Tag Archives: Biển Đông

Việt Nam lên tiếng về công hàm Biển Đông của Nhật Bản

Cùng với các nước ASEAN, Việt Nam mong rằng tất cả các nước, trong đó có các nước đối tác của ASEAN, sẽ nỗ lực đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác ở Biển Đông.

Đá Subi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc bồi đắp trái phép thành đảo nhân tạo.

Tại cuộc họp báo trực tuyến của Bộ Ngoại giao chiều 4/2, khi được đề nghị đưa ra bình luận về công hàm gần đây của Nhật Bản về Biển Đông, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng khẳng định, Việt Nam “hoan nghênh lập trường của các nước phù hợp với luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982)”.

“Lập trường của Việt Nam về các vấn đề liên quan đến Biển Đông là nhất quán và đã được thể hiện trong nhiều dịp khác nhau. Các dân tộc và cộng đồng quốc tế có lợi ích chung về việc duy trì và thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại Biển Đông. Theo đó, việc tôn trọng trật tự pháp lý trên biển và thực thi đầy đủ, thiện chí, trách nhiệm UNCLOS 1982 là thiết yếu”, bà Lê Thị Thu Hằng nói.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nêu rõ: “Việt Nam hoan nghênh lập trường của các nước về vấn đề Biển Đông, phù hợp luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982 và chia sẻ quan điểm như đã nêu trong tuyên bố chung dịp Hội nghị Cấp cao ASEAN 36 và thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN 53, rằng UNCLOS 1982 là khuôn khổ pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động trên biển và đại dương.

Với tinh thần đó, cùng với các nước ASEAN, Việt Nam mong rằng tất cả các nước, trong đó có cả các nước đối tác của ASEAN, sẽ nỗ lực đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác ở Biển Đông và giải quyết các tranh chấp thông qua đối thoại cùng các biện pháp hòa bình khác theo luật pháp quốc tế và UNCLOS, vì lợi ích chung, phù hợp với nguyện vọng của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế”.

Bà Lê Thị Thu Hằng khẳng định Việt Nam luôn đóng góp “tích cực và có trách nhiệm” vào quá trình này.

Cuộc chiến công hàm ở Biển Đông ngay đầu năm 2021 có diễn biến mới khi Nhật Bản gửi công hàm phản đối một công hàm của Trung Quốc về Biển Đông. Công hàm của Nhật Bản được gửi tới Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres, đề ngày 19/1/2021 ghi rõ: “Nhật Bản, với tư cách một thành viên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), bác bỏ lập trường của Trung Quốc cho rằng “việc vẽ đường cơ sở phân chia lãnh hải do Trung Quốc thực hiện trên các đảo và đá ở Biển Đông là phù hợp với UNCLOS và luật pháp quốc tế nói chung”.

Công hàm này khẳng định “Tự do hàng hải và hàng không phải được đảm bảo trên biển và trên không xung quanh và trên các thực thể biển được xác định là bãi cạn lúc chìm lúc nổi, mà bản thân chúng không có lãnh hải và không phận, như những gì đã được tuyên bố trong Phán quyết về Biển Đông ngày 12/7/2016 – phán quyết cuối cùng và có tính ràng buộc đối với tất cả các bên tranh chấp”.

BDN

Loading

Views: 0

Chủ nghĩ bành trướng Bắc Kinh làm Mỹ muốn lập ‘dàn hợp xướng’ ở Biển Đông

“Ông Biden cảnh báo Bắc Kinh về chủ nghĩa bành trướng” – trang The Asean Post chạy dòng tít đáng chú ý ngày 30-1. Những động thái của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden trong 10 ngày qua đã cho thấy quyết tâm này.

Phát biểu tại Viện Hòa bình Mỹ hôm 29-1 (giờ địa phương), cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan cho biết ông Biden sẽ chung tay với các đồng minh cùng chí hướng để hình thành một “dàn hợp xướng” gồm nhiều tiếng nói có thể đẩy lùi Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh nước lớn.

Các đồng minh của Mỹ lên tiếng

Ông Jake Sullivan đề xuất 4 bước mà Mỹ cần thực hiện để đối phó những thách thức do Trung Quốc đặt ra. Trước hết là đối phó với quan điểm được Trung Quốc truyền đạt cho rằng mô hình Trung Quốc tốt hơn mô hình Mỹ. Thứ hai, Mỹ cần “nhận ra chúng ta sẽ rất hiệu quả trong việc thúc đẩy tầm nhìn của mình” bằng cách hợp tác chặt với các đồng minh và đối tác.

Ba là, Mỹ đầu tư vào các công nghệ tiên tiến quan trọng trong tương lai như trí tuệ nhân tạo (AI), máy tính lượng tử, năng lượng sạch… Và cuối cùng là nước Mỹ “phát biểu với sự rõ ràng và kiên định” về các vấn đề liên quan Trung Quốc như Tân Cương, Hong Kong, Đài Loan và “sẵn sàng áp đặt những cái giá phải trả”.

Cũng tại sự kiện trên, người tiền nhiệm của ông Sullivan – ông Robert O’Brien – đánh giá “bộ tứ kim cương” (hay nhóm QUAD gồm Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Úc) có thể là “mối quan hệ quan trọng nhất mà chúng ta từng thiết lập kể từ NATO”.

Sau phát biểu này của ông Robert O’Brien, ông Sullivan cho biết chính quyền Tổng thống Biden “thật sự muốn đẩy mạnh” công việc đã được chính quyền tổng thống Trump khởi động liên quan nhóm này.

Trong khi đó, các đồng minh và đối tác của Mỹ cũng cất lên tiếng nói cho thấy sự ủng hộ dành cho Mỹ trong các hoạt động đối phó Trung Quốc.

Báo Guardian hôm 29-1 cho biết Úc khẳng định sẽ tiếp tục tuần tra tại Biển Đông.

“Tàu thuyền và máy bay Úc sẽ tiếp tục thực hiện các quyền theo luật quốc tế về tự do hàng hải và hàng không, bao gồm ở Biển Đông, và chúng tôi ủng hộ các nước khác làm như thế” – một người phát ngôn Bộ Quốc phòng Úc cho biết.

Hồi tháng 12-2020, ông Greg Moriarty – một quan chức quốc phòng cấp cao Úc – đánh giá Trung Quốc đã hành xử theo lối “đáng lo ngại” và gây phức tạp môi trường an ninh khi xây dựng các đảo nhân tạo trái phép và quân sự hóa các thực thể này ở Biển Đông.

Trong khi đó, phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) hôm 29-1, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga cho biết hợp tác với Ấn Độ, Úc và Mỹ nhằm thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở.

Trung Quốc: đó là “nhiệm vụ bất khả thi”

Trong một bài viết về quan hệ Mỹ – Trung hôm 29-1, tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên: “Chưa bao giờ quá muộn để làm điều đúng đắn”.

Tờ báo Trung Quốc cũng nhắc đến chuyến thăm Mỹ lịch sử dài 9 ngày của ông Đặng Tiểu Bình vào năm 1979, nhằm kêu gọi xây dựng quan hệ Mỹ – Trung ổn định giữa bối cảnh có nhiều bất đồng hiện tại.

Trong khi đó, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Ngô Khiêm tuần này đã gửi thông điệp mạnh mẽ tới Mỹ: Nỗ lực kiềm chế Trung Quốc là “nhiệm vụ bất khả thi”. Ông Ngô nói rằng “quan hệ quân sự Trung Quốc – Mỹ hiện ở điểm khởi đầu lịch sử mới với chính quyền ông Biden” và Washington cần đón nhận “tâm lý không đối đầu, cùng có lợi”.

Cảnh báo của Trung Quốc được đưa ra sau khi tàu sân bay của hải quân Mỹ – USS Theodore Roosevelt – lần đầu tiên tiến vào Biển Đông dưới thời ông Biden hôm 23-1 nhằm thúc đẩy “quyền tự do trên biển”.

Khoảng một tuần sau vụ triển khai này, báo Financial Times dẫn thông tin tình báo từ Mỹ và các đồng minh của Washington tiết lộ trong lúc hoạt động gần Đài Loan, các máy bay ném bom và tiêm kích Trung Quốc đã mô phỏng tấn công tên lửa nhắm vào tàu sân bay USS Theodore Roosevelt khi tàu này đi vào khu vực cuối tuần trước.

Tuy nhiên, phía quân đội Mỹ cho biết nhóm tác chiến tàu sân bay USS Theodore Roosevelt đã giám sát chặt mọi hoạt động của hải quân và không quân Trung Quốc, và phía Trung Quốc “không hề” đặt ra mối đe dọa cho tàu Mỹ trong tuần qua.

Ông Biden cam kết với châu Á

Trong nhiều cuộc điện đàm và tuyên bố trong 10 ngày qua, Tổng thống Biden cùng các quan chức an ninh hàng đầu của ông đã nhấn mạnh sự ủng hộ dành cho các đồng minh và đối tác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và đảo Đài Loan, đồng thời bắn tín hiệu sẽ bác bỏ các yêu sách vô lý của Trung Quốc ở những vùng biển tranh chấp.

Đơn cử trong cuộc điện đàm với Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga, Tổng thống Biden nói rằng chính quyền của ông cam kết bảo vệ Nhật Bản, gồm cả quần đảo Senkaku/Điếu Ngư mà Trung Quốc và Nhật Bản đang có tranh chấp.

BDN

Loading

Views: 0

Biển Đông và quần đảo Điếu Ngư – thử thách đối với Biden

Ngày 19/1/2021, đại diện của Nhật Bản tại Liên hợp quốc đã gửi công hàm lên Tổng thư ký Antonio Guterres, cáo buộc Trung Quốc vi phạm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) ở Nam Hải (Biển Đông). Trong công hàm, Nhật Bản cáo buộc Trung Quốc đã hạn chế tự do hàng hải và hàng không ở Nam Hải.

Ngày 22/1/2021, Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) Trung Quốc đã biểu quyết thông qua Luật hải cảnh. Truyền thông Nhật Bản rất quan tâm đến điều này và thổi phồng rằng luật này sẽ cho phép lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc sử dụng vũ khí.

Trong nhiều năm qua, Nhật Bản luôn dựa vào Mỹ về an ninh và dựa vào Trung Quốc về kinh tế, sắc thái đầu cơ trong lời nói và hành động của họ ngày càng rõ rệt. Vào thời điểm tân Tổng thống Biden vừa mới nhậm chức, Nhật Bản một lần nữa tạo sự chú ý trong vấn đề hàng hải là nhằm động cơ gì?

Trang mạng “Người quan sát” đã phỏng vấn Trần Dương (-), nghiên cứu viên Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản thuộc Đại học Liêu Ninh, Trung Quốc về vấn đề này. Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn:

Theo ông, vào thời điểm nước Mỹ diễn ra cuộc chuyển giao quyền lực, động cơ nào khiến Nhật Bản bất ngờ gửi công hàm lên Tổng thư ký Liên hợp quốc?

Khi Chính quyền Obama thực hiện chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương”, Joe Biden đang là phó tổng thống, là một nước đồng minh của Mỹ, thời điểm đó Nhật Bản đã tích cực can thiệp và gây nhiều phiền phức trong vấn đề Nam Hải. Sau khi Biden lên cầm quyền, các giới ở Nhật Bản đều kỳ vọng Chính quyền Biden sẽ tiếp tục chính sách ngoại giao của Chính quyền Obama.

Trong cuộc điện đàm với Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga sau khi được truyền thông Mỹ xác định là người giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống, ông Biden tuyên bố rằng quần đảo Điếu Ngư/Senkaku nằm trong phạm vi bảo vệ của Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật, điều này có lẽ đã khiến Nhật Bản tự tin hơn trong việc tiếp tục can thiệp vào vấn đề Nam Hải. Đồng thời, việc Nhật Bản có động thái như vậy vào thời điểm này cũng có thể được hiểu là muốn thể hiện lòng trung thành với Chính quyền Biden.

Một bài báo trên trang Nikkei (Nhật Bản) gần đây cho rằng Biden từng phạm sai lầm về vấn đề Nam Hải trong thời gian giữ chức phó tổng thống, khi không thể ngăn chặn các hoạt động xây dựng đảo của Trung Quốc ở Nam Hải.

Sau khi lên cầm quyền, danh sách cam kết chính sách chính của Biden sẽ phải tập trung vào các vấn đề trong nước. Phải chăng Nhật Bản lo ngại Mỹ sẽ ít quan tâm đến châu Á, do đó mới có động thái nhằm thu hút sự chú ý của Mỹ hoặc toàn bộ phương Tây?

Quả thực Nhật Bản đang lo ngại Chính quyền Biden sẽ ít chú ý đến các vấn đề ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tình hình dịch COVID-19 ở Mỹ vẫn tương đối nghiêm trọng, kinh tế gặp nhiều khó khăn, và nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của tân tổng thống hiển nhiên là kiềm chế dịch bệnh, khởi động lại nền kinh tế và hàn gắn xã hội bị chia rẽ. Dự đoán năm 2021, Chính quyền Biden sẽ tập trung nhiều vào các vấn đề đối nội hơn là đối ngoại.

Nhật Bản có lẽ cũng hiểu rõ điều này. Từ ba cuộc điện đàm giữa Thủ tướng Suga và ông Biden vào tháng 11/2020, giữa Cố vấn an ninh quốc gia Nhật Bản Shigeru Kitamura và người đồng cấp Mỹ Jack Sullivan vào ngày 21/1/2021, giữa Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Nobuo Kishi và người đồng cấp Mỹ Lloyd Austin vào ngày 24/1/2021, có thể nhận thấy nếu không đề cập đến vấn đề quần đảo Điếu Ngư, thì Nhật Bản sẽ đề cấp đến ý tưởng “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở”, mục đích là thông qua những vấn đề này để “ôm chặt” Mỹ, đề phòng nước này xem nhẹ các vấn đề của khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Tất nhiên, Chính quyền Biden cũng đã đưa ra một số cam kết đối với Nhật Bản, chẳng hạn như quần đảo Điếu Ngư nằm trong phạm vi bảo vệ của Điều 5 Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật và tiếp tục thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, do các vấn đề đối nội của Mỹ hiện đều tương đối phức tạp, những cam kết này của Chính quyền Biden mang tính thảo luận nhiều hơn là thực tế. Trong thời gian tới, Nhật Bản vẫn sẽ tiếp tục sử dụng các vấn đề như quần đảo Điếu Ngư, Nam Hải để thu hút sự chú ý của Mỹ.

Ngày 22/1, Trung Quốc đã thông qua Luật hải cảnh, các phương tiện truyền thông Nhật Bản rất quan tâm đến việc luật này cho phép sử dụng vũ khí. Tại sao luật trong nước của Trung Quốc này lại gây ra một số phản ứng ở Nhật Bản? Nó có liên quan gì đến lịch sử và tình hình hiện nay hay không? Ông dự đoán tình hình thời gian tới sẽ diễn biến ra sao?

Việc các phương tiện truyền thông Nhật Bản chú ý nhiều đến Luật hải cảnh của Trung Quốc khiến tôi rất ngạc nhiên. Trong những ngày qua, các phương tiện truyền thông chính thống lớn của Nhật Bản đều đưa tin và bình luận về vấn đề này, đây là điều tương đối hiếm thấy.

Khi đưa tin về Luật hải cảnh, các phương tiện truyền thông Nhật Bản thường gắn luật này với quần đảo Điếu Ngư, cho rằng sau khi luật có hiệu lực, Trung Quốc sẽ tăng cường tuần tra đối với quần đảo này và sau này Nhật Bản có thể sẽ khó đối phó hơn.

Cảnh sát biển (hải cảnh) là lực lượng thực thi pháp luật hành chính quan trọng của Trung Quốc. Trung Quốc thông qua Luật hải cảnh là nhằm làm rõ vị trí chức năng, quyền hạn và giám sát của cơ quan cảnh sát biển, đảm bảo lực lượng cảnh sát biển có thể thực thi pháp luật khi bảo vệ quyền lợi và có căn cứ pháp lý khi hợp tác với bên ngoài.

