Tag Archives: Việt Nam – Mỹ

30 năm Mỹ bỏ cấm vận – Từ cựu thù trở thành đối tác chiến lược toàn diện

Ngày 3/2 năm nay là kỷ niệm 30 năm ngày Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, mở đường cho tiến trình bình thường hóa quan hệ hai nước, đưa hai cựu thù xích lại gần nhau, trở thành đối tác chiến lược toàn diện.

Nỗ lực ra khỏi “cấm vận”

Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, tháng 5/1975, Tổng thống Gerald R. Ford đã ký lệnh áp đặt cấm vận thương mại với Việt Nam. Dẫu có những nỗ lực ngoại giao từ hai phía để thay đổi tình hình, lệnh cấm vận cuối cũng đã kéo dài gần 20 năm vì nhiều lý do khác nhau.

Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức vào năm 1986 đã đặt nền móng cho quá trình đổi mới tư duy nói chung và trong lĩnh vực đối ngoại nói riêng. Báo cáo Chính trị của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ quan điểm Việt Nam muốn mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế; mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình. Riêng đối với Mỹ, Việt Nam sẽ “tiếp tục bàn bạc để giải quyết các vấn đề nhân đạo do cuộc chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ song phương vì lợi ích, hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á”.

Sau khi Hiệp ước Paris chấm dứt chiến tranh Campuchia được ký kết năm 1991, bang giao giữa Việt Nam và các nước trong Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) chuyển dần sang đối thoại, hợp tác. Sự cải thiện quan hệ trong nội bộ ASEAN đã giúp cải thiện quan hệ của Việt Nam với thế giới nói chung, đặc biệt là với Mỹ.

Từ năm 1991, Mỹ nới lỏng dần lệnh cấm vận đối với Việt Nam, mở đường cho tiến trình bình thường hóa quan hệ hai nước.

Ngày 29/9/1990, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đã có cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ James Baker tại Washington. Cuộc gặp này đã mở ra các cuộc gặp, làm việc, đàm phán quan trọng trong những năm tiếp theo.

Tháng 6/1991, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ VII, đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Đại hội lần thứ VII đã xác định bình thường hóa quan hệ với Mỹ là một chủ trương đối ngoại quan trọng, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo nhân dân hai nước, có lợi cho hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực.

Trong năm 1992, Việt Nam và Mỹ đã có nhiều cuộc tiếp xúc để thảo luận về vấn đề tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Trong ba ngày từ 17- 19/10/1992, phái đoàn của J. Vessey, đặc phái viên của Tổng thống Mỹ, đến Hà Nội nhằm thảo luận về các biện pháp tăng cường hợp tác việc tìm kiếm các quân nhân Mỹ bị mất tích trong chiến tranh Việt Nam.

Việc xử lý khối tài sản của Việt Nam bị Mỹ tịch thu và tài sản của Mỹ bị Việt Nam tịch thu cũng được tiến hành trong giai đoạn này. Sau khi chiến tranh kết thúc, chính quyền Mỹ trình Quốc hội một nghị định để tất cả những công dân Mỹ có tài sản bị mất mát, bị tịch thu ở Việt Nam trước 30/4/1975 làm tờ khai, sau đó tổng hợp lại để thương lượng với Việt Nam.

Năm 1989, Hội đồng Thương mại Mỹ – Việt Nam (USVTC), trực thuộc Trung tâm Quốc tế tại Washington D.C đã được thành lập. USVTC luôn đi đầu trong các nỗ lực vận động dư luận, chính phủ và quốc hội Mỹ dỡ bỏ cấm vận, tiến đến bình thường hoá với Việt Nam.

Tháng 11/1992, Tổng thống George H. W. Bush lần đầu tiên gửi thư cho Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh qua đặc phái viên J. Vessey về quan hệ ngoại giao song phương. Ngày 14/12/1992, Tổng thống Mỹ Bush tuyên bố bãi bỏ một phần lệnh cấm vận đối với Việt Nam.

Đầu năm 1993, ông Bill Clinton được bầu làm Tổng thống. Là người từng chống việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam, Tổng thống Bill Clinton đã tích cực thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

Hàng loạt vấn đề vướng mắc, trở ngại đã lần lượt được giải quyết để đến ngày 3/2/1994, Tổng thống Bill Clinton đã tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam.

