Khái quát những kịch tính trong quan hệ Mỹ – Trung Quốc trong năm 2019, năm kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Phân tích của Báo Thế giới & Việt Nam.
Cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung trong 2019 bộc lộ cụ thể và rõ ràng hơn, quyết liệt hơn. Biếm họa của tờ The New York Times.
Năm 2019 sắp đi qua này là năm kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Mỹ và Trung Quốc. Trong khoảng thời gian ấy, mối quan hệ song phương này đã có những thời trăng mật và nồng ấm, nhưng cũng không ít giai đoạn giận hờn và căng thẳng.
Bất đồng và xung khắc
Xa xưa nữa thì giờ không đề cập đến làm gì. Vào thời điểm cách đây 40 năm, mắc mớ lớn nhất, cơ bản nhất và gần như duy nhất phủ bóng đen xuống mối quan hệ giữa hai bên là vấn đề Đài Loan. Bốn mươi năm sau, vấn đề Đài Loan không những vẫn tiếp tục tồn tại như một trong những trở ngại chính cho cặp quan hệ song phương này mà thậm chí còn trở nên nan giải hơn và nhạy cảm hơn trước gấp bội lần đối với cả hai bên.
Khi chơi con bài Mỹ và bình thường hoá quan hệ với Mỹ cách đây nhiều thế kỷ, Trung Quốc có thể đã suy tính hoặc nuôi ảo vọng là trên nền quan hệ mới với Mỹ có thể thu hồi được Đài Loan. Thực tế đến nay cho thấy, cái giá mà Trung Quốc đã phải trả cho việc bình thường hoá quan hệ với Mỹ là mối quan hệ đồng minh chiến lược giữa Mỹ và Đài Loan khiến cho Trung Quốc không thể thu hồi được Đài Loan bằng bất kể phương cách nào nếu như Mỹ chưa buông bỏ Đài Loan.
Bên cạnh vấn đề Đài Loan, Mỹ và Trung Quốc hiện còn bất đồng quan điểm và xung khắc lợi ích trên không ít phương diện khác nữa mà ở đâu cũng đều động chạm tới lợi ích chiến lược cơ bản và lâu dài của cả hai bên. Tất cả những điều ấy làm cho năm 2019 này trở thành một năm kỷ niệm buồn đối với cặp quan hệ song phương này.
Bất đồng quan điểm và xung khắc lợi ích giữa hai bên được thể hiện gói gọn trong cụm từ “Cạnh tranh chiến lược”. Và cuộc cạnh tranh này trong năm 2019 bộc lộ cụ thể và rõ ràng hơn cũng như diễn biến quyết liệt hơn trong thời gian trước đó.
Sẽ có phần hơi vội vàng và quy chụp khi cho rằng, vì ông Donald Trump lên cầm quyền ở Mỹ nên quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc mới biến động với những diễn biến và theo chiều hướng như vậy. Đúng hơn thì phải thấy và xác nhận rằng, cặp quan hệ song phương này đã đến lúc bộc lộ và phát tác như vậy mà vai trò lịch sử của ông Trump đối với nước Mỹ ở đây chỉ là chất xúc tác hoặc giọt nước làm tràn cốc.
Ngoài vấn đề Đài Loan, Mỹ và Trung Quốc hiện còn hục hoặc nhau trong nhiều vấn đề khác nữa như xung khắc thương mại hay tình hình an ninh ở khu vực Biển Đông, như kế hoạch “Made in China 2025” của Trung Quốc, như sáng kiến Một vành đai, một con đường của Trung Quốc, tình hình chính trị xã hội an ninh và ổn định ở Hồng Công hay cách thức Mỹ đối xử các tập đoàn kinh tế của Trung Quốc như Huawei hoặc ZTE…..
Phía Mỹ và Trung Quốc cho biết, thoả thuận thương mại mới trên nền tảng kết quả của vòng đàm phán thương mại song phương thứ 13 vừa qua sẽ được ông Trump và chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chính thức ký kết bên lề hội nghị cấp cao thường niên năm nay của diễn đàn APEC ở Chi lê trong tháng 11 tới. Nhưng vì thoả thuận này chỉ là giải pháp tình thế tạm thời cho cuộc xung khắc thương mại và không có được tính cơ bản và nguyên tắc nên chỉ có thể là một khoảng tĩnh lặng tương đối giữa hai lần giông bão.
Chưa ổn thoả, cơ bản và lâu dài
Có thể khái quát hoá mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc năm 2019 theo những khía cạnh sau đây.
Thứ nhất, cặp quan hệ này trong năm 2019 không ổn nhiều hơn được ổn, không bình thường nhiều hơn bình thường, không tốt đẹp nhiều hơn là tốt đẹp, không tiến triển được đáng kể nhưng cũng không bị xấu đi nghiêm trọng. Dù vậy, cuộc cạnh tranh chiến lược đã bộc lộ công khai và cụ thể hơn bao giờ hết. Phía Mỹ chủ trương chơi một cuộc chơi lâu dài với Trung Quốc trong khi phía Trung Quốc vừa đáp trả vừa né tránh để có thêm thời gian củng cố cũng như tăng cường thế và lực.
