Mỹ nâng Tariff – Lợi & Hại?

Từ thời Trump đến Biden, rồi quay lại Trump, xu hướng nâng thuế nhập khẩu, đặc biệt với Trung Quốc...
Read More
Mỹ nâng Tariff – Lợi & Hại?

Lộ diện máy bay “Quái vật biển Bột Hải” của TQ

Trung Quốc được cho là đang phát triển máy bay “Quái vật biển Bột Hải” có sự kết hợp các...
Read More
Lộ diện máy bay “Quái vật biển Bột Hải” của TQ

Tàu sân bay Mỹ cập cảng Philippines

Tàu sân bay USS George Washington của Mỹ đã cập cảng Manila, Philippines vào ngày 3/7. Hoạt động này diễn...
Read More
Tàu sân bay Mỹ cập cảng Philippines

TQ bác bỏ thông tin muốn xây căn cứ quân sự ở Nam Thái Bình Dương

Đại sứ quán Trung Quốc ở Fiji hôm 3.7 bác bỏ thông tin cho rằng Bắc Kinh muốn xây dựng...
Read More
TQ bác bỏ thông tin muốn xây căn cứ quân sự ở Nam Thái Bình Dương

TQ chế máy bay không người lại nhỏ như con…ruồi

Trung Quốc vừa khiến giới công nghệ quân sự thế giới bất ngờ khi công bố một loại máy bay...
Read More
TQ chế máy bay không người lại nhỏ như con…ruồi

Từ Thái Bình Dương nhìn về Biển Đông

Tân Hoa xã đưa tin: Hai nhóm tác chiến tàu sân bay – Liêu Ninh và Sơn Đông đã tiến...
Read More
Từ Thái Bình Dương nhìn về Biển Đông

‘Nhất thể hóa mặt trận’ Biển Đông và biển Hoa Đông để đối phó thách thức

Mỹ cùng một số đồng minh đang hướng đến việc ‘nhất thể’ Biển Đông và biển Hoa Đông thành một...
Read More
‘Nhất thể hóa mặt trận’ Biển Đông và biển Hoa Đông để đối phó thách thức

Bộ tứ gặp sóng gió khi các hành động và chính sách của Mỹ thay đổi

Các hành động và chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump đang khiến quan hệ giữa nước này với...
Read More
Bộ tứ gặp sóng gió khi các hành động và chính sách của Mỹ thay đổi

Hệ thống Patriot của Mỹ nhiều chưa từng có để chặn tên lửa Iran

Các kíp vận hành hệ thống phòng không Patriot của Mỹ chỉ có vài giây để khai hỏa khi một...
Read More
Hệ thống Patriot của Mỹ nhiều chưa từng có để chặn tên lửa Iran

Mỹ sẽ đối phó với TQ như thế nào?

Lục quân Mỹ đặt mục tiêu đóng vai trò then chốt trong việc răn đe Trung Quốc và ngăn chặn...
Read More
Mỹ sẽ đối phó với TQ như thế nào?

Kategorie-Archiv:Aktuell

Bằng chiến thuật „chặn đầu-chèn giữa-khoá đuôi“, Mỹ phá tan âm mưu dựng „trường thành trên Biển Đông“ của Trung Quốc

Tham vọng của Trung Quốc đang từng bước bị „chặn đầu“, „chèn giữa“ và“khóa đuôi“ bởi biện pháp gia tăng áp lực toàn diện của Mỹ và nỗ lực điều phối xung đột của ASEAN.

Ảnh minh họa

Thông qua chuỗi hoạt động tập trận hỗn hợp đa binh chủng, diễn ra liên tiếp với quy mô lớn ở Biển Đông và các vùng biển lân cận trong quý III năm 2020, Trung Quốc (TQ) rõ ràng đang chuyển đổi từ cách tiếp cận „tiến công vùng xám“ nhằm „vây, lấn, tấn“ các thực thể nổi trọng điểm (với đội hình hỗn hợp gồm các tàu chấp pháp, tàu khảo sát hải dương và dân quân biển) sang chiến thuật „quân sự hóa“ toàn diện các vành đai an ninh do nước này đơn phương áp đặt trên Biển Đông.

Các vành đai an ninh này là một bộ phận trong hệ thống 4 vành đai (bao gồm vành đai kinh tế, vành đai giao thông và vành đai khảo sát) mà TQ đang từng bước kiện toàn ở Biển Đông. Đây cũng là 4 vành đai có các chức năng đặc thù và tương hỗ lẫn nhau trong tham vọng hoàn thiện hệ thống „Trường Thành trên biển“ của TQ. Tuy nhiên, tham vọng này đang từng bước bị „chặn đầu“, „chèn giữa“ và“khóa đuôi“ bởi áp lực từ các biện pháp gia tăng áp lực toàn diện từ phía Mỹ nói riêng và nỗ lực điều phối xung đột của ASEAN nói chung.

Từ khả năng đình trệ kế hoạch kiện toàn „Trường Thành trên biển“ của TQ…

Trong hệ thống 4 vành đai của kế hoạch xây dựng „Trường Thành trên biển“, vành đai kinh tế có phạm vi hẹp nhất. Vành đai này bao gồm các khu vực đảo, bãi cạn mà TQ tự gọi là „Tứ Sa“, có thể xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động hậu cần hàng hải, phát triển kinh tế biển. Đây là khu vực trọng điểm để TQ triển khai các kế hoạch „kinh tế hóa“ trên Biển Đông trong thời gian tới. Trong khi đó, vành đai giao thông có phạm vi bao bọc các tuyến hàng hải kết nối giữa các thực thể trong vành đai kinh tế nói trên, giúp TQ duy trì liên tục các hoạt động chấp pháp (trái phép), khai thác tài nguyên cũng như tiếp vận, tiếp liệu từ đất liền. Vành đai giao thông có vai trò trọng yếu cho sự tồn tại của vành đai kinh tế.

Vành đai an ninh rộng hơn, có nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho tất cả hoạt động trong hai vành đai trên, kéo từ đảo Hải Nam đến các đường biên của cái gọi là „Tứ Sa“. Còn vành đai khảo sát có phạm vi rộng nhất khi mở rộng từ các đường biên của „Tứ Sa“ đến tận biên giới của „đường 9 đoạn“ phi pháp mà TQ tự tuyên bố vào năm 2009, xâm phạm cả vào các khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước láng giềng. Đây cũng chính là vành đai mà TQ đã đẩy mạnh các hoạt động „xâm lấn vùng xám“ trong năm 2019 và nửa đầu năm 2020 với sự xuất hiện thường trực của các đội tàu hải cảnh, khảo sát hải dương và dân quân biển.

Sự chuyển đổi về chất của TQ trên Biển Đông trong quý III năm 2020 cho thấy Bắc Kinh ngày càng hung hăng trong việc kiện toàn hệ thống „Trường Thành trên biển“ khi từng bước mở rộng quy mô vành đai an ninh từ vùng biển giữa đảo Hải Nam – phía bắc quần đảo Hoàng Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng TQ chiếm đóng trái phép) thành khu vực bao gồm cả ba vùng biển: (i) từ đảo Hải Nam – phía nam quần đảo Hoàng Sa, (ii) bao quanh bãi Macclefield tiến sát bãi Scarborough (của Philippines) và (iii) khu vực biển áp sát quần đảo Đông Sa ở phía bắc Biển Đông.

Vành đai an ninh của TQ không chỉ diễn ra trên mặt biển thông qua việc tăng cường tập trận hải quân quy mô lớn, mà còn thông qua hệ thống giám sát đáy biển và việc hoàn thiện năng lực tuần tra kiểm soát không phận. Từ năm 2016 đến 2019, TQ đã hoàn thành xây dựng cơ bản hệ thống Mạng lưới Thông tin Đại dương Xanh (BOIN) .

Tuy nhiên, càng mở rộng về quy mô, vành đai an ninh mà TQ đang xem là „biểu tượng“ này càng thể hiện sự lúng túng trong các kịch bản phải ứng phó với sự xâm nhập từ các lực lượng quân sự nước ngoài, đặc biệt là Mỹ. Tổ chức SCSPI (Bắc Kinh, TQ) từng ghi nhận hơn 1.000 lần các tàu chiến và máy bay của Mỹ ra vào mỗi năm tại các khu vực do TQ tự ý kiểm soát trên Biển Đông .

Phải đến sự kiện tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường của Mỹ USS Mustin (DDG 89) thực hiện tuần tra tự do hàng hải (FONOPS) vào cuối tháng 8 ở khu vực biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa mà phía TQ tự nhận là „lãnh hải ở Tây Sa“ của họ, hải quân TQ mới chính thức đưa cảnh báo và tuyên bố „trục xuất“ tàu Mỹ .

Không chỉ vậy, quân đội TQ còn có xu hướng „tự khóa tay“ sau một loạt các cuộc đàm phán tránh va chạm quân sự với Mỹ ở eo biển Đài Loan và Biển Đông .

Nhìn chung, việc mở rộng vành đai an ninh mang tính biểu tượng cho hệ thống „Trường Thành trên biển“ của TQ đang ngày càng bộc lộ nhiều điểm yếu trong các kịch bản thực chiến ứng phó với sự xâm nhập từ bên ngoài. Nói cách khác, TQ dường như chỉ đang gia tăng hoạt động về số lượng nhưng không đạt được các hiệu quả về chất lượng trên Biển Đông. Các khuyết điểm của một hệ thống „Trường Thành trên biển“ đang được „nước rút“ hoàn thành chắc chắn sẽ ngày càng lộ rõ và được khai thác triệt để bởi các lực lượng đối trọng trên Biển Đông.

… đến chiến thuật „chặn đầu“ về pháp lý, „chèn giữa“ về quân sự và „khoá đuôi“ về kinh tế của Mỹ

Thực tế, sự chuyển đổi trọng tâm chiến thuật của TQ từ „tiến công vùng xám“ ở vành đai khảo sát sang đẩy mạnh đầu tư vào tiến trình „quân sự hóa“ các vành đai an ninh cho thấy nước này đang muốn thoát khỏi „lối mòn“ về tư duy ở Biển Đông. TQ lúc này thực tế đã có những thủ đoạn linh hoạt hơn khi cùng lúc triển khai các hoạt động ở vành đai kinh tế (mang tính dân sự) song hành với các hoạt động quân sự ở vành đai an ninh.

Nói cách khác, Trung Quốc có thể đang sử dụng các cuộc tập trận quy mô lớn để phân tán dư luận khỏi các dự án cải tạo trái phép trên mặt biển, nâng cấp hạ tầng lưỡng dụng ở các thực thể chiếm đóng phi pháp và thu thập thông tin khảo sát đáy biển. Dựa vào chiến lược này, Trung Quốc vừa giảm thiểu được sức ép của dư luận đa phương trong quá trình xây dựng các nền tảng của vành đai kinh tế trên biển, vừa từng bước kiện toàn vành đai an ninh mà nước này tự đặt ra để bảo vệ yêu sách lãnh thổ phi pháp trên Biển Đông.

Hai vành đai trụ cột này sẽ kiện toàn hệ thống „Trường Thành trên biển“ mà Trung Quốc đã toan tính ngay từ năm 2009, nhưng dư luận khu vực và quốc tế vẫn dễ bị cuốn vào trụ cột „quân sự hoá“ mà quên đi mảng „kinh tế hoá“ vốn dĩ có tính chất quyết định cho sự hiện diện của Trung Quốc trên Biển Đông về lâu dài. Và vành đai giao thông chính là huyết mạch hàng hải giúp duy trì sự tiếp vận và hỗ trợ liên tục giữa hai vành đai trụ cột này.

Nhận thức rõ tính chất tương hỗ giữa các vành đai này, phía Mỹ đã sớm tiến hành các hoạt động tuần tra đảm bảo tự do hàng hải (FONOPS) từ năm 2016 để „gây nhiễu“ vành đai giao thông của TQ. Tuy chưa đủ sức làm đứt đoạn việc tiếp vận của TQ trong vành đai này, nhưng các hoạt động này đã tạo nền tảng quan trọng cho việc duy trì hiện diện của Mỹ trong khu vực, và giúp quân đội Mỹ thu thập đầy đủ thông tin cần thiết để phát triển cách tiếp cận toàn diện về pháp lý, quân sự và kinh tế trong thời gian qua.

Cụ thể, các hoạt động: (i) gửi công thư chính thức đến Tổng thư ký Liên Hợp Quốc để phản đối các yêu sách của TQ trên Biển Đông vào ngày 1/6, (ii) đưa ra thông cáo chính thức của Bộ Ngoại giao Mỹ bác bỏ hầu hết các yêu sách của TQ trên Biển Đông vào ngày 14/7 chính là những bước đi cụ thể của Mỹ nhằm „chặn đầu“ Trung Quốc về pháp lý. Chiến thuật này thực sự hiệu quả khi thu hút được dư luận khu vực và quốc tế vào xu hướng bác bỏ cơ sở pháp lý của các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng tiếp theo của TQ ở các khu vực không được phép trên Biển Đông.

Cùng lúc đó, Mỹ đẩy mạnh các hoạt động tuần tra FONOPS với quy mô mở rộng (xâm nhập sâu hơn vào các vùng lãnh hải tự nhận của TQ) đi kèm các cuộc tập trận hải quân và không quân rầm rộ (ở sát cạnh các cuộc tập trận của TQ, thậm chí xâm nhập vào các khu vực TQ tập trận). Đây chính là chiến thuật „chèn giữa“ về quân sự nhằm gia tăng can dự vào vành đai an ninh của TQ, giúp khuếch đại các khuyết điểm của TQ ở vành đai này.

Cuối cùng, lệnh trừng phạt của Mỹ lên 24 công ty của Trung Quốc vào ngày 26/8 vừa qua sẽ nhanh chóng tạo nên dư luận quan ngại đối với khả năng tham gia các dự án „kinh tế hóa“ do TQ chủ xướng trên vành đai kinh tế mà nước này chiếm đóng và kiểm soát trái phép ở Biển Đông. Chiến thuật „khóa đuôi“ về kinh tế dễ khiến cho kịch bản TQ mong muốn tiến hành kết hợp cái mà họ gọi là „Kế hoạch Hợp tác Kinh tế Nam Trung Hoa Mở rộng về Du lịch và Kinh tế“ („Economic Cooperation Circle in the Greater South China Sea Region“ và „Southern China Sea Cruise Tourism“) đã được công bố trong khuôn khổ Diễn đàn Bác Ngao tháng 3/2019 vào dự án Con đường Tơ lụa trên biển (MSR) bị phá sản. Càng nhiều quốc gia quan ngại bị liên đới đến các công ty TQ bị Mỹ trừng phạt kinh tế, càng ít quốc gia sẽ tham dự vào các dự án thuộc vành đai kinh tế trên Biển Đông của TQ.

