Tag Archives: Mỹ – Việt Nam

Donald Trump chọn nhân sự trung thành và cứng rắn với TQ

Khi niềm vui chiến thắng ngoạn mục trong cuộc bầu cử Tổng thống còn chưa lắng xuống, ông Donald Trump đã ráo riết chuẩn bị nhân sự cho việc thành lập bộ máy của Nhà Trắng trong nhiệm kỳ mới.

Theo nguồn tin của chúng tôi, vị Tổng thống nhiệm kỳ 2025-2029 chủ trương chọn các thành viên trong bộ máy có hai tiêu chí quan trọng, trước hết là phải tuyệt đối trung thành với ông, hai là phải cứng rắn, không nhượng bộ Trung Quốc một milimet.

Donald Trump cũng yêu cầu Thượng viện Mỹ phải tiến hành nhanh chóng các thủ tục bổ nhiệm các quan chức trong bộ máy chính quyền mới. Phải hướng đến mục tiêu cao nhất là vì nước Mỹ vĩ đại, hòa bình thế giới phải bắt đầu từ hòa bình Mỹ.

“Hòa bình Mỹ” được đề cao vì ông Trump cũng như Đảng Cộng hòa của ông luôn bài xích chế độ xã hội chủ nghĩa, một chế độ theo ông là độc quyền, mất dân chủ, không thúc đẩy xã hội tiến bộ. Mà khi nhằm đánh vào bức tường thành xã hội chủ nghĩa (đã sụp đổ một mảng lớn từ năm 1991, bắt đầu từ Liên Xô) thì đương nhiên phải nhằm vào ngọn cờ đầu là Trung Quốc.

Trong nhiệm kỳ bốn năm (2017-2020) khi ngồi ghế ông chủ Nhà Trắng, Donald Trump đã gây bão bởi không ít những phát ngôn ảnh hưởng lớn đến quan hệ quốc tế. Với ngôn ngữ và thái độ “mục hạ vô nhân” của một nhà kinh tế thực dụng ông đã không tiếc lời lên án “tàn dư của chủ nghĩa xã hội”. Tất nhiên các hãng truyền thông lớn của Mỹ đã không để tuột cơ hội này, đưa tin, bình luận hết sức hả hê, cốt để câu view, gia tăng lợi nhuận chóng mặt từ quảng cáo. Qua lăng kính của báo chí, truyền thông phương Tây, có thể thấy đằng sau những luận điệu của Trump là ý đồ chính trị thâm độc, không chỉ nhằm chống chủ nghĩa xã hội, mà nghiêng về tấn công Trung Quốc – một con Hổ lớn đáng ngấp nghé vị trí số một thế giới.

Quý vị còn nhớ vào năm 2018, tại Diễn đàn Liên hợp quốc, Trump chẳng cần úp mở khi lớn tiếng: “Sự khao khát quyền lực của chủ nghĩa xã hội dẫn đến sự bành trướng, xâm lược và áp bức. Tất cả các quốc gia trên thế giới nên chống lại chủ nghĩa xã hội”. Năm 2019, trong Thông điệp liên bang đọc trước Quốc hội Mỹ, Tổng thống Donald Trump tuyên bố: “Chúng tôi một lần nữa khẳng định quyết tâm, Mỹ sẽ không bao giờ là một nước xã hội chủ nghĩa”.

Xác định rõ như vậy cho nên Trump phải bằng mọi cách lèo lái con thuyền của mình tới đích là một xã hội tư bản phát triển và chống Trung quốc là mục tiêu trước hết, trên hết. Ông Trump đã phát động cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung trong nhiệm kỳ 2017 – 2021 với lệnh cấm xuất khẩu công nghệ cao sang Trung Quốc. Lý do mà ông nêu ra, đây là “hành vi thương mại không công bằng và mất an ninh quốc gia”. Thời điểm ấy Trump cũng đã áp thuế lên hàng tỷ USD hàng hóa Trung Quốc và trừng phạt hàng loạt tập đoàn lớn, bao gồm xưởng đúc chip SMIC và nhà sản xuất thiết bị viễn thông Huawei.

Sau khi Trump và Đảng Cộng hòa thắng cuộc hôm 5/11, các nhà phân tích nhận định: chiến thắng cho ông Trump sẽ tác động tiêu cực trong ngắn hạn vì khả năng cao ông sẽ siết chặt các lệnh cấm xuất khẩu và trừng phạt lên ngành bán dẫn Trung Quốc.

Chúng ta cùng trở lại việc ông Trump lựa chọn nhân sự cho chính quyền mới với hai tiêu chuẩn trung thành và cứng rắn, nhất là với Trung Quốc. Trong đó ông đặc biệt chú ý hai Bộ Ngoại giao và An ninh. Ở lĩnh vực đối ngoại, ông Trump đã nhắm Marco Rubio. Ông Rubio là Thượng nghị sĩ, từng chạy đua chức phó Tổng thống. Marco Rubio là con của một gia đình nhập cư từ Cuba. Ông được xem là, người có quan điểm cứng rắn đối với các chế độ độc tài nói chung và Trung Quốc nói riêng.

Rubio là Phó chủ tịch Ủy ban Tình báo tại Thượng viện. Lúc đầu ông không đồng quan điểm với Tổng thống đắc cử về cuộc chiến Ukraine, cũng như về việc cần phải gây sức ép với Kiev để chấm dứt chiến tranh, nhưng cuối cùng ông đã tán thành chủ trương của Trump. “Ngoại trưởng chờ” cũng đồng quan điểm với “Tổng thống chờ” về vấn đề chi phí quốc phòng của châu Âu, tán thành việc châu Âu phải tự lo cho mình là chính.

Ai sẽ là Cố vấn an ninh quốc gia? Donald Trump có vẻ như đã chọn một nhân vật thuộc trường phái diều hâu – một dân biểu của Florida, Mike Waltz – nổi tiếng với lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc. Mike Waltz là cựu chỉ huy lực lượng đặc nhiệm, từng nhiều lần được điều đến Afghanistan, Trung Đông và châu Phi.

Còn gần hai tháng nữa nhưng ông Trump có vẻ sốt ruột vì tính hình thế giới đang nóng từng ngày.Trump muốn chính quyền mới được thành lập thật nhanh chóng, với sự nhất trí cao. Hôm 10/11, Trump yêu cầu Thượng viện miễn thủ tục phê chuẩn, việc bổ nhiệm các quan chức cao nhất trong chính quyền nhiệm kỳ mới. Ông nhắc lại một điều khoản của Hiến Pháp Mỹ cho phép Tổng thống bổ nhiệm mà không cần sự chấp thuận của Thượng viện khi Thượng viện không họp. Tuy nhiên, quy định này hiếm khi được áp dụng, vì các thượng nghị sĩ thường sắp xếp thời gian họp vào thời điểm đề cử để thực hiện quyền kiểm soát đối với cơ quan hành pháp.

Chẳng mảy may ngạc nhiên chút nào trước thái độ của Trump, trong lần gọi điện mới đây chúc mừng chiến thắng của Donald Trump, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sau những lời xã giao thân ái đã cảnh báo Mỹ “sẽ được lợi từ hợp tác và mất mát từ đối đầu” với Trung Quốc”. Ông Tập phải nói ra điều này vì trước đó ông Trump tuyên bố sẽ đưa cuộc chiến thương mại của nhiệm kỳ Tổng thống tiền nhiệm bằng cách áp dụng thế quan toàn diện.

Đáp lại, ông Trump tuyên bố, ông không muốn đối đầu và cũng muốn hợp tác, nhưng nước Mỹ phải là trên hết!

Xem ra không phải Trump là “tay gà mờ chính trị”.

BDN

Loading

Views: 0

Đối tác chiến lược toàn diện là cấp độ cao nhất trong hệ thống thứ bậc đối tác ngoại giao của Việt Nam

Mỹ là quốc gia thứ 5 nâng cấp quan hệ với Việt Nam lên Đối tác chiến lược toàn diện, sau Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đón tiếp Tổng thống Mỹ Joe Biden chiều 10-9

Chiều 10-9, trong chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng thống Mỹ Joe Biden tới Việt Nam, lãnh đạo hai nước đã nhất trí nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ lên Đối tác chiến lược toàn diện. Như vậy quan hệ hai nước đã được nâng cấp từ “Đối tác toàn diện” – bỏ qua cấp độ “Đối tác chiến lược” – lên thẳng cấp độ “Đối tác chiến lược toàn diện”.

Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 5 nước
Với diễn biến trên, tính đến tháng 9-2023, Việt Nam đã xây dựng và nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với những nước sau:

  • 5 đối tác chiến lược toàn diện: Trung Quốc (nâng cấp quan hệ năm 2008), Nga (năm 2012), Ấn Độ (2016), Hàn Quốc (2022), Mỹ (2023).

Tháng 6-2008, nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã ra Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhằm thiết lập “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” trên cơ sở phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

  • Hơn 10 đối tác chiến lược gồm: Nhật Bản, Tây Ban Nha (năm 2009); Anh (2010); Đức (2011); Ý, Thái Lan, Indonesia, Singapore và Pháp (2013); Malaysia và Philippines (2015); Úc (2018); New Zealand (2020).

Ngoài ra, Việt Nam có quan hệ đối tác toàn diện với hơn 10 nước: Chile, Brazil và Venezuela (năm 2007); Argentina (2010); Mỹ, Đan Mạch (2013); Myanmar và Canada (2017); Hungary (2018); Brunei và Hà Lan (2019)…

Cấp cao nhất trong hệ thống thứ bậc đối tác ngoại giao của Việt Nam

Trong bài viết “Về khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam hiện nay” đăng trên Tạp chí Cộng Sản, tác giả Nguyễn Thị Thìn (Học viện Ngoại giao) chỉ ra quan hệ đối tác chiến lược đầu tiên xuất hiện vào năm 1992 (giữa Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ) và số lượng quan hệ này ngày càng gia tăng.

Quan hệ đối tác chiến lược là một dạng thức quan hệ có tầm quan trọng lớn và có tính chiến lược, dài hạn giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa quốc gia với tổ chức quốc tế. Một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là mô hình liên kết mới trong quan hệ quốc tế, trở nên thịnh hành kể từ sau Chiến tranh lạnh.

Do tính chất đa phương và đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế, quan hệ đối tác chiến lược được thể hiện dưới các hình thức như: đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược có lựa chọn theo từng lĩnh vực…

Chẳng hạn ngoài quan hệ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với các nước như trên, Việt Nam cũng có quan hệ Đối tác chiến lược về ứng phó biến đổi khí hậu và quản lý nước với Hà Lan, đưa quan hệ hợp tác song phương trong lĩnh vực này lên tầm cao nhất.

Trong quan hệ đối tác chiến lược, các bên tham gia đều có nhu cầu tăng cường hợp tác, coi trọng và chú ý hơn tới lợi ích chiến lược của nhau, có hợp tác sâu rộng, gắn kết về lợi ích và hướng tới lòng tin chiến lược.

Trong khi đó, với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, các bên xác định gắn bó lợi ích lâu dài, hỗ trợ lẫn nhau và thúc đẩy sự hợp tác sâu rộng và toàn diện trên mọi lĩnh vực mà các bên cùng có lợi, từ thương mại, đầu tư cho tới công nghệ, năng lượng… Đồng thời, các bên xây dựng sự tin tưởng lẫn nhau ở cấp chiến lược.

Trên chuyên trang bình luận Fulcrum.sg, tiến sĩ Lê Hồng Hiệp (Viện ISEAS – Yusof Ishak Singapore) cho biết đối tác chiến lược toàn diện là cấp cao nhất trong hệ thống thứ bậc đối tác ngoại giao của Việt Nam. Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với các nước được coi là có tầm quan trọng lớn đối với an ninh, thịnh vượng và vị thế quốc tế của mình.

BDN

Loading

Views: 0

Nền tảng mới cho sự phát triển quan hệ Việt Mỹ

Theo PGS Nguyễn Mạnh Hà, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ đang trong tiến trình phát triển mạnh mẽ. Điều này sẽ còn được củng cố sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Joe Biden ngày 10-11/9 sắp tới.

Năm 2023 đánh dấu kỷ niệm 10 năm Việt Nam – Mỹ quan hệ đối tác toàn diện. Đây cũng là giai đoạn cho thấy sự hợp tác mạnh mẽ của hai nước, kể từ khi bình thường hóa quan hệ (1995) đến nay.

Theo dõi tiến trình phát triển quan hệ và hợp tác giữa hai nước những năm qua, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, cho biết ông tin tưởng vào sự nâng cấp trong quan hệ Việt – Mỹ dưới thời của Tổng thống Joe Biden.

Trong cuộc trò chuyện, ông Hà nhấn mạnh về ý nghĩa chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden sắp tới, cũng như những thành quả hai bên đã đạt được trong 10 năm qua.

Tổng thống Biden muốn thể hiện cam kết với Việt Nam
Trước hết, ông đánh giá thế nào về ý nghĩa chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ diễn ra vào ngày 10-11/9 sắp tới?

  • Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden mới được thông báo và chúng ta chưa rõ nội dung làm việc cụ thể. Nhưng đây là lần thứ 5, các Tổng thống Mỹ đến thăm Việt Nam trong khi đương nhiệm, kể từ năm 2000 đến nay.

