Category Archives: Ostsee Vietnam

Tàu ngầm TQ bất ngờ nổi lên ở eo biển Đài Loan gây tranh cãi

Một số chuyên gia quân sự vừa đưa ra những lý giải về việc một tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân mang tên lửa đạn đạo của Trung Quốc bất ngờ nổi lên ở eo biển Đài Loan.

Một số ngư dân đã phát hiện một chiếc tàu ngầm của quân đội Trung Quốc (PLA) bất ngờ nổi lên vào sáng sớm 18.6, ở ngay phía tây đường trung tuyến của eo biển Đài Loan, cách quần đảo Kim Môn do Đài Loan kiểm soát khoảng 46 km, theo tờ South China Morning Post (SCMP).

Ngay sau đó, một tàu chiến khác của PLA được nhìn thấy đang hộ tống tàu ngầm về Trung Quốc. Chiếc tàu ngầm khi đó di chuyển trên mặt nước chứ không lặn xuống, theo một số báo dẫn lời ngư dân.

Trưởng Cơ quan Phòng vệ Đài Loan Cố Lập Hùng cho hay lực lượng phòng vệ Đài Loan “đã hiểu biết toàn diện về tình hình thông qua các phương pháp trinh sát và tình báo có liên quan” mà không cung cấp thêm thông tin chi tiết hay suy đoán về ý định của hải quân Trung Quốc. Cho đến nay vẫn chưa có thông tin về phản ứng của phía Trung Quốc.
Lý giải của chuyên gia quân sự Đài Loan

Trong khi đó, các chuyên gia quân sự Đài Loan cho rằng chiếc tàu ngầm nói trên là tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân thuộc Type 094, dựa trên những bức ảnh do các thuyền viên chụp được. Họ cho rằng tàu ngầm có thể nổi lên để bảo trì định kỳ, gặp trục trặc kỹ thuật, thay đổi địa hình dưới nước hoặc cố ý phô trương sức mạnh, theo SCMP.

Hai gói bán vũ khí mới Mỹ vừa phê duyệt cho Đài Loan có gì?

Trong đó, ông Lâm Dĩnh Hựu, giáo sư quan hệ quốc tế và nghiên cứu chiến lược tại Đại học Đạm Giang ở thành phố Tân Bắc (Đài Loan) nhận định: “Các tàu ngầm hạt nhân như Type 094 có nhiệm vụ chuyên biệt và thường tránh nổi lên do tính nhạy cảm và nhu cầu tàng hình”. Tuy nhiên, ông Lâm không loại trừ khả năng “sự cố định hướng hoặc trục trặc kỹ thuật khiến tàu ngầm nổi lên”.

Còn ông Zivon Wang, một nhà phân tích quân sự tại Đài Bắc, nhận định vị trí của chiếc tàu ngầm Trung Quốc nói trên cho thấy nó đang di chuyển trong giới hạn 12 hải lý tính từ lãnh hải của Trung Quốc đại lục. “Đây có thể là một chuyến quá cảnh thường lệ để chuyển đổi nhiệm vụ hoặc bảo trì tại xưởng đóng tàu ở Bột Hải, do nó có quỹ đạo hướng về phía bắc từ căn cứ trên bờ biển Hải Nam ở phía nam”, ông Wang nhận định.

Ông Wang còn cho rằng việc chỉ có một tàu chiến PLA hộ tống tàu ngầm đã làm giảm khả năng xảy ra trục trặc kỹ thuật. “Thông thường, trong trường hợp xảy ra sự cố, những tàu bổ sung sẽ được điều động để hỗ trợ”.
Nhắm vào Mỹ, Nhật, Philippines, Úc?

Việc nổi lên hiếm hoi của một tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, vốn có thể hoạt động dưới nước trong thời gian dài, đã gây lo ngại ở Đài Loan và đặt ra câu hỏi liệu đây có phải là một màn thể hiện khác của Bắc Kinh nhắm vào hòn đảo này hay chỉ đơn giản là một chuyến quá cảnh thường lệ, theo SCMP.

Các nhà lập pháp Đài Loan đã bày tỏ lo ngại quanh câu hỏi đây có phải là nỗ lực của PLA nhằm tăng áp lực quân sự lên Đài Loan hay không, đặc biệt là sau khi PLA tiến hành cuộc tập trận vào tháng 5 mô phỏng việc phong tỏa hòn đảo này.

Tàu ngầm tên lửa đạn đạo Trung Quốc bất ngờ nổi lên ở eo biển Đài Loan

Nhà phân tích cấp cao Tô Tử Vân thuộc Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh, một tổ chức tư vấn cho chính quyền ở Đài Bắc, cho rằng sự xuất hiện của tàu ngầm Type 094 có thể được hiểu là một màn phô trương sức mạnh không chỉ nhắm vào Đài Loan mà còn nhắm vào Mỹ và các đồng minh của Mỹ ỡ khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, gồm Nhật Bản, Philippines và Úc.

Ông Tô còn cho rằng quyết định cho tàu ngầm Type 094 (có trọng tải nặng) nổi lên có thể là biện pháp phòng ngừa nhằm tránh nguy cơ mắc cạn, đặc biệt là ở vùng nước nông của eo biển Đài Loan. Các chuyên gia quân sự cũng cho rằng do đây là cao điểm của mùa câu mực nên việc nổi lên trong khu vực có thể làm giảm nguy cơ tàu ngầm mắc vào lưới đánh cá.

Tàu ngầm Type 094, còn được gọi là lớp Tấn, đã được thấy nổi lên ở eo biển Đài Loan vào năm 2021 và 2020, theo SCMP.

Tàu ngầm lớp Tấn của Trung Quốc được trang bị tên lửa đạn đạo JL-2 có tầm bắn 7.000 km, đặt lục địa Mỹ trong tầm bắn. Phiên bản mới nhất của tàu ngầm, Type 094A, được đưa vào sử dụng vào tháng 4 và được cho là mang theo tên lửa đạn đạo JL-3 thậm chí còn mạnh hơn, có tầm bắn hơn 10.000 km, theo SCMP.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu ngầm TQ tập trận đánh chìm tàu đổ bộ

Hải quân Trung Quốc mới đây đã sử dụng ngư lôi sóng hạ âm phóng từ tàu ngầm để đánh chìm tàu tấn công đổ bộ trong một cuộc tập trận.

Theo The Drive, trong ngày 16/6, truyền thông Trung Quốc đã đăng tải đoạn video ghi lại tàu ngầm của hải quân nước này diễn tập đánh chìm tàu đổ bộ. Đợt tập trận là một phần trong lễ kỷ niệm 70 năm thành lập lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc.

Trong đoạn video, tàu tấn công đổ bộ lớp Type 074 đã bị tập kích bởi một tàu ngầm của hải quân Trung Quốc. Đòn tấn công chính xác từ dưới mặt nước đã khiến tàu đổ bộ bị hất tung và chìm xuống sau đó. Vũ khí được tàu ngầm Trung Quốc sử dụng trong đợt tập trận là ngư lôi sóng hạ âm.

Trong buổi tập trận, hải quân Trung Quốc cũng giới thiệu tàu ngầm Great Wall 236, được coi là mẫu tàu ngầm chủ lực thế hệ mới của nước này.

Ngư lôi sóng hạ âm là loại ngư lôi sử dụng sóng siêu âm tần số cao để tìm kiếm tín hiệu sonar từ các chiến hạm. Sau khi xác định được mục tiêu, ngư lôi sóng hạ âm sẽ di chuyển theo một đường cong rồi tập kích mục tiêu từ bên dưới.

Tàu tấn công đổ bộ lớp Type 074 được ra mắt từ những năm 1990. Tính đến hiện tại, đã có 15 tàu chiến loại này được xuất xưởng, phần lớn phục vụ trong các đơn vị của quân đội Trung Quốc và một số để xuất khẩu.

Các tàu đổ bộ lớp Type 074 có lượng choán nước 800 tấn, dài khoảng 60m, có thể mang theo 2 xe tăng hoặc 350 binh lính trong một cuộc đột kích. Phần lớn các chiến hạm loại này đã sắp hết thời hạn phục vụ và sẽ được thay thế bởi các loại tàu đổ bộ hiện đại hơn.

BDN

Loading

Views: 0

Philippines đưa đơn LHQ đăng ký mở rộng thềm lục địa ở Biển Đông

Ngày 15-6, Bộ Ngoại giao Philippines cho biết nước này vừa trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS) của Liên Hiệp Quốc bản đăng ký mở rộng thềm lục địa ở Biển Đông.

“Hôm nay, thông qua phái đoàn Philippines tại Liên Hiệp Quốc ở New York, Philippines đã trình thông tin lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc, để đăng ký quyền của Philippines đối với thềm lục địa mở rộng (ECS) tại khu vực Tây Palawan ở Biển Đông” – Bộ Ngoại giao Philippines cho biết trong tuyên bố ngày 15-6, theo trang tin Rappler.

Việc nộp yêu sách về thềm lục địa mở rộng đã được Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr phê chuẩn, diễn ra sau khi Philippines thực hiện cuộc nghiên cứu khoa học và kỹ thuật toàn diện về thềm lục địa ở Biển Đông.

Động thái trên diễn ra trong bối cảnh căng thẳng gia tăng giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông.

Thời gian qua Philippines liên tục tố tàu hải cảnh Trung Quốc quấy rối, ngăn chặn và thực hiện các hành động nguy hiểm nhằm vào tàu Philippines ở Biển Đông.

Trong đó có các vụ tàu hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu chở hàng tiếp tế cho lực lượng Philippines ở bãi Cỏ Mây.

Bộ Ngoại giao Philippines cho biết nước này mất hơn 15 năm để chuẩn bị cho việc đệ trình nói trên.

Philippines giải thích họ đang sử dụng quyền theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) để thiết lập ranh giới ngoài của thềm lục địa, bao gồm vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, kéo dài lên tới 350 hải lý.

“Các sự cố trên biển có xu hướng làm lu mờ tầm quan trọng của những thứ nằm bên dưới. Đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trải dài từ quần đảo của chúng tôi lên đến mức tối đa được UNCLOS cho phép hiện nắm giữ các nguồn tài nguyên tiềm năng đáng kể, vốn sẽ mang lại lợi ích cho quốc gia và người dân của chúng tôi trong nhiều thế hệ tiếp theo” – ông Marshall Louis Alferez, trợ lý ngoại trưởng Philippines phụ trách các sự vụ hàng hải và đại dương, bình luận.

Quan chức này nói thêm: “Hôm nay, chúng tôi bảo đảm tương lai của mình bằng cách thể hiện đặc quyền của mình trong việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên, theo quyền ECS của chúng tôi”.

BDN

Loading

Views: 0

Biển Đông giữa sóng ngầm căng thẳng

Tình hình Biển Đông lại có thêm nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là các căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines tiếp tục gia tăng.

Ngày 15.6 vừa qua, Philippines thông báo vừa gửi văn bản lên LHQ về việc đăng ký mở rộng thềm lục địa (ECS) ở Biển Đông, theo Reuters. Giải thích cho động thái này, ông Marshall Louis Alferez, Trợ lý Ngoại trưởng Philippines về các vấn đề hàng hải và đại dương, cho rằng đó là sự “đảm bảo tương lai bằng cách thể hiện quyền riêng để khám phá và khai thác tài nguyên thiên nhiên trong quyền lợi ECS” của nước này.

Trung Quốc và Philippines chỉ trích lẫn nhau

Động thái trên diễn ra trong bối cảnh căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc không ngừng gia tăng ở Biển Đông.

Ngày 14.6, CGTN dẫn lời ông Trương Hiểu Cương, phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, tuyên bố nước này sẽ thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để đối phó “các hành động nguy hiểm và leo thang của Philippines ở Biển Đông”. Phát ngôn viên Trương còn cáo buộc “Philippines là một kẻ hủy diệt hòa bình và gây bất ổn trong khu vực”.

Phát ngôn của ông Trương nhằm phản ứng lại việc Manila phủ nhận việc binh sĩ Philippines đã chĩa súng vào tàu hải cảnh Trung Quốc (CCG) theo như cáo buộc của Bắc Kinh. Mới đây, Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) đưa tin trong quá trình tiếp tế cho binh sĩ Philippines đóng trú trên một tàu chiến bị mắc cạn tại Biển Đông vào ngày 19.5, ít nhất có 2 quân nhân Philippines trên tàu đã chĩa súng vào các tàu CCG đang theo dõi gần đó.

Thời gian qua, Philippines nhiều lần nỗ lực thực hiện công tác tiếp tế trên bất chấp sự cản trở từ các tàu CCG và lực lượng tàu dân binh Trung Quốc. Hai bên đã xảy ra nhiều vụ va chạm, dù hậu quả không lớn nhưng đã dẫn đến nhiều căng thẳng ngoại giao mà cả Bắc Kinh lẫn Manila đều không tỏ dấu hiệu xuống thang.

Bên cạnh đó, trước sức ép quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc, Philippines cũng tiến hành nhiều động thái ứng phó, bao gồm cả việc tăng cường thực lực quốc phòng cũng như củng cố hợp tác với các đồng minh và đối tác như Mỹ, Nhật, Úc. Mới đây, chuyên trang Naval News ngày 11.6 đưa tin Philippines đang tìm cách xây dựng một căn cứ mới trên địa điểm từng là căn cứ không quân của hải quân Mỹ ở vịnh Subic. Dự kiến, căn cứ mới được sử dụng để tăng cường khả năng giám sát trên không và triển khai sức mạnh ở Biển Đông.

Trung Quốc tăng cường kiểm soát Biển Đông

Cùng ngày 14.6, tờ The Guardian đưa tin Philippines bắt đầu tăng cường tuần tra ở Biển Đông.

Đây là động thái đối phó việc Trung Quốc trao quyền nhiều hơn cho CCG – một lực lượng từng có nhiều hành động gây căng thẳng ở khu vực. Cụ thể, kể từ ngày 15.6, Trung Quốc cho phép CCG áp dụng hình phạt giam giữ lên tới 60 ngày không qua xét xử đối với người nước ngoài “vượt biên trái phép” qua vùng biển Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền.

Vấn đề đặt ra qua đó, CCG có thể áp dụng hình phạt trên ở những khu vực trên Biển Đông mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền phi pháp – vốn đã bị Tòa Trọng tài quốc tế ở The Hague (PCA) ra phán quyết bác bỏ vào năm 2016. Lâu nay, Trung Quốc tự trao quyền thực thi các nhiệm vụ chấp pháp ở những vùng biển mà nước này tuyên bố chủ quyền. Năm 2021, Trung Quốc tự ban hành luật cho phép CCG được quyền nổ súng vào tàu nước ngoài ở vùng biển Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Chính vì thế, quy định mới trên của Trung Quốc được xem là bước tiếp theo nhằm tăng cường kiểm soát chủ quyền phi pháp trên Biển Đông.

