Tag Archives: chiến tranh Ukraine

Ngoài Thổ Nhĩ Kỳ, thêm thành viên NATO muốn ngăn Thụy Điển và Phần Lan gia nhập khối

Sau động thái của Thổ Nhĩ Kỳ, Tổng thống Croatia Zoran Milanovic cho biết ông có kế hoạch ngăn Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO.

Theo đó, hôm 18/5, Tổng thống Croatia Zoran Milanovic nói rằng ông có kế hoạch chỉ thị cho Đại sứ Mario Nobilo – đại diện thường trực của nước này tại NATO, ngăn Phần Lan và Thụy Điển gia nhập liên minh quân sự này.

Theo Tổng thống Zoran Milanovic, việc từ chối chấp thuận Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO sẽ chuyển sự chú ý của dư luận quốc tế sang những vấn đề mà cộng đồng người Croatia ở nước láng giềng Bosnia-Herzegovina đang phải đối mặt.

Hệ thống bầu cử hiện tại ở nước láng giềng Bosnia-Herzegovina – nơi có cộng đồng sắc tộc Croat được công nhận bình đẳng theo hiến pháp năm 1995, được xem là một vấn đề với Croatia. Croatia đang muốn thúc đẩy Bosnia-Herzegovina sửa đổi luật bầu cử.

Croatia cho rằng, cần phải cập nhật luật bầu cử để người Croatia ở Bosnia-Herzegovina có thể bầu ra đại diện của chính họ. Thông lệ hiện tại là để các đại diện này được bầu bởi cộng đồng người Hồi giáo Bosnia, còn được gọi là Bosniaks.

Ông Zoran Milanovic tuyên bố: “Như tôi từng nói, người Croatia ở Bosnia-Herzegovina đối với tôi quan trọng hơn toàn bộ biên giới Nga – Phần Lan”.

Hôm 15/5, Thụy Điển và Phần Lan nộp đơn xin gia nhập NATO, chính thức phá vỡ quy chế trung lập. Tuy nhiên, theo quy định của NATO, một quốc gia chỉ có thể chính thức được kết nạp nếu như nhận được sự đồng ý từ tất cả các nước thành viên trong khối.

Trước Croatia, Thổ Nhĩ Kỳ phản đối kế hoạch kết nạp 2 quốc gia Bắc Âu này. Hôm 16/5, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan tuyên bố ông sẽ không chấp thuận Thụy Điển và Phần Lan trở thành thành viên NATO.

Theo Tổng thống Zoran Milanovic, Thổ Nhĩ Kỳ đã “chỉ ra cách đấu tranh vì lợi ích quốc gia”. Ông cho rằng Ankara đã phản đối bất kỳ thỏa thuận nào nhằm kết nạp Thụy Điển và Phần Lan vào NATO cho đến khi họ từ bỏ hỗ trợ các lực lượng liên hệ với đảng Công nhân người Kurd (PKK)”.

“Thổ Nhĩ Kỳ chắc chắn sẽ không thay đổi quyết định cho đến khi họ đạt được điều mình muốn”, ông Zoran Milanovic nói.

Tiến trình để Thụy Điển và Phần Lan gia nhập NATO đang đối mặt nhiều thử thách. Phản ứng trước thông tin 2 nước Bắc Âu nộp đơn xin gia nhập NATO,Tổng thống Vladimir Putin cho biết Nga không có vấn đề gì với Phần Lan hay Thụy Điển, nhưng Moskva sẽ phản ứng trước việc NATO mở rộng cơ sở hạ tầng quân sự tại hai nước này. Ông nói việc NATO mở rộng chính là vấn đề đối với Nga.

BDN

Loading

Views: 0

Cuộc chiến ở Ukraine được EU coi là khủng hoảng lớn nhất

Phát biểu trước Quốc hội Đức ngày 19/5 trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh EU về Ukraine vào cuối tháng này, Thủ tướng Đức Olaf Scholz đã gọi cuộc chiến ở Ukraine là cuộc khủng hoảng lớn nhất mà EU từng đối mặt trong lịch sử của mình.

Ông Scholz cũng gọi cuộc chiến này là “một bước ngoặt lịch sử” và cho rằng các thành viên EU phải đương đầu với nó bằng sự đoàn kết.

“Sức ép từ bên ngoài càng lớn thì EU càng cần sát cánh và hành động cùng nhau. Chúng ta đều có một mục tiêu chung, đó là Nga sẽ không giành chiến thắng trong cuộc chiến này. Ukraine phải giành ưu thế”.

Thủ tướng Đức cũng giải thích đó là lý do tại sao Đức cung cấp hỗ trợ cho Ukraine, trong đó bao gồm cả các vũ khí hạng nặng và tiếp nhận người tị nạn Ukraine.

Ông Scholz cho biết, Đức sẽ không tiến hành bất kỳ động thái nào khiến NATO trở thành một phần của cuộc xung đột ở Ukraine. Ông nhấn mạnh Đức sẽ không thực hiện những biện pháp đơn lẻ. “Chúng tôi sẽ không làm bất kỳ điều gì khiến NATO trở thành một bên xung đột”, Thủ tướng Đức khẳng định.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ cung cấp cho Ukraine những vũ khí gì

Lầu Năm Góc đã cam kết hỗ trợ hàng nghìn vũ khí cho Ukraine, trong đó có các tên lửa Javelin, Stinger và các loại đạn pháo hạng nặng. Dưới đây là tất cả các loại vũ khí Mỹ thông báo đang chuyển cho Ukraine.

Hơn 1.400 tên lửa Stinger: Hệ thống phòng không Stinger, còn được biết tới là tên lửa đất đối không, là một hệ thống tên lửa vác vai có thể phá hủy chiến đấu cơ cũng như các loại tên lửa khác. Raytheon Technologies, công ty sản xuất Stingers, đang tìm cách thay thế loại vũ khí đang được cung cấp cho Ukraine này bởi Bộ Quốc phòng Mỹ đã không mua mới loại tên lửa này trong18 năm vì thế nhiều phần của tên lửa này không có sẵn trên thị trường. Điều đó tức là Raytheon sẽ phải thiết kế lại một số thiết bị điện tử liên quan đến các bộ phận của Stinger.

Hơn 5.500 tên lửa chống tăng Javelin: Javelin là một vũ khí tiên tiến có thể chỉ cần 1 binh lính để sử dụng. Tên lửa Javelin thường tấn công từ trên cao, nơi mà lớp bọc thép của xe tăng mỏng nhất. Vũ khí này có tầm bắn 4.000 mét và có thể theo dõi ảnh nhiệt của mục tiêu.

Hơn 14.000 vũ khí chống tăng khác: Các vũ khí chống tăng là những loại vũ khí nhắm vào các phương tiện bọc thép. Mỹ từ chối nêu tên cụ thể của các hệ thống được gửi tới Ukraine nhằm khiến Nga không thể dự đoán và đối phó với hiệu quả của chúng.

Hơn 700 máy bay không người lái Switchblade: Switchblade, đôi khi còn được gọi là UAV “Thần Phong”, là máy bay không người lái chứa đầy chất nổ. Chúng có thể vác vai và có 2 cỡ là 300 và 600 với loại 300 có thể nhét vừa trong ba lô trong khi loại còn lại đủ uy lực để phá hủy một xe tăng. Do Switchblade vừa là vũ khí vừa là phương tiện trinh sát nên nó được gọi là đạn tuần kích (loitering munition). Được công bố vào năm 2011, một chuyên gia đã gọi Switchblade có thể “cách mạng hóa chiến tranh mặt đất”.

90 lựu pháo Howitzer 155mm và 183.000 đạn pháo 155mm: Lựu pháo Howitzer có thể bắn 4 phát/phút và nhắm trúng mục tiêu cách xa gần 30 km. Những lựu pháo hạng nặng này có vai trò quan trọng với Ukraine trong giai đoạn mới của cuộc chiến ở khu vực Donbass. Những lựu pháo Howitzer đầu tiên trong gói hỗ trợ mới nhất của Lầu Năm Góc đã đến Ukraine cuối tháng 4 và quân đội Mỹ đang huấn luyện cho quân đội Ukraine cách sử dụng chúng tại một địa điểm bí mật ở châu Âu.

72 phương tiện chiến thuật để chở lựu pháo Howitzer 155mm: Những phương tiện chiến thuật được sử dụng để chở các lựu pháo Howitzer thường nặng khoảng hơn 7 tấn.

16 trực thăng Mi-17: Các trực thăng Mi-17 là những phương tiện vận chuyển tối ưu được sử dụng để di chuyển các lực lượng. Ngoài việc vận chuyển các quân nhân, Mi-17 có thể được trang bị pháo và tên lửa. Những chiếc trực thăng này trên thực tế được mua từ một nhà xuất khẩu vũ khí nhà nước của Nga vào đầu những năm 2010 với mục đích là dành cho Afghanistan. Vào thời điểm đó, các nghị sĩ Mỹ đã giận dữ bởi thương vụ này, cho rằng Lầu Năm Góc nên chọn một nhà sản xuất Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ đã chọn các trực thăng của Nga bởi chúng không quá đắt đỏ và các phi công Afghanistan biết cách sử dụng chúng.

Hàng trăm xe đa dụng với tính năng di động cao (HMMWV): HMMWV, còn được gọi tắt là Humvee, là những phương tiện hạng nhẹ chạy bằng dầu diesel được sử dụng trong quân đội của khoảng 50 quốc gia.

200 xe bọc thép chở quân M113: Xe bọc thép M113 được thiết kế để chở binh lính và thiết bị tại các khu vực chiến đấu. Trong khi chúng có thể bảo vệ các quân nhân trước các mảnh đạn pháo thì những phương tiện này không thể tránh những đòn tấn công trực tiếp từ các vũ khí chống tăng.

Hơn 50 triệu viên đạn: Ngày 25/4, Bộ Ngoại giao Mỹ lần đầu tuyên bố tình trạng khẩn cấp dưới thời chính quyền Tổng thống Biden để duyệt bán lô đạn pháo trị giá 165 triệu USD cho Ukraine mà không cần Quốc hội xem xét.

121 UAV chiến thuật Phoenix Ghost: Phoenix Ghost là loại máy bay không người lái chiến thuật mới chưa từng được sử dụng trước đó. Theo một quan chức quốc phòng, vũ khí này “được Không quân Mỹ phát triển nhanh chóng nhằm phản ứng trước các yêu cầu của Ukraine”. Tuy nhiên, người phát ngôn Lầu Năm Góc John Kirby sau đó đã phủ nhận nhận định này, cho biết nó được phát triển trước khi chiến tranh nổ ra. Ông Kirby cũng từ chối bình luận về những khả năng cụ thể của Phoenix Ghost và chỉ nói rằng nó giống như UAV Switchblade.