Điều này sẽ giúp lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc thực hiện tốt hơn trách nhiệm và nghĩa vụ của mình theo các hiệp ước quốc tế và duy trì trật tự hàng hải. Trừ khi Nhật Bản cố tình muốn kích động tranh chấp, nếu không hoàn toàn không cần phải quá lo lắng về Luật hải cảnh của Trung Quốc.

Do Chính phủ Nhật Bản luôn tuyên bố có chủ quyền đối với quần đảo Điếu Ngư, cộng với việc các phương tiện truyền thông nước này thổi phồng về Luật hải cảnh, nên Chính phủ Nhật Bản chắc chắn sẽ tăng cường lực lượng tuần tra trên biển trong thời gian tới.

Hiện nay Nhật Bản cơ bản đều hoạt động phạm vi vùng biển của mình, Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản chịu trách nhiệm về sự an toàn của nhân viên hàng hải, tài sản và giám sát các tàu bất hợp pháp. Đây là cơ quan hành chính thuộc Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng, Giao thông vận tải và Du lịch Nhật Bản, không có nhiều quyền hạn và trách nhiệm.

Cùng với việc Luật hải cảnh có hiệu lực vào ngày 1/2, dự đoán Nhật Bản có thể sẽ tăng cường đối phó trên biển, đặc biệt là trong vấn đề quần đảo Điếu Ngư, có khả năng sẽ cử Lực lượng phòng vệ trên biển và trên không tham gia.

Nếu vậy, rất có thể sẽ làm tăng va chạm trên biển giữa hai bên, từ đó dễ xảy ra xung đột quân sự. Do đó, nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải đẩy nhanh và hoàn thiện việc thiết lập cơ chế liên lạc hàng hải và hàng không giữa hai nước để tránh có những đánh giá sai lầm chiến lược không đáng có.

Nếu tình hình thực sự phát triển theo chiều hướng gia tăng va chạm, thì đây chắc chắn đây sẽ là một phép thử đối với cam kết Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật có hiệu lực với quần đảo Điếu Ngư. Có thể hình dung rằng trong bối cảnh lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc ngày càng lớn mạnh, ngay cả Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật cũng khó có thể chống lại được quyết tâm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc. Liệu các biện pháp ngoại giao và dư luận này của Nhật Bản hiện nay có đồng nghĩa với việc đặt ra một vấn đề nan giải đối với Mỹ?

Có thể nói những biện pháp này và sự tuyên truyền dư luận của Nhật Bản trong cộng đồng quốc tế, trên thực tế cũng đã đặt ra một vấn đề nan giải đối với Mỹ và Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật. Tất nhiên, từ góc độ của liên minh Mỹ-Nhật và Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật, Mỹ có nghĩa vụ phải bảo vệ Nhật Bản, nhưng nếu đặt dưới góc độ quan hệ ba bên Trung-Mỹ-Nhật và lợi ích của Mỹ, thì nước này không hy vọng, hoặc có thể nói là sẽ không xảy ra xung đột quân sự với Trung Quốc vì vấn đề quần đảo Điếu Ngư.

Một là, đối với Mỹ, quan hệ Trung-Mỹ là quan hệ song phương quan trọng nhất, và Nhật Bản chỉ là một thành viên bình thường trong nhiều đồng minh của Mỹ; hai là, tâm lý phản đối và chán ghét chiến tranh ở trong nước Mỹ; ba là, ngay cả Nhật Bản cũng không có đủ tầm quan trọng để buộc Mỹ phải chiến đấu vì nước này. Do đó, đến nay Chính phủ Mỹ cho vẫn chỉ đưa ra các cam kết suông trong vấn đề quần đảo Điếu Ngư nhằm làm yên lòng Nhật Bản và đóng vai trò răn đe.

Trên thực tế Nhật Bản luôn hiểu rằng liên minh Mỹ-Nhật không phải là mối quan hệ đối đẳng và việc Mỹ giữ chủ đạo, Nhật Bản phục tùng là hình thức chính của liên minh Mỹ-Nhật từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Do đó, có thể nhận thấy bên cạnh việc nhiều lần nhấn mạnh phải củng cố liên minh Mỹ-Nhật và buộc Mỹ phải đưa ra cam kết trong vấn đề quần đảo Điếu Ngư, các quan chức cấp cao của Chính phủ Nhật Bản cũng bắt đầu thúc đẩy một số biện pháp cụ thể, như tăng cường tuần tra ở vùng biển xung quanh quần đảo Điếu Ngư, tăng chi tiêu quân sự và đổi mới vũ khí. Điều này trên thực tế là sự ràng buộc đối với Mỹ, buộc Mỹ phải can thiệp vào vấn đề quần đảo Điếu Ngư hoặc nhượng bộ nước này ở các phương diện khác.

Phương diện khác ở đây có thể là kinh tế? Nhiều năm qua, quan hệ Trung-Nhật thường xuyên ở trong tình trạng “lạnh về chính trị, nóng về kinh tế”, nhưng Mỹ về khách quan không muốn đồng minh của mình bị quá phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc.

Sau khi đại dịch COVID-19 bùng phát trên toàn cầu, do Nhật Bản không xử lý tốt mối quan hệ giữa kiểm soát dịch bệnh và các hoạt động kinh tế, nên phải chịu áp lực kinh tế rất lớn. Đồng thời, Nhật Bản còn phải đối mặt với một vấn đề là liệu có thể tổ chức thành công Thế vận hội Olympic trong năm 2021 hay không, trong khi Trung Quốc là nước phục hồi kinh tế đầu tiên, rất có thể trên thực tế sẽ khiến nền kinh tế Nhật Bản phải phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc. Liệu ông có thể đưa ra một vài nhận định và phân tích về sự trao đổi kinh tế Trung-Nhật?

Sau đại dịch COVID-19 lan rộng trên toàn cầu, Trung Quốc và Nhật Bản đã giúp đỡ và hợp tác với nhau để ứng phó với dịch bệnh. Điều đặc biệt đáng chú ý là hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước không những không bị cản trở bởi dịch bệnh, mà còn có xu hướng tăng lên. Theo Kyodo News, báo cáo thống kê thương mại năm 2020 do Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày 21/1/2021 cho thấy xuất khẩu của Nhật Bản trong năm 2020 là 68.400 tỷ yên, giảm 11,1% so với năm 2019.

Xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ và Liên minh châu Âu đều giảm ở các mức độ khác nhau, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 2,7%, đạt 15.100 tỷ yên, Trung Quốc đã thay thế Mỹ trở thành nước xuất khẩu lớn nhất của Nhật Bản. Ngoài ra, số liệu thống kê xuất khẩu trong tháng 12/2020 do Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày 21/1/2021 cũng cho thấy xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2019, đạt 1.560 tỷ yên.

Trên thực tế, ngay cả khi dịch bệnh diễn biến phức tạp trong năm 2020, các hoạt động trao đổi kinh tế và thương mại giữa Trung Quốc và Nhật Bản cũng ít bị tác động. Ví dụ, số liệu thống kê xuất khẩu do Bộ Tài chính Nhật Bản công bố tháng 10/2020 cho thấy xuất khẩu của Nhật Bản từ tháng 4-9 giảm 19,2% so với cùng kỳ năm 2019, nhưng xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 3,5%. Do đó, cho dù là từ số liệu kinh tế của cả năm 2020 hay từ số liệu kinh tế của một tháng, mức độ phụ thuộc của Nhật Bản vào nền kinh tế Trung Quốc đều đang tăng lên. Lý do là Trung Quốc giành chiến thắng trước tiên trong giai đoạn phòng chống dịch và là nước đầu tiên khôi phục sản xuất. Nền kinh tế Trung Quốc dần phục hồi và nhu cầu thị trường mở rộng cũng đã thúc đẩy xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc.

Kết hợp kết quả trao đổi kinh tế thương mại Trung-Nhật trong năm 2020 và tình hình kinh tế trong nước của Nhật Bản hiện nay, dự kiến năm 2021, sự phụ thuộc của Nhật Bản đối với kinh tế Trung Quốc còn tăng lên. Tình hình dịch bệnh ở Nhật Bản vẫn tương đối nghiêm trọng, mặc dù đã ban bố tình trạng khẩn cấp nhằm kiểm soát dịch bệnh, nhưng hiện nay vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi. Các ca mắc mới hàng ngày ở các khu vực như Tokyo vẫn đang tăng lên, điều này cũng đồng nghĩa với việc Nhật Bản tạm thời khó có thể tái khởi động nền kinh tế và việc phục hồi nền kinh tế vẫn cần có thêm thời gian.

Do quan hệ kinh tế và thương mại giữa Trung Quốc và Nhật Bản tương đối bền chặt, và Trung Quốc vẫn là một trong số ít nền kinh tế đạt được tăng trưởng dương sau khi dịch bệnh bùng phát, nên đối với Nhật Bản, tăng cường quan hệ kinh tế và thương mại với Trung Quốc là chìa khóa để nước này khôi phục kinh tế.

Sự phụ thuộc về kinh tế và thương mại của Nhật Bản đối với Trung Quốc tăng lên và là nhu cầu cấp thiết. Điều này có nghĩa là quan hệ Trung-Nhật trong năm 2021 nhìn chung sẽ không có nhiều biến động, Nhật Bản chắc chắn sẽ tìm cách xây dựng quan hệ Trung-Nhật tiến lên trong ổn định, bởi nếu quan hệ hai nước rơi vào bế tắc, thì Nhật Bản hầu như không có khả năng có thể phục hồi kinh tế. Tất nhiên, với tư cách là đồng minh của Mỹ, Nhật Bản chắc chắn sẽ có một số động thái liên quan đến vấn đề Nam Hải và ý tưởng “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở”, nhưng dự đoán sẽ không cực đoan giống như Australia.

BDN

Loading

Views: 0

Biển Đông: Đức định gửi tàu khu trục ‘ghé qua’, Philippines lên tiếng về Luật Hải cảnh của Bắc Kinh

Ngày 25/1, theo hãng tin Nikkei, chính phủ Đức đang cân nhắc việc gửi một tàu khu trục cỡ nhỏ tới Nhật Bản vào mùa Hè này, trong động thái hiếm hoi của chính quyền nước này cử một tàu hải quân tới Đông Á.
Nhóm tác chiến tàu sân bay Theodore Roosevelt của Mỹ đi vào Biển Đông ngày 23/1. (Nguồn: US Navy)
Thư ký Quốc hội tại Bộ Quốc phòng liên bang Thomas Silberhorn cho biết: “Chúng tôi hy vọng sắp xếp chuyến đi trong mùa Hè này. Chúng tôi vẫn chưa quyết định về chi tiết, nhưng chúng tôi đang nhìn nhận Nhật Bản” như là một cảng đến khả thi.

Ông Silberhorn cho biết, Đức “muốn làm sâu sắc hơn quan hệ với đối tác trong phe dân chủ”, nhấn mạnh kế hoạch này “không nhằm vào bất kỳ ai”.

Theo các nguồn tin trong chính phủ Đức và đảng cầm quyền, tàu khu trục sẽ ở lại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong một thời gian, có kế hoạch đi qua Biển Đông cũng như dừng chân tại Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc và các nước khác.

Trong một diễn biến khác, ngày 26/1, Trung Quốc tuyên bố sẽ tiến hành các cuộc tập trận tại Biển Đông trong tuần này, một ngày sau khi Bắc Kinh phàn nàn việc Mỹ thường đưa tàu và máy bay vào Biển Đông.

Trung Quốc cho rằng, các động thái này là để “phô trương sức mạnh của Washington” và điều này không có lợi cho hòa bình.

Trước đó, hôm 23/1, quân đội Mỹ xác nhận, nhóm tác chiến do tàu sân bay Theodore Roosevelt dẫn đầu đã đi vào Biển Đông nhằm tuần tra thúc đẩy “tự do hàng hải của vùng biển này”.

Nhóm tác chiến tàu sân bay tiến này vào Biển Đông diễn ra một ngày sau khi Trung Quốc thông qua luật cho phép lực lượng hải cảnh nước này khai hỏa nhằm vào các tàu nước ngoài.

Một số nhà phân tích dự đoán, Mỹ sẽ tiếp tục tiến hành các cuộc tuần tra và khẳng định quan hệ với các quốc gia ven biển. Ngoài ra, để đối phó với Trung Quốc, Washington sẽ tăng cường tập trận và ngăn chặn mọi nỗ lực của Bắc Kinh nối lại các hoạt động năng lượng ở Biển Đông.

Liên quan Luật Hải cảnh mới đây của Trung Quốc cho phép lực lượng hải cảnh sử dụng “mọi phương tiện cần thiết” trong trường hợp tàu nước ngoài đe dọa tại các vùng biển tranh chấp, trong đó có nổ súng vào tàu nước ngoài tại các vùng biển mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, ngày 24/1, Thượng nghị sĩ Philippines Francis Pangilinan đã kêu gọi Manila không nên sợ hãi.

Trong một tuyên bố, ông Pangilinan khẳng định: “Chúng tôi bác bỏ và không công nhận các luật lệ nước ngoài xâm phạm vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế của chúng tôi. Tôi tin chắc rằng, chúng ta không phải là một quốc gia hèn nhát”.

TG&VN

Loading

Views: 0

Biển Đông: TQ triển khai hệ thống phóng tên lửa đạn đạo để huấn luyện

Trung Quốc đã triển khai số lượng lớn dàn phóng mẫu tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM) tối tân của họ tới khu vực phía Đông và phía Tây để tăng cường huấn luyện.

Các hệ thống phóng DF-26 đã được triển khai tới nhiều địa điểm để huấn luyện

Một số hình ảnh vệ tinh mà hãng Maxar Technologies đăng tải cho thấy quân đội Trung Quốc đã triển khai nhiều dàn phóng tên lửa DF-26 tới một địa điểm huấn luyện ở tỉnh Sơn Đông, miền Đông Trung Quốc; theo một báo cáo của Liên hiệp Các nhà khoa học Mỹ (FAS); thêm rằng đây là lần đầu tiên họ chứng kiến tên lửa DF-26 hoạt động ở khu vực này.

Tuần trươc,s Andrei Chang, chủ biên của tờ Kanwa Defence Review có trụ sở tại Canada, nói trong một đoạn video đăng tải trên YouTube rằng Lực lượng Tên lửa Trung Quốc đã triển khai khoảng 16 dàn phóng DF-26 IRBM tới căn cứ Thanh Châu ở Sơn Đông và một căn cứ khác ở Korla, thuộc Tân Cương.

Ông Chang nói rằng những địa điểm trên đặt Ấn Độ – đang có tranh chấp căng thẳng với Trung Quốc ở biên giới – vào tầm ngắm và gây ra mối đe dọa đối với căn cứ hải quân Mỹ ở Yokosuka cùng một số điểm chốt quân sự khác tại Nhật Bản.

DF-26 là mẫu tên lửa đạn đạo được vận chuyển bằng đường bộ, có thể được lắp đầu đạn truyền thống hoặc hạt nhân, có tầm bắn khoảng 5.000 km.

Ông Chang nói rằng Trung Quốc đã xây dựng 2 nhà kho lớn để chứa DF-26, chỉ ra một đợt triển khai lớn loại tên lửa này tới vùng biên giới. Tuy nhiên, chuyên gia quân sự Trung Quốc Zhou Chenming nói rằng DF-26 được triển khai tới Korla là để huấn luyện, và “tầm bắn của tên lửa chỉ nằm trong khu vực sa mạc Gobi không có người ở”.

Ông Zhou cũng thêm rằng: “Đây không phải lần đầu tiên mà DF-26 được triển khai tới đó, nhưng là lần đầu tiên được các vệ tinh chụp ảnh lại”.