Trả lời Thanh Niên về vấn đề trên, GS-TS Prakash Panneerselvam (Chương trình Nghiên cứu an ninh và chiến lược quốc tế, Viện Nghiên cứu tiên tiến quốc gia Ấn Độ) cho rằng: “Nếu CCG bắt giữ người nước ngoài ở Biển Đông thì đó là hành động bất hợp pháp. Bằng cách cho phép bắt giữ, Trung Quốc đang báo hiệu ý định thực thi các yêu sách của mình một cách mạnh mẽ hơn”.

Tương tự, GS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế – Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) phân tích: “Việc Trung Quốc cho phép CCG được bắt giữ người nước ngoài trên biển như ở Biển Đông là một minh chứng cho thấy Bắc Kinh đang dùng luật pháp trong nước đối với khu vực mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền ngay cả khi đó là tuyên bố chủ quyền phi pháp. Khi tiến hành một vụ bắt giữ như vậy, Trung Quốc tự tạo ra một bộ hồ sơ hành chính để tự hình thành nên một cơ sở dữ liệu để hợp pháp hóa việc thực thi luật pháp (dù phi pháp) trong khu vực. Qua đó, Bắc Kinh tự mở rộng quyền kiểm soát mà không cần sử dụng vũ lực”.

Vị chuyên gia này đề xuất: “Các bên liên quan khác cần tìm cách giảm thiểu chiến lược vừa nêu của Trung Quốc”.

BDN

Loading

Views: 0

G7 cảnh báo cứng rắn TQ về Biển Đông và chính sách thương mại

Các nhà lãnh đạo G7 chỉ trích chính sách thương mại của Trung Quốc và những hành vi ‘nguy hiểm’ của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Lo ngại an ninh

Trung Quốc đã trở thành vấn đề tâm điểm tại hội nghị thượng đỉnh đang diễn ra tại Ý của nhóm G7 (Anh, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Pháp, Canada và Ý) trong bối cảnh quan hệ thương mại giữa Bắc Kinh và phương Tây đang xấu đi. Cùng với đó là lo ngại về việc Trung Quốc cung cấp các thiết bị cho Nga có thể làm thúc đẩy xung đột Nga – Ukraine.

“Chúng tôi kêu gọi Trung Quốc ngừng chuyển giao các vật liệu có công dụng kép, bao gồm các thành phần vũ khí và thiết bị, vốn là đầu vào cho ngành quốc phòng Nga”, tuyên bố cuối hội nghị thượng đỉnh G7 ngày 14-6 cho biết.

G7 cũng chỉ trích các hành vi “nguy hiểm” của Trung Quốc ở Biển Đông. “Chúng tôi phản đối hành động quân sự hóa cũng như các hoạt động cưỡng ép và đe dọa của Trung Quốc ở Biển Đông”, Hãng tin AFP dẫn lại tuyên bố của G7 và cho rằng tuyên bố năm nay đã sử dụng ngôn ngữ mạnh mẽ hơn so với hội nghị thượng đỉnh G7 ở Nhật Bản năm 2023.

G7 cho biết khối này “quan ngại sâu sắc” về vấn đề an ninh rộng lớn hơn tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

“Chúng tôi bày tỏ quan ngại sâu sắc về việc ngày càng có nhiều hoạt động nguy hiểm và sử dụng vòi rồng chống lại tàu Philippines”, tuyên bố của nhóm G7 nêu.

Một nguồn tin từ Chính phủ Nhật Bản nói với AFP rằng tất cả các nước G7 “đều biết rằng cần truyền tải thông điệp một cách thẳng thắn tới cấp cao nhất của Trung Quốc”.
“Dư thừa công suất”

Hội nghị G7 diễn ra không lâu sau khi Liên minh châu Âu (EU) thông báo áp mức thuế mới với xe điện Trung Quốc. Bắc Kinh đã lên án “hành vi bảo hộ trắng trợn” và cho rằng họ có quyền đệ đơn kiện lên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

EU dự hội nghị G7 năm nay với tư cách là đối tác thứ tám không chính thức. Khối này cùng với hai nước G7 là Mỹ và Nhật Bản đều lên tiếng lo ngại về cái gọi là “dư thừa công suất công nghiệp” của Trung Quốc.

Họ cho rằng các khoản trợ cấp hào phóng của Bắc Kinh, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng xanh và công nghệ như pin mặt trời và xe điện, có nguy cơ khiến hàng hóa giá rẻ tràn lan ra thị trường toàn cầu. Trung Quốc bác bỏ những lo ngại này.

Các nhà lãnh đạo G7 cũng kêu gọi Trung Quốc ngừng việc hạn chế xuất khẩu các khoáng sản quan trọng được dùng trong những ngành công nghiệp quan trọng toàn cầu như viễn thông và xe điện.

Theo Hãng tin Reuters, G7 nhấn mạnh không tìm cách làm suy yếu hay cản trở sự phát triển kinh tế của Trung Quốc, nhưng “sẽ tiếp tục thực hiện các hành động để bảo vệ doanh nghiệp của G7 khỏi các hành vi không công bằng, nhằm tạo sân chơi bình đẳng và khắc phục những tổn hại đang diễn ra”.

Trong một bài viết đăng vào tối 14-6, tờ Global Times (Thời báo Hoàn Cầu) của Trung Quốc dẫn lời các chuyên gia nước này cho rằng việc G7 tập trung vào sự “dư thừa công suất” của Trung Quốc “phản ánh nỗi lo lắng và sợ hãi của G7 về sự yếu kém của họ trong cạnh tranh quốc tế giữa các ngành công nghiệp mới”.

“G7 đang cố gắng gán cho các ngành công nghiệp có lợi thế của Trung Quốc là ‘dư thừa công suất’ để hạn chế sự phát triển của đất nước”, Thời báo Hoàn Cầu nêu.

Ông He Weiwen, thành viên cấp cao tại Trung tâm Trung Quốc và toàn cầu hóa, nói với tờ báo này rằng bản thân G7 cũng bị chia rẽ trong chính sách thương mại với Trung Quốc.

Chẳng hạn, Đức có khả năng cạnh tranh trong các ngành công nghiệp mới nổi và có nhiều khoản đầu tư chung với Trung Quốc, do đó ít có xu hướng áp thuế với xe điện của nước này, ông nói.

BDN

Loading

Views: 0

Philippines sẽ mở căn cứ mới hướng ra Biển Đông

Philippines đang tìm cách xây dựng một căn cứ quân sự mới ở vịnh Subic để tăng cường khả năng giám sát trên không và triển khai sức mạnh ở Biển Đông.

Theo tài liệu đấu thầu và kế hoạch phát triển của không quân Philippines, một căn cứ tiền phương mới sẽ được khởi công tại sân bay quốc tế vịnh Subic để hỗ trợ máy bay trinh sát và tấn công. Dự án này đánh dấu sự trở lại và tái đầu tư mạnh mẽ của Philippines tại vịnh Subic, nơi từng là căn cứ của hải quân Mỹ.

Địa lý gần kề của sân bay mới với bãi cạn Scarborough và Biển Đông là lý do cho việc xây dựng căn cứ quân sự ở vịnh Subic, theo Naval News dẫn lại các tài liệu của Không quân Philippines về dự án. Theo kế hoạch, sân bay mới ở Subic có thể trở thành điểm hỗ trợ cho cả hoạt động trên bộ và trên biển để hỗ trợ và triển khai lực lượng ngoài lãnh hải cũng như vùng đặc quyền kinh tế của Manila.

Giá trị dự án ước tính khoảng 2,5 triệu USD và chỉ gồm các chi phí ban đầu về nâng cấp nhà ở và an ninh. Về lâu dài, Philippines dự kiến xây dựng một căn cứ tuần tra hàng hải và máy bay không người lái chuyên dụng tại vịnh Subic, trên cơ sở các mục tiêu trong Hướng dẫn Kế hoạch quốc phòng 2020 – 2025 của Bộ Quốc phòng Philippines.

Ông Joshua Bernard Espena, Phó chủ tịch của tổ chức tư vấn Hợp tác An ninh và Phát triển quốc tế (Philippines) cho rằng căn cứ mới tại vịnh Subic là một bước nhảy vọt đáng kể trong nỗ lực phát triển các hoạt động chung của quân đội Philippines.

“Động thái này hoàn toàn phù hợp với Khái niệm phòng thủ quần đảo toàn diện (CADC) của Philippines nhằm lấp đầy những khoảng trống trong việc bảo vệ một quần đảo rộng lớn hơn. Điều quan trọng là phản ứng nhanh chóng và phối hợp, do đó Subic trở thành địa điểm truyền thống cho Lực lượng Không quân Philippines”, ông Espena nhận định.

BDN

Loading

Views: 0

TQ cho phép hải cảnh bắt người trên Biển Đông từ ngày 15-6

Giới quan sát cho rằng Trung Quốc sẽ kiềm chế vì luật mới áp dụng ở Biển Đông có thể làm bùng lên căng thẳng. Trước mắt, ngư dân Philippines phản ứng dữ dội, thậm chí thách thức Bắc Kinh.

Từ ngày 15-6, quy định mới của Trung Quốc sẽ có hiệu lực nhằm cho phép lực lượng hải cảnh nước này tạm giữ tới 30 ngày người nước ngoài vi phạm luật xuất nhập cảnh, gây nguy hiểm cho an ninh và lợi ích quốc gia, hoặc có hành vi hỗ trợ người khác vi phạm luật xuất nhập cảnh Trung Quốc.

Thời hạn giam giữ không qua xét xử có thể lên đến 60 ngày trong một số trường hợp.

Tăng nguy cơ xung đột Biển Đông

Tổng thống Ferdinand Marcos Jr của Philippines chỉ trích các quy định này là đặc biệt đáng lo ngại, và “làm leo thang tình hình” vốn đã căng thẳng sau nhiều lần đụng độ giữa tàu của Manila và lực lượng hải cảnh Trung Quốc trong năm qua.

Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ cũng lo ngại các quy định mới nhất có khả năng làm gia tăng căng thẳng trong khu vực, xâm phạm quyền chủ quyền của quốc gia ven biển và cản trở các quyền tự do trên biển.

Theo ông Dindo Manhit – chủ tịch Viện nghiên cứu Stratbase ADR có trụ sở tại Manila, quy định này sẽ khiến nhiệm vụ tiếp tế của Philippines tới các tiền đồn trở nên phức tạp, đồng thời đe dọa sinh kế của ngư dân Philippines đánh bắt cá ở Biển Đông.

“Những sự cố gần đây, chẳng hạn như vụ đâm tàu Philippines và thu giữ thực phẩm tiếp tế, cho thấy khả năng xảy ra các cuộc đối đầu nguy hiểm”, ông Manhit nhắc tới vụ việc gần đây ở khu vực bãi Cỏ Mây.

Ông Nate Fischler, nhà phân tích về châu Á – Thái Bình Dương tại tổ chức RANE có trụ sở ở Mỹ, cũng lo ngại luật mới này sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột hàng hải ở Biển Đông.

“Trung Quốc có thể sử dụng luật này để nhắm vào bất kỳ phần lãnh hải nào mà họ tuyên bố chủ quyền. Điều đó có nghĩa là các bên khác trong khu vực có tranh chấp hàng hải với Trung Quốc như Việt Nam và Đài Loan cũng có thể thấy tàu của họ rơi vào tầm ngắm và thủy thủ đoàn bị bắt giữ”, ông Fischler đánh giá trên tờ Nikkei Asia.

Trung Quốc sẽ kiềm chế?

Tuy nhiên chuyên gia Collin Koh, thuộc Trường nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam tại Đại học Công nghệ Nanyang của Singapore, cho rằng Trung Quốc sẽ cân nhắc việc khơi dậy phản ứng từ các nước láng giềng.

“Các quy định có thể là một công cụ pháp lý, nhưng việc có được thực hiện hay không còn phụ thuộc vào các yếu tố chính trị hơn là yếu tố pháp lý”, tờ South China Morning Post dẫn nhận định của ông Koh.

Tương tự, ông Zheng Zhihua, phó giáo sư nghiên cứu các vấn đề hàng hải tại Đại học Giao thông Thượng Hải, cũng cho rằng việc áp dụng luật sẽ làm xấu đi các mối quan hệ song phương của Trung Quốc, khiến các nước Đông Nam Á đoàn kết để đối phó.

“Vì vậy, tôi không nghĩ Trung Quốc sẽ tích cực áp dụng các quy định mới được thông qua ở các khu vực tranh chấp”, ông nói.

Đó là chưa kể quốc gia như Philippines có hiệp ước phòng thủ chung với Mỹ, cho phép Washington can thiệp khi lực lượng của Manila bị tấn công vũ trang.

Theo ông Koh, điều này có nghĩa rằng Trung Quốc sẽ phải cẩn trọng khi thi hành luật ở khu vực tranh chấp với Philippines như bãi Cỏ Mây, nơi Manila triển khai nhiều tàu hải quân để bảo vệ các tiền đồn.

Dù vậy, vẫn có khả năng Trung Quốc sẽ bắt người để phô diễn sức mạnh.

“Nếu có những trường hợp Bắc Kinh cần áp dụng các quy định nhưng thực tế lại không làm, thì uy tín của họ sẽ bị suy giảm, khiến họ trông giống như một con hổ giấy. Mặt khác, nếu Bắc Kinh tích cực thi hành luật thì sẽ gây ra một số hậu quả không mong muốn”, ông Koh nhận định.

Ngư dân Philippines không ngán luật mới của Trung Quốc

Các cuộc biểu tình diễn ra rầm rộ ở Philippines ngày 14-6, một ngày trước khi luật của Trung Quốc có hiệu lực.

“Ngư dân và người dân Philippines sẽ bất chấp luật (của Trung Quốc). Chính Trung Quốc mới là những kẻ xâm phạm”, ông Mong Palatino, tổng thư ký của nhóm đối lập Bayan Muna, nói.

Ông Leonardo Cuaresma, lãnh đạo một hiệp hội ngư dân ở tỉnh Zambales gần bãi cạn Scarborough, cũng dọa sẽ bắt 10 công dân Trung Quốc mỗi khi 1 người Philippines bị giam.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục đánh cá. Chúng tôi không quan tâm đến quy định đó vì chúng tôi tin rằng mình không vi phạm bất kỳ luật nào… Họ từng áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá, và bây giờ họ đã bổ sung thêm một quy định mới. Chúng tôi đã miễn nhiễm với điều đó rồi”, ông Cuaresma nói trên tờ This Week in Asia.

BDN

Loading

Views: 0

Philippines: 30 tàu TQ xuất hiện ở đá Khúc Giác

Lực lượng tuần duyên Philippines cho biết đang theo dõi ít nhất 30 tàu Trung Quốc tại khu vực đá Khúc Giác, quần đảo Trường Sa.

