Autor-Archiv:East Sea

Chuyên gia Đức: UNCLOS có vai trò hết sức quan trọng

Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert, chuyên gia nghiên cứu về biển tại Đại học Hamburg (Đức)

Nhân kỷ niệm 40 năm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) ra đời (10/12/1982-10/12/2022), phóng viên đã có buổi phỏng vấn Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert, chuyên gia nghiên cứu về biển tại Đại học Hamburg (Đức) về công ước này.

PV: Thưa Giáo sư Thomas Engelbert, ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa và tầm quan trọng của của UNCLOS 1982 đối với an ninh hàng hải khu vực Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương?

Công ước LHQ về luật biển được kí vào năm 1982 có ý nghĩa rất lớn đối với an ninh hàng hải, không chỉ ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương mà trên cả thế giới. Đây là lần đầu tiên những qui định rõ ràng về các hành xử trên biển được đặt ra. Ví dụ công ước quy định rõ những thực thể nào được gọi là đảo, thực thể nào không phải là đảo; phân biệt đảo đá là gì và tính pháp lí của chúng khác đảo thường như thế nào; định nghĩa các vùng khai thác kinh tế trên biển của quốc gia là gì… Đây là lần đầu tiên các khái niệm này được định nghĩa rõ ràng. Văn bản này cũng quy định các cơ chế pháp lý giải quyết các tranh chấp biên giới trên biển giữa các quốc gia mà không sử dụng bạo lực. Sự ra đời của UNCLOS là một cột mốc quan trọng trong luật quốc tế liên quan đến biển. Trên cơ sở UNCLOS, một số tổ chức quan trọng được thành lập như Tòa án quốc tế về Luật Biển (tại thành phố Hamburg – Đức) hay Tòa Trọng tài thường trực PCA (tại thành phố La hay – Hà Lan). Đây là cơ sở để các quốc gia có biển giải quyết các tranh chấp lãnh thổ một cách hoàn bình.

PV: Được coi là khuôn khổ toàn diện điều chỉnh tất cả các hoạt động trên biển và đại dương, góp phần vào việc bảo đảm an ninh, tự do hàng hải, duy trì hoà bình, ổn định và thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc, theo Giáo sư, UNCLOS đã được áp dụng như thế trong giải quyết các tranh chấp về biển trên thế giới nói chung và tranh chấp ở Biển Đông nói riêng?

Từ khi UNCLOS ra đời, công ước này đã được áp dụng để giải quyết thành công nhiều vụ tranh chấp phức tạp về biển trên thế giới, ví dụ vụ tranh chấp giữa Anh và Mauritius trong việc thành lập khu bảo tồn biển tại khu vực quần đảo Chagos ở Ấn Độ Dương; vụ Nicaragua kiện Colombia ra Tòa án Công lý Quốc tế về phân định chủ quyền các đảo và vùng biển liên quan tại biển Caribe; vụ Timor Leste kiện Australia liên quan đến phân định biên giới biển giữa hai nước…

Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert trả lời phỏng vấn phóng viên

Đối với tranh chấp trên Biển Đông, tháng 1/2013, Philippines đã chính thức kiện Trung Quốc theo Phụ lục VII của UNCLOS. Như vậy, một lần nữa UNCLOS đã được vận dụng để giải quyết tranh chấp về biển giữa các quốc gia. Tháng 7/2016, Tòa trọng tài thường trực PCA đã ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện này, bác bỏ hoàn toàn yêu sách „đường chín đoạn“ của Trung Quốc tại Biển Đông. Quyết định này có ảnh hưởng lâu dài về mặt pháp lí. Theo phán quyết, thứ nhất, yêu sách „đường chín đoạn“ của Trung Quốc không phù hợp với luật quốc tế, không dựa trên bất cứ nền tảng luật pháp nào. Thứ hai, các cấu trúc địa lý trên Biển Đông không phải là các đảo, vì thế chúng không có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí như đảo thông thường. Thứ ba, việc xây dựng căn cứ trên biển, trên cáo đảo đá hay các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã và đang tiến hành gây tổn hại tới môi trường biển và vi phạm UNCLOS. Phán quyết này của Tòa trọng tài thường trực là cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết xung đột trên biển Đông. Tất nhiên việc thực hiện phán quyết phụ thuộc vào các quốc gia liên quan vì không có cơ chế cưỡng chế hiệu quả nào buộc thi hành phán quyết. Trung Quốc vẫn luôn bác bỏ phán quyết và tuyên bố sẽ không chấp nhận bất kỳ hành động nào dựa trên phán quyết này. Tuy nhiên, trong các cuộc đàm phán sau này như đàm phán về bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), phán quyết của Tòa trọng tài PCA vẫn có những ảnh hưởng nhất định. Các nước ASEAN không còn chấp nhận những đòi hỏi chủ quyền vô lý từ Trung Quốc nữa.

PV: Thưa Giáo sư, năm 2022 cũng là năm kỷ niệm 20 năm ký kết Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa, vai trò của DOC trong việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định ở Biển Đông?

Trong bối cảnh Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông COC chưa ra đời, tôi cho rằng DOC có ý nghĩa lớn, là cơ sở pháp lý quan trọng ràng buộc nhất giữa ASEAN và Trung Quốc trong việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực này. Các bên tham gia ký kết DOC nhất trí tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về cách hành xử trên Biển Đông, tôn trọng tự do hàng hải, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực đối với các quốc gia khác, không leo thang căng thẳng làm phức tạp tình hình, sẵn sàng đối thoại để xây dựng Bộ quy tắc ứng xử chung COC. Hiện tại, COC vẫn trong quá trình đàm phán vì các bên vẫn chưa đạt được quan điểm thống nhất về bộ quy tắc này. Nhưng ý nghĩa nằm ở chỗ đàm phán còn tồn tại, tức là Trung Quốc buộc phải ngồi lại cùng các quốc gia ASEAN để xây dựng một cơ chế chung tránh xung đột.  

Mặc dù vậy, thời gian qua Trung Quốc vẫn tiếp tục có các hành động leo thang ở Biển Đông khiến tình hình thêm phức tạp. Vì thế, vấn đề đặt ra là liệu có thể tạo ra áp lực đủ lớn với Trung Quốc trong cuộc đàm phán này hay không? Nếu các quốc gia ASEAN đoàn kết trước những quan điểm và bước đi đơn phương của Trung Quốc, điều này là có thể. Trung Quốc luôn muốn đàm phán với từng quốc gia riêng lẻ về biên giới lãnh thổ, vì các quốc gia Đông Nam Á luôn ở vị thế yếu so với sức mạnh của Trung Quốc. Khi buộc được Trung Quốc phải tham gia vào quá trình đàm phán đa phương thì đó là một thành công của ASEAN, với vai trò một „mỏ neo“ giữ vững sự ổn định trong khu vực Đông Nam Á.

PV: Thưa Giáo sư, nhóm Bạn bè của UNCLOS (UNCLOS Friends Group) được thành lập theo sáng kiến của Đức và Việt Nam, tới nay đã có sự tham gia của 115 nước. Ông đánh giá như thế nào về vai trò của nhóm này trong thực thi UNCLOS, DOC cũng như thúc đẩy đàm phán về Bộ quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC)?

Theo tôi, những sáng kiến và cơ chế hợp tác như nhóm Bạn bè của UNCLOS rất có ý nghĩa và cần thiết trong việc thực thi UNCLOS. Con số 115 quốc gia tham gia nhóm cho tới nay cho thấy điều này. Rõ ràng, các quốc gia đánh giá cao sáng kiến và sẵn sàng tham gia vào nhóm. Về phía Đức, chính phủ Đức luôn nhấn mạnh vai trò của UNCLOS và luật pháp quốc tế nói chung trong giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. Tất cả các quốc gia khác ven biển Đông cũng đều chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp trên biển. Những điều này góp phần gây áp lực nhất định với Trung Quốc, khiến họ phải đàm phán, ví dụ như trong khuôn khổ COC, vì họ luôn coi mình là một cường quốc thiện chí muốn tránh các xung đột quân sự, giải quyết hòa bình tranh chấp với các quốc gia khác.