Theo vị chuyên gia Trung Quốc, với tầm bắn của nó, tên lửa DF-26 có thể nhắm bắn các chiến hạm nước ngoài nếu các chiến hạm này thâm nhập vào lãnh hải của Trung Quốc. “Nhưng Trung Quốc sẽ không triển khai DF-26 tới mặt trận và các bờ biển, bởi nó sẽ dễ dàng bị phát hiện và tiêu diệt bởi các tên lửa Tomahawk trên tàu của Mỹ”; ông nói.

Mỹ đã tăng cường sự hiện diện quân sự ở khu vực biển Hoa Đông và Biển Đông trong 2 năm gần đây. Họ đã cử 2 nhóm tác chiến hàng không mẫu hạm và một nhóm tác chiến viễn chinh tới khu vực này để thực hiện các chiến dịch tự do hàng hải từ tuần trước; theo quân đội Mỹ.

Nhà bình luận quân sự Trung Quốc Song Zhongping nói rằng: “Mục tiêu cuối cùng của Trung Quốc là xua đuổi các hàng không mẫu hạm của Mỹ ra xa nhất có thể”.

Trong một cuộc thử nghiệm hồi tháng 8 năm ngoái, Lực lượng Tên lửa Trung Quốc đã phóng một tên lửa DF-26 từ tỉnh Thanh Hải nhằm vào một tàu đang di chuyển trên Biển Đông. Trước đó, DF-26 đã được triển khai tới ít nhất 4 địa điểm ở Trung Quốc; theo FAS và ông Chang.

BDN

Loading

Views: 0

TQ phớt lờ Mỹ, tiếp tục khiêu khích Đài Loan

Tổng cộng 15 máy bay quân sự Trung Quốc bay vào vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của Đài Loan hôm nay 24.1, ngày thứ 2 có hơn 10 máy bay quân sự Trung Quốc vào ADIZ này, theo Cơ quan Phòng vệ Đài Loan.

Máy bay ném bom H-6K của Trung Quốc

Một bản đồ do Cơ quan Phòng vệ Đài Loan (MND) cung cấp cho thấy số máy bay Trung Quốc nói trên, trong đó có 12 chiến đấu cơ, đã bay vào khu vực nằm giữa phía nam của Đài Loan và quần đảo Đông Sa do Đài Loan kiểm soát ở Biển Đông.

Trung Quốc có động thái mới vài giờ sau khi phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price ra thông báo cảnh báo “tình trạng Trung Quốc gây sức ép quân sự lên Đài Loan đe dọa hòa bình và ổn định khu vực”.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ Đài Loan trong việc duy trì khả năng phòng thủ đầy đủ. Cam kết của chúng tôi đối với Đài Loan sẽ không thay đổi và góp phần duy trì hòa bình và ổn định xuyên eo biển Đài Loan và trong khu vực”, ông Price nhấn mạnh trong thông báo được đăng trên website của Bộ Ngoại giao Mỹ.

Ông Price đưa ra cảnh báo sau khi MND thông báo 13 máy quân sự Trung Quốc, gồm 8 máy bay ném bom H-6K, 4 chiến đấu cơ J-16 và một máy bay săn ngầm Y-8, bay vào ADIZ thuộc phía tây Đài Loan vào ngày 23.1, theo hãng tin CNA.

Lực lượng phòng không Đài Loan đã cho chiến đấu cơ xuất kích để theo dõi 13 máy bay Trung Quốc, phát cảnh báo qua vô tuyến và bố trí các khí tài phòng không cho đến khi số máy bay đó rời khỏi ADIZ.

Trong thời gian gần đây, Trung Quốc thường cho máy bay quân sự vào ADIZ của Đài Loan nhưng hiếm khi số máy bay ở mức trên 2 con số.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ đưa hàng không mẫu hạm tới Biển Đông – Bắc Kinh thấy “hòa bình bị đe dọa”

Sau khi máy bay quân sự Trung Quốc đột nhập không phận Đài Loan, Mỹ cam kết hỗ trợ của họ đối với Đài Bắc. Chính phủ của Joe Biden hiện đang điều một tàu sân bay đến khu vực – như một hành động thách thức đối với Trung Quốc. Bắc Kinh luôn coi Đài Loan mà là một phần của Trung Quốc chứ không phải là một quốc gia độc lập.

Ngay trong những ngày làm việc đầu tiên của tân Tổng thống Mỹ Joe Biden, căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ về vấn để Đài Loan và Biển Đông đã gia tăng. Tại Bắc Kinh, người phát ngôn Văn phòng Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên đã chỉ trích việc triển khai hàng không mẫu hạm USS Theodore Roosevelt của Mỹ tới Biển Đông là sự “cuộc phô trương sức mạnh” đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực. Người phát ngôn cũng bác bỏ yêu cầu của Mỹ đòi Bắc Kinh chấm dứt áp lực quân sự, kinh tế và ngoại giao đối với Đài Loan.

Triệu Lập Kiên nhấn mạnh lập trường của Trung Quốc, rằng hòn đảo này là một phần không thể tách rời của Cộng hòa Nhân dân. Bắc Kinh kiên quyết chống lại những cố gắng đòi độc lập hoặc sự can thiệp của các thế lực bên ngoài. Bắc Kinh sẵn sàng đối thoại – nhưng chỉ trên cơ sở chính sách một Trung Quốc. Mỹ yêu cầu Bắc Kinh chấm dứt “đe dọa” Đài Loan qua các trò chơi khoe cơ bắp quân sự. Các lực lượng vũ trang Đài Loan thông báo hôm thứ Bảy, rằng 8 máy bay ném bom và 4 máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã xâm nhập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) và như muốn kiểm tra khả năng phòng không của họ. Đây là hành động quân sự lớn nhất của loại hình này cho đến nay, trong năm qua họ đã luôn gia tăng hành động khiêu khích như thế.

Trung Quốc tức giận vì đại diện Đài Loan được mời dự lễ nhậm chức tổng thống

Bắc Kinh tức giận vì đại diện Đài Loan tại Washington chính thức được mời đến dự lễ nhậm chức của tổng thống của Biden. Chính quyền Mỹ trước đây của Donald Trump đã nâng cấp quan hệ với Đài Loan và cho phép lần đầu tiên tiếp xúc chính thức, điều mà Bắc Kinh kiên quyết từ chối không công nhận chính phủ được bầu cử dân chủ ở Đài Bắc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc kêu gọi Mỹ không gửi “những tín hiệu sai lầm” cho lực lượng đòi độc lập của Đài Loan để không làm tổn hại đến quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ. Bất chấp những lời đe dọa từ Bắc Kinh, Đài Loan tự do coi mình là một quốc gia độc lập và tìm kiếm sự công nhận về mặt ngoại giao trên thế giới, trong khi nước này bị cô lập khỏi Trung Quốc hùng mạnh.

Hải quân Mỹ lý giải cho việc triển khai “USS Theodore Roosevelt” ở Biển Đông bằng tuyên bố, rằng nhóm tác chiến tàu sân bay vận động ủng hộ “tự do hàng hải” trong vùng biển mà 2/3 thương mại thế giới được vận chuyển qua đó. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền một phần lớn khu vực biển giữa Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia và Philippines. Tòa án Trọng tài Quốc tế La Hay đã bác bỏ các tuyên bố của Trung Quốc vào năm 2016, mà Bắc Kinh phớt lờ. Người phát ngôn Văn phòng Ngoại giao Triệu Lập Kiên kêu gọi chính quyền mới của Tổng thống Mỹ Biden không nên khơi mào tranh chấp. Bắc Kinh hy vọng rằng cả hai bên có thể hợp tác và giải quyết những khác biệt – “trên tinh thần không đối đầu”.

Lê Hoàng tổng hợp

Loading

Views: 0

Giọt nước tràn li!

Đối với Trung Quốc, lâu nay Nhật Bản thường kín tiếng, nhất là những sự kiện liên quan đến Biển Đông. Ngay cả những hành động lấn lướt, bắt nạt các nước láng giềng, ngang nhiên quân sự hóa các đảo, đá ở Biển Đông, Nhật Bản cũng chỉ nêu vấn đề chung chung. Vậy mà mới đây Tokyo đã bất ngờ phản ứng mạnh mẽ.

Theo một thông tin nóng hổi vừa đăng trên trang Japan Times, Nhật Bản vừa gửi công hàm lên Liên hợp quốc. Nội dung công hàm kịch liệt với tố cáo Trung Quốc đã và đang có những hành động bất chấp luật pháp quốc tế, gây ảnh hưởng đến hòa bình, tự do hàng hải trên Biển Đông.

Công hàm nêu trên được gửi đi vào ngày 19/1, trong đó nội dung chủ yếu là bác bỏ quan điểm sai trái của Trung Quốc. Cụ thể, Bắc Kinh đã trắng trợn tuyên bố: “Việc Trung Quốc vẽ đường cơ sở lãnh hải trên các đảo và đá ngầm có liên quan ở Biển Đông là phù hợp với UNCLOS và quốc tế chung pháp luật”. Quan điểm sai trái này được Bộ Ngoại giao Trung Quốc nêu  trong công hàm Verbale số CML63/2020 và được gửi đi từ ngày 18/9/2020.

Vì sao Bắc Kinh lại xưng xưng nói ra điều phi lý ấy?  Hành động xâm lấn lãnh hải, chủ quyền của các nước lân cận đã rõ như ban ngày, vậy mà Trung Quốc vẫn cho rằng “phù hợp” với UNCLOS (!) (Công ước quốc tế về luật biển -1982). Thật sự thì UNCLOS đã đưa ra các điều kiện để áp dụng các quyền lãnh hải một cách cụ thể và đầy đủ. Trong khi đó Trung Quốc đã không viện dẫn các điều khoản liên quan của UNCLOS để khẳng định tính hợp pháp của các đường lãnh hải được đề cập.

Dù giả bộ tai lành tai điếc, Trung Quốc không có bất kỳ lí do gì giúp bất kỳ quốc gia nào trên thế giới có quyền hạn khẳng định quyền lãnh hải mà không đáp ứng đủ các điều kiện quy định của UNCLOS.

Trong Công hàm số CML63/2020 đầy mâu thuẫn, Trung Nam Hải đề cập đến quyền tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Thật vô lý khi “quyền tự do” đó được thực hiện trong vùng biển và vùng trời vốn không có lãnh hải và vùng trời lãnh hải của Trung Quốc. Phán quyết của Tòa Trọng tài  quốc tế tại Lahaye ngày 12/7/ 2016 đã nêu rất chi tiết điều này.

Trung Quốc vẫn cố cãi chày cãi bửa khi tuyên bố, nước này không chấp nhận phán quyết của Tòa. Họ vẫn nhai nhải nói rằng Trung Quốc có “chủ quyền” trên vùng biển và vùng trời xung quanh và phía trên các đối tượng địa lý hàng hải tại nơi đây. Bắc Kinh còn ngang ngược phản đối việc máy bay Nhật Bản bay qua không phận xung quanh một số khu vực đang có tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc.

Theo Japan Times, những hành động trắng trợn của Trung Quốc hạn chế quyền tự do hàng hải của Nhật Bản tại Biển Đông đã quá sức chịu đựng của Nhật Bản. Do đó Tokyo phải thẳng thắn lên tiếng trước Liên hợp quốc, nhằm giữ gìn hòa bình, an ninh trong khu vực.

Như giọt nước tràn li, Tokyo đến lúc phải tỏ thái độ một cách dứt khoát. Chẳng là từ lâu Bắc Kinh đã tuyên truyền  trong dân chúng của họ rằng: Nhật Bản đã chiếm quần đảo Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) hồi Thế chiến thứ II (1945), do đó Trung Quốc gánh vác “sứ mạng quốc tế” lấy lại quần đảo này khi Nhật Bản đầu hàng đồng minh (!)

Bắc Kinh còn lu loa: Việc lấy lại quần đảo Nam Sa từ sự chiếm giữ của Nhật Bản khi Thế chiến thứ II kết thúc là phần trách nhiệm của Trung Quốc trong việc lập lại “trật tự thế giới thời hậu chiến”.

Tân Hoa xã bịa đặt rằng, quốc tế đã công nhận và đề nghị trao trả lại những vùng lãnh thổ của Trung Quốc bị Nhật “cướp” thông qua những tuyên bố, trong đó có Tuyên bố Cairo năm 1943 và Tuyên bố Potsdam năm 1945 (!).

Trung Quốc là thế! Với tư tưởng bành trướng, lấn sâu xuống phía nam, độc chiếm Biển Đông, Bắc Kinh sẵn sàng biến không thành có, biến trái thành phải, gây hấn với tất cả láng giềng. Thế nhưng họ vẫn ra sức xuyên tạc, vu cáo, chìa bàn tay “hợp tác” kinh tế để che giấu những hành động phi pháp.

Hành động của Nhật Bản lúc này là đúng lúc, cần có sự hợp tác, lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ, Việt Nam, Philippines và các nước trong khu vực.

BDN

Loading

Views: 0

Tổng kết hội nghị trực tuyến về Biển Đông

Ủy ban đối ngoại Quốc hội Đức nhấn mạnh tầm quan trọng tự do hàng hải trên biển Đông

Ngày 15/01/2021 tại thủ đô Berlin – CHLB Đức, Hội nghị trực tuyến về vấn đề biển Đông do Ủy ban đối ngoại Quốc hội Đức chủ trì, thảo luận với đại diện các Hội đoàn và chuyên gia người Việt tại Đức đã thành công tốt đẹp.

Tham dự Hội thảo, về phía Đức có Tiến sỹ De Ridder Daniela (đảng SPD), Phó chủ tịch Ủy ban Quốc Hội, kiêm Phó chủ tịch Ban phòng chống khủng hoảng dân sự, quản lý xung đột và kết nối thương mại Quốc hội Đức, chủ trì hội nghị; về phía Việt Nam có Giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Văn Thoại – Đại học Trier, ông Lê Hồng Cường – Chủ tịch Hội Tân Trào, Tiến sỹ Nguyễn Việt Anh – Phó chủ tịch Dien dan Doi moi sang tao va Kinh te Duc – Viet, Chu tich Hoi SVVN tai CHLB Duc, bà Vũ Lâm – thành viên Ban công tác hợp tác Đông Nam Á – Đức và bà Trương Loan, Luật sư, Chủ tịch Hiệp hội luật gia Đức – Việt (DVJV).

Phát biểu khai mạc Hội nghị, bà Daniela De Ridder bày tỏ vui mừng khi hội nghị có thể diễn ra bằng hình thức trực tuyến bất chấp ảnh hưởng của các biện pháp hạn chế phòng chống dịch COVID-19. Bà nhấn mạnh, thời gian qua, Quốc hội và Chính phủ Đức nói chung, cá nhân bà De Ridder nói riêng dành sự quan tâm rất lớn đối với tình hình an ninh biển Đông nói chung.

Đại biểu Quốc hội Đức thông tin, gần đây, bà đã lắng nghe nhiều ý kiến của các đồng nghiệp là nghị sỹ trong Quốc hội Đức về các căng thẳng tại khu vực Biển Đông. Tuy nhiên bản thân bà cũng rất muốn lắng nghe những đánh giá, thông tin từ cộng đồng người Việt, đại diện các Hội đoàn và chuyên gia người Việt tại Đức. Bà cũng đánh giá cao nỗ lực, tình cảm với Việt Nam và Đức của những người tham gia để cuộc họp trực tuyến có thể diễn ra tốt đẹp.