Thứ hai, Mỹ và Trung Quốc biểu hiện ra bên ngoài luôn sẵn sàng chơi sát ván đến cùng với nhau nhưng trong thực chất lại luôn để ý đảm bảo duy trì sự kiểm soát tình hình, giữ dư địa cho bước lùi và đi vào thoả hiệp với nhau. Cho nên các đối tác của hai nước này cần nhìn nhận cả việc họ làm găng với nhau lẫn việc họ đi vào thoả hiệp với nhau trong tính tương đối và nhất thời của nó.
Thứ ba, Mỹ và Trung Quốc gia tăng mức độ quyết liệt của cuộc cạnh tranh chiến lược nhưng đồng thời lại có thoả hiệp và thoả thuận cục bộ, không vì thoả hiệp và thoả thuận cục bộ mà làm thay đổi bản chất của cuộc cạnh tranh chiến lược, đồng thời không vì gia tăng mức độ quyết liệt của cuộc cạnh tranh chiến lược mà không thể có được thoả hiệp và thoả thuận cục bộ với nhau.
Thứ tư, nhân tố đối nội đóng vai trò quyết định hơn cả trong năm 2019 đối với cả Mỹ lẫn Trung Quốc. Ông Trump muốn có bằng chứng về kiên định thực hiện cam kết vận động tranh cử và nhằm đến cuộc bầu cử tổng thống lần tới ở Mỹ. Phía Trung Quốc coi trọng việc bảo tồn thể diện và hạn chế thiệt hại. Cũng vì thế, mối quan hệ song phương này trong năm 2019 diễn biến không gây bất ngờ lớn, nhưng trong năm 2020 sắp tới nhiều khả năng sẽ khác.
Thứ năm, trong năm 2019, Mỹ và Trung Quốc chưa xử lý được ổn thoả, cơ bản và lâu dài vấn đề mắc mớ hay xung khắc lợi ích chiến lược nào. Điều này phản ánh cơ chế xử lý quan hệ song phương bằng các cuộc gặp nhau giữa ông Trump và ông Tập Cận Bình chỉ có tác dụng thực tế hạn chế. Hai người này đã và sẽ còn gặp nhau mỗi khi cần rút củi đáy nồi để rồi sau đấy lại thêm củi vào dưới đáy nồi.
Mỹ ngày 16.10 công bố quy định mới buộc các nhà ngoại giao Trung Quốc tại sứ quán nước này phải thông báo cho Bộ Ngoại giao Mỹ trước khi tiếp xúc giới chức địa phương cũng như thăm các viện nghiên cứu trên đất Mỹ.
Theo Reuters dẫn thông báo của Bộ Ngoại giao Mỹ, đây là biện pháp nhằm buộc Bắc Kinh nới lỏng tình trạng kiểm soát các nhà ngoại giao Mỹ đang làm việc tại Trung Quốc.
Washington cho hay từ lâu các thành viên ngoại giao đoàn của Mỹ ở Trung Quốc luôn phải đăng ký xin phép nếu muốn gặp giới chức chính quyền, cũng như giới học giả địa phương. “Chúng tôi đã than phiền với Bắc Kinh về tình trạng này suốt những năm qua”, theo một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ, thêm rằng xác suất bị từ chối rất cao.
Chính quyền Trung Quốc ngày 17.10 gọi cáo buộc trên của Mỹ là “vô căn cứ” và khẳng định Bắc Kinh luôn tạo điều kiện cho các nhà ngoại giao nước ngoài làm việc tại nước này. Bộ Ngoại giao Trung Quốc chỉ trích Mỹ vì hành động vi phạm Công ước quốc tế về quan hệ ngoại giao, và kêu gọi đối phương hãy lập tức “sửa sai” nếu không muốn làm xấu đi quan hệ hai nước.
Theo giới chuyên gia, học giả Trung Quốc, Mỹ sẽ triển khai Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương theo bốn hướng và mục đích là nhằm kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc.
Nhiều bài viết trên các tạp chí, báo mạng Trung Quốc tập trung phân tích về Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, trong đó cho rằng Mỹ đang triển khai nhiều biện pháp, cách thức khác nhau để chống lại Trung Quốc.