Tôi cho rằng điều đó chứng tỏ vị thế của Việt Nam dưới góc nhìn của Mỹ ngày càng tăng và có tầm quan trọng trong khu vực, không chỉ về kinh tế mà còn ở tất cả lĩnh vực khác. Rõ ràng, đây là một trong những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ.

Nếu tính từ năm 1995 là thời điểm hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao, đến nay đã gần 30 năm. Năm 2023 cũng đánh dấu kỷ niệm 10 năm Việt Nam – Mỹ nâng cấp quan hệ đối tác toàn diện. Không chỉ từ phía Việt Nam, kể cả từ phía Mỹ cũng phải khẳng định rằng, chưa bao giờ quan hệ giữa hai nước phát triển như hiện nay.

Đây cũng là điều rất đặc biệt, vì hai bên có sự khác biệt về thể chế chính trị nhưng Tổng thống Mỹ vẫn tiếp đón Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự khác biệt này cho thấy Mỹ rất coi trọng quan hệ với Việt Nam.

Nhiều lần, cả lãnh đạo Việt Nam và Mỹ nói đến việc tôn trọng sự lựa chọn chế độ, thể chế chính trị, con đường phát triển của mỗi nước. Với riêng chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden, tôi được biết sắp tới, ông dự hội nghị thượng đỉnh G20 ở Ấn Độ và sẽ bay sang Việt Nam ngay sau đó, chứ không dự tiếp hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Sau đó, ông sẽ về Mỹ để dự lễ tưởng niệm 22 năm sự kiện 11/9/2001.

Rõ ràng, mặc dù chưa biết cụ thể nội dung bàn thảo của Mỹ và Việt Nam trong chuyến thăm tới nhưng ít nhất, ông Biden có mong muốn đáp lại lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ông cũng muốn thể hiện cam kết xây dựng mối quan hệ với Việt Nam ổn định, lâu dài và toàn diện.

Những yếu tố thúc đẩy quan hệ Việt – Mỹ phát triển
Chuyến thăm của Tổng thống Biden diễn ra vào năm 2023, đánh dấu kỷ niệm 10 năm Việt – Mỹ nâng cấp quan hệ đối tác toàn diện. Trong 10 năm qua, ông đánh giá thế nào về thành quả hợp tác giữa hai nước?

  • Theo số liệu tôi nắm được, kể từ khi Mỹ và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Năm 2022, thương mại song phương đã đạt đến con số gần 124 tỷ USD.

Ngược lại, Việt Nam cũng nằm trong số các quốc gia có tỷ trọng thương mại lớn của Mỹ. Các con số trên cho thấy Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong thương mại của Mỹ, trong khi đây là thị trường khó tính, có yêu cầu cao đối với hàng nhập khẩu.

Ngoài kinh tế, độ tin cậy của Việt Nam và Mỹ cũng tăng dần thông qua các hoạt động hợp tác tìm quân nhân mất tích, tẩy rửa đất đai bị nhiễm dioxin. Gần đây, hoạt động hợp tác tìm bộ đội Việt Nam mất tích trong chiến tranh cũng được phía Mỹ quan tâm. Chính phía Mỹ đã chủ động xây dựng đề án và sang Việt Nam ký kết để phối hợp thực hiện tìm kiếm.

Trong các hoạt động nhân đạo khác hoặc về an ninh phi truyền thống, Mỹ cũng có đóng góp lớn. Đặc biệt trong hợp tác quân sự. Năm 2016 đánh dấu sự kiện Tổng thống Mỹ Barack Obama ký bãi bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Đây là điều quan trọng, giúp Việt Nam đa dạng hóa nguồn mua sắm vũ khí.

Thời gian gần đây, chúng ta cũng chứng kiến nhiều lần tàu sân bay, tàu chiến của Mỹ đến thăm Việt Nam. Mỹ cũng thể hiện cam kết xây dựng khu vực Biển Đông – châu Á Thái Bình Dương là khu vực tự do, rộng mở, trong đó đã thực hiện những chuyến tuần tra để giữ gìn tự do an ninh, hàng hải trên Biển Đông.

Về hợp tác giáo dục, Việt Nam đứng thứ 5-6 các nước có nhiều học sinh đang học ở Mỹ với khoảng 30.000 người.

Kể ra một số lĩnh vực như vậy để thấy rằng quan hệ Việt – Mỹ đã phát triển rất nhanh. Trước đây, hai bên là từng là cựu thù, nhưng sau đó đã đi tới nhất trí rằng cần gác lại quá khứ để hướng tới xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn.

Khi tôi tham gia các chuyến công tác ở Mỹ, qua tiếp xúc, phía Mỹ cũng nhìn nhận rằng lịch sử quan hệ hai nước đã trải qua một chương rất bi thảm. Nhưng lịch sử thì không thể thay đổi. Vì vậy, cách để sửa chữa những lỗi lầm là phải học các bài học từ lịch sử để hiểu biết lẫn nhau, từ đó xây dựng lòng tin với nhau, cùng hợp tác, phát triển, cùng có lợi.

Tóm lại, tôi cho rằng quan hệ Việt Nam và Mỹ đã phát triển trên nhiều lĩnh vực, khá toàn diện và có những lĩnh vực mới như biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, an ninh lương thực, chuỗi cung ứng…. Chuyến thăm của các Tổng thống Mỹ sang Việt Nam là minh chứng tiếp tục các mối quan hệ hợp tác đó.

Như ông đã nói, quan hệ hai bên Việt Nam và Mỹ đang có sự phát triển mạnh mẽ nhất từ trước đến nay. Theo ông, yếu tố nào thúc đẩy sự phát triển đó?

  • Tôi cho rằng trước hết là do ý muốn của cả hai phía, trong đó cơ sở quan trọng là đường lối đối ngoại của Việt Nam. Từ năm 1986, Việt Nam xác định không thể để tiếp tục tình trạng bị bao vây, cấm vận, mà phải mở cửa, hội nhập để phát triển, nhưng vẫn giữ được bản sắc, độc lập tự chủ.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng thi hành đường lối đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, trên cơ sở cùng có lợi, bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, chứ không phải quan hệ “kẻ cho người hưởng”. Đó là cơ sở cho hợp tác lâu dài.

Thứ hai, xuất phát từ việc xây dựng lòng tin. Hai bên đã tuyên bố rõ quan điểm của nhau về thể chế phát triển. Mỹ nhiều lần khẳng định tôn trọng đường lối của Việt Nam và sẵn sàng hợp tác để cùng phát triển.

Ngay trong Tuyên bố chung về thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện năm 2013 giữa Việt Nam và Mỹ đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong mối quan hệ giữa hai nước là: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; Tôn trọng thể chế chính trị của nhau; Tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hiệp quốc.

Mỹ tuyên bố cam kết ủng hộ một nước Việt Nam phát triển thịnh vượng, độc lập và mạnh mẽ. Đây là điều rất quan trọng.

Kỳ vọng vào chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden
Dưới thời Tổng thống Joe Biden theo ông quan hệ giữa Việt Nam – Mỹ sẽ phát triển thế nào?

  • Tôi cho rằng chúng ta có cơ sở để lạc quan. Tổng thống Joe Biden có nhiều kinh nghiệm về hoạt động đối ngoại, từng nhiều năm là Thượng nghị sĩ, rồi Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại và Phó Tổng thống dưới thời của Tổng thống Barack Obama. Ông có quan điểm khá ôn hòa, chủ trương đối thoại, hợp tác hơn là đối đầu.

Với kinh nghiệm hoạt động chính trị và vai trò đứng đầu nước Mỹ, Tổng thống Joe Biden hiểu rõ cần thúc đẩy quan hệ ngoại giao, đề cao vai trò của Việt Nam trong khu vực, bên cạnh việc tiếp tục đa dạng hóa mối quan hệ với Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, Ấn Độ…

Đương nhiên, bên cạnh những thuận lợi, vẫn còn có những khó khăn, thách thức cần vượt qua để thúc đẩy quan hệ hai bên phát triển hơn. Khó khăn đó đến từ sự khác biệt giữa hai nước về thể chế, đường lối.

Tôi cho rằng, hai bên cần đi theo phương châm “cầu đồng tồn dị”. Tức là, hướng tới những điểm tương đồng, phấn đấu ngày càng đi đến nhận thức chung, chấp nhận những khác biệt đang tồn tại để từng bước giải quyết.

Tiếp tục thực hiện phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, xác định độc lập chủ quyền là trên hết, là bất biến, còn những lĩnh vực, khía cạnh khác sẽ linh hoạt để thỏa thuận, ứng phó.

Ở trên ông có nhắc đến các con số là thành quả hợp tác về kinh tế giữa hai nước. Thời gian qua, chúng ta cũng chứng kiến sự gia tăng đầu tư của Việt Nam vào Mỹ, là điều chưa từng có trước đây. Theo ông, việc này thể hiện điều gì?

  • Việc Việt Nam gia tăng đầu tư vào Mỹ thể hiện rằng Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, trong đó có nền kinh tế Mỹ. Gần đây, chứng kiến làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam vào Mỹ, có doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán của New York.

Điều này không đơn giản chút nào vì Mỹ có những quy định, tiêu chuẩn rất cao và chặt chẽ về vấn đề này đối với các doanh nghiệp niêm yết.

Ngoài ra, việc các tập đoàn kinh tế tư nhân của Việt Nam tham gia sân chơi lớn trên thị trường quốc tế thể hiện chủ trương của Việt Nam tạo điều kiện, khuyến khích kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác cùng phát triển chứ không chỉ tập trung vào các doanh nghiệp Nhà nước.

Cùng với đó, một điều đáng quan tâm là chuỗi cung ứng sản xuất chip, vi mạch điện tử đang có sự dịch chuyển sang Việt Nam. Theo đó, Mỹ coi Việt Nam là một nơi cung cấp, tham gia chuỗi cung ứng khi chúng ta có nhiều tiềm năng về lĩnh vực này.

Đó là những thành quả của sự hợp tác đôi bên cùng có lợi rất đáng ghi nhận.

Ngoài kinh tế, Mỹ cũng có những nỗ lực trong việc khắc phục hậu quả sau chiến tranh như thực hiện các đợt tẩy rửa dioxin ở sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa, rồi giúp vật chất, kỹ thuật để rà phá bom mìn…

Ngược lại, hoạt động tìm kiếm lính Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA) đã và vẫn đang được Việt Nam thực hiện thể hiện rõ tính nhân đạo của Việt Nam mà không kèm theo bất kỳ điều kiện gì.

Trong khi số lượng lính Mỹ mất tích hiện còn chưa đến 2.000, thì con số này của Việt Nam là hơn 200.000 người. Mỹ có trách nhiệm đóng góp cùng Việt Nam trong việc này bằng Đề án phối hợp với Việt Nam tìm bộ đội Việt Nam mất tích do Đại học Harvard thực hiện.

Tôi được biết, phía Mỹ hiện lưu giữ khá nhiều tư liệu liên quan đến việc tìm kiếm bộ đội Việt Nam mất tích trong chiến tranh.

Sau những thành quả hợp tác trên, ông kỳ vọng gì vào chuyến thăm Việt Nam sắp tới của Tổng thống Joe Biden?

  • Tôi cho rằng chuyến thăm Việt Nam của ông Biden có những mục tiêu cụ thể và có thể hai bên sẽ cân nhắc những thỏa thuận hướng đến nâng cấp quan hệ. Vì quan hệ Việt – Mỹ đang trong đường ray đi lên, dù có lực cản nhưng xu hướng chủ đạo vẫn là tiến lên.

Với quan hệ đối tác toàn diện đã thiết lập, hai bên sẽ ngồi tổng kết lại những điều đã đạt được và chưa đạt được, để tính đến bước tiếp theo là đẩy mạnh quan hệ theo hướng hai bên cùng có lợi.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế ngày càng phức tạp, nhất là với các tranh chấp trên biển, chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden trong giai đoạn này một lần nữa cho thấy sự quan tâm của chính quyền Mỹ trong quan hệ với Việt Nam.

Tôi tin tưởng rằng chuyến thăm sắp tới, hai bên sẽ đi đến thỏa thuận nâng tầm quan hệ hợp tác toàn diện trên tất cả lĩnh vực, không chỉ riêng kinh tế. Việc này giúp quan hệ hợp tác giữa hai bên phát triển, lợi ích của người dân được đảm bảo, góp phần ổn định hòa bình trong khu vực cũng như toàn thế giới.

BDN

Loading

Views: 0

Quốc tế bình luận về chuyến thăm Việt Nam của ông Biden

Bộ Ngoại giao Việt Nam chính thức thông báo kế hoạch Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ thăm Việt Nam trong tháng 9. Đây được xem là chuyến thăm vô cùng đặc biệt, chưa từng có từng lệ thể theo lời mời của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Tổng thống Mỹ Joe Biden

Theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng, chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden sẽ diễn ra trong hai ngày 10 và 11-9 theo lời mời của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Việt Nam – Quốc gia quan trọng với Mỹ ở hiện tại và tương lai

Theo TS Pooja Bhatt, nhà nghiên cứu tại New Delhi (Ấn Độ), cho rằng chuyến đi của ông Biden thể hiện sự gắn kết chiến lược của Mỹ đối với khu vực và Việt Nam nói riêng, việc thăm Việt Nam ngay sau các cuộc họp liên quan tới G20 ở Ấn Độ “chứng minh tầm quan trọng của Việt Nam đối với việc tăng cường gắn kết của Mỹ trong khu vực ở nhiều cấp độ khác nhau”.

