Phát biểu trước Quốc hội Đức ngày 19/5 trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh EU về Ukraine vào cuối tháng này, Thủ tướng Đức Olaf Scholz đã gọi cuộc chiến ở Ukraine là cuộc khủng hoảng lớn nhất mà EU từng đối mặt trong lịch sử của mình.
Ông Scholz cũng gọi cuộc chiến này là “một bước ngoặt lịch sử” và cho rằng các thành viên EU phải đương đầu với nó bằng sự đoàn kết.
“Sức ép từ bên ngoài càng lớn thì EU càng cần sát cánh và hành động cùng nhau. Chúng ta đều có một mục tiêu chung, đó là Nga sẽ không giành chiến thắng trong cuộc chiến này. Ukraine phải giành ưu thế”.
Thủ tướng Đức cũng giải thích đó là lý do tại sao Đức cung cấp hỗ trợ cho Ukraine, trong đó bao gồm cả các vũ khí hạng nặng và tiếp nhận người tị nạn Ukraine.
Ông Scholz cho biết, Đức sẽ không tiến hành bất kỳ động thái nào khiến NATO trở thành một phần của cuộc xung đột ở Ukraine. Ông nhấn mạnh Đức sẽ không thực hiện những biện pháp đơn lẻ. “Chúng tôi sẽ không làm bất kỳ điều gì khiến NATO trở thành một bên xung đột”, Thủ tướng Đức khẳng định.
Ngày 19/5, quân đội Trung Quốc bắt đầu tập trận ở Biển Đông, đúng thời điểm Tổng thống Mỹ Joe Biden bắt đầu chuyến công du Nhật Bản, Hàn Quốc.
Một cuộc tập trận của Hải quân Trung Quốc trên Biển Đông.
Văn phòng Cục An ninh Hàng hải Trung Quốc tại tỉnh Hải Nam cho biết cuộc tập trận bắt đầu từ ngày 19/5 và kéo dài tới ngày 23/5. Tất cả máy bay, tàu thuyền dân sự đều bị cấm vào khu vực tập trận.
Ngoài ra, cơ quan này không cung cấp thêm thông tin.
Đầu tháng 5 này, tàu sân bay Liêu Ninh đầu tiên của Trung Quốc đã đi vào Biển Nhật Bản.
Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết tàu sân bay này đang tham gia “huấn luyện chiến đấu bình thường”, tuân thủ các chuẩn mực theo luật pháp quốc tế, nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động, không nhằm vào bất cứ bên nào.
Ngày 18/5, truyền thông Trung Quốc còn đưa tin, Trung Quốc đã điều hai máy bay ném bom tầm xa H-6 có khả năng mang vũ khí hạt nhân bay qua khu vực này.
Trong thời gian này, Tổng thống Mỹ Joe Biden có chuyến công du tới châu Á, thăm Hàn Quốc và Nhật Bản từ ngày 20-24/5 tới, tại đây ông sẽ gặp gỡ lãnh đạo hai nước.
Ngoài ra, tại Tokyo, Tổng thống Mỹ sẽ có cuộc gặp các nhà lãnh đạo trong nhóm Bộ Tứ gồm Mỹ, Australia, Ấn Độ và Nhật Bản.
Bốn quốc gia này cùng chia sẻ quan ngại về Trung Quốc cũng như việc nước này tăng cường các lực lượng vũ trang.
Về phần mình, Trung Quốc cho rằng nhóm Bộ Tứ là một phần trong nỗ lực của Mỹ để cản trở sự trỗi dậy về kinh tế và chính trị của Trung Quốc đồng thời Bắc Kinh cũng tỏ rõ bất bình với những động thái của Washington trong vấn đề Đài Loan.
Maksim Oreshkin, một phụ tá của Tổng thống Vladimir Putin, cho biết nỗ lực của Mỹ nhằm tiếp quản nguồn dự trữ ngũ cốc của Ukraine có thể gây ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo ở nước này và dẫn đến tình trạng thiếu ngũ cốc trên toàn cầu.
Nga lên án phương Tây khiến nguy cơ về nạn đói toàn cầu tăng cao.
Theo quan chức này, một nạn đói toàn cầu có thể bùng phát vào mùa thu tới. Nguyên nhân chính dẫn đến nạn đói toàn cầu tiềm tàng này là do giá lúa mì trên thị trường thế giới tăng, xuất phát từ chính sách tiền tệ “vô trách nhiệm” của Washington, RT trích lời ông Maksim.
“Cho đến khoảng năm 2020, giá lúa mì trên thị trường thế giới vẫn ổn định, nhưng sau khi đồng USD tăng lên, bắt đầu vào khoảng tháng 7/2020, giá bắt đầu tăng mạnh,” ông Maksim nói, đề cập đến các biện pháp của Washington nhằm hạn chế tác động của dịch Covid- 19 đối với nền kinh tế nước này.
Tuy nhiên, theo ông Oreshkin, những hành động gần đây của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden có khả năng khiến tình hình vốn đã nguy cấp sẽ trở nên trầm trọng hơn.
“Trên thực tế, những gì Mỹ đang cố gắng làm với Ukraine hiện nay là lấy đi nguồn dự trữ ngũ cốc mà Ukraine hiện đang sở hữu. Đây chỉ là một hành động khác khiến Ukraine phải đối mặt với các vấn đề nhân đạo nghiêm trọng, nhưng cũng khiến cộng đồng toàn cầu gặp phải những vấn đề lớn”, quan chức này cảnh báo.
Tổng thống Nga Vladimir Putin gần đây cũng tuyên bố rằng mối đe dọa về nạn đói toàn cầu là kết quả từ “nỗi ám ảnh trừng phạt” của phương Tây.
Giá lúa mì đã tăng hơn 60% trong năm nay, với mức tăng đột biến mới nhất gây ra bởi gián đoạn nguồn cung do cuộc xung đột ở Ukraine và các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Moscow. Trong khi đó, 2 nước Nga, Ukraine chiếm gần 1/3 lượng lúa mì xuất khẩu của thế giới.
Tình hình càng trở nên trầm trọng hơn sau khi các nhà cung cấp ngũ cốc lớn là Nga, Kazakhstan và Ấn Độ cấm xuất khẩu để bảo vệ nguồn cung cấp lương thực trong nước.
Theo tin tức từ New Delhi, giá lúa mì kỳ hạn đã tăng 5,9% vào đầu tuần này, đạt mức cao nhất mọi thời đại là 12,68 USD/bushel (tương đương khoảng 36 lít) trên sàn giao dịch hàng hóa Chicago, trước khi điều chỉnh nhẹ trong những ngày tiếp theo. Tại thị trường châu Âu, giá đạt mức cao lịch sử khoảng 461 USD/tấn.
Trước nguy cơ về một nạn đói toàn cầu có thể xảy ra trong năm nay, Liên hợp quốc cũng đã tổ chức một cuộc họp cấp bộ trưởng về an ninh lương thực toàn cầu hôm 18/5, trong đó Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres cho biết các sản phẩm thực phẩm và phân bón từ Nga, Ukraine và Belarus phải được phép bán trên thị trường thế giới nếu cộng đồng toàn cầu muốn ngăn chặn cuộc khủng hoảng lương thực đang diễn ra.
Ông Guterres nhấn mạnh: “Hãy nói rõ rằng, không có giải pháp nào hiệu quả hơn cho cuộc khủng hoảng lương thực ngoài sự tái hòa nhập của sản xuất lương thực Ukraine, cũng như thực phẩm và phân bón do Nga và Belarus sản xuất vào các thị trường thế giới”.
Đầu tháng này, ông Guterres cảnh báo rằng 1/5 nhân loại có nguy cơ đói nghèo do tình hình thị trường ngũ cốc hiện nay, với giá lúa mì tăng vọt sau các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Nga và Belarus.
Tổng thư ký LHQ cũng đề nghị Moscow nên ngừng chặn việc xuất khẩu thực phẩm từ các cảng của Ukraine. Đồng thời, phân bón và các sản phẩm thực phẩm từ Nga cũng nên được phép bán ra thị trường thế giới mà không gặp trở ngại.
Về phía Nga, Phó chủ tịch Hội đồng An ninh Nga ông Dmitry Medvedev mới đây lưu ý Nga sẵn sàng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình, nhưng nước này cũng mong nhận được sự hỗ trợ từ các đối tác thương mại. Theo ông Medvedev, Moscow sẽ không xuất khẩu lương thực, thực phẩm nếu việc này khiến thị trường trong nước bị ảnh hưởng và tổn hại.
Tướng Kenneth Wilsbach, tư lệnh lực lượng phòng không Thái Bình Dương của Mỹ, xác nhận 2 chiến đấu cơ của Mỹ và Trung Quốc đã có cuộc chạm trán trên biển Hoa Đông.
Hai chiến đấu cơ này là Chengdu J-20 của Trung Quốc và F-35 của Mỹ. Đây là hai chiến đấu cơ thuộc thế hệ thứ 5 duy nhất trên thế giới.
Trang tin quân sự Mỹ Military Watch cho biết tướng Mỹ Kennneth Wilsbach đã không cho biết thời gian cụ thể của cuộc chạm trán giữa 2 chiến đấu cơ này.
Trong khi đó, báo South China Morning Post (SCMP) dẫn các nguồn tin từ quân đội Trung Quốc cho biết, các máy bay chiến đấu của Mỹ và Trung Quốc đã vài lần “chạm mặt” ở khu vực biển Hoa Đông.
Trong thời gian qua, Mỹ đã triển khai chiến đấu cơ F-35 tới khu vực Đông Á với số lượng đáng kể. Đó là biến thể F-35A được không quân sử dụng, biến thể F-35B được sử dụng trên các tàu sân bay tấn công của thủy quân lục chiến và biến thể F35-C được sử dụng trên các siêu tàu sân bay của hải quân, trong đó một chiếc bị rơi ở Biển Đông vào tháng 1-2022.
Ba biến thể F-35 này được đưa vào hoạt động lần lượt trong khoảng năm 2014 đến năm 2019.
Chiến đấu cơ F-35 của Mỹ được thiết kế nhẹ, có một động cơ với giá cả phải chăng, sản xuất số lượng lớn và có chi phí hoạt động thấp.
Chiến đấu cơ J-20 của Trung Quốc được cải thiện nhanh chóng kể từ khi đi vào hoạt động năm 2017. Đến tháng 10-2021, J-20 ra mắt thế hệ thứ năm với động cơ mới và biến thể 2 chỗ ngồi đầu tiên trên thế giới.
Cho đến nay, J-20 được trang bị tên lửa không đối không, phục vụ cho các cuộc giao tranh tầm xa và tầm ngắn tương ứng. Chiến đấu cơ này có cùng trọng lượng với chiến đấu cơ hạng nặng thế hệ thứ năm F-22 của Mỹ và Su-57 của Nga với khả năng ném bom chính xác.
Tổng thống Mỹ Joe Biden có chuyến thăm Hàn Quốc và Nhật Bản, trong bối cảnh môi trường an ninh ở khu vực đang ở mức bất ổn nhất trong nhiều thập kỷ.
Những điểm nóng Đài Loan, Triều Tiên, Biển Đông, biên giới Ấn Độ – Trung Quốc, và quần đảo Kuril đều mang hiệu ứng từ xung đột ở Ukraine.
Đài Loan
Với Đài Loan, Mỹ cũng cam kết cung cấp những vũ khí cần thiết để hòn đảo tự bảo vệ, dù không điều quân đến. Đó là bài học rút ra từ Ukraine, đối với Mỹ và các đồng minh, cũng như với Trung Quốc.
“Nói một cách đơn giản, rất khó để các lãnh đạo Mỹ thuyết phục Trung Quốc rằng họ sẵn sàng mạo hiểm với một cuộc chiến ở Đài Loan, để từ đó có nguy cơ sa vào chiến tranh hạt nhân”, Peter Harris, phó giáo sư ngành khoa học chính trị tại ĐH bang Colorado, viết trong bài đăng tuần này.
“Điều này đặc biệt đúng khi Tổng thống Biden từ chối một cách mơ hồ việc cam kết đưa quân đến Ukraine vì lo nguy cơ chiến tranh hạt nhân với Nga”, ông Harris viết.
Tuy nhiên, chuyên gia này cho rằng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và nhiều quốc gia đã sát cánh với Ukraine, bằng cách trừng phạt Nga và viện trợ vũ khí cho Kiev.
