Mỹ nâng Tariff – Lợi & Hại?

Từ thời Trump đến Biden, rồi quay lại Trump, xu hướng nâng thuế nhập khẩu, đặc biệt với Trung Quốc...
Read More
Mỹ nâng Tariff – Lợi & Hại?

Lộ diện máy bay “Quái vật biển Bột Hải” của TQ

Trung Quốc được cho là đang phát triển máy bay “Quái vật biển Bột Hải” có sự kết hợp các...
Read More
Lộ diện máy bay “Quái vật biển Bột Hải” của TQ

Tàu sân bay Mỹ cập cảng Philippines

Tàu sân bay USS George Washington của Mỹ đã cập cảng Manila, Philippines vào ngày 3/7. Hoạt động này diễn...
Read More
Tàu sân bay Mỹ cập cảng Philippines

TQ bác bỏ thông tin muốn xây căn cứ quân sự ở Nam Thái Bình Dương

Đại sứ quán Trung Quốc ở Fiji hôm 3.7 bác bỏ thông tin cho rằng Bắc Kinh muốn xây dựng...
Read More
TQ bác bỏ thông tin muốn xây căn cứ quân sự ở Nam Thái Bình Dương

TQ chế máy bay không người lại nhỏ như con…ruồi

Trung Quốc vừa khiến giới công nghệ quân sự thế giới bất ngờ khi công bố một loại máy bay...
Read More
TQ chế máy bay không người lại nhỏ như con…ruồi

Từ Thái Bình Dương nhìn về Biển Đông

Tân Hoa xã đưa tin: Hai nhóm tác chiến tàu sân bay – Liêu Ninh và Sơn Đông đã tiến...
Read More
Từ Thái Bình Dương nhìn về Biển Đông

‘Nhất thể hóa mặt trận’ Biển Đông và biển Hoa Đông để đối phó thách thức

Mỹ cùng một số đồng minh đang hướng đến việc ‘nhất thể’ Biển Đông và biển Hoa Đông thành một...
Read More
‘Nhất thể hóa mặt trận’ Biển Đông và biển Hoa Đông để đối phó thách thức

Bộ tứ gặp sóng gió khi các hành động và chính sách của Mỹ thay đổi

Các hành động và chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump đang khiến quan hệ giữa nước này với...
Read More
Bộ tứ gặp sóng gió khi các hành động và chính sách của Mỹ thay đổi

Hệ thống Patriot của Mỹ nhiều chưa từng có để chặn tên lửa Iran

Các kíp vận hành hệ thống phòng không Patriot của Mỹ chỉ có vài giây để khai hỏa khi một...
Read More
Hệ thống Patriot của Mỹ nhiều chưa từng có để chặn tên lửa Iran

Mỹ sẽ đối phó với TQ như thế nào?

Lục quân Mỹ đặt mục tiêu đóng vai trò then chốt trong việc răn đe Trung Quốc và ngăn chặn...
Read More
Mỹ sẽ đối phó với TQ như thế nào?

Kategorie-Archiv:Literatur

Dự báo 4 bước phát triển của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung

Bước thứ nhất: Chiến tranh thương mại

Từ tháng 3/2018,  Tổng thống Mỹ D.Trump đã công bố kế hoạch áp thuế quan đối với hàng hóa đến từ Trung Quốc (TQ) vào Mỹ, lên đến 60 tỷ USD mỗi năm. Mục đích nhằm chống lại sự mất cân bằng thương mại giữa hai nước. Cho đến nay, Mỹ đã đánh thuế 10%, 25% cho hơn 6000 mặt hàng của TQ xuất khẩu vào Mỹ, với số tiền đánh thuế lên đến 250 tỷ USD. Đáp lại, TQ cũng đã đánh thuế 5.000 mặt hàng của Mỹ xuất khẩu vào TQ, với trị giá 110 tỷ USD. Như vậy, Mỹ đã đánh thuế gần 50% hàng hóa TQ xuất khẩu vào Mỹ. Còn TQ đã đánh thuế đến 85% số lượng hàng hóa Mỹ xuất khẩu vào TQ. Quả bóng đang ở sân phía TQ. Nếu TQ không tìm ra những giải pháp căn cơ, e rằng Mỹ sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh thương mại với TQ.

Bước thứ hai: Chiến tranh công nghệ

Để chứng tỏ sẽ giữ lời hứa khi ra tranh cử, đó là kiềm chế sự trỗi dậy của ngành công nghiệp TQ, việc làm đầu tiên của Tổng thống D.Trump là ra những đòn „tấn công phẫu thuật, thông qua việc tăng thuế đối với các mặt hàng được nhắm đến trong kế hoạch „Made in China 2025“. Danh sách thứ nhất gồm 818 mặt hàng, trị giá 34 tỷ USD nhập khẩu, phải chịu thêm một khoản phụ phí 25% kể từ ngày 6/7/2018. Danh sách thứ hai gồm 284 mặt hàng, với mức tăng thuế chưa được quyết định. Trong danh sách này, không có các mặt hàng tiêu dùng.

Đối với các mặt hàng công nghệ, mục tiêu của Mỹ còn đi xa hơn nhiều so với một biện pháp trừng phạt . Đó là hạn chế những bước tiến của TQ bằng cách ngăn chặn hoạt động chuyển giao công nghệ cho nước này. Thị trường TQ luôn là nơi được mơ ước vì mang lại nhiều lợi nhuận và Bắc Kinh cho phép doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận với yêu cầu phải nhượng lại công nghệ. Từ khi Tổng thống Trump lên nắm quyền, ông kiên quyết thực hiện chính sách chống lại việc TQ vi phạm, thâu tóm, mua bán bản quyền công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao của Mỹ. Vì vậy, hai năm qua, các doanh nghiệp Mỹ đã do dự hơn khi quyết định làm ăn với TQ. Còn phía doanh nghiệp TQ, họ đầu tư ra nước ngoài nhằm mục tiêu tiếp cận nguồn tài nguyên và công nghệ cao của thế giới, trong đó có Mỹ. Từ năm 2014-2016, các doanh nghiệp TQ đã đầu tư vào Mỹ nhiều hơn các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào TQ, kéo theo đó là việc TQ tiến hành các hoạt động gián điệp nhằm ăn cắp công nghệ cao. Vì vậy, Mỹ là nước đầu tiên ở phương Tây thực hiện cuộc tấn công mạnh mẽ vào kế hoạch „Made in China 2025“.

Bước thứ ba: chiến tranh trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính

Ngay trong tuyên ngôn tranh cử Tổng thống Mỹ (năm 2016), ông D.Trump đã đặc biệt phê phán chính sách „thao túng tiền tệ“ của Trung Quốc, ông nói „Trung Quốc đưa đến ba mối đe dọa lớn đối với Mỹ khi thao túng tiền tệ quá đáng…với mục đích đẩy mạnh xuất khẩu của họ và hủy hoại các ngành công nghiệp của Mỹ. Với việc thao túng đồng Nhân dân tệ và định giá thấp nó, Trung Quốc có thể bán hàng cho các nước khác với giá thấp hơn rất, rất nhiều so với một công ty Mỹ“. Vì vậy, „trọng trách của ông D.Trump là phải „chấm dứt trò thao túng tiền tệ “ của Trung Quốc.

Rất có thể Mỹ sẽ có cuộc chiến tranh về tỷ giá, tiền tệ, tài chính với Trung Quốc. Nếu điều đó xảy ra, kịch bản về một cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc đối với Trung Quốc là hoàn toàn có thể. Bởi vì hệ lụy của một cuộc chiến tranh về tiền tệ, tài chính sẽ rất lớn.

Bước thứ tư: Chiến tranh kinh tế toàn bộ

Sau khi tiến hành các cuộc chiến tranh thương mại, công nghệ, tỷ giá tiền tệ, Mỹ sẽ phát động cuộc chiến tranh thứ tư, tiến hành „chiến tranh tổng lực“ chống lại toàn bộ nền kinh tế của Trung Quốc qua hơn 40 năm tiến hành cải cách mở cửa, tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị của họ đều dựa vào Mỹ, nhưng với sự khôn khéo, Trung Quốc đã làm giàu „trên lưng“ nước Mỹ.

Hậu quả của một cuộc chiến tranh thương mại đã khiến nền kinh tế Trung Quốc nam 2018 bị sụt giảm nghiêm trọng. Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2018 thấp nhất gần 30 năm qua, chỉ đạt mức 6,6% GDP. Mức nợ công lên đến 28.000 tỷ USD. Đầu tư không hiệu quả, sản xuất dư thừa, hàng hóa tồn đọng, không tiêu thụ được. Các nhà đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc đã chuyển ra các nước láng giềng xung quanh Trung Quốc. Tình trạng thâm hụt ngân sách lớn, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Kinh tế Trung Quốc đang có dấu hiệu „hạ cánh cứng“. Dự báo năm 2019, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc còn tiếp tục bị suy giảm.

Sự suy giảm kinh tế do hệ lụy của cuộc chiến tranh kinh tế với Mỹ đã buộc Trung Quốc phải thay đổi mô hình tăng trưởng, chấp nhận tăng trưởng để „hạ cánh mềm“, tăng trưởng bền vững, chuyển từ đầu tư lớn, xuất khẩu nhiều sang giảm đầu tư, đẩy mạnh tiều dùng trong nước, phải thay đổi về chất… Đó là cách lựa chọn duy nhất của Trung Quốc trong giai đoạn mới hiện nay.

Bằng việc khởi động một cuộc chiến tranh kinh tế mang tên „làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại“, Tổng thống D.Trump đã phá vỡ cấu trúc của trật tự thế giới mà Mỹ đã xây dựng từ cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai, và thay thế bằng một trật tự mới, mà ở đó Mỹ, cũng giống như ước Anh thế kỷ XIX, sẽ không có đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn, mà chỉ có những lợi ích là trên hết. Và cuộc chiến tranh kinh tế Mỹ – trung liệu có kéo dài đến 20 năm như dự báo của ông Jack Ma, chủ tịch Tập đoàn Alibaba hay không? Điều đó có lẽ còn phải trông chờ vào sự „xuống thang“ của Trung Quốc, và những kế hoạch giáng trả tiếp theo của Mỹ. Mọi diễn biến vẫn ở thế hi vọng./.

Loading

Views: 0

Cạnh tranh chiến lược biển Mỹ – Trung: Xu thế và giải pháp

Loading

Views: 0

EU – ASEAN: Ferne Partner (Teil 2)

Die sogenannte „Asienkrise“, die der stürmischen wirtschaftlichen Entwicklung der gesamten Region einen herben Rückschlag versetzte, mobilisierten aber auch die Kräfte in der ASEAN, die auf eine Intensivierung der Zusammenarbeit und eine rechtliche Kodifizierung dieser Zusammenarbeit drängten. Jene Vorstellungen einer „ASEAN-Community“, die 1997 in der „ASEAN-Vision“ ihren ersten Ausdruck gefunden hatten, wurden schließlich 2007 in der ASEAN-Charta präzisiert und in klar definierte juristische Normen gefasst. Bereits fünf Jahre zuvor hatte man ein Drei Säulen Modell entworfen, das diese ASEAN-Community konstituieren sollte: eine „Political-Security Community“, eine „Economic Community“ und eine „Socio-Cultural Community“.

Die innere Konsolidierung der ASEAN bildete eine wichtige Voraussetzung für ihr internationales Auftreten, für ihre Rolle als internationaler Akteur. Schon in den siebziger Jahren hatte die ASEAN damit begonnen, mit externen Mächten Dialogpartnerschaften einzurichten. Angefangen mit Australien und Neuseeland 1974/75 folgten bis Mitte der 90ger Jahre insgesamt zehn solcher Dialogpartner, darunter die USA, Indien und die VR China. Den jährlichen Treffen der Außenminister der ASEAN folgt regelmäßig ein Treffen der Außenminister der ASEAN mit denen der Dialogpartner.

Darüber hinaus hat die ASEAN eine ganze Reihe von regionalen und internationalen Dialogforen eingerichtet, mit denen sie sich als Motor und Koordinator der ökonomischen wie sicherheitspolitischen Zusammenarbeit nicht nur in Südostasien sondern ganz Asien zu etablieren und zu profilieren versucht. Die erste dieser Plattformen war  1994 das „ASEAN Regional Forum“. Es folgten der ASEAN+3 Dialog (VR China, Japan, Südkorea), der „East Asia Summit“, das Treffen der ASEAN Verteidigungsminister mit den Verteidigungsministern ihrer wichtigsten Dialogpartner, „Regional Economic Partnership Programme“ zwischen der ASEAN und jenen Staaten, mit denen die ASEAN ein Freihandelsabkommen abgeschlossen hat.

Von zentraler Bedeutung sind hierbei die Beziehungen und Vereinbarungen, welche die ASEAN mit der VR China getroffen hat. Peking war der ASEAN ja lange Zeit eher misstrauisch gegenüber gestanden und darin eine Kraft gesehen, die seinen Interessen widersprach. Vielmehr entsprach es dem chinesischen Kalkül, die Beziehungen zu seinen Nachbarn im Süden auf bilateraler Ebene zu verbessern. 1991 besuchte der damalige Außenminister Chinas, Qian Qichen, zum ersten Mal ein Ministertreffen der ASEAN. Fünf Jahre später wurde die VR China offiziell Dialogpartner der ASEAN. Offensichtlich hatte die chinesische Regierung erkannt, dass es sich bei der ASEAN um eine Organisation mit eher weichen Strukturen handelte, die man durch Engagement im eigenen Sinne beeinflussen konnte,  während eine konfrontative Haltung zu einem gegenteiligen Effekt führen könnte. So gelang es, denn auch 2002 der VR China mit den ASEAN-Staaten eine gemeinsame „Declaration on Conduct of the parties in the South China Sea“ zu unterzeichnen, obgleich sich keinerlei Annäherung in der Frage der territorialen Streitigkeiten zwischen China und den anderen Anrainerstaaten der Südchinesischen See abgezeichnet hatte. Gleichzeitig wurde zwischen China und der ASEAN eine Freihandelszone vereinbart, die in der Folgezeit eine sehr viel größere Wirkung entfalten sollte, als die „Declaration on Conduct“.

Ungeachtet all der Unterschiede in der Entwicklung der EU und der ASEAN zeichnen sich doch in 90ger Jahren des vergangenen Jahrhunderts wie im ersten Jahrzehnt dieses Jahrhunderts einige vergleichbare Herausforderungen ab, die man mit vergleichbaren Strategien zu bewältigen versuchte. Beide Organisationen unternahmen erhebliche Anstrengungen, die Zusammenarbeit zu vertiefen, dafür verbindliche Normen festzulegen und entsprechende Strukturen aufzubauen. Neue Mitglieder, die noch in den 80ger Jahren in Konfrontation zu diesen Gemeinschaften gestanden hatten, wurden in die EU wie die ASEAN aufgenommen, die nun über eine wesentlich größerer Fläche und Bevölkerungszahl verfügten. Doch damit wuchsen natürlich auch die Herausforderungen, die eine intensivere Integration zwangsläufig mit sich brachte. Letztere war aber unbedingt nötig, wenn man die Rolle eines eigenständigen Akteurs auf internationaler Ebene spielen wollte, der eine gemeinsame Außen- und Sicherheitspolitik durchzusetzen versuchte.