Theo lịch trình, ông Biden sẽ tới Hà Nội vào ngày 10-9, ngay sau khi dự Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Ấn Độ. Đầu tháng 9 cũng là giai đoạn bận rộn của ông Biden và Phó tổng thống Kamala Harris.

Bà Harris sẽ dự các cuộc họp thượng đỉnh Mỹ – ASEAN và thượng đỉnh Đông Á (EAS) tại Indonesia từ ngày 4 đến 7-9. Sau khi thăm Việt Nam, ông Biden sẽ trở về Alaska để dự lễ tưởng niệm 22 năm xảy ra cuộc khủng bố ngày 11-9.

Theo TS Nguyễn Thành Trung (ĐH Fulbright Việt Nam), lịch trình công tác của tổng thống Mỹ chứng tỏ Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, thể hiện phía Mỹ rất nghiêm túc trong việc thúc đẩy quan hệ song phương với Việt Nam.

“Việc thu xếp này cũng cho thấy nhiều khả năng ông Biden không chỉ thực hiện một chuyến thăm ngoại giao, mà còn phải nhằm đạt được một kết quả cụ thể nào đó”, ông nói.

TS Lê Hồng Hiệp (Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS – Yusof Ishak Institute, Singapore) lưu ý: “Ông Biden không dự cuộc gặp với ASEAN mà sẽ dự Hội nghị thượng đỉnh G20 và đến Việt Nam. Điều này phần nào cho thấy ông ưu tiên Việt Nam”.

Kỳ vọng hợp tác kinh tế

Trong các thông báo về sự kiện này, cả Việt Nam và Mỹ đều nhấn mạnh ưu tiên làm sâu sắc hơn nữa quan hệ song phương.

“Chúng tôi tin rằng các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước sẽ làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, đưa quan hệ hai nước phát triển ổn định, thực chất và lâu dài trên tất cả các lĩnh vực, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực cũng như trên thế giới”, người phát ngôn Thu Hằng nói.

Về phía Mỹ, Nhà Trắng cho rằng lãnh đạo hai nước sẽ “tìm kiếm cơ hội thúc đẩy tăng trưởng cho nền kinh tế tập trung vào công nghệ và sáng tạo của Việt Nam, mở rộng quan hệ giao lưu nhân dân thông qua trao đổi giáo dục và các chương trình phát triển nhân lực, chống biến đổi khí hậu, thúc đẩy hòa bình, thịnh vượng và ổn định trong khu vực”.

TS Nguyễn Thành Trung nhận định Việt – Mỹ có nhiều ưu tiên chung trong việc phát triển quan hệ hợp tác, ví dụ ở lĩnh vực kinh tế xanh, kinh tế số, đặc biệt trong bối cảnh Washington dành nhiều nguồn lực cho chiến lược “friend-shoring” – thúc đẩy quan hệ sản xuất và chuỗi cung ứng giữa Mỹ và các quốc gia có mối quan hệ tốt đẹp.

Ngoài ra, theo TS Bhatt, Việt Nam và Mỹ đang nhìn thấy nhiều lợi ích chung, trong đó có những ưu tiên Washington đề cập ở chiến lược kinh tế mới hiện nay. “Y tế, năng lượng, khoa học, công nghệ, an ninh hàng hải… các lợi ích này đều là những vấn đề đang ngày càng liên quan và đòi hỏi các quan hệ hợp tác tương ứng”, bà nói với Tuổi Trẻ.

Trong bài phân tích về vấn đề này, TS Lê Hồng Hiệp lưu ý Mỹ đang là thị trường xuất khẩu lớn nhất và là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam khi thương mại hai chiều đạt 124 tỉ USD trong năm 2022.

Chính sách ngoại giao cân bằng

Việc tiếp đón Tổng thống Biden và thúc đẩy quan hệ song phương Việt – Mỹ cũng phù hợp với chính sách ngoại giao cân bằng của Việt Nam. Theo TS Nguyễn Thành Trung, quan hệ hai nước đã phát triển tốt đẹp trên nhiều lĩnh vực, và việc thúc đẩy mối quan hệ này phản ánh chính sách cân bằng của Việt Nam trong ngoại giao với các nước lớn.

Tương tự, TS Lê Hồng Hiệp cũng nhận định việc thúc đẩy quan hệ với Mỹ là động thái đúng với chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam và chuyến thăm của ông Biden, dù là bước đi quan trọng cho quan hệ Việt – Mỹ, nhưng không phản ánh sự thay đổi lớn trong chiến lược của Việt Nam. Hiện nay Việt Nam cũng đang tìm cách nâng cấp quan hệ với các nước khác như Nhật Bản và Úc.

BDN

Loading

Views: 0

Tổng thống Mỹ Joe Biden đến Việt Nam, Một chuyến thăm chưa có tiền lệ

Ông Joe Biden không phải tổng thống Mỹ đầu tiên thăm Việt Nam, nhưng ông là tổng thống Mỹ đầu tiên tới thăm chính thức theo lời mời của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ riêng điều đó đã nói lên sự đặc biệt của chuyến thăm này.

Chuyến thăm đặc biệt

Chuyến thăm Việt Nam sắp tới của Tổng thống Mỹ Joe Biden có ý nghĩa rất quan trọng. Trước hết, đây là dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện. Tôi cho rằng lãnh đạo cấp cao hai nước sẽ cùng nhau đánh giá, thống nhất nhận thức về những bước phát triển mạnh mẽ và toàn diện trong quan hệ hai nước suốt 10 năm qua, đồng thời đề ra định hướng lớn cho nhiều năm tới.

Điều đáng lưu ý nữa là kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, tất cả các tổng thống Mỹ, dù thuộc đảng Cộng hòa hay Dân chủ, đều đã thăm Việt Nam – có lẽ cũng là nước Đông Nam Á duy nhất mà các đời tổng thống Mỹ đều có chuyến thăm chính thức.

Ngay cả với nhiều nước là đồng minh của Mỹ cũng không phải tổng thống nào cũng đi thăm được. Điều đó chứng tỏ nội bộ Mỹ đã đạt sự đồng thuận cao trong việc thúc đẩy quan hệ mọi mặt với Việt Nam, nhìn nhận và coi trọng vị thế cũng như vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

Vào tháng 3 năm nay, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden đã có cuộc điện đàm rất quan trọng, trong đó lãnh đạo cao nhất của hai nước thỏa thuận giao cho các cơ quan hữu quan của hai bên phối hợp, trao đổi các biện pháp nhằm làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ trong những năm tới.

Ngay sau cuộc điện đàm, hàng loạt chuyến thăm giữa quan chức Việt Nam và Mỹ đã diễn ra, trong đó có các chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Janet Yellen, Đại diện thương mại Mỹ Katherine Tai…
Thủ tướng Phạm Minh Chính (phải) tiếp Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken tại Văn phòng Chính phủ ở Hà Nội vào ngày 15-4-2023 – Ảnh: Reuters

Thủ tướng Phạm Minh Chính (phải) tiếp Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken tại Văn phòng Chính phủ ở Hà Nội vào ngày 15-4-2023 – Ảnh: Reuters

Tôi hy vọng trong chuyến thăm Việt Nam sắp tới của ông Joe Biden, lãnh đạo hai nước sẽ có những biện pháp mới để tăng cường và làm sâu sắc hơn mối quan hệ Việt – Mỹ trong nhiều năm tới.

Sự phát triển năng động cũng như vai trò và uy tín quốc tế ngày càng tăng giúp Việt Nam đứng ở vị thế tốt hơn trong hợp tác với Mỹ trong những lĩnh vực mới, trong các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, y tế, an ninh lương thực và đảm bảo chuỗi cung ứng toàn cầu.
Khi tôi còn là đại sứ Việt Nam tại Mỹ vào năm 2013, kim ngạch thương mại hai chiều năm đó xấp xỉ 30 tỉ USD, thế nhưng sau 10 năm đã lên đến hơn 139 tỉ USD, tăng gần gấp năm lần.

10 năm xây dựng lòng tin

Nhìn lại 10 năm quan hệ Đối tác toàn diện, tôi đánh giá quan hệ hai nước đã có sự phát triển mạnh mẽ về cả chiều rộng và chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực.

Trong tuyên bố chung về thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt – Mỹ vào năm 2013 nhân chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hai nước đã xác định được những nguyên tắc cơ bản trong mối quan hệ. Đó là: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; Tôn trọng thể chế chính trị của nhau; Tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Việc xây dựng lòng tin giữa hai nước là điều rất quan trọng. Việt – Mỹ đã cùng tích cực giải quyết hậu quả của chiến tranh như rà phá bom mìn, tẩy chất độc dioxin. Đặc biệt, nguyên tắc tôn trọng thể chế chính trị của nhau đã nhiều lần được các cấp lãnh đạo Mỹ khẳng định trong các chuyến thăm Việt Nam hay khi tiếp lãnh đạo Việt sang thăm Mỹ. Lãnh đạo Mỹ cũng cam kết ủng hộ Việt Nam phát triển thịnh vượng, độc lập, mạnh mẽ.

Trong tuyên bố chung năm 2013, hai nước cũng xác định được chín lĩnh vực hợp tác ưu tiên bao gồm: chính trị, ngoại giao, an ninh – quốc phòng, kinh tế – thương mại – đầu tư, giáo dục, khoa học – công nghệ, y tế, môi trường và giao lưu nhân dân.

Tôi nhìn thấy bước phát triển mạnh mẽ ở tất cả các lĩnh vực nêu trên, đặc biệt trong lĩnh vực hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư. Các cơ chế đối thoại chính trị, an ninh, hợp tác quốc phòng và nhiều lĩnh vực khác được duy trì thường xuyên. Hai bên đã có những trao đổi về các vấn đề còn khác biệt trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở nhằm thu hẹp khác biệt và tăng cường hiểu biết.

Tất cả những bước phát triển nêu trên sẽ là tiền đề quan trọng để hai nước tính tới việc nâng tầm quan hệ hai nước hơn nữa trong những năm tới.

Vì những lý do nêu trên, tôi khá lạc quan về đà phát triển hơn nữa, xứng tầm của quan hệ hai nước. Chúc chuyến thăm Việt Nam sắp tới của ngài Joe Biden sẽ đạt nhiều kết quả thực chất, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.

BDN

Loading

Views: 0

Dự G20 tại Ấn Độ – Tổng thống Mỹ Joe Biden lên kế hoạch sớm thăm Việt Nam

Tổng thống Mỹ Joe Biden tuyên bố sẽ “sớm” tới Việt Nam để tăng cường quan hệ song phương. Ông lên kế hoạch cho chuyến thăm này vì Việt Nam đang muốn “thay đổi quan hệ và nâng cấp đối tác”, Biden cho biết như thế hôm thứ Ba (giờ địa phương) tại một buổi gây quỹ của đảng Dân Chủ ở Albuquerque bang New Mexico. Hiện có rất nhiều biến động đang diễn ra trên thế giới và “chúng ta có cơ hội để nỗ lực thay đổi”, Biden nói.

Quan hệ thương mại giữa Mỹ và Việt Nam gần đây đã trở nên sâu sắc hơn. Cả hai nước cũng lo ngại về ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực. Căng thẳng giữa Bắc Kinh và các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam và Philippines, đã gia tăng trong những năm gần đây khi Trung Quốc đưa ra yêu sách đối với các khu vực rộng lớn ở Biển Đông. Tuy nhiên, theo các nhà phân tích chính trị, Việt Nam có thể miễn cưỡng nâng cấp quan hệ với Washington vì Bắc Kinh vẫn là đối tác kinh tế chủ chốt của Hà Nội.

Nếu TT Biden đến thăm Việt Nam vào tháng 9 này thì ông sẽ là Tổng thống thứ 5 thăm Việt Nam sau khi Mỹ bình thường hoá quan hệ, trước đó là Clinton, Bush, Obama và Trump. 

Tháng trước, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tiếp Bộ trưởng Tài chính Mỹ Janet Yellen ở Hà Nội. “Mỹ xem Việt Nam là đối tác quan trọng trong việc đẩy mạnh một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (Indo – Pacific) cởi mở và tự do” bà Yellen cho biết.

Hồi tháng 4, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã thăm Việt Nam trên đường dự hội nghị thượng đỉnh G7 tại Nhật Bản và chủ trương tăng cường quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Blinken cũng tham dự lễ khởi công xây dựng tòa nhà mới của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và phát biểu về hoạt động rà phá bom mìn và giải quyết hậu quả của chất độc da cam.

Mỹ chưa bao giờ chính thức nhận lỗi đã sử dụng chất độc da cam trong chiến tranh Việt Nam (1955-1975). Tuy nhiên, họ tham gia vào các dự án khác nhau để giảm thiểu hậu quả. Theo số liệu chính thức, ba triệu người ở Việt Nam đã bị ảnh hưởng bởi chất độc màu da cam và ít nhất 150.000 trẻ em sinh ra bị khuyết tật.

Lê Hoàng tổng hợp

Loading

Views: 0

Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo về chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Blinken

Bộ Ngoại giao Mỹ ra thông báo cho biết, Ngoại trưởng Antony Blinken sẽ thăm Việt Nam trong khuôn khổ chuyến công du châu Âu và châu Á từ ngày 11-18/4.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken.

Trong thông cáo báo chí phát đi ngày 11/4, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết Ngoại trưởng Antony Blinken có chuyến công du Vương quốc Anh, Ireland, Việt Nam và Nhật Bản từ ngày 11-18/4.

