Singapore tham gia, đến năm 2001 Mỹ, Thái Lan, Singapore tham gia tập trận, đồng thời mời 9 nước như Úc, Hàn Quốc, Pháp, Malaysia, Indonesia, Mông Cổ, Nhật Bản, Philippines, Sri Lanka… tham gia với tư cách là quan sát viên. Năm 2002, lần đầu tiên mời Việt Nam quan sát. Năm 2010 quy mô được mở rộng hơn, Hàn Quốc lần đầu tiên cử quân đội tham gia, gồm có 6 nước tham gia là Mỹ, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Indonesia và Hàn Quốc. Cuộc tập trận năm 2011, số nước tham gia tập trận được mở rộng lên đến 24 nước. Cuộc tập trận năm 2012 có các nước như Mỹ, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Indonesia, Malaysia…, hơn nữa quan sát viên đến từ 20 quốc gia khác cũng tham gia. Năm 2016, 27 nước gồm Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… đã cử hơn 8000 nhân viên hải lục không quân tham gia tập trận. Năm 2017, có 9 nước tham gia tập trận và 10 nước quan sát viên như Anh, Pháp, Canada…
Cuộc tập trận chung “Vai kề vai”
Cuộc tập trận chung “Vai kề vai” là hoạt động tập trận chung quy mô lớn được triển khai từ năm 1991 giữa Mỹ và Philippines. Những năm gần đây, quy mô của cuộc tập trận “Vai kề vai” không ngừng mở rộng, nội dung cũng diễn biến từ diễn tập chống khủng bố đến đổ bộ lưỡng cư và đánh úp bất ngờ, địa điểm ngày càng gần khu vực nhạy cảm. Mục đích của cuộc tập trận này là nâng cao năng lực hiệp đồng tác chiến của quân đội hai nước, cũng như năng lực phản ứng nhanh để Mỹ chi viện tác chiến ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời cho thấy quyết tâm của Mỹ ủng hộ Philippines phản đối xâm lược đến từ bên ngoài. Tháng 4/2000, Mỹ và Philippines khôi phục tập trận bị gián đoạn sau năm 1995, địa điểm tập trận được lựa chọn là ở vùng biển gần đảo Luzon và đảo Palawan. Tháng 4/2001, Mỹ đưa “Hổ mang vàng” của Thái Lan và tập trận chung giữa Mỹ và Úc vào khuôn khổ tập trận chung “thách thức đồng đội” (Team challenge), tập trận vẫn được tiến hành ở vùng biển gần đảo Luzon. Địa điểm cuộc tập trận tháng 1/2004 được chọn ở vùng biển gần Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa. Cuộc tập trận diễn ra tháng 5/2008 một lần nữa di chuyển đến vùng biển Palawan của Philippines gần quần đảo Trường Sa nhất, quy mô tập trận lập kỷ lục mới; hạng mục tập trận cũng được nâng cấp từ chiến thuật tổng hợp truyền thống, bắn đạn thật thành giữ đảo, cướp đảo, tấn công bất ngờ bằng lực lượng đặc nhiệm… Cuộc tập trận năm 2012, địa điểm được chọn là giếng dầu trên biển lớn nhất của Philippines trong Biển Đông nằm ở phía Tây đảo Palawan, triển khai các hạng mục tập trận như bảo vệ và cướp giàn khoan trên biển, tấn công khủng bố, cướp biển, buôn lậu… Cuộc tập trận năm 2013 được tổ chức ở vịnh Subic phía Bắc Philippines, Mỹ lần đầu tiên đưa 20 máy bay chiến đấu F/A-18E/F Super Hornet và 1 tàu chiến tham gia tập trận, Úc, Brunei, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan cử đại diện tham gia thảo luận bàn tròn về an ninh trên biển. Năm 2014, Úc lần đầu tiên tham gia tập trận. Năm 2015, các nước như Brunei, Việt Nam, Singapore cử quan sát viên. Ngày 4/4/2016, cuộc tập trận chung “Vai kề vai” kéo dài 11 ngày giữa Mỹ và Philippines kết thúc, tổng số binh sĩ tham gia là gần 10.000 người, trong đó quân đội Mỹ có 4.900 binh sĩ, ngoài ra Úc cử hơn 80 binh sĩ, Nhật Bản lần đầu tiên làm quan sát viên cũng cử hơn 80 binh sĩ tham gia. Trong thời gian tập trận, Mỹ lần đầu tiên bố trí hệ thống tên lửa cơ động cao ở khu vực Thái Bình Dương. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đặc biệt đến thăm tỉnh Palawan gần khu vực Biển Đông và tham gia lễ bế mạc tập trận, mục đích của chuyến thăm này là tái khẳng định quan hệ Mỹ-Philippines rất chắc chắn, vai kề vai ủng hộ lẫn nhau.