Các hệ thống tên lửa có laser dẫn đường: Các hệ thống này thường được trang bị trên các chiến đấu cơ những cũng có thể phóng từ mặt đất hoặc các phương tiện khác.

UAV Puma: UAV Puma là máy bay không người lái đã cung cấp khả năng tình báo, giám sát, thu thập mục tiêu, trinh sát do nhà thầu AeroVironment của Bộ Quốc phòng Mỹ sản xuất. Máy bay không người lái này có thể bay trên không trong 150 phút với quãng đường 60 km.

Tàu phòng thủ bờ biển không người lái: Tàu này vận hành mà không cần thủy thủ đoàn, có thể đánh chặn các tàu khác. Mỹ cho rằng Ukraine có thể sử dụng chúng để đối phó với các tàu tấn công đổ bộ của Nga.

Mìn M18A1 Claymore: Không giống như các loại mìn truyền thống, M18A1 Claymore có thể được kích hoạt từ xa và bắn ra đạn bi bằng thép.

Thuốc nổ C-4: Đây là loại thuốc nổ dẻo rất phổ biến trong lĩnh vực quân sự và có thể được sử dụng dưới nước.

BDN

Loading

Views: 0

Những giả dối của cuộc chiến Nga-Ukraine

Cách đây không lâu, Giáo sư Tommy Koh, nhà ngoại giao Singapore và một chuyên gia luật quốc tế hàng đầu của nước này đã có bài viết với tựa đề “Chiến Tranh Ở Ukraina – Bóc Tách Sự Thật Khỏi Giả Dối” đăng trên Straitstimes. Ông đã từng là Chủ tịch Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật Biển và Đặc phái viên của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc tại Nga, Estonia, Latvia và Litva. Sau đây là nội dung bài viết của ông đã được nhóm Đại sử ký Biển Đông chuyển ngữ.

Cô bé 7 tuổi Amelia Anisovych đã hát quốc ca Ukraina trong một buổi hoà nhạc từ thiện cho Ukraina ở Ba Lan. Anisovych được biết đến trên khắp thế giới sau khi một video cô hát bài ‘Let it go’ của Disney trong một hầm tránh bom ở Ukraina lan truyền trên mạng xã hội.

Có một sự thật rằng Nga đang sử dụng một câu chuyện ngụy tạo để bào chữa cho cuộc xâm lược mà Nga gây ra đối với một quốc gia có chủ quyền.

Vào ngày 24 tháng 2, Nga bắt đầu một “hoạt động quân sự đặc biệt” nhắm vào nước láng giềng Ukraina. Kể từ đó, chúng ta là nhân chứng của hai cuộc chiến: Một cuộc chiến trên chiến trường và một cuộc chiến trên các phương tiện truyền thông.

Nga, dưới sự hỗ trợ của Trung Quốc, đã thực hiện một chiến dịch tuyên truyền hiệu quả để thuyết phục người dân thế giới rằng Nga không phải là kẻ xâm lược và thủ phạm là NATO. Thật tiếc phải nói rằng nhiều người Singapore đã tin vào câu chuyện của Nga.

Tôi tin rằng có sự khác biệt giữa bằng chứng và ngụy tạo, giữa sự thật và giả dối. Tôi nhận thức được rằng mỗi người đều có quyền có quan điểm của mình, và quyền này được bảo vệ, nhưng điều này không áp dụng cho những dữ kiện mà anh ta đưa ra.

Tôi đồng ý rằng có nhiều quan điểm khác nhau về cuộc chiến ở Ukraina nhưng không phải tất cả các quan điểm đều có giá trị như nhau. Có những quan điểm được hỗ trợ bởi bằng chứng và luật pháp, và những quan điểm khác thì không. Không có sự tương đương về đạo đức giữa đúng và sai. Ukraina có phải là một quốc gia độc lập, có chủ quyền không?

Với Nga, Ukraina không phải là một quốc gia có chủ quyền và độc lập. Tổng thống Nga Vladimir Putin nói: “Ukraina chưa bao giờ có tính quốc gia thực sự. Chưa bao giờ có một trạng thái quốc gia bền vững ở Ukraina”.

Thực tế là Ukraina đã trở thành một quốc gia độc lập vào ngày 24 tháng 8 năm 1991. Nga công nhận nền độc lập của Ukraina và ủng hộ việc Ukraina xin gia nhập Liên Hợp Quốc.

Năm 1994, Nga đã ký Bản ghi nhớ Budapest về Đảm bảo An ninh. Nga, cùng với Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, đảm bảo với Ukraina rằng các quốc gia này sẽ bảo vệ Ukraina khỏi bất kỳ mối đe dọa nào đối với sự toàn vẹn lãnh thổ Ukraina.

‘Hoạt động quân sự đặc biệt’ của Nga

Nga đã gọi cuộc xâm lược Ukraina là “một hoạt động quân sự đặc biệt”. Tôi nhận thấy rằng một số quốc gia Châu Á đã phủ nhận gọi đó là một cuộc xâm lược hay chiến tranh.

Sự thật là thuật ngữ “hoạt động quân sự đặc biệt” là một thủ thuật về ngữ nghĩa. Trong thực tế, nó là một cuộc xâm lược và là một cuộc chiến tranh. Cuộc chiến đang diễn ra vô cùng tàn khốc và vi phạm rõ ràng luật nhân đạo quốc tế.

Tòa án Hình sự Quốc tế đã bắt đầu cuộc điều tra để xác định xem Nga có phạm tội ác xâm lược, tội ác chiến tranh, tội ác chống lại loài người và tội ác diệt chủng hay không.

Có phải lỗi ở NATO?

Nga và Trung Quốc cho rằng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương là thủ phạm. Lập luận họ đưa ra là NATO lẽ ra không nên mở rộng thành viên sau Chiến tranh Lạnh. Nga cảm thấy bị đe dọa bởi sự mở rộng này. Nếu Ukraina không nộp đơn gia nhập NATO, Nga đã không thực hiện “hoạt động quân sự đặc biệt” để bảo vệ an ninh quốc gia.

Bản tường thuật của Nga và Trung Quốc đổ lỗi cho NATO về cuộc chiến ở Ukraina không được dữ kiện thực tế ủng hộ.

NATO là một liên minh an ninh tập thể với mục tiêu chính là tự vệ tập thể. Theo Điều 5 của Hiệp ước Đại Tây Dương, một cuộc tấn công vào một quốc gia thành viên là cuộc tấn công vào tất cả các quốc gia thành viên Hiệp ước.

Các quốc gia từng bị Nga cai trị, thuộc Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết, muốn tham gia trật tự NATO để bảo vệ an ninh quốc gia. Các quốc gia này sợ sẽ bị Nga tấn công.

Có luật hay nguyên tắc nào cấm các nước láng giềng của Nga gia nhập NATO không? Câu trả lời là không. Là các quốc gia có chủ quyền và độc lập, các quốc gia được tự do quyết định số phận của mình. Chỉ vì đã từng bị Nga cai trị không có nghĩa là các quốc gia sẽ phải sống mãi dưới ách thống trị của Nga.

Trong trường hợp của Ukraina, Nga thực sự đã ký một văn bản, vào năm 1999, thừa nhận quyền lựa chọn hoặc thay đổi các thỏa thuận an ninh của Ukraina. Điều này đã được nêu trong Tài liệu Istanbul của Tổ chức An ninh và Hợp tác ở Châu Âu.

Năm 1993, tôi làm Đặc phái viên của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc tại Nga, Estonia, Latvia và Litva. Tôi đã khuyên ba quốc gia vùng Baltic nộp đơn gia nhập Liên minh Châu u vì lợi ích kinh tế của và gia nhập NATO vì lợi ích an ninh. Tôi đã sai khi cho các quốc gia này những lời khuyên như vậy chẳng? Tôi có nên hỏi ý kiến Moscow trước không?

Tôi nghĩ điểm mấu chốt là thế này: Các nước láng giềng của Nga, bao gồm Ukraina và Gruzia, là những quốc gia có chủ quyền và độc lập. Họ được tự do quyết định số phận của mình và Nga không có quyền can thiệp vào quyết định đó.

Sự thật thì NATO không có lỗi. Điểm mấu chốt của vấn đề là Nga đã không chấp nhận thực tế rằng họ đã mất đế chế trước đây. Tổng thống Putin muốn những nước láng giềng theo phe Nga mà không phải theo phương Tây. Nếu không thuyết phục được nước láng giềng, Putin sẵn sàng dùng vũ lực để áp đặt ý chí của mình.

Các nước nhỏ có nên trung lập không?

Tôi muốn giải quyết một lập luận khác được người Singapore ủng hộ trên mạng xã hội. Lập luận cho rằng, là một quốc gia nhỏ, Singapore không nên đứng về phía nào và phải là trung lập. Lẽ ra, Singapore không nên áp đặt các biện pháp trừng phạt chống lại Nga.

Có hai điểm trong lập luận này mà tôi muốn phản hồi. Điểm đầu tiên là về vai trò của các nước nhỏ. Các nước nhỏ cần sự bảo vệ của Liên Hợp Quốc, nguyên tắc Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế hơn các nước lớn.

Do đó, các nước nhỏ phải lên tiếng bất kì khi nào các nguyên tắc đó bị vi phạm. Singapore đã khá nhất quán trong việc lên án Liên Xô xâm lược Afghanistan, và Hoa Kỳ xâm lược Greneda.

Điểm thứ hai là về sự trung lập. Ở đây tôi muốn trích dẫn điều mà Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của chúng ta, ông S. Rajaratnam, đã nói trong bài phát biểu của ông trước Liên Hợp Quốc vào ngày 21 tháng 9 năm 1965.

Ông Rajaratnam nói: “Sự không liên kết chỉ được đặt trong mối quan hệ với những lợi ích của khối quyền lực hẹp và không nằm trong mối quan hệ với các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Thực hiện không liên kết với các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương là phá hủy sự toàn vẹn và hiệu quả của Liên Hợp Quốc mà những nước nhỏ như đất nước của chúng tôi đặt hy vọng.”

Tóm lại, các nước nhỏ không thể giữ im lặng khi các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc bị vi phạm. Chúng ta phải bảo vệ những nguyên tắc đó. Chúng ta phải lên tiếng bất cứ khi nào những nguyên tắc này bị xâm phạm.