Die Parallelität der Herausforderungen, vor denen sich die EU wie die ASEAN gestellt sahen, schuf ein gutes Klima für eine engere Zusammenarbeit zwischen diesen beiden Regionalorganisationen. Stand das gesamte Handelsvolumen zwischen der EU und ASEAN 1990 bei 56,5 Milliarden US$, so steigerte sich dieses Volumen innerhalb von acht Jahren um mehr als das Vierfache. 2018 lag es bei 243,6 Milliarden US$. Die EU wurde somit nach der VR China der zweitgrößte Handelspartner der ASEAN. Umgekehrt war die ASEAN der drittgrößte Handelspartner der EU nach den USA und China, wobei zu berücksichtigen ist, dass viele Importgüter aus der VR China Teile enthalten, die in Südostasien gefertigt wurden. Darüber hinaus wurde die EU zum größten Investor in der ASEAN, deren Investitionen weit über denen der VR China und anderen wichtigen Handelspartnern der ASEAN lagen.

Im nichtkommerziellen Bereich wurden die Länder Südostasiens zu einem sehr erfolgreichen Partner der europäischen Entwicklungszusammenarbeit, die in anderen Teilen der Welt weniger spektakuläre Ergebnisse vorzuweisen hatte und hat. Dass einige Länder Südostasiens den Sprung vom Entwicklungsland zum Schwellenland geschafft haben, ist nicht zuletzt auf diese erfolgreiche Zusammenarbeit zurückzuführen. Denn diese Entwicklungszusammen-arbeit war ja nicht auf die klassischen Projektfelder begrenzt, sondern sie erstreckte sich auch auf wissenschaftlichen und kulturellen Austausch angefangen universitären Austauschprogrammen bis hin zum Tourismus.

Im Bereich der Sicherheitspolitik bzw. der sicherheitspolitischen Zusammenarbeit wurde jedoch nicht das Niveau erreicht, das man auf wirtschaftlicher, politischer und gesellschaftlicher Ebene hatte erreichen können. Dass eine solche Zusammenarbeit im elementaren Interesse der EU liegt, zeigt ein Blick auf die südchinesische See. Der wirtschaftliche Erfolg der EU beruht zu einem großen Teil auf ihrer als eine der weltweit größten Handelsmächte. 90% des weltweiten Handels werden über internationale Schifffahrtsrouten abgewickelt. 30% dieser Routen führen durch die südchinesische See. Jede Gefährdung dieser Schifffahrtslinien stellt daher eine ernste Gefährdung für den Handel zwischen der EU und ihren Partnern in Ost- und Südostasien aber auch für die europäischen Investitionen in dieser Region dar. Eine Eskalation der Konflikte in der südchinesischen See stellt darüber hinaus jene fundamentale Prinzip in Frage, das die EU weltweit propagiert und das auch in der ASEAN-Charta aufgenommen wurde: eine auf rechtlichen wie demokratischen Prinzipien basierende regionale Zusammenarbeit.

Angesichts dieser eindeutigen Interessenlage ist es verwunderlich, dass die EU und die ASEAN erst 2007 in einer gemeinsamen Erklärung sicherheitspolitische Herausforderungen thematisierten und vereinbarten, sich in sicherheitspolitischen Fragen gegenseitig zu konsultieren und zu kooperieren. Darüber hinaus wurde in der Erklärung ausdrücklich die „ASEAN Vision 2020“ begrüßt, in der weitere Integrationsschritte in den Bereichen Sicherheit, Wirtschaft, Kultur und Gesellschaft aufgezeigt wurden. Doch diesen Erklärungen folgten keine weiteren Schritte. Im November 2011 forderte Wolfgang Ischinger, schon damals Leiter der Münchener Sicherheitskonferenz, dass die EU mehr Präsenz im asiatischen Raum zeigen müsse.

Im darauf folgenden Jahr zeigte denn auch die EU ein deutlich größeres Engagement als in der Vergangenheit. Die damalige Außenbeauftragte der EU Catherine Ashton sprach von ihrem „Asian Semester“. Im April 2012 besuchte sie den ASEAN-EU Gipfel in Brunei, im Juli nahm sie am „ASEAN Regional Forum“ teil und unterzeichnet dort den 1967 von der ASEAN verabschiedeten Grundlagenvertrag.  Obgleich die EU bereits 1994 dem „ASEAN Regional Forum“ beigetreten war, hatte noch nie ein solch hochrangige VertreterIn der EU an dem Treffen des Forums teilgenommen, stattdessen hatte man sich auf eine Beobachterrolle zurückgezogen. Darüber hinaus wurden 2012 zwei Dokumente unterzeichnet und ratifiziert, die Richtlinien und Felder der zukünftigen Zusammenarbeit zwischen der EU und ASEAN aufzeigten: der „Bandar Seri Begawan Plan of Action to Strengthen the ASEAN-EU Enhanced Partnership (2013 -2017)“ und „Guidelines on the EU’s Foreign and Security Policy in East Asia“.

Im Unterschied zu der gemeinsamen Erklärung aus dem Jahr 2007 wurde hier auf die Konflikte in der südchinesischen See  in einem eigenen Kapitel eingegangen. Explizit benennen die „Guidelines“ auf die Gefahr eines militanten Nationalismus, der zu einer gefährlichen Eskalation der vorhandenen Konflikte führen könnte ungeachtet der wachsenden ökonomischen Interdependenz zwischen den Ländern der Region. Die EU unterstütze daher mit großem Nachdruck alle Bemühungen um eine regionale Integration und das Entstehen einer effektiven, regelbasierten und multilateralen Sicherheitsarchitektur.

Was ist daraus geworden?

Wenn wir aus der Distanz von etlichen Jahren auf jene Aktivitäten und Erklärungen zu Beginn dieses Jahrzehnts blicken, so lässt sich folgende Bilanz ziehen. Die wirtschaftlichen Beziehungen zwischen der EU und der ASEAN sind weiter gewachsen. In dem Maße, in dem die wirtschaftlichen Beziehungen zu der VR China in Europa kritischer gesehen werden, eröffnen sich für den Handel und die Investitionen der EU in Südostasien neue Möglichkeiten und Räume. Ebenso haben sich die Beziehungen in den Bereichen Kultur und Bildung weiter verstetigt, auch wenn diese von Land zu Land recht unterschiedlich verlaufen sind. Dies können Sie sicherlich im Einzelnen sehr viel besser und differenzierter beurteilen als ich. Ein weltweites Anwachsen der Tourismusströme haben natürlich auch zu einem Anwachsen der Tourismusströme zwischen Europa und Asien geführt; wobei zum ersten Mal auch signifikantes Anwachsen der Tourismuszahlen von Südostasien nach Europa zu verzeichnen ist.

Die stärksten Defizite taten sich hingegen in den Bereichen politischer oder sicherheitspolitischer Zusammenarbeit auf. Spitzenpolitiker der EU sind zu wenig in Südostasien präsent. Das „Asian Semester“ von Catherine Ashton war offensichtlich kurz und erfuhr keine Verlängerung. In den letzten Jahren haben Europas Erfahrungen und Vorstellungen von regionaler Integration und Sicherheitsarchitektur in Südostasien allenfalls rhetorische Anerkennung gefunden.  Das vor geraumer Zeit vom damaligen belgischen Ministerpräsidenten Mark Eyskens ebenso selbstkritische wie zutreffende Urteil: „Die EU ist ein wirtschaftlicher Riese, ein politischer Zwerg und ein militärischer Wurm“ scheint sich in Südostasien erneut zu bewahrheiten.

Was sind die Ursachen hierfür?

Was sind die Ursachen dafür, dass der politische wie der sicherheitspolitische Dialog zwischen der EU und der ASEAN ins Stocken geraten ja fast zum Erliegen gekommen ist . Ich spreche hier nicht nur vom Austausch auf höchster Ebene, den Treffen von Spitzenpolitikern sondern von einer breiten politischen Debatte in den Medien und in einer Öffentlichkeit, die man gemeinhin als track two beschreibt.

Das liegt zunächst an dem Bild, das die EU in den vergangenen Jahren nach außen ausgestrahlt hat. Lange Zeit galt der Satz des ehemaligen ASEAN-Generalsekretärs Surin Pitsuwan: „Die EU sind für uns keine Modell, aber eine Inspiration“. Solche Sätze sind seit einiger Zeit nicht mehr zu hören. Die Ursachen hierfür sind Ihnen allen vertraut. Schuldenkrise, Migration, Brexit, Anwachsen rechtspopulistischer Strömungen, die in einigen Mitgliedsländern die Regierung stellen und Konzepte wie die „illiberale Demokratie“ propagieren, die grundlegenden Werten der EU diametral widersprechen.

Der wichtigste Partner der EU die USA stellen nicht nur gemeinsame Werte in Frage sondern versuchen sich wirtschaftliche Konkurrenten zu profilieren, die sich von wirtschaftlicher Abschottung größeren Wohlstand versprechen als von wirtschaftlicher Kooperation und sich von Konfrontation ein höheres Maß an Sicherheit versprechen als von Kooperation und mühsam ausgehandelten Kompromisslösungen. Die VR China ist zwar an der EU als gemeinsamer Markt und als starker wirtschaftlicher Akteur interessiert, versucht aber nach Kräften, die Risse in der EU zum eigenen Vorteil zu nutzen, das Abstimmungsverhalten einiger EU-Mitglieder im Sinn der chinesischen Politik zu beeinflussen und sie in politische Formate einzubinden wie z. B. 16 +1 oder die Belt and Road Initiative.

Die inneren Konflikte der EU und die Kräfte von außen, die auf die EU einwirken und jene disruptiven Tendenzen weiter verstärken, verhindern im zunehmenden Maße, dass die EU als unabhängiger Akteur auf der internationalen Bühne auftreten kann oder gar ernstgenommen wird. Die Konflikte in Syrien wie auch die Versuche ihrer Beilegung belegen dies allzu deutlich. Einer der größten Erfolge der Diplomatie der EU, das Uran-Abkommen mit dem Iran, wurde mit der Aufkündigung dieses Abkommen durch die USA, praktisch zunichte gemacht. All das untergräbt natürlich auch das Ansehen und die Autorität der EU in Südostasien und andern Teilen Ostasiens. Denn ein Akteur, der Konflikten in seiner unmittelbaren und mittelbaren Nachbarschaft mehr oder weniger hilflos gegenübersteht, wird natürlich kaum in der Lage sein, Entwicklungen in geographisch weit entfernten Gebieten in seinem Sinne zu beeinflussen.

Leider ergibt sich auf Seiten der ASEAN ein vergleichbares Bild. Der Unterschied liegt vielleicht darin, dass bei der EU Rückschritte in der Kooperation zu verzeichnen sind, während bei der ASEAN eher mangelnde Fortschritte bei der Verwirklichung des Beginn dieses Jahrhunderts in Angriff genommenen Drei-Säulenmodells einer „Political Security Community“, einer „Economic Community“ und einer „Social Cultural Community“ zu konstatieren sind. Obgleich von diesen drei Säulen die „Political Security Community“ an erster Stelle genannt wird, sind gerade in diesem Bereich die geringsten Fortschritte festzustellen.

In der südchinesischen See sind die ASEAN-Staaten mit einer Politik der VR China konfrontiert, die durch den Ausbau ihrer Marine- und Luftstreitkräfte sowie durch die Aufschüttung künstlicher Inseln und deren Bestückung mit modernen Raketensystemen und leistungsfähigen Überwachungssystemen ihre militärische Position konsequent ausgebaut hat. Gleichzeitig gelang es der VR China, durch ökonomische Anreize manchmal auch durch Sanktionen uneingeschränkte Unterstützung bei einigen Regierungen der ASEAN wie z.B. Kambodscha zu erzielen andere von einer Chinakritischen Haltung abzuhalten. Kein ASEAN-Staat hat es daher gewagt, Chinas manifeste Aufrüstung in der südchinesischen See zu thematisieren oder gar offen zu kritisieren. Die Verhandlungen über einen Code of Conduct hatten 2002 zur Unterzeichnung einer „Declaration on Conduct of the Parties in the Southchina Sea“ geführt, doch seitdem sind zwar unzählige Erklärungen verabschiedet und Gesprächsrunden unterschiedlichen Formats abgehalten worden, aber keine Vereinbarung über einen gemeinsamen „Code of Conduct“ getroffen worden. Chinas Aufrüstung hat vielmehr auch in den ASEAN-Staaten einen manifesten Aufrüstungsprozess ausgelöst, der aber zwischen den einzelnen ASEAN-Staaten nicht abgestimmt ist und teils von einer sehr schrillen nationalistischen Rhetorik begleitet ist. Wir müssen daher auch in Südostasien eine Entwicklung konstatieren, die oft als „Asian Paradox“ bezeichnet wird. Nämlich auf der einen Seite eine zunehmende ökonomische Verflechtung, nicht nur Handels- und Warenströme sondern auch Fertigungsketten umspannen die die ganze Region die VR China eingeschlossen und schaffen ökonomische Abhängigkeiten, die die Volkswirtschaften der einzelnen Länder fest aneinander binden. Auf der anderen Seite fehlt jedoch eine sicherheitspolitische Architektur, die diesen ökonomischen Beziehungen einen verlässlichen Rahmen bietet. Der Versuch einiger ASEAN-Staaten, die militärische Präsenz der USA, Japans, vielleicht auch Indiens oder sogar Russlands zu nutzen, um in Südostasien ein militärisches Gleichgewicht herzustellen, klingt plausibel, ist aber mit großen Risiken behaftet. Da die EU über keine eigenen militärischen Kapazitäten verfügt, um fern der eigenen Grenzen operieren zu können, wird sie in solchen militärstrategischen Überlegungen und Modellen keine Rolle spielen können.

Es zählt zu den elementaren Erkenntnissen Europas, die aus bitteren Erfahrungen zweier Weltkriege gewonnen wurde, dass die Ziehung von Grenzen, die Räume der Souveränität über Territorium, Menschen und natürliche Ressourcen Zentimeter genau definieren, sich bei der Beilegung von Konflikten als wenig hilfreich erwiesen haben. Ein auf Völkerrecht und verbindlichen Regeln basiertes System regionaler und internationaler Kooperation hat – ungeachtet aller Defizite – sehr viel größere Stabilität erzielen können. In dem Maße, in dem auf militärische Macht zur Durchsetzung politischer Ziele gesetzt wird und multilaterale Vereinbarungen durch bilaterale Deals ersetzt werden, die sich an einem kurzfristigen und kurzsichtigen Kosten-Nutzen-Denken orientieren, finden dagegen jene europäischen Normen und Aushandlungsverfahren immer weniger Resonanz und Akzeptanz in Südostasien wie in anderen Teilen der Welt.

Die von mir skizzierte Bilanz der Beziehungen zwischen Europa und Südostasien zwischen der EU und der ASEAN gibt wenig Anlass zu Optimismus. Die Zeiten, in denen sich die EU und die ASEAN als erfolgreichste Regionalorganisationen auf internationaler Ebene profilieren konnten, scheinen in weite Ferne gerückt zu sein. Stattdessen breitet sich Skeptizismus und Ernüchterung aus. Letztere kann ja durchaus einen sehr heilsamen Effekt haben, im Sinne des schönen Zitats von Bert Brecht: „Denken ist was auf Schwierigkeiten folgt und dem das Handeln vorausgeht.“ Kurzum Krisen bieten die Chance, das Handeln nochmal zu überdenken und zu reflektieren.