Cơ hội của các nước nhỏ

Đứng trước thực trạng kiềm chế lẫn nhau giữa hệ thống „Trường Thành trên biển“ của TQ và chiến thuật „chặn đầu, chèn giữa, khóa đuôi“ của Mỹ ở Biển Đông, các nước nhỏ trong khu vực hoàn toàn có nhiều cơ hội để phát huy tối đa năng lực điều phối xung đột, bảo toàn cân bằng đối trọng ở khu vực.

Thứ nhất, ASEAN chính là các nước đi tiên phong trong chiến thuật „chặn đầu“ về pháp lý ở Biển Đông cả trên bình diện song phương và đa phương nhằm gây áp lực với Trung Quốc. Sự tham gia của phía Mỹ (một quốc gia không phải thành viên của Công ước UNCLOS về luật Biển 1982) vào „cuộc chiến pháp lý“ trên Biển Đông thực tế chỉ đóng vai trò hậu thuẫn về dư luận cho công cuộc phản bác các lập luận của TQ trên Biển Đông của các quốc gia thành viên ASEAN nói chung.

Với tư cách các quốc gia trực tiếp có liên quan đến các vấn đề pháp lý trên Biển Đông, ASEAN hoàn toàn có thể tiếp tục thúc đẩy các biện pháp pháp lý của riêng Hiệp hội này theo cách tiếp cận riêng biệt (bằng tiến trình đàm phán Bộ Quy tắc Ứng xử CoC, thiết lập hồ sơ các vụ vi phạm của hải cảnh và tàu cá TQ, tiến hành phân định biển giữa các bên ASEAN..) và không cần phụ thuộc vào các động thái pháp lý của Mỹ – Trung.

Thứ hai, sự cạnh tranh giữa chiến thuật „chèn giữa“ về quân sự của Mỹ và vành đai an ninh của Trung Quốc tạo ra thế cân bằng – đối trọng cần thiết để phát huy năng lực quản lý xung đột của ASEAN. Với các thiết chế như ARF, các hội nghị Thượng đỉnh ASEAN mở rộng.. các nước ASEAN có đủ khả năng để thiết lập những chương trình nghị sự nhằm duy trì trật tự cân bằng giữa các cường quốc ở Biển Đông, đồng thời áp dụng các bộ quy tắc về tránh va chạm bất ngờ trên biển mà ASEAN đã thống nhất (như CUES) để giảm thiểu khả năng leo thang xung đột ở Biển Đông.

Cách tiếp cận này không chỉ giúp vãn hồi cân bằng lực lượng, duy trì thực trạng xung đột có kiểm soát ở khu vực, mà còn giúp ASEAN giữ được vị trí „trung gian hòa giải“ giữa Mỹ – Trung trong thời gian xây dựng một phương án hòa bình bền vững ở Biển Đông.

Thứ ba, các lệnh trừng phạt kinh tế lẫn nhau giữa TQ và Mỹ sẽ tạo nền tảng quan trọng cho các nước thành viên ASEAN thống nhất thúc đẩy xu hướng „đa phương hóa“ trong hợp tác kinh tế ở Biển Đông. Cụ thể, các nước ASEAN có vùng EEZ giáp Biển Đông sẽ có xu hướng hạn chế hợp tác với các công ty Trung Quốc, đẩy mạnh ký kết hợp đồng kinh tế với các đối tác khác như Nga, Nhật, Ấn, Hàn Quốc, Anh, Pháp… Xu hướng này giúp gia tăng lợi ích kinh tế của nhiều cường quốc bên ngoài khu vực vào Biển Đông, củng cố trọng lượng cho các nước ASEAN trong các chiến dịch phản kháng với tham vọng đơn phương áp đặt „luật chơi“ về kinh tế của Trung Quốc trong khu vực.

Nhìn chung,hệ thống „Trường Thành trên biển“ mà TQ đang xây dựng với huyết mạch là 4 vành đai kinh tế, giao thông, an ninh và khảo sát đang ngày càng lộ ra nhiều điểm yếu mang tính cốt lõi. Các điểm yếu này đang được phía Mỹ khai thác triệt để, khiến cho cạnh tranh Mỹ – Trung ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp trong thời gian vừa qua. Nhưng với các nỗ lực điều phối và tư duy cân bằng – đối trọng đặc trưng của ASEAN, cân bằng Mỹ – Trung đang được duy trì theo xu hướng từng bước đảm bảo một trật tự thượng tôn pháp luật, đa phương kinh tế và hòa giải xung đột trên Biển Đông do các nước nhỏ quyết định.

BDN

Loading

Views: 0

Sau sự cố tín hiệu báo động toàn quốc, Bộ Nội vụ Đức thay người đứng đầu Cục Bảo vệ Dân sự và Cứu hộ Thảm họa Liên bang (BBK)

Michael Kappeler/picture alliance via Getty Images
  • Đáng lẽ vào ngày 10 tháng 9, còi báo động sẽ hú lên, các ứng dụng Kỹ thuật số Apps cảnh báo cho dân chúng về nguy hiểm sắp xảy ra như một phần tập luyện của ngày cảnh báo toàn quốc.
  • Cục Bảo vệ Dân sự và Cứu hộ Thảm họa Liên bang (BBK), đã không hoàn thành nhiệm vụ trong đợt luyện tập này, còi báo động nhiều nơi không hoạt động; các ứng dụng kỹ thuật số Apps cũng đưa ra cảnh báo quá muộn.
  • Cục trưởng BBK, Christoph Unger, là người phải chịu trách nhiệm cho sự cố trên và vài ngày sau khi ông từ chức, Bộ Nội vụ đã tìm được người kế nhiệm: Armin Schuster. (theo thông tin từ Business Insider).

Schuster là chính trị gia thuộc đảng CDU, thành viên Quốc hội Liên bang từ năm 2009 và đứng đầu cơ quan kiểm soát của Quốc hội chịu trách nhiệm giám sát các dịch vụ tình báo, kể từ năm 2018. Sau khi Hans-Georg Maaßen tạm thời nghỉ hưu, Schuster được chuyển sang làm người kế nhiệm. Tuy nhiên, chức vụ Chủ tịch Văn phòng Bảo vệ Hiến pháp của Liên bang cuối cùng đã thuộc về Thomas Haldenwang.

Lê Hoàng lược dịch

Nguồn: https://www.businessinsider.de/politik/nach-der-warntag-panne-soll-armin-schuster-neuer-chef-vom-katastrophenschutz-werden/

Loading

Views: 0

Corona-Impfstoff-Deutschland will keinen Impstoff von WHO-Allianz Covax beziehen

Nach Frankreich will auch Deutschland keinen Corona-Impfstoff über die weltweiten Covax-Initiative unter Führung der Weltgesundheitsorganisation (WHO) beziehen.
133958911.jpg

(Foto: picture alliance/dpa)

Das erfuhr die Nachrichtenagentur Reuters aus Regierungskreisen in Berlin. Man unterstütze Covax sowie die Beteiligung der EU aber, vor allem was Finanzmittel, Expertise und die Bereitstellung von Produktionskapazitäten für Impfdosen angehe, hieß es aus mehreren Quellen. Die EU-Kommission soll nach diesen Informationen Covax mit 400 Millionen Euro aus dem EU-Entwicklungsetat unterstützen, damit Corona-Impfdosen für Entwicklungsländer eingekauft werden können. Offen sei noch die Frage, ob Deutschland aus nationalen Entwicklungshilfe-Mittel zusätzliches Geld für die Covax-Initiative beisteuert. Dies plant etwa Frankreich.

Als Grund dafür, dass man keinen Impfstoff über die WHO-Initiative einkaufen wolle, werden parallele Bemühungen über die EU-Kommission genannt. Gesundheitsminister Jens Spahn hatte darauf verwiesen, dass sich Deutschland schon darüber weit mehr Impfdosen sichern werde als das Land Einwohner habe. Dies liege daran, dass man nicht wissen, welche Hersteller letztlich Erfolg bei der Entwicklung haben würden. „Ich gebe nachher gerne anderen Ländern auf der Welt etwas von den mit uns vertraglich geklärten Impfstoffen ab, wenn sich heraus stellt, dass wir mehr haben als wir brauchen“, sagte Spahn.

An Covax wollen sich bislang mehr als 170 Länder beteiligen. Die WHO hatte zur Teilnahme an der Initiative aufgerufen, um sicher zu stellen, dass auch ärmere Länder Zugang zu einem Impfstoff bekommen. Die Bundesregierung hatte ausdrücklich ihre Unterstützung zugesagt. Die USA nehmen nicht an der WHO-Initiative teil, sondern sichern sich im Alleingang Impfdosen bei Pharmafirmen. Spahn hatte betont, dass man den Einkauf in der EU dagegen als „Gemeinschaftsprojekt“ sehe.

Quelle: ntv.de, reuters

Loading

Views: 0

Cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra trong lĩnh vực tình báo

Trong suốt chiều dài lịch sử, con người vẫn luôn theo dõi lẫn nhau. Để tìm hiểu những gì người khác đang làm hoặc dự định làm, người ta giám sát, theo dõi và nghe trộm bằng cách sử dụng các công cụ và không ngừng cải tiến chúng, tuy vậy nó không bao giờ thay thế được con người.

Trí tuệ nhân tạo (AI) và các hệ thống tự động đang thay đổi tất cả những điều đó. Trong tương lai, máy móc sẽ theo dõi máy móc để biết máy móc khác đang làm gì hoặc dự định làm gì. Công việc tình báo vẫn sẽ bao gồm đánh cắp và bảo vệ bí mật, nhưng cách thức thu thập, phân tích và phổ biến những bí mật đó về cơ bản sẽ khác.

Các nhà tương lai học về quân sự cũng nhận ra một sự thay đổi lớn tương tự và một số người đã gọi sự trỗi dậy của Trí tuệ nhân tạo (AI) và các hệ thống vũ khí tự hành là một “cuộc cách mạng trong lĩnh vực quân sự”. Tương tự, đây cũngcó thể gọi là một “cuộc cách mạng trong lĩnh vực tình báo”. Thông qua cuộc cách mạng sắp tới, máy móc sẽ không chỉ là công cụ để thu thập và phân tích thông tin. Chúng sẽ có thể tự xử lý thông tin tình báo, tự ra quyết định và thậm chí nhắm mục tiêu tấn công vào các hoạt động tình báo của các hệ thống máy móc khác. Mối quan tâm cuối cùng của những cỗ máy này vẫn sẽ là các mối quan hệ chính trị, xã hội, kinh tế và quân sự của con người nhưng hoạt động tình báo do máy móc thực hiện sẽ hoạt động với một tốc độ, quy mô và độ phức tạp mà hoạt động tình báo do con người tự đảm nhiệm sẽ không thể nào sánh kịp. Cuộc cách mạng về tình báo mang tính tất yếu không thể đảo ngược. Quá trình đổi mới và cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ là động lực dẫn đến cuộc cách mạng trên phạm vi thế giới. Cộng đồng tình báo Hoa Kỳ cần phải đón nhận cuộc cách mạng và chuẩn bị cho một tương lai bị thống trị bởi AI, nếu không sẽ có nguy cơ mất đi lợi thế cạnh tranh.

Sự lên ngôi của hoạt động tình báo do máy móc đảm nhiệm

Các cuộc cách mạng không tự dưng mà có. Nguồn gốc của nó bắt nguồn từ thế kỷ 20, khi các công nghệ mới như viễn thông và máy tính ra đời khiến cho các kỹ thuật và phương pháp tình báo được nâng lên một tầm tinh vi mới. Con người vẫn là chủ thể của hoạt động tình báo nhưng thay vì tận mắt quan sát, nghe lén bằng chính đôi tai và phân tích, dự đoán bằng trí óc của mình, con người đã sử dụng các cảm biến và công cụ tính toán ngày càng mạnh mẽ để nâng cao khả năng của mình.

Trong 20 năm qua, xu hướng này đã tăng tốc, dẫn đến lượng dữ liệu sẵn có cho các cơ quan tình báo tăng lên nhanh chóng. Các loại cảm biến thương mại và những loại không phổ biến cho người dân như các chương trình tự động (bot) trên không gian mạng, máy bay không người lái tự hành hay những vệ tinh nhỏ trên không gian vũ trụ giờ đây tạo ra lượng thông tin nhiều đến nỗi vượt quá khả năng tự xử lý của con người. Vào năm 2017, Cơ quan Tình báo Không gian Địa lý Quốc gia Mỹ (NGA) dự đoán rằng lượng dữ liệu mà các nhà phân tích của họ phải xử lý sẽ tăng gấp một triệu lần trong vòng 5 năm. Quá nhiều dữ liệu được tạo ra trong một khoảng thời gian ngắn đã dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt để xử lý được tất cả chúng, đây chính là động lực thúc đẩy việc ứng dụng mô hình tự động hóa, phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để xử lý dữ liệu. Áp lực để không bị bỏ lại phía sau là rất lớn: cơ quan tình báo của quốc gia nào có thể nhanh chóng xử lý một lượng lớn dữ liệu phức tạp sẽ có lợi thế hơn những quốc gia không làm được.

Sự chuyển đổi đồng thời sang các hệ thống tự hành và trí tuệ nhân tạo của quân đội các nước trên thế giới chỉ làm tăng thêm áp lực cạnh tranh: các cơ quan tình báo cần có khả năng xác định được và hỗ trợ cho các hệ thống chiến đấu tiên tiến. Hiện tại, quân đội Mỹ đang vận hành hơn 11.000 hệ thống bay không người lái và nhiều hệ thống dưới nước, trên mặt đất và cả trong không gian vũ trụ. Ngoài ra, các đơn vị an ninh mạng của Hoa Kỳ phải đối phó với hàng triệu chương trình tự động (bot) trên các mạng máy tính toàn cầu cũng như hàng tỷ thiết bị kết nối bằng công nghệ Internet vạn vật (IoT) hoạt động như các cảm biến thu thập dữ liệu. Những hệ thống đang ngày càng phát triển này cần có trí thông minh của riêng chúng để vận hành, có nghĩa là theo thời gian chúng sẽ trở thành bên tiếp nhận chính thông tin tình báo.

Hơn cả một cuộc cách mạng sẽ là sự chuyển đổi mục tiêu tình báo sang nhắm vào các hệ thống tự hành, nghĩa là khi máy móc bắt đầu theo dõi và đánh lừa các máy khác. Một kịch bản khả dĩ trong tương lai có thể liên quan đến một hệ thống trí tuệ nhân tạo có nhiệm vụ phân tích một câu hỏi cụ thể, chẳng hạn như liệu kẻ thù có đang chuẩn bị cho chiến tranh hay không. Hệ thống thứ hai do đối thủ vận hành có thể cố tình đưa ra dữ liệu gây nhiễu để làm giảm khả năng phân tích nhắm vào hệ thống thứ nhất. Hệ thống thứ nhất thậm chí có thể nhận biết được thủ đoạn này và loại bỏ dữ liệu sai lạc trong khi vẫn tỏ ra nó đang bị đánh lừa, từ đó đánh lừa lại hệ thống đã lừa nó. Loại lừa dối giữa gián điệp và gián điệp này luôn là một phần của hoạt động tình báo nhưng nó sẽ sớm xảy ra giữa các hệ thống máy móc tự hành hoàn toàn. Trong một vòng thông tin khép kín như vậy, hoạt động tình báo và hoạt động phản gián có thể diễn ra mà không cần sự can thiệp của con người.