Thứ nhất, Mỹ sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc chuẩn bị ứng phó với xung đột vũ trang bùng phát với Trung Quốc. Điều này ngà càng nổi bật bao gồm nhiều hơn các cuộc tập trận đối kháng mô phỏng môi trường thực chiến, chuẩn bị cho chiến tranh của Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương bắt đầu được chú ý đặc biệt khi Tổng thống Mỹ Donald Trump mở đầu bài phát biểu của mình tại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Đà Nẵng tháng 11/2017 bằng việc bày tỏ sự vinh hạnh được “hiện diện tại Việt Nam, trái tim của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Trong suốt chuyến công du châu Á dài gần hai tuần của mình, Tổng thống D.Trump đã liên tục sử dụng thuật ngữ này như có hàm ý về chiến lược mới của Mỹ ở khu vực vẫn thường được biết đến là châu Á – Thái Bình Dương. Mặc dù hai năm trở lại đây, cọ xát thương mại Mỹ – Trung Quốc trở thành mối quan tâm của cộng đồng quốc tế, nhưng Mỹ vẫn không hề giảm sức ép đối với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Mỹ tăng cường bố trí quân sự ở Biển Đông để đối với với trường hợp xung đột với Trung Quốc ở Biển Đông. Bên cạnh đó, Mỹ cũng quan tâm đối phó với Trung Quốc trong vấn đề Đài Loan vì Đài Loan được coi là mắt xích quan trọng của Mỹ trong Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Thứ hai, Mỹ tìm cách xây dựng hệ thống đồng minh, đối tác nhiều tầng nấc, thúc đẩy cơ cấu an ninh liên kết mạng, tiến tới củng cố sức mạnh kiềm chế quân sự đối với Trung Quốc. Mỹ hy vọng xây dựng một kết cấu bốn vành đai, coi trọng hơn khu vực Nam Á, Đông Nam Á, Nam Thái Bình Dương, mở rộng quan hê an ninh, quân sự. Vành đai thứ nhất gồm các nước Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan. Vành đai thứ hai gồm Singapore, Đài Loan, New zealand, Mông Cổ. Vành đai thứ ba gồm các nước Malaysia, Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Papua New Guinea. Vành đai thứ tư gồm các nước Anh, Pháp, Canada. Bốn nước và cũng là các cường quốc về kinh tế, quân sự đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và Mỹ. Đây là những nước thành viên của nhóm “Đối thoại an ninh bốn bên” (gọi tắt là nhóm “Bộ tứ,” hay “Tứ giác kim cương”) được hình thành từ năm 2007 do sáng kiến của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe. Quan điểm của chính quyền bốn nước về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mặc dù rất gần với nhau nhưng cũng không hoàn toàn trùng khớp. Trong khi Mỹ cho rằng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là khu vực trải từ bờ tây nước này tới bờ tây Ấn Độ thì tầm nhìn của Nhật Bản lại tham vọng hơn khi mở rộng tới tận bờ đông của Châu Phi. Tuy chưa có định nghĩa chính thức của mình nhưng Ấn Độ có quan điểm tương tự Nhật Bản; còn cách nhìn của Australia về cơ bản giống Washington. Một điểm chung nổi bật đó là: dù còn khác biệt về quan điểm nhưng cả bốn nước đều ủng hộ và nhấn mạnh vai trò trung tâm của Ấn Độ với chiến lược mới. Ấn Độ có tiềm năng và sẵn sàng gánh vác trách nhiệm an ninh khu vực.
Thứ ba, Bộ Quốc phòng Mỹ và các cơ quan trong chính quyền Mỹ tìm cách an ninh hóa vấn đề kinh tế nên chắc chắn có ảnh hưởng tiêu cực đến Sáng kiến “vành đai, con đường” (BRI). BRI bị phương Tây chỉ trích là thiếu minh bạch, chất lượng thấp, xâm phạm lãnh thổ và làm nhiều nước nghèo ngập trong nợ nần. Tuy nhiên, sự tham gia ở mức độ khác nhau của đông đảo các nước trong khu vực vào sáng kiến này cho thấy sức ảnh hưởng ngày một gia tăng của Trung Quốc. Mỹ tìm cách gây ra những xung đột về kinh tế, công nghệ để gây sức ép với Trung Quốc, nhằm thay đổi tình trạng công nghiệp quân sự của Mỹ quá phụ thuộc vào Trung Quốc. Mỹ lo ngại các công ty của Trung Quốc sẽ vượt mặt các công ty Mỹ và chiếm lĩnh chuỗi cung ứng toàn cầu về sản xuất và hàng hóa. Mỹ sẽ gần như không thể cạnh tranh Trung Quốc về đầu tư cơ sở hạ tầng ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Điều này đặc biệt đúng trong bối cảnh chính trị trong nước khi gói đầu tư cơ sở hạ tầng nội địa vẫn bế tắc và bức tường biên giới “to với một cánh cửa đẹp” của Tổng thống Trump vẫn chỉ đang dừng lại ở mức hàng rào. Tuy nhiên đóng góp quan trọng nhất của Mỹ sẽ ở khía cạnh hợp tác quân sự. Với chính sách “Nước Mỹ trên hết” của mình, chính quyền Trump đã đề xuất ngân sách quốc phòng 2019 ở mức 716 tỉ USD, tăng 7% so với đề xuất cho năm 2018 và 13% so với chi tiêu quốc phòng 2017. Ở thời điểm hiện tại, tiềm lực quân sự của Mỹ trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vẫn có ưu thế lấn át. Việc đầu tư mạnh mẽ vào quốc phòng của nước này có lẽ sẽ tạo điều kiện cho mở rộng hợp tác quân sự và hỗ trợ nhiều hơn cho các đồng minh và đối tác trong khu vực.