Các cuộc tập trận chung khác
Ngoài tập trận chung hàng năm được tổ chức ở hướng Biển Đông, Mỹ còn tổ chức tập trận chung ở hướng Đông Bắc Á, Mỹ và Hàn Quốc thông qua nhiều lần tập trận chung để duy trì xu thế có thể tác chiến bất kỳ lúc nào. Mỹ và Hàn Quốc liên tục tổ chức tập trận chung Đại bàng non (Foal Eagle) và Giải pháp then chốt (Key Resolve) quy mô lớn nhất trong lịch sử nhằm vào các cuộc thử nghiệm hạt nhân và phóng thử tên lửa đạn đạo của Triều Tiên, trong các cuộc tập trận năm 2016, Mỹ cử tàu sân bay USS Ronald Reagan (CVN-76), USS John C. Stennis (CVN-74), tàu ngầm hạt nhân USS Virginia (SSN-774), máy bay F-22, B-52, trọng điểm tập trận “kế hoạch tác chiến 5015” mà Mỹ và Hàn Quốc mới vạch ra, chuẩn bị chiến tranh đánh đòn phủ đầu đối với Triều Tiên. Trong các cuộc tập trận được tiến hành năm 2017, toàn bộ các loại vũ khí chiến lược của Mỹ như tàu sân bay USS Carl Vinson (CVN-70), máy bay ném bom chiến lược B-52, B-1B, máy bay ném bom chiến lược tàng hình B-2 và máy bay tấn công F-35B… đều tham gia tập trận, và lần đầu tiên trong diễn tập đã đề cập đến khái niệm tác chiến Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD).
Ở hướng Đông Hải (biển Hoa Đông), Mỹ và Nhật Bản tổ chức tập trận định kỳ hàng năm, quân đội Mỹ cử lực lượng viễn chinh hải quân và đội chiến đấu cấp lữ đoàn “Stryker” hợp tác với các lực lượng như nhóm tác chiến đặc nhiệm của Lực lượng phòng vệ trên đất liền của Nhật Bản, diễn tập về các nội dung như chiếm lại đảo bị lực lượng nước ngoài xâm chiếm và cứu cư dân trên đảo, để tăng cường quan hệ đồng minh chiến lược Mỹ-Nhật. Cho dù những cuộc tập trận này không hoàn toàn lấy Trung Quốc làm kẻ thù giả tưởng, nhưng về khách quan lại xây dựng khuôn khổ địa chiến lược cùng nhằm vào Trung Quốc.