Để hiểu được đâu là nguy cơ, hãy xem xét một trường hợp tương tự trong lĩnh vực tài chính. Các hệ thống giao dịch định lượng tốc độ cao (high-speed quantitative trading systems) sử dụng các thuật toán để phát hiện những thay đổi trên thị trường chứng khoán toàn cầu, phân tích lượng dữ liệu khổng lồ để đưa ra dự đoán và sau đó tự động thực hiện giao dịch chỉ trong vài micro giây. Con người không thể thực hiện việc này với lượng lớn dữ liệu trong thời gian nhanh như vậy. Để không bị tụt lại phía sau, ngay cả những công ty đầu tư lớn nhất cũng ngày càng phải dựa vào các hệ thống giao dịch định lượng trên máy tính. Để cạnh tranh với nhau, các cơ quan tình báo cũng sẽ ngày càng phải dựa nhiều hơn vào công nghệ trí tuệ nhân tạo và các hệ thống tự hành.

Cộng đồng tình báo thay đổi để thích ứng

Khi máy móc dần đóng vai trò chính trong việc thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như trở thành đối tượng nhắm đến của các hoạt động tình báo, thì toàn bộ cộng đồng tình báo Hoa Kỳ sẽ cần phải phát triển để theo kịp sự thay đổi. Sự phát triển này phải bắt đầu với những khoản đầu tư khổng lồ vào lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và công nghệ tự động hóa, bên cạnh đó là những thay đổi trong cách thức hoạt động cho phép các cơ quan có thể vừa xử lý lượng dữ liệu khổng lồ vừa chuyển trực tiếp kết quả xử lý đến các máy móc tự động. Vì trên thực tế, mọi thứ đều được kết nối thông qua các mạng máy tính và điều này tạo ra một số dạng dữ liệu hoặc tín hiệu điện từ nên lĩnh vực tình báo tín hiệu (signals intelligence) cần phải là trung tâm trong sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo. Và lĩnh vực tình báo về dữ liệu không gian địa lý (geospatial intelligence -GEOINT) cũng vậy. Khi vệ tinh và các loại cảm biến xuất hiện ngày càng dày đặc, mọi thứ trên trái đất sẽ sớm bị theo dõi liên tục từ trên cao, một trạng thái mà Trung tâm nghiên cứu và phát triển hàng không vũ trụ liên bang Mỹ đã gọi là “Trạng thái độc nhất GEOINT” (GEOINT Singularity). Để có thể xử lý lượng dữ liệu đang được tạo ra, lĩnh vực tình báo về dữ liệu không gian địa lý cũng như tình báo tín hiệu sẽ cần phải cải tiến nhanh chóng năng lực trí tuệ nhân tạo của mình.

Cộng đồng tình báo Hoa Kỳ hiện được chia theo các chức năng khác nhau, thu thập và phân tích các loại thông tin tình báo rời rạc, chẳng hạn như thông tin dạng tín hiệu hoặc thông tin về không gian địa lý. Cuộc cách mạng về tình báo có thể sẽ buộc cộng đồng tình báo phải xem xét lại liệu việc phân chia như vậy có còn hợp lý hay không. Thông tin điện từ vẫn sẽ là thông tin điện từ cho dù nó đến từ một vệ tinh hay một thiết bị sử dụng công nghệ Internet vạn vật (IoT). Sự khác biệt về nguồn gốc không mấy quan trọng nếu không ai nghiên cứu dữ liệu thô và một hệ thống trí tuệ nhân tạo có thể phát hiện ra các mẫu hình của tất cả dữ liệu ngay lập tức. Tương tự, sự phân chia giữa tình báo dân sự và tình báo quân sự cũng sẽ bị xóa mờ vì cơ sở hạ tầng dân sự, chẳng hạn như các hệ thống viễn thông, vẫn có thể được sử dụng như hệ thống thông tin liên lạc trong quân sự. Với những thực tế này, việc tách biệt các chức năng tình báo có thể cản trở hơn là hỗ trợ các hoạt động tình báo.

Cuộc cách mạng về tình báo cũng có thể đặt ra nhu cầu thành lập các tổ chức mới. Nếu như bản thân con người từng đóng vai trò chính trong hoạt động tình báo thì sự khác biệt đó giờ đây thuộc về thiết bị chẳng hạn như một phần mềm, một cảm biến hay một máy bay không người lái tự hành. Các hoạt động tình báo sẽ ngày càng tập trung vào những thiết bị này, nghĩa là không chỉ theo dõi bản thân thiết bị mà còn theo dõi các nhà thiết kế, nhà phát triển và chuỗi cung ứng sản xuất ra chúng. Trong tương lai gần, việc hiểu biết về trí tuệ nhân tạo, công nghệ tự hành, các chuỗi cung ứng và vốn đầu tư mạo hiểm sẽ quan trọng như việc hiểu về hệ tư tưởng chính thống của Hồi giáo trong quá khứ. Hoa Kỳ có thể cần các tổ chức mới để nghiên cứu những lĩnh vực này. Ở mức tối thiểu, Hoa Kỳ sẽ cần phải mở rộng các đơn vị tình báo kinh tế và công nghệ hiện có giống như đã từng mở rộng các đơn vị chống khủng bố sau vụ 11/9.

Khi cộng đồng tình báo Hoa Kỳ phát triển để theo kịp cuộc cách mạng, việc cần làm song song là phải hạn chế khả năng phát triển của các đối thủ, cụ thể là làm chậm và ngăn chặn đối thủ đạt được năng lực làm chủ hệ thống tình báo vận hành bởi máy móc. Việc cản trở quá trình thiết kế và phát triển các hệ thống tự hành cũng như công nghệ trí tuệ nhân tạo của đối thủ sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Hành động này sẽ phải được tiến hành bí mật, một số việc sẽ do máy móc đảm nhận. Ví dụ: Hoa Kỳ có thể đưa dữ liệu sai lạc vào hệ thống máy học của đối thủ để đánh lừa hoặc ngăn chặn hệ thống AI của đối thủ trở nên mạnh mẽ hơn.

Nhưng cũng giống như Hoa Kỳ sẽ nhắm mục tiêu vào AI và các hệ thống tự hành của đối thủ, cơ quan tình báo của đối thủ cũng sẽ nhắm mục tiêu vào các hệ thống của Hoa Kỳ. Do đó, Hoa Kỳ sẽ cần phải xây dựng các hệ thống phòng thủ mới và áp dụng những hình thức phản gián mới. Để cạnh tranh, các nhân viên phản gián ngoài con mắt biết phát hiện thủ đoạn của đối phương như từ trước tới giờ còn cần có chuyên môn về kinh tế và kỹ thuật hơn bao giờ hết. Nói chung, cuộc cách mạng sẽ làm thay đổi mọi cấp độ tổ chức của hoạt động tình báo bao gồm các cơ quan phụ trách, việc huấn luyện, công nghệ, cách thức vận hành và hoạt động phản gián.

Cuộc cách mạng xuất phát từ con người

Con người có thể không còn đóng vai trò chủ đạo trong việc thu thập và phân tích thông tin tình báo nhưng mục tiêu cuối cùng của nó vẫn là tìm hiểu các chính phủ, xã hội và quân đội do con người lãnh đạo. Hơn nữa, con người sẽ mang lại sự sáng tạo, sự đồng cảm, hiểu biết và tư duy chiến lược cho hoạt động tình báo mà máy móc khó có thể sánh kịp trong tương lai gần. Do đó, trưởng các bộ phận, nhân viên quản lý mạng lưới tình báo và nhà phân tích dữ liệu vẫn sẽ có những vai trò quan trọng trong tương lai, tuy vậy bản chất công việc của họ có thể thay đổi.

Cuộc cách mạng đang diễn ra và cộng đồng tình báo cần phải chấp nhận và thích ứng với nó. Việc không thích ứng trước sự thay đổi đã từng gây ra thảm họa trong quá khứ. Ví dụ như khi Hải quân Hoa Kỳ không chịu thay thế thiết giáp hạm bằng tàu sân bay thời điểm trước Thế chiến II. Các thủy thủ dẫn dắt Hải quân đã không nắm bắt được những tiến bộ lớn trong sức mạnh không quân, thứ đã cho phép Nhật Bản mở cuộc tấn công tàn khốc vào Trân Châu Cảng. Tương tự, cộng đồng tình báo chủ yếu do các nhân viên tình báo điều hành, họ không phải lúc nào cũng có thể nhìn thấy (hoặc chấp nhận) xu hướng tất yếu của hoạt động tình báo do máy đảm nhận. Các cơ quan tình báo phải phá bỏ các rào cản văn hóa, đầu tư vào công nghệ và dành toàn bộ nguồn lực cho hoạt động tình báo sử dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa. Nếu Hoa Kỳ không chịu thay đổi, có nguy cơ Trung Quốc hoặc các đối thủ khác sẽ đạt được lợi thế về mặt công nghệ mà Washington sẽ không thể vượt qua.

BDN

Loading

Views: 0

‚Không nước nào có thể buộc Việt Nam chọn bên‘

Nhân kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, VnExpress phỏng vấn Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng về sự phát triển của Đối ngoại Quốc phòng.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng trao đổi với VnExpress dịp 2.9.2020. Ảnh Giang Huy

– Cách mạng Tháng Tám để lại nhiều bài học lịch sử về phương châm „dĩ bất biến, ứng vạn biến“ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là người nghiên cứu và chỉ đạo công tác đối ngoại quốc phòng, ông đúc kết được những bài học gì?

– Phương châm „dĩ bất biến, ứng vạn biến“ là một trong những minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho muôn đời sau. Năm 1945, tình hình xoay chuyển rất nhanh, tạo ra thế giới mới với sự phân chia mới về quyền lực. Với tầm nhìn chiến lược, tháng 8/1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào đã quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư kêu gọi „Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta“.

Cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách; không chỉ lo củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, mà còn phải chống thù trong, giặc ngoài với các sách lược khôn khéo. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc thì tạm hòa hoãn với Tưởng để đánh thực dân Pháp xâm lược, lúc thì hoà với Pháp để đuổi Tưởng, triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo.

Điều bất biến đầu tiên trong giai đoạn này và cũng xuyên suốt chiều dài lịch sử, đó là mục tiêu giành và giữ được độc lập, tự do cho đất nước và „đem sức ta mà giải phóng cho ta“.

Lúc đó, Việt Nam đứng về phe chính nghĩa là „Đồng minh“. Nhưng „Đồng minh“ không phải một vài nước cụ thể nào, mà là tất cả các nước. Đây cũng là điều bất biến trong đường lối đối ngoại của Việt Nam từ năm 1945 đến nay, đó là độc lập, tự chủ và đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế. Mục tiêu tối thượng là bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Chúng ta không đứng về bên này để chống bên kia.

Một điều bất biến nữa đã được chứng minh trong thực tiễn 75 năm qua. Đó là độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Không có hai yếu tố gắn liền với nhau này, chúng ta không có Cách mạng tháng Tám, không có thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và các cuộc chiến tranh sau này, cũng không có sự phát triển của đất nước như ngày hôm nay.

Ngoài ra, tôi tâm niệm một điều bất biến trong nhận thức cũng rất quan trọng, đó chính là cái tâm bình tĩnh, tỉnh táo, trong sáng, sáng suốt, minh mẫn. Với cái tâm bất biến, mỗi người sẽ nhìn nhận sự vật hiện tượng biến đổi bên ngoài rõ ràng, khách quan và có quyết định đúng đắn.

– Hiện nay quan hệ giữa một số nước lớn căng thẳng và dường như nhiều nước khác ở thế bị các phe lôi kéo. Việt Nam làm thế nào để „không đứng về phía bên này chống lại bên kia“?

– Trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, có những nước đã buộc phải chọn bên, nhưng Việt Nam không làm như vậy. Chúng ta có quan hệ tốt hay xấu, gần hay xa, ủng hộ hay không ủng hộ nhưng luôn giữ độc lập, tự chủ trên cơ sở tôn trọng lợi ích của các quốc gia khác.

Có người đã hỏi tôi „Các ông có sợ nước lớn buộc các ông phải chọn bên?“. Tôi bảo „Chúng tôi chọn chính chúng tôi. Không ai và không nước nào có thể bắt Việt Nam phải chọn bên vì chúng tôi độc lập, tự chủ, giành và giữ độc lập bằng sức của mình“.

Có những nước luôn nói, khi họ sinh ra thế giới này đã là của họ, họ sẽ lãnh đạo, chi phối thế giới, nhưng Việt Nam không như thế. Chúng tôi quan niệm, Việt Nam là của thế giới, Việt Nam vì thế giới, nhưng giá trị của Việt Nam là của Việt Nam và Việt Nam tự bảo vệ lấy.

Những người đặt câu hỏi đã bày tỏ đồng tình vì lý lẽ của chúng ta không chối cãi được. Sự áp bức, cường quyền, dùng sức mạnh để giành lợi ích cho mình là đi ngược lại quy luật của tự nhiên. Và khi đi ngược lại chiều tiến hoá của nhân loại thì trước sau sẽ bị thất bại, thậm chí diệt vong.

Sách trắng Quốc phòng 2019 nêu Việt Nam không tham gia liên minh Quân sự nhưng „tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết…“. Phần „tùy“ này có thể hiểu như thế nào, thưa ông?

– Sách trắng Quốc phòng Việt Nam nêu rõ chúng ta tuân thủ nguyên tắc „không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế“. Điều này nằm trong hiến chương Liên Hợp Quốc, là cách ứng xử của mọi quốc gia. Trên cơ sở đó, Việt Nam quy định „ba không“ về mặt quân sự là không đứng bên này chống bên kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự, không tham gia liên minh quân sự. Ba không này là bất biến.

Còn nội dung „tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết…“, được hiểu là quan hệ sẽ thay đổi tuỳ theo diễn biến tình hình. Dĩ bất biến ở chỗ ta bảo vệ lợi ích của ta, lý lẽ đúng trên cơ sở giá trị chung của nhân loại, luật pháp quốc tế. Nhưng nếu đối tác của ta không tôn trọng cái đó thì ta phải thay đổi, không thể giữ quan hệ với họ như trước.

Khi các nước tôn trọng lợi ích, chế độ chính trị, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, ứng xử phù hợp với luật pháp quốc tế thì chúng ta sẽ tôn trọng họ. Như vậy, ta không cứng nhắc coi anh này luôn tốt, anh kia luôn xấu mà tuỳ thái độ, việc làm của họ để xử lý mối quan hệ, đảm bảo lợi ích của đất nước.

– Hiện nay Việt Nam đã thiết lập đường dây nóng với một số nước. Ý nghĩa của việc này là gì, thưa ông?