Thông báo cho biết thêm, tại thủ đô Hà Nội, Ngoại trưởng Blinken sẽ có các cuộc thảo luận quan trọng với các đối tác Việt Nam trong bối cảnh 2 nước kỷ niệm 10 năm thiết lập Quan hệ Đối tác Toàn diện. Ngoại trưởng cũng sẽ gặp gỡ các quan chức cấp cao của Việt Nam để trao đổi về tầm nhìn chung về một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương kết nối, thịnh vượng, hòa bình và có sức chống chịu mạnh mẽ.

Sau đó, Ngoại trưởng Blinken sẽ tới Karuizawa, Nhật Bản để tham dự Hội nghị Ngoại trưởng G7 và thảo luận với những người đồng cấp về phương hướng cho một loạt vấn đề toàn cầu, bao gồm cuộc xung đột Nga – Ukraine, giải trừ vũ khí hạt nhân và không phổ biến vũ khí hạt nhân, an ninh lương thực và an ninh năng lượng, và thúc đẩy tầm nhìn tích cực về một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở.

Trước khi tới châu Á, Ngoại trưởng Blinken sẽ tháp tùng Tổng thống Mỹ Joe Biden tới Vương quốc Anh và Ireland từ ngày 11-14/4.

Trước đó, từ ngày 7-11/4, phái đoàn nghị sĩ lưỡng viện Quốc hội Mỹ do Thượng nghị sĩ bang Oregon Jeff Merkley dẫn đầu đã có chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam.

Thượng nghị sĩ Merkley cho biết phái đoàn nghị sĩ tới Việt Nam lần này với 2 sứ mệnh quan trọng, đó là thúc đẩy quá trình giải quyết hậu quả chiến tranh và nâng tầm quan hệ hợp tác Việt – Mỹ trên nhiều lĩnh vực khác nhau từ vấn đề Biển Đông, biến đổi khí hậu đến hợp tác đầu tư.

BDN

Loading

Views: 0

Việt Nam không chọn phe

Ông Phạm Minh Chính, Thủ tướng chính phủ Việt Nam đang có chuyến công du Mỹ. Cùng với việc tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ, ông Chính sẽ có chuyến thăm Mỹ từ ngày 11 đến 17/5.

Trong hai ngày Hội nghị cấp cao đặc biệt ông Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu được cho là khá thẳng thắn về các vấn đề gai góc, nhạy cảm, như vấn đề Biển Đông, cuộc chiến Ukraine, nhân quyền ở Việt Nam. Gọi là nhạy cảm vì khi nó lọt tai bên này thì lại chối tai bên kia, mà cái “bên kia” đáng gờm nhất chính là quốc gia láng giềng luôn gầm ghè và tính con bài bành trướng ra Biển Đông. Nhưng Việt Nam tuyên bố quyết “không chọn phe”, chỉ chọn cái đúng, cái chính nghĩa.

Vào chiều 11/5 (giờ địa phương), Thủ tướng Việt Nam đã phát biểu một bài khá dài, khoảng 40 phút, tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế (CSIS). Ông nhấn mạnh: “Lòng tin, chân thành và trách nhiệm” là chìa khoá để xây dựng mối quan hệ Việt – Mỹ; chìa khóa giải quyết các vấn đề toàn cầu, bao gồm đại dịch Covid-19, các tranh chấp ở Biển Đông và cuộc chiến đang diễn ra ở Nga-Ukraine.

Với Mỹ và các quốc gia ở Đông Nam Á, Thủ tướng Việt Nam cho rằng, các nước đều có chế độ chính trị khác nhau, do vậy cần phải tôn trọng hệ thống chính trị.

Ông Phạm Minh Chính đã phần nào lí giải lí do vì sao Hà Nội chưa chấp nhận đề nghị của Washington về việc nâng tầm quan hệ hai nước lên đối tác chiến lược. Ông nói: “Trong ba thập niên sau khi bình thường hóa, chúng ta chứng kiến sự phát triển phi thường của mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Mối quan hệ đó đã nảy nở và đơm hoa kết trái, có thể nói là nhờ nỗ lực của cả hai bên, được vun đắp bằng sự chân thành, tin cậy và tinh thần trách nhiệm, sự thông cảm, chia sẻ và tôn trọng lẫn nhau, phù hợp với lợi ích và mong muốn của hai đất nước, hai dân tộc và nhân dân”.

Sự “đơm hoa kết trái” ấy theo góc nhìn của chúng tôi không phải là lời xã giao mà nó được minh chứng trong thực tiễn sinh động tại Việt Nam. Cụ thể, Lãnh đạo hai bên đã duy trì việc tiếp xúc và điện đàm ở các cấp, đặc biệt là tổ chức thành công các hoạt động của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc bên lề Đại hội đồng Liên hợp quốc vào tháng 9/2021. Ngay sau đó một tháng là các cuộc gặp của Thủ tướng Phạm Minh Chính với Tổng thống Joe Biden và đặc phái viên John Kerry bên lề Hội nghị COP26 tại Anh (10/2021).

Về kinh tế, mặc dù trong điều kiện phải thích ứng, linh hoạt, ứng phó an toàn với đại dịch Covid-19 nhưng kinh tế Việt Nam phục hồi và phát triển khá nhanh chóng, trong đó có sự giúp đỡ tích cực của Mỹ. Thương mại song phương Việt – Mỹ tiếp tục tăng trưởng mạnh, với tổng kim ngạch năm 2021 đạt hơn 111,56 tỉ USD. Liên tục trong nhiều năm, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, và Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ 9 của Mỹ.

Về đầu tư, đến tháng 3/2022, đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam đạt 10,3 tỉ USD, đứng thứ 11/141 trong số các nước và vùng lãnh thổ có FDI tại Việt Nam. Các doanh nghiệp lớn của Mỹ tiếp tục quan tâm, đầu tư vào thị trường Việt Nam: Intel thông báo bổ sung đầu tư gần 500 triệu USD vào nhà máy tại TP Hồ Chí Minh; đối tác sản xuất chính của Apple (Foxconn) bổ sung đầu tư 270 triệu USD tại Bắc Giang, v.v..

Về kinh tế là như vậy, là điều khó bác bỏ, nhưng khó nhất vẫn là vấn đề chính trị, ngoại giao, nhất là ứng xử với những diễn biến phức tạp, căng thẳng trên Biển Đông. Một nước lớn là Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng thực hiện tham vọng độc chiếm gần 90% diện tích vùng biển quan trọng này. Chính Bắc Kinh đã đưa ra những yêu cầu vô lý, khiến cho các nước ASEAN không thể đồng thuận, thời gian xây dựng bộ quy tắc ứng xử (COC) trên Biển Đông, vì thế, đã kéo dài trong niều năm qua.

Phát biểu trước Quốc hội Mỹ, ông Phạm Minh Chính đã nói thẳng thắn mà không ngại Bắc Kinh lườm nguýt. Ông khẳng định: Tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông là trách nhiệm chung. Khi nói tới Biển Đông cần xem xét hai vấn đề chính, bao gồm tranh chấp chủ quyền và tự do hàng hải và hàng không.

Thủ tướng Việt Nam nhấn mạnh: “Việt Nam không chọn phe nào cả, mà chọn sự công lý, công bằng và sự tốt đẹp. Dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc”.

Vì không chọn phe cho nên trong việc giải quyết các tranh chấp, xung đột ở khu vực, Hà Nội luôn tìm cách duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình bằng cách đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOC- 1982). Việt Nam ủng hộ sự hiệu quả và việc chấp hành đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (gọi tắt là DOC).

Ông Phạm Minh Chính sẽ còn lui lại Mỹ vài ngày nữa với những tính toán cụ thể hơn về hợp tác kinh tế, đối ngoại. Tuy nhiên, ông đã “hoàn thành” phần việc quan trọng nhất là bày tỏ chính kiến của Hà Nội trước Hội nghị cấp cao, đặc biệt là trao đổi thẳng thắn với Chủ tịch Quốc hội Mỹ và Tổng thống Joe Biden. Tổng thống Mỹ cũng đã nhận lời sớm thămViệt Nam.

Vậy có thể nói, Hà Nội đã đạt được “thắng lợi kép”. Việt Nam đang có cơ hội lớn để bứt phá. Và điều đó giúp ông Phạm Minh Chính “lên điểm” trong con mắt giới chính trị ở Việt Nam.

BDN

Loading

Views: 0

Thương mại Việt – Mỹ vượt 110 tỷ USD

Năm 2021, xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ đạt 111,56 tỷ USD, tăng gần 21 tỷ USD so với năm 2020.

Gỗ và sản phẩm gỗ là một trong 13 nhóm hàng xuất khẩu sang Mỹ đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD trong năm 2021.

Theo thông tin Tổng cục Hải quan vừa công bố, năm 2021, xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ đạt 111,56 tỷ USD, tăng gần 21 tỷ USD so với năm 2020, với mức thực hiện này, Mỹ là đối tác thương mại thứ hai đạt được mốc trên 100 tỷ USD, sau Trung Quốc.

Năm qua, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt 96,29 tỷ USD, tăng 24,9% so với năm 2020. Nền kinh tế lớn nhất thế giới tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam khi chiếm đến 28,6% kim ngạch xuất khẩu.

Năm 2021, có tới 13 nhóm hàng xuất khẩu sang Mỹ đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên, trong đó có 3 nhóm đạt hơn 10 tỷ USD.

Nhóm hàng xuất khẩu đạt kim ngạch lớn nhất là máy móc, thiết bị với 17,82 tỷ USD, tiếp đến dệt may 16,1 tỷ USD, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 12,76 tỷ USD.

Mỹ cũng là thị trường nhập khẩu nhiều tỷ USD gỗ, nông thủy sản từ Việt Nam, trong đó, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường này đạt 8,77 tỷ USD, thủy sản hơn 2 tỷ USD, hạt điều hơn 1 tỷ USD.

Chiều ngược lại, năm ngoái Việt Nam chi 15,27 tỷ USD nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ, tăng 11,4% so với năm 2020 và chiếm 4,6% kim ngạch cả nước.

2 nhóm hàng nhập khẩu có kim ngạch 1 tỷ USD trở lên là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 4,79 tỷ USD; bông 1,17 tỷ USD. Ngoài ra, nhóm hàng máy móc, thiết bị cũng đạt kim ngạch xấp xỉ 1 tỷ USD (992 triệu USD).

Đầu tư và thương mại Việt – Mỹ vẫn sôi động bất chấp tác động tiêu cực của dịch Covid-19 kéo dài suốt 2 năm 2020-2021. Đai biện lâm thời Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, bà Marie Damour nhấn mạnh tại Diễn đàn Thương mại Việt – Mỹ do Bộ Công thương phối hợp với Phòng Thương mại Mỹ tại Hà Nội (Amcham) hồi cuối năm ngoái rằng, với các lĩnh vực hợp tác đầu tư đa dạng, từ y tế, năng lượng, giáo dục… doanh nghiệp Việt – Mỹ đang duy trì đà phát triển mạnh mẽ kể cả trong đại dịch với các cột mốc quan trọng.

Các nhà đầu tư Mỹ đầu tư vào hơn 20 lĩnh vực kinh tế, đứng thứ 11 trong số các nhà đầu tư hàng đầu vào Việt Nam. Mỹ có 1.134 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 10 tỷ USD. Hầu hết các Tập đoàn lớn nhất của Hoa Kỳ đều đã có mặt tại Việt Nam như Exxon Mobil, Murphy Oil, Chevron, Boeing, Ford, Intel, Wal-Mart, Nike, Amazon và P&G…

Các tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Mỹ đều khẳng định vai trò quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Thời điểm tháng 8/2021, khi Việt Nam đang chịu tác động nặng nề của dịch Covid-19, 90 CEO các nhãn hàng hàng đầu của Mỹ như Adidas, Coach, Gap, Hanebrands, Nike, VF, Under Amour… đã kêu gọi Tổng thống Mỹ tăng viện trợ vaccine cho Việt N.

Do tính liên thông trong chuỗi giá trị, ngành sản xuất của Việt Nam trong vai trò cung ứng quan trọng với các ngành sản xuất dệt may, giày dép Mỹ.

Thương vụ Việt Nam tại Mỹ đánh giá, Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới với sức mua cao, đồng thời là thị trường có xu hướng tăng cả về giá cũng như quy mô; môi trường chính sách, quan hệ Việt – Mỹ đang có nhiều thuận lợi; nhu cầu và tập quán tiêu dùng phong phú theo thu nhập, tạo nên dư địa lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khai thác có hiệu quả.

BDN

Loading

Views: 0

Quan hệ Việt-Mỹ: Đã đi vào thực chất!

Chuyến thăm chóng vánh của bà Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris đến Việt Nam kết thúc sau hai ngày 25 và 26/8. Thật ra thời gian đón rước, hội đàm chỉ gói gọn trong vài giờ đồng hồ. Nội dung hai bên trao đổi với nhau thì dường như tất cả đã biết trước và giới thạo tin cũng biết trước, kể cả “đáp số” của bài toán ngoại giao.

Người dân Hà Nội vốn quan tâm đến chính trị bảo nhau: Thôi bàn chuyện gì có lợi cho dân cho nước cũng tốt, lúc này phải ẩn mình chờ thời thôi. Nhưng khoái nhất là lần này được xem bà Tân Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đón và tiếp khách. Có vẻ như cứng quá, đuối tầm quá trước một vị khách có vị thế quốc gia, tầm vóc hơn hẳn.