Theo trang tin Philippines GMA News, nhà phân tích Mỹ Ray Powell mới đây chia sẻ thông tin về hình ảnh vệ tinh cho thấy ít nhất 26 tàu dân binh Trung Quốc xuất hiện ở đá Khúc Giác (Iroquois Reef), quần đảo Trường Sa hôm 9/6.

Trong khi đó, lực lượng tuần duyên Philippines xác nhận sự xuất hiện của ít nhất 30 tàu, cho biết đã gửi tín hiệu radio nhưng không được đáp lại, theo GMA News. Họ cho biết thêm không thấy các tàu này đánh cá và đang theo dõi thêm.

Nhà phân tích Mỹ cũng dẫn hình ảnh vệ tinh từ tháng 4 ở cùng khu vực, cho rằng số lượng các tàu đã tăng khoảng 4 lần.

Philippines hôm 4/6 cáo buộc hải cảnh Trung Quốc cản trở tàu nước này thực hiện hoạt động cứu trợ y tế, vận chuyển binh sĩ bị bệnh ở Biển Đông.

Theo lực lượng tuần duyên Philippines, vụ việc xảy ra liên quan một thành viên của nhóm lính thủy đánh bộ được điều động để bảo vệ tàu chiến BRP Sierra Madre của nước này ở bãi Cỏ Mây. Thời điểm đó, phía Philippines đang nỗ lực thực hiện hoạt động cứu trợ y tế, trên tàu vận chuyển binh sĩ bị bệnh.

Người phát ngôn lực lượng tuần duyên Philippines (PCG) Jay Tarriela cho hay, họ đã thông báo cho phía tàu Trung Quốc biết về hoạt động có tính chất y tế này. Tuy nhiên, các xuồng cao su của hải quân và lực lượng tuần duyên Philippines vẫn bị các tàu Trung Quốc quấy rối.

Philippines nhiều lần cáo buộc tàu hải cảnh Trung Quốc quấy rối, ngăn chặn và thực hiện các hành động nguy hiểm nhằm vào tàu Philippines ở Biển Đông, trong đó có các vụ hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu chở hàng tiếp tế cho lực lượng Philippines ở bãi Cỏ Mây.

BDN

Loading

Views: 0

Máy bay TQ bay lòng vòng phía trên tàu quân sự Hà Lan tại biển Hoa Đông

Các máy bay của không quân Trung Quốc bị cho là đã bay lòng vòng phía trên một tàu khu trục của Hà Lan và tiếp cận không an toàn một trực thăng của Hà Lan ở biển Hoa Đông.

Trong thông cáo ngày 8/6, Bộ Quốc phòng Hà Lan cho biết, sự việc xảy ra khi tàu khu trục HNLMS Tromp của nước này tuần tra ở vùng biển Hoa Đông để ủng hộ các lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc đối với Triều Tiên.

Lúc này, 2 máy bay chiến đấu của không quân Trung Quốc đã bay lòng vòng vài lần phía trên con tàu.

Tiếp đó, 2 máy bay và 1 trực thăng của Trung Quốc cũng tiếp cận “không an toàn” trực thăng NH90 vốn được triển khai trên tàu HNLMS Tromp. “Sự việc xảy ra ở không phận quốc tế”, thông cáo cho biết thêm.

Bắc Kinh hiện chưa bình luận về thông tin trên.

Sau khi tuần tra ở biển Hoa Đông, tàu HNLMS Tromp sẽ hướng đến Nhật Bản và sau đó đến Hawaii tham gia cuộc tập trận hải quân “Vành đai Thái Bình Dương”.

BDN

Loading

Views: 0

Nhật phản đối 4 tàu Hải cảnh TQ có vũ trang ở gần Senkaku

Nhật Bản đã gửi công hàm phản đối mạnh mẽ tới Trung Quốc sau khi 4 tàu Hải cảnh Trung Quốc xuất hiện ở vùng biển gần quần đảo Senkaku (Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư). Đáp lại, Trung Quốc khuyên Nhật Bản nên ‘thận trọng trong lời nói và hành động’.

Ngày 7-6, Nhật Bản đã gửi công hàm phản đối tới Trung Quốc sau khi 4 tàu có vũ trang của Hải cảnh Trung Quốc đi vào vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku (Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư) ở biển Hoa Đông.

“Tôi không thể nêu rõ ý định của phía Trung Quốc là gì, nhưng việc các tàu Hải cảnh Trung Quốc đi vào lãnh hải của chúng tôi là vi phạm luật pháp quốc tế”, Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshimasa Hayashi phát biểu trong một cuộc họp báo.

Ông Hayashi cho biết Tokyo đã nộp công hàm phản đối mạnh mẽ qua các kênh ngoại giao và yêu cầu các tàu Bắc Kinh nhanh chóng rời khỏi khu vực.

Các tàu Trung Quốc đã ở trong khu vực này khoảng 1 giờ và rời đi ngay sau giữa trưa, ông Hayashi nói.

Trong khi đó, Hải cảnh Trung Quốc tuyên bố họ đã tuần tra vùng biển này với các tàu chở vũ khí.

Bắc Kinh cho biết việc tuần tra này là “hoạt động thường xuyên để bảo vệ chủ quyền, an ninh và các quyền hàng hải”, đồng thời là “bước đi cần thiết cho hòa bình, ổn định và chống lại những động thái tiêu cực” gần đây của Nhật Bản.

“Chúng tôi khuyên phía Nhật Bản nên thận trọng trong lời nói và hành động của mình, tự kiểm điểm và ngừng các hành động khiêu khích”, thông báo của Hải cảnh Trung Quốc cho biết.

Căng thẳng giữa Nhật Bản và Trung Quốc xung quanh chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đã diễn ra nhiều năm. Trung Quốc thường xuyên triển khai tàu hải cảnh và các tàu chính phủ khác đến vùng biển xung quanh quần đảo này để khẳng định yêu sách của họ.

BDN

Loading

Views: 0

Sát thủ săn ngầm UUV Manta Ray của Mỹ có thể triển khai ở Biển Đông

Theo Northrop Grumman, mẫu phương tiện dưới nước không người lái (UUV) mang tên Manta Ray do công ty này phát triển có thể được quân đội Mỹ triển khai ở Biển Đông.

Northrop Grumman cho biết, UUV Manta Ray được đặt tên theo loài cá đuối lớn thuộc chi Manta trong họ Mobulidae. Chúng là những loài cá đuối lớn nhất thế giới, với sải cánh/vây có thể dài tới 7 mét. Cá đuối Manta được tìm thấy ở vùng biển ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới trên khắp thế giới.

Chiếc UUV của Northrop Grumman được thiết kế theo dạng mô phỏng sinh học nên bên ngoài của nó trông giống như một con Manta.

UUV tự tạo ra năng lượng

Theo Pop Mech, mẫu UUV này được thiết kế để thực hiện các nhiệm vụ quân sự tầm xa cần đến sự bền bỉ theo đặt hàng của Bộ Quốc phòng Mỹ. Manta Ray có thể tự hoạt động trong suốt hành trình và được trang bị cảm biến lẫn vũ khí tiến tiến nhất.

Dự án Manta Ray được Northrop Grumman bắt đầu triển khai từ năm 2020 và mục tiêu là phát triển một “lớp UUV mới có khả năng hoạt động lâu dài, tầm xa và có khả năng mang theo thiết bị hay vũ khí”. Manta Ray được cho là có khả năng thực hiện các nhiệm vụ dưới nước với ít sự giám sát của con người nhất có thể.

Mục tiêu này được cho là không hề dễ dàng bởi nước biển có tính ăn mòn, sinh vật biển (hà, sứa, rong biển) có thể gây ô nhiễm các bộ phận chuyển động và nhiều loại bức xạ điện từ (đặc biệt là ánh sáng mặt trời) không truyền tốt dưới đáy biển.

Đó là một loạt các thách thức kỹ thuật phức tạp mà Northrop Grumman lẫn Bộ Quốc phòng Mỹ nhận thấy khi chế tạo Manta Ray nhưng nếu thành công sẽ trở thành tiền đề quan trọng để phát triển UUV tương lai.

Kết quả, Manta Ray ra đời với việc sử dụng thiết kế mô phỏng sinh học của loài cá đuối. Quyết định này được dựa trên những kinh nghiệm của Northrop Grumman trong việc phát triển các loại máy bay quân sự theo mô phỏng của loài chim.

Cụ thể, hình dáng cơ thể của cá đuối cực kỳ hiệu quả xét trong việc di chuyển dưới nước, cho phép loài động vật khổng lồ này lướt trong nước bằng những cú đập chậm rãi, duyên dáng của những chiếc vây giống như cánh.

Phương pháp trượt nước này cho phép chúng “tiết kiệm năng lượng và tối đa hóa hiệu quả chuyển động”. Điều này đã có tác dụng tốt đối đến mức các đặc tính di truyền của loài cá đuối hầu như không thay đổi trong suốt 100 triệu năm qua.

Chế độ ‘bay’ dưới nước này rất hữu ích đối với UUV được thiết kế để hoạt động tự động trong thời gian dài. Manta Ray không vỗ cánh, nhưng nó sử dụng các cánh quạt nhỏ để tự di chuyển và cánh quạt sử dụng càng ít năng lượng thì càng tốt.

Một yêu cầu quan trọng đối với Manta Ray là khả năng hoạt động mà không cần sự can thiệp của con người. UUV này không chỉ phải sử dụng mức năng lượng tối thiểu mà còn phải thu năng lượng từ biển. Khả năng tái tạo nguồn cung cấp năng lượng giúp giảm kích thước và trọng lượng của UUV, khiến nó nhỏ hơn và khó bị phát hiện hơn.

Có hai cách để giải quyết vấn đề năng lượng. Một là năng lượng mặt trời – sạc pin từ một mảng năng lượng mặt trời, lý tưởng nhất là được tích hợp vào vỏ UUV. Tuy nhiên, ánh sáng mặt trời nhanh chóng mờ đi khi nó di chuyển sâu hơn vào lòng đại dương và UUV có thể sẽ phải nổi lên mặt nước để sạc pin, khiến nó dễ bị phát hiện.

Một nguồn năng lượng khác có thể là năng lượng sóng. Trong video Northrop Grumman công bố năm 2022, chiếc UUV kích hoạt thứ có vẻ là một thiết bị thu năng lượng sóng, chuyển đổi chuyển động của nước thành điện năng. Điều này cho phép UUV ở dưới đáy đại dương và sạc lại pin mà không bị kẻ thù phát hiện.

Nhiệm vụ của Manta Ray

Một UUV có thể thực hiện nhiệm vụ tự động mà không cần tiếp nhiên liệu sẽ mở ra một triển vọng to lớn cho hải quân Mỹ.

Đó là sử dụng Manta Ray làm hệ thống giám sát. Điển hình như triển khai hệ thống định vị thủy âm thụ động với tính năng phát hiện và theo dõi tàu ngầm đối phương. Sau khi có dữ liệu nhiệm vụ của UUV này là sàn lọc thông tin và gửi về các trung tâm mặt đất gần đó.

Hiện nay, hải quân Mỹ đang phải dựa vào các tàu mặt nước chuyên dụng và một số định vị thủy âm tĩnh dưới nước để theo dõi tàu ngầm. Các tàu mặt nước chuyên dụng dễ bị tấn công và có tầm hoạt động hạn chế trong thời chiến. Còn hệ thống giám sát dưới một khi vị trí của chúng bị lộ, có thể trở thành mục tiêu bị tấn công đầu tiên.

Trong tương lai, hải quân Mỹ có thể triển khai một hạm đội gồm hàng chục chiếc Manta Ray được trang bị định vị thủy âm hoạt động trên Biển Đông. Từ đó, họ có thể liên tục theo dõi các tàu chiến mặt nước và tàu ngầm của Trung Quốc khi chúng di chuyển trong khu vực.

Một nhiệm vụ khác có thể là tác chiến chống tàu ngầm. Trong khi một số UUV Manta Ray có thể được sử dụng để xác định vị trí và theo dõi tàu ngầm của đối phương, những UUV khác có thể mang theo vũ khí – chẳng hạn như ngư lôi chống ngầm hạng nhẹ Mk 46 và khai hỏa khi tàu ngầm địch được xác nhận đi vào tầm bắn.

Hạm đội Manta Ray có thể trở thành mạng lưới tiêu diệt tàu ngầm di động, có khả năng tự triển khai từ khu vực này sang khu vực khác.

Khả năng chỉ huy và kiểm soát được tích hợp vào Manta Ray cho phép UUV này có thể học hỏi theo thời gian, chia sẻ dữ liệu mới về các mục tiêu của đối phương.

BDN

Loading

Views: 0

Philippines: Binh sĩ ở bãi Cỏ Mây không chĩa súng vào hải cảnh TQ

Tư lệnh Philippines ngày 4-6 cho biết binh lính Philippines trên tàu chiến bị mắc cạn ở bãi Cỏ Mây có vũ trang, nhưng không chĩa súng vào hải cảnh Trung Quốc.

Quân đội Philippines ngày 4-6 bác bỏ cáo buộc của Trung Quốc rằng binh lính Manila đồn trú trên một tàu chiến ở bãi Cỏ Mây ở Biển Đông đã chĩa súng vào hải cảnh Trung Quốc.

Theo đó, người phát ngôn quân sự Francel Margareth Padilla phát biểu trong một buổi họp báo khẳng định binh lính Philippines được quản lý dưới các nguyên tắc xử lý tình huống và hành động với mức độ chuyên nghiệp cao nhất.

Trước đó, hôm 2-6, truyền thông nhà nước Trung Quốc đưa tin một nhân sự trên một tàu Philippines đã chĩa súng vào hải cảnh Trung Quốc hồi tháng 5 tại bãi Cỏ Mây.

Nằm trong khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam, bãi Cỏ Mây cách đảo Palawan của Philippines khoảng 200km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 1.000km.

Cả Manila và Bắc Kinh đều tuyên bố chủ quyền với bãi Cỏ Mây.

Theo phán quyết của Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông năm 2016, bãi Cỏ Mây nằm trên thềm lục địa Philippines.

Tư lệnh Philippines Romeo Brawner ngày 4-6 bác bỏ thông tin của Đài CCTV (Trung Quốc) về những gì đã xảy ra trong nhiệm vụ tiếp tế thường lệ của lực lượng Manila tại bãi Cỏ Mây hôm 19-5.

“Đó chỉ là hành động tự vệ trong trường hợp có điều gì đó xảy ra, vì họ (nhân sự Trung Quốc) đã ở rất gần”, ông Brawner nói trong một cuộc họp báo, mô tả hành động của hải cảnh Trung Quốc là “khiêu khích”.

Các quan chức quân sự Philippines cho biết các thuyền cao su của Trung Quốc đã tiếp cận tàu BRP Sierra Madre trong phạm vi 5-10m, và thu giữ một số hàng tiếp tế được thả từ trên không cho binh lính Philippines tại đây.

“Đó là một tình huống đáng báo động. Vì vậy binh lính của chúng tôi khi phòng ngừa đã cầm súng lên. Đây là một phần trong nguyên tắc lúc xử lý tình huống.