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư./.

BND

Loading

Views: 0

Vấn đề Biển Đông tiếp tục thu hút sự quan tâm của quốc tế

Giáo sư, Tiến sĩ Eve Wilden – Viện trưởng Viện Á-Phi, Đại học Hamburg, phát biểu tại Hội thảo

Ngày 18/11, Viện Á-Phi thuộc Đại học Hamburg (Đức) đã tổ chức hội thảo quốc tế về các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và vấn đề Biển Đông. Hội thảo cho thấy, những tranh chấp trên Biển Đông tiếp tục thu hút được sự quan tâm lớn của giới chuyên gia và dư luận quốc tế.

Với chủ đề „Các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Biển Đông – Quan điểm từ các khu vực“, hội thảo đã thu hút được sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu từ nhiều quốc gia trên thế giới như Đức, Pháp, Australia, Nhật Bản. Các chuyên gia đã phân tích và đưa ra nhiều nhận định, đánh giá về tình hình chính trị, an ninh khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó trọng tâm là khu vực Biển Đông; đồng thời đề xuất nhiều giải pháp giải quyết xung đột trong khu vực. Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert – chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông tại Đại học Hamburg và Tiến sỹ Gerhard Will, nguyên chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông tại Viện Khoa học và Chính trị Đức (SWP), đồng chủ trì hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Giáo sư, Tiến sĩ Eve Wilden – Viện trưởng Viện Á-Phi, Đại học Hamburg, đánh giá khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chiếm hơn một nửa dân số thế giới, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nhiều tuyến đường biển quan trọng, có ý nghĩa hết sức to lớn đối với nền thương mại toàn cầu và ngày càng trở thành khu vực quan trọng trong việc định hình trật tự thế giới thế kỷ XXI. Nhận thức được tầm quan trọng của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, những năm qua nhiều cường quốc trên thế giới, trong đó có Liên minh châu Âu và nước Đức, đã ban hành các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của riêng mình, đồng thời tăng cường hợp tác và hiện diện trong khu vực. Tuy nhiên những xung đột và tranh chấp dai dẳng, đặc biệt là tranh chấp trên Biển Đông, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn và không dễ giải quyết. Với sự tham gia của các chuyên gia nghiên cứu hàng đầu thế giới, hội thảo sẽ thảo luận và đề xuất các biện pháp góp phần giải quyết xung đột, bảo vệ an ninh, hòa bình và ổn định trong khu vực.

Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert – Viện Á – Phi, Đại học Hamburg, phát biểu tại hội thảo

Trong bài phát biểu của mình, Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert nhận định các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đều cho thấy quan điểm, tầm nhìn và các chính sách lớn của các quốc gia đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – một khu vực phát triển rất năng động những cũng chứa đựng không ít mâu thuẫn, tranh chấp. Riêng tại khu vực Biển Đông, thời gian qua tình hình tiếp tục có nhiều phức tạp. Những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc vẫn tiếp diễn, quá trình quân sự hóa Biển Đông được đẩy nhanh hơn, nguy cơ đụng độ quân sự trực tiếp trên biển luôn tiềm ẩn. Trong khi đó, quá trình đàm phán Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc tiếp tục kéo dài và chưa có đột phá, quan điểm của các bên tham gia đàm phán COC còn khác xa nhau, lòng tin chiến lược giữa các bên chưa được thúc đẩy.

Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với những thách thức chính trị, an ninh gay gắt như hiện nay, Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert cho rằng các quốc gia trong khu vực Biển Đông cần kiềm chế các hành động của mình, tôn trọng luật pháp quốc tế, nỗ lực cùng nhau giải quyết xung đột thông qua các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), đẩy nhanh quá trình đàm phán COC.    

Các chuyên gia tham dự hội thảo đều khẳng định UNCLOS và phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài PCA là những cơ sở pháp lý vững chắc nhất và quan trọng nhất cho việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Các hành vi đơn phương vi phạm luật pháp quốc tế, gây hấn, sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực với các quốc gia khác là không thể chấp nhận được. Chỉ có tích cực đàm phán trên cơ sở luật pháp quốc tế và sự tôn trọng lẫn nhau, tính đến lợi ích hài hòa giữa các bên, đồng thời thúc đẩy niềm tin và tăng cường hợp tác hướng tới tương lai lâu dài, mới là biện pháp tối ưu nhất trong giải quyết xung đột, bảo vệ hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực cũng như trên thế giới.

Tiến sỹ Gerhard Will – nguyên chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông tại Viện Khoa học và Chính trị Đức, phát biểu tại hội thảo

Phát biểu kết luận hội thảo, Tiến sỹ Gerhard Will đánh giá những diễn biến thời gian qua cho thấy các cấu trúc quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị và an ninh, đang thay đổi nhanh chóng. Các cấu trúc cũ đang mất đi ý nghĩa và vai trò trước đây của chúng, trong khi các cấu trúc mới đang dần hình thành. Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ngày càng thể hiện tầm quan trọng và được cả thế giới quan tâm nhiều hơn, một loạt các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương lần lượt được ban hành trong những năm gần đây cho thấy rõ điều đó. Trong khu vực này, một trong những xung đột trọng tâm là tranh chấp trên Biển Đông. Việc tôn trọng luật pháp quốc tế, nỗ lực giải quyết hòa bình các tranh chấp này không chỉ có ý nghĩa đối với khu vực mà còn với cả thế giới./.

BND

Loading

Views: 0

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính hội đàm với Thủ tướng Đức Olaf Scholz

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức Olaf Scholz thăm chính thức Việt Nam từ 13 – 14/11/2022. Chiều 13/11, sau lễ đón chính thức, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã hội đàm với Thủ tướng Olaf Scholz.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng CHLB Đức Olaf Scholz trước khi bước vào hội đàm. Ảnh: TTXVN

Tại cuộc hội đàm, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá chuyến thăm của Thủ tướng Olaf Scholz có ý nghĩa rất quan trọng, đưa quan hệ hai nước sang giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh tin cậy chính trị, thúc đẩy khuôn khổ Đối tác chiến lược đi vào chiều sâu, hiệu quả, tăng cường hợp tác hai nước cả bình diện song phương và đa phương hướng đến phát triển bền vững và cùng giải quyết các vấn đề toàn cầu.

Thủ tướng Olaf Scholz chân thành cảm ơn Thủ tướng Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Đức sự đón tiếp chân tình và nồng hậu; khẳng định coi trọng vị thế và vai trò của Việt Nam trong chiến lược của Đức đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; ủng hộ thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ truyền thống và hợp tác chặt chẽ giữa hai nước.

Trong không khí tin cậy và thẳng thắn, hai Thủ tướng đã trao đổi toàn diện về tình hình phát triển kinh tế – xã hội mỗi nước, quan hệ hợp tác song phương và các vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm.

Hai Thủ tướng bày tỏ vui mừng về những phát triển tích cực trong quan hệ hai nước mặc dù tác động của đại dịch: Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì tiếp xúc thường xuyên, đầu tư – thương mại tăng trưởng mạnh mẽ, Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Đức ở Đông Nam Á… Ngay trước và trong thời gian chuyến thăm của Thủ tướng Đức, các cơ quan hai bên đã ký 3 văn kiện hợp tác về quốc phòng, chuyển đổi năng lượng và lao động, đào tạo nghề, cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của cả hai nước mở rộng và làm sâu sắc khuôn khổ Đối tác chiến lược.

