Schlagwort-Archiv:Biển Đông

Cảnh sát biển VN có quyền gì?

Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam thành lập ngày 28/8/1998 theo Quyết định số 1069/1998/QĐ-BQP của Bộ Quốc phòng, với chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động được quy định tại Luật Cảnh sát biển Việt Nam. 

Theo đó, Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng chuyên trách của Nhà nước, làm nòng cốt thực thi pháp luật và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển.

Chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam: Tham mưu cho Bộ Quốc phòng ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất với Đảng, Nhà nước về chính sách, pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển; bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển Việt Nam; quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế theo thẩm quyền.

Nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được quy định tại Điều 8 Luật Cảnh sát biển Việt Nam 2018, gồm: (1). Thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình để đề xuất chủ trương, giải pháp, phương án bảo vệ an ninh quốc gia và thực thi pháp luật trên biển; nghiên cứu, phân tích, dự báo, tham mưu với cấp có thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật về bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, an ninh quốc gia trong vùng biển Việt Nam, bảo đảm trật tự, an toàn và đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển; (2). Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ tài nguyên, môi trường biển; bảo vệ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên biển; (3). Đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và tham gia khắc phục sự cố môi trường biển; (4). Tham gia xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh và xử lý các tình huống quốc phòng, an ninh trên biển; (5). Thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; (6). Tiếp nhận, sử dụng nhân lực, tàu thuyền và phương tiện, thiết bị kỹ thuật dân sự được huy động tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển Việt Nam; (7). Thực hiện hợp tác quốc tế trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và thỏa thuận quốc tế có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam.

Về quyền hạn: Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát người, tàu thuyền, hàng hóa, hành lý trong vùng biển Việt Nam theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Tiến hành một số hoạt động điều tra hình sự theo quy định của pháp luật về tổ chức cơ quan điều tra hình sự, pháp luật về tố tụng hình sự. Truy đuổi tàu thuyền vi phạm pháp luật trên biển. Huy động người, tàu thuyền và phương tiện, thiết bị kỹ thuật dân sự của cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam trong trường hợp khẩn cấp. Đề nghị tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam hỗ trợ, giúp đỡ trong trường hợp khẩn cấp. Bắt giữ tàu biển theo quy định của pháp luật.

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam đã, đang góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

BDN

Loading

Views: 0

Biển Đông, cũ và mới, ủng hộ và lo ngại

Xuất hiện nhân tố mới, người cũ động thái mới. Biển Đông sẽ ra sao? Dư luận bị thu hút, ủng hộ, hy vọng đan xen với lo ngại.
Đầu năm 2021, Bộ Quốc phòng Đức xác nhận kế hoạch đưa tàu chiến đến khu vực, đi qua Biển Đông vào tháng 8.
Việc Đức xác nhận kế hoạch đưa tàu chiến hiện diện ở Biển Đông được dự liệu trong hướng dẫn về khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, công bố tháng 9/2020.

Đức – nhân tố mới

Đầu năm 2021, Bộ Quốc phòng Đức xác nhận kế hoạch đưa tàu chiến đến khu vực, đi qua Biển Đông vào tháng 8. Như vậy, Đức là nhân tố mới, lần đầu tiên hiện diện ở Biển Đông, kể từ đầu thế kỷ XXI. Hành động của Đức không phải là đột xuất, mà được dự liệu trong hướng dẫn về khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, công bố tháng 9/2020.

Mục đích của Đức khá rõ ràng, phù hợp với xu thế chung là bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật pháp. Có ý kiến cho rằng hành động của Đức mang tính biểu tượng, phản ánh sự độc lập trong chính sách quân sự, ngoại giao, hơn là nỗ lực chung với Mỹ gây áp lực lên Trung Quốc.

Thực chất hành động của Đức thể hiện nhiều vấn đề. Sâu xa là nhằm gia tăng vai trò “một bên”, “một đối tác sáng tạo” của Đức, mở rộng hợp tác với ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Biển Đông, đối phó với các thách thức chung. Đây là bước chuyển quan trọng, thể hiện tầm nhìn chính thức của Đức đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Đáng chú ý, Đức là nước thứ 6 trong 7 nước của Nhóm cường quốc công nghiệp phát triển (G7) tham gia các hoạt động ở châu Á-Thái Bình Dương. Hành động của Đức có ý nghĩa thúc đẩy các nước khác tham gia bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.

Nghĩa là “mặt trận” kiềm chế Trung Quốc do Mỹ khởi xướng, lãnh đạo được mở rộng, gồm những nước có vai trò quốc tế lớn và khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương ngày càng quan trọng.

Khác với Mỹ và một số nước, Đức tuyên bố không đưa tàu chiến qua vùng biển 12 hải lý quanh các thực thể mà Trung Quốc chiếm đóng, xây dựng, cải tạo ở Biển Đông. Cấp độ phản ứng có vẻ nhẹ hơn. Giới nghiên cứu cho rằng nhằm giảm khả năng đối đầu với Trung Quốc, đối tác kinh tế số một và phù hợp với truyền thống thận trọng trong các hoạt động quân sự của Đức.

Dù vậy, đó vẫn là thông điệp mạnh đối với Trung Quốc.

Nhân tố mới thường thu hút sự chú ý, chứa đựng các yếu tố dự báo và ít nhiều cũng tác động lên các nhân tố cũ.

Người cũ, động thái mới

Hải quân Anh có ý định từ năm 2017, 2018, nên cũng không phải là nhân tố mới. Bộ Quốc phòng Anh đã công khai kế hoạch đưa nhóm tàu sân bay đến khu vực Thái Bình Dương, phối hợp hoạt động với Mỹ, Nhật Bản, trong năm 2021.

Anh là đồng minh gắn bó chặt chẽ, thường ủng hộ các quyết định của Mỹ. Anh sẽ thể hiện động thái mạnh nhằm khôi phục vị thế sau ảnh hưởng của Brexit.

Pháp đương nhiên không phải là nhân tố mới. Tàu chiến Pháp đã qua lại khu vực Biển Đông từ năm 2015 và duy trì hoạt động vài lần trong những năm sau đó.

Xa hơn, trong giai đoạn đô hộ Việt Nam, Pháp liên quan đến việc ký kết các hiệp định, hiệp ước phân định biên giới trên biển giữa Việt Nam với Trung Quốc và một số nước khác.

Hiện nay, hành động của Pháp có sắc thái mới.

Trong chuyến thăm Australia, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tuyên bố: Nhu cầu cần phải bảo vệ khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương khỏi “tham vọng bá quyền”, bảo đảm tôn trọng tự do hàng hải, hàng không.

Bộ Quốc phòng Pháp nói đó là bằng chứng nổi bật về năng lực hoạt động dài ngày, phối hợp với đồng minh ở các đại dương của Hải quân Pháp (suy rộng là thể hiện vai trò của nước Pháp), nhằm khẳng định luật pháp quốc tế là quy tắc duy nhất có hiệu lực, bất kể vùng biển nào mà chúng tôi đi qua.

Theo phong cách lịch sự xứ Gaulois, Pháp không chỉ đích danh Trung Quốc, nhưng mục đích thì khá rõ. Hành động càng rõ hơn. Đầu tháng 2/2021, Pháp đưa tàu ngầm và tàu hỗ trợ tuần tra ở Biển Đông. Ngày 18/2, 2 tàu chiến Pháp rời cảng Toulon, thực hiện hải trình 3 tháng đến Thái Bình Dương, đi qua Biển Đông 2 lần, tham gia diễn tập với Mỹ, Nhật Bản.

Sử dụng cả tàu ngầm, hoạt động thời gian dài, hẳn không phải là hành vi mang tính biểu tượng.

Bộ tứ (Quad) gồm Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ là nhân tố cũ, phục hồi mạnh mẽ năm 2017, cùng với chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Mục đích của Mỹ, Bộ tứ liên kết đồng minh, đối tác, đối phó với các thách thức từ Trung Quốc, nhất là hành động cưỡng chế, cưỡng đoạt, làm thay đổi hiện trạng khu vực, được cổ vũ bởi nhân tố mới, động thái mới.

Rõ ràng, áp lực ngày càng gia tăng, từ nhiều hướng đối với Trung Quốc.

Với tuyên bố đường 9 đoạn, Trung Quốc tự cho mình quyền “chủ nhà” ở Biển Đông. Những năm qua, Trung Quốc duy trì nhiều lực lượng hoạt động thường xuyên trên biển, cùng với hệ thống căn cứ lưỡng dụng ngày càng dày, trên các đảo, đá xây dựng, cải tạo ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, nhằm kiểm soát phần lớn Biển Đông. Nhưng với các chuỗi đảo, cảng ở Thái Bình Dương, đội tàu sân bay…mục tiêu của Trung Quốc không dừng ở Biển Đông.

Trung Quốc lấy cớ các nước ngoài khu vực lợi dụng tự do hàng hải phá hoại chủ quyền, an ninh của các nước ven Biển Đông, gây mâu thuẫn, xung đột, để gia tăng hoạt động mạnh hơn, nhằm răn đe trở lại.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói: Pháp cử tàu ngầm đến khu vực là vô giá trị. Pháp không có căn cứ hay hiệp ước ở khu vực… Có nghĩa là “Pháp không có chỗ ở đây”! Biển Đông là chuyện giữa các nước ven Biển Đông.

Tín hiệu của Trung Quốc không chỉ nhằm vào một mình Pháp.

Đầu năm 2021, Trung Quốc dồn dập tổ chức diễn tập quân sự, trong đó có cuộc tập trận “tiến công” đá Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa, thuộc chủ quyền Việt Nam, bị Trung Quốc đánh chiếm. Trung Quốc tuyên bố đợt diễn tập quân sự kéo dài hết tháng 3 trên Biển Đông.

Mật độ dày, thời gian diễn tập dài với nhiều hoạt động (mà các nhà nghiên cứu quốc tế gọi là “sức mạnh cơ bắp”), cho thấy Bắc Kinh cảm nhận Biển Đông ngày càng “chật chội” trước sự can dự từ bên ngoài và so với mục tiêu của Trung Quốc.

Các nước ASEAN có “hộ khẩu” ở Biển Đông cũng duy trì hoạt động quân sự. Quy mô, tần suất nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, duy trì sự sẵn sàng đối phó với tranh chấp, các thách thức an ninh đến từ nước khác.

Ủng hộ, hy vọng đan xen với lo ngại

Sự hiện diện với mật độ khá dày nhiều loại tàu chiến, có cả tàu ngầm, tàu sân bay, của nhiều nước, với mục đích đối nghịch nhau cho thấy Biển Đông thực sự “tăng nhiệt”.

Phần đông dư luận quốc tế coi FONOPs là hành động bảo vệ tự do hàng hải, hàng không, phù hợp với luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982. Nhiều nước hy vọng hành động của Mỹ và đồng minh mang tính đối trọng với Trung Quốc, ít nhiều buộc Bắc Kinh phải cân nhắc thận trọng hơn.

Các nước ASEAN nhận thức rõ hơn về lợi ích, tầm quan trọng của Biển Đông và vai trò của ASEAN đối với khu vực. ASEAN có thể tranh thủ hợp tác quốc tế để nâng cao năng lực bảo đảm an ninh biển, giải quyết các vấn đề tồn đọng.

Nhưng cũng không ít lo ngại. Đối đầu, căng thẳng Mỹ – Trung, nguy cơ xảy ra va chạm giữa các nước lớn trên biển, tác động tiêu cực đến an ninh, ổn định, hợp tác, phát triển của khu vực. ASEAN có thể bị phân hóa trước tình thế phải chọn bên.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần tuyên bố hoạt động của các nước ở Biển Đông phải đóng góp cho hòa bình, ổn định, trật tự, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không; tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển phù hợp với UNCLOS 1982. Nếu tuân thủ nguyên tắc đó, Biển Đông luôn có đủ chỗ cho tất cả.

Lập trường của Việt Nam là giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực, không đi với bên này để chống lại bên kia. Đưa ra đối sách, biện pháp xử lý tùy theo hành động của các bên, dựa trên luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 và lợi ích chung của khu vực. Tranh thủ hợp tác quốc tế để nâng cao năng lực an ninh biển là cần thiết. Quan trọng là cách thức hợp tác để không ảnh hưởng đến độc lập, chủ quyền quốc gia.

