Schlagwort-Archiv:Biển Đông

Vấn đề chủ quyền trong hiệp định lịch sử về biển cả

Việc thiết lập các vùng bảo vệ biển trong Hiệp định BBNJ được quy định chặt chẽ, không được hiểu là sự công nhận bất kỳ yêu sách chủ quyền nào.

Ngăn việc bị lợi dụng cho các yêu sách chủ quyền

Phần III của BBNJ (Hiệp định bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển tại các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia) nói về các biện pháp như Công cụ quản lý theo vùng (Area-based management tool ABMT) bao gồm cả vùng bảo vệ biển, gồm 10 điều (17-26).

Tàu khảo sát Trần Đại Nghĩa

Điều 1 khoản 1 định nghĩa ABMT là công cụ, bao gồm cả vùng bảo vệ biển, cho một khu vực địa lý xác định, thông qua đó một hoặc một số lĩnh vực hoặc hoạt động được quản lý với mục đích đạt được sự bảo tồn đặc biệt và các mục tiêu sử dụng bền vững phù hợp với hiệp định.

Việc thiết lập các ABMT, bao gồm cả vùng bảo vệ biển, không được bao gồm bất kỳ một vùng nào nằm dưới quyền tài phán quốc gia và không được là cơ sở cho việc thừa nhận hay từ chối bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, kể cả các tranh chấp liên quan đến chúng.

Hội nghị các quốc gia thành viên sẽ không xem xét các đề xuất như vậy và trong mọi trường hợp các đề xuất này không được hiểu như sự công nhận hay không công nhận bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán nào. Điều 19 quy định cụ thể các tiêu chí để các bên căn cứ đề xuất ABMT.

Phần IV về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), gồm 13 điều (27-39).

ĐTM là công cụ quản lý môi trường và là nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện để đảm bảo rằng ảnh hưởng tiềm năng tới môi trường của các hoạt động lên kế hoạch dưới quyền tài phán và kiểm soát của họ được tiến hành trong các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia phải được đánh giá phù hợp với các quy định trong phần này trước khi chúng được cho phép.

Mục tiêu của phần này là xác định quá trình, ngưỡng và các yêu cầu khác để tiến hành và báo cáo đánh giá cho các bên, nhằm bảo đảm các hoạt động được tiến hành phải ngăn ngừa, giảm thiểu và quản lý các tác hại đáng kể nhằm mục đích bảo vệ và bảo tồn môi trường biển. Bên cạnh biện pháp đánh giá tác động môi trường chiến lược, hiệp định lần đầu tiên khuyến khích và ủng hộ việc xem xét đánh giá các tác động tích lũy lên môi trường.

Điều 1 khoản 6 định nghĩa các tác động tích lũy là các tác động kết hợp và tăng dần bắt nguồn từ các hoạt động khác nhau, bao gồm các hoạt động trong quá khứ, hiện tại và có thể được dự tính một cách hợp lý, hoặc do việc lặp lại các hoạt động giống nhau qua thời gian, và hậu quả của biến đổi khí hậu, axít hóa đại dương và các tác động liên quan. Các tiêu chuẩn và hướng dẫn về ĐTM sẽ được ủy ban khoa học kỹ thuật chuẩn bị cho hội nghị các quốc gia thành viên xem xét và thông qua (điều 38).

Hội nghị các quốc gia thành viên sẽ không xem xét các đề xuất như vậy và trong mọi trường hợp các đề xuất này không được hiểu như sự công nhận hay không công nhận bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán nào. Điều 19 quy định cụ thể các tiêu chí để các bên căn cứ đề xuất ABMT.

Phần IV về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), gồm 13 điều (27-39).

ĐTM là công cụ quản lý môi trường và là nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện để đảm bảo rằng ảnh hưởng tiềm năng tới môi trường của các hoạt động lên kế hoạch dưới quyền tài phán và kiểm soát của họ được tiến hành trong các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia phải được đánh giá phù hợp với các quy định trong phần này trước khi chúng được cho phép.

Mục tiêu của phần này là xác định quá trình, ngưỡng và các yêu cầu khác để tiến hành và báo cáo đánh giá cho các bên, nhằm bảo đảm các hoạt động được tiến hành phải ngăn ngừa, giảm thiểu và quản lý các tác hại đáng kể nhằm mục đích bảo vệ và bảo tồn môi trường biển. Bên cạnh biện pháp đánh giá tác động môi trường chiến lược, hiệp định lần đầu tiên khuyến khích và ủng hộ việc xem xét đánh giá các tác động tích lũy lên môi trường.

Điều 1 khoản 6 định nghĩa các tác động tích lũy là các tác động kết hợp và tăng dần bắt nguồn từ các hoạt động khác nhau, bao gồm các hoạt động trong quá khứ, hiện tại và có thể được dự tính một cách hợp lý, hoặc do việc lặp lại các hoạt động giống nhau qua thời gian, và hậu quả của biến đổi khí hậu, axít hóa đại dương và các tác động liên quan. Các tiêu chuẩn và hướng dẫn về ĐTM sẽ được ủy ban khoa học kỹ thuật chuẩn bị cho hội nghị các quốc gia thành viên xem xét và thông qua (điều 38).

Nó phải xây dựng, khi cần thiết, và không được lặp lại các chương trình đã tồn tại và phải được hướng dẫn (rút kinh nghiệm) bởi các bài học đã qua bao gồm các bài học từ các hoạt động xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển theo các văn bản và khuôn khổ pháp lý hiện hành và các tổ chức mang tính toàn cầu, khu vực, tiểu khu vực và lĩnh vực liên quan. Nó phải được tiến hành có tính đến quan điểm đạt được hiệu quả và kết quả cực đại.

Xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển cần được xây dựng và cần đáp ứng yêu cầu và ưu tiên của các quốc gia thành viên đang phát triển, có tính đến hoàn cảnh đặc biệt của các quốc đảo nhỏ đang phát triển và các nước chậm phát triển, xác định thông qua đánh giá yêu cầu, trên cơ sở cho từng trường hợp cụ thể, tiểu khu vực và khu vực. Các yêu cầu và ưu tiên này có thể tự đánh giá hoặc thông qua ủy ban xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển và cơ chế minh bạch thông tin (clear house information – CHI).

Phần VI dành cho các quy định về tổ chức, gồm 5 điều (47-51). Điều 47 quy định việc thành lập, quy chế làm việc và chức năng của hội nghị các bên, cơ quan điều hành cao nhất của hiệp định. Ngoài hội nghị các bên, hiệp định còn quy định thành lập ủy ban khoa học kỹ thuật, ban thư ký và xác định chế độ minh bạch cũng như cơ chế minh bạch thông tin CHI mà các cơ quan và các bên cần tuân thủ.

Phần VII về các quy định tài chính gồm 1 điều khoản (52). Phần VIII Thực thi và tuân thủ gồm 3 điều (53-55). Phần IX Giải quyết tranh chấp gồm 6 điều (56-61). Các bên có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng mọi biện pháp hòa bình quy định trong điều 33 Hiến chương Liên Hiệp Quốc và tuân theo thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định trong phần XI của UNCLOS. Các phần còn lại X, XI, XII liên quan đến mối quan hệ với các văn kiện khác, với bên thứ ba và các thủ tục phê chuẩn, có hiệu lực.

Kết luận

Hiệp định BBNJ là một bổ sung cho Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), nằm trong khuôn khổ UNCLOS và không thay thế những nguyên tắc cơ bản của UNCLOS. 

BBNJ được xây dựng trên nguyên tắc di sản chung của loài người và tự do biển cả, và nhấn mạnh nguyên tắc tính đến các nhu cầu và ưu tiên của các nước đang phát triển tạo ra lợi thế lớn cho Việt Nam và các nước đang phát triển trong việc xây dựng và thực thi một trật tự pháp lý trên biển công bằng, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và các lợi ích quốc gia của tất cả các thành viên của cộng đồng quốc tế.