Thứ tư, Mỹ tiếp tục hoàn thiện, linh hoạt sử dụng các công cụ chính sách khác nhau, nâng cao tính tác động qua lại với đồng minh và đối tác. Đầu tháng 2/2018, Tổng thống Donald Trump đã bày tỏ ý định sẽ đề cử Thống đốc Harry Harris, người đứng đầu Bộ tư lệnh Thái Bình Dương làm Đại sứ Mỹ tại Australia. Harris là người có quan điểm cứng rắn với Trung Quốc và ủng hộ mạnh mẽ việc tăng cường hiện diện quân sự ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ngay sau chuyến đi tới châu Á của Tổng thống Trump, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis và Đại sứ Tina Kaidanow, người đứng đầu Vụ các vấn đề Chính trị – Quân sự cũng đã có hai chuyến đi riêng rẽ tới Việt Nam để thảo luận về mở rộng hợp tác quân sự giữa hai nước. Một trong những kết quả rõ rệt nhất là chuyến thăm khiến Trung Quốc nhíu mày của tàu sân bay USS Carl Vinson tới cảng Tiên Sa, Đà Nẵng đầu tháng tháng 3/2018.
Tóm lại, tuyến đường biển ở Ấn Độ Dương đóng vai trò quan trọng cho dòng chảy dầu mỏ, khí đốt, và hàng hoá trên thế giới. Đây cũng là nơi có hai eo biển quan trọng nhất với tuyến vận chuyển dầu mỏ từ Trung Đông tới Australia và Đông Á. Trung bình mỗi ngày có 17 triệu thùng dầu mỏ được vận chuyển qua Eo biển Hormuz và 15.2 triệu thùng qua Eo biển Mallacca. Mặt khác, đây cũng là vùng biển nổi tiếng bất ổn định với nạn cướp biển và khủng bố. Trong khi đó năng lực hàng hải của các nước trong khu vực vẫn còn hạn chế. Chính vì vậy, việc đảm bảo an ninh cho tuyến huyết mạch của kinh tế thế giới được các quốc gia đặc biệt quan tâm. Bên cạnh các yếu tố về chống cướp biển, khủng bố, hỗ trợ cứu hộ cứu nạn thì còn một nguyên nhân không kém phần quan trọng dẫn tới sự ra đời của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chính là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Đây cũng là điều mà giới nghiên cứu Trung Quốc lo ngại và đang tìm cách đối phó.
Trung Quốc đang lên kế hoạch thực thi các hạn chế thị thực chặt chẽ hơn đối với các công dân Mỹ có liên quan tới các nhóm chống chế độ Bắc Kinh, Reuters dẫn thông tin từ một số nguồn tin giấu tên.
Bộ Công an Trung Quốc vài tháng qua đang làm việc về các quy định hạn chế khả năng di trú tới Trung Quốc của bất cứ ai được thuê hoặc được tài trợ bởi các cơ quan tình báo Mỹ hay các nhóm nhân quyền.
Những đề xuất thay đổi chính sách thị thực nêu trên được giới chức Trung Quốc bàn thảo sau khi Mỹ triển khai các quy định thị thực chặt chẽ hơn đối với các học giả và sinh viên Trung Quốc trong tháng Năm.
Những hạn chế thị thực mới áp lên các quan chức chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) mà Mỹ tin là họ phải chịu trách nhiệm cho việc giam giữ hoặc lạm dụng các nhóm thiểu số Hồi giáo do Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo hôm thứ Ba (8/10), đã thúc đẩy Bắc Kinh tăng tốc tiến trình thực thi hạn chế thị thực đối với công dân Mỹ, một trong những nguồn tin giấu tên nói với Reuters.
Hôm thứ Ba (8/10), Mỹ áp dụng lệnh cấm thị thực lên các quan chức Trung Quốc liên quan đến việc giam cầm người thiểu số Hồi giáo tại Tân Cương.
Bộ Ngoại giao Mỹ công bố lệnh cấm thị thực chỉ một ngày sau khi Bộ Thương mại Mỹ liệt 8 công ty và 20 Cục, Sở Công an Trung Quốc vào danh sách đen vì liên quan đến việc đàn áp người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ.
Theo Reuters, Bộ Ngoại giao Mỹ không công bố tên cụ thể của quan chức nào bị cấm thị thực và cho hay hành động này là để “bổ sung” cho chế tài của Bộ Thương mại.
Các nguồn tin giấu tên tiết lộ rằng các quy định mới của Bộ Công an Trung Quốc sẽ yêu cầu soạn thảo danh sách các tổ chức có liên kết với quân đội Mỹ và Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) và các nhóm nhân quyền, bổ sung những nhân viên của các tổ chức này vào danh sách đen thị thực.
Những hạn chế thị thực chặt chẽ hơn này đến vào thời điểm Bắc Kinh ngày càng gia tăng quan ngại rằng Washington và các chính phủ nước ngoài đang sử dụng các tổ chức liên quan tới quân đội, CIA và các nhóm nhân quyền để xúi giục các cuộc biểu tình chống chính phủ tại cả Trung Quốc Đại Lục và Hồng Kông, và đó cũng sẽ là biện pháp trả đũa cho việc Mỹ thực thi hạn chế thị thực đối với các nhà nghiên cứu và các quan chức Trung Quốc.