Nhân dịp này, hai nhà Lãnh đạo đánh giá cao hợp tác hai bên trong phòng, chống dịch COVID-19. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cảm ơn Chính phủ và nhân dân Đức đã hỗ trợ vaccine phòng COVID-19, góp phần giúp Việt Nam đẩy lùi dịch bệnh và sớm mở cửa, phục hồi kinh tế. Thủ tướng Đức bày tỏ ấn tượng về sự phục hồi và phát triển kinh tế năng động, tích cực của Việt Nam.

Thủ tướng Phạm Minh Chính hội đàm với Thủ tướng CHLB Đức Olaf Scholz. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN

Hai Thủ tướng đã thống nhất các phương hướng, biện pháp lớn để đẩy mạnh toàn diện hợp tác giữa hai nước. Hai bên đã nhất trí tăng cường trao đổi đoàn các cấp, nhất là cấp cao, trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, tiếp tục triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương. Về kinh tế – thương mại, hai nhà Lãnh đạo khuyến khích các cơ quan, doanh nghiệp hai nước tiếp tục triển khai đầy đủ, hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Quốc hội Đức sớm hoàn tất phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA); khuyến khích các doanh nghiệp Đức đầu tư mới và mở rộng đầu tư tại Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực Đức có thế mạnh như chuyển đổi số, năng lượng tái tạo, cơ sở hạ tầng chiến lược; thúc đẩy Ủy ban châu Âu (EC) sớm gỡ bỏ „thẻ vàng“ đối với thủy sản Việt Nam; tạo thuận lợi cho xuất khẩu nông thủy sản của Việt Nam vào thị trường Đức.

Về phần mình, Thủ tướng Olaf Scholz khẳng định Hiệp định EVFTA là động lực quan trọng thúc đẩy quan hệ kinh tế – thương mại giữa hai bên; đề nghị hai nước tiếp tục đa dạng hóa quan hệ kinh tế; chia sẻ mong muốn sớm thông qua Hiệp định EVIPA; đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam chuyển đổi nghề cá bền vững. Thủ tướng Đức nhấn mạnh các tập đoàn, doanh nghiệp Đức ngày càng quan tâm đến Việt Nam với chính trị ổn định, môi trường đầu tư – kinh doanh thuận lợi, đặc biệt trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghiệp chế tạo, phát triển cơ sở hạ tầng… 

Hai bên nhất trí mở rộng hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực quan trọng khác như khoa học – công nghệ, quốc phòng – an ninh, y tế – giáo dục, đào tạo nghề và lao động, cũng như đẩy mạnh phối hợp cùng giải quyết các thách thức toàn cầu như an ninh lương thực, ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó thúc đẩy hợp tác về phát triển năng lượng tái tạo, hỗ trợ các vùng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu như Đồng bằng sông Cửu Long; phối hợp với G7 để các bên sớm nhất trí về Tuyên bố chính trị về Cơ chế đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Chính phủ Đức tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam tại Đức hội nhập thành công và đóng góp cho phát triển kinh tế – xã hội Đức cũng như quan hệ hai nước, coi đây là tài sản quý báu trong quan hệ hai nước.

Hai Thủ tướng cũng đã trao đổi sâu rộng về các vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm, khẳng định hai nước tiếp tục phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn và tổ chức quốc tế, nhất là thúc đẩy quan hệ giữa ASEAN với Đức và EU cũng như hợp tác trong khuôn khổ ASEM, Liên hợp quốc…; tái khẳng định tầm quan trọng của việc đảm bảo hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

*Sau hội đàm, hai Thủ tướng đã có cuộc gặp gỡ báo chí chung, thông báo kết quả chính của hội đàm, nhấn mạnh hai bên nhất trí phối hợp chặt chẽ, thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược ngày càng phát triển sâu rộng, hiệu quả, vì phát triển bền vững và lợi ích của hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Nguồn: https://baotintuc.vn/thoi-su/thu-tuong-chinh-phu-pham-minh-chinh-hoi-dam-voi-thu-tuong-ducolaf-scholz-20221113192840229.htm

Loading

Views: 0

Đại hội 20 Đảng Cộng sản Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh nào?