Để kiềm chế xung đột, hạn chế các tác động bất lợi, tất cả các bên, nhất là nước lớn cần hành động có trách nhiệm, thiện chí, nói đi đôi với làm, cùng nhau xây dựng lòng tin, hợp tác… Trước hết là xây dựng các cơ chế an ninh, giám sát, cơ chế trọng tài giải quyết các khác biệt, trong đó có COC.

Không phải lời nói, mà sự thật sẽ bộc lộ rõ qua hành động. Giải quyết tranh chấp, khác biệt lợi ích thông qua đối thoại, đàm phán, bằng biện pháp ngoại giao, pháp lý là tiêu chí của thế giới văn minh. Những nước lớn, nước phát triển, lẽ nào không chấp thuận điều hiển nhiên đó.

TG&VN

Loading

Views: 0

Mỹ – Trung bắt đầu cuộc đua Catamaran

Trong tương lai gần, Thái Bình Dương sẽ trở thành đấu trường đối đầu giữa tàu ngầm và các tàu săn chúng

Stephen Stashwick, chuyên gia hàng hải của ấn phẩm “The Diplomat”, cho rằng cách tiếp cận mới để phòng thủ chống tàu ngầm, hiện đang được triển khai ở Hoa Kỳ và Trung Quốc, đang có một bước tiến mới.

Để so sánh, Nga có cả một lớp tàu phục vụ cho mục đích này.

Đó là tàu chống ngầm cỡ lớn (BOD), là những con tàu hoạt động ở đại dương, xét về vũ khí trang bị lúc bấy giờ, hoàn toàn phù hợp để tìm kiếm tàu ​​ngầm khiến đối phương phải đau đầu.

BOD của dự án 1155 hiện vẫn còn đang làm nhiệm vụ, nhưng chiếc “trẻ” nhất cũng đã 30 tuổi.

BOD của Dự án 1155.1 – nói chung, giống như một thứ gì đó phối hợp giữa một tàu khu trục và tàu tuần dương. Và nó có thể được gắn trên một chiếc tàu tuần dương trong những hoàn cảnh thích hợp.

Nhưng ngày nay, kế hoạch của Mỹ và Trung Quốc có cái gì đó hoàn toàn khác. Chúng được chuyên môn hóa cao: chỉ để tìm kiếm và phát hiện tàu ngầm.

Các tàu „Meridian“ (“Kinh tuyến”) của Nga là những con tàu có nhiều khả năng hơn, nhưng những gì Mỹ đã lên kế hoạch có thể được gọi là tàu trinh sát sonar, vì nó chỉ tập trung vào hoạt động của tàu ngầm.

Mỹ đang bắt đầu phát triển một dự án cho một thế hệ tàu mới, nhiệm vụ chính của nó sẽ là chống tàu ngầm của đối phương. Và chiếc đầu tiên trong số những con tàu này sẽ đi vào hoạt động vào năm 2025.

Nhiều con tàu nghiên cứu đang làm việc vì sự an toàn của Hoa Kỳ, nhiệm vụ chính của chúng là kéo theo một trạm sonar, có khả năng theo dõi tàu ngầm rất tốt.

Từ những năm 70 của thế kỷ trước, Hải quân Mỹ đã trang bị các tàu trinh sát thủy âm (KGAR) kiểu T-AGOS. Đây là những con tàu có lượng choán nước 3100 tấn, tốc độ hành trình 9,6 hải lý / giờ.

Thân tàu thuộc dạng catamaran (tàu 2 thân), giúp giảm đáng kể tiếng ồn của tàu và có sự ổn định trong sóng to gió lớn. KGAR không có vũ khí riêng, nhưng chúng có thể chở trực thăng chống ngầm trên tàu. Vũ khí chính của chúng là một ăng-ten kéo kiểu “SURTASS” và một sonar tần số thấp chủ động.

Hệ thống sonar phát hiện sớm tàu ​​ngầm bao gồm hai thành phần: một ăng ten LFA chủ động và một SURTASS thụ động. Thành phần chính của hệ thống là SURTASS.

Trong quá trình hoạt động, ăng ten chìm trong nước ở độ sâu 150 đến 450 mét và được kéo theo với tốc độ 3 – 4 hải lý / giờ. Và trong điều kiện như vậy, tổ hợp phân tích KGAR bắt đầu “lắng nghe” tiếng tàu ngầm trong bán kính 350 km.

Vào năm 2025, đội tàu KGAR của Hải quân Mỹ gồm 5 chiếc sẽ hết thời hạn sử dụng và chúng sẽ được thay đổi bàng một loạt các tàu tương tự, nhưng hiện đại hơn, gồm 6-7 chiếc.

Quân đội Mỹ hết sức quan ngại về việc Trung Quốc đang gia tăng sự hiện diện của tàu ngầm ở tây Thái Bình Dương. Chỉ riêng trong năm 2020, đã có thêm hai tàu ngầm Đề án 094 được triển khai tên lửa đạn đạo.

Thêm vào đó, thông tin về việc Trung Quốc chế tạo tên lửa mới JL-3, có tầm bắn lên tới 12.000 km và được dùng cho các tàu mới của dự án 096, sẽ hoàn thành vào năm 2025, cũng làm tăng thêm sự lo ngại cho Mỹ.

Với tầm bắn như vậy cho phép dễ dàng đánh trúng các mục tiêu ở trung tâm nước Mỹ từ vùng Biển Philippines chẳng hạn. Và đó thực sự là một nguyên nhân đáng lo ngại.

Do đó, hoàn toàn hợp lý khi lực lượng hải quân Mỹ cực kỳ quan tâm đến việc chế tạo các tàu mới để phát hiện sớm và theo dõi tàu ngầm. Ngoài ra, việc sử dụng các tàu nhỏ trên vùng biển Thái Bình Dương (kể cả đóng mới) cũng rẻ hơn nhiều so với các chiến hạm và tàu khu trục cùng loại.

Vì vậy, năm 2025 có thể được đánh dấu bằng một vòng đối đầu mới giữa hạm đội Mỹ và Trung Quốc ở Thái Bình Dương.

Và chúng ta không thể không nhắc đến Nhật Bản. Hạm đội Nhật Bản ngày nay là một trong những hạm đội phát triển nhanh nhất.

Và trong bối cảnh có những xích mích thường xuyên với Trung Quốc, quốc gia có đội tàu ngầm thường xuyên “nắn gân” lực lượng phòng thủ chống tàu ngầm của Nhật Bản cho nên không có gì ngạc nhiên khi vào tháng 3 năm 2020, Nhật Bản đã đưa vào vận hành tàu trinh sát đại dương mới đầu tiên của mình.

Hiện tại, Nhật Bản đã có 3 tàu trinh sát và theo dõi thủy âm hiện đại. Mỹ đã chia sẻ với Nhật trong lĩnh vực này nên các tàu của Nhật cũng mang theo SURTASS. Hạm đội Nhật Bản là hạm đội nước ngoài duy nhất trên thế giới được trang bị tổ hợp của Mỹ.

Và đó cũng là những con tàu 2 thân …

Còn về phía Trung Quốc, do nhận thức được rằng các hệ thống phát hiện và theo dõi tiên tiến mang lại những lợi thế đáng kể nên Trung Quốc đã giao cho các chuyên gia của mình phát triển đội tàu KGAR của họ.

Và ngày nay hải quân Trung Quốc có 3 tàu như vậy. Một số khác đang được xây dựng tại các nhà máy đóng tàu.

Các con tàu của Trung Quốc cũng được chế tạo theo công nghệ catamaran. Kết hợp với hệ thống động cơ diesel-điện, những con tàu như vậy là một mục tiêu rất khó chịu đối với tàu ngầm, vì chúng là những con tàu cực kỳ yên tĩnh về mặt âm học.

Và tính ổn định hướng mang lại sự ổn định cần thiết cho việc khảo sát và nghiên cứu thủy văn bằng cách sử dụng sóng siêu âm và các thiết bị âm thanh khác. Và, tất nhiên, là còn để xác định vị trí của tàu ngầm.

Tàu của Trung Quốc có sự tương đồng không thể phủ nhận với các tàu trinh sát của Hải quân Mỹ, điều này khẳng định sự phát triển song song của Trung Quốc và Mỹ.

Hình ảnh về các tàu Trung Quốc không cho thấy bất kỳ dấu hiệu nào về việc triển khai các tổ hợp giám sát trên boong, nhưng điều này không có nghĩa là chúng không có ở đó.

Sẽ rất thú vị nếu được so sánh các đặc điểm của các con tàu và thiết bị của chúng, nhưng rất tiếc, việc tìm kiếm dữ liệu (đặc biệt là tàu của Trung Quốc) vẫn là điều không thực tế.

Hoa Kỳ coi các tàu ngầm tiên tiến và độ ồn thấp của họ là lợi thế chính trước một đối thủ tiềm tàng, đó là Trung Quốc. Và họ chắc chắn muốn lôi kéo Nhật Bản để hoạt động chống lại hải quân Trung Quốc.

Tuy nhiên, rõ ràng là trong tương lai gần, Thái Bình Dương sẽ trở thành đấu trường đối đầu giữa tàu ngầm và các tàu săn chúng với sức lực mới. Giống như trong Chiến tranh Lạnh, khi tàu của Mỹ và Liên Xô chống lại nhau. Chỉ có điều bây giờ sẽ có một bên là Trung Quốc, bên kia là Mỹ và Nhật.

5 tàu Mỹ và 3 tàu Nhật Bản (cộng với những tàu mới của Mỹ, đã được nhắc tới ở trên) chống lại 3 tàu của Trung Quốc (cộng với một số lượng đang được đóng) sẽ khiến Thái Bình Dương không phải là nơi thuận tiện nhất cho tàu ngầm.

BDN

Loading

Views: 0

Sau gần 20 năm, Đức lại đưa tàu chiến tới Biển Đông

Một tàu hộ vệ của Đức sẽ tới châu Á vào tháng 8, trong đó có hành trình đi qua Biển Đông.

Các quan chức cấp cao của chính phủ Đức ngày 2/3 xác nhận một tàu hộ vệ của nước này sẽ khởi hành tới châu Á vào tháng 8 và đi qua Biển Đông trong hành trình trở về. Đây sẽ là tàu chiến đầu tiên của Đức đi qua Biển Đông kể từ năm 2002.

Tuy nhiên, các quan chức Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Đức cũng cho biết tàu hộ vệ nước này sẽ không đi vào khu vực thuộc phạm vi „12 hải lý“ xung quanh các thực thể tranh chấp trên Biển Đông.

Theo báo Nikkei (Nhật Bản), tàu hộ vệ hải quân Đức sẽ xuất phát từ Đức vào đầu mùa hè và có thể tới thăm cảng Hàn Quốc và Australia. Đây là một phần trong trọng tâm mới mà Đức hướng tới tại khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương.

Việc triển khai tàu chiến được xem là động thái hiếm thấy của Đức, quốc gia không có lãnh thổ hải ngoại ở khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương như Anh và Pháp.

Nội các Đức năm 2020 đã phê chuẩn Định hướng chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của pháp quyền và thúc đẩy các thị trường mở tại khu vực. Việc triển khai tàu chiến có thể là bước đầu tiên trong việc hiện thực hóa chiến lược này.

Thomas Silberhorn, Quốc vụ khanh Bộ Quốc phòng Đức, cho biết kế hoạch của Berlin „không nhằm vào bất cứ bên nào“. Tuy nhiên, Nikkei cho rằng Đức dường như đang „để mắt“ tới các hành động của Trung Quốc trong khu vực.

Chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương của Đức được cho là phù hợp với những thay đổi chính sách tương tự ở Anh, Pháp và Hà Lan – những quốc gia châu Âu đang đẩy mạnh sự tham gia của họ vào khu vực địa chính trị quan trọng của thế giới.

Mỹ và các đồng minh đang có xu hướng tăng cường các hoạt động tuần tra đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông nhằm thách thức yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở vùng biển này. Động thái của các nước phương Tây diễn ra bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Bắc Kinh.