“Kế hoạch này đã được các sĩ quan cảnh sát cao cấp thảo luận rộng rãi trong vài tháng qua, nhưng có nhiều khả năng được thực hiện hơn sau các cuộc biểu tình bùng phát ở Hồng Kông và lệnh cấm thị thực của Hoa Kỳ đối với các quan chức Trung Quốc,” nguồn tin giấu tên nói.
Hai nước Mỹ, Trung thực hiện trả đũa hạn chế thị thực qua lại bắt đầu từ tháng Tư khi Mỹ thu hồi thị thực của một số học giả Trung Quốc nổi tiếng.
Tiếp đó, vào tháng Năm, Washington đã công bố luật nhằm mục đích cấm cấp thị thực cho bất kỳ cá nhân nào do quân đội Trung Quốc thuê hoặc tài trợ. Bắc Kinh khi đó đã chỉ trích động thái của Washington mà họ xem là hành động trừng phạt đối với công dân Trung Quốc.
Theo Bloomberg, Washington cũng đang cân nhắc các biện pháp cấm dòng tiền từ Mỹ đổ vào Trung Quốc, với mục tiêu trước mắt là các quỹ hưu trí chính phủ.
Hiện tại, công dân Mỹ muốn tới Trung Quốc Đại Lục vẫn phải xin thị thực nhập cảnh. Nhưng những người mang hộ chiếu Mỹ có thể tự do vào Hồng Kông mà không cần thị thực.
Chính quyền của Tổng thống Trump luôn nhất quán rằng mối quan hệ với Bắc Kinh phải đi kèm với các giá trị về tự do và quyền con người. Đây cũng là mâu thuẫn bản chất và khó khăn nhất trong quan hệ giao thương giữa Mỹ với Trung Quốc.
Thực trạng và tham vọng của hai bên
Trung Quốc
Với các nước phát triển, Bắc Kinh dùng quy mô thị trường tiêu thụ và đầu tư Đại Lục làm sức mạnh trong quan hệ ngoại giao.
Với các nước nhỏ và đang phát triển theo thể chế tự do, Bắc Kinh dùng sức mua và khả năng đầu tư trực tiếp, đầu tư tín dụng để lôi kéo và gây sức ép.
Với các nước nhỏ đang phát triển nhưng theo thể chế độc tài, Bắc Kinh sử dụng thêm vũ khí “lợi ích cá nhân” cho quan chức và đặc biệt là người đứng đầu nhằm điều khiển cả chính quyền nước đó.
Trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc thường sử dụng con bài “vấn đề vũ khí hạt nhân ở Triều Tiên” để trao đổi và đàm phán.
Đài Loan cũng được dùng đến trong đối ngoại với Mỹ và trong cả đối nội với người dân Trung Quốc.
Bắc Kinh còn còn dùng quyền lợi tại Trung Quốc để gây sức ép với các cá nhân và tổ chức có tiếng nói.
Mỹ
Thiết lập quan hệ với Bắc Kinh thay vì Đài Bắc từ đầu những năm 1970 khi nhận định Liên Xô là đối thủ chính trong chiến tranh lạnh.
Sau sự kiện Thiên An Môn, Mỹ và phương Tây cấm vận Bắc Kinh nhưng rồi lại sớm thiết lập lại quan hệ.
Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, chính giới Mỹ cho rằng, tiếp tục quan hệ kinh tế sâu rộng sẽ đẩy Bắc Kinh đi theo con đường tự do.
Mỹ áp dụng quy chế Tối huệ quốc vĩnh viễn (MFN/NTR) với Trung Quốc từ năm 1999 sau 20 năm cân nhắc áp dụng hàng năm.
Mỹ đưa Trung Quốc vào WTO năm 2001, nhưng sau đó lại phải chạy theo trong các mối quan hệ với Bắc Kinh.
Các vấn đề nhân quyền luôn được Mỹ đề cập đến trong quan hệ với Trung Quốc, nhưng lại không ổn định qua các đời tổng thống.
Quan hệ Mỹ – Trung và trật tự thế giới mới
Việc thiết lập quan hệ với Bắc Kinh là một trong những chủ đề ngoại giao gây tranh cãi nhất tại Mỹ. Câu chuyện bắt đầu từ năm 1970, khi Mao Trạch Đông chủ động muốn quan hệ với Mỹ vì mâu thuẫn Trung – Xô đã lên cao. Chính giới Mỹ thường xem đối thủ chính là Liên Xô, nên mục tiêu trong quan hệ với Trung Quốc là nhằm để tăng sức nặng trong đối đầu với Liên Xô. Đến khi Liên Xô xụp đổ vào năm 1991, quan hệ Mỹ – Trung đã đạt mức độ đáng kể về cả kinh tế và ngoại giao.