– Đường dây nóng trong thông tin quân sự hiện nay là biểu tượng cho sự tin cậy, quyết tâm cả hai bên để giải quyết mọi vấn đề xảy ra. Khi cấp dưới không giải quyết được, hoặc chưa kịp thời giải quyết, hai nước có thể sử dụng cấp cao hơn, thậm chí cấp cao nhất để không biến chuyện nhỏ mang tính cục bộ thành chuyện lớn mang tính đại cục.

Việt Nam rất coi trọng và quan tâm đến việc xây dựng đường dây nóng với các nước láng giềng. Hiện chúng ta có đường dây nóng với Trung Quốc, Lào, Campuchia, đang xúc tiến với Liên bang Nga. Đường dây nóng không chỉ ở cấp Bộ trưởng quốc phòng mà Thứ trưởng, Tổng tham mưu trưởng. Với Trung Quốc, Lào còn có cấp Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Các đường dây nóng sẽ được sử dụng bất kỳ lúc nào khi các cấp cần gặp nhau để giải quyết vấn đề.

Ngoài các đường dây nóng thường xuyên, Việt Nam cũng có đường dây nóng không thường xuyên với lãnh đạo Bộ Quốc phòng các nước ASEAN và một số nước khác. Trong đại dịch Covid-19, chúng ta họp trực tuyến với nhiều Bộ trưởng, Thứ trưởng, Tổng tham mưu trưởng các nước.

Đường dây nóng thời gian qua đem lại lợi ích lớn, giải quyết nhanh các vấn đề nảy sinh, như vấn đề ngư dân, những phức tạp ở biên giới, thực thi pháp luật trên biển…

– Với kinh nghiệm của một nhà tình báo đã từng tham gia nhiều cuộc đối thoại, kỷ niệm đáng nhớ nhất của ông là gì?

– Đó là cuộc đối thoại với Trung Quốc năm 2011, khi tình hình trên Biển Đông rất căng thẳng. Lúc đó, dư luận, báo chí quốc tế và một số cơ quan truyền thông của Trung Quốc nói rất mạnh. Lãnh đạo giao nhiệm vụ cho tôi cân nhắc đáp trả. Giữa hai lựa chọn đôi co hoặc giải thích, các cấp lãnh đạo của ta đã chọn giải thích. Tôi cùng các đồng nghiệp lên đường sang Trung Quốc.

Hơn 10 năm làm công tác đối ngoại và nhất là qua chuyến đi đó, tôi nghiệm ra rằng, dù đối đầu nhau đến mấy cũng phải giữ cho được đối thoại. Khi ngồi với nhau rồi thì phải kiên trì, kiên trì và kiên trì. Kiên trì làm cho đối tượng hiểu điều chúng ta muốn, biết được điều chúng ta không thể bước qua, không thể chấp nhận. Trong đối thoại, bên nào kiềm chế hơn, bên đấy sẽ thắng.

Một điều quan trọng nữa là sau lưng người làm công tác đối ngoại thì đất nước phải mạnh, quân đội phải vững, đường lối phải rõ ràng. Đất nước yếu, quân đội không có khả năng tốt nhất để bảo vệ Tổ quốc, đường lối lúc thế này lúc thế khác thì đối ngoại sẽ thất bại.

– Ông từng nói để giữ gìn hòa bình thì phải sẵn sàng cho chiến tranh. Vậy tính sẵn sàng chiến đấu của quân đội nhân dân Việt Nam thể hiện như thế nào trong bối cảnh hiện nay?

– Nói một cách chính xác hơn là để giữ gìn hoà bình chúng ta phải có một đất nước mạnh. Đất nước muốn mạnh thì nền quốc phòng phải mạnh, đủ khả năng bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Như vậy mới có hoà bình bền vững, không lệ thuộc, không điều kiện.

Muốn nền quốc phòng mạnh, chúng ta phải mua sắm vũ khí, phát triển công nghiệp quốc phòng, xây dựng các đơn vị thiện chiến… Tuy nhiên, với Việt Nam, một nước nhỏ và điều kiện kinh tế còn hạn chế và đặc biệt là Quân đội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, con người mới là yếu tố quan trọng nhất.

Nguồn nhân lực quân đội mạnh và mỗi người dân phải hiểu thế nào là bảo vệ Tổ quốc, thế nào là đóng góp cho quốc phòng. Được như vậy, khi đất nước có biến, chúng ta có thể thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện.

Ai cũng muốn có những hạm đội hùng mạnh, vũ khí mới nhất, điều kiện tốt nhất cho quân đội. Nhưng quân đội mạnh không được làm đất nước yếu đi, phải phù hợp với sự phát triển kinh tế đất nước.

Như vậy, quân đội mạnh vừa đủ để phù hợp với nền quốc phòng tự vệ. Khi quân đội sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, chúng ta sẽ thắng lợi.

VnExpress

Loading

Views: 0

Anh, Pháp, Đức cùng gửi công hàm phản bác yêu sách Trung Quốc trên Biển Đông

Bộ Ngoại giao Anh, Pháp và Đức ngày 16-9 đã gởi công hàm lên Liên Hiệp Quốc, phản bác lại 7 công hàm của Trung Quốc. Công hàm chung nhấn mạnh các yêu sách đường cơ sở thẳng, ‚quyền lịch sử‘ Trung Quốc đưa ra là vô lý chiếu theo UNCLOS 1982.
Anh, Pháp, Đức cùng gởi công hàm phản bác yêu sách Trung Quốc trên Biển Đông - Ảnh 1.
Tàu sân bay HMS Queen Elizabeth của hải quân Anh được cho là sẽ tới Biển Đông vào năm tới – Ảnh: Hải quân hoàng gia Anh

Anh, Pháp và Đức (nhóm E3) khẳng định ngay từ đầu công hàm các nước này lên tiếng với tư cách là một quốc gia thành viên của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS 1982), nhấn mạnh công ước này là „khuôn khổ pháp lý cho tất cả các hoạt động trên biển và đại dương“.

Công hàm nhấn mạnh quyền đi lại không gây hại, tự do hàng hải và hàng không như đã nêu trong UNCLOS phải được tôn trọng, đặc biệt tại Biển Đông.

Mặc dù công hàm chung tái khẳng định E3 không đứng về phía nào trong tranh chấp Biển Đông, việc chỉ ra những cái sai của Trung Quốc là một hành động rất có ý nghĩa.

Công hàm của Anh, Pháp và Đức khẳng định đường cơ sở thẳng Trung Quốc tự vẽ ra ở Hoàng Sa của Việt Nam và „quyền lịch sử“ mà Bắc Kinh đưa ra là không có cơ sở dựa trên UNCLOS.

„Các yêu sách liên quan đến việc thực thi „quyền lịch sử“ trên Biển Đông là không tuân thủ luật pháp quốc tế và các điều khoản của UNCLOS“, công hàm chung nhấn mạnh đồng thời khẳng định „quyền lịch sử“ mà Trung Quốc nêu ra đã bị bác bỏ trong phán quyết ngày 12-7-2016 của Tòa trọng tài quốc tế về Biển Đông.

Theo nhóm E3, phần II và phần IV của UNCLOS đã quy định đầy đủ và rõ ràng cách xác định đường cơ sở thẳng và đường cơ sở quần đảo. Do đó, việc Trung Quốc – một quốc gia lục địa – tự ý vẽ đường cơ sở thẳng ở Hoàng Sa (PV – thuộc chủ quyền của Việt Nam) là „không có cơ sở pháp lý“.

Hoạt động bồi đắp và cải tạo các thực thể mà Trung Quốc đã chiếm đóng hay bất kỳ tác động nhân tạo nào khác sẽ không làm thay đổi phân loại đối tượng địa lý theo UNCLOS.

„Các tranh chấp yêu sách hàng hải ở Biển Đông cần được đưa ra và giải quyết một cách hòa bình, phù hợp với các nguyên tắc của UNCLOS cũng như các phương tiện và thủ tục giải quyết tranh chấp đã được đưa ra trong UNCLOS“, công hàm của E3 kêu gọi.

Anh, Pháp, Đức cùng gởi công hàm phản bác yêu sách Trung Quốc trên Biển Đông - Ảnh 2.

Đường cơ sở thẳng Trung Quốc tự ý vẽ ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Bắc Kinh dùng vũ lực chiếm đóng năm 1974 – Ảnh chụp màn hình

„Với tư cách là các quốc gia thành viên UNCLOS, Pháp, Đức và Vương quốc Anh sẽ tiếp tục duy trì và khẳng định các quyền và tự do của mình như được quy định trong UNCLOS, góp phần thúc đẩy hợp tác trong khu vực theo quy định của công ước“, công hàm kết thúc.

„Cuộc chiến công hàm“ về Biển Đông – cách gọi hiện nay của nhiều người trước việc các nước liên tục gửi công hàm/công thư lên Liên Hiệp Quốc phản đối yêu sách phi lý của Trung Quốc – phát sinh sau một công hàm do Malaysia đệ trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS) của Liên Hiệp Quốc vào tháng 12-2019.

Hành động mở màn cuộc chiến công hàm của Malaysia đã kéo theo cả những nước không tranh chấp trực tiếp trên Biển Đông như Indonesia, Mỹ, Úc và mới nhất là nhóm E3 tham gia vào cuộc chiến công hàm này – góp phần làm nổi bật sự phi lý và bất hợp pháp trong các yêu sách của Trung Quốc.

tto

Loading

Views: 0

Chân dung Tân Thủ tướng Nhật Bản

Đi vận động tranh cử 300 nhà mỗi ngày, ông Yoshihide Suga đã tới 30.000 gia đình để vận động cho chiếc ghế ở hội đồng thành phố ở Yokohama khi bắt đầu sự nghiệp chính trị.

Những khác biệt rõ rệt giữa ông Abe và ông Suga không thể ngăn cản họ sát cánh cùng nhau trong suốt gần 1 thập kỷ.

Sự đối nghịch thú vị

Đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền vừa bầu ông Yoshihide Suga trở thành tân chủ tịch với 70% số phiếu ủng hộ. Cùng với việc đảng LDP chiếm đa số trong Quốc hội Nhật Bản, ông Suga gần như chắc chắn sẽ trở thành Thủ tướng tiếp theo của quốc gia này. Ở tuổi 71, ông Suga sẽ kế nhiệm ông Shinzo Abe sau cuộc bỏ phiếu mang tính thủ tục vào ngày 16/9 tới.

Từng là Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản suốt nhiều năm dưới thời ông Abe, ông Suga được xem như cánh tay phải của vị thủ tướng nắm nhiều kỷ lục của Nhật Bản. Việc ông Abe tuyên bố từ chức vì lý do sức khỏe mang đến cho ông Suga một cơ hội để trở thành người chèo lái nền kinh tế Nhật Bản và ông ấy đã tận dụng rất tốt cơ hội đó.

Nếu ông Shinzo Abe có lẽ được sinh ra để làm Thủ tướng Nhật Bản, con đường đến đỉnh vinh quang của người kế nhiệm Suga lại sóng gió hơn rất nhiều. Ông Abe sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống chính trị, với ông ngoại là Thủ tướng Nhật Bản trong khi bố là Bộ trưởng Ngoại giao và cũng từng ứng cử cho vị trí chèo lái nền kinh tế Nhật Bản. Ngược lại, ông Suga sinh ra trong một gia đình nhà nông thuần túy. Sự nghiệp chính trị của ông cũng là một hành trình gian khó, hoàn toàn tự thân vận động ngay cả trên những bước đi đầu tiên

Ông Abe và ông Suga gắn bó với nhau trong gần 1 thập kỷ, kể từ khi ông Abe tái đắc cử vị trí Thủ tướng Nhật Bản vào năm 2012. Ông Abe đang là nhà lãnh đạo tại vị lâu nhất ở Nhật Bản kể từ khi Thế chiến II kết thúc. Trong khi đó, ông Suga là cánh tay phải của ông Abe suốt nhiều năm trong vai trò Chánh văn phòng Nội các, một vị trí vừa là Chánh văn phòng, vừa là người phụ trách báo chí.

Sự gắn bó khăng khít không làm mờ đi những khác biệt rõ rệt về mặt phong cách giữa ông Abe và ông Suga. Ông Abe rõ ràng là con nhà nòi với những thành tích đáng nể. Ông Suga thì ngược lại. Lớn lên ở một vùng nông thôn tỉnh Akita và chuyển tới Tokyo học trung học, ông Suga được mô tả là người thật thà và vụng về.

Trong thời gian đi học, ông Suga từng phải làm những công việc lặt vặt, bao gồm cả công nhân tại một nhà máy sản xuất bìa cứng hay lao động ở chợ cá Tsukiji nổi tiếng để có tiền học đại học. Khi đi làm, ông Suga tiếp tục làm các công việc bán thời gian khác để có thêm thu nhập.

Sau khi tốt nghiệp, ông Suga nhanh chóng bước vào thế giới của những người làm công ăn lương ở Nhật Bản. Tuy nhiên, giai đoạn này không kéo dài. Khi nhận thức được tác động của chính trị, ông Suga nhận ra rằng đó là công việc mà ông muốn theo đuổi. Vì vậy, ông quyết định ứng cử vào Hội đồng Thành phố Yokohama.

Một ý chí kiên cường đáng ngưỡng mộ

Thiếu kết nối cũng như kinh nghiệm chính trị, Yoshihide Suga bù đắp chúng bằng sự chăm chỉ và dũng cảm. Ông đến từng nhà để vận động tranh cử. Mỗi ngày đi 300 nhà, Suga đã đặt chân đến 30.000 nhà để tìm kiếm sự ủng hộ. Cho tới khi bầu cử diễn ra, ông ấy đã đi mòn 6 đôi giày.

Cuộc đời của Suga có lẽ đã bước sang một chương mới kể từ sau chiến dịch vận động tranh cử đó. Đến nay, ông được biết đến như một nhà lãnh đạo chính trị thành công, người luôn nỗ lực hoàn thành công việc. Những phẩm chất của Suga khiến ông trở thành cánh tay phải xuất sắc của ông Abe.

Ông Suga cũng là đồng minh quan trọng trong nỗ lực ban hành chính sách kinh tế được gọi với cái tên „Abenomics“ của ông Shinzo Abe. Nó là sự kết hợp giữa kích thích tiền tệ, tăng chi tiêu công và cải cách cơ cấu nhằm khởi động nền kinh tế trì trệ của Nhật Bản.

Kazuto Suzuki, phó trưởng khoa kiêm Giáo sư chính trị Quốc tế tại Đại học Hokkaido, cho biết: „Nếu được chọn làm thủ tướng, ông Suga sẽ là người thay thế cho ông Abe“. Tuy nhiên, chính điều này cũng đặt ra những áp lực lớn cho ông Suga trong hành trình để lại dấu ấn của bản thân mình trên chính trường Nhật Bản.