Mở ra dòng chảy đầu tư, thương mại

Sau khi bỏ cấm vận, Bộ thương mại Mỹ cũng đã chuyển Việt Nam từ nhóm Z, tức nhóm bị hạn chế thương mại gồm Bắc Triều Tiên, Cuba, Việt Nam, lên nhóm Y là nhóm ít bị hạn chế thương mại hơn, gồm Liên Xô và các nước thuộc khối Vacsava cũ như Albania, Mông Cổ, Lào, Campuchia…

Ngày 26/6/1994, Mỹ và Việt Nam đã nhất trí trao đổi các văn phòng đại diện liên lạc nhằm cụ thể hóa việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nước. Và ngày 11/7/1995, Tổng thống Bill Clinton đã công bố “bình thường hóa quan hệ” với Việt Nam, đánh dấu trang mới trong lịch sử quan hệ ngoại giao của hai nước. Trong bài phát biểu của mình, Tổng thống Bill Clinton nhấn mạnh “bước đi này cũng sẽ giúp đất nước chúng ta tiến lên phía trước về một vấn đề chia rẽ người Mỹ với nhau quá lâu rồi”.

Tiếp đó, ngày 6/8/1995, Ngoại trưởng Warren Christopher thăm Hà Nội và chính thức mở Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, đồng thời Việt Nam cũng mở Đại sứ quán tại Washington D.C.

Ngay khi lệnh cấm vận vẫn còn hiệu lực, ngày 30/10/1985, một đoàn 30 doanh nghiệp Mỹ thuộc các ngành sản xuất xe hơi, máy bay, chế tạo máy, điện lực, điện thoại, du lịch đến thăm Hà Nội. Trong chuyến thăm này, các doanh nghiệp Mỹ đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp đón.

Luật Đầu tư nước ngoài 1987 đã khiến cho dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam liên tục gia tăng cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990. Trong bối cảnh đó, một số công ty của Mỹ cũng bắt đầu muốn đầu tư vào Việt Nam.

Năm 1989, các công ty Mỹ như General Electric, IBM, Boeing, Ford… thông qua các hình thức khác nhau đã đến Việt Nam tìm cơ hội đầu tư. Tháng 11/1991, Mỹ bắt đầu cho phép các doanh nghiệp tổ chức đoàn đi Việt Nam, trong đó một số doanh nghiệp bắt đầu đặt văn phòng đại diện để chuẩn bị cho hoạt động đầu tư.

Đến tháng 12/1992, Văn phòng kiểm soát tài sản nước ngoài của Mỹ đã cấp tổng cộng 160 giấy phép cho các công ty Mỹ để hoạt động tại Việt Nam. Trong số này, 27 công ty đã có hoạt động thực sự, và 18/27 công ty này đã được Bộ Thương mại Việt Nam cấp giấy phép mở Văn phòng đại diện.

Trong khi đầu tư trực tiếp (FDI) của Mỹ vào Việt Nam từ 1988 đến 1993, khi lệnh cấm vận chưa được dỡ bỏ, chỉ đạt 3,3 triệu USD, thì chỉ sau năm đầu tiên lệnh cấm vận được dỡ bỏ (1994), con số này đạt trên 266 triệu USD, tức trên 80 lần của toàn bộ 6 năm trước.

Như vậy, sau hơn một năm bỏ cấm vận, Mỹ đã chuyển từ vị trí thứ 11 (1994) lên vị trí thứ 8 trong tổng số trên 50 quốc gia, vùng lãnh thổ có vốn đầu tư FDI vào Việt Nam. Nếu chỉ tính riêng năm 1995 thì Mỹ đã chuyển lên vị trí thứ 6, chỉ sau Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Thụy Điển.

Điều quan trọng hơn là sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận, các nhà đầu từ các quốc gia khác đã yên tâm đầu tư vào Việt Nam.

Với các diễn biến quan trọng sau đó như việc hai nước ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam – Mỹ vào năm 2000, Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 sau nhiều năm đàm phán, chủ yếu với Mỹ, dòng vốn đầu tư của Mỹ vào Việt Nam đã có sự gia tăng rất đáng kể, mặc dù vẫn chưa xứng với tiềm năng.

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và đầu tư, tính đến cuối năm 2022, Mỹ đang đứng thứ 11 trên tổng số 143 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký FDI còn hiệu lực tính đến tháng 10/2023 là 11,8 tỷ USD và 1.306 dự án.

Tuy nhiên trong khi quan hệ đầu tư còn khiêm tốn, quan hệ thương mại đã có sự tăng trưởng rất nhanh chóng. Năm 2021, xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ đạt 111,56 tỷ USD, tăng gần 21 tỷ USD so với mốc 90,8 tỷ USD trong năm 2020. Trong lịch sử ngoại thương của Việt Nam, Mỹ là đối tác thương mại thứ hai đạt được mốc 100 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu (sau Trung Quốc).

