![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
Bước thứ nhất: Chiến tranh thương mại
Từ tháng 3/2018, Tổng thống Mỹ D.Trump đã công bố kế hoạch áp thuế quan đối với hàng hóa đến từ Trung Quốc (TQ) vào Mỹ, lên đến 60 tỷ USD mỗi năm. Mục đích nhằm chống lại sự mất cân bằng thương mại giữa hai nước. Cho đến nay, Mỹ đã đánh thuế 10%, 25% cho hơn 6000 mặt hàng của TQ xuất khẩu vào Mỹ, với số tiền đánh thuế lên đến 250 tỷ USD. Đáp lại, TQ cũng đã đánh thuế 5.000 mặt hàng của Mỹ xuất khẩu vào TQ, với trị giá 110 tỷ USD. Như vậy, Mỹ đã đánh thuế gần 50% hàng hóa TQ xuất khẩu vào Mỹ. Còn TQ đã đánh thuế đến 85% số lượng hàng hóa Mỹ xuất khẩu vào TQ. Quả bóng đang ở sân phía TQ. Nếu TQ không tìm ra những giải pháp căn cơ, e rằng Mỹ sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh thương mại với TQ.

Bước thứ hai: Chiến tranh công nghệ
Để chứng tỏ sẽ giữ lời hứa khi ra tranh cử, đó là kiềm chế sự trỗi dậy của ngành công nghiệp TQ, việc làm đầu tiên của Tổng thống D.Trump là ra những đòn “tấn công phẫu thuật, thông qua việc tăng thuế đối với các mặt hàng được nhắm đến trong kế hoạch “Made in China 2025”. Danh sách thứ nhất gồm 818 mặt hàng, trị giá 34 tỷ USD nhập khẩu, phải chịu thêm một khoản phụ phí 25% kể từ ngày 6/7/2018. Danh sách thứ hai gồm 284 mặt hàng, với mức tăng thuế chưa được quyết định. Trong danh sách này, không có các mặt hàng tiêu dùng.
Đối với các mặt hàng công nghệ, mục tiêu của Mỹ còn đi xa hơn nhiều so với một biện pháp trừng phạt . Đó là hạn chế những bước tiến của TQ bằng cách ngăn chặn hoạt động chuyển giao công nghệ cho nước này. Thị trường TQ luôn là nơi được mơ ước vì mang lại nhiều lợi nhuận và Bắc Kinh cho phép doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận với yêu cầu phải nhượng lại công nghệ. Từ khi Tổng thống Trump lên nắm quyền, ông kiên quyết thực hiện chính sách chống lại việc TQ vi phạm, thâu tóm, mua bán bản quyền công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao của Mỹ. Vì vậy, hai năm qua, các doanh nghiệp Mỹ đã do dự hơn khi quyết định làm ăn với TQ. Còn phía doanh nghiệp TQ, họ đầu tư ra nước ngoài nhằm mục tiêu tiếp cận nguồn tài nguyên và công nghệ cao của thế giới, trong đó có Mỹ. Từ năm 2014-2016, các doanh nghiệp TQ đã đầu tư vào Mỹ nhiều hơn các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào TQ, kéo theo đó là việc TQ tiến hành các hoạt động gián điệp nhằm ăn cắp công nghệ cao. Vì vậy, Mỹ là nước đầu tiên ở phương Tây thực hiện cuộc tấn công mạnh mẽ vào kế hoạch “Made in China 2025”.
Bước thứ ba: chiến tranh trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính
Ngay trong tuyên ngôn tranh cử Tổng thống Mỹ (năm 2016), ông D.Trump đã đặc biệt phê phán chính sách “thao túng tiền tệ” của Trung Quốc, ông nói “Trung Quốc đưa đến ba mối đe dọa lớn đối với Mỹ khi thao túng tiền tệ quá đáng…với mục đích đẩy mạnh xuất khẩu của họ và hủy hoại các ngành công nghiệp của Mỹ. Với việc thao túng đồng Nhân dân tệ và định giá thấp nó, Trung Quốc có thể bán hàng cho các nước khác với giá thấp hơn rất, rất nhiều so với một công ty Mỹ”. Vì vậy, “trọng trách của ông D.Trump là phải “chấm dứt trò thao túng tiền tệ ” của Trung Quốc.
Rất có thể Mỹ sẽ có cuộc chiến tranh về tỷ giá, tiền tệ, tài chính với Trung Quốc. Nếu điều đó xảy ra, kịch bản về một cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc đối với Trung Quốc là hoàn toàn có thể. Bởi vì hệ lụy của một cuộc chiến tranh về tiền tệ, tài chính sẽ rất lớn.
Bước thứ tư: Chiến tranh kinh tế toàn bộ
Sau khi tiến hành các cuộc chiến tranh thương mại, công nghệ, tỷ giá tiền tệ, Mỹ sẽ phát động cuộc chiến tranh thứ tư, tiến hành “chiến tranh tổng lực” chống lại toàn bộ nền kinh tế của Trung Quốc qua hơn 40 năm tiến hành cải cách mở cửa, tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị của họ đều dựa vào Mỹ, nhưng với sự khôn khéo, Trung Quốc đã làm giàu “trên lưng” nước Mỹ.
Hậu quả của một cuộc chiến tranh thương mại đã khiến nền kinh tế Trung Quốc nam 2018 bị sụt giảm nghiêm trọng. Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2018 thấp nhất gần 30 năm qua, chỉ đạt mức 6,6% GDP. Mức nợ công lên đến 28.000 tỷ USD. Đầu tư không hiệu quả, sản xuất dư thừa, hàng hóa tồn đọng, không tiêu thụ được. Các nhà đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc đã chuyển ra các nước láng giềng xung quanh Trung Quốc. Tình trạng thâm hụt ngân sách lớn, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Kinh tế Trung Quốc đang có dấu hiệu “hạ cánh cứng”. Dự báo năm 2019, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc còn tiếp tục bị suy giảm.
Sự suy giảm kinh tế do hệ lụy của cuộc chiến tranh kinh tế với Mỹ đã buộc Trung Quốc phải thay đổi mô hình tăng trưởng, chấp nhận tăng trưởng để “hạ cánh mềm”, tăng trưởng bền vững, chuyển từ đầu tư lớn, xuất khẩu nhiều sang giảm đầu tư, đẩy mạnh tiều dùng trong nước, phải thay đổi về chất… Đó là cách lựa chọn duy nhất của Trung Quốc trong giai đoạn mới hiện nay.
Bằng việc khởi động một cuộc chiến tranh kinh tế mang tên “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”, Tổng thống D.Trump đã phá vỡ cấu trúc của trật tự thế giới mà Mỹ đã xây dựng từ cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai, và thay thế bằng một trật tự mới, mà ở đó Mỹ, cũng giống như ước Anh thế kỷ XIX, sẽ không có đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn, mà chỉ có những lợi ích là trên hết. Và cuộc chiến tranh kinh tế Mỹ – trung liệu có kéo dài đến 20 năm như dự báo của ông Jack Ma, chủ tịch Tập đoàn Alibaba hay không? Điều đó có lẽ còn phải trông chờ vào sự “xuống thang” của Trung Quốc, và những kế hoạch giáng trả tiếp theo của Mỹ. Mọi diễn biến vẫn ở thế hi vọng./.
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
|
BA XU THẾ CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC BIỂN MỸ – TRUNG
Từ năm 2010, các chuyên gia Mỹ đã coi Trung Quốc (TQ) là đối thủ cạnh tranh chiến lược lớn nhất trên biển, bắt đầu có phản ứng về mặt chiến thuật, liên tục thúc đẩy các khái niệm tác chiến như “liên hiệp tiến vào và cơ động”, “tiến vào toàn khu vực”… Kể từ năm 2016 đến nay, Quân đội Mỹ đẩy nhanh việc chuyển đổi mô hình chiến lược trên biển, từ “biển tới đất liền” đến “trở về với biển”; từ tập trung chống khủng bố, bảo vệ an ninh trên biển chuyển sang cạnh tranh chiến lược trên biển với các nước lớn , trong đó không thể không nhắc đến TQ.