Hiệp định BBNJ với những định nghĩa mới và cụ thể về nguồn gene biển, về công cụ quản lý vùng, đánh giá tác động môi trường cơ chế thông tin minh bạch, xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển đã góp phần thay đổi phương thức quản trị đại dương và biển khắc phục những tồn tại hiện nay.

Việc bảo tồn và sử dụng bền vững biển và đại dương, trong đó có các nguồn đa dạng sinh học biển sẽ góp phần tận diệt đói nghèo, giúp kinh tế tăng trưởng bền vững hơn, bảo đảm an ninh lương thực, tạo thêm sinh kế bền vững và tăng cường khả năng chống chịu và thích ứng của các nước trước tác động của biển đổi khí hậu. /.

GS Nguyễn Hồng Thao

Việc thiết lập các ABMT, bao gồm cả vùng bảo vệ biển, không được bao gồm bất kỳ một vùng nào nằm dưới quyền tài phán quốc gia và không được là cơ sở cho việc thừa nhận hay từ chối bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, kể cả các tranh chấp liên quan đến chúng.

Loading

Views: 0

Việt Nam bày tỏ quan ngại về những diễn biến trên Biển Đông

Đại sứ Đặng Hoàng Giang khẳng định việc tôn trọng chủ quyền của các quốc gia ven biển là điều kiện tiên quyết cho việc duy trì và bảo đảm hòa bình, an ninh và thịnh vượng ở khu vực Biển Đông.

Sau lễ khai mạc ngày 12/6, Hội nghị lần thứ 33 các Quốc gia thành viên Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) tiếp tục diễn ra trong các ngày từ 12-16/6 tại Trụ sở Liên hợp quốc tại New York, Mỹ.

Hội nghị đã xem xét Báo cáo thường niên của Tổng thư ký Liên hợp quốc mang tên “Các đại dương và Luật biển,” trong đó nhận xét “sức khỏe của đại dương tiếp tục suy giảm do nhiều tác nhân, trong đó có tăng axít hóa đại dương, thừa dưỡng chất trong nước biển, ô nhiễm rác thải nhựa, đe dọa hệ sinh thái lớn nhất hành tinh và ảnh hưởng tới sinh kế của hàng tỷ người.”

Báo cáo kêu gọi “những nỗ lực khẩn cấp” để ứng phó các thách thức đối với các nước đang phát triển, trong đó có việc xây dựng năng lực, phát triển nền kinh tế biển bền vững và giải pháp tài chính đổi mới sáng tạo.

Nhân kỷ niệm 40 năm thông qua UNCLOS, Báo cáo cho rằng cần thổi một luồng gió mới vào nỗ lực của các quốc gia và tổ chức quốc tế để tăng cường thực thi đầy đủ và hiệu quả Công ước và các Hiệp định thực thi văn kiện này.

Đa số phát biểu tại Hội nghị năm nay tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của UNCLOS, với tư cách là khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện điều chỉnh các hoạt động và các vấn đề liên quan đến biển.

Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu tuân thủ Công ước, đẩy mạnh hợp tác khu vực và quốc tế trong các lĩnh vực biển và đại dương, ứng phó với các thách thức như ô nhiễm môi trường biển, biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng, đóng góp vào thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững số 14 liên quan đến bảo tồn và phát triển bền vững biển và đại dương.

Hội nghị ghi nhận dấu ấn lịch sử trong việc đạt được thoả thuận về dự thảo nội dung Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển ngoài vùng tài phán quốc gia (BBNJ) nhằm hướng tới thông qua văn kiện này vào cuộc họp sắp tới (dự kiến từ ngày 19-20/6/2023 tại Trụ sở Liên hợp quốc).

Phát biểu tại Hội nghị, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, Trưởng đoàn Việt Nam, khẳng định 40 năm qua, UNCLOS, với vai trò “Hiến pháp của đại dương,” là khuôn khổ pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động trên biển, Công ước và các Hiệp định thực thi đã đóng vai trò nền tảng cho hợp tác và hành động của quốc gia, khu vực và toàn cầu trên biển.

Đại sứ nêu bật nỗ lực của Việt Nam thực hiện UNCLOS, trong đó có Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050 được ban hành theo Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ.

Là một trong những thành viên sáng lập của Nhóm bạn bè UNCLOS, Việt Nam tiếp tục tái khẳng định cam kết đối với Công ước và gìn giữ sự phổ quát, toàn vẹn và thực thi đầy đủ Công ước.

Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn đại diện Thường trực Việt Nam tại Liên hơp quốc, phát biểu tại phiên thảo luận của Hội đồng Bảo an về “Biến đổi khí hậu, hòa bình và an ninh.” (Ảnh: TTXVN phát)

Liên quan đến tình hình Biển Đông, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhắc lại quan điểm của Việt Nam về việc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS, bày tỏ quan ngại về các diễn biến gần đây trên Biển Đông có thể ảnh hưởng đến hòa bình, an ninh và phát triển.

Đại sứ khẳng định việc tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển trên vùng biển được thiết lập theo Công ước là điều kiện tiên quyết cho việc duy trì và bảo đảm hòa bình, an ninh và thịnh vượng ở khu vực Biển Đông.

Trên cơ sở đó, Trưởng đoàn Việt Nam kêu gọi tất cả các quốc gia liên quan kiềm chế và tránh thực hiện các hoạt động gây phức tạp tình hình hoặc leo thang căng thẳng.

[Nhóm bạn bè UNCLOS sẽ tiếp tục thúc đẩy đối thoại và hợp tác đa phương]

Tại phiên thảo luận về báo cáo của Tòa án quốc tế về Luật biển (ITLOS), đoàn Việt Nam phát biểu nhấn mạnh ITLOS đã hoàn thành tốt vai trò cơ quan xét xử được thành lập theo UNCLOS, và ghi nhận những chương trình đào tạo, nâng cao năng lực của Toà cho các nước đang phát triển.

Đồng thời, trong bối cảnh ngày càng có nhiều thách thức và vấn đề mới nổi trên biển, vai trò của ITLOS với tư cách người bảo vệ sự toàn vẹn và toàn diện của Công ước ngày càng trở nên quan trọng hơn.

Trên cơ sở đó, Việt Nam mong muốn ITLOS sẽ xem xét nghiêm túc đề nghị của Uỷ ban các quốc đảo Thái Bình Dương xin ý kiến tư vấn về vấn đề biến đổi khí hậu và luật pháp quốc tế, qua đó làm sáng tỏ nghĩa vụ của các quốc gia về bảo vệ môi trường biển, trên cơ sở cân nhắc quyền và lợi ích chính đáng của các nước đang phát triển.

Đoàn Việt Nam cũng thông báo với Hội nghị ý định đệ trình quan điểm quốc gia lên ITLOS về vấn đề này.

Liên quan đến báo cáo của Uỷ ban Ranh giới ngoài thềm lục địa (CLCS), đoàn Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết cải thiện quá trình CLCS xem xét các đệ trình về ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý để thực thi đầy đủ và hiệu quả UNCLOS, đặc biệt trong bối cảnh cần thiết xác định “vùng ngoài quyền tài phán của quốc gia” để tiến tới thực hiện Hiệp định về Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học vùng ngoài quyền tài phán quốc gia (BBNJ) sau khi Hiệp định được thông qua và có hiệu lực trong thời gian tới.

Trong dịp này, các quốc gia thành viên UNCLOS đã bầu 7 vị trí thẩm phán ITLOS nhiệm kỳ 2023-2032.