III. Tăng cường bố trí quân sự tiền duyên ở Biển Đông
Trong bối cảnh chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương”, Mỹ điều chỉnh lực lượng hải quân và không quân sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Mỹ là cường quốc quân sự đứng đầu thế giới hiện nay, phạm vi hoạt động rộng khắp trên toàn cầu, sức mạnh quân sự hùng mạnh trở thành công cụ để Mỹ phát huy ảnh hưởng thực chất khi can dự vào vấn đề Biển Đông. Khi nhậm chức vào tháng 6/2012, tại Hội nghị an ninh châu Á lần thứ 11 được tổ chức tại Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta cho biết nguồn lực quốc phòng của Mỹ sẽ tiếp tục chuyển sang châu Á, đến năm 2020, hải quân Mỹ sẽ bố trí 60% tàu chiến ở châu Á, trong đó tăng thêm 1 tàu sân bay, đạt đến 6 chiếc (hiện nay hải quân Mỹ có 11 tàu sân bay), phần lớn tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu chiến đấu ven biển và tàu ngầm. Tháng 5/2014, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel một lần nữa tuyên bố tăng cường bố trí lực lượng mặt đất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời cũng sẽ bố trí 60% lực lượng không quân đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhằm thực hiện chiến lược “quay trở lại châu Á”. Đồng thời, ông còn nhấn mạnh Biển Đông vừa là trái tim của châu Á, vừa là ngã tư đường của kinh tế thương mại toàn cầu, tuyên bố kiên quyết phản đối bất kỳ quốc gia nào khiêu khích, ép buộc hoặc sử dụng vũ lực đe dọa, phản đối bất kỳ quốc gia nào hạn chế tự do hàng hải và hàng không. Tháng 5/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter tham dự Đối thoại Shangri-La ở Singapore và có bài phát biểu lên án hành động xây lấp biển ở Biển Đông của Trung Quốc, cho biết Mỹ phản đối bất kỳ hành động nào quân sự hóa các đảo, đá có tranh chấp; đồng thời kêu gọi ASEAN phải trở thành trung tâm của cơ chế khu vực và duy trì sự ổn định của khu vực. Ngoài ra, ông tuyên bố Mỹ sẽ khởi động “Sáng kiến an ninh biển Đông Nam Á” mới dự tính có trị giá 425 triệu USD, tăng cường xây dựng năng lực hải quân của các nước khu vực Đông Nam Á.
Nhanh chóng xây dựng bố cục căn cứ quân sự xung quanh Biển Đông như căn cứ quân sự Darwin của Úc, xây dựng lấy đảo Guam làm trụ cột, Nhật Bản, cảng Darwin của Úc… làm hai cánh
Xuất phát từ nhu cầu duy trì sự hiện diện quân sự ở Biển Đông, từ lâu nay Mỹ vẫn duy trì đồn trú lượng lớn quân ở xung quanh Biển Đông, trong đó căn cứ Yokosuka ở Nhật Bản và căn cứ Guam trực tiếp ảnh hưởng đến Biển Đông, có nhiệm vụ kiểm soát yếu điểm chiến lược, trấn giữ các tuyến đường giao thông quan trọng, đồng thời ủng hộ và làm chỗ dựa cho sự bố trí và hoạt động của quân đội Mỹ ở khu vực xung quanh Biển Đông.
Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đồn trú ở căn cứ Yokosuka của Nhật Bản, có nhóm tác chiến tàu sân bay số 5 do tàu sân bay USS George Washington (CVN 73) đứng đầu, có khoảng 60 tàu chiến và 350 máy bay chiến đấu các loại, tổng binh lực khoảng 60.000 người. Khu vực phụ trách của hạm đội này từ Tây Thái Bình Dương kéo dài đến Ấn Độ Dương, bao gồm cả Biển Đông.