Từ sau khi Tổng thống Joe Biden nhậm chức hồi cuối tháng 1, Mỹ đã đưa hàng loạt tàu chiến tới Biển Đông. Hải quân Mỹ hồi tháng 2 đã triển khai 2 nhóm tác chiến tàu sân bay USS Theodore Roosevelt và USS Nimitz cùng các tàu chiến tới Biển Đông để tham gia diễn tập. Ngày 17/2, tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS Russell của Mỹ đã thực hiện hoạt động đảm bảo tự do hàng hải ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Đầu tháng 2, tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS John S. McCain của Mỹ đã áp sát quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Cũng tại Hoàng Sa, tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable của Mỹ đã hoạt động xung quanh quần đảo này ngày 23/2.

Hải quân Pháp hồi tháng 2 bắt đầu các cuộc tuần tra và huấn luyện, đưa tàu đổ bộ tấn công Tonnerre và tàu hộ vệ Surcouf từ cảng quê nhà ở Toulon, phía nam Pháp, tới khu vực Thái Bình Dương. Nhóm tàu này sẽ đi qua Biển Đông 2 lần và tham gia cuộc tập trận quân sự chung với Mỹ và Nhật Bản vào tháng 5.

Cũng trong tháng 2, tàu ngầm tấn công hạt nhân Emeraude của Pháp đã kết thúc cuộc tuần tra tại Biển Đông. Trong khi đó, Anh cũng chuẩn bị triển khai hàng không mẫu hạm HMS Queen Elizabeth tới châu Á trong những tháng tới.

Tháng 9 năm ngoái, Pháp, Anh và Đức đã gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc để phản bác các yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông.

BDN

Loading

Views: 0

Đức lên kế hoạch điều tàu chiến đến Biển Đông: Tại sao chọn lúc này?

Việc Đức tiết lộ kế hoạch đưa tàu chiến đến Biển Đông lần đầu tiên sau hai thập kỷ đã thu hút sự chú ý của các chuyên gia và nhà quan sát quốc tế.
Đức lên kế hoạch điều tàu chiến đến Biển Đông: Tại sao chọn lúc này?
Đức mới công bố kế hoạch điều một tàu hộ vệ đến Biển Đông trong năm nay. (Nguồn: SCMP)

Ngày 3/3, Reuters dẫn lời giới chức Đức cho hay, một tàu hộ vệ của Berlin sẽ lên đường đến châu Á vào tháng 8 và sẽ trở thành tàu chiến đầu tiên của Đức đi qua Biển Đông kể từ năm 2002.

Tuy nhiên, tàu chiến này sẽ không đi vào vùng biển 12 hải lý xung quanh những thực thể Trung Quốc chiếm đóng phi pháp ở Biển Đông.

Nhận định về kế hoạch trên, một số chuyên gia cho rằng, việc điều tàu chiến đến Biển Đông là một bước quan trọng của Đức hướng tới thực hiện những hướng dẫn về khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, vừa được Berlin phê chuẩn hồi năm ngoái nhằm gia tăng hiện diện ở khu vực, theo tờ South China Morning Post.

Trong khi đó, nhà nghiên cứu Tôn Khắc Khâm tại Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại Trung Quốc bình luận: “Trung Quốc không muốn có sự hiện diện quân sự của phương Tây ở khu vực. Tuy nhiên, Đức muốn tham gia nhiều hơn vào khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và nâng cao hợp tác với ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ. Điều này cũng cho thấy, Mỹ hy vọng Đức sẽ đảm nhận thêm trách nhiệm gây áp lực lên Trung Quốc”.

Giáo sư về quan hệ quốc tế Quách Học Đường thuộc Đại học Kinh tế đối ngoại Thượng Hải cho rằng, kế hoạch triển khai tàu chiến phản ánh sự độc lập trong chiến lược quân sự và ngoại giao của Đức, hơn là nỗ lực chung với Mỹ gây áp lực lên Trung Quốc.

Học giả người Trung Quốc còn nhìn nhận rằng, quyết định của Đức không cho tàu chiến vào phạm vi 12 hải lý xung quanh các thực thể Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền ở Biển Đông là dấu hiệu cho thấy Berlin muốn „giảm nhẹ“ khả năng đối đầu với Bắc Kinh.

Còn nhà phân tích kỳ cựu Helena Legarda thuộc Viện nghiên cứu Mercator về Trung Quốc ở Berlin nhận thấy, kế hoạch của Đức đưa tàu chiến đến Biển Đông gần như là “động thái mang tính biểu tượng”, nhưng gửi một thông điệp mạnh mẽ tới Bắc Kinh rằng, Berlin sẵn sàng đối đầu với những yêu sách biển của Trung Quốc ở khu vực một cách chủ động hơn.

“Sứ mệnh này cho thấy cách tiếp cận của Berlin bắt đầu thay đổi, phản ánh sự hiểu biết mới về tầm quan trọng của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đối với sự ổn định toàn cầu và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, cũng như cảm giác mới về việc cần phải ứng phó khẩn cấp tình trạng Trung Quốc ngày càng mạnh bạo trong khu vực”, bà Legarda bình luận.

Đức trở thành quốc gia thứ 2 trong Liên minh châu Âu (EU), sau Pháp, đã vạch ra tầm nhìn chính thức về khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương khi đưa ra những hướng dẫn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương hồi tháng 9/2020.

Mục tiêu mà Đức đưa ra là nâng cao vai trò của nước này với tư cách là “một bên và một đối tác sáng tạo” ở khu vực.

Hồi năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Đức Annegret Kramp-Karrenbauer nhấn mạnh, sự hiện diện của hải quân nước này ở khu vực sẽ giúp “bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật pháp” theo tờ South China Morning Post.

TG&VN

Loading

Views: 0

Chiến thuật „tung“ đặc nhiệm SEAL của Mỹ tại Biển Đông

Chiến thuật mới của quân đội Mỹ tại Biển Đông có thể sẽ hướng đến việc sử dụng lực lượng đặc nhiệm nhằm giúp các hạm đội đa quốc gia dẫn đường chính xác hơn cho tên lửa tầm xa.

Tàu sân bay USS Dwight D. Eisenhower của Mỹ

Trong cuộc tập trận hồi đầu tháng 2, nhóm tác chiến tàu sân bay USS Dwight D. Eisenhower đã triển khai một số đội đặc nhiệm SEAL của Hải quân Mỹ cùng một đội thuyền để tạo thành các căn cứ tiền đồn, nhằm bổ sung thêm thông tin tình báo từ radar của nhóm tác chiến tàu sân bay.

Theo Chuẩn Đô đốc Scott Robertson, trong quá trình tập trận, nhiều tàu đã được triển khai để tiếp cận gần hơn với các mục tiêu đối phương, trong khi nhiều đơn vị khác hỗ trợ hỏa lực lẫn nhau.

Du Wenlong, nhà nghiên cứu cấp cao thuộc Học viện Khoa học Quân sự Trung Quốc, nhận định lực lượng đặc nhiệm SEAL có thể được Mỹ sử dụng để thu thập thông tin tình báo nhằm hỗ trợ các cuộc không kích.

„Nếu lực lượng SEAL được triển khai tới một hòn đảo, bằng máy bay hoặc thuyền, và tiến hành các hoạt động trinh sát khác nhau để xác định vị trí các mục tiêu, thông tin mà lực lượng này thu thập được có thể giúp nhóm tác chiến tàu sân bay tấn công các mục tiêu hiệu quả hơn và tăng độ chính xác của các cuộc tấn công“, chuyên gia Du nói với Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV).

Cuộc tập trận của nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ là sự kiện đáng chú ý vì đây là lần đầu tiên các quy trình và phương pháp liên lạc của NATO được sử dụng để huấn luyện thủy thủ đoàn của Mỹ. Động thái này nhằm cho phép các lực lượng Mỹ sẵn sàng phối hợp tác chiến với các đồng minh.

Theo USNI News, trang tin của Viện Hải quân Mỹ, cuộc tập trận nhằm thúc đẩy liên kết chặt chẽ hơn của Mỹ với các đồng minh quân sự, từ đó cho phép các lực lượng cùng tiến hành nhiều chiến dịch tại nhiều địa điểm khác nhau.

„Việc hợp nhất các hạm đội và tìm cách tăng cường khả năng tấn công của các hạm đội là những ưu tiên lớn hiện nay“, Đại tá Don Wetherbee cho biết.

Cuộc tập trận diễn ra trong bối cảnh căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc trên Biển Đông vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Chính quyền tân Tổng thống Joe Biden được cho là vẫn tiếp tục gây sức ép với Trung Quốc trong vấn đề này.

Tổng thống Biden đang nỗ lực thiết lập lại các liên minh quân sự của Mỹ nhằm đối phó Trung Quốc và ngày càng nhiều nước tham gia vào các chiến dịch tại Biển Đông. Tuần trước, Pháp đưa tàu tấn công đổ bộ Tonnerre và tàu hộ vệ Surcouf đi qua Biển Đông 2 lần. Đức và Anh cũng cho biết sẽ đưa lực lượng hải quân tới Biển Đông.

Timothy Heath, nhà phân tích quân sự cấp cao thuộc tổ chức nghiên cứu Rand Corporation, cho rằng mặc dù cuộc tập trận của Mỹ được „thiết kế“ để đối phó với Nga nhiều hơn, song các chiến thuật trong cuộc tập trận này có thể được áp dụng cho nhiều kịch bản tác chiến trên biển khác nhau, bao gồm kịch bản đối phó với Trung Quốc.

Theo chuyên gia Heath, cuộc tập trận có thể cải thiện khả năng tấn công tên lửa của Mỹ bằng cách sử dụng lực lượng đặc nhiệm. Lực lượng này có thể được triển khai tới tiền đồn trước khi các tàu chiến xuất hiện, nhằm xác định và định vị các mục tiêu.

„Chiến thuật này cũng giúp tăng khả năng sống sót của các tàu chiến, vì các tàu này có thể phóng tên lửa từ khoảng cách xa hơn“, chuyên gia Health nhận định.

Collin Koh, nhà nghiên cứu tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam thuộc Đại học Công nghệ Nanyang Singapore, cho rằng sau nhiều năm hiện đại hóa, quân đội Trung Quốc đã bắt kịp, thậm chí vượt Mỹ trong một số lĩnh vực, và Mỹ đang có động thái đáp trả.

„Mối đe dọa tên lửa của quân đội Trung Quốc đối với Mỹ đóng một vai trò rất lớn trong nỗ lực điều chỉnh lực lượng của Hải quân Mỹ, bao gồm phòng thủ tên lửa“, chuyên gia Koh nhận định.

BDN

Loading

Views: 0

Nhật Bản cho phép tuần duyên bắn tàu nước ngoài tiếp cận quần đảo Senkaku/Điếu Ngư

Theo cách diễn giải mới, lực lượng tuần duyên của Nhật có thể bắn vào tàu nước ngoài cố tình tiếp cận quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư với cáo buộc gây bạo lực.

Lực lượng tuần duyên của Nhật Bản có thể trực tiếp khai hỏa đối phó tàu công vụ của nước ngoài cố tiếp cận quần đảo tranh chấp Senkaku (theo cách gọi của Nhật)/Điếu Ngư (theo cách gọi của Trung Quốc) nằm ở biển Hoa Đông, các thành viên của đảng cầm quyền dẫn nguồn tin từ các quan chức chính phủ nước này hôm qua (25/2) cho biết.

Trong cuộc họp về chính sách quốc phòng của đảng Dân chủ Tự do (LDP) hôm 25/2, các quan chức chính phủ đã thông báo về cách diễn giải mới về các luật hiện hành của Nhật Bản. Động thái nhằm phản ứng trước việc Trung Quốc thông qua luật mới cho phép lực lượng hải cảnh của nước này sử dụng vũ khí đối với tàu thuyền nước ngoài mà Bắc Kinh cho là “xâm phạm vùng biển của họ một cách bất hợp pháp”.

Các quan chức chính phủ Nhật Bản cho biết, trước đó, lực lượng tuần duyên của nước này chỉ được phép nổ súng trực tiếp vào tàu nước ngoài trong trường hợp tự vệ hoặc thoát hiểm khẩn cấp. Tuy nhiên, theo cách diễn giải mới, lực lượng tuần duyên của Nhật có thể bắn vào tàu nước ngoài cố tiếp cận quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với cáo buộc gây bạo lực.