Quan điểm chung của Washington trong quan hệ ngoại giao là phải luôn kèm theo yếu tố tự do và quyền con người. Lập luận của chính phủ Mỹ giai đoạn này, nói như cựu Tổng thống Clinton là quan hệ kinh tế bình thường với Trung Quốc “sẽ đưa Đại Lục gắn bó thêm vào nền kinh tế toàn cầu, rồi sẽ làm vững mạnh những người thuộc phe cải tổ có khuynh hướng kinh tế thị trường tại Trung Quốc”. Quy chế tối huệ quốc (MFN/NTR) được áp dụng hàng năm từ năm 1980, đã được chuyển thành áp dụng vĩnh viễn từ năm 1999.
Về phía Bắc Kinh, quan hệ với Mỹ đã mở ra cho họ một cơ hội to lớn về mọi mặt. Sức mạnh của đất nước Trung Quốc như được bùng phát sau một thời gian dài o bế. Tất cả đều đã thay đổi, chỉ có bản chất của chính quyền Bắc Kinh thì không. Chính quyền Bắc Kinh sẵn sàng chấp nhận rủi ro về ngoại giao và kinh tế để đổi lấy sự kiểm soát tuyệt đối đất nước và con người Trung Quốc. Sau thảm sát Thiên An Môn năm 1989, mặc dù suýt chút nữa đã bị phương Tây tuyệt giao, nhưng đặc tính chuyên chế và thậm chí các thủ đoạn trong quan hệ đối nội và đối ngoại không những không đổi mà còn trở nên tinh vi hơn.
Lịch sử che giấu tội ác của chính quyền Trung Quốc
Một trong những phương cách ngoại giao đó là, lấy lợi ích của đối thủ trong quan hệ với Trung Quốc làm mặc cả với thái độ cứng rắn nhất. Cũng bằng cách sử dụng lợi ích, thay vì mặc cả, Bắc Kinh còn ban tặng cho những người đứng đầu. Kết quả là hầu hết các chính phủ không thể biểu đạt thái độ như mong muốn trong quan hệ với Trung Quốc. Các chính phủ chuyên chế thậm chí đều dễ dàng ủng hộ các hành động của chính quyền Bắc Kinh. Ngay cả Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng vướng vào một vụ lùm xùm, khi công ty của con trai ông đã nhận được một khoản đầu tư trị giá 1,5 tỉ USD từ một công ty Nhà nước Trung Quốc chỉ 10 ngày sau chuyến công du quan trọng của ông tới Bắc Kinh.
Chính quyền Trung Quốc lâu nay sử dụng vấn đề hạt nhân Triều Tiên như một con bài trong quan hệ với Mỹ. Một mặt hỗ trợ Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân và chi phối hầu hết các quan hệ thương mại, mặt khác kiểm soát quan hệ ngoại giao của quốc gia này với bên ngoài, đặc biệt là với Mỹ. Chính quyền Tổng thống Trump một mặt dùng quan hệ kinh tế, thương mại với Trung Quốc để ép Bắc Kinh tác động tích cực hơn tới Triều Tiên (mà thực chất là “nhả” bớt khống chế).
Mặt khác, Mỹ vẫn sử dụng hết mức các công cụ cấm vận kinh tế và áp lực quân sự lên chế độ Triều Tiên, ép Kim Jong Un ngồi vào bàn đàm phán. Ông Trump đã bỏ qua các thông lệ ngoại giao cứng nhắc, tiến tới gặp mặt trực tiếp các cá nhân người đứng đầu. Tất cả những yếu tố này đã dẫn tới cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Kim lịch sử, thậm chí là 3 lần chỉ trong vòng 1 năm. Sau đó ông Trump đã chủ động duy trì mối liên hệ cá nhân đặc biệt với Kim Jong Un, trong khi áp lực lên Trung Quốc và Triều Tiên ở cấp quốc gia vẫn không đổi.
Chiến lược này đã dần vô hiệu hoá được khống chế của Trung Quốc với Triều Tiên, tháo bỏ một con bài nhức nhối mà chính quyền Trung Quốc thường sử dụng trong quan hệ với Mỹ nhiều năm qua.
Những người đẹp lên tiếng về hai người bạn ‘ngưu tầm ngưu’ từng lãnh đạo Trung Quốc và Triều Tiên
Đối với các vấn đề về Đài Loan và Biển Đông, chính quyền Trung Quốc vẫn có thái độ và phương thức cũ, tỏ ra cứng rắn như một người chủ sở hữu. Chủ tịch Tập Cận Bình trong bài phát biểu đầu năm 2019 đã khẳng định sẽ không loại trừ vũ lực để tái thống nhất Đài Loan. Về phía Tổng thống Trump, ngoại trừ cuộc điện đàm với Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn ngay sau khi đắc cử, cá nhân ông không tỏ thái độ gì đặc biệt. Nhưng về thực chất, quan hệ giữ Mỹ với Đài Loan lại có những sự thay đổi lớn.