Chúng tôi phủ nhận việc có bất kỳ binh lính nào của chúng tôi cố tình chĩa súng vào người bên phía Trung Quốc. Nhưng chúng tôi không phủ nhận thực tế là họ (binh lính Philippines) có vũ trang”, ông Brawner khẳng định.

Tư lệnh quân đội Philippines cho biết tàu chiến Philippines mắc cạn ở bãi Cỏ Mây là tàu chiến thuộc biên chế của hải quân nước này, nên nó được phép có vũ khí.

“Chúng tôi có quyền tự vệ”, ông Brawner nói, cho biết thêm Philippines sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình trong khu vực.

BDN

Loading

Views: 0

Việt Nam có chiến lược gì bảo vệ biển

Kế hoạch của Việt Nam nhằm phát triển năng lực tình báo, giám sát và trinh sát (ISR) đang được định hình.

Trong nhiều năm, Việt Nam dần mua sắm thêm nhiều loại vũ khí để “làm mới” kho vũ khí vốn đã lạc hậu từ thời Chiến tranh Lạnh, phần lớn mua từ Nga nhưng từ các nguồn khác cũng ngày càng nhiều. Tuy nhiên, hiệu quả về mặt quân sự rõ ràng không chỉ phụ thuộc vào các loại vũ khí nóng; mà năng lực phát hiện, theo dõi, và chỉ đường cho vũ khí tạo nên các yếu tố quan trọng khác. Nhận thức được điều này, bên cạnh việc tiếp tục mua thêm vũ khí, Hà Nội đã tiến hành những bước đi ban đầu, nhưng quan trọng, trong việc thiết lập một mạng ISR toàn diện.

Thông qua bối cảnh này, chúng ta có thể lý giải được tiềm năng quân sự to lớn của thỏa thuận giữa Việt Nam và Ấn Độ nhằm thành lập một trạm theo dõi vệ tinh ở Thành phố Hồ Chí Minh, và một báo cáo trước đó vào năm ngoái về thiết bị bay không người lái (UAV) mới của Việt Nam sẽ tuần tra trên Biển Đông.

Một kế hoạch tổng thể về ISR?

UAV và các chương trình vệ tinh viễn thám của Việt Nam thường được quan tâm đầu tư vì ưu thế của chúng trong nông nghiệp, quản lý thiên tai và quản lý nghề cá. Thoạt nhìn, bước đi này phù hợp với các khuôn mẫu chung thường thấy ở Đông Nam Á – như Indonesia (xem ở đây và ở đây) và Singapore, là những nước có chương trình UAV đã và đang được triển khai tích cực. Với các vệ tinh quan sát trái đất, Singapore đã triển khai TeLEOS-1, hợp tác thiết kế bởi ST Electronics, Đại học Công nghệ Nanyang và Các phòng nghiên cứu Khoa học Quốc phòng (Defence Science Organisation Laboratories) vào tháng 12 năm 2015. Philippines cũng sẵn sàng triển khai vệ tinh quan sát trái đất siêu nhỏ Diwata-1.

Thế nhưng rõ ràng công dụng của các vệ tinh vẫn có thể được sử dụng vào mục đích quốc phòng, vì chúng tạo ra hệ thống dữ liệu có thể được dùng cho nhiều mục đích khác nhau. Như vệ tinh dân sự chẳng hạn, dù có thể không sở hữu năng lực tương đương như các biến thể quân sự, chúng vẫn có thể hoàn thành một số nhiệm vụ quân sự cường độ thấp trong thời bình và cả trong thời chiến. Một số vệ tinh sử dụng cho mục đích dân sự nhưng cho thấy hiệu suất và năng lực tương đương một vệ tinh quân sự. Ví dụ như vệ tinh TeLEOS-1 có độ phân giải toàn sắc ở mức 1 mét (ở điểm thấp nhất), vì vậy rất hữu dụng về mặt quân sự. Ranh giới giữa ứng dụng quân sự và dân sự thường bị xóa mờ trong các dạng công nghệ lưỡng dụng như thế. Điều này đặc biệt đúng trong môi trường hàng hải.

Những năm gần đây, có dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang thực hiện chiến lược thiết lập cái gọi là “nhận thức biển” (maritime domain awareness) tại Biển Đông. Đáng chú ý, vào tháng 2 năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam cho biết họ sẽ dần hiện đại hóa các “trạm quan sát khí tượng thủy văn và môi trường biển” cũng như xây dựng các trạm quan trắc mới tại những vùng biển quan trọng như một phần của một kế hoạch tổng thể nhằm thiết lập một hệ thống gồm tổng cộng 35 trạm quan sát tài nguyên và môi trường biển trước năm 2020. Mạng lưới tích hợp này, một phần quan trọng của một dự án gồm 3 giai đoạn được lên kế hoạch bởi Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (VASI), sẽ giúp cải thiện năng lực quản lý quốc gia đối với biển và các đảo thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Trong đó, mạng lưới này cũng được thiết kế với mục đích an ninh quốc phòng, tạo ra một nền tảng rõ ràng cho các nỗ lực phát triển năng lực ISR của Việt Nam.

Do đó, rất có khả năng những cải thiện về năng lực ISR của Việt Nam phần nào nhằm đối phó với những diễn biến gần đây ở Biển Đông, nơi căng thẳng luôn tái diễn. Hà Nội dường như đang cố gắng theo đuổi những động thái tương tự của Bắc Kinh, bao gồm toan tính tạo ra một hệ thống các vệ tinh giám sát biển HY-3 mới vào năm 2019, mà theo Lin Mingsen – phó giám đốc Cục ứng dụng Vệ tinh Hải dương Quốc gia Trung Quốc, là có “một vai trò quan trọng trong việc củng cố và bảo vệ quyền lợi trên biển, giám sát và thực thi pháp luật trên biển, quản lý vùng nước gần bờ, cứu trợ và giảm thiểu thiên tai trên biển của Trung Quốc”. Cũng không thể bỏ qua sự phát triển nhanh chóng của công nghệ UAV do Trung Quốc tự mình phát triển, ví dụ như chiếc UAV Ứng Long I có trần bay trung bình nhưng có độ ổn định cao (MALE), được cho là đã được sản xuất đại trà trong năm 2015, trong cùng năm hậu bối của Ứng Long I là Ứng Long II đã được ra mắt.

Với đường bờ biển dài 3.444km (không tính các đảo) và vùng biển rộng lớn bao gồm các khu vực có đòi hỏi chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam rõ ràng cần một chiến lược ISR toàn diện để tăng cường năng lực nhận thức biển cũng như năng lực định vị mục tiêu trên biển trong thời chiến cũng như thời bình. Không giống như việc mua sắm những vũ khí đắt tiền như máy bay chiến đấu phản lực Su-30MK2 hay tàu ngầm lớp Kilo, những dự án bí mật liên quan đến ISR hiện nay tránh né được hầu hết sự chú ý từ dư luận trong khi vẫn đang được âm thầm triển khai.

Vệ tinh quan sát trái đất cho mục đích dân sự?

Năng lực ISR liên quan đến các hệ thống được đặt trên không gian, thường được ẩn giấu dưới lớp vỏ nghe có vẻ dân sự là phát triển “vệ tinh quan sát trái đất”, cấu thành một khía cạnh quan trọng trong nỗ lực cải thiện năng lực ISR của Việt Nam. Điều đó bắt đầu với “Chiến lược Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Vũ trụ của Việt Nam đến năm 2020” được thông qua vào tháng 6 năm 2006 với vốn đầu tư 2 tỷ đôla. Chưa đầy một năm sau, Viện Công nghệ Vũ trụ (STI) đã được thành lập để đảm nhiệm việc nghiên cứu khoa học và công nghệ vũ trụ, dường như tập trung hơn vào các ứng dụng dân sự. Phó Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) Nguyễn Đình Công cho biết chiến lược giúp phát triển những vệ tinh quan sát trái đất nhỏ nội địa.

Nhưng ở đây rõ ràng có một ý nghĩa quân sự nhất định. Trở lại tháng 12 năm 2008, Chủ tịch Chương trình Nghiên cứu Quốc gia về Khoa học và Công nghệ Vũ trụ Nguyễn Khoa Sơn nói rằng “Nếu chúng tôi có vệ tinh riêng, chúng tôi có thể ứng phó nhanh chóng hơn với thiên tai và chủ động hơn trong các hoạt động quốc phòng an ninh”. Ngoài ra, Ủy ban Vũ trụ Việt Nam, thành lập năm 2010 và có nhiệm vụ tư vấn cho thủ tướng về việc thực thi chiến lược vũ trụ, đã được tăng cường nhân sự vào tháng 1 năm 2013 bao gồm đại diện từ các cơ quan chính phủ khác, đặc biệt là bộ Quốc phòng.

Theo xu hướng vốn điển hình cho một quốc gia mới nổi muốn sở hữu vệ tinh, Việt Nam trước tiên khởi đầu với các vệ tinh liên lạc (communications satellites). Sau vài trì hoãn, Việt Nam đã phóng vệ tinh VINASAT-1 vào tháng 4 năm 2008, sau đó là VINASAT-2 vào tháng 5 năm 2012. Người Việt Nam đã cho thấy họ học hỏi nhanh như thế nào. Lockheed Martin, nhà thầu cho cả hai vệ tinh VINASAT, ca ngợi năng lực của các kỹ sư Việt Nam trong việc làm chủ kỹ năng điều khiển các vệ tinh. Lockheed Martin trao quyền điều khiển VINASAT-2 cho chính quyền Việt Nam vào tháng 7 năm 2012, hai tháng sau khi vệ tinh được phóng đi. Việc chuyển giao rút ngắn chỉ còn phân nửa thời gian giành cho VINASAT-1, được giao lại cho Hà Nội vào tháng 8 năm 2008 – chứng minh ở một mức độ nào đó khả năng chiếm lĩnh kỹ thuật của Việt Nam.

Nhưng Việt Nam phải đối mặt với khó khăn lớn hơn nhiều khi tiến vào lĩnh vực viễn thám (remote-sensing). Vào tháng 7 năm 2012, Việt Nam phóng vệ tinh quan sát trái đất nội địa đầu tiên, vệ tinh F-1, thiết kế bởi Phòng nghiên cứu không gian (FSpace) của Đại học Công nghệ FPT. Nó có kích thước 10 x 10 x 10 cm, chỉ nặng 1 kg và có khả năng chụp ảnh có độ phân giải thấp (640×480). Vũ Trọng Thư – Trưởng Phòng nghiên cứu không gian, nói rằng Việt Nam mong muốn làm chủ công nghệ không gian về nhiều mục đích khác nhau, bao gồm do thám trên Biển Đông – chứng minh vai trò ISR của F-1. Nhưng vệ tinh siêu nhỏ này đã không thể truyền tín hiệu về Trái đất, có thể do vấn đề về pin. Tham vọng của Việt Nam dần khiến quốc gia này từ bỏ sự phụ thuộc của mình vào dữ liệu viễn thám có nguồn gốc từ nước ngoài vốn được bán với “giá cắt cổ”, theo ông Phạm Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Vệ tinh Quốc gia Việt Nam (VNSC). Trong cuộc phỏng vấn vào tháng 3 năm 2015, ông Tuấn lý giải: “Hiện tại, để có một bức ảnh vệ tinh, Việt Nam phải đặt hàng trước, và sẽ chỉ nhận được ảnh sau hai ngày. Thực ra, trong vài trường hợp Việt Nam không thể có được hình ảnh mà chúng tôi cần kịp thời. Tuy nhiên, nếu chúng tôi có được vệ tinh và một trung tâm vũ trụ riêng, mọi thứ có thể được xử lý trong vòng 6-12 tiếng, bao gồm chụp ảnh và xử lý dữ liệu”.

Vì vậy vệ tinh nhỏ thứ hai của Việt Nam, VNREDSat-1, có kích thước 600 x 570 x 500 mm và nặng 120kg, đã được đưa vào quỹ đạo vào tháng 5 năm 2013 và truyền tải thành công những hình ảnh đầu tiên trở về Trái đất hai ngày sau khi phóng. VNREDSat-1 được thiết kế bởi Astrium SAS, một công ty con của Công ty Phòng không và Vũ trụ châu Âu (EADS), và chi phí dự án trị giá 70 triệu đôla do chính phủ Pháp và Việt Nam cung cấp. Khi công ty Astrium SAS trao quyền điều khiển VNREDSat-1 cho VAST bốn tháng sau đó, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã gọi đó là một cột mốc lịch sử trong sự phát triển công nghệ vũ trụ của Việt Nam, khẳng định sự làm chủ hoàn toàn “công nghệ vệ tinh nhỏ” và khả năng xử lý hình ảnh độc lập. Quan trọng nhất là, theo Chủ tịch Chương trình Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Quốc gia Nguyễn Khoa Sơn, VNREDSat-1 giúp giảm thiểu sự phụ thuộc của Việt Nam vào hình ảnh từ nguồn nước ngoài.

Chắc chắn rằng tầm quan trọng về quân sự của VNREDSat-1 không thể bị bỏ qua. Vào tháng 2 năm 2014, Nguyễn Xuân Lâm, Cục trưởng Cục Viễn thám Quốc gia thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, cho biết VNREDSat-1 sẽ được dùng để giám sát vùng biển và các đảo của Việt Nam vì mục đích phát triển kinh tế xã hội cũng như an ninh quốc phòng, theo dự án “Giám sát biển và các đảo trọng yếu ngoài khơi bằng công nghệ viễn thám”. Tại một hội nghị vào tháng 5 cùng năm, Phó Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai cho biết VNREDSat-1 sẽ là một công cụ hiệu quả trong việc quản lý tài nguyên môi trường và bảo vệ chủ quyền đối với đất liền, biển, đảo và vùng trời của Việt Nam.

Việt Nam rõ ràng cảm thấy phấn chấn hơn sau thành công của VNREDSat-1 và của Pico Dragon – vệ tinh có kích thước hầu như tương tự vệ tinh F-1 xấu số và đã được phóng đi không lâu sau đó, truyền được tín hiệu đầu tiên đến Trái đất. Trước năm 2016, theo ông Tuấn, Việt Nam dự định phóng vệ tinh NanoDragon nặng 10kg hoàn toàn do Việt Nam phát triển, sau đó là vệ tinh MicroDragon nặng 50kg vào năm 2018, và sau đó nữa là vệ tinh LOTUSat-2 nặng 500-600kg có khả năng chụp ảnh radar có khẩu độ tổng hợp băng X với độ phân giải từ 1-16m, trước năm 2020. Rõ ràng là Hà Nội đã chọn hướng tiếp cận tăng dần đều, đi từ vệ tinh nhỏ đến lớn hơn và có hiệu suất cao hơn.