Chính sách của chúng ta là kết thân với tất cả các cường quốc. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta có thể trung lập khi bất kỳ quốc gia nào trong số đó vi phạm các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Như ông Rajaratnam đã nói, chúng ta không thể trung lập về các vấn đề liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương.

BDN

Loading

Views: 0

Tên lửa vác vai đang giúp Ukraine đối phó với máy bay Nga như thế nào?

Hệ thống phòng không cơ động (Man-portable air defence systems – MANPADS) đang đóng một vai trò quan trọng không ngờ trong cuộc chiến ở Ukraine. Những tên lửa vác vai này, điển hình là Stinger của Mỹ, chỉ có hiệu quả trong việc chống các máy bay bay thấp và có tầm bắn chỉ vài km. Tuy nhiên, chúng đã tiêu diệt được một số mục tiêu và đang cản trở nghiêm trọng các chiến dịch không quân của Nga. Hiện các lực lượng Ukraine đang được tiếp cận phiên bản nâng cấp, dưới dạng tên lửa STARStreak mới nhất do Anh cung cấp. Tại sao MANPADS lại quan trọng đối với khả năng phòng thủ của Ukraine, và loại tên lửa mới có thể tạo ra sự khác biệt nào không?

Các nhà phân tích quân sự đã rất bối rối khi Nga thất bại trong việc tiêu diệt mạng lưới tên lửa đất đối không tầm xa S-300 dẫn đường bằng radar của Ukraine ngay từ đầu cuộc chiến. Mặc dù một số hệ thống đã bị phá hủy nhưng những hệ thống S-300 khác vẫn tiếp tục hoạt động, buộc máy bay Nga phải bay ở độ cao thấp để tránh bị radar phát hiện. Và trong khi các máy bay trực thăng của NATO phải gắn máy ngắm ở trục xoay cánh quạt để có thể bắn tên lửa dẫn đường tầm xa, máy bay trực thăng tấn công của Nga có xu hướng mang theo các quả tên lửa không được dẫn đường, hoạt động giống như máy bay tấn công mặt đất bay chậm và phải bay về phía trước trong khi tấn công. Cả hai yếu tố này đều khiến máy bay Nga rơi vào tầm ngắm của MANPADS.

Có nguồn gốc từ những năm 1950, MANPADS sử dụng tia hồng ngoại tìm kiếm các ống xả nóng của động cơ phản lực. Đây là lý do tại sao máy bay phản lực và máy bay trực thăng phải bắn ra pháo sáng để đánh lạc hướng các tên lửa như vậy bằng các nguồn nhiệt nóng và sáng hơn. MANPADS ban đầu chỉ có thể khóa mục tiêu máy bay từ phía sau. Chúng bao gồm các loại như Strela từ thời Liên Xô (NATO gọi là SA-7) mà Đức đang cung cấp cho Ukraine từ các kho vũ khí cũ của Đông Đức. Các tên lửa hiện đại hơn, chẳng hạn như Igla (còn gọi là SA-18) và Stinger (được phát triển vào những năm 1980), có thể được bắn về phía máy bay từ bất kỳ hướng nào. Tuy nhiên, chúng có thể không đủ nhanh để bắt kịp một chiếc máy bay đang rút đi và biến mất khỏi tầm bắn.

Tên lửa tầm nhiệt hiện đại cũng có những hạn chế. Thiết bị tìm kiếm mục tiêu của tên lửa Stinger phải được làm mát và một đơn vị pin chỉ cung cấp đủ năng lượng dùng trong 45 giây, vì vậy nó không thể sẵn sàng hoạt động liên tục. Đầu tên lửa nơi gắn thiết bị tìm kiếm mục tiêu phải mất từ ​​ba đến năm giây để đạt được nhiệt độ phù hợp sau khi được bật lên, một sự chậm trễ gây nhiều bất tiện khi bên sử dụng tên lửa đang bị tấn công. Sau khi Stinger hoạt động, nó phải xác định được nguồn nhiệt động cơ máy bay đối phương và khóa mục tiêu. Và một khi đã được bắn ra, tên lửa có thể bị cản trở bởi pháo sáng mồi nhử hoặc các biện pháp đối phó khác, hoặc phi công đối phương có thể phá khóa khóa mục tiêu của tên lửa bằng cách đổi hướng gấp. Tên lửa Stinger có thể bay với tốc độ gấp đôi tốc độ âm thanh và mang theo một đầu nổ nặng một kg được thiết kế để phát nổ khi va chạm. Khối lượng đó không phải lúc nào cũng đủ để tiêu diệt máy bay nhưng gần như chắc chắn đủ để buộc nó phải quay trở lại căn cứ.

Hiệu quả chiến trường của tên lửa Stinger hiện vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Cho đến nay loại tên lửa này được sử dụng trong thực chiến chủ yếu bởi các chiến binh mujahideen ở Afghanistan trong cuộc chiến chống lại Liên Xô. Các báo cáo của họ về tỷ lệ thành công lên tới 79% có thể là nhằm thuyết phục Mỹ tiếp tục cung cấp loại vũ khí này. Thực tế hiệu quả có thể chỉ khoảng 20%.

Tên lửa STARStreak hơi khác. Ukraine đã nhận được chiếc đầu tiên vào giữa tháng Ba. Trong khi Stinger đã được chứng minh trên chiến trường, đây sẽ là lần đầu tiên STARStreak được tham gia thực chiến. Loại vũ khí này được phát triển vào những năm 1980, mặc dù phiên bản mới nhất, STARStreak II, được trình diễn lần đầu vào năm 2008. STARStreak khác thường ở chỗ không phải là một thiết bị tầm nhiệt mà hoạt động bám theo một chùm tia: người điều khiển thiết bị bắn tên lửa sẽ khóa mục tiêu và tên lửa sẽ bám theo, được dẫn đường bởi một tia laser. Điểm bất lợi là người điều khiển thiết bị bắn phải bám theo mục tiêu. Nhưng điều đó giúp cho tên lửa không bị đánh lạc hướng bởi mồi nhử, các biện pháp đối phó và các biện pháp né tránh tên lửa. Nếu bạn có thể nhìn thấy mục tiêu, bạn có thể bắn trúng nó.

Các nhà sản xuất của STARStreak gọi nó là “tên lửa tốc độ cao” (high-velocity missile) để nhấn mạnh tốc độ lớn hơn Mach 3 của nó, khiến nó khó tránh hơn nhiều. Và thay vì đầu đạn đơn của Stinger, STARStreak phóng ra ba phi tiêu vonfram, mỗi phi tiêu nặng 900 gam. Chúng tách ra và bay theo đội hình, tất cả đều bám theo hướng dẫn của tia laser, làm tăng khả năng trúng đích. Phi tiêu có thể xuyên thủng lớp giáp máy bay trực thăng và phát nổ sau khi xuyên thủng, gây sát thương lớn hơn nhiều so với một vụ nổ trên bề mặt.

Có thể loại vũ khí cực kỳ hiện đại này tỏ ra quá phức tạp hoặc không phù hợp với mong đợi. Tuy nhiên, các báo cáo từ Ukraine cho thấy STARStreak đã hạ một máy bay trực thăng Mi-28 của Nga. Chính phủ Ukraine đã nhiều lần yêu cầu NATO áp đặt vùng cấm bay. Yêu cầu đó gần như chắc chắn sẽ không được đáp ứng. Nhưng tên lửa STARStreak nói riêng và các loại MANPADS nói chung có thể giúp các lực lượng Ukraine vô hiệu hóa sức mạnh không quân của Nga mà không cần đến máy bay phản lực mới hoặc sự can thiệp trực tiếp của các quốc gia khác.

Nguồn:What are MANPADS, the portable missiles bringing down Russian aircraft?”, The Economist, 06/04/2022.

Biên dịch: Phan Nguyên

Loading

Views: 0

Điểm tin

Tổng thống Joe Biden đề xuất luật mới cho phép Mỹ bán tài sản của các nhà tài phiệt Nga đã bị họ tịch thu. Ông nói số tiền thu được sẽ được dùng để giúp Ukraine. Chưa rõ tính pháp lý của đề xuất này, nhưng khả năng cao sẽ được Quốc hội thông qua. Các tòa án Mỹ có thể thách thức và chặn nó.

Ông Biden cũng sẽ yêu cầu Quốc hội chi 33 tỷ USD viện trợ cho Ukraine, trong đó có 20 tỷ USD cho vũ khí và các hỗ trợ quân sự khác. Đức cho biết sẽ huấn luyện binh sĩ Ukraine sử dụng lựu pháo do Mỹ cung cấp. Trước đó nước này đã thông báo chuyển giao xe tăng phòng không cho Ukraine. Còn ngoại trưởng Anh cam kết “đẩy Nga ra khỏi Ukraine.”

Tổng thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres đã đến thăm Bucha, nơi xảy ra các hành vi tàn bạo của quân Nga. Ông sẽ gặp tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky ở Kyiv vào thứ Năm, sau khi đã gặp Putin ở Moscow hôm thứ Tư. Trong cuộc họp với ông Putin, ông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dựng hành lang nhân đạo ra khỏi thành phố Mariupol.

Kinh tế Mỹ bất ngờ suy thoái trong quý đầu năm 2022, với GDP giảm 1,4% so với quý trước đó nếu  tính theo năm. Dự báo trước đây của các nhà kinh tế là tăng trưởng 1,1%. Nguyên nhân suy thoái có thể phần lớn là do thâm hụt thương mại kỷ lục. Tuy nhiên, trong một dấu hiện cho thấy triển vọng kinh tế sẽ cải thiện, chi tiêu của người tiêu dùng đã tăng 2,7%. Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp ban đầu giảm trong khi số đơn tiếp tục xin trợ cấp xuống mức thấp nhất kể từ năm 1970.

Đồng yên của Nhật giảm xuống mức thấp nhất hai thập niên qua so với đồng đô la sau khi ngân hàng trung ương của nước này nhắc lại cam kết giữ lãi suất thấp và tiếp tục chương trình kích thích lớn. Tại cuộc họp mới nhất vào thứ Năm, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cho biết lãi suất chính sách vẫn sẽ ở “mức hiện tại hoặc thấp hơn” mặc dù lạm phát đã cao hơn mức mục tiêu 2%.

Một số khu vực ở Bắc Kinh, bao gồm các khu dân cư, trường học và văn phòng, đã bị phong tỏa nhằm kiềm chế dịch covid-19. Trong ngày thứ Năm có 50 ca nhiễm mới được ghi nhận tại đây, sau khi thành phố tổ chức vòng xét nghiệm đầu tiên cho 20 triệu dân. Bằng cách xét nghiệm gần như toàn bộ thành phố, nhà chức trách kỳ vọng sẽ không để dịch tràn lan như ở Thượng Hải.