Ông cho rằng điều này sẽ khiến Trung Quốc thận trọng hơn với đảo Đài Loan, để tránh nguy cơ bị trừng phạt tương tự.
“Trung Quốc chắc chắn không nghi ngờ việc Nhật, Úc, Hàn Quốc, Philippines và các nước khác ở khu vực sẽ buộc phải nghĩ lại về chiến lược an ninh quốc gia của họ vì sức mạnh ngày càng lớn và các hành động của Bắc Kinh”, ông Harris viết.
Và một phần nhiệm vụ của ông Biden trong chuyến thăm Đông Bắc Á lần này sẽ là đoàn kết khu vực.
Triều Tiên
Triều Tiên đã phóng thử số lượng tên lửa nhiều kỷ lục trong mấy tháng đầu năm nay, và có dấu hiệu cho thấy nước này đang chuẩn bị cho một vụ thử hạt nhân lần đầu tiên kể từ năm 2017.
Những vụ phóng này diễn ra trong bối cảnh đàm phán giữa Triều Tiên và Mỹ về vấn đề phi hạt nhân tiếp tục bế tắc.
Giới quan sát cho rằng Triều Tiên gia tăng phóng thử vũ khí để thu hút sự chú ý của Mỹ nhằm khởi động lại đàm phán.
Một số chuyên gia cho rằng ông Biden có thể giảm mối đe doạ từ Triều Tiên bằng cách tăng cường các quan hệ đối tác của Mỹ ở Thái Bình Dương.
Quần đảo Kuril
Quần đảo mà Nhật Bản gọi là Lãnh thổ phương Bắc này thuộc quyền quản lý của Nga từ khi Nhật Bản đầu hàng quân đồng minh năm 1945.
Bất đồng về quyền sở hữu hợp pháp quần đảo này khiến Tokyo và Mátxcơva đến giờ vẫn chưa ký được hiệp ước hòa bình.
Xung đột ở Ukraine khiến quan hệ giữa Nga và Nhật Bản trở nên căng thẳng hơn, sau khi Tokyo áp hàng loạt biện pháp trừng phạt các cá nhân và tổ chức của Nga.
Nga cũng đang tăng cường hoạt động quân sự ở Tây Thái Bình Dương, bằng cách thử tên lửa trên vùng biển nằm giữa Nga và Nhật Bản và cùng Hải quân Trung Quốc tập trận.
“Vì những điều đó, quan điểm của Nhật Bản về khu vực rìa phía bắc đã thay đổi đáng kể”, Robert Ward, Chủ tịch Viện nghiên cứu quốc tế về an ninh, nhận định.
Căng thẳng ở phía bắc tạo ra cái mà Ward gọi là “vòng cung rủi ro” đối với Nhật Bản, từ hướng quần đảo Kuril, Triều Tiên, biển Hoa Đông và đảo Đài Loan.
Điều này cũng là mối bận tâm của ông Biden, vì Mỹ cam kết bảo vệ Nhật Bản theo hiệp ước phòng thủ tương hỗ.
Biển Đông
Yêu sách phi lý của Trung Quốc đối với hầu khắp vùng Biển Đông rộng 1,3 triệu dặm vuông trở thành nguồn cơn căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh trong những năm gần đây.
Các chuyên gia cho rằng cuộc xung đột ở Ukraine cũng như ở eo biển Đài Loan, Triều Tiên và quần đảo Kurils khiến tình hình Biển Đông gần đây hạ nhiệt đôi chút.
Collin Koh, nhà nghiên cứu công tác tại Trường Quốc tế học S. Rajaratnam Singapore, lưu ý rằng trong năm 2022, Hải quân Mỹ có vẻ đang hạn chế hoạt động tự do hàng hải gần các cấu trúc mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép trên Biển Đông. Từ đầu năm đến nay mới có một chuyến như vậy, diễn ra vào tháng 1.
“Có vẻ chính quyền Biden đang chuyển từ tập trung vào quân sự sang địa kinh tế nhiều hơn”, ông Koh nhận định.
Ông Koh cho rằng cuộc xung đột ở Ukraine khiến Bắc Kinh nhận ra rằng họ có thể gặp vấn đề tương tự khi cố bảo vệ các cấu trúc quân sự hoá ở Biển Đông.
“Ngay cả khi Trung Quốc có thể giành được ưu thế ban đầu bằng cách chiếm một số cấu trúc ở Biển Đông, nhưng việc giữ được những cấu trúc đó trong dài hạn không phải điều chắc chắn”, ông Koh nói.
Ấn – Trung
Ấn Độ là một thành viên của “Bộ tứ”, một liên minh lỏng lẻo của Mỹ, Nhật, Ấn Độ và Úc nhằm đối phó với ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Trong khi đó, Ấn Độ có quan hệ gần gũi từ lâu với Nga, và hiện nay hai bên vẫn tiếp tục giữ gìn.
Tuy nhiên, GS Harsh V. Pant, công tác tại trường Kings College London và là giám đốc Quỹ nghiên cứu Obsever ở New Delhi, cho rằng có 2 yếu tố từ Ukraine có thể khiến Ấn Độ nghiêng về Mỹ.
Thứ nhất, những thông tin tình báo mà Washington và các đồng minh cung cấp đã giúp Ukraine ngăn chặn và làm chậm đà tiến quân của Nga trên chiến trường.
Ấn Độ có quan tâm tương tự Mỹ trong lĩnh vực giám sát và tìm hiểu năng lực quân sự của Trung Quốc.
Thứ hai, vai trò của Nga khi cung cấp một nửa số vũ khí trong kho của Ấn Độ có thể sẽ gặp một số vấn đề về bảo dưỡng và bộ phận thay thế, trong bối cảnh Nga đang phải sử dụng rất nhiều vũ khí ở Ukraine và các lệnh trừng phạt quốc tế khiến mọi trao đổi với bên ngoài trở nên khó khăn.
Ông Pant nói rằng Washington và các đồng minh có thể sẽ vừa cung cấp vũ khí, vừa chuyển giao công nghệ để Ấn Độ tự sản xuất.
Đó có thể là một chủ đề lớn trong cuộc họp của các lãnh đạo “Bộ tứ” tại Tokyo trong tuần tới.
Tại hội nghị thượng đỉnh diễn ra ở Tokyo ngày 24/5, các nhà lãnh đạo “Bộ tứ” dự kiến đưa ra sáng kiến đối phó với tình trạng đánh bắt trái phép ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Sáng kiến khiến Trung Quốc như đang bị chạm nọc.
Ảnh vệ tinh về tàu Trung Quốc dày đặc tại bãi Đá Ba Đầu trong vùng Biển Đông có tranh chấp, ngày 23/03/2021.
“Bộ tứ”, còn gọi là “bộ tứ kim cương” QUAD, gồm 4 cường quốc Ấn Độ, Mỹ, Úc và Nhật Bản. Dù nội bộ cũng có những khác biệt, nhưng nhìn chung, “Bộ tứ” thảy đều cố nín nhịn những điều có thể, để dung hòa, không gây ảnh hưởng đến lợi ích chung.
Những cuộc họp, gặp, đối thoại của các cấp lãnh đạo ngay cả thời gian quá bấn bíu với chống dịch Covid hai năm vừa qua, thể hiện sự nỗ lực của nhóm, nhất là Mỹ, quốc gia dù không có danh nghĩa, nhưng trong thực tế có vai trò như “anh Cả”.
Dù không, hoặc ít khi lộ ra, nhưng với những gì thể hiện, cộng đồng quốc tế, nhất là giới nghiên cứu không thể không mường tượng rằng một trong những đối tượng của QUAD là Trung Quốc.
Ngược chút ít thời gian, trong Tuyên bố chung của QUAD đưa ra ngày 11/2 năm nay của ngoại trưởng 4 nước, sau cuộc họp tại Melbourne, Úc, gồm Antony Blinken (Mỹ), Marise Payne (Úc), Subrahmanyam Jaishankar (Ấn Độ) và Yoshimasa Hayashi (Nhật Bản), có đoạn: “Chúng tôi một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt được phản ánh trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982, nhằm đối phó các thách thức về trật tự hàng hải dựa trên luật pháp, bao gồm cả ở Biển Đông và Biển Hoa Đông”.
Biển Đông và biển Hoa Đông, tại hai vùng biển này, ai là thủ phạm gây ra “các thách thức về trật tự hàng hải dựa trên luật pháp” để đến nỗi QUAD bận tâm đối phó, nếu không phải là Trung Quốc?
Trước thềm Hội nghị thượng đỉnh lần này, với sự hiện diện của tổng thống Mỹ Biden và các nguyên thủ ba thành viên còn lại, mới biết, hóa ra, QUAD thâm mưu, đã dọn đường cho “Sáng kiến đối phó với tình trạng đánh bắt trái phép ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” từ đầu năm, trong cuộc họp cấp bộ trưởng ngoại giao nêu trên. Đó là chưa kể, tới đầu tháng 5 này, ông Kurt Campbell – Điều phối viên khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ – cũng nói: Washington sẽ sớm công bố kế hoạch đối phó với tình trạng đánh bắt trái phép.
Thế là đã rõ, công tác chuẩn bị cho Sáng kiến ra đời (đối phó với đánh bắt hải sản tùy tiện của Trung Quốc) của QUAD là bài bản theo quy trình.
Tờ Finacial Times, ngày 22/5, dẫn lời một quan chức Mỹ úp mở rằng, sáng kiến mới sẽ sử dụng công nghệ vệ tinh để tạo nên một hệ thống theo dõi hoạt động đánh bắt trái phép từ Ấn Độ Dương đến Nam Thái Bình Dương, bằng cách kết nối với các trung tâm giám sát ở Singapore và Ấn Độ…Cũng Finacial Times cho biết: Sáng kiến hàng hải mới sẽ cho phép các nước thành viên giám sát hoạt động đánh bắt hải sản trái phép ngay cả khi tàu tắt thiết bị phát đáp radar.
Chết Trung Quốc rồi. Theo dõi, giám sát đến thế thì “con kiến” cũng không lọt, đừng nói đội tàu cá Trung Quốc đông, nhiều như lá tre. Nói cách khác, còn đâu hy vọng để Trung Quốc lặng lẽ cho cả đàn tàu cá xâm nhập trái phép vùng biển thuộc chủ quyền các nước láng giềng, nhất là trên Biển Đông, mà không hoặc lâu lâu sau mới bị phát hiện. Và lộ ra thì sự đã rồi. Khi ấy, Trung Quốc, nếu viện cớ tránh bão thì là may, bởi sau đó, trước sự làm căng của bên đang quản lý và phản đối của dư luận, họ còn rút đi (như trong vụ gần 300 tàu cá, nghi là tàu dân quân biển trá hình, tại vùng biển Đá Ba Đầu, tháng 3/2021, khiến cả Philippines và Việt Nam phải to tiếng với Trung Quốc); tình huống xấu hơn, là Bắc Kinh giở bài cùn, cho tàu ở lỳ tại đó, cậy thế thách thức tất cả.
Các quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhất là các nước duyên hải Biển Đông quá biết Trung Quốc có số lượng tàu cá lớn nhất thế giới. Họ cũng thường xuyên bị các tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và khai thác hải sản kiểu tận diệt…
Với một kẻ rắn mặt như Trung Quốc, đấu lực tay đôi thì khi cần vẫn phải đấu, nhưng các nước tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc, xét về cơ bắp, quá lép vế. Đấu tranh ngoại giao vẫn cần, nhưng hiệu quả cũng quá hạn chế, vì Bắc Kinh là kẻ cùn số một.
Vì thế, dù nói ra hay không, các nước có yêu sách chủ quyền Biển Đông thảy đều hoan hỷ với sáng kiến nêu trên của “Bộ tứ”. Họ ngầm coi đó như một động thái “quốc tế hóa” vấn đề do “Bộ tứ” chủ động, đồng thời mong sáng kiến sớm được triển khai.
Sara Menker, một chuyên gia về an ninh lương thực, nói với Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc rằng, dự trữ lúa mì toàn cầu có thể cạn kiệt trong khoảng 10 tuần.
Nguyên nhân rất đa dạng: chu kỳ hạn hán toàn cầu kéo dài, biến đổi khí hậu và thiếu phân bón. Cuộc chiến của Nga ở Ukraine cũng góp phần vào việc này.
“Tình trạng tồi tệ hơn so với năm 2007 và 2008,” Menker nói. Lượng dự trữ đối với ngô và các loại ngũ cốc khác cũng có mối lo ngại tương tự.