Về phần mình, GS. TS. Nguyễn Văn Thoại đã giới thiệu đôi nét chính về tình hình cộng đồng người Việt tại Đức cũng như nhấn mạnh sự quan tâm của cộng đồng, hội đoàn, chuyên gia trí thức đên sự ổn định tại khu vực Biển Đông. GS. Thoại cho biết, đã có khoảng 15 Hội đoàn người Việt đồng thuận gửi bức thư ngỏ đến Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Đức. GS. Thoại cũng nêu bật sự quan trọng bậc nhất của khu vực Biển Đông như một tuyết hàng hải huyết mạch của thế giới và Trung Quốc đã và đang có những hành động trái phép, xâm phạm chủ quyền vùng Biển Việt Nam đi trái với những quy định của Công ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc UNCLOS 1982. Ông kêu gọi các hành động cụ thể của Chính phủ Đức Đức cũng như EU nhằm giảm căng thẳng và củng cố an ninh tại khu vực. Đặc biệt, GS. Thoại cũng nếu qua nội dung của bức thư ngỏ và thông tin sẽ gửi đến cho TS. Daniela De Ridder và Ủy ban Đối ngoại Quốc Hội Đức.

Dưới góc nhìn luật gia, Luật sư Trương Loan đã điểm qua các thông tin liên quan đến UNCLOS 1982 và các phân cách lãnh phận phù hợp với Luật pháp Quốc tế. Luật sư Loan cũng nêu bật tình hình bất ổn, an ninh hàng hải tại khu vực. Bà Loan nêu bật tầm quan trọng của Phá quyết tòa án Quốc tế tại Den Haag năm 2016 và Thư lên tiếng của ba nước Đức, Anh và Pháp gửi Liên hiệp quốc vào tháng 09 năm 2020.

Tiếp nối là phần phát biểu của TS. Nguyễn Việt Anh. TS. Việt Anh đã nêu lên bối cảnh và sự bất ổn chung của hệ thống, trật tự chính trị thế giới với sự trỗi dậy của Trung Quốc, cạnh tranh và cuộc chiến tranh thương mại và công nghệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Đại dịch COVID-19 đã càng chứng tỏ việc cộng đồng quốc tế, khu vực cần chung tay giải quyết các vấn đề bất ổn. Đặc biệt, an ninh của khu vực Ân độ – Thái Bình Dương và khu vực Biển Đông chính là an ninh của toàn thế giới. TS. Việt Anh đi sâu vào Chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương đặc biệt là mục Đẩy mạnh trật tự thế giới đa phương dựa trên quy tắc luật pháp quốc tế và Đẩy mạnh việc giữa hòa bình, an ninh và ổn định trên toàn thế giới. Qua đây, TS. Việt Anh nêu bật tầm quan trọng của Công ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc UNCLOS 1982 và Đức và khối EU cần có những hàng động cụ thể để Công ước này có hiệu lực. TS. Việt Ah cũng nêu bật tầm quan trọng về việc thông thương hàng hải, thương mại tại khu vực Biển Đông. Hơn 2000 tầu vận chuyển và 20% thặng dự thương mại Đức ở tại khu vực Biển Đông. Năm 2020 Đức đã tham gia Hiệp ước hữu nghị và hợp tác khu vực Đông Nam Á năm 1976 và do vậy phải cam kết tìm ra các giải pháp đóng góp trực tiếp vào an ninh khu vực Biển Đông. TS. Việt Anh cho biết, từ khoảng giữa năm 2019 cho đến nay đã có khoảng 48 lần Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Biển, hoặc vi phạm Luật biển UNCLOS. Trung Quốc không những có chủ đích độc chiếm khu vực Biển Đông và còn vùng trời tại khu vực và khi đó các nước trên toàn thế giới, EU và Đức sẽ phục thuộc nhiều hoặc hoàn toàn vào Trung Quốc tại khu vực. Cùng với xu thế hiện diện và quân sự ngày càng tăng của Mỹ tại khu vực, nếu Đức, EU và cộng đồng thế giới không có những biện pháp cụ thể, hiệu quả, viễn cảnh chiến tranh tại khu vực Biển Đông và đe doa an ninh toàn thế giới sẽ thành hiện thực. TS. Việt Anh cũng đã chỉ 3 ảnh vệ tinh các hoạt động của bồi đắp, quân sự hóa của TQ tại khu vực đảo Tri Tôn ngày 18, 19 tháng 03 năm 2020 và các chuẩn bị tại Đảo Phú Lâm chuẩn bị cho một cuộc diễn tập quân sự lớn từ 01 đến 05 tháng 07 năm 2020.

Cuối cùng là phần phát biểu của Bà Vũ Lâm và ông Lê Hồng Cường. Bà Lâm và Ông Cường nêu bật vô số các hoạt động Biểu tình hòa bình của cộng đồng, hội đoàn và người Việt tại CHLB Đức kể từ năm 2008 đến nay thu hút hàng nghìn người, trong đó có nhiều bạn bè khu vực ASEAN, Đức và quốc tế. Cũng với GS. Nguyễn Văn Thoại, ông Lê Hồng Cường đã gửi thư trao tay cho bà Barbara Lochbihler, Thành viên Ủy ban Châu Âu, lên án những hành động của TQ tại khu vực. Cộng đồng người Việt tại Đức cũng đã gửi thư cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Berlin. Ngoài ra, Bà Lâm và Ông Cường cũng đã tổ chức nhiều Hội thảo Biển Đông để tuyên truyền tình hình an ninh khu vực đến công đồng Đức và thế giới, thu thập các đánh giá của các chuyên gia Đức.

Cuối cùng TS. De Ridder đã có một cuộc thảo luận các vấn đề bà muốn nghe ý kiến từ cộng đồng, hội đoàn và các chuyên gia Việt tại Đức về vị trí, ảnh hưởng của Hiệp định Thương mại song phương giữa Trung Quốc và khối EU. Hiện tại trong nội bộ CP Đức, đang có một cuộc thăm dò, tìm hiểu, đánh giá về Trung Quốc trong Hiệp định này, đã có nhiều ý kiến trong nội bộ Quốc Hội Đức nghi ngờ về Trung Quốc và kêu gọi cần cẩn thận trong hợp tác này. Bà Ridder phát biểu rằng Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng của Đức, là cạnh tranh có tính hệ thống và hiện tại Trung Quốc được nhận định là đối thủ cạnh tranh của Đức và EU.

Các chuyên gia tham ra Hội nghị đồng tình với đánh giá là Hiệp định Thương mại song phương giữa EU và Trung Quốc có thể gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên tình hình căng thẳng tại khu vực Biển Đông. Chính phủ Đức cần đưa ra các điều kiện, dàng buộc hợp lý để Trung Quốc đóng góp vào hòa bình khu vực. An ninh và hòa bình là điều kiện quan trọng nhất của các thông thương. Ngoài ra, nếu tình hình căng thẳng lên, thì việc quân đội Đức hiện diện và tham gia diễn tập cùng các cường quốc khác như Mỹ, Pháp, Anh tại khu vực Biển Đông sẽ là một hành động biểu tượng quan trọng để gây áp lực với Trung Quốc. GS. Thoại còn đóng góp thêm ý là CP Đức cần xem xét cẩn thận để ngăn chặn các hành động sao chép công nghệ của Đức và EU. TS. Việt Anh còn nhấn mạnh vị thế trung tâm của Việt Nam và ASEAN trên chính trường đối ngoại, kinh tế cũng như trong việc đóng góp vào sự phát triển thịnh vượng của khu vực. Đức và EU ngoài việc đẩy mạnh thương mại với Trung Quốc cần đóng góp cụ thể hơn nữa trong các vấn đề Biển Đông, đặc biệt đẩy mạnh hợp tác Kinh tế, Thương mại, KHCN với Việt Nam và ASEAN để tạo cân bằng, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc.

Thông qua Hội nghị lần này, bà Ridder khẳng định, bà sẽ cùng thảo luận với các nghị sỹ để đưa vấn đề Biển Đông ra ngoài Quốc hội liên bang, liên đới đến cả Hiệp định thương mại giữa Liên minh châu Âu và Trung Quốc. Đồng thời, bà mong muốn Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Đức và các hội đoàn, chuyên gia người Việt tại Đức có thể tiếp tục tổ chức các hội thảo dưới các hình thức, để trao đổi về vấn đề biển Đông. Tùy tình hình đại dịch COVID-19, bà mong muốn Hội nghị gần nhất có thể diễn ra vào tháng 04/2021.

east-sea.de

 

Loading

Views: 0

Nguyên tắc trong phân định biển và lập trường của Việt Nam

Phân định biển là một hoạt động mang tính quốc tế, nhằm hoạch định đường biên giới biển (nội thủy, lãnh hải), ranh giới biển (vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) giữa hai hay nhiều quốc gia có bờ biển đối diện hay tiếp giáp nhau thông qua đàm phán trung gian hoặc các cơ chế tài phán quốc tế.

Trên cơ sở đó, các quốc gia tổ chức, quản lý, bảo vệ và khai thác các nguồn lợi trong vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia mình theo đường biên giới biển, ranh giới biển đã phân định, góp phần xây dựng môi trường an ninh, an toàn, hòa bình, ổn định trên biển.

Đối với việc hoạch định ranh giới lãnh hải, Điều 15 của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 quy định: Khi hai quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến, trừ khi có thỏa thuận ngược lại. Đối với hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Điều 74 và 83 của Công ước 1982 quy định: Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng pháp luật quốc tế như đã được nêu ở điều 38 của Quy chế Tòa án quốc tế, để đi tới một giải pháp công bằng. Như vậy, nguyên tắc cơ bản trong phân định biển là nguyên tắc thỏa thuận và nguyên tắc công bằng. Tuy nhiên trên thực tế, do nhiều lý do, giữa các quốc gia chưa thỏa thuận và thống nhất để phân định hết toàn bộ hệ thống đường biên giới, ranh giới biển, dẫn đến tranh chấp phức tạp, kéo dài, nhất là trên các vùng biển thuộc khu vực Biển Đông. Trong đó, một số nước lớn không những không tuân thủ nguyên tắc thỏa thuận và công bằng, mà còn áp đặt chủ quan, tự vẽ đường biên giới, ranh giới biển, vi phạm, thậm chí bỏ qua quy định trong các điều khoản của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, gây mất ổn định an ninh trên biển, kéo theo nhiều hệ lụy trong quan hệ tổng thể giữa các nước trong khu vực. Vì vậy, Liên hợp quốc – tổ chức pháp lý quốc tế cao nhất, cần phát huy vai trò trong duy trì luật pháp quốc tế để bảo đảm công bằng quyền lợi cho các quốc gia có biển. Mặt khác, các quốc gia cũng cần tăng cường đấu tranh với những tư tưởng, hành động bá chủ, cường quyền trên biển, ảnh hưởng đến môi trường hòa bình, ổn định của khu vực.

Lập trường của Việt Nam về vấn đề phân định biển. Khoản 3, Điều 4 Luật Biển Việt Nam 2012 khẳng định: Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế. Trong thực tiễn phân định biển với các nước liên quan, lập trường nhất quán của Việt Nam là căn cứ luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tính tới các hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên trong khu vực phân định để đạt được một giải pháp công bằng mà các bên đều chấp nhận được.

Phân định biển là cơ sở quan trọng hàng đầu nhằm giữ vững ổn định, hòa bình trên biển để các quốc gia khai thác nguồn lợi từ biển phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Vì vậy, Liên hợp quốc và các quốc gia có biển cần nỗ lực để phân định biên giới biển, ranh giới biển dựa trên nguyên tắc thỏa thuận và công bằng, góp phần xây dựng một môi trường biển an ninh, an toàn, hòa bình, ổn định bền vững.

BDN

Loading

Views: 0

Indonesia: Quốc hội hối thúc chính phủ ‘đặc biệt quan tâm’ đến Biển Đông

Phó Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Nhân dân (MPR – Quốc hội) Indonesia, ông Syarief Hasan cho rằng nếu xảy ra xung đột tại Biển Đông, tất cả các nước Đông Nam Á, trong đó có Indonesia, sẽ chịu tác động.
Quốc hội Indonesia hối thúc chính phủ “đặc biệt chú ý” đến Biển Đông.
Phó Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Nhân dân (Quốc hội) Indonesia, ông Syarief Hasan hối thúc chính phủ “đặc biệt quan tâm” đến Biển Đông. (Nguồn: NUSA Daily)

Phó Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Nhân dân (MPR – Quốc hội) Indonesia, ông Syarief Hasan đã lên tiếng hối thúc chính phủ nước này “đặc biệt quan tâm” đến vùng biển Bắc Natuna (tên được Indonesia đặt cho một phần Biển Đông) trong bối cảnh đối đầu gia tăng giữa Trung Quốc và Mỹ tại vùng biển này.

Theo hãng thông tấn chính thức Antara, trong một tuyên bố ngày 7/1, Phó Chủ tịch Quốc hội Syarief Hasan nhấn mạnh: “Chính phủ cần cảnh giác tới vùng biển Bắc Natuna trong bối cảnh Biển Đông – khu vực tiếp giáp với Biển Bắc Natuna – đang “nóng” lên từng ngày với cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ”.

Theo ông Syarief, cần tăng cường lực lượng quân đội tại Bắc Natuna để bảo vệ lãnh thổ Indonesia trong trường hợp nổ ra xung đột. Nếu điều đó xảy ra, tất cả các nước Đông Nam Á, trong đó có Indonesia, sẽ chịu tác động.

Phó Chủ tịch Quốc hội Syarief nhấn mạnh: “Do vậy, chính phủ Indonesia phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng sức mạnh quân sự nhằm giảm thiểu, thậm chí ngăn chặn tác động trong trường hợp xảy ra xung đột”.

Ông Syarief cho rằng không nên xem nhẹ cuộc đối đầu nói trên và việc Trung Quốc đơn phương đưa ra các yêu sách tại Biển Đông dựa trên “đường 9 đoạn” khiến Mỹ cũng phải can thiệp và “có khả năng sẽ biến thành xung đột giữa hai cường quốc tại Biển Đông”.

Do đó, chính phủ cần xây dựng sức mạnh quân sự để mang lại cảm giác an toàn, chống các hành vi bắt nạt và củng cố nền quốc phòng Indonesia, đặc biệt là ở các khu vực biên giới.

Tuy nhiên, ông Syarief cũng yêu cầu chính phủ ưu tiên giải pháp ngoại giao nhằm tránh khả năng xảy ra xung đột, đặc biệt là ở Biển Đông giáp với Biển Bắc Natuna.

“Chính phủ cần ưu tiên cách tiếp cận ngoại giao như dưới thời Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono, theo đó xây dựng nền ngoại giao với tinh thần “triệu người bạn, không có kẻ thù”, ông Syarief nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo Phó Chủ tịch Quốc hội Syarief, nếu xảy ra xung đột, Indonesia sẽ phải tăng cường quân sự để duy trì an ninh quốc gia và bảo vệ lãnh thổ.

TG&VN

Loading

Views: 0

Chuông chiều trên biển Trường Sa

Có một bức ảnh luôn thu hút mọi người vào những dịp triển lãm, bức ảnh tôi chụp đâu năm mới 2019, sư trụ trì chùa Trường Sa rạng rỡ, ân cần mừng tuổi em nhỏ đang được ẵm bồng trong vòng tay mẹ. Có một bức ảnh luôn thu hút mọi người vào những dịp triển lãm, bức ảnh tôi chụp đâu năm mới 2019, sư trụ trì chùa Trường Sa rạng rỡ, ân cần mừng tuổi em nhỏ đang được ẵm bồng trong vòng tay mẹ.

Đạo và đời trên đảo

Giản dị thế, song, dường như có những cảm xúc, năng lượng mặc nhiên và đặc biệt lắm nên cứ hút mắt, níu lòng người xem. Hình ảnh ấy khiến tôi nhớ tới không khí xuân trên đảo, vào ngày đầu năm mới, mọi người đều lên chùa lễ Phật, sum vầy, chúc nhau mọi sự an lành, hoan hỉ.