Gã khổng lồ hàng tiêu dùng Unilever cho biết đã tăng giá hơn 8% trong quý đầu năm 2022, khiến cho nhu cầu đối với hàng hóa của họ xuống thấp. Hãng cũng cảnh báo là lạm phát sẽ tăng tốc trong nửa cuối năm nay. Trong khi đó, siêu thị Sainsbury’s ở Anh cho biết lạm phát làm lợi nhuận của họ bị thu hẹp. Tin này làm cổ phiếu của họ mất giá, bất chấp lợi nhuận quý đầu năm tốt.

Con số trong ngày: 85%, là phần trăm trong tổng nguồn năng lượng của Hawaii đến từ dầu mỏ.

TIÊU ĐIỂM

Kinh tế Nga ổn định một cách đáng ngạc nhiên

Chiến tranh? Chiến tranh nào? Vào thời điểm Nga xâm lược Ukraine hồi cuối tháng Hai, ai cũng nghĩ nền kinh tế nước này sẽ sụp đổ dưới tác động của lệnh trừng phạt. Đồng rúp mất giá trong khi lạm phát tăng vọt. Nhưng kể từ đó kinh tế Nga đã tăng trưởng tốt một cách đáng ngạc nhiên. Ngân hàng trung ương Nga thậm chí có thể sẽ cắt giảm lãi suất lần thứ hai trong vòng một tháng vào thứ Sáu, một điều không thể tưởng tượng nổi chỉ vài tuần trước đây.

Hiện đồng rúp hầu như đã về lại mức trước chiến tranh, và cũng không còn hiện tượng hoảng loạn rút tiền. Do đó không còn cần tăng lãi suất để thu hút vốn. Nền kinh tế thực cũng đang rất ổn: GDP theo giá thực cao hơn khoảng 4% so với thời điểm trước covid. Với việc dầu và khí tiếp tục mang về hàng tỷ ngoại tệ mỗi tháng, kinh tế Nga vẫn sẽ sống tốt.

Đức giảm dự báo tăng trưởng GDP

Đức sẽ công bố số liệu GDP quý một vào thứ Sáu. Các nhà phân tích dự báo tăng trưởng chỉ đạt 0,2%, trong khi triển vọng cho phần còn lại của năm là ảm đạm. Tuần này, chính phủ đã giảm dự báo cho năm 2022 từ 3,6% trong tháng 1 xuống còn 2,2%, chủ yếu vì cuộc chiến ở Ukraine. Họ dự báo tỷ lệ lạm phát trung bình là 6,1% trong năm nay, cao hơn nhiều so với con số đưa ra vài tháng trước.

Triển vọng cho năm tới có vẻ tươi sáng hơn một chút, với mức tăng trưởng dự kiến lên tới 2,5%. Tuy nhiên mọi chuyện còn phụ thuộc vào diễn biến của cuộc chiến ở Ukraine. Ngân hàng Trung ương Đức Bundesbank gần đây đã cảnh báo rằng nền kinh tế Đức có thể suy thoái 2% trong năm nay nếu chiến tranh leo thang và EU cấm nhập khẩu năng lượng từ Nga.

AstraZeneca chuẩn bị công bố thu nhập quý

Mặc dù cung cấp hơn 2 tỷ liều vắc-xin covid-19, AstraZeneca đã kết thúc năm 2021 không được trọn vẹn. Cổ phiếu của Moderna và Pfizer tăng vọt, trái ngược hoàn toàn với đà giảm của AstraZeneca.

Nhưng hãng sẽ có tin tốt khi công bố thu nhập quý một vào thứ Sáu này. Hồi tháng 2 AstraZeneca đã báo cáo doanh thu quý cao kỷ lục, tăng 62% so với năm trước. Kể từ đó, họ nhận được một loạt phê duyệt cho các sản phẩm của mình, từ thuốc ngừa covid-19 Evusheld cho đến Lynparza, một loại thuốc điều trị ung thư vú. Các nhà phân tích kỳ vọng giá cổ phiếu của AstraZeneca, vốn đã tăng 25% kể từ đầu năm, sẽ còn tăng hơn nữa. Bản thân công ty cho biết vào tháng 2 là họ dự báo doanh thu tăng “gần hai mươi phần trăm” trong năm 2022. Các dữ liệu công bố vào thứ Sáu sẽ kiểm chứng cho tuyên bố của họ.

Bạo lực không hồi kết ở Nigeria

Kể từ khi các chiến binh thánh chiến bắt cóc 276 nữ sinh ở Chibok, miền bắc Nigeria, vào năm 2014, thế giới đã chứng kiến nỗi kinh hoàng gây ra bởi Boko Haram và tổ chức kế nhiệm của nó, Nhà nước Hồi giáo khu vực Tây Phi. Song đối với nhiều người Nigeria, các phần tử thánh chiến thật ra ít đáng sợ hơn là các băng nhóm bắt cóc giết người trên khắp đất nước – cũng như các lực lượng an ninh kém cỏi.

Theo Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Council on Foreign Relations), có tổng cộng 4.310 người đã thiệt mạng trong các vụ bạo lực liên quan đến chính trị và băng đảng ở Nigeria trong 12 tháng tính đến tháng 3. Trong đó có một nửa là do cơ quan nhà nước (2.329). Ngược lại, Boko Haram sát hại 328 thường dân. Để khôi phục hòa bình ở quốc gia đông dân nhất châu Phi, nhà nước cần cảnh sát và binh lính, những người phải được đào tạo để tôn trọng nhân quyền và chịu trách nhiệm cho hành vi giết người của mình.

Nguồn: The Economist | Biên dịch: Đỗ Đặng Nhật Huy

Loading

Views: 0

Phép thử cho chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam

Cuộc chiến tại Ukraine đặt Hà Nội vào thế khó trong quan hệ giữa Nga và Mỹ.

Tranh cãi đã dấy lên liên quan đến phản ứng của Việt Nam sau khi Tổng thống Nga Vladimir Putin phát động cuộc xâm lược Ukraine vào tháng 2. Hà Nội chọn cách không gọi “chiến dịch quân sự đặc biệt” của ông Putin tại Ukraine là “xâm lược”, bỏ phiếu trắng trong nghị quyết đầu tiên của Liên Hợp Quốc hôm 2/3 nhằm lên án Moscow tấn công quân sự Kiev, kêu gọi các bên liên quan kiềm chế và tiếp tục bỏ phiếu chống đối với nghị quyết đình chỉ tư cách thành viên của Nga tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc hôm 7/4.

Dù vậy, giới quan sát hay các chuyên gia đã có thời gian dài nghiên cứu chính sách đối ngoại Việt Nam có thể không ngạc nhiên trước phản ứng “nước đôi” của Hà Nội trong vấn đề Ukraine. Việc theo đuổi một lập trường thận trọng, tránh mắc sai lầm trước các cuộc khủng hoảng quốc tế là đặc điểm điển hình trong chính sách đối ngoại Việt Nam. Lần này, Hà Nội tỏ ra dè dặt khi bày tỏ quan điểm về cuộc tiến công của Nga ở Ukraine, cố gắng tạo thế cân bằng trong quan hệ giữa Nga và Mỹ. Đối với Việt Nam, Moscow là “đối tác chiến lược toàn diện”, trong khi Washington là đối tác an ninh ngày càng quan trọng ở khu vực. Trong bối cảnh Ukraine dần có xu hướng liên kết chặt chẽ hơn với Mỹ, Việt Nam muốn tránh bị cuốn vào vòng xoáy của chính trị cường quyền, thông qua việc không ủng hộ Moscow hay Kiev. Vào thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Hà Nội từng là nạn nhân của các yếu tố địa chính trị và đã phải trả giá đắt khi chọn phe trong tam giác Washington – Moscow – Bắc Kinh.

Trên thực tế, Nga và Mỹ đóng vai trò thiết yếu trong hoạch định chính sách đối ngoại và định hướng tư duy quốc phòng của Việt Nam. Hà Nội cần Nga vừa để đảm bảo hoạt động trang bị vũ khí thường xuyên, vừa nhằm củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai bên – vốn đã được “thử lửa” trong thời điểm Việt Nam nhận viện trợ về cả ngoại giao lẫn quân sự từ Liên Xô trước đây. Nga là nước đầu tiên thiết lập quan hệ “đối tác chiến lược” với Việt Nam vào năm 2001. Hiện tại, Moscow đã trở thành “đối tác chiến lược toàn diện” của Hà Nội, bên cạnh Trung Quốc và Ấn Độ, đồng thời là quốc gia dẫn đầu trong nỗ lực thăm dò và khai thác dầu khí với Việt Nam trên Biển Đông.

Trong khi đó, Việt Nam rất coi trọng mối quan hệ phát triển nhanh chóng với Mỹ trên khía cạnh kinh tế và quốc phòng. Washington đã nhiều lần bày tỏ mong muốn nâng tầm quan hệ song phương lên “đối tác chiến lược”, ưu tiên lợi ích an ninh thay vì chú trọng vào khác biệt về ý thức hệ với Hà Nội. Với nỗ lực vun đắp từ phía Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực an ninh hàng hải, quan hệ Việt – Mỹ có thể đóng vai trò như chiến lược ngăn chặn áp dụng với Trung Quốc, phát đi thông điệp cảnh báo khéo léo đến giới lãnh đạo Bắc Kinh về các tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước trên Biển Đông.

Trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam, vai trò của Mỹ và Nga càng quan trọng hơn khi Hà Nội đang đối mặt với một Bắc Kinh ngày càng hung hăng trên biển. Washington đã liên tục ngỏ ý hỗ trợ Việt Nam về ngoại giao và an ninh, nhằm chống lại hành vi cưỡng ép của Trung Quốc ở các vùng biển tranh chấp. Trong khi đó, Moscow cũng âm thầm ủng hộ Việt Nam thông qua nỗ lực kiên trì hợp tác trong các dự án dầu khí với Hà Nội ngay tại những khu vực này.

Thông qua việc theo đuổi chiến lược “can dự đa hướng” (omni-directional engagement), Việt Nam cố gắng duy trì và tăng cường quan hệ với cả các đối tác cũ lẫn mới. Nỗ lực đa dạng hóa quan hệ với các nước láng giềng, các đồng minh ngoại giao truyền thống, các quốc gia trong khu vực, các nước lớn và một số cường quốc tầm trung giúp Việt Nam tránh “bỏ tất cả trứng vào cùng một giỏ.” Kiên định với nguyên tắc độc lập tự chủ, Hà Nội tái khẳng định chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá trong hoạt động đối ngoại. Thay vì chọn phe, Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh cam kết “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển” trong quan hệ với các quốc gia ở khu vực và trên thế giới.