Theo một chuyên gia về an ninh lương thực tại Liên hợp quốc, nguồn cung lúa mì toàn cầu sẽ cạn kiệt trong khoảng 10 tuần nữa. Sara Menker, giám đốc điều hành của công ty phân tích nông nghiệp Gro Intelligence, nói với Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc rằng, cuộc chiến giữa Nga và Ukraine không phải là gốc rễ của khủng hoảng an ninh lương thực, mà chỉ “đổ thêm dầu vào lửa đã cháy từ lâu”.
Putin dùng lương thực làm “con tin”
Ukraine được mệnh danh là “vựa lúa của thế giới”. Nga và Ukraine chiếm gần một phần ba tổng lượng lúa mì xuất khẩu toàn cầu. Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken trước đó cáo buộc Nga sử dụng lương thực làm vũ khí chiến tranh. Blinken nói với Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc rằng, Nga đang giữ lương thực làm “con tin” không chỉ đối với Ukraine, mà cả hàng triệu người trên thế giới.
“Chính phủ Nga dường như nghĩ rằng việc giữ lại lương thực sẽ giúp họ làm được những gì mà cuộc xâm lược đã thất bại – làm nhụt chí của người dân Ukraine”, Blinken nói.
Menker cho biết chu kỳ hạn hán toàn cầu đang làm cho sản lượng lúa mì giảm mạnh. Ngoài ra, do biến đổi khí hậu và thiếu phân bón nguồn cung cấp lương thực cũng đang bị ảnh hưởng, theo chuyên gia an ninh lương thực.
Chỉ còn có 20 đến 33 % bảo đảm cho lượng tiêu thụ hàng năm
“Chúng tôi hiện chỉ có lượng dự trữ cho 10 tuần tiêu thụ toàn cầu. Với điều kiện hiện tại là tồi tệ hơn so với những năm 2007 và 2008, ”cô nói. Menker giải thích rằng theo ước tính chính thức của các cơ quan nhà nước trên khắp thế giới, dự trữ lúa mì hiện chiếm khoảng 33% lượng tiêu thụ hàng năm. Nhưng, cô ấy nói thêm rằng, các mô hình do Gro Intelligence xây dựng, cho thấy con số này có thể chỉ khoảng 20% – một mức thấp chưa từng thấy kể từ năm 2007 và 2008.
Menker: “Điều quan trọng cần nhấn mạnh là dự trữ ngũ cốc toàn cầu đang ở mức thấp nhất mọi thời đại, trong khi khả năng tiếp cận với phân bón bị hạn chế nghiêm trọng và hạn hán ở các khu vực trồng lúa mì trên thế giới đang ở mức tồi tệ nhất trong hơn 20 năm qua.” Những lo ngại tương tự về các kho dự trữ cũng sẽ áp dụng đối với ngô và các loại ngũ cốc khác.
Ngày 19/5 vừa qua, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Nga Konashenkov thông báo: Từ ngày 16/5 tới nay đã có 1.730 người thuộc quân đội Ukraine và thuộc “Tiểu đoàn Azov” trong lực lượng quân sự Ukraine bị bao vây trong Nhà máy gang thép Azovstal ở Mariupol ra hàng. Dư luận bên ngoài phổ biến cho rằng trận chiến dài nhất và đẫm máu nhất trong cuộc xung đột Nga-Ukraine đã cơ bản chấm dứt. Trong hơn 80 ngày qua, chiến trận tại Mariupol đã trực tiếp ảnh hưởng tới xu thế phát triển cuộc xung đột nói trên. Trong tương lai, quân đội Nga sau khi dứt ra khỏi trận chiến đó sẽ tấn công về hướng nào?
Bày lại bàn cờ “Chiến sự đẫm máu nhất trong cuộc xung đột Nga-Ukraine”
Sau ngày 24/2/2022 khi Nga bắt đầu thực thi “Hành động quân sự đặc biệt” đối với Ukraine, Mariupol trở thành một trong những thành phố quân đội Nga coi là trọng điểm tấn công. Đây là thành phố hải cảng quan trọng trên bờ biển Azov của vùng Donbas thuộc Ukraine, nhiều năm qua là đầu mối xuất khẩu sắt thép, than và nông sản Ukraine đi các vùng Trung Đông và châu Âu. Đối với quân đội Nga, việc chiếm được Mariupol sẽ giúp cho việc hoàn toàn đánh thông miền Tây nước Nga nối liền với vùng Donbas – miền Nam Ukraine – bán đảo Crimea, triệt để chia cắt Ukraine và thực hiện phong tỏa Ukraine trên biển. Nhưng chẳng ai ngờ được rằng cùng với thời gian tác chiến không ngừng kéo dài, trận đánh tại Mariupol trở nên nổi tiếng hơn các hướng chủ công khác của quân đội Nga tại Kyiv, Kharkiv, Sumei.
Khi mới bắt đầu tác chiến, quân đội Nga hy vọng thực hiện “đánh chớp nhoáng”, dùng ưu thế áp đảo bẻ gãy sự phòng ngự của quân đội Ukraine tại Mariupol. Quân đội Nga chia hai mũi tấn công: một mũi là lục quân Nga từ Donesk ở phía Đông tiến đánh Mariupol. Một mũi là Hạm đội Biển Đen của Hải quân Nga từ bờ biển Azov phía Tây Mariupol tiến hành đổ bộ. Nhằm mục đích đó, Hải quân Nga cho 10 tàu đổ bộ ra trận, trong đó 6 tàu trước đấy đã được điều từ Hạm đội biển Baltic và Hạm đội biển Bắc đến đây, qua đó có thể thấy quân đội Nga đã có sự chuẩn bị đầy đủ cho trận tấn công Mariupol. Thế nhưng hành động công kiên của quân đội Nga lại gặp phải sự chống trả mạnh mẽ của quân đội Ukraine, tốc độ tiến của quân đội Nga rất chậm.
Cho tới ngày 16/4, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Nga mới công bố ra ngoài, nói quân đội Nga đã kiểm soát tất cả các vùng ở thành phố Mariupol, trừ nhà máy thép Azovstal. Khi ấy đã gần hai tháng trôi qua kể từ ngày Nga bắt đầu “Hành động quân sự đặc biệt”. Trong quãng thời gian đó, chiến thuật tác chiến “Tốc độ nhanh quyết định” do phía Nga đề ra ban đầu chưa được thực thi có hiệu quả. Ngoại trừ chiến tích quan trọng giành được tại Kherson ở miền Nam Ukraine ra, chiến sự [của quân đội Nga] tại Kyiv ở miền Bắc, tại Sumei và Kharkiv ở hướng Đông Bắc, tại Donbas ở hướng Đông Nam đều không tiến triển như dự định. Giả thiết, nếu quân đội Nga dễ dàng chiếm được Mariupol, sau đó nhanh chóng chia quân tiến lên phía Tây hoặc phía Bắc thì rất có thể họ đã đảo ngược được thế trận. Thảo nào phía Ukraine nhiều lần nhấn mạnh nhà máy thép Azovstal đã làm cho dự định [của phía Nga] điều ngót 20 nghìn bộ đội chủ lực (khoảng 1 phần 10 tổng binh lực Nga đưa vào Ukraine) đến các vùng khác ở Ukraine bị chậm lại. Đúng là sự chống cự của quân đội Ukraine tại Mariupol đã viết lại tiến trình cuộc xung đột Nga-Ukraine.
Sau khi quân đội Ukraine chật vật cố thủ nhà máy Azovstal, chiến sự tại đây tuy không có tiến triển lớn nhưng lại trở thành “Tượng trưng cho ý chí chống cự của Ukraine”, nhanh chóng thu hút sự chú ý của toàn thế giới. Ngày 21/4, Tổng thống Putin tuyên bố hủy bỏ kế hoạch tấn công nhà máy Azovstal, đổi thành sách lược vây chặt, nhằm giảm thương vong. Tổng thống Ukraine Zelensky bèn bắt tay với phương Tây tạo ra bầu không khí “bi thương” của quân đội Ukraine tại nhà máy Azovstal. Thủ tướng Đức Scholz, Tống Thư ký Liên Hợp Quốc Guterres, cho đến cả Giáo Hoàng La Mã đều nhất trí kêu gọi mở đường sống cho quân đội Ukraine, hình thành sức ép lớn đối với Nga. Nhưng Chính phủ Ukraine hiểu rằng bộ đội cố thủ của họ khó có thể chống đỡ lâu dài. Ngày 16/5, Bộ Tổng Tham mưu các lực lượng vũ trang Ukraine tỏ ý đã kết thúc nhiệm vụ chiến đấu tại Mariupol và để cho các binh sĩ của họ tiến hành “rút lui” (đầu hàng).
Trong ngữ cảnh của thế giới phương Tây, các nhà phân tích ưa thích đem cuộc chiến đấu tại Mariupol bàn luận ngang hàng với trận chiến bảo vệ Leningrad trong Thế chiến II, kèm theo nhiều ẩn dụ. Thứ trưởng Quốc phòng Ukraine, ông Maliar nói: “Nhờ có các chiến sĩ bảo vệ Mariupol mà Ukraine giành được quãng thời gian quan trọng để tổ chức quân hậu bị, cải tổ bộ đội và tiếp nhận viện trợ từ các đối tác bạn bè. Bộ đội cố thủ tại Mariupol đã hoàn thành tất cả các nhiệm vụ.” Xét theo toàn bộ sự thay đổi xu thế cuộc xung đột Nga-Ukraine thì phát biểu của Maliar không phải là khoe khoang. Sự chống cự lâu dài của quân đội Ukraine tại Mariupol chẳng những đã thành công kìm chân cuộc tấn công của quân đội Nga, mà ý chí chiến đấu kiên định họ đã thể hiện còn làm cho các nước NATO hiểu rằng sự “hợp tác” theo cách phương Tây xuất trang thiết bị và ngân khoản, Ukraine xuất người, là hình thức “Chống Nga” có hiệu quả.
Bước tiếp sau của quân đội Nga: tiến lên phía Bắc hay phía Tây?
Cho dù vẫn còn một bộ phận lực lượng vũ trang Ukraine giấu mình bên trong nhà máy gang thép Azovstal, nhưng dư luận phổ biến cho rằng quân đội Nga trên thực tế đã hoàn toàn kiểm soát Mariupol. Đây là chiến thắng lớn nhất mà quân đội Nga giành được, có nghĩa là phần lớn bờ biển Ukraine hiện nay đã rơi vào tay quân Nga; Crimea, miền Nam Ukraine và Donbas đã nối liền thành một mảng, phần lãnh thổ Ukraine tương đương diện tích Hy Lạp đã bị Nga kiểm soát.
Điều làm cho người bên ngoài quan tâm là sau khi rảnh tay [khỏi Mariupol], quân đội Nga sẽ mở cuộc tấn công theo hướng nào. Hiện nay họ có thể lựa chọn trong 2 hướng tấn công trọng điểm: một là “Bắc thượng” tiến lên vùng phía bắc Donbas, và một là “Tây tiến” Odesa. Nếu quân đội Nga hoàn toàn chiếm được Odesa thì Ukraine sẽ mất tất cả các lối ra biển, hoàn toàn mất đường tiếp tế trên biển. Điều đó có ý nghĩa cực lớn về chính trị và ý nghĩa tượng trưng. Nhưng hiện nay Hạm đội Biển Đen của Nga đã tiến hành phong tỏa trên biển phía ngoài Odesa, thành phố này đã khó mà phát huy được tác dụng đầu mối của một cảng biển. Thêm nữa, tuyến đường huyết mạch của Odesa – cây cầu lớn vượt biển đã bị quân đội Nga phá hủy, trên thực tế đã cắt đứt con đường tiếp vận vũ khí đạn dược từ phương Tây qua ngả Rumani vào Odesa. Bởi vậy việc đánh chiếm Odesa đã không còn là nhiệm vụ khẩn cấp đối với quân đội Nga. Sau khi rảnh tay ở Mariupol, rất có thể quân đội Nga sẽ đưa chủ lực vào hướng Donbas.
