Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông tại TP.HCM ngày 26-10 cho thấy các vấn đề ở Biển Đông luôn sôi động trên nhiều lĩnh vực. Hội thảo cũng tạo không gian cho thế hệ kế cận của các quốc gia liên quan học hỏi và chia sẻ.
Các đại biểu trẻ thảo luận tại buổi hội thảo ngày 26-10
Hợp tác cảnh sát biển
Trong phiên 5 “Vai trò của cảnh sát biển trong tăng cường hợp tác ở Biển Đông”, các học giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các lực lượng cảnh sát biển ở khu vực.
Ý kiến của các học giả hầu hết đều nhấn mạnh tầm quan trọng của ngoại giao cảnh sát biển, trong đó các nước vừa và nhỏ nên đẩy mạnh hợp tác, tương tác, hành động nhất quán và đoàn kết dựa trên luật pháp quốc tế để tạo sức mạnh tập thể.
Bên cạnh đó, tham dự hội thảo qua hình thức trực tuyến, bà Paola Pampaloni – quyền vụ trưởng Vụ châu Á và Thái Bình Dương thuộc Cơ quan Đối ngoại châu Âu (EEAS) – phát biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương.
Bà Pampaloni cho biết Liên minh châu Âu (EU) có lợi ích chiến lược và kinh tế sống còn gắn liền với an ninh trên không gian biển và sự thịnh vượng của các quốc gia ven Biển Đông. Vì vậy, EU phản đối mạnh mẽ bất cứ hành vi nào làm gia tăng căng thẳng và làm suy yếu trật tự dựa trên luật lệ.
Bà Pampaloni cũng khẳng định Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là “ngọn đèn dẫn đường”, “kim chỉ nam” định hướng cho giải quyết hòa bình các tranh chấp tại khu vực.
Tài nguyên và cơ sở hạ tầng đáy biển
Phát triển điện gió ngoài khơi, chuyển đổi năng lượng và khai thác tài nguyên đất hiếm là nội dung được thảo luận tại phiên 6 của buổi hội thảo.
Có ý kiến cho rằng việc khai thác điện gió ngoài khơi cần chú ý quy định của UNCLOS 1982 liên quan đến khu vực an toàn 500m và các “biện pháp phù hợp” để bảo đảm an toàn giao thông hàng hải.
Hội thảo cũng nêu lên vấn đề cho việc tài nguyên biển sâu ở khu vực nằm ngoài vùng tài phán quốc gia là tài sản chung của nhân loại và bên nào sẽ có quyền tiếp cận với nguồn tài nguyên này.
Khai thác tài nguyên biển sâu vì vậy không chỉ là vấn đề môi trường mà còn đang trở thành vấn đề địa chính trị trong cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn.
Ngoài ra, hội thảo cũng bàn về cơ sở hạ tầng dưới đáy Biển Đông, trong đó có hệ thống cáp ngầm để kết nối và truyền tải thông tin, dữ liệu.
Mạng lưới cáp ngầm là hạ tầng cứng, không thể di chuyển, cùng với vị trí nằm dưới đáy biển dẫn đến việc khó giám sát và mất thời gian xử lý sự cố, khiến hệ thống này dễ trở thành mục tiêu tấn công và bị phá hoại.
Vì vậy, có ý kiến cho rằng các quốc gia cần đặt an ninh cơ sở hạ tầng đáy biển là cơ sở hạ tầng thiết yếu, ở mức ưu tiên tương đương với an ninh kinh tế, quốc phòng.
Biển Đông và thế hệ kế cận
Hội thảo năm này dành phiên đặc biệt cho các bài tham luận của đại diện thanh niên từ Úc, Indonesia, Philippines, Việt Nam và Tổ chức Đối tác về quản lý môi trường biển Đông Á (PEMSEA).
Trả lời Tuổi Trẻ Online, đại biểu Nicolás Antonio, sinh viên khoa luật tại Đại học Philippines, nhấn mạnh về các giải pháp hòa bình cho khu vực.
“Chúng tôi không muốn chiến tranh. Điều chúng tôi muốn là đối thoại và luật pháp, với gốc rễ là các nguyên tắc của luật pháp quốc tế”, anh Antonio nói.
Bên cạnh đó, Antonio cho rằng người trẻ cũng có cách riêng để đóng góp cho các vấn đề hiện tại ở Biển Đông.
“Chúng ta là thế hệ của mạng xã hội, chúng ta có thể dùng tiếng nói của mình để lên tiếng cho những người đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề. Đến từ một quốc gia mà những ngư dân là nhóm nghèo thứ hai, tôi tin rằng mình có thể dùng mạng xã hội để giúp câu chuyện của họ sáng tỏ”, Antonio nói thêm.
Theo bạn Đinh Thị Tùng Lâm, sinh viên năm thứ tư ngành luật quốc tế, Học viện Ngoại giao (Việt Nam), việc Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông năm nay dành một phiên để người trẻ được chia sẻ và lắng nghe là rất hữu ích.
“Tôi nghĩ rằng các vấn đề xoay quanh Biển Đông là rất phức tạp, không chỉ giải quyết trong hiện tại mà còn ở tương lai. Vì vậy, tiếng nói của người trẻ rất cần được lắng nghe và tôn trọng”, Lâm chia sẻ.
Phát biểu bế mạc hội thảo, tiến sĩ Nguyễn Hùng Sơn, phó giám đốc Học viện Ngoại giao, nhấn mạnh việc cần hướng tới tương lai, xây dựng đội ngũ chuyên gia, nhà lãnh đạo trẻ khu vực quan tâm, hiểu biết và có thói quen đối thoại và hợp tác.
Trung Quốc cho biết cuộc gặp giữa Tổng thống Joe Biden và Chủ tịch Tập Cận Bình khó diễn ra trừ khi Mỹ bắt đầu tuân thủ thỏa thuận mà hai nhà lãnh đạo đã đạt được vào năm ngoái.
Cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được kỳ vọng diễn ra bên lề cuộc họp của các nhà lãnh đạo dự Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương tại San Francisco, dự kiến bắt đầu vào ngày 14/11.
Các quan chức Nhà Trắng đã nói với các phương tiện truyền thông Mỹ rằng, cuộc gặp “dự kiến” sẽ diễn ra, nhưng chính phủ Trung Quốc vẫn chưa xác nhận việc ông Tập Cận Bình có cam kết gặp ông Biden hay không.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết con đường dẫn đến cuộc gặp thượng đỉnh ở San Francisco sẽ không “thuận buồm xuôi gió” và chính phủ hai nước không thể tự động biến điều đó thành hiện thực.
“Để đạt được mục tiêu này, hai bên phải quay trở lại Bali một cách hiệu quả”, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết, đề cập đến sự đồng thuận mà ông Tập và ông Biden đã đạt được khi hai nhà lãnh đạo gặp nhau vào tháng 11 năm ngoái ở Indonesia. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc được đưa ra sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị tới Washington vào cuối tuần trước và có cuộc gặp với Tổng thống Joe Biden, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken và Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Jake Sullivan.
Ông Vương nói rằng mặc dù Bắc Kinh rất coi trọng việc ổn định quan hệ Trung – Mỹ, nhưng chính phủ hai nước phải thực hiện các cam kết trước đây để “xóa bỏ can thiệp, vượt qua trở ngại, tăng cường đồng thuận và đạt được kết quả”.
Kể từ khi ông Biden nhậm chức vào tháng 1/2021, mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc đã xấu đi do căng thẳng thương mại, vấn đề Đài Loan và những bất đồng về cuộc xung đột Nga – Ukraine.
Ngoại trưởng Hàn Quốc nói nước này sẽ trả đũa nếu Nga chuyển giao công nghệ tên lửa cho Triều Tiên, trong bối cảnh Seoul ngày càng lo ngại về khả năng Bình Nhưỡng và Moscow tăng cường hợp tác quân sự.
Ngoại trưởng Park Jin đã nói “Có” khi được một nhà lập pháp hỏi rằng liệu Hàn Quốc có trả đũa nếu Nga chuyển giao công nghệ tên lửa hoặc vũ khí cho Triều Tiên hay không. Tuy nhiên, ông Park không nói cụ thể Hàn Quốc sẽ thực hiện những hành động gì.
Trước đó, Mỹ cáo buộc Bình Nhưỡng đã gửi hơn 1.000 container thiết bị quân sự và đạn dược tới Moscow, sau lần hội nghị thượng đỉnh hiếm hoi giữa nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Nga Vladimir Putin vào tháng 9.
Ông Park đưa ra bình luận trên một ngày sau khi Hàn Quốc, Mỹ và Nhật Bản ra tuyên bố chung lên án mạnh mẽ “giao dịch vũ khí” giữa Nga và Triều Tiên vì vi phạm các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Tuyên bố chung xác nhận rằng một số lô hàng vũ khí đã được hoàn tất chuyển giao.
Trên mạng xã hội, Bộ Quốc phòng Anh cũng nhận định rằng “gần như chắc chắn” là đạn dược của Triều Tiên đã đến miền tây nước Nga để sử dụng trong cuộc xung đột ở Ukraine. Ông Park từ chối xác nhận tiết lộ từ phía Mỹ về các lô vũ khí với lý do thông tin tình báo nhạy cảm, nhưng ông cho biết có “nhiều tình tiết đáng ngờ”.
Ngoại trưởng Triều Tiên Choe Son Hui đã phản ứng gay gắt trước tuyên bố chung của các Ngoại trưởng Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc lên án Triều Tiên cung cấp vũ khí và đạn dược cho Nga.
Nhà ngoại giao Triều Tiên gọi tuyên bố chung mới đây của ba nước Mỹ – Nhật – Hàn là “tài liệu chính trị hóa nhất, làm sai lệch nghiêm trọng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác” giữa Triều Tiên và Nga.
Trong khi đó, Ngoại trưởng Nga Lavrov bác bỏ thông tin của Washington về việc Triều Tiên gửi vũ khí cho Nga và gọi đây là ‘những tin đồn không căn cứ’
Ngày 27-10, Israel đã đột kích lần hai vào Dải Gaza, trong khi Mỹ oanh kích hai cơ sở ở miền đông Syria – nơi hoạt động của Lực lượng Vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) – nhằm đáp trả loạt tấn công vào quân nhân Mỹ ở Iraq và Syria.
Những động thái trên cho thấy cuộc xung đột giữa Hamas – Israel đã bước sang giai đoạn leo thang mới hết sức nguy hiểm.
Đầy mùi thuốc súng
Ngày 27-10, các lực lượng bộ binh, thiết giáp và công binh thuộc sư đoàn 36 cùng máy bay không người lái và trực thăng chiến đấu của quân đội Israel (IDF) đã xâm nhập vào trung tâm Dải Gaza và tấn công hàng chục mục tiêu của phong trào Hamas. Đây là cuộc đột kích Dải Gaza lần thứ hai trong vòng hai ngày của IDF.
Trong những ngày gần đây, các lực lượng Hezbollah ở Libăng ủng hộ Hamas đã bắn hàng loạt tên lửa từ miền Nam Libăng vào miền Bắc Israel. Phiến quân Houthi ở Yemen cũng đã phóng nhiều đợt tên lửa về phía Israel.
Các chiến binh dân quân Shia ủng hộ Hamas từ Dải Gaza cũng bắt đầu pháo kích vào các căn cứ quân sự của Mỹ ở Syria và Iraq. Tehran tuyên bố không có ý định khơi mào chiến tranh nhưng sẵn sàng đáp trả trong trường hợp Israel gây hấn.
Cùng với việc Israel đổ bộ vào Gaza, đêm 26 rạng 27-10, theo lệnh của Tổng thống Joe Biden, hai máy bay chiến đấu F-16 thuộc các lực lượng vũ trang Mỹ đã tấn công vào hai căn cứ quân sự ở thành phố Abu Kamal giáp biên giới với Iraq. Lầu Năm Góc cho biết hai căn cứ này thuộc IRGC.
Washington nói các cuộc tấn công này được thực hiện là để tự vệ và đáp trả một loạt cuộc tấn công vào các căn cứ quân sự của Mỹ ở Syria và Iraq từ 17-10, không liên quan gì đến xung đột giữa Israel và Hamas và không có sự phối hợp nào với Israel.
Tuy nhiên, dù muốn hay không thì việc Mỹ đưa một lực lượng quân sự lớn gồm tàu sân bay Gerald Ford, tiếp tục điều thêm tàu sân bay thứ hai mang tên USS Dwight D. Eisenhower cùng máy bay chiến đấu và 2.000 quân nhằm tăng cường sức mạnh quân sự cho Israel để đáp trả Hamas cũng như răn đe đối thủ khác trong khu vực là một hành động đổ thêm dầu vào lửa, châm ngòi cho cuộc chiến lan rộng ra toàn bộ khu vực.
Căng thẳng Mỹ – Iran
Đề hỗ trợ Israel đánh nhau với Hamas, Mỹ không cần đến tàu sân bay và một lực lượng quân sự lớn đến như vậy. Mục tiêu chính là nhằm vào Iran. Không phải ngẫu nhiên khi ngày 22-10 Bộ trưởng Kinh tế Israel Nir Barkat tuyên bố các lực lượng nước này sẽ xóa sổ Iran và Libăng nếu Hezbollah mở mặt trận phía bắc trong cuộc xung đột của Hamas với Israel.
Trong khi đó, Ngoại trưởng Iran Hossein Amir-Abdollahian nói: “Nếu các tội ác chống người Palestine không chấm dứt ngay lập tức, các mặt trận khác sẽ được mở ra và điều đó là không thể tránh khỏi”.
Israel không thể tiến hành được một cuộc chiến với Iran nếu không có được sự hỗ trợ của Mỹ.
Trong tình hình như vậy, không thể nói việc các căn cứ quân sự của Mỹ tại Iraq, Syria bị tấn công và việc Washington không kích hai căn cứ quân sự được cho là của Iran ở Syria không liên quan gì tới cuộc xung đột giữa Israel và Hamas ở Gaza.
Ngày càng có nhiều lo ngại rằng cuộc chiến ở Gaza có thể lan rộng ra khắp khu vực và biến các lực lượng Mỹ đóng quân ở nhiều căn cứ khác nhau thành mục tiêu.
Tình hình khu vực Trung Đông đang leo thang hết sức nguy hiểm. Ngày 27-10, quân đội Iran đã bắt đầu cuộc tập trận lớn với sự tham gia của hơn 200 máy bay trực thăng, nhiều đơn vị thiết giáp, bộ binh, đơn vị tấn công cơ động, lực lượng phản ứng nhanh, tên lửa, máy bay không người lái và các đơn vị công binh.