Đảo Guam là căn cứ quân sự tiền duyên quan trọng nhất của khu vực Tây Thái Bình Dương, được gọi là “tàu sân bay không bao giờ chìm” trên Thái Bình Dương. Căn cứ này cách các khu vực nhạy cảm như Biển Đông, eo biển Đài Loan, bán đảo Triều Tiên… khoảng 3.000 km, nếu máy bay ném bom tầm xa mang theo tên lửa đạn đạo có tầm bắn gần 1.000 km cất cánh từ đảo Guam, thì chỉ cần khoảng hai giờ đồng hồ là có thể phóng tên lửa nhằm vào kẻ thù có khoảng cách xa để tấn công sau đó trở về điểm xuất phát. Do khu vực Biển Đông cũng nằm trong hành trình của máy bay vận tải C-130 được cất cánh từ căn cứ đảo Guam, nên lực lượng quân sự và vật tư chiến lược được bố trí ở đảo Guam có thể nhanh chóng vận chuyển đến căn cứ tác chiến tiền duyên xung quanh Biển Đông. Vì vậy, đảo Guam trở thành cứ điểm chiến lược quan trọng trong hệ thống tác chiến Tây Thái Bình Dương và đầu mối quan trọng gắn kết Mỹ và Đông Á. Căn cứ quân sự chủ yếu có căn cứ hải quân Apra Harbor, căn cứ không quân Andersen… Từ khi thực hiện chiến lược quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương đến nay, quân đội Mỹ bắt đầu chú trọng xây dựng căn cứ quân sự trên đảo Guam, đầu tư số tiền rất lớn khoảng 15 tỷ USD, mở rộng xây dựng cơ sở căn cứ hải quân và không quân trên đảo Guam, xây dựng thành trạm chuyển tiếp ở nước ngoài ở gần châu Á nhất cho máy bay ném bom tầm xa B-52; mở rộng xây dựng cảng hải quân, dùng để bố trí tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân và bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa, cũng như xây dựng căn cứ diễn tập thực chiến, dùng để tăng cường cuộc tập trận chung Vành đai Thái Bình Dương. Hiện nay, căn cứ hải quân Apra Harbor có thể cho phép 6 tàu ngầm hạt nhân tấn công cập bến, là căn cứ tàu ngầm hạt nhân duy nhất của quân đội Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Căn cứ không quân Andersen bố trí máy bay chiến đấu F-22, máy bay ném bom B-52 và máy bay trinh sát không người lái RQ-4 Global Hawk tiên tiến nhất, đồng thời có kho dự trữ nhiên liệu hàng không lớn thứ 2 của không quân Mỹ có tổng lượng chứa là 216 triệu lít.
Xuất phát từ nhu cầu can dự vào vấn đề Biển Đông, từ khi thực hiện chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đến nay, Mỹ tập trung tăng cường bố trí quân sự ở Úc, tiến hành xây dựng căn cứ quân sự và đóng quân ở Úc. Bố trí lực lượng gồm 2.500 lính thủy đánh bộ ở cảng Darwin gần Biển Đông phía Tây Bắc Úc, đồng thời kể từ năm 2017, trang bị cả máy bay chiến đấu tiên tiến bao gồm cả F-22 Raptor, để duy trì năng lực chiến đấu đáng tin cậy ở khu vực này.
Lấy các căn cứ quân sự của các nước như Philippines, Malaysia, Singapore, Thái Lan… làm trọng điểm, xây dựng một cách cơ động, linh hoạt nhóm căn cứ quân sự tiền duyên ở Biển Đông
Philippines là một trong những đồng minh của Mỹ, căn cứ theo Hiệp ước bảo vệ lẫn nhau ký năm 1951 và Hiệp định thăm viếng quân đội ký năm 1998, với phương thức trao đổi định kỳ, Mỹ đã đồn trú quân đội ở Philippines. Tháng 4/2012, sau khi vì tranh chấp đảo Hoàng Nham nên quan hệ với Trung Quốc trở nên căng thẳng, Chính phủ Philippines quyết định phát triển quan hệ an ninh mật thiết hơn với Mỹ để đối đầu với Trung Quốc. Tháng 4/2014, Mỹ và Philippines ký Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng, đây là thỏa thuận quan trọng tăng cường quan hệ đồng minh Philippines-Mỹ. Thỏa thuận mới sẽ cho phép Mỹ bố trí trang thiết bị chiến đấu trước ở căn cứ quân sự Philipines, khi xảy ra khủng hoảng không những tiết kiệm thời gian và nhiên liệu, mà còn có thể bố trí quân đội ở khoảng cách gần. Theo bản dự thảo thỏa thuận, Philippines sẽ cho phép Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự như Manila, Clark, Palawan, Cebu, Nueva Ecija và La Union, điều này đã tạo ra không gian khu vực rộng rãi cho Mỹ điều chỉnh bố trí quân sự ở Đông Nam Á.