Tại tỉnh Luhansk ở vùng Donbas, quân đội Nga đã kiểm soát hơn 90% vùng này, trọng điểm tấn công tiếp sau của họ sẽ là Bắc Donesk. Từ năm 2014 khi miền Đông Ukraine nổ ra khủng hoảng, Chính phủ Ukraine đã bố trí các cơ quan hành chính Luhansk đóng tại Bắc Donesk. Đối với Chính phủ Ukraine, Bắc Donesk tương đương như thủ phủ tỉnh Luhansk. Quân đội Ukraine bố trí lực lượng mạnh ở ngoại vi thành phố này và đã xây dựng công sự phòng ngự dầy đặc. Chiếm được Bắc Donesk là tiền đề và là bảo đảm giữ được sự độc lập cho tỉnh Luhansk, cũng là phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu của “hành động quân sự đặc biệt” của Nga tại Ukraine và sẽ đe dọa nghiêm trọng trận địa quân đội Ukraine ở Altemovsk. Nơi đây là đầu mối giao thông đường bộ quan trọng, quân đội Nga có thể mượn con đường này để tấn công quân đội Ukraine tại Lisichansk và chặt đứt tuyến tiếp tế quan trọng của đối phương, thực hiện mục đích bao vây tiêu diệt quân đội Ukraine ở Luhansk. Ngoài ra, tấn công thành phố Zaporoge thủ phủ tỉnh Zaporoge cũng là một lựa chọn. Tóm lại, chỉ có hoàn toàn chiếm được vùng Donbas thì quân đội Nga mới có thể thực hiện mục tiêu chủ yếu của “Hành động quân sự đặc biệt giai đoạn hai”.
Nguyễn Hải Hoành biên dịch từ nguồn tiếng Trung trên Thời báo Hoàn cầu 马里乌波尔之战影响俄乌冲突走向,抽身后俄军又将“剑指何方”, 2022-05-20.
Dự kiến sẽ có đại diện hơn 70 quốc gia tham dự Hội nghị quốc tế về kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu dự kiến sẽ được tổ chức trong hai ngày 12 và 13/5 tại Hà Nội.
Cuộc họp chuẩn bị cho Hội nghị quốc tế về Kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo đó, dự kiến đại diện của hơn 70 quốc gia sẽ cùng trao đổi về các nội dung, như xây dựng đô thị ven biển thông minh và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, ô nhiễm và rác thải nhựa đại dương, an ninh lương thực và khả năng chống chịu của các cộng đồng dễ bị tổn thương…
Đây là hội nghị quốc tế quan trọng và có quy mô lớn trong lĩnh vực phát triển bền vững kinh tế đại dương và thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc tổ chức hội nghị sẽ góp phần thể hiện vai trò chủ động, tích cực của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu, nâng cao vị thế của nước ta trong khu vực và trên thế giới.
Hội nghị quốc tế về kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu với chủ đề chung “Các giải pháp cho một nền kinh tế biển có khả năng chống chịu” dự kiến sẽ tổ chức trong hai ngày 12 và 13/5, gồm 4 phiên toàn thể và 4 phiên chuyên đề: Phục hồi và xây dựng lại tốt hơn sau đại dịch COVID-19 vì một nền kinh tế biển bền vững và có khả năng chống chịu với khí hậu; quy hoạch không gian biển và xây dựng các đô thị và hạ tầng ven biển có khả năng chống chịu với khí hậu; an ninh khí hậu, giới và khả năng chống chịu của các cộng đồng dễ bị tổn thương; nguồn tài chính cho khí hậu và đại dương.
Theo Đề án tổ chức Hội nghị năm 2022 đã được phê duyệt, Hội nghị quốc tế về kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu với chủ đề chung “Các giải pháp cho một nền kinh tế biển có khả năng chống chịu” dự kiến sẽ tổ chức trong 2 ngày (12-13/5/2022), gồm: 4 phiên toàn thể (Phiên toàn thể 1 – Phiên Khai mạc; Phiên toàn thể 2 – Rủi ro an ninh liên quan đến khí hậu; Phiên toàn thể đặc biệt – Giải quyết vấn đề ô nhiễm đại dương và Rác thải nhựa đại dương: Một Thách thức lớn của thế kỷ 21; Phiên toàn thể 4 – Phiên Bế mạc) và 4 Phiên chuyên đề (mỗi phiên có 3-4 phiên song song): Phục hồi và Xây dựng lại tốt hơn sau đại dịch COVID-19 vì một nền kinh tế biển bền vững và có khả năng chống chịu với khí hậu; Quy hoạch không gian biển và Xây dựng các đô thị và hạ tầng ven biển có khả năng chống chịu với khí hậu; An ninh khí hậu, Giới và Khả năng chống chịu của các Cộng đồng dễ bị tổn thương và Nguồn tài chính cho Khí hậu và Đại dương.
Bên cạnh các phiên toàn thể và phiên chuyên đề, sẽ có các các cuộc họp và sự kiện bên lề bao gồm: Lễ Công bố Báo cáo Kinh tế biển xanh – Hướng đến phát triển bền vững kinh tế biển; Mô hình nhà chống bão, lũ – Bài học kinh nghiệm từ miền Trung Việt Nam; Triển lãm Đóng góp của doanh nghiệp và các sáng kiến khác cho kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đặc biệt, Hội nghị dự kiến sẽ đưa ra một Tuyên bố của các đồng Chủ tịch Hội nghị, trong đó, trình bày các nội dung và kết luận chính của Hội nghị, cung cấp thông tin đầu vào cho các sự kiện và tiến trình quốc tế liên quan trong tương lai, bao gồm cả Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Hội đồng Môi trường Liên Hợp Quốc vào năm 2022 được dự kiến sẽ diễn ra thảo luận về Thoả thuận toàn cầu ô nhiễm nhựa và các nội dung khác.
Hoạt động có ý nghĩa to lớn góp phần làm đa dạng hệ sinh thái biển, tái tạo nguồn lợi thủy sản của vịnh Nha Trang.
Cán bộ, nhân viên Chi nhánh ven biển (Trung tâm nhiệt đới Việt- Nga) và Ban quản lý Vịnh Nha Trang thả con giống xuống biển.
Từ ngày 29/4 đến 6/5, tại khu vực biển Bãi Bàng Lớn thuộc đảo Hòn Tre (Nha Trang), Chi nhánh Ven Biển thuộc Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga đã phối hợp với Ban Quản lý vịnh Nha Trang ký biên bản bàn giao và tổ chức thả hơn 20.000 con giống cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) thế hệ F2, kích thước mỗi con từ 30 – 90mm xuống biển, với tổng giá trị con giống hơn 800 triệu đồng.
Đây là hoạt động tiếp tục triển khai thực hiện Dự án cấp Nhà nước về: “Sản xuất thử nghiệm giống và nuôi thương phẩm nguồn gen cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852)”, do Thượng tá, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Thanh, Trưởng phòng Sinh Thái Nhiệt đới/Chi nhánh Ven Biển (Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga) làm chủ nhiệm dự án.
Hoạt động có ý nghĩa to lớn góp phần làm đa dạng hệ sinh thái biển, tái tạo nguồn lợi thủy sản của vịnh Nha Trang, đồng thời khẳng định trách nhiệm, vị thế của Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga trong công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát triển những nguồn gen quý hiếm”.
Trang Asia Times (trụ sở tại Hong Kong) ngày 10/5 đăng bài của bà Kauujnni Wignaraja, Trợ lý Tổng thư ký Liên hợp quốc (LHQ), và bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú Chương trình phát triển LHQ tại Việt Nam (UNDP), chỉ ra tầm quan trọng của việc Việt Nam lập kế hoạch phát triển bền vững nền kinh tế xanh, đảm bảo các lợi ích mà đại dương mang lại cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.
Theo bài viết, ở Việt Nam, kinh tế biển và các tỉnh, thành phố ven biển chiếm gần một nửa GDP. Bao phủ hơn 3/4 hành tinh, các đại dương hấp thụ tới 30% lượng khí carbon do con người tạo ra – một vùng đệm lớn trước tác động của hiện tượng ấm lên toàn cầu.
Vai trò của đại dương và nền kinh tế xanh
Giống như không khí sạch và nước ngọt, đại dương là lợi ích công cộng toàn cầu. Không gì sánh được với đại dương với vai trò là một hệ sinh thái quan trọng và lớn nhất trên hành tinh. Hơn 3 tỷ người phụ thuộc vào các hệ sinh thái biển, ven biển và đa dạng sinh học để kiếm sống.
Nền kinh tế xanh toàn cầu – gồm dầu và khí đốt, nghề cá, du lịch biển và ven biển, vận tải biển, cảng, năng lượng tái tạo và các hệ sinh thái biển và ven biển – đóng góp khoảng 3.000 tỷ USD mỗi năm, tương đương khoảng 5% GDP của thế giới. Với bờ biển dài hơn 3.000 km, kinh tế biển và các tỉnh, thành phố ven biển chiếm gần một nửa GDP của Việt Nam.
Tuy nhiên, các đại dương đang phải đối mặt với những mối đe dọa nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, mất oxy và nóng lên. Nếu không được kiểm soát, điều đó sẽ tác động tàn phá đối với cả cuộc sống dưới biển và cuộc sống trên đất liền, cuối cùng là sự tồn tại của con người và hành tinh của chúng ta.
Các đánh giá gần đây cho thấy mực nước biển dâng 1m sẽ ảnh hưởng đến 11% dân số Việt Nam và 7% diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của mực nước biển dâng, biến đổi khí hậu cuối cùng có thể khiến 38‐46% dân số Việt Nam phải hứng chịu lũ lụt.
Ngoài ra, ô nhiễm đại dương, đặc biệt là rác thải nhựa, đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người và sinh vật biển. Tại Việt Nam, ước tính khoảng 3,7 triệu tấn chất thải nhựa được tạo ra hàng năm, trong đó chỉ 10-15% được tái chế. Khoảng 2.000 tấn rác thải nhựa từ trong nước rò rỉ ra đại dương mỗi ngày.
Là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu, Việt Nam quyết tâm đóng góp một phần vào công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu trên toàn cầu.
Tại Hội nghị COP26 ở Glasgow (Anh) tháng 11/2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính cam kết Việt Nam sẽ đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Việt Nam đang xây dựng các kế hoạch mạnh mẽ để phát triển bền vững nền kinh tế xanh, đảm bảo các lợi ích mà đại dương mang lại có thể được bảo vệ, gìn giữ và cải thiện để cung cấp cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.
Đây sẽ là chìa khóa quan trọng nếu Việt Nam đạt được Mục tiêu phát triển bền vững vào năm 2030. Tháng 4 vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (VASI) làm việc với các đối tác để xây dựng chiến lược phát triển bền vững cho kinh tế biển.
Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đang hỗ trợ VASI xác định 6 ngành kinh tế biển và hình dung tiềm năng của nền Kinh tế Xanh của đất nước bằng cách đánh giá sự đóng góp của các ngành này đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam.
Các dự án khác của UNDP trong nước, như quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICM) – kết hợp quản lý các hoạt động của con người với bảo vệ các hệ sinh thái quan trọng – hỗ trợ phát triển bền vững, gồm quản lý vùng biển và ven biển, lưu vực sông và các hệ sinh thái liên quan khác.
Trong khi Việt Nam vẫn còn rất nhiều tiềm năng về đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, cũng như phát triển năng lượng tái tạo – đặc biệt là gió ngoài khơi và các dịch vụ hệ sinh thái đa dạng sinh học và du lịch – điều cốt yếu là phải cân bằng sự tăng trưởng của các lĩnh vực liên kết chặt chẽ này, vì sự phát triển của một ngành có thể tác động đến những ngành khác.
Vì lý do này, cần có quy hoạch không gian biển quốc gia mạnh mẽ và toàn diện, gồm cả quy hoạch tổng thể vượt qua ranh giới cấp tỉnh, có thể giúp Việt Nam tập trung ưu tiên đầu tư công và khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào các dự án sử dụng công nghệ xanh phát thải carbon thấp, các lĩnh vực như năng lượng gió và thủy triều ngoài khơi, công nghiệp, giao thông vận tải và du lịch biển.
Việc thúc đẩy các giải pháp dựa vào thiên nhiên vẫn là điều cần thiết, đặc biệt khi biến đổi khí hậu đang diễn ra với tốc độ và quy mô cao hơn dự đoán, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái. Chỉ cần một chút chậm trễ, những kế hoạch và hành động này có thể là quá muộn.
Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể và đáng ghi nhận trong việc thiết lập một hệ thống khu bảo tồn toàn diện, cho đến nay là16 khu vực biển như phá Tam Giang – Cầu Hai ở miền Trung.