7 ứng viên trúng cử vị trí thẩm phán ITLOS bao gồm: Frida María Armas Pfirter (Argentina), Konrad Jan Marciniak (Ba Lan), Tomas Heidar (Iceland), Zha Hyoung Rhee (Hàn Quốc), Thembile Elphus Joyini (Nam Phi), Horinouchi Hidehisa (Nhật Bản) và Osman Keh Kamara (Sierra Leone)./.

Loading

Views: 0

Gemeinsame Militärübungen von Asean

Die Militärchefs der Mitgliedsländer der Vereinigung Südostasiatischer Nationen (ASEAN) hatten sich darauf geeinigt, gemeinsame Militärübungen in der Nord-Natuna-See auf den Riau-Inseln abzuhalten, sagte der Befehlshaber der indonesischen Streitkräfte, Admiral Yudo Margono.

Dies werde die erste gemeinsame Militärübung innerhalb der ASEAN-Mitgliedstaaten sein, fügte er hinzu.

„In naher Zukunft werden wir gemeinsame Militärübungen in der Nord-Natuna-See abhalten, die ASEAN Solidity Exercise (ENatuna) oder Asec01N genannt werden“, wurde Margono von der Nachrichtenagentur Antara nach dem Treffen der ASEAN-Verteidigungschefs (ACDFM) in Nusa Dua, Bali zitiert.

Laut Margono haben elf Militärchefs der ASEAN-Staaten und Timor-Leste vereinbart, gemeinsame Militärübungen zu planen, die für September dieses Jahres geplant sind.

Der Schwerpunkt der Übungen liegt auf der maritimen Sicherheit und Rettung (SAR) sowie auf sozialen Diensten in der Natuna-Region. Die Übungen werden die ASEAN-Streitkräfte in Heer, Marine und Luftwaffe zusammenbringen.

Laut Margono spiegelt die Übung die ASEAN-Zentralität wider und wird kein Kampfeinsatztraining beinhalten.

Am 20. Treffen der ASEAN-Verteidigungschefs auf Bali nahmen alle Militärchefs der ASEAN-Länder mit Ausnahme von Myanmar teil./.

Der Schwerpunkt der Übungen liegt auf der maritimen Sicherheit und Rettung (SAR) sowie auf sozialen Diensten in der Natuna-Region. Die Übungen werden die ASEAN-Streitkräfte in Heer, Marine und Luftwaffe zusammenbringen.

Loading

Views: 0

Was ist Chinas Strategie für Zentralasien?

China empfängt die Staatspräsidenten der fünf zentralasiatischen Länder am Donnerstag. Zentralasien liegt auf der alten Handelsroute der Seidenstraße und soll Peking beim Kampf gegen Terrorismus helfen.

Der chinesische Staatspräsident Xi Jinping wird diese Woche Gastgeber des China-Zentralasien-Gipfels (C+C5) sein. An diesem Gipfel nehmen Präsidenten der fünf zentralasiatischen Staaten Kasachstan, Kirgisistan, Tadschikistan, Turkmenistan und Usbekistan teil.  Die zweitägige Konferenz wird in Xian im Nordwesten Chinas ausgetragen und beginnt am Donnerstag (18.05.2023), einen Tag vor dem Gipfeltreffen der wichtigsten Industrienationen der Welt, der G7-Gruppe, in der japanischen Stadt Hiroshima.

„Das Gipfeltreffen wird das erste persönliche Treffen auf höchster Ebene zwischen Staatspräsident Xi und den zentralasiatischen Staatspräsidenten sein, seit Peking vor mehr als drei Jahrzehnten diplomatische Beziehungen zu diesen Ländern aufgenommen hatte“, sagte Wang Wenbin, Sprecher des chinesischen Außenministeriums.

Es wird eine Grundsatzrede von Chinas Präsident Xi erwartet, wie China mit diesen Ländern die bestehende Kooperation ausbauen will. Regionale Zusammenarbeit und internationale Brennpunkte stehen ebenfalls auf der Agenda. Der chinesische Gastgeber hat zum Abschluss des Gipfeltreffens eine „wichtige politische Erklärung“ angekündigt.

„Regionale Einigkeit“

Peking wolle „regionale Einigkeit“ in Zentralasien herstellen, glaubt Niva Yau, Politologin am Global China Hub der US-amerikanischen Denkfabrik Atlantic Council in Washington. „Das Gipfeltreffen ist ein neues Format, das bereits seit einigen Jahren erprobt wird und den Status der chinesisch-zentralasiatischen Zusammenarbeit deutlich aufwertet“, sagte Yau gegenüber DW.

Als der zweitgrößte Energieverbraucher der Welt hat China Milliarden US-Dollar in Zentralasien investiert, um den Zugang zu den Erdgasreserven der Region zu sichern. Darüber hinaus sind Eisenbahnstrecken zwischen Europa und China, die durch Zentralasien führen, ein wichtiger Bestandteil des chinesischen geopolitischen Mammutprojekts, der „Belt and Road Initiative“ (BRI), die auch als Seidenstraßeninitiative bekannt ist.

„Aufgrund der Sanktionen gegen Russland kommt auf Zentralasien eine wichtigere Rolle bei vielen internationalen Angelegenheiten zu“, so Bradley Jardine, Forschungsleiter von Oxus Society for Central Asian Affairs, einem unabhängigen Forschungsinstitut mit Sitz in Washington. „Mit der Seidenstraßeninitiative wird Zentralasien als Transitregion in China gesehen, über die der Handel zwischen China und Europa fließen kann.“

Visafreiheit angestrebt 

China ist bestrebt, die wirtschaftlichen Beziehungen zu Zentralasien anzukurbeln, die in den letzten Jahren durch die Coronapandemie spürbar belastet wurden.

„Vor der Pandemie war China auf dem Weg, der größte Handelspartner aller zentralasiatischen Länder zu werden. Obwohl die Zahlen während der Pandemie dramatisch zurückgingen, erwarte ich, dass China im Laufe des nächsten Jahres wieder zum wichtigsten Handelspartner der Region aufsteigen wird“, sagt Raffaello Pantucci, Senior Fellow an der S. Rajaratnam School of International Studies (RSIS) in Singapur.

Nach Angaben des chinesischen Handelsministeriums haben chinesische Firmen insgesamt 15 Milliarden US-Dollar bis März 2023 in den zentralasiatischen Ländern investiert. Neue Impulse für enge Partnerschaft soll nun die geplante Visafreiheit geben. Kasachstan und Usbekistan hatten sich bereits mit China über visafreies Reisen verständigt. Kirgisistan verhandelt derzeit noch mit Peking.

Der Wegfall der Personenkontrolle an der Grenze werde zu mehr Handel führen, sagt Yau vom Atlantic Council. Die Länder der Region versuchten seit Jahren, noch mehr Produkte nach China zu exportieren. „Die Visafreiheit ist eine Karte, die China in Zentralasien ausspielen will. Und das geht nicht, ohne dass die Geschäftsleute frei reisen können“, sagte Yau. Sie fügte hinzu, dass China ähnliche Abkommen bereits mit Ländern in Südostasien geschlossen habe.

Loading

Views: 0

Nhật Bản và Hàn Quốc có nhiều lợi ích ở một Biển Đông tự do và cởi mở

Tin tức đưa về các cuộc họp của Nhóm G7 vào cuối tuần trước tập trung vào Ukraine, nhưng sự hiện diện toàn cầu ngày càng tăng của Trung Quốc là chủ đề lớn khác trong chương trình nghị sự của G7. Đặc biệt, đối với hai trong số các nền kinh tế lớn nhất Đông Á, tác động của sự trỗi dậy đó là cực kỳ quan trọng.

Trung Quốc muốn trở thành cường quốc quân sự và chính trị ở Đông Á. Không nơi nào thể hiện điều đó rõ ràng hơn trong tuyên bố “đường chín đoạn” của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, qua đó Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông. Trong số các quốc gia có lý do để lo ngại về yêu sách đó, có Nhật Bản và Hàn Quốc.