Thuận lợi trên con đường lãnh đạo nước Nhật nhưng ông Suga cũng phải cần chứng tỏ mình trong vai trò người chèo lái nền kinh tế Nhật, nhất là khi nó đang phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, thách thức. Đại dịch Covid-19, cuộc chiến thương mại toàn cầu hay nợ công cao, dân số già… vẫn là những vấn đề lớn nhất mà ông Suga tìm ra lời giải.

Thậm chí, khi người dân Nhật Bản không hài lòng với cách ông Shinzo Abe chèo lái nước Nhật, trong đó có đại dịch Covid-19, người phải giải quyết giờ đây là ông Suga. Những gì mà người Nhật Bản kỳ vọng và chưa được thỏa mãn bởi Chính quyền của người tiền nhiệm giờ đây sẽ do Chính quyền của ông Suga giải quyết.

Khi việc trở thành Thủ tướng Nhật Bản của ông Suga đã gần như chắc chắn, ông sẽ sớm phải đối diện với bài thử nghiệm đầu tiên từ công chúng Nhật Bản trong một cuộc bỏ phiếu sớm. Có những dấu hiệu cho thấy một cuộc tổng tuyển cử trên toàn quốc có thể được tổ chức ở Nhật Bản trong tháng tới.

BDN

Loading

Views: 0

Điểm tin liên quan Biển Đông từ 1-15/9/2020

1. Chính sách Biển Đông của Mỹ

Ngày 3/9, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Daniel Kritenbrink khẳng định Mỹ từ lâu đã là một cường quốc ở khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương, và những bước đi gần đây của Mỹ là cách Washington tiếp nối và điều chỉnh chính sách đã có từ lâu của mình.

2. Indonesia sẽ không làm căn cứ quân sự cho nước ngoài

Ngày 4/9, Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi khẳng định rằng Indonesia sẽ không trở thành căn cứ quân sự cho bất kỳ nước nào, kể cả Trung Quốc. Tuyên bố này được đưa ra sau khi Bộ Quốc phòng Mỹ có báo cáo nói rằng Trung Quốc đang dự định xây dựng cơ sở hậu cần quân sự cho hải quân, không quân và bộ binh tại Indonesia.

3. Thái Lan xem xét việc xây dựng một tuyến đường có thể nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương

Bộ trưởng Giao thông vận tải Thái Lan Saksiam Chidchob cho biết Thái Lan đang xem xét việc xây dựng một tuyến đường có thể nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, thay vì phải đi qua eo biển Malacca – một trong những tuyến đường biển bận rộn nhất thế giới.

4. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc thăm và gặp một số lãnh đạo cấp cao của các nước ASEAN

Trong các ngày 7, 8, 9, 11/9, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa đã lần lượt có chuyến thăm và làm việc với lãnh đạo cấp cao của Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippines để trao đổi về vấn đề Biển Đông.

5. Phát biểu của các nước về Biển Đông tại Hội nghị AMM 53 và các Hội nghị liên quan:
– Ngoại trưởng Indonesia, bà Retno Marsudi cho biết, Indonesia yêu cầu các bên tôn trọng nguyên tắc quốc tế đã được công nhận, trong đó có UNCLOS 1982.
– Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Stephen Biegun nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thượng tôn pháp luật trong giải quyết các căng thẳng leo thăng và hành động quân sự hóa tại Biển Đông.

– Ngoại trưởng Hàn Quốc Kang Kyung-wha bày tỏ quan điểm nhất quán của Hàn Quốc ủng hộ tự do hàng hải và hàng không, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện cam kết phi quân sự hóa và hòa bình trên Biển Đông trong tình hình đại dịch COVID-19.

– Ngoại trưởng Nhật Bản Toshimitsu Motegi bày tỏ lo ngại về tình hình đang xấu đi trên Biển Đông và Biển Hoa Đông.

– Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Hợp tác Quốc tế Campuchia Prak Sokhonn nhấn mạnh Campuchia mong muốn Biển Đông được duy trì là vùng biển hòa bình, ổn định và thịnh vượng; khuyến khích tất cả các bên thực thi đầy đủ và có hiệu quả DOC để tăng cường lòng tin; đồng thời tiếp tục đối thoại để tìm giải pháp hòa bình cho cuộc tranh chấp, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

– Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo kêu gọi các nước ASEAN phản đối yêu sách trên biển của Trung Quốc và xem xét lại quan hệ kinh doanh với các tập đoàn, công ty Trung Quốc “đang bắt nạt các nước ASEAN ven Biển Đông”.

6. Thông cáo chung Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 53 ngày 9/9/2020 có một số nội dung đề cập vấn đề Biển Đông:

– Khẳng định lại cam kết chung về duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh, và ổn định khu vực, cũng như giải quyết hòa bình các tranh chấp, bao gồm tôn trọng các quá trình pháp lý và ngoại giao, không đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực, tuân thủ các nguyên tắc được công nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

– Nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì và thúc đẩy môi trường thuận lợi cho việc đàm phán COC, và hoan nghênh các biện pháp thực tiễn nhằm giảm thiểu căng thẳng và nguy cơ xảy ra các tai nạn, hiểu nhầm, tính toán nhầm.

– Bày tỏ quan ngại về việc bồi đắp, các hành động và sự việc nghiệm trọng tại khu vực đã làm xói mòn sự tin tưởng, tin cậy, gia tăng căng thẳng, và làm suy yếu hòa bình, an ninh, và ổn định khu vực.

– Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các nước có yêu sách và các nước khác, bao gồm cả các nước được đề cập trong DOC, không quân sự hóa và sự tự kiềm chế trong việc thực hiện các hành động có thể gây phức tạp hơn tình hình và leo thang căng thẳng tại Biển Đông.

7. Hội nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) lần thứ 27 ngày 12/9/2020
Các Bộ trưởng tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông; nhấn mạnh yêu cầu tự kiềm chế, không có các hành động phức tạp thêm tình hình, không quân sự hóa, giải quyết hoà bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982; ủng hộ việc triển khai hiệu quả và đầy đủ DOC, ASEAN-Trung Quốc sớm hoàn tất COC hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982; tái khẳng định UNCLOS 1982 là khuôn khổ pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động trên các vùng biển và đại dương.

8. Các Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – Ấn Độ và ASEAN-EU ngày 12/9/2020:
– EU nhấn mạnh cần tôn trọng luật pháp quốc tế, kiềm chế tránh các hành động gây căng thẳng, không quân sự hoá và ủng hộ các nỗ lực xây dựng luật lệ điều chỉnh các hành vi ứng xử tại khu vực

– Ấn Độ thông báo với các nước ASEAN về Sáng kiến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; tiếp tục nhấn mạnh việc duy trì hòa bình, ổn định, không quân sự hóa, không gây phức tạp tình hình và tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982.

9. Indonesia đã đuổi tàu hải cảnh Trung Quốc ra khỏi vùng biển phía Bắc Natuna
Ngày 12/9, tàu hải cảnh Trung Quốc số 5204, bị tàu tuần tra của Cơ quan An ninh Biển Indonesia Bakamla phát hiện vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia tại Biển Bắc Natuna thuộc quần đảo Riau. Bakamla đã phối hợp cùng Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan khác tiến hành đuổi tàu hải cảnh Trung Quốc ra khỏi vùng biển trên.

Ngày 13/9, Bộ Ngoại giao Indonesia tiếp tục liên hệ trực tiếp với Đại sứ quán Trung Quốc tại Indonesia để yêu cầu Trung Quốc giải thích về vụ việc trên, đồng thời ra tuyên bố bác bỏ yêu sách “đường chín đoạn của Trung Quốc tại Biển Đông, cho rằng yêu sách này mâu thuẫn và đi ngược lại UNCLOS 1982″.

Ngày 15/9, Giám đốc Cơ quan An ninh hàng hải Indonesia, ông Aan Kurnia cho biết lực lượng Hải quân Indonesia sẽ tăng cường hoạt động tuần tra đảm bảo an ninh quanh quần đảo này.

10. Dư luận quốc tế về tình hình Biển Đông

– Phát biểu tại Hạ viện Anh, Nghị sĩ Andrew Bowie nói Bộ Quốc phòng Anh cần điều tàu sân bay tới Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và “đã đến lúc nước Anh cần hành động và đối mặt, phản đối yêu sách trên biển của Trung Quốc”. Tờ “Daily News” của Anh ngày 13/9 cũng đề cập đến khả năng Hải quân Anh triển khai tàu sân bay HMS Queen Elizabeth tới Biển Đông.

Tàu sân bay HMS Queen Elizabeth của Hải quân Anh

– Cựu Thứ trưởng Quốc phòng Malaysia Liew Chin Tong cho rằng Trung Quốc phải xem vấn đề biển với các nước Đông Nam Á là vấn đề ngoại giao ưu tiên số 1 của mình. Các chuyến thăm và làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc tại một số nước ASEAN diễn ra ngay trước thềm Hội nghị AMM 53 khi có khá nhiều bất mãn của các nước đối với Trung Quốc về nhiều vấn đề như đập sông Mekong, Biển Đông…

– Bộ Quốc phòng Philippines đã đăng lên trang thông tin của mình về cuộc gặp giữa Bộ trưởng Quốc phòng nước này và Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa, trong đó khẳng định lập trường rõ ràng, cứng rắn của Philippines về các vấn đề trên biển. Tuy nhiên, sau đó thông tin trên đã bị gỡ bỏ và thay thế bằng nội dung mới với giọng điệu mềm mỏng hơn.

– Ngày 8/9, trước tình hình các hành động quân sự gia tăng ở Biển Đông, Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi nói rằng ASEAN và Indonesia không muốn bị kẹt giữa Mỹ-Trung, và sẽ sẵn sàng là đối tác với tất cả.

– Tiến sĩ Balaz Szanto của Đại học Webster Thailand đánh giá Việt Nam đang giữ vai trò hết sức quan trọng với tư cách là một trong những bên tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Thông qua việc đảm nhận vai trò dẫn dắt ASEAN, Việt Nam có điều kiện thúc đẩy sự hình thành tiếng nói chung mạnh mẽ hơn, điều mà nhóm này thiếu trong những năm vừa qua. ASEAN sẽ có khả năng thúc đẩy một COC có hiệu lực và đưa vào áp dụng trên thực tế.

– Các nhà phân tích nhận định rằng dù các nước ASEAN đã đạt được sự đồng thuận và đoàn kết cao hơn về vấn đề Biển Đông, một số nước còn khá dè dặt trong những ngôn từ sử dụng trong văn kiện khối liên quan đến vấn đề này.

(Tham khảo: tienphong.vn, thejakartapost.com, tuoitre.vn, straitstimes.com, mofa.gov.kr, japantimes.co.jp, asean.org, reuters.com, vietnamplus.vn, smcp.com)

Loading

Views: 0

Bác bỏ yêu sách của Trung Quốc, Mỹ đăng bản đồ có Hoàng Sa và Trường Sa khẳng định chủ quyền Việt Nam

Trên trang fanpage Facebook chính thức của Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam vừa công bố một bản đồ Việt Nam trong đó bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa, hai quần đảo mà Trung Quốc cùng có tuyên bố chủ quyền và nằm trọn trong ‘đường lưỡi bò’ do Bắc Kinh đơn phương đặt ra.
Ảnh: Fanpage Facebook chính thức của Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam.
Bài viết được đăng ngay sau khi Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 53 (AMM 53) khai mạc vào hôm 9/9.Động thái này của chính quyền Donald Trump được xem là cứng rắn đáp lại Trung Quốc trước những hành động liên tục gây hấn của chính quyền nước này lên các quốc gia láng giềng, đặc biệt là Việt Nam.Trong bài viết, Đại sứ quán Mỹ đã ca ngợi mối quan hệ hợp tác sâu rộng giữa Việt Nam và Mỹ trong tất cả các lĩnh vực từ thương mại, giáo dục, y tế, năng lượng và an ninh. Đại sứ quán Mỹ nhấn mạnh: “Là đối tác tin cậy, chúng ta (Mỹ và Việt Nam) sẽ cùng thịnh vượng bền lâu!”.Trung Quốc gần đây đã có loạt động thái vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.Mới đây nhất, Trung Quốc đã công bố bản sửa đổi “quy tắc kiểm tra kỹ thuật tàu biển nội địa theo luật định” được ban hành năm 1974.Trong văn bản mới, Trung Quốc ngang nhiên thành lập cái gọi là “Vùng hàng hải Hải Nam – Tây Sa”. Tây Sa là tên gọi trái phép Trung Quốc dùng cho quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Vùng hàng hải nêu trên được Trung Quốc ngang nhiên quy định là khu vực nằm giữa hai điểm trên đảo Hải Nam và ba điểm trên quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Trung Quốc còn thay đổi thuật ngữ, gọi khu vực này là “vùng ven biển”, thay cho cụm từ “vùng biển ngoài khơi” trước đây. Bản quy tắc sai trái này được Trung Quốc cho có hiệu lực thực hiện từ ngày 1/8/2020.

Trước động thái trên của phái chính quyền Trung Quốc, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần khẳng định rằng “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.”

Ở động thái liên quan, ngày 10/9, phát biểu tại Hội nghị trực tuyến Bộ trưởng Ngoại giao Cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ 10 trong khuôn khổ AMM 53 và các Hội nghị liên quan, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cam kết ủng hộ ASEAN trong việc bảo vệ pháp luật, tôn trọng chủ quyền và minh bạch trên Biển Đông và khu vực sông Mêkông, chỉ trích các mối đe dọa của Trung Quốc trong khu vực, theo tờ Bloomberg.

Ông Pompeo nhấn mạnh cam kết của nước Mỹ là lên tiếng trước các hành động gây hấn và đe dọa ngày càng leo thang của chính quyền Trung Quốc liên quan đến chủ quyền các nước trong khu vực.

Ông cũng bày tỏ lo ngại về các hành động gây hấn của ĐCSTQ ở Biển Đông, trong khi tại cuộc họp một ngày trước đó, Vương Nghị nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ là “động lực lớn nhất của quá trình quân sự hóa ở Biển Đông”.

Loading

Views: 0

Quan hệ Mỹ – Nga – Trung và vấn đề Biển Đông

Phần lớn thời gian của thế kỷ XX là sự đối đầu giữa Mỹ và Liên Xô, đại diện cho 2 phe Tư bản và Xã hội chủ nghĩa, thường được gọi là cuộc Chiến tranh Lạnh.

Cuộc chiến tranh Việt Nam là nơi đối đầu trực diện của hai phe. Mỹ ủng hộ Việt Nam Cộng hòa để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản có thể lan ra toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ Việt Nam Dân chủ cộng hòa do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Trong cuộc chiến tranh này, Liên Xô ủng hộ Việt Nam với tinh thần quốc tế vô sản và là nước đứng đầu phe Xã hội chủ nghĩa, đồng thời đối kháng trực tiếp với Mỹ. Trung Quốc ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cũng tuyên bố là với tinh thần quốc tế vô sản nhưng với những mưu đồ riêng. Thứ nhất là thông qua cuộc chiến tranh ở Việt Nam để ngăn chặn nguy cơ và ảnh hưởng của Mỹ đến Trung Quốc mà trực tiếp là ảnh hưởng đến Đài Loan.