Nhưng đó là chuyện vui thôi, để khỏi bàn đến những điều tế nhị.

Tế nhị như chuyện tối hôm 24/8 bỗng dưng ông bạn láng giềng cử ngay Đại sứ Hùng Ba đến gặp Thủ tướng Việt Nam. Và nhân đây ông bạn tặng liền 2 triệu liều vaccines của hãng Sinopharm, dẫu biết dân Việt không ai muốn tiêm loại kháng thể này. Thế rồi ông Đại sứ dò hỏi về thái độ của Hà Nội khi Washington đề nghị nâng cấp quan hệ đối tác Việt-Mỹ lên mức đối tác chiến lược. Ông Thủ tướng Phạm Minh Chính đã phải khéo léo nói về phương châm của chúng tôi trước sau như một là, không liên kết với nước này để chống nước khác. Một câu trả lời không mất lòng ai.

Tế nhị như chuyện bà Phó Tổng thống Mỹ da màu, một nhà luật pháp cứng rắn đã đề nghị thẳng thắn và muốn nhận từ Hà Nội câu trả lời thẳng thắn, rằng: Hà Nội có đồng ý nâng cấp quan hệ của hai nước từ toàn diện lên đối tác chiến lược hay không? Ông Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã “đọc” nguyên văn rằng: “Việt Nam nhất quán thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và sẵn sàng là đối tác tin cậy, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển khu vực cũng như trên thế giới. Trên cơ sở đó, Việt Nam luôn coi Mỹ là một trong những thay đổi quan trọng hàng đầu và mong muốn cùng Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ đối tác toàn diện ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả, vững chắc, cùng có lợi, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn lãnh thổ, thể chế của nhau”.

Ông Phúc trả lời như thế là không còn ngại gì Bắc Kinh lườm nguýt. Nhưng chắc chắn bà Harris sẽ ngao ngán. Ngao ngán bởi chính Lầu Năm Góc cũng đoán được phần nào câu trả lời ấy của Ba Đình. Nhưng bắt bẻ sao đây, khi chủ nhà nói rằng, họ muốn quan hệ đối tác toàn diện đi vào chiều sâu? Cái chiều sâu ấy hình thù ra sao, sâu đến mức nào, rộng đến mức nào, thắm thiết đến mức nào thì chịu.

Nhưng cái mà Hà Nội cần thì rất rõ. Chúng tôi cần vaccines. Cuộc chiến chống Covid-19 của chúng tôi đang hồi căng thẳng phức tạp nhất, tỉ lệ người tử vong so với số người nhiễm bệnh là 2,4%, cao hơn mức trung bình của thế giới 0,4%. Chúng tôi cần hợp tác chặt chẽ với Mỹ để duy trì quyền tự do hàng hải quốc tế dựa trên luật lệ, giữ gìn an toàn, an ninh trên Biển Đông. Các quốc gia phải tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) 1982. Chúng tôi cần đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực, nhất là hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư an ninh quốc phòng, khắc phục hậu quả chiến tranh, ứng phó biến đổi khí hậu, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, v.v..

Xem ra, những vấn đề cụ thể thì Hà Nội nhấn nhá rất kỹ càng, rành mạch. Kể cả câu chuyện cụ thể như, tăng cường hợp tác giữa cảnh sát biển hai nước; như việc chuyển giao cho Việt Nam một con tàu tuần duyên nữa (con tàu thứ ba), nhằm “nâng cao năng lực của Việt Nam trong việc đóng góp vào an ninh hàng hải ở Biển Đông”. Một việc nữa, quan trọng không kém là hai bên sẽ ra mắt văn phòng khu vực Đông Nam Á của Trung tâm Phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) tại Hà Nội.

Thời gian ngắn, hiệu quả đàm phán xem như thế là “thành công tốt đẹp” theo cách nói mà các nhà lãnh đạo Ba Đình thường tổng kết.

Duy chỉ có cái cốt lõi của vấn đề ngoại giao vẫn còn bỏ ngỏ. Rằng, khi Mỹ-Việt chưa trở thành đối tác chiến lược thì nhiều vấn đề liên quan đến các quyết định hỗ trợ kinh tế, quân sự không thể thực hiện, bởi nó không phụ thuộc vào ý chí cá nhân, nó cần được thực hiện bởi Quốc hội, với Mỹ là Hạ viện, Thượng viện. Khi Mỹ- Việt mới chỉ nâng tầm… sâu thì Bắc Kinh còn yên tâm mà múa gậy vườn hoang, coi Biển Đông là sân sau nhà mình.

Đã trả lời xong câu hỏi khó nhất, Ba Đình dễ dàng vượt qua các câu hỏi khác,  như, vấn đề cốt tử của Mỹ sau khi triệt thoái khỏi Afghanistan là “quay lại châu Á” và “quay lại để ở lại”. Phó Tổng thống Mỹ Harris đã trình bày trước cả ông Chủ tịch nước và ông Thủ tướng Việt Nam về tầm nhìn Indo-Pacific và kêu gọi Việt Nam cùng bàn bạc với Mỹ những bước đi cụ thể nhằm chia sẻ tầm nhìn chung liên quan đến tương lai của khu vực “Indo-Pacific tự do và rộng mở” (FOIP).

 

BDN

Loading

Views: 0

Cựu Đại sứ Ted Osius: Với quan hệ Việt-Mỹ, ‘không gì là không thể’!

Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius trả lời phỏng vấn của TG&VN về chuyến thăm Việt Nam sắp tới của Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris và hợp tác song phương thời gian tới.

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius phát biểu nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc khánh thứ 239 của nước Mỹ và 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Mỹ, tại TP. Hồ Chí Minh ngày 1/7/2015. (Nguồn: TTXVN)

Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris dự kiến sẽ thăm Việt Nam vào tuần tới. Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của một Phó Tổng thống Mỹ tới Việt Nam và chuyến công du thứ hai của một quan chức nội các Mỹ tới Đông Nam Á trong chưa đầy một tháng. Điều gì khiến Việt Nam được lựa chọn, thưa ông?

Việt Nam đóng vai trò đặc biệt quan trọng với Mỹ, không chỉ do liên kết thương mại và đầu tư song phương bền chặt, mà bởi vì mối quan hệ này là minh chứng rằng hai nước từng đối đầu hoàn toàn có thể trở thành bạn thân thiết, đối tác tin cậy.

Bất kỳ ai đến Việt Nam đều ấn tượng trước tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, sự thân thiện của người dân và bề dày lịch sử, văn hóa của mảnh đất này. Hiện có hơn 2 triệu người Mỹ gốc Việt. Hợp tác giáo dục Việt-Mỹ đang phát triển mạnh mẽ.

Ngoài ra, Việt Nam nằm trong Đông Nam Á, nơi có 10 nước thuộc khối ASEAN với 662 triệu người và tổng GDP 3,200 tỷ USD. Khu vực này có ý nghĩa kinh tế đặc biệt quan trọng với Mỹ. Năm 2020, doanh nghiệp tư nhân Mỹ đã đầu tư vào ASEAN tới 388 tỷ USD – con số này bằng cả Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc cộng lại.

Cũng trong năm qua, Mỹ xuất khẩu lượng hàng hóa và dịch vụ trị giá 122 tỷ USD tới các nước Đông Nam Á, khiến ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn thứ 4 của Mỹ sau Canada, Mexico và Trung Quốc.

Ngoài ra, Mỹ có lợi ích cốt lõi trong đảm bảo quyền tự do hàng hải và hàng không trên các vùng biển và đại dương, trong đó có Biển Đông. Chính quyền Mỹ cũng có lợi ích trong duy trì tăng trưởng và thịnh vượng tại các nước ở hai bờ sông Mekong.

“Trong bối cảnh đó, Phó Tổng thống Kamala Harris rõ ràng có nhiều nội dung để thúc đẩy nhân chuyến thăm Việt Nam, nước đóng rất quan trọng với Mỹ”. (Ông Ted Osius, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam nhiệm kỳ 2014-2017)

Kỳ vọng của ông đối với chuyến thăm này?

Đây là chuyến công du nước ngoài thứ hai của Phó Tổng thống Kamala Harris. Lựa chọn Singapore và Việt Nam để dừng chân phản ánh tầm quan trọng của ASEAN với Mỹ.

Vài tuần trước, chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin tới Đông Nam Á đã nhấn mạnh vào thúc đẩy hợp tác an ninh. Như vậy, tới đây, Phó Tổng thống Harris có thể thảo luận về các vấn đề vượt xa khuôn khổ hợp tác an ninh với lãnh đạo Việt Nam, bao gồm thương mại.

Bởi lẽ, mọi cam kết về an ninh và chiến lược với ASEAN đều khó thành hiện thực nếu thiếu vắng hợp tác thương mại và đầu tư.

Hầu hết nền kinh tế các nước ASEAN có định hướng xuất khẩu. Do đó, thương mại là điểm xuất phát tốt để Mỹ thể hiện cam kết với Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nói chung và để bà Harris nhấn mạnh sự trở lại của Mỹ tại Đông Nam Á nói riêng.

Doanh nghiệp Mỹ cũng hiểu rõ câu chuyện này. Các hãng công nghệ nhận thức rằng Đông Nam Á là thị trường Internet phát triển nhanh nhất thế giới, với nền kinh tế số dự kiến vượt mốc 300 tỷ USD năm 2025. Khi các nước ASEAN thúc đẩy phục hồi kinh tế sau đại dịch, một phần động lực cho tăng trưởng đó sẽ đến từ kinh tế số.

Tương tự, Việt Nam đã nhiều lần thể hiện mong muốn xây dựng, thúc đẩy nền kinh tế số. Đây là nội dung Phó Tổng thống Harris có thể khai thác nhân chuyến thăm tới.

Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius tin rằng Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris có thể làm được rất nhiều việc trong chuyến thăm Việt Nam. (Ảnh: Reuters)

Một lĩnh vực quan trọng của hợp tác Việt-Mỹ thời gian qua là phòng chống đại dịch Covid-19. Đây cũng là một trọng tâm được đề cập trong thông cáo báo chí về chuyến thăm của bà Harris. Ông nhận định gì về hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực này?

Tất nhiên rồi. Cùng các cựu Đại sứ khác, tôi đã viết thư kêu gọi Tổng thống Joe Biden hỗ trợ vaccine Covid-19 cho Việt Nam. May mắn là Washington đã lắng nghe. Ở thời điểm hiện tại, Mỹ đã cung cấp số lượng đáng kể vaccine cho Việt Nam.

Tuy nhiên, đây chưa phải là giới hạn trong hợp tác giữa hai nước. Quá trình hợp tác trong lĩnh vực y tế công cộng giữa Việt Nam và Mỹ đã kéo dài gần hai thập kỷ, khi hai bên chung tay đẩy lùi dịch bệnh SARS những năm 2000 và sau đó là HIV/AIDS.

Nhiều nhà dịch tễ học Việt Nam đã tham gia các khóa đào tạo tại Mỹ. Các trung tâm cấp cứu lớn tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam đã cộng tác, chia sẻ dữ liệu thời gian với Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ.

Với hệ thống y tế công cộng phát triển vượt bậc, trong giai đoạn đầu đại dịch, Việt Nam nằm trong danh sách nước tiêu biểu về phòng chống Covid-19 trên thế giới.

Cùng các cựu Đại sứ khác, tôi đã viết thư kêu gọi Tổng thống Joe Biden hỗ trợ vaccine Covid-19 cho Việt Nam. May mắn là Washington đã lắng nghe…

Biến thể Delta của virus SARS-CoV-2 đã khiến tất cả các nước trên thế giới, dù là Mỹ hay Việt Nam, gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, chính phủ Việt Nam đã hành động quyết liệt, đẩy nhanh nhanh quá trình tiêm chủng tại TP. Hồ Chí Minh trong tháng qua.

Trong bối cảnh đó, Mỹ sẽ tiếp tục là một đối tác lớn của Việt Nam về phòng, chống dịch Covid-19 và hồi phục kinh tế sau đại dịch. Chuyến thăm tới là cơ hội để Phó Tổng thống Harris đưa hợp tác song phương trong lĩnh vực này lên một tầm cao mới.

Ông nói rằng quan hệ Việt-Mỹ minh chứng rằng hai nước từng đối đầu hoàn toàn có thể trở thành bạn thân thiết, đối tác tin cậy. Đó có phải là lý do ông đặt tên cho cuốn sách sắp xuất bản về quan hệ Việt-Mỹ của mình là “Không gì là không thể”?

Cuộc hội thảo ấy đã truyền cảm hứng để tôi viết nên tựa đề cuốn sách về quan hệ Việt-Mỹ là “Không gì là không thể: Tiến trình hòa giải giữa Mỹ và Việt Nam”… (Nguồn: Rutgers)

Cảm ơn bạn đã quan tâm. Cuốn sách song ngữ này dự kiến sẽ được giao tới những người đã trước vào đầu tháng 9, trước khi lên kệ ngày 15/10 tới. Song một số ấn bản đã tới tay bạn đọc ở Mỹ và Việt Nam. Độc giả có thể đặt mua trước cuốn sách với ưu đãi tới 30% tại đây.

Ông Ted Osius trong buổi trò chuyện với sinh viên Đại học Fulbright Việt Nam. (Nguồn: Đại học Fulbright Việt Nam)

Tựa đề của cuốn sách là Không gì là không thể: Tiến trình hòa giải giữa Mỹ và Việt Nam. Nó kể về tiến trình hòa giải kéo dài hơn 25 năm mà tôi có vinh hạnh được chứng kiến và đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình.