Khoảng 12 triệu ha đất ngập nước trên toàn quốc cung cấp nguồn sinh kế chính và thu nhập bổ sung cho khoảng 20 triệu người, đóng vai trò là vùng đệm chống triều cường và bể chứa carbon, đồng thời ngăn chặn xâm nhập mặn.
UNDP đang hỗ trợ phục hồi và tái sinh 4.000 ha rừng ngập mặn ven biển để bảo vệ các cộng đồng dễ bị tổn thương và sinh kế.
Điều quan trọng là thúc đẩy bình đẳng giới và tăng cường vai trò của phụ nữ, dân tộc thiểu số cũng như các nhóm dễ bị tổn thương khác trong nền kinh tế xanh, gồm cơ hội trong các hoạt động liên quan đến biển, để hiện thực hóa tiềm năng kinh tế và xã hội của họ, đồng thời cho phép họ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và tăng cơ hội cống hiến.
Cần đảm bảo rằng phát triển kinh tế không ảnh hưởng đến đại dương là điều cơ bản để bảo vệ nền kinh tế xanh. Đây là thách thức không chỉ đối với chính phủ và người dân Việt Nam, mà đối với cả thế giới.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế đánh giá Nga là một gã khổng lồ trên thị trường khí đốt tự nhiên.
Một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ lớn
Theo tờ Thông tin Năng lượng của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Nga là nước đóng vai trò quan trọng trong thị trường năng lượng toàn cầu. Đây là một trong ba nhà sản xuất dầu thô hàng đầu thế giới, cạnh tranh vị trí đầu bảng với Ả Rập Xê-út và Mỹ. Nga chủ yếu dựa vào nguồn thu từ xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, năm 2021, con số này chiếm 45% ngân sách quốc gia.
Năm 2021, sản lượng dầu thô và khí ngưng tụ của Nga đạt 10,5 triệu thùng/ngày, chiếm 14% tổng nguồn cung của thế giới. Nga có hệ thống sản xuất dầu thô và khí đốt trên khắp cả nước nhưng phần lớn các mỏ của nước này tập trung ở phía tây và đông Siberia. Năm 2021, ước tính xuất khẩu dầu thô của Nga đạt khoảng 4,7 triệu thùng/ngày dầu. Trung Quốc là nhà nhập khẩu dầu thô lớn nhất của Nga (1,6 triệu thùng/ngày) nhưng Nga cũng xuất khẩu một khối lượng đáng kể cho các khách hàng ở châu Âu (2,4 triệu thùng/ngày).
Nga sản xuất nhiều loại dầu thô khác nhau, trong đó dầu thô xuất khẩu chính là Urals, một loại dầu nặng trung bình. Moscow cũng xuất khẩu một lượng lớn dầu thô hỗn hợp ESPO sang châu Á, thông qua đường ống Đông Siberia-Thái Bình Dương. Các loại dầu khác bao gồm Siberian light, Sokol, Sakhalin blend, Arctic and Novy Port.
Trong khi ngành công nghiệp dầu mỏ của Nga đã chứng kiến một giai đoạn hợp nhất trong những năm gần đây thì một số công ty lớn vẫn còn chỗ đứng. Rosneft, thuộc sở hữu nhà nước, là nhà sản xuất dầu thô lớn nhất ở Nga. Tiếp theo là LUKOIL, công ty dầu khí tư nhân lớn nhất nước này. Gazprom Neft, Surgutneftegaz, Tatneft và Russneft cũng là những tập đoàn sản xuất và tinh chế dầu lớn.
Nga có hệ thống đường ống xuất khẩu dầu thô trải khắp, cho phép nước này vận chuyển khối lượng lớn dầu trực tiếp đến châu Âu cũng như châu Á. Hệ thống đường ống Druzhba dài khoảng 5.500 km, mạng lưới đường ống dài nhất thế giới, vận chuyển trực tiếp 750.000 thùng/ngày đến các nhà máy lọc dầu ở Đông và Trung Âu. Hiện tại, Nga cung cấp khoảng 20% tổng lượng dầu thô thông qua đường ống này tới các nhà máy lọc dầu của châu Âu.
Năm 2012, Nga đã cho đi vào hoạt động đường ống ESPO dài 4.740 km, đạt 1,6 triệu thùng/ngày, đưa dầu thô trực tiếp đến các thị trường châu Á như Trung Quốc và Nhật Bản. Đường ống này là một phần trong chiến lược xoay trục năng lượng chung của Nga sang châu Á, một chiến lược tập trung vào việc tránh phụ thuộc xuất khẩu sang châu Âu và tận dụng nhu cầu dầu thô ngày càng tăng của châu Á. Nga cũng vận chuyển dầu thô bằng tàu chở dầu từ các cảng phía Tây Bắc như Ust-Luga và Primorsk, cũng như cảng Novorossiysk ở biển Đen và Kozmino ở Viễn Đông. Ngoài ra, Nga cũng xuất khẩu dầu thô bằng đường sắt.
Nga có hệ thống công suất lọc dầu ước tính khoảng 6,9 triệu thùng/ngày và sản xuất một lượng đáng kể các sản phẩm dầu như xăng và dầu diesel. Các công ty Nga đã dành cả thập kỷ vừa qua để đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống công suất lọc dầu sơ cấp và thứ cấp nhằm tận dụng ưu đãi thuế của chính phủ, cũng như nhu cầu dầu diesel toàn cầu ngày càng tăng.
Chiến lược năng lượng của Nga là ưu tiên việc tự cung tự cấp xăng dầu, vì vậy nước này có xu hướng xuất khẩu với khối lượng tối thiểu. Tuy nhiên, các nhà máy lọc dầu của Nga đã sản xuất gần gấp đôi lượng dầu diesel cần thiết để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu một nửa sản lượng hàng năm, phần lớn trong số đó sang các thị trường châu Âu.
Ngoài ra, Nga còn là nhà xuất khẩu lớn về xăng chân không và dầu nhiên liệu nặng. Năm 2021, các nhà máy lọc dầu của Nga sản xuất 5,6 triệu thùng dầu thô mỗi ngày và xuất khẩu 2,8 triệu thùng/ngày. Châu Âu vẫn là thị trường chính cho các sản phẩm dầu của Nga. Năm 2021, Nga xuất khẩu 750.000 thùng dầu diesel sang châu Âu mỗi ngày, đáp ứng 10% nhu cầu lục địa già.
Một gã khổng lồ trên thị trường khí đốt tự nhiên
Nga là nhà sản xuất khí đốt tự nhiên lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ và có trữ lượng khí đốt lớn nhất thế giới. Nga cũng là nước xuất khẩu khí đốt lớn nhất thế giới. Năm 2021, quốc gia này sản xuất 762 tỷ mét khối khí tự nhiên và xuất khẩu khoảng 210 tỷ mét khối.
Gazprom và Novatek là hai nhà sản xuất khí đốt chính của Nga, nhưng nhiều công ty dầu khí của Nga, bao gồm cả Rosneft, cũng vận hành các cơ sở sản xuất khí đốt. Gazprom, thuộc sở hữu nhà nước, là nhà sản xuất khí đốt lớn nhất, nhưng thị phần sản xuất của tập đoàn này đã giảm trong những năm qua, do Novatek và Rosneft đã mở rộng năng lực sản xuất. Tuy nhiên, Gazprom vẫn chiếm 68% sản lượng khí đốt của Nga trong năm 2021.
Về mặt lịch sử, hoạt động sản xuất khí đốt ban đầu tập trung ở Tây Siberia nhưng hiện Nga đã đầu tư sang cả khu vực Yamal, Đông Siberia và Viễn Đông, cũng như ngoài khơi Bắc Cực.
Nga sở hữu mạng lưới đường ống xuất khẩu khí đốt rộng khắp, với các tuyến đường trung chuyển qua Belarus và Ukraine, cũng như đường ống dẫn khí đốt trực tiếp vào châu Âu (bao gồm Nord Stream, Blue Stream và TurkStream).
Vào năm 2021, khí đốt tự nhiên của Nga chiếm 45% sản lượng nhập khẩu và gần 40% nhu cầu khí đốt của Liên minh châu Âu. Tỷ trọng này đã tăng lên trong những năm gần đây do sản lượng khí đốt tự nhiên khai thác trong nước của châu Âu giảm. Đức, Thổ Nhĩ Kỳ và Ý là những nước nhập khẩu khí đốt tự nhiên lớn nhất của Nga.
Vào cuối năm 2019, Nga đã khởi động một đường ống xuất khẩu khí đốt lớn về phía đông, đường ống Power of Siberia dài khoảng 3.000 km, với công suất 38 tỷ mét khối, có thể vận chuyển khí đốt sang Trung Quốc. Vào năm 2021, Gazprom đã xuất khẩu hơn 10 tỷ mét khối khí tự nhiên thông qua đường ống Power of Siberia-2, và sản lượng xuất khẩu dự kiến sẽ tăng dần lên 38 tỷ mét khối trong những năm tới. Nga đang tìm cách phát triển đường ống Power of Siberia-2, với công suất 50 tỷ mét khối/năm.
Ngoài ra, Nga đã và đang mở rộng công suất khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG), để cạnh tranh với xuất khẩu LNG ngày càng tăng từ Mỹ, Úc và Qatar. Năm 2021, Moscow đưa ra kế hoạch phát triển LNG dài hạn, đặt mục tiêu xuất khẩu 110-190 tỷ/năm vào năm 2025. Năm 2021, Nga xuất khẩu 40 tỷ mét khối LNG, trở thành nhà xuất khẩu LNG lớn thứ 4 thế giới và chiếm khoảng 8 % nguồn cung LNG toàn cầu.
Trong những năm gần đây, Nga ngày càng tập trung vào Bắc Cực như một cách để tăng sản lượng dầu khí và bù đắp sự sụt giảm tại các cơ sở sản xuất hiện tại. Bắc Cực chiếm hơn 80% sản lượng khí đốt tự nhiên và khoảng 20% sản lượng dầu thô của Nga.
Trong khi biến đổi khí hậu đe dọa các dự án trong tương lai ở khu vực này, thì nó cũng mang lại cho Nga cơ hội tăng cường tiếp cận các tuyến thương mại ở Bắc Cực, cho phép Mosocw linh hoạt hơn nữa đối với việc vận chuyển nhiên liệu hóa thạch bằng đường biển, đặc biệt là đến châu Á.
Chính phủ Mỹ dự kiến sẽ khởi động một sáng kiến kinh tế ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhân dịp Tổng thống Joe Biden thăm Nhật Bản trong tháng này, Đại sứ Nhật Bản tại Mỹ Koji Tomita cho biết ngày 9/5.
“Tôi chờ đợi chuyến thăm này sẽ diễn ra đồng thời với việc khởi động chính thức sáng kiến Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, ông Tomita nói khi cùng Đại sứ Mỹ tại Nhật Rahm Emanuel tham gia một sự kiện trực tuyến do một viện nghiên cứu tổ chức.
Đại sứ Tomita cho biết sáng kiến này sẽ đóng vai trò “rất quan trọng” để tạo ra một khu vực “mở và tự do”, nơi Trung Quốc đang nỗ lực tăng cường ảnh hưởng kinh tế.
Đề xuất được đưa ra từ mùa thu năm ngoái, và chính quyền Biden dự kiến sẽ khởi động chính thức trong nửa đầu năm nay. Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được kỳ vọng sẽ thúc đẩy thương mại tiêu chuẩn cao, quản trị kinh tế kỹ thuật số, cải thiện năng lực chống chịu của các chuỗi cung ứng và thúc đẩy đầu tư vào hạ tầng.
Đây được coi là một cam kết kinh tế mới của Mỹ với khu vực, sau khi chính quyền cựu Tổng thống Donald Trump rút khỏi thỏa thuận Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) từ năm 2017.
Các quan chức của chính quyền Biden cho biết khuôn khổ mới sẽ không phải một thỏa thuận tự do thương mại thông thường.
Việc Mỹ rút khỏi TPP bị coi là một bước lùi trong nỗ lực tham gia vào khu vực về kinh tế. 10 thành viên còn lại vẫn thúc đẩy thỏa thuận và đổi tên thành CPTPP. Đại sứ Tomita nói rằng CPTPP “không phải con đường duy nhất để tái khẳng định vai trò lãnh đạo của Mỹ” ở khu vực.
Trong bài phát biểu, Đại sứ Tomita cảnh báo rằng Trung Quốc đang “rất quyết liệt tìm cách lấp vào khoảng trống” về hiện diện kinh tế mà Mỹ để lại, bằng cách nộp đơn xin tham gia CPTPP.