Dường như việc “đi dây” phần nào hiệu quả trong quan hệ giữa Washington và Moscow thời gian qua đã hình thành tâm lý chủ quan từ phía Hà Nội. Tuy nhiên, với Việt Nam, nỗ lực đảm bảo sự tự chủ chiến lược, đồng thời duy trì lập trường “mơ hồ” đối với cuộc chiến khốc liệt của Nga ở Ukraine nhiều khả năng không thể kéo dài lâu.

Trên khía cạnh an ninh quốc tế, các quốc gia có khuynh hướng rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” (dilemma) khi muốn đồng thời theo đuổi lợi ích mang tính thực dụng và các nguyên tắc quốc tế. Đối với Việt Nam, tư duy thực dụng đã được cụ thể hoá trong chính sách quốc phòng “bốn không” của Hà Nội, đó là: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế [tác giả nhấn mạnh].

Đối với cuộc khủng hoảng tại Ukraine, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã kêu gọi các bên liên quan “[kiềm chế] sử dụng vũ lực” và “[tìm kiếm] một giải pháp hòa bình, đóng góp vào việc duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới”. Trong đó, Hà Nội nhấn mạnh sự cần thiết phải tuân thủ Hiến chương Liên Hợp Quốc và “các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”. Trên bình diện chung, tuyên bố chính thức của Việt Nam mang hàm ý chỉ trích những hành động từ phía Nga do Moscow đã vi phạm các điều khoản của bản Hiến chương. Đối với các nhà lãnh đạo ở Hà Nội, lập trường chính trị nói trên phù hợp với những nguyên tắc mà Việt Nam theo đuổi trong chính sách đối ngoại.

Câu hỏi đặt ra là: Việt Nam có thể nỗ lực đến đâu khi muốn “đi dây” giữa Washington và Moscow, trong khi vẫn đảm bảo lợi ích an ninh trên trường quốc tế? Lời giải phụ thuộc vào khả năng của Hà Nội trong việc nâng cao sức mạnh tổng thể của quốc gia, với các trụ cột dựa trên “một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh, cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế”, như Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (khóa VI) Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 5-1988 đã khẳng định.

Khả năng phát huy hiệu quả giá trị chiến lược đóng vai trò quan trọng giúp Việt Nam củng cố vị thế quốc tế, nhất là trong toan tính của các nước lớn. Đối với các trung cường và đặc biệt là những nước nhỏ, lựa chọn liên minh với một cường quốc nhằm chống lại một cường quốc khác không phải là chiến lược khôn ngoan, thậm chí còn tiềm ẩn nhiều mối đe dọa đối với an ninh quốc gia. Trong trường hợp của Việt Nam, khả năng ứng phó linh hoạt và chủ động trong các hoạt động đối ngoại giữa bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu đang trước thử thách lớn.

Huỳnh Tâm Sáng

Quan điểm trong bài viết là của riêng tác giả, không đại diện cho cơ quan mà tác giả đang làm việc hay cộng tác.

Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được đăng trên The Interpreter.

Loading

Views: 0

Sau cuộc điện đàm với Hoa Kỳ, áp lực lên ông Tập Cận Bình gia tăng

Các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ và Trung Quốc đã tổ chức một cuộc điện đàm cách đây vài ngày, trong đó Hoa Kỳ cảnh báo ĐCSTQ rằng việc cung cấp hỗ trợ đáng kể cho Nga sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Một số nhà phân tích tin rằng áp lực đối với ĐCSTQ sẽ gia tăng.

Ông Biden và ông Tập Cận Bình đã có cuộc điện đàm kéo dài khoảng 2 giờ vào thứ Sáu (18/3), sau đó các quan chức Mỹ và Trung Quốc đã đưa ra những tuyên bố riêng biệt, cho thấy nhiều bất đồng và đối đầu về vấn đề Ukraina và Đài Loan.

Cuộc điện đàm lần này được thực hiện vào thời điểm quan trọng trong cuộc chiến Nga-Ukraina. Trước đây, một quan chức Hoa Kỳ tiết lộ rằng Nga đang tìm kiếm sự hỗ trợ quân sự hoặc kinh tế từ ĐCSTQ do tình hình chiến sự bất lợi và các lệnh trừng phạt toàn diện từ Châu Âu và Hoa Kỳ, và Bắc Kinh cho biết họ có thái độ cởi mở về điều này.

Sau cuộc điện đàm với ông Tập, Toà Bạch Ốc ra thông cáo cho biết ông Biden đã nói rõ ràng với ông Tập Cận Bình về “những tác động và hậu quả nếu Trung Quốc (ĐCSTQ) hỗ trợ đáng kể cho Nga khi nước này tiếp tục các cuộc tấn công tàn bạo vào các thành phố và dân thường Ukraina” .

Ông Phùng Sùng Nghĩa (Feng Chongyi), một chuyên gia về Trung Quốc tại Đại học Công nghệ Sydney, nói với Epoch Times rằng: “Chính sách hiện tại của chính quyền Biden là sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế để hạ bệ Nga và buộc Nga phải rút quân. Nếu sự tham gia sâu rộng của ĐCSTQ mang lại cho Nga nhiều hỗ trợ, thì điều đó sẽ giúp Nga có thêm sức mạnh để tiếp tục cuộc chiến. Hiện tại, chưa có dấu hiệu nào cho thấy ĐCSTQ đã công khai giúp đỡ”.

“Ngoài mặt thì ĐCSTQ trung lập, nhưng bí mật cố gắng hỗ trợ Nga theo những cách khác nhau. Điều mà Nga muốn là sự ủng hộ công khai từ ĐCSTQ và đó là sự ủng hộ quy mô lớn. Vì vậy, lập trường hiện tại của ĐCSTQ là đều không lấy lòng cả hai bên”, ông nói.

Ông Đổng Tư Tề (Dong Siqi), Phó giám đốc điều hành của một trung tâm nghiên cứu Đài Loan, cho biết: “Ý định của Hoa Kỳ là đạt được cam kết rõ ràng từ Trung Quốc và không giúp Nga về mặt quân sự hoặc theo những cách khác. Cuộc điện đàm với ông Tập Cận Bình là cách Hoa Kỳ hy vọng có thể hiểu được ý đồ của Trung Quốc, đồng thời hy vọng Trung Quốc sẽ rõ ràng hơn về thái độ của mình đối với Nga và các nước láng giềng”.

Ông Đổng Tư Tề cho rằng đây mới chỉ là bước khởi đầu. Khi chiến tranh tiếp diễn, các lệnh trừng phạt của cộng đồng quốc tế đối với Nga ngày càng mạnh mẽ hơn và cắt đứt quan hệ với Nga, thậm chí áp đặt cả cái gọi là các lệnh trừng phạt thứ cấp, tức là trừng phạt sâu hơn và toàn diện hơn các quốc gia viện trợ cho Nga, áp lực lên ĐCSTQ sẽ gia tăng.

Tại một cuộc họp báo tại Toà Bạch Ốc hôm thứ Sáu, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Jen Psaki không nói rõ về những hậu quả mà Trung Quốc sẽ phải đối mặt nếu nước này giúp Nga, nhưng bà nói rằng các biện pháp trừng phạt chắc chắn là một trong những công cụ và dòng chảy thương mại khổng lồ của Trung Quốc có thể bị ảnh hưởng.

Khi tiến trình của cuộc xâm lược Ukraina của Nga đã chậm lại, đã có một sự thay đổi nhỏ trong lập trường của các nhà ngoại giao và truyền thông nhà nước Trung Quốc về cuộc chiến Nga-Ukraina. Các chuyên gia cho rằng, nhận thấy tình hình không ổn, ĐCSTQ đã vội vàng gặp gió bẻ lái, đánh cược cả đôi bên.

Ông Phùng Sùng Nghĩa chỉ rõ: “Kế hoạch ban đầu của ĐCSTQ và Nga là giương súng về phía phương Tây. Trước chiến tranh Nga-Ukraina, Trung Quốc và Nga đã đưa ra một thông cáo chung, tương đương với việc ĐCSTQ bật đèn xanh cho ông Putin. ĐCSTQ đã sử dụng Nga để phát động cuộc chiến tranh ở Châu Âu (làm mẫu), tính toán tấn công Đài Loan. Và cuộc chiến này đã thúc đẩy tình đoàn kết giữa Châu Âu và Hoa Kỳ, và giữa các thành viên NATO. Điều này nằm ngoài dự tính của ĐCSTQ”.

Ông nói: “Mục tiêu lớn nhất của ông Tập Cận Bình lúc này là tìm cách tái tranh cử. Hiện tại, tình hình kinh tế tổng thể của Trung Quốc rất tồi tệ. Mục tiêu lớn nhất của ông ấy lúc này là ổn định tình hình, để nền kinh tế không bị sụp đổ trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 20” hoặc sẽ không để các nhà lãnh đạo cao nhất của ĐCSTQ công khai chia rẽ vì chính quyền ủng hộ Nga, ảnh hưởng đến việc ông ấy tái đắc cử vào Đại hội 20. Vì vậy, ông Tập Cận Bình sẽ nhượng bộ Hoa Kỳ, đó là để tạm thời ổn định tình hình và thực hiện ước mơ tái đắc cử của ông ấy”.

BDN

Loading

Views: 0

Cuộc khủng hoảng Ukraine của TQ

Tập được gì — và mất gì — từ việc hậu thuẫn cho Putin?
Chinese President Xi Jinping, right, and Russian President Vladimir Putin pose for a photo prior to their talks in Beijing, China, Friday, Feb. 4, 2022. Putin on Friday arrived in Beijing for the opening of the Winter Olympic Games and talks with his Chinese counterpart Xi Jinping, as the two leaders look to project themselves as a counterweight to the U.S. and its allies. (Alexei Druzhinin, Sputnik, Kremlin Pool Photo via AP)

Khủng hoảng Ukraine chủ yếu là cuộc đối đầu giữa Nga và phương Tây, nhưng bên cạnh đó, còn có một người chơi khác đang lúng túng bên lề: Trung Quốc. Bắc Kinh đã cố gắng duy trì thế cân bằng trong vấn đề Ukraine. Một mặt, họ đứng về phía Nga, đổ lỗi rằng chính sự bành trướng của NATO đã gây ra khủng hoảng, và cáo buộc rằng những dự đoán của Mỹ về một cuộc xâm lược chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề. Mặt khác, đặc biệt là khi nguy cơ xung đột quân sự ngày càng gia tăng, nước này đã kêu gọi sử dụng con đường ngoại giao thay cho chiến tranh.