Thái Lan là nước đồng minh khác của Mỹ ở Đông Nam Á, kể từ năm 1982 hai nước đã tổ chức tập trận chung, hàng năm Mỹ đều cử lực lượng quân sự đồn trú ở Thái Lan, trang thiết bị quân sự được bố trí liên tục tăng lên. Sau khi xảy ra sự kiện “11/9/2001”, Chính phủ Mỹ xác định Thái Lan là nước đồng minh không thuộc Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Để báo đáp, Thái Lan ủng hộ cuộc chiến chống khủng bố mà Mỹ phát động ở khu vực Trung Đông, cho phép lực lượng và trang thiết bị vũ khí tham chiến của Mỹ được trung chuyển qua căn cứ không quân U-Tapao, Thái Lan còn mở cửa căn cứ hải quân Sattahip cách U-Tapao không xa, trong thời gian Mỹ phát động cuộc chiến chống khủng bố, 2 căn cứ này đã tập trung lượng lớn trang thiết bị vũ khí. Ngoài việc thông qua tận dụng căn cứ quân sự của Thái Lan để duy trì sự hiện diện quân sự, Mỹ còn thành lập đoàn cố vấn quân sự của Mỹ ở Thái Lan. Đoàn cố vấn này là cơ quan viện trợ quân sự, với trách nhiệm chủ yếu là chỉ đạo và điều phối các cuộc tập trận song phương và đa phương mà Mỹ tổ chức và tham gia ở Thái Lan.
Singapore là đối tác mới mà Mỹ đồn trú quân đội ở khu vực Biển Đông. Hai nước đạt được thỏa thuận năm 1991, Mỹ chuyển Bộ Tư lệnh hậu cần Tây Thái Bình Dương đến Singapore. Đầu thế kỷ 21 hai nước lại ký thỏa thuận, Singapore lấy danh nghĩa cung cấp hậu cần, đã mở cửa căn cứ hải quân Changi cho Mỹ, cho phép hải quân Mỹ đồn trú. Sau khi Mỹ tuyên bố quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương, Singapore trở thành đối tác chiến lược quan trọng của nước này, tháng 6/2011, Mỹ và Singapore đạt được thỏa thuận đồng ý Mỹ xây dựng căn cứ quân sự mới ở Singapore, để cập bến tàu chiến ven biển mới nhất của Mỹ. Tháng 4/2013, tàu chiến ven bờ USS Freedom (LCS-1) đầu tiên đến căn cứ hải quân Changqi của Singapore, chính thức bắt đầu sứ mệnh của mình ở Tây Thái Bình Dương.
Giương cao lá cờ tự do hàng hải, dùng lực lượng hải quân và không quân như tàu chiến, tàu sân bay… công khai can dự vào vùng biển Biển Đông
Mỹ lấy lý do an ninh Biển Đông gây nguy hiểm cho tự do hàng hải của Mỹ ở vùng biển quốc tế, quan ngại về mối đe dọa quân sự của Trung Quốc ở khu vực này, chỉ trích hoạt động xây dựng đảo, đá của Trung Quốc ở Trường Sa, khuyến khích Philippines đơn phương kiện Trung Quốc lên Tòa Trọng tài quốc tế về vấn đề Biển Đông, kết hợp với các nước như Philippines, Nhật Bản, Úc… tập trận chung và tiến hành tuần tra bình thường, đẩy mạnh đối phó với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Người phát ngôn của Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ cho biết chỉ trong năm 2015, tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương đã thực hiện khoảng 700 nhiệm vụ ở Biển Đông. Ngày 28/6/2015, trong thời gian tham dự Diễn đàn hòa bình thế giới lần thứ 4, ủy viên Ủy ban đối ngoại của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc Trung tướng Trần Tiểu Công tiết lộ hoạt động trinh sát của máy bay quân sự Mỹ đối với các đảo, đá và tàu thuyền ở Biển Đông tăng từ hơn 260 lần năm 2009 lên hơn 1.200 lần năm 2014, con số này vượt qua mức độ trinh sát của Mỹ đối với Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Từ tháng 5/2016 đến nay, Mỹ luôn lên kế hoạch cử tàu chiến đến vùng biển gần của một số đáo, đá nhân tạo ở Biển Đông, lấy danh nghĩa bảo vệ quyền tự do hàng hải để tiến vào phạm vi 12 hải lý một phần đảo, đá thuộc quần đảo Trường Sa. Ngày 20/5/2015, một nhóm phóng viên của Mỹ ngồi