Người phát ngôn quân đội Iran Amir Chishak nói quân đội đã chuyển lực lượng và thiết bị quân sự từ bảy tỉnh của Iran sang tiến hành huấn luyện tại căn cứ Nasirabad ở Isfahan, miền trung đất nước.
Ông Chisak nhấn mạnh cuộc tập trận này là nhằm mục đích “đối đầu với các mối đe dọa tiềm tàng” mà Iran có thể gặp phải.
Các nước Mỹ, châu Âu đang tiến hành chiến dịch sơ tán công dân của mình khỏi Israel, Libăng và một số nước khu vực.
Còi báo động vang lên ở Ashdod, Kissufim, Tel Aviv và các khu vực lân cận trùng với thời điểm một loạt tên lửa mới hướng tới một số thành phố của Israel bao gồm Ashkelon và Tel Aviv.
Khu vực Trung Đông đang đứng trước nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh lớn. Tình hình này đòi hỏi phải có một cuộc ngừng bắn ngay lập tức và Israel phải rút ngay quân đội khỏi Dải Gaza.
Mỹ tiếp tục cấm vận Hamas
Theo Hãng tin Reuters, Bộ Tài chính Mỹ ngày 27-10 công bố vòng cấm vận thứ hai nhắm vào phong trào Hồi giáo Hamas.
Bộ này cho biết các biện pháp trừng phạt nhằm vào tài sản đầu tư của Hamas và những người hỗ trợ tổ chức này lách qua các lệnh cấm vận trước đây.
Theo lệnh cấm vận, những tài sản của Hamas ở Mỹ cũng bị đóng băng, trong khi người Mỹ bị cấm làm ăn với Hamas.
Không dừng ở đó, bộ này còn cấm vận một cá nhân người Jordan, được cho là đại diện của Hamas tại Tehran. Một nhánh của Lực lượng Vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran cũng bị trừng phạt do đã huấn luyện và hậu thuẫn nhiều thành viên Hamas.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Wally Adeyemo nhấn mạnh các biện pháp trừng phạt trên nhằm “vô hiệu hóa khả năng lợi dụng hệ thống tài chính quốc tế của Hamas”.
Tính đến tối 27-10, cuộc xung đột Israel – Hamas đã khiến 7.028 người Palestine ở Dải Gaza và 1.400 người Israel thiệt mạng
Trong phiên khai mạc Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 15 tại TP Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt đánh giá cao việc lựa chọn chủ đề của hội thảo: “Thu hẹp vùng biển xám, mở rộng vùng biển xanh”. Thứ trưởng nhấn mạnh, chỉ thông qua hợp tác, chúng ta mới có thể giúp Biển Đông chuyển màu sắc từ “xám” sang “xanh”, hướng tới hoà bình và phát triển bền vững.
Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 15 “Thu hẹp vùng biển xám, mở rộng vùng biển xanh” diễn ra trong hai ngày 25 và 26.10.
Tại lễ khai mạc, chia sẻ về lý do lựa chọn chủ đề của hội thảo năm nay, Quyền Giám đốc Học viện Ngoại giao Phạm Lan Dung cho biết, Ban Tổ chức mong muốn các chuyên gia cùng nhau phân tích về thực trạng Biển Đông và khu vực, làm rõ các quy tắc điều chỉnh chung, xác định các chính sách thúc đẩy lòng tin và hợp tác, làm sáng tỏ những hành vi có tác động tiêu cực tới trật tự dựa trên luật lệ và gia tăng căng thẳng. “Thu hẹp vùng biển xám” hướng tới mục tiêu khiến không gian biển trở nên minh bạch và hoà bình hơn. “Mở rộng vùng biển xanh” nhằm xác định những tiềm năng của biển và tương lai, thông qua việc thúc đẩy những thực tiễn tốt trong những lĩnh vực quan trọng như chuyển đổi xanh, các công nghệ, nghiên cứu và đầu tư liên quan đến năng lượng điện gió, chuyển đổi năng lượng biển…
Hội thảo cũng tập trung trao đổi, thảo luận về cách thức các lực lượng trên biển và các cơ chế khu vực có thể đóng góp một cách xây dựng vì mục tiêu hướng tới một Biển Đông “xanh hơn”, “hoà bình hơn”.
Trong bài diễn văn chính tại phiên khai mạc, Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt cho rằng, hiện nay trọng tâm toàn cầu đang tiếp tục chuyển dịch về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Khu vực này đã và đang trở thành trung tâm của tăng trưởng toàn cầu và là đầu tàu quan trọng cho phục hồi toàn cầu và thịnh vượng tương lai. Nhưng tương lai đó không thể được đảm bảo nếu thiếu đi hoà bình, ổn định bền vững nói chung và trên không gian biển khu vực nói riêng.
Hiện nay, cạnh tranh chiến lược đang tạo ra những “chia rẽ lớn” và “rạn nứt lớn” theo như nhận định của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Guterres. Xung đột đang diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới; trên không gian biển tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, chắc chắn không tránh khỏi nguy cơ đối đầu và xung đột. Tình hình đó buộc chúng ta phải liên tục nhận diện những mối đe doạ tiềm tàng trên biển, rà soát những cơ chế hợp tác hiện hành để giải quyết những thách thức mới nổi và cùng nhau hành động ngăn chặn những mối đe doạ đó. So với 15 năm trước, tình hình Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp hơn, nhiều “vùng xám” mới nảy sinh cần phải được làm sáng tỏ. Bên cạnh đó, Biển Đông vẫn là khu vực mang lại nhiều cơ hội hợp tác tiềm năng. Đáng chú ý, hiệp định mới về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học tại khu vực nằm ngoài quyền tài phán quốc gia là minh chứng cho thấy các nước có mối quan tâm chung đối với biển. Việt Nam tự hào là một trong những nước tham gia ký kết đầu tiên. Trong bối cảnh đó, Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt đánh giá cao việc lựa chọn chủ đề của hội thảo; nhấn mạnh rằng chỉ thông qua hợp tác, chúng ta mới có thể giúp Biển Đông chuyển màu sắc từ “xám” sang “xanh”, hướng tới hoà bình và phát triển bền vững. Để làm được điều đó, điều quan trọng là phải tôn trọng và tuân thủ luật biển quốc tế, được thể hiện trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
Trong thời gian qua, Việt Nam và các quốc gia ASEAN luôn nỗ lực hướng tới một trật tự khu vực, bao gồm không gian biển ổn định, dựa trên luật lệ. Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ việc hiện thực hoá và triển khai hiệu quả Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Tầm nhìn Hợp tác biển vừa mới được ASEAN thông qua. Đồng thời, Việt Nam luôn luôn ủng hộ những sáng kiến mới vì mục tiêu chung, thông qua các cơ chế song phương, đa phương và mới.
Hội thảo quốc tế về Biển Đông lần thứ 15 diễn ra trong hai ngày 25-26.10 với 8 phiên về các chủ đề đa dạng như: Biển Đông: Chặng đường 15 năm qua; Cách tiếp cận đa phương về Biển Đông: Một xu hướng mới?…
Bên cạnh những nguy cơ và rủi ro tiềm ẩn, cuộc xung đột hiện nay giữa Israel và Hamas cũng mang lại lợi ích cho một số bên.
Cuộc xung đột giữa Israel và Hamas tác động không nhỏ tới thế giới.
Hôm 7/10, Hamas triển khai các tay súng bằng đường không, đường bộ và đường biển trong cuộc tấn công nhằm vào Israel. Israel sau đó phong tỏa dải Gaza, tập kích và mở chiến dịch cục bộ nhằm vào khu vực để đáp trả khiến xung đột leo thang, nguy cơ lan rộng ở Trung Đông.
Nhìn chung, phần lớn các nước liên quan, dính líu đến xung đột ở dải Gaza sẽ hứng chịu ảnh hướng ở mức độ nào đó, song cũng có không ít bên hưởng lợi từ tình hình căng thẳng hiện nay.
Giá dầu thế giới tăng
Cuộc chiến giữa lực lượng Hamas và Israel gây ra một trong những rủi ro địa chính trị đáng kể nhất đối với thị trường dầu mỏ kể từ khi Nga phát động chiến dịch quân sự ở Ukraine vào năm ngoái.
Trong khi giá dầu vẫn chưa bị ảnh hưởng, các nhà phân tích và quan sát thị trường chỉ ra hai tác động lớn nếu xung đột leo thang.
Đầu tiên, Mỹ có thể thắt chặt hoặc tăng cường thực thi các biện pháp trừng phạt đối với Iran nếu nước này dính líu đến hoạt động của Hamas.
Thứ hai, một thỏa thuận do Washington làm trung gian nhằm bình thường hóa quan hệ giữa Ả Rập Xê-út và Israel, vốn có thể khiến vương quốc này tăng sản lượng dầu, có thể khiến giá dầu thay đổi.
Dầu thô Brent đã tăng khoảng 3,50 USD lên mức 89 USD/thùng trong phiên giao dịch đầu tiên sau khi Hamas phát động cuộc tấn công bất ngờ vào Israel hôm 7/10. Sau đó, giá dầu lại giảm cho đến khi Mỹ áp lệnh trừng phạt lên tàu chở dầu Nga, dựa trên mức giá trần do G7 áp đặt. Với động thái trên, giá dầu thế giới lại tiếp tục tăng lên mức 88 USD.
Các nhà phân tích và người trong ngành so sánh tình hình hiện nay với cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 – khi Ả Rập Xê-út tiên phong áp lệnh cấm vận nhắm vào các quốc gia đã hỗ trợ Israel trong Chiến tranh Yom Kippur, động thái khiến giá dầu tăng mạnh.
Cụ thể, cả Ả Rập Xê-út và Nga đã tuyên bố cắt giảm nguồn cung nhiên liệu tự nguyện cho đến cuối năm 2023, đẩy giá dầu lên mức cao nhất trong 10 tháng qua vào cuối tháng 9 /2023. Tuy nhiên sau đó, những lo ngại về kinh tế vĩ mô đã góp phần kiềm hãm và kéo mức giá dầu giảm mạnh.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế hồi đầu tháng 10 cho biết, xung đột Israel – Hamas không có tác động trực tiếp đến nguồn cung dầu. Tuy nhiên, ông David Goldwyn, cựu đặc phái viên về các vấn đề năng lượng quốc tế tại Bộ Ngoại giao Mỹ, nhận xét các nguyên tắc cơ bản sẽ vẫn là động lực lớn đối với xu hướng giá dầu hiện nay. Dù vậy, khi xung đột kéo dài, vẫn có nguy cơ ảnh hưởng tới nguồn cung dầu của thế giới và những ông lớn xuất khẩu dầu vẫn có thể hưởng lợi từ vấn đề này
Nga gia tăng ảnh hưởng ở Trung Đông
Theo một số chuyên gia, xung đột tại dải Gaza góp phần chuyển hướng chú ý của phương Tây khỏi xung đột giữa Nga và Ukraine – động thái được xem là có lợi cho Moskva. Sự kiện diễn ra vào thời điểm tương đối thuận lợi cho Nga, đặc biệt khi công chúng phương Tây bắt đầu cảm thấy mệt mỏi với cuộc chiến kéo dài 19 tháng qua.
Các chuyên gia cũng cho rằng, khi xung đột Israel – Hamas kéo dài, dư luận sẽ bắt đầu đặt câu hỏi về quan hệ và sự hỗ trợ của Mỹ dành cho Ukraine. Andrius Tursa, Central Cố vấn về thị trường Đông Âu tại công ty tư vấn rủi ro Teneo, chia sẻ: “Nếu giao tranh giữa Israel – Hamas kéo dài, sẽ xuất hiện những câu hỏi về khả năng Mỹ cung cấp sự hỗ trợ về mặt quân sự cho Ukraine và Israel”.
Ngay cả từ trước khi bạo lực nổ ra ở dải Gaza, nhiều câu hỏi đã được đặt ra về sự ủng hộ “vô điều kiện” của Mỹ dành cho Ukraine, đặc biệt sau khi Quốc hội Mỹ thông qua dự luận chi tiêu tạm thời để ngăn chính phủ đóng cửa, trong đó không bao gồm các khoản viện trợ mới cho Ukraine.
Tuy nhiên, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskyy sau đó có cuộc gặp với các đồng minh NATO tại Brussels (Bỉ). Tại đây, phương Tây tái khẳng định cam kết ủng hộ Ukraine.
Ngoài ra, Nga là một trong số ít quốc gia có quan hệ tốt với Israel và một số quốc gia ở Trung Đông như Syria. Do đó, Moskva có thể tận dụng những mối quan hệ này để đóng vai trò trung gian hòa giải, giúp Nga tăng cường vị thế tại Trung Đông. Điều này đặc biệt có lợi cho Nga sau khi nước này phải chịu những lời chỉ trích gay gắt từ phương Tây đối với chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine.
Samuel Ramani, chuyên gia phân tích chính trị tại Viện Nghiên cứu quốc phòng và an ninh Hoàng gia Anh (RUSI), nói với CNBC: “Nga có thể coi đây là cơ hội lớn để nâng tầm ảnh hưởng ngoại giao trong khu vực”.
“Nga đã hợp tác với Lebanon để ngăn xung đột lan rộng. Họ đã trao đổi với Iraq, Thủ tướng Iraq đến thăm Nga và 2 nhà lãnh đạo cũng đề cập tới sự hợp tác của OPEC +. Nga cũng hợp tác với Thổ Nhĩ Kỳ và với Ai Cập về lệnh ngừng bắn. Những điều này cho thấy Nga không bị cô lập ở Trung Đông và Nga vẫn duy trì các mối quan hệ đối tác ngoại giao như thời kỳ trước xung đột”, ông Ramani nói thêm.
Tuy nhiên, theo ông Ramani, nếu xung đột lan ra nhiều mặt trận khác như Syria, Iraq hoặc Lebanon, thì điều đó sẽ đem lại rắc rối cho Nga. Do đó, Moskva vẫn sẽ cần phải thận trọng, tránh để lún sâu vào cuộc xung đột.
Iran hưởng lợi về chiến lược
Đánh giá tình hình tại Trung Đông hiện nay, ông François Heisbourg, cố vấn đặc biệt tại Quỹ Nghiên cứu chiến lược, cho rằng Iran là nước hưởng lợi chiến lược. Cựu Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Israel Eran Lerman cũng nhận định, Iran đã tận dụng cuộc xung đột Israel – Hamas để đánh lạc hướng thế giới khỏi các dự án hạt nhân và “nước này đã thành công”.
Mặt khác, Iran hiện vẫn có sức ảnh hưởng rất lớn ở Trung Đông. Bất chấp các biện pháp cấm vận kéo dài hàng thập kỷ của Mỹ, Iran vẫn xây dựng được lực lượng quân sự mạnh mẽ, sở hữu nhiều khí tài hiện đại tự sản xuất, giàu kinh nghiệm tác chiến.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) cũng là bên huấn luyện và cung cấp vũ khí cho nhiều phe phái đối địch với Mỹ trong khu vực, trong đó có nhóm Houthi ở Yemen, Hezbollah ở Lebanon, Hamas và nhóm Hồi giáo Jihad ở dải Gaza.