Ông Taku Otsuka, người đứng đầu Ban phòng vệ quốc gia của đảng Dân chủ Tự do cầm quyền (LDP) nhấn mạnh: “Đây là lần đầu tiên các quan chức chính phủ đề cập việc lực lượng tuần duyên có thể nổ súng vào các tàu thuyền nước ngoài cố ý tiếp cận lãnh thổ của Nhật Bản”. Đã có nhiều lo ngại gia tăng tại Nhật Bản cho rằng nước này vẫn chưa hành động đủ để đối phó với các hành động quyết liệt của Trung Quốc xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Cùng ngày, phát biểu tại một hội thảo trực tuyến, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga cho rằng môi trường an ninh tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đã trở nên xấu hơn. Ông bày tỏ lo ngại về “việc mở rộng sức mạnh quân sự một cách thiếu minh bạch và các nỗ lực đơn phương nhằm làm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc các hành vi cưỡng ép vẫn tiếp diễn”. Thủ tướng Suga cho rằng “một trật tự tự do, rộng mở, căn cứ vào luật lệ, không sử dụng vũ lực hoặc các hành vi cưỡng ép sẽ mang đến hòa bình và thịnh vượng cho khu vực và cho thế giới”.

BDN

Loading

Views: 0

Biển Đông nhìn từ các phía (Kỳ cuối)

Biển Đông chịu nhiều tác động, từ nhiều hướng khác nhau, nên tình hình luôn biến động. Biến động theo chiều hướng nào, mức độ nào, tùy thuộc vào nhiều yếu tố, cả bên trong và bên ngoài.
ASEAN nỗ lực xây dựng lập trường chung, coi an ninh, ổn định, hợp tác trên Biển Đông là lợi ích chung của khu vực.
Tập hợp lực lượng, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông

Năm 2020 và đầu năm 2021, nhiều nước bày tỏ quan điểm lo ngại, phản đối yêu sách và hoạt động gây mất an ninh, ổn định ở Biển Đông. Bộ tứ (Quad) gồm Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia tổ chức diễn tập quân sự trên biển. Pháp, Canada, Anh, Đức và một số nước khác đang và sẽ cử đội tàu chiến thực hiện FONOPs, tham gia diễn tập ở Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông. Lực lượng sử dụng có cả tàu sân bay, tàu ngầm cho thấy các nước coi trọng Biển Đông.

Tham gia FONOPs, tuyên bố trong các hội nghị, diễn đàn, gửi công hàm phản đối… là biểu hiện của việc tập hợp lực lượng ngoài khu vực, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Đó là những tín hiệu gửi tới Bắc Kinh, tạo áp lực nhất định đến Trung Quốc.

Tuy nhiên, động thái của các nước vẫn mang tính đối phó với các hành động cụ thể của Trung Quốc, chưa hình thành một chiến lược chung, mặt trận chung, là đối trọng thường xuyên, thực sự với chiến lược Biển Đông của Trung Quốc.

Hành động của các nước xuất phát từ lợi ích về tự do, an ninh, an toàn hàng hải, lo ngại sự trỗi dậy của Trung Quốc và nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế. Nhưng cũng là biện pháp thể hiện vai trò ở một địa bàn chiến lược, nhằm đối phó với các thách thức khác, trên các khu vực khác của Trung Quốc và có thể là con bài mặc cả khi cần.

Nhân tố ASEAN

Năm 2020, vấn đề Biển Đông là một nội dung quan tâm thường xuyên trong chương trình nghị sự, thông cáo, tuyên bố chung. ASEAN nỗ lực xây dựng lập trường chung, coi an ninh, ổn định, hợp tác trên Biển Đông là lợi ích chung của khu vực; luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 là cơ sở để đối thoại, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.

Việt Nam và các nước ASEAN hoan nghênh, ủng hộ các tuyên bố, hoạt động của các nước ngoài khu vực tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven biển Đông, phù hợp với UNCLOS 1982, đóng góp cho hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không.

Các nước Đông Nam Á ngày càng nhận thức rõ vai trò ASEAN trong vấn đề Biển Đông. Việt Nam, Malaysia, Philippines, Inonesia… có lập trường rõ ràng, hành động tích cực hơn. Đó là một bước tiến của ASEAN, trong đó có vai trò lớn của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2020.

Tuy nhiên, sức mạnh nhiều mặt của ASEAN vẫn kém Trung Quốc. ASEAN vẫn chưa hình thành một phương thức hành động thống nhất toàn khối, có tính hữu hiệu cao trong xử lý vấn đề Biển Đông. Một số nước vẫn còn biểu hiện tính toán lợi ích riêng, bị nước lớn tác động, chi phối.

Với các nước ASEAN là quốc gia biển, Biển Đông là chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, là vấn đề chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, gắn với môi trường hòa bình, ổn định, phát triển của đất nước.

Tranh chấp chủ quyền phức tạp gấp nhiều lần thách thức về tự do, an ninh, an toàn hàng hải của các nước ngoài khu vực. Tranh thủ sự ủng hộ quốc tế là cần thiết, nhưng dựa vào bên ngoài để bảo vệ chủ quyền quốc gia là tư duy sai lầm, vẫn tồn tại ở một bộ phận.

Năm 2021 và tiếp theo sẽ thế nào?

Biển Đông chịu nhiều tác động, từ nhiều hướng khác nhau, nên tình hình luôn biến động. Biến động theo chiều hướng nào, mức độ nào, tùy thuộc vào nhiều yếu tố, cả bên trong và bên ngoài.

Trung Quốc về cơ bản vẫn tiếp tục “đa chiến pháp”, nhịp độ khi căng, khi chùng, nhưng tổng thể vẫn là hành động kiên quyết, cứng rắn. Nếu nội bộ không có đột biến và áp lực bên ngoài chưa đủ độ (là khả năng hiện hữu), thì Trung Quốc không, hoặc khó nhượng bộ.

Năm 2021, ASEAN cơ bản vẫn giữ định hướng chính sách, chiến lược ở Biển Đông, được xác định từ năm 2020. Nhưng biến động ở Myanmar, khó khăn do đại dịch Covid-19 và một số vấn đề phức tạp khác, nên việc thực thi bị ảnh hưởng.

Mỹ và các nước phương Tây cơ bản vẫn tiếp tục xu hướng như 2020. Các nước còn nhiều vấn đề lớn cần giải quyết. Ưu tiên vẫn là phòng chống đại dịch và phục hồi nền kinh tế. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của EU. Cọ xát giữa lợi ích kinh tế và an ninh, an toàn, tự do hàng hải, duy trì trật tự thế giới trên cơ sở luật pháp, công bằng, tác động đến chính sách của nhiểu nước.

Nhìn chung, năm 2021 chưa hội tủ đủ các yếu tố để tình hình sáng sủa hơn, Biển Đông chưa thể sớm bình lặng. Giải quyết tranh chấp chủ quyền là công việc phức tạp, lâu dài, cần sự kiên trì, nỗ lực của tất cả các bên, cả trong và ngoài khu vực. Cần đề cao chủ nghĩa đa phương, hợp tác, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế rộng rãi về thiết lập và tuân thủ một trật tự dựa trên luật pháp, luật lệ, giá trị chung và lợi ích chung.

Việc cần làm trước hết là xây dựng và duy trì môi trường thuận lợi cho việc thúc đẩy hợp tác. Coi trọng biện pháp ngoại giao, pháp lý, duy trì thường xuyên đối thoại, tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy hợp tác kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, tìm kiếm cứu nạn trên biển.

Kiềm chế và chủ động phòng tránh nguy cơ đụng độ không mong muốn trên biển. Đi đôi với hợp tác, cần đấu tranh để xây dựng một cơ chế giám sát có hiệu quả và giải quyết tranh chấp bắt buộc nhằm ổn định tình hình Biển Đông.

Đàm phán COC khó có thể kết thúc trong năm 2021 như tuyên bố của Trung Quốc, do độ chênh lớn về yêu sách chủ quyền. Kiên trì, nỗ lực, phối hợp chặt chẽ các nước ASEAN để vượt qua trở ngại, bảo đảm COC thực chất, hiệu quả, hiệu lực. Mở rộng quy định về chống va chạm không định trước trên biển giữa các lực lượng quân sự cho cả tàu thuyền dân sự, thương mại, đánh cá.

TG&VN

Loading

Views: 0

Biển Đông nhìn từ các phía (Kỳ 1)

Ngay từ những tháng đầu 2021, Biển Đông liên tục xuất hiện trong các hội nghị, diễn đàn, tuyên bố. Tàu quân sự đủ loại của Trung Quốc, Mỹ và một số nước đang và sẽ hiện diện trên thực địa, cùng với các cuộc diễn tập. Tiếp theo là gì và như thế nào?

Biển Đông là một trong những trọng điểm trong chiến lược tổng thể kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, đang được Thượng viện Mỹ soạn thảo. (Nguồn: SCMP)

Biển Đông lặng hay dậy sóng liên quan đến Trung Quốc

Năm 2020 và đầu 2021, Bắc Kinh vẫn tiếp tục thực thi “đa chiến pháp” trên Biển Đông. Truyền thông phủ sóng toàn cầu tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” và hình ảnh Trung Quốc xây dựng cộng đồng chung trên biển. Sửa đổi Luật Hải cảnh, công bố “danh xưng tiêu chuẩn” của các đảo, đá và thực thể đáy biển; phát triển “khu Tây Sa”, “khu Nam Sa”, dùng lục địa để gia tăng chủ quyền biển.

Thu hút các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế ủng hộ cái gọi là “chủ quyền lịch sử” của Trung Quốc. Biến hóa “đường chín đoạn”, “thuyết Tứ sa” để biến vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các nước khác thành vùng biển tranh chấp, phần lớn Biển Đông thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Trung Quốc.

Tiếp tục củng cố và xây mới cấu trúc lưỡng dụng trên các đảo, đá thuộc quần đảo Trường Sa, mới nhất là đá Vành Khăn. Đẩy mạnh xây dựng lực lượng quân sự hiện đại, đa năng trên biển, đáng chú ý là đội tàu sân bay.

Duy trì hoạt động thường xuyên của lực lượng đa binh chủng, Hải quân, Hải cảnh, đội tàu nghiên cứu khoa học, dàn khoan nước sâu cỡ lớn, binh đoàn hàng ngàn tàu thuyền dân quân biển, xâm nhập, răn đe, ngăn cản hoạt động dân sự, kinh tế của các nước, thực hiện kiểm soát trên thực tế.

Tàu hải cảnh, tàu bán quân sự Trung Quốc nhiều lần xâm phạm vùng biển khu vực thuộc bồn trũng Nam Côn Sơn, bãi Tư Chính (của Việt Nam), bãi cạn Scarborough (Philippines), bãi Luconia (Malaysia)…

Gần nhất, 24/2, có tin tàu Hải cảnh Trung Quốc áp sát dàn khoan Hải Thạch của Việt Nam đang hoạt động bình thường tại lô 5-02 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam.

Hàng chục tàu chiến Trung Quốc diễn tập quân sự ở Biển Đông. Từ ngày 24/2, Trung Quốc tổ chức diễn tập hàng hải cứu nạn, thông tin liên lạc với Hải quân Singapore, một động thái nằm trong chủ trương thúc đẩy hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước ASEAN. Kết hợp ngoại giao, kinh tế, gây áp lực để đàm phán xây dựng COC có lợi cho Trung Quốc.

Năm 2020 và đầu năm 2021, Trung Quốc vẫn hành động một cách kiên quyết, cứng rắn, nhằm khẳng định, thực thi yêu sách chủ quyền, gây sức ép với các nước trong khu vực, ngăn chặn sự hiện diện của các nước ngoài khu vực. Củng cố thế đứng chân, xây dựng các chuỗi đảo thành các tuyến an ninh, ngăn chặn tiếp cận từ bên ngoài, mở rộng chủ quyền, quyền kiểm soát của Trung Quốc; tạo ưu thế nhiều mặt trên Biển Đông, không chỉ với ASEAN mà cả với Mỹ và đồng minh.

Với tư duy “lục địa chi phối đại dương”, Trung Quốc coi Biển Đông là “lợi ích sống còn”, là bàn đạp vươn ra các đại dương, các châu lục, thực hiện “Giấc mộng Trung hoa”. Trên các diễn đàn, hội nghị, các cuộc gặp gỡ, Bắc Kinh luôn nói Biển Đông yên tĩnh, trong tầm kiểm soát. Nhưng mỗi khi Trung Quốc khuấy là biển lại động, cả trên thực địa và dư luận.