Tôi có cơ hội chứng kiến khung cảnh thật bình yên khi thầy trụ trì Thích Tâm Tánh chuẩn bị mọi nghi lễ cho đến quà mừng tuổi cho mọi người giống như trên đất liền. Đặc biệt, vào những ngày tuần rằm, thầy thường nấu những bát chè thơm ngon, xếp đặt thật ngay ngắn ra bàn và ngồi cạnh đó chờ đợi. Ngoài các loại chè từ hạt như kê, đỗ, lạc, chùa còn có đặc sản chè bưởi. Đơn giản bởi đó là loại quả có thể giữ được suốt thời gian cả tháng trời chuyến từ đất liền ra. Vỏ bưởi đã ngả màu vàng vẫn được sư thầy lau cho sạch sẽ, bóng bẩy dâng cúng. Sau lễ, ruột bưởi được thụ lộc, chia mỗi nơi một chút còn cùi dành để nấu chè. Bếp nhà chùa nấu những bát chè nho nhỏ, chỉ bằng nửa bát ở đất liền

Có lần, đi ngang qua chiếc bàn đặt đầy chè bưởi, tôi tần ngần giây lát, cũng muốn thử lắm, nhưng lại dấy lên cảm xúc không dám, không nỡ. Ấy là phần quà thảo thơm, mộc mạc nhà chùa dành cho các chú lính đi tập luyện, tăng gia, canh gác mệt nhọc trở về sẽ lên chùa ăn.

Ở đảo Song Tử Tây, sau nhiều ngày sư thầy về đất liền “nghỉ phép” trở lại chùa, trẻ con cứ quấn quýt vị trụ trì nửa bước không rời. Chúng đòi thầy kể chuyện và dỏng tai lắng nghe sư thầy hỏi chuyện, ngoan ngoãn đáp lại như bầy chim non. Thường ngày, ngoài giờ kinh kệ, thầy vẫn đá cầu, chuyện trò thăm nom người dân, bộ đội.

Còn vị trụ trì chùa Nam Huyên trên đảo Nam Yết đã nhiều năm làm công việc Phật sự trên đảo vẫn giữ tâm nguyện được tiếp tục gắn bó với nơi này. Mỗi đảo, chỉ một thầy chùa lo nhang khói, chăm sóc cảnh quan, tăng gia trồng trọt. Có thể nói, đó là một trong những con người vất vả nhất.

Hàng năm, Giáo hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa đều cử các chư tăng ra sáu ngôi chùa ở huyện đảo Trường Sa làm nhiệm vụ Phật sự. Hầu hết các vị trụ trì khi đã ra nơi đầu sóng đều xem đó như một cơ duyên và thành tâm phát nguyện tiếp tục được lưu lại.

Chuông chiều trên biển Trường Sa ảnh 1

Hiện huyện đảo Trường Sa có 6 ngôi chùa

6 ngôi chùa ở Trường Sa

Quần đảo Trường Sa chùa nào cũng đẹp, mỗi nét chùa một vẻ rất riêng. Điểm chung của các chùa trên quần đảo đều thiết kế như những ngôi chùa trong đất liền, đều nhìn ra biển, hướng về thủ đô Hà Nội, nhiều hoa văn điêu khắc có hình sóng biển, số gian lẻ, mái cong, sử dụng nhiêu loại gỗ quý chịu được môi trường khắc nghiệt… Ngoài thờ Phật, các chùa đều có ban thờ anh hùng liệt sĩ những con người đã anh dũng hi sinh đế bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tố quốc…

Chùa Trường Sa nằm ngay vị trí trung tâm đảo. Đặt chân xuống cầu cảng đã thấy cổng chùa uy nghiêm cạnh quảng trường, cột mốc chủ quyền và nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại đức Thích Giác Nghĩa, vị trụ trì đầu tiên của chùa người Huế. Sau ba lần tới đảo Trường Sa làm lễ cầu siêu, người coi việc ra được đây như mối thiện duyên lớn. Chính điện chùa Trường Sa treo bức thư pháp tiếng Việt, theo lối thảo thư, trong đó có bài thơ mang tên “Đi” vói những câu: “Hãy ra đi vì biên cương biển đảo/ Đi ra đi cưỡi sóng vượt trùng dương/ Đi đi. Đi cho yên bình hiện hữu. Đi bước đi để củng cố sơn hà”. Đó là bài thơ thầy Thích Tâm Tri tặng trụ tri chùa khi người quyết định ra đảo.

Chùa Vinh Phúc ở đảo Phan Vinh tọa lạc ngay gần biển, cổng chùa cách bờ biển chỉ vài mét, phía Tây là trạm ra đa T44. Phật điện chùa Phan Vinh có pho tượng Phật ngọc. Các pho tượng trong chùa đều bằng đá thạch anh trắng và một pho tượng thạch anh hồng cao cả mét. Cảm giác khi đặt chân tới cửa chùa Vinh Phúc luôn là sự chói chang, huy hoàng, rực rỡ. Từ bên trong sân nhìn ra sẽ thấy hai cột sừng sững, cảnh vật uy nghiêm và mái chùa cong cong in trên nên biến xanh như bức tranh pha trộn nhiều sắc thái.

 

Trong khi đó, chùa Nam Huyên trên đảo Nam Yết được che phủ bởi nhiều cây xanh. Phật điện chùa có pho tượng Phật ngọc. Cùng với các công trình nhà văn hóa, tượng đài, trạm hải đăng… là quần thể kiền trúc, lịch sử, văn hóa, đã tạo nên sức sống mãnh liệt và cũng yên bình trên đảo dừa thơ mộng.

Ở đảo Sơn Ca, chùa Sơn Linh tọa sát mép sóng, luôn cho ta cảm giác êm đêm, dìu dặt. Chùa có kiến trúc thuần Việt với mái ngói cong vút, các bộ hoành phi, câu đối được trạm trổ cầu kỳ.

Chùa Song Tử Tây uy nghi, trầm mặc, phía sau là ngọn hải đăng. Xung quanh chùa, những cây phong ba, bàng vuông chạm tán vào nhau, không chỉ hoa trái mà đến lá cây cũng tỏa hương dịu mát, ngọt lành.

Riêng chùa trên đảo Sinh Tồn, tôi cho đó là không gian quy tụ nhiều nét đặc biệt nhất. Đảo nhỏ chật hẹp nhưng chùa quyện cảm giác tâm linh đặc quánh. Đây là ngôi chùa thờ bài vị của 64 liệt sĩ hi sinh tại đảo Gạc Ma trong cuộc chiến ngày 14-3-1988. Sân chùa cũng có bia về những người con đất Việt kiên trung bất khuất đã kết thành vòng tròn bất tử. Pho tượng phật A- di-đà tọa trên hòn giả sơn ngoài sân chùa hướng về phía biển. Tôi luôn cỏ cảm giác tâm mình chùng xuống, nặng trĩu. Những bông súng nở trong những ang nước ngọt trong khuôn viên chùa cánh đăng đối ngoài sắc màu tím, đỏ, trắng, vàng còn như chứa cả hào quang. Mỗi nén hương thắp lên tại đây đều quyện luôn vào bia đá, cỏ cây rồi bay bổng chạm tới mái chùa.

Chuông chiều trên biển Trường Sa ảnh 2

Chư Tăng luân phiên ra các ngôi chùa để hướng dẫn, cử hành các nghi lễ tâm linh truyền thống

Những ngôi chùa được dựng bằng niềm tin

Cách đây nhiều năm, tôi lên các đảo, thấy các chùa ở Trường Sa đang bắt đầu được kiến tạo, sân chùa còn chưa hình thành, chỉ toàn ngổn ngang gỗ, đá, vật liệu… Quy hoạch một ngôi chùa trên đảo rất khó khăn vi diện tích đảo có hạn. Những bức tượng to được cẩu ra, đóng trong khung giá bằng gỗ, nhìn thôi đã biết rất nặng, rất công phu. Tôi băn khoăn không hiểu những pho tượng ấy được đưa lên đảo bằng cách nào. Câu hỏi ấy, khi nghe tôi thổ lộ, mọi lực lượng trên các đảo đều nói, họ đưa tượng lên bằng sức lực, niềm tin và lý trí. Ở đây, chẳng có loại phương tiện hay máy móc thiết bị nào thay thế được con người.

Trước khi quần đảo Trường Sa có chùa, tôi từng đặt câu hỏi, đời sống tâm linh trên đảo nếu thiếu một ngôi chùa thì sẽ diễn ra như thế nào? Những con người ở đây, khi nghe từ trong đất liền báo tin lành, tin dữ về người thân, họ mạc, quê hương bản xứ… thì họ tìm đâu ra chốn nương tựa tâm linh. Có lẽ, đó cũng là một trong những lý do lớn để chỉ trong ít năm, sáu ngôi chùa của quần đảo được hiện hữu và các trụ trì đầu tiên bắt đầu hành trình ra đảo. Những người lính luôn được trang bị về ý chí, tư tưởng, song tôi tin vê mặt sâu thẳm đời sống tinh thần của mỗi con người, chắc chỉ có mái chùa mới giải quyết được. Bộ đội nghe tin người thân mất mà không thể về đất liền chịu tang, lên chùa cùng nhà chùa làm lễ. Mỗi đứa trẻ được sinh ra ở đất liền mà chỉ mỗi mình người mẹ trong cơn vượt cạn, người bố ở đảo xa cũng lên chùa làm lễ cầu bình an.

Có những buổi chiều, tôi nghe tiếng chuông chùa vang vọng giữa bao la mênh mông. Tiếng chuông ấy hòa vào tiếng sóng, cứ trầm ngấm vang lên. Chuông chiều đánh dấu lại một ngày đã qua di, lòng người được chùng xuống nghỉ ngơi đôi chút. Điều đặc biệt của sáu ngôi chùa trên quần đảo là giờ thỉnh chuông đều bắt đầu từ lúc 5 giờ sáng, và 18 giờ 30 phút chiều. Nghĩa là, sau một giấc ngủ trọn vẹn, lúc ánh ngày đầu tiên vừa lóe rạng, sẽ vang lên tiếng chuông thức tỉnh con người. Tiếng chuông vừa nhắc họ ngày mới bắt đầu, cũng nhắc nhớ tâm tưởng hướng thiện, an lành. Tiếng chuông mở ra cánh cửa tâm linh giữa bốn về sóng gió, khép lại một ngày sẽ lại vọng ngân.

Có lẽ, khắp Tổ quốc này, chỉ ở quần đảo Trường Sa, tiếng chuông mới hòa vào tiếng sóng đêm ngày da diết. Cảm giác tiếng chuông nơi đây như một sự hiện hữu linh thiêng về thi ảnh, vừa xa xăm vừa cụ thể. Đôi khi, cảm giác lòng ta khi căng mở sẽ chạm vào được, giống ở quê vẫn thấy khói lam chiều.

BDN

Loading

Views: 0

VN có vũ khí gì để bảo vệ biển đảo?

Năng lực quốc phòng được nâng cấp từng bước hiện đại, giúp Việt Nam tăng cường khả năng tự vệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo.

Ngày 9/2/2007, BCH TƯ khóa 10 ban hành Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” với mục tiêu tổng quát, đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Cụ thể hoá các mục tiêu này trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều văn bản để quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, vùng biển đảo của Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự trên khu vực biên giới biển. Qua 10 năm triển khai, Chiến lược biển giúp Việt Nam đạt được các thành tựu quan trọng.

Về bảo vệ chủ quyền biển đảo, Việt Nam cơ bản đảm bảo được các mục tiêu cơ bản trên Biển Đông là giữ được môi trường hoà bình, ổn định để tập trung phát triển kinh tế; bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ đã có, quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo luật pháp quốc tế; tranh thủ thúc đẩy quan hệ nhiều mặt với các nước và bạn bè quốc tế, góp phần gia tăng vị thế Việt Nam.

Với công tác ngư dân, các lực lượng chức năng đã tích cực hỗ trợ, đảm bảo an ninh, an toàn cho ngư dân hoạt động tại các vùng biển truyền thống; thành lập tổ tàu thuyền an toàn, bến bãi an toàn; tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân.

Các hoạt động này góp phần xử lý các tình huống về an ninh trật tự, ngăn chặn các hoạt động vi phạm của tàu thuyền nước ngoài xâm phạm vùng biển Việt Nam và tàu cá, ngư dân Việt Nam vi phạm vùng biển các nước.

Quan hệ đối tác, hợp tác quốc tế về quốc phòng được mở rộng. Các đối tác quan trọng của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ… cung cấp, hỗ trợ tàu tuần tra, nâng cao năng lực giám sát biển cho nước ta. Năm 2018, lần đầu tiên Việt Nam tham gia tập trận RIMPAC.

Tàu chiến của các nước ghé thăm cảng của Việt Nam với tần suất nhiều hơn, đa dạng hơn như sự kiện tàu chiến Nga thăm cảng Cam Ranh, tàu chiến Pháp cập cảng Sài Gòn, tàu chiến Anh, Nhật thăm Việt Nam cũng trong năm 2018.

Nâng cấp năng lực quốc phòng

Nhờ chương trình hiện đại hoá quốc phòng, đến nay Việt Nam đã sở hữu một số loại vũ khí chiến lược như thế hệ máy bay chiến đấu tiên tiến như Su-30MK2, Su- 27UBK Flankers và Su-22M3 Fitters, tàu ngầm tấn công lớp Kilo, các tàu chiến mặt nước lớp Gepard.

Hải quân Việt Nam sở hữu lực lượng phòng thủ bờ biển nhiều tầng lớp, hiện đại đủ sức ngăn chặn các trường hợp xâm nhập, đổ bộ từ đường biển như hệ thống tên lửa chống hạm P5 Pyatyorka, hệ thống phòng thủ bờ biển K-300P Bastion-P…

Các khu kinh tế – quốc phòng đã và đang phát huy hiệu quả trên nhiều mặt, góp phần tạo nên diện mạo, thế và lực mới cả về chính trị, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của Tổ quốc.

Các đoàn kinh tế – quốc phòng đã chủ động phối hợp với địa phương tiến hành khảo sát, quy hoạch, đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, kết hợp tổ chức, bố trí lại dân cư trên địa bàn, từng bước hình thành các thôn, bản, điểm, cụm dân cư tập trung trên vành đai biên giới, địa bàn xung yếu, tạo hành lang bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Những khu kinh tế – quốc phòng đã trở thành nhân tố không thể thiếu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, góp phần quan trọng vào xây dựng “thế trận lòng dân”, tăng cường niềm tin của đồng bào các dân tộc với Đảng, Nhà nước; tạo nền tảng cho xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân vững mạnh trên địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo của Tổ quốc.

Kết quả 10 năm thực hiện Chiến lược biển là bài học quý gợi ý cho việc xây dựng một tư duy về biển trong thời gian tới. Trên mặt trận an ninh – quốc phòng, bên cạnh các hoạt động cụ thể trên thực địa, cần tăng cường mở rộng mạng lưới bạn bè, đối tác hợp tác trên biển, mở rộng các hoạt động ngoại giao, pháp lý tuyên truyền, góp phần tạo nên hệ thống quốc phòng trên biển nhiều tầng nấc để bảo vệ chủ quyền và các quyền lợi hợp pháp của nước ta ở Biển Đông.

BDN

Loading

Views: 0

Họ đang châm ngòi cho hành động xâm lược!

Một mệnh lệnh chiến đấu vừa được phát đi từ Trung Nam Hải cho thấy sự hung hăng của nhà cầm quyền Trung Quốc tiếp tục phơi bày, bất chấp sự trừng phạt kinh tế của Mỹ và sự phản đối của dư luận quốc tế.

Cụ thể, trong mệnh lệnh đầu năm, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ra lệnh choquân đội “sẵn sàng chiến đấu vào bất cứ thời điểm nào”.Tờ South China Morning Post hôm 5/1 dẫn lời ông Tập chỉ đạo quân đội sẵn sàng hành động, không được chậm trễ một giây.