Trong khi đó, theo Financial Times, đến thời điểm hiện tại, các sự kiện ở dải Gaza đã hiện thực hoá một số mục tiêu của Iran: Nâng vị thế của nước này với tư cách là nước đối thoại trong khu vực, ngăn chặn quá trình bình thường hoá quan hệ giữa Israel và Ả Rập Xê-út, điều vốn sẽ khiến Iran bị cô lập hơn nữa và làm suy yếu Israel.
Lãnh đạo tối cao của Iran Ayatollah Ali Khamenei tuyên bố cuộc xung đột là “thất bại không thể khắc phục” đối với Israel, đồng thời nhấn mạnh Israel “sẽ không thể dễ dàng phục hồi sau đòn đánh này”.
Mỹ bội thu?
Bên cạnh Nga và Iran, một số chuyên gia nghiên cứu cũng cho rằng Mỹ sẽ được hưởng lợi từ cuộc xung đột Israel – Hamas hiện nay, đặc biệt khi Mỹ là đồng minh thân thiết nhất và giành sự ủng hộ mạnh mẽ cho Israel trong khu vực.
Được biết, Mỹ cung cấp cho Israel hơn 3 tỷ USD viện trợ quân sự mỗi năm. Tuy nhiên, Quốc hội Mỹ có thể sớm hành động để tăng nguồn tài trợ. Trong khi đó, Israel đã yêu cầu Mỹ viện trợ khẩn cấp 10 tỷ USD hỗ trợ trong bối cảnh xung đột leo thang với Hamas.
Theo nhà phân tích François Heisbourg, Mỹ có thể tái khẳng định vai trò ưu việt của mình tại Trung Đông với sự ủng hộ này dành cho Israel. Qua đó, Mỹ tiếp tục tăng cường vị thế và ảnh hưởng, đặc biệt với các đồng minh phương Tây. Hiện có những thông tin cho rằng Washington đang thảo luận về các biện pháp hỗ trợ song song cả Israel và Ukraine trong thời điểm cả 2 cuộc xung đều đang diễn biến khó lường.
Bên cạnh đó, cuộc xung đột Israel – Hamas đã thúc đẩy thị trường vũ khí toàn cầu. Doanh số bán hàng tăng vọt mang lại cho chính quyền Tổng thống Joe Biden những cơ hội mới để thắt chặt hợp tác quốc phòng giữa Mỹ – nhà xuất khẩu vũ khí lớn nhất thế giới, với các nước.
Cụ thể, Washington đang bắt đầu tiếp cận khách hàng mới như Ấn Độ và Indonesia, đồng thời bán nhiều hơn cho đồng minh và người mua hiện tại. Việc mua các hệ thống vũ khí do Mỹ sản xuất thường đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ với quân đội Mỹ về bảo trì, nâng cấp quan hệ song phương.
Chính quyền Tổng thống Biden cũng đang tận dụng nhu cầu vũ khí do Mỹ sản xuất từ các nước để thúc đẩy ảnh hưởng về mặt ngoại giao, đặc biệt là ở châu Á, nơi Washington đang nỗ lực củng cố các liên minh như một đối trọng trước sức mạnh ngày càng mở rộng của Trung Quốc.
Các thỏa thuận về thiết bị quân sự của Mỹ dưới thời chính quyền Biden cũng đã được thảo luận hoặc ký kết với Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Australia và Nhật Bản, thậm chí với một số quốc đảo nhỏ ở Thái Bình Dương. Chỉ riêng Đài Loan (Trung Quốc), các đơn hàng vũ khí Mỹ còn lại hiện có trị giá lên tới 19 tỷ USD.
Tại Trung Đông, bên cạnh Israel, Mỹ cũng có quan hệ buôn bán vũ khí với Ả Rập Xê-út, khách hàng mua vũ khí lớn nhất của Mỹ. Trong 2 năm qua, Ả Rập Xê-út đã đặt hàng mua thêm hàng tỷ USD khí tài, trong đó có cả đơn đặt hàng được đưa ra vào tháng trước về các bộ phận cần thiết để duy trì hoạt động của xe tăng và hệ thống vũ khí do Mỹ sản xuất.
Tàu chiến của 5 quốc gia gồm Mỹ, Australia, Canada, Nhật Bản và New Zealand bắt đầu tập trận chung ở Biển Đông từ ngày 24/10.
Mỹ, Australia, Canada, Nhật Bản và New Zealand tập trận chung ở Biển Đông từ hôm 24/10
Cuộc tập trận Hải quân chung lần này do Mỹ dẫn đầu mang tên “Noble Caribou”.
Đây là cuộc tập trận nhằm mục đích nâng cao kỹ năng chiến thuật và tăng cường hợp tác với hải quân các nước tham gia ở Biển Đông, Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản (JDMSF) cho biết.
“Chúng tôi tin rằng thông qua cuộc tập trận đa phương này, chúng tôi có thể nâng cao năng lực chiến thuật và tăng cường hợp tác với hải quân các nước tham gia, cũng như thể hiện ý chí và khả năng mạnh mẽ trong chiến đấu, tạo ra môi trường an ninh không chấp nhận những thay đổi đơn phương về hiện trạng bằng vũ lực”, Tư lệnh lực lượng Nhật Bản Togawa Hisado nêu rõ.
Tư lệnh Hisado nhấn mạnh thêm rằng: “Chúng tôi sẽ tham gia vào các nhiệm vụ sắp tới của mình đồng thời duy trì tư thế sẵn sàng ứng phó nhanh chóng với bất kỳ tình huống khẩn cấp nào”.
Cuộc tập trận hải quân đa quốc gia trên diễn ra trong bối cảnh căng thẳng leo thang gần đây giữa Trung Quốc và Philippines trên Biển Đông.
Trung Quốc cho biết, tàu thương mại của nước này hoạt động bình thường ở khu vực vào thời điểm xảy ra sự việc vỡ đường ống khí đốt ở biển Baltic.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh
Tại cuộc họp báo ngày 23/10, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh khẳng định: “Vào thời điểm xảy ra sự việc, tàu của Trung Quốc hoạt động bình thường tại vùng biển đó. Vào thời điểm đó, tàu Trung Quốc không phát hiện điều gì bất thường”.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đồng thời kêu gọi tiến hành một cuộc điều tra “khách quan, công bằng và chuyên nghiệp”.
Bà nhấn mạnh, Trung Quốc luôn ủng hộ việc cộng đồng quốc tế tăng cường hợp tác và đảm bảo an toàn cho các hạ tầng xuyên quốc gia.
Những bình luận trên được đưa ra không lâu sau khi cảnh sát Phần Lan công bố báo cáo, trong đó đặt nghi vấn đề một tàu của Trung Quốc vì con tàu này xuất hiện đúng thời điểm đường ống dẫn khí đốt Balticconnector giữa Phần Lan và Estonia ở biển Baltic bị vỡ hôm 8/10.
Giới chức Phần Lan đánh giá đây là một vụ phá hoại và quyết định tạm ngừng hoạt động của đường ống, xúc tiến điều tra. Theo báo cáo điều tra mới nhất, phía Phần Lan cho hay, trọng tâm của cuộc điều tra hiện nay là tàu hàng Newnew Polar Bear treo cờ Hong Kong.
Vụ vỡ đường ống buộc Phần Lan phải tìm nguồn cung khí đốt thay thế trong mùa đông trong thời gian sửa chữa đường ống. Việc sửa chữa được dự đoán mất đến 5 tháng.
Trong tháng 10, xung đột trên Biển Đông tiếp tục gia tăng. Nhưng do sự bùng phát chiến tranh giữa Hamas và Israel từ ngày 7/10, cho nên, có cảm giác những con sóng Biển Đông như bị chìm khuất trong màn khói của bom đạn trên dải đất Gaza.
Gia tăng xung đột là nói chung như vậy. Thật ra thì căng thẳng nhất là những va chạm giữa Trung Quốc và Philippines. Tàu chiến của hai nước liên tục xảy ra đụng độ. Nhưng khi tố cáo nhau thì không bên nào nhận rằng mình sai mà đều tuyên bố đối phương đã đi vào khu vực thuộc chủ quyền của mình.
Mới đây Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã đưa ra lời cáo buộc, cũng là phản bác trong một thông cáo báo chí. Cáo buộc cảnh cáo Manila: Ngày 22/10 tàu Philippines đã xâm phạm vùng biển tiếp giáp với Đá Nhân Ái thuộc quần đảo Nam Sa của Trung Quốc (!) Phía Trung Quốc đã nhiều lần cảnh báo nhưng Philippines vẫn phờt lờ. Vì vậy, cảnh sát biển Trung Quốc buộc phải điều tàu đến ngăn chặn.
Thông cáo báo chí còn nêu cụ thể: Vào hồi 6 h14’, du thuyền “Yunaza May” 2 của Philippines đã cố tình vượt qua tàu tuần duyên 5203 của Trung Quốc gây đụng độ nhẹ. Lúc 8h13’, tàu cảnh sát biển Philippines 4409 cố tình gây rối, chủ động lùi phương tiện và va chạm với mạn phải của tàu cá Qiongsansha 00003 của Trung Quốc đang neo đậu.
Trung Quốc buộc tội, rằng Manila đã cố tình gây rối, làm cho tình hình tại hiện trường leo thang căng thẳng. Philippines cần nhớ rằng, những hành động đó đã vi phạm nghiêm trọng các quy tắc quốc tế về tránh va chạm trên biển và đe dọa an toàn hàng hải của các tàu Trung Quốc.
Tại một khu vực khác trên Biển Đông – vùng biển quanh Bãi Cỏ Mây của Việt Nam và bãi cạn Scarborough thường xuyên xảy ra sự khiêu khích, đe dọa lẫn nhau giữa tàu Philippines và tàu Trung Quốc. Do có kích thước và trọng tải lớn hơn, cho nên các tàu cảnh sát biển Trung Quốc tìm mọi cách chèn ép, hòng đẩy lùi các tàu Philippines ở vùng biển quanh các đảo và bãi đá đang có tranh chấp.
Căng thẳng nhất là hôm 5/8, tàu bảo vệ bờ biển của Trung Quốc đã bắn “vòi rồng” ngăn cản tàu Philippines vận chuyển hàng tiếp tế tới Bãi cạn Second Thomas. Tới 8/9 cảnh sát biển Trung Quốc lớn tiếng kết tội: Hai tàu tiếp tế của Philippines và hai tàu cảnh sát biển “đã liều lĩnh tiến vào vùng biển tiếp giáp với Đá Nhân Ái thuộc quần đảo Nam Sa của Trung Quốc”.
Mặc cho Trung Quốc la ó, Manila vẫn tai lành tai điếc, sáng 10/10 một pháo hạm của Hải quân Philippines thêm một lần xâm nhập vùng biển tiếp giáp Bãi cạn Scarborough, bất chấp việc Trung Quốc cảnh báo và ngăn chặn.
Không phải bây giờ mà cách đây hơn 20 năm, vào năm 1999, Philippines đã cho tàu đổ bộ BRP Sierra Madre trú ở Bãi cạn Second Thomas. Quân đội nước này đã đóng quân ở đó để khẳng định quyền kiểm soát thực tế.
Qua đây cho thấy chính sách của Manila trước sau không thay đổi. Căng thẳng càng cao từ khi Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. nắm quyền. Thái độ sớm nắng chiều mưa của cựu Tổng thống Rodrigo Duterte trước đây đã bị thay đổi bởi chính sách cứng rắn của Tổng thống đương nhiệm. Philippines đang tìm cách thiết lập quan hệ song phương chặt chẽ hơn với Mỹ, một bước tiến mới là cho phép Mỹ tiếp cận nhiều hơn các căn cứ quân sự của mình.
Những hành động gây căng thẳng trên Biển Đông là “chuyện thường ngày” của các bên. Điều này Trung Quốc có hẳn một “chiến thuật vùng xám” để hóa giải. Trung Quốc cũng kiên trì thực hiện quyền được tiếp cận một cách tự do và không giới hạn đối với các vùng biển quốc tế và các tuyến hàng hải chạy qua đó.
Theo đó, sự hiện diện của riêng hải quân Trung Quốc đã tới mức kỷ lục, nhưng nước này vẫn đang có ý đồ tăng cường sự hiện diện hơn nữa. “Con gà tức nhau tiếng gáy” , ở đây là “tiếng gáy” vang động cả khu vực, dậy sóng cả vùng biển vốn nhiều tranh chấp kéo dài. Mỹ nói rằng, họ buộc phải gia tăng hiện diện hải quân ở khu vực này. Tổng thống Joe Biden đã nói thẳng ý đồ của Nhà Trắng trong việc duy trì vai trò “trọng tài” ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Không chấp nhận làm quan sát viên, làm kẻ ngoài cuộc, Liên minh châu Âu (EU) đã công bố chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. EU nhấn mạnh nhu cầu tiếp cận tự do và mở đối với các vùng biển và tuyến thương mại quốc tế. Riêng Anh gửi một hạm đội tàu chiến tới vùng này. Đây là hạm đội lớn nhất mà nước này từng triển khai kể từ cuộc chiến Malvinas/Falkland năm 1982.
Những căng thẳng và những hành động can dự của các quốc gia là điềm báo không lành về một kịch bản chiến tranh. Có điều, Trung Quốc rất tinh ranh, luôn tìm cách bác bỏ các giải pháp pháp lý, xổ toẹt các chứng cứ lịch sử, không chấp nhận đàm phán đa phương. Cách “tiếp cận từ từ” của Bắc Kinh là nhằm để tránh xung đột quy mô lớn. Có thể gọi đây là sự trì hoãn chiến lược.
Trong tương lai, Trung Quốc sẽ tiếp tục chiêu thức này, áp dụng chiến thuật “vết dầu loang” để tiến tới biến Biển Đông thành ao nhà của mình.
Sáu tàu chiến của Trung Quốc hoạt động ở Trung Đông trong tuần qua, trong bối cảnh căng thẳng khu vực leo thang vì xung đột Israel – Hamas.
Thủy thủ Trung Quốc và sĩ quan Oman chụp ảnh chung khi nhóm tàu Trung Quốc thăm Muscat.
SCMP ngày 20/10 dẫn thông tin trang web của Bộ Quốc phòng Trung Quốc đưa tin, lực lượng Đặc nhiệm hộ tống hải quân số 44 tham gia các hoạt động thường lệ trong khu vực kể từ tháng 5 và tuần trước có chuyến thăm Oman trong vài ngày, bao gồm một cuộc tập trận chung với hải quân nước này.