Nhiều nhà nghiên cứu quân sự quốc tế đánh giá Trung Quốc là nhân tố cơ bản trong tình hình Biển Đông, bởi ưu thế, tham vọng, hành xử của họ và nhìn nhận Biển Đông lặng hay dậy sóng trước hết từ Trung Quốc.

Mỹ muốn và làm gì ở Biển Đông

Sau một tháng cầm quyền của Tổng thống Joe Biden, thông cáo báo chí ngày 19/2 đã phác họa khá rõ nét về chiến lược kiềm chế Trung Quốc trên Biển Đông. Mỹ tái khẳng định ủng hộ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài về vụ Philippines kiện Trung Quốc, coi đó là quyết định cuối cùng, phải tuân thủ.

Mỹ bày tỏ lo ngại về những thách thức từ Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc. Tuyên bố trừng phạt các công ty Trung Quốc liên quan đến hoạt động cải tạo trái phép các đá ở quần đảo Trường Sa.

Bộ Quốc phòng Mỹ chủ trương tích hợp Hải quân, Tuần duyên, Thủy quân lục chiến thành lực lượng chung, tăng cường sức mạnh trên biển.

Trên thực địa, Mỹ gia tăng hoạt động FONOPs cả về tần suất và số lượng các nhóm tàu, phối hợp cùng lúc 2 nhóm tàu sân bay, di chuyển qua các vùng biển Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, áp sát tàu khảo sát của Trung Quốc. Tổ chức diễn tập phối hợp trên biển với đồng minh.

Mỹ thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, thông qua Bộ tứ, các diễn đàn, hội nghị trực tuyến, điện đàm với lãnh đạo các nước (diễn ra khá dày đặc trong tháng 2). Mỹ cùng đồng minh phản đối mọi hành vi thay đổi hiện trạng khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông bằng cưỡng đoạt, cưỡng ép của Trung Quốc.

Mỹ cam kết phối hợp hành động với các đồng minh, đối tác sâu hơn; sẵn sàng bảo vệ Nhật Bản, Philippines khi bị tiến công; ủng hộ các nước nhỏ chống lại hành vi sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp chủ quyền. Các động thái trên phần nào tạo cho đồng minh, đối tác tin Mỹ sẽ coi trọng châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông.

Biển Đông là một trong những trọng điểm trong chiến lược tổng thể kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, đang được Thượng viện Mỹ soạn thảo. Đồng thời, ý định xây dựng chuỗi cung ứng sản phẩm công nghệ không Trung Quốc và nhiều động thái khác hỗ trợ cho mặt trận Biển Đông.

Bước đầu cho thấy Tổng thống Joe Biden không nhân nhượng, không thay đổi lập trường cứng rắn với Trung Quốc, nhưng cách tiếp cận có thay đổi. Hành động của ông Joe Biden có vẻ khẩn trương hơn người tiền nhiệm Donal Trump và dứt khoát hơn so với các tổng thống trước của Đảng Dân chủ.

Nhiều thập kỷ trước, Mỹ có một hệ thống căn cứ trên các đảo và ở nhiều nước châu Á-Thái Bình Dương. Hạm đội 7 thường xuyên hiện diện ở Biển Đông. Mỹ hiện là đối thủ lớn nhất, là đối trọng của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng vị thế có phần suy giảm.

Các cố vấn, nhà nghiên cứu từng cảnh báo Mỹ đã bỏ lỡ thời cơ, trong đó có việc hỗ trợ Philippines sau phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 và thúc đẩy các nước khác tiến hành cuộc chiến pháp lý ở Biển Đông. Nếu xu thế đó tiếp tục, vai trò, lợi ích chiến lược của Mỹ sẽ bị ảnh hưởng lớn.

Mục đích của Mỹ ở Biển Đông là kiềm chế Trung Quốc, bảo vệ lợi ích chiến lược, vai trò lãnh đạo của mình. Tuy nhiên, Mỹ còn nhiều vấn đề cần giải quyết với đồng minh, đối tác, đối thủ, ở nhiều khu vực khác. Nhiều cam kết vẫn dừng ở tuyên bố. Hoạt động FONOPs phản đối yêu sách chủ quyền không có cơ sở pháp lý, nhưng chưa thể ngăn chặn chiến lược độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.

(còn tiếp)

TG&VN

 

Loading

Views: 0

Sau „Bộ tứ Kim cương“, Mỹ muốn „Bộ tứ Đại Tây Dương“ kìm chân TQ

Đức, Anh, Pháp và Mỹ được cho là đang bàn bạc về việc xây dựng một nhóm „Bộ tứ“ xuyên Đại Tây Dương hướng tới cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc.

Nước Mỹ dưới thời cựu Tổng thống Donald Trump từng thúc đẩy tích cực việc xây dựng quan hệ quốc phòng thân thiết hơn với Ấn Độ, Nhật Bản và Australia – các thành viên trong „Bộ tứ Kim cương“ nhằm xây dựng một mô hình tương tự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương.

Sau tân Tổng thống Mỹ Joe Biden nhậm chức, ông đã phát tín hiệu rằng việc xây dựng „Bộ tứ Kim cương“ là một trong số ít chính sách của chính quyền tiền nhiệm mà ông dự định sẽ tiếp tục duy trì.

Ngoài ra, ông Biden cũng tuyên bố rằng: „Liên minh xuyên Đại Tây Dương đã trở lại“, đồng thời ám chỉ một hướng quan hệ quốc tế mới, theo đó Mỹ và các đồng minh châu Âu điều chỉnh các chính sách đối ngoại của họ để thích ứng với thực tế mới, bao gồm cả sự chuyển hướng về châu Á.

Vào ngày ông Joe Biden tham dự cuộc họp của các lãnh đạo G7 và Hội nghị An ninh Munich, Thủ tướng Anh Boris Johnson đã nhắc đến „Bộ Tứ xuyên Đại Tây Dương“ nhằm giải quyết những thách thức an ninh hiện tại.

Nhà lãnh đạo Anh cho biết ông tin rằng „Châu Âu ngày càng nhận ra sự cần thiết của việc hợp tác cùng những người bạn Mỹ của chúng ta để khám phá lại khả năng lãnh đạo có tầm nhìn xa, tinh thần phiêu lưu và đoàn kết xuyên Đại Tây Dương đã khiến hai lục địa của chúng ta trở nên vĩ đại ngay từ đầu“.

Sự nhiệt tình của Anh trong việc đẩy mạnh quan hệ liên minh xuyên Đại Tây Dương phù hợp với định hướng của ông Biden và cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan.

Ông Sullivan đã khuyên ông Biden tạo ra „vị thế mạnh mẽ“ bằng cách hợp tác với các đồng minh châu Âu để đối mặt với những thách thức do Trung Quốc và Nga đặt ra.

Trong bài phát biểu tại Hội nghị Munich hôm 19/2, ông Biden cảnh báo các nền dân chủ phải chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh chiến lược lâu dài với Trung Quốc. Ông cho rằng việc Mỹ, châu Âu và châu Á hợp tác với nhau để đảm bảo hòa bình, bảo vệ các giá trị chung và thúc đẩy sự thịnh vượng ở hai bờ Thái Bình Dương sẽ trở nên quan trọng.

Thủ tướng Đức Angela Merkel nhận định trong những năm qua, Trung Quốc đã có thêm sức mạnh trên trường quốc tế và chúng ta – các đối tác xuyên Đại Tây Dương phải phản ứng lại với điều đó.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron ủng hộ việc Mỹ quay trở lại con đường ngoại giao đa phương và cũng chia sẻ mối quan ngại về Trung Quốc.

BDN

Loading

Views: 0

Trung tá gốc Việt làm hạm trưởng tàu khu trục Mỹ hoạt động trên Biển Đông

Một Trung tá Hải quân gốc Việt vừa được chọn làm hạm trưởng tàu khu trục USS John McCain thường xuyên hoạt động trên Biển Đông.

Ông Trần Trung Tín (phải) tại buổi lễ chuyển giao.

Theo bản tin của Hạm đội 7, ngày 19/2  Trung tá Hải quân Tín Trần đã nhận bàn giao chức hạm trưởng tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn dường USS John  McCain trong buổi lễ tại căn cứ ở Yokosuka (Nhật Bản).

Tàu khu trục USS John McCain trực thuộc Hạm đội 7 của Mỹ, có mặt thường xuyên trên Biển Đông và đã một số lần đi vào bên trong phạm vi 12 hải lý của quần đảo Hoàng Sa và các đảo nhân tạo Trung Quốc bồi đắp thành căn cứ quân sự ở quần đảo Trường Sa thời gian gần đây, trước đó, Tín Trần đã là hạm phó của tàu USS John McCain, chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của chiến hạm này hàng ngày trong khi hạm trưởng tập trung vào chiến lược và tính toán các bước hoạt động kế tiếp. Ông là hạm trưởng thứ 19 và cũng là hạm trưởng gốc Việt đầu tiên của USS John McCain.

Từ cuối tháng 9/2020, tàu khu trục USS John McCain đã tham gia nhiều cuộc tập trận đa quốc gia với các nước đồng minh, gồm các hoạt động với Hải quân Hoàng gia Australia (RAN) ở biển Andaman, thực hiện hoạt động với 3 nhóm tàu sân bay khác nhau ở Biển Đông và tập trận Malabar trong năm 2020, cùng với RAN, Hải quân Ấn Độ và Lực lượng Phòng vệ Biển của Nhật Bản.

Tàu John S. McCain được giao cho  Hải đội Khu trục (DESRON) 15 – hải đội được triển khai lớn nhất của Hải quân Mỹ và là lực lượng mặt đất chính của Hạm đội 7.

Hạm đội 7 tiến hành các hoạt động hải quân được triển khai nhằm hỗ trợ lợi ích quốc gia của Mỹ trong khu vực hoạt động của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Là hạm đội có số lượng lớn nhất trong Hải quân Mỹ, Hạm đội 7 làm việc với lực lượng hải quân của 35 nước khác để xây dựng quan hệ đối tác thúc đẩy an ninh hàng hải, thúc đẩy ổn định và ngăn chặn xung đột.

BDN

Loading

Views: 0

Bộ Tứ phản đối nỗ lực đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông

Ông Derek Grossman – nhà phân tích quốc phòng cấp cao tại Rand Corp. cho rằng, “Trung Quốc là động lực chính cho sự hợp tác gần đây của Bộ Tứ (Quad)”.
Hải quân Mỹ cùng với Không quân Hoàng gia Australia, Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản, Hải quân Ấn Độ và Không quân Hoàng gia Canada tham gia tập trận Sea Dragon 2021 tại Guam, ngày 28/1. (Nguồn: Hải quân Mỹ)

Cam kết mạnh mẽ của Mỹ

Các nhà ngoại giao hàng đầu của 4 thành viên nhóm Bộ Tứ (Quad) gồm Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ ngày 18/2 đã có cuộc điện đàm chung trong khuôn khổ đối thoại cấp ngoại trưởng chỉ 4 tuần sau lễ nhậm chức của Tổng thống Mỹ Joe Biden.

Theo nhận định của tờ Nikkei Asia, cuộc điện đàm là chỉ dấu cho thấy việc tập hợp các nền dân chủ có cùng chí hướng vẫn sẽ là một hoạt động hoạch định chính sách quan trọng mang tính nền tảng của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Cuộc điện đàm kéo dài khoảng 90 phút mà theo mô tả trong một dòng tweet của Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Toshimitsu Motegi là “một cuộc thảo luận cực kỳ sâu sắc” với sự tham gia của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken, Ngoại trưởng Australia Marise Payne và Ngoại trưởng Ấn Độ Subrahmanyam Jaishankar.

Nội dung chính của cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề Myanmar, Biển Đông, Biển Hoa Đông, Triều Tiên, đại dịch Covid-19 và biến đổi khí hậu.

Ông Motegi nói với các phóng viên rằng, cuộc họp diễn ra không lâu sau khi Tổng thống Mỹ Joe Biden nhậm chức là một dấu hiệu cho thấy cam kết mạnh mẽ của Chính quyền Mỹ trong việc hiện thực hóa khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, cũng như cam kết với nhóm Bộ Tứ.