Hầu hết thế giới đều tập trung vào ý nghĩa tài nguyên và quân sự của các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo trong khu vực, cũng như sự phát triển của Bắc Kinh để trở thành lực lượng hải quân lớn nhất thế giới. Đối với Nhật Bản và Hàn Quốc, mối đe dọa đối với chuỗi cung ứng và nhập khẩu năng lượng của họ là một vấn đề thực tế và hiện hữu hơn nhiều.

Đặc biệt, Nhật Bản và Hàn Quốc lo ngại về các tuyên bố của Trung Quốc không chỉ viện dẫn quyền kiểm tra hàng hóa mà còn cả khả năng hạn chế lưu thông. Cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều không có bất kỳ lợi ích chính trị nào trong việc sở hữu quần đảo Trường Sa, hoặc trong việc Trung Quốc thay thế Hoa Kỳ trở thành cường quốc hải quân thống trị. Tuy nhiên, họ có lợi ích kinh tế mạnh mẽ trong việc di chuyển nhập khẩu năng lượng và sản xuất linh kiện mà không sợ bị hạn chế. Ngay cả trong tình huống không phải thời chiến, Trung Quốc vẫn cho rằng Biển Đông là một lãnh thổ được kiểm soát chứ không phải là vùng biển quốc tế mở dưới sự giám hộ của Trung Quốc.

Cho đến nay, Trung Quốc chưa có hành động hung hăng đối với hoạt động vận chuyển trên biển, nhưng hành động tiềm tàng rất có thể tạo ra mối đe dọa rõ ràng đối với nền kinh tế của Nhật Bản và Hàn Quốc. Trung Quốc thậm chí sẽ không phải trực tiếp dừng tàu – họ có thể theo dõi điện tử hàng hóa cụ thể, hoặc tiến hành kiểm tra hoặc chuyển hướng. Những hành động như vậy sẽ làm tăng nỗi sợ của sự không thể đoán trước và chi phí tăng đáng kể.

Đối với Nhật Bản và Hàn Quốc, vai trò của Hoa Kỳ trong thời kỳ hậu Thế chiến II ít gây xáo trộn hơn nhiều, không chỉ vì liên minh của họ mà quan trọng hơn vì Hoa Kỳ đóng vai trò là người bảo đảm thương mại tự do và được bảo vệ.

Rất ít người bên ngoài Nhật Bản hoặc Hàn Quốc tập trung vào hoặc hiểu tầm quan trọng của Biển Đông đối với nguồn cung cấp năng lượng khu vực và thậm chí toàn cầu. Đáng chú ý, vùng biển này được ước tính vận chuyển 30% lượng dầu thô của thế giới, cung cấp cho Trung Quốc và cung cấp huyết mạch sống còn cho các nền kinh tế phụ thuộc vào năng lượng của Hàn Quốc và Nhật Bản.

Đối với Nhật Bản, trận động đất Tohoku năm 2011 và sự cố hạt nhân sau đó tại Fukushima chỉ làm trầm trọng thêm sự phụ thuộc đó. Kết quả là việc cắt giảm chương trình hạt nhân của Nhật Bản đã khiến nước này phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng, với tới 98% dầu của Nhật Bản đến từ Trung Đông.

Theo nhiều cách, Hàn Quốc thậm chí còn phụ thuộc nhiều hơn vào nhập khẩu năng lượng so với Nhật Bản, khiến cho việc nhập khẩu dầu và khí đốt tự nhiên trở nên đặc biệt quan trọng.

Biển Đông không chỉ quan trọng về mặt năng lượng. Nó cũng đóng vai trò là lối đi chính cho chuỗi cung ứng toàn cầu của Nhật Bản và Hàn Quốc. Các ước tính cho thấy biển mang từ 20% đến 33% thương mại toàn cầu; đối với Nhật Bản, con số đó lên tới 40%.

Nhật Bản và Hàn Quốc đã dựa vào sự ổn định của Biển Đông như một đường dẫn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của họ, ngay cả khi tình hình chính trị toàn cầu đã thay đổi trong nhiều thập kỷ. Những thay đổi quan trọng, bao gồm Chiến tranh Việt Nam và Chiến tranh Lạnh kết thúc, đã không ngăn được thương mại trên biển ngày càng trở nên quan trọng hơn.

Khi Hoa Kỳ cân bằng các cam kết ở Châu Âu, Châu Á và các nơi khác, ba nền kinh tế mạnh nhất của Đông Á – bao gồm cả Trung Quốc – tất cả đều có lợi ích nhất định trong việc đảm bảo sự ổn định của thương mại, chuỗi cung ứng và dòng năng lượng.

Đối với Hàn Quốc và Nhật Bản, thương mại vẫn ổn định ở Biển Đông cho đến nay. Nhưng với việc Trung Quốc ngày càng tìm cách khẳng định bản thân và thay đổi hiện trạng theo hướng có lợi cho mình, điều cần thiết là cả hai nước phải tự hỏi: Họ sẵn sàng và có thể nhượng bộ Trung Quốc bao nhiêu trong khu vực trước khi nó trở nên không thể giải quyết được? Và liệu họ đã chuẩn bị sẵn các giải pháp thay thế cho phép họ cạnh tranh về mặt kinh tế chưa?

Biết được câu trả lời cho những câu hỏi đó và chuẩn bị cho một tương lai mà Biển Đông có nguy cơ bị Trung Quốc thống trị hơn là điều quan trọng đối với cả ba nước – ngay cả khi hiện tại vẫn giữ nguyên hiện trạng./.

(Theo CNBC)

Loading

Views: 0

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc rút tàu khảo sát khỏi vùng đặc quyền kinh tế

Bộ Ngoại giao yêu cầu Trung Quốc rút tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 và các tàu hải cảnh, tàu cá ra khỏi vùng biển Việt Nam.

„Bộ Ngoại giao và các cơ quan chức năng Việt Nam đã giao thiệp nhiều lần với phía Trung Quốc, triển khai các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế, luật pháp Việt Nam để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam“, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết hôm nay, khi đề cập thông tin tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 cùng các tàu hải cảnh, tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

„Việt Nam yêu cầu các cơ quan liên quan phía Trung Quốc tuân thủ nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, chấm dứt ngay hoạt động xâm phạm, rút tàu Hướng Dương Hồng 10 và các tàu hải cảnh, tàu cá ra khỏi vùng biển Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, thực hiện nghiêm túc Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)“, bà Hằng nói thêm.

Theo SCMP, tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 được hộ tống bởi hai tàu hải cảnh và nhiều tàu cá Trung Quốc đầu tháng này hướng đến khu vực bãi Tư Chính nằm trong EEZ của Việt Nam.

Lần gần nhất Trung Quốc đưa tàu hướng vào khu vực bãi Tư Chính là vào tháng 7/2019. Tàu nghiên cứu Hải dương Địa chất 8 hoạt động trong vùng biển này cùng ít nhất 4 tàu hải cảnh Trung Quốc trong hơn hai tháng.

Bộ Ngoại giao Việt Nam khi đó đã lên án Trung Quốc xâm phạm EEZ và thềm lục địa, vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) mà Việt Nam, Trung Quốc đều là thành viên. Việt Nam nhiều lần yêu cầu Trung Quốc rút nhóm tàu này và không có hành vi đe dọa an ninh, hòa bình ở khu vực. Nhóm tàu Trung Quốc rút đi vào tháng 10/2019.

Theo UNCLOS, bất kỳ hoạt động nghiên cứu, khảo sát nào trong EEZ đều phải được quốc gia ven biển cho phép.