trên máy bay tuần tra săn ngầm P-8A Poseidon quan sát 3 đảo, đá. Trong hành trình lần này của máy bay tuần tra Mỹ, hải quân Trung Quốc tổng cộng đưa ra 8 lần cảnh báo. Ngày 27/10, tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường USS Lassen (DDG-82) tiến vào phạm vi 12 hải lý của bãi đá Xubi và bãi đá Vành Khăn ở Biển Đông tuần tra. Ngày 5/11, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter lên thăm tàu sân bay USS Theodore Roosevelt (CVN-71) đang di chuyển trên Biển Đông, một lần nữa chỉ trích “Trung Quốc phá hoại sự ổn định khu vực và cân bằng lực lượng”. Ngày 10/12, khi thực hiện nhiệm vụ, máy bay ném bom chiến lược B-52 của không quân Mỹ vô tình bay vào phạm vi 12 hải lý trên không bãi đá Châu Viên. Ngày 30/1/2016, tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường USS Curtis Wilbur (DDG-54) chưa thông báo trước đã tiến vào khu vực 12 hải lý thuộc đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa, còn tuyên bố đây là hành động vô hại, lực lượng canh giữ đảo và máy bay tàu chiến hải quân Trung Quốc lập tức có hành động đối phó, tiến hành điều tra nhận biết đối với tàu chiến Mỹ, đồng thời đưa ra cảnh báo. Tháng 3/2016, nhóm tác chiến tàu sân bay gồm tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân USS John C. Stennis (CVN-74), hai tàu tuần dương USS Antietam (CG-54) và USS Mobile Bay (CG-53), hai tàu khu trục USS Stockdale (DDG 106) và USS Chung-hoon (DDG 93), cũng như tàu chỉ huy USS Blue Ridge (LCC-19) soái hạm của Hạm đội 7, tiến vào vùng biển tranh chấp ở Biển Đông.
Nếu các cuộc đàm phán tiến tới bế tắc, Mỹ nhiều khả năng sẽ từ bỏ thỏa thuận thương mại với Hàn Quốc hơn là các thỏa thuận khác đang được bàn thảo. Mối quan hệ ràng buộc nền kinh tế Mỹ với nền kinh tế Hàn Quốc yếu hơn so với mối quan hệ kết nối nước này với các nước như Mexico.
Mỹ đặt trọng tâm vào thương mại
Theo nhận định của giới chuyên gia, để phù hợp với quyết định của Nhà Trắng nhắm mục tiêu vào các quốc gia mà Mỹ có thâm hụt thương mại lớn, Trung Quốc, Mexico, Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ vẫn nằm trong trọng tâm của Washington trong năm 2018.
Nếu các cuộc đàm phán tiến tới bế tắc, Mỹ nhiều khả năng sẽ từ bỏ thỏa thuận thương mại với Hàn Quốc hơn là các thỏa thuận khác đang được bàn thảo. Mối quan hệ ràng buộc nền kinh tế Mỹ với nền kinh tế Hàn Quốc yếu hơn so với mối quan hệ kết nối nước này với các nước như Mexico.
Về quan hệ với Trung Quốc, Mỹ có thể sẽ áp dụng các biện pháp trừng phạt về thương mại, đầu tư và thực thi quyền sở hữu trí tuệ mà nước này có thể lập luận nằm trong hoặc ngoài thẩm quyền của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tùy thuộc vào việc lựa chọn nào phù hợp nhất với các nhu cầu của Mỹ.
Washington cũng sẽ tiếp tục vận động EU từ chối cấp cho Trung Quốc địa vị nền kinh tế thị trường ở WTO – danh hiệu khiến việc áp đặt các biện pháp chống bán phá giá đối với Trung Quốc sẽ khó khăn hơn.
Ngoài ra, mặc dù Tổng thống Mỹ Donald Trump có thể lựa chọn rút khỏi Hiệp định mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) vào năm 2018, nhưng các nhà đề xướng của khối này – bao gồm cả các nhà lập pháp Mỹ – sẽ tìm cách ngăn chặn một cách hợp pháp các hành động của tổng thống nhằm ngăn hiệp định thương mại này bị phá vỡ.
Nhìn chung, vai trò của Quốc hội Mỹ trong việc điều tiết các tranh chấp thương mại và pháp lý nước ngoài sẽ tiếp tục hạn chế hành động hành pháp trong thương mại trong năm nay.