1. Bối cảnh quốc tế
Đại hội 20 ĐCS Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh quốc tế đang có những thay đổi chưa từng có, chứa đựng nhiều nhân tố bất ổn và không xác định.
Đại dịch Covid-19 và đi kèm với đó là xu hướng hướng nội của các quốc gia chính là chất xúc tác cho quá trình phân tách giữa các nước. Hậu quả của đại dịch là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu sẽ đẩy nhanh quá trình phân rã trật tự thế giới cũ và tái cấu trúc cán cân quyền lực toàn cầu, thúc đẩy hình thành hai trung tâm quyền lực chính là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Cùng lúc đó, cuộc chiến Nga – Ukcraine là minh chứng cho một cuộc khủng hoảng của nền quản trị toàn cầu, khi mà những quy tắc về một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ được hình thành từ sau Thế chiến thứ hai đang bị xâm phạm nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng ở Ukcraine đã củng cố tình đoàn kết giữa các đối thủ phương Tây của Nga, làm hồi sinh NATO, tăng cường sự kết nối giữa Mỹ và EU khi họ tìm thấy những mục đích chung mới, đi ngược lại với nguy cơ chia rẽ và rạn nứt giữa hai bờ Đại Tây Dương đã diễn ra trong vài năm gần đây. Cuộc chiến tại Ukraine cũng khiến Nga xích lại gần hơn với Trung Quốc, hai bên tuyên bố rằng tình hữu nghị giữa hai nước là “không giới hạn”. Tất cả những biến động lớn trên phạm vi toàn thế giới nói trên chắc chắn sẽ gây ra những tác động căn bản đối với quá trình tái định hình trật tự thế giới vốn đã bắt đầu diễn ra từ khi Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ, thách thức vị trí bá chủ của Mỹ. Mặc dù thế giới chưa phân chia thành hai cực rõ rệt vào thời điểm hiện tại, nhưng một trật tự lưỡng cực mới đang dần được hình thành. Với vai trò có thể là một “cực” mới trong hệ thống quốc tế tương lai, Đại hội 20 ĐCS Trung Quốc sẽ phải đưa ra những điều chỉnh mang tầm chiến lược.
Cạnh tranh và căng thẳng sẽ vẫn là xu hướng chủ đạo trong quan hệ Trung-Mỹ. Nếu như tổng thống Trump khiến cho quan hệ Mỹ-Trung chạm đáy trong lịch sử quan hệ ngoại giao hai nước kể từ khi bình thường hoá thì có thể nói, ông sẽ là vị tổng thống Mỹ nhẹ tay nhất với Trung Quốc từ nay về sau. Sự đồng thuận trong nhận thức đối với “đối thủ chiến lược” Trung Quốc tại Mỹ đã đi từ lưỡng đảng đến giới tinh anh, trở thành tiếng nói chung của toàn xã hội Mỹ. Cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung đã lan từ lĩnh vực kinh tế-thương mại sang tất cả các khía cạnh khác. Gần đây Mỹ đã phát động một cuộc tấn công toàn diện vào khâu yếu nhất của Trung Quốc là công nghệ lõi, mở đầu cho một cuộc cạnh trạnh gay gắt về công nghệ giữa hai quốc gia này. Đây sẽ là khía cạnh tập trung mâu thuẫn Mỹ-Trung trong vài năm tới. Hy vọng của Trung Quốc về việc có thể lùi thời gian Mỹ tiến hành kiềm chế ở mức độ cao với họ đã bị dập tắt. Trung Quốc đang chuẩn bị thế và lực cho một cuộc cạnh tranh lâu dài và khốc liệt với Hoa Kỳ. Tuy vậy, nhận thức chủ đạo của Trung Quốc vẫn là trung tâm quyền lực đang có xu hướng “chuyển dịch từ Tây sang Đông” và ý thức sâu sắc về việc họ đang ở trong “thời kỳ cơ hội trăm năm có một”. Do vậy họ phải nỗ lực tranh thủ thời cơ hiếm có này.
Vấn đề Đài Loan chưa bao giờ phức tạp như hiện nay. “Thống nhất Đài Loan” là mục tiêu Trung Quốc phải thực hiện trong giai đoạn hoàn thành mục tiêu trăm năm lần thứ hai, nhằm hiện thực hoá “giấc mộng phục hưng dân tộc Trung Hoa”, đồng thời quỹ thời gian cho nhiệm vụ này đang ngày càng ít dần. Nhưng quan điểm của người dân Đài Loan hiện nay khiến “thống nhất hoà bình” khó thực hiện. Có lẽ TQ phải đưa ra một sáng kiến mới kiểu như “một nước hai chế độ”. Trong khi đó, Mỹ sẽ tiếp tục dùng Đài Loan để gây sức ép và làm các phép thử đối với “điểm tới hạn” của Trung Quốc. Đây chính là bài toán khó đặt ra cho Đại hội 20 ĐCS Trung Quốc.
Quang cảnh Đại hội Đảng 19
2. Tình hình trong nước
Hiện tại Trung Quốc đang phải đối mặt với bất ổn kinh tế lớn và tăng trưởng chậm hơn bất cứ thời điểm nào kể từ khi Đặng Tiểu Bình thực hiện “cải cách mở cửa” cho đến nay. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đang chậm lại, và sự chậm lại này về bản chất mang tính cấu trúc, chứ không chỉ mang tính chu kỳ, sự suy giảm tốc độ tăng trưởng này phản ánh quá trình chuyển đổi khó khăn mà các nền kinh tế phát triển nhanh khác đã không thể giải quyết được trong quá khứ. Chính sách “zero Covid” được thực hiện một cách nghiêm ngặt và kéo dài đã khiến nền kinh tế Trung Quốc đang phải đối mặt nhiều thách thức lớn hơn. Sự cô lập với phần còn lại của thế giới, tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng, nguy cơ phá sản của hàng loạt các doanh nghiệp tư nhân, vấn đề cơm ăn áo mặc và sinh tồn của người dân, tất cả đang đặt ra những thách thức lớn đối với nền kinh tế Trung Quốc.
Song song với đó, TQ đang thực hiện nhiều biện pháp hạn chế rủi ro tài chính vì nợ đang ở mức cao. Các biện pháp này đã tạo ra áp lực đối với thị trường nhà ở, và cuộc khủng hoảng bất động sản bắt đầu xảy ra với China Evergrande Group và sau đó lan sang các công ty khác. Giá nhà vẫn tăng bất chấp tuyên bố “nhà để ở không phải để đầu cơ” của chính phủ. Thêm vào đó, khoảng cách thu nhập (giữa các giai tầng, giữa các vùng miền) ở Trung Quốc ngày càng nới rộng. Từ việc mạnh tay thực thi chính sách “một con”, Trung Quốc hiện đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng về nhân khẩu, áp lực “già đi” trước khi “giàu lên” gây khó khăn đối với sự tăng trưởng của nước này. Thách thức về “bẫy thu nhập trung bình” trở nên trầm trọng hơn bởi quá trình già hóa dân số của Trung Quốc.
Dù vậy, Trung Quốc đang ở trong một môi trường chính trị ổn định, với sự đồng thuận cao từ trên xuống dưới, với chủ nghĩa yêu nước được bồi dưỡng và lan tỏa. Nếu như chủ tịch Tập Cận Bình vẫn tiếp tục tại vị ở nhiệm kỳ 3, đồng nghĩa với việc những chiến lược và tầm nhìn thế kỷ của ông sẽ mang tính kế thừa và tiếp nối. Một chiến lược tự chủ sáng tạo về công nghệ để khắc phục “điểm nghẽn” về “công nghệ lõi”, ước mơ về xã hội “thịnh vượng chung” hướng đến mọi người cùng giàu có, một tầm nhìn “cộng đồng chung vận mệnh nhân loại” đầy giá trị truyền cảm hứng. Tất cả tạo nên viễn cảnh một Trung Quốc thịnh vượng và đầy hy vọng trong tương lai.
Đại hội 20 ĐCS Trung Quốc diễn ra trong môi trường quốc tế cũng như trong nước khó khăn và bất định hơn so với Đại hội 19. Đồng thời Trung Quốc đang gặp phải một “nghịch lý”, đó là khi đang trong thời đoạn phát triển và thịnh vượng nhất kể từ khi thành lập nước, thì họ lại phải giải quyết những vấn đề nan giải nhất và đối mặt với nhiều rủi ro lớn về an ninh.
TS Hoàng Huệ Anh

Loading

Views: 0

EU ringt um Öl-Embargo: Michels Flucht nach vorne – stimmt Orbán jetzt zu?

In der Debatte über ein Ölembargo gegen Russland treten die Interessengegensätze in der EU deutlich hervor. Vor allem Ungarns Ministerpräsident Orbán stellte sich bislang quer. Aber auch andere Mitgliedstaaten hegen Bedenken.

Je länger der russische Angriffskrieg gegen die Ukraine dauert, desto deutlicher treten hinter den Solidaritätsschwüren der Europäer unterschiedliche Interessen und Auffassungen hervor. Bei allen Themen, über welche die Staats- und Regierungschefs der EU-Mitgliedstaaten am Montagabend reden wollten, war das so. Ob das sechste Sanktionspaket, dessen Kern ein Ölembargo gegen Russland sein soll, geschnürt werden kann, war immer noch nicht klar, als die Chefs am Nachmittag in Brüssel eintrafen. Nach wochenlangen Verhandlungen schien immerhin eine „politische Einigung“ möglich.

Bei der Finanzierung des Wiederaufbaus der Ukraine lagen die Positionen dagegen noch weit auseinander. Schon die Frage, ob man in den üblichen Schlussfolgerungen zu einem Waffenstillstand aufrufen sollte, war so umstritten, dass dazu keine Formulierung gefunden wurde. Balten und Polen waren strikt dagegen, während Italien, Ungarn und Zypern dafür geworben hatten.

Am sichtbarsten sind die Interessengegensätze bisher beim Ölembargo hervorgetreten. Vier Wochen lang wurde um einen tragfähigen Kompromiss gerungen. Vorige Woche lagen sie noch so weit auseinander, dass der ungarische Ministerpräsident Viktor Orbán den EU-Ratspräsidenten Charles Michel brieflich aufforderte, das Thema auf dem außerordentlichen Treffen gar nicht erst auf die Tagesordnung zu bringen.

Michel in misslicher Lage

„Es würde nur ein Licht auf unsere internen Spannungen werfen, ohne eine realistische Chance zu bieten, unsere Unterschiede zu überwinden“, warnte Orbán, der sich vehement gegen ein schnelles Embargo gestemmt hat. Michel brachte er damit in eine missliche Lage, denn andere Regierungen waren schon vorgeprescht. Der Belgier ergriff daraufhin die Flucht nach vorne – und präsentierte eilends einen Vorschlag, der zu Beginn der Beratungen abgelehnt worden war: Demnach soll der Importstopp zunächst nur für Lieferungen über See gelten, nicht aber über Land, also über die Druschba-Pipeline. Das betrifft rund einen Drittel der Ölimporte aus Russland.

Die letzte Fassung der Schlussfolgerungen, die Michel am Montag präsentierte, sah vor, dass die Staats- und Regierungschefs diesen Kompromiss grundsätzlich befürworten. Allerdings ging daraus nicht hervor, wie den Bedenken mehrerer Mitgliedstaaten Rechnung getragen würde. Der Ministerrat solle den Vorschlag „ohne Verzögerung finalisieren und annehmen“, hieß es darin. Als die EU-Botschafter sich am Morgen getroffen hatten, war ihnen das noch nicht gelungen. Ungewiss blieb auch, ob Ungarns Regierungschef sich nicht länger querstellen würde.