Ngày 7/5/2019, Hạ Viện Mỹ thông qua một dự luật tái khẳng định cam kết ủng hộ Đài Loan. Tàu chiến Mỹ liên tục đi quan eo biển Đài Loan. Tổng thống Thái Anh Văn “quá cảnh” tại Mỹ 2 lần chỉ trong vòng 1 năm như một hình thức thăm ngoại giao. Năm 2019, Mỹ bán cho Đài Loan 2,2 tỉ USD vũ khí, hai bên tổ chức cuộc gặp cố vấn anh ninh quốc gia lần đầu tiên sau 40 năm, Lầu năm góc đưa Đài Loan như một quốc gia vào danh sách trong báo cáo quốc phòng mới nhất, được nói là đã hiểu chỉnh cẩn thận. Có thể nói, về vấn đề Đài Loan, ông Trump đã sử dụng chiến thuật không lớn tiếng tuyên bố, nhưng thực chất lại thực hiện rất nhiều thay đổi.
Ông Trump quyết bán lô vũ khí 8 tỷ đô cho Đài Loan chống Trung Quốc
Riêng với Biển Đông, trong vài năm gần đây Trung Quốc đã có nhiều hành động, như xây hàng loạt đảo nhân tạo với sân bay và tên lửa, tổ chức tập trận thường xuyên, xâm phạm lãnh hải của Việt Nam, Philippines, tổ chức số lượng lớn tàu đánh bắt cá có trang bị vũ khí… Trong khi phía Mỹ chủ yếu mới thực hiện cam kết duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông, bằng cách đưa tàu chiến thường xuyên đi qua.
Chính quyền Trung Quốc một mặt thực hiện quân sự hoá biển Đông, mặt khác lại dùng nhiều cách chi phối chính giới 2 nước có tranh chấp chủ yếu là Việt Nam và Philippines. Do vậy các hành động của Mỹ rất khó thực hiện để ngăn cản chính quyền Trung Quốc khi chính các quốc gia có tranh chấp không thể hiện rõ thái độ. Cũng vậy, nếu chính quyền Đài Loan không thể hiện thái độ sẵn sàng thì Mỹ cũng khó có thể làm gì với Đài Loan.
ASEAN: Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông làm ‘xói mòn lòng tin’
Về vấn đề Iran, chính quyền Trung Quốc có lẽ đã rút kinh nghiệm việc nhả Triều Tiên ra quá sớm. Thái độ của chính quyền Trung Quốc luôn là phản ứng quyết liệt và chấp nhận rủi ro khi lén lút mua dầu và trợ giúp công nghệ cho chính quyền Iran. Chính quyền Mỹ tiếp tục duy trì phương thức gây sức ép tối đa với Iran bằng cả cấm vận kinh tế và quân sự, đồng thời rút khỏi thoả thuận hạt nhân JPOA.
Có thể nói, các chính quyền chuyên chế như Nga, Thổ Nhĩ Kì và Venezuela… thường bị chính quyền Trung Quốc chi phối hoặc lôi kéo nhằm tạo đối trọng trong quan hệ với Mỹ. Nhưng vấn đề hóc búa nhất là Triều Tiên đã được ông Trump ưu tiên giải quyết, trước khi chính quyền Trung Quốc “bắt bài” và đề phòng. Nó cũng cho thấy, chính vấn đề Trung Quốc mới là trọng tâm duy nhất trong quan hệ đối ngoại của chính quyền Mỹ hiện nay.
Thực tế cho thấy, cách thức ngoại giao của chính quyền Trung Quốc vẫn tiếp tục được áp dụng với chính quyền Mỹ, nhưng dường như đều tỏ ra không hiệu quả. Trong khi chiến lược ngoại giao của chính quyền Donald Trump có thể nói là đang thiết lập lại một trật tự thế giới mới. Với các nước đồng minh, ông Trump đa số đều đàm phán lại các thoả thuận về cả kinh tế và quân sự.
Với riêng Trung Quốc, chiến thuật ngoại giao của ông Trump là vừa nhất quán, vừa uyển chuyển. Mặc dù luôn tỏ ra cứng rắn trong thái độ với chính quyền Trung Quốc, nhưng ông Trump lại chủ động tạo mối quan hệ có vẻ hết sức thân thiện với chủ tịch Tập Cận Bình. Trong một thể chế độc tài cao độ, phương thức ngoại giao này vừa giúp mối quan hệ ngoại giao không đi xuống dưới mức tối thiểu, vừa giúp xu hướng phản đối cá nhân Tổng thống Trump không dễ dàng trở nên cực đoan bên trong Trung Quốc. Nó đã giúp quá trình đàm phán giữa hai chính phủ có nhiều không gian hơn, cũng đồng thời làm cho chính quyền Trung Quốc đã nhiều lần không thể lường trước được động thái của ông Trump.