Loading

Views: 0

Đảo Sinh Tồn Đông – “căn cứ xanh” của Việt Nam ở Trường Sa

Đảo Sinh Tồn Đông là đảo nổi, nằm giữa một rạn san hô vòng thuộc cung sinh tồn của Quần đảo Trường Sa hiện Việt Nam quản lý. Là một phần của xã Sinh Tồn thuộc đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam.

Điều kiện tự nhiên của đảo Sinh Tồn Đông

Vị trí đảo Sinh Tồn Đông cách bán đảo Cam Ranh khoảng 618 km về phía Đông Nam, cách đảo Trường Sa lớn khoảng 322 km/h Đông Bắc, cách đá Tiên Nữ khoảng 115km về phía Bắc. Trong cụm Sinh Tồn, đảo Sinh Tồn Đông cách đảo Sinh Tồn khoảng 26 km về phía Đông. Đây là hai đảo nổi duy nhất của cụm sinh tồn, bao phủ toàn bộ các đảo chìm của cụm trong mặt kính lãnh hải 12 hải lý. Ngoài ra, hòn đảo này chỉ cách đá Ba Đầu thực thể lớn nhất trong cụm Sinh Tồn khoảng 11 km về phía Tây Nam, cách đá Tư Nghĩa (Huy Gơ) khoảng 8km. Đây là một trong bảy thực thể thuộc quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng vào bồi đắp trái phép. Với vị trí đó, đảo Sinh Tồn Đông được ví như tuyến đầu nóng bỏng tại cụm Sinh Tồn, tình hình càng căng thẳng hơn khi những năm gần đây, Trung Quốc thường xuyên kéo hàng trăm tàu dân quân biển ngụy trang dưới dạng tàu cá tới khu vực đá Ba Đầu đe dọa, quấy phá hoạt động khai thác hải sản của ngư dân Việt Nam, và cản trở các tàu thực thi pháp luật của Việt Nam.

Ban đầu thì đảo Sinh Tồn Đông chỉ có diện tích khoảng 0,6 ha, với chiều dài 160m, chiều rộng khoảng 60m. Đảo Sinh Tồn Đông nằm trên một rạn san hô ngầm nước có diện tích khoảng 0,6 km² (khoảng 60 hecta) với chiều dài khoảng 1.200m, chiều rộng khoảng 580m, khi thủy triều xuống thấp, rạn san hô nhô cao hơn mặt nước từ 0.5 đến 0,6 m. Nhìn chung, rạn san hô này khá nhỏ không thể xây dựng sân bay quân sự, nhưng bề mặt rạn khá bằng phẳng, mép san hô sâu cho nên rất thuận lợi nếu Việt Nam xây dựng một âu tàu và sử dụng các san hô nạo vét được để mở rộng diện tích hòn đảo giống như đảo Sinh Tồn và các đảo khác ở quần đảo Trường Sa nhằm tăng cường khả năng phòng thủ. Có một âu tàu ở đây sẽ giúp cho ngư dân có thể tránh trú gió bão và thực hiện các dịch vụ hậu cần nghề cá cũng như giúp ngư dân vững tin vươn khơi bám biển, góp phần giữ vững chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Quá trình đóng giữ và xây dựng đảo Sinh Tồn Đông

Sau khi Việt Nam giải phóng miền Nam và giải phóng quần đảo Trường Sa, các nước trong khu vực đã tăng cường hoạt động xâm phạm các đảo mà Việt Nam đang đóng giữ. Cụ thể, Philippines đã đưa quân chiếm đóng bài An Nhơn, Malaysia cũng đưa nhiều tàu quân sự đến khu vực Nam quần đảo Trường Sa. Hải quân Việt Nam đã đưa quân đổ bộ, đóng giữ các đảo nổi này, trong đó có đá Grierson (tên cũ của đảo Sinh Tồn Đông).Việt Nam lần đầu tiên Trung đoàn 83 công binh cho xây dựng nhà cao chân trên đảo từ các vật tư có sẵn phù hợp với điều kiện tự nhiên của đảo. Với khả năng của Việt Nam và tình hình khẩn trương lúc đó đây được xem là kinh nghiệm rất quý báu để sau này làm nhà cao chân trên các đảo chìm năm 1987 và năm 1988, sau một thời gian xây dựng hệ thống cộng sự trận địa căn bản tại đảo Sinh Tồn Đông đã được hoàn thành các vị trí chiến đấu đã được triển khai tạo điều kiện đảm bảo để hoàn thành nhiệm vụ giữ gìn chủ quyền biển đảo. Tuy nhiên, đời sống các chiến sĩ vẫn còn rất khó khăn. 17 năm sau khi đóng giữ đảo chúng ta có thể thấy rõ hệ thống công sự xung quanh hòn đảo các công trình trên đảo vẫn còn khá đơn sơ. Khoảng 10 năm gần đây, Việt Nam nhiều công trình trên đảo như là nhà ở, nơi làm việc, các công trình phục vụ sinh hoạt, phục vụ chiến đấu đã được Việt Nam xây dựng khang trang hơn… Nhìn chung, các công trình này đều tập trung ở khu vực phía Đông quần đảo. Ngoài ra, trên đảo còn có một công trình tôn giáo nổi bật mới được xây dựng là chùa Sinh Tồn Đông nằm ở phía Tây của hòn đảo. Chùa Sinh Tồn Đông góp phần quan trọng vào đời sống văn hóa tinh thần và tâm linh của quân nhân trên đảo và ngư dân Việt Nam. Sự hiện diện của chùa Sinh Tồn Đông được coi cột mốc chủ quyền tâm linh của Việt Nam trên vùng biển quần đảo Trường Sa.

Khu vực phía Bắc đảo Sinh Tồn Đông, một sân đỗ trực thăng hiện đại đã được xây dựng vào năm 2016. Việt Nam cũng đã xây dựng bốn trục đường chính tại đảo Sinh Tồn Đông trong đó ba con đường song song với nhau nối từ phía Tây có một con đường chạy từ phía Đông Bắc gần với sân đỗ trực thăng xuống khu vực phía Nam của đảo. Hệ thống năng lượng điện cũng được lắp đặt tại đây thay thế cho các nhà máy điện cũ chạy dầu, pin năng lượng mặt trời được lắp đặt trên mái nhà, còn có nhiều tua pin điện gió hiện đại cao hàng chục mét xung quanh đảo. Đảo cũng được trang bị hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt phục vụ cho sinh hoạt.

Đảo Sinh Tồn Đông Vọng Gác Tiền Tiêu của Việt Nam

Do nằm gần các thực thể bị Trung Quốc chiếm đóng cũng như có ý định chiếm đóng trái phép, nên tại đảo Sinh Tồn Đông quân đội Việt Nam luôn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao. Từ Đảo Sinh Tồn Đông, hải quân Việt Nam ngày đêm hướng về những thực thể như đã Tư Nghĩa, Đá Ba Đầu với tinh thần cảnh giác cao độ để kịp thời phát hiện và ngăn chặn những hành vi xâm lược chủ quyền một cách kiên quyết, hiệu quả.

Bên cạnh nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, các quân nhân Việt Nam trên đảo Sinh Tồn Đông thường xuyên chủ động liên hệ, hướng dẫn tàu cá cùng ngư dân về nơi trêu trú mỗi khi có gió bão, áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào khu vực quần đảo Trường Sa, đồng thời hỗ trợ ngư dân về vật chất, khám chữa bệnh…

Ngày nay, nếu nhìn từ xa thì đảo Sinh Tồn Đông hiện lên như một thị trấn nhỏ với những ngôi nhà mái lợp đó tươi và ngập tràn một màu xanh mướt, với các loại cây như là Bàng Vuông, Phong Ba, Mù U… Sinh Tồn Đông được biết đến là một trong hai hòn đảo đẹp nhất ở cụm Sinh Tồn.