Trung Quốc tập trung vào kinh tế-xã hội
Năm 2018, Trung Quốc sẽ tập trung vào các vấn đề kinh tế-xã hội gây thách thức. Tăng trưởng của nền kinh tế đang giảm tốc, làm phức tạp thêm tình trạng bất bình đẳng khu vực và xã hội, các hệ thống tài chính bị xáo trộn và sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường nước này.
Với mục tiêu hướng tới việc phân phối lại của cải, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ đẩy nhanh các cải cách tài khóa trong năm 2018, tập trung nhiều hơn vào các khu vực kém phát triển và thúc đẩy cơ sở tài chính của chính quyền địa phương.
Trung Quốc sẽ tiếp tục có những bước đi nhằm cải thiện phúc lợi xã hội khi các cải cách trong chính sách đất đai và hệ thống đăng ký hộ gia đình theo hộ khẩu định hình. Giới phân tích dự báo các đề xuất về tài khóa sẽ tập trung vào các vấn đề như việc thực thi các loại thuế môi trường, việc tăng thuế tài nguyên và giảm thuế cho các doanh nghiệp nhỏ và các cá nhân.
(Getty Images)
Mặc dù Trung Quốc cũng có thể có những bước đi hướng tới việc áp đặt thuế bất động sản, nhưng thị trường bất động sản có tính đòn bẩy cao của nước này có thể trì hoãn bất kỳ nỗ lực nào nhằm thực thi biện pháp này trên toàn quốc. Mặc dù vậy, các kỳ vọng của công chúng về tính hiệu quả của chính phủ sẽ gia tăng cùng với nỗ lực của chính phủ nhằm kiềm chế giá bất động sản đang tăng vọt, đặc biệt là ở các thành phố lớn.
Trung Quốc sẽ giữ nguyên những sự cắt giảm về sản lượng trong các ngành công nghiệp nặng như than đá và thép trong khi tìm cách giảm nợ cho các ngành này.
Nước này cũng sẽ thực thi chặt chẽ hơn nữa các quy định về môi trường. Nỗ lực của Bắc Kinh khắc phục sự thiếu hiệu quả trong các ngành công nghiệp nặng có thể gây sức ép đẩy giá các mặt hàng như than đá và thép lên cao, bù đắp cho đầu tư đang chậm lại.
Châu Á làm thay đổi trật tự kinh tế thế giới
Theo nhận định của tờ Le Monde (Pháp), trên bàn cờ kinh tế thế giới, châu Á sẽ càng khẳng định vị trí của mình. Sự năng động của khu vực châu Á-Thái Bình Dương tiếp tục thể hiện trong năm 2018 với tỷ lệ tăng trưởng có thể lên tới 5,4%, cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế thế giới (3,7%) cũng như tất cả các khu vực kinh tế khác.
Có nhiều yếu tố giải thích về sự phát triển của kinh tế châu Á, đó là: các nền tảng vĩ mô kinh tế vững chắc, hội nhập thương mại mạnh mẽ, dân số tăng nhanh, tỷ lệ đô thị hóa tương đối cao thúc đẩy ngành công nghiệp, dịch vụ và mức tiêu dùng.
Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh của Anh (CEBR) dự báo, trong năm 2018, Ấn Độ sẽ đứng thứ năm trong số các cường quốc kinh tế hàng đầu, vượt qua Pháp và Anh. Nếu tính Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo USD, đến năm 2030, Trung Quốc sẽ vượt lên trên Mỹ. Bất kể tính theo tiêu chí này, châu Á đều có xu hướng gia tăng tỷ trọng kinh tế.
Trong khi đó, theo điều tra của Công ty tư vấn Anh PwC, đến năm 2030, trong số 5 nền kinh tế hàng đầu thế giới có tới 4 nước châu Á, đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Indonesia. Các chuyên gia kinh tế nhận định “các trung tâm quyền lực kinh tế có xu hướng di chuyển rõ nét về châu Á còn trọng lượng kinh tế các nước phát triển sẽ giảm dần.”