Hiện tại, cạnh tranh chiến lược trên biển giữa TQ và Mỹ cho thấy rõ 03 xu thế:
Một là, cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng. Sự tin tưởng nhau về chiến lược trên biển giữa Mỹ và TQ ngày càng bị thu hẹp, sự hợp tác bị cản trở, ý thức cạnh tranh nhanh chóng tăng lên. Trong bối cảnh Mỹ ngày càng gây sức ép, mâu thuẫn và đối đầu Mỹ – Trung tại các điểm nóng như Biển Đông hay đảo Đài Loan chưa có dấu hiệu lắng xuống.
Hai là, phạm vi cạnh tranh mở rộng, tính chiến lược ngày càng mạnh. Đối với Mỹ, phạm vi của mối đe dọa trên biển từ TQ đã được mở rộng, tính chất được chiến lược hóa cao độ. Cạnh tranh quân sự Mỹ – Trung trước đây chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực cục bộ và các vấn đề cụ thể, nhân tố tiêu cực trong quan hệ quân sự hai nước vẫn chưa tăng đến mức ảnh hưởng đến toàn cục.
Hiện nay, Mỹ rất nhạy cảm với các hoạt động mở rộng ảnh hưởng của TQ trên biển nên cạnh tranh chiến lược vốn có giữa hai cường quốc lớn nhất thế giới này trở nên trầm trọng hơn, không còn giới hạn ở vùng biển Đông Á. Đồng thời, không chỉ là cuộc đọ sức về thực lực quân sự mà còn liên quan đến cuộc đấu toàn diện về chiến lược, trật tự khu vực và quy tắc quốc tế.
Ba là, ngày càng nhiều nhận định về khả năng xảy ra va chạm và xung đột quy mô nhỏ. Cạnh tranh chiến lược trên biển giữa Mỹ – Trung không giống với cạnh tranh chiến lược trên biển giữa các nước lớn trong lịch sử. Cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung sẽ là một sự giằng co và tiêu hao chiến lược lâu dài. Tuy nhiên, không giống với sự đối đầu của Mỹ – Liên Xô men theo bức tường Berlin trước đây, cạnh tranh chiến lược trên biển giữa TQ và Mỹ có “vùng xám” rộng hơn. Điều này sẽ giảm bớt mức độ đối kháng nhưng đồng thời cũng khiến cạnh tranh càng trở nên khó quản lý hơn, càng nhiều khả năng xảy ra xung đột vũ trang quy mô nhỏ.
![]() LIỆU MỸ – TRUNG CÓ THỂ CHUNNG SỐNG HÒA BÌNH TRÊN BIỂN?
Trong bối cảnh này, đấu tranh và xung đột lâu dài là điều khó tránh khỏi. Trước khi đạt được thỏa thuận thực sự, hai cường quốc lớn nhất thế giới cần phải tính đến cách thức làm thế nào để vượt qua giai đoạn rủi ro cai trong 10-20 năm tới. Đây chắc chắn là vấn đề lớn không chỉ cho hai nước Mỹ – Trung mà còn cho cả thế giới.
Riêng trên biển, hai bên có nhiều khả năng hình thành thế lực ngang nhau tại một số khu vực ở Tây Thái Bình Dương. Do đó, cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung trên biển có thể sẽ mang sắc thái tranh đấu quyền lợi rất mạnh mẽ. Để tránh xảy ra tình hình xấu nhất, quân đội hai nước Mỹ – Trung cần phải tăng cường xây dựng năng lực kiểm soát khủng hoảng nhưng quan trọng hơn là phải chuẩn bị thỏa hiệp và hợp tác trên một loạt vấn
đề quan trọng.
Trước tiên, cần phải đạt được nhận thức chình cần thiết về cơ cấu quyền lực trên biển Tây Thái Bình Dương. Tại vùng biển này, Mỹ – Trung nhất định phải thích ứng được với cơ cấu quyền lực tương đối cân bằng được tạo dựng bởi tỷ lệ sức mạnh mới.
Đồng thời hiểu rõ mặt yếu và khuyết điểm của mình, sử dụng một cách thận trọng sức mạnh và khả năng kiềm chế các hành động gây kích động, học cách chung sống hòa bình. Hai nước cần tiến hành đối thoại về khu vực Tây Thái Bình Dương càng sớm càng tốt.
Hai bên có thể tham vấn, trao đổi về ý tưởng chiến lược, tiến hành đối thoại về kiểm soát quân sự, thậm chí là hạn chế lẫn nhau liên quan đến sự phát triển vũ khí quân sự trên biển. Qua đó tạo ra sự đồng thuận cần thiết về việc phân phối quyền lực tại khu vực này.
Trong việc xử lý vấn đề có sự tham gia của nhân tố bên thứ ba, cả hai bên cần phải lý trí, tránh suy diễn. Nếu Mỹ thực sự mong muốn cùng với TQ tiến hành đối thoại chiến lược, và chính sách về vấn đề biển bao gồm cả Biển Đông thì cần phải kiềm chế và “hạ giọng” trong vấn đề chủ quyền để tạo được bầu không khí đối thoại. Trong quá trình đàm phán, TQ cần bình tĩnh hơn, không nên coi bất cứ hành động nào từ bên thứ ba đều bắt nguồn từ nhân tố Mỹ, từ đó có những phản ứng thái quá.
Cuối cùng, hai bên có thể cùng nhau tạo dựng quy tắc biển và trật tự khu vực mang tính bao dung. Bởi vì TQ và Mỹ trong tương lai đều khó mà xây dựng hoặc duy trì quyền lực chủ đạo tại khu vực này. Do đó, quy tắc hoặc trật tự trên biển của khu vực châu Á – Thái Bình Dương cần phải có sự đồng thuận của cả hai nước.
Điều này cần phải được xây dựng một cách có ý thức trong sự tương tác trên biển lâu dài giữa TQ và Mỹ. Hai bên đểu cần phải từ bỏ ý đồ và kế hoạch xây dựng cơ chế an ninh trên biển nhắn vào đối phương tại Tây Thái Bình Dương , thậm chí là Ấn Độ – Thái Bình Dương.
Cùng với các sự kiện đụng độ tàu thuyền và máy bay giữa TQ và Mỹ nhanh chóng gia tăng, hai bên cũng cần phải đưa ra quy phạm về hành động quân sự, cùng chung sống tại khu vực này./.