Truyền thông nhà nước đưa tin, lực lượng đặc nhiệm rời thủ đô Muscat hôm 14/10 để đến một địa điểm không được công bố.
Trong chuyến thăm, các chỉ huy Trung Quốc gặp quan chức quân sự Oman và thăm các cơ sở quân sự, trong khi thủy thủ hai nước đi tham quan các cửa hàng. Theo Tân Hoa Xã , hai bên còn tổ chức một trận đấu bóng rổ.
Lực lượng đặc nhiệm thuộc Bộ Tư lệnh chiến khu miền Đông thuộc quân đội Trung Quốc thực hiện chuyến thăm cùng tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường Type 052D Zibo, tàu khu trục Jingzhou và tàu tiếp tế tích hợp Qiandaohu.
Đoàn đã tham gia các nhiệm vụ hộ tống vận chuyển từ khi đến Vịnh Aden ở phía bắc Somalia từ 6 tháng trước và bàn giao nhiệm vụ cho lực lượng Đặc nhiệm hộ tống hải quân số 45 vào đầu tháng này.
Đoàn thay thế đến từ Bộ Tư lệnh chiến khu miền Bắc của quân đội Trung Quốc, sử dụng 1 tàu khu trục Type 052 Urumqi, 1 tàu khu trục Linyi và tàu tiếp tế Dongpinghu.
Theo Tân Hoa Xã , tàu Linyi tham gia nhiệm vụ hộ tống một tàu chở hàng của Panama tại địa điểm không được công bố vào đầu tháng này. Đây là nhiệm vụ hộ tống đầu tiên của tàu khu trục Zibo từ khi nó được đưa vào hoạt động từ tháng 1/2020.
Tàu Urumqi được đưa vào hoạt động vào đầu năm 2018 và đã tham gia vào một nhiệm vụ hộ tống khác ở Vịnh Aden hai năm trước. Các tàu khu trục Type 052D được trang bị hệ thống tác chiến điện tử và radar tiên tiến tương đương với hệ thống Aegis của Mỹ và có bệ phóng tên lửa.
Điều đó nghĩa là có sáu tàu Hải quân Trung Quốc hoạt động ở vùng biển Trung Đông khi căng thẳng gia tăng trong khu vực. Sau cuộc tấn công của lực lượng Hamas vào Israel ngày 7/10, Mỹ đã điều tàu sân bay tiên tiến nhất USS Gerald R Ford và tác chiến tới phía đông Địa Trung Hải.
Nhóm tấn công tàu sân bay Dwight D Eisenhower cũng đang trên đường tới khu vực. Ngày 18/10, Lầu Năm Góc thông báo điều thêm tàu chỉ huy USS Mount Whitney tới phía đông Địa Trung Hải.
Một số quốc gia, bao gồm Anh, Đức và Pháp, đã điều động máy bay quân sự hoặc dân sự đến sơ tán công dân của họ khỏi Israel.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết, hơn 1.000 công dân Trung Quốc đã rời khỏi Israel kể từ khi xung đột nổ ra. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mao Ninh cho biết, 280 công dân Trung Quốc mắc kẹt ở thành phố Sderot, miền nam Israel, cũng đã được sơ tán.
Các cuộc di tản trước đây của Trung Quốc ở Trung Đông đều sử dụng tàu chiến hộ tống. Tháng 5 năm nay, Trung Quốc cử một tàu tiếp tế và một tàu khu trục Type 052D tới Sudan để sơ tán hơn 1.000 người Trung Quốc, Brazil và Pakistan khỏi khu vực xung đột vũ trang.
Năm 2015, tàu chiến Trung Quốc sơ tán 225 người nước ngoài và gần 600 công dân Trung Quốc khỏi Yemen.
“Gã khổng lồ” xe điện Trung Quốc BYD cho biết họ kỳ vọng lợi nhuận ròng trong quý III sẽ tăng gấp đôi nhờ doanh số bán hàng tăng vọt và loạt biện pháp kiểm soát chi phí hiệu quả.
Xuất thân là một công ty sản xuất pin, BYD hiện đã trở thành thương hiệu xe bán chạy nhất Trung Quốc.
“Bất chấp sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong ngành ô tô trong quý III, công ty vẫn tiếp tục ghi nhận lợi nhuận tăng mạnh”, Reuters trích thông báo của BYD.
Hãng xe này đồng thời dự báo lợi nhuận ròng trong quý III vừa qua sẽ dao động ở mức từ 9,55 tỷ nhân dân tệ (1,31 tỷ USD) đến 11,55 tỷ nhân dân tệ (1,57 tỷ USD). Tương ứng tăng từ 67% đến 102% so với một năm trước đó.
“Sở dĩ có kết quả tích cực này là nhờ công ty tận dụng sức ảnh hưởng ngày càng tăng của thương hiệu, liên tục mở rộng quy mô và khả năng kiểm soát chi phí trên toàn chuỗi cung ứng hiệu quả”, BYD nêu rõ.
Lợi nhuận ròng trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 9 của BYD dự kiến sẽ tăng 120-142% so với cùng kỳ lên từ 20,50 tỷ nhân dân tệ (2,8 tỷ USD) đến 22,50 tỷ nhân dân tệ (3 tỷ USD), tăng mạnh so với mức lợi nhuận ròng 9,31 tỷ nhân dân tệ cùng kỳ năm trước.
Nhà phân tích Jeff Chung của ngân hàng Citi cho biết các dự đoán trước đó có thể đã không nắm bắt được các yếu tố như lợi nhuận từ xuất khẩu tăng và công ty này tiếp tục cắt giảm mạnh chi phí.
Ông cho biết ông vẫn lạc quan về BYD cho đến năm 2024 nhờ doanh số xuất khẩu mạnh mẽ và khả năng trụ vững trong chu kỳ giảm giá trong nước so với các đối thủ cạnh tranh.
Cổ phiếu BYD đã tăng 6,89% ngay sau khi kết quả kinh doanh được công bố.
Doanh số bán xe năng lượng mới (NEV) của BYD đã đạt mức cao kỷ lục trong quý III, giúp công ty đứng đầu thế giới về doanh số NEV. Dữ liệu của công ty cho thấy công ty đã bán được 824.001 chiếc NEV trong quý III, tăng 53% so với một năm trước.
Tuần trước, BYD cho biết họ đã đồng ý bán 2.000 xe buýt điện cho Uzbekistan và sẽ hợp tác với chính quyền thành phố Tashkent để thúc đẩy điện khí hóa các phương tiện giao thông công cộng ở thủ đô.
Xuất thân là một công ty sản xuất pin, BYD hiện đã trở thành thương hiệu xe bán chạy nhất Trung Quốc và đang trên đà vượt qua Tesla để trở thành nhà sản xuất xe điện hàng đầu thế giới.
BYD dự kiến bán 3,6 triệu xe năm nay (gồm cả xe điện và xe hybrid). Con số này có thể đưa hãng vào top 10 hãng xe lớn nhất thế giới về số xe bán ra.
Trong những tháng gần đây, khi nhu cầu ở Trung Quốc suy yếu, BYD đã đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng hơn nữa sang thị trường châu Âu và Đông Nam Á.
BYD đã gây ấn tượng mạnh tại triển lãm ô tô Munich diễn ra tại Đức hồi tháng 9. Điều này khiến các nhà sản xuất ô tô Đức và nhiều “ông lớn” sản xuất xe hơi khác ngày càng lo ngại về tốc độ tăng trưởng của BYD.
Các quan chức Việt Nam và Trung Quốc đang chuẩn bị cho chuyến thăm có thể diễn ra của Chủ tịch Tập Cận Bình tới Hà Nội vào cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11, ngay sau chuyến đi của Tổng thống Mỹ Joe Biden vào tháng 9/2023.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vẫy tay chào trong lễ đón tại Phủ Chủ tịch nước ở Hà Nội ngày 12/11/2017.
Bốn nguồn tin am tường nói với Reuters rằng các công tác chuẩn bị cần thiết đang được tiến hành nhằm đưa ra một tuyên bố chung nhân chuyến công du của ông Tập. Hai nguồn tin cho biết các bên đang thảo luận về việc cùng nhau phát triển trong “một cộng đồng có chung vận mệnh”, một cụm từ gây tranh cãi thường được ông Tập sử dụng. Một số nguồn tin khác cho rằng các quan chức Việt Nam cũng tỏ ra khá thận trọng khi bổ sung thông tin này.
Chúng ta đều nhớ rằng ông Tập Cận Bình đã đến thăm Nam Phi vào tháng 8. Theo xác nhận của cảnh sát Nam Phi, ông Tập không chỉ đưa một phái đoàn lên tới 500 người đến Nam Phi mà còn đặt cả đội tiền trạm đi trước. Phái đoàn đến sớm nhất cách đó một tháng để giúp ông Tập Cận Bình trang trí và xây dựng dinh thự của nguyên thủ ở Johannesburg, Nam Phi. Toàn bộ đồ đạc đều được vận chuyển từ Trung Quốc, từ chén bát đến giường, nệm, thảm, và thậm chí rèm cửa cũng được thay. Trong phòng không còn đồ Nam Phi nào cả, chẳng khác gì việc ông Tập ra lệnh xây lại phòng nguyên thủ mới trong khách sạn. Theo giáo sư Chương Thiên Lượng, hành động của ông Tập Cận Bình quá cường điệu, không chỉ ngông cuồng mà còn thực sự không cần thiết.
Đại đa số trong phái đoàn 500 người đó chỉ là vệ sĩ cho ông Tập Cận Bình, tương đương với việc đưa hơn một nửa tiểu đoàn an ninh tới. Theo biên chế quân sự của Trung Quốc, một tiểu đoàn có 500 quân. Nhà lãnh đạo Tập Cận Bình dẫn theo 500 người khi đến Nam Phi, tất nhiên trong đó chắc chắn sẽ có các đầu bếp, bác sĩ y tế, nhân viên hành chính liên quan và một số quan chức chính phủ, v.v. , nhưng hầu hết về cơ bản đều là vệ sĩ riêng của ông Tập.
Lần này ông Tập Cận Bình tới Việt Nam lại càng cường điệu hơn. Theo một nguồn tin, ĐCSTQ đã cử một đoàn tiền trạm đến Hà Nội để thu xếp chỗ ở cho phái đoàn của ông Tập Cận Bình. Một nguồn tin quen thuộc với vấn đề này lưu ý rằng nhóm này đang tìm kiếm khách sạn ở thủ đô Hà Nội và đang cố gắng đặt khoảng 800 phòng. Điều này cho thấy tiêu chuẩn của chuyến thăm Việt Nam lần này cao hơn, đặc biệt là đội ngũ an ninh cũng sẽ đông hơn.
Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, Vương Nghị dự kiến sẽ tới thăm Hà Nội vào giữa tháng 10 để để giúp hoàn thiện tuyên bố chung nếu hội đủ điều kiện. Thời điểm chuyến thăm của ông Tập sẽ trùng với kỳ họp quốc hội kéo dài một tháng, diễn hai lần trong năm của Việt Nam. Ông Tập từng phát biểu tại kỳ họp này trong chuyến công du đến Hà Nội trước đó vào năm 2015. Các quan chức cho biết chuyến thăm của ông Tập đã được chuẩn bị trong nhiều tháng.
Mỗi lần ông Tập công du thường phải đặt cả một khách sạn, thậm chí là hai khách sạn. Toàn bộ nhân viên phục vụ ở khách sạn ban đầu sẽ được cho nghỉ và được thay thế bằng những người nói tiếng Trung Quốc. Họ chính là đội vệ sĩ, an ninh của ông Tập Cận Bình.
Có hai điểm rất quan trọng cần lưu ý trong chuyến thăm Việt Nam lần này của ông Tập. Thứ nhất là mục đích ông ta muốn đạt được; thứ hai là lý do vì sao ông ta lại chọn đến thăm vào thời điểm này.
Việt Nam được coi là ngày càng quan trọng đối với cả hai siêu cường Mỹ và Trung Quốc, khi mở rộng vai trò của mình trong chuỗi cung ứng toàn cầu, nhập khẩu linh kiện công nghiệp từ Trung Quốc và lắp ráp trước khi xuất khẩu thành phẩm sang Mỹ hoặc châu Âu. Việt Nam ngày càng trở thành trung tâm công nghiệp sản xuất của Đông Nam Á với tốc độ tăng trưởng kinh tế gần như thuộc hàng nhanh nhất châu Á. Việt Nam cũng có dân số đông, với hơn 100 triệu người. Trên thực tế, nhiều nhà sản xuất Trung Quốc cũng đã chuyển nhà máy và thiết bị sang Việt Nam.
Washington đã nâng cấp quan hệ với Hà Nội vào tháng 9/2023, nâng Mỹ lên ngang hàng với Trung Quốc sau nỗ lực ngoại giao kéo dài. Với tư cách là Chủ tịch Trung Quốc, ông Tập đã tới Việt Nam hai lần, trong đó chuyến thăm gần đây nhất là vào năm 2017, khi ông tham dự hội nghị thượng đỉnh châu Á – Thái Bình Dương với ông Donald Trump, Vladimir Putin và các nhà lãnh đạo khác.
Theo dữ liệu của chính phủ Việt Nam, Trung Quốc là nhà đầu tư hàng đầu ở nước láng giềng phía Nam, đã cam kết chi gần 3 tỷ USD vào Việt Nam trong 9 tháng đầu năm nay, gấp 6 lần so với Mỹ trong cùng kỳ và chỉ đứng sau Singapore.
Chúng ta đều nhớ rằng khi Trung Quốc gia nhập WTO, nhiều ngành sản xuất ở các nước châu Âu và châu Mỹ đã chuyển nhà máy sang Trung Quốc vì lực lượng lao động giá rẻ của Trung Quốc. Nước này cũng không có những yêu cầu khắt khe trong việc bảo vệ môi trường, giá nhà đất, mặt bằng cũng rẻ, v.v. Trước đây, nhiều nước phát triển đã chuyển ngành sản xuất sang Trung Quốc, biến nơi này trở thành “công xưởng của thế giới”. Giờ đến lượt Trung Quốc làm điều tương tự, cũng muốn dịch chuyển ngành sản xuất sang Việt Nam.
Nhưng điểm khác biệt là mặc dù các nước châu Âu và châu Mỹ đã chuyển sản xuất sang Trung Quốc nhưng họ vẫn có các công ty công nghệ cao, ngành tài chính và một số ngành dịch vụ để giải quyết vấn đề việc làm. Nhưng bản thân Trung Quốc cũng chỉ là một nước sản xuất lớn, dù là công nghệ cao, tài chính, dịch vụ,… đều khá yếu. Một khi họ đưa ngành chế tạo chuyển sang Đông Nam Á hay Nam Mỹ, Trung Quốc sẽ đối mặt với vấn đề gia tăng thất nghiệp.