BDN

Loading

Views: 0

TQ kiên trì chiến lược “tằm ăn dâu”

Năm 2022 khép lại với tình hình Biển Đông không mấy sáng sủa. Có thể nói, những dự báo hồi đầu năm 2022 của các chuyên gia về hành động bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông chính xác gần như tuyệt đối.

Xin nêu một dẫn chứng, đầu năm 2022, khi nói về triển vọng cho COC (Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông), tiến sĩ Swee Lean Collin Koh – nhà nghiên cứu được cho là “thân Trung Quốc” tại Trường Nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam thuộc Đại học công nghệ Nanyang, Singapore – nói lấp lửng: Chưa hẳn có nhiều bên “nhiệt tình” với cách Trung Quốc thúc đẩy COC.

Ông Koh nói: “Nỗ lực đàm phán là cần thiết, nhưng một vấn đề cần đạt được là tiến đến một COC khiến tất cả các bên đều hài lòng”. Trước khi bùng nổ đại dịch Covid-19, đã có một số vấn đề cố hữu trong dự thảo văn bản đàm phán COC được đề nghị phải loại bỏ. Thêm vào đó một số bên ở Đông Nam Á nhận thấy họ đang chịu áp lực lớn hơn từ Trung Quốc, do sự phụ thuộc kinh tế, điều này càng trở nên quan trọng đối với sự phục hồi và tăng trưởng sau đại dịch.

Vì lẽ đó, COC không thể được ký kết trong năm 2022. Điều này giúp Trung Quốc tìm cách vận dụng để hạn chế hoạt động của các nước khác ở Biển Đông.

Sau một năm “tiên đoán” của nhà ngoại giao tay sai Bắc Kinh đúng là như thế (!).

Cùng với sự bế tắc của COC là hàng loạt vấn đề gây căng thẳng mà kẻ gây ra không ai khác chính là Bắc Kinh. Suốt năm 2022, Trung Quốc tiếp tục khẳng định các tuyên bố chủ quyền phi lý đối với Biển Đông. Hành động của họ mang tính cưỡng ép, hăm dọa, có phần liều lĩnh.

Trung Quốc từ chối công nhận chủ quyền của Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia và Philippines đối với một phần hoặc cả vùng biển. Nước này cũng ngang ngược bác bỏ phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài quốc tế Liên hiệp quốc tại Lahaye.

Tháng 3/2022, Trung Quốc khẳng định họ có quyền phát triển các đảo ở Biển Đông như ý muốn. Họ đã từng bước trang bị các hệ thống phi đạn chống hạm và chống máy bay, thiết bị gây nhiễu và laser, cũng như máy bay chiến đấu trên các đảo này.

Tiếp đó vào tháng 5, nước này vô cớ cấm tàu thuyền và máy bay tiến vào vùng Biển Đông đang tranh chấp; tiến hành các cuộc tập trận quân sự đúng vào lúc Tổng thống Mỹ Joe Biden thăm Hàn Quốc và Nhật Bản.

Các nước Mỹ, Úc và Canada cũng thông báo những vụ việc gây căng thẳng của quân đội Trung Quốc: tàu chiến và máy bay ngăn cản, đeo bám hoặc quấy nhiễu tàu và máy bay của các nước khác đang thực hiện nhiệm vụ hợp pháp trong hải phận hoặc không phận quốc tế.

Năm qua, trong khi cả thế giới đang tập trung theo dõi cuộc chiến Nga-Ukraina, Trung Quốc tuyên bố xanh rờn, rằng, họ sẽ không lợi dụng, “bắt chước”, làm những điều giống như Nga đã làm ở Ukraine. Thế nhưng, những hành động của Bắc Kinh ở Biển Đông thì chẳng khác gì sự chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh.

Cần nhắc lại rằng, vào tháng 9/2021, Luật An toàn Giao thông Hàng hải sửa đổi của Trung Quốc có hiệu lực. Điều 54 của Luật này quy định: “Các phương tiện tàu ngầm, tàu hạt nhân, tàu chở vật liệu phóng xạ và tàu chở dầu, hóa chất, khí đốt hóa lỏng và các chất độc hại khác phải báo cáo thông tin chi tiết khi đến lãnh hải Trung Quốc”. Mà lãnh hải Trung Quốc lại được cái “lưỡi bò” ôm tới 90% diện tích Biển Đông. Thật đúng là luật rừng. Nếu như các nước không phản đối hành động này, thì đó là cơ hội để Bắc Kinh hợp pháp hóa tuyên bố chủ quyền phi pháp ở Biển Đông.

Tóm lại, năm 2022 các hành động bồi đắp đảo, tập trận, cấm đánh bắt cá… của Trung Quốc ở Biển Đông không hề giảm so với các năm trước. Điều này cho thấy tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông là bất biến.

Nhìn lại những hành động đó của Trung Quốc có thể thấy một điều rằng, dự báo trong năm 2023 chắc chắn những hành động ngông cuồng của Trung Quốc không hề suy giảm.

Theo ông Gregory Poling – nhà nghiên cứu cao cấp và giám đốc Chương trình Minh bạch Hàng hải của Trung tâm Nghiên cứu Chiến Lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington – những hành động mang tính “cưỡng ép” của chính quyền Bắc Kinh đưa tới một sự dịch chuyển chính sách ở Philippines về Biển Đông.

Đây là sự dịch chuyển tích cực của thái độ phản kháng. Ông G. Poling nói: “Dưới chính quyền mới của Marcos Jr., Philippines đang nhanh chóng hiện đại hóa quan hệ đồng minh với Mỹ và kháng cự một cách công khai hơn những hành động cưỡng ép của Trung Quốc ở Biển Đông”.

Đối với Việt Nam, một trong những nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, trong những năm qua với chính sách “ngoại giao cây tre”, đang thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ với các quốc gia khác ngoài khu vực tranh chấp. Đó là Mỹ, các nước Liên minh Châu Âu, Nhật Bản và Ấn Độ. Các nước này đều đã lên tiếng ủng hộ một vùng Biển Đông tự do và rộng mở, bày tỏ lo ngại về những hành động ngày càng liều lĩnh của Trung Quốc.

Còn các quốc gia Đông Nam Á đều mong muốn rằng, vấn đề Biển Đông không chỉ còn là riêng của các nước Đông Nam Á và Trung Quốc, mà là vấn đề của thế giới, vì nó đóng một vai trò rất quan trọng trên thế giới về kinh tế, an ninh-quốc phòng.

Vẫn là một Trung Quốc khổng lồ luôn cao giọng nói những lời tốt đẹp, dạy dỗ láng giềng hãy đoàn kết, xây dựng biên giới, xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, hữu nghị. Nhưng họ vẫn kiên trì chính sách bành trướng, cụ thể là chiến lược “tằm ăn dâu” trên Biển Đông.

Nhìn lại năm 2022 cũng là nhìn lại cả một thập niên, cả một thế kỷ để thấy rằng trước sau Trung Quốc không bao giờ thay đổi dã tâm thôn tính Biển Đông, coi đó là ao nhà của mình để dễ bề làm bá chủ thế giới.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ-Nhật Bản tái khẳng định mối quan tâm chung mạnh mẽ về Biển Đông

Sau cuộc hội đàm cấp cao giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thủ tướng Nhật Bản Suga ngày 16/4, hai bên đưa ra tuyên bố chung khẳng định, quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật đang vững chắc và sẵn sàng hơn bao giờ hết để giải quyết các thách thức toàn cầu và khu vực.

Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide khẳng định cam kết mạnh mẽ về vấn đề Biển Đông. (Nguồn: AP)

Trong tuyên bố chung, Mỹ và Nhật Bản thống nhất thúc đẩy tầm nhìn chung về một Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở dựa trên cam kết đối với các giá trị phổ quát và các nguyên tắc chung.