|
|
|
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0


![]()
Views: 0


![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
Trong bối cảnh Trung Quốc (TQ) tích cực xây dựng và quân sự hóa các tiền đồn ở Biển Đông, đe dọa nghiêm trọng tự do thương mại hàng hải, chủ quyền biển đảo của các quốc gia, làm giảm sự ổn định trong khu vực, Mỹ và các đồng minh tăng cường hiện diện quân sự, tập trận chung nhằm củng cố quan hệ, thúc đẩy hợp tác và duy trì sức mạnh quân sự thách thức tham vọng “độc chiếm Biển Đông” của Trung Quốc. Ngày 1/8/2018, Mỹ thông qua Luật Ủy quyền quốc phòng (NDAA) 2019 với ngân sách 716 tỷ USD, đề ra các bước cơ bản nhưng quan trọng cho một chiến lược đối phó hiệu quả và mạnh mẽ hơn trước hành xử ngang ngược của TQ ở Biển Đông. Trong đó, NDAA sẽ kéo dài đến năm 2025 nhằm giúp các nước láng giềng của TQ ở Đông Nam Á tăng cường năng lực quân sự – quốc phòng; không bị TQ “đẩy ra khỏi vùng biển tranh chấp”; cam kết đầu tư 425 triệu USD cho các thiết bị kĩ thuật và hỗ trợ đào tạo quân sự trong 5 năm; NDAA xác định khai trừ vĩnh viễn TQ khỏi các cuộc tập trận thường niên Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC) do Mỹ dẫn đầu. Qua động thái trên, Tổng thống D.Trump muốn gửi đến TQ thông điệp rằng, Mỹ không hề quên vấn đề Biển Đông hay những đồng minh của mình tại khu vực và cam kết sẽ hành động nhiều hơn, mạnh mẽ hơn. Mỹ cũng tăng cường đầu tư, đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao thông qua chuyến thăm tới các nước liên quan tới vấn đề Biển Đông, nhằm quảng bá chiến lược mới “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, duy trì lợi ích và kiềm chế sự trỗi dậy của TQ.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo (từ ngày 1-5/8/2018) đã thực hiện chuyến thăm tới 3 nước Malaysia, Singapore và Indonesia, công bố sẽ đầu tư cho khu vực 113 triệu USD vào các lĩnh vực công nghệ, năng lượng và cơ sở hạ tầng; 300 USD cho an ninh hàng hải Đông Nam Á, tạo một “đối trọng xứng tầm” với chiến lược “Vành đai, con đường” (BRI) của Chủ tịch TQ Tập Cận Bình. Mỹ chỉ trích mạnh mẽ trước các hoạt động lấn chiếm phi pháp của TQ trên Biển Đông, tích cực triển khai các hoạt động giám sát, tập trận chung với đồng minh: (i) Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis (này 1/10) đã hủy kế hoạch đến Bắc Kinh vào cuối tháng 10; chỉ trích đích danh TQ về hoạt động quân sự hóa các đảo, bãi đá ngầm trên Biển Đông; cáo buộc TQ “hăm dọa và áp bức” các nước trong khu vực, đồng thời khẳng định Mỹ không có kế hoạch rời khỏi khu vực này; (ii) Mỹ đã 2 lần điều động “pháo đài bay” B52 từ sân bay quân sự ở Guam qua vùng trời Biển Đông (ngày 23 và 26/9) hội quân cùng 16 chiến đấu cơ của Nhật Bản, tiến hành tập trận tại biển Hoa Đông. Ngoài ra, các “pháo đài bay” B52 cũng tổ chức các cuộc diễn tập tương tự trên Biển Đông hội tháng 6 và tháng 8/2018; (iii) Năm 2017 và 2018, Mỹ thực hiện 8 cuộc tuần tra hàng hải ở Biển Đông (FNNOP). Đối với Việt Nam, Mỹ chuyển giao tàu tuần tra lớp Hamilton của lực lượng tuần duyên cho cảnh sát biển và cử tàu sân bay Carl Vinson tới thăm cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) vào tháng 3/2018; (iv) Hải quân Mỹ liên tục mở các cuộc tập trận với các nước quanh Biển Đông (CARAT, Hổ mang vàng, Balitakan); tháng 7/2018, Mỹ và Philippines đã bắt đầu cuộc tập trận chung, huấn luyện cho hải quân của Manila. Đặc biệt, từ ngày 27/6-2/8/2018, Mỹ tổ chức cuộc tập trận Hải quân Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC 2018) ở vùng biển Honolulu, Hawaii với sự tham gia của 25 nước, trong đó có Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam – những nước đang có tranh chấp chủ quyền biển với TQ. Trước đó, ngày 23/5, Mỹ đã hủy lời mời TQ tham gia RIMPAC, cho rằng việc nước này tiếp tục các động thái quân sự hóa trên Biển Đông là không phù hợp với các nguyên tắc và mục đích của cuộc tập trận…; (v) Những đồng minh của Mỹ cũng tăng cường sự hiện diện quân sự trên Biển Đông nhằm thách thức “yêu sách chủ quyền” của TQ: Tàu đổ bộ HMS Albion của Anh tổ chức cuộc tuần tra tự do hàng hải (FON) tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, ghé thăm TP.HCM từ ngày 3-6/9/2018; Hải quân Anh đã tổ chức cuộc tuần tra chung với Pháp, Australia qua bãi đá Vành Khăn, Subi và Chữ thập trên quần đảo Trường Sa vào cuối tháng 6/2018; Australia cho 3 tàu chiến đi qua Biển Đông, tiến hành thăm hữu nghị Việt Nam vào tháng 4/2018…
Trước động thái mới của Mỹ và các đồng minh trong khu vực, TQ buộc phải thay đổi chiến thuật, thực hiện các hoạt động đáp trả mạnh mẽ đối với bất kỳ thế lực nào “cản đường” TQ: (i) Đẩy mạnh hoạt động quấy rối các tàu của nước ngoài đang hoặc chuẩn bị khai thác tài nguyên trên biển, trong lòng biển và những con tàu ngăn chặn TQ chiếm giữ các nguồn tài nguyên biển; (ii) Hướng sự quấy nhiễu vào bất cứ sự hiện diện quân sự nào của nước ngoài; (iii) Đòi phong tỏa tuyến đường thương mại trên biển đối với các nước bất đồng quan điểm chính trị với TQ. Mới đây, ngày 30/9/2018, tàu khu trục lớp Lữ Dương của TQ “áp sát nguy hiểm” tàu USS Decatur thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ trên Biển Đông. Vụ việc xảy ra khi tàu USS Decatur đang thực hiện cuộc tuần tra kéo dài 10h trong khu vực 12 hải lý quanh bãi đá Gaven và Coolin thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, bị TQ chiếm đóng trái phép. Ngày 2/10, Bộ Quốc phòng TQ đã điều động tàu hải quân đến cảnh báo và yêu cầu tàu chiến Mỹ rời khỏi vùng biển; (iv) Từ chối thẳng thừng đề nghị của Hải quân Mỹ cho một tàu chiến ghé cảng Hongkong. Trước đó, TQ cũng đã triệu tập Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, hủy bỏ cuộc đối thoại quân sự chung để phản đối việc Mỹ trừng phạt Cục Phát triển thiết bị thuộc Bộ quốc phòng TQ vì mua chiến đấu cơ Sukhoi Su-35 và tên lửa phòng không S-400 từ Nga.
Trước những biến chuyển tình hình trên, các nước trong khu vực cần hành động một cách thận trọng và có những sách lược ngoại giao linh hoạt để đối phó hiệu quả với chiến lược “sự đã rồi” của TQ trên Biển Đông. Trong thời gian tới, Mỹ và các đồng minh sẽ tiếp tục đẩy mạnh can dự vào khu vực về các lĩnh vực như thương mại, xây dựng kết cấu hạ tầng, an ninh, quân sự… Trước sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn, Đông Nam Á sẽ trở thành “đấu trường” can dự, lôi kéo, tập hợp lực lượng kiềm chế và ngăn chặn lẫn nhau. Để có một ASEAN đoàn kết, đồng thuận cao trong các vấn đề then chốt, đặc biệt là Biển Đông đang là một thách thức không nhỏ đối với các nước thành viên ASEAN liên quan đến vấn đề tranh chấp Biển Đông nói riêng, đối với khối nói chung./.
Phong Lâm
![]()
Views: 0
Sau thời gian gần nửa năm, cuộc xung đột thương mại mà Mỹ đã phát động với các đối tác kinh tế và thương mại của Mỹ tiếp tục là một trong những chủ đề chi phối chính trị thế giới. Với cách tiếp cận bao quát từ những diễn biến mới sẽ giúp cho bên ngoài có thể nhìn nhận được rõ hơn bản chất cuộc xung đột này và dự liệu cụ thể hơn triển vọng của nó trong thời gian tới.
Cụ thể là những biện pháp chính sách bảo hộ thương mại mà Tổng thống Mỹ Donald Trump quyết định áp dụng đối với tất cả đối tác kinh tế và thương mại của Mỹ cũng như những quyết sách đáp trả của các đối tác. Ngay từ đầu, nó đã là cuộc xung đột thương mại với tiềm năng có thể đưa đến chiến tranh thương mại. Trên danh nghĩa là như thế, còn trên thực tế thì ông Trump phân chia ra thành 3 nhóm đối tượng tiến hành xung đột thương mại khác nhau gồm Trung Quốc, EU và đối tác còn lại. Cách làm của ông Trump là áp thuế quan bảo hộ thương mại đối với hàng hóa của các đối tác xuất khẩu vào thị trường Mỹ để buộc các đối tác phải chấp nhận đàm phán: chịu mức thuế quan bảo hộ thương mại hoặc đàm phán với Mỹ để lựa chọn giữa hạn chế khối lượng xuất khẩu vào thị trường Mỹ hoặc nhập khẩu nhiều hơn nữa từ Mỹ, đồng thời chấp nhận một số yêu sách khác của Mỹ. Nhiều đối tác đã tìm kiếm thỏa thuận mới với Mỹ để chấm dứt xung đột thương mại với nền kinh tế số 1 thế giới. Những thỏa thuận này cho thấy, họ đều đã phải nhượng bộ Mỹ. Và cũng không ít đối tác thuộc diện này cũng đáp trả Mỹ bằng biện pháp tương tự và khởi kiện Mỹ lên tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhưng với mức độ giá trị hàng hóa không lớn và vì thế không mấy tác động đến Mỹ.