“Chúng tôi lo ngại (về bước đi của Trung Quốc)… vì thế chúng tôi rất hoan nghênh việc chính thức khởi động IPEF”, Đại sứ Tomita nói và sử dụng tên viết tắt của sáng kiến.
Ông cho biết Nhật Bản đang tham gia sâu vào việc chuẩn bị cho lễ khởi động.
Đại sứ Nhật nói rằng IPEF cần thu hút sự tham gia của các đối tác khu vực bằng cách mang lại “những lợi ích hữu hình”, trong khi bảo đảm sự cân bằng giữa phát triển bao trùm và thúc đẩy thương mại tiêu chuẩn cao.
Chính quyền Biden đã bàn bạc về IPEF với các quốc gia trong khu vực như Úc, Ấn Độ, Indonesia và Singapore. Hồi tháng 2, một quan chức Mỹ cho biết Washington “không có ý định” mời Trung Quốc tham gia khuôn khổ này.
Tổng thống Biden dự kiến sẽ có chuyến thăm kéo dài 5 ngày đến Hàn Quốc và Nhật Bản từ ngày 20/5. Đây sẽ là chuyến thăm châu Á đầu tiên của nhà lãnh đạo Mỹ từ khi ông nhậm chức vào tháng 1 năm ngoái.
Trong thời gian thăm Nhật Bản, ông Biden sẽ gặp Thủ tướng Fumio Kishida và dự thượng đỉnh nhóm “Bộ tứ”, cùng với lãnh đạo Úc và Ấn Độ.
Đại sứ Tomita khẳng định chuyến thăm của ông Biden sẽ cho thấy Mỹ và Nhật Bản “sẵn sàng đóng vai trò lãnh đạo trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”.
Việc lưu trú của đoàn thám hiểm người Anh kéo dài trên đảo chính của quần đảo Côn Lôn (Côn Đảo) kéo dài đến ngày 28.1.1780. Khi họ chuẩn bị rời đảo, thuyền trưởng Gore để lại thư gửi cho các thuyền trưởng sẽ ghé bến Côn Đảo.
Một bản đồ Côn Đảo xưa.
Nghe qua sự trình bày của viên quan người Việt tại Côn Đảo, thuyền trưởng Gore nói rõ ông ta không phải là người Pháp, mà là người Anh, và hỏi viên quan là ông ta có biết hai nước Anh – Pháp đang ở trong tình trạng chiến tranh không.
Viên quan trả lời rằng biết và nói rõ mục tiêu sứ mạng của ông ta là dẫn đường cho bất cứ tàu thuyền nào muốn buôn bán với người dân Đàng Trong, không phân biệt đến từ nước nào. Ông ta còn đưa cho Gore xem một tờ giấy khác và đề nghị viên thuyền trưởng đọc qua.
Đó là một lá thư có gắn xi, với nội dung như sau: “Thư gửi thuyền trưởng các tàu ghé lại Côn Đảo: những thông tin gần đây đến từ châu Âu khiến chúng tôi hi vọng rằng sẽ có một chuyến tàu đến tại Đàng Trong, chúng tôi đã xin với triều đình cử đến Côn Đảo một viên quan là người mang lá thư này để chờ các tàu thuyền đến đây. Vì vậy, nếu có một tàu thuyền ghé lại đây, vị thuyền trưởng có thể thông báo cho chúng tôi thông qua viên quan mang thư này, hoặc tin vào ông ta, để cho ông dẫn dắt về một cảng ở Đàng Trong, khuất gió và cách Côn Đảo một ngày hải hành. Nếu vị thuyền trưởng muốn ở lại Côn Đảo chờ một đặc phái viên của triều đình, chúng tôi có thể cử đến các thông ngôn và những hỗ trợ mà quý vị cần đến. Các vị thuyền trưởng cũng cần biết rằng đi sâu hơn nữa vào tiểu tiết là điều vô ích” (L.Gaide – tlđd, trang 89, Lê Nguyễn tạm dịch). Lá thư này cũng đề một ngày cùng với giấy chứng nhận của Bá Đa Lộc. Qua nội dung thư và câu chuyện với Luc, thuyền trưởng John Gore tin rằng viên quan này có ý trông chờ tàu buôn của Pháp.
Ông ta cần được biết người trên đảo này có thể cung cấp cho đoàn thám hiểm những đồ thiết dụng nào. Lúc trả lời là ông ta có hai con trâu khỏe mạnh sẵn sàng bán lại cho đoàn thám hiểm với giá 4 hay 5 đồng mỗi con (không rõ tiền gì). Loài vật 4 chân này, Gore và các đồng sự nhìn thấy có rất nhiều trên đảo. Việc lưu trú của đoàn thám hiểm người Anh kéo dài trên đảo chính của quần đảo Côn Lôn (Côn Đảo) kéo dài đến ngày 28.1.1780. Khi họ chuẩn bị rời đảo, viên quan nói trên đề nghị thuyền trưởng Gore để lại một thư giới thiệu gửi cho các thuyền trưởng tàu thuyền sẽ ghé bến Côn Đảo. Gore viết đưa cho viên quan bức thư giới thiệu theo yêu cầu, tặng cho ông ta một món quà.
Viên thuyền trưởng còn nhờ chuyển một bức thư và một kính đeo mắt cho Giám mục Bá Đa Lộc, như dấu hiệu lòng biết ơn của ông ta đối với vị Giám mục. Xem như trên, có thể thấy rằng sau khi rời bỏ Côn Đảo hơn 60 năm, vào cuối thập niên 1760, người Anh đã mon men trở lại hòn đảo này. Không chỉ với mục tiêu thám hiểm để lập bản đồ các vùng biển xa lạ trên Thái Bình Dương mà còn nhằm mở rộng thương mại với Đại Việt thông qua vị trí đắc địa này. Vào thời điểm đó, người cai trị Ấn Độ thuộc Anh là Huân tước Warren Hasting, một viên chức gắn bó rất nhiều với vùng đất Ấn Độ.
Năm 1774, ông ta là Toàn quyền đầu tiên của vùng đất Ấn Độ thuộc Anh, trong kế hoạch phát triển thương mại và thuộc địa, đã nghĩ đến khu vực Đông Dương và Côn Đảo, nơi mà những người Anh đi trước đã tìm đến và đổ xương máu tại đây (1702-1705).
Hai năm trước khi thuyền trưởng John Gore đến Côn Đảo, Toàn quyền Hasting đã cho phép một hãng buôn đưa hai chiếc thuyền chở hàng hóa sang Đàng Trong vừa với mục tiêu thương mại, vừa là một công tác bán ngoại giao. Đoàn tàu này ghé lại nhiều cảng ở Đàng Trong. Song lúc bấy giờ cuộc nội chiến giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn đã bùng lên mạnh mẽ, cảm thấy có nguy cơ bị nghi ngờ bởi cả hai bên, đoàn tàu buôn phải bỏ cả số hàng hóa chưa bán được để quay trở về nước.
Ông Phạm Minh Chính, Thủ tướng chính phủ Việt Nam đang có chuyến công du Mỹ. Cùng với việc tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ, ông Chính sẽ có chuyến thăm Mỹ từ ngày 11 đến 17/5.
Trong hai ngày Hội nghị cấp cao đặc biệt ông Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu được cho là khá thẳng thắn về các vấn đề gai góc, nhạy cảm, như vấn đề Biển Đông, cuộc chiến Ukraine, nhân quyền ở Việt Nam. Gọi là nhạy cảm vì khi nó lọt tai bên này thì lại chối tai bên kia, mà cái “bên kia” đáng gờm nhất chính là quốc gia láng giềng luôn gầm ghè và tính con bài bành trướng ra Biển Đông. Nhưng Việt Nam tuyên bố quyết “không chọn phe”, chỉ chọn cái đúng, cái chính nghĩa.
Vào chiều 11/5 (giờ địa phương), Thủ tướng Việt Nam đã phát biểu một bài khá dài, khoảng 40 phút, tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế (CSIS). Ông nhấn mạnh: “Lòng tin, chân thành và trách nhiệm” là chìa khoá để xây dựng mối quan hệ Việt – Mỹ; chìa khóa giải quyết các vấn đề toàn cầu, bao gồm đại dịch Covid-19, các tranh chấp ở Biển Đông và cuộc chiến đang diễn ra ở Nga-Ukraine.
Với Mỹ và các quốc gia ở Đông Nam Á, Thủ tướng Việt Nam cho rằng, các nước đều có chế độ chính trị khác nhau, do vậy cần phải tôn trọng hệ thống chính trị.
Ông Phạm Minh Chính đã phần nào lí giải lí do vì sao Hà Nội chưa chấp nhận đề nghị của Washington về việc nâng tầm quan hệ hai nước lên đối tác chiến lược. Ông nói: “Trong ba thập niên sau khi bình thường hóa, chúng ta chứng kiến sự phát triển phi thường của mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Mối quan hệ đó đã nảy nở và đơm hoa kết trái, có thể nói là nhờ nỗ lực của cả hai bên, được vun đắp bằng sự chân thành, tin cậy và tinh thần trách nhiệm, sự thông cảm, chia sẻ và tôn trọng lẫn nhau, phù hợp với lợi ích và mong muốn của hai đất nước, hai dân tộc và nhân dân”.
Sự “đơm hoa kết trái” ấy theo góc nhìn của chúng tôi không phải là lời xã giao mà nó được minh chứng trong thực tiễn sinh động tại Việt Nam. Cụ thể, Lãnh đạo hai bên đã duy trì việc tiếp xúc và điện đàm ở các cấp, đặc biệt là tổ chức thành công các hoạt động của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc bên lề Đại hội đồng Liên hợp quốc vào tháng 9/2021. Ngay sau đó một tháng là các cuộc gặp của Thủ tướng Phạm Minh Chính với Tổng thống Joe Biden và đặc phái viên John Kerry bên lề Hội nghị COP26 tại Anh (10/2021).
Về kinh tế, mặc dù trong điều kiện phải thích ứng, linh hoạt, ứng phó an toàn với đại dịch Covid-19 nhưng kinh tế Việt Nam phục hồi và phát triển khá nhanh chóng, trong đó có sự giúp đỡ tích cực của Mỹ. Thương mại song phương Việt – Mỹ tiếp tục tăng trưởng mạnh, với tổng kim ngạch năm 2021 đạt hơn 111,56 tỉ USD. Liên tục trong nhiều năm, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, và Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ 9 của Mỹ.
Về đầu tư, đến tháng 3/2022, đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam đạt 10,3 tỉ USD, đứng thứ 11/141 trong số các nước và vùng lãnh thổ có FDI tại Việt Nam. Các doanh nghiệp lớn của Mỹ tiếp tục quan tâm, đầu tư vào thị trường Việt Nam: Intel thông báo bổ sung đầu tư gần 500 triệu USD vào nhà máy tại TP Hồ Chí Minh; đối tác sản xuất chính của Apple (Foxconn) bổ sung đầu tư 270 triệu USD tại Bắc Giang, v.v..
Về kinh tế là như vậy, là điều khó bác bỏ, nhưng khó nhất vẫn là vấn đề chính trị, ngoại giao, nhất là ứng xử với những diễn biến phức tạp, căng thẳng trên Biển Đông. Một nước lớn là Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng thực hiện tham vọng độc chiếm gần 90% diện tích vùng biển quan trọng này. Chính Bắc Kinh đã đưa ra những yêu cầu vô lý, khiến cho các nước ASEAN không thể đồng thuận, thời gian xây dựng bộ quy tắc ứng xử (COC) trên Biển Đông, vì thế, đã kéo dài trong niều năm qua.
Phát biểu trước Quốc hội Mỹ, ông Phạm Minh Chính đã nói thẳng thắn mà không ngại Bắc Kinh lườm nguýt. Ông khẳng định: Tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông là trách nhiệm chung. Khi nói tới Biển Đông cần xem xét hai vấn đề chính, bao gồm tranh chấp chủ quyền và tự do hàng hải và hàng không.
Thủ tướng Việt Nam nhấn mạnh: “Việt Nam không chọn phe nào cả, mà chọn sự công lý, công bằng và sự tốt đẹp. Dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc”.
Vì không chọn phe cho nên trong việc giải quyết các tranh chấp, xung đột ở khu vực, Hà Nội luôn tìm cách duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình bằng cách đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOC- 1982). Việt Nam ủng hộ sự hiệu quả và việc chấp hành đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (gọi tắt là DOC).