Khi Việt Nam ngày càng trở nên hùng mạnh, vai trò của Hà Nội cũng ngày một quan trọng hơn trong bối cảnh địa chính trị của Đông Dương và Đông Nam Á. Trung Quốc hiện nay cảm thấy Việt Nam ngày càng mạnh lên nên họ đặc biệt muốn kìm hãm Việt Nam.
Điều này có hai nguyên nhân. Một là Trung Quốc và Việt Nam cùng chia sẻ một hệ thống chính trị. Bởi vậy ông Tập Cận Bình chắc chắn hy vọng Việt Nam có thể duy trì được sự ủng hộ về mặt chính trị với ĐCSTQ trên trường quốc tế. Dù không hài lòng với việc Việt Nam đang cướp đi ngành sản xuất và vị thế công xưởng thế giới của mình nhưng ông ta vẫn hy vọng sẽ kìm hãm Việt Nam về mặt địa chính trị, không muốn Việt Nam đứng về phía Mỹ, cũng không muốn Việt Nam hùng cường hay thịnh vượng hơn. Trong mắt Trung Quốc, tốt hơn hết là Việt Nam chỉ nên là một nước nhỏ ở châu Á – Thái Bình Dương, không đủ sức gây tổn hại cho Trung Quốc và tốt hơn cả là đứng về phía Bắc Kinh để chống lại Mỹ và đồng minh.
Một nguyên nhân khác là Việt Nam ngày càng xích lại gần Mỹ khiến ông Tập Cận Bình rất lo lắng. Vào tháng 9 năm nay, Tổng thống Joe Biden đã đến thăm Việt Nam và ký thỏa thuận đối tác chiến lược toàn diện. Trước đó, chỉ có 4 nước ký kết quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam là Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc.
Trong nhiều năm, Việt Nam từ chối ký hiệp định đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ vì sợ mất lòng Trung Quốc. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam đã đột phá được điều này, một lần nhảy 2 cấp đối tác với Mỹ, mối quan hệ song phương đã ấm lên trông thấy. Hai nước đều có nhu cầu dành cho nhau, chẳng hạn Việt Nam mong tiếp nhận công nghệ Mỹ, mong chuyển một số ngành công nghiệp bán dẫn mới nổi của Mỹ vào Việt Nam, thậm chí có thể muốn mua máy bay chiến đấu F-16 của Mỹ. Hà Nội hy vọng sẽ đa dạng hóa chuỗi sản xuất công nghiệp của mình. Để thoát khỏi sự phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ ngày càng xích lại gần nhau hơn. Vào tháng 9, Biden đã đến thăm Việt Nam và Hà Nội đã đón tiếp ông rất long trọng.
Lần này, ông Tập cũng muốn lấy lòng Việt Nam. Trong bản tuyên bố chung dự kiến giữa hai nước sẽ có cái gọi là “cộng đồng chung vận mệnh”. Nhưng giới chức Việt Nam đang tỏ ra rất thận trọng với tuyên bố này và không muốn đề cập đến mấy chữ đó. Vì ông Tập Cận Bình thường nói về một “cộng đồng chung vận mệnh cho nhân loại”, nên lần này ông ta hy vọng rằng Trung Quốc và Việt Nam cũng sẽ gắn kết thành một cộng đồng chung tương lai, vận mệnh như vậy.
Chuyến thăm của ông Tập hiện vẫn chưa được thông báo và vẫn có thể bị hủy hoặc hoãn lại, nhưng các công tác chuẩn bị hậu cần đã được cân nhắc. Khi được hỏi về chuyến thăm có thể diễn ra, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nói trong cuộc họp báo hôm 5/10: “Tất cả các hoạt động ngoại giao quan trọng của Việt Nam sẽ được thông báo cho các bạn khi thích hợp”.
Vì vậy, vẫn chưa hoàn toàn xác định được ông Tập có thăm Việt Nam hay không, hay chuyến công du sẽ diễn ra cụ thể khi nào. Chúng ta cũng biết rằng thông thường trước chuyến thăm của ông Tập, Ngoại trưởng Trung Quốc sẽ tới nước đó trước và tổ chức cuộc gặp cấp bộ trưởng với Bộ Ngoại giao nước sở tại để hoàn tất một số vấn đề chi tiết về chuyến thăm. Sau đó, đôi bên sẽ loan báo thông tin và cuối cùng ông Tập mới xuất phát. Bởi vậy, việc Ngoại trưởng Vương Nghị có tới Việt Nam vào giữa tháng 10 như tin đồn hay không đã trở thành một điểm rất đáng chú ý.
Bắc Kinh và Hà Nội có mâu thuẫn về ranh giới ở Biển Đông và có lịch sử xung đột kéo dài hàng thế kỷ. Cuộc chiến gần nhất giữa Trung Quốc và Việt Nam là vào năm 1979. Dù đây không phải là lần đầu tiên ông Tập Cận Bình đến thăm Việt Nam nhưng nhiệm vụ kìm chân Việt Nam và ngăn Việt – Mỹ xích lại gần nhau hơn chưa bao giờ cấp bách như hiện nay.
Cũng trong một diễn biến liên quan đến quan hệ Việt – Mỹ, Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng vào ngày 5/10 khẳng định với báo giới rằng chưa có thông tin về tin nói Hà Nội và Washington đang đàm phán thương vụ mua bán vũ khí, trong đó Hoa Kỳ dự tính bán một lô chiến đấu cơ F-16 cho Việt Nam.
Bà Phạm Thu Hằng trả lời báo giới tại cuộc họp báo rằng vừa qua trong Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ thành Đối tác chiến lược vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững có đề ra phương hướng lớn cho việc hợp tác trong 10 năm tới và lâu hơn nữa, với 10 trụ cột bao trùm tất cả các lĩnh vực trên bình diện song phương và toàn cầu.
Cũng theo Tuyên bố chung này, lãnh đạo hai nước hoan nghênh việc tăng cường hợp tác nhằm thúc đẩy thương mại quốc phòng, công nghiệp quốc phòng, phù hợp điều kiện của mỗi bên, thông qua cơ chế hợp tác được cả hai phía thống nhất. Phía Hoa Kỳ cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực tự cường về quốc phòng, phù hợp với nhu cầu của Việt Nam và các cơ chế đã thiết lập.
Reuters vào ngày 23/9 vừa qua có bài viết dẫn hai nguồn giấu tên nói rằng Chính phủ của Tổng thống Biden đang đàm phán với chính phủ Hà Nội về một thỏa thuận chuyển giao vũ khí lớn nhất trong lịch sử. Cụ thể trong năm tới, một gói vũ khí có thể được thực hiện gồm một thương vụ bán một phi đội chiến đấu F-16 của Mỹ cho Việt Nam khi mà Hà Nội đang phải đối đầu trong căng thẳng tranh chấp ở Biển Đông với Bắc Kinh.
Chuyến thăm của ông Tập Cận Bình tới Việt Nam lúc này cũng diễn ra trong thời điểm ĐCSTQ đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thù trong giặc ngoài. Ông Tập vừa mới thực hiện một loạt cuộc thanh trừng nội bộ bên trong hệ thống chính phủ và quân đội. Lần lượt nhiều thân tín do đích thân ông bổ nhiệm đều đã ngã ngựa như: Tần Cương, Lý Ngọc Siêu, Lý Thượng Phúc, v.v. Lần này tới thăm Việt Nam liệu nhà lãnh đạo ĐCSTQ sẽ mang theo thông điệp gì? Chúng ta hãy cùng chờ hạ hồi phân giải.
Việc hai tàu chiến không người lái thuộc chương trình “Hạm đội ma” Mỹ xuất hiện ở Nhật Bản được cho là để chuẩn bị cho kế hoạch đối phó với Trung Quốc.
Hình ảnh hai tàu chiến không người lái Mariner và Ranger của Mỹ xuất hiện tại căn cứ Yokosuka ở Nhật Bản hôm 18/9.
Tàu không người lái chi phí thấp đã được liệt kê là một trong những cốt lõi trong kế hoạch hạm đội tương lai của Hải quân Mỹ. Để đạt được mục tiêu này, Lầu Năm Góc đang đẩy mạnh thử nghiệm hoạt động tự động của tàu không người lái thông qua chương trình Ghost Fleet Overlord (Hạm đội ma).
Hải quân Mỹ ngày 18/9 cho biết, hai tàu chiến không người lái “cực kỳ bí mật” của họ là Mariner và Ranger đã xuất hiện tại căn cứ Yokosuka, nơi Hạm đội 7 của Mỹ đóng quân ở Nhật Bản.
Một số nhà phân tích cho rằng, đây là lần hiếm hoi “Hạm đội ma” đóng quân ở vùng biển Đông Á và có thể chúng đang thích nghi với môi trường để chuẩn bị cho một “cuộc xung đột” với Trung Quốc.
Tần suất tập trận ngày càng cao
Theo các báo cáo, do chi phí của một hạm đội gồm tàu lớn có người lái tăng nhanh, cùng với lo ngại rằng trong một “cuộc xung đột giữa các cường quốc có thể xảy ra” có thể khiến Hải quân Mỹ dễ bị tổn thương bởi chiến lược “Tên lửa từ chối/chống tiếp cận khu vực” của Trung Quốc, Hải quân Mỹ có kế hoạch sử dụng từ 77 đến 140 tàu không người lái cỡ lớn và vừa. Việc này để bổ khuyết cho số tàu có người lái trong tương lai.
Bắt đầu từ năm 2018, Hải quân Mỹ với tên gọi chương trình Ghost Fleet Overlord đã chuyển đổi một số tàu tiếp tế nhanh thương mại thành tàu mặt nước không người lái, bao gồm các tàu Ranger, Mariner, Nomad, Sea Hunter, Sea Hawk…
Những con tàu không người lái này có thể chở nhiều container được trang bị các thiết bị cốt lõi và cảm biến liên quan đến điều hướng và thực hiện nhiệm vụ. Chương trình này được thực hiện bởi Văn phòng Năng lực Chiến lược của Lầu Năm Góc phối hợp với Hải quân Mỹ.
Tờ Eurasia Times của Ấn Độ cho biết, mặc dù Mỹ có nhiều căn cứ quân sự ở Nhật Bản và mới chỉ có tàu Reagan đóng quân ở Yokosuka là tàu sân bay duy nhất được triển khai ở tiền phương, nhưng sự xuất hiện của tàu không người lái Mỹ trong khu vực là “điều hiếm thấy”.
Trước đây, các tàu không người lái này của quân đội Mỹ chủ yếu được thử nghiệm ở đất liền và vùng biển Hawaii. Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Mỹ đã tổ chức cuộc tập trận năng lực không người lái đa miền lần thứ hai vào tháng 5 vừa qua. Cuộc tập trận được thiết kế để kiểm tra cũng như phát triển các khái niệm và năng lực của hạm đội.
Sau đó, 4 tàu mặt nước không người lái của Hải quân là Mariner, Ranger, Sea Hunter và Sea Hawk cũng đã xuất hiện tại Trân Châu Cảng vào tháng 8.
Sea Hunter và Sea Hawk là những tàu chiến đấu không người lái được Hải quân Mỹ đặc biệt phát triển, có thể hoạt động liên tục trong nhiều tuần và theo dõi các tàu ngầm đối phương trên biển.
“Những chiếc tàu không người lái này ngày càng tham gia nhiều hơn vào các cuộc tập trận quân sự, chứng tỏ tính hiệu quả và tầm quan trọng chiến lược của chúng trong các hoạt động tương lai”, Eurasia Times cho hay.
Nhiệm vụ thực thi ngày càng phong phú
Eurasia Times nhấn mạnh, các tàu sân bay hiện có của quân đội Mỹ và các tàu mặt nước lớn khác rất tốn kém để chế tạo và nếu chúng bị đánh chìm sẽ gây áp lực tài chính nặng nề cho Washington, trong khi tàu mặt nước không người lái rẻ hơn và dễ vận hành hơn.
“Hạm đội ma” không người lái là một phần không thể thiếu trong các hoạt động hàng hải phân tán của Hải quân Mỹ và các khái niệm hoạt động khác. Những con tàu không người lái giá rẻ này không chỉ có thể giảm đáng kể chi phí chế tạo mà còn tránh được tổn thất nhân sự trong các nhiệm vụ có độ rủi ro cao.
Từ năm 2018, những tàu mặt nước không người lái của Hải quân Mỹ đã trải qua quá trình thử nghiệm rộng rãi.
Năm 2019, Hải quân Mỹ thành lập Phi đội phát triển bề mặt thứ nhất, chịu trách nhiệm đề xuất các chiến thuật, khả năng chiến đấu và khái niệm chiến đấu mới, bao gồm cả cách sử dụng những tàu mặt nước không người lái này.
Ngoài các chức năng cơ bản nhất như điều hướng không người lái và tránh chướng ngại vật tự động, những con tàu không người lái của Mỹ còn nhiều ứng dụng tiềm năng như thực hiện nhiệm vụ tác chiến điện tử, thu thập thông tin tình báo, tác chiến chống tàu ngầm.
Đến tháng 9/2022, Lầu Năm Góc công bố video tàu không người lái thuộc chương trình Ghost Fleet Overlord phóng tên lửa phòng không tầm xa Standard-6. Con tàu được đánh giá có tầm bắn tối đa hơn 240 km và có thể đánh chặn nhiều mục tiêu trên không và trên biển, bao gồm tên lửa hành trình, máy bay cánh cố định và trực thăng, thậm chí còn có khả năng đánh chặn tên lửa siêu thanh.
Trang web của Viện Hải quân Mỹ tuyên bố rằng những tàu không người lái của họ có thể được lắp đặt hệ thống phóng tên lửa container MK70, để nhanh chóng đạt được khả năng phóng tên lửa. Đồng thời, chúng còn được trang bị hệ thống chiến đấu Aegis để có thể kết nối với các tàu chiến Aegis khác trong hạm đội, nhằm thu thập dữ liệu tác chiến mục tiêu cần thiết.
Hải quân Mỹ dự định trong tương lai, tên lửa Standard-6 sẽ được nạp vào thiết bị lưu trữ và phóng tích hợp của tàu không người lái để làm bệ phân phối vũ khí trên biển và phân chia trên khoảng cách lớn.
Trong cuộc tập trận cuộc tập trận vành đai Thái Bình Dương RIMPAC 2022, Hải quân Mỹ cũng diễn tập chủ đề phối hợp phóng tên lửa từ các bệ có người lái và không người lái để tấn công tàu mặt nước.