Châu Âu lo cho tương lai
Những cuộc thảo luận về hình thức cấu trúc và quản trị của Liên minh châu Âu (EU) sẽ thu hút nhiều sự chú ý ở châu Âu trong năm 2018. Trong số các mục trong nghị trình của khối này có cách thức để tăng cường hội nhập tài chính, cơ chế đối phó với các cuộc khủng hoảng trong tương lai và chiến lược để gia tăng hợp tác an ninh và quốc phòng. Nhưng sẽ không dễ để tìm ra một con đường tiến về phía trước.
Trong khi phần lớn các nước thành viên EU đồng ý rằng cần có cải cách chính trị, thể chế và kinh tế, thì họ lại không đồng ý về việc những cải cách đó trông thế nào và tiến hành chúng ra sao. Theo thời gian, các vấn đề này sẽ một lần nữa phơi bày những chia rẽ từ lâu giữa phía Bắc và phía Nam cũng như phía Tây và phía Đông châu Âu.
Thủ tướng Đức Angela Merkel và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron. (Nguồn: Reuters)
Trung tâm của cuộc tranh luận này sẽ là Pháp và Đức. Dù hai cường quốc này sẵn sàng bảo vệ liên minh của họ, song họ có tầm nhìn khác nhau về liên minh châu Âu. Chính phủ Pháp, vốn vận động tranh cử dựa trên lời hứa thay đổi EU, đã đưa ra các cải cách kinh tế trong nước.
Pháp hy vọng thiết lập những cấu trúc mới mà sẽ cho phép chi tiêu công lớn hơn và chia sẻ rủi ro tài chính nhiều hơn bên trong khối này – một mục tiêu mà nhiều nước ở Nam Âu, trong đó có Italy và Tây Ban Nha, chia sẻ. Các nước này cũng tán thành việc đưa ra một loại bảo hiểm thất nghiệp chung cho người lao động EU và một loại bảo hiểm tiền gửi chung cho các ngân hàng EU.
Trong khi đó, Đức không nhất thiết phản đối những ý tưởng này. Tuy nhiên, nước này thực sự muốn đảm bảo rằng kèm theo chúng là sự giám sát hiệu quả hơn đối với các chính sách tài khóa và lĩnh vực tài chính của các nước thành viên. Berlin tin rằng các nước thường bẻ cong các nguyên tắc tài khóa của khối và những thể chế có nhiệm vụ thực hiện quy định đã bị chính trị hóa quá mức. Một số nước ở phía Bắc châu Âu, như Áo và Hà Lan, có cùng quan điểm này.
Giới quan sát cho rằng Pháp và Đức sẽ quan tâm đến hợp tác nhiều hơn là đối đầu. Nhưng chưa rõ liệu sự sẵn sàng làm việc cùng nhau của họ có đủ để đoàn kết châu Âu hay không.
Nam Mỹ hợp tác về kinh tế
Brazil sẽ tìm cách thông qua các biện pháp cải cách hệ thống lương hưu và tư hữu hóa tài sản nhà nước trong khi Argentina cũng sẽ thúc đẩy ban hành cải cách thuế cũng như các luật lao động mới nhằm mục đích ưu ái các nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, Argentina cùng với Brazil và các thành viên còn lại của Khối Thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur) sẽ tìm cách duy trì động lực trong các cuộc đàm phán thương mại với các đối tác ngoài khối trong năm 2018.
Các nhà lãnh đạo khối Mercosur. (Nguồn: Reuters)
Mercosur có truyền thống theo chủ nghĩa bảo hộ có một cơ hội nhỏ để mở rộng phạm vi thương mại của khối này trước khi các chính quyền ủng hộ kinh doanh ở Brazil và Argentina mãn nhiệm vào năm 2018 và 2019.
Để đạt được mục tiêu đó, các thành viên của khối này sẽ bắt đầu đàm phán nhiều hiệp định thương mại nhất có thể trong năm 2018, bao gồm các thỏa thuận với Liên minh châu Âu, Mexico, Canada và Hiệp hội thương mại tự do châu Âu.
Các cuộc đàm phán sẽ không phải lúc nào cũng đạt được các thỏa thuận cuối cùng, nhưng các nhà hoạch định chính sách càng tiến xa trong các cuộc đàm phán, thì càng có khả năng các chính quyền sắp tới ở các nước Mercosur sẽ tiếp tục thực hiện chúng.