Nếu Bắc Kinh biết chơi đúng cách, họ sẽ duy trì quan hệ chặt chẽ với Moscow, bảo vệ quan hệ thương mại với Ukraine, giữ EU trong quỹ đạo kinh tế của mình, và tránh được hệ quả từ các lệnh trừng phạt của Mỹ và EU lên Moscow – cùng lúc đó ngăn cản quan hệ với Mỹ xấu đi đáng kể. Tuy nhiên, việc đạt được bất kỳ một trong những mục tiêu này là khả thi, còn đạt được tất cả lại là điều bất khả.

Nếu Nga xâm lược Ukraine, Bắc Kinh có thể trở thành cứu cánh cho Moscow: cứu trợ kinh tế để xoa dịu tác động từ các lệnh trừng phạt của Mỹ. Nhưng làm như vậy sẽ gây tổn hại cho mối quan hệ của Trung Quốc với châu Âu, kích động những hậu quả nghiêm trọng từ phía Washington, và khiến các quốc gia không liên kết truyền thống như Ấn Độ ngày càng sa vào vòng tay của phương Tây. Ngược lại, nếu Bắc Kinh từ chối Moscow, thì nước này có thể làm suy yếu quan hệ đối tác chiến lược thân thiết nhất vào thời điểm mà tình hình an ninh đang xấu đi ở châu Á, và bản thân họ đang rất cần sự trợ giúp từ bên ngoài.

Cuộc khủng hoảng ở Ukraine đang phơi bày những giới hạn trong chính sách đối ngoại của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Các khát vọng toàn cầu của Bắc Kinh hiện đang mâu thuẫn với mong muốn duy trì sự mơ hồ có chọn lọc trong một số chính sách của mình. Dù các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể không nhận ra điều đó, nhưng sự liên kết chặt chẽ hơn của họ với Nga không hẳn là nước đi thận trọng. Lợi ích của động thái này chỉ là giả định và về dài hạn: một ngày nào đó, Nga có thể đáp lại bằng cách ủng hộ nguyện vọng lãnh thổ của Trung Quốc, hoặc hợp tác để sửa đổi cấu trúc quản trị toàn cầu. Tuy nhiên, cái giá đối với chiến lược toàn cầu nói chung của Trung Quốc là thực tế và tức thời.

Trục Bắc Kinh-Moscow chặt chẽ hơn sẽ khuyến khích các đối thủ của Trung Quốc cân bằng chống lại nó, giúp họ có thêm lý do để thiết lập các quan hệ kinh tế và quân sự chặt chẽ hơn nhằm tự vệ trước sự hung hăng của Trung Quốc. Ở các thủ đô của châu Âu, nơi mà sức hấp dẫn từ thị trường Trung Quốc khổng lồ trước đó đã làm thui chột những nỗ lực chống lại nước này, Bắc Kinh đang phải đối mặt với sóng gió chính trị mạnh mẽ. Ở Mỹ, cảm xúc dành cho Trung Quốc thậm chí còn u ám hơn. Nếu chiến tranh nổ ra ở Ukraine, nhiều chính trị gia Mỹ sẽ cáo buộc Bắc Kinh đã để tay mình dính máu. Ở Ukraine, Trung Quốc đang chơi một trò chơi nguy hiểm, có thể khiến họ phải hối hận.

Một cuộc khủng hoảng không mong muốn

Bắc Kinh chắc chắn muốn khủng hoảng lần này không tồn tại. Trước tiên, Ukraine là một đối tác thương mại quan trọng của Trung Quốc, với hơn 15 tỷ USD trao đổi thương mại song phương vào năm 2020. Quốc gia này cũng là cửa ngõ quan trọng vào châu Âu, và là đối tác chính thức của Sáng kiến Vành đai và Con đường, nỗ lực địa chính trị hàng đầu của Tập. Tháng trước, Tập đã gửi lời chào tới Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky, lưu ý rằng “Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao cách đây 30 năm, quan hệ Trung Quốc-Ukraine luôn duy trì đà phát triển ổn định và chắc chắn.” Khi nói chuyện riêng, nhiều chuyên gia Trung Quốc đã than thở rằng Bắc Kinh, vì ngại làm phật lòng Moscow, đã không làm nhiều hơn để hỗ trợ một đối tác quan trọng trong Sáng kiến Vành đai và Con đường.

Bắc Kinh cũng không muốn công khai ủng hộ việc chiếm đất của Nga, vì lo ngại sâu sắc rằng những nước khác có thể sử dụng logic tương tự để làm suy yếu chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Tất nhiên, Trung Quốc cũng không phải luôn phản đối chủ nghĩa xét lại về lãnh thổ, mà ví dụ nhãn tiền là các hành động của họ ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, lối cư xử của họ ở biên giới Ấn Độ, và sự thèm muốn của họ đối với Đài Loan. Tuy nhiên, điều mà nước này phản đối là chủ nghĩa xét lại do các cường quốc khác thực hiện, bao gồm cả Nga. Cho đến hôm nay, nước này vẫn chưa công nhận việc Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc chắc chắn nhận thức được rằng bất kỳ sự ủng hộ nào đối với Nga tại Ukraine cũng sẽ làm trầm trọng thêm quan hệ với EU và Mỹ. Các chiến lược gia Trung Quốc coi Nga, Mỹ, và châu Âu là những nhân tố quan trọng nhất đối với cân bằng quyền lực toàn cầu. Từ lâu, họ đã xem ước mơ của châu Âu về một thế giới đa cực là phù hợp với giấc mơ của chính họ. Bằng cách làm trầm trọng hơn chia rẽ giữa Nga và châu Âu, một cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine do đó sẽ có nguy cơ phân chia các cường quốc mạnh nhất thành hai khối – một bên là Nga và Trung Quốc, bên kia là Mỹ và châu Âu – tái tạo các thỏa thuận an ninh thời Chiến tranh Lạnh vốn bị Trung Quốc công khai phản đối kịch liệt. Tệ hơn, Trung Quốc lại còn liên kết với quốc gia yếu nhất trong ba cường quốc còn lại.

Do đó, rất khó xảy ra việc Tập bật đèn xanh cho Tổng thống Nga Putin xâm lược, như một số tuyên bố. Thông qua thông điệp ngoại giao cực kỳ cẩn trọng, Bắc Kinh đã công khai ủng hộ lập trường của Moscow chống lại sự bành trướng của NATO, nhưng vẫn nhấn mạnh hy vọng có thể tìm được một giải pháp ngoại giao. Như Tập đã nói trong cuộc điện đàm ngày 16/02 với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, “Tất cả các bên liên quan nên tuân thủ hướng dàn xếp chính trị chung, tận dụng tối đa các nền tảng đa phương, … và tìm kiếm một giải pháp toàn diện cho vấn đề Ukraine thông qua đối thoại và tham vấn.” Ba ngày sau, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị lặp lại thông điệp đó, gọi Thỏa thuận Minsk, hai hiệp ước ký năm 2014 và 2015, là “lối thoát duy nhất cho vấn đề Ukraine”. Ông nhắc lại sự ủng hộ đối với “chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào” và lưu ý rằng “Ukraine không phải là ngoại lệ.”

Đi cả hai con đường

Đây là lúc mà lập trường của Bắc Kinh bắt đầu trở nên thiếu mạch lạc. Họ đang kêu gọi xuống thang căng thẳng, nhưng cùng lúc lại dung túng cho sự hiếu chiến của Moscow, bằng cách công khai ủng hộ các yêu cầu của Nga, và nỗ lực giảm bớt những hậu quả từ chính sách răn đe của phương Tây. Việc Bắc Kinh mua thêm năng lượng của Nga và tăng cường sử dụng đồng Nhân dân tệ (thay vì đô la Mỹ) trong các giao dịch song phương có thể cách ly Nga khỏi các lệnh trừng phạt của Mỹ. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, rằng những cảnh báo của Mỹ về một cuộc xâm lược có thể xảy ra do Nga là “thông tin sai lệch” đã làm suy yếu chính lời kêu gọi đối thoại của Bắc Kinh, vì những cảnh báo của Mỹ trên thực tế là một lời kêu gọi tiến hành ngoại giao khẩn cấp.

Dù cố ý hay không, Bắc Kinh đã tự gán mình vào chủ nghĩa xét lại của Moscow. Trong một tuyên bố chung đáng chú ý với Putin, được đưa ra vào ngày 04/02, Tập không chỉ khẳng định một thế giới quan ý thức hệ chung giữa hai cường quốc độc tài, mà còn liên hệ sự mở rộng của NATO với nhu cầu của Nga và Trung Quốc nhằm “chống lại những nỗ lực của các thế lực bên ngoài, nhằm phá hoại an ninh và ổn định ở miền ngoại vi chung” của hai nước này. Hai nhà lãnh đạo tuyên bố “phản đối việc NATO mở rộng hơn nữa, và kêu gọi Liên minh Bắc Đại Tây Dương từ bỏ các phương pháp tiếp cận Chiến tranh Lạnh bị ý thức hệ hóa của mình.” Họ tiếp tục: “Hai bên chống lại việc hình thành các cấu trúc khối khép kín và các phe đối lập ở khu vực Châu Á -Thái Bình Dương, và luôn cảnh giác cao độ về tác động tiêu cực của chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ đối với hòa bình và ổn định trong khu vực.”

Việc xóa mờ những lo ngại của Nga về NATO, cùng những lo ngại của Trung Quốc về hoạt động của Mỹ ở châu Á, có thể mang lại cho Tập tình đồng chí nhất thời với Putin, nhưng ông sẽ phải trả giá bằng mối quan hệ với phương Tây, với những phản ứng mà người ta có thể dự đoán. Như Jens Stoltenberg, Tổng thư ký NATO, nói với báo chí vào ngày 15/02, “Về cơ bản, những gì chúng ta thấy là hai cường quốc độc tài, Nga và Trung Quốc, đang hoạt động cùng nhau.” Dù Bắc Kinh công khai than phiền về tâm lý Chiến tranh Lạnh, mà họ cho là động cơ thúc đẩy chính sách của phương Tây, mối quan hệ ngày càng ấm áp của họ với Moscow không thể không nhắc nhở các nhà quan sát về quan hệ Trung-Xô đầu những năm 1950.