Ein erster Schritt sollte hierbei eine kritische Einschätzung des eigenen Kräftepotenzials und Handlungsspielraums sein. In der Vergangenheit wurde dieser oft überschätzt. Der „Bandar Seri Begawan Plan of Action to Strengthen the ASEAN-EU Enhanced Partnership (2013 -2017)“ von 2012 entwirft z. B. ein so breites Tableau von Kooperationsfeldern, dass man sich eher an den Weihnachtswunschzettel eines sehr unbescheidenen Kindes erinnert fühlt als an einen klug durchdachten Handlungsrahmen, der in einem überschaubaren Zeitrahmen umgesetzt werden kann. Es ist daher wenig verwunderlich, dass man 2018 auf eine Evaluation dieses Plans und seiner Ergebnisse verzichtete.

Eine solche Überschätzung der eigenen Fähigkeiten und Möglichkeiten folgt in aller Regel Enttäuschung und eine depressive Unterschätzung der eigenen Möglichkeiten. Aus solch einer Handlungsunfähigkeit wird man nur herauskommen, wenn man zunächst das eigene Potenzial realistisch einschätzt und entsprechende Schwerpunkte setzt. Es müssen klar umrissene Handlungsfelder definiert und Partner identifiziert werden, die für dieses Projekt am geeignetsten sind. Letzteres erscheint selbstverständlich, aber häufig wird die Wahl der Counterparts von Überlegungen bestimmt, von denen man sich eine schnelle Vereinbarung des Projekts verspricht.

Die EU unterhält in Südostasien eine Reihe gut ausgestatteter diplomatischer Vertretungen, die – nach meinem Dafürhalten – zu geringe Präsenz zeigen. Stärker als in der Vergangenheit sollten sie sich damit befassen, konkrete Kooperationsprojekte zu entwickeln, der erstes Kriterium eben nicht sein sollte, dass „sie hoch angesiedelt sind“, sondern dass sie Wirkung zeigen.

In Zeiten, in denen die Beziehungen auf hoher politischer Ebene ins Stocken geraten sind und sich nicht in dem Maße und in der Richtung entwickeln, wie man das noch vor einigen Jahren gehofft hatte, kommt den Beziehungen auf anderen, politisch weniger prominenten Ebenen eine besondere Bedeutung zu. Die EU muss Softpower entwickeln und soziale Gruppen ansprechen, von denen man sich erhoffen kann, dass sie die öffentliche Meinung und die Politik prägen werden. Der Zusammenarbeit im Bereich von Bildung und Ausbildung kommt hier eine besondere Verantwortung zu und es müssen auch die notwendigen Mittel bereitgestellt werden, um diesen hohen Erwartungen nachkommen zu können.

Diese Politik braucht einen langen Atem und ein Engagement, das sich an den grundlegenden Erfahrungen Europas orientiert. Das mag mitunter nicht so attraktiv sein, wie jene Politik, die sich alleine an den eigenen Interessen orientiert, die zur Verfügung stehenden Machtmittel rigoros einsetzt und ein allenfalls selektives Verständnis völkerrechtlicher Normen hat. Natürlich lassen sich mit solch einem Vorgehen überraschend große Handlungsspielräume eröffnen, die Frage ist, ob sie auf Dauer Stabilität schaffen und Konflikte erfolgreich beilegen können. Wer die europäische Geschichte kennt, kennt eine Reihe solcher Versuche, allein militärische Macht zur Durchsetzung seiner Ziele einzusetzen und alle Normen internationalen Rechts auszusetzen. Man ist sich daher auch der hohen Kosten ihres Scheiterns bewusst./.

Dr Gerhard Will

Loading

Views: 0

EU – ASEAN: Ferne Partner (Teil 1)

Zwar hatte es nachweisbar schon seit den Zeiten des römischen Kaiserreiches Handelsbeziehungen zwischen Europa und Ost bzw. Südostasien gegeben, aber diese Beziehungen gingen über viele Stationen und unterschiedliche Zwischenhändler arabischen, persischen und natürlich auch malaysischen Ursprungs; Kulturen, die auf Handel und Austausch angelegt waren und davon auch materiell profitierten. Die wirtschaftliche Stärke dieser Händler beruhte auf einem weitverzweigten Netz von Handelspartnern, denen man aufgrund langjähriger Geschäftsbeziehungen vertrauen konnte, auf einem über die Jahrzehnte gewachsenen Erfahrungs- und Informationsschatz, wo man was zu günstigen Preisen und guter Qualität kaufen konnte, welche sicheren Häfen man anlaufen konnte und nicht zuletzt wen man bestechen musste und konnte, um die erforderlichen Transaktionen durchführen zu können. Die Anwendung brachialer oder gar militärischer Gewalt gehörte nicht zum Kalkül dieser Kaufleute, vielmehr hing der Erfolg ihrer Operationen in hohem Maß davon ab, ob es ihnen gelang, staatlicher Gewalt auszuweichen, sie zu umgehen oder sich deren Zustimmung durch materielle Leistungen aller Art zu erkaufen.

Die europäischen Kaufleute, die in den ersten Jahrzehnten des 16. Jahrhunderts nach Südostasien vordrangen, konnten sich ganz anderer Machtressourcen bedienen. Gestützt auf die militärische Überlegenheit, die jene mit Kanonen bestückten Schiffe boten, ließen sich ihre Handelsinteressen auch mit nichtökonomischen Mitteln im Klartext mit militärischer Gewalt durchsetzen. Auch die europäischen Missionare, die die ersten kulturellen Kontakte zwischen Europa und Südostasien herstellten und sich meist sehr viel intensiver mit den Kulturen und den sozialen Gegebenheiten Südostasiens befassten als die wirtschaftlichen und militärischen Akteure Europas, hatten auch letztlich die christliche Mission diesen Schutz militärischer Gewalt im Rücken, auch wenn dieser in etlichen Fällen die Ermordung europäischer Missionare nicht zu verhindern vermochte.

Mehr als zwei Jahrhunderte lang konzentrierten sich die europäischen Mächte auf die Errichtung einzelner Stützpunkte in Südosten, um dort ihren ökonomischen wie wirtschaftlichen Einflussbereich abzusichern und auszuweiten. Erst Ende des 18. Jahrhunderts begannen sie damit, die direkte Herrschaft über immer größere Gebiete Südostasiens auszuüben und dort Kolonien zur errichten. Diese direkte Herrschaft des Kolonialismus erlaubte es den europäischen Kolonialmächten, nicht nur höchst profitable Handelsgeschäfte zu betreiben, sondern die landwirtschaftlichen Ressourcen dieser Länder durch großflächig organisierten Plantagenanbau auszubeuten und die mineralischen Ressourcen in eigenen Bergwerken abzubauen.

Der europäische Kolonialismus besser gesagt die europäischen Kolonialmächte Spanien, die Niederlande, England und schließlich auch Frankreich hatten Südostasien unter sich aufgeteilt und alles daran gesetzt die Wirtschaft dieser Länder an den wirtschaftlichen Bedürfnissen der Mutterländer auszurichten. Zwar gelang es den Kolonialmächten nur unvollkommen die wirtschaftlichen Beziehungen jenes wirtschaftliche Beziehungsgeflecht zu zerschneiden, das sich dort über die Jahrhunderte etabliert hatte, aber auf politischer Ebene waren die verschiedenen Kolonialgebiete strikt voneinander abgeschottet. Selbst die Zusammenarbeit auf dem Gebiet der Geheimpolizei, der Austausch entsprechender Informationen war eher zufällig als systematisch. Für diejenigen, die sich gegen den Kolonialismus erhoben, hatte dies auch Vorteile. So fand der Gründungskongress der KP Vietnams 1930 in der britischen Kolonie Hongkong statt, weil man sich da vor dem Zugriff der französischen Sûreté geschützt wusste.

Langfristig sehr viel prägender und wichtiger war jedoch die rechtliche Vorstellung von Grenzen und Grenzlinien, von territorialer Integrität, die die Kolonialmächte mit nach Südostasien brachten und damit eine Tradition begründeten, die sich bis zum heutigen Tage auswirkt. Das beginnt mit dem Vertrag von Zaragossa (1529), der nach dem Vorbild des Vertrags von Tordesilla (1494) eine klare Aufteilung der spanischen und portugiesischen Interessensphären in Südostasien vornahm und findet seine Fortsetzung in zahllosen Verträgen, in denen die Kolonialmächte die Grenzen ihrer Herrschaftsgebiete klar in Längen- und Breitengraden definierten. Dies bestärkte die Vorstellung, dass sich Konflikte durch eine klar definierte Grenzziehung regeln lassen; ein Konzept, das nur bedingt tauglich ist, wie die Konflikte in der südchinesischen See allzu anschaulich belegen.

Angesichts einer Sicht, die der Zerstörung alter Kulturen und Wirtschaftssysteme und der mit massiver Gewalt durchgesetzten neuen Strukturen keineswegs zu Unrecht breiten Raum einräumt, sollte andere oft gegensätzliche Aspekte der kolonialen Herrschaft nicht außer Acht gelassen werden.  Seit Jahren wird  in intellektuellen Kreisen Südostasiens sehr angeregt darüber diskutiert, inwieweit einzelne Akteure der Kolonialen Herrschaft, wichtige Beiträge zur Erforschung der eigenen Geschichte, die in einigen Ländern sehr stark in Vergessenheit geraten war, geleistet haben, indem sie alte Schriftsysteme entziffert, neue Schriftsysteme entwickelt und Bauten wieder entdeckten, die bereits wieder in Vergessenheit geraten waren. Fortschritte in der Tropenmedizin und Gesundheitsfürsorge, die Umsetzung grundlegender Infrastrukturmaßnahmen wie der Bau von Straßen und Eisenbahnlinien zielten natürlich auf die Interessen der Kolonialherrschaft ab, sie hinterließen ein Erbe, das auch für die postkolonialen Zeiten von Nutzen war und dessen heutzutage auch öffentlich gedacht wird; man denke nur an die vielfältige Nennung des Namens Pasteur.

So signifikant die eben genannten Punkte in einigen Bereichen gewesen sein mögen, entscheidender für die weitere politische Entwicklung der europäischen Kolonialgebiete waren politische Konzepte, die in Europa ihren Ursprung hatten, aber wesentlich dazu beitrugen, die europäische Kolonialherrschaft in Übersee zu erschüttern und schließlich zum Einsturz zu bringen.

Seit dem Ende des 19. Jahrhunderts spielte hier der Nationalismus eine entscheidende Rolle. Die Idee des souveränen Nationalstaats, dessen Bürger mit gleichen Rechten ausgestattet sind und daher einen homogenen Volkskörper bilden, der die Basis Staatsgewalt darstellt, verfügte auch in Europa über keine allzu lange Tradition. Umso erstaunlicher war der rasante Erfolg, den diese seit der Mitte des 19. Jahrhunderts in Europa hatte und der dazu führte, dass sich die politische Landkarte in Europa in wenigen Jahrzehnten grundlegend veränderte.

Noch unerwarteter und daher spektakulärer war Erfolg des Nationalismus in den Kolonialgebieten. Nachdem erste Versuche der traditionellen Eliten, das überkommene Herrschaftssystem zu restaurieren und die Kolonialmächte zu vertreiben, kläglich gescheitert waren, gewann jene europäische Idee des Nationalismus in den Kolonien mehr und mehr an Attraktivität. Denn diese Ideologie richtete sich eben nicht nur an die Eliten sondern an alle Einwohner des Landes. Sie verlieh ihnen neues Selbstbewusstsein und appellierte an ihren Stolz, ein Bürger dieses Landes zu sein und ihren Willen, sich nicht länger einer Herrschaft von Leuten zu beugen, die aus fernen Ländern stammten und nur daran interessiert waren, die Ressourcen ihrer Kolonien rücksichtslos auszubeuten; eine Erfahrung, die auch die Masse der Bevölkerung jeden Tag sehr schmerzhaft erleben musste. Der Kampf gegen den Kolonialismus war damit auf eine ungleich größere Massenbasis gestellt als in jenen Konzeptionen, für die Politik allein eine Aufgabe der Eliten war, während die breite Masse der Bevölkerung Herrschaftsverhältnisse einfach hinzunehmen hatte, von deren Gestaltung sie aber ausgeschlossen war.

Mobilisierung der Massen ließ sich aber nur dann erfolgreich in Szene setzen, wenn jener Appell an das politische Bewusstsein durch eine System der politischen Organisation ergänzt und unterstützt wurde, das aus die politisch Mobilisierten zu einem durchsetzungsfähigen  schlagkräftigen Akteur formte. Auch hier kam eine Konzeption zu Hilfe, die in Europa ihre Wurzeln hatte und allgemein mit dem Begriff des Kommunismus verbunden wird. Was jedoch in den Kolonien Südostasiens interessiert und faszinierte waren nicht so sehr die Schriften von Karl Marx und Friedrich Engels über das Wesen und Wirken des hochentwickelten Kapitalismus, sondern die  Schriften Lenins, dessen Denken im hohen Maße von europäischen Philosophen und Politikern geprägt. Es sind vor allem zwei Punkte, die Lenins Theorien so attraktiv machten: Zum einen räumte Lenin der Revolution in den Kolonien, der Peripherie des Kapitalismus, einen ebenso hohen Stellenwert ein wie der Revolution in den Metropolen des Kapitalismus. Die Kämpfer gegen den Kolonialismus standen somit auf einer Stufe mit den proletarischen Revolutionären in den Metropolen und hatten somit gleichberechtigten Anteil am weltrevolutionären Prozess. Ho Chi Minh berichtet darüber wie von einem religiösen Erweckungserlebnis:

„Lenins Thesen zur nationalen und kolonialen Frage“ erweckten bei mir ein Hochgefühl, eine große Begeisterung, einen starken Glauben und halfen mir, die Probleme klar zu sehen. Meine Freude war so groß, dass mir darüber die Tränen kamen. Allein in meinem Zimmer, rief ich aus, als stünde ich vor einer großen Menge: Liebe unterdrückte und unglückliche Landleute! Hier ist das, was wir brauchen, hier ist der Weg zu unserer Befreiung.“ (S. 273)

Die Attraktivität der Leninschen Thesen beruhte jedoch nicht nur auf dem hohen Stellenwert, den er dem Kampf der unterdrückten Völker in den Kolonien beimaß, sondern auch auf seinen Anleitungen zum praktischen Handeln. Sein Verständnis von einer Partei neuen Typs, von Berufsrevolutionären, als Motor des revolutionären Prozesses und nicht zuletzt die von der Notwendigkeit der engen Verbindung zwischen politischen und bewaffneten Kampf prägte das Denken und Handeln vieler antikolonialer Gruppierungen und verhalf ihnen auch, sich an die Spitze des antikolonialen Kampfes zu setzen.

Der Erfolg dieses Kampfes, der zur nationalen Unabhängigkeit der Länder Südostasiens führte, war letztlich eng mit dem 2. Weltkrieg verbunden, der die Kräfte der Kolonialmächte erheblich geschwächt und die der Kämpfer gegen den Kolonialismus und deren Militanz gestärkt hatte; nicht zuletzt auch dadurch, dass sie in den Besitz von Waffen der Alliierten wie der Japaner gelangten. Entwicklungen auf dem europäischen Kontinent hatten somit auch in dieser Phase maßgeblich die Gestaltung der politischen Landkarte Südostasiens bestimmt. 1949 beendeten die Niederland ihre Kolonialherrschaft in Indonesien. Fünf Jahre nach der Niederlage in Dien Bien Phu sah sich Frankreich gezwungen, seine Truppen aus Indochina abzuziehen und auf der Genfer Konferenz einer Friedensregelung zuzustimmen. Großbritannien entließ 1963 Malaysia in die Unabhängigkeit und zog all seine Truppen „East of Suez“ ab und die USA übernahmen mehr und mehr jene Rolle, die einst die europäischen Mächte in Südostasien gespielt hatten. Ihr Versuch, europäische Mächte in ihre Südostasienpolitik einzubinden, stieß auf eine äußerst geringe Resonanz.