Thứ hai, Trung Quốc muốn lợi dụng cuộc chiến tranh này coi Việt Nam như quân bài để mặc cả với Mỹ vừa để tiến tới bình thường hóa quan hệ Mỹ -Trung, chống lại Liên Xô. Trong thực tế mối bất hòa Xô-Trung đã diễn ra trong nhiều năm dù kinh tế quân sự đều kém hơn Liên Xô nhưng là nước đông dân hơn Liên Xô nhiều lần, Trung Quốc không muốn đứng ở vị trí thứ hai trong phe Xã hội chủ nghĩa.

Năm 1972, khi cuộc kháng chiến của Việt Nam ở vào thời điểm ác liệt nhất thì Trung Quốc công khai thỏa hiệp với Mỹ, mời Tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc để thực hiện âm mưu xâm chiến Biển Đông. Năm 1974, Trung Quốc bắt đầu việc đánh chiếm các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa do Việt Nam Cộng hòa quản lý. Sau khi Việt Nam thống nhất đất nước, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam của Trung Quốc thất bại thì năm 1979 Trung Quốc tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam.

Hành động xâm lược Việt Nam của Trung Quốc khiến cả thế giới ngỡ ngàng, các nước xã hội chủ nghĩa phẫn nộ. Nhân dân nhiều nước biểu tình phản đối Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam. Hành động xâm lược Việt Nam đã chứng tỏ Trung Quốc không còn tinh thần quốc tế vô sản đồng thời mở đầu cho sự rạn nứt và tư tưởng ly khai của một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Trước thực tế đó, Liên Xô và Việt nam đã ký hiệp ước hợp tác toàn diện để ngăn chặn các âm mưu tiếp theo của Trung Quốc.

Mỹ bắt đầu coi Trung Quốc là mắt xích quan trọng để làm suy yếu Liên Xô và tiến tới làm tan rã phe Xã hội chủ nghĩa. Ngược lại Trung Quốc lại mưu toan làm cho cả Liên Xô và Mỹ suy yếu, tiếp tục đẩy hai quốc gia này vào thế đối đầu.

Trung Quốc mặc cho Liên Xô và Mỹ can thiệp vào các cuộc xung đột ở một số nước, còn họ không tham gia. Điển hình như xung đột tại Afghanistan, hết Liên Xô rồi Mỹ bị sa lầy, thiệt hại nặng cả về người và của cải. Đến các cuộc xung đột vũ trang tại Iraq, Syria, Trung Quốc đều đứng ngoài.

Liên Xô tan ra, Mỹ không còn đối thủ và trở thành cường quốc số 1 thế giới. Trung Quốc càng ve vãn để Mỹ và các nước tư bản đầu tư tiền bạc và công nghệ vào Trung Quốc. Mỹ tưởng rằng không còn Liên Xô thì vị trí số 1 thế giới là vĩnh viễn đồng thời tưởng rằng lôi kéo và cảm hóa được Trung Quốc.

Mỹ không hề biết rằng với chiến lược “ẩn mình chờ thời” đợi khi đủ mạnh, Trung Quốc mới là thế lực đánh đổ Mỹ để giành lại vị trí cường quốc số 1 thế giới.

Trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới và đã đủ tiềm lực, Trung Quốc bắt đầu thách thức Mỹ. Trung Quốc chọn Biển Đông là nơi đối đầu trực diện với Mỹ. Năm 1984, Trung Quốc bắt đầu đánh chiếm các đảo thuộc quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Nếu như ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc chỉ gây sự với Nhật Bản bằng việc tuyên bố chủ quyền ở đảo Điếu Ngư của Nhật Bản thì với các đảo của quần đảo Trường Sa, Trung Quốc thực hiện bằng quân sự, tấn công tiêu diệt và chiếm các đảo.

Liên Xô, sau này là Nga, lúc đó không đủ mạnh và cũng không muốn mất lòng Trung Quốc nên làm ngơ. Mỹ vì mối hận với Việt Nam và cũng muốn lôi kéo Trung Quốc nên không có phản ứng gì.

Trung Quốc ngày càng thách thức Mỹ bằng việc bồi đắp các đảo, biến thành các căn cứ quân sự án ngữ trực tiếp con đường từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương. Mỹ bắt đầu tỉnh ngộ nhưng dưới thời Cựu Tổng thống Obama cũng chỉ tuyên bố chuyển trục về châu Á – Thái Bình Dương.

Chỉ đến thời gian gần đây khi nguy cơ bị tuột mất vị trí số một thế giới và âm mưu thâm độc của Trung Quốc đã lộ rõ hoàn toàn, Tổng thống Trump mới chính thức tuyên bố phủ nhận tuyên bố chủ quyền 80% Biển Đông của Trung Quốc và đòi không được thay đổi hiện trạng ở Biển Đông.

Biển Đông thực sự đã là nơi Trung Quốc chọn để thách đầu với Mỹ và cả nhiều nước khác như Nhật, Australia, Anh, Pháp…

Sau Pháp, Đức cũng đã bắt đầu tuyên bố về chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để cùng với Mỹ ngăn chặn âm mưu điên cuồng của Trung Quốc.
Thế giới chắc chắn sẽ chứng kiến cuộc xung đột quyết liệt giữa Trung Quốc và các nước trên Biển Đông.

BDN

Loading

Views: 0

AMM-53: EAS-10 kêu gọi sớm hoàn tất xây dựng một Bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông

Các nước kêu gọi ASEAN và Trung Quốc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC), và nỗ lực sớm hoàn tất xây dựng một Bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông (COC) hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, được cộng đồng quốc tế công nhận.
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, trong vai trò nước Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch Hội nghị Cấp cao Đông Á, đã chủ trì Hội nghị trực tuyến Bộ trưởng Ngoại giao Cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ 10. (Ảnh: Tuấn Anh)

Trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 53 (AMM-53) và các Hội nghị Bộ trưởng liên quan, tối ngày 9/9, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, trong vai trò nước Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch Hội nghị Cấp cao Đông Á, đã chủ trì Hội nghị trực tuyến Bộ trưởng Ngoại giao Cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ 10.

Tham dự Hội nghị có các Bộ trưởng Ngoại giao của 10 nước ASEAN, các Đối tác EAS gồm Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zeand, Hàn Quốc, Nga, Mỹ và Tổng Thư ký ASEAN.

Tại Hội nghị, các nước EAS tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của EAS với tư cách là diễn đàn của các Lãnh đạo thảo luận về các vấn đề chiến lược của khu vực; ghi nhận những tiến triển đạt được trong triển khai Kế hoạch Hành động Manila giai đoạn 2018-2022, đồng thời nhất trí tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực ưu tiên, bao gồm môi trường, năng lượng, giáo dục, tài chính, y tế, dịch bệnh, quản lý thảm họa, kết nối, kinh tế, thương mại, an ninh lương thực và hợp tác biển.

Các Bộ trưởng nhấn mạnh trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 bùng phát và diễn biến phức tạp hiện nay, các nước EAS cần đẩy mạnh hợp tác thiết thực, nâng cao năng lực ứng phó, giảm thiểu các tác động tiêu cực của dịch bệnh và thúc đẩy phục hồi bền vững khu vực.

Các Đối tác EAS đánh giá cao vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 của Việt Nam tích cực điều phối các nỗ lực của ASEAN và các Đối tác ứng phó hiệu quả dịch bệnh Covid-19, ủng hộ các sáng kiến của ASEAN về tăng cường hợp tác ứng phó dịch Covid-19 như Quỹ ASEAN Ứng phó Covid-19 và Kho Dự phòng vật tư y tế khẩn cấp khu vực.

Các nước kêu gọi ASEAN và Trung Quốc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC), và nỗ lực sớm hoàn tất xây dựng một Bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông (COC) hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, được cộng đồng quốc tế công nhận. (Ảnh: Tuấn Anh)

ASEAN đề nghị các Đối tác EAS với những thế mạnh của mình hỗ trợ ASEAN nâng cao năng lực y tế dự phòng, phối hợp chia sẻ thông tin, trao đổi kinh nghiệm điều trị, nghiên cứu, sản xuất vắc xin, giảm thiểu các tác động kinh tế-xã hội và thúc đẩy phục hồi, tăng trưởng bền vững.

Các nước hoan nghênh đề xuất của Việt Nam tổ chức hội nghị các chuyên gia liên ngành EAS về Covid-19 nhằm tăng cường các nỗ lực ứng phó và phục hồi tại khu vực, dự kiến vào tháng 10/2020.

Các nước chia sẻ đánh giá sau 15 năm thành lập, hiện EAS đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới trong bối cảnh khu vực có những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp chưa từng có. Theo đó, các nước cần phối hợp chặt chẽ, đề ra những định hướng tăng cường EAS trong giai đoạn mới nhằm tiếp tục đóng góp tích cực cho đối thoại và hợp tác, duy trì hòa bình, an ninh và thịnh vượng và ứng phó hiệu quả với các thách thức đang nổi lên trong khu vực.

Các nước nhất trí ủng hộ Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ 15 (EAS-15) sẽ thông qua tuyên bố kỷ niệm 15 năm thành lập EAS và các văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực hợp tác biển bền vững, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực ổn định, nâng cao năng lực ứng phó dịch bệnh và về nâng cao vai trò phụ nữ đối với bảo đảm hòa bình và an ninh.

Các nước tham gia EAS cũng đã dành thời gian trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế cùng quan tâm, bao gồm tình hình bán đảo Triều Tiên, Biển Đông, tình hình bang Rakhine của Myanmar…

Về tình hình Biển Đông, các nước đều nhấn mạnh tầm quan trọng của hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, là lợi ích chung của tất cả các nước. Theo đó, các nước bày tỏ quan ngại về diễn biến trên thực địa gần đây, ảnh hưởng tiêu cực đến hòa bình, an ninh và thượng tôn pháp luật trong khu vực, nhất là trong lúc cả khu vực đang tập trung nguồn lực đối phó dịch bệnh; nhấn mạnh cần thúc đẩy đối thoại và tăng cường xây dựng lòng tin, kiềm chế không có hoạt động làm gia tăng căng thẳng và phức tạp tình hình, không quân sự hoá, không sử dụng và đe doạ sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

Các nước kêu gọi ASEAN và Trung Quốc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC), và nỗ lực sớm hoàn tất xây dựng một Bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông (COC) hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, được cộng đồng quốc tế công nhận.

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh khẳng định vai trò chiến lược và đóng góp quan trọng của EAS trong 15 năm qua. (Ảnh: Tuấn Anh)

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh khẳng định vai trò chiến lược và đóng góp quan trọng của EAS trong 15 năm qua, chia sẻ các định hướng tăng cường EAS trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh cần nâng cao vai trò điều phối của Chủ tịch EAS trong các hoạt động hợp tác EAS, tăng cường hiệu quả phối hợp và bổ trợ giữa EAS với các cơ chế khác do ASEAN dẫn dắt như ASEAN+3, Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Diễn đàn Biển ASEAN Mở rộng (EAMF) cũng như nâng cao vai trò của EAS đối phó kịp thời, hiệu quả với các thách thức đang nổi lên trong khu vực. Đề xuất của Việt Nam ra Tuyên bố Hà Nội kỷ niệm 15 năm thành lập EAS nhằm tăng cường vai trò và giá trị chiến lược của EAS trong giai đoạn phát triển mới được các nước ủng hộ và đánh giá cao.

Về tình hình Biển Đông, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh nhấn mạnh lập trường nguyên tắc của ASEAN đã nêu tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 36 và tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 53 vừa khai mạc sáng nay, đề nghị các bên đề cao thượng tôn pháp luật, kiềm chế, không có các hành động gây phức tạp thêm tình hình, không quân sự hóa, giải quyết các tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình, tiếp tục thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố DOC và sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử COC ở Biển Đông hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, đóng góp duy trì hòa bình, an ninh, ổn định ở Biển Đông và trong khu vực.

Theo chương trình, ngày 10/9, các Bộ trưởng Ngoại giao sẽ tham dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Hoa Kỳ, ASEAN-Canada, ASEAN-Australia, ASEAN-New Zeand, Đối thoại giữa Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với các Đại diện Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR) và Đối thoại cấp Bộ trưởng ASEAN về tăng cường vai trò của phụ nữ đối với hòa bình và an ninh bền vững.

TG&VN

Loading

Views: 0

TQ có thể “vũ khí hóa” sáng kiến “Vành đai con đường”

Giới chuyên gia cảnh báo Trung Quốc có thể “quân sự hóa” một số dự án thuộc sáng kiến “Vành đai con đường” của nước này xây dựng tại các quốc gia nước ngoài.

Cảng Hambantota ở Sri Lanka, một dự án thuộc sáng kiến „Vành đai con đường“ của Trung Quốc

SCMP ngày 12/9 đưa tin, trong báo cáo công bố hồi tuần này, Viện Chính sách Xã hội châu Á (ASPI) có trụ sở ở Mỹ cảnh báo về viễn cảnh Trung Quốc có thể “vũ khí hóa” các dự án thuộc “Vành đai con đường”. ASPI giải thích rằng một số công trình nằm trong sáng kiến trên có khả năng vừa được sử dụng cho mục đích quân sự và cả mục đích dân sự.

Theo ASPI, Trung Quốc được cho đã tạo ra một mô hình xây dựng các dự án cơ sở hạ tầng đa chức năng mà Bắc Kinh gọi là “các điểm mạnh chiến lược” tại các quốc gia như Sri Lanka, Pakistan, Myanmar và Campuchia.

ASPI đặt ra giả thuyết rằng Trung Quốc dường như có mục tiêu tạo ra “một hệ sinh thái kết hợp giữa thương mại, công nghệ, tài chính và các điểm mạnh chiến lược” nhằm phục vụ lợi ích của Bắc Kinh. Ngoài ra, bản báo cáo cảnh báo tham vọng trên có thể mở đường cho việc Trung Quốc sử dụng các dự án quân sự nhằm làm suy yếu “tầm ảnh hưởng và vai trò của Mỹ” tại Ấn Độ – Thái Bình Dương.

ASPI lấy ví dụ về việc Trung Quốc xây dựng các cảng thương mại đạt tiêu chuẩn để phục vụ các hoạt động quốc phòng và xuất khẩu hệ thống định vị nội địa BeiDou do Bắc Kinh phát triển, cũng như đẩy mạnh các hoạt động diễn tập quân sự và buôn bán vũ khí với các quốc gia thuộc sáng kiến “Vành đai con đường”.

ASPI liệt kê một số cảng như Gwadar của Pakistan, Koh Kong của Campuchia, Hambantota của Sri Lanka và Kyaukphyu của Myanmar. Bản báo cáo đặt nghi vấn đây là các địa điểm Trung Quốc có thể sử dụng để phục vụ nhu cầu của quân đội Bắc Kinh.

ASPI cho rằng các cảng nói trên được thiết kế như một điểm hỗ trợ hậu cần quân sự và thương mại hỗn hợp và có thể được sử dụng làm điểm tiếp tế nhằm hỗ trợ các lực lượng trên biển.