Căn cứ vào thực tế thì VNREDSat-1 mang một camera chụp ảnh có độ phân giải 2.5 m, chắc chắn không đáp ứng được tiêu chuẩn độ phân giải cao (1 m hoặc ít hơn) vốn là đặc điểm quan trọng của các vệ tinh quân sự. Điều này ngăn cản Việt Nam xác định và quan sát với độ chính xác cao các hoạt động diễn ra ở Biển Đông. Hạn chế của VNREDSat-1 và tình hình căng thẳng ngày càng gia tăng ở Biển Đông là chất xúc tác cho những kế hoạch tiếp theo. Vào tháng 10 năm 2014, Hà Nội ký thỏa thuận với Bỉ phát triển vệ tinh VNREDSAT-1B, dự kiến phóng lên quỹ đạo vào năm 2017. Tuy nhiên, không may là sau đó họ đã rút khỏi thỏa thuận này, theo sau sự đổ vỡ của các cuộc đàm phán kéo dài liên quan tới một điều khoản của hợp đồng.

Thoả thuận với Ấn Độ nhằm xây dựng một trạm theo dõi vệ tinh ở Việt Nam, cho phép Hà Nội truy cập vào dữ liệu từ cụm vệ tinh viễn thám dân sự và quân sự của Ấn Độ. Phải đối mặt với lỗ hổng về năng lực viễn thám cho đến khi vệ tinh hiệu quả hơn LOTUSat-2 đi vào hoạt động, Việt Nam có thể xem đây là một biện pháp thay thế tạm thời trong ngắn hạn để có được các dữ liệu quân sự hữu dụng và có độ chính xác cao hơn từ các vệ tinh của Ấn Độ như vệ tinh chụp ảnh bằng radar RISAT-2. Cho dù các quan chức Ấn Độ luôn khẳng định rằng RISAT-2 chỉ được dùng để phòng chống thiên tai, vệ tinh này hoàn toàn có khả năng quan sát các vật thể với kích thước nhỏ chỉ vào khoảng 10cm. Trong dài hạn, Hà Nội có thể đã cho rằng việc hợp tác với New Delhi tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu tối thượng của Việt Nam là giành được sự tự chủ về năng lực viễn thám vệ tinh.

Máy bay không người lái cho thấy tiến bộ ngày càng vững chắc hơn

So với vệ tinh, thiết bị bay không người lái (UAV) là lĩnh vực mà Việt Nam được cho là đã đạt được nhiều thành công, một phần không nhỏ bởi sự tiếp cận tương đối dễ dàng với những công nghệ lưỡng dụng thường thấy trong những thiết bị này. UAV đã trở thành một khía cạnh quan trọng trong kế hoạch phát triển năng lực ISR, và cũng rất chính đáng vì máy bay không người lái đã trở thành thứ vũ khí xuất hiện thường trực trong chiến tranh hiện đại. Thực tế là Việt Nam đã bắt đầu phát triển UAV từ khá lâu vào năm 1978 khi Viện Công nghệ không quân triển khai chương trình TL-1. HL-1, UAV quân sự chuyên dụng đầu tiên, được thiết kế dựa trên một nguyên mẫu của Pháp nhưng những hạn chế về tài chính khiến cho HL-1 chỉ mới hoàn thiện được một phần.

Trong những năm gần đây, Hà Nội đã có những bước đi nhằm hồi sinh chương trình UAV của mình. Từ năm 2010, họ đã hợp tác với tập đoàn hàng không vũ trụ Irkut của Nga để phát triển UAV. Hợp tác Nga-Việt về UAV được tăng cường vào tháng 3 năm 2012 với một thỏa thuận mới được ký giữa Hiệp hội Hàng không Vũ trụ Việt Nam (VASA) và Irkut để phát triển một UAV khối lượng nhỏ hơn 100kg với thời gian bay 16 giờ. Hợp đồng được cho là trị giá 10 triệu đôla và bao gồm chuyển giao công nghệ cho Việt Nam. Nhưng cũng rõ ràng rằng Hà Nội đang tìm cách đa dạng hóa nguồn cung cấp công nghệ UAV. Đáng chú ý hơn, vào tháng 12 năm 2012, VASA ký một thỏa thuận UAV với một công ty Thụy Điển, giai đoạn đầu bao gồm sự hỗ trợ từ phía Thụy Điển để bước đầu chế tạo 2 máy bay UAV Magic Eye-1, mỗi chiếc nặng 40kg và có thể ở trên không trong 6 giờ. Các giai đoạn tiếp theo bao gồm hợp tác kỹ thuật trong các thiết bị điện tử tích hợp trong UAV (như cơ chế lái tự động, camera) và hợp tác xuất khẩu.

Hà Nội dường như đã chọn một chiến lược hai mũi nhọn là cố gắng có được những hệ thống ngoại nhập đồng thời vận hành chúng thông qua chuyển giao công nghệ. Ít nhất năm mẫu UAV đã được thử nghiệm cho đến nay, trang bị các loại thiết bị chuyên dụng đa dạng. Tuy nhiên, không phải mọi nỗ lực đều dẫn đến thành công. Chẳng hạn như, cũng vào tháng 2 năm 2014 hải quân Việt Nam được cho là đã thảo luận với công ty Schiebel của Áo để mua máy bay UAV trực thăng S-100 Camcopter, dường như là được dùng để triển khai trên những tàu hộ tống SIGMA của Hà Lan mà Hà Nội được cho là đã đặt mua trước đó. Nhưng thương vụ tàu hộ tống đã thất bại, dù thật ra không có gì khó hiểu nếu chiếc UAV tương tự sẽ cất cánh từ các loại tàu chiến khác nếu Việt Nam kiên trì trong vụ mua bán này. Không nản lòng, Hà Nội vẫn kiên trì với chiến lược phát triển UAV hai mũi nhọn này, bắt đầu với các hệ thống chiến thuật được tối ưu hóa cho hoạt động ISR tầm ngắn trên chiến trường.

Chuyến bay thử thành công của chiếc AV.UAV.S2 nguyên mẫu trên bầu trời tỉnh Lâm Đồng thuộc Tây Nguyên vào tháng 5 năm 2013, được đưa tin trên truyền thông quốc gia Việt Nam là đã mở đường cho sự phát triển tiếp theo của chương trình UAV nhằm giải quyết “các nhiệm vụ cấp bách khác”. Sau đó vào tháng 2 năm sau, Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel đã ra mắt chiếc UAV chiến thuật Patrol VT được sản xuất trong nước, trang bị một bộ cảm biến hồng ngoại độ nét cao có khả năng chụp ảnh chất lượng cao trong phạm vi 600m. Khoảng bảy tháng sau, Việt Nam đưa vào trang bị UAV mini Orbiter-2 từ Israel. Nó ra mắt truyền thông Việt Nam vào tháng 12, yểm trợ cho buổi tập bắn đạn thật của lực lượng pháo binh phòng thủ bờ biển thuộc hải quân, trong đó nổi bật nhất là dàn rocket EXTRA do Israel sản xuất. Hà Nội có thể đã hài lòng với Orbiter-2 và do đó quyết định tiếp tục đặt mua thêm, đồng thời đặt hàng UAV Orbiter-3 lớn hơn có khả năng bay trong 7 giờ.

Nhưng những chiếc UAV chiến thuật như vậy thì có đặc thù khá bất lợi bởi thời gian bay và tải trọng hạn chế. Việt Nam rõ ràng đang tìm kiếm nhiều loại UAV mạnh mẽ hơn. Một cán bộ cấp cao chịu trách nhiệm về phát triển UAV tại Trung tâm khí cụ bay của Viettel tuyên bố vào tháng 6 năm 2013 rằng mục tiêu dài hạn của công ty là phát triển một chiếc UAV có khả năng bay trong 15-24 giờ đồng hồ. Về phía cạnh này, Việt Nam dường như đã hưởng lợi phần nhiều từ mối quan hệ kỹ thuật quân sự với Belarus, với một thương vụ mua UAV và một hiệp định phát triển chung được ký kết vào tháng 5 năm 2013. Rất có khả năng là HS-6L – một máy bay không người lái tầm bay cao, thời gian bay dài (HALE) được báo cáo vào tháng 12 năm 2015 – đã được phát triển với sự hỗ trợ của Belarus. Có phạm vi hoạt động 4000km và thời gian bay 35 giờ, chiếc UAV này sẵn sàng thực hiện các chuyến bay thử trên biển Đông trong quý 2 năm 2016.

Tuy lép vế so với Trung Quốc, Việt Nam vẫn kiên trì phát triển một hệ thống UAV có tầm hoạt động bao quát, tối ưu cho những nhiệm vụ chiến lược và chiến thuật quân sự đa dạng. Trong vòng không quá một thập niên, họ đã có những tiến bộ vượt bậc bởi một phần không nhỏ nhờ vào sự tiếp cận với công nghệ nước ngoài. Trong tương lai gần, Hà Nội sẽ có được một mức độ tự chủ nhất định về UAV để hoàn thiện một khía cạnh quan trọng tổng thể năng lực ISR.

Khoảng cách về sức mạnh ISR khó san lấp

Dù con đường mà Hà Nội chọn trong việc xây dựng khả năng ISR của mình cho đến nay là khá tốt và thực tế, nhưng rõ ràng là vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi một hệ thống ISR đa lớp hoàn thiện được được xây dựng cho hoạt động nhận thức biển (MDA) cũng như năng lực định vị ở Biển Đông. Có sự thiếu hụt lực lượng các thiết bị ISR bay có người lái, và đặc biệt là các loại máy bay kiểm soát và cảnh báo sớm trên không (AEW&C) và máy bay tuần tra trên biển.

Một chiếc máy bay AEW&C chủ yếu dành cho việc giám sát trên không và sở hữu chức năng thứ hai là giám sát biển nhưng những loại vũ khí như thế thường rất đắt. Máy bay tuần tra trên biển là sự thay thế tiếp theo, được tối ưu hóa cho nhiệm vụ giám sát trên biển. Hiện tại, các loại máy bay tuần tra và giám sát biển mà Việt Nam đang sở hữu như DHC-6 Guardian-400 của Canada và CASA-212 của Tây Ban Nha gặp bất lợi do các hạn chế về thời gian bay, trọng tải và tầm bay. Chỉ có các loại máy bay tuần thám biển lớn hơn mới có thể thực hiện các nhiệm vụ ISR phức tạp với độ chính xác về thời gian cao hơn, nếu xét tới vùng biển chủ quyền rộng lớn của Việt Nam.

Kể từ khi có tin Hà Nội thể hiện sự “quan tâm sâu sắc” với việc muốn mua các máy bay P-3C Orion từ Mỹ vào tháng 4 năm 2013, vẫn chưa có động thái kế tiếp nào được đưa ra dù rằng Washington đã nới lỏng phần nào cấm vận xuất khẩu vũ khí đối với Việt Nam vào tháng 9 năm 2010. Một chiến lược ít tốn kém hơn có thể là cải tiến máy bay vận chuyển tầm trung C-295 mới để thực hiện nhiệm vụ ISR. Nhưng những máy bay này dự định ban đầu là để thay thế các phi đội máy bay vận tải cánh cố định đã lỗi thời của Liên Xô, do đó không còn chiếc nào còn thừa ra cho quá trình chuyển đổi này.

Trong bất cứ trường hợp nào, việc Việt Nam chuyển trọng tâm từ việc hồi sinh vũ khí động năng trước đây sang hoạt động ISR hiện tại là một sự chuyển biến hợp lý. Đã đầu tư không ít vào máy bay phản lực, tên lửa, tàu chiến và tàu ngầm mới, Hà Nội rõ ràng nhận ra sự cần thiết phải chú ý hơn đến năng lực ISR. Những chương trình cải thiện năng lực ISR sắp tới của Việt Nam hướng đến xây dựng những thiết bị viễn thám từ vũ trụ và thiết bị bay không người lái vốn sẽ giúp củng cố thêm khả năng ISR “truyền thống” của Việt Nam hiện tại trên các loại vũ khí trên không, đất liền, dưới mặt nước và trên bờ biển.

Cuối cùng, việc phát triển một năng lực ISR toàn diện rốt cuộc sẽ cho phép Việt Nam tăng cường tiềm lực cho kho vũ khí của mình lên mức tối đa cho mục đích thực hiện các nhiệm vụ ngăn chặn và kiểm soát trên các vùng biển, thực tế là thực hiện chiến lược chống xâm nhập/chống tiếp cận (A2/AD) của riêng mình ở Biển Đông. Suy cho cùng các loại vũ khí mà Hà Nội nắm trong tay vẫn khá nhỏ về số lượng nếu so với Trung Quốc, như vậy một hệ thống ISR toàn diện sẽ đóng vai trò như một nhân tố quý giá giúp gia tăng sức mạnh.

BDN

Loading

Views: 0

Yadea “đùa với lửa”?

Yadea là hãng xe máy điện lớn nhất của Trung Quốc. Từ năm 2019, hãng đã có nhà máy đầu tiên ở tỉnh Bắc Giang của Việt Nam và hiện nay Việt Nam là thị trường nước ngoài lớn nhất của hãng.

Mức giá phù hợp, sản phẩm phong phú, trang bị một số tính năng khá hiện đại so với các loại xe điện cùng phân khúc, Yadea được cho là bán chạy trên thị trường Việt Nam.

Bán chạy thì mừng cho Yadea chứ sao? Tất nhiên rồi. Tuy nhiên, một khi Yadea vướng vào sự cố truyền thông như vừa qua, câu chuyện có thể lại ngả theo một chiều hướng khác.

Nhắc lại chút về sự cố truyền thông liên quan đến Yadea. Cũng như các hãng hàng hóa khác, Yadea quan tâm xây dựng trang web phục vụ cho việc kinh doanh. Trong thực tế, nhiều khách hàng thường truy cập vào trang web của Yadea để tìm hiểu hệ thống phân phối sản phẩm, mẫu mã, giá, chế độ hậu mãi…Đương lúc mọi thứ đang hanh thông, vui vẻ, thì ngày 18-5-2024, không ít người Việt Nam đã tá hỏa khi phát hiện bản đồ ghi tên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ bằng duy nhất tiếng Hoa – lần lượt là Tây Sa và Nam Sa.

Chuyện không chỉ nhạy cảm mà còn tày trời bởi Hoàng Sa và Trường Sa là hai cái tên mà dư luận biết tới như hai điểm nóng trong khu vực Biển Đông. Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc cưỡng chiếm năm 1974. Còn Trường Sa – câu chuyện còn có phần phức tạp hơn khi tranh chấp chủ quyền quần đảo này liên quan tới “5 nước, 6 bên” bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và vùng lãnh thổ Đài Loan. Hiện tại, trừ Brunei, mỗi “bên” còn lại đều chiếm giữ một số điểm đảo, đá, trong đó, Việt Nam nhiều nhất.