Es mag sie vielleicht etwas verwundert haben, dass ich einleitend diesen weiten historischen Bogen gespannt habe, aber mir erschien es wichtig, diese historischen Hintergründe, auf die so gerne schlagwortartig Bezug genommen wird, etwas genauer auszuleuchten. Versucht man eine Bilanz der Beziehungen zwischen Europa und Südostasien vom 16. bis zur Mitte des 20 Jahrhundert zu ziehen, so lassen sich folgende Punkte festhalten: gemessen an den damaligen technischen Möglichkeiten gab es sehr intensive Beziehungen zwischen Europa und Südostasien. Diese Beziehungen erstreckten sich auf höchst gegensätzliche Lager und sehr unterschiedliche Ebenen. Europäische Mächte brachten große Teile Südostasiens unter ihre Kontrolle und beuteten die Ressourcen dieser Länder aus. Aber aus Europa kamen auch die Ideen und Konzepte, mit denen der Kampf gegen den Kolonialismus erfolgreich geführt und die Kolonialherrschaft beendet werden konnte. In beiden Fällen beförderten sie aber nicht das Kooperations- sondern das Konfliktpotenzial zwischen diesen beiden Teilen der Welt.

Nach dem Ende des 2. Weltkrieges wurde Europa maßgeblich von zwei Entwicklungen geprägt. Zum einen war dies der Ost-West-Konflikt, der Europa in zwei antagonistische Blöcke spaltete. Demgegenüber stand das Bemühen der westlich orientierten Länder die ökonomische und politische Integration weiter voranzutreiben und zu festigen. Aus der 1951 zwischen den Beneluxstaaten, Frankreich, Italien und der Bundesrepublik Deutschland gegründeten Montanunion wurde 1957 der Europäische Wirtschaftsgemeinschaft, aus 1993 durch den Vertrag von Maastricht der Europäische Gemeinschaft hervorging, die seit 2009 durch den Vertrag von Lissabon zur Europäischen Union wurde, in der nun 28 europäische Länder Mitgliedschaft besitzen. Aus den leidvollen Erfahrungen zweier Weltkriege war man zu der Überzeugung gelangt, dass ein gemeinsamer Markt, eine wirtschaftliche Union durch entsprechende politische Rahmenbedingungen sowie durch ein dichtes Netz persönlicher Kontakte auf den unterschiedlichsten Ebenen begleitet sein müssen, damit Konflikte bewältigt und nachhaltige Stabilität gewährleistet werden kann.

Auch in Südostasien hat es nach dem 2. Weltkrieg nicht an Versuchen gefehlt, regionale und internationale Kooperation auf den Weg zu bringen und entsprechende Vereinbarungen zu treffen. Im April 1955 waren in der indonesischen Stadt Bandung Vertreter von 29  Nationalstaaten aus Asien und Afrika – darunter solche Schwergewichte wie Indien und China  zusammengekommen, um über Mittel und Wege einer stärkeren Zusammenarbeit zu beraten, um dadurch ihren Ländern auf internationaler Ebene größeres Gewicht zu verleihen. Einen vergleichbaren Versuch hatte zehn Jähre später der damalige Präsident Sukarno mit seinem Konzept der „New Emerging Forces“ unternommen. Beiden Projekten war gemein, dass sie über Proklamationen nicht hinauskamen und keine Strukturen schaffen konnten, die Einfluss auf internationaler Bühne hätten ausüben können.

Wie bereits oben erwähnt, setzten die die USA zu Beginn der 50ger Jahre des vergangenen Jahrhunderts alles daran, jene Lücke, jenes Machtvakuum zu füllen, das sich nach dem Abzug der europäischen Mächte aus Südostasien ergeben hatte. Als Parallele zu der den Atlantik übergreifenden Verteidigungsorganisation der NATO gedacht war im September 1954 – wenige Monate nach der Niederlage in Dien Bien Phu und dem Abschluss des Genfer Indochina-Abkommens – unter amerikanischer Führung die SEATO (South East Asia Treaty Organization) gegründet worden, die sich von Anfang als militärisches Verteidigungsbündnis verstand, das keine weiteren Ansprüche auf ökonomische und politische Kooperation stellte. Ein ähnliche Zielsetzung verfolgte das 1971 gegründete „Five Power Defence Agreement“, das zwischen Großbritannien, Australien, Neu Seeland, Malaysia und Singapur vereinbart wurde. Auch diesen beiden Organisationen gelang es nicht, wirklichen Einfluss auf die militärische und sicherheitspolitische Situation Südostasiens zu nehmen, die seit den 60ger Jahren durch den sich dramatisch eskalierenden Krieg in Vietnam geprägt und gefährdet wurde.

Als im August 1967, auf dem Höhepunkt des Krieges in Vietnam, sich die westlich orientierten Staaten Südostasien, Thailand, Malaysia, Singapur Indonesien und die Philippinen sich zur „Association of Southeast Asian Nations“ (ASEAN) zusammenschlossen, wurde dies damals von vielen Beobachtern nur als ein weiterer Versuch gesehen, die Kräfte des westlichen Lagers in Südostasien zusammenzuschließen und hier eine gemeinsame Front gegen jene kommunistische Gefahr zu errichten, die von Vietnam ausgehend ganz Südostasien unter ihre Herrschaft zu bringen drohte. Diese Einschätzung folgte der Domino-Theorie, die in der 50ger Jahren der damalige amerikanische Präsident Eisenhower so formulierte: „Wenn Vietnam fällt werden auch die anderen Länder Südostasiens wie eine Reihe Dominosteine fallen.“

Im Abstand von einigen Jahrzehnten kann man jedoch sehr viel besser erkennen als dies den Zeitgenossen bewusst war, dass hier etwas grundlegend Neues im Entstehen begriffen war. Zum ersten Mal hatten sich fünf Länder Südostasiens ohne Beteiligung externer Mächte oder Großmächte zu Staatenbund zusammengeschlossen. Angesichts jener mörderischen Auseinandersetzung zwischen Ost und West, die sich zu jenem Zeitpunkt in Indochina und damit im Herzen Südostasiens abspielte, war dies zumindest ein erster Schritt, einen unabhängigen Weg jenseits der Blockkonfrontation einzuschlagen. Diesem ersten Schritt folgten jedoch etliche Jahre keine weiteren.

Erst die Siege, die die kommunistischen Kräfte in Kambodscha, Vietnam und Laos errungen hatten und die zielstrebigen Versuche Hanois, „besondere Beziehungen“ zu seinen beiden Nachbarländern Laos und Kambodscha aufzubauen und in Indochina ein regionales Bündnis unter seiner Führung zu etablieren, veranlassten auch die ASEAN-Mitglieder, ihrer Organisation verbindlichere Strukturen zu geben. Im Februar 1976 fast neun Jahre nach der Gründung der ASEAN unterzeichneten deren Mitglieder den „Treaty of Amity and Cooperation“ (TAC), der den sie zum Grundlagenvertrag der ASEAN erklärten.

Mit dem Zusammenbruch des von der Sowjetunion geführten Sozialistischen Lagers und dem Ende des sowjetisch-chinesischen Konflikts verschwanden auch in Südostasien jene Frontlinien der Blockkonfrontation, die diese Region Jahrzehnte lang tief gespalten hatte. Die Länder Indochinas mussten sich nun außenpolitisch wie außenwirtschaftlich neu orientieren. Dies war jedoch ein Prozess, der von Seiten der ASEAN wie der neuen Beitrittskandidaten einige Anstrengungen erforderte. 1995 wurde Vietnam Mitglied der ASEAN, 1997 folgten Laos und Myanmar, zwei Jahre später Kambodscha. Gerade mit der Aufnahme Myanmars hatte die ASEAN ihre Unabhängigkeit gegenüber den westlich orientierten Ländern unter Beweis gestellt, die mit Hilfe weitgehender Sanktionen Myanmars Militärregime in die Knie zwingen wollten. Die ASEAN setzten dagegen auf „Constructive Engagement“ um dort einen grundlegenden Wandel des politischen Systems zu erreichen.

Dr. Gerhard Will 

Dr. Gerhard Will ist  Politikwissenschaftler in Deutschland. Seine Forschungsgebiete sind Transformationsprozesse sozialistischer Länder Asiens; Sicherheitspolitik, wirtschaftliche Entwicklung und Integrationsprozesse in Südostasien; Südostasiens Rolle in der internationalen Politik.

Loading

Views: 0

Thành – bại trong chính sách „xoay trục“ tới Trung Quốc của Tổng thống Philippines R.Duterte

NHỮNG THÀNH CÔNG GẶT HÁI ĐƯỢC
Việc tăng cường quan hệ với Trung Quốc (TQ) giúp nước này hướng đến quỹ đạo của chiến lược ngoại giao cân bằng nước lớn. Philippines dưới thời Tổng thống R. Duterte thực hiện tương đối thành công chính sách ngoại giao cân bằng Trung – Mỹ, trong đó mô hình chung của ASEAN là „kinh tế hướng về Trung Quốc, an ninh dựa vào Mỹ“. Một thực tế không thể phủ nhận là „Philippines đã thành công trong việc thoát khỏi thế „tiến thoái lưỡng nan“ trong quan hệ với TQ và Mỹ. Là đồng minh của Mỹ nhưng vẫn thúc đẩy quan hệ gần gũi với TQ và giảm thiểu được sức ép từ cả phía Mỹ và TQ. Theo đó, Philipines và TQ cũng đã Quy hoạch chung tương lai phát triển quan  hệ song phương, và đạt được nhận thức chung quan trọng, hai bên nhất trí quyết định thiết lập „Quan hệ đối tác chiến lược toàn cầu“ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, chân thành, thẳng thắn, bình đẳng, cùng có lợi và hợp tác cùng thắng lợi.
President R.Duterte and President Xi Jinping
Philippines đang tương đối thành công trong việc tăng cường quan hệ kinh tế với TQ. Từ khi quan hệ giữa hai nước được cải thiện, quan hệ kinh tế gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là hoạt động kinh tế của TQ ở Philippines. Lĩnh vực đầu tư, thương mại và du lịch được đẩy mạnh, thậm chí phía TQ còn nhận định, hai bên đãcbước vài thời kì „mùa Xuân“ trong quan hệ song phương. Đến nay, TQ đã trở thành một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Philippines. Sự gia tăng nhanh chóng hoạt động đầu tư của TQ ở Philippines thời gian gần đây giúp cho Philippines giải được cơn khát vốn trong việc đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém. Việc Philippines tuyên bố tham gia vào sáng kiến „Vành đai và Con đường“ đã khiến dòng chảy vốn đầu tư của TQ tăng một cách mạnh mẽ. Tháng 10/2016, TQ cam kết tín dụng 9 tỷ USD cho Philippines và ký các thỏa thuận hợp tác kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng hơn 15 tỷ USD. Tháng 11/2018, hai bên tiếp tục ký kết 29 thỏa thuận hợp tác trong nhiều lĩnh vực.
Phillipines giảm được sức ép từ TQ trong vấn đề Biển Đông. Chính quyền Duterte dường như cân đối mục tiêu giữ chủ quyền và giành lợi thế về pháp lý và dư luận để đổi lấy quan hệ ổn định với TQ, tạo cơ hội phát triển đất nước, ổn định cuộc sống người dân. Vì khó có khả năng đẩy các lực lượng TQ ra khỏi bãi cạn Scarborough, có thể Tổng thống Duterte ngầm chấp nhận việc TQ kiểm soát thực tế ở bãi cạn này, đổi lại ngư dân của Philippines được đánh bắt bình thường ở khu vực đó. Mặt khác, Tổng thống Duterte tránh đề cập đến phán quyết của PCA một cách công khai, coi đó là vấn đề song phương giữa Philippines và TQ để tạo tín hiệu hòa giải với Bắc Kinh. Sự tính toán khéo léo của Philippines thể hiện ở chỗ vẫn giành được thắng lợi trong vấn đề Biển Đông nhưng lại không „chọc giận“ TQ. Tuy nhiên, việc Philippines giảm bớt những tranh cãi về vấn đề Biển Đông không có nghĩa là ông Duterte „tạm gác vấn đề chủ quyền“ ở khu vực biển này. Philippines và TQ đã đẩy mạnh tìm kiếm giải pháp giải quyết vấn đề Biển Đông theo hướng song phương, đã tiến hành các hội nghị về „Cơ chế tham vấn song phương“ về vấn đề Biển Đông tháng 5/2017, tháng 2/2018 và tháng 10/2018.
NHỮNG THÁCH THỨC KHI CHỌN TQ
Đầu tiên là sự phản đối ngày cành mạnh mẽ của người dân với chính sách „xoay trục“ sang TQ, nhất là sự thay đổi của ông Duterte trong vấn đề Biển Đông. Thăm dò tháng 7/2018 cho thấy 78% người Philippines phản đối chính sách Biển Đông của Tổng thống Duterte, cho rằng ông và chính phủ phải tái khẳng định „chủ quyền „của Philippines ở Biển Tây Philippines. Nhiều ý kiến phản đối cho rằng, việc Philippines không làm gì trước các hoạt động cải tạo đảo và quân sự hóa Biển Đông của TQ khiến cho Phán quyết của Tòa trọng tài chẳng khác gì „tờ giấy lộn“ và thái độ của ông Duterte được coi như „chiến thắng của TQ“.
Tổng thống Duterte bị chỉ trích đã nhượng bộ với Bắc Kinh, phe đối lập ở Philippines cho rằng thái độ của Tổng thống đã khuyến khích TQ gia tăng lấn chiếm tuyến giao thông huyết mạch và liên tục tấn công, cướp phá ngư dân Philippines.
Dư luận cũng cho rằng Tổng thống Duterte đồng lõa trong việc cho phép TQ gia tăng các mối đe dọa chủ quyền của Phillipines và nước này bị Bắc Kinh bỏ rơi. Trong lĩnh vực kinh tế thương mại song phương, cán cân thương mại ngày càng tăng về phía TQ, báo hiệu việc Philippines ngày càng phụ thuộc mạnh mẽ vào TQ trong lĩnh vực kinh tế, và những rủi ro cũng ngày một lớn hơn.
Việc gia tăng quan hệ gần gũi hơn với TQ cũng mở đường cho dòng lao động người TQ nhanh chóng tràn ngập vào nước này. Và vấn đề  ngày càng nghiêm trọng hơn khi chính quyền Duterte đang mất kiểm soát trong việc thống kê có bao nhiêu lao động TQ hợp pháp và bất hợp pháp ở nước này.
Cuối cùng, sự điều chỉnh trong chính sách về vấn đề Biển Đông của Phillippines thời Tổng thống Duterte khiến cho cộng đồng quốc tế, trong đó có ASEAN cảm thấy „bị rối“,các nước đều cảm thấy khó hiểu về ý định thực sự của Philippines. Điều đó khiến cho Philippines mất đi sự ủng hộ đối với vấn đề Philippines. Sự im lặng của ông Duterte trước việc TQ tăng hiện diện ở Biển Đông cũng làm suy giảm sự thống nhất nội khối ASEAN trong việc tìm kiếm tiếng nói chung nhằm ngăn chặn quá trình quân sự hóa Biển Đông của Bắc Kinh. Điều này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới quan hệ của Philippines với thế giới phương Tây, nhất là với Mỹ.
Tóm lại, sự chuyển biến mau lẹ trong quan hệ giữa TQ và Philippines thời kỳ Tổng thống Duterte không chỉ làm chuyển biến mạnh mẽ đối với bản thân quốc gia này mà còn tác động không nhỏ tới sự chuyển biến tình hình khu vực, nhất là cạnh tranh nước lớn, cũng như vấn đề Biển Đông. Việc ông Duterte „xoay trục“ sang TQ có thể nhìn nhận đây là bước đi khéo léo nhằm hóa giải căng thẳng quan hệ giữa Manila và Bắc Kinh, tận dụng cơ hội phát triển từ TQ, và là động thái giúp Philippines dần thoát khỏi „thân phận“ là công cụ cho các nước lớn, nhất là Mỹ trong chiến lược khu vực, thực hiện tốt hơn chính sách ngoại giao cân bằng với các nước lớn, nhất là Mỹ trong chiến lược khu vực , thực hiện tốt hơn chính sách ngoại giao cân bằng với các nước lớn, và đi theo quỹ đạo mà một số nước đang theo đuổi đó là „kinh tế dựa vào TQ, an ninh dựa vào Mỹ“. Tuy nhiên, việc Tổng thống Duterte dường như đi „quá nhanh“ trong việc tiếp cận TQ đã khiến cho cá nhân ông cũng như Philippines phải đối diện nhiều rủi ro, nhất là phụ thuộc kinh tế TQ và rủi ro trong vấn đề Biển Đông./.
PGS.TS Dương Văn Huy