Cuộc họp được triệu tập theo yêu cầu của phía Mỹ và là cuộc họp đầu tiên của nhóm này kể từ khi Tổng thống Mỹ Joe Biden chính thức nhậm chức.

Ông Robert O’Brien – Cố vấn an ninh quốc gia dưới thời Tổng thống Donald Trump hồi cuối tháng 1 vừa qua đã mô tả mối quan hệ với nhóm Bộ Tứ có thể là “mối quan hệ quan trọng nhất mà Mỹ đã thiết lập sau NATO”.

Bộ Ngoại giao Ấn Độ cũng đề cập cuộc họp trong thông cáo báo chí ngày 18/2, trong đó nhấn mạnh mối quan tâm đến Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của New Delhi đang tăng lên.

“Cần phải lưu ý rằng, khái niệm Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đã thu hút được sự ủng hộ ngày càng cao của quốc tế, kể cả ở châu Âu”, thông cáo nêu rõ.

Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết, sau cuộc họp ngày 18/2, 4 thành viên nhất trí sẽ gặp nhau ít nhất mỗi năm một lần ở cấp Bộ trưởng và “trên cơ sở thường xuyên” ở cấp cao và cấp công tác, “để tăng cường hợp tác nhằm thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, bao gồm hỗ trợ cho tự do hàng hải và toàn vẹn lãnh thổ”.

Vai trò trung tâm của ASEAN

“Các bên tham gia tái khẳng định sự ủng hộ đối với vai trò trung tâm của ASEAN” ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thông tin từ Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết thêm.

Theo Nikkei, động thái này báo hiệu ý định mở rộng hợp tác của nhóm Bộ Tứ với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Trước đó, trong cuộc điện đàm với Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi ngày 16/2, Ngoại trưởng Mỹ Blinken cũng nhất trí với người đồng cấp Marsudi về “vai trò chủ chốt của ASEAN ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương“.

Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Motegi nói rằng, nhóm Bộ Tứ sẽ tăng cường hợp tác với ASEAN, các quốc đảo Thái Bình Dương và các nước châu Âu.Thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao các nước thuộc nhóm Bộ Tứ không trực tiếp nhắc đến Trung Quốc, nhưng ông Derek Grossman – nhà phân tích quốc phòng cấp cao tại Rand Corp. cho rằng, “Bắc Kinh là động lực chính cho sự hợp tác gần đây của Quad”.

Cả 4 thành viên của Quad phản đối các nỗ lực đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, ám chỉ việc Trung Quốc tăng cường các hoạt động hàng hải trong khu vực, bao gồm cả việc xây dựng đảo nhân tạo trái phép.

Đặc biệt, Nhật Bản nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế trong bối cảnh báo động về hoạt động của các tàu Trung Quốc xung quanh quần đảo Senkaku do Nhật Bản quản lý mà Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền và gọi là Điếu Ngư.

Bên cạnh đó là việc Trung Quốc gần đây đã thông qua Luật Hải cảnh, cho phép lực lượng cảnh sát biển nước này nổ súng vào tàu nước ngoài trong một số trường hợp nhất định.

Sau một thời gian gián đoạn, nhóm Bộ Tứ đã được hồi sinh vào năm 2017 nhằm mục đích đối phó với ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong khu vực.

Diễn đàn nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế và an ninh giữa các quốc gia có chung các giá trị, bao gồm tự do, dân chủ và pháp quyền.

TG&VN

Loading

Views: 0

Nhật, Mỹ, Pháp diễn tập quân sự chung gửi thông điệp cho TQ

Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản mới đây tổ chức cuộc diễn tập chung với chiến hạm của Mỹ và Pháp ở vùng biển ngoài khơi quần đảo Kyushu thuộc phía tây nam của Nhật, giữa lúc Trung Quốc gia tăng hoạt động trên biển.

Đài NHK tối 20.2 dẫn thông báo từ Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản cho hay tham gia cuộc diễn tập có tàu tiếp tế Nhật JS Hamana, khu trục hạm Mỹ USS Curtis Wilbur và tàu hộ vệ Pháp FNS Prairial. Cuộc diễn tập 3 bên này diễn ra hôm 19.2.

Đây là cuộc diễn tập tế tiếp trên biển đầu tiên theo một thỏa thuận Nhật và Pháp đã ký kết hồi năm 2019. Thỏa thuận này cho phép các lực lượng phòng vệ của hai nước cung cấp qua lại hàng tiếp tế, như thực phẩm, nhiên liệu và đạn dược.

Ngoài mục đích cung cấp hỗ trợ hậu cần, cuộc diễn tập dường như còn nhằm thể hiện sự hợp tác mạnh mẽ giữa 3 nước trong bối cảnh Trung Quốc gia tăng hoạt động trên biển, theo NHK.

Tàu hộ vệ Pháp Prairial tham gia cuộc diễn tập nói trên được điều đến biển Hoa Đông từ tháng này để theo dõi xem việc vận chuyển hàng hóa giữa các tàu của CHDCND Triều Tiên có vi phạm lệnh cấm vận của Liên Hiệp Quốc hay không. Biển Hoa Đông còn là nơi Nhật và Trung Quốc có tranh chấp về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

BDN

Loading

Views: 0

20 máy bay TQ quần thảo trên Biển Đông trong 2 ngày

Cơ quan phụ trách vấn đề không quân của Đài Loan tiếp tục lên tiếng ngày thứ hai liên tiếp về việc nhiều máy bay chiến đấu và ném bom của Trung Quốc thực hiện tập trận gần các đảo trên Biển Đông.

Bắc Kinh đã liên tục thực hiện các sứ mệnh không quân tại phía tây nam vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) do Đài Bắc tuyên bố trong những tháng gần đây, đa phần là gần quần đảo Đông Sa.

Cả Bắc Kinh và Đài Bắc đều tuyên bố chủ quyền với Đông Sa. Ngoài ra, Trung Quốc coi Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời.

Sau khi 9 máy bay không quân Trung Quốc bay gần Đông Sa hôm 19-2, Đài Bắc cho biết đã phát hiện 11 chiếc máy bay ngay ngày hôm sau, trong đó có 8 chiếc chiến đấu cơ, 2 máy bay ném bom H-6 và 1 máy bay chống ngầm.

Đài Loan tuyên bố lực lượng hải quân Trung Quốc có liên quan nhưng không cung cấp thông tin cụ thể.

Phía Đài Loan cũng đưa ra cảnh báo, yêu cầu máy bay Trung Quốc rời khỏi và triển khai hệ thống tên lửa để giám sát sự việc trên.

 Theo Hãng tin Reuters, Trung Quốc vẫn chưa lên tiếng về hoạt động trong 2 ngày vừa qua. Trước đó, Bắc Kinh tuyên bố những động thái tương tự là nhằm đáp trả việc Đài Bắc “cấu kết” cùng Washington và bảo vệ lãnh thổ của Trung Quốc.

Mỹ hiện được xem là chống lưng chính của Đài Loan trên trường quốc tế, đồng thời là bên cung cấp vũ khí lớn nhất cho Đài Bắc.

Một người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ đã lặp lại lời kêu gọi Bắc Kinh “ngừng gây áp lực về quân sự, ngoại giao và kinh tế đối với Đài Loan“. Phía Mỹ cũng cho rằng Trung Quốc nên “tham gia đối thoại” với Đài Loan.

BDN

Loading

Views: 0

Biển Đông: Nói chuyện bằng súng?

Luật hải cảnh Trung Quốc chính thức có hiệu lực từ 1/2/2021, cho phép lực lượng hải cảnh “có thể sử dụng trực tiếp vũ khí” đối với các tàu, thuyền nước ngoài,  xâm nhập “vùng biển thuộc quản lý của Trung Quốc“, tiếp tục làm nóng dư luận và khiến các nước liên quan trực tiếp Biển Đông và biển Hoa Đông lo ngại.

Tàu tuần tra KN Nipah 321 của Indonesia làm nhiệm vụ gần quần đảo Natuna 

Luật Hải cảnh được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ký lệnh ban hành ngày 21/1/2021, sau khi nó được thông qua tại hội nghị lần thứ 25 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc. Luật này có hiệu lực từ 1/2 năm nay.

Theo đó, hải cảnh Trung Quốc được trao quyền dùng „tất cả biện pháp cần thiết“, gồm vũ khí, đối với các tàu, thuyền nước ngoài xâm nhập “vùng biển thuộc quản lý của Trung Quốc“ và tham gia phi pháp hoạt động sản xuất, từ chối tuân theo lệnh dừng tàu và những hoạt động mà theo họ là phi pháp.

Trung Quốc ngang ngược – điều đó thiên hạ không hề lạ. Tuy nhiên, với việc ban hành Luật hải cảnh lần này, dư luận có lý để cho rằng: Sự ngang ngược đã được Bắc Kinh đẩy lên một nấc  mới. Điều đó sẽ khiến hải cảnh Trung Quốc hung hăng, tàn bạo hơn về cái gọi được quyền được sử dụng súng trong nhập “vùng biển thuộc quản lý của Trung Quốc“ vốn đã bị Tòa PCA bác bỏ, bị quốc tế phản đối, phê phán. Do vậy, nó càng khiến cả cộng đồng quốc tế, trước hết, là những bên liên quan trực tiếp vấn đề chủ quyền Biển Đông, như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia…, thậm chí, cả Nhật Bản – nước có tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku với Trung Quốc trên biển Hoa Đông – lo ngại.

Chính vì thế, cùng với Việt Nam, Nhật Bản đã lên tiếng phản ứng, rằng “Điều quan trọng là luật mới của Trung Quốc không nên được thực thi nếu vi phạm luật pháp quốc tế“.

Tiếp theo các phản ứng ngoại giao, mới đây, Đại tướng Koji Yamazaki, Tham mưu trưởng Liên quân Nhật Bản Đại tướng và Mark Milley, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, đã tổ chức một cuộc họp trực tuyến. Báo chí Nhật Bản thông tin rằng: Hai bên đã trao đổi ý kiến về “Luật Hải cảnh” của Trung Quốc và xác nhận lập trường của hai bên phản đối đối với bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng ở biển Hoa Đông và Biển Đông.

Chưa hết, hơn cả những tuyên bố, quan ngại chung chung đầy tính “ngoại giao”, mới đây, ngày 17/2, Cục trưởng Cảnh sát biển Nhật Bản, ông Okushima Okujima, tuyên bố do Trung Quốc thực thi Luật Hải cảnh, Nhật Bản sẽ không loại trừ việc cho phép sử dụng vũ khí ở lãnh hải xung quanh quần đảo Senkaku. Một khi Nhật đã “ăn miếng trả miếng” sòng phẳng với Trung Quốc như thế, rõ một điều là khu vực quần đảo Điếu Ngư/Senkaku nóng lên là cái chắc. Và kèm theo sức nóng, những sự cố, rủi ro dẫn đến hai bên chĩa súng, nổ súng vào nhau có thể xảy ra bất kỳ lúc nào.

Nhưng dư luận “lạ’ nhất là Indonesia. Không có tranh chấp chủ quyền trực tiếp với Trung Quốc; được tiếng “cơ bản là hiền”, bất đắc dĩ mới phải làm ầm ĩ khi Trung Quốc quá thể, cho tàu cá lảng vảng ở khu vực quần đảo Natuna mà nước này đang kiểm soát năm ngoái.

Vậy mà lần này, Jakarta còn đi trước cả Tokyo trong việc “nói chuyện bằng súng” với Trung Quốc. Cụ thể, theo kênh truyền hình CNN Indonesia ngày 4/2, Bộ trưởng Quốc phòng nước này, ông Prabowo Subianto, đã quyết định tăng cường vũ khí hạng nặng và hiện đại cho các tàu của Cơ quan an ninh hàng hải (Bakamla) nhằm đảm bảo an ninh và ngăn chặn các tàu Trung Quốc xâm nhập vào vùng biển Natuna.

Phó Đô đốc Indonesia, ông Aan Kurnia còn tiết lộ và than thở rằng: Số vũ khí mà Bộ Quốc phòng mua cho Bakamla vẫn ít hơn nhiều so với số vũ khí của lực lượng tuần duyên Trung Quốc  vốn được sử dụng súng cỡ nòng 75 mm.