Mệnh lệnh này được phát đi khi lực lượng vũ trang Trung Quốc tiến hành tập trận và huấn luyện quân sự năm 2021, vào ngày 4/1.Ông Tập lệnh choquân đội “tăng cường đáng kể” việc đưa công nghệ vào cuộc diễn tập, nhanh chóng cập nhật các kiến thức về quân sự và công nghệ hiện đại nhất.

Từ khi lên nắm quyền vào cuối năm 2012, Tập Cận Bình đã liên tục thúc đẩy quân đội chuẩn bị cho kịch bản chiến tranh xảy ra. Năm 2015, ông Tập đã tiến hành cuộc cải cách lớn nhằm hiện đại hóa quân đội.

Mệnh lệnh năm 2021 có sự khác biệt so với những mệnh lệnh đầu năm của những năm trước đây. Gần nhất là năm 2020, Trung Nam Hải chỉ đạo quân đội “quản lý khủng hoảng và ngăn chặn chiến tranh”. Còn năm nay, sắc thái, yêu cầu của mệnh lệnh đã khác hẳn.

Theo chỉ lệnh của Thượng cấp, các cuộc tập trận quân sự phải nâng cao hơn nữa sự hợp tác giữa các lực lượng để rèn luyện năng lực tác chiến chung.

Theo các nhà phân tích, năm 2020 đã xảy ra những cuộc ẩu đả quân sự tồi tệ nhất trong nhiều thập niên giữa Trung Quốc với Ấn Độ ở khu vực biên giới phía tây nam. Cho đến nay tình hình căng thẳng trên dãy Himalaya vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Đáng chú ý, quân đội Trung Quốc đã gia tăng hoạt động diễn tập và triển khai máy bay gần đảo Đài Loan. Bắc Kinh muốn dằn mặt Đài Bắcđã bắt tay Washington tăng cường hợp tácquân sự. Ngày 5/1, Cơ quan phòng vệ Đài Loan tổng kết trong năm 2020, máy bay quân sự Trung Quốc đã vào vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở tây nam của Đài Loan tới 380 lần.

Đặc biệt căng thẳng là quan hệ Mỹ -Trung. Sự căng thẳng đó xảy ra ở nhiều lĩnh vực nhưng thể hiện rõ nhất là Trung Quốc phản đối các cuộc tuần tra của Hải quân Mỹ ở Biển Đông.

Ông Tống Trung Bình- nhà bình luận quân sự ở Hồng Kông -nhận xét: Mệnh lệnh đầu năm 2021 của ông Tập cho thấy Bắc Kinh đang ráo riết thực hiện mọi biện pháp để nâng cao khả năng chiến đấu và chiến thắng của quân đội nếu xảy ra chiến tranh.

Rõ ràng Trung Quốc đang thật sự đối diện với nguy cơ chiến tranhlớn. Mệnh lệnh của người đứng đầu Nhà nước và quân đội đã nói lên điều đó. Đây cũng là tuyên bố dứt khoát không thay đổi của Trung Quốc về sự hiện diện bất hợp pháp của họ ở Biển Đông.

Cuối cùng chỉ có những người lính và người thân của họ là thiệt thòi nhất nếu xảy ra chiến tranh. Họ có thể phải đánh đổi mạng sống chỉ vì sự tham lam của nhà cầm quyền muốn chiếm gọn các đảo lớn nhỏ trên Biển Đông, nằm trong vòng ôm mộng mị của “đường chín đoạn”.

Trung Quốc từng đe dọa: “Nếu Việt Nam mạo hiểm tiến vào đường chín đoạn thì chắc chắn sẽ có sự đối đầu ở Biển Đông”. Ô hay sao lại lấy cái “đường” đứt đoạn nhố nhăng ấy làm căn cứ mặc cả. Sao lại “khai thác chung” trong vùng vốn là đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và một số nước khác?

Vẫn cái bài cùn ấy nói tái nói hồi hòng đánh lừa dư luận thế giới và nhân dân Trung Quốc. Cái mệnh lệnh đầu năm đầy hiếu chiến của Tập Cận Bình thực chất là hành động châm ngòi cho một cuộc xâm lược. Nó bóc trần âm mưu xấu xa biến Biển Đông thành ao nhà của Bắc Kinh.

BDN

Loading

Views: 0

TQ gia tăng các hoạt động để độc chiếm Biển Đông

Kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, những căng thẳng tại Biển Đông tiếp tục gia tăng.

Lực lượng hải cảnh Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng ở Biển Đông, đe dọa tàu thuyền các nước.

Các mục tiêu chính sách của Trung Quốc tại Biển Đông năm 2020 vẫn không thay đổi: Thúc đẩy tuyên bố chủ quyền bất hợp pháp, đồng thời tiếp tục làm suy yếu tuyên bố chủ quyền của các nước Đông Nam Á thông qua hoạt động trên thực địa cũng như chính sách nội địa cùng hoạt động tuyên truyền.

Gây hấn trên thực địa

Năm 2020, Trung Quốc tiếp tục sử dụng các tiền đồn trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) để hỗ trợ các hoạt động của hải quân và cảnh sát biển.

Từ những tháng đầu năm, tàu chấp pháp Trung Quốc hiện diện liên tục ở Biển Đông. Tàu cảnh sát biển 5302 của nước này có mặt ở một số thực thể của Trường Sa trong tháng 3.

Lúc 3h sáng 2/4, khi một tàu cá Quảng Ngãi đang hoạt động trên vùng biển Trường Sa thì bị tàu Trung Quốc đâm chìm. Hôm sau, Trung Quốc uy hiếp 2 tàu cá Quảng Ngãi khác đến ứng cứu và đưa về đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa của Việt Nam, rồi chiều tối mới thả 2 tàu này và 8 ngư dân của tàu cá bị đâm chìm ngày 2/4.

Học giả Derek Grossman, Viện RAND (Mỹ) cho rằng vụ tàu hải cảnh Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam cho thấy “Trung Quốc sẵn sàng sử dụng vũ lực để đảm bảo yêu sách Biển Đông”.

Ngày 23/4, tàu hải quân Philippines tuần tra ở khu vực mỏ dầu Malampaya bị tàu chiến 541 của Trung Quốc chĩa rađa vào. Ngày 5/5, 3 tàu cảnh sát biển Trung Quốc xuất hiện gần bãi cạn Scarborough ở Biển Đông. Cách đó khoảng 40 hải lý, một tàu của Philippines đang khoan thăm dò. Ngoài ra, lực lượng hải cảnh Trung Quốc đã tịch thu trái phép thiết bị đánh bắt cá tổng hợp của 1 ngư dân Philippines. Bộ Ngoại giao Philippines đã gửi công hàm ngoại giao phản đối hành động này.

Ở khu vực Bồn trũng Nam Côn Sơn, Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam khi sáng 15/7, tàu cảnh sát biển Trung Quốc lần thứ 4 tiến vào lô 06.01 mà Việt Nam đang tiến hành hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí.

Ngoài ra, Trung Quốc còn triển khai các máy bay trinh sát trên đá Chữ Thập (quần đảo Trường Sa của Việt Nam). Trang tin Jane’s (Anh) ngày 12/5 trích dẫn hình ảnh vệ tinh cho thấy các máy bay của hải quân Trung Quốc hiện diện trên đá Chữ Thập, gồm 1 máy bay chống ngầm KJ-200, 1 máy bay cảnh báo sớm KJ-500 và 1 trực thăng Z-8.

Trong tháng 8, quân đội Trung Quốc triển khai máy bay ném bom H-6J tới đảo Phú Lâm. Tháng 10, họ điều động tàu và máy bay để theo dõi tàu khu trục mang lên lửa dẫn đường John S. McCain của Mỹ, khi tàu này tiến hành hoạt động tự do hàng hải (FONOP) gần Hoàng Sa.

Dùng pháp luật nội địa để củng cố yêu sách trái phép

Thành lập “khu Tây Sa” và “khu Nam Sa”

Ngày 18/4, Bộ Dân chính Trung Quốc ngang nhiên thông báo Quốc Vụ viện vừa phê chuẩn thành lập cái gọi là “khu Tây Sa” và “khu Nam Sa” thuộc thành phố Tam Sa, tỉnh Hải Nam.

Cũng theo phía Trung Quốc đưa tin, “khu Tây Sa » quản lý các đảo thuộc quần đảo Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) và bãi Macclesfield (quần đảo Trung Sa) và vùng nước phụ cận.

Trung Quốc đặt cái gọi là “chính quyền khu Tây Sa” đóng tại đảo Phú Lâm – cấu trúc lớn nhất thuộc Hoàng Sa, còn “khu Nam Sa” “quản lý” các đảo thuộc quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa của Việt Nam) và vùng nước phụ cận, cái gọi là “chính quyền khu Nam Sa” đóng tại đá Chữ Thập – một cấu trúc thuộc Trường Sa mà Trung Quốc đã quân sự hoá gần đây.

Đẩy mạnh hoạt động dân sinh trên đảo nhân tạo

Trung Quốc đang xây dựng khả năng tự cung tự cấp cho các thực thể nhân tạo chiếm đóng phi pháp trên Biển Đông nhằm đưa thêm người, gồm cả binh sĩ và “dân thường” ra đồn trú.

Hải quân nước này bắt tay với Đại học Trùng Khánh để thử nghiệm công nghệ mới trên mảnh đất rộng 300m2 ở Phú Lâm, sau 1 tháng thu hoạch được hơn 750kg rau xanh nhờ công nghệ trồng trên cát. Công nghệ này sẽ được nhân rộng ra các thực thể khác bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép trên Biển Đông.

Công bố danh xưng tiêu chuẩn cho các thực thể

Ngày 19/4, Bộ Tài nguyên thiên nhiên và Bộ Dân chính Trung Quốc công  bố cái gọi là “danh xưng tiêu chuẩn của 25 đảo, đá trên Biển Đông” và “55 thực thể địa lý dưới đáy Biển Đông”.

Các thực thể này tập trung chủ yếu ở phần phía tây Biển Đông, nằm dọc theo cái gọi là “đường lưỡi bò”. Đáng chú ý, trong những thực thể này có những bãi cạn nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, có điểm chỉ cách bờ biển Việt Nam chưa đầy 60 hải lý hoặc đường cơ sở Việt Nam khoảng 50 hải lý.

Danh sách 80 thực thể được đăng trên website của Bộ Dân chính Trung Quốc. Thay đổi khái niệm “vùng biển ven bờ”

Trung Quốc mới đây công bố bản sửa đổi (có hiệu lực từ ngày 1/8) “Quy tắc kỹ thuật để kiểm tra theo luật định tàu biển trong các chuyến đi nội địa” ban hành từ năm 1974.

Trong văn bản này, Trung Quốc đã thành lập cái gọi là “Vùng hàng hải Hải Nam – Tây Sa”. Vùng này nằm giữa 2 điểm trên đảo Hải Nam và 3 điểm trên quần đảo Hoàng Sa.

Trung Quốc cũng thay đổi thuật ngữ, gọi khu vực này là “vùng ven biển”, thay cho cụm từ “vùng biển ngoài khơi” trước đây. Trong khi đó, các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không có khả năng tạo ra vùng đặc quyền kinh tế để tạo ra “vùng ven biển” như Trung Quốc nhận định.

Công bố luật Cảnh sát vũ trang mới sửa đổi

Ngày 20/6, Chủ tịch Trung  Quốc Tập Cận Bình ký lệnh công bố luật Cảnh sát vũ trang mới sửa đổi. Luật mới quy định rõ cảnh sát vũ trang chịu trách nhiệm thực thi quyền chấp pháp trên biển thông qua lực lượng Cảnh sát biển.

Theo luật này, cảnh sát biển được tích hợp nhiều hơn nữa vào lực lượng quân sự, tham gia huấn luyện, tập trận và cứu hộ, cứu nạn chung với Hải quân, và trong tình huống khẩn cấp, Quân ủy TƯ sẽ nắm quyền điều hành Cảnh sát biển.

Động thái này nhằm tăng cường sự hợp tác giữa Cảnh sát biển và quân đội, với mục đích tăng cường áp lực lên Biển Đông cũng như các vùng tranh chấp khác. Giới quan sát quốc tế nhận định, với luật sửa đổi, Cảnh sát biển thực sự là “lực lượng hải quân thứ hai của Trung Quốc” trên biển.

Công bố dự thảo luật, trao nhiều đặc quyền cho Hải cảnh

Dự luật Hải cảnh được Bắc Kinh công bố trên trang mạng của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc ngày 4/11 để trưng cầu ý dân cho đến ngày 3/12.

Dự luật này trao quyền cho lực lượng Hải cảnh, bao gồm cả việc sử dụng vũ khí, khi chủ quyền quốc gia, quyền chủ quyền và quyền tài phán bị các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài xâm phạm trên biển hoặc đối mặt với nguy cơ sắp bị xâm phạm bất hợp pháp.

Hải cảnh được đưa các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã bồi lấp, cải tạo và xây dựng trái phép trên Biển Đông vào trong phạm vi bảo vệ của lực lượng này…

Hải cảnh được dỡ bỏ các công trình do nước ngoài xây dựng tại những vùng biển thuộc “quyền quản lý” của lực lượng này. Ngoài ra, Hải cảnh còn được tịch thu và tiêu hủy tàu nước ngoài nếu họ “xâm phạm trái phép vùng biển” của Trung Quốc.

Có thể thấy, dự luật là bước đi nhằm tăng cường sự hợp tác giữa Hải cảnh và Hải quân Trung Quốc, tạo tiền đề cho phép Hải cảnh tăng cường hiện diện trên các vùng biển.

Cấm đánh bắt cá

Lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông bắt đầu từ 12h ngày 1/5 đến 12h ngày 16/8, phạm vi cấm trải dài từ vùng biển phía Bắc Biển Đông đến 12 độ vĩ Bắc, bao gồm cả một phần vịnh Bắc bộ và quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Tuyên truyền về yêu sách chủ quyền sai trái

Trung Quốc tuyên truyền về yêu sách chủ quyền phi lý ở Biển Đông thông qua rất nhiều cách thức như cài cắm “đường lưỡi bò” trong các tài liệu hội thảo…

Ngày 16/3, trên trang Facebook và Twitter của Đại sứ quán Trung Quốc tại Italy, một bài viết nói về tình đoàn kết giữa hai nước đã đính kèm hình ảnh “đường lưỡi bò”.

Họ lồng ghép tinh vi “đường lưỡi bò” trong phim ảnh, với tốc độ lan truyền nhanh chóng, từ phim “Điệp vụ biển đỏ” (tháng 3/2018), “Everest – Người tuyết bé nhỏ” phát hành tháng 10/2019, cho đến phim “Lấy danh nghĩa người nhà” phát hành năm 2020.

Bác bỏ phán quyết, diễn giải UNCLOS theo hướng có lợi

Từ sau khi Tòa trọng tài ra phán quyết năm 2016, các học giả Trung Quốc đã viết loạt bài bác bỏ thẩm quyền của Tòa cũng như giá trị của phán quyết.

Bên cạnh đó, Trung Quốc còn diễn giải các điều khoản liên quan của Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 theo hướng có lợi cho mình. Họ diễn giải điều 8 trong Lời nói đầu ghi nhận: “Các vấn đề không quy định trong Công ước sẽ tiếp tục được điều chỉnh bằng các quy tắc và nguyên tắc của pháp luật quốc tế chung” để khẳng định rằng “UNCLOS không bao trùm mọi vấn đề trên biển”.

Từ đó, Trung Quốc tự diễn giải và áp dụng tập quán quốc tế theo hướng có lợi cho mình, đưa ra các yêu sách về thiết lập đường cơ sở và lãnh hải của một quốc gia quần đảo áp dụng cho quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, hay đưa ra các tuyên bố chủ quyền với “các vùng nước liền kề” và quyền chủ quyền với “vùng biển liên quan”, là các khái niệm không hề xuất hiện trong luật pháp quốc tế.