Không chỉ mối quan hệ của Trung Quốc với Mỹ và châu Âu sẽ bị ảnh hưởng. Thật vậy, sự ủng hộ của nước này cho ván cờ của Putin đang làm dấy lên nỗi sợ hãi ở sân sau của chính họ. Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida đã tuyên bố: “Phải xem xét khả năng, nếu chúng ta dung túng cho việc sử dụng vũ lực để thay đổi hiện trạng, thì điều đó cũng sẽ có tác động đến châu Á” – một cách nói bóng gió, gợi ý rằng Bắc Kinh có thể sẽ được khuyến khích bởi tính phiêu lưu của Putin. Bộ trưởng Quốc phòng Australia, Peter Dutton, đã cảnh báo rằng một cuộc xâm lược của Nga sẽ khuyến khích Trung Quốc đi bước nữa trong cưỡng chế Đài Loan. Hiện tại, Ấn Độ đã cố gắng giữ thái độ trung lập, khi T. S. Tirumurti, đại sứ của nước này tại Liên Hợp Quốc, kêu gọi “ngoại giao trong yên lặng và mang tính xây dựng.” Nhưng với sự đối kháng ngày càng tăng giữa Ấn Độ và Trung Quốc, một cuộc xâm lược Ukraine do Trung Quốc hậu thuẫn chắc chắn sẽ đẩy New Delhi ra xa Moscow, về phía Australia, Nhật Bản và Mỹ.

Quan điểm từ Bắc Kinh

Với những cái giá phải trả này, tại sao Trung Quốc lại chọn về phe Nga? Chắc chắn nước này nhận thức được rằng động thái của họ sẽ làm trầm trọng thêm căng thẳng với phương Tây và với các nước xung quanh khu vực ngoại vi của mình.

Có thể Tập thực sự tin rằng Putin sẽ không xâm lược Ukraine, điều đó có nghĩa là việc ủng hộ ông ta bằng lời nói sẽ không gây hại gì. Có lẽ Putin đã cho Tập những lời đảm bảo riêng, rằng hành động của ông chỉ nhằm đưa Mỹ và NATO vào bàn thương lượng. Tập cũng có thể đã không cập nhật quan điểm của mình dựa trên những gì đang diễn ra trên thực địa ở Ukraine. Sự ủng hộ của ông đối với việc Moscow phản đối NATO bành trướng chỉ bắt đầu từ tháng 12/2021, theo lời kể từ phía Nga về hội nghị thượng đỉnh trực tuyến giữa hai nhà lãnh đạo. Vào lúc đó, một cuộc xâm lược của Nga dường như không có khả năng xảy ra. Tuy nhiên, trong quãng thời gian sau đó, bức tranh đã dần thay đổi – và Trung Quốc có thể cảm thấy mình đang bị khóa vào một lập trường mà họ không còn muốn lựa chọn nữa.

Cũng có thể Tập tin rằng, nếu một cuộc xâm lược trở thành hiện thực, nó sẽ gây tổn hại cho Nga, châu Âu và Mỹ, hơn là gây tổn hại cho Trung Quốc. Chừng nào Trung Quốc còn kiềm chế không cung cấp bất kỳ viện trợ quân sự trực tiếp nào cho Nga, thì nước này nhiều nhất chỉ phải chịu các biện pháp trừng phạt thứ cấp, vì đã hỗ trợ kinh tế và chính trị. Lo ngại về Ukraine và Nga, Mỹ và châu Âu sẽ chuyển hướng khỏi châu Á, giúp Trung Quốc tự do hơn trong khu vực lân cận của mình. Nói tóm lại, dù một cuộc xung đột ở Ukraine là có hại cho tất cả mọi người, nhưng Trung Quốc có thể ít ảnh hưởng bằng phần còn lại.

Đây là một lối suy nghĩ quá đơn giản và nguy hiểm. Hậu quả của chiến tranh ở Ukraine là quá khó đoán để biện minh cho việc đặt cược vào xung đột. Hơn nữa, gần như không có lý do để tin rằng Washington sẽ bị vùi dập bởi một cuộc chiến ở Ukraine. Dù các chiến dịch của Mỹ ở Afghanistan và Iraq có thể đã mở ra cơ hội chiến lược cho Trung Quốc hơn một thập niên trước, nhưng người Trung Quốc nên nhận ra rằng cách tiếp cận của chính quyền Biden đối với Ukraine được thiết kế chính xác là để tránh sa lầy vào một cuộc xung đột.

Động lực thực sự sau hành động của Trung Quốc trong vấn đề Ukraine có thể liên quan đến một điều gì đó lâu dài hơn: sự hấp dẫn từ quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn với Nga. Tập xem quan hệ này là phản ứng tốt nhất trong một môi trường an ninh ảm đạm, đặc trưng chủ yếu là quan hệ xấu đi với Mỹ. Bất chấp các lập luận của Bắc Kinh về sự suy tàn của phương Tây, Trung Quốc vẫn coi Mỹ và các đồng minh của họ đủ mạnh, khiến xích mích với nhóm này sẽ định hình thập niên tới. Họ cho rằng châu Âu đang ngày càng nghiêng về quan điểm của Mỹ, và cảm thấy căng thẳng ngày càng tăng với các quốc gia lân cận, bao gồm Australia và Ấn Độ.

Mặt khác, quan hệ với Moscow đã được cải thiện đều đặn trong hơn 30 năm, với sự thống nhất chặt chẽ hơn trong nhiều vấn đề, bao gồm ý thức hệ, an ninh, không gian mạng, và quản trị toàn cầu. Căng thẳng vẫn tồn tại, đặc biệt là về khoảng cách quyền lực ngày càng gia tăng giữa hai quốc gia. Nhưng hai bên đã quản lý sự khác biệt của họ rất tốt. Mối quan hệ cá nhân thân thiết giữa Tập và Putin, sự thù địch chung đối với Mỹ, và sự gần gũi (dù không đồng nhất) trong tầm nhìn về trật tự thế giới nhiều khả năng là đủ để củng cố mối quan hệ trong ít nhất một thập niên tới.

Khi không có cường quốc hàng đầu nào khác ngoài Nga sẵn sàng hợp tác, Tập có thể đã đặt cược có tính toán, rằng mối quan hệ bền chặt với Moscow có thể trở thành ‘tài sản ròng’ cho Bắc Kinh. Khi Trung Quốc gia tăng các yêu sách lãnh thổ dọc vùng ngoại vi của mình, họ tìm đến Nga để chống lại các biện pháp kiềm chế. Nga cũng có thể trở thành cứu cánh cần thiết, nếu có những nỗ lực quốc tế nhằm làm gián đoạn dòng chảy hàng hóa quan trọng đến Trung Quốc. Nga cũng sẽ ủng hộ lập trường của Trung Quốc đối với Đài Loan, và trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc về hòn đảo này, Bắc Kinh có thể trông đợi sự giúp đỡ về kinh tế và ngoại giao của Nga.

Sự liên kết ngày càng tăng của Tập với Moscow đang tạo ra tình thế khó khăn cho Trung Quốc. Trong cuộc cạnh tranh với phương Tây về trật tự toàn cầu, Nga trở thành một đối tác an ninh hấp dẫn. Nhưng bằng cách nâng cao mối quan hệ với Nga – và chọn làm vậy ngay giữa cuộc khủng hoảng do Putin gây ra – Bắc Kinh đang mời gọi sự đáp trả mà mình không đủ khả năng chống đỡ.

BDN

Loading

Views: 0

Cục tình báo BQP Ukraine: Đại diện đàm phán Ukraine bị sát hại khi làm nhiệm vụ đặc biệt

Trước đó, thành viên đoàn đại biểu Ukraine Denis Kireev tham gia vòng đàm phán đầu tiên với Nga hôm 28/2 được cho là bị Cơ quan An ninh Quốc gia Ukraine bắn chết vì nghi phản quốc.
Ông Denis Kireev.

Vào đêm ngày 5/3 (theo giờ địa phương), trang thông tin Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng Ukraine thông báo chính thức, Denis Kireev, một quan chức của Tổng cục Tình báo Ukraine và hai nhân viên tình báo khác đã bị sát hại khi đang thực hiện nhiệm vụ đặc biệt.

Bộ quốc phòng Ukraine cho biết, đây là những con người tận tụy với công việc và là anh hùng của Ukraine.

“Đất nước chúng ta đã mất đi những người con trung thành và những người lính dũng cảm”, Bộ Quốc phòng Ukraine cho biết .

Trước đó, ngày 5/5, truyền thông Ukraine và một số nghị sĩ cho biết, ông Kireev, một thành viên trong đoàn đại biểu Ukraine tham gia vòng đàm phán đầu tiên giữa Nga và Ukraine, đã bị Cơ quan An ninh Quốc gia Ukraine bắn chết do bị tình nghi phản quốc.

BDN

Loading

Views: 0

Động cơ kinh tế của Putin khi xâm lược Ukraine là gì?

Cuộc chiến của Putin ở Ukraine tốn kém đến mức nào? Nga có động cơ kinh tế để sáp nhập Ukraine không? Nhà kinh tế và chuyên gia về Nga Anders Aslund giải thích về cách tiếp cận hung hăng của Putin.

Anders Aslund (70 tuổi) là thành viên cấp cao tại Hội đồng Đại Tây Dương, một viện nghiên cứu chính sách có trụ sở ở Washington. Nhà kinh tế người Thụy Điển này từng là cố vấn cho chính phủ Nga dưới thời Boris Yeltsin, cùng với Jeffrey Sachs và David Lipton, vào đầu những năm 1990. Ông đã làm việc với Phó Chủ tịch hiện tại của Ủy ban EU, Valdis Dombrovskis, trong thời gian ông này làm Thủ tướng Latvia. Aslund được coi là một trong những chuyên gia am hiểu nhất về sự kết thúc của nền kinh tế kế hoạch của Nga.

Hỏi: Thưa ông Aslund, liệu tổng thống Nga Putin có kham nổi cuộc tấn công vào Ukraine không? Cho đến nay, sự thôn tính Crimea đã là một hành động mạo hiểm vô cùng tốn kém.

Đáp: Trong một thời gian dài, Putin luôn phải để ý về chuyện tiền nong. Đầu độc và triệt tiêu những người chống đối chế độ không tốn nhiều tiền. Với việc chiếm đóng Crimea, ông ta đã bước vào một xu hướng với tầm vóc hoàn toàn khác: nước Nga tiêu tốn mỗi năm 5 tỷ đôla Mỹ, trong đó hai tỷ dành cho cơ sở hạ tầng, ở đó tình trạng vô cùng thảm hại.