Über die Druschba-Leitung pumpt Russland seit den Sechzigerjahren Rohöl gen Westen. Eine nördliche Trasse läuft über Belarus und Polen bis nach Ostdeutschland; sie versorgt heute noch die Raffinerien in Leuna und Schwedt. Die südliche Trasse, über die Ukraine, schließt Ungarn, die Slowakei und die Tschechische Republik an. Diese drei Staaten verlangten zeitliche Ausnahmen von einem Embargo, weil sie an der Leitung „hängen“ und keinen Seehafen haben, über den sie schnell Öl aus anderen Ländern beziehen können.

Michel wollte ihnen weit entgegenkommen und gar kein Enddatum nennen. In seinem Entwurf war lediglich davon die Rede, dass der Ministerrat (als Gesetzgeber) sich damit „so bald wie möglich“ befassen werde. Die Kommission wiederum hatte den drei Staaten weitere Investitionen in den Ausbau der Adria-Pipeline zugesagt, die Öl von der kroatischen und künftig auch von der italienischen Küsteweitertransportieren soll.

Quelle: https://www.faz.net/aktuell/politik/ausland/eu-ringt-um-oel-embargo-stimmt-orban-michels-kompromiss-zu-18068680.html

Loading

Views: 0

Inselstaaten: Abkommen zwischen China und Pazifikstaaten vorerst gescheitert

Inselstaaten: Der chinesische Staatsrat und Außenminister Wang Yi mit dem Generalsekretär des Pazifischen Inselforums (PIF), Henry Puna, in Suwa am 29. Mai 2022

Der chinesische Staatsrat und Außenminister Wang Yi mit dem Generalsekretär des Pazifischen Inselforums (PIF), Henry Puna, in Suwa am 29. Mai 2022 © Xinhua/​imago images

China sucht im Pazifik neue Verbündete bei einigen Inselstaaten – zum Missfallen einiger westlicher Länder. Nun ist ein geplanter Kooperationspakt ins Stocken geraten.

Das geplante Abkommen zwischen China und mehreren Pazifikstaaten ist gescheitert. Eigentlich wollte der chinesische Außenminister Wang Yi Dokumenten zufolge erreichen, dass zehn Nationen eine vorab verfasste Vereinbarung unterstützen. Dazu kam es aber nicht. Es gebe zwar Konsens in einigen Bereichen, sagte Wang Yi bei einer virtuellen Konferenz auf Fidschi. Es seien aber weitere Gespräche erforderlich. Das Abkommen umfasst Sicherheitsfragen und Handel. Dagegen gab es Bedenken.

Der Präsident Mikronesiens, David Panuelo, hatte die anderen Staats- und Regierungschefs der betroffenen Pazifiknationen in einem Brief gewarnt, dass das Abkommen Spannungen erhöhen und die Stabilität in der Region gefährden würde. Die Vereinbarung soll für die Salomonen, Kiribati, Samoa, Fidschi, Tonga, Vanuatu, Papua-Neuguinea, die Cookinseln, Niue und Mikronesien gelten.

Loading

Views: 0

Atomenergiebehörde meldet: Uran-Bestände des Iran übersteigen Höchstwert um das 18-Fache

Ein Techniker in einer Urananreicherungsanlage in der iranischen Stadt Isfahan. Ein Bericht der Internationalen Atomenergiebehörde vom Montag (30. Mai) zeigt, dass Irans Urananreicherung den Höchstwert um das 18-Fache übersteigt (Archivbild, 2009). © imago stock&people / Xinhua / Imago

Ein aktueller Bericht der Internationalen Atomenergiebehörde zeigt, dass die Uran-Bestände des Iran den vereinbarten Höchstwert mittlerweile um mehr als das 18-Fache übersteigen.

Wien – Die Bestände des Iran an angereichertem Uran übersteigen nach Angaben der Internationalen Atomenergebiebehörde (IAEA) den im internationalen Abkommen von 2015 vereinbarten Höchstwert um mehr als das 18-Fache. Das teilte die Nachrichtenagentur AFP am Montag mit.

Atomenergiebehörde: Iran verfügt über 18-mal mehr angereichertes Uran als vereinbart

Laut dem jüngsten IAEA-Bericht, den AFP am Montag einsehen konnte, befanden sich Mitte Mai schätzungsweise 3809,3 Kilogramm in den Beständen des Iran. In dem Abkommen, das 2018 von den USA einseitig aufgekündigt worden war, hatte sich der Iran zu einer Grenze von 202,8 Kilogramm verpflichtet.

Dem Bericht zufolge reichert der Iran zudem weiterhin Uran höher als auf den in dem Abkommen festgehaltenen Wert von 3,67 Prozent an. Der Bestand an auf bis zu 20 Prozent angereichertem Uran stieg demnach seit März um 56,3 Kilogramm auf 238,4 Kilogramm, der an auf bis zu 60 Prozent angereichertem Uran um 9,9 Kilo auf 43,1 Kilo. Zum Bau von Atombomben ist auf rund 90 Prozent angereichertes Uran notwendig. Der Iran beharrt darauf, dass sein Atomprogramm rein zivilen Zwecken diene.

Internationales Atomabkommen sicherte dem Iran die Lockerungen von Sanktionen zu

Das internationale Atomabkommen von 2015 sicherte dem Iran die Lockerung von Sanktionen zu. Dafür sollte Teheran sein Atomprogramm einschränken. Die USA stiegen unter dem früheren Präsidenten Donald Trump 2018 einseitig aus dem Abkommen aus. In der Folge hielt auch Teheran seine Verpflichtungen aus dem Abkommen nicht mehr ein und weitete sein Atomprogramm wieder aus.

Ende des Jahres 2020 war bekannt geworden, dass der ehemalige US-Präsident Donald Trump Pläne für einen Militärschlag gegen den Iran gehabt haben soll. Das ging aus einem Bericht der New York Times hervor. Demnach hatte es der Ex-US-Präsident auf die Atomanlagen des Landes abgesehen. Der damalige iranische Außenminister Mohammed Dschawad Sarif hatte sich hinsichtlich Trumps Nachfolger Joe Biden offener gezeigt. In einem Interview mit der Regierungszeitung Iran sah er 2020 eine realistische Chance auf eine Einigung mit dem künftigen US-Präsidenten im Streit um das iranische Atomprogramm und lobte dessen politische Erfahrung. Aktuelle Gespräche der USA unter Präsident Joe Biden über eine Wiederbelebung des Abkommens kommen derzeit allerdings nicht voran.

Quelle: https://www.merkur.de/politik/iran-iaea-atomenergiebehoerde-uran-bestaende-hoechstwert-ueberschreiten-zr-91581022.html

Loading

Views: 0

Studie über Handelsbeziehung: Peking und Moskau rücken enger zusammen

Insbesondere Kleidung, Elektrogeräte und Maschinen exportierten die Chinesen nach Russland.  (Foto: picture alliance/dpa/dpa-Zentralbild)

Die Handelsbeziehungen zwischen Peking und Moskau werden laut dem Institut der deutschen Wirtschaft immer enger. Mittlerweile sei China für Russland der wichtigste Handelspartner. Umgekehrt profitiere die Volksrepublik von russischen Energielieferungen, heißt es aus Köln.

Auf dem internationalen Parkett stehen sowohl Russland als auch China in der Kritik, wirtschaftlich rücken die beiden Länder laut einer aktuellen Studie immer näher zusammen. Das chinesische Außenhandelsvolumen mit Russland erhöhte sich seit 2017 deutlich, russische Energie wurde von China vermehrt nachgefragt, wie das Institut der deutschen Wirtschaft (IW) in Köln erklärte.