Các quan chức Hải quân Mỹ cũng tiết lộ vào năm ngoái rằng họ dự định tiến hành các cuộc thử nghiệm tiếp nhiên liệu trên biển vào năm 2023, để đánh giá khả năng bổ sung mà không cần sự tham gia của con người.
Khi công nghệ tàu không người lái ngày càng phát triển, Chuẩn đô đốc Casey Moton, người đứng đầu chương trình tàu chiến đấu nhỏ và không người lái của Hải quân Mỹ, cho biết: “Giờ đây, quân đội Mỹ có thể điều động hai tàu không người lái để thực hiện các hoạt động chung và không cần sử dụng các tàu khu trục đắt tiền để thực hiện các nhiệm vụ đó nữa”.
Được thiết kế riêng để đối phó Trung Quốc?
Theo nhận định của các nhà quan sát quân sự tin rằng, tàu mặt nước không người lái sẽ rất quan trọng với Mỹ trong việc đối phó với các đối thủ như Trung Quốc trên biển.
Việc Trung Quốc triển khai chiến lược Tên lửa chống tiếp cận/từ chối khu vực buộc Hải quân Mỹ phải tránh xa bờ biển Trung Quốc. Do đó, chiến lược của Mỹ có thể sẽ xoay quanh việc phân tán, tiếp cận phi tập trung và tấn công bên trong vòng tròn A2/AD của Trung Quốc. Tàu không người lái giá rẻ và dễ sử dụng có lợi hơn cho chiến lược của quân đội Mỹ.
“Các đơn vị thủy quân lục chiến nhỏ, nhanh nhẹn và khó bị phát hiện trên các hòn đảo của các quốc gia thân thiện như Nhật Bản và Philippines có thể được giao nhiệm vụ bắn chống tàu vào các hạm đội của Hải quân Trung Quốc ở vùng biển Hoa Đông và Biển Đông. Do đó, sự xuất hiện của những chiếc tàu trong ‘Hạm đội ma’ này ở Nhật Bản sẽ được theo dõi chặt chẽ”, theo Eurasia Times.
Tin tức về cuộc tập trận chung trên không đầu tiên giữa Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, với sự tham gia của máy bay ném bom chiến lược B-52, được hé lộ giữa lúc Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov sắp đến Bình Nhưỡng.
Hãng thông tấn Yonhap ngày 18.10 dẫn một nguồn tin cho biết Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ có kế hoạch tiến hành cuộc tập trận chung trên không đầu tiên gần bán đảo Triều Tiên vào cuối tuần này, trong bối cảnh ba nước tăng cường hợp tác an ninh chống lại những gì mà họ cho là mối đe dọa từ CHDCND Triều Tiên.
Cuộc tập trận trên không ba bên dự kiến diễn ra vào ngày 22.10, với sự tham gia của máy bay ném bom chiến lược B-52 mà Mỹ đang triển khai tại Hàn Quốc cũng như máy bay chiến đấu của ba nước, theo nguồn tin.
Báo Dong-a Ilbo của Hàn Quốc cũng dẫn một nguồn tin chính phủ cho hay ba nước có khả năng sẽ tiến hành cuộc tập trận ngày 22.10 và đang điều phối các địa điểm.
Oanh tạc cơ B-52 có khả năng hạt nhân đã hạ cánh tại Hàn Quốc lần đầu tiên hôm 17.10, sau khi thực hiện chuyến bay hiếm thấy trong một triển lãm thương mại quốc phòng ở nước này, cũng như tham gia tập trận chung với các chiến đấu cơ tàng hình của Hàn Quốc.
Mặc dù B-52 trước đây từng được triển khai tới bán đảo Triều Tiên để tham gia các cuộc tập trận chung với lực lượng không quân của Seoul, đây là lần đầu tiên máy bay ném bom chiến lược của Mỹ hạ cánh tại một căn cứ không quân ở Hàn Quốc.
Một quan chức Bộ Quốc phòng Hàn Quốc từ chối xác nhận hay bình luận sâu hơn về cuộc tập trận trên không Mỹ-Nhật-Hàn. Tuy nhiên, quan chức này cho biết Mỹ và hai đồng minh Đông Á đang “mở rộng” hoạt động tập trận quân sự chung ba bên dựa trên thỏa thuận của các nhà lãnh đạo tại hội nghị thượng đỉnh diễn ra ở Trại David (Mỹ) hồi tháng 8.
Cuộc tập trận được xem là hành động mới nhất trong một loạt các động thái của ba nước nhằm tăng cường quan hệ vào thời điểm căng thẳng với Triều Tiên gia tăng.
Trong khi đó, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov dự kiến đến Bình Nhưỡng trong ngày 18.10 sau hai ngày ở Trung Quốc. Chuyến đi Triều Tiên của ông Lavrov được xem là để chuẩn bị cho chuyến thăm dự kiến của Tổng thống Nga Vladimir Putin tại quốc gia này, theo Reuters. Ông Putin đang ở Bắc Kinh và hội đàm với Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sáng 18.10.
Quan hệ Nga – Triều đã được tăng cường trong thời gian qua. Một tháng trước, nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đã đến vùng Viễn Đông (Nga) và gặp ông Putin tại đây. Ông Kim cũng đã ghé thăm nhiều cơ sở sản xuất quân sự của Nga trong chuyến đi kéo dài hơn một tuần.
Hãng thông tấn TASS của Nga đưa tin ông Lavrov có thể sẽ thông báo cho phía Triều Tiên về kết quả chuyến thăm Trung Quốc của ông Putin, cũng như thảo luận về lời mời Tổng thống Nga tới thăm Bình Nhưỡng mà nhà lãnh đạo Kim đã đưa ra.
Câu hỏi này được đặt ra kể từ khi xảy ra cuộc chiến Nga-Ukraine từ tháng 2-2022. Đến nay nó lại bùng lên, từ khi tổ chức Hamas bất ngờ tấn công Israel vào này 7/10 vừa qua.
Đến nay đã gần hai năm trôi qua kể từ khi xảy ra cuộc “chiến tranh ủy nhiệm” trên đất nước Ukraine. Con đường hòa bình vẫn bế tắc. Thế nhưng câu hỏi, liệu Bắc Kinh có “mượn gió bẻ măng” để thôn tính Đài Loan thì đã được trả lời với những căn cứ xác đáng.
Nhớ lại thời gian đầu xảy ra cuộc xung đột quân sự giữa Nga ở Ukraina đã dấy lên những liên hệ với một cuộc tấn công quân sự của Trung Quốc vào Đài Loan. Truyền thông quốc tế không ngần ngại khi nhắc câu khẩu hiệu “Hôm nay Ukraina, ngày mai là Đài Loan”.
Rất bình tĩnh, Bắc Kinh tuyên bố: “Đài Loan không phải là Ukraine. Hai vấn đề khác nhau về bản chất”. Bởi Đài Loan là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Thế nhưng, Bắc Kinh lại không giấu quan điểm thân Moscow, coi việc Nga đánh ông bạn láng giềng Ukraine là “đòi hỏi chính đáng về an ninh”.
Trước thái độ của Trung Quốc, giới quan sát tỏ ra dè dặt hơn trong nhận định. Một cách nhìn trung tính là, sự đối đầu giữa phương Tây và Kremlin giống như một cuộc tổng dượt chuẩn bị cho một cuộc khủng hoảng có thể xảy ra trong tương lai ở eo biển Đài Loan. Trung Quốc thừa khôn khéo để chỉ đứng ngoài quan sát, rút ra những bài học cần thiết về ngoại giao và quân sự từ cuộc xung đột ở Ukraine.
Trong khi cuộc chiến Nga-Ukrane còn chưa lóe lên chút ánh sáng nào ở “cuối đường hầm” thì bất ngờ một cuộc chiến đẫm máu khác xảy ra ở Trung Đông. Hamas đã chọc thủng hàng rào tỷ đô và hệ thống phòng không Iron Dome (Vòm sắt) được mệnh danh “không thể xuyên thủng”? Và sau cơn choáng váng, Israel đã vục dậy giáng trả Hamas. 10 ngày qua, ở cả hai chiến tuyến, đã có khoảng 4000 người thiệt mạng.
Trong khi những cái đầu bốc lửa đang tính toán những phương án nguy hiểm hơn, trong khi Hamas tuyên bố “sống còn sợ hơn chết”, thì các nước trong khu vực Trung Đông và các cường quốc trên thế giới tiếp tục đặt câu hỏi: “Cuộc chiến tháng 10” này ảnh hưởng ra sao tới thế bố trí chiến lược của Mỹ và Châu Âu? Trung Quốc có nhân cơ hội Mỹ và Phương Tây tập trung vào khu vực Trung Đông để gây hấn trên Biển Đông?
Bên lề Diễn đàn cấp cao hợp tác quốc tế “Vành đai, Con đường” lần thứ 3 họp tại Trung Quốc với sự tham dự của đại diện hơn 140 quốc gia và hơn 30 tổ chức quốc tế, các ý kiến cho rằng, ảnh hưởng trực tiếp của cuộc chiến Hamas- Israel đối với các nước không lớn so với cuộc chiến Nga – Ukraine.
Vào thời điểm hiện tại có thể thấy, cuộc chiến này sẽ là một điểm làm thay đổi tình hình an ninh ở khu vực Trung Đông. Nếu như cuộc xung đột lan rộng ra, chẳng hạn có sự tham gia của Hezbolla ở Li Băng, hoặc có sự can dự của Iran thì khi đó cuộc xung đột không còn bó hẹp ở dải Gaza mà sẽ lan ra toàn Trung Đông.
Cho đến hiện tại, khả năng đám cháy lan rộng chưa cao. Cái ngòi nổ nằm ở chỗ Hezbola và Iran, nhưng nhà cầm quyền đều lên tuyên bố, họ không ủng hộ Hamas và không trực tiếp tham gia. Bởi thế, hi vọng cuộc chiến sẽ khoanh vùng trong dải Gaza.
Trường hợp xấu nhất, khi cuộc chiến Israel-Hamas lan rộng thì nhiều khả năng Mỹ bị thu hút cả nguồn lực và chính sách đối ngoại về khu vực Trung Đông. Tức là nguồn lực của Mỹ bị dàn trải và buộc Nhà Trắng phải có chiến lược mới. Tương tự, nếu cuộc chiến lan rộng thì có khả năng Trung Quốc nhân cơ hội này sẽ gây chiến ở Biển Đông.
Trên Biển Đông, điểm nóng có thể phát ở khu vực chung quanh bãi cạn Scaborough và các khu vực khác đang có tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc.
Giả sử một cuộc xung đột lớn bùng nổ ở toàn Trung Đông thì những nguồn lực về chính sách, tài chính, quân sự của Phương Tây nói chung và Mỹ nói riêng thay vì dành cho Ukraine sẽ đổ dồn về chiến trường Trung Đông.
Có thể nói, Đài Loan là con bài mặc cả của Mỹ trong chính sách đối ngoại với Trung Quốc. Trung Quốc khẳng định như dao chém đá, Đài Loan là một phần lãnh thổ, thu hồi Đài Loan chỉ là vấn đề thời điểm thích hợp, yêu cầu “các thế lực bên ngoài” không can thiệp chuyện nội bộ.
Nếu cuộc chiến toàn Trung Đông bùng phát và lan rộng thì sẽ rất khó khăn cho Đài Loan, vì nó làm cho nguồn lực quốc phòng của Phương Tây bị huy động để hỗ trợ cho hai cuộc xung đột ở Trung Đông và Châu Âu. Khi ấy Trung Quốc không thể không thay đổi chiến lược uy hiếp uy hiếp Đài Loan.
Vẫn biết muốn xâm lược Đài Loan, Trung Quốc phải căn cứ sự thay đổi trong thế bố trí chiến lược của Mỹ. Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào những yếu tố khác – yếu tố nội lực, nói thẳng ra rằng: Liệu quân đội Trung Quốc có chắc chắn đánh thắng và thành công trong việc thôn tính Đài Loan hay không? Bài học nóng hổi khi Israen bất ngờ bị tấn công và thiệt hại nặng nề bởi vũ khí thô sơ của Hamas là một bài học xương máu.
Điều đáng chú ý là, trong trường hợp xung đột Trung Đông lan rộng, thì điểm nóng sẽ không chỉ ở Đài Loan mà là các tranh chấp “vùng xám” trên Biển Đông. Có thể là các tranh chấp với Philippines, Việt Nam và các thực thể địa lý ở phía nam Biển Đông như bãi Tư Chính. Rồi sự đối đầu giữa Philippines và Trung Quốc ở bãi Cỏ Mây và bãi cạn Scaborough.
Không phải là “quá sớm” mà là đòi hỏi sự chủ động đối với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Một khi các cường quốc “mượn gió bẻ măng” thì hơn ai hết chính các nước đang bị uy hiếp, bắt nạt ở Biển Đông phải tự cứu lấy mình. Muốn có hòa bình thì phải chuẩn bị tốt nhất cho chiến tranh.
Philippines cáo buộc tàu hải cảnh Trung Quốc có “hành động nguy hiểm”, cắt mặt tàu cảnh sát biển nước này hoạt động trên Biển Đông.
Tàu công vụ Philippines đối mặt với tàu tuần tra Trung Quốc gần bãi Cỏ Mây hôm 30/6. Ảnh: PCG
Philippines cho biết, vụ việc xảy ra hôm 13/10, gần đảo Thị Tứ (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam). Theo đó, một tàu hải cảnh Trung Quốc bám theo một tàu tiếp tế hải quân Philippines và cố gắng vượt qua đường đi của tàu này “một cách nguy hiểm”.
Tại thời điểm đó, tàu BRP Benguet của Philippines – đang thực hiện nhiệm vụ tiếp tế, phát cảnh báo vô tuyến tới tàu mang số hiệu 621 của hải quân Trung Quốc về các hành động nguy hiểm khi tàu này cố vượt mũi tàu BRP Benguet ở khoảng cách 320 mét. Phó Đô đốc Alberto Carlos, Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Tây Philippines, cho biết: “Những hành động này gây ra rủi ro đối với an toàn hàng hải, gây nguy hiểm đến tính mạng con người đi biển. Trung Quốc phải dừng ngay những hành động không an toàn này và hành xử một cách chuyên nghiệp bằng cách tuân thủ luật pháp quốc tế”.
Trong khi đó, Tướng Romeo Brawner, Tổng tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang Philippines, cũng kêu gọi Trung Quốc dừng “các hoạt động nguy hiểm và hành động gây hấn đối với tàu Philippines”. Ông nhấn mạnh, những hành động này nguy cơ gây ra va chạm và gây nguy hiểm cho “tính mạng của nhân viên hàng hải của cả hai bên”.
Căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông gia tăng thời gian qua sau khi Philippines cho biết nước này dỡ bỏ hàng rào phao nổi dài 300m do cảnh sát biển Trung Quốc lắp đặt gần bãi cạn Scarborough. Scarborough là khu vực đánh bắt cá chính của các tàu thuyền Philippines.