Đồng thời, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, cam kết giải quyết hòa bình các tranh chấp và phản đối hành vi cưỡng bức, thúc đẩy các chuẩn mực chung trong lĩnh vực hàng hải, bao gồm quyền tự do hàng hải và hàng không theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).

Đáng chú ý, tuyên bố chung phản đối bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng ở Biển Hoa Đông, phản đối các tuyên bố và hoạt động trái phép của Trung Quốc ở Biển Đông, tái khẳng định mối quan tâm chung mạnh mẽ Nhật-Mỹ đối với một Biển Đông tự do và rộng mở dựa trên luật pháp quốc tế.

Về vấn đề Triều Tiên, tuyên bố chung tái khẳng định cam kết phi hạt nhân hóa hoàn toàn bán đảo Triều Tiên, kêu gọi Bình Nhưỡng tuân thủ các nghĩa vụ và cộng đồng quốc tế thực hiện đầy đủ biện pháp theo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Hai bên dự định tăng cường khả năng răn đe để duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực, đồng thời sẽ làm việc với các bên liên quan để giải quyết những nguy cơ đến từ chương trình hạt nhân/tên lửa của Triều Tiên.

Mỹ và Nhật Bản sẽ phối hợp chặt chẽ với các đồng minh và đối tác, trong đó có Australia và Ấn Độ của nhóm Bộ Tứ, để xây dựng khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do, rộng mở, dễ tiếp cận, đa dạng và phát triển.

Hai quốc gia đồng minh truyền thống cũng ủng hộ sự thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, cũng như Triển vọng ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Hai bên cũng nhất trí thúc đẩy hợp tác ba bên với Hàn Quốc là điều cần thiết cho an ninh và thịnh vượng chung của khu vực.

Về quan hệ song phương, Washington và Tokyo thống nhất khởi động quan hệ Đối tác mới về Năng lực cạnh tranh và Khả năng phục hồi (CoRe), khẳng định nền kinh tế kỹ thuật số và các công nghệ mới nổi có tiềm năng thay đổi xã hội và mang lại những cơ hội kinh tế to lớn.

Đồng thời, cam kết duy trì và tăng cường hơn nữa mối quan hệ thương mại song phương bền chặt, thúc đẩy các lợi ích chung, bao gồm hợp tác thương mại kỹ thuật số, phát triển các chính sách thương mại hỗ trợ các mục tiêu chống biến đổi khí hậu, cải cách Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và thúc đẩy tăng trưởng bao trùm ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Hai nước cũng cam kết thực hiện hành động về khí hậu vào năm 2030, với nỗ lực hạn chế mức tăng nhiệt độ toàn cầu lên 1,5 độ C và các mục tiêu không phát thải khí nhà kính vào năm 2050 và khởi động quan hệ Đối tác Khí hậu Mỹ – Nhật.

Tổng thống Mỹ Biden ủng hộ những nỗ lực của Nhật Bản để tổ chức Olympic và Paralympic an toàn và đảm bảo vào mùa Hè này.

TG&VN

Loading

Views: 0

Tài liệu mới tiết lộ kế hoạch của Mỹ đối phó TQ nếu xảy ra chiến tranh

Bản tài liệu The Longer Telegram đem lại một bằng chứng quan trọng về những lựa chọn mà Lầu Năm Góc và Nhà Trắng đang xem xét như một chiến lược mới nhằm đối phó với sự nổi lên của Trung Quốc.

Trong một bài viết trên Nikkei Asia ngày 7/3, Đô Đốc James Stavridis, cựu Tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh của NATO, cho biết, tài liệu có tên The Longer Telegram do Hội đồng Atlantic biên soạn đã tiết lộ những bằng chứng quan trọng về kế hoạch triển khai các lực lượng của Mỹ ở khu vực Đông Á nhằm đối phó Trung Quốc.

Dù việc chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ thực hiện ở mức độ nào lập trường cứng rắn của tài liệu nêu trên vẫn còn chưa rõ, nhưng các yếu tố trong bản kế hoạch này đang được cân nhắc một cách nghiêm túc.

Theo Đô đốc James Stavridis, đội ngũ mới trong Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ với các chuyên gia hàng đầu về châu Á như Kurt Campbell, chắc chắn sẽ xem xét một loạt lựa chọn trong bản tài liệu về chiến lược mới này.

Các “lằn ranh đỏ” với Trung Quốc

Bản tài liệu nêu ra những “lằn ranh đỏ” mà [nếu Trung Mỹ vượt qua] Mỹ có thể sẽ phản ứng bằng quân sự như:

– Bất cứ cuộc tấn công hạt nhân, hóa học hay vũ khí sinh học nào của Trung Quốc hay Triều Tiên nhằm vào Mỹ hay các đồng minh của Mỹ.

– Bất cứ cuộc tấn công nào của quân đội Trung Quốc nhằm vào Đài Loan hoặc các đảo xung quanh, trong đó bao gồm cả việc phong tỏa kinh tế hoặc tấn công mạng nhằm vào Đài Loan.

– Bất cứ cuộc tấn công nào của Trung Quốc nhằm vào các lực lượng Nhật Bản bảo vệ quần đảo Senkaku mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền và gọi là Điếu Ngư, và các vùng đặc quyền kinh tế xung quanh quần đảo này ở Biển Hoa Đông.

– Các hành động thù địch của Trung Quốc ở Biển Đông nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền phi lý trong khu vực, cùng việc quân sự hóa các đảo ở Biển Đông, sử dụng vũ lực với các nước trong khu vực, hay ngăn cản các chiến dịch tự do hàng hải của Mỹ và đồng minh.

– Khả năng Trung Quốc tấn công vào lãnh thổ hoặc các tài sản quân sự của các đồng minh hiệp ước của Mỹ.

Các trụ sở của Mỹ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương cũng đang đặt ra cách tiếp cận mới trong việc bố trí và triển khai các lực lượng Mỹ. Những lựa chọn này sẽ được gửi về Lâu Năm Góc như một phần trong báo cáo tổng thể.

Các lựa chọn triển khai lực lượng Mỹ trong khu vực

Một trong số các lựa chọn là tăng cường vai trò của Lực lượng thủy quân lục chiến – lực lượng vốn tập trung vào chiến thuật trên bộ từ thời Thế chiến thứ 2 và điển hình là trong các “cuộc chiến không hồi kết“ ở Trung Đông.

Thay vào đó, trong bối cảnh chiến lược đối đầu với Trung Quốc hiện nay, Lực lượng thủy quân lực chiến của Mỹ sẽ chuyển hướng sang các chiến thuật trên biển để có thể di chuyển vào các khu vực ở Biển Đông, cũng như các chuỗi đảo mà Trung Quốc sử dụng để phòng thủ.

Sau khi vào được các khu vực này, Lực lượng thủy quân lục chiến sẽ sử dụng các máy bay không người lái có vũ trang, khả năng tấn công mạng, và lực lượng đột kích, cùng tên lửa phòng không và cả các vũ khí tấn công diệt hạm để tấn công lực lượng hải quân Trung Quốc.

Các đảo nhân tạo mà Trung Quốc tiến hành các hoạt động quân sự hóa trái phép ở Biển Đông cũng có thể là mục tiêu. Trong một số trường hợp, đây sẽ là kiểu tác chiến du kích từ ngoài biển.

Ngoài chiến thuật mới của Lực lượng Thủy quân lục chiến, Hải quân Mỹ cũng sẽ tiến hành các chuyến tuần tra mạnh mẽ hơn ở các vùng biển ngoài khơi Trung Quốc. Mỹ sẽ sử dụng một chiến lược khôn ngoan: dần dần lôi kéo thêm tàu chiến đồng minh vào các cuộc tuần tra tự do hàng hải này. Làm như vậy, Mỹ có thể quốc tế hóa các nỗ lực ngăn cản Trung Quốc tuyên bố chủ quyền phi lý đối với Biển Đông.