Ý tưởng về cái tên cho cuốn sách này đến từ một sự kiện 6 năm trước. Tháng 1/2015, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hà Kim Ngọc cùng một số nhà ngoại giao Việt Nam đã tổ chức một cuộc hội thảo nhân dịp kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ.

Tôi đã may mắn góp mặt tại sự kiện này cùng Thứ trưởng Ngọc, các cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam như Đại sứ Pete Peterson, Đại sứ Michael Michalak, các cựu Đại sứ Việt Nam tại Mỹ và nhiều người từng góp công thúc đẩy quan hệ song phương.

Đó thực sự là khoảnh khắc tuyệt vời.

Đại sứ Pete Peterson, một trong những người sếp đầu tiên của tôi tại Việt Nam, đã khẳng định: “Với quan hệ Việt-Mỹ, không gì là không thể”. Câu nói ấy đã trở thành kim chỉ nam của tôi trong nhiệm kỳ Đại sứ tại Việt Nam – không gì là không thể.

Thứ trưởng Ngọc, hiện là Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, cũng truyền đi thông điệp đầy ấn tượng: “Thay vì chỉ giới hạn trong khuôn khổ song phương, đã đến lúc chúng ta nên mở rộng thảo luận và hợp tác về những vấn đề khu vực và toàn cầu lớn hiện nay”.

Tôi rất tâm đắc với nhận định này và đã tích cực thúc đẩy trong nhiệm kỳ Đại sứ của mình.

Tới tận bây giờ, Đại sứ Ngọc vẫn tiếp tục theo đuổi tầm nhìn năm ấy về mở rộng hợp tác Việt-Mỹ trong các vấn đề khu vực và toàn cầu hai bên có chung lợi ích.

Cuộc hội thảo ấy đã truyền cảm hứng để tôi viết nên tựa đề cuốn sách về quan hệ Việt-Mỹ, Không gì là không thể: Tiến trình hòa giải giữa Mỹ và Việt Nam.

Liệu ông có thể “bật mí” về một số nội dung trong cuốn sách?

Cuốn sách không đi sâu vào chính sách hay chỉ dành cho giới học giả. Nó đơn giản là kể chuyện về những “người hùng” đóng góp cho quá trình hòa giải Việt-Mỹ.

Có những người từng đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng như cựu Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, cố Thượng nghị sỹ John McCain hay cố Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Song cũng có không ít “người hùng” đóng góp cho tiến trình hòa giải một cách thầm lặng và chẳng màng danh tiếng. Tôi cố gắng kể lại câu chuyện của tất cả bởi tôi tin rằng, hòa giải là nỗ lực xuất phát từ trái tim.

Vì thế, cuốn sách kể về những người tôi có dịp quen biết trong mối lương duyên 26 năm với Việt Nam. Nó khắc họa nỗ lực phi thường của cá nhân, tập thể, Việt Nam có, Mỹ có, nhằm vượt qua rào cản để kết nối hai nước.

Một khi vượt qua quá khứ, nhìn về tương lai chung, tiềm năng hợp tác giữa hai nước là vô cùng rộng lớn. Đó là điều mà Việt Nam và Mỹ đã, đang và sẽ tiếp tục làm thời gian tới. Nhìn lại, có thể thấy chúng ta đã có bước tiến dài, từ đối thủ năm 1990 để trở thành bạn bè, đối tác năm 2021.

Dường như ông vẫn dành một tình cảm đặc biệt cho Việt Nam. Giờ đây, khi sắp trở thành Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp Mỹ-ASEAN (USABC) với liên kết đặc biệt với Đông Nam Á, liệu ông có kế hoạch trở lại Việt Nam? USABC có thể đóng góp như thế nào cho tiến trình phục hồi kinh tế sau đại dịch của ASEAN nói chung, Việt Nam nói riêng?

Tất nhiên rồi! Một khi tình hình đại dịch Covid-19 có tiến triển tích cực, tôi sẽ trở lại Việt Nam.

Về câu hỏi của bạn, tôi chỉ chính thức đảm nhiệm Chủ tịch USABC tuần tới. Tuy nhiên, tôi đã suy nghĩ về những gì doanh nghiệp Mỹ và ASEAN có thể thực hiện.

Đầu tiên, ưu tiên hàng đầu trong đại dịch Covid-19 là phản ứng khẩn cấp. USABC đã đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ cung cấp oxy, bộ xét nghiệm và dụng cụ y tế cho các nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch. Nỗ lực này được dẫn dắt bởi một số doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ và USABC là thành viên then chốt.

Cụ thể, các công ty Mỹ nhanh chóng hỗ trợ Ấn Độ sau khi làn sóng lây nhiễm chưa từng có xuất hiện tại nước này và giờ đây, sự chú ý đang hướng về Indonesia, một “tâm chấn” khác của Covid-19. Họ cũng đang tìm hiểu cách thức hỗ trợ Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và các nước Đông Nam Á khác chịu tác động nặng nề từ biến thể Delta.

Còn đó thách thức, chẳng hạn như công ty tư nhân hiện không thể mua, phân phối hay tặng vaccine. Tôi hy vọng rằng qua thời gian, khi các hãng dược đẩy nhanh tiến độ sản xuất, doanh nghiệp Mỹ có thể đóng góp trực tiếp hơn vào quá trình phân phối vaccine Covid-19.

Tôi yêu mảnh đất này và tôi rất nóng lòng quay lại. Việt Nam đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc đời tôi…

Trong khi đó, cơ hội về phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19 đang rộng mở với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là trong nền kinh tế số.

Khi còn ở Google, chúng tôi đã làm việc với Temasek (Singapore) để nghiên cứu về cách các nước ASEAN đang tận dụng các cơ hội số.

Bất chấp đại dịch Covid-19, nền kinh tế số của Việt Nam vẫn phát triển mạnh mẽ và nằm trong nhóm tăng trưởng nhanh nhất khu vực.

Khi ấy, USABC có thể giúp các nước ASEAN nâng cao tiêu chuẩn trong lĩnh vực số. Đơn cử là Hiệp định Đối tác Kinh tế Kỹ thuật số (DEPA) mà Singapore cùng một số nước như New Zealand, Chile…đã ký kết.

Nó sẽ thúc đẩy tính đồng bộ thể chế, giải quyết thách thức mới từ số hóa như kiểm soát dữ liệu xuyên biên giới. Đây là tiêu chuẩn vàng cho các hiệp định thương mại số. Mỹ và Nhật Bản có tiêu chuẩn rất cao về hiệp định thương mại số và đã đến lúc ASEAN tham gia cuộc chơi.

Cuối cùng, trong bối cảnh phục hồi sau đại dịch, đã đến lúc các nước ASEAN phối hợp xây dựng các bộ quy tắc, luật lệ chung. Đại dịch đã ít nhiều khiến các nước trở nên hướng nội. Đã đến lúc các nước Đông Nam Á cùng tái hiện thái độ cởi mở, thứ định hình ASEAN trong quá khứ và sẽ tiếp tục đóng là chìa khóa trong tương lai.

Cuối cùng, tôi cho rằng cần giữ dòng chảy thông tin và thương mại được thông suốt. ASEAN nên tiếp tục mở cửa cho doanh nghiệp và đầu tư như trong quá khứ và Việt Nam có thể dẫn dắt nỗ lực này.

USABC sẽ tích cực đóng góp vào quá trình này, từ đó thúc đẩy phục hồi sau đại dịch của ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng.

Xin cảm ơn ông!

TG&VN

Loading

Views: 0

Quan hệ Mỹ – Việt trong bàn cờ chiến lược Mỹ – Trung

Mấy năm qua, tuy quan hệ Mỹ-Việt đã có những bước tiến dài, nhưng phải đặt quan hệ song phương trong bối cảnh an ninh khu vực và bàn cờ chiến lược Mỹ-Trung. Không phải ngẫu nhiên mà tàu sân bay Mỹ đã đến thăm Đà Nẵng hai lần, và Mỹ đã chuyển giao cho Việt Nam hai tàu tuần duyên lớp Hamilton, nhằm nâng cao năng lực hàng hải. Đó mới chỉ là bước đầu. Vai trò trung tâm của ASEAN và vai trò trụ cột của “Bộ Tứ” (Quad) ngày càng quan trọng trong cơ chế an ninh khu vực, theo tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Ảnh minh họa

Trong sáu tháng đầu năm 2021, tuy Mỹ nhấn mạnh tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, nhưng đã chú trọng nhiều hơn đến khu vực Châu Âu, Trung Đông, và Đông Bắc Á, trong khi có phần coi nhẹ Đông Nam Á. Vì vậy trong sáu tháng cuối năm, Washington phải tăng cường quan hệ với các nước ở khu vực này. Đó là bối cảnh chuyến thăm Singapore và Việt Nam của phó tổng thống Kamala Harris trong tháng 8, tiếp theo chuyến thăm của bộ trưởng quốc phòng Lloyd Austin tới Singapore, Việt Nam, và Philippines cuối tháng7 vừa rồi.

Theo người phát ngôn Nhà Trắng, phó tổng thống Kamala Harris sẽ thăm chính thức Singapore và Việt Nam từ ngày 20 đến ngày 26/8/2021. Đây là lần đầu tiên một phó tổng thống đương nhiệm của Mỹ thăm Việt Nam. Chuyến thăm của bà Harris sẽ tập trung vào bốn vấn đề lớn. Một là nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác toàn diện và đối tác chiến lược trong chính sách đối ngoại của chính quyền Biden. Hai là cam kết của Mỹ đối với nỗ lực thúc đẩy an ninh khu vực. Ba là quan hệ đối tác giữa Mỹ và các nước ASEAN. Bốn là bảo vệ những giá trị của Mỹ.

Ngoại trưởng Antony Blinken phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ-ASEAN ngày 4/8, khẳng định cam kết của Mỹ đối với vai trò trung tâm của ASEAN và ủng hộ Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Ngoại trưởng Blinken và các ngoại trưởng ASEAN đã thảo luận những thách thức cấp bách trong khu vực và trên thế giới, bao gồm ứng phó với đại dịch Covid-19, hành động mạnh mẽ chống biến đổi khí hậu, tăng cường phát triển nguồn nhân lực, và hành động cấp thiết đối với tình hình Myanmar.

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long phát biểu tại Diễn đàn An ninh Aspen ngày 3/8 đã hoan nghênh và đánh giá cao các chuyến thăm cấp cao “rất giá trị” của Mỹ. Đó là chỉ dấu cho thấy Washington nhận thức được rằng họ cần bảo vệ và thúc đẩy những lợi ích thực chất và quan trọng của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, ông cũng bày tỏ lo ngại trước tình trạng quan hệ Mỹ-Trung đang xấu đi và mong muốn không tụt dốc hơn nữa.

Tại Hà Nội, ngày 5/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trả lời báo chí rằng hai bên đang phối hợp chuẩn bị cho chuyến thăm của phó tổng thống Kamala Harris. Việt Nam nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đẩy mạnh việc đưa quan hệ với các đối tác, đặc biệt là các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, không đi với nước này để chống nước kia. Về đối tác chiến lược, Việt Nam cho rằng tên gọi không quan trọng bằng thực chất và sự bền vững của quan hệ giữa hai nước.

Chủ trương của Mỹ   

Theo Symone Sanders (người phát ngôn của phó tổng thống), chuyến thăm của bà Harris nhằm nhấn mạnh “Mỹ đang Quay lại”, và trao đổi về đối phó với đại dịch Covid-19 và biến đổi khí hậu, cũng như an ninh khu vực. Chuyến thăm này sẽ khẳng định tầm quan trọng của “tham dự toàn diện và đối tác chiến lược” trong chính sách đối ngoại của Mỹ. “Chúng ta phải cùng cố gắng cổ vũ cho trật tự quốc tế dựa trên pháp luật”.

Theo các chuyên gia, Mỹ vừa phải cạnh tranh với Trung Quốc, vừa phải điều chỉnh lập trường phù hợp với nguyện vọng của các nước Đông Nam Á. Mỹ không thể ép các nước khu vực chọn phe. Tuy trong sáu tháng đầu năm 2021, Washington tỏ ra coi nhẹ khu vực, nhưng bài phát biểu của bộ trưởng quốc phòng Lloyd Austin tại Singapore (27/7) khẳng định chính quyền Biden quan tâm tới Đông Nam Á, và ủng hộ các nước trong khu vực bảo vệ chủ quyền và tài nguyên của họ.

Tổng thống Biden và phó tổng thống Harris ưu tiên việc xây dựng lại các quan hệ đối tác để đảm bảo an ninh cho Mỹ, và an toàn bền vững cho chuỗi cung ứng. Tìm giải pháp để tránh bị thiếu hụt là ưu tiên chính của chuyến đi này. Việc thiếu hụt chất bán dẫn trên thế giới và khó khăn về chuỗi cung ứng là trọng tâm của bà Harris trong chuyến thăm Đông Nam Á, nơi Mỹ phải tăng cường quan hệ với các nước láng giềng của Trung Quốc.