Năm 2023 là năm có nhiều hoạt động kỷ niệm. Chúng ta kỷ niệm 50 năm thành lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước do các nước thiết lập quan hệ sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973, công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long – Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Năm 2023 cũng là năm kỷ niệm 10 năm quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Singapore. Quan hệ đối tác chiến lược này nổi lên như một hình mẫu cho quan hệ của Việt Nam với các nước khác. Chỉ trong năm 2023, Thủ tướng của hai nước đã thăm viếng lẫn nhau, Thủ tướng Phạm Minh Chính của Việt Nam thăm Singapore và gần đây ngày 27-28 tháng Tám, Thủ tướng Singapore đã thăm Việt Nam.
Quan hệ hai bên đã cải thiện nhanh chóng trong hai thập kỷ gần đây. Tuy quan hệ ngoại giao được thiết lập vào ngày 01/8/1973, nhưng trong 20 năm đầu, quan hệ hai nước vẫn bị những đám mây đen che mờ. Đó là sự khác nhau về chế độ chính trị, tư duy kinh tế khác nhau, phương thức quản lý khác nhau và cuối cùng là nghi ngờ lẫn nhau. Những điểm này được thể hiện rõ trong những trang hồi ký của ông Lý Quang Diệu về chuyến thăm Singapore của cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt tháng 11/1991 ngay sau khi ông Võ Văn Kiệt nhậm chức.
Tuy nhiên, theo lời mời của ông Võ Văn Kiệt, ông Lý Quang Diệu vẫn đến Việt Nam và thành lập một nhóm đặc nhiệm nghiên cứu cơ sở hạ tầng của Việt Nam như cảng biển, sân bay, đường xá, cầu cống, hệ thống cung cấp điện….. Dựa trên khuyến nghị của nhóm đặc nhiệm, ông Lý Quang Diệu đã có những lời khuyên xác đáng cho Chính phủ Việt Nam. Dần dần, với thời gian, những rào cản đã được vượt qua và lòng tin đã được cải thiện.
Kể từ chuyến đi thăm Singapore đó của cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt, Singapore đã thấy ở Việt Nam là một đối tác tin cậy, một đối tác cần phát triển quan hệ song phương, đồng thời cũng là một đối tác để xây dựng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trở thành một Hiệp hội lớn mạnh có 10 quốc gia thành viên như hiện nay.
Năm 2013 đánh dấu một mốc mới trong quan hệ hai nước, thành lập quan hệ đối tác chiến lược. Từ đó đến nay, quan hệ hai nước đã thắt chặt dựa trên tin cậy chính trị mạnh mẽ và quan hệ hữu hảo bền chặt giữa các nhà lãnh đạo hai nước. Theo ông Lý Hiển Long thì ông đã thăm Việt Nam 5 lần trong khi làm Thủ tướng và 20 lần từ trước đến nay.
Tin cậy chính trị mạnh mẽ: Hai nước đã nhanh chóng vượt qua những nghị ky, khác biệt để thúc đẩy quan hệ. Chỉ 2 năm sau chuyến thăm của cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt, quan hệ hai nước tiếp tục được nâng lên với một chuyến thăm cũng mang tính lịch sử, đó là chuyến thăm chính thức Singapore của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười vào tháng 10/1993. Sự kiện ngoại giao nổi bật trong năm hai nước kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao khi lần đầu tiên Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam tới thăm Singapore. Báo chí Singapore thời điểm đó nhấn mạnh “đây là một sự kiện đặc biệt quan trọng trong quan hệ hai nước”.
Trên đà phát triển quan hệ đó, hai nước đã trao đổi đoàn ở nhiều cấp khác nhau, góp phần cải thiện hiểu biết lẫn nhau và thúc đẩy quan hệ. Quan hệ hai nước giai đoạn này là hữu nghị và hợp tác toàn diện. Mười năm sau, năm 2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Lý Hiển Long đã quyết định nâng cấp quan hệ đó thành quan hệ đối tác chiến lược nhân chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Lý Hiển Long.
Kể từ đó đến nay, quan hệ đối tác chiến lược giữa hai bên đã phát triển mạnh trên cả 5 cột trụ được xác định. Đó là làm sâu sắc quan hệ chính trị tin cậy lẫn nhau; tăng cường hợp tác kinh tế; nâng cao hợp tác an ninh – quốc phòng; thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực khác và tăng cường hợp tác tại các diễn đàn quốc tế, đa phương.
Hai nước đều coi trọng hội nhập kinh tế và tích cực đàm phán các hiệp định thương mại tự do. Cả hai nước hiện có hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu. Cả Việt Nam và Singapore đều tham gia Hiệp định Toàn diện và Tiến Bộ vì Đối tác xuyên Thái Bình Dương và Đối tác kinh tế toàn diện khu vực.
Trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, cả hai nước đều tích cực thúc đẩy đoàn kết nội khối và vai trò Trung tâm của Hiệp hội. Cả hai nước đều thống nhất hợp tác với nhau để bảo đảm ASEAN vẫn giữa vai trò trung tâm trong an ninh khu vực và kiên quyết ủng hộ một trật tự thế giới dựa trên quy tắc.
Với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam thúc đầy giải pháp dựa trên luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS-1982). Là một nước phụ thuộc nhiều vào đường biển để tiến hành thương mại, Singapore mong muốn quyền qua lại bằng tầu thuyền và máy bay ở Biển Nam Trung Hoa được bảo đảm. Do vậy, Singapore cũng muốn có giải pháp hoà bình dựa trên luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS-1982.
Như một học giả đã nhận xét: “quan hệ hai nước là tấm gương để các nước ASEAN cũng như các nước trên thế giới thấy được giá trị của hợp tác hòa bình, ý thức trách nhiệm với cộng đồng quốc tế”.
Hợp tác kinh tế: là điểm sáng trong quan hệ hai nước. Thương mại hai chiều giữa hai nước tăng 7,2% trong thập kỷ vừa qua. Kim ngạch thương mại năm 2022 là 31 tỷ đô la Mỹ từ mức 17 tỷ đô la Mỹ trong năm 2013. Singapore đã nhiều năm đứng hàng đầu các nước đầu tư vào Việt Nam. Tổng đầu tư của Singapore vào Việt Nam là 71 tỷ đô la Mỹ với xu hướng chuyển dịch sang logistics, kinh tế xanh và kinh tế số, năng lượng tái tạo.
Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore là biểu tượng của mối quan hệ gần gũi và tin cậy lẫn nhau giữa hai bên. Hiện ở Việt Nam đã có 12 khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (VSIP) và dự kiến trong thời gian tới sẽ có thêm 5 khu nữa. Các khu công nghiệp đã trải rộng trên diện tích 11.000 héc-ta với 900 công ty đang hoạt động và tạo công ăn việc làm cho 300.000 người. Khu công nghiệp VSIP đã minh chứng cho quan hệ hợp tác ngày càng phát triển giữa hai nước và đáp ứng nhu cầu của mỗi bên.
Nếu VSIP Bình Dương I tập trung vào sản xuất công nghiệp nhẹ thì VSIP Bình Dương II lại tập trung vào logistics và VSIP Bình Dương III dự kiến được thiết lập sẽ tập trung vào các dự án thông minh bao gồm cả một nhà máy sản xuất điện mặt trời theo tiêu chuẩn hiện hành ở Singapore. VSIP Bình Dương III sẽ còn một nhà máy sản xuất LEGO trung hoà khí thải. Đây là dấu hiệu cho thấy: “Singapore đang đồng hành với sự phát triển của Việt Nam”, như Thủ tướng Lý Hiển Long đã nói trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua.
Không chỉ có vậy, thời gian giữa các cuộc thảo luận của hai Chính phủ đến sự ra đời của các dự án là rất ngắn. Thí dụ cụ thể là dự án điện gió ngoài khơi Việt Nam. Tháng Hai vừa qua, nhân chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính, hai nước đã ký về đối tác kinh tế xanh và kinh tế số. Chỉ trong một thời gian ngắn chuẩn bị, một dự án sản xuất điện gió đã được đề xuất nhân chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Singapore tháng Tám vừa qua. Đây là liên doanh giữa Công ty Sembcorp Utilities và Công ty dịch vụ dầu khí của Tổng Công ty dầu khí Việt Nam (PTSC) với mục đích là sản xuất năng lượng xanh xuất khẩu qua Singapore. Theo dự kiến, điều tra quan trắc, khảo sát và đánh giá sẽ được thực hiện trong những tháng tới trên diện tích 200.000 hec-ta ngoài khơi Vũng Tầu – Côn Đảo. Với dự án này, Singapore đang đáp ứng nhu cầu phát triển xanh của Việt Nam.
Các lĩnh vực khác: Quan hệ hai nước không chỉ đóng khung vào quan hệ chính trị hay quan hệ kinh tế. Quan hệ quốc phòng – an ninh cũng được đẩy mạnh trong thời gian qua. Tháng 2/2022, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đã ký Hiệp định về hợp tác quốc phòng; tạo cơ sở để hai bên trao đổi đoàn, thúc đẩy tin cậy trong hợp tác an ninh và quốc phòng. Hai bên cũng đang tích cực làm việc để thống nhất kế hoạch thực hiện Hiệp định trong giai đoạn 2023 – 2025.
Những hoạt động hợp tác tài chính – ngân hàng, giáo dục đào tạo, môi trường giữa hai nước cũng đang được thúc đẩy mạnh mẽ. Lĩnh vực giáo dục cũng là một điểm nổi bật của hợp tác hai bên. Bắt đầu từ đầu những năm 2000, Singapore đã cấp học bổng đại học và phổ thông cho sinh viên Việt Nam. Rất nhiều sinh viên này đã có đóng góp tích cực cho việc cải thiện quan hệ hai nước.
Trong 5 thập kỷ qua, quan hệ hai nước đã có những bước tiến dài ngày càng tin cậy lẫn nhau và bền vững. Tuy hiện vẫn còn những khác biệt như cách đề cập vấn đề về Myanmar và xung đột Ukraine, nhưng đây là những vấn đề nhỏ, không ngăn cản được đà tiến rất nhanh chóng của quan hệ hai bên. Trong một thập kỷ qua, hai nước đã là đối tác chiến lược của nhau. Tất cả những gì hai nước đã làm được là cơ sở vững chắc cho quan hệ đối tác chiến lược toàn diện như lãnh đạo và nhân dân hai nước mong muốn, đồng thời củng cố sự gắn kết, hợp tác trong khối ASEAN.
Các cuộc xung đột gần đây cho thấy máy bay không người lái (UAV) đã làm thay đổi phương thức giao tranh như thế nào, thậm chí nó còn mở rộng thành một cuộc chạy đua vũ trang ra ngoài không gian.
UAV dân sự của DJI được sửa đổi để mang theo lựu đạn khá phổ biến trong xung đột Ukraine. (Ảnh: AP)
Kể từ chiến tranh Syria (2011) cho đến nay, máy bay không người lái (UAV) đã trở thành thứ vũ khí không thể thiếu đối với bất kỳ đội quân nào. Phương tiện bay này đảm nhận mọi vai trò trên chiến trường từ do thám, trinh sát, tấn công cho đến hỗ trợ hậu cần.
Xung đột Nga – Ukraine (2022) là cuộc chiến UAV toàn diện đầu tiên trên thế giới, nó không khác gì một cuộc đối đầu trên không kéo dài không có hồi kết giữa hai bên. UAV hoạt động 24h mỗi ngày và truyền mọi thông tin chiến trường về sở chỉ huy cách đó hàng chục km, Nga – Ukraine sử dụng UAV trong giao tranh còn nhiều hơn cả bộ binh.
Tuy nhiên ở từng cấp độ xung đột, các bên tham chiến sử dụng những loại UAV khác nhau từ drone giá rẻ chỉ từ 200 USD cho đến các phương tiện chiến đấu đắt đỏ lên đến hàng triệu USD. Chưa dừng ở đó quân đội Mỹ còn muốn mở rộng cuộc đua UAV ra ngoài không gian với chương trình X-37, các cường quốc khác như Nga và Trung Quốc cũng không kém cạnh khi phát triển các phương tiện lượn siêu thanh không người lái vừa có thể tấn công vừa có thể trinh sát.
Cuộc chiến UAV
Khác với đầu những năm 2000, máy bay không người lái hiện tại là một vũ khí giá rẻ và hiệu quả đã xuất hiện trong nhiều cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang. Nó có thể không dẫn đến chiến thắng cuối cùng nhưng thừa khả năng trở thành vũ khí răn đe.
Trước đây người ta thường gắn liền UAV với cuộc chiến của Mỹ chống khủng bố ở khu vực Trung Đông. Lực lượng quân sự của siêu cường này có thể ngồi ở một nơi an toàn cách xa mục tiêu hàng ngàn km, điều khiển UAV tiêu diệt mục tiêu với rủi ro tối thiểu cho họ. Lúc đó ít có quốc gia nào có được khả năng này.
Nhưng hiện nay bức tranh đã thay đổi. Mỹ và các cường quốc khác không độc tôn sở hữu lợi thế áp đảo về công nghệ UAV.
Các UAV nhỏ, bao gồm phiên bản thương mại, có thể dễ dàng chuyển đổi để phục vụ mục đích quân sự. Các UAV kiểu này giúp các nước nhỏ hơn và các nhóm nổi dậy “san phẳng sân chơi” theo hướng bình đẳng hơn.
UAV đã đóng vai trò quan trọng trên chiến trường trong các cuộc xung đột gần đây giữa chính phủ Ethiopia và quân nổi dậy Tigrayan, giữa Armenia và Azerbaijan, nội chiến ở Libya, giữa liên quân Ả Rập và phiến quân Houthi, giữa Nga và Ukraine hay mới nhất là Israel và Hamas.
Điển hình như cuộc xung đột Israel – Hamas (2023), cả hai bên đều sử dụng UAV trong mục đích trinh sát và tấn công. Israel là bên có ưu thế hơn với phi đội máy bay không người lái hiện đại có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, phong trào Hamas cũng không hề kém cạnh khi sử dụng các drone hoặc UAV cỡ nhỏ để tập kích các vị trí quân sự của đối phương.
Từ cuộc xung đột Nga – Ukraine, các tay súng Hamas có thể đã rút ra được bài học lớn trong tác chiến phi đối xứng bằng UAV, kể cả họ chỉ thể mua các phương tiện bay không người lái dân sự. Bằng chứng rõ nhất là Hamas sử dụng UAV ném lựu đạn phá hủy xe tăng và các chòi canh biên giới của Israel ngay trong ngày đầu tiên của chiến dịch bão táp Al-Aqsa. Sau đòn tấn công bất ngờ, lực lượng phòng vệ Israel nhanh chóng có động thái đáp trả, UAV cũng được sử dụng để theo dõi cũng như vô hiệu hóa các mũi tiến công của Hamas dọc theo biên giới Dải Gaza.