Nhân chuyến thăm Việt Nam vào năm 2023 của Tổng thống Mỹ Joe Biden, hai nước đã tuyên bố nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện, mở ra nhiều cơ hội hợp tác quan trọng trong tương lai. Sau 30 năm thoát khỏi lệnh cấm vận, Việt Nam giờ đây đang dần trở thành một đối tác kinh tế quan trọng của Mỹ.

BDN

Loading

Views: 0

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đang có chuyến thăm Việt Nam từ ngày 14.4 đến 16.4 theo lời mời của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn. Chiều 15.4.2023 Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken tại trụ sở Trung ương đảng.

Những hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken - Ảnh 1.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken. Ảnh: CTV

Cùng ngày 15.4, Ngoại trưởng Antony Blinken đã tiếp kiến Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại trụ sở Chính phủ, hội đàm với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn tại Nhà khách Chính phủ; dự lễ khởi công khu phức hợp Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội tại quận Cầu Giấy, thăm Đại học Bách khoa Hà Nội.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken cũng có cuộc hội kiến với Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Lê Hoài Trung; gặp mặt báo giới và có một số hoạt động khác.

Năm 2023, có ý nghĩa quan trọng, là dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Mỹ. Hai bên nhất trí phối hợp chặt chẽ để chuẩn bị tốt nhất cho các hoạt động trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao và các cấp trong thời gian tới, góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước, đồng thời đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực.

Trong cuộc điện đàm cấp cao ngày 29-3, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Mỹ Joe Biden nhất trí thúc đẩy, phát triển, làm sâu sắc hơn quan hệ song phương, vì lợi ích của hai nước, hòa bình, hợp tác và phát triển, đề nghị giao các cơ quan chức năng của hai bên trao đổi các nội hàm cụ thể nhằm tiếp tục thúc đẩy quan hệ trong thời gian tới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden đã nhắc lại lời mời thăm cấp cao lẫn nhau. Hai nhà lãnh đạo vui vẻ nhận lời và giao các cơ quan liên quan thu xếp vào thời gian phù hợp.

BDN

Loading

Views: 0

Việt Nam được gì khi nâng cấp quan hệ với Mỹ

Nếu nâng cấp quan hệ với Mỹ, Việt Nam sẽ có cơ hội nâng cao vị thế của mình và nâng cấp hệ thống quân đội. Bên cạnh đó, cũng có lo ngại rằng hành động này sẽ làm Trung Quốc không hài lòng, từ đó sẽ gia tăng các hành động gây hấn trên Biển Đông.

Các chuyên gia về chính trị, quan hệ quốc tế và an ninh hàng hải, trong bài viết này, sẽ phân tích góc nhìn của họ về những mặt lợi và thách thức mà Việt Nam phải đối mặt khi xích lại gần hơn với Mỹ.

HỢP THỨC HOÁ MỐI QUAN HỆ

Cựu Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, từng khẳng định rằng dù chưa phải là Đối tác chiến lược, nhưng trên thực tế, “quan hệ Việt – Mỹ đã ở tầm chiến lược và nói rộng ra, mối quan hệ này mang cả tính toàn diện và tính chiến lược.

Tiến sỹ Hồng Hiệp cho rằng nếu như không có một khuôn khổ chính trị hay pháp lý để tạo điều kiện cho các hoạt động được thực hiện thì nhiều dự án hợp tác hai bên có thể sẽ không bao giờ được triển khai. Đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng…

Lấy ví dụ, khi Mỹ muốn chuyển giao một số trang thiết bị quốc phòng hay vũ khí cho Việt Nam, nếu như hai bên đã có một khuôn khổ Đối tác chiến lược thì việc thông qua các biện pháp hợp tác như vậy sẽ sẽ thuận lợi hơn:

“Tôi đồng ý ở một mức độ nào đó là cho dù không có tuyên bố hay là hiệp định Đối tác chiến lược thì quan hệ song phương vẫn sẽ tiếp tục phát triển như lâu nay, bởi vì hai bên vẫn cần nhau về mặt kinh tế chính trị và chiến lược.

Tuy nhiên, tốc độ phát triển này có thể sẽ bị kìm hãm nếu không có những công cụ hay khuôn khổ chính trị – pháp lý để tạo điều kiện cho nó phát triển một cách nhanh chóng.”