Việc thiếu hụt chất bán dẫn toàn cầu tiếp tục làm trì trệ các ngành sản xuất điện tử. Nhà Trắng đang thảo luận khả năng ký một hiệp định thương mại tự do về công nghệ số với các nước khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương gồm Singapore và Việt Nam. Singapore sẽ xây dựng một nhà máy sản xuất điện thoại thông minh trị giá 4 tỷ USD dự kiến sẽ vận hành vào năm 2023, trong khi Việt Nam có vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng khi nhiều công ty đã chuyển dây chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam.

Theo Murray Hiebert (CSIS), chuyến thăm của bà Harris rất quan trọng vì nhấn mạnh cam kết của Mỹ tại Đông Nam Á, với hứa hẹn tăng thêm viện trợ vaccine cho khu vực. Chuyến thăm của bà Harris cũng như ông Austin chứng tỏ với Đông Nam Á là Mỹ muốn can dự. Gần đây, thứ trưởng bộ Ngoại giao Mỹ Wendy Sherman đã đến thăm Indonesia, Campuchia và Thailand (cuối tháng 5 – đầu tháng 6), và đến thăm Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ (tháng 7) trước khi đến thăm Trung Quốc để hội đàm, nhưng không giảm được căng thẳng.

Bà Kamala Harris vốn là một luật sư và công tố viên của bang California, đã nổi tiếng là một người sắc sảo tại các cuộc điều trần tại Thượng viện Mỹ. Ở tuổi 57, phó tổng thống Harris trẻ hơn nhiều so với tổng thống Biden, nay đã 79 tuổi. Chắc bà Harris sẽ phải thay mặt ông Biden đảm đương một số chuyến viếng thăm quốc tế, đặc biệt là đến Đông Nam Á, nơi lãnh đạo các nước ASEAN thường phàn nàn là bị các tổng thống Mỹ coi nhẹ.

Theo James Crabtree (IISS), chính quyền Biden thường bị phê phán là coi nhẹ các nước đồng minh và đối tác khu vực. “Quan hệ kinh tế của Mỹ với Singapore, Việt Nam, và Indonesia gần đây có một số thay đổi có lợi cho Trung Quốc”. Một chính quyền Biden lúng túng có thể để mất Đông Nam Á vào tay Trung Quốc.

Phản ứng của Trung Quốc

Theo Derek Grossman (RAND Corporation), Trung Quốc không chuẩn bị cho một điều chỉnh chiến lược lớn nào của Việt Nam trong tương lai, nên bất cứ một biến đổi nào trong hợp tác an ninh Mỹ-Việt sẽ làm Trung Quốc bất ngờ và phản ứng. Trung Quốc không muốn làm đảo lộn hòa bình và ổn định khu vực chỉ vì Mỹ và Việt Nam xích lại gần nhau, nên việc nâng cấp quan hệ Mỹ-Việt từ đối tác “toàn diện” lên thành đối tác “chiến lược” ít có khả năng làm cho Trung Quốc phản ứng mạnh.

Derek Grossman khuyến nghị Washington nên theo đuổi một chiến lược đa dạng bao gồm hợp tác ngoại giao, kinh tế, và an ninh, để tạo điều kiện cho các nước Đông Nam Á đang phải chơi trò đu dây (hedging and balancing) như Việt Nam có thể hợp tác với Mỹ mà không sợ bị ép buộc phải chọn phe giữa các nước lớn (như Mỹ và Trung Quốc). Nói cách khác, Washington không nên và không thể tác động vào quyết sách của Hà Nội, cho đến khi nào Hà Nội thấy đã đến lúc chín muồi để tự điều chỉnh chiến lược.

Theo Kevin Rudd (chủ tịch Asia Society), “Bộ Tứ” (Quad) là thách thức lớn nhất đối với tham vọng của Trung Quốc trong những năm tới. Tuy lúc đầu họ coi thường, nhưng từ cuộc họp cấp cao trực tuyến (3/2021) của nhóm này thì Bắc Kinh ngày càng lo ngại về triển vọng “Bộ Tứ” có thể tập hợp lực lượng, như Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã tuyên bố: “Cuộc họp cấp cao hôm nay chứng tỏ “Bộ Tứ đã trưởng thành như một trụ cột quan trọng cho ổn định trong khu vực”.

Cuộc họp cấp cao G-7 làm Bắc Kinh càng lo ngại về “Bộ Tứ” như một liên minh chống Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, bao gồm Hàn Quốc để “Quad” trở thành “Quint” (Bộ Ngũ). Đó là một nhân tố định hình quan hệ Mỹ-Trung, và tham vọng của Trung Quốc. Cựu ngoại trưởng Mike Pompeo đã tuyên bố thẳng thừng rằng mục tiêu của Mỹ là thể chế hóa “Bộ Tứ” thành “Bộ tứ Mở rộng” (Quad plus) gồm New Zealand, Hàn Quốc, Việt Nam, để hợp tác đảm bảo an ninh thương mại, công nghệ, và chuỗi cung ứng.

Bắc Kinh lo ngại “Bộ Tứ” có thể phối hợp với “Sáng kiến Răn Đe Thái Bình Dương” của Mỹ và chia sẻ thông tin nhạy cảm về chiến lược của Trung Quốc với các đối tác trong nhóm “Five Eyes”. Nhưng điều Bắc Kinh lo ngại nhất là “Bộ Tứ” trở thành nền tảng và đòn bẩy cho một liên minh toàn cầu chống Trung Quốc.

Tại sao Việt Nam?

Bộ trưởng quốc phòng Austin đã đến thăm Việt Nam, Singapore và Philippines (cuối tháng 7) để chuẩn bị cho chuyến thăm của bà Harris tới Singapore và Việt Nam. Tại sao bà Harris đến thăm Singapore và Việt Nam trước, mà không đến thăm Ấn Độ trước, tuy Ấn Độ là đối tác chiến lược của Mỹ trong “Bộ Tứ” và “quê ngoại” của bà Harris. Phải chăng Singapore và Việt Nam có vị trí chiến lược trong tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương?

Chuyến thăm Việt Nam của ông Austin tuy không được báo chí đưa tin nhiều, nhưng không kém phần quan trọng. Trong khi thâm hụt thương mại Mỹ-Việt ngày càng tăng (69,7 tỷ đô la năm 2020), thì chương trình hợp tác quốc phòng trở thành một trụ cột chính trong quan hệ Mỹ-Việt. Việt Nam ngày càng quan trọng đối với Mỹ, và Hà Nội cũng như Singapore đang trở thành các mỏ neo (anchors) trong chính sách của Mỹ.

Trong khi bờ biển Việt Nam dài hơn 3.000km giáp Biển Đông và án ngữ lối ra Biển Đông của Trung Quốc, thì Singapore án ngữ eo biển Malacca là yết hầu (choke point) nối Tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Singapore là nước ASEAN duy nhất cho Mỹ sử dụng căn cứ hải quân (Changi), gia hạn 15 năm (đến 2035), trong khi căn cứ hải quân Cam Ranh của Việt Nam được các nước lớn chú ý vì vị trí chiến lược trọng yếu tại Biển Đông.

Không phải ngẫu nhiên mà Mỹ bán cho Singapore 12 máy bay chiến đấu F-35B (thế hệ mới) như một ưu tiên đặc biệt. Singapore là nước ASEAN đầu tiên có máy bay F-35B (trước đây đã mua F-15 và F-16). Nếu Mỹ quyết định thành lập “hạm đội 1” như đề xuất của bộ trưởng hải quân Mỹ để tăng cường lực lượng cho hạm đội 7 và hạm đội 5 tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thì Singapore sẽ là một lựa chọn cho căn cứ của hạm đội mới. Nói cách khác, Singapore và Việt Nam đều rất quan trọng, cả về chiến lược và thương mại.

Chuyến thăm Việt Nam sắp tới của phó tổng thống Harris, và chuyến thăm của tổng thống Biden vào dịp họp cấp cao ASEAN và Đông Á (dự kiến vào cuối năm) chứng tỏ hai điều cơ bản. Một là khu vực bao gồm ASEAN là một phần thiết yếu trong bàn cờ chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP). Hai là Mỹ muốn thăm dò Việt Nam về khả năng đồng thuận nâng cấp quan hệ lên thành “đối tác chiến lược”.

Hợp tác chiến lược với Mỹ không chỉ là vấn đề đối ngoại, mà còn là vấn đề đối nội vì liên quan đến đổi mới thể chế và chiến lược phát triển quốc gia. Khi quan hệ Mỹ-Trung càng xấu đi, thì quan hệ Mỹ-Việt càng tốt lên, làm quan hệ Trung-Việt càng nhạy cảm trong bàn cờ chiến lược Mỹ-Trung-Việt. Trong khi xây dựng lòng tin chiến lược với Mỹ, Việt Nam vẫn duy trì cân bằng chiến lược với Trung Quốc. Đó là nguyên tắc “không chọn phe” trong đối ngoại, và chủ trương “ba không một nếu” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam.

Về an ninh quốc phòng, Đô đốc Karl Schultz (Tư lệnh tuần duyên Mỹ) nhấn mạnh tầm quan trọng của Việt Nam trong khu vực. Ông cho biết lãnh đạo Việt Nam cam kết sử dụng các tàu tuần duyên của Mỹ chuyển giao phù hợp với lợi ích an ninh quốc gia trong khu vực. Ông tin rằng Việt Nam sẽ tiếp tục là đối tác quan trọng của lực lượng Tuần duyên Mỹ. Tuỳ viên Quân sự Mỹ tại Hà Nội Thomas Stevenson cũng cho rằng chính sách quốc phòng “ba không một nếu” của Việt Nam có thể tạo ra khuôn khổ đối thoại hiệu quả để tránh xung đột. Vì vậy, hai bên đã nhất trí, “không ai yêu cầu các nước khu vực phải chọn phe”.

Hợp tác Mỹ-Việt không chỉ về an ninh quốc phòng (như tàu sân bay Mỹ đến thăm Việt Nam hai lần, Mỹ chuyển giao hai tàu tuần duyên cho Việt Nam để nâng cao năng lực hàng hải), mà còn về y tế (Mỹ viện trợ vaccine và giúp Việt Nam công nghệ sản xuất vaccine), khắc phục hậu quả chiến tranh (như phá bom mìn, tẩy rửa chất độc da cam, tìm kiếm người mất tích trong chiến tranh), đối phó với biến đổi khí hậu (đang diễn ra tại lưu vực sông Mekong), về thương mại (như rút Việt Nam khỏi danh sách bị Mỹ cáo buộc “thao túng tiền tệ”).

Về y tế, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam 5 triệu liều vaccine Moderna, cùng với 20 triệu USD giúp Việt Nam chống Covid-19. Mỹ là nước tặng nhiều vaccine nhất cho Việt Nam (dù nhận trực tiếp hay thông qua COVAX). Trước mắt, Mỹ cam kết sẽ tiếp tục viện trợ vaccine cho Việt Nam. Về lâu dài, VinBioCare (Vingroup) đã nhận chuyển giao độc quyền công nghệ sản xuất vaccine VBC-COV19-154 của Arcturus Therapeutics, có khả năng chống lại các biến chủng mới nguy hiểm như Delta, Alpha, Beta, Gamma.

Trở về tương lai

Theo huyền sử (chưa kiểm chứng), ông Bùi Viện được vua Tự Đức cử làm sứ thần sang Mỹ (1873-1875) không chỉ để thiết lập bang giao song phương, mà còn nhằm cầu viện Mỹ làm đối trọng với Pháp, lúc đó đang muốn biến Việt Nam thành thuộc địa. Nhưng sứ mệnh của ông Bùi Viện không thành, đã để lại một kinh nghiệm đáng buồn về “nhỡ tàu”, được lặp đi lặp lại trong quan hệ Mỹ-Việt.

Lịch sử dường như lặp lại khi Hồ Chí Minh chủ trương hợp tác với Mỹ để chống Nhật (1944-1945), thông qua các đầu mối OSS như Archimedes Patti và Charles Fenn cùng nhóm “Con Hươu” (Deer Team), để vận động Mỹ giúp Việt Minh. Hồ Chí Minh đã gửi 8 bức thư và điện cho tổng thống Mỹ Herry Truman (1945-1946) nhưng không được hồi đáp. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954), Mỹ đã giúp Pháp đánh Việt Minh, và trong cuộc Chiến tranh Việt Nam (1955-1975), Mỹ đã quyết định can thiệp trực tiếp.

Chiến tranh Việt Nam là một thảm họa cho cả hai bên, vì đó là “một cuộc chiến tranh sai lầm, tại một địa điểm sai lầm, vào một thời điểm sai lầm, và chống một kẻ thù sai lầm (a wrong war, at the wrong place, at the wrong time, and with the wrong enemy) như lời tướng Omar Bradley. Hơn 45 năm sau, tuy “vết thương Việt Nam” chưa lành và “bóng ma Việt Nam” chưa chết hẳn, Mỹ và Việt Nam đang tiếp tục nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng lòng tin chiến lược cho một trang mới trong quan hệ giữa hai nước.

Trong lịch sử của Việt Nam với Pháp, Nhật, Mỹ, Trung Quốc, thì quan hệ với Trung Quốc là phức tạp nhất, như một định mệnh. Hai nước gắn liền với nhau về địa lý (núi liền núi, sông liền sông), về lịch sử (ngàn năm Bắc thuộc), về kinh tế (phụ thuộc vào nhau), về chính trị (cùng hệ tư tưởng). Quan hệ Trung-Việt như cục nam châm vừa hút vừa đẩy, phản ánh thực trạng “vừa yêu vừa ghét” như “anh em thù địch” (brother enemy).