Hỏi: Những con số này từ đâu ra?

Đáp: Đây là những số liệu chính thức. Khi chiếm Donbass, chúng tôi dựa vào số liệu của cơ quan tình báo quân đội Ukraine, số liệu này khá nghiêm chỉnh. Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine Alexei Reznikov đề cập đến con số 4 tỷ đôla một năm.

Hỏi: Putin phải huy động bao nhiêu tiền cho cuộc chiến ở Ukraine?

Đáp: Những gì Putin đang làm ở đây rất tốn kém. Đây là cuộc chiến thực sự đòi hỏi phải có rất nhiều nguồn lực. Tôi không thể định lượng chi phí của cuộc tấn công quân sự này. Nhưng chi tiêu quân sự của Nga chiếm khoảng 6% tổng sản phẩm quốc nội, hiện ở mức tổng cộng khoảng 1,5 nghìn tỷ đôla Mỹ.

Hỏi: Putin không quan tâm đến chi phí hiện nay, khi ông ấy đang ngồi trên khoản tiền dự trữ ước tính khoảng 631 tỷ đô la?

Đáp: Putin coi lượng dự trữ tiền tệ cao là một sự đảm bảo về chủ quyền. Ông ta nhấn mạnh điểm này rất nhiều. Để thích hợp, Nga cần có dự trữ ngoại hối chỉ khoảng 150 tỷ USD. Nếu dự trữ cao quá mức thì điều đó sẽ làm giảm mức sống ở Nga. Putin theo đuổi chính sách thắt lưng buộc bụng cực kỳ không hợp lý về mặt kinh tế. Ông ta đã chuẩn bị để đưa đất nước vào một cuộc chiến tranh.

Hỏi: Vậy chính sách thắt lưng buộc bụng này mang lại cái gì cho ông ta?

Đáp: Putin tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô vì nếu làm khác sẽ gây nguy hiểm cho quyền lực của ông ta. Đó là lý do tại sao ông ta muốn giữ thâm hụt ngân sách ở mức thấp, một khoản nợ quốc gia tối thiểu, chỉ bằng 20% ​​tổng sản phẩm quốc nội.

Hỏi: Tăng trưởng kinh tế không quan trọng đối với ông ta sao?

Đáp: Không, Nga không có tăng trưởng kinh tế từ năm 2014 đến năm 2020. Thu nhập khả dụng thực tế đã giảm 11% trong giai đoạn này. Hồi tháng 7 năm 2021, ông ta công bố một chương trình kinh tế đến năm 2030, dự kiến ​​không tăng trưởng kinh tế và không cải thiện mức sống trong hơn mười năm. Điều này không được viết ra một cách rõ ràng, nhưng cuối cùng thì đó là cách duy nhất để diễn giải nó.

Hỏi: Putin có động cơ kinh tế để sáp nhập Ukraine không?

Đáp: Putin muốn lấy lại ngành công nghiệp vũ khí. Cách đây vài năm, một cố vấn của Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine nói với tôi rằng Ukraine không có tổ hợp quân sự của riêng mình, mà là một phần của tổ hợp quân sự Nga. Ukraine chủ yếu sản xuất các bộ phận để được lắp ráp tại Nga. Trước năm 2014, tất cả các động cơ trực thăng của Nga đều có xuất xứ từ Ukraine. Tên lửa đưa các phi hành gia lên trạm vũ trụ quốc tế được sản xuất ở Dnepropetrovsk. Các bộ phận của hệ thống phòng không S-300 và S-400 được chế tạo ở Kharkov. Máy bay vận tải quân sự Antonov, loại lớn nhất thế giới, được sản xuất ở Kiev.

Hỏi: Người ta có cảm giác Putin không quan tâm đến cái giá phải trả cho cuộc chiến, có đúng thế không?

Đáp: Putin không quan tâm đến chi phí chiến tranh, điều này cực kỳ nguy hiểm. Tại Hội đồng Bảo an và trong bài phát biểu hôm thứ Hai, ông ấy dường như phát biểu vô hồn. Bài phát biểu của ông ta như một dòng chảy, thiếu cấu trúc mạch lạc. Ông ta ngồi vào bàn mà không có bất kỳ một bản ghi chép nào, và rõ ràng là không đọc từ máy nhắc chữ từ xa. Tôi nghĩ ông ta mắc chứng say mê quyền lực quá mức. Ở đây tôi nghĩ chúng ta có thể so sánh Putin với Hitler .

Hỏi: Cho dù có các lệnh trừng phạt, phương Tây vẫn ngại trừng phạt Nga trong lĩnh vực dầu và khí đốt, một nguồn thu rất quan trọng đối với Nga. Điều đó có phải là một việc làm khôn ngoan?

Đáp: Sẽ không phải là một ý tưởng hay, khi người ta cấm vận mặt hàng mà bản thân người ta cần dùng. Nga sản xuất 12% sản lượng dầu toàn thế giới. Các lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ sẽ có những hậu quả sâu rộng đến nền kinh tế toàn cầu.

BDN

Loading

Views: 0

Đàm phán Nga-Ukraine: Cơ hội cho hòa bình và cấu trúc an ninh châu Âu?

Việc hai nước chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán đã mang lại cơ hội hòa bình không chỉ cho Ukraine, mà rộng hơn là toàn bộ cấu trúc an ninh châu Âu. Cuộc khủng hoảng kéo dài quá lâu tại miền Đông Ukraine cùng quyết định của Nga mở chiến dịch quân sự đặc biệt tại Donbass và phản ứng của các bên liên quan đã khiến châu Âu phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng an ninh chưa từng có kể từ sau Chiến tranh Lạnh.
Cờ Nga và Ukraine.

Phát biểu với báo chí trước khi bước vào đàm phán, nhà đàm phán Nga Vladimir Medinsky khẳng định, Moscow quan tâm đến việc đạt được một thỏa thuận có lợi cho cả hai bên. Trong khi đó, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tuyên bố, đàm phán diễn ra mà không có bất kỳ điều kiện tiên quyết nào.

Trước đó sáng nay (28/2) theo giờ Việt Nam, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (UNSC) đã thông qua Nghị quyết 2623 kêu gọi một “phiên họp đặc biệt khẩn cấp” của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc để xem xét và khuyến nghị hành động tập thể đối với cuộc khủng hoảng Ukraine. Nghị quyết được thông qua với 11 phiếu ủng hộ, 1 phiếu chống của Nga và 3 phiếu trắng (Trung Quốc, Ấn Độ và Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất). Phiên họp đặc biệt dự kiến sẽ diễn ra ngay ngày hôm nay theo giờ New York, Mỹ.

Theo Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc Trương Quân, tất cả các bên liên quan cần thực hiện kiềm chế để tránh làm leo thang hơn nữa tình hình: “Trung Quốc ủng hộ và khuyến khích tất cả các nỗ lực ngoại giao có lợi cho việc giải quyết hòa bình cuộc khủng hoảng Ukraine. Chúng tôi hoan nghênh các cuộc đàm phán trực tiếp giữa Nga và Ukraine, cũng như ủng hộ đối thoại bình đẳng giữa Nga và phần còn lại của châu Âu về các vấn đề an ninh, duy trì khái niệm an ninh không thể chia cắt và cuối cùng hình thành một cơ chế an ninh châu Âu cân bằng, hiệu quả và bền vững.”

Cuộc khủng hoảng Ukraine đã làm thay đổi chính sách của phương Tây đối với Nga và dự báo là cả cấu trúc an ninh châu Âu hơn 30 năm sau Hội nghị thượng đỉnh thời hậu Chiến tranh Lạnh. Bằng cách hứa cung cấp vũ khí và đạn dược cho Kiev, phương Tây dường như đang ngày càng bị lún sâu vào cuộc khủng hoảng, dù Ukraine không phải là thành viên NATO. Cảnh báo các lệnh trừng phạt sẽ tăng dần cấp độ tùy thuộc theo hành động của Nga, Mỹ và các đồng minh đã gấp rút trừng phạt nhằm vào cá nhân Tổng thống Vladimir Putin và đã loại các ngân hàng chủ chốt của Nga ra khỏi mạng lưới thanh toán toàn cầu SWIFT, vốn được xem là xương sống của hệ hống tài chính toàn cầu. Trong sự thay đổi lớn nhất, nước Đức dưới thời Thủ tướng Olaf Scholz đã cam kết vượt qua các mục tiêu của NATO về chi tiêu quốc phòng và không còn dè dặt trong việc gửi vũ khí cho Ukraine. Đức trước đó cũng tạm dừng dự án Dòng chảy phương Bắc 2 với Nga, vốn có vai trò “sống còn” đối với an ninh năng lượng của châu Âu.

Chỉ trích các nhà lãnh đạo NATO luôn tìm cách “o ép” với việc không ngừng mở rộng sang các nước giáp biên giới, Tổng thống Putin đã đặt các lực lượng răn đe của Nga, bao gồm cả vũ khí hạt nhân trong tình trạng báo động cao. Động thái không chỉ là cảnh báo mạnh mẽ nhất gửi tới phương Tây, mà còn làm gia tăng nguy cơ về một sự leo thang căng thẳng lên mức thực sự đáng báo động.

Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitri Peskvov nhấn mạnh: “Các biện pháp trả đũa sẽ tuân theo quy tắc có đi có lại. Vấn đề đối xứng hay không đối xứng sẽ phụ thuộc vào những hạn chế mà Nga gặp phải. Và hiển nhiên, trong quá trình phân tích này, lợi ích của nước Nga sẽ luôn được đặt lên cao nhất. Chúng tôi sẽ nỗ lực đảm bảo khả năng tự cung tự cấp và thay thế nhập khẩu để giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài. Tất nhiên, chúng tôi có thể gặp một số vấn đề, nhưng những vấn đề đó sẽ được giải quyết.”

Trong một diễn biến liên quan, Ngân hàng trung ương Nga hôm nay bắt đầu có những bước đi nhằm phản ứng trước quyết định của Mỹ và một số đồng minh phương Tây loại Nga ra khỏi hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT. Theo đó tất cả các lệnh bán từ các pháp nhân và cá nhân nước ngoài đều sẽ bị cấm. Giao dịch sẽ chỉ được phép trên thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ và thỏa thuận mua lại. Ngân hàng Trung ương Nga cũng cho biết sẽ đánh giá tính khả thi của việc mở cửa giao dịch trên các thị trường khác, tùy thuộc vào sự phát triển của tình hình.

BDN

Loading

Views: 0