Chỉ có Trung Quốc và EU thì khác. Trung Quốc và EU mới là hai đối tượng chính mà ông Trump nhằm tấn công. Với hai đối tượng này, bản chất thật sự của cuộc xung đột thương mại bộc lộ rõ nét nhất và cho dù điểm xuất phát chẳng khác gì nhau nhưng xung đột thương mại của Mỹ với EU và Trung Quốc đã diễn biến rất khác nhau trong thời gian vừa qua.
Giữa Mỹ và EU đã đạt được thỏa thuận ở cuộc thương thảo giữa ông Trump và Chủ tịch Ủy ban EU Jean Claude Juncker. Theo đó, xung đột thương mại giữa hai bên không trầm trọng thêm – tức là chỉ duy trì ở mức độ như Mỹ đã áp dụng đối với EU từ ngày 1/6/2018 và EU đã đáp trả Mỹ từ ngày 22/6/2018 – cho tới khi giữa hai bên đạt được thỏa thuận mới hoặc không đạt được thỏa thuận mới. Phía Mỹ chưa áp thuế quan bảo hộ thương mại đối với xe ô tô của EU nhưng EU phải chấp nhận nhập khẩu thêm đầu tương và khí đốt hóa lỏng của Mỹ cũng như cam kết cùng Mỹ cải tổ WTO theo định hướng của Mỹ. Đấy mới chỉ là giải pháp tạm thời và tình thế nhưng đủ để xảy ra chiến tranh thương mại. Mỹ cho EU thêm thời gian nhưng đã lôi kéo EU về phe mình để đối phó Trung Quốc và bào mòn vai trò của WTO.
Trong khi đó, diễn biến giữa Mỹ và Trung Quốc thì lại theo chiều hướng ngược lại. Mức độ quyết liệt không chỉ tiếp tục gia tăng và nguy cơ bùng phát chiến tranh thương mại thêm tiềm tàng mà còn có cả nguy cơ xung đột thương mại lây lan tác động kích hoạt xung đột trên lĩnh vực khác, cộng hưởng thành nguy cơ xảy ra chiến tranh tiền tệ và chiến tranh kinh tế. Cho tới thời điểm hiện tại, Mỹ và Trung Quốc đối nhau và đấu nhau theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của cụm từ “người sao, ta vậy”. Cùng biện pháp, cùng mức độ giá trị hàng hóa bị áp thuế quan bảo hộ thương mại – sau 2 lần áp dụng hiện ở mức độ 50 tỷ USD – và cùng thời điểm. Cùng biểu lộ quyết tâm chơi với nhau cuộc chơi này đến lúc phân định rõ ràng có người thắng và kẻ thua. Cả hai cùng cho thấy sẵn sàng đáp trả mọi giá. Ở thời kỳ đầu, hai bên còn tiến hành đàm phán thương mại. Về sau thì chỉ còn thấy leo thang đối địch lẫn nhau. Trung Quốc là đối tác mà Mỹ bị nhập siêu nhiều nhất trong suốt thời gian dài. EU xuất siêu vào Mỹ không quá lớn nhưng EU được coi là một thực thể kinh tế mạnh. Ông Trump nhằm trước hết vào hai đối tác này để giảm thâm hụt trong cán cân thương mại – điều này không thể phủ nhận – nhưng cũng còn nhằm mục đích tạo ra trường hợp điển hình để cảnh tỉnh và răn đe tất cả các đối tác kinh tế và thương mại của Mỹ, khiến họ nhụt chí đáp trả Mỹ và phải chịu khuất phục Mỹ. Ông Trump đã dọa sẽ còn tăng mức độ giá trị hàng hóa của Trung Quốc xuất khẩu vào thị trường Mỹ lên 250 tỷ USD, thậm chí cả 500 tỷ USD, tức là có thể đối với toàn bộ giá trị xuất khẩu của Trung Quốc vào thị trường Mỹ – năm 2017, Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ 505 tỷ USD và nhập khẩu từ Mỹ 130 tỷ USD. Ông Trump còn cáo buộc Trung Quốc – và cả EU – thao túng và lũng đoạn tiền tệ. Nếu xung đột thương mại leo thang gay cấn đến đỉnh điểm thì Trung quốc chắc chắn sẽ phải đáp trả bằng những biện pháp khác ngoài áp thuế quan bảo hộ thương mại. Khi ấy đương nhiên không chỉ đơn thuần là cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc nữa.
Tất cả những diễn biến mới nói trên cho thấy, ông Trump mượn danh nghĩa thu hẹp mức độ thâm hụt của Mỹ trong cán cân thương mại với các đối tác để nhằm tới không chỉ có một mục tiêu. Vị tổng thống “tỷ phú” muốn xóa bỏ trật tự và luật lệ cũng như cục diện lâu nay trong trao đổi thương mại giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới để chơi cuộc chơi mới theo chủ ý, định hướng, dẫn dắt và chi phối của Mỹ. Đằng sau chuyện tranh chấp thương mại này còn là cuộc ganh đua quyền lực và ảnh hưởng giữa Mỹ với các đối tác, bất kể từ trước đến nay là đồng minh, đối tác hay đối thủ của Mỹ. Ông Trump cần có cuộc chơi mới này làm sự thể hiện cụ thể cho khẩu hiệu và phương châm hành động “Nước Mỹ trên hết” phục vụ trước hết cho việc trang trải những nhu cầu đối nội, đặc biệt phục vụ cho cuộc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ sắp tới. Đối với ông Trump, khắc phục được hay không tình trạng thâm hụt nặng nề trong cán cân trao đổi thương mại với các đối tác không quan trọng và cấp thiết bằng việc tạo hình ảnh và cảm nhận là các đối tác chịu khuất phục và nhượng bộ trước áp lực và tác động từ những biện pháp chính sách của Mỹ. Đối với ông Trump, sự nhượng bộ của đối tác không chỉ được hiểu là bằng chứng cho thấy phía Mỹ đã chiến thắng mà còn được hiểu là ông Trump đã đúng với những quyết sách ấy.
Từ đó có thể thấy cuộc xung đột thương mại lần này giữa Mỹ và các đối tác, đặc biệt với Trung Quốc và EU, sẽ còn dai dẳng và còn có những biến tướng bất ngờ, nhưng sẽ không đến mức để xảy ra chiến tranh thương mại, càng không có chuyện hội tủ mọi xung đột khác nữa với nhau thành chiến tranh kinh tế giữa Mỹ và các đối tác./.
(Mục Phu)
![]()
Views: 0
Chiến lược kết nối mới của Liên minh châu Âu (EU) bị xem là phản ứng hơi chậm đối với sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc tại lục địa già.
Ủy ban châu Âu (EC) vừa thông qua Chiến lược Kết nối mới liên kết châu Âu và châu Á, qua đó thách thức một Trung Quốc ngày càng quyết đoán. Chiến lược được công bố hôm 19-9 đưa ra một hướng tiếp cận khác đối với chiến lược mà Bắc Kinh đang theo đuổi thông qua Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI). Nhấn mạnh đến yếu tố bền vững, Liên minh châu Âu (EU) đề xuất rằng các khoản đầu tư nên tôn trọng quyền lao động, không tạo ra những phụ thuộc về chính trị hoặc tài chính và bảo đảm một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp.
Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc trong 30 năm qua, EU tỏ ra hơi chậm trong việc nhìn nhận sức mạnh và ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh. Nước này không chỉ là “gã khổng lồ” về thương mại mà còn đang nắm lượng dự trữ tiền tệ lớn nhất thế giới và là nhà cung cấp đầu tư nước ngoài ngày càng quan trọng, trong đó có cả ở châu Âu. Dù vậy, một số dự án phát triển liên quan đến Trung Quốc gần đây khiến các chính trị gia, nhà hoạch định chính sách châu lục này không khỏi thận trọng.

Cảng Piraeus ở Hy Lạp đang chịu sự kiểm soát của Công ty Vận tải biển COSCO (Trung Quốc) Ảnh: REUTERS
EU vẫn chưa cấp quy chế nền kinh tế thị trường cho Trung Quốc do nước này không chịu giải quyết vấn đề doanh nghiệp nhà nước nắm giữ vị thế thống trị. Ngoài ra, việc Bắc Kinh dòm ngó công nghệ châu Âu cũng dẫn đến kế hoạch kiểm tra gắt gao hơn hoạt động đầu tư của Trung Quốc tại lục địa già. Tuy nhiên, nỗi lo lớn nhất của Brussels đến từ các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng khổng lồ trong khuôn khổ BRI – tâm trạng có thể được bắt gặp tại một số nước khác, như Mỹ, Ấn Độ…
Vào đầu năm nay, các đại sứ EU tại Trung Quốc đã viết một báo cáo đánh giá BRI tỏ ra không bền vững về kinh tế, môi trường, xã hội và tài chính. Báo cáo cũng chỉ trích Bắc Kinh phân biệt đối xử với doanh nghiệp nước ngoài, thiếu các quy trình đấu thầu minh bạch và hạn chế doanh nghiệp châu Âu tiếp cận thị trường nội địa.
Sự tham gia của Trung Quốc vào các dự án phát triển tại một số nước châu Âu cũng gióng lên hồi chuông cảnh báo. Hồi năm 2014, chính phủ Montenegro đã ký thỏa thuận vay tiền Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc để trang trải 85% chi phí dự án xây dựng một tuyến đường cao tốc. Chi phí của dự án này ước tính tương đương gần 25% GDP của Montenegro. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) không ít lần cho rằng việc xây dựng chỉ nên tiếp tục trên cơ sở các quỹ ưu đãi. Nhiều người tin rằng vỡ nợ có thể xảy ra và điều này có thể dẫn đến việc Montenegro bàn giao cơ sở hạ tầng quan trọng cho Trung Quốc.
Đã có tiền lệ đáng lo ngại trong vấn đề vay tiền nói trên. Sri Lanka đã mất khả năng hoàn trả khoản vay từ Trung Quốc để xây dựng cảng Hambantota. Hậu quả là cảng này và các khu đất xung quanh – có vị trí chiến lược ở Ấn Độ Dương, vịnh Bengal và biển Ả Rập – giờ đây chịu sự kiểm soát của Trung Quốc cho đến năm 2116.
Tương tự, việc Trung Quốc mua lại toàn bộ hoặc một phần các cảng tại Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Ý, và đáng chú ý nhất là Hy Lạp, đã không được quan tâm đúng mức. Nếu không có trở ngại đáng kể, Trung Quốc đang dần thâu tóm cơ sở hạ tầng quan trọng ở châu Âu trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài của châu Âu vào Trung Quốc lại đang giảm.
Bắc Kinh đã gặt hái một số lợi ích chính trị từ các khoản đầu tư này, thể hiện qua việc một số nước thành viên EU ngăn chặn các nghị quyết chỉ trích hành vi của Trung Quốc ở biển Đông. Ngoài ra, các quan chức châu Âu đang chất vấn về tính bền vững môi trường và kinh tế của một loạt dự án kết nối liên quan đến Trung Quốc. Kế hoạch xây dựng 6 nhà máy điện chạy bằng than ở Pakistan đã bị chỉ trích vì không bền vững về môi trường.
Những ví dụ trên đã làm tăng nỗi quan ngại của EU khi Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, Trung Á và châu Âu. Ảnh hưởng này không chỉ về tiền bạc và chính trị mà còn mở rộng đến các tiêu chuẩn kỹ thuật và bóp méo các dòng chảy thương mại.
Nhưng EU nhận thức rõ rằng chỉ áp lực ngang hàng thôi sẽ không thể thúc đẩy Trung Quốc xem xét lại chiến lược của mình. Để bảo đảm lợi ích chính trị và kinh tế của chính mình, EU phải đưa ra một phản ứng đầy tham vọng và toàn diện, theo đó đẩy mạnh mối liên kết giữa khối này và các nước trong lúc “quảng bá” nó như một lựa chọn thay thế đáng tin cậy và bền vững.
Văn kiện mới công bố nói trên sẽ giúp các nước châu Á và châu Âu hiểu rõ hơn EU muốn bắt tay với họ dựa trên cơ sở nào và các đối tác có thể mong đợi gì từ mối quan hệ này. Các cuộc đàm phán đang diễn ra về ngân sách EU sắp tới sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong phân bổ đủ ngân sách cho chiến lược.
Chưa hết, chiến lược cũng sẽ cần sự hỗ trợ thống nhất từ các quốc gia thành viên, một chiến lược truyền thông công cộng vững chắc và một loạt chương trình tiếp cận sâu rộng với các đối tác của EU – cả song phương lẫn đa phương.
Cuộc cạnh tranh địa chính trị ở lục địa Á – Âu dự kiến sẽ diễn ra ngày một gay gắt, với Trung Quốc, Nga, Mỹ và EU tranh nhau ảnh hưởng. Chiến lược Kết nối của EU đã phát đi tín hiệu rằng họ đang là một phần của cuộc chơi này./.
(Theo The Diplomat)
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
So với khoảng thời gian này năm ngoái, tình hình thế giới trong nửa đầu năm nay đã có nhiều biến động bất ngờ. Bức tranh về tình hình thế giới luôn pha trộn nhiều gam màu khác nhau và vị trí các gam màu đó đến nay đã có sự chuyển dịch rõ rệt. Nửa năm là khoảng thời gian ngắn đến mức chưa đủ để nhìn vào động thái nhận ra được xu hướng diễn biến của tình hình. Dù vậy, nhìn lại thế giới trong nửa năm qua vẫn có thể rút ra một số kết luận và đưa ra một số dự báo nhất định cho nửa năm còn lại.
Trước hết, việc khởi động tiến trình hòa giải giữa Triều Tiên và Hàn Quốc cũng như giữa Triều Tiên và Mỹ là đột biến lớn với ý nghĩa và tác động rất mạnh mẽ và sâu sắc tới cả thế giới trong nửa năm qua. Đỉnh cao cho tới nay của tiến trình này là cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều lần thứ 3 diễn ra ngày 27/4 tại Bàn Môn Điếm và cuộc gặp cấp cao đầu tiên trong lịch sử giữa Mỹ và Triều Tiên tại Singapore ngày 12/6 vừa qua dù cho tới tận cuối năm ngoái, tiến trình này vẫn còn là chuyện không tưởng. Sự khởi đầu rất suôn sẻ và ngoạn mục nhưng tiếp theo đó không đơn giản bởi sẽ phụ thuộc vào việc Mỹ, Hàn Quốc và Triều Tiên có thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh những cam kết và thỏa thuận với nhau hay không và có tiếp được đà hòa dịu hiện có hay không? Bộ ba này đã đạt được sự hiểu biết chung về giải quyết những vấn đề đang đặt ra như phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, bảo đảm an ninh cho Triều Tiên, chấm dứt tình trạng chiến tranh và nguy cơ xung đột, bình thường hóa quan hệ song phương… Thực tiễn nửa năm còn lại sẽ cho thấy các bên liên quan có thật sự cùng nhau giải quyết những vấn đề đấy hay không. Tiến trình này hiện chưa ổn định và bền vững đến mức không còn có thể bị đảo ngược. Dù vậy, nó đã giúp khu vực Đông Bắc Á trong thời gian vừa qua “hòa bình” hiếm thấy từ trước tới nay và khơi dậy hy vọng cũng như lạc quan về thời kỳ tới tốt đẹp.