Trung Quốc điêu đứng dưới thời cảnh sát quốc tế Donald Trump
Một ví dụ là sau tuyên bố đầy bất ngờ về việc áp dụng thuế với hàng Trung Quốc nhập khẩu vào Mỹ, nhiều học giả Trung Quốc đã phát biểu rằng, lúc đó họ chỉ nghĩ đó là lời nói đùa. Trước cuộc gặp Trump – Tập tại Osaka, khi thương chiến Mỹ Trung đang căng thẳng thì ông Tập đã bất ngờ đi thăm Triều Tiên. Dư luận đều cho rằng Trung Quốc đang cố gắng củng cố lá bài Triều Tiên trong đàm phán thượng đỉnh Trump – Tập. Người ta cũng không biết ông Trump sẽ sử trí ra sao để duy trì được mối liên hệ với Triều Tiên như đã đạt được. Nhưng chỉ một ngày sau cuộc gặp thượng đỉnh với ông Tập, ông Trump đã bất ngờ gửi lời mời và thực hiện cuộc gặp lịch sử với Kim Jong Un ngay tại biên giới Hàn – Triều.
Tính thống nhất cao trong quan điểm cứng rắn với Trung Quốc là điểm dễ nhận thấy trong nhân sự của chính quyền Trump. Trường hợp có sự thay đổi giữa chừng nhân sự cấp cao, thì người đến sau thường thể hiện thái độ còn cứng rắn hơn nữa. Các bài phát biểu của Phó Tổng thống Mike Pence cho thấy dường như ông còn được phân công đóng vai “bad cop – ông ác” trong thái độ với Trung Quốc, tức là thậm chí còn thể hiện cứng rắn hơn nữa so với Tổng thống Trump. Như vậy ông Trump sẽ còn nhiều khoảng trống để thăm dò phản ứng và thể hiện thái độ với đối thủ hơn.
Mỹ có dấu hiệu sẵn sàng trừng phạt Trung Quốc vì nhân quyền
Đối với các cá nhân và tổ chức trên thế giới, chính quyền Trung Quốc dùng lợi ích kinh doanh tại thị trường Đại Lục hoặc trực tiếp chi tiền để chi phối hoạt động của họ. Nếu họ động đến mặt trái của chính quyền Trung Quốc, như một bài báo về hoạt động gián điệp đánh cắp công nghệ Hoa Kỳ, hay một phát biểu bảo vệ cho các nạn nhân bị bức hại tại Trung Quốc,… thì lập tức sự tình sẽ khác. Chính quyền Trung Quốc thường sử dụng tất cả các công cụ về ngoại giao, lợi ích, truyền thông, thậm chí cả xã hội đen để gây sức ép lên đối tượng. Nếu cá nhân đó có người thân sinh sống tại Trung Quốc, thì thậm chí người thân của họ cũng bị tác động hay gây khó dễ.
Trong các quan hệ, nước Mỹ thường thể hiện quan điểm về tự do và quyền con người, nhưng riêng với Trung Quốc, diễn biến quan hệ từ năm 1970 khá phức tạp. Mặc dù quan điểm của Mỹ vẫn luôn được chính giới đề cập, nhưng các yếu tố có tính chiến lược hay quy mô kinh tế cũng tác động rất lớn. Bên cạnh đó là sự giảo hoạt của chính quyền Bắc Kinh mà nhiều chính trị gia của Mỹ cũng khó có thể tưởng tượng được. Bởi vậy, dù Mỹ là quốc gia có quan điểm mạnh mẽ nhất về tự do và quyền con người, thì cho đến ngay nay nó vẫn là khoảng tối trong lịch sử ngoại giao Mỹ với Trung Quốc (chúng tôi sẽ đề cập chi tiết hơn trong các phần sau).
Tình trạng đàn áp tự do và vi phạm các quyền con người của chính quyền Trung Quốc chưa bao giờ ngừng nghỉ, thậm chí sau khi có thêm sức mạnh trong quan hệ với Mỹ và thế giới, nó còn sử dụng các quan hệ ấy để truyền bá các giá trị phi nhân tính ra toàn thế giới.
Hầu hết các chính quyền chuyên chế, các hoạt động vi phạm tự do và quyền con người trên thế giới hiện nay đều có liên hệ với chính quyền Bắc Kinh. Ngay trong lòng nước Mỹ, sự tác động của chính quyền Trung Quốc cũng đã trở nên sâu rộng và hầu hết người Mỹ cũng không thể tượng tưởng nổi.
Sự xâm nhập âm thầm của Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới danh nghĩa Khổng Tử
Các chính quyền Mỹ trước đây, trong hàng mấy chục năm, hoặc là bị qua mặt, hoặc là thậm chí còn ủng hộ cho chính quyền Trung Quốc vi phạm các giá trị mà người Mỹ vẫn theo đuổi. Giờ đây, mặc dù tình thế khó khăn, nhưng thái độ của chính quyền Tổng thống Trump vẫn luôn nhất quán, đó là mối quan hệ với Trung Quốc phải đi kèm với các giá trị về tự do và quyền con người.
Mặc dù trong những diễn biến cụ thể, người ta không dễ nhận thấy điều đó, nhưng nhìn tổng thể và đi sâu vào những khía cạnh cốt yếu, thì các giá trị chân chính này mới là điều mà ông Trump ưu tiên.
Tất nhiên, nó cũng là mâu thuẫn bản chất nhất và khó khăn nhất trong mối quan hệ giữa hai bên. Nó có lẽ cũng là phần đáng chú ý nhất trong diễn biến quan hệ Mỹ – Trung trong thời gian tới.