Ông Phạm Minh Chính sẽ còn lui lại Mỹ vài ngày nữa với những tính toán cụ thể hơn về hợp tác kinh tế, đối ngoại. Tuy nhiên, ông đã “hoàn thành” phần việc quan trọng nhất là bày tỏ chính kiến của Hà Nội trước Hội nghị cấp cao, đặc biệt là trao đổi thẳng thắn với Chủ tịch Quốc hội Mỹ và Tổng thống Joe Biden. Tổng thống Mỹ cũng đã nhận lời sớm thămViệt Nam.
Vậy có thể nói, Hà Nội đã đạt được “thắng lợi kép”. Việt Nam đang có cơ hội lớn để bứt phá. Và điều đó giúp ông Phạm Minh Chính “lên điểm” trong con mắt giới chính trị ở Việt Nam.
Hội Nghề cá Việt Nam phản đối hành động đơn phương cấm đánh bắt cá ở Biển Đông.
Một tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi bị tàu Trung Quốc đâm chìm ở Hoàng Sa năm 2020.
Ngày 4/5, Hội Nghề cá Việt Nam có công văn gửi Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương về việc phản đối Trung Quốc đơn phương cấm đánh bắt cá trên Biển Đông năm 2022.
Theo Hội Nghề cá Việt Nam, vừa qua, Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, dự kiến trong thời gian 3 tháng, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/5. Phạm vi cấm đánh bắt bao gồm một phần vùng biển vịnh Bắc Bộ và quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Hội Nghề cá Việt Nam cho rằng, đây là hành động đơn phương, lặp lại và phi lý của Trung Quốc, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm các quyền và lợi ích khác của Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam; vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 và các văn bản pháp lý quốc tế liên quan; đi ngược lại Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Việc ban hành lệnh cấm lặp lại hằng năm và kéo dài thời gian cấm đánh bắt cá trên Biển Đông làm gia tăng nguy cơ đụng độ giữa tàu cá của ngư dân Việt Nam với lực lượng hải cảnh phía Trung Quốc, cản trở hoạt động bình thường của tàu cá và ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Hội Nghề cá Việt Nam kịch liệt phản đối hành động sai trái, ngang ngược, đơn phương, lặp lại của phía Trung Quốc và khẳng định lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc là vô giá trị trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay lệnh cấm đánh bắt phi lý này ở Biển Đông, bao gồm cả vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Hội Nghề cá Việt Nam đề nghị các cơ quan chức năng phản đối mạnh mẽ và có những biện pháp quyết liệt, ngăn chặn ngay lệnh cấm đánh bắt cá phi lý nói trên của Trung Quốc. Ngoài ra, Hội Nghề cá Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Hội thủy sản, Hội nghề cá địa phương và các đơn vị liên quan chủ động, tích cực thông tin, tuyên truyền để ngư dân chấp hành đúng pháp luật khi đánh bắt trên biển; hỗ trợ, vận động ngư dân yên tâm ra khơi bám biển sản xuất, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Từ năm 1999, Trung Quốc hàng năm ngang nhiên tự ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trái phép trên Biển Đông. Thời gian cấm biển thường là từ 1/5 đến 16/8.
Liên quan tới việc các nước trong khu vực tranh chấp và chiếm đóng trái phép các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần tuyên bố, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với các đảo trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Mọi hành vi của quốc gia khác tại hai quần đảo này mà không được sự cho phép của Việt Nam đều là hành vi xâm chiếm trái phép và vi phạm luật pháp quốc tế.
Quân đội Trung Quốc (PLA) thông báo đang đẩy mạnh các cuộc diễn tập “thực chiến” tại Hoa Đông, trong bối cảnh căng thẳng giữa hai bờ eo biển Đài Loan tiếp tục tăng nhiệt.
Bộ Tư lệnh chiến khu Đông bộ của PLA hôm 3.5 tiết lộ chi tiết về cuộc diễn tập nhóm tấn công hải quân gần đây, theo đó những cuộc diễn tập dạng này “liên quan chặt chẽ với các sứ mệnh và nhiệm vụ của Hải quân PLA, tập trung vào mục tiêu đối phó kẻ thù và nêu bật những điều kiện tác chiến thực tế”.
Báo South China Morning Post (SCMP) dẫn thông tin từ Chiến khu Đông bộ cho biết chuỗi hoạt động diễn tập bao gồm hơn 10 dạng khác nhau, như phòng thủ súng cận chiến, tấn công bằng vũ khí chủ lực trên biến, theo dõi và do thám, kiểm soát thiệt hại và tìm kiếm, cứu hộ.
“Nội dung huấn luyện giúp các đơn vị cải thiện hơn nữa năng lực và tăng cường sự dẻo dai trong chiến đấu để giành chiến thắng trong các trận chiến”, theo thông báo của Bộ Tư lệnh Chiến khu Đông bộ, thêm rằng “các thủy thủ ở Hoa Đông luôn sẵn sàng chiến đấu”.
Thông báo không đề cập thời điểm và vị trí diễn ra hoạt động huấn luyện trên biển, nhưng cho biết có sự tham gia của hai chiến hạm trong đội hình tàu chiến là tàu hộ vệ Ôn Châu thuộc Type 054 và tàu hộ tống cỡ nhỏ Đức Dương thuộc Type 056.
Hoạt động diễn tập hải quân trên được thực hiện theo sau chuỗi tập trận phối hợp của các lực lượng PLA tại vùng biển và không phận xung quanh Đài Loan. Trung Quốc đã rầm rộ tập trận sau khi đoàn nghị sĩ Mỹ thăm Đài Loan trong hai ngày 14-15.4.
“Hoạt động này nhằm đáp trả việc Mỹ thường xuyên phát đi các tín hiệu sai lầm về vấn đề Đài Loan trong thời gian gần đây”, tuyên bố cho hay nhưng không đề cập đến phái đoàn nghị sĩ Mỹ.
Sau đó, tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc vào ngày 2.5 đã huấn luyện cùng nhóm tác chiến lớn hơn bình thường ở vùng biển Tây Thái Bình Dương.
Theo SCMP, tàu sân bay Liêu Ninh đã được 5 tàu khu trục, bao gồm một tàu Type 055 – loại tàu chiến mạnh nhất của hải quân Trung Quốc – hộ tống trong . Nhóm tác chiến này còn có một khinh hạm và một tàu tiếp liệu.
Tướng Kenneth Wilsbach, Tư lệnh Lực lượng không quân Mỹ tại Thái Bình Dương, cho biết Lầu Năm Góc đã triển khai hơn 200 chiến đấu cơ F-35 đến châu Á – Thái Bình Dương.
Chiến đấu cơ F-35 của Mỹ.
Chiến đấu cơ tối tân của Trung Quốc và Mỹ từng vài lần chạm trán ở biển Hoa Đông, qua đó cho thấy mức độ căng thẳng cao giữa 2 nước này.
Một nguồn tin tiết lộ với tờ South China Morning Post (Hồng Kông) thông tin trên sau khi một tướng Mỹ cho biết máy bay F-35 của Mỹ từng chạm trán chiến đấu cơ J-20 của Trung Quốc ít nhất 1 lần ở biển Hoa Đông. Tuy nhiên, ông Kenneth Wilsbach, Tư lệnh Lực lượng không quân Mỹ tại Thái Bình Dương, không cho biết thời điểm diễn ra vụ việc.
Chiến đấu cơ tàng hình J-20 của Trung Quốc.
Trong khi đó, nguồn tin của tờ South China Morning Post cho biết những lần chạm mặt như thế diễn ra thường xuyên hơn vào nửa cuối năm 2020, thời điểm quan hệ Mỹ – Trung Quốc trở nên căng thẳng.
Một số chuyên gia cho rằng Trung Quốc tăng cường triển khai J-20 và máy bay cảnh báo sớm KJ-500 tuần tra chung ở biển Hoa Đông với vai trò chính là ngăn không quân Mỹ tiếp cận vùng biển này trong trường hợp Bắc Kinh quyết định “tấn công Đài Loan”.
Hơn 50 chiếc J-20 đã được đưa vào sử dụng kể từ khi Trung Quốc bắt đầu sản xuất hàng loạt nó vào năm 2020. Tuy nhiên, ông Wilsbach nêu bật sức mạnh răn đe của không quân Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương khi cho biết Lầu Năm Góc đã đưa hơn 200 chiếc F-35 đến khu vực này.
Trong khi đó, 3 tàu chiến Mỹ, Nhật Bản và Úc vừa kết thúc cuộc diễn tập chung ở biển Đông hôm 15-3, theo Hải quân Mỹ.
Cuộc diễn tập có sự tham gia của tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường lớp Arleigh Burke USS Momsen (Mỹ), tàu khu trục JS Yuudachi của Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF) và tàu khu trục Arunta của Hải quân Hoàng gia Úc
Cuộc diễn tập nhằm giải quyết các ưu tiên và mối bận tâm chung về an ninh hàng hải, tăng cường khả năng tương tác và giao tiếp, cũng như thúc đẩy tự do hàng hải nhằm ủng hộ một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở hơn.
Cuộc diễn tập trung của tàu chiến Mỹ, Nhật Bản, Úc ở biển Đông hôm 15-3. Ảnh: Hải quân Mỹ
Việc Trung Quốc lần đầu tiên đưa tàu đổ bộ tấn công Hải Nam Type-075 xuống Biển Đông tham gia huấn luyện nội dung tiếp dầu và bắn đạn thật nhằm “cải thiện năng lực chiến đấu” đang được dư luận quan tâm đặc biệt, trong bối cảnh tình hình khu vực có những diễn biến phức tạp.
Tàu đổ bộ tấn công Type-075 của Trung Quốc Mục tiêu thể hiện sức mạnh hải quân
Cổng thông tin của Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết, tàu đổ bộ tấn công Hải Nam thuộc lớp Type-075 đã tiến hành đợt huấn luyện hiệp đồng và diễn tập tại một khu vực trên Biển Đông ngày 22-4, nhưng không tiết lộ vị trí cụ thể. Hình ảnh do quân đội Trung Quốc công bố cho thấy, tàu Hải Nam di chuyển song song và tiếp dầu từ một tàu hậu cần. Lính hải quân đánh bộ trên tàu cũng diễn tập triển khai và đổ bộ bằng trực thăng, trong khi tổ hợp pháo phòng thủ cực gần Type-1130 khai hỏa về phía mục tiêu giả định trên biển.
Lâu nay, Trung Quốc đẩy nhanh tốc độ đóng thế hệ tàu đổ bộ tấn công mới nhằm tăng cường vai trò của lực lượng hải quân trong việc phô trương sức ở nước ngoài. Những chiếc tàu này sẽ giúp Bắc Kinh quyết đoán hơn trong yêu sách chủ quyền đối với các vùng biển đang có tranh chấp ở Biển Đông, đồng thời tăng cường đội tàu tuần tra tại eo biển Đài Loan trong bối cảnh quan hệ giữa Bắc Kinh và Đài Bắc đang trở nên căng thẳng.
Tàu đổ bộ Type-075 chính là loại tàu đáp ứng yêu cầu đó. Với độ choán nước toàn tải xấp xỉ 40.000 tấn, dài khoảng 237m, Type-075 có thể mang theo 30 trực thăng chiến đấu đa nhiệm Z-8 hoặc Z-9 và xa hơn là loại máy bay Z-20. Cả hai loại trực thăng Z-8 và Z-9 đều có khả năng tác chiến đa nhiệm, tấn công tàu chiến và cả đất liền. Đặc biệt, Z-9 còn có thể mang tên lửa đối không và tích hợp cả khả năng săn tàu ngầm. Chính vì thế, tàu đổ bộ mang máy bay trực thăng Z-8 hay Z-9 có thể được triển khai cho các hoạt động tấn công đảo, đổ bộ tấn công quy mô lớn vào đất liền.
So sánh với tàu vận tải đổ bộ như Type-071, thì Type-075 mang theo lượng khí tài nhiều hơn, đồng thời trong tương lai có thể được sử dụng cùng máy bay tiêm kích cất cánh đường băng ngắn và hạ cánh thẳng đứng để trở thành tàu sân bay. Hiện Trung Quốc cũng đang gấp rút phát triển máy bay chiến đấu thế hệ 5 tàng hình J-31 phiên bản cất cánh đường băng ngắn và hạ cánh thẳng đứng để trang bị cho tàu Type-075, giúp chiến hạm này trở thành tàu sân bay tương tự Mỹ.
