Mỹ nâng Tariff – Lợi & Hại?

Từ thời Trump đến Biden, rồi quay lại Trump, xu hướng nâng thuế nhập khẩu, đặc biệt với Trung Quốc...
Read More
Mỹ nâng Tariff – Lợi & Hại?

Lộ diện máy bay “Quái vật biển Bột Hải” của TQ

Trung Quốc được cho là đang phát triển máy bay “Quái vật biển Bột Hải” có sự kết hợp các...
Read More
Lộ diện máy bay “Quái vật biển Bột Hải” của TQ

Tàu sân bay Mỹ cập cảng Philippines

Tàu sân bay USS George Washington của Mỹ đã cập cảng Manila, Philippines vào ngày 3/7. Hoạt động này diễn...
Read More
Tàu sân bay Mỹ cập cảng Philippines

TQ bác bỏ thông tin muốn xây căn cứ quân sự ở Nam Thái Bình Dương

Đại sứ quán Trung Quốc ở Fiji hôm 3.7 bác bỏ thông tin cho rằng Bắc Kinh muốn xây dựng...
Read More
TQ bác bỏ thông tin muốn xây căn cứ quân sự ở Nam Thái Bình Dương

TQ chế máy bay không người lại nhỏ như con…ruồi

Trung Quốc vừa khiến giới công nghệ quân sự thế giới bất ngờ khi công bố một loại máy bay...
Read More
TQ chế máy bay không người lại nhỏ như con…ruồi

Từ Thái Bình Dương nhìn về Biển Đông

Tân Hoa xã đưa tin: Hai nhóm tác chiến tàu sân bay – Liêu Ninh và Sơn Đông đã tiến...
Read More
Từ Thái Bình Dương nhìn về Biển Đông

‘Nhất thể hóa mặt trận’ Biển Đông và biển Hoa Đông để đối phó thách thức

Mỹ cùng một số đồng minh đang hướng đến việc ‘nhất thể’ Biển Đông và biển Hoa Đông thành một...
Read More
‘Nhất thể hóa mặt trận’ Biển Đông và biển Hoa Đông để đối phó thách thức

Bộ tứ gặp sóng gió khi các hành động và chính sách của Mỹ thay đổi

Các hành động và chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump đang khiến quan hệ giữa nước này với...
Read More
Bộ tứ gặp sóng gió khi các hành động và chính sách của Mỹ thay đổi

Hệ thống Patriot của Mỹ nhiều chưa từng có để chặn tên lửa Iran

Các kíp vận hành hệ thống phòng không Patriot của Mỹ chỉ có vài giây để khai hỏa khi một...
Read More
Hệ thống Patriot của Mỹ nhiều chưa từng có để chặn tên lửa Iran

Mỹ sẽ đối phó với TQ như thế nào?

Lục quân Mỹ đặt mục tiêu đóng vai trò then chốt trong việc răn đe Trung Quốc và ngăn chặn...
Read More
Mỹ sẽ đối phó với TQ như thế nào?

Autor-Archiv:East Sea

USA kritisieren „Mobbing“ Chinas

Wem welche Insel im Südchinesischen Meer gehört, darüber streiten sich die Anrainerstaaten. Die USA sprechen klare Worte an China aus.

 

 Die USA haben China aufgefordert, Störmanöver im Südchinesischen Meer gegen den Abbau von Öl- und Gasvorkommen durch Vietnam und andere Staaten einzustellen. Chinas Vorgehen gefährde die Sicherheit in der Region, erklärte eine Sprecherin des US-Außenministeriums.

Zuvor war ein chinesisches Bohrungsschiff in vietnamesische Gewässer eingedrungen, die von China beansprucht werden. „China sollte das Mobbing einstellen und von solchen provozierenden und destabilisierenden Aktivitäten absehen“, hieß es.

Das Südchinesische Meer liegt zwischen China, Vietnam, Malaysia und den Philippinen. Peking beansprucht 80 Prozent des rohstoffreichen Gebietes, durch das wichtige Schifffahrtsstraßen führen. Der Internationale Schiedsgerichtshof in Den Haag wies 2016 die Gebietsansprüche zurück. China ignoriert das Urteil aber.

Loading

Views: 0

Dự báo 4 bước phát triển của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung

Bước thứ nhất: Chiến tranh thương mại

Từ tháng 3/2018,  Tổng thống Mỹ D.Trump đã công bố kế hoạch áp thuế quan đối với hàng hóa đến từ Trung Quốc (TQ) vào Mỹ, lên đến 60 tỷ USD mỗi năm. Mục đích nhằm chống lại sự mất cân bằng thương mại giữa hai nước. Cho đến nay, Mỹ đã đánh thuế 10%, 25% cho hơn 6000 mặt hàng của TQ xuất khẩu vào Mỹ, với số tiền đánh thuế lên đến 250 tỷ USD. Đáp lại, TQ cũng đã đánh thuế 5.000 mặt hàng của Mỹ xuất khẩu vào TQ, với trị giá 110 tỷ USD. Như vậy, Mỹ đã đánh thuế gần 50% hàng hóa TQ xuất khẩu vào Mỹ. Còn TQ đã đánh thuế đến 85% số lượng hàng hóa Mỹ xuất khẩu vào TQ. Quả bóng đang ở sân phía TQ. Nếu TQ không tìm ra những giải pháp căn cơ, e rằng Mỹ sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh thương mại với TQ.