Theo ông Thế Phương, rõ ràng là cái tên cũng rất quan trọng, bởi vì nó định hình bản chất và nó định hình “niềm tin chiến lược” khi Việt Nam đưa Mỹ lên ngang hàng với một số đối tác lớn khác:

“Cái quan trọng nhất là nó mở rộng hơn nữa tư duy hợp tác. Nó tạo ra thêm dư địa để hợp tác trong tương lai, chứ còn nội hàm hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ nó đã rất là tốt rồi, đặc biệt là những vấn đề phi an ninh như y tế, đầu tư, chuỗi cung ứng và vai trò của Việt Nam trong mạng lưới mà Mỹ dẫn dắt khu vực…

Nó sẽ giúp cho Việt Nam và Mỹ hợp tác được ở những lĩnh vực mà trước đây Mỹ và Việt Nam chưa hợp tác, ví dụ như là “không gian” và kết nối vào một số mạng lưới quan trọng, chuyển giao công nghệ và đặc biệt là an ninh quốc phòng.”

Ngoài ra, ông Phương cho rằng, khi mà đã nâng cấp mối quan hệ thì những nút thắt về niềm tin sẽ nới lỏng. Khi đó, hai nước sẽ có sự tin tưởng nhất định để phát triển hơn nữa mối quan hệ trong tương lai.

LỢI ÍCH

Theo quan điểm của tiến sỹ Lê Hồng Hiệp, việc nâng cấp mối quan hệ hai bên lên Đối tác chiến lược có hai lợi ích chính. Thứ nhất là nâng cao vị thế của Việt Nam, và thứ hai là tạo điều kiện để làm sâu sắc hơn mối quan hệ Việt – Mỹ trong bối cảnh mà Mỹ càng ngày càng trở thành đối tác quan trọng của Việt Nam trên mọi lĩnh vực:

“Về lợi ích thì nó thể hiện vai trò vị trí của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Mỹ sẽ được nâng lên và Việt Nam sẽ có cơ sở chính trị và pháp lý để tiến hành các hoạt động nâng cao hoặc là làm sâu sắc hơn quan hệ với Hoa Kỳ.”

Thạc sỹ Nguyễn Thế Phương cũng ủng hộ phát triển mối quan hệ Việt – Mỹ lên một tầm cao mới. Bởi, khi đó, Việt Nam sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc hiện đại hoá quận đội:

“Nguyên nhân lớn nhất là tập trung quá nhiều vào vũ khí của Nga, mà thông qua cuộc chiến Nga Ukaine chúng ta có thể thấy là nó bộc lộ cực kỳ nhiều thứ và nhiều vấn đề.

Những thứ vũ khí vốn trước đây được Việt Nam tung hô thì giờ nó bộc lộ trên thực tế rất nhiều vấn đề. Cuộc chiến đó nó còn cho ta thấy là bây giờ dựa vào Nga là tiêu.

Trước cuộc chiến đó, 60 – 70% vũ khí của Việt Nam là nhập khẩu từ Nga. Mình nghĩ rằng nếu muốn thay đổi, đẩy mạnh đa dạng hóa về mặt trang thiết bị, hiện đại hóa thì bắt buộc phải tương tác nhiều hơn với phương Tây, và muốn tương tác được với phương Tây thì phải tương tác tốt với Mỹ.”

Ông Phương cảnh báo nếu bỏ lỡ cơ hội này thì quá trình hiện đại hóa sẽ chậm lại, kéo theo những lợi ích trên biển Đông sẽ bị ảnh hưởng. Tương quan trên Biển giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ chênh lệch ngày càng lớn hơn.

RÀO CẢN TỪ TRUNG QUỐC

Ông Vũ Xuân Khang cho biết rào cản lớn nhất vẫn là thái độ của Trung Quốc với các biến chuyển trong quan hệ Việt – Mỹ. Việt Nam được hưởng lợi từ sự ổn định trong quan hệ Việt – Trung nhiều hơn là nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ do Trung Quốc là nước có ảnh hưởng lớn nhất đến an ninh của Việt Nam:

“Quan hệ Việt – Trung ổn định trước hết sẽ giúp Việt Nam tránh bị Trung Quốc tạo các áp lực quân sự và chạy đua vũ trang không cần thiết.

Thứ hai, giữ vững quan hệ Việt – Trung cũng giúp Việt Nam duy trì quan hệ thương mại và đầu tư với Trung Quốc, nhất là trong hoàn cảnh Việt Nam đang cần hồi phục kinh tế sau đại dịch.