Việt Nam kiểm soát nhiều hơn chẳng phải nước này nhanh chân hay nhanh tay. Điều cơ bản, xét về luật pháp quốc tế, Việt Nam mạnh lý hơn các bên còn lại trong việc khẳng định chủ quyền với quần đảo Trường Sa. Chính thế, cùng với kế thừa quyền quản lý từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, sau năm 1975, nhà nước Việt Nam đã thực thi chủ quyền chính đáng qua việc quản lý thêm một số đá, bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa, đưa tổng số điểm đảo mà quốc gia này kiểm soát lên con số 21.

Dường như biết mình yếu lý, cái lý của mình không thuyết phục được ai, kể cả Tòa án Trọng tài (PCA) trong câu chuyện Biển Đông, từ nhiều năm nay, Bắc Kinh dùng mọi cách, tận dụng mọi thứ có thể để khẳng định yêu sách “đường 9 đoạn” độc chiếm Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Một trong những phương châm của họ là làm cho dư luận quen; từ quen đến chấp nhận Biển Đông là của Trung Quốc.

Chính thế, “đường 9 đoạn” mà dư luận gọi là “đường lưỡi bò” để mỉa mai lòng tham của Trung Quốc, ngoài hiện diện thường xuyên trên báo chí, nhiều trường hợp còn “chui” vào các diễn đàn khoa học; in trên hộ chiếu, áo phông để theo khách du lịch Trung Quốc đi tứ xứ.

Thậm chí, Trung Quốc dùng món lợi kinh tế để chi phối, đưa đường lưỡi bò vào các bộ phim như “Điệp vụ Biển Đỏ”, “Everest Người tuyết bé nhỏ”; và cả phim “Barbie” – bộ phim do Warner Bros – một trong những hãng phim lớn nhất Hollywood, sản xuất; lợi dụng sự sơ hở của các nhà quản lý để các bộ phim trên vào được một số nhà rạp Việt Nam, trong đó có hệ thống rạp CGV.

Tất nhiên, khi phát hiện, các phim trên lập tức bị khán giả Việt Nam tẩy chay, phải rút khỏi rạp.

Liên quan sản phẩm hàng hóa, đường lưỡi bò cũng từng in trên quả địa cầu và lên một số sàn giao dịch điện tử phân phối cho học sinh. Chưa lâu, cũng “lưỡi bò” cùng bị phát hiện đã lẻn vào cả hệ thống bán lẻ của hãng H&M tại Hà Nội, TP.HCM và một số thành phố lớn.

Ngỡ sau các trường hợp bị dư luận phê phán, tẩy chay, các cơ sở bán hàng “chừa hẳn”. Vậy mà không, “đùng” cái, nay lại đến chuyện trang web của Yadea treo bản đồ ghi tên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ bằng duy nhất tiếng Hoa – lần lượt là Tây Sa và Nam Sa.

Điều khác thường, ngược với tình huống trên, là: cùng bản đồ trên web của Yadea, các địa danh khác của Việt Nam đều chú bằng cả hai thứ tiếng Hoa và Việt Nam; và bản đồ này chỉ xuất hiện nếu dùng địa chỉ IP từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam để truy cập. Nếu truy cập từ trong lãnh thổ Việt Nam thì lại không thấy…

Trước phản ứng quyết liệt của các cơ quan chức năng và dư luận Việt Nam, chiều ngày 20-5, đại diện hãng Yadea đã lên tiếng xin lỗi về cái mà họ gọi là “sơ xuất”; đồng thời, hứa sẽ “rà soát thật chặt chẽ để đảm bảo sự việc tương tự không xảy ra trong tương lai”. Tuy nhiên, điều khác thường nêu trên đã khiến dư luận nghĩ tới khả năng đây không thể là sơ xuất, mà do “ban biên tập” web của hãng Yadea chủ trương và tính toán kỹ.

Nếu thật thế, là một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, hành vi đó của Yadea có thể ví như “đùa với lửa”. Bởi với mọi người dân Việt Nam, Trường Sa và Hoàng Sa là phần lãnh thổ thiêng liêng và máu thịt, không thể là của ai khác.

BDN

Loading

Views: 0

Hải quân Mỹ và Hà Lan tiến hành các hoạt động song phương ở Biển Đông

Hải quân Mỹ vừa thông báo họ và Hải quân Hà Lan ‘đã tiến hành các hoạt động song phương ở Biển Đông’ vào ngày 22-5.

Các tàu tham gia những hoạt động trên bao gồm tàu chiến USS Mobile, tàu chở hàng khô USNS Wally Schirra của Hải quân Mỹ và tàu khu trục HNLMS Tromp của Hải quân Hoàng gia Hà Lan.

“Hoạt động song phương này mang lại cơ hội quý giá để cải thiện khả năng tương tác của đồng minh và tiến hành các kịch bản phức tạp nhằm cải thiện khả năng sẵn sàng” – Hải quân Mỹ thông tin.

Không rõ các hoạt động song phương trên cụ thể là gì và diễn ra tại vị trí nào ở Biển Đông.

Tuy nhiên, Hải quân Mỹ nói rằng họ thường xuyên cùng các đồng minh và đối tác tham gia các cuộc tập trận và hoạt động hàng hải – những hoạt động tiếp tục gia tăng về quy mô, phạm vi và độ phức tạp, từ đó giúp tăng cường khả năng tương tác, sự răn đe và thể hiện quyết tâm chung.

“Các hoạt động đa phương cải thiện khả năng tương tác giữa hải quân các đồng minh cũng như ủng hộ một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” – Hải quân Mỹ nói thêm.

Hôm 10-5, Hải quân Mỹ thông báo điều tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS Halsey thực thi quyền tự do hàng hải phù hợp với luật pháp quốc tế gần quần đảo Hoàng Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép).

Lúc đó quân đội Trung Quốc tuyên bố đã giám sát chặt chẽ và “xua đuổi” tàu USS Halsey khi khu trục hạm Mỹ áp sát quần đảo Hoàng Sa.

Trước đó, hôm 22-4, gần 17.000 binh sĩ Philippines và Mỹ đã bắt đầu cuộc tập trận huấn luyện chiến đấu chung kéo dài 3 tuần ở Philippines, bao gồm các cuộc tập trận hàng hải ở Biển Đông.

Cuộc tập trận thường niên này có tên Balikatan (Vai kề vai), diễn ra trong bối cảnh căng thẳng ngoại giao leo thang và các cuộc chạm trán trên biển giữa Philippines và Trung Quốc, gồm cả việc tàu hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu Philippines.

BDN

Loading

Views: 0

Giải mã tàu chiến bí ẩn của hải quân TQ

Tàu chiến tàng hình mới của Trung Quốc được đóng với tốc độ rất nhanh nhưng chưa rõ nhiệm vụ của lớp tàu này và đến này mới chỉ ghi nhận một chiếc được chế tạo.

Nhiều nguồn thông tin cho hay một tàu chiến mới của Trung Quốc có các đặc điểm tàng hình dường như vừa thực hiện chuyến hải hành thử nghiệm đầu tiên.

Theo nhận định của The War Zone (TWZ), thiết kế của con tàu Trung Quốc có một số điểm tương đồng lớn với các tàu hộ tống tàng hình lớp Visby của Thụy Điển, bao gồm một pháo chính giấu bên trong mái vòm thấp, nhưng kích cỡ lớn hơn. Tốc độ đóng con tàu này cho thấy quy mô và năng lực đóng tàu của Trung Quốc, đặt ra những thách thức lớn đối với ngay cả những đối thủ được trang bị tốt nhất như Mỹ.

Chỉ hai tuần trước, Phúc Kiến, tàu sân bay đầu tiên do Trung Quốc tự thiết kế, có máy phóng máy bay kèm theo các công nghệ cải tiến khác so với các tàu sân bay biên chế trước đó của hải quân nước này, bắt đầu chuyến thử nghiệm trên biển đầu tiên.

Con tàu bí ẩn

Hình ảnh con tàu bí ẩn đã xuất hiện trên mạng xã hội từ cuối tuần qua. Hiện vẫn chưa rõ con tàu rời cảng khi nào, đi đâu và đã quay trở lại cảng hay chưa.

Hình ảnh đầu tiên về con tàu xuất hiện tháng 11/2023, là một bức ảnh chụp Nhà máy đóng tàu Liêu Ninh, còn được gọi là Nhà máy đóng tàu Nam Đại Liên Liêu Ninh. Theo Tom Shugart, chuyên gia cao cấp của Trung tâm An ninh Mỹ mới (CNAS), hình ảnh vệ tinh cho thấy con tàu đã được đóng ở đó ít nhất từ tháng 8/2023.

Ngoài khẩu pháo chính được giấu ở mũi tàu, bức ảnh xuất hiện trên mạng hồi tháng 11 năm ngoái cho thấy một dãy ống phóng thẳng đứng phía trước cấu trúc thượng tầng chính và một sàn đáp cho trực thăng ở đuôi tàu. Con tàu có thiết kế ưu tiên các tính năng tàng hình, với một cấu trúc cột tích hợp trên nóc buồng lái, không thấy có sự hiện diện của các ăng-ten chính và thiết bị phản xạ radar trên cấu trúc thượng tầng hoặc mặt boong.

Thân tàu được thiết kế với các bề mặt phẳng và cắt vát, nghiêng vào phía trong tính từ thân giữa trở lên. Các tàu hộ tống tàng hình lớp Visbly của Thụy Điển và tàu khu trục tàng hình lớp Zumwalt của Hải quân Mỹ đều có dạng thiết kế tương tự được gọi là ngôn ngữ tumblehome.

Tumblehome là một thiết kế kiến ​​trúc có các mặt phẳng hoặc mặt phẳng nghiêng vào phía trong từ một điểm nhất định, tạo ra hình dạng thu hẹp dần về phía trên. Nó được sử dụng trong thiết kế tàu thuyền, giúp cải thiện độ ổn định và hiệu suất khí động học.

Ông Shugart ước tính con tàu chiến tàng hình mới của Trung Quốc dài khoảng 97 mét dựa trên so sánh với các tàu hộ tống Type 056 không tàng hình (NATO gọi là lớp Giang Đảo) cũng được thấy trong các hình ảnh vệ tinh. Tàu Type 056 dài 90 mét, lượng giãn nước khoảng 1.500 tấn. Nhà máy đóng tàu Liêu Ninh từng đóng tàu Type 056.

Chưa rõ hải quân Trung Quốc sử dụng tàu tàng hình mới vào nhiệm vụ gì. Andreas Rupprecht, một nhà quan sát Trung Quốc lâu năm, cộng tác viên của TWZ, viết trên X rằng rất có thể con tàu lạ này là một “nền tảng thử nghiệm toàn diện” mà người bên ngoài chưa rõ mục tiêu.

Shugart cũng nhận định tương tự. “Đã có tin đồn rằng thiết kế này là một loại nền tảng thử nghiệm nào đó và điều này là hoàn toàn có thể xảy ra”, ông nói. “Hoặc đây cũng có thể là lớp tàu hộ tống mới của hải quân Trung Quốc.

Tại thời điểm này, thật khó để biết chắc chắn. Chúng ta chỉ thấy việc đóng mới tàu loại này chỉ diễn ra ở nhà máy Đại Liên, trong khi việc chế tạo các khinh hạm Type 054B mới đang được thực hiện ở nhiều nhà máy. Có lẽ hải quân Trung Quốc sẽ áp dụng cách tiếp cận chờ – đợi – xem- xét, vì đây là một thiết kế khá khác biệt, dường như tập trung vào các tính năng khó bị phát hiện”.

“Chờ đợi và xem xét” là chiến lược trì hoãn đưa ra quyết định hoặc thực hiện hành động cho đến khi có thêm thông tin hoặc cho đến khi tình hình trở nên rõ ràng hơn. Cách tiếp cận này thường được sử dụng khi có nhiều điều không chắc chắn hoặc rủi ro liên quan đến một tình huống. Bằng cách chờ đợi, cá nhân hoặc tổ chức có thể thu thập thêm thông tin và đánh giá tốt hơn các lựa chọn của họ, từ đó tăng cơ hội đưa ra quyết định đúng đắn.

Dù vậy, lớp tàu hộ tống tàng hình mới được cho là sẽ rất có giá trị đối với hải quân Trung Quốc và có thể được sử dụng trong một số vai trò, đặc biệt là ở các vùng ven biển.

Shugart nói: “Giả sử lớp tàu này cuối cùng sẽ thay thế các tàu hộ tống cũ của Trung Quốc, tôi nghĩ nó sẽ có vai trò hộ tống, tác chiến chống tàu ngầm và có lẽ là phòng không điểm”. Tàu chiến làm nhiệm vụ phòng không điểm được thiết kế và trang bị các vũ khí phòng không để bảo vệ hạm đội hoặc các đoàn tàu khỏi các cuộc tấn công từ trên không. Tàu phòng không điểm thường nhỏ và linh hoạt, được trang bị radar, tên lửa và pháo phòng không.

Nếu những nhận định của ông Shugart chính xác thì vai trò của con tàu mới có thể tương tự các tàu hộ tống Type 056 với khả năng đa nhiệm trong biên chế hải quân Trung Quốc.

Cuối năm 2021, lực lượng này chuyển giao 22 tàu hộ tống Type 056, chiếc đầu tiên được đưa vào biên chế vào đầu năm 2013, cho lực lượng hải cảnh. Hải quân Trung Quốc hiện có 50 tàu hộ tống Type 056A đang hoạt động, chiếc đầu tiên được đưa vào biên chế vào cuối năm 2014, chủ yếu thực hiện các hoạt động chống tàu ngầm.

Nhiệm vụ của con tàu mới?

Tuy nhiên, không giống như Type 056, khả năng tàng hình của con tàu bí ẩn có thể đặc biệt hấp dẫn đối với hải quân Trung Quốc. Thiết kế không khiến con tàu trở nên vô hình, nhưng tàu khó bị phát hiện và phân loại trên radar ở khoảng cách xa. Đối với các đối thủ, sẽ rất khó xác định và tấn công con tàu này ở tầm xa trong các vùng ven biển vì nó lẫn vào các thuyền nhỏ hơn trên radar và tận dụng sự rối loạn địa lý để tránh bị phát hiện.

Rối loạn địa lý là thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực radar và xử lý tín hiệu, mô tả các tín hiệu radar không mong muốn do các vật thể địa lý như núi, đồi, tòa nhà và cây cối tạo ra. Rối loạn địa lý có thể che khuất các mục tiêu mà radar đang cố gắng phát hiện và theo dõi, làm giảm hiệu suất của hệ thống radar.

Các khu vực ven biển đông đúc, giống như các khu vực trong Chuỗi đảo thứ nhất, khu vực bên trong vành đai nối từ quần đảo Kuril qua Nhật Bản, đảo Okinawa, đảo Đài Loan và tới Philippines, có ý nghĩa quan trọng đối với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, Chuỗi đảo thứ nhất còn trải dài đến Biển Đông có tính chiến lược cao. Bắc Kinh đã quân sự hóa trái phép phần lớn khu vực thông qua việc xây dựng các pháo đài trên đảo nhân tạo.