Lầu Năm Góc hy vọng có thể lôi kéo Anh, Pháp và các đồng minh NATO khác vào các chiến dịch tự do hàng hải [ở Biển Đông]. Trong một cuộc họp cấp bộ trưởng quốc phòng NATO ở Brussels gần đây, các nước thành viên đã thảo luận về vai trò của liên minh quân sự này để đối phó với khả năng quân sự ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc.

Về lâu dài, Mỹ có thể sẽ thuyết phục Australia, New Zealand, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, và cả các nước Đông Nam Á tham gia vào các chiến dịch tự do hàng hải như vậy. Tài liệu The Longer Telegram cho rằng, Mỹ sẽ tạo ra một liên minh hàng hải toàn cầu để đối phó với các lực lượng của Quân đội Trung Quốc.

Ngoài các hoạt động trên biển, Không quân Mỹ cũng sẽ tăng cường điều động thêm máy bay ném bom tấn công mặt đất tầm xa cùng các tiêm kích tới các căn cứ nằm rải rác ở nhiều nơi tại châu Á, trong đó có cả các khu vực xa xôi trên các đảo nhỏ. Các chiến dịch sẽ được hỗ trợ từ các căn cứ lớn hơn ở Guam, Nhật Bản, Australia và Hàn Quốc.

Lực lượng Lục quân Mỹ sẽ tăng cường cả khả năng chiến đấu cũng như sự linh động trong việc triển khai các đơn vị hỗ trợ. Theo đó, Mỹ có thể sẽ tăng cường năng lực của các căn cứ tại Hàn Quốc và Nhật Bản theo hướng dễ dàng triển khai tới các đảo nhỏ hơn trong khắp khu vực.

Lực lượng Không gian của Mỹ sẽ chuyển trọng tâm sang tình báo và trinh sát trong khu vực, đồng thời thúc đẩy các lựa chọn tấn công mạng từ Bộ Tư lệnh Không gian mạng của Mỹ, với sự phối hợp của Cơ quan an ninh quốc gia.

Về tổng thể, có vẻ như rõ ràng là quân đội Mỹ sẽ đẩy mạnh sự hiện diện và khả năng chiến đấu ở Tây Thái Bình Dương và sẵn sàng cho một cuộc xung đột với Trung Quốc trong những thập kỷ tới.

Bản tài liệu The Longer Telegram đem lại một bằng chứng quan trọng về những lựa chọn mà Lầu Năm Góc và Nhà Trắng đang xem xét như một chiến lược mới nhằm đối phó với sự nổi lên của Trung Quốc.

Đô Đốc James Stavridis hy vọng rằng với chiến lược ngoại giao chuyên nghiệp và sự phụ thuộc lẫn nhau của hai nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc, khả năng bùng nổ chiến tranh sẽ được ngăn chặn. Dù vậy, các nhà hoạch định chính sách quân đội Mỹ chắc chắn sẽ phải cân nhắc kỹ lưỡng mọi khả năng ngay từ thời điểm này.

BDN

Loading

Views: 0

Phản đối hành động vi phạm chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Mọi hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không được sự cho phép của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo này.

Cụ thể, trước thông tin Trung Quốc diễn tập trái phép trên đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam hồi đầu tháng 3/2021, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế:

Quan điểm nhất quán của Việt Nam là mọi hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không được sự cho phép của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam với 2 quần đảo này, gây phức tạp tình hình, không có lợi cho quan hệ hòa bình, ổn định, trật tự, an ninh, an toàn, tự do hàng không, hàng hải trên Biển Đông.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng. (Ảnh: Bảo Chi)

Hoạt động của các quốc gia ở Biển Đông cần phải đóng góp vào mục tiêu chung này, bà Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh.

TG&VN

Loading

Views: 0

Ông Tập Cận Bình cảnh báo quân đội ‘sẵn sàng ứng phó‘ nếu tình hình bất ổn

Hôm 9/3, Chủ tịch Tập Cận Bình cho biết, quân đội Trung Quốc phải “sẵn sàng ứng phó” trước các tình huống phức tạp, thách thức an ninh mang lại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

“Tình hình an ninh hiện nay đối với đất nước chúng ta phần lớn là không ổn định và không chắc chắn. Toàn quân phải phối hợp chặt chẽ, nâng cao năng lực và sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng ứng phó với nhiều tình huống phức tạp, khó khăn bất cứ lúc nào. Đồng thời, kiên quyết bảo vệ chủ quyền, an ninh và lợi ích phát triển quốc gia, hỗ trợ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng toàn diện đất nước”, Chủ tịch Tập Cận Bình cho biết.

Bên cạnh đó, lãnh đạo Trung Quốc cũng nhấn mạnh sự cần thiết nâng cao “khả năng răn đe chiến lược cấp cao và hệ thống tác chiến chung”, và đổi mới công nghệ nhiều hơn trong quân đội.

Phát biểu của Chủ tịch Tập Cận Bình được đưa ra sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Ngụy Phượng Hòa kêu gọi quân đội tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu. Theo đó, hôm 6/3, người đứng đầu Bộ Quốc phòng Trung Quốc nhấn mạnh, an ninh quốc gia của Trung Quốc đã “bước vào giai đoạn rủi ro cao”.

“Chúng ta đang phải đối mặt với những nhiệm vụ cấp bách trong bảo vệ tổ quốc… Trung Quốc đang ở một giai đoạn quan trọng, đang phải đối mặt với những cơ hội cũng như những thách thức chưa từng có”, Bộ trưởng Quốc phòng Ngụy Phượng Hòa nói và cảnh báo các nỗ lực ngăn chặn, kiềm chế của Mỹ với Trung Quốc sẽ „kéo dài“.

Trung Quốc hiện đang phải đối mặt với những thách thức trên nhiều mặt trận, từ tranh chấp biên giới Himalaya với Ấn Độ đến căng thẳng âm ỉ với Nhật Bản về biển Hoa Đông và sự cạnh tranh với Mỹ trên nhiều lĩnh vực, trong đó có cả công nghệ.

Rạn nứt sâu sắc với Mỹ được cho là đứng đầu danh sách các rủi ro địa chính trị, đặc biệt là căng thẳng về Đài Loan và Biển Đông. Một số người lo lắng nguy cơ xung đột quân sự khi cả hai cường quốc tăng cường các hoạt động không quân và hải quân trong khu vực. Bắc Kinh mới đây đã công bố cảnh quân đội nước này tiến hành các cuộc tập trận đổ bộ ở Biển Đông, vài ngày sau tàu do thám của Mỹ hiện diện trong khu vực.

Hôm 7/3, Ngoại trưởng Vương Nghị cảnh báo, Washington không vượt qua “lằn ranh đỏ” đối với vấn đề Đài Loan, nhấn mạnh “không có chỗ cho sự thỏa hiệp hoặc nhượng bộ trong vấn đề Đài Loan”.

Trong những năm gần đây, quân đội Trung Quốc đã tiến hành cải tổ sâu rộng, và đang thực hiện quá trình hiện đại hóa mạnh mẽ. Theo Chủ tịch Tập Cận Bình, quá trình hiện đại hóa quân đội nước này sẽ được hoàn thành vào năm 2035, với mục tiêu có một “quân đội đẳng cấp thế giới” vào năm 2050.

Trung Quốc công bố ngân sách quốc phòng lên mức 6,8% GDP trong năm 2021, song cho biết nước này sẽ tăng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ lên hơn 7% trong 5 năm tới. Theo dự thảo kế hoạch 5 năm, các lĩnh vực được ưu tiên gồm chất bán dẫn, lượng tử và điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo ứng dụng cho cả mục đích quân sự và thương mại.

BDN

Loading

Views: 0