Ông Aan Kurnia khẳng định: „Hãy nhớ rằng vũ khí Bakamla sử dụng không phải để gây chết người, mà chỉ để tự vệ và phòng thủ. Bakamla không cần vũ khí to, cỡ nòng lớn như Hải quân, song ít ra là để tự vệ nếu điều này là cần thiết”.

Không nói toạc ra, nhưng dư luận thừa hiểu, nguyên nhân khiến Indonesia thấy cần thiết phải trang bị súng – như lời ông Aan Kurnia – chính là từ sự chà đạp công pháp quốc tế của Luật hải cảnh mới của Trung Quốc.

BDN

Loading

Views: 0

Việt Nam và chiến lược cường quốc biển

Để trở thành quốc gia mạnh về biển, Việt Nam cần xây dựng một chiến lược tổng thể, dựa trên ba trụ cột quan trọng về kinh tế, an ninh-quốc phòng và hàng hải.

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đặt ra mục tiêu: Tới năm 2045, Việt Nam sẽ trở thành cường quốc biển. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam cần có một chiến lược toàn diện, xây dựng các tiêu chí cụ thể và hành động sát với các tiêu chí đó.

Lợi thế biển lớn

Với đường bờ biển dài 3.260 km kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) tới Hà Tiên (Kiên Giang) và nhiều bãi biển đẹp, Việt Nam có thể thúc đẩy phát triển ngành du lịch. Một vùng đặc quyền kinh tế lên tới 1 triệu km vuông cùng gần 3.000 đảo lớn, nhỏ hợp thành tuyến bảo vệ, kiểm soát, làm chủ các vùng biển và thềm lục địa.

Việt Nam có nhiều cảng nước sâu có giá trị như Hòn Gai, Cái Lân, Nghi Sơn, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, Dung Quất, Văn Phong, Cam Ranh, Thị Vải, Vũng Tầu, Hòn Chông cùng với nhiều điểm cảng trung bình như Hải Phòng, Cửa Lò, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang…, với tổng sản lượng hàng hóa vận chuyển có thể đạt tới 50 triệu tấn/năm.

Đối với nước ta, Biển Đông có ý nghĩa quan trọng không chỉ trên phương diện kinh tế mà còn trong vấn đề chiến lược. Về mặt kinh tế, đây là kho tài nguyên sinh vật phong phú, đa dạng với khoảng 160.000 loài. Riêng trữ lượng động vật biển ước tính 32,5 tỷ tấn, trong đó cá chiếm tới 86%, vào khoảng 5 triệu tấn/năm và mỗi năm có thể đánh bắt khoảng 2,3 triệu tấn.

Ngoài ra, Biển Đông còn có trữ lượng dầu khí rất lớn, vào khoảng 7 tỷ thùng, khả năng sản xuất khoảng 2,5 triệu thùng/ngày (theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ). Còn theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông vào khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa ước tính đạt 105 tỷ thùng.

Về mặt chiến lược, vùng biển và ven biển Việt Nam có vị trí quan trọng, nằm trong tuyến hàng hải và hàng không thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, giữa Châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước khác trong khu vực. Đây là chiếc cầu nối có vai trò trong việc thúc đẩy giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.

Với vị trí địa chiến lược như vậy, Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế để trở thành một quốc gia mạnh về biển – bước đi đầu tiên trong lộ trình trở thành “cường quốc biển” khu vực.

Trình độ khai thác biển thấp

Để trở thành một quốc gia mạnh về biển, trước hết phải phấn đấu để kinh tế trên biển và ven biển đóng góp tỷ lệ cao vào GDP của cả nước. Theo các số liệu tính toán, kinh tế biển và vùng ven biển chiếm khoảng 47 – 48% tổng GDP, trong đó, kinh tế biển chiếm khoảng 20 – 25%. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm khoảng trên 98%, trong đó, khai thác dầu khí chiếm 60%, hải sản 14%, hàng hải 11%, du lịch biển 9%. Các ngành liên quan đến khai thác biển như đóng tàu, chế biến dầu khí, chế biến thủy hải sản, thông tin liên lạc có quy mô khá nhỏ.

Việt Nam và chiến lược cường quốc biển - 2

Để trở thành một quốc gia mạnh về biển, chiến lược cường quốc biển của Việt Nam cần phải dựa trên ba trụ cột quan trọng về kinh tế, an ninh-quốc phòng và hàng hải, cần phải xây dựng một chiến lược tổng thể hướng tới mục tiêu ở các mốc quan trọng từ nay đến năm 2030 và 2045.

Một trong những khó khăn của chúng ta hiện nay là kinh tế biển và vùng ven biển phát triển còn khá chậm, cơ cấu chưa hợp lý và vẫn ở trình độ thấp. Cơ cấu ngành nghề cùng phương thức khai thác kinh tế biển chủ yếu là sản xuất nhỏ, mang tính tự phát. Trình độ khai thác biển thấp, phương tiện khai thác thô sơ, lạc hậu nên quá trình phát triển và khai thác mới chỉ dừng lại ở vùng biển trong nước chứ chưa tiếp cận tới các vùng biển quốc tế.

Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển còn thấp. Theo chu kỳ từ 2005 đến 2017, đóng góp của kinh tế biển vào GDP có xu hướng giảm và thiếu bền vững. Năm 2005, kinh tế biển chiếm 48% GDP, giảm xuống 40,73% vào năm 2010 và chỉ còn khoảng 30,19% trong năm 2017. Thu nhập bình quân đầu người của 28 tỉnh ven biển thấp hơn so với cả nước. Tỷ trọng đóng góp chung của kinh tế hàng hải vào GDP cả nước còn rất nhỏ và có xu hướng giảm (chỉ chiếm 0,97% trong năm 2017).

Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh kinh tế biển. Đồng thời, khoa học và công nghệ biển của chúng ta còn yếu, chưa được xây dựng và đầu tư phù hợp. Công tác nghiên cứu khoa học biển vẫn chưa có quy hoạch, kế hoạch và thiếu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước. Môi trường biển và ven biển nhiều nơi còn bị ô nhiễm, nhất là tại những nơi tập trung phát triển vận tải biển, công nghiệp ven bờ…

 Hiện nay, Hải quân Việt Nam được đánh giá là hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á. Với đội sáu tàu ngầm Kilo được đưa vào biên chế, Quân chủng Hải quân có đầy đủ “5 ngôi sao biển” là: không quân hải quân, tàu ngầm, hải quân đánh bộ, tên lửa chống hạm và tàu mặt nước.

Cần có một chiến lược “cường quốc biển”

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 5/3/2020 về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, sẽ xây dựng Việt Nam thành quốc gia mạnh về biển trên nền tảng của những thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến. Nghị quyết 26/NQ-CP đặt mục tiêu hàng đầu là bảo đảm thực thi đầy đủ  quyền, lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế về biển, đặc biệt là Công ước năm 1982 của LHQ về Luật Biển – UNCLOS. Nghị quyết đồng thời là định hướng bền vững cho quy hoạch, phát triển kinh tế biển, bao gồm: khai thác tài nguyên, đánh bắt, dịch vụ – du lịch ven biển dọc chiều dài bờ biển Việt Nam qua 28 tỉnh và thành phố.

Việt Nam và chiến lược cường quốc biển - 3

Việt Nam cần xây dựng một chiến lược tổng thể, toàn diện để trở thành một quốc gia mạnh về biển.

Tuy nhiên, trước bối cảnh quốc tế có sự thay đổi nhanh chóng, để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh về biển, và xa hơn là một “cường quốc biển”, đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược bài bản, tổng thể và lâu dài. Cần phải có một “chiến lược cường quốc biển” ở tầm quốc gia để có thể huy động được nhiều nguồn lực, vừa phát triển kinh tế đất nước, vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và đảm bảo an ninh quốc phòng.

Thực tế, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã triển khai theo hướng này. Trong đó, Ấn Độ là một quốc gia đang tiến lên trở thành một cường quốc biển. Để thực hiện tham vọng, Ấn Độ đã đề ra tầm nhìn, chính sách tổng thể mang tính dài hạn. Đối với Nhật Bản, từ những năm 1940, quốc gia này đã chú trọng xây dựng chiến lược để trở thành một cường quốc biển khu vực.

 Tại Đông Nam Á, trong nhiều thập niên qua, Indonesia đã có nhiều biện pháp để xây dựng quốc gia vạn đảo trở thành một cường quốc biển tại khu vực. Dưới thời Tổng thống Joko Widodo, Indonesia tập trung vào việc tăng cường an ninh hàng hải của Indonesia, mở rộng khung ngoại giao bao phủ toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, coi hải quân Indonesia như một cường quốc hàng hải tại khu vực Đông Á.

Như vậy, có thể thấy, các quốc gia có tham vọng trở thành cường quốc biển đều chú trọng xây dựng một chiến lược tổng thể, trong đó bao gồm cả việc xây dựng một chiến lược an ninh hàng hải của riêng mình.

Là một quốc gia ven biển, Việt Nam không ngoại lệ trong quá trình xây dựng một quốc gia mạnh về biển, và xa hơn là trở thành một cường quốc biển khu vực. Do vậy, Việt Nam cần phải xây dựng một chiến lược tổng thể, toàn diện để hướng tới mục tiêu, trong đó có những mốc quan trọng từ nay đến năm 2030 và 2045. Chiến lược này sẽ đề ra tầm nhìn, các mục tiêu cụ thể đối với từng giai đoạn.

Cũng giống như chiến lược của các quốc gia khác, chiến lược cường quốc biển của Việt Nam cần phải dựa trên ba trụ cột quan trọng về kinh tế, an ninh-quốc phòng và hàng hải. Bên cạnh đó, nó phải thể hiện một tầm nhìn chung trong việc khai thác và sử dụng biển một cách bền vững, thúc đẩy phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường và các biện pháp nhằm bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Việt Nam.

BDN

Loading

Views: 0

“Bầu không khí quyền lực biển” là gì?

Trong những ngày Tết nguyên đán Tân Sửu, Trung Quốc vẫn liên tiếp có những hành động gây căng thẳng trên Biển Đông. Hành động ngang nhiên thách thức dư luận quốc tế là, nước này đã cho hàng chục tàu khảo sát hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của một số nước Đông Nam Á ven bờ Biển Đông.

Hôm 14/1/2021, ông Wisnu Pramandita, Trưởng Cơ quan an ninh hàng hải Malaysia, thông tin: Tàu tuần tra Indonesia KN Pulau Nipah 321 đã ngăn chặn tàu khảo sát Trung Quốc Hướng Dương Hồng 03 vào buổi tối hôm trước. Tàu khảo sát này đã đi qua vùng biển Indonesia ở eo biển Sunda mà không mở hệ thống nhận diện tự động (AIS). Hệ thống AIS giúp theo dõi cung cấp thông tin về vị trí khi tàu di chuyển.

Nửa tháng sau, hôm 31/1, tờ Nikkei Asia của Nhật Bản cảnh báo: Nhiều tàu khảo sát của Trung Quốc vẫn ngang nhiên đi vào vùng EEZ của một số nước Đông Nam Á ven bờ Biển Đông. Tờ báo đưa ra cảnh báo này sau khi phân tích dữ liệu AIS của 32 tàu khảo sát Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế trên biển.

Về các hoạt động khảo sát tại EEZ của nước khác, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển, phải được nước đó đồng ý. Luật là thế, nhưng từ lâu Bắc Kinh đã phớt lờ. Qua kết quả phân tích thấy rằng, 17 tàu khảo sát của Trung Quốc hoạt động trong EEZ của nước khác, hoặc ở vùng biển chưa phân định, có tới hơn 10 tàu có các hoạt động đáng ngờ. Có nghĩa là, “khảo sát” chỉ là cái cớ mà thôi! Trung Quốc tuyên bố đó là các tàu nghiên cứu về sinh vật biển, khảo sát cho mục đích nghiên cứu sinh học, nhưng thực chất, đó là những con tàu “khảo sát” cho mục đích an ninh, quốc phòng.