China begebe sich damit auf einen „schwierigen Balanceakt“. „Einerseits ist Russland ein wichtiger Verbündeter, andererseits will Peking es sich nicht mit dem Westen verscherzen, indem es sich auf die Seite Russlands schlägt“, erklärte IW-Ökonomin Sonja Beer. Noch sei unklar, wie lange China diesen „Schaukelkurs“ noch durchhalten könne.

Die wirtschaftlichen Beziehungen Pekings zu Russland wurden den Angaben zufolge zuletzt deutlich enger: Seit 2017 erhöhte sich das chinesische Außenhandelsvolumen mit Russland von rund 84 Milliarden Euro im Jahr 2017 auf knapp 147 Milliarden Euro im vergangenen Jahr – ein Anstieg um knapp 75 Prozent. Insbesondere Kleidung, Elektrogeräte und Maschinen exportierten die Chinesen nach Russland.

Russland nicht unter Chinas Top-Handelspartnern

Umgekehrt war in China insbesondere russische Energie gefragt: Zwischen 2010 und 2020 stieg der Anteil Russlands an den chinesischen Kohle-, Öl- und Gasimporten jeweils um mehr als das Doppelte. 2010 machte russische Kohle beispielsweise sieben Prozent der chinesischen Kohleimporte aus – 2020 lag der Anteil bereits bei 16,4 Prozent. Auch der Anteil an den Rohölimporten stieg im gleichen Zeitraum von 6,4 auf 15,4 Prozent, beim Gas betrug das Plus 4,2 Prozentpunkte auf insgesamt 6,7 Prozent.

China begebe sich damit auf einen „schwierigen Balanceakt“. „Einerseits ist Russland ein wichtiger Verbündeter, andererseits will Peking es sich nicht mit dem Westen verscherzen, indem es sich auf die Seite Russlands schlägt“, erklärte IW-Ökonomin Sonja Beer. Noch sei unklar, wie lange China diesen „Schaukelkurs“ noch durchhalten könne.

Die wirtschaftlichen Beziehungen Pekings zu Russland wurden den Angaben zufolge zuletzt deutlich enger: Seit 2017 erhöhte sich das chinesische Außenhandelsvolumen mit Russland von rund 84 Milliarden Euro im Jahr 2017 auf knapp 147 Milliarden Euro im vergangenen Jahr – ein Anstieg um knapp 75 Prozent. Insbesondere Kleidung, Elektrogeräte und Maschinen exportierten die Chinesen nach Russland.

Russland nicht unter Chinas Top-Handelspartnern

Umgekehrt war in China insbesondere russische Energie gefragt: Zwischen 2010 und 2020 stieg der Anteil Russlands an den chinesischen Kohle-, Öl- und Gasimporten jeweils um mehr als das Doppelte. 2010 machte russische Kohle beispielsweise sieben Prozent der chinesischen Kohleimporte aus – 2020 lag der Anteil bereits bei 16,4 Prozent. Auch der Anteil an den Rohölimporten stieg im gleichen Zeitraum von 6,4 auf 15,4 Prozent, beim Gas betrug das Plus 4,2 Prozentpunkte auf insgesamt 6,7 Prozent.

Quelle: https://www.n-tv.de/wirtschaft/Peking-und-Moskau-ruecken-enger-zusammen-article23365414.html

Loading

Views: 0

Chinas neuer Pazifik-Pakt alarmiert den Westen: Blinken spricht von „größter Herausforderung“ – trotz Putin

„Langfristige Herausforderung“: US-Außenminister Antony Blinken bei seiner Grundsatzrede zu China in Washington © ALEX WONG/AFP

China will einen Pakt mit zehn Pazifikstaaten abschließen. Die USA und Australien sind alarmiert. US-Außenminister Antony Blinken warnt vor großen Herausforderungen durch Peking.

München/Washington – Als ob der Ukraine-Krieg nicht genug wäre: Der Westen blickt mit wachsender Sorge auf China. Westliche Staaten haben alarmiert auf ein geplantes Kooperationsabkommen Chinas mit mehreren Südpazifik-Staaten reagiert. Peking versuche, seinen Einfluss in der Region zu vergrößern, sagte am Donnerstag der neue australische Premierminister Anthony Albanese. Auch die US-Regierung warnte die Pazifikstaaten vor „undurchsichtigen“ Abkommen mit Peking. Chinas Entwurf des Pakts mit dem Titel „Gemeinsame Entwicklungsvision“ sieht eine weitreichende Zusammenarbeit in den Bereichen Sicherheit und Wirtschaft mit zehn Inselstaaten vor, darunter die Salomonen, Fidschi, Samoa, Tonga oder Papua-Neuguinea.

„Auch wenn der Krieg von Präsident Putin weitergeht, werden wir uns weiterhin auf die größte langfristige Herausforderung für die internationale Ordnung konzentrieren – und die geht von der Volksrepublik China aus“, sagte US-Außenminister Antony Blinken am Donnerstag in einer Grundsatzrede zur China-Politik in Washington. Die Volksrepublik sei das einzige Land, „das sowohl die Absicht hat, die internationale Ordnung umzugestalten, und zunehmend auch die wirtschaftliche, diplomatische, militärische und technologische Macht, um dies zu tun“. In den USA sieht man China zunehmend unter dem Brennglas eines sich zuspitzenden Konfliktes zwischen den Demokratien und Autokratien der Welt.

Blinken: China unterwandert globale Ordnung

China verdanke seinen Aufstieg auch der Stabilität und den Möglichkeiten der internationalen Ordnung, sagte Blinken in der schon länger erwarteten Rede an der George Washington University. „Davon hat wohl kein Land der Erde mehr profitiert als China. Aber anstatt seine Macht zu nutzen, um die Gesetze, Vereinbarungen, Prinzipien und Institutionen, die seinen Erfolg ermöglichten, zu stärken und wiederzubeleben – damit auch andere Länder davon profitieren können – untergräbt Peking sie“, fügte Blinken hinzu. Die Kommunistische Partei Chinas sei unter Staats- und Parteichef Xi Jinping „im Inland repressiver und im Ausland aggressiver geworden.“

Blinken betonte dennoch, USA und China müssten miteinander auskommen. China spiele eine wesentliche Rolle in der Weltwirtschaft und bei der Lösung globaler Herausforderungen wie der Klimakrise oder der Corona-Pandemie. „Deshalb ist dies eine der komplexesten und folgenreichsten Beziehungen, die wir heute in der Welt haben.“

Chinas Aktivitäten im Pazifik: Ausdehnung der Machtsphäre

Der chinesische Außenminister Wang Yi ist am Donnerstag in den Pazifikraum gereist, wo er acht Inselstaaten besuchen wird. Auf den Salomonen-Inseln wies er die Kritik an den Pazifik-Plänen zurück, die auch millionenschwere wirtschaftliche Unterstützung umfassen sollen. „Chinas Zusammenarbeit mit den pazifischen Inselstaaten richtet sich nicht gegen ein bestimmtes Land“, sagte er in Honiara. Mit den Salomonen hatte China gerade erst ein Sicherheitsabkommen geschlossen, das in Australien und Neuseeland für große Unruhe gesorgt hat. Beide befürchten chinesische Militärbasen in ihrem Hinterhof, auch wenn Honiara dies inzwischen ausgeschlossen hat. Auch Wang Yi betonte, China habe „überhaupt nicht die Absicht“, eine Militärbasis auf den Salomonen zu errichten.

Militärbasis oder nicht: China zeigt zunehmende Präsenz im Südpazifik, in dem viele Insel bis vor einigen Jahren noch diplomatische Beziehungen zu Taiwan pflegten, das Peking als abtrünnige Provinz ansieht. Erst 2021 wechselten die Salomonen staatliche Anerkennung und diplomatische Beziehungen von Taipeh zu Peking. Aufgrund des von Peking vorgegebenen Ein-China-Prinzips kann jeder Staat nur entweder China oder Taiwan anerkennen und nur mit demjenigen dann auch diplomatische Beziehungen pflegen. Für den allergrößten Teil der Welt bedeutet das: Mit Peking.