Nếu Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ và làm Trung Quốc không hài lòng, có nhiều khả năng Trung Quốc sẽ gia tăng các hành động gây hấn trên biển Đông để răn đe Việt Nam đừng tin tưởng vào lời hứa của Mỹ.”

Chưa kể, theo ông Khang, nếu Trung Quốc nhìn nhận Việt Nam thực sự đang cố hợp tác với Mỹ để kiềm tỏa Trung Quốc về lâu dài, họ sẽ lại dạy cho Việt Nam một bài học như cách họ đã làm vào năm 1979.

Ngược lại, tiến sỹ Lê Hồng Hiệp cho rằng nếu không sớm tiến hành nâng cấp mối quan hệ với Mỹ, Việt Nam chỉ có thiệt chứ không có được lợi ích gì.

Trước giờ, Việt Nam luôn giả định rằng Trung Quốc sẽ có các hành động trả đũa hoặc là gây áp lực về kinh tế hay quân sự trên Biển Đông, trong trường hợp Việt Nam có mối quan hệ gần hơn với Mỹ:

“Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thẳng thắn ở chỗ là quan hệ Đối tác chiến lược của Việt Nam cũng là một điều rất bình thường, nó cũng chỉ là một tuyên bố chính trị chứ không phải là một liên minh quân sự, cho nên là khó có thể tạo ra một phản ứng quá mạnh mẽ từ phía Trung Quốc.”

Trung Quốc tất nhiên là không muốn Việt Nam xích lại gần với Mỹ. Tuy nhiên, theo ông Hiệp, việc nâng cấp mối quan hệ này không phải là một cái gì đó quá to tát hay thách thức đối với Trung Quốc đến mức khiến Trung Quốc phải tìm cách để gây sức ép đối với Việt Nam. Đặc biệt là trong bối cảnh mà càng gây sức ép đối với Việt Nam thì Việt Nam càng có lý do để rời xa Trung Quốc và xích lại gần Mỹ. Đó cũng là điều mà Trung Quốc không mong muốn.

Về mối lo ngại rằng Việt Nam phát triển quan hệ với Mỹ thì sẽ bị Trung Quốc trừng phạt về mặt kinh tế, tiến sỹ Hiệp cho biết thực ra, vị thế của Việt Nam bây giờ cũng đã khác rất xa so với thời 1970 – 1980, khi Việt Nam không có nhiều sự lựa chọn và phải phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc. Bây giờ Việt Nam đã có những đòn bẩy để có thể lựa chọn:

“Nhiều người lo ngại trong trường hợp Việt Nam phát triển quan hệ với Mỹ thì sẽ bị Trung Quốc trừng phạt về mặt kinh tế.

Tuy nhiên chúng ta phải nhìn thấy là quan hệ kinh tế là quan hệ hai chiều. Việt Nam nhập khẩu rất nhiều từ Trung Quốc, Trung Quốc là đối tác lớn nhất của Việt Nam về mặt thương mại. Tuy nhiên, Việt Nam mua nhiều từ Trung Quốc cũng có nghĩa là Trung Quốc bán sang cho Việt Nam rất nhiều.

Trong trường hợp mà họ có các biện pháp để cắt đứt hoặc hạn chế thương mại Việt Nam thì không chỉ Việt Nam thiệt hại mà Trung Quốc cũng chịu thiệt hại. Cho nên là Trung Quốc cũng sẽ phải rất cân nhắc.”

Về giả định Trung Quốc có thể sử dụng quân sự để gây sức ép với Việt Nam trên Biển Đông. Tiến sỹ Hồng Hiệp nói:

“Từ rất lâu nay rồi Việt Nam không có nâng cấp mối quan hệ với Mỹ thì Trung Quốc vẫn thường xuyên gây sức ép với Việt Nam ở trên Biển Đông.”

Bây giờ, nếu Việt Nam tiến hành một hoạt động ngoại giao, mà theo ông Hiệp là bình thường. Nó thể hiện chủ quyền, sự tự chủ và phục vụ rất là tốt cho lợi ích của Việt Nam, thì những sức ép như vậy đối với Việt Nam cũng là điều bình thường, không phải là cái giá quá đắt. Hơn nữa, hành động nâng cấp mối quan hệ với Mỹ nó cũng không nghiêm trọng tới mức khiến Trung Quốc tấn công quân sự Việt Nam, ông Hiệp kết luận.

BDN

Loading

Views: 0