Về tầm chiến lược, lâu nay, Hải quân Trung Quốc chủ yếu chuẩn bị cho các nhiệm vụ gần bờ. Các tàu vận tải đổ bộ loại nhỏ hơn vẫn đang đóng vai trò chủ chốt đối với hải quân Trung Quốc. Nhưng đây là mô hình có từ thời Chiến tranh Lạnh, nên có lẽ không còn phù hợp với tham vọng mà Bắc Kinh đặt ra.
Việc tập trung phát triển tàu vận tải đổ bộ cỡ lớn như Type-075 phản ánh rõ hơn mục tiêu thể hiện sức mạnh mà hải quân Trung Quốc hướng đến. Đưa vào trang bị tàu đổ bộ mới Type-075 đánh dấu một cột mốc mới trong quá trình nâng cấp khả năng tấn công của Hải quân Trung Quốc. Từ nay, Hải quân Trung Quốc có thể vươn xa hơn ra các đại dương.
Nguy cơ từ “sự bất cân xứng ngày càng lớn”
Trước thập niên 1990, hải quân Trung Quốc chỉ đóng vai trò thứ yếu so với lục quân. Từ năm 2015, Trung Quốc khởi động dự án quy mô lớn nhằm biến quân đội Trung Quốc trở thành “lực lượng đẳng cấp thế giới”. Tháng 4-2018, trong cuộc duyệt binh trên biển lớn nhất mà Trung Quốc từng triển khai với sự tham gia của 48 chiến hạm, hơn 10 nghìn quân và hàng chục máy bay, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã công bố tham vọng xây dựng lực lượng thể hiện sức mạnh của Trung Quốc trên các đại dương.
Hải quân Trung Quốc bắt đầu trong “cơn sốt” đóng tàu lớn chưa từng thấy trên thế giới. Theo Văn phòng Tình báo hải quân Mỹ (ONI), nếu như năm 2015, hải quân Trung Quốc chỉ có 225 chiến hạm trong biên chế thì tới cuối năm 2020, con số này đã là 360 chiến hạm, nhiều hơn Mỹ 63 chiếc. Chỉ riêng trong năm 2019, nước này đã có tới 24 chiến hạm lớn nhỏ các loại, từ khu trục hạm đến tàu đổ bộ và khinh hạm, được hạ thủy.
Theo thống kê, số lượng tàu chiến hiện đại của hải quân Trung Quốc hiện chỉ đứng sau hải quân Mỹ và vượt xa các nước còn lại. Tuy đa phần tàu chiến Mỹ đều là tác chiến biển xa với trang bị hiện đại (trong đó lực lượng tàu sân bay chiếm ưu thế áp đảo về cả số lượng và chất lượng), song tất cả tàu chiến của Trung Quốc (kể cả tàu tác chiến xa/gần bờ) đều đóng quân tại khu vực Đông Á, do đó giữ được ưu thế về địa lý và mức độ tập trung nếu so sánh với việc Mỹ phải điều quân từ rất xa tới khu vực. Bởi vậy, tại vùng biển gần, thậm chí tại khu vực “chuỗi đảo thứ nhất”, hải quân Trung Quốc luôn chiếm ưu thế hỏa lực lớn hơn so với Hạm đội 7 của hải quân Mỹ.
Về mặt chính thức, Trung Quốc chưa từng công khai mục tiêu phát triển lực lượng hải quân của mình, tuy nhiên theo tính toán của giới chuyên gia Mỹ, đến năm 2035 hải quân Trung Quốc có thể sẽ sở hữu 430 tàu chiến hiện đại có năng lực tác chiến biển xa, bao gồm 270 tàu cỡ lớn và 160 tàu cỡ nhỏ, chưa kể đến các loại tàu khác như tàu quét ngư lôi, tàu đổ bộ cỡ nhỏ và các tàu phụ trợ. Khi đó, hải quân Trung Quốc sẽ đạt đến quy mô lớn nhất thế giới, bất kể là đánh giá theo tiêu chí nào.
Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang có những diễn biến phức tạp, việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh đổ bộ tấn công bằng tàu Type-075 khiến dư luận lo ngại tình hình căng thẳng ở vùng biển này có thể tiếp tục leo thang.
Ông Collin Koh, chuyên gia tại Trường nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam, Singapore, cho biết động thái triển khai tàu tấn công đổ bộ tiên tiến nhất của quân đội Trung Quốc tới Biển Đông là một thông điệp của Bắc Kinh gửi tới các nước láng giềng trong khu vực. Theo ông Collin Koh, các nước láng giềng của Trung Quốc có thể cảm thấy cần phải ứng phó với “sự bất cân xứng ngày càng lớn” trong cán cân quyền lực quân sự bằng cách nâng cấp lực lượng vũ trang của mình và tìm kiếm sự hỗ trợ từ các cường quốc bên ngoài.
Nhà lãnh đạo Trung Quốc có nguy cơ bị đổ lỗi cho thất bại của chính sách zero Covid từng có vẻ thành công.
Chính phủ Trung Quốc không có tính chính danh đến từ chiến thắng trong bầu cử. Nhưng các quan chức của nước này thường tuyên bố rằng Đảng Cộng sản có một nguồn chính danh thậm chí còn tốt hơn: “tính chính danh nhờ hiệu quả.”
Ý tưởng rằng chính phủ Trung Quốc có hiệu quả vượt trội so với một phương Tây đang rối loạn đã được truyền bá mạnh mẽ trong cuộc khủng hoảng Covid-19. Tại một buổi lễ vào năm 2020, Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố rằng “đại dịch một lần nữa chứng minh tính ưu việt của hệ thống xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc.” Vào ngày kỷ niệm lần đầu tiên virus bùng phát ở Vũ Hán, thành phố đã tổ chức một cuộc triển lãm minh họa cho thành công của Trung Quốc trong cuộc chiến chống lại dịch bệnh, với hình ảnh – như đài BBC đưa tin – “các mô hình nhân viên y tế trong bộ đồ bảo hộ, … và ở khắp mọi nơi, là những bức chân dung khổng lồ của Tập Cận Bình.”
Nhưng sự đắc thắng của Tập đang trở lại ám ảnh chính ông. Chính sách “zero Covid” đang dần sụp đổ. Thượng Hải, thành phố 26 triệu dân, đã bị phong tỏa suốt 5 tuần trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm ngăn chặn virus – với những câu chuyện đáng báo động về những người đói lả, hoặc phát điên, trong lúc chật vật với chuyện bị cách ly cưỡng chế.
Các nhà chức trách hiện tuyên bố rằng phong tỏa Thượng Hải đang dần được nới lỏng. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều lo ngại rằng Bắc Kinh có thể là siêu đô thị tiếp theo bị đóng cửa. Và nhiều đô thị kém quan trọng hơn đã bị hạn chế nghiêm trọng. Khoảng 345 triệu người hiện được cho là đang sống trong tình trạng phong tỏa toàn bộ hoặc một phần, tại 46 thành phố khác nhau.
Vấn đề cơ bản là biến thể Omicron của Covid-19 có khả năng lây lan rất cao. Thế nên, bất kỳ nỗ lực nào để ‘đưa thần Covid trở lại cây đèn’ đều có thể kết thúc trong thất bại.
Các tác động xã hội, tâm lý, và kinh tế từ những đợt phong tỏa như ở Thượng Hải là rất thảm khốc. Nhưng các tác động chính trị mới là điều khiến Tập lo lắng nhất. Nhà lãnh đạo Trung Quốc đang tiến đến giai đoạn quan trọng trong ‘triều đại’ của mình. Năm nay, ông sẽ hoàn thành hai nhiệm kỳ tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc – thời điểm mà hai người tiền nhiệm của ông rời khỏi nhiệm sở.
Tuy nhiên, Tập có ý định tiếp tục ở lại. Mong muốn đó phải được chấp thuận tại Đại hội 20 quan trọng của Đảng Cộng sản – nhiều khả năng sẽ diễn ra vào tháng 11. Nhiệm kỳ thứ ba với tư cách là lãnh đạo đảng sẽ giúp Tập siết chặt bàn tay cai trị đất nước. Trong những năm gần đây, tư tưởng Tập Cận Bình đã được ghi nhận trong điều lệ của Đảng Cộng sản, và các giới hạn nhiệm kỳ đối với vị trí chủ tịch nước cũng đã bị bãi bỏ.
Để đảm bảo củng cố quyền lực của Tập hơn nữa, theo đúng như kế hoạch, sự sùng bái cá nhân ông phải được duy trì. Nhưng giờ đây, nhà lãnh đạo Trung Quốc đang phải đối mặt với viễn cảnh u ám rằng giai đoạn ngay trước đại hội đảng sẽ bị tàn phá bởi khủng hoảng kinh tế và căng thẳng xã hội do các đợt phong tỏa liên tục.
Một giải pháp rõ ràng là chuyển hướng sang chính sách sống chung với virus theo kiểu phương Tây. Nhưng, trong khi một số chính phủ phương Tây mắc phải sai lầm trong phản ứng ban đầu trước Covid -19 vì tự do quá mức, thì Tập và Đảng Cộng sản lại gặp phải vấn đề ngược lại: kiểm soát quá mức. Bản năng ăn sâu trong tâm trí họ là phản ứng lại sự lây lan của đại dịch bằng cách yêu cầu người dân Trung Quốc giữ kỷ luật và hy sinh nhiều hơn bao giờ hết.
Giai đoạn mới của đại dịch cũng đang làm lộ ra những sai sót nguy hiểm trong phản ứng ban đầu của Trung Quốc đối với virus. Thành công ban đầu của chiến lược zero Covid giúp đảm bảo rằng số ca tử vong ở Trung Quốc chỉ vào khoảng vài nghìn người, so với hơn một triệu ca tử vong ở Mỹ. Đó là một chiến thắng thực sự.
Nhưng bị ru ngủ bởi thành công của chiến lược zero Covid, người Trung Quốc đã lơ là khâu tiêm chủng. Hiện tại, vẫn còn một số lượng lớn người già chưa được tiêm chủng đầy đủ. Và dường như vắc xin do Trung Quốc tự sản xuất có khả năng bảo vệ yếu hơn so với vắc xin mRNA, vốn đóng vai trò quan trọng đối với phản ứng của phương Tây. Sự kết hợp của hai yếu tố này có nghĩa là các quan chức Trung Quốc đang sợ hãi, nếu họ để Omicron bùng phát, hàng triệu đồng bào của họ có thể chết.
Đó sẽ là một thảm kịch quốc gia. Nó cũng sẽ là thảm kịch về mặt chính trị đối với Tập. Sau khi nhận lấy công lao cho thành công ban đầu của zero Covid, ông sẽ khó mà tránh khỏi việc bị đổ lỗi khi chính sách này đổ bể.
Các quan chức địa phương có thể bị quy trách nhiệm cho thiệt hại của đợt phong tỏa kéo dài ở Thượng Hải. Nhưng những cuộc phong tỏa tương tự trên khắp đất nước chắc chắn sẽ đặt ra câu hỏi về giới lãnh đạo quốc gia.
Cái giá kinh tế mà Trung Quốc phải trả có thể sẽ tăng cao hơn trong những tháng tới. Các chuỗi cung ứng đã bắt đầu ngưng hoạt động, và đầu tư đang sụt giảm do sự không chắc chắn về các đợt đóng cửa trong tương lai.
Đến một lúc nào đó, tất cả những điều này có thể khiến giới tinh hoa Trung Quốc đặt ra câu hỏi hiển nhiên – việc kéo dài nhiệm kỳ cai trị của Tập liệu có còn hợp lý? Không phải chỉ có nhà lãnh đạo Trung Quốc mới mắc sai lầm. Bất kỳ hệ thống quản trị nào đầu tư quá nhiều quyền lực và uy tín vào một cá nhân duy nhất đều dễ mắc phải những sai lầm nghiêm trọng mà hệ thống đó không thể sửa chữa.
Giới tình báo Đài Loan – những người có lẽ hiểu rõ hơn ai hết những gì đang xảy ra tại đại lục – vừa đưa ra một báo cáo rằng vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Tập.
Nhưng còn sáu tháng nữa mới diễn ra đại hội đảng quan trọng. Trong giai đoạn đó, các đợt phong tỏa lặp đi lặp lại có thể thử thách xã hội và nền kinh tế Trung Quốc. Việc tiếp tục nắm quyền của Tập có thể sẽ không còn được coi là điều hiển nhiên.