Diese Entwicklung zeigt jedenfalls, dass China zunehmend seit Jahren daran arbeitet, seine Einflusssphäre über die so genannte erste Inselkette hinaus auszudehnen. Diese Inselkette besteht unter anderem aus Japan, Taiwan und den Philippinen und schirmt China vom freien Ozean ab – zum Ärger Pekings, denn dort haben vornehmlich US-Verbündete die Vorherrschaft.

Der Vertragsentwurf mit den zehn Pazifikinseln bieten diesen nun auch die Aussicht auf ein Freihandelsabkommen und damit Zugang zu Chinas riesigem Markt. Und damit schon einmal mehr als die IPEF-Initiative der USA, die US-Präsident Joe Biden gerade auf seiner Asienreise gestartet hat. Darin geht es um Kooperationen mit Südostasien, Japan und Südkorea bei Lieferketten, Klimaschutz und anderen Wirtschaftsfragen. Freien Zugang zum US-Markt gibt es nicht. Im Gegenzug zu dem Freihandelsabkommen würde China auf den Inseln an der Polizeiausbildung und dem Ausbau der Cybersicherheit beteiligt und erhielte besseren Zugang zu natürlichen Ressourcen vor Ort. Der Pakt könnte am Montag beschlossen werden, wenn Wang auf den Fidschi-Inseln mit den Außenministern der Region zusammentrifft.

USA und China: Wachsende Konfrontation im Südpazifik

Der Südpazifik wird damit zunehmend zu einem weiteren Schauplatz des Wettbewerbs zwischen China und den USA. Die US-Regierung befürchtet nach Angaben des Außenministeriums, dass die Abkommen „in einem übereilten, intransparenten Prozedere“ ausgehandelt werden könnten. Bei China gebe es ein „Muster, undurchsichtige, vage Deals mit wenig Transparenz oder regionalen Absprachen“ anzubieten, sagte Außenamtssprecher Ned Price.

Auch Australiens neuer Premierminister Anthony Albanese warnte vor dem wachsenden Einfluss Chinas in der Region. Australien müsse darauf reagieren und sein Engagement im Pazifik-Raum verstärken, sagte er. Die neuseeländische Premierministerin Jacinda Ardern erklärte, die Region habe keinen Bedarf an Pekings Unterstützung im Sicherheitsbereich. „Wir sind der festen Überzeugung, dass wir im Pazifik-Raum über die Mittel und die Fähigkeit verfügen, auf alle bestehenden Sicherheitsherausforderungen zu reagieren“, sagte sie.

Blinken beteuerte derweil in seiner Rede: „Wir sind nicht auf einen Konflikt oder einen neuen Kalten Krieg aus. Im Gegenteil, wir sind entschlossen, beides zu vermeiden.“ Die USA wollten mit China kooperieren, wo immer dies möglich sei – und streiten, wo immer dies nötig sei. Er betonte: „Wir haben tiefgreifende Differenzen mit der Kommunistischen Partei Chinas und mit der chinesischen Regierung. Aber diese Unterschiede bestehen zwischen Regierungen und Systemen, nicht zwischen unseren Völkern.“ Umgekehrt wirft China den USA immer wieder eine „Kalter-Krieg-Mentalität“ vor.

Quelle: https://www.merkur.de/politik/china-usa-blinken-suedpazifik-pakt-wang-australien-westen-putin-zr-91573784.html

Loading

Views: 0

Konferenz mit Inselstaaten: Wie China seinen Einfluss im Pazifik ausbaut

Peking strebt Kooperationen in Sicherheitsfragen mit zehn Inselstaaten an. Einige von ihnen bekommen Besuch von Chinas Außenminister Wang Yi. Australien ist alarmiert.

China hat es sichtbar eilig, seinen Einfluss im Pazifik auszubauen. Nach dem Abschluss eines Sicherheitsabkommens mit den Salomon-Inseln will Peking in den kommenden Tagen weitere Pflöcke einschlagen. Bei einer Konferenz mit zehn Inselstaaten, die von Außenminister Wang Yi geleitet wird, sollen die Teilnehmer eine Vereinbarung über Polizeiausbildung, Zusammenarbeit im Bereich der Cyber-Sicherheit, Dateninfrastruktur und Fragen der nationalen Sicherheit unterzeichnen. So steht es in einem Entwurf, den Peking an die betreffenden Länder übermittelt hat. Das Dokument wurde an mehrere Medien weitergegeben.

„China wird mittlere und ranghohe Polizeitrainings für Inselstaaten des Pazifik abhalten“, heißt es in dem Papier, das als „Gemeinsame Entwicklungsvision“ bezeichnet wird. Peking stellt die Einrichtung forensischer Labore in Aussicht. Außenminister Wang Yi will die geplante Vereinbarung in den kommenden Tagen durch einen Besuchsmarathon in sieben Pazifik-Staaten flankieren. Am Donnerstag traf er auf den Salomonen ein. Australien reagierte alarmiert.

Nach dem Willen der chinesischen Führung soll sich die Zusammenarbeit auch auf Datennetzwerke erstrecken. Das bezieht sich möglicherweise auf Bemühungen eines früheren Tochterunternehmens des chinesischen Konzerns Huawei, Unterseekommunikationskabel für die Region bereitzustellen. Ein Weltbank-Projekt für ein Kabel, das zwischen Nauru und Guam verlaufen sollte, wurde kürzlich wegen Sicherheitsbedenken der Vereinigten Staaten ausgesetzt. Die von Peking vage formulierte „Gemeinsame Entwicklungsvision“ stellt außerdem die Schaffung einer Freihandelszone, Zusammenarbeit in der Fischerei und die Gründung von Konfuzius-Instituten in Aussicht. Die Konferenzteilnehmer sollen dem Dokument als einem Teil des Abschlusskommuniqués zustimmen.

Skepsis in Mikronesien

Zumindest in einem der beteiligten Länder stößt der Vorstoß auf erheblichen Widerstand. Der Präsident der Föderierten Staaten von Mikronesien, David Panuelo, rief die anderen Teilnehmer in einem Brief auf, der Initiative nicht zuzustimmen. Sie ziehe die Länder „sehr tief in Pekings Radius und bindet unsere ganzen Volkswirtschaften und Gesellschaften an sie“, schrieb er laut Berichten der Nachrichtenagenturen AP und Reuters.

Er warnte davor, dass die Region in einen Kalten Krieg zwischen China und den Vereinigten Staaten hineingezogen werden könnte. Eine chinesische Kontrolle „über unsere Kommunikationsinfrastruktur, unsere Seeterritorien und den dortigen Ressourcen, unserer Sicherheit“ untergrabe die Souveränität der Länder. Zudem gebe es Bedenken, dass China über den Austausch an Bio-Daten gelangen und Bürger auf den Inseln überwachen könne.

Kurz nach Veröffentlichung der ersten Medienberichte über den chinesischen Vorstoß am Mittwoch meldete sich die neue australische Außenministerin zu Wort. „China hat seine Motive klargemacht. Das Gleiche gilt für die Intentionen der neuen australischen Regierung“, äußerte Penny Wong. Sie teilte mit, dass sie am Donnerstag nach Fidschi reisen werde. Die Ministerin hatte ihr Amt erst am Montag angetreten. Im Wahlkampf hatte sie es als größte außenpolitische Fehlleistung ihres Landes seit dem Zweiten Weltkrieg bezeichnet, dass Australien das neue Sicherheitsabkommen zwischen China und den Salomonen nicht verhindert habe.