Tổ chức Mỹ cảnh báo một số dự án “Vành đai con đường” không chỉ làm gia tăng sự phụ thuộc kinh tế của quốc gia chủ nhà vào Trung Quốc, mà còn khiến họ thêm phụ thuộc vào công nghệ của Bắc Kinh.

BDN

Loading

Views: 0

Truyền thông Mỹ nói về vũ khí „chưa từng nghe thấy“ của Hoa Kỳ

Washington (Sputnik) – Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, nói về vũ khí „chưa từng nghe thấy“ của Mỹ, loại vũ khí được xem là không tương đồng với bất kỳ vũ khí nào của cả Nga và Trung Quốc, rất có thể ám chỉ đến đầu đạn hạt nhân W76-2.

Việc chế tạo và vận hành đầu đạn này đã được quân đội Hoa Kỳ công bố từ năm 2018, Popular Mechanics viết.

(U.S. Navy Photo John Kowalski/Released)

Vũ khí mới đáng kinh ngạc của Hoa Kỳ được ông Trump nhắc đến

Trước đó, tờ Washington Post dẫn đoạn trích trong cuốn sách „Cơn thịnh nộ“ (Rage) viết rằng Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rằng Mỹ có hệ thống vũ khí hạt nhân, điều mà Nga và Trung Quốc thậm chí chưa từng nghe đến. Tờ báo, trích dẫn các đoạn trích từ cuốn sách của Woodward, cho biết Trump đã nói về một hệ thống vũ khí „chưa từng nghe thấy“ khi phản ánh về mức độ tiếp cận của Hoa Kỳ trong cuộc chiến với Triều Tiên vào năm 2017. Theo tác giả cuốn sách, sau tuyên bố này, các nguồn tin giấu tên xác nhận rằng Hoa Kỳ có những hệ thống vũ khí bí mật mới, và cho biết họ rất ngạc nhiên khi ông Trump nói về điều đó.

Một ngày trước đó, ông Trump, phát biểu trước những người ủng hộ ở Michigan, một lần nữa tuyên bố rằng cả Nga và Trung Quốc đều không có vũ khí như Hoa Kỳ.

Đầu đạn hạt nhân mới của Mỹ W76-2

“Nhiều khả năng Tổng thống đang đề cập đến các đầu đạn hạt nhân W76-2 mới, được thiết kế để triển khai trên tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm Trident D-5”, tờ báo viết.

Theo tạp chí này, Hải quân Mỹ hiện được trang bị 12 tàu ngầm tên lửa chạy bằng năng lượng hạt nhân được trang bị khoảng 20 tên lửa đạn đạo Trident D-5, mỗi tàu có khả năng mang 4-5 đầu đạn hạt nhân W76-2. Sức nổ của mỗi đầu đạn này là khoảng 100 kiloton, gấp khoảng sáu lần so với quả bom hạt nhân ném xuống Hiroshima, Popular Mechanics viết. Ấn phẩm nhấn mạnh rằng lần đầu tiên chính quyền Trump đề cập đến đầu đạn hạt nhân W76-2 là vào tháng 2/2018 như một vũ khí „sẽ giúp chống lại mọi hiểu lầm về lỗ hổng trong lực lượng răn đe khu vực của Mỹ“.

https://vn.sputniknews.com/usa/202009129471883-truyen-thong-my-noi-ve-vu-khi-chua-tung-nghe-thay-cua-hoa-ky/

 

Loading

Views: 0

Các ngoại trưởng ASEAN lo ngại về tình hình biển Đông

EAS bày tỏ quan ngại về diễn biến trên thực địa gần đây ở Biển Đông, ảnh hưởng tiêu cực đến hòa bình, an ninh và thượng tôn pháp luật trong khu vực.

Trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 53 (AMM-53) và các Hội nghị Bộ trưởng liên quan, tối ngày 9/9, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, trong vai trò nước Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch Hội nghị Cấp cao Đông Á, đã chủ trì Hội nghị trực tuyến Bộ trưởng Ngoại giao Cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ 10. Tham dự Hội nghị có các Bộ trưởng Ngoại giao của 10 nước ASEAN, các Đối tác EAS gồm Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga, Mỹ và Tổng Thư ký ASEAN.

Tại Hội nghị, các nước EAS tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của EAS với tư cách là diễn đàn của các Lãnh đạo thảo luận về các vấn đề chiến lược của khu vực; ghi nhận những tiến triển đạt được trong triển khai Kế hoạch Hành động Manila giai đoạn 2018-2022, đồng thời nhất trí tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực ưu tiên, bao gồm môi trường, năng lượng, giáo dục, tài chính, y tế, dịch bệnh, quản lý thảm họa, kết nối, kinh tế, thương mại, an ninh lương thực và hợp tác biển.

Các Bộ trưởng nhấn mạnh, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 bùng phát và diễn biến phức tạp hiện nay, các nước EAS cần đẩy mạnh hợp tác thiết thực, nâng cao năng lực ứng phó, giảm thiểu các tác động tiêu cực của dịch bệnh và thúc đẩy phục hồi bền vững khu vực. Các Đối tác EAS đánh giá cao vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 của Việt Nam tích cực điều phối các nỗ lực của ASEAN và các Đối tác ứng phó hiệu quả dịch bệnh Covid-19, ủng hộ các sáng kiến của ASEAN về tăng cường hợp tác ứng phó dịch Covid-19 như Quỹ ASEAN Ứng phó Covid-19 và Kho Dự phòng vật tư y tế khẩn cấp khu vực.ASEAN đề nghị các Đối tác EAS với những thế mạnh của mình hỗ trợ ASEAN nâng cao năng lực y tế dự phòng, phối hợp chia sẻ thông tin, trao đổi kinh nghiệm điều trị, nghiên cứu, sản xuất vắc xin, giảm thiểu các tác động kinh tế-xã hội và thúc đẩy phục hồi, tăng trưởng bền vững. Các nước hoan nghênh đề xuất của Việt Nam tổ chức hội nghị các chuyên gia liên ngành EAS về Covid-19 nhằm tăng cường các nỗ lực ứng phó và phục hồi tại khu vực, dự kiến vào tháng 10/2020.

Các nước chia sẻ đánh giá sau 15 năm thành lập, hiện EAS đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới trong bối cảnh khu vực có những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp chưa từng có. Theo đó, các nước cần phối hợp chặt chẽ, đề ra những định hướng tăng cường EAS trong giai đoạn mới nhằm tiếp tục đóng góp tích cực cho đối thoại và hợp tác, duy trì hòa bình, an ninh và thịnh vượng và ứng phó hiệu quả với các thách thức đang nổi lên trong khu vực. Các nước nhất trí ủng hộ Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ 15 (EAS-15) sẽ thông qua tuyên bố kỷ niệm 15 năm thành lập EAS và các văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực hợp tác biển bền vững, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực ổn định, nâng cao năng lực ứng phó dịch bệnh và về nâng cao vai trò phụ nữ đối với bảo đảm hòa bình và an ninh.

Các nước tham gia EAS cũng đã dành thời gian trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế cùng quan tâm, bao gồm tình hình bán đảo Triều Tiên, Biển Đông, tình hình bang Rakhine của Myanmar, Hong Kong… Về tình hình Biển Đông, các nước đều nhấn mạnh tầm quan trọng của hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, là lợi ích chung của tất cả các nước.Theo đó, các nước bày tỏ quan ngại về diễn biến trên thực địa gần đây, ảnh hưởng tiêu cực đến hòa bình, an ninh và thượng tôn pháp luật trong khu vực, nhất là trong lúc cả khu vực đang tập trung nguồn lực đối phó dịch bệnh; nhấn mạnh cần thúc đẩy đối thoại và tăng cường xây dựng lòng tin, kiềm chế không có hoạt động làm gia tăng căng thẳng và phức tạp tình hình, không quân sự hoá, không sử dụng và đe doạ sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982. Các nước kêu gọi ASEAN và Trung Quốc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC), và nỗ lực sớm hoàn tất xây dựng một Bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông (COC) hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, được cộng đồng quốc tế công nhận.

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh khẳng định vai trò chiến lược và đóng góp quan trọng của EAS trong 15 năm qua, chia sẻ các định hướng tăng cường EAS trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh cần nâng cao vai trò điều phối của Chủ tịch EAS trong các hoạt động hợp tác EAS, tăng cường hiệu quả phối hợp và bổ trợ giữa EAS với các cơ chế khác do ASEAN dẫn dắt như ASEAN+3, Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Diễn đàn Biển ASEAN Mở rộng (EAMF) cũng như nâng cao vai trò của EAS đối phó kịp thời, hiệu quả với các thách thức đang nổi lên trong khu vực. Đề xuất của Việt Nam ra Tuyên bố Hà Nội kỷ niệm 15 năm thành lập EAS nhằm tăng cường vai trò và giá trị chiến lược của EAS trong giai đoạn phát triển mới được các nước ủng hộ và đánh giá cao.

Về tình hình Biển Đông, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh nhấn mạnh lập trường nguyên tắc của ASEAN đã nêu tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 36 và tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 53 vừa khai mạc sáng 9/9, đề nghị các bên đề cao thượng tôn pháp luật, kiềm chế, không có các hành động gây phức tạp thêm tình hình, không quân sự hóa, giải quyết các tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình, tiếp tục thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố DOC và sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử COC ở Biển Đông hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, đóng góp duy trì hòa bình, an ninh, ổn định ở Biển Đông và trong khu vực.

Theo chương trình, ngày 10/9, các Bộ trưởng Ngoại giao tham dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Hoa Kỳ, ASEAN-Canada, ASEAN-Australia, ASEAN-New Zealand, Đối thoại giữa Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với các Đại diện Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR) và Đối thoại cấp Bộ trưởng ASEAN về tăng cường vai trò của phụ nữ đối với hòa bình và an ninh bền vững.

BDN

Loading

Views: 0

Trump muốn „thoát Trung“ mãi mãi

„Chúng ta sẽ đưa Mỹ trở thành một siêu cường sản xuất của thế giới, đồng thời chấm dứt sự phụ thuộc vào Trung Quốc một lần và mãi mãi”, Tổng thống Trump khẳng định.

Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 7/9 đã nhắc lại lời đe dọa sẽ tách rời nền kinh tế Mỹ khỏi nền kinh tế Trung Quốc, đồng thời khẳng định sẽ thưởng cho các công ty có kế hoạch rút khỏi Trung Quốc cũng như dừng làm ăn với quốc gia này.

Chúng ta sẽ đưa Mỹ trở thành một siêu cường sản xuất của thế giới, đồng thời chấm dứt sự phụ thuộc vào Trung Quốc một lần và mãi mãi. Dù tách rời với nền kinh tế Trung Quốc hay thực hiện những biện pháp thuế quan quy mô như tôi đang làm hiện nay, chúng ta sẽ chấm dứt sự phụ thuộc vào Trung Quốc bởi chúng ta không thể dựa vào quốc gia này“, Tổng thống Trump nhận định với báo giới.

„Khi chúng ta đề cập đến từ „tách rời“, đó là một từ thú vị. Chúng ta đã mất hàng tỷ USD và nếu chúng ta không làm ăn với họ, chúng ta sẽ không mất hàng tỷ USD như vậy“.

Tổng thống Trump khẳng định chính quyền của ông sẽ tiến hành chiến dịch giảm thuế với hàng hóa „made in America“ và áp thuế lên các công ty Mỹ đã „tạo công ăn việc làm cho Trung Quốc và các quốc gia khác“.

Biện pháp áp thuế hoặc thực hiện các lệnh trừng phạt nhằm vào các công ty Mỹ có thể làm dấy lên sự phản đối từ nhiều doanh nghiệp địa phương vốn đang chật vật trong cuộc thương chiến 2 năm qua giữa Washington và Bắc Kinh cũng như chịu ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19.

Phòng Thương mại Mỹ, với 3 triệu thành viên bao gồm những nhà sản xuất lớn như Công ty Ford Motor và tập đoàn công nghệ IBM đã lên tiếng phản đối các biện pháp thuế quan mà chính quyền Tổng thống Trump áp lên Trung Quốc và các đối tác thương mại khác.

„Các loại thuế mới với nhôm, thép và hàng hóa Trung Quốc cũng như nguy cơ áp thuế bổ sung với các loại hàng hóa tự động, có nguy cơ gây ra một cuộc chiến tranh thương mại toàn cầu. Nói một cách đơn giản, các biện pháp thuế quan là thuế áp lên người tiêu dùng và doanh nghiệp Mỹ. Trừng phạt thuế quan là biện pháp sai lầm khi giải quyết các hành vi thương mại bất bình đẳng“, trang web của Phòng Thương mại Mỹ cho hay.

Tổng thống Trump cho biết hôm 7/9 rằng, những người nông dân „rất vui vẻ“ với ông nhờ các gói cứu trợ tài chính nông nghiệp bù đắp những tổn thất của họ khi Trung Quốc áp thuế với nông sản Mỹ nhằm đáp trả Washington.

Dù vậy, một cuộc nghiên cứu gần đây của các nhà kinh tế học tại Đại học bang Iowa cho thấy, khoảng 44% nhà sản xuất nông nghiệp ở Iowa vẫn chật vật để bù đắp các chi phí năm ngoái dù đã có các gói kích thích kinh tế của chính quyền liên bang.

Trong một cuộc họp báo bàn về tình hình kinh tế Mỹ, Tổng thống Trump đã chỉ trích Trung Quốc và khắc họa đối thủ của ông – ông Joe Biden không thể trở thành một nhà lãnh đạo đủ sức đối phó với Bắc Kinh.

„Nếu ông Biden chiến thắng thì Trung Quốc cũng sẽ chiến thắng, bởi Trung Quốc sẽ sở hữu đất nước này“, ông Trump nhận định.

Nhà lãnh đạo Mỹ cũng nhắc lại rằng, Trung Quốc đã xây dựng kinh tế và quân đội dựa trên tiền đánh cắp từ Mỹ qua mối quan hệ thương mại mất cân bằng.

Ông Trump khẳng định, chính quyền Mỹ đang đánh giá lại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đồng thời đe dọa sẽ rút khỏi tổ chức này nếu WTO không cải tổ.

Đặc biệt, Tổng thống Trump nhắc đến tình trạng của Trung Quốc trong WTO là một quốc gia đang phát triển, điều vốn giúp Bắc Kinh nhận được những ưu đãi nhất định, và nói rằng Mỹ cũng nên có danh xưng tương tự bởi tình trạng của một số „thành phố do đảng Dân chủ lãnh đạo“.