Ngoài ra còn có khả năng hải quân Trung Quốc sẽ sử dụng một hạm đội tàu hộ tống tàng hình mới phòng thủ bờ biển, cho phép các tàu khác, ví dụ khinh hạm Type 054A, thực hiện các nhiệm vụ xa bờ hơn.

Theo nhận định của TWZ, sự xuất hiện tàu hộ tống tàng hình phù hợp với xu hướng đang diễn ra trên thế giới, khi các tàu hộ tống, khinh hạm được trang bị vũ khí hạng nặng ngày càng phổ biến.

Dù thế nào đi nữa, chắc chắn rằng sự phát triển của con tàu tàng hình bí ẩn đã diễn ra cực kỳ nhanh chóng – ngay cả theo ước tính của Shugart.

“Lần đầu tiên tôi phát hiện con tàu đang được chế tạo là tháng 8 năm ngoái và bây giờ chúng ta thấy con tàu đi thử nghiệm trên biển, 9 tháng sau đó,” ông nói.

Đây là dấu hiệu cho thấy tốc độ đóng tàu quân sự của Trung Quốc thời gian gần đây ngày càng gia tăng. Gần một năm trước, Văn phòng Tình báo Hải quân Mỹ cảnh báo rằng tốc độ đóng tàu của Trung Quốc nhanh hơn 200 lần so với Mỹ và không chỉ số lượng, chất lượng của các tàu cũng được nâng lên ở mức “ít nhất là ở một khía cạnh nào đó”.

“Ngược lại với tốc độ đóng tàu nhanh chóng của Trung Quốc, tàu khu trục lớp Constellation mới của hải quân Mỹ ban đầu dự kiến hoàn thành trong 48 tháng kể từ khi khởi đóng đến khi giao hàng, và giờ chúng tôi nhận được tuyên bố từ hải quân Mỹ là tiến độ sẽ chậm hơn nhiều so với con số 48 tháng”, ông Shugart, cựu sỹ quan hải quân Mỹ, nói.

BDN

Loading

Views: 0

Chiến lược Quốc phòng Việt Nam hướng ra biển

Trong bối cảnh Việt Nam đang ngày càng hướng ra biển, làm thế nào để Việt Nam có thể cân bằng giữa việc tập trung vào biên giới phía tây trên đất liền và vùng biển phía đông?

Việt Nam là một quốc gia lục địa hướng biển. Việt Nam là một nước lục địa do tiến trình phát triển lịch sử của nước này luôn dựa trên nền tảng chủ yếu là lục địa. Văn hóa chiến lược của Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi tư duy lục địa bị chi phối bởi tầng lớp cầm quyền Nho giáo chống giao thương trong giai đoạn phong kiến. Trong thế kỷ 20, Việt Nam chủ yếu đối phó với các mối đe dọa an ninh trên bộ và chiến tranh chủ yếu diễn ra trên đất liền. Vị trí địa lý và văn hóa gần gũi với Trung Quốc đã tạo ra mối quan hệ yêu-ghét giữa Việt Nam và người khổng lồ ở phía bắc, vốn đã chi phối tư duy chiến lược an ninh của Việt Nam theo hướng lục địa trong nhiều thế kỷ.

Tuy nhiên, trong một sự thay đổi chiến lược quan trọng, Việt Nam đã bắt đầu chú trọng hơn đến biển cả trong thế kỷ 21. Tầm quan trọng chiến lược của biển lần đầu tiên được công nhận chính thức vào năm 1993, và sự thay đổi này tiếp tục được thể chế hóa trong những thập kỷ tiếp theo. Ngay cả khi đó, mục tiêu chiến lược đã rất rõ ràng: biến Việt Nam thành một “quốc gia mạnh về biển”. Mục tiêu này đã được nhấn mạnh trong Chiến lược Biển Việt Nam tới năm 2020 và Chiến lược Phát triển bền vững Kinh tế Biểnđược sửa đổi vào năm 2018.

Những tài liệu này thể hiện rõ ràng tư duy chiến lược biển. Trong Chiến lược Biển Việt Nam tới năm 2020, lãnh đạo Việt Nam nhận định thế kỷ 21 sẽ là “thế kỷ của đại dương”, đồng thời tài liệu này đưa ra phương châm “hướng ra biển là thịnh vượng”. Chiến lược Biển cũng miêu tả biển là “không gian phát triển” của đất nước, đóng vai trò then chốt cho sự phát triển và an ninh quốc gia. Do đó, Việt Nam “phải là một quốc gia biển mạnh và có thể làm giàu từ biển”.

Đánh giá thế bố phòng của Việt Nam và phân tích chiến lược mua sắm quân sự đòi hỏi phải hiểu rõ những ưu tiên chiến lược tổng thể của Việt Nam, đặc biệt là trụ cột kinh tế. Xét đến nhu cầu tạo ra môi trường hòa bình cho tăng trưởng kinh tế, trụ cột quốc phòng trong chiến lược tổng thể của đất nước phải được thiết kế phù hợp, tuân theo thực tế là nhận thức về mối đe dọa và ưu tiên kinh tế hiện tại của Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ về phía đông hướng ra biển. Như tôi đã đề cập ở những nơi khác, Việt Nam đang phải đối mặt với các mối đe dọa lớn và cấp bách đến từ biển, bao gồm các chiến thuật vùng xám cường độ thấp (hoạt động phi pháp, cưỡng ép, hung hăng và lừa dối của Trung Quốc) đến các cuộc xung đột trên biển cường độ cao (giả định về một cuộc chiến tranh hải quân hạn chế mang tính cục bộ và một cuộc phong tỏa hải quân tiềm tàng). Một cuộc chiến tranh biên giới trên bộ quy mô lớn tương tự như những gì đã xảy ra vào cuối những năm 1970 và 1980 là điều rất khó xảy ra, mặc dù không thể loại trừ hoàn toàn.

Những lập luận kêu gọi quay trở lại với chiến lược an ninh lục địa đã bỏ qua sự đồng thuận được thiết lập trong giới lãnh đạo về vai trò trung tâm của biển trong chiến lược tổng thể của Việt Nam. Những lập luận này cũng khó có thể biện minh theo quan điểm địa chiến lược ở thời điểm hiện tại vì chúng có xu hướng coi miền tây lục địa và miền đông biển cả là hai khu vực địa chính trị riêng biệt, không có mối liên hệ nào có ý nghĩa. Trong thực tế, tình thế tiến thoái lưỡng nan mang tính nhị phân, phân chia lục địa hay biển cả hoàn toàn mang tính chất nhân tạo, vì Việt Nam sẽ tiếp tục hướng về lục địa để đảm bảo an ninh và, ở một mức độ nào đó, để đảm bảo thịnh vượng cho chính mình.

Ngoài ra, nhìn nhận các tuyến biên giới phía tây lục địa qua lăng kính lịch sử của Chiến tranh Lạnh sẽ làm sai lệch bản chất thực sự của các mối đe dọa mà Việt Nam phải đối mặt trên đất liền. Trong thế giới kết nối ngày nay, mối quan hệ của Việt Nam với ba nước láng giềng dựa trên các nguyên tắc, ưu tiên, động lực và tư duy khác biệt so với thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Vùng biên giới phía tây giáp với Campuchia và Lào ngày càng được định hình bởi hợp tác kinh tế hòa bình và khái niệm thịnh vượng chung. Biên giới phía tây này là nơi tồn tại các loại mối đe dọa an ninh “phi truyền thống” hoàn toàn khác biệt, đòi hỏi các phương thức và cách tiếp cận khác nhau để giải quyết. Do đó, thật vô lý khi cho rằng Việt Nam nên tích trữ trang thiết bị quân sự để đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống ở phía tây trong khi Hà Nội sở hữu các bộ công cụ chính sách phù hợp hơn để giải quyết những thách thức đó.

Việt Nam không cần phải hướng “đông” hay hướng “tây”. Là một quốc gia lục địa hướng biển, Việt Nam cần tập trung vào cả hai địa vực để đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế trong tương lai. Vấn đề là với nguồn lực hạn chế, làm thế nào để Việt Nam cân bằng đầu tư quốc phòng giữa biên giới lục địa phía tây và vùng biển phía đông. Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào tầm nhìn chiến lược tổng thể và nhận thức về các mối đe dọa của đất nước. Quân đội Việt Nam cần đầu tư bao nhiêu tiền để phát triển khả năng răn đe trên biển, chống lại các chiến thuật vùng xám của Trung Quốc và tăng cường khả năng phòng thủ trên đất liền?

Việt Nam đang nỗ lực hiện đại hóa quân đội để đạt mục tiêu trở thành một lực lượng quân sự hùng mạnh và hiện đại vào năm 2030. Sách Trắng Quốc phòng năm 2019 nhấn mạnh việc hiện đại hóa một số quân chủng then chốt, trong đó Hải quân và Không quân đi đầu (không đề cập đến Lục quân). Sự hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông dường như là lý do chính cho điều này. Tầm nhìn kinh tế biển của đất nước cũng thuyết phục Đảng Cộng sản đầu tư vào sức mạnh trên biển và trên không.

Điều đó không có nghĩa là Lục quân bị bỏ bê và không được quan tâm. Những nỗ lực hiện đại hóa gần đây bao gồm nâng cấp đội hình xe tăng T-54/T-55 cũ kỹ của quân đội bằng xe tăng T-90 mua từ Nga, khả năng mua Pháo tự hành K-9 của Hàn Quốc và thực hiện một số dự án để sản xuất xe chiến đấu bộ binh do chính Việt Nam sản xuất và nội địa hóa một phần. Điều này cho thấy đã đến lúc Quân đội nhân dân Việt Nam cần nâng cấp trang thiết bị và học thuyết lỗi thời, lạc hậu nhiều thập kỷ để sánh kịp các nước láng giềng. Điều này phản ánh cách tiếp cận của quân đội nhằm duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu của Lục quân để duy trì mức răn đe tối thiểu trước một cuộc xâm lược quy mô lớn trên bộ, giống như cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine, mặc dù đây vẫn là kịch bản khó xảy ra. Nó không ngụ ý sự thay đổi ưu tiên chiến lược từ hướng đông sang hướng tây.

Cuộc tranh luận cần được đào sâu hơn: Liệu các khoản đầu tư vào năng lực bảo vệ vùng biển của đất nước đã đủ hiệu quả chưa? Tại sao Việt Nam ngừng mua sắm các trang bị và phương tiện mới cho hạm đội hải quân kể từ năm 2016, khi họ đưa vào hoạt động hai cặp tàu hộ vệ Gepard cuối cùng? Tại sao Việt Nam không tìm kiếm thay thế cho đội máy bay Su-22 cũ kỹ hàng thập kỷ của mình, mặc dù tai nạn xảy ra ngày càng nhiều mỗi năm? Các lựa chọn nào để mở rộng thêm đội máy bay tiêm kích của Không quân? Liệu Việt Nam có nên ưu tiên các khả năng chống chiến thuật vùng xám bằng cách đầu tư vào lực lượng thực thi pháp luật trên biển và dân quân tự vệ thay vì đầu tư vào khả năng tác chiến và răn đe trên biển? Mở rộng và bảo vệ lợi ích trên biển có thể đặt ra một tình thế khó khăn cho một quốc gia lục địa hướng biển có năng lực hạn chế: một đồng chi đầu tư cho lực lượng mặt đất sẽ là giảm một đồng đầu tư cho lực lượng trên biển, và việc đầu tư vào năng lực hải quân vốn nổi tiếng là tốn kém.

Cuộc tranh luận xung quanh chiến lược mua sắm quốc phòng của Việt Nam cũng không nên chỉ tập trung vào sự cạnh tranh mang tính nhị nguyên giữa lục địa và biển cả mà là tập trung vào việc củng cố tính tự chủ của Việt Nam trong việc duy trì năng lực quân sự của mình trong một khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương bị chi phối bởi biển cả. Dưới bóng đen của cuộc chiến tranh Nga-Ukraine, quân đội Việt Nam đang củng cố chiến lược mua sắm ba mũi nhọn để đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa, tập trung vào việc xây dựng tổ hợp công nghiệp quân sự lưỡng dụng của riêng mình. Làm thế nào để tổ hợp công nghiệp quân sự này hoạt động bền vững là một câu hỏi quan trọng. Điều này sẽ bao gồm việc lựa chọn các đối tác quốc phòng đáng tin cậy, phân bổ nguồn lực giữa các công ty nhà nước và khu vực tư nhân, xây dựng khuôn khổ pháp lý phù hợp và tìm kiếm thị trường cho ngành công nghiệp quốc phòng non trẻ đó.

Lập luận rằng Việt Nam nên chuyển hướng bố phòng sang phía tây lục địa với cái giá phải trả là phía đông biển cả là một điều sai lầm vì Việt Nam coi trọng cả hai địa vực. Không gian biển sẽ định hình tương lai của Việt Nam, cùng với sự hậu thuẫn kiên định từ vùng đất liền lục địa của mình. Phân tích thực tế về thế bố trí phòng thủ và chiến lược quân sự của Việt Nam nên dựa trên sự hiểu biết thực tế về nhận thức mối đe dọa và giả định về môi trường quốc tế của Việt Nam, chứ không phải dựa trên quan điểm lục địa cực đoan dựa trên nhận thức lịch sử lỗi thời.

BDN

Loading

Views: 0

Biển Đông: khi hai cường quốc đồng giọng

Việc có được tiếng nói chung với Kremlin chỉ trích Mỹ và phương Tây “nhúng mũi vào Biển Đông” như một sự can thiệp vào câu chuyện nội bộ của các nước trong khu vực, là điều có ý nghĩa rất lớn với Trung Nam Hải.

Chẳng đợi ông Yury Ushakov, trợ lý chính sách đối ngoại của Tổng thống Nga, tiết lộ, dư luận cũng thừa biết, Trung Quốc không phải là địa điểm được chọn ngẫu nhiên cho chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông Putin, kể từ khi ông tuyên thệ nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ thứ 5 đầu tháng 5 vừa qua, mà là để đáp lại cử chỉ hữu nghị tương tự của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

“Cử chỉ tương tự” mà Kremlin rất mực coi trọng đó là gì? Là chuyến thăm cấp nhà nước tới Nga theo lời mời của Tổng thống nước chủ nhà Vladimir Putin, cũng là chuyến công du nước ngoài đầu tiên của Chủ tịch Trung Quốc sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ 3, diễn ra từ ngày 20/3/2023.

Chẳng ai hời hợt nghĩ các động thái của ông Putin là nặng về hình thức, chỉ có tính đáp lễ. Ngược lại, nó thể hiện thông điệp về mối quan hệ khăng khít giữa hai siêu cường trong bối cảnh xung đột địa chính trị diễn ra vô cùng phức tạp.