Tư lệnh hải quân Philippines Giovanni Bacordo từng khẳng định, hai tàu khảo sát của Trung Quốc hoạt động gần bãi Cỏ Rong ở Biển Đông khoảng một tuần. Vị Tư lệnh đã kêu gọi chính quyền Manila gửi công hàm ngoại giao phản đối Bắc Kinh về sự vi phạm trắng trợn này. Được biết trong năm 2019, có ít nhất 15 tàu khảo sát Trung Quốc bị phát hiện lảng vảng ở những khu vực thuộc vùng biển Philippines. Năm 2020, số tàu khảo sát càng nhiều thêm.

Tháng 4/2020, tàu Hải Dương địa chất 8 của Trung Quốc đi vào khu vực EEZ của Malaysia ở Biển Đông. Con “ngóao ộp” này hoạt động gần tàu khoan thăm dò đáy biển West Capella do công ty dầu khí Petronas của Malaysia vận hành. Chính là con tàu này dưới sự hộ tống của nhiều tàu hải cảnh Trung Quốc đã xâm phạm khu vực Bãi Tư Chính của Việt Nam.

Không chỉ cho tàu khảo sát lượn lờ ở Biển Đông, tàu khảo sát Trung Quốc cũng thường xuyên đi vào biển Hoa Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Senkaku. (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư). Tokyo đã gửi công hàm phản đối Bắc Kinh. Công hàm nêu rõ sai phạm của Trung Quốc, rằng tàu khảo sát Đại Dương Hào đã uy hiếp, tháo dỡ thiết bị quan sát trong EEZ của Nhật Bản. Phía Nhật Bản khẳng định, nếu Trung Quốc không từ bỏ những hành động ăn cướp nêu trên, họ sẽ xem xét, thực hiện biện pháp ứng phó mạnh.

Các quan chức quốc phòng Trung Quốc cũng nói úp mở rằng, việc phát triển công nghệ biển và việc thực hiện nghiên cứu khoa học biển (MSR) là “phương tiện bảo vệ chủ quyền cũng như tạo ra bầu không khí quyền lực biển”.

“Bầu không khí quyền lực biển” là thứ không khí gì vậy? Đúng là giọng lưỡi của kẻ ăn cướp có lý sự. Sẽ chẳng có thứ quyền lực nào hết đối với những kẻ giang hồ, lưu manh, luôn thò tay vào túi người khác, trong khi miệng lưỡi lòe bịp thiên hạ bằng đủ thứ khái niệm mĩ miều. Khi chưa thể một lúc nuốt trọn Biển Đông thì Trung Quốc cứ giở trò “câu giờ” thế đã. Còn họ “câu” kiểu gì thì các nhà phân tích đã nhiều lần đề cập đến.

BDN

Loading

Views: 0

Thể hiện sức mạnh ở Thái Bình Dương, Mỹ đưa siêu tàu ngầm mang 154 tên lửa

Tàu ngầm năng lượng hạt nhân USS Ohio với dàn tên lửa Tomahawk mạnh mẽ và khả năng tác chiến ấn tượng, được xem là vũ khí uy lực nhất Mỹ triển khai để thể hiện sức mạnh ở Thái Bình Dương.

Được chế tạo trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, USS Ohio – tàu ngầm lớn nhất Mỹ từng đưa vào biên chế – đã bị loại bỏ các tên lửa hạt nhân. Tuy nhiên, con tàu này vẫn đang được xem là vũ khí linh hoạt và đáng sợ nhất của Mỹ hoạt động ở Thái Bình Dương.

Trong bối cảnh chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden cam kết với các đồng minh về việc bảo vệ khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương mở và tự do, Washington đã phát đi thông điệp bằng hệ thống vũ khí hải quân hùng hậu.

Mỹ đã đưa tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường qua eo biển Đài Loan. Họ cũng điều 2 nhóm tác chiến tàu sân bay vào Biển Đông tập trận và đưa một khu trục hạm mới nhất tới Nhật Bản.

Tuần trước, Mỹ đã „khoe“ về sự xuất hiện của tàu ngầm tên lửa dẫn đường Ohio phiên bản nâng cấp nặng 18 tấn trong cuộc diễn tập xung quanh đảo Okinawa của Nhật Bản.

Chuyên gia Sidharth Kaushal từ Viện Quân vụ thống nhất Hoàng gia Anh, mô tả USS Ohio cùng các tàu ngầm USS Michigan, USS Florida và USS Georgia, là công cụ giúp đưa tên lửa và binh sĩ tới sát lãnh thổ đối thủ của Mỹ.

Siêu tàu ngầm Mỹ mang 154 tên lửa sứ giả chiến tranh dưới lòng đại dương - 2

USS sở hữu khả năng mang hỏa lực ấn tượng (Ảnh: Quân đội Mỹ)

Dù USS Ohio không còn mang tên lửa hạt nhân, nó vẫn là tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, cho phép nó có tầm hoạt động „không có giới hạn“.

Tàu ngầm này có thể mang tối đa 154 tên lửa hành trình „sứ giả chiến tranh“ Tomahawk, nhiều hơn 50% so với tàu khu trục tên lửa dẫn đường và hơn gần 4 lần so với tàu ngầm tấn công mới nhất được Mỹ phát triển.

Mỗi tên lửa Tomahawk có thể mang theo đầu đạn chứa hơn 450 kg chất nổ.

„154 tên lửa Tomahawk có thể mang tới những cú đấm khiến không đối thủ nào của Mỹ có thể bỏ qua“, Carl Schuster, giám đốc vận hành tại Trung tâm Tình báo Bộ chỉ huy liên hợp Thái Bình Dương của Mỹ, nhận định. Ông Schuster nói rằng USS Ohio có thể mang rất nhiều hỏa lực với tốc độ cao.

Dù Hải quân Mỹ có thể điều động lượng khu trục hạm mang nhiều tên lửa hơn con số 154, nhưng việc các tàu ngầm lớp Ohio có thể tác chiến độc lập và khó bị phát hiện khi di chuyển âm thầm dưới lòng đại dương, mang lại cho nó lợi thế nhất định.

Uy lực hỏa lực của tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân Mỹ được chứng minh vào tháng 3/2011 khi USS Florida nã gần 100 quả Tomahawk vào các mục tiêu ở Libya trong chiến dịch Bình minh Odyssey. Sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên tàu ngầm mang tên lửa hành trình trực tiếp tham chiến.

Siêu tàu ngầm Mỹ mang 154 tên lửa sứ giả chiến tranh dưới lòng đại dương - 3

USS Ohio hoạt động rất „êm“ dưới lòng đại dương (Ảnh: Quân đội Mỹ)

Khi USS Ohio vận hành ở Thái Bình Dương, việc dò tìm nó sẽ trở nên khó khăn vì nó hoạt động ở vùng nước sâu. Thêm vào đó, đối thủ chính của Mỹ ở khu vực, Trung Quốc, có lực lượng săn ngầm chỉ được thiết kế để hoạt động ở phạm vi gần bờ.

Mặc dù vậy, kể cả khi USS Ohio tiến vào gần bờ, nó vẫn có khả năng tàng hình, cho phép nó di chuyển yên ắng hơn các tàu ngầm tấn công và tạo ra thách thức thực sự với các lực lượng chống ngầm.

USS Ohio được đóng vào những năm 1970 và từng được xem là biểu tượng răn đe hạt nhân của Mỹ khi nó cùng 17 tàu ngầm cùng lớp khác có thể mang 24 tên lửa đạn đạo liên lục đại Trident, mỗi quả có 8 đầu đạn hạt nhân độc lập. Về mặt lý thuyết, năng lực hạt nhân của USS Ohio giúp nó có thể gây phá hủy lớn bằng một loạt bắn hỏa lực duy nhất.

Loading

Views: 0

Pháp bất ngờ điều tàu ngầm tấn công hạt nhân đến biển Đông

Một tàu ngầm tấn công hạt nhân Émeraude thuộc lớp Rubis của hải quân Pháp gần đây đã tiến hành cuộc tuần tra trên Biển Đông, trong một nỗ lực nhằm thách thức yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc.

Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Florence Parly. Ảnh: La Tribune. VOV

Theo Hãng tin AFP, Pháp – thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) – có các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) quanh các lãnh thổ hải ngoại của nước này ở Thái Bình Dương. Paris đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền tự do hàng hải trong khu vực.

„Tại sao chúng tôi lại thực hiện sứ mệnh như vậy? Đó là để làm giàu kiến thức của chúng tôi về khu vực này và khẳng định rằng luật pháp quốc tế là nguyên tắc hợp lệ duy nhất ở bất cứ vùng biển nào chúng tôi đi qua“ bà Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Florence Parly viết trên Twitter. „Cuộc tuần tra đặc biệt này chỉ vừa hoàn tất. Đây là bằng chứng nổi bật cho thấy năng lực của hải quân Pháp trong việc triển khai ở những khu vực xa xôi và trong thời gian dài cùng các đối tác chiến lược của chúng tôi như Úc, Mỹ và Nhật Bản

https://www.youtube.com/watch?v=bhtrF8R_1EA

 

[highlight]

Trước động thái trên của Pháp, tàu chiến Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc tuần tra tự do hàng hải ở Biển Đông, trong đó có các chuyến áp sát những thực thể do Trung Quốc xây dựng trái phép.

Tuần trước, tàu khu trục USS John S. McCain của hải quân Mỹ đã di chuyển gần quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng bị Trung Quốc ngang ngược chiếm đóng. Đây là lần đầu tiên hải quân Mỹ thông báo về hoạt động của tàu chiến Mỹ gần quần đảo Hoàng Sa kể từ lúc Tổng thống Mỹ Joe Biden nhậm chức hôm 20-1.

[/highlight]

 

Lê Hoàng biên soạn

Loading

Views: 0

Hai nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ hội quân, tập trận chung ở Biển Đông

Hai nhóm tàu sân bay USS Nimitz và USS Theodore Roosevelt của hải quân Mỹ hội quân ở Biển Đông, tham gia các hoạt động diễn tập chung hôm 9/2.

Hai nhóm tàu sân bay Mỹ hội quân tập trận ở Biển Đông.

Các tàu và máy bay của hai nhóm tấn công tàu sân bay đã phối hợp hoạt động trong khu vực nhiều tàu thuyền qua lại để chứng minh khả năng hoạt động của hải quân Mỹ trong những môi trường đầy thử thách“, hải quân Mỹ cho biết trong tuyên bố mới đây.

Các cuộc diễn tập chung giữa hai nhóm tàu sân bay Mỹ thường khá hiếm, nhưng tần suất đã tăng dần thời gian gần đây.

Lần gần đây nhất, hai nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ USS Ronald Reagan và USS Nimitz tham gia tập trận chung ở Biển Đông vào tháng 7/2020.

Chuẩn đô đốc Doug Verissimo, Chỉ huy nhóm tác chiến tàu sân bay Roosevelt gọi cơ hội diễn tập chung này là „hết sức quý giá“.

„Thông qua các hoạt động như thế này, chúng tôi đảm bảo rằng chúng tôi thông thạo chiến thuật để đáp ứng thách thức duy trì hòa bình. Chúng tôi có thể tiếp tục cho các đối tác và đồng minh trong khu vực thấy cam kết thúc đẩy một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở“, ông Verissimo nhấn mạnh.

Trong khi đó, chỉ huy nhóm tấn công Nimitz, Chuẩn đô đốc Jim Kirk khẳng định việc hội quân cùng tập trận giúp cải thiện kỹ năng tác chiến tập thể trong khi đảm bảo sự ổn định và an ninh trong khu vực.

„Chúng tôi cam kết đảm bảo việc sử dụng hợp pháp vùng biển mà tất cả quốc gia được hưởng theo luật pháp quốc tế“, ông Kirk nhấn mạnh.

Hoạt động diễn tập chung giữa USS Nimitz và USS Theodore Roosevelt diễn ra vài ngày sau khi Hạm đội 7 Hải quân Mỹ triển khai tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS John S. McCain đi gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép.

Hải quân Mỹ thông báo hoạt động của tàu USS John S. McCain cũng thách thức những tuyên bố mà phía Trung Quốc đơn phương áp đặt về đường cơ sở thẳng bao quanh quần đảo Hoàng Sa từ năm 1996.

Các tàu chiến của Mỹ thường xuyên thực hiện các chiến dịch đảm bảo tự do hàng hải, áp sát các thực thể mà Trung Quốc chiếm đóng phi pháp trên Biển Đông.

BDN

Loading

Views: 0