Quay lại những ngày đầu của cuộc chiến Nga-Ukraine, UAV tấn công Bayraktar TB2 do Thổ Nhĩ Kỳ chế tạo đã thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế. Giai đoạn đó, UAV này khá làm mưa làm gió trên chiến trường, bắn phá các mục tiêu là xe tăng, xe thiết giáp của quân đội Nga.
Những gì mà UAV Bayraktar TB2 thể hiện đã đóng vai trò như màn quảng cáo cho sản phẩm này. Quân đội nhiều nước sau đó đổ xô đặt hàng loại UAV này của hãng Baykar.
Dù vậy UAV Bayraktar TB2 chỉ tỏ ra hiệu quả chủ yếu trong vài tuần đầu của cuộc xung đột. Khi Nga tổ chức lại hoạt động hệ thống phòng không của mình thì Bayraktar TB2 gần như biến mất hoàn toàn trên chiến trường.
Dẫu vậy, UAV vẫn đóng vai trò lớn trong xung đột Nga Ukraine khi chúng xuất hiện dưới một hình thức khác là UAV “cảm tử”. Quân đội Nga đã thành công trong việc sử dụng UAV “cảm tử” Geran-2 giáng một đòn mạnh vào cơ sở hạ tầng quan trọng của Ukraine.
Bên cạnh đó UAV “cảm tử” Lancet của Nga cũng là cơn ác mộng đối với bộ binh và tăng thiết giáp Ukraine khi nó có thể phá hủy mọi thứ mà không thể bị đánh chặn.
Quân đội Ukraine cũng không chịu ngồi yên khi sử dụng UAV cỡ nhỏ với số lượng lớn để tấn công lực lượng Nga và cũng tạo ra thiệt hại đáng kể cho đối phương.
UAV giá rẻ đến từ đâu?
Theo tờ Foreign Policy, bất cứ khi nào bạn nghe thấy tiếng vo ve của máy bay không người lái ở bất cứ nơi nào trên thế giới, bạn có thể đang nghe thấy âm thanh từ một sản phẩm được sản xuất ở Trung Quốc.
Cách đây gần 20 năm, từ một ký túc xá, ông chủ của công ty công nghệ Trung Quốc DJI đã tạo ra chiếc máy bay không người lái giá rẻ đầu tiên mà ngay cả những người nghiệp dư cũng có thể sử dụng để quay những video tuyệt đẹp và tạo bản đồ chất lượng cao.
Ngày nay, DJI trở thành công ty dẫn đầu thị trường trong ngành công nghiệp máy bay không người lái thương mại, cung cấp nhiều loại cho hơn 70% người dùng trên toàn thế giới. Và không có gì ngạc nhiên khi UAV của DJI được cả hai bên trong xung đột Ukraine sử dụng với số lượng lớn.
Thế nhưng thị phần của DJI chỉ là một câu chuyện điển hình bởi Trung Quốc có hàng trăm công ty khác chuyên chế tạo hoặc cung ứng linh kiện chế tạo UAV và drone. Nói cách khác chỉ cần có bản thiết kế, bạn có thể mua mọi thứ cần thiết để tạo nên một phương tiện bay không người lái của riêng mình từ các nhà sản xuất Trung Quốc.
Ví dụ rõ nhất là UAV “cảm tử” Geran-2 của Nga khi nó sử dụng hệ thống động cơ cánh quạt do một công ty Trung Quốc chế tạo.
Về phía Ukraine từ lâu đã sử dụng các UAV dân sự giá thành thấp do Trung Quốc sản xuất để gia tăng năng lực tấn công. Ukraine đã cải tiến các UAV có mục đích thương mại nhằm biến chứng thành vũ khí tập kích mục tiêu Nga.
Trong những công xưởng, những kỹ sư Ukraine vẫn nỗ lực chỉnh sửa các UAV dân sự để biến chúng thành UAV tấn công giá rẻ. Ví dụ, họ gắn pin mới đã được cải tiến vào UAV để nó có thể bay xa hơn.
Các phi công cũng sẽ gắn một quả đạn pháo tự chế xuống phần dưới UAV để cho vũ khí nói trên làm nhiệm vụ lao vào chiến hào và xe tăng Nga, nhằm biến chứng thành tên lửa do con người điều khiển.
Tuy nhiên, cả Nga và Ukraine đang đứng trước một nguy cơ thiếu hụt UAV khi Trung Quốc bắt đầu siết chặt việc xuất khẩu UAV và drone dân sự do lo ngại chúng có thể biến thành công cụ phục vụ chiến tranh.
Theo đó, các nhà xuất khẩu phải được chính phủ cấp phép khi xuất khẩu UAV. Biện pháp kiểm soát này cũng ảnh hưởng đến một số loại UAV tiêu dùng, và không loại UAV dân sự nào có thể được xuất khẩu cho mục đích quân sự.
UAV không gian
Ngoài các mẫu UAV thông thường một số siêu cường quân sự như Mỹ, Nga và Trung Quốc bắt đầu phát triển phương tiện bay không người lái có thể hoạt động ngoài không gian. Đi đầu và có thể được xem thành công nhất trong lĩnh vực này là Mỹ với chương trình tàu vũ trụ không người lái (UAV) X-37B.
X-37B ban đầu được hãng Boeing thiết kế cho NASA. Nhưng sau đó nó đã được điều chỉnh để quân đội Mỹ sử dụng. Phương tiện này về cơ bản là một sự kết hợp giữa máy bay và tàu vũ trụ. Có thể nói nó là một tàu con thoi thu nhỏ.
X-37B được coi là một trong những dự án bí ẩn nhất của không quân Mỹ trong việc triển khai UAV để thực hiện các nhiệm vụ tối mật ngoài không gian.
Theo IDG News Service – cơ quan ngôn luận của Tập đoàn Dữ liệu quốc tế (International Data Group – IDG) của Mỹ – đã có 3 chiếc X-37B bay ra khỏi trái đất nhằm kiểm tra hoạt động của UAV trong môi trường không trọng lực và tăng cường năng lực giám sát của các cơ quan tình báo Mỹ.
Trong một nhiệm vụ gần đây nhất X-37B của Mỹ cũng lập kỷ lục 908 ngày thực hiện nhiệm vụ ngoài không gian và trở về Trái Đất an toàn vào tháng 11/2022
Lực lượng không gian Mỹ cho hay sứ mệnh OTV-6 của X-37B cũng đánh dấu mốc lần đầu tiên một chiếc UAV bay vào vũ trụ có gắn modul dịch vụ, tăng số lượng các cuộc thử nghiệm có thể được tiến hành trong không gian.
Ở một chiều hướng khác, Trung Quốc cũng không hề kém cạnh khi phát triển mẫu UAV siêu thanh WZ-8 – phương tiện bay không người lái tầm cao và có tốc độ siêu thanh thực hiện các nhiệm vụ trinh sát. Theo Thời báo Hoàn Cầu, UAV này có thể thu thập các bức ảnh với độ phân giải cao, đồng thời cung cấp thông tin tình báo theo thời gian thực. Theo một tài liệu của Lầu Năm Góc bị rò rỉ vào tháng 8 năm ngoái, WZ-8 được thiết kế để triển khai từ máy bay ném bom tầm xa H-6M và có nhiệm vụ thu thập dữ liệu thời gian thực về hành động của đối thủ tiềm năng ở eo biển Đài Loan hoặc trong khu vực Bán đảo Triều Tiên.
Chuyến bay của chiếc WZ-8 được thực hiện ở độ cao 30.000 m với tốc độ lên tới Mach 3, cộng với việc áp dụng công nghệ tàng hình, cho nên phương tiện này rất khó bị các hệ thống phòng không đánh chặn.
Một quốc gia khác phát triển phương tiện không người lái siêu thanh là Nga với Đề án 4202 Avangard – nó có khả năng bay với vận tốc Mach 27 (32.000km/h) ngay cả trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, có thể thay đổi đường bay và độ cao, cũng như xuyên thủng bất kỳ hệ thống phòng thủ tên lửa nào. Avangard được Tổng thống Nga Vladimir Putin đề cập đến lần đầu tiên vào tháng 3/2018.
Các quan chức Nga cho biết nó có thể được lắp đặt trên ICBM RS-28 Sarmat của nước này với tầm bắn lên tới hơn 17.700km.
Các đầu đạn ICBM thông thường có đường đi dễ toán nên dễ bị đánh chặn nhưng Avangard có thể thay đổi hướng đi. TASS dẫn lời các quan chức Nga cho biết, nó “không thể bị tấn công trước bất kỳ hệ thống phòng thủ tên lửa nào”.
Theo Dự án Phòng thủ Tên lửa của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, Avangard nặng khoảng 2 tấn, có tầm bắn hơn 6.000km và có thể mang đầu đạn hạt nhân hoặc đầu đạn thông thường.
Còn Bộ Quốc phòng Nga cho biết, hệ thống tên lửa Avangard đầu tiên đã đi vào hoạt động vào cuối năm 2019.
Trung Quốc đề xuất cho phép cư dân Đài Loan sống, làm việc, kinh doanh ở tỉnh ven biển Phúc Kiến. Bên cạnh đó, doanh nghiệp ở hòn đảo được khuyến khích niêm yết cổ phiếu trên các sàn giao dịch chứng khoán Trung Quốc.
Theo Đài RT (Nga), Ủy ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện (Chính phủ Trung Quốc) đã công bố kế hoạch hội nhập kinh tế cho Đài Loan vào hôm 13-9.
Bản đề xuất này được coi là “kế hoạch chi tiết” cho sự phát triển trong tương lai của hòn đảo này.
Theo đó, đề xuất kêu gọi cho phép cư dân Đài Loan sống, làm việc và học tập trên đất liền, dự kiến triển khai ban đầu ở tỉnh Phúc Kiến.
Các doanh nghiệp Đài Loan sẽ được phép treo biển hiệu và được khuyến khích niêm yết cổ phiếu của họ trên các sàn giao dịch chứng khoán Trung Quốc. Tỉnh Phúc Kiến nằm ở ven biển đông nam của Trung Quốc đại lục. Đài Loan nằm ở phía đông của Phúc Kiến, qua eo biển Đài Loan.
“Giải quyết vấn đề Đài Loan và hiện thực hóa sự thống nhất hoàn toàn của tổ quốc là nhiệm vụ lịch sử không thể thay đổi của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là khát vọng chung của toàn thể người dân Trung Quốc và là yêu cầu tất yếu để hiện thực hóa sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Quốc”, đề xuất nêu.
Tuy nhiên, nghị sĩ Wang Ting Yu của Đảng Dân tiến cầm quyền ở Đài Loan có cái nhìn không mấy thiện cảm về bản đề xuất này. Ông cho rằng Trung Quốc trước mắt nên giải quyết các khoản nợ xấu của họ.
Cũng trong ngày 13-9, Đài Loan thông báo phát hiện 35 máy bay quân sự Trung Quốc quanh hòn đảo này. Trong đó, một số chiếc bay vào khu vực Tây Thái Bình Dương để tập trận cùng tàu sân bay Sơn Đông.
Trung Quốc xem Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời của mình. Thời gian qua, Bắc Kinh tăng cường các hoạt động quân sự quanh đảo Đài Loan để phản ứng lại với cái gọi là “sự cấu kết” giữa các lực lượng đòi độc lập ở hòn đảo này và Mỹ.
Tối 7/10, ngày đầu tiên Hamas tấn công Israel, thủ tướng Israel Binyamin Netanyahu đã cảnh báo người dân Gaza “hãy rời đi ngay vì chúng tôi sẽ hành động quyết liệt ở mọi nơi.”
Trong cùng hôm đó Israel bắt đầu không kích vào Gaza, dải đất do Hamas quản lý. Nhiều người trong số 2 triệu dân Gaza rõ ràng muốn nghe theo lời khuyên của ông Netanyahu và chạy trốn, nhưng không rõ họ có thể đi đâu. Israel sẽ không cho họ vào, trong khi một số báo cáo khác cho thấy Ai Cập đã đóng cửa biên giới. Chính phủ Ai Cập nói cửa khẩu biên giới Rafah không hoạt động vì tên lửa của Israel đã tấn công nó nhiều lần.
Tổng thống Ai Cập Abdel-Fattah al-Sisi có thể muốn chặn dòng người di cư từ Gaza, nhất là khi kinh tế Ai Cập chìm trong khó khăn. Nước này gần đây đã tiếp nhận hơn 100.000 người tị nạn từ cuộc nội chiến ở Sudan. Cho đến nay, Ai Cập dường như không muốn trở thành nơi trú ẩn cho người dân Gaza.
Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã đến thăm Israel để thể hiện tình đoàn kết sau khi nước này bị Hamas tấn công, đồng thời cam kết Mỹ sẽ “luôn” bên cạnh Israel. Ông Blinken, người có gốc Do Thái, cho biết cuộc tấn công của người Palestine gợi nhớ về Holocaust. Ông cho biết sẽ kêu gọi các nước khác trong khu vực kiềm chế xung đột. Trong khi đó, Syria nói tên lửa của Israel đã tấn công các sân bay ở Aleppo và Damascus, khiến cả hai đều không thể hoạt động. Hôm thứ Sáu, ngoại trưởng Iran, một đồng minh của Syria và là kẻ thù của Israel, sẽ đến thăm Syria.
Mỹ sẽ ngăn Iran tiếp cận khoản tiền 6 tỷ USD được Qatar giữ từ tháng trước để đổi lấy việc trả tự do cho những người Mỹ đang bị cầm tù. Kể từ cuộc tấn công của Hamas vào Israel, đảng Cộng hòa đã chỉ trích tổng thống Joe Biden vì cho phép khoản tiền được trả cho Iran — ngay cả với những hạn chế nghiêm ngặt. Giới chức Mỹ nói không bằng chứng nào cho thấy Iran có liên quan, nhưng nước này có lịch sử ủng hộ Hamas.
Người đứng đầu Lực lượng Phòng vệ Israel, Herzi Halevi, thừa nhận quân đội nước ông đã thất bại trong việc ngăn chặn cuộc tấn công của Hamas hôm thứ Bảy. Đây là tuyên bố công khai đầu tiên của ông kể từ vụ xâm nhập. Halevi nói: “Chúng tôi sẽ tìm hiểu, chúng tôi sẽ điều tra, nhưng giờ là lúc tập trung cho chiến tranh.” Israel cho biết 1.300 người đã thiệt mạng do tên lửa và các tay súng của Hamas.