Nach eigenen Angaben hatten die beiden Länder das Abkommen im April kurz vor dem Eintreffen einer ranghohen amerikanischen Delegation auf den Salomonen unterzeichnet. Fotos gibt es davon allerdings nicht. Die amerikanischen Besucher unter Führung des Indopazifik-Koordinators des Weißen Hauses, Kurt Campbell, hatten ursprünglich gehofft, die Regierung der Salomonen noch umstimmen zu können. Das neue Rahmenabkommen ist vertraulich.

Ein Entwurf davon war von Gegnern des Paktes an die Öffentlichkeit gebracht worden. Die Vereinbarung ermöglicht die Entsendung von chinesischen Polizisten, Soldaten und Geheimdienstmitarbeitern auf Anfrage der Salomonen sowie das Anlaufen der Inseln durch chinesische Militärschiffe, um sich mit Nachschub zu versorgen. Australien fürchtet, dass China eine dauerhafte Militärpräsenz auf den strategisch wichtig gelegenen Salomonen 2000 Kilometer vor der australischen Küste errichten könnte. Peking weist das zurück.

Die amerikanische Regierung erwartet, dass China eine ähnliche Vereinbarung auch mit Kiribati anstrebt, das Wang Yi ebenfalls in den nächsten Tagen besuchen will. Kiribati hatte wie die Salomon-Inseln im Jahr 2019 seine diplomatischen Beziehungen zu Taiwan eingestellt und sich stattdessen Peking zugewandt. China lockt die wenigen verbleibenden Verbündeten Taipehs mit finanziellen Anreizen, um Taiwan vom internationalen Parkett zu verdrängen. Pekings Einfluss im Pazifik ist in den vergangenen Jahren mit seinen Direktinvestitionen gewachsen. Ihr Volumen hat sich nach Angaben des Brookings Institute zwischen 2013 und 2018 auf 4,5 Milliarden Dollar verfünffacht.

Wang Yi trat am Donnerstag in der Hauptstadt der Salomonen, Honiara, vor ausgewählten Journalisten auf. Mitarbeiter ausländischer Medien wurden von der Veranstaltung ausgeschlossen. Zugelassen war nur eine Frage an den Minister. In der Einladung stand bereits drin, wer diese Frage stellen würde: das chinesische Staatsfernsehen. Seine Antwort: China respektiere jegliche freundliche Beziehungen der Salomonen mit anderen Ländern der Welt.

Quelle: https://www.faz.net/aktuell/politik/ausland/china-plant-sicherheitskooperationen-mit-pazifik-staaten-18060030.html

Loading

Views: 0

140 Meter lange Fregatte: Deutsches Kriegsschiff bricht zur NATO-Nordflanke auf

Die Fregatte lief am Vormittag aus (Archivbild). (Foto: picture alliance / dpa)

Als Teil der schnellen Eingreiftruppe soll die Fregatte „Mecklenburg-Vorpommern“ die Nordflanke der NATO stärken. In Wilhelmshaven sticht das Kriegsschiff in See, mit an Bord sind rund 220 Soldaten der Bundeswehr. Ein Beitrag zur Bündnisverteidigung, sagt der Fregattenkapitän.

Um die Nordflanke der NATO mit abzusichern, ist die deutsche Fregatte „Mecklenburg-Vorpommern“ von Wilhelmshaven aus aufgebrochen. Das Kriegsschiff soll in den nächsten Monaten auch Teil der schnellen Eingreiftruppe des Militärbündnisses werden, wie das Marinekommando mitteilte. An Bord der fast 140 Meter langen Fregatte sind rund 220 Soldatinnen und Soldaten, darunter Besatzungsmitglieder aus der Slowakei. Dazu gehören außerdem eine Facharztgruppe sowie Marineflieger mit zwei Bordhubschraubern.

„Das Schiff und die Besatzung haben nach einer Zwischeninstandsetzung nunmehr gut neun Monate Einsatzausbildung mit klarem Fokus auf Aufgaben der Landes- und Bündnisverteidigung hinter sich“, sagte Fregattenkapitän Hendrik Wißler laut einer Mitteilung der Marine. Es gelte nun, diese Fähigkeiten als Teil der schnellen Eingreiftruppe der NATO einzubringen, Einsatzbereitschaft zu demonstrieren und so zur Bündnisverteidigung beizutragen, erklärte der Kommandant.

Die Fregatte lief am heutigen Vormittag aus. Zur Verabschiedung waren die Parlamentarische Staatssekretärin im Bundesverteidigungsministerium, Siemtje Möller, und ihr slowakischer Kollege Marian Majer auf den Stützpunkt gekommen. Auch Familien und Freunde der Besatzung sowie ein Marinekorps waren dabei.

Den genauen Einsatzort nannte die Bundeswehr nicht – allgemein erstreckt sich das Seegebiet der NATO-Nordflanke über die Ostsee, die Nordsee und den Nordatlantik. Ende Februar waren kurz nach dem Beginn des russischen Angriffs auf die Ukraine bereits mehrere deutsche Marineschiffe von Kiel aus in die Ostsee entsandt worden. Die „Mecklenburg-Vorpommern“ wird laut aktueller Planung im Juli zurück in Wilhelmshaven erwartet. In der Vergangenheit war das Kriegsschiff unter anderem bei der „Operation Enduring Freedom“ im Rahmen des von den USA ausgerufenen Kampfes gegen den Terror im Einsatz.

Quelle: https://www.n-tv.de/politik/Deutsches-Kriegsschiff-bricht-zur-NATO-Nordflanke-auf-article23358575.html

Loading

Views: 0

DIW-Studie zeigt Sparpotenzial: G7 könnten schon 2025 ohne russisches Gas leben

Vor allem der Ausbau der erneuerbaren Energien müsste dringend beschleunigt werden, wenn die G7-Staaten bis 2025 kein russisches Gas mehr beziehen wollen. (Foto: dpa)

Wie lässt sich die Abhängigkeit von russischem Gas verringern – diese Frage beschäftigt Deutschland seit Kriegsausbruch in der Ukraine. Eine Studie zeigt nun, dass alle G7-Länder bis 2025 so viel Gas einsparen könnten, dass Lieferungen aus Russland nicht mehr nötig wären.

Die G7-Staaten könnten einer Studie zufolge bis 2025 mehr Gas einsparen als Russland exportiert. Wie die „Süddeutsche Zeitung“ unter Verweis auf die von Greenpeace in Auftrag gegebene Studie des Deutschen Instituts für Wirtschaftsforschung berichtete, könnten die sieben großen Industriestaaten bis 2025 ihren Gasbedarf um 18 Prozent senken.

Das entspräche 264 Milliarden Kubikmetern Gas – und wäre demnach mehr als jene 250 Milliarden Kubikmeter, die Russland per Pipeline oder als Flüssigerdgas in die Länder exportiert. Die G7-Staaten könnten also mehr Gas einsparen als Russland ausführt. Die größten Einsparpotenziale liegen der Studie zufolge in Gebäuden.

Durch den Einsatz von Wärmepumpen, optimierten Heizsystemen, Gebäudesanierung und eine um ein Grad gesenkte Raumtemperatur ließen sich dort rund 80 Prozent aller Einsparungen realisieren, so die Studie. Viel einsparen lasse sich auch in der Industrie und bei der Stromerzeugung, allerdings brauche das mehr Zeit, berichtete die Zeitung weiter aus der Studie. Vor allem der Ausbau erneuerbarer Energien müsse dazu dringend beschleunigt werden.

Seit Beginn des russischen Angriffskriegs gegen die Ukraine werden Wege und Möglichkeiten gesucht, unabhängig von russischen Energielieferungen zu werden. So will Deutschland beispielsweise russisches Gas durch Flüssigerdgas aus Katar ersetzen und Italien mehr Gas aus Algerien beziehen. Die Europäische Union will bis spätestens 2030 unabhängig von fossilen Brennstoffen aus Russland sein.

Quelle: https://www.n-tv.de/wirtschaft/G7-koennten-schon-2025-ohne-russisches-Gas-leben-article23357792.html

Loading

Views: 0