Trở lại sự hiện diện của ông Putin 2 ngày vừa qua tại Bắc Kinh và Cáp Nhĩ Tân một thành phố lớn của Trung Quốc – dù không ồn ào (và dường như cả hai cùng chủ ý thế”, nhưng sự trọng thị và nồng nàn mà Trung Nam Hải dành cho ông chủ điện Kremlin như một sự “biệt đãi”, là không thể nghi ngờ. Đặc biệt, kết quả của chuyến thăm, cũng là điều mà dư luận quan tâm, trông đợi nhất, càng củng cố thêm nhận định trên.

Liên quan vấn đề này, những lời nói tốt đẹp từ hai phía dành cho nhau, tỷ như ông Tập nói rằng: mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc đã vượt qua những thử thách của môi trường quốc tế đầy biến động và trở thành chuẩn mực cho mối quan hệ giữa các cường quốc; quan hệ Trung-Nga đã trở nên mạnh mẽ trong những điều kiện khó khăn, vượt qua thử thách của tình hình quốc tế đầy biến động…”; còn ông Putin thì, cùng với việc nêu con số kim ngạch thương mại giữa Nga và Trung Quốc đã tăng trong năm 2023 và đạt 227 tỷ USD; Nga và Trung Quốc đã có những hoạt động hợp tác thực chất; Trung Quốc là đối tác chính của Nga trong lĩnh vực kinh tế và thương mại, đã nhấn mạnh rằng: “Cùng nhau, chúng ta bảo vệ các nguyên tắc công bằng và trật tự thế giới dân chủ dựa trên thực tế đa cực và luật pháp quốc tế”.

Tự tin tới mức ấy vào “sứ mệnh” chung, trách gì Bắc Kinh chẳng lấy làm hoan hỷ mấy ngày nay. Nhưng gặt hái lớn nhất của Bắc Kinh trong cuộc đón ông Putin, là đưa được vấn đề Biển Đông vào Bản tuyên bố chung dài 30 trang.

Một văn bản tuyên bố chung nhắc đến Biển Đông mà Bắc Kinh hài lòng – chỉ cần thế, đủ biết, nó không thể ngược với quan điểm của Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông lâu nay được.

Nhưng câu từ như “Hai bên thừa nhận rằng vấn đề Biển Đông nên được giải quyết bởi các bên liên quan, thông qua các cuộc đàm phán và tham vấn”; “Nga hoan nghênh những tiến triển bước đầu trong việc xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN”; Nga “ủng hộ những nỗ lực của Trung Quốc và các nước ASEAN để cùng nhau bảo vệ hòa bình, ổn định ở Biển Đông”…chưa phải những gì Bắc Kinh hào hứng nhất. Bởi suy cho cùng, nội dung ấy cũng chỉ là những nhận định, kêu gọi chung, không hề trái lập trường giải quyết vấn đề Biển Đông mà lâu nay, cả Trung Quốc lẫn các nước ASEAN vẫn nói.

Quan trọng nhất với Bắc Kinh là nội dung hai bên “phản đối mạnh mẽ sự can thiệp của các lực lượng ngoài khu vực vào vấn đề này”.

Các lực lượng ngoài khu vực là lực lượng nào? Chẳng ai là không hiểu, Nga và Trung Quốc ám chỉ Mỹ và đồng minh phương Tây.

Sự trở lại của Mỹ trong khu vực với chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương, nơi có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, bắt đầu từ năm 2011, với mục tiêu quan trọng nhất: bảo đảm duy trì vị thế lãnh đạo của Mỹ trước những thay đổi nhanh chóng tại khu vực, kiềm chế tham vọng vươn lên của Trung Quốc…, đã và đang khiến Bắc Kinh khó chịu.

Liên quan vấn đề Biển Đông, Bắc Kinh càng cay cú hơn khi họ cho rằng, Mỹ ngày một lộng quyền, nhân danh tự do hàng hải ngăn cản Bắc Kinh hiện thực hóa yêu sách “đường 9 đoạn” chiếm tới 90% diện tích Biển Đông; Mỹ, dù không tham gia Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) 1982, tháng 7 năm 2023, bỗng trịch thượng to tiếng “lên lớp” Bắc Kinh về đạo đức và đòi Trung Quốc phải tuân thủ Phán quyết ngày 12-7-2016 của Tòa trọng tài (PCA) do Hội đồng trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982 để thụ lý vụ kiện Biển Đông của Philippines, bắt đầu từ năm 2013.

Chính thế, với việc có được tiếng nói chung với Kremlin chỉ trích Mỹ và phương Tây can thiệp vào câu chuyện nội bộ của các nước trong khu vực, là điều có ý nghĩa rất lớn với Trung Nam Hải.

Éo le thay, nhìn rộng ra, trên bình diện quốc tế, dư luận rất khó đồng thuận với nhận định này.

Khó là bởi, là tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất gánh tới 5 nghìn tỷ USD giá trị hàng hóa lưu thông, rõ ràng, tự do hàng hải là câu chuyện quan trọng với cả thế giới, đâu phải chỉ với Mỹ, phương Tây, hay một nền kinh tế nào.

Khó là bởi, nhìn chung, sự phức tạp của câu chuyện Biển Đông, suy cho cùng, là “nguyên nhân nội sinh”: do sự tranh chấp của các bên liên quan trong khu vực, trong đó, Trung Quốc khổng lồ gần như là một bên, còn lại là những Việt Nam, Philippines, Malaysia…nhỏ xíu. Thậm chí, không nói ra, nhưng dư luận hiểu, nếu không e dè Mỹ, bây lâu nay, rất có thể Trung Quốc đã ra đòn nặng tay với các đối thủ mà họ cho là ương bướng, dám chống lại tham vọng chiếm hữu Biển Đông của họ rồi.

Đó cũng là lý do trước việc câu chuyện Biển Đông tràn vào Tuyên bố chung tăng cường quan hệ “trong kỷ nguyên mới” của ông Tập và ông Putin, Washington chắc chắn là bên đang cảm thấy tổn thương nhiều nhất.

BDN

Loading

Views: 0

TQ điều đội chiến hạm tập trận ở Biển Đông

Quân đội Trung Quốc (PLA) mới đây thông báo một đội tàu chiến nước này đã tiến hành cuộc tập trận ở Biển Đông, theo tờ South China Morning Post.

Cụ thể, Chiến khu Nam bộ, nhánh của PLA giám sát các hoạt động quân sự của Trung Quốc trong khu vực, đã đăng một đoạn video về cuộc tập trận ở Biển Đông lên mạng hôm 4.5, cho thấy những gì họ nói là chi tiết về cuộc tập trận “gần đây”, theo South China Morning Post tối 12.5.

Chiến khu Nam bộ còn nói rằng đội tàu chiến tham gia cuộc tập trận mới có Tuân Nghĩa, tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường thuộc Type 055 và là một trong những tàu chiến mạnh nhất thế giới.

Cũng theo Chiến khu Nam bộ, những tàu khu trục khác, bao gồm Hải Khẩu, Côn Minh, và một tàu hộ vệ đã được triển khai trong “đội hình chiến thuật tấn công trên biển”, sẵn sàng tấn công các mục tiêu đến từ trên không, trên mặt nước và dưới mặt nước.

“Cuộc huấn luyện này tập trung vào các yếu tố như tác chiến trên biển, phòng không và chống tên lửa cũng như tác chiến chống tàu ngầm”, Chiến khu Nam bộ nhấn mạnh mà không nêu rõ địa điểm và thời gian cuộc tập trận diễn ra, theo South China Morning Post.

Cuộc tập trận mới của hải quân Trung Quốc cũng bao gồm các cuộc tấn công mô phỏng ban đêm vào các mục tiêu trên bờ.

Chiến khu Nam bộ đưa ra thông báo về cuộc tập trận mới một ngày sau khi Mỹ và Philippines kết thúc cuộc tập trận quy mô lớn thường niên Balikatan, bắt đầu vào ngày 22.4 và kết thúc vào ngày 3.5.

Tham gia cuộc tập trận Balikatan năm nay có hơn 11.000 binh sĩ Mỹ và 5.000 binh sĩ Philippines, cùng với 150 quân nhân Úc và 100 binh sĩ Pháp. Balikatan vừa diễn ra có các cuộc tập trận bắn đạn thật từ bờ biển Philippines đến Biển Đông, theo South China Morning Post.

BDN

Loading

Views: 0

Số phận bãi cạn Sa Bin?

Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines đã cử một tàu “để giám sát các hoạt động được cho là bất hợp pháp của Trung Quốc nhằm xây đảo nhân tạo”. Ngoài ra, thêm hai tàu khác đang được triển khai luân phiên trong khu vực này ở Biển Đông…

Đó là nội dung thông cáo được phát đi ngày 11-5 từ văn phòng Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. Thông tin còn nhấn mạnh thêm rằng: một tàu Philippines đã neo đậu tại bãi Sa Bin để “ghi lại việc đổ san hô bị nghiền nát trên các bãi cát”; tàu này đã phát hiện hàng chục tàu Trung Quốc, bao gồm cả tàu nghiên cứu và tàu hải quân, hiện diện một cách đáng ngờ trong khu vực bãi cạn…

Trong bối cảnh hiện nay, những gì liên quan chủ quyền biển đảo, với Manila không chỉ quan trọng mà còn là chuyện “nóng” bậc nhất. Tuy nhiên, trường hợp cần lên tiếng – đó là việc của cơ quan ngoại giao; bất đắc dĩ, văn phòng của ông Marcos mới thân ra tay. Thế nên một khi điều đó xảy ra đồng nghĩa rằng sự việc là nghiêm trọng.

Mà nghiêm trọng thật khi Trung Quốc đang lăm le làm cái việc “xây đảo nhân tạo” trong khu vực bãi cạn Sa Bin (Philippines gọi là Escoda). Tính nghiêm trọng thể hiện ít nhất ở hai khía cạnh sau đây mà những ai quan tâm vấn đề Biển Đông đều tường tỏ.

Thứ nhất, Sa Bin là một rạn san hô vòng có hình dạng vòng đai bao quanh một đầm nước lặng, còn gọi là vụng biển. Về mặt pháp lý, rạn san hô diện tích 115 km vuông này thuộc quần đảo Trường Sa nên đương nhiên, phải thuộc chủ quyền của Hà Nội, cũng như nhiều đảo, đá, rạn san hô khác trong quần đảo.

Cái lý đó đứng vững ngay cả khi Philippines căn cứ vào khoảng cách 200 km từ bãi cạn tới tỉnh Palawan của Philippines, để đòi Sa Bin là của mình. Bởi theo thông lệ quốc tế, khoảng cách địa lý cùng lắm cũng chỉ là một, không thể là tiêu chí hoặc điều kiện duy nhất để một bên nào đó dùng làm sở cứ khẳng định chủ quyền của một đảo, một đá, một bãi cạn trên biển.

Điều oái oăm là, cả Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines cùng tranh chấp, nhưng trong thực tế, chưa bên nào thực sự kiểm soát Sa Bin. Tình trạng đó khiến câu chuyện Sa Bin ngày một trở nên phức tạp, tiềm ẩn khả năng bùng phát thành một điểm nóng mới, tiếp theo nhiều điểm nóng lâu nay trên Biển Đông.

Nếu tất cả các bên điều thiện chí, nghiêm túc đối thoại trên nền tảng công pháp quốc tế, như Phán quyết của Tòa trọng tài (PCA) trong vụ kiện Biển Đông của Philippines đối với Trung Quốc, ban hành năm 2016; Công ước LHQ về Luật Biển 1982 (UNCLOS), trong đó có quy định giữ nguyên hiện trạng…, hẳn câu chuyện Sa Bin hoàn toàn có thể giải quyết, hoặc chí ít, nó cũng không tới nỗi có có nguy cơ bùng thành điểm nóng như hiện nay.

Chết nỗi, cái điều kiện “nếu” nêu trên chỉ là mong muốn ngày một xa vời. Nguyên nhân, một số bên liên quan coi việc bãi cạn “vô chủ” như lúc này, là cơ hội cần chớp lấy để chiếm hữu. Vào tay mình rồi, sau đó, dầu có bị cộng đồng quốc tế la ó phản đối như một hành động cưỡng chiếm bất hợp pháp…, thì “sự cũng đã rồi”…

Tất nhiên, giải pháp đó không dành cho những quốc gia tôn trọng luật pháp như Việt Nam, hoặc yếu lực như Philippines. Nó chỉ phù hợp với một siêu cường hành xử theo cơ bắp, côn đồ như Trung Quốc.

Vài chục năm qua, bằng sức mạnh, Trung Quốc đã cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa cùng các đảo, đá, bãi cạn khác thuộc chủ quyền của Việt Nam, như Gạc Ma, Xu Bi, Tư Nghĩa, Chữ Thập…; bãi cạn Scaborough từ Philippines.

Thứ hai, nếu cộng đồng quốc tế không ngăn chặn được Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát Sa Bin, Trung Quốc sẽ không dừng lại ở việc cải tạo một cách sơ sài. Tình trạng sẽ diễn ra y như các đảo, đá họ đã chiếm được: tiếp theo việc cải tạo, là quân sự hóa, Sa Bin sẽ thành một cứ điểm quân sự kiên cố, hỏa lực mạnh. Cùng với các đảo, đá quân sự hóa trước đó như Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập, sức mạnh của Trung Quốc trên Biển Đông sẽ gia tăng đáng kể, giúp Trung Quốc khống chế Biển Đông, thách thức siêu cường Mỹ, từng bước hiện thực hóa âm mưu độc chiếm Biển Đông theo yêu sách “đường 9 đoạn” mà họ đơn phương đưa ra và đòi cộng đồng quốc tế công nhận.

Việc cả tin dẫn đến mất quyền kiểm soát bãi cạn Scaborough vào tay Trung Quốc năm 2012 hẳn là bài học tới nay vẫn còn đau đớn với Philippines. Thêm nữa, những hành vi ngỗ ngược gây hấn của Trung Quốc nhằm vào Philippines đang diễn ra ở khu vực bãi cạn Scaborough, Cỏ Mây vừa qua càng khiến Manila cay cú và cảnh giác tới mức không thể sao nhãng với những động thái của Trung Quốc tại khu vực bãi cạn Sabin. Phát hiện những “cải tạo nhỏ” bất hợp pháp, Philippines đã “đối ứng” bằng cách điều 3 tàu hải cảnh ra thực địa thực hiện việc “giám sát”.

“Giám sát” – giải pháp đó hiển nhiên cần cho tình huống này rồi. Trưng ra bằng chứng và tố cáo Trung Quốc trước cộng đồng quốc tế – tất nhiên cũng cần thiết…

Nhưng câu hỏi dư luận đặt ra về số phận Sa Bin là: tiếp theo giám sát, Manila sẽ hành xử thế nào, nếu Bắc Kinh không những không dừng lại việc cải tạo, xây dựng, tôn bãi cạn thành các đảo nổi nhân tạo…, mà còn làm việc này một cách quyết đoán, ráo riết hơn?

BDN

Loading

Views: 0