BDN

Loading

Views: 0

Quan hệ Đức-Nga: Thế khó xử của người Đức

Duy trì lợi ích trong hợp tác với Nga mà không làm tổn hại đến hình ảnh đầu tàu của Liên minh châu Âu (EU) sẽ là bài toán khó dành cho Thủ tướng Đức Angela Merkel vào thời điểm hiện nay.
Thủ tướng Đức Angela Merkel và Tổng thống Nga Vladimir Putin năm 2017. (Nguồn: New York Times)

Quan hệ Nga – Đức đã diễn biến phức tạp khi Berlin cho rằng Moscow có liên quan tới việc nhà lãnh đạo đối lập Nga, Alexei Nalvany, “bị nghi đầu độc” bằng chất độc thần kinh Novichok, tương tự như vụ cựu điệp viên Sergei Skripal và con gái tại London năm 2018.

Cuối tuần trước, Ngoại trưởng Đức Heiko Maas tuyên bố có nhiều “bằng chứng khó chối cãi” về sự can dự của Nga trong vụ việc và khẳng định: “Tôi hy vọng rằng người Nga không buộc chúng tôi phải thay đổi lập trường về đường ống dẫn khí Dòng chảy phương Bắc 2”.

Nga ngay lập tức đáp trả. Ngày 8/9, Bộ Ngoại giao Nga đã triệu Đại sứ Đức tại Moscow Geza Andreas von Geir để thảo luận về vụ ông Nalvany “bị nghi đầu độc”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova khẳng định: “Chúng tôi mong Berlin sẽ cung cấp tất cả dữ liệu họ có, bao gồm kết quả xét nghiệm do Viện Dược lý và Độc chất của quân đội Đức tiến hành, cũng như ‘bằng chứng’ mà Bộ Ngoại giao Đức sở hữu”. Đáng chú ý, bà Zakharova không ngại ngần khi cho rằng Berlin “đang dối trá nhằm phục vụ âm mưu chính trị đáng xấu hổ“.

Trong khi đó, Liên hợp quốc ngày 7/9 kêu gọi Nga hợp tác hoặc tiến hành cuộc điều tra “kỹ lưỡng, minh bạch, độc lập và khách quan” về nghi vấn ông Navalny bị đầu độc.Đáng chú là thái độ của Thủ tướng Đức Angela Merkel. Người phát ngôn Thủ tướng Đức cho biết: “Thủ tướng đồng ý với bình luận của Ngoại trưởng Đức cuối tuần trước”. Tuy nhiên, sau đó ít lâu, trong một cuộc thảo luận khác, Thủ tướng Merkel và Bộ trưởng Kinh tế Peter Altmaier lại tỏ ra thận trọng khi được hỏi về số phận Dòng chảy phương Bắc 2 hay một kế hoạch trừng phạt Nga.

Điều này là có thể hiểu được, khi vụ nhà lãnh đạo đối lập Nga Alexei Navalny bị đầu độc đang đẩy Đức vào thế khó trong cân bằng lợi ích.

Một bên là Dòng chảy phương Bắc 2. Hệ thống đường ống này đã hoàn thành tới 90% (2.300-2.460 km), dự kiến đi vào hoạt động năm 2021. Với công suất gấp đôi so với Dòng chảy phương Bắc 1, dự án năng lượng hợp tác chung với Moscow được cho là sẽ đáp ứng nhu cầu về khí đốt ngày một tăng của Berlin thời gian tới.

Đây cũng là lý do trước đó, bất chấp ý kiến từ các đồng minh EU và sự chỉ trích từ Mỹ về việc Đức đang phụ thuộc về năng lượng “vào đối tác bất ổn về chính trị”, Thủ tướng Angela Merkel vẫn không nao lòng. Thú vị thay, dự án Dòng chảy phương Bắc 2 nhận được nhiều sự ủng hộ trong nước, không chỉ vì khí đốt, mà còn bởi ông Donald Trump: Tổng thống Mỹ không được nhiều người Đức ưa thích và việc ông chỉ trích dự án này càng khiến họ ủng hộ nó hơn.

Tuy nhiên, bên còn lại là vị thế của Đức trong EU. Đức vẫn tiếp tục là đầu tàu về kinh tế ở châu Âu, nhưng quan hệ của nước này với Nga, bất chấp lệnh trừng phạt của Brussels với Moscow sau bất đồng về Crimea và Ukraine, đã ít nhiều gây tổn hại vị thế lãnh đạo của Berlin trong khối. Là quốc gia đi đầu trong EU, Đức cần thể hiện rõ lập trường của mình, làm gương cho phần còn lại.

Vừa phải đảm bảo lợi ích về an ninh năng lượng quốc gia, vừa bảo toàn vị thế dẫn dắt trong EU, chẳng trách tại sao người Đức lại phân vân tới vậy.

TH&VN

Loading

Views: 0

Đài Loan không sợ TQ

Lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn ngày 8.9 kêu gọi chống lại những “hành động hung hăng” và bảo vệ tự do, trong bối cảnh Trung Quốc gia tăng tập trận xung quanh vùng lãnh thổ này.

Phát biểu tại một diễn đàn ở Đài Bắc với sự tham dự của nhiều quan chức an ninh hàng đầu Đài Loan và nhà ngoại giao phương Tây, bà Thái nói rằng Đài Loan dẫn đầu trong việc bảo vệ nền dân chủ khỏi “sự hung hăng độc đoán”, theo Reuters.

Bà Thái còn nhấn mạnh tuy Đài Loan quyết tâm tăng cường các khả năng phòng thủ, việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực cần có những nỗ lực mang tính phối hợp.
Bà Thái cảnh báo tình trạng cấp tập quân sự hóa Biển Đông, gia tăng sử dụng chiến thuật vùng xám ở eo biển Đài Loan và biển Hoa Đông, dùng biện pháp ngoại giao mang tính ép buộc là những yếu tố gây bất ổn cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Từ đó, nữ lãnh đạo Đài Loan kêu gọi các nước và lãnh thổ có cùng quan điểm ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương thảo luận về một khuôn khổ tạo ra những nỗ lực vững chắc và bền vững “nhằm duy trì một trật tự chiến lược ngăn chặn những hành động hung hăng đơn phương”.
Bà Thái đưa ra lời kêu gọi trên sau khi Trung Quốc gia tăng hoạt động gây quan ngại ở Biển Đông, và tập trận, tuần tra xung quanh Đài Loan.
Hồi tháng trước, quân đội Trung Quốc tuyên bố đã tổ chức cuộc diễn tập nhắm vào Đài Loan. Đáp lại, Đài Bắc tuyên bố sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước những “hành động khiêu khích” từ Bắc Kinh.
BDN

Loading

Views: 0

Đức, Pháp và chiến lược Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương

Thế kỷ XXI, các lực lượng kinh tế và chính trị đang ngày càng chuyển dịch theo hướng về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Đức tuyên bố gia nhập Câu lạc bộ Ấn Độ-Thái Bình Dương

Nếu như ở Châu Âu, các quốc gia bình quân chỉ có vài chục triệu dân thì ở khu vực Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương có nhiều nước có diện tích lớn và số dân đông như Trung Quốc gần 1,4 tỉ người, Ấn Độ hơn 600 triệu người, Mỹ hơn 200 triệu người, 10 nước Asean có hơn 600 triệu người.

Khu vực này có 3 cường quốc kinh tế; Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai và Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới.

Nếu như thế giới có 33 siêu đô thị thì khu vực Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương đã chiếm tới 20/33 siêu đô thị.

Bước vào thế kỷ XXI, kinh tế các nước Châu Âu phát triển chững lại, khối EU có sự phân rã khi nước Anh muốn ra khỏi EU, các nước Đông Âu phát triển cầm chừng, kinh tế nước Pháp thì cũng chưa có gì sáng sủa. Châu Mỹ thì các nước Nam Mỹ cũng còn gặp nhiều khó khăn. Châu Phi về cơ bản vẫn giậm chân tại chỗ, một số nước được Trung Quốc đầu tư vào khai mỏ, giao thông nhưng lại rơi vào bẫy nợ.

Trong khi đó các nước khu vực Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước khu vực Thái Bình Dương lại phát triển không ngừng. Trung Quốc đã vươn lên là nền kinh tế thứ hai thế giới. Nhật Bản dù xuống là nền kinh tế thứ ba nhưng vẫn là cường quốc kinh tế. Hàn Quốc cũng đã là cường quốc kinh tế có tốc độ phát triển nhanh chóng. Các nước Asean cũng đang trỗi dậy mạnh mẽ.

Nếu như kinh tế là khu vực phát triển năng động nhất thế giới thì chính trị và quân sự lại là khu vực có những diễn biến phức tạp. Trung Quốc gia tăng tranh chấp chủ quyền ở Biển Hoa Đông, Biển Đông. Trung Quốc cũng tìm cách đặt các căn cứ ở khu vực Ấn Độ Dương. Vì thế con đường hàng hải quốc tế lớn nhất từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương bị đe dọa và an ninh khu vực chưa bao giờ bất an như hiện nay.

Dù vậy, xét tổng thể đây vẫn là khu vực thu hút sự quan tâm của cả thế giới. Thời kỳ Tổng thống Obama đã có chiến lược xoay trục về Thái Bình Dương, đến Tổng thống Trump thì Mỹ vạch ra chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Chiến lược của Mỹ lúc đầu chỉ có Ấn Độ và Australia hưởng ứng nhiệt tình. Nhưng rồi các nước Châu Âu bắt đầu nhận thấy lợi ích to lớn nếu tham gia chiến lược Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương.

Sau Pháp, vừa qua Đức là quốc gia Châu Âu thứ hai chính thức thông qua chiến lược vì Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương. Đồng thời chính phủ Đức cũng coi đây là một nền tảng cho một chiến lược của Liên minh Châu Âu (EU) trong tương lai. Đặc biệt trong chiến lược này Berlin chủ trương đẩy mạnh quan hệ với các nước Asean, Australia, Ấn Độ như việc ký kết thêm các thỏa thuận thương mại tự do (FTA).

Không chỉ coi trọng quan hệ kinh tế Đức, Pháp và các nước Châu Âu đang cùng với Mỹ, Nhật, Australia gia tăng việc đảm bảo an ninh cho khu vực này, trước hết là chống lại những hành động vi phạm luật pháp quốc tế về biển, đảo của Trung Quốc. Đây là điều đáng mừng cho các nước trong khu vực.

BDN

Loading

Views: 0

Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế

Ngoại trưởng Heiko Maas trả lời phỏng vấn của báo Bild am Sonntag 06.09.2020

Thực hiện phỏng vấn: Angelika Hellemann và Thomas Block

***

Ngài Bộ trưởng Ngoại giao, ông sẽ đến thăm Alexei Navalny tại Charité chứ?

Nếu sức khỏe của anh ấy cho phép, tôi cũng muốn đến thăm Navalny.

Ông có chắc rằng nhà nước Nga đứng sau vụ tấn công bằng chất độc?

Có nhiều dấu hiệu cho thấy điều này, đó là lý do tại sao phía Nga hiện đang được kêu gọi làm rõ. Chúng tôi đặt nhiều kỳ vọng vào chính phủ Nga sẽ làm sáng tỏ được hành vi tội ác nghiêm trọng này. Nếu họ không liên quan gì đến vụ mưu sát, thì họ hãy vì lợi ích của mình mà đưa ra những bằng chứng thật.

Ông có những bằng chứng gì?

Vũ khí hóa học chết người được sử dụng để đầu độc Navalny trong quá khứ thuộc quyền sở hữu của chính quyền Nga. Chỉ có một nhóm rất ít người có quyền tiếp xúc Novichok. Chất độc này đã được các cơ quan nhà nước sử dụng để tấn công cựu điệp viên Sergei Skripal. Nếu phía Nga không tham gia giải vụ mưu sát ông Navalny, thì đó sẽ là một dấu hiệu cho thấy có sự can dự của nhà nước. Nếu không vượt ra ngoài việc che đậy và tung hoả mù, chúng tôi buộc phải cho rằng Nga có điều gì đó muốn che giấu.

Nga tuyên bố rằng Navalny không bị đầu độc trên đất Nga.

Điều này quá phi lý nên tôi không bình luận gì thêm.

Ông muốn tìm ra nghi phạm chính. Vậy ông cho chính phủ Nga bao lâu?

Tối hậu thư sẽ không giúp thêm được ai. Nhưng: Nếu trong vài ngày tới phía Nga không có đóng góp nào để làm rõ, chúng tôi sẽ phải thảo luận với các đối tác của mình để có câu trả lời. Vụ mưu sát này sử dụng một loại vũ khí hoá học chết người đã bị quốc tế cấm. Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. Đó là lý do tại sao cộng đồng quốc tế phản ứng rộng rãi như vậy. Chúng tôi đã báo OPCW, tổ chức giám sát việc tuân thủ Thỏa thuận vũ khí hóa học.

Bây giờ liệu chính phủ Liên bang có dừng dự án đường ống Nordstream 2, trong đó được cho là nhiều khí đốt của Nga sẽ chảy thẳng sang Đức?

Tôi hy vọng là không, trong mọi trường hợp, tôi mong rằng người Nga sẽ không buộc chúng tôi phải thay đổi lập trường của mình về Nordstream 2. Và: Ai đòi hỏi điều này phải nhận thức được hậu quả là hơn 100 công ty từ 12 quốc gia châu Âu tham gia vào Nordstream 2, khoảng một nửa trong số đó đến từ Đức.

Việc phê chuẩn Nordstream 2 có phải là một sai lầm?

Trong mọi trường hợp, mưu sát ông Navalny không chỉ là một sai lầm nghiêm trọng, mà còn là một tội ác tàn bạo. Thu hẹp cuộc tranh biện vào Nordstream 2 bây giờ, trong trường hợp này là không công bằng.

Vậy Putin có thể làm những gì ông ấy muốn mà không cần sợ Đức hủy bỏ “tình hữu nghị khí đốt”?

Chúng tôi thống nhất với các đối tác của mình, phản ứng nào là phù hợp. Cuối cùng, nó sẽ phụ thuộc vào những câu trả lời mà Moscow cung cấp. Một điều rõ ràng rằng, khi chúng ta phải cân nhắc về các biện pháp trừng phạt, thì những biện pháp đó phải trúng đích.

Cái gì làm được điều đó? Sau vụ tấn công Skripal, chỉ có một số nhà ngoại giao Nga bị trục xuất khỏi châu Âu.

Chúng tôi sẽ điều phối việc này, đặc biệt là ở trong EU, ngay sau khi phía Nga trả lời các câu hỏi của chúng tôi. Tội ác nguy hiểm này là sự vi phạm nghiêm trọng hiệp ước vũ khí hóa học quốc tế, đến mức không thể không có phản ứng thực sự mạnh.

Alexej Navalny và vợ có thể ở lại Đức lâu dài không?

Chúng tôi tiếp nhận ông Navalny và vợ ông ấy về đây vì lý do nhân đạo và giúp đỡ y tế. Họ vẫn tiếp tục được mời làm khách của chúng tôi.

 

(Chỉ chuyển ngữ phần liên quan đến vụ đầu độc Navalny)

 

Lê Hoàng

 

Nguồn:

https://www.auswaertiges-amt.de/de/newsroom/maas-bams/2381480

 

Loading

Views: 0