Đột biến thứ hai là việc Tổng thống Mỹ Donald Trump đã “kích hoạt” cuộc xung đột thương mại với nhiều đối tác kinh tế và thương mại lớn của Mỹ. Ông Trump sử dụng những biện pháp bảo hộ thương mại để “khiêu chiến” với cả những đối tác thương mại quan trọng nhất của Mỹ là EU, Trung Quốc, Canada, Mexico, Nhật Bản… trong nhận thức rõ ràng ngay từ đầu là những biện pháp ấy trái với cam kết và trách nhiệm của Mỹ trong Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và nước Mỹ sẽ bị các đối tác kia đáp trả thích đáng. Đằng sau cuộc chiến thương mại này giữa Mỹ và các đối tác còn có cuộc phân định “ai sẽ thắng ai” giữa mậu dịch tự do và bảo hộ mậu dịch trên thế giới, còn có cuộc tấn công vào trật tự thương mại thế giới tự do, vào vai trò của WTO và vào cục diện các mối quan hệ quốc tế trong thế giới hiện đại. Các nước trên thế giới buộc phải xem xét lại chính sách kinh tế, thương mại của họ nói chung và phải xử lý lại quan hệ của họ với Mỹ nói riêng để bảo toàn tốt nhất lợi ích trước mắt cũng như lâu dài. Chính trị an ninh thế giới vì thế cũng bị ảnh hưởng.

Khu vực Đông Bắc Á chuyển biến tích cực và đáng khích lệ bao nhiêu thì diễn biến tình hình chính trị an ninh ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi và vùng Vịnh vẫn căng thẳng và bạo lực đáng lo ngại bấy nhiêu. Tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS đã chính thức bị đánh bại, nhưng chiến sự vẫn diễn ra ở Syria, Iraq và Yemen. Ở Syria, chính phủ của Tổng thống Bashar Al-Assad đã thắng thế những cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt và tiến trình hòa bình hướng tới giải pháp chính trị vẫn còn xa vời và trắc trở. Cả việc Tổng thống Mỹ D.Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel và chuyển đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv về Jerusalem lẫn việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận về giải pháp cho vấn đề hạt nhân của Iran đều làm cho tình hình chính trị an ninh ở khu vực càng thêm tồi tệ, quan hệ giữa các bên đối địch nhau càng thêm căng thẳng. Cuộc chiến tranh của Saudi Arabia và liên quân ở Yemen cùng với cuộc chiến ngoại giao của nước này và một số đồng minh chống Qatar làm cho cả khu vực này thêm trầm trọng và phức tạp về an ninh. Quan hệ giữa Mỹ, Trung Quốc, và Nga biến động theo những chiều hướng khác nhau. Ở cả ba nước lớn này, vị thế quyền lực của người đang nắm thực quyền được củng cố vững chắc, giúp họ có thể tự tin hơn và quyết liệt hơn trong cầm quyền và xử lý quan hệ với nhau ở thời gian tới.
Giữa Nga và Trung Quốc, đà phát triển quan hệ song phương được duy trì. Giữa Mỹ với hai nước này, quan hệ đã trở nên khác trước. Ông Trump đã làm cho quan hệ của Mỹ với Trung Quốc “găng” hơn so với ở thời trước trong khi quan hệ của Mỹ với Nga bắt đầu có cơ hội không còn xấu như trước. Bằng chứng là ông Trump phát động cuộc xung đột thương mại quyết liệt với Trung Quốc trong khi kiên định gây dựng lại sự khởi đầu mới quan hệ Mỹ – Nga, đỉnh cao là cuộc gặp đầu tiên giữa nhà lãnh đạo hai nước này tuần qua. Hai trục quan hệ Mỹ – Nga và Mỹ – Trung đặc biệt nổi trội trong thời gian vừa qua trên phương diện tác động mạnh mẽ tới diễn biến tình hình thế giới.
Ở khu vực nào và châu lục nào cũng đều có nhiều biến động, nhưng đều ở bình diện quốc gia chứ không có được tác động làm rung chuyển cả khu vực hay châu lục. Venezuela ở khu vực Mỹ Latinh, Nam Phi ở châu Phi, Malaysia ở châu Á, EU ở châu Âu… đều có những dốc mốc lịch sử mới và đồng thời đều cho thấy chuyện quyền lực và chính trị xã hội nội bộ ở các quốc gia có thể biến động nhanh chóng và khó lường như thế nào.
Nhìn nhận một cách toàn diện thì có thể đi tới đánh giá rằng thế giới trong nửa năm qua cho dù có đột biển nhưng về cơ bản vẫn tiếp tục chiều hướng biến động từ thời gian trước, chưa phải đã chuyển giai đoạn và chưa bước sang một thời kì mới. Khủng bố vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Mất an ninh và ổn định ở nhiều vùng vẫn dai dẳng. Nhưng thế giới không bị xáo động bởi khủng bố, chiến tranh và xung đột vũ trang.
Một gam màu sáng sủa trong bức tranh về tình hình thế giới thời gian vừa qua là kinh tế thế giới và các khu vực về cơ bản tiếp tục đà tăng trưởng với mức độ chưa thật cao nhưng tính ổn định đã khá hơn. Bất chấp giá dầu lửa tăng, bất chấp xung đột thương mại và chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ước quốc gia đối với những đồng tiền quan trọng nhất trên thế giới đã bắt đầu được xiết chặt lại. Cả trên những phương diện này hiện cũng có lý do xác đáng và cơ sở thực tế để lạc quan cho thời gian tới./.
Ngư Phủ
![]()
Views: 0
Từ cơ sở hạ tầng
Khoảng 5 năm qua, nhiều tổ chức nghiên cứu quốc tế cũng như chính phủ các nước đã cung cấp không ít hình ảnh về việc Trung Quốc lắp đặt các hệ thống radar, thiết bị do thám, gây nhiễu…; kèm theo đó là hàng loạt cơ sở được hoàn thiện như đường băng, nhà chứa máy bay tại các thực thể mà Trung Quốc chiếm đống trái phép ở hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Năm 2017, Chương trình sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế Mỹ (CSIS) đã công bố đánh giá toàn cảnh Trường Sa năm 2016, tiết lộ, Bắc Kinh hoàn thiện trên cả 3 đường băng ở bãi đá Xu Bi, Vành Khăn và Chữ Thập. Trước đó, hồi đầu tháng 8/2016, AMTI công bố hình ảnh cho thấy các nhà chứa máy bay được gia cố trên Chữ Thập, đá Xu Bi và đá Vành Khăn ở Trường Sa. Từ quá trình phân tích hình ảnh, giới chuyên gia của CSIS nhận xét, các nhà chứa máy bay ở 3 bãi đá trên đủ sức chứa máy bay ném bóm H-6, máy bay tiếp liệu H-6U, máy bay vận tải Y-8 và máy bay KJ-200 chuyên trinh sát cảnh báo sớm. Bên cạnh đó, hạ tầng được hoàn thiện có thể cho phép đồn trú hàng chục chiến đấu cơ Su-30 hoặc J-11.

Đến mạng lưới không quân
Song hành cùng việc phát triển hạ tầng, Bắc Kinh cũng điều động chiến đấu cơ đến các khu vực trên. Tháng 5/2016, Bộ Quốc phòng Mỹ công bố báo cáo “Các diễn tập quân sự và an ninh liên quan Trung Quốc 2016”. Theo báo cáo này, từ tháng 2/2016, các hình ảnh vệ tình chỉ ra rằng chiến đấu cơ J-11 đã được triển khai trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép). Dòng máy bay J-11 với bán kính tác chiến khoảng 1.500km, trang bị nhiều loại bom và tên lửa, đặc biệt là tên lửa đối không. Nhờ đó, J-11 có thể hoạt động khắp vùng trời Biển Đông, kéo dài từ vịnh Bắc Bộ đến quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Và thực tế, vào tháng 5/2016, theo các nguồn tin quân sự tiết lộ, J-11 của Trung Quốc đã “vờn” máy bay trinh sát của Mỹ ở khu vực này.