Loading

Views: 0

45 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam: Mưu đồ độc chiếm Biển Đông

Trung Quốc đã có hàng loạt hành động phi pháp để phục vụ mục tiêu độc chiếm Biển Đông kể từ khi ngang ngược chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Cách đây 45 năm, Trung Quốc đưa quân cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sacủa Việt Nam vào ngày 19.1.1974 sau khi đã chiếm cụm phía đông hồi thập niên 1950.
Từ đó đến nay, nước này liên tục ngang ngược tiến hành hàng loạt biện pháp nhằm củng cố hiện diện dân sự lẫn quân sự phi pháp tại Hoàng Sa, nhất là trong những năm gần đây, bất chấp sự phản đối quyết liệt của Việt Nam và làn sóng lên án từ cộng đồng quốc tế.
Ngoài mục tiêu áp đặt tuyên bố chủ quyền phi pháp tại Hoàng Sa, những hành động này còn nhằm tạo cơ sở bàn đạp để tiếp tục bành trướng ra toàn bộ Biển Đông.

Từ phát triển trái phép…

Tại Hoàng Sa, Bắc Kinh từ năm 2005 đã tiến hành xây dựng bia chủ quyền phi pháp tại một số điểm trên quần đảo này. Đến năm 2007, Quốc vụ viện Trung Quốc ngang ngược phê chuẩn thành lập cái gọi là “TP.Tam Sa” thuộc tỉnh Hải Nam để đơn phương áp đặt quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Từ cuối tháng 5.2010, Trung Quốc đưa tàu khảo sát M/V Western Spirit cùng nhiều tàu bảo vệ tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực đảo Tri Tôn và tại các lô dầu khí 141, 142 và 143 trên thềm lục địa Việt Nam, cách đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi khoảng 90 – 116 hải lý. Nước này còn tiến hành san lấp, mở rộng đảo Tri Tôn để xây dựng công trình phi pháp.
Song song đó, các hoạt động quân sự được tăng cường từ tháng 2.2011 khi Hạm đội Nam Hải diễn tập phòng ngự tại Hoàng Sa, theo Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc (CRI). Cũng trong năm này, Cục Hải dương nhà nước Trung Quốc công bố “Báo cáo phát triển hải dương Trung Quốc năm 2011”, trong đó đơn phương tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông và 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, in một số bản đồ có vẽ “đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Đông, đồng thời nêu kế hoạch triển khai tự thăm dò, khai thác dầu khí ở khu vực quần đảo Trường Sa và mở tuyến du lịch ra quần đảo Hoàng Sa.
Sự ngang ngược của Bắc Kinh lại lấn thêm một bước lớn vào năm 2012 khi giới chức tỉnh Hải Nam thông báo kế hoạch tăng tốc xây dựng cơ sở hạ tầng cái gọi là “TP.Tam Sa” tại đảo Phú Lâm. Đến tháng 12.2012, Trung Quốc thông báo xây các trạm giám sát biển và khởi công dự án mở rộng 2 con đường ở đảo Phú Lâm để kết nối với bến tàu, các đơn vị dân sự và quân sự đồn trú trái phép tại đây. Song song đó, biên đội tàu hộ vệ của Trung Quốc tiến hành huấn luyện bắn đạn thật ở vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa và Tổng công ty dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) ngang nhiên mời thầu dầu khí 19 lô ở khu vực phía bắc Biển Đông, trong đó có lô 65/24 cách đảo Cây thuộc Hoàng Sa khoảng 1 hải lý.
Cũng trong năm 2012, tàu du lịch Coconut Princess của Công ty cổ phần vận tải biển Hải Hiệp Hải Nam bắt đầu thực hiện hành trình thử nghiệm tuyến du lịch đường biển từ Tam Á (Hải Nam) đến đảo Đá Bắc ở Hoàng Sa. Ngày 29.9.2012, giới chức Trung Quốc phác thảo kế hoạch phát triển cho 4 dự án cơ sở hạ tầng ở đảo Phú Lâm. Các dự án bao gồm tu sửa và xây mới 7 con đường với tổng chiều dài 5 km, xây dựng cơ sở tách muối để lọc nước biển có công suất 1.000 m3 mỗi ngày và hệ thống cấp thoát nước cùng bến tàu, mạng lưới vận tải trên đảo Phú Lâm.
Mới đây, vào tháng 7.2018, truyền thông Trung Quốc dẫn văn bản của Cục Hải dương và Ngư nghiệp Hải Nam ngang nhiên kêu gọi “mọi tổ chức hay cá nhân” đăng ký tham gia “phát triển du lịch và xây dựng” những đảo không người ở tại các khu vực mà nước này chiếm đóng phi pháp trên Biển Đông. Kế hoạch này bước đầu chủ yếu nhằm vào Hoàng Sa, nơi vẫn còn hàng trăm thực thể chưa có người ở. Rõ ràng, Trung Quốc đang tiến hành bước tiếp theo để thể hiện cái gọi là “chủ quyền” tại những địa điểm chiếm đóng phi pháp thông qua dân sự.
Trả lời Thanh Niên, PGS-TS Vũ Thanh Ca, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam), nhận định: “Trung Quốc biết rõ rằng chỉ củng cố quân sự các đảo đá thì không bao giờ có thể hợp pháp hóa tuyên bố chủ quyền trái luật pháp quốc tế của họ. Vì vậy, họ đang tìm cách dân sự hóa các hoạt động của họ, trong đó có các hoạt động cho phép các cá nhân khai thác những đảo đá nêu trên”.

… Đến quân sự hóa phi pháp

Bên cạnh các kế hoạch phát triển dân sự ngang ngược, Trung Quốc tiếp tục tiến hành tập trận và nhiều lần đưa tàu hải giám, trực thăng đến tuần tra phi pháp ở Biển Đông trước khi đưa giàn khoan Hải Dương 981 đến Hoàng Sa. Vụ việc bắt đầu từ ngày 1.5.2014 và kéo dài suốt 2 tháng rưỡi khiến tình hình khu vực vô cùng căng thẳng. Trung Quốc thậm chí huy động hơn 120 tàu thuyền ngang ngược đâm va tàu của Việt Nam đến khẳng định chủ quyền và kêu gọi Bắc Kinh dừng các hành động phi pháp xâm phạm lãnh hải.
Cũng trong thời gian này, Trung Quốc gấp rút tiến hành kế hoạch xây dựng phi pháp ở Hoàng Sa, bao gồm hải đăng trên đảo Đá Bắc, Đá Hải Sâm, Cồn cát Nam, Duy Mộng và Hòn Tháp. Đến tháng 10, đường băng quân sự dài 2 km trên đảo Phú Lâm được xây dựng hoàn tất.
Đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng và biến thành trung tâm hành chính phi pháp (Foto: AFP)
Đường băng cùng các cơ sở hạ tầng tiếp tục được cải tạo và đến tháng 2.2016, ảnh chụp từ vệ tinh của trung tâm ImageSat (ISI) cho thấy Trung Quốc đã triển khai trái phép 2 hệ thống tên lửa đất đối không với 8 giàn phóng và một radar tại đảo Phú Lâm. Đài Fox News dẫn lời một quan chức Mỹ cho rằng đây là hệ thống tên lửa phòng không HQ-9, tương tự loại S-300 của Nga với tầm bắn lên đến 201 km, có thể là mối đe dọa cho bất cứ máy bay quân sự hoặc dân sự nào bay gần đó. Chưa hết, Bắc Kinh còn triển khai gần 10 máy bay chiến đấu gồm tiêm kích J-11 và máy bay chiến đấu ném bom JH-7 cùng máy bay không người lái trinh sát tầm xa Harbin BZK-005 đến đảo này.
Theo Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ), đến năm 2017, Trung Quốc đã nâng cấp hàng loạt cơ sở quân sự phi pháp trên 8 đảo ở Hoàng Sa gồm đảo Cây, Phú Lâm, Lin Côn, Tri Tôn, Quang Ảnh, Quang Hòa, Hoàng Sa và Duy Mộng. Hình ảnh vệ tinh cho thấy 3 trong số 8 đảo (đảo Cây, Phú Lâm và Quang Hòa) hiện có những cảng có thể tiếp nhận một số lượng lớn các tàu dân sự và hải quân. Năm đảo có sân bay trực thăng, đảo Quang Hòa có một căn cứ trực thăng và đảo Phú Lâm có đường băng, nhà chứa máy bay và các dàn tên lửa đất đối không HQ-9.
Trong năm 2018, Trung Quốc tiếp tục tiến hành nhiều cuộc tập trận tại Hoàng Sa, bao gồm diễn tập của oanh tạc cơ H-6K và tập trận bắn đạn thật vào tháng 5. Tờ PLA Daily còn ngang nhiên đưa tin một số tàu hải cảnh và tàu hải quân nước này lần đầu tiên tuần tra chung tại vùng biển xung quanh Hoàng Sa.
Mới đây vào tháng 11, chương trình Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) chia sẻ hình ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy Trung Quốc tiếp tục hành vi phi pháp ở Biển Đông khi xây dựng cấu trúc trái phép nghi phục vụ mục đích quân sự, được giấu dưới mái che radar trên Đá Bông Bay tại Hoàng Sa./.
(Theo Thanhnien.vn)

Loading

Views: 0

Trung Quốc thay đổi chiến thuật trước động thái mới của Mỹ và đồng minh trên Biển Đông

  1. Động thái mới của Mỹ và các đồng minh

Trong bối cảnh Trung Quốc (TQ) tích cực xây dựng và quân sự hóa các tiền đồn ở Biển Đông, đe dọa nghiêm trọng tự do thương mại hàng hải, chủ quyền biển đảo của các quốc gia, làm giảm sự ổn định trong khu vực, Mỹ và các đồng minh tăng cường hiện diện quân sự, tập trận chung nhằm củng cố quan hệ, thúc đẩy hợp tác và duy trì sức mạnh quân sự thách thức tham vọng „độc chiếm Biển Đông“ của Trung Quốc. Ngày 1/8/2018, Mỹ thông qua Luật Ủy quyền quốc phòng (NDAA) 2019 với ngân sách 716 tỷ USD, đề ra các bước cơ bản nhưng quan trọng cho một chiến lược đối phó hiệu quả và mạnh mẽ hơn trước hành xử ngang ngược của TQ ở Biển Đông. Trong đó, NDAA sẽ kéo dài đến năm 2025 nhằm giúp các nước láng giềng của TQ ở Đông Nam Á tăng cường năng lực quân sự – quốc phòng; không bị TQ „đẩy ra khỏi vùng biển tranh chấp“; cam kết đầu tư 425 triệu USD cho các thiết bị kĩ thuật và hỗ trợ đào tạo quân sự trong 5 năm; NDAA xác định khai trừ vĩnh viễn TQ khỏi các cuộc tập trận thường niên Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC) do Mỹ dẫn đầu. Qua động thái trên, Tổng thống D.Trump muốn gửi đến TQ thông điệp rằng, Mỹ không hề quên vấn đề Biển Đông hay những đồng minh của mình tại khu vực và cam kết sẽ hành động nhiều hơn, mạnh mẽ hơn. Mỹ cũng tăng cường đầu tư, đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao thông qua chuyến thăm tới các nước liên quan tới vấn đề Biển Đông, nhằm quảng bá chiến lược mới „Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương“, duy trì lợi ích và kiềm chế sự trỗi dậy của TQ.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo (từ ngày 1-5/8/2018) đã thực hiện chuyến thăm tới 3 nước Malaysia, Singapore và Indonesia, công bố sẽ đầu tư cho khu vực 113 triệu USD vào các lĩnh vực công nghệ, năng lượng và cơ sở hạ tầng; 300 USD cho an ninh hàng hải Đông Nam Á,  tạo một „đối trọng xứng tầm“ với chiến lược „Vành đai, con đường“ (BRI) của Chủ tịch TQ Tập Cận Bình. Mỹ chỉ trích mạnh mẽ trước các hoạt động lấn chiếm phi pháp của TQ  trên Biển Đông, tích cực triển khai các hoạt động giám sát, tập trận chung với đồng minh: (i) Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis (này 1/10) đã hủy kế hoạch đến Bắc Kinh vào cuối tháng 10; chỉ trích đích danh TQ về hoạt động quân sự hóa các đảo, bãi đá ngầm trên Biển Đông; cáo buộc TQ „hăm dọa và áp bức“ các nước trong khu vực, đồng thời khẳng định Mỹ không có kế hoạch rời khỏi khu vực này; (ii) Mỹ đã 2 lần điều động „pháo đài bay“ B52 từ sân bay quân sự ở Guam qua vùng trời Biển Đông (ngày 23 và 26/9) hội quân cùng 16 chiến đấu cơ của Nhật Bản, tiến hành tập trận tại biển Hoa Đông. Ngoài ra, các „pháo đài bay“ B52 cũng tổ chức các cuộc diễn tập tương tự trên Biển Đông hội tháng 6 và tháng 8/2018; (iii) Năm 2017 và 2018, Mỹ thực hiện 8 cuộc tuần tra hàng hải ở Biển Đông (FNNOP). Đối với Việt Nam, Mỹ chuyển giao tàu tuần tra lớp Hamilton của lực lượng tuần duyên cho cảnh sát biển và cử tàu sân bay Carl Vinson tới thăm cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) vào tháng 3/2018; (iv) Hải quân Mỹ liên tục mở các cuộc tập trận với các nước quanh Biển Đông (CARAT, Hổ mang vàng, Balitakan); tháng 7/2018, Mỹ và Philippines đã bắt đầu cuộc tập trận chung, huấn luyện cho hải quân của Manila. Đặc biệt, từ ngày 27/6-2/8/2018, Mỹ tổ chức cuộc tập trận Hải quân Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC 2018) ở vùng biển Honolulu, Hawaii với sự tham gia của 25 nước, trong đó có Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam – những nước đang có tranh chấp chủ quyền biển với TQ. Trước đó, ngày 23/5, Mỹ đã hủy lời mời TQ tham gia RIMPAC, cho rằng việc nước này tiếp tục các động thái quân sự hóa trên Biển Đông là không phù hợp với các nguyên tắc và mục đích của cuộc tập trận…; (v) Những đồng minh của Mỹ cũng tăng cường sự hiện diện quân sự trên Biển Đông nhằm thách thức „yêu sách chủ quyền“ của TQ: Tàu đổ bộ HMS Albion của Anh tổ chức cuộc tuần tra tự do hàng hải (FON) tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, ghé thăm TP.HCM từ ngày 3-6/9/2018; Hải quân Anh đã tổ chức cuộc tuần tra chung với Pháp, Australia qua bãi đá Vành Khăn, Subi và Chữ thập trên quần đảo Trường Sa vào cuối tháng 6/2018; Australia cho 3 tàu chiến đi qua Biển Đông, tiến hành thăm hữu nghị Việt Nam vào tháng 4/2018…