Hướng sự chỉ trích vào bên ngoài , đặc biệt là Mỹ

Các bài viết của tác giả Trung Quốc đều đưa đến kết luận rằng Mỹ là nhân tố then chốt “phá hỏng cục diện hòa bình ổn định” và “quân sự hóa” Biển Đông, hay Mỹ mới chính là nước muốn khống chế Biển Đông thông qua chiêu bài thực thi quyền tự do hàng hải ở vùng biển này.

Trung Quốc sử dụng những hình ảnh đẹp đẽ để truyền bá về một đất nước yêu chuộng hòa bình, có trách nhiệm, tuân thủ pháp luật quốc tế.

Nhưng trên thực tế, những hình ảnh đó và hành động của Trung Quốc không hề tương thích với nhau, những nội dung tuyên truyền của Trung Quốc về Biển Đông đa phần là sai trái, nhưng đẩy mạnh tuyên truyền để những quan điểm sai này ăn sâu vào nhận thức của dư luận trong nước và quốc tế.

BDN

Loading

Views: 0

TQ tập trận dồn dập ở Biển Đông, có tàu sân bay tham gia

Từ ngày 29.12, quân đội Trung Quốc tiến hành cùng lúc 3 cuộc tập trận kéo dài 10 ngày ở Biển Đông, tại vùng biển nằm ở phía đông nam đảo Hải Nam, theo 3 thông báo từ Cục Hải sự Hải Nam.

Tàu sân bay Sơn Đông được cho là sẽ tham gia cuộc tập trận của quân đội Trung Quốc
ở Biển Đông từ ngày 29.12.2020-7.1.2021

Theo 3 thông báo được đăng trên website của Cục Hải sự Trung Quốc, tàu thuyền bị cấm vào khu vực tập trận. Các thông báo không cung cấp chi tiết về cuộc tập trận.

Trong khi đó, một nguồn tin từ Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) tiết lộ với tờ South China Morning Post rằng 3 cuộc tập trận nói trên đã được lên kế hoạch hơn một tháng và sẽ là cuộc tập trận lớn cuối năm.

Nguồn tin còn tiết lộ tàu sân bay Sơn Đông và chiếc tàu đổ bộ tấn công chở trực thăng thứ 2 thuộc Type 075 sẽ tham gia tập trận. Nhiều vũ khí mới được đưa vào sử dụng trong năm qua cũng sẽ được kiểm tra trong các cuộc tập trận.

Tàu Sơn Đông, tàu sân bay nội địa đầu tiên của Trung Quốc, gia nhập PLA vào cuối năm ngoái và dự kiến sẽ đạt khả năng tác chiến vào đầu năm 2021. Hôm 21.12, Reuters dẫn thông báo của hải quân Trung Quốc cho hay tàu sân bay Sơn Đông cùng 4 tàu hộ tống đã băng qua eo biển Đài Loan, tiến xuống Biển Đông để tiến hành các cuộc huấn luyện định kỳ.

Còn chiếc tàu đổ bộ tấn công thứ 2 thuộc Type 075 đã rời khỏi xưởng đóng tàu ở thành phố Thượng Hải hôm 22.12, theo thông báo từ Cục Hải sự Trung Quốc.

BDN

Loading

Views: 0

Ông Trump ký luật ủng hộ Đài Loan, Tây Tạng, TQ nổi giận

Trung Quốc đã bày tỏ sự giận dữ sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump ký thông qua luật ủng hộ Đài Loan và Tây Tạng.

Ngày 27/12, Tổng thống Trump đã ký thông qua dự luật ngân sách chính phủ trị giá 2.300 tỷ USD. Bên cạnh biện pháp cứu trợ nước Mỹ trong dịch Covid-19, ông Trump cũng thông qua Đạo luật Bảo đảm Đài Loan năm 2020 (TAA) và Đạo luật Chính sách và Hỗ trợ Tây Tạng năm 2020 (TPSA).

Hai luật trên đều có cách diễn đạt khiến Trung Quốc không hài lòng. Ví dụ, TAA có điều khoản thể hiện sự ủng hộ của Mỹ với sự tham gia “có ý nghĩa” của Đài Loan tại các cơ quan của Liên Hợp Quốc, cũng như việc Washington thực hiện các thương vụ bán vũ khí cho hòn đảo. Trong TPSA, Mỹ cho rằng nên có các biện pháp trừng phạt chống lại quan chức Trung Quốc bị cáo buộc can thiệp vào việc chọn người kế nhiệm Dalai Lama, lãnh đạo tinh thần lưu vong của Tây Tạng.

Trung Quốc ngày 28/12 đã nổi giận với động thái từ Mỹ. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên cho biết Bắc Kinh “kiên quyết phản đối” các động thái từ phía Mỹ.

“Quyết tâm của chính phủ Trung Quốc trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh và các lợi ích phát triển là không thể lay chuyển”, ông Triệu nói, đồng thời kêu gọi Mỹ không nên đưa vào hiệu lực những phần nội dung “nhằm vào Trung Quốc” để tránh làm ảnh hưởng tới quan hệ song phương. Ông Triệu cáo buộc đó là những hành động can thiệp vào nội bộ Trung Quốc.

Căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đang leo thang ở mức báo động khi 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới mâu thuẫn trong hàng loạt vấn đề từ Covid-19, Đài Loan, Hong Kong, Biển Đông, công nghệ…

BDN

Loading

Views: 0

Tuyên bố mới về chủ quyền của TQ ở Biển Đông

Bãi Cát, Đá Ngầm, Và Thung Lũng Ngầm Dưới Biển: Những Tuyên Bố Chủ Quyền Mới Của Trung Quốc Ở Biển Đông

Vào khi những căng thẳng đang gia tăng ở Biển Đông, Trung Quốc mới đây đã đặt tên và tuyên bố chủ quyền đối với 80 thực thể địa lý không rõ ràng ở vùng nước tranh chấp cùng lúc với việc Bắc Kinh đẩy mạnh chiến dịch lấn lướt của mình nhằm đánh dấu chủ quyền và đẩy các quốc gia khác cũng đòi chủ quyền ở vùng biển này ra ngoài.

Sử dụng hình ảnh vệ tinh và phần mềm vẽ bản đồ, Đài Á Châu Tự Do nghiên cứu những tuyên bố chủ quyền được Trung Quốc công bố hồi tháng 4 năm 2020 và thấy rằng những thực thể này bao gồm các đá, bãi cát, và các bãi đá nhỏ nằm rải rác ngoài khơi của Việt Nam, xung quanh vùng quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp, và quần đảo Trường Sa nơi 6 quốc gia trong khu vực đang đòi chủ quyền. Phần lớn trong số 80 thực thể này hoàn toàn nằm dưới mực nước biển. Không có thực thể nào trong số này đủ tiêu chuẩn để gọi là đảo dù Trung Quốc một mực khẳng định là đảo.

Tại sao Trung Quốc đưa ra những đòi hỏi mới?

Hôm 19/4, Bộ Nội vụ và Bộ Tài nguyên Trung Quốc tuyên bố rằng Uỷ ban Tên Địa lý Trung Quốc đã xác định 80 “đảo” là một phần nhiệm vụ của uỷ ban này để chuẩn hoá các tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

Danh sách tên các thực thể và vị trí địa lý này được đưa ra vào cùng thời gian cuối tuần khi Trung Quốc tuyên bố thành lập hai quận hành chính thuộc thành phố Tam Sa là thành phố được lập trên đảo Phú Lâm ở quần đảo Hoàng Sa. Đây là bước đi mở đường mới nhất mà Bắc Kinh sử dụng để khẳng định chỉ có Trung Quốc có quyền quản lý toàn bộ Biển Đông.

Hai quận hành chính mới bao phủ tổng diện tích hơn 2,5 triệu km vuông bao gồm nước và đá.

Bước đi này (của Trung Quốc) đã bị các quốc gia đòi chủ quyền khác trong khu vực là Việt Nam và Philippines phản đối. Các chuyên gia nói rằng không có cơ sở nào theo luật quốc tế đối với những khẳng định về chủ quyền của Trung Quốc đối với vùng đất và nước cách đất liền Trung Quốc đến hơn 1.000 km. Toà Thường trực Trọng tài Quốc tế vào năm 2016 đã ra phán quyết rằng lập luận về “vùng nước lịch sử” của Trung Quốc là không có hiệu lực.

Vậy tại sao vào lúc này Trung Quốc lại đưa thêm các đòi hỏi mới, bao phủ cả những phần không rõ ràng ở đáy biển? Ông Greg Poling, Giám đốc Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á thuộc Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ở Washington DC, cho rằng câu trả lời hết sức đơn giản. Đó là: chủ nghĩa dân tộc.

“Khi Trung Quốc đối mặt với những chỉ trích về phản ứng của nước này với dịch bệnh COVID-19, bao gồm cả những bất bình liên quan đến những hành động tiếp diễn và sự lấn lướt ở Biển Đông vào giữa khi có đại dịch, Bắc Kinh đã đẩy mạnh thêm chủ nghĩa dân tộc huyênh hoang của mình”, ông Poling nói.

“Việc này có thể giúp ích trong nội địa Trung Quốc. Tuy nhiên về mặt quốc tế, bước đi này chỉ soi rọi thêm ánh sáng vào bản chất tạm thời và mới của Trung Quốc đối với những đòi hỏi về chủ quyền từ xưa của Trung Quốc ở Biển Đông” – Greg Poling.

Đất đai thôi không đủ – Phải đòi cả những thực thể chìm dưới biển

Lần cuối Trung Quốc cập nhật danh sách tên các thực thể ở Biển Đông là vào năm 1983, nhưng một điểm khác biệt lớn lần này là Trung Quốc đã bao gồm nhiều thực thể ở đáy biển – 55 thực thể, bao gồm thung lũng, sườn dốc, dãy núi hay đồi dưới đáy biển thường được gọi là núi ngầm dưới biển.

Theo luật quốc tế, một quốc gia chỉ có thể đòi chủ quyền đối với các thực thể ngầm dưới biển nếu chúng nằm cách đất liền trong vòng 12 hải lý. Phần lớn những thực thể mà Trung Quốc đòi không đáp ứng tiêu chuẩn này.

Một phần lý do mà Trung Quốc đưa ra những đòi hỏi này có thể là để khai thác tài nguyên dưới biển. Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều vào các nghiên cứu và vẽ bản đồ ở biển sâu. Tàu Hải Dương 8, một tàu khảo sát của Trung Quốc, gần đây đã thực hiện việc nghiên cứu đáy biển ở vùng nước gần Malaysia và Việt Nam. Trung Quốc có nhiều tàu nghiên cứu hơn bất cứ quốc gia nào khác vì mục đích này, và mới đây quốc gia này đã tuyên bố là họ đã phá kỷ lục thế giới trong việc trích xuất khí tự nhiên từ đáy biển.

Vậy ai có quyền khai thác tài nguyên ở dưới lòng biển? Julian Ku, Giáo sư thuộc Trường đại học Luật Hofstra ở Hempstead – New York, nói rằng theo Công ước của Liên Hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS), “các quốc gia không có chủ quyền đối với đáy biển, nhưng họ có quyền đặc quyền kinh tế đối với thềm lục địa và thềm lục địa mở rộng của mình”. Điều này có nghĩa là một quốc gia có quyền kiểm soát độc quyền đối với việc khai thác các nguồn tài nguyên ở đáy biển như dầu mỏ, khí đốt tự nhiên và các tài nguyên khác.

Nhưng một số trong những thực thể mới mà Trung Quốc đòi chủ quyền như Wan’an Haidixiaguqun (Nhóm thung lũng ngầm Vạn An), lại rõ ràng nằm trong vùng 200 hải lý cách bờ biển Việt Nam, nghĩa là nằm hẳn trong vùng thềm lục địa của Việt Nam. Trong khi Trung Quốc khẳng định rằng nước này cũng có thềm lục địa trải rộng ra từ quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa bao phủ cả khu vực này, thì lập trường này nếu xét theo mặt pháp lý lại chưa bao giờ được công nhận theo UNCLOS.

Hơn nữa, không có một tiền lệ thực sự nào cho một quốc gia đặt tên cho các thực thể chìm dưới biển như cách mà Trung Quốc đang làm. Chuyên gia Ku trích phán quyết của Toà Công lý Quốc tế đối với vụ kiện giữa Qatar và Bahrain rằng việc đặt tên cho các thực thể chìm dưới biển không có ý nghĩa pháp lý và không thể được nhìn nhận như một dấu hiệu về quyền chủ quyền hay quyền lịch sử đối với một khu vực.

Nhưng Trung Quốc muốn gì khi đặt tên cho những thực thể này vào lúc này?

Olli Suorsa, một nhà nghiên cứu tại trường Nghiên cứu Quốc tế S.Rajaratnam của Singapore, nói rằng có thể việc đặt tên như vậy là nhằm mục đích tâm lý vào lúc có những bất ổn lớn tại khu vực Biển Đông.

“Với những cấu trúc hành chính được đặt ra, Trung Quốc dường như đang áp đặt luật nội địa của nước này đối với các thực thể ngoài biển mà nước này tuyên bố chủ quyền cùng với vùng nước quanh đó thay vì dùng luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS”, ông Suorsa nói.

Trung Quốc tiếp tục gây áp lực buộc Việt Nam và các quốc gia thuộc ASEAN khác không được là đối tác với các nước bên ngoài khu vực hoặc các công ty quốc tế khi khai thác tài nguyên ở vùng biển này.

Đây là lập trường chính mà Trung Quốc đưa ra trong các đàm phán với ASEAN liên quan đến COC ở Biển Đông. Những thảo luận được chờ đợi từ lâu liên quan đến việc điều tiết những hành vi trong khu vực giữa các nước có tuyên bố chủ quyền được bắt đầu vào năm 2017, với hy vọng làm giảm những xung đột. Tuy nhiên, danh sách các thực thể địa lý được Trung Quốc đặt tên mới đây đã làm tăng thêm khó khăn cho các thảo luận này vốn đã bắt đầu có nhiều trở ngại trên nhiều mặt.

“Trung Quốc liên tục thay đổi thực tế trong khi một mực khẳng định là đang duy trì thực trạng. Thực trạng đó được thay đổi mỗi ngày có lợi cho Trung Quốc”, ông Suorsa nói. “Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông đã khiến COC lúc này trở nên không thể”.

Những thảo luận về COC đã bị trì hoãn một lần vào năm nay do đại dịch COVID-19.

Thực thể nổi: Tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa

Trong số 25 thực thể nổi trong danh sách mới mà Trung Quốc đưa ra có 12 thực thể ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo nằm ở phía bắc Biển Đông. Đây là quần đảo do Trung Quốc kiểm soát nhưng cả Việt Nam và Đài Loan đều tuyên bố có chủ quyền. Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam vào năm 1974 trong một trận hải chiến với quân đội của chính phủ Nam Việt Nam lúc đó.

Các chuyên gia nhấn mạnh rằng về mặt kỹ thuật, không có bất cứ thực thể nào trong số 12 thực thể nói trên là những tuyên bố chủ quyền mới vì Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền với chúng trên cơ sở “quyền lịch sử” và vùng nằm trong đường đứt khúc 9 đoạn mà nước này vẽ ra trên một vùng diện tích rộng lớn ở Biển Đông. Đây là vùng mà Trung Quốc nói họ có chủ quyền. Nhưng điều mà Trung Quốc đang làm lúc này là vẽ bản đồ khu vực chi tiết hơn.

Trung Quốc tuyên bố Hoàng Sa là một quần đảo ngoài khơi, và vào năm 1996 đã vẽ đường cơ sở thẳng quanh quần đảo, nối những điểm đầu và cuối của quần đảo, cách vốn thường được làm bởi các quốc đảo nhằm gộp các đảo của họ lại với nhau để xác định đường biên giới trên biển. Bằng cách làm này, Trung Quốc hy vọng sẽ mở rộng hợp pháp vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đối với toàn bộ nửa phần phía bắc của Biển Đông. Điều này đã bị Toà Trọng tài quốc tế tuyên vô hiệu trong một phán quyết vào năm 2016 trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc.