Không chỉ J-11, gần đây, dòng máy bay tiêm kích J-10 cũng đã có mặt tại đảo Phú Lâm và cả các thực thể thuộc quần đảo Trường Sa. J-10 là loại chiến đấu cơ đa nhiệm thế hệ 4 có tốc độ tối đa Mach 2,2 (hơn 2500km/h), bán kính chiến đấu khoảng 550km và có thể xa hơn khi được hỗ trợ bằng máy bay tiếp nhiên liệu trên không. J-10 được trang bị các loại súng tự động, kèm theo tên lửa đối không, bom dẫn đường bằng tia laser, tên lửa tấn công mặt đất và tấn công tàu chiến…
Bên cạnh 2 dòng máy bay tiêm kích trên, các hình ảnh do AMTI công bố từ năm 2016 còn chỉ ra Bắc Kinh điều động cả oanh tạc cơ JH-7 đến Phú Lâm. Đây là loại máy bay có bán kính chiến đấu lên đến hơn 1.700km, tích hợp nhiều loại tên lửa đối không và đối hải.
Đến giữa tháng 5/2018, thông qua tài khoản twitter, tờ Nhân dân nhật báo của Trung Quốc tung ra đoạn phim chứa cảnh oanh tạc cơ H-6K diễn tập cất và hạ cánh xuống một đường băng trên Biển Đông. Sau đó, hoạt động này được xác định là diễn ra tại đảo Phú Lâm. Không chỉ có thể mang theo các loại tên lửa đối đất, H-6K còn được trang bị các loại tên lửa tấn công tàu chiến. Qua đó, với việc kết hợp các loại chiến đấu cơ trên, Bắc Kinh gần như thử nghiệm thành công để có thể triển khai toàn diện lực lượng không quân đủ sức tác chiến không – hải và tấn công các thực thể trên Biển Đông. Truyền thông Trung Quốc cũng từng đăng tải hình ảnh hoạt động của một số loại máy bay quân sự, máy bay vận tải Y7 và Y8 đóng vai trò hỗ trợ. Điều này cho thấy, Bắc Kinh có thể vận hành một mạng lưới không quân toàn diện.

Và thế trận không – hải
Bên cạnh việc tăng cường tác chiến không quân, Trung Quốc cũng lắp đặt hệ thống tên lửa trên các thực thể ở cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Việc triển khai này khá tương thích với chiến lược Phong tỏa/Chống tiếp cận (A2/AD) mà Bắc Kinh phát triển trong nhiều năm qua.
Ở Hoàng Sa, các hình ảnh do AMTI công bố vào tháng 2/2016 xác định, Bắc Kinh đã triển khai hệ thống tên lửa đối không HQ-9 trên đảo Phú Lâm. Được xem là “S-300 phiên bản Trung Quốc”, HQ-9 có tầm bắn khoảng 250km với tốc độ tối đa gấp 4 lần vận tốc âm thanh, cho phép theo dõi và tấn công cùng lúc nhiều mục tiêu. Cho nên, việc lắp đặt HQ-9 là một biện pháp nhằm thiết lập lưới phòng không cho các đảo mà Bắc Kinh chiếm đóng phi pháp trên Biển Đông. Đến tháng 3/2016, kênh truyền hình Phượng Hoàng của Hồng Kong đăng tải hình ảnh cho thấy Trung Quốc nhiều khả năng cũng đã triển khai tên lửa hành trình chống hạm YJ-62 trên đảo Phú Lâm. Với ưu thế trần bay khá thấp, YJ62 có phiên bản đạt tầm bắn lên đến 400km. Vì thế, YJ-62 kết hợp cùng HQ-9 tạo điều kiện để Bắc Kinh hình thành hệ thống tên lửa “không-hải” theo chiến lược A2/AD.
Tại quần đảo Trường Sa, vào đầu tháng 5/2018, kênh CNBC (Mỹ) dẫn một số nguồn tin tiết lộ trong 30 ngày trước đó, Trung Quốc đã âm thầm điều tên lửa hành trình chống hạm YJ-12B và hệ thống tên lửa đối không HQ-9B đến 3 bãi đá Chữ Thập, Vành Khăn và Xu Bi. Một số hình ảnh khác hồi năm ngoái còn cho thấy, hạ tầng trên các thực thể mà Bắc Kinh chiếm giữ trái phép ở Trường Sa cũng có dấu hiệu được dùng để thiết lập cả tên lửa HHQ-9. Cả HQ-9B và HHQ-9 đều là các phiên bản của HQ-9. Trong đó, HHQ-9 là phiên bản thường được thiết kế dành cho tàu chiến. Còn YJ-12B đạt tốc độ nhanh gần gấp 3 lần vận tốc âm thanh cùng tầm bắn có thể lên đến 400km. Như vậy, một mô hình mạng lưới tên lửa không – hải cũng được Bắc Kinh triển khai trên Trường Sa tương tự với những gì đã làm ở đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa.
Ông Gregory Polling, giám đốc AMTI, nhận xét rằng” “Những gì chúng ta nhìn thấy là bằng chứng Trung Quốc vẫn ra sức thiết lập sự thống trị trên toàn bộ Biển Đông bằng biện pháp đe dọa quân sự”./.
Minh Trí
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
Cựu Ngoại trưởng Sri Lanka cho hay, các cuộc đàm phán với giới chức Trung Quốc thời điểm đó đã nói rõ rằng chia sẻ tin tình báo là một phần của thỏa thuận.

Mỗi khi cựu Tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaksa tìm kiếm các khoản vay và sự hỗ trợ từ người đồng minh Trung Quốc, ông đều nhận được câu trả lời đồng ý.
Sau nhiều năm xây dựng và thương lượng với Công ty Kỹ thuật Cảng Trung Quốc (CHEC), một trong những doanh nghiệp nhà nước lớn nhất của Bắc Kinh, Dự án Phát triển Cảng Hambantota thất bại, đúng như dự tính.
Trong số hàng chục nghìn tàu bè đi qua khi di chuyển dọc một trong những tuyến vận tải đông đúc nhất thế giới, cảng biển này chỉ thu hút được 34 tàu trong năm 2012.
Và sau đó, cảng biển “rơi vào tay” Trung Quốc.
Ông Rajapaksa thất cử năm 2015 nhưng chính quyền mới của Sri Lanka cũng rất chật vật để thanh toán khoản nợ mà ông đã vay. Dưới áp lực nặng nề và sau nhiều tháng đàm phán với Trung Quốc, chính quyền Sri Lanka đã chuyển giao quyền sử dụng cảng cùng hơn 6.000 hecta đất cho Trung Quốc trong vòng 99 năm.
Quyết định này trao cho Trung Quốc quyền kiểm soát một khu vực chỉ nằm cách bờ biển của đối thủ Ấn Độ vài trăm dặm, đồng thời là một vị trí chiến lược dọc theo tuyến đường thủy thương mại – quân sự quan trọng.
Cách “khuất phục một đất nước”
Đây là một trong những ví dụ rõ ràng nhất về cách sử dụng các khoản vay cũng như viện trợ đầy tham vọng của Trung Quốc nhằm giành lấy ảnh hưởng trên thế giới.
Thỏa thuận về khoản nợ cũng làm gia tăng một số cáo buộc gay gắt nhất về Sáng kiến Vành đai Con đường của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, rằng các chương trình cho vay và đầu tư toàn cầu đang mở rộng “chiếc bẫy nợ” mà Trung Quốc giăng ra với những quốc gia yếu kém trên thế giới, làm gia tăng tham nhũng và các hành vi chuyên quyền tại các nền dân chủ vẫn còn đang phải đấu tranh.
Nhiều tháng phỏng vấn với các quan chức Sri Lanka, Ấn Độ, Trung Quốc, phương Tây và phân tích các tài liệu cũng như thỏa thuận liên quan tới dự án cảng đã cho thấy bức tranh khá rõ nét về cách mà Trung Quốc và các công ty dưới quyền quản lý của nước này đảm bảo lợi ích của mình tại một quốc gia nhỏ bé, cần tài chính.
– Trong các cuộc bầu cử năm 2015 của Sri Lanka, các khoản thanh toán lớn từ quỹ xây dựng cảng Trung Quốc được rót thẳng vào các hoạt động và công tác vận động bầu cử cho ông Rajapaksa, người đã chấp nhận các điều khoản của Trung Quốc và được coi là đồng minh quan trọng trong nỗ lực chuyển hướng tầm ảnh hưởng khỏi Ấn Độ ở khu vực Nam Á.