  1. Trung Quốc thay đổi chiến thuật

Trước động thái mới của Mỹ và các đồng minh trong khu vực, TQ buộc phải thay đổi chiến thuật, thực hiện các hoạt động đáp trả mạnh mẽ đối với bất kỳ thế lực nào „cản đường“ TQ: (i) Đẩy mạnh hoạt động quấy rối các tàu của nước ngoài đang hoặc chuẩn bị khai thác tài nguyên trên biển, trong lòng biển và những con tàu ngăn chặn TQ chiếm giữ các nguồn tài nguyên biển; (ii) Hướng sự quấy nhiễu vào bất cứ sự hiện diện quân sự nào của nước ngoài; (iii) Đòi phong tỏa tuyến đường thương mại trên biển đối với các nước bất đồng quan điểm chính trị với TQ. Mới đây, ngày 30/9/2018, tàu khu trục lớp Lữ Dương của TQ „áp sát nguy hiểm“ tàu USS Decatur thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ trên Biển Đông. Vụ việc xảy ra khi tàu USS Decatur đang thực hiện cuộc tuần tra kéo dài 10h trong khu vực 12 hải lý quanh bãi đá Gaven và Coolin thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, bị TQ chiếm đóng trái phép. Ngày 2/10, Bộ Quốc phòng TQ đã điều động tàu hải quân đến cảnh báo và yêu cầu tàu chiến Mỹ rời khỏi vùng biển; (iv) Từ chối thẳng thừng đề nghị của Hải quân Mỹ cho một tàu chiến ghé cảng Hongkong. Trước đó, TQ cũng đã triệu tập Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, hủy bỏ cuộc đối thoại quân sự chung để phản đối việc Mỹ trừng phạt Cục Phát triển thiết bị thuộc Bộ quốc phòng TQ vì mua chiến đấu cơ Sukhoi Su-35 và tên lửa phòng không S-400 từ Nga.

Trước những biến chuyển tình hình trên, các nước trong khu vực cần hành động một cách thận trọng và có những sách lược ngoại giao linh hoạt để đối phó hiệu quả với chiến lược „sự đã rồi“ của TQ trên Biển Đông. Trong thời gian tới, Mỹ và các đồng minh sẽ tiếp tục đẩy mạnh can dự vào khu vực về các lĩnh vực như thương mại, xây dựng kết cấu hạ tầng, an ninh, quân sự… Trước sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn, Đông Nam Á sẽ trở thành „đấu trường“ can dự, lôi kéo, tập hợp lực lượng kiềm chế và ngăn chặn lẫn nhau. Để có một ASEAN đoàn kết, đồng thuận cao trong các vấn đề then chốt, đặc biệt là Biển Đông đang là một thách thức không nhỏ đối với các nước thành viên ASEAN liên quan đến vấn đề tranh chấp Biển Đông nói riêng, đối với khối nói chung./.

          Phong Lâm

Loading

Views: 0

Thực chất cuộc xung đột thương mại Mỹ – Trung

           Sau thời gian gần nửa năm, cuộc xung đột thương mại mà Mỹ đã phát động với các đối tác kinh tế và thương mại của Mỹ tiếp tục là một trong những chủ đề chi phối chính trị thế giới. Với cách tiếp cận bao quát từ những diễn biến mới sẽ giúp cho bên ngoài có thể nhìn nhận được rõ hơn bản chất cuộc xung đột này và dự liệu cụ thể hơn triển vọng của nó trong thời gian tới.

Cụ thể là những biện pháp chính sách bảo hộ thương mại mà Tổng thống Mỹ Donald Trump quyết định áp dụng đối với tất cả đối tác kinh tế và thương mại của Mỹ cũng như những quyết sách đáp trả của các đối tác. Ngay từ đầu, nó đã là cuộc xung đột thương mại với tiềm năng có thể đưa đến chiến tranh thương mại. Trên danh nghĩa là như thế, còn trên thực tế thì ông Trump phân chia ra thành 3 nhóm đối tượng tiến hành xung đột thương mại khác nhau gồm Trung Quốc, EU và đối tác còn lại. Cách làm của ông Trump là áp thuế quan bảo hộ thương mại đối với hàng hóa của các đối tác xuất khẩu vào thị trường Mỹ để buộc các đối tác phải chấp nhận đàm phán: chịu mức thuế quan bảo hộ thương mại hoặc đàm phán với Mỹ để lựa chọn giữa hạn chế khối lượng xuất khẩu vào thị trường Mỹ hoặc nhập khẩu nhiều hơn nữa từ Mỹ, đồng thời chấp nhận một số yêu sách khác của Mỹ. Nhiều đối tác đã tìm kiếm thỏa thuận mới với Mỹ để chấm dứt xung đột thương mại với nền kinh tế số 1 thế giới. Những thỏa thuận này cho thấy, họ đều đã phải nhượng bộ Mỹ. Và cũng không ít đối tác thuộc diện này cũng đáp trả Mỹ bằng biện pháp tương tự và khởi kiện Mỹ lên tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhưng với mức độ giá trị hàng hóa không lớn và vì thế không mấy tác động đến Mỹ.

Chỉ có Trung Quốc và EU thì khác. Trung Quốc và EU mới là hai đối tượng chính mà ông Trump nhằm tấn công. Với hai đối tượng này, bản chất thật sự của cuộc xung đột thương mại bộc lộ rõ nét nhất và cho dù điểm xuất phát chẳng khác gì nhau nhưng xung đột thương mại của Mỹ với EU và Trung Quốc đã diễn biến rất khác nhau trong thời gian vừa qua.

Giữa Mỹ và EU đã đạt được thỏa thuận ở cuộc thương thảo giữa ông Trump và Chủ tịch Ủy ban EU Jean Claude Juncker. Theo đó, xung đột thương mại giữa hai bên không trầm trọng thêm – tức là chỉ duy trì ở mức độ như Mỹ đã áp dụng đối với EU từ ngày 1/6/2018 và EU đã đáp trả Mỹ từ ngày 22/6/2018 – cho tới khi giữa hai bên đạt được thỏa thuận mới hoặc không đạt được thỏa thuận mới. Phía Mỹ chưa áp thuế quan bảo hộ thương mại đối với xe ô tô của EU nhưng EU phải chấp nhận nhập khẩu thêm đầu tương và khí đốt hóa lỏng của Mỹ cũng như cam kết cùng Mỹ cải tổ WTO theo định hướng của Mỹ. Đấy mới chỉ là giải pháp tạm thời và tình thế nhưng đủ để xảy ra chiến tranh thương mại. Mỹ cho EU thêm thời gian nhưng đã lôi kéo EU về phe mình để đối phó Trung Quốc và bào mòn vai trò của WTO.

Trong khi đó, diễn biến giữa Mỹ và Trung Quốc thì lại theo chiều hướng ngược lại. Mức độ quyết liệt  không chỉ tiếp tục gia tăng và nguy cơ bùng phát chiến tranh thương mại thêm tiềm tàng mà còn có cả nguy cơ xung đột thương mại lây lan tác động kích hoạt xung đột trên lĩnh vực khác, cộng hưởng thành nguy cơ xảy ra chiến tranh tiền tệ và chiến tranh kinh tế. Cho tới thời điểm hiện tại, Mỹ và Trung Quốc đối nhau và đấu nhau theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của cụm từ „người sao, ta vậy“. Cùng biện pháp, cùng mức độ giá trị hàng hóa bị áp thuế quan bảo hộ thương mại – sau 2 lần áp dụng hiện ở mức độ 50 tỷ USD – và cùng thời điểm. Cùng biểu lộ quyết tâm chơi với nhau cuộc chơi này đến lúc phân định rõ ràng có người thắng và kẻ thua. Cả hai cùng cho thấy sẵn sàng đáp trả mọi giá. Ở thời kỳ đầu, hai bên còn tiến hành đàm phán thương mại. Về sau thì chỉ còn thấy leo thang đối địch lẫn nhau. Trung Quốc là đối tác mà Mỹ bị nhập siêu nhiều nhất trong suốt thời gian dài. EU xuất siêu vào Mỹ không quá lớn nhưng EU được coi là một thực thể kinh tế mạnh. Ông Trump nhằm trước hết vào hai đối tác này để giảm thâm hụt trong cán cân thương mại – điều này không thể phủ nhận – nhưng cũng còn nhằm mục đích tạo ra trường hợp điển hình để cảnh tỉnh và răn đe tất cả các đối tác kinh tế và thương mại của Mỹ, khiến họ nhụt chí đáp trả Mỹ và phải chịu khuất phục Mỹ. Ông Trump đã dọa sẽ còn tăng mức độ giá trị hàng hóa của Trung Quốc xuất khẩu vào thị trường Mỹ lên 250 tỷ USD, thậm chí cả 500 tỷ USD, tức là có thể đối với toàn bộ giá trị xuất khẩu của Trung Quốc vào thị trường Mỹ – năm 2017, Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ 505 tỷ USD và nhập khẩu từ Mỹ 130 tỷ USD. Ông Trump còn cáo buộc Trung Quốc – và cả EU – thao túng và lũng đoạn tiền tệ. Nếu xung đột thương mại leo thang gay cấn đến đỉnh điểm thì Trung quốc chắc chắn sẽ phải đáp trả bằng những biện pháp khác ngoài áp thuế quan bảo hộ thương mại. Khi ấy đương nhiên không chỉ đơn thuần là cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc nữa.

Tất cả những diễn biến mới nói trên cho thấy, ông Trump mượn danh nghĩa thu hẹp mức độ thâm hụt của Mỹ trong cán cân thương mại với các đối tác để nhằm tới không chỉ có một mục tiêu. Vị tổng thống „tỷ phú“ muốn xóa bỏ trật tự và luật lệ cũng như cục diện lâu nay trong trao đổi thương mại giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới để chơi cuộc chơi mới theo chủ ý, định hướng, dẫn dắt và chi phối của Mỹ. Đằng sau chuyện tranh chấp thương mại này còn là cuộc ganh đua quyền lực và ảnh hưởng giữa Mỹ với các đối tác, bất kể từ trước đến nay là đồng minh, đối tác hay đối thủ của Mỹ. Ông Trump cần có cuộc chơi mới này làm sự thể hiện cụ thể cho khẩu hiệu và phương châm hành động „Nước Mỹ trên hết“ phục vụ trước hết cho việc trang trải những nhu cầu đối nội, đặc biệt phục vụ cho cuộc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ sắp tới. Đối với ông Trump, khắc phục được hay không tình trạng thâm hụt nặng nề trong cán cân trao đổi thương mại với các đối tác không quan trọng và cấp thiết bằng việc tạo hình ảnh và cảm nhận là các đối tác chịu khuất phục và nhượng bộ trước áp lực và tác động từ những biện pháp chính sách của Mỹ. Đối với ông Trump, sự nhượng bộ của đối tác không chỉ được hiểu là bằng chứng cho thấy phía Mỹ đã chiến thắng mà còn được hiểu là ông Trump đã đúng với những quyết sách ấy.

Từ đó có thể thấy cuộc xung đột thương mại lần này giữa Mỹ và các đối tác, đặc biệt với Trung Quốc và EU, sẽ còn dai dẳng và còn có những biến tướng bất ngờ, nhưng sẽ không đến mức để xảy ra chiến tranh thương mại, càng không có chuyện hội tủ mọi xung đột khác nữa với nhau thành chiến tranh kinh tế giữa Mỹ và các đối tác./.

(Mục Phu)

Loading

Views: 0

EU và chiến lược mới kiềm chế Trung Quốc

Chiến lược kết nối mới của Liên minh châu Âu (EU) bị xem là phản ứng hơi chậm đối với sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc tại lục địa già.

Ủy ban châu Âu (EC) vừa thông qua Chiến lược Kết nối mới liên kết châu Âu và châu Á, qua đó thách thức một Trung Quốc ngày càng quyết đoán. Chiến lược được công bố hôm 19-9 đưa ra một hướng tiếp cận khác đối với chiến lược mà Bắc Kinh đang theo đuổi thông qua Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI). Nhấn mạnh đến yếu tố bền vững, Liên minh châu Âu (EU) đề xuất rằng các khoản đầu tư nên tôn trọng quyền lao động, không tạo ra những phụ thuộc về chính trị hoặc tài chính và bảo đảm một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp.

Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc trong 30 năm qua, EU tỏ ra hơi chậm trong việc nhìn nhận sức mạnh và ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh. Nước này không chỉ là „gã khổng lồ“ về thương mại mà còn đang nắm lượng dự trữ tiền tệ lớn nhất thế giới và là nhà cung cấp đầu tư nước ngoài ngày càng quan trọng, trong đó có cả ở châu Âu. Dù vậy, một số dự án phát triển liên quan đến Trung Quốc gần đây khiến các chính trị gia, nhà hoạch định chính sách châu lục này không khỏi thận trọng.

Cảng Piraeus ở Hy Lạp đang chịu sự kiểm soát của Công ty Vận tải biển COSCO (Trung Quốc) Ảnh: REUTERS

EU vẫn chưa cấp quy chế nền kinh tế thị trường cho Trung Quốc do nước này không chịu giải quyết vấn đề doanh nghiệp nhà nước nắm giữ vị thế thống trị. Ngoài ra, việc Bắc Kinh dòm ngó công nghệ châu Âu cũng dẫn đến kế hoạch kiểm tra gắt gao hơn hoạt động đầu tư của Trung Quốc tại lục địa già. Tuy nhiên, nỗi lo lớn nhất của Brussels đến từ các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng khổng lồ trong khuôn khổ BRI – tâm trạng có thể được bắt gặp tại một số nước khác, như Mỹ, Ấn Độ…

Vào đầu năm nay, các đại sứ EU tại Trung Quốc đã viết một báo cáo đánh giá BRI tỏ ra không bền vững về kinh tế, môi trường, xã hội và tài chính. Báo cáo cũng chỉ trích Bắc Kinh phân biệt đối xử với doanh nghiệp nước ngoài, thiếu các quy trình đấu thầu minh bạch và hạn chế doanh nghiệp châu Âu tiếp cận thị trường nội địa.