Một trong những thực thể mới, Sanzhizai, là một đê cát mà hình ảnh vệ tinh cho thấy là không có người ở và gần như không nổi lên trên mặt nước bất kỳ lúc nào. Nó nằm giữa Đảo Trung và Đảo Nam, là các đảo cũng không có người ở và được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc đã chiếm đóng tất cả các thực thể không có người ở quanh đó, bao gồm Đảo Bắc, nơi có tiền đồn quân sự và Đảo Cây, nơi có cảng lớn hơn và căn cứ quân sự.

11 thực thể còn lại mà Trung Quốc đặt tên ở Hoàng Sa nằm trong Nhóm Trăng Khuyết, một nhóm các bãi đá và đá, một số trong số này được Trung Quốc nạo vét và xây thành các tiền đồn nằm cách căn cứ chính ở đảo Phú Lâm khoảng 45 hải lý.

Không có thực thể nào do Trung Quốc đặt tên ở Hoàng Sa đủ tiêu chuẩn theo pháp lý được gọi là đảo. Hai thực thể chìm hoàn toàn dưới mặt nước biển. Số còn lại là các bãi cạn hoặc bãi cát. Kuangzai Beidao – hay còn gọi là Đảo Basket Bắc – là một ví dụ. Thực thể này chỉ là một dải đất có bề rộng ít hơn 1/10 mile từ điểm đầu đến điểm cuối. Nó nằm cạnh một đảo nhỏ tý hon mà Trung Quốc chiếm đóng là Bãi Antelope, nơi có một số các toà nhà được xây trên đó.

Theo phán quyết quan trọng của Toà Trọng tài Quốc tế vào năm 2016 về Biển Đông, để đáp ứng định nghĩa về đảo, một thực thể phải có khả năng duy trì sự sống của con người một cách tự nhiên và hoạt động kinh tế mà không cần sự giúp đỡ từ bên ngoài. Kuangzai Beidao rõ ràng là không đáp ứng được yêu cầu này và cũng không có thực thể nào trong danh sách đáp ứng yêu cầu này.

Các thực thể mới khác rõ ràng là nhằm mục đích lấp lỗ hổng giữa và quanh các tiền đồn của Trung Quốc và các đảo nhân tạo. Guangjin Beiyidao và Guangjin Bei’erdao (Đảo Guangjin Bắc thứ nhất và Đảo Guangjin Bắc thứ hai) có thể phân biệt rõ khỏi nhau, và Trung Quốc liệt kê cùng những vị trí địa lý cho cả hai thực thể, nhưng cùng với Guangjin Xidao (Đảo Tây Guangjin) chúng làm thành một ngăn cách cát bên phía tây đảo Duncan, nơi Trung Quốc có cảng và tiền đồn.

HÌnh vệ tinh đảo Duncan hôm 28/4/2020. Guangjin Beiydao, Bei’erdao, và Guangjin Xidao nằm ở phía tây. Guangjin Beiyidao và Bei’erdao có cùng các vị trí địa lý theo danh sách của Trung Quốc, nhưng dựa theo tên của chúng có thể cho rằng chúng là hai bãi cát nằm cạnh nhau phía trên bên trái. Đảo Duncan có cảng cho ngư dân Trung Quốc và hải cảnh.

Các thực thể này dường như là một phần của chiến dịch mà Trung Quốc đang thực hiện để xác định đường cơ sở rõ ràng hơn quanh quần đảo Hoàng Sa, cho phép Trung Quốc dễ dàng gộp tất cả các thực thể ngoài khơi quần đảo này làm một nhóm. Trung Quốc đã yêu cầu các tàu thuyền phải xin phép trước khi đi qua Hoàng Sa. Đây là lý do chính khiến Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện chương trình tự do hàng hải ở Hoàng Sa, gọi đường cơ sở của Trung Quốc quanh Hoàng Sa là kinh khủng.

13 thực thể khác nổi trên mặt nước biển mà Trung Quốc đặt tên thuộc quần đảo Trường Sa, một quần đảo gồm các bãi đá và đảo mà các nước bao gồm Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei cũng đòi chủ quyền. Quần đảo này nằm ở phần phía nam của Biển Đông.

Trường Sa bao gồm Bãi Tư Chính, nơi Trung Quốc và Việt Nam đã có căng thẳng liên quan đến các tàu hải cảnh và dân quân biển của Trung Quốc vào năm 2019. Trường Sa cũng bao gồm Đá Chữ Thập, một căn cứ quân sự chính mà hải quân, hải cảnh và không quân Trung Quốc thường được điều đến.

Các thực thể mới đặt tên này thuộc Trường Sa thực sự rất nhỏ bé, nhưng sau khi bao gồm cả những vị trí địa lý, có thể dễ dàng thấy là Trung Quốc đang tuyên bố chủ quyền đối với chúng. Các thực thể này nằm rải rác quanh Bãi Tây – nơi Việt Nam xây một tiền đồn của mình vào khoảng năm 2013 đến 2016, và bổ sung thêm 2 trạm canh gần đó trong cùng giai đoạn này.

Toàn bộ bãi này gần như không đáng để đặt tên nhưng Trung Quốc cho rằng việc đặt tên cho từng phần của nó như là một phần của Bãi Tây và chuỗi “đảo” Longbi (Dragon’s Nose) là hợp lý. Vì những lý do không rõ ràng, một số những thực thể mini thậm chí còn được đặt tên hai lần với các tên khác nhau. Ví dụ, Xijiao Dongdao (Đảo Đông Bãi Tây) còn được biết với tên Longbi Xidao (Đảo Dragon’s Nose West).

“Dường như đây là sự tưởng tượng của người vẽ bản đồ của chính phủ được lôi ra từ tủ hồ sơ để đóng vào một danh sách mới các tên mà Bắc Kinh trước đó đã phô ra nhằm tỏ dấu hiệu cho thấy sự không hài lòng với Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam liên quan đến những chỉ trích về những căng thẳng gần đây ở Biển Đông”, chuyên gia Poling nói.

Trung Quốc và Việt Nam đã có căng thẳng trong những tháng gần đây sau khi tàu hải cảnh của Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam hôm 3 tháng 4 và sau một loạt những công hàm được các bên có chủ quyền ở Biển Đông nộp lên Liên Hiệp Quốc. Công hàm gần đây nhất mà Trung Quốc nộp lên thậm chí còn chỉ đích danh Việt Nam, yêu cầu Việt Nam phải rút toàn bộ nhân sự và các cơ sở khỏi các đảo và bãi đá mà Việt Nam đã “xâm lược và chiếm đóng trái phép”.

Malaysia và Philippines cũng đã nộp các công hàm phản đối các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc lên Liên Hiệp Quốc. Đây là một sự đoàn kết hiếm có ngay trước khi Trung Quốc tuyên bố hai quận hành chính mới và công bố danh sách 80 thực thể.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ nói gì về việc Trung Quốc tuyên bố trục xuất tàu khu trục John S. McCain ở Biển Đông?

Ngày 23/12, Hải quân Mỹ đã lên tiếng bác bỏ và nói tuyên bố của Trung Quốc về việc hải quân và không quân nước này đã “trục xuất” tàu khu trục John S. McCain khỏi “lãnh hải của Trung Quốc” là sai sự thật.
Mỹ nói gì về việc Trung Quốc tuyên bố trục xuất tàu khu trục John S. McCain ở Biển Đông?
Hải quân Mỹ nói tuyên bố của Bắc Kinh về việc ‘trục xuất’ John S. McCain khỏi ‘lãnh hải của Trung Quốc’ trên Biển Đông là sai sự thật. (Nguồn: US Navy)

Trước đó, ngày 22/12, tờ Thời báo Hoàn Cầu trích dẫn phát biểu của phát ngôn viên Chiến khu Miền Nam Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Tian Junli cho biết, quân đội nước này đã “trục xuất tàu khu trục John S. McCain ra khỏi vùng biển gần quần đảo Trường Sa ở Biển Đông”.

Phát ngôn viên Hạm đội 7, Hải quân Mỹ Đại úy Joe Keiley khẳng định: “Tuyên bố của Trung Quốc về sứ mệnh này là sai sự thật. USS McCain không bị trục xuất khỏi lãnh hải quốc gia nào”.

Trước đó, ngày 22/12, khu trục hạm John S. McCain đã thực hiện chiến dịch “tự do hàng hải” ở Biển Đông.

TG&VN

Loading

Views: 0

TQ cho tàu Hải cảnh và máy bay ném bom áp sát đảo tranh chấp, Nhật Bản khẩn cấp ứng phó

Ngày 23/12, hai tàu Hải cảnh Trung Quốc đã đi vào vùng biển quần đảo tranh chấp Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư). Vào ngày 22/12, các máy bay ném bom của Trung Quốc cũng đã tiếp cận quần đảo này

Tàu công vụ Nhật và Trung Quốc đụng độ nhau trên vùng biển Senkaku/Điếu Ngư.

Theo trang tin Hồng Kông Dongfang ngày 23/12, Bộ Tư lệnh Phòng vệ biển (Hải quân) Nhật Bản hôm nay 23/12 thông báo, Cảnh sát biển Trung Quốc sáng nay đã cho hai tàu Hải cảnh tiến vào vùng biển gần quần đảo Senkaku của Nhật Bản và đã cố gắng tiếp cận các tàu đánh cá Nhật Bản; phía Nhật đã tiến hành cảnh báo xua đuổi.

Vùng 11 của Bộ Tư lệnh Phòng vệ biển Nhật Bản chỉ ra rằng gần đây 4 tàu hải cảnh Trung Quốc đã vào vùng biển ngoài khơi quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Cho đến sáng sớm thứ Tư 23/12, 2 chiếc trong số này đã đi vào vùng biển quần đảo Senkaku; hai chiếc khác tiếp cận cách đảo Taisho (Trung Quốc gọi là Xích Vĩ Dữ) 19-21 km về phía nam.

Bộ Tư lệnh Phòng vệ biển Nhật Bản cho biết đã điều các tàu tới hộ vệ tàu đánh cá Nhật Bản và cảnh cáo, xua đuổi tàu Hải cảnh Trung Quốc rời quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Theo thống kê của cơ quan này, đây là lần thứ 23 tàu Hải cảnh Trung Quốc đi vào quần đảo Senkaku/Điếu Ngư kể từ ngày 9 tháng 12.

Cũng theo Dongfang, ngoài ra, Trung Quốc và Nga đã tiến hành chuyến tuần tra chiến lược đường không chung thứ hai trên Biển Hoa Đông và vùng biển phía Đông Bán đảo Triều Tiên vào thứ Ba (22/12), với các máy bay quân sự trong đó có 6 máy bay ném bom chiến lược. Cục Giám sát và Tham mưu tổng hợp của Bộ Quốc phòng Nhật Bản ngày 23/12 cho biết 4 trong số các máy bay quân sự đã bay đến vùng biển gần quần đảo Senkaku và các máy bay chiến đấu của Lực lượng Phòng vệ trên không (Không quân) Nhật Bản đã bay lên để ứng phó.

Về vụ này, Hiệp hội Phát thanh Truyền hình Nhật Bản (NHK) ngày 23/12 đưa tin, cơ quan Vùng 11 của Bộ Tư lệnh Phòng vệ biển Nhật Bản cho biết 2 trong số 4 tàu Hải cảnh Trung Quốc đang hoạt động ở vùng biển lân cận bên ngoài quần đảo Senkaku vào lúc 3 giờ sáng ngày 23/12 đã đi vào vùng biển cách đảo Taisho (Trung Quốc gọi là Xích Vĩ Dữ) thuộc quần đảo Senkaku từ 19km đến 21km về phía Nam và tiếp cận tàu đánh cá Nhật Bản.

Bộ Tư lệnh Phòng vệ biển Nhật Bản đã triển khai các tàu tuần tra xung quanh các tàu đánh cá để tăng cường cảnh giác và liên tục đưa ra cảnh báo. NHK cho biết, theo thống kê của Nhật Bản, kể từ ngày 9/12, đây là lần thứ 23 tàu hải cảnh Trung Quốc đi vào vùng biển gần quần đảo Senkaku.

Ngoài ra, tờ Sankei Shimbun của Nhật Bản đưa tin, Bộ Quốc phòng Nhật Bản ngày 22/12 tuyên bố Trung Quốc và Nga đã cho 6 máy bay ném bom bay qua Biển Nhật Bản và Biển Hoa Đông; Lực lượng Phòng vệ Trên không (Không quân) Nhật Bản lập tức cất cánh khẩn cấp để ứng phó. Trong số đó, 4 máy bay ném bom của Trung Quốc và Nga đã gặp nhau trên quần đảo Nagasaki Goto ở Biển Hoa Đông, và sau đó bay theo hướng quần đảo Senkaku.

Bài báo cũng cho biết, 4 máy bay ném bom bay về phía quần đảo Senkaku đã đổi hướng ở gần 27 độ vĩ bắc và bay qua eo biển Miyako. Bốn máy bay ném bom này sau khi bay ra Thái Bình Dương đã quay trở lại ngay lập tức, bay qua eo biển Miyako một lần nữa và tiếp tục đi về phía bắc.

Liên quan đến cuộc tuần tra chung của máy bay quân sự Trung Quốc và Nga, Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Katsunobu Kato trong cuộc họp báo sáng 22/12 đã nói, hoạt động bay này của máy bay quân sự Trung Quốc và Nga không được thông báo trước cho Nhật Bản và bày tỏ Nhật sẽ giao thiệp với Trung Quốc và Nga thông qua kênh ngoại giao.

Đáng chú ý, ông Hồ Tích Tiến, Tổng biên tập Thời báo Hoàn cầu – cơ quan ngôn luận chính thức của Trung Quốc ngày 22/12 đã viết trên trang weibo, đe dọa Nhật Bản. Hồ Tích Tiến viết: “Quân đội Trung – Nga hôm nay thực hiện cuộc tuần tra chiến lược trên không lần thứ hai. Biên đội liên hợp gồm 4 chiếc máy bay ném bom H-6K của PLA và 2 chiếc Tu-95 của Nga đã cùng nhau tuần tra trên biển Nhật Bản và biển Hoa Đông; nhiệt liệt ủng hộ.

Mỹ cùng với việc điên cuồng chèn ép Trung Quốc và Nga, đã lôi kéo một số quốc gia để đối kháng địa chính trị. Nhưng chỉ cần Trung Nga dựa lưng vào nhau hiệp đồng đối phó thác thức, trò chơi gây liên minh của Mỹ chỉ là hạng chó mèo. Mỹ muốn ép Trung, Nga sụp đổ chỉ là ảo tưởng”.

Hồ Tích Tiến viết: “Trung Nga hợp tác chiến lược toàn diện, kết đối tác không kết liên minh, đường đường chính chính. Đâu có kiểu bày đàn như chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương của chính quyền Donald Trump. Những kẻ giúp Mỹ cắn Trung Quốc như Australia sẽ phải trả giá. Anh và các nước khác trong Liên minh Ngũ Nhãn thì được lợi lộc gì? London hiện dịch bệnh khốn đốn, bị các nước cắt đứt hàng không, Mỹ lẽ ra phải ra tay cứu giúp, chuyển vaccine tới cứu Anh mới phải, nhưng Washington không làm”.

Ông ta dọa dẫm: “Vị trí địa chính trị của Nhật ở cạnh Trung, Nga không thay đổi được, cần phải hữu hảo với Trung, Nga, chứ không nên tính sai đại cục chiến lược, cố chết bám víu lấy Mỹ. Tóm lại, ai giúp Mỹ “chơi” Trung, Nga cuối cùng đều không kiếm được lợi lộc gì”.

BDN

Loading

Views: 0