Trong khi đó, quan hệ Mỹ-Việt không phải là định mệnh mà có thể hóa giải. Hơn 45 năm sau chiến tranh, và 25 năm sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, Mỹ và Việt Nam đang dần trở thành đối tác chiến lược. Điều đó phản ánh không chỉ nhu cầu phát triển của mỗi nước, mà còn cả tầm nhìn chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, nơi Mỹ và Trung Quốc đang tranh giành ảnh hưởng.

Nội dung quan trọng nhất trong chuyến thăm Việt Nam của ông Austin là khắc phục hậu quả chiến tranh, để thúc đẩy hòa giải và xây dựng lòng tin. Hai bên đã ký một bản ghi nhớ (MOU) về việc giúp Việt Nam tìm kiếm người mất tích trong chiến tranh (MIA). Điều đó rất thiết yếu để tăng cường hợp tác an ninh và xây dựng lòng tin. Quan hệ Mỹ-Việt không chỉ dựa trên tầm nhìn chiến lược chung về Trung Quốc và trật tự khu vực, mà còn phải bắt nguồn từ lòng tin giữa hai quốc gia. Nói cách khác, hóa giải quá khứ là kiến tạo tương lai.

Sau thời Trump với “nước Mỹ trên hết”, đến thời Biden với “nước Mỹ trở lại”. Tuy chính quyền Biden cũng nhận diện Trung Quốc là “thách thức lớn nhất”, nhưng Mỹ không thể đối phó một mình, mà phải tập hợp đồng minh và đối tác, như trong “Bộ Tứ” (có Nhật, Ấn, Úc), và trong ASEAN (có Singapore, Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Indonesia). Để có đồng minh và đối tác bền vững, Mỹ cần xây dựng lòng tin và sức mạnh “răn đe tích hợp” (integrated deterrence) trong cơ chế an ninh khu vực, bao gồm cả quan hệ với Việt Nam.

Thay lời kết

Trong các bài viết trước đây, tôi thường đề cập đến khả năng Việt Nam dễ bị mắc kẹt trong bàn cờ chiến lược Mỹ-Trung. Khi quan hệ Mỹ-Trung càng xấu đi, thì quan hệ Mỹ-Việt càng tốt lên, làm quan hệ Trung-Việt càng nhạy cảm. Việt Nam cũng như các nước khu vực không muốn chọn phe vì ba lo ngại chính. Một là Trung quốc có thể trả đũa làm cho họ thiệt hại hơn là được lợi từ Mỹ. Hai là Mỹ có thể bỏ rơi họ để bắt tay với Trung Quốc như bài học trong quá khứ. Ba là Mỹ có thể tìm cách diễn biến làm cho họ phải thay đổi chế độ.

Theo các chuyên gia, các lo ngại đó vừa phản ánh thực tế vừa phản ánh não trạng. Lo ngại thái quá sẽ làm gia tăng năng lượng tiêu cực, biến nhận thức thành thực tế, có thể gây nhầm lẫn đáng tiếc. Trong bối cảnh đại dịch hiện nay, mọi thứ đều có thể bị đảo lộn, kể cả thói quen tư duy và hệ quy chiếu. Diễn biến càng khó lường thì quyết sách càng dễ nhầm lẫn. Vì vậy, quyết định về “đối tác chiến lược” với Mỹ đúng lúc rất hệ trọng, vì quyết định quá sớm có thể rủi ro cao, nhưng quá muộn có thể đánh mất cơ hội chiến lược.

BDN

Loading

Views: 0

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm Việt Nam

Hôm nay 28-7, Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin bắt đầu chuyến thăm Việt Nam 2 ngày. Ông là quan chức cấp cao nhất của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden thăm chính thức Việt Nam tính tới nay.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin – Ảnh: AFP nguồn tuoitre.vn

Trả lời phỏng vấn Tuổi Trẻ, đại tá Thomas Stevenson (ảnh), tùy viên quốc phòng thuộc Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, chia sẻ về mục tiêu, ý nghĩa chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Austin đối với quan hệ song phương Việt – Mỹ, cũng như chính sách của Washington trong khu vực.

Chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin tiếp tục góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị, tin cậy giữa nhân dân và quân đội hai nước, triển khai các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước và góp phần vào khuôn khổ đối tác toàn diện Việt Nam – Mỹ.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nói trong cuộc họp báo ngày 22-7.

* Vì sao Bộ trưởng Lloyd Austin quyết định thăm Việt Nam, Singapore và Philippines trong chuyến đi lần này, thưa ông?

– Ông ấy muốn chứng minh cam kết của Mỹ với khu vực cũng như tiếp tục thúc đẩy quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam. Ông ấy sẽ tái khẳng định cam kết ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến chống COVID-19. Thêm vào đó, ông ấy sẽ đưa ra tín hiệu tôn trọng dành cho hệ thống chính trị Việt Nam.

Tôi cũng dự đoán rằng trong thời gian ở Hà Nội, Bộ trưởng Austin sẽ thảo luận với lãnh đạo Việt Nam về các thách thức đối với luật pháp quốc tế, khủng bố, tàn phá môi trường, đánh bắt cá quá mức… Vì vậy, các bên sẽ cần một cách phản ứng tổng hòa đối với các thách thức này. Chúng tôi đang nỗ lực xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Việt Nam để thực hiện điều đó.

* Mỹ nhìn thấy lợi ích gì từ chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa cũng như chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam?

– Mong muốn của Việt Nam là một môi trường ổn định, thịnh vượng, khi các nước lớn hỗ trợ các nước đang phát triển để có kết quả tốt đẹp hơn. Chúng ta có lợi ích chung trong việc duy trì một khu vực ổn định và thịnh vượng. Việc đặt ASEAN vào vị trí trung tâm và tìm kiếm cách thức để các cường quốc cùng gắn kết với ASEAN là một lợi ích của cả Mỹ lẫn Việt Nam.

Tôi nghĩ rằng chính sách quốc phòng “4 không” (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế – PV) là cách Việt Nam tạo ra một khuôn khổ đóng góp cho đối thoại hiệu quả, để quản lý tranh chấp hiệu quả, không gây xung đột.

Sau tất cả, Việt Nam và Mỹ đều nhất trí rằng chúng tôi không yêu cầu các nước trong khu vực phải chọn phe. Thay vào đó là kêu gọi các bên lựa chọn và củng cố hệ thống quốc tế, luật pháp quốc tế.

Tập trung hết sức đưa vắc xin về Việt Nam

Theo đại tá Thomas Stevenson, Bộ Quốc phòng Mỹ đang phối hợp với Trung tâm Phòng chống bệnh tật Mỹ (CDC) và Cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ (USAID) để tăng cường hỗ trợ y tế công cộng cho Việt Nam.

“Chúng tôi đang tập trung hết sức vào việc đưa vắc xin COVID-19 về Việt Nam. Bộ Quốc phòng Mỹ đã hỗ trợ lĩnh vực y tế của Bộ Quốc phòng Việt Nam thông qua cung cấp thiết bị y tế, bao gồm hệ thống xét nghiệm RT-PCR và 77 tủ đông siêu lạnh giúp lưu trữ vắc xin khi Việt Nam phân phối trên toàn quốc” – ông Stevenson nói.

Mỹ coi trọng quan hệ với Việt Nam

Giới quan sát xem chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Austin phản ánh việc Mỹ muốn xây dựng quan hệ tốt đẹp cùng Việt Nam, cũng như đánh giá cao vai trò chiến lược của Việt Nam.

Về tính thời điểm, TS Satoru Nagao (nghiên cứu viên khách mời Viện Hudson, Mỹ) cho rằng đây là chuyến thăm không bất ngờ, xét tới các diễn biến tương tự những năm qua. Và nó chỉ càng chứng minh tầm quan trọng của Việt Nam với Mỹ.

“Vài năm nay các quan chức cấp cao của Mỹ đã thường xuyên tới thăm Việt Nam, trong đó có thể kể tới Ngoại trưởng Mike Pompeo năm 2020, Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper năm 2019, và Bộ trưởng Quốc phòng Jim Mattis năm 2018. Chính vì vậy, chuyến thăm lần này của Bộ trưởng Quốc phòng Austin không khác biệt với xu hướng trên. Việt Nam quan trọng đối với Mỹ, và Mỹ muốn đến thăm”, ông nói.

Trong khi đó, nguyên đại sứ Việt Nam tại Mỹ Phạm Quang Vinh đặt chuyến thăm này trong một tháng 7 nhiều diễn biến tích cực cho quan hệ song phương. Ông viết: “Trong tháng kỷ niệm quan hệ song phương (11-7-1995), ngoài trao đổi và chúc mừng, Mỹ và Việt Nam cũng đạt thỏa thuận xử lý vấn đề “thao túng tiền tệ”. Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ (USTR) quyết định không áp dụng bất kỳ biện pháp hạn chế thương mại nào với Việt Nam. Cùng giai đoạn này, Mỹ cũng trao tặng hàng triệu liều vắc xin COVID-19 cho Việt Nam, cũng như chuyển giao tàu John Midgett cho Cảnh sát biển Việt Nam”.

Ông Phạm Quang Vinh cũng lưu ý rằng Tổng thống Biden gửi thư chúc mừng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được bầu lại, và đánh giá cao Đại hội XIII của Việt Nam. Phía Mỹ cũng rất coi trọng, thường xuyên tham vấn về các vấn đề khu vực, quốc tế với Việt Nam, trong đó có vấn đề ASEAN, Mekong, Biển Đông… Hồi tháng 4-2021, Mỹ cũng mời Việt Nam dự Cấp cao trực tuyến về biến đổi khí hậu (trong số 40 nước).

Tàu Cảnh sát biển 8021 về tới Khánh Hòa

Trả lời Tuổi Trẻ, đại tá Stevenson cho biết tàu Cảnh sát biển 8021 đã về tới Việt Nam, và hiện ở tỉnh Khánh Hòa. Đây vốn là tàu tuần duyên USCGC John Midgett (WHEC 726), được Mỹ bàn giao cho Việt Nam theo Chương trình bán trang bị quốc phòng dư thừa (EDA).

“Đây là con tàu tuần duyên thứ hai Mỹ giao cho Việt Nam trong chương trình (EDA), trong mối quan hệ hợp tác hàng hải nhằm củng cố luật pháp quốc tế, chủ quyền của Việt Nam”, ông Stevenson nói.

TTO

Loading

Views: 0

Tại sao Mỹ đưa ra khỏi danh sách ‘quốc gia đang phát triển’?

Việt Nam sẽ tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động của việc Mỹ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước được hưởng quy chế “quốc gia đang phát triển” trong luật chống trợ cấp của Mỹ, đồng thời duy trì đối thoại.

Về việc Mỹ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia được hưởng ưu đãi biên độ phá giá không đáng kể, phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Đoàn Khắc Việt khẳng định:

“Quan hệ kinh tế – thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ thời gian qua tiếp tục phát triển tốt đẹp. Kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 76 tỉ USD trong năm 2019, tăng khoảng 25% so với năm 2018. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và Việt Nam là một trong những thị trường xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất của Mỹ.

Hiện Việt Nam vẫn được hưởng quy chế quốc gia đang phát triển trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Việt Nam sẽ tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động của việc Mỹ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước được hưởng quy chế “quốc gia đang phát triển” trong luật chống trợ cấp của Mỹ, đồng thời duy trì đối thoại, phối hợp các biện pháp với phía Mỹ nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại song phương tiếp tục phát triển theo hướng hài hòa, bền vững, đem lại lợi ích cho cả Việt Nam và Mỹ”.

Hôm 10-2, Mỹ thu hẹp danh sách nội bộ của nước này về việc nhìn nhận quốc gia nào “đang phát triển” và “kém phát triển”. Một số nước lâu nay nhận ưu đãi vì “đang phát triển” sẽ mất quyền lợi khi bị đưa khỏi danh sách này, theo Bloomberg.

Loading

Views: 0

Bộ Ngoại giao lên tiếng về thông tin từ Đại diện Thương mại Mỹ liên quan đến Việt Nam

Việt Nam sẽ đánh giá tác động của quyết định này và duy trì đối thoại thương mại với phía Mỹ, thúc đẩy quan hệ song phương tiếp tục phát triển theo hướng hài hòa, bền vững cho cả hai bên.

Quan hệ Việt – Mỹ trong thời gian qua đã có nhiều bước phát triển tích cực. (Ảnh: Tuấn Anh)

Ngày 20/2, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước thông tin Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) đưa nhiều quốc gia và nền kinh tế, trong đó có Việt Nam, ra khỏi danh sách các nước đang phát triển, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Đoàn Khắc Việt khẳng định:

Quan hệ kinh tế – thương mại Việt – Mỹ thời gian qua tiếp tục phát triển rất tốt đẹp, kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 76 tỷ USD năm 2019, tăng 25% so với năm 2018. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Việt Nam là một trong những thị trường xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất của Mỹ.

Hiện Việt Nam vẫn đang hưởng quy chế quốc gia đang phát triển của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Việt Nam sẽ tiếp tục theo dõi đánh giá tác động của việc Mỹ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước được hưởng quy chế quốc gia đang phát triển trong luật chống trợ cấp của Mỹ, đồng thời duy trì đối thoại, phối hợp với phía Mỹ nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại song phương tiếp tục phát triển theo hướng hài hòa, bền vững, mang lại kết quả cho cả Việt Nam và Mỹ.

TG&VN

Loading

Views: 0