Các khoản thanh toán đã được xác nhận trong các cuộc điều tra của chính phủ.
– Mặc dù quan chức và các nhà phân tích Trung Quốc khẳng định rằng lợi ích của Bắc Kinh ở cảng Hambantota thuần chất là thương mại nhưng các quan chức Sri Lanka cho hay, ngay từ đầu, khả năng chiến lược và tình báo của vị trí cảng biển này đã là một phần của thỏa thuận.
– Ban đầu, các điều khoản vay nợ trong dự án cảng đã trở nên nặng nề hơn khi giới chức Sri Lanka đề nghị thương lượng lại lộ trình và đầu tư thêm tiền. Và khi giới chức Sri Lanka tha thiết muốn gạt khoản nợ trong những năm gần đây, yêu cầu của Trung Quốc xoay quanh việc chuyển giao vốn chủ sở hữu ở cảng, chứ không cho phép giảm bớt các điều khoản.
– Mặc dù thỏa thuận đã xóa bỏ gần 1 tỉ USD nợ cho dự án cảng nhưng giờ đây Sri Lanka đang nợ nần Trung Quốc nhiều hơn bao giờ hết, trong khi các khoản nợ khác vẫn còn đó và tỷ suất cao hơn nhiều so với các chủ nợ quốc tế khác.
“John Adams có một câu nói rất nổi tiếng thế này: Cách để khuất phục một đất nước là bằng gươm đao hoặc nợ nần. Trung Quốc đã chọn cách thứ hai”, Brahma Chellaney, một nhà phân tích liên kết với Trung tâm Nghiên cứu Chính sách ở New Delhi nhận định.
Giới chức Ấn Độ đặc biệt lo ngại rằng Sri Lanka chật vật tới mức chính phủ Trung Quốc có thể dùng phương án miễn nợ để đổi lấy quyền sử dụng các khu vực như cảng Hambantota cho mục đích quân sự – mặc dù thỏa thuận cho thuê cuối cùng cấm tiến hành các hoạt động quân sự ở đó mà không có lời mời của Sri Lanka.
“Cách duy nhất để biện hộ cho việc đầu tư vào cảng Hambantota là từ lập trường an ninh quốc gia – rằng việc này sẽ đưa quân đội Trung Quốc vào”, ông Shivshankar Menon, cựu Ngoại trưởng Ấn Độ nói.
Yêu cầu của Trung Quốc
Quan hệ giữa Trung Quốc và Sri Lanka lâu nay vốn đã tốt đẹp, nhưng trong cuộc nội chiến kéo dài 26 năm của Sri Lanka, Trung Quốc mới trở thành nhân tố không thể thiếu.
Dưới thời của Tổng thống Rajapaksa, Sri Lanka phụ thuộc lớn vào Trung Quốc vì các hỗ trợ kinh tế, thiết bị quân sự và sự bảo trợ trước Liên Hợp Quốc.
Nội chiến Sri Lanka kết thúc năm 2009, và khi đất nước vươn lên từ sự hỗn loạn, ông Rajapaksa và gia đình đã củng cố quyền lực của mình. Ở giai đoạn đỉnh cao, Tổng thống và 3 anh em trai còn kiểm soát nhiều cơ quan chính phủ và khoảng 80% chi tiêu chính phủ. Chính quyền các nước như Trung Quốc đàm phán trực tiếp với họ.
Vì thế khi kêu gọi tiến hành dự án phát triển cảng mới ở Hambatota, ông Rajapaksa không gặp trở ngại nào đáng kể.
Ngay từ đầu, nhiều quan chức Sri Lanka đã băn khoăn về sự khôn ngoan khi xây dựng cảng biển lớn thứ hai, tại một đất nước có diện tích chỉ bằng 1/4 nước Anh và dân số khoảng 22 triệu người, trong khi cảng biển ở thủ đô Colombo đang phát triển và vẫn còn có thể mở rộng được.
Các nghiên cứu do chính phủ tiến hành đã kết luận rằng cảng biển ở Hambantota không hiệu quả về mặt kinh tế. Tuy nhiên ông Rajapaksa bật đèn xanh cho dự án và sau đó tuyên bố là Trung Quốc đã nhập cuộc.
Khoản vay lớn đầu tiên mà Sri Lanka nhận là 307 triệu USD từ Ngân hàng Xuất – Nhập khẩu của Trung Quốc. Tuy nhiên, để có được khoản vay, Sri Lanka buộc phải chọn công ty Cảng Trung Quốc (CHEC) làm đơn vị thi công. Thông tin này được WikiLeaks tiết lộ, dẫn nguồn từ Đại sứ quán Mỹ vào thời điểm đó.
Đây là một yêu cầu đặc trưng của Trung Quốc đối với các dự án của nước này khắp thế giới, thay vì mở một phiên đấu thầu công khai.
Ngoài ra, còn có nhiều sợi dây ràng buộc khác đối với khoản vay, dấu hiệu cho thấy Trung Quốc nhìn ra giá trị chiến lược của cảng Hambantota từ ban đầu.
Nihal Rodrigo, cựu Ngoại trưởng Sri Lanka cho hay, các cuộc đàm phán với giới chức Trung Quốc thời điểm đó đã nói rõ rằng chia sẻ tin tình báo là một phần của thỏa thuận. Trong cuộc phỏng vấn với The Times, ông Rodrigo đã mô tả lời nói của Trung Quốc là: “Chúng tôi muốn các anh cho chúng tôi biết ai tới và ai dừng lại ở đây”.
Thỏa thuận không chắc chắn
Hu Shisheng, giám đốc trung tâm nghiên cứu Nam Á tại Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc, cho rằng, Trung Quốc rõ ràng đã nhận ra được giá trị chiến lược của cảng Hambantota.
Tuy nhiên, ông cũng nói thêm rằng: “Một khi Trung Quốc muốn khai thác giá trị địa chiến lược của cảng thì giá trị chiến lược của nó sẽ không còn nữa. Các nước lớn không thể tranh đấu ở Sri Lanka – nó sẽ bị cạn kiệt”.
Chính quyền mới muốn hướng Sri Lanka về phía Ấn Độ, Nhật Bản và phương Tây nhưng rồi họ nhận ra rằng không nước nào có thể lấp đầy chỗ trống về tài chính và kinh tế mà Trung Quốc để lại nếu nước này ra đi.
Một số quan chức chính phủ cay đắng phản đối điều khoản nhưng không còn lựa chọn nào khác. Thỏa thuận mới được ký vào tháng 7/2017 và có hiệu lực vào tháng 12.
Khi mới đàm phán, thỏa thuận để ngỏ việc liệu cảng biển và khu vực đất xung quanh có thể được quân đội Trung Quốc sử dụng hay không nhưng thỏa thuận cuối cùng đã cấm các công ty nước ngoài sử dụng cảng vì mục đích quân sự trừ khi được chính quyền Colombo cho phép.
Sở dĩ có điều khoản đó là vì tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc đã xuất hiện ở Sri Lanka. Chính quyền mới của Sri Lanka đã cố gắng đảm bảo rằng cảng biển sẽ không đón tiếp tàu ngầm Trung Quốc một lần nữa – chủ yếu lo ngại vì các tàu ngầm khó bị phát hiện và thường được sử dụng để thu thập tin tình báo. Nhưng giới chức Sri Lanka có ít thực quyền.
Hiện nay, việc chuyển giao cảng Hambantota cho người Trung Quốc đã khơi dậy lo ngại về khả năng cảng bị sử dụng với mục đích quân sự – đặc biệt là khi Trung Quốc vẫn tiếp tục quân sự hóa trái phép các đảo, đá trên Biển Đông dù trước đó đã cam kết không làm như vậy.
Nhiều nhà phân tích cho rằng, chính quyền Sri Lanka, vốn đang chịu nhiều khoản nợ lớn của Trung Quốc, có thể sẽ bị ép phải chấp thuận.
BDN
![]()
Views: 0