Sự tham gia của Trung Quốc vào các dự án phát triển tại một số nước châu Âu cũng gióng lên hồi chuông cảnh báo. Hồi năm 2014, chính phủ Montenegro đã ký thỏa thuận vay tiền Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc để trang trải 85% chi phí dự án xây dựng một tuyến đường cao tốc. Chi phí của dự án này ước tính tương đương gần 25% GDP của Montenegro. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) không ít lần cho rằng việc xây dựng chỉ nên tiếp tục trên cơ sở các quỹ ưu đãi. Nhiều người tin rằng vỡ nợ có thể xảy ra và điều này có thể dẫn đến việc Montenegro bàn giao cơ sở hạ tầng quan trọng cho Trung Quốc.

Đã có tiền lệ đáng lo ngại trong vấn đề vay tiền nói trên. Sri Lanka đã mất khả năng hoàn trả khoản vay từ Trung Quốc để xây dựng cảng Hambantota. Hậu quả là cảng này và các khu đất xung quanh – có vị trí chiến lược ở Ấn Độ Dương, vịnh Bengal và biển Ả Rập – giờ đây chịu sự kiểm soát của Trung Quốc cho đến năm 2116.

Tương tự, việc Trung Quốc mua lại toàn bộ hoặc một phần các cảng tại Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Ý, và đáng chú ý nhất là Hy Lạp, đã không được quan tâm đúng mức. Nếu không có trở ngại đáng kể, Trung Quốc đang dần thâu tóm cơ sở hạ tầng quan trọng ở châu Âu trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài của châu Âu vào Trung Quốc lại đang giảm.

Bắc Kinh đã gặt hái một số lợi ích chính trị từ các khoản đầu tư này, thể hiện qua việc một số nước thành viên EU ngăn chặn các nghị quyết chỉ trích hành vi của Trung Quốc ở biển Đông. Ngoài ra, các quan chức châu Âu đang chất vấn về tính bền vững môi trường và kinh tế của một loạt dự án kết nối liên quan đến Trung Quốc. Kế hoạch xây dựng 6 nhà máy điện chạy bằng than ở Pakistan đã bị chỉ trích vì không bền vững về môi trường.

Những ví dụ trên đã làm tăng nỗi quan ngại của EU khi Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, Trung Á và châu Âu. Ảnh hưởng này không chỉ về tiền bạc và chính trị mà còn mở rộng đến các tiêu chuẩn kỹ thuật và bóp méo các dòng chảy thương mại.

Nhưng EU nhận thức rõ rằng chỉ áp lực ngang hàng thôi sẽ không thể thúc đẩy Trung Quốc xem xét lại chiến lược của mình. Để bảo đảm lợi ích chính trị và kinh tế của chính mình, EU phải đưa ra một phản ứng đầy tham vọng và toàn diện, theo đó đẩy mạnh mối liên kết giữa khối này và các nước trong lúc „quảng bá“ nó như một lựa chọn thay thế đáng tin cậy và bền vững.

Văn kiện mới công bố nói trên sẽ giúp các nước châu Á và châu Âu hiểu rõ hơn EU muốn bắt tay với họ dựa trên cơ sở nào và các đối tác có thể mong đợi gì từ mối quan hệ này. Các cuộc đàm phán đang diễn ra về ngân sách EU sắp tới sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong phân bổ đủ ngân sách cho chiến lược.

Chưa hết, chiến lược cũng sẽ cần sự hỗ trợ thống nhất từ các quốc gia thành viên, một chiến lược truyền thông công cộng vững chắc và một loạt chương trình tiếp cận sâu rộng với các đối tác của EU – cả song phương lẫn đa phương.

Cuộc cạnh tranh địa chính trị ở lục địa Á – Âu dự kiến sẽ diễn ra ngày một gay gắt, với Trung Quốc, Nga, Mỹ và EU tranh nhau ảnh hưởng. Chiến lược Kết nối của EU đã phát đi tín hiệu rằng họ đang là một phần của cuộc chơi này./.

(Theo The Diplomat)

Loading

Views: 0

Nhìn lại tình hình thế giới nửa đầu 2018

          So với khoảng thời gian này năm ngoái, tình hình thế giới trong nửa đầu năm nay đã có nhiều biến động bất ngờ. Bức tranh về tình hình thế giới luôn pha trộn nhiều gam màu khác nhau và vị trí các gam màu đó đến nay đã có sự chuyển dịch rõ rệt. Nửa năm là khoảng thời gian ngắn đến mức chưa đủ để nhìn vào động thái nhận ra được xu hướng diễn biến của tình hình. Dù vậy, nhìn lại thế giới trong nửa năm qua vẫn có thể rút ra một số kết luận và đưa ra một số dự báo nhất định cho nửa năm còn lại.

           Trước hết, việc khởi động tiến trình hòa giải giữa Triều Tiên và Hàn Quốc cũng như giữa Triều Tiên và Mỹ là đột biến lớn với ý nghĩa và tác động rất mạnh mẽ và sâu sắc tới cả thế giới trong nửa năm qua. Đỉnh cao cho tới nay của tiến trình này là cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều lần thứ 3 diễn ra ngày 27/4 tại Bàn Môn Điếm và cuộc gặp cấp cao đầu tiên trong lịch sử giữa Mỹ và Triều Tiên tại Singapore ngày 12/6 vừa qua dù cho tới tận cuối năm ngoái, tiến trình này vẫn còn là chuyện không tưởng. Sự khởi đầu rất suôn sẻ và ngoạn mục nhưng tiếp theo đó không đơn giản bởi sẽ phụ thuộc vào việc Mỹ, Hàn Quốc và Triều Tiên có thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh những cam kết và thỏa thuận với nhau hay không và có tiếp được đà hòa dịu hiện có hay không? Bộ ba này đã đạt được sự hiểu biết chung về giải quyết những vấn đề đang đặt ra như phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, bảo đảm an ninh cho Triều Tiên, chấm dứt tình trạng chiến tranh và nguy cơ xung đột, bình thường hóa quan hệ song phương… Thực tiễn nửa năm còn lại sẽ cho thấy các bên liên quan có thật sự cùng nhau giải quyết những vấn đề đấy hay không. Tiến trình này hiện chưa ổn định và bền vững đến mức không còn có thể bị đảo ngược. Dù vậy, nó đã giúp khu vực Đông Bắc Á trong thời gian vừa qua „hòa bình“ hiếm thấy từ trước tới nay và khơi dậy hy vọng cũng như lạc quan về thời kỳ tới tốt đẹp.

Đột biến thứ hai là việc Tổng thống Mỹ Donald Trump đã „kích hoạt“ cuộc xung đột thương mại với nhiều đối tác kinh tế và thương mại lớn của Mỹ. Ông Trump sử dụng những biện pháp bảo hộ thương mại để „khiêu chiến“ với cả những đối tác thương mại quan trọng nhất của Mỹ là EU, Trung Quốc, Canada, Mexico, Nhật Bản… trong nhận thức rõ ràng ngay từ đầu là những biện pháp ấy trái với cam kết và trách nhiệm của Mỹ trong Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và nước Mỹ sẽ bị các đối tác kia đáp trả thích đáng. Đằng sau cuộc chiến thương mại này giữa Mỹ và các đối tác còn có cuộc phân định „ai sẽ thắng ai“ giữa mậu dịch tự do và bảo hộ mậu dịch trên thế giới, còn có cuộc tấn công vào trật tự thương mại thế giới tự do, vào vai trò của WTO và vào cục diện các mối quan hệ quốc tế trong thế giới hiện đại. Các nước trên thế giới buộc phải xem xét lại chính sách kinh tế, thương mại của họ nói chung và phải xử lý lại quan hệ của họ với Mỹ nói riêng để bảo toàn tốt nhất lợi ích trước mắt cũng như lâu dài. Chính trị an ninh thế giới vì thế cũng bị ảnh hưởng.

Khu vực Đông Bắc Á chuyển biến tích cực và đáng khích lệ bao nhiêu thì diễn biến tình hình chính trị an ninh ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi và vùng Vịnh vẫn căng thẳng và bạo lực đáng lo ngại bấy nhiêu. Tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS đã chính thức bị đánh bại, nhưng chiến sự vẫn diễn ra ở Syria, Iraq và Yemen. Ở Syria, chính phủ của Tổng thống Bashar Al-Assad đã thắng thế những cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt và tiến trình hòa bình hướng tới giải pháp chính trị vẫn còn xa vời và trắc trở. Cả việc Tổng thống Mỹ D.Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel và chuyển đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv về Jerusalem lẫn việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận về giải pháp cho vấn đề hạt nhân của Iran đều làm cho tình hình chính trị an ninh ở khu vực càng thêm tồi tệ, quan hệ giữa các bên đối địch nhau càng thêm căng thẳng. Cuộc chiến tranh của Saudi Arabia và liên quân ở Yemen cùng với cuộc chiến ngoại giao của nước này và một số đồng minh chống Qatar làm cho cả khu vực này thêm trầm trọng và phức tạp về an ninh. Quan hệ giữa Mỹ, Trung Quốc, và Nga biến động theo những chiều hướng khác nhau. Ở cả ba nước lớn này, vị thế quyền lực của người đang nắm thực quyền được củng cố vững chắc, giúp họ có thể tự tin hơn và quyết liệt hơn trong cầm quyền và xử lý quan hệ với nhau ở thời gian tới.

Giữa Nga và Trung Quốc, đà phát triển quan hệ song phương được duy trì. Giữa Mỹ với hai nước này, quan hệ đã trở nên khác trước. Ông Trump đã làm cho quan hệ của Mỹ với Trung Quốc „găng“ hơn so với ở thời trước trong khi quan hệ của Mỹ với Nga bắt đầu có cơ hội không còn xấu như trước. Bằng chứng là ông Trump phát động cuộc xung đột thương mại quyết liệt với Trung Quốc trong khi kiên định gây dựng lại sự khởi đầu mới quan hệ Mỹ – Nga, đỉnh cao là cuộc gặp đầu tiên giữa nhà lãnh đạo hai nước này tuần qua. Hai trục quan hệ Mỹ – Nga và Mỹ – Trung đặc biệt nổi trội trong thời gian vừa qua trên phương diện tác động mạnh mẽ tới diễn biến tình hình thế giới.

Ở khu vực nào và châu lục nào cũng đều có nhiều biến động, nhưng đều ở bình diện quốc gia chứ không có được tác động làm rung chuyển cả khu vực hay châu lục. Venezuela ở khu vực Mỹ Latinh, Nam Phi ở châu Phi, Malaysia ở châu Á, EU ở châu Âu… đều có những dốc mốc lịch sử mới và đồng thời đều cho thấy chuyện quyền lực và chính trị xã hội nội bộ ở các quốc gia có thể biến động nhanh chóng và khó lường như thế nào.

Nhìn nhận một cách toàn diện thì có thể đi tới đánh giá rằng thế giới trong nửa năm qua cho dù có đột biển nhưng về cơ bản vẫn tiếp tục chiều hướng biến động từ thời gian trước, chưa phải đã chuyển giai đoạn và chưa bước sang một thời kì mới. Khủng bố vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Mất an ninh và ổn định ở nhiều vùng vẫn dai dẳng. Nhưng thế giới không bị xáo động bởi khủng bố, chiến tranh và xung đột vũ trang.

Một gam màu sáng sủa trong bức tranh về tình hình thế giới thời gian vừa qua là kinh tế thế giới và các khu vực về cơ bản tiếp tục đà tăng trưởng với mức độ chưa thật cao nhưng tính ổn định đã khá hơn. Bất chấp giá dầu lửa tăng, bất chấp xung đột thương mại và chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ước quốc gia đối với những đồng tiền quan trọng nhất trên thế giới đã bắt đầu được xiết chặt lại. Cả trên những phương diện này hiện cũng có lý do xác đáng và cơ sở thực tế để lạc quan cho thời gian tới./.

Ngư Phủ

Loading

Views: 0

Nhìn lại quá trình Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông

         Từ cơ sở hạ tầng

Khoảng 5 năm qua, nhiều tổ chức nghiên cứu quốc tế cũng như chính phủ các nước đã cung cấp không ít hình ảnh về việc Trung Quốc lắp đặt các hệ thống radar, thiết bị do thám, gây nhiễu…; kèm theo đó là hàng loạt cơ sở được hoàn thiện như đường băng, nhà chứa máy bay tại các thực thể mà Trung Quốc chiếm đống trái phép ở hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Năm 2017, Chương trình sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế Mỹ (CSIS) đã công bố đánh giá toàn cảnh Trường Sa năm 2016, tiết lộ, Bắc Kinh hoàn thiện trên cả 3 đường băng ở bãi đá Xu Bi, Vành Khăn và Chữ Thập. Trước đó, hồi đầu tháng 8/2016, AMTI công bố hình ảnh cho thấy các nhà chứa máy bay được gia cố trên Chữ Thập, đá Xu Bi và đá Vành Khăn ở Trường Sa. Từ quá trình phân tích hình ảnh, giới chuyên gia của CSIS nhận xét, các nhà chứa máy bay ở 3 bãi đá trên đủ sức chứa máy bay ném bóm H-6, máy bay tiếp liệu H-6U, máy bay vận tải Y-8 và máy bay KJ-200 chuyên trinh sát cảnh báo sớm. Bên cạnh đó, hạ tầng được hoàn thiện có thể cho phép đồn trú hàng chục chiến đấu cơ Su-30 hoặc J-11.

           Đến mạng lưới không quân

          Song hành cùng việc phát triển hạ tầng, Bắc Kinh cũng điều động chiến đấu cơ đến các khu vực trên. Tháng 5/2016, Bộ Quốc phòng Mỹ công bố báo cáo „Các diễn tập quân sự và an ninh liên quan Trung Quốc 2016“. Theo báo cáo này, từ tháng 2/2016, các hình ảnh vệ tình chỉ ra rằng chiến đấu cơ J-11 đã được triển khai trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép). Dòng máy bay J-11 với bán kính tác chiến khoảng 1.500km, trang bị nhiều loại bom và tên lửa, đặc biệt là tên lửa đối không. Nhờ đó, J-11 có thể hoạt động khắp vùng trời Biển Đông, kéo dài từ vịnh Bắc Bộ đến quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Và thực tế, vào tháng 5/2016, theo các nguồn tin quân sự tiết lộ, J-11 của Trung Quốc đã „vờn“ máy bay trinh sát của Mỹ ở khu vực này.

Không chỉ J-11, gần đây, dòng máy bay tiêm kích J-10 cũng đã có mặt tại đảo Phú Lâm và cả các thực thể thuộc quần đảo Trường Sa. J-10 là loại chiến đấu cơ đa nhiệm thế hệ 4 có tốc độ tối đa Mach 2,2 (hơn 2500km/h), bán kính chiến đấu khoảng 550km và có thể xa hơn khi được hỗ trợ bằng máy bay tiếp nhiên liệu trên không. J-10 được trang bị các loại súng tự động, kèm theo tên lửa đối không, bom dẫn đường bằng tia laser, tên lửa tấn công mặt đất và tấn công tàu chiến…

Bên cạnh 2 dòng máy bay tiêm kích trên, các hình ảnh do AMTI công bố từ năm 2016 còn chỉ ra Bắc Kinh điều động cả oanh tạc cơ JH-7 đến Phú Lâm. Đây là loại máy bay có bán kính chiến đấu lên đến hơn 1.700km, tích hợp nhiều loại tên lửa đối không và đối hải.

Đến giữa tháng 5/2018, thông qua tài khoản twitter, tờ Nhân dân nhật báo của Trung Quốc tung ra đoạn phim chứa cảnh oanh tạc cơ H-6K diễn tập cất và hạ cánh xuống một đường băng trên Biển Đông. Sau đó, hoạt động này được xác định là diễn ra tại đảo Phú Lâm. Không chỉ có thể mang theo các loại tên lửa đối đất, H-6K còn được trang bị các loại tên lửa tấn công tàu chiến. Qua đó, với việc kết hợp các loại chiến đấu cơ trên, Bắc Kinh gần như thử nghiệm thành công để có thể triển khai toàn diện lực lượng không quân đủ sức tác chiến không – hải và tấn công các thực thể trên Biển Đông. Truyền thông Trung Quốc cũng từng đăng tải hình ảnh hoạt động của một số loại máy bay quân sự, máy bay vận tải Y7 và Y8 đóng vai trò hỗ trợ. Điều này cho thấy, Bắc Kinh có thể vận hành một mạng lưới không quân toàn diện.

           Và thế trận không – hải

          Bên cạnh việc tăng cường tác chiến không quân, Trung Quốc cũng lắp đặt hệ thống tên lửa trên các thực thể ở cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Việc triển khai này khá tương thích với chiến lược Phong tỏa/Chống tiếp cận (A2/AD) mà Bắc Kinh phát triển trong nhiều năm qua.

Ở Hoàng Sa, các hình ảnh do AMTI công bố vào tháng 2/2016 xác định, Bắc Kinh đã triển khai hệ thống tên lửa đối không HQ-9 trên đảo Phú Lâm. Được xem là „S-300 phiên bản Trung Quốc“, HQ-9 có tầm bắn khoảng 250km với tốc độ tối đa gấp 4 lần vận tốc âm thanh, cho phép theo dõi và tấn công cùng lúc nhiều mục tiêu. Cho nên, việc lắp đặt HQ-9 là một biện pháp nhằm thiết lập lưới phòng không cho các đảo mà Bắc Kinh chiếm đóng phi pháp trên Biển Đông. Đến tháng 3/2016,  kênh truyền hình Phượng Hoàng của Hồng Kong đăng tải hình ảnh cho thấy Trung Quốc nhiều khả năng cũng đã triển khai tên lửa hành trình chống hạm YJ-62 trên đảo Phú Lâm. Với ưu thế trần bay khá thấp, YJ62 có phiên bản đạt tầm bắn lên đến 400km. Vì thế, YJ-62 kết hợp cùng HQ-9 tạo điều kiện để Bắc Kinh hình thành hệ thống tên lửa „không-hải“ theo chiến lược A2/AD.

Tại quần đảo Trường Sa, vào đầu tháng 5/2018, kênh CNBC (Mỹ) dẫn một số nguồn tin tiết lộ trong 30 ngày trước đó, Trung Quốc đã âm thầm điều tên lửa hành trình chống hạm YJ-12B và hệ thống tên lửa đối không HQ-9B đến 3 bãi đá Chữ Thập, Vành Khăn và Xu Bi. Một số hình ảnh khác hồi năm ngoái còn cho thấy, hạ tầng trên các thực thể mà Bắc Kinh chiếm giữ trái phép ở Trường Sa cũng có dấu hiệu được dùng để thiết lập cả tên lửa HHQ-9. Cả HQ-9B và HHQ-9 đều là các phiên bản của HQ-9. Trong đó, HHQ-9 là phiên bản thường được thiết kế dành cho tàu chiến. Còn YJ-12B đạt tốc độ nhanh gần gấp 3 lần vận tốc âm thanh cùng tầm bắn có thể lên đến 400km. Như vậy, một mô hình mạng lưới tên lửa không – hải cũng được Bắc Kinh triển khai trên Trường Sa tương tự với những gì đã làm ở đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa.

Ông Gregory Polling, giám đốc AMTI, nhận xét rằng“ „Những gì chúng ta nhìn thấy là bằng chứng Trung Quốc vẫn ra sức thiết lập sự thống trị trên toàn bộ Biển Đông bằng biện pháp đe dọa quân sự“./.

Minh Trí

Loading

Views: 0

Làm thế nào TQ thâu tóm được cảng chiến lược của Sri Lanka trong 99 năm?

Cựu Ngoại trưởng Sri Lanka cho hay, các cuộc đàm phán với giới chức Trung Quốc thời điểm đó đã nói rõ rằng chia sẻ tin tình báo là một phần của thỏa thuận.

Mỗi khi cựu Tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaksa tìm kiếm các khoản vay và sự hỗ trợ từ người đồng minh Trung Quốc, ông đều nhận được câu trả lời đồng ý.

Sau nhiều năm xây dựng và thương lượng với Công ty Kỹ thuật Cảng Trung Quốc (CHEC), một trong những doanh nghiệp nhà nước lớn nhất của Bắc Kinh, Dự án Phát triển Cảng Hambantota thất bại, đúng như dự tính.

Trong số hàng chục nghìn tàu bè đi qua khi di chuyển dọc một trong những tuyến vận tải đông đúc nhất thế giới, cảng biển này chỉ thu hút được 34 tàu trong năm 2012.

Và sau đó, cảng biển „rơi vào tay“ Trung Quốc.

Ông Rajapaksa thất cử năm 2015 nhưng chính quyền mới của Sri Lanka cũng rất chật vật để thanh toán khoản nợ mà ông đã vay. Dưới áp lực nặng nề và sau nhiều tháng đàm phán với Trung Quốc, chính quyền Sri Lanka đã chuyển giao quyền sử dụng cảng cùng hơn 6.000 hecta đất cho Trung Quốc trong vòng 99 năm.

Quyết định này trao cho Trung Quốc quyền kiểm soát một khu vực chỉ nằm cách bờ biển của đối thủ Ấn Độ vài trăm dặm, đồng thời là một vị trí chiến lược dọc theo tuyến đường thủy thương mại – quân sự quan trọng.

Cách „khuất phục một đất nước“

Đây là một trong những ví dụ rõ ràng nhất về cách sử dụng các khoản vay cũng như viện trợ đầy tham vọng của Trung Quốc nhằm giành lấy ảnh hưởng trên thế giới.

Thỏa thuận về khoản nợ cũng làm gia tăng một số cáo buộc gay gắt nhất về Sáng kiến Vành đai Con đường của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, rằng các chương trình cho vay và đầu tư toàn cầu đang mở rộng „chiếc bẫy nợ“ mà Trung Quốc giăng ra với những quốc gia yếu kém trên thế giới, làm gia tăng tham nhũng và các hành vi chuyên quyền tại các nền dân chủ vẫn còn đang phải đấu tranh.

Nhiều tháng phỏng vấn với các quan chức Sri Lanka, Ấn Độ, Trung Quốc, phương Tây và phân tích các tài liệu cũng như thỏa thuận liên quan tới dự án cảng đã cho thấy bức tranh khá rõ nét về cách mà Trung Quốc và các công ty dưới quyền quản lý của nước này đảm bảo lợi ích của mình tại một quốc gia nhỏ bé, cần tài chính.

– Trong các cuộc bầu cử năm 2015 của Sri Lanka, các khoản thanh toán lớn từ quỹ xây dựng cảng Trung Quốc được rót thẳng vào các hoạt động và công tác vận động bầu cử cho ông Rajapaksa, người đã chấp nhận các điều khoản của Trung Quốc và được coi là đồng minh quan trọng trong nỗ lực chuyển hướng tầm ảnh hưởng khỏi Ấn Độ ở khu vực Nam Á.

Các khoản thanh toán đã được xác nhận trong các cuộc điều tra của chính phủ.

– Mặc dù quan chức và các nhà phân tích Trung Quốc khẳng định rằng lợi ích của Bắc Kinh ở cảng Hambantota thuần chất là thương mại nhưng các quan chức Sri Lanka cho hay, ngay từ đầu, khả năng chiến lược và tình báo của vị trí cảng biển này đã là một phần của thỏa thuận.

– Ban đầu, các điều khoản vay nợ trong dự án cảng đã trở nên nặng nề hơn khi giới chức Sri Lanka đề nghị thương lượng lại lộ trình và đầu tư thêm tiền. Và khi giới chức Sri Lanka tha thiết muốn gạt khoản nợ trong những năm gần đây, yêu cầu của Trung Quốc xoay quanh việc chuyển giao vốn chủ sở hữu ở cảng, chứ không cho phép giảm bớt các điều khoản.

– Mặc dù thỏa thuận đã xóa bỏ gần 1 tỉ USD nợ cho dự án cảng nhưng giờ đây Sri Lanka đang nợ nần Trung Quốc nhiều hơn bao giờ hết, trong khi các khoản nợ khác vẫn còn đó và tỷ suất cao hơn nhiều so với các chủ nợ quốc tế khác.

„John Adams có một câu nói rất nổi tiếng thế này: Cách để khuất phục một đất nước là bằng gươm đao hoặc nợ nần. Trung Quốc đã chọn cách thứ hai“, Brahma Chellaney, một nhà phân tích liên kết với Trung tâm Nghiên cứu Chính sách ở New Delhi nhận định.

Giới chức Ấn Độ đặc biệt lo ngại rằng Sri Lanka chật vật tới mức chính phủ Trung Quốc có thể dùng phương án miễn nợ để đổi lấy quyền sử dụng các khu vực như cảng Hambantota cho mục đích quân sự – mặc dù thỏa thuận cho thuê cuối cùng cấm tiến hành các hoạt động quân sự ở đó mà không có lời mời của Sri Lanka.

„Cách duy nhất để biện hộ cho việc đầu tư vào cảng Hambantota là từ lập trường an ninh quốc gia – rằng việc này sẽ đưa quân đội Trung Quốc vào“, ông Shivshankar Menon, cựu Ngoại trưởng Ấn Độ nói.

Yêu cầu của Trung Quốc

Quan hệ giữa Trung Quốc và Sri Lanka lâu nay vốn đã tốt đẹp, nhưng trong cuộc nội chiến kéo dài 26 năm của Sri Lanka, Trung Quốc mới trở thành nhân tố không thể thiếu.

Dưới thời của Tổng thống Rajapaksa, Sri Lanka phụ thuộc lớn vào Trung Quốc vì các hỗ trợ kinh tế, thiết bị quân sự và sự bảo trợ trước Liên Hợp Quốc.

Nội chiến Sri Lanka kết thúc năm 2009, và khi đất nước vươn lên từ sự hỗn loạn, ông Rajapaksa và gia đình đã củng cố quyền lực của mình. Ở giai đoạn đỉnh cao, Tổng thống và 3 anh em trai còn kiểm soát nhiều cơ quan chính phủ và khoảng 80% chi tiêu chính phủ. Chính quyền các nước như Trung Quốc đàm phán trực tiếp với họ.

Vì thế khi kêu gọi tiến hành dự án phát triển cảng mới ở Hambatota, ông Rajapaksa không gặp trở ngại nào đáng kể.

Ngay từ đầu, nhiều quan chức Sri Lanka đã băn khoăn về sự khôn ngoan khi xây dựng cảng biển lớn thứ hai, tại một đất nước có diện tích chỉ bằng 1/4 nước Anh và dân số khoảng 22 triệu người, trong khi cảng biển ở thủ đô Colombo đang phát triển và vẫn còn có thể mở rộng được.

Các nghiên cứu do chính phủ tiến hành đã kết luận rằng cảng biển ở Hambantota không hiệu quả về mặt kinh tế. Tuy nhiên ông Rajapaksa bật đèn xanh cho dự án và sau đó tuyên bố là Trung Quốc đã nhập cuộc.

Khoản vay lớn đầu tiên mà Sri Lanka nhận là 307 triệu USD từ Ngân hàng Xuất – Nhập khẩu của Trung Quốc. Tuy nhiên, để có được khoản vay, Sri Lanka buộc phải chọn công ty Cảng Trung Quốc (CHEC) làm đơn vị thi công. Thông tin này được WikiLeaks tiết lộ, dẫn nguồn từ Đại sứ quán Mỹ vào thời điểm đó.

Đây là một yêu cầu đặc trưng của Trung Quốc đối với các dự án của nước này khắp thế giới, thay vì mở một phiên đấu thầu công khai.

Ngoài ra, còn có nhiều sợi dây ràng buộc khác đối với khoản vay, dấu hiệu cho thấy Trung Quốc nhìn ra giá trị chiến lược của cảng Hambantota từ ban đầu.

Nihal Rodrigo, cựu Ngoại trưởng Sri Lanka cho hay, các cuộc đàm phán với giới chức Trung Quốc thời điểm đó đã nói rõ rằng chia sẻ tin tình báo là một phần của thỏa thuận. Trong cuộc phỏng vấn với The Times, ông Rodrigo đã mô tả lời nói của Trung Quốc là: „Chúng tôi muốn các anh cho chúng tôi biết ai tới và ai dừng lại ở đây“.

Thỏa thuận không chắc chắn

Hu Shisheng, giám đốc trung tâm nghiên cứu Nam Á tại Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc, cho rằng, Trung Quốc rõ ràng đã nhận ra được giá trị chiến lược của cảng Hambantota.

Tuy nhiên, ông cũng nói thêm rằng: „Một khi Trung Quốc muốn khai thác giá trị địa chiến lược của cảng thì giá trị chiến lược của nó sẽ không còn nữa. Các nước lớn không thể tranh đấu ở Sri Lanka – nó sẽ bị cạn kiệt“.

Chính quyền mới muốn hướng Sri Lanka về phía Ấn Độ, Nhật Bản và phương Tây nhưng rồi họ nhận ra rằng không nước nào có thể lấp đầy chỗ trống về tài chính và kinh tế mà Trung Quốc để lại nếu nước này ra đi.

Một số quan chức chính phủ cay đắng phản đối điều khoản nhưng không còn lựa chọn nào khác. Thỏa thuận mới được ký vào tháng 7/2017 và có hiệu lực vào tháng 12.

Khi mới đàm phán, thỏa thuận để ngỏ việc liệu cảng biển và khu vực đất xung quanh có thể được quân đội Trung Quốc sử dụng hay không nhưng thỏa thuận cuối cùng đã cấm các công ty nước ngoài sử dụng cảng vì mục đích quân sự trừ khi được chính quyền Colombo cho phép.

Sở dĩ có điều khoản đó là vì tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc đã xuất hiện ở Sri Lanka. Chính quyền mới của Sri Lanka đã cố gắng đảm bảo rằng cảng biển sẽ không đón tiếp tàu ngầm Trung Quốc một lần nữa – chủ yếu lo ngại vì các tàu ngầm khó bị phát hiện và thường được sử dụng để thu thập tin tình báo. Nhưng giới chức Sri Lanka có ít thực quyền.

Hiện nay, việc chuyển giao cảng Hambantota cho người Trung Quốc đã khơi dậy lo ngại về khả năng cảng bị sử dụng với mục đích quân sự – đặc biệt là khi Trung Quốc vẫn tiếp tục quân sự hóa trái phép các đảo, đá trên Biển Đông dù trước đó đã cam kết không làm như vậy.

Nhiều nhà phân tích cho rằng, chính quyền Sri Lanka, vốn đang chịu nhiều khoản nợ lớn của Trung Quốc, có thể sẽ bị ép phải chấp thuận.

BDN

Loading

Views: 0