Bước thứ hai: Chiến tranh công nghệ

Để chứng tỏ sẽ giữ lời hứa khi ra tranh cử, đó là kiềm chế sự trỗi dậy của ngành công nghiệp TQ, việc làm đầu tiên của Tổng thống D.Trump là ra những đòn „tấn công phẫu thuật, thông qua việc tăng thuế đối với các mặt hàng được nhắm đến trong kế hoạch „Made in China 2025“. Danh sách thứ nhất gồm 818 mặt hàng, trị giá 34 tỷ USD nhập khẩu, phải chịu thêm một khoản phụ phí 25% kể từ ngày 6/7/2018. Danh sách thứ hai gồm 284 mặt hàng, với mức tăng thuế chưa được quyết định. Trong danh sách này, không có các mặt hàng tiêu dùng.

Đối với các mặt hàng công nghệ, mục tiêu của Mỹ còn đi xa hơn nhiều so với một biện pháp trừng phạt . Đó là hạn chế những bước tiến của TQ bằng cách ngăn chặn hoạt động chuyển giao công nghệ cho nước này. Thị trường TQ luôn là nơi được mơ ước vì mang lại nhiều lợi nhuận và Bắc Kinh cho phép doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận với yêu cầu phải nhượng lại công nghệ. Từ khi Tổng thống Trump lên nắm quyền, ông kiên quyết thực hiện chính sách chống lại việc TQ vi phạm, thâu tóm, mua bán bản quyền công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao của Mỹ. Vì vậy, hai năm qua, các doanh nghiệp Mỹ đã do dự hơn khi quyết định làm ăn với TQ. Còn phía doanh nghiệp TQ, họ đầu tư ra nước ngoài nhằm mục tiêu tiếp cận nguồn tài nguyên và công nghệ cao của thế giới, trong đó có Mỹ. Từ năm 2014-2016, các doanh nghiệp TQ đã đầu tư vào Mỹ nhiều hơn các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào TQ, kéo theo đó là việc TQ tiến hành các hoạt động gián điệp nhằm ăn cắp công nghệ cao. Vì vậy, Mỹ là nước đầu tiên ở phương Tây thực hiện cuộc tấn công mạnh mẽ vào kế hoạch „Made in China 2025“.

Bước thứ ba: chiến tranh trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính

Ngay trong tuyên ngôn tranh cử Tổng thống Mỹ (năm 2016), ông D.Trump đã đặc biệt phê phán chính sách „thao túng tiền tệ“ của Trung Quốc, ông nói „Trung Quốc đưa đến ba mối đe dọa lớn đối với Mỹ khi thao túng tiền tệ quá đáng…với mục đích đẩy mạnh xuất khẩu của họ và hủy hoại các ngành công nghiệp của Mỹ. Với việc thao túng đồng Nhân dân tệ và định giá thấp nó, Trung Quốc có thể bán hàng cho các nước khác với giá thấp hơn rất, rất nhiều so với một công ty Mỹ“. Vì vậy, „trọng trách của ông D.Trump là phải „chấm dứt trò thao túng tiền tệ “ của Trung Quốc.

Rất có thể Mỹ sẽ có cuộc chiến tranh về tỷ giá, tiền tệ, tài chính với Trung Quốc. Nếu điều đó xảy ra, kịch bản về một cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc đối với Trung Quốc là hoàn toàn có thể. Bởi vì hệ lụy của một cuộc chiến tranh về tiền tệ, tài chính sẽ rất lớn.

Bước thứ tư: Chiến tranh kinh tế toàn bộ

Sau khi tiến hành các cuộc chiến tranh thương mại, công nghệ, tỷ giá tiền tệ, Mỹ sẽ phát động cuộc chiến tranh thứ tư, tiến hành „chiến tranh tổng lực“ chống lại toàn bộ nền kinh tế của Trung Quốc qua hơn 40 năm tiến hành cải cách mở cửa, tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị của họ đều dựa vào Mỹ, nhưng với sự khôn khéo, Trung Quốc đã làm giàu „trên lưng“ nước Mỹ.

Hậu quả của một cuộc chiến tranh thương mại đã khiến nền kinh tế Trung Quốc nam 2018 bị sụt giảm nghiêm trọng. Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2018 thấp nhất gần 30 năm qua, chỉ đạt mức 6,6% GDP. Mức nợ công lên đến 28.000 tỷ USD. Đầu tư không hiệu quả, sản xuất dư thừa, hàng hóa tồn đọng, không tiêu thụ được. Các nhà đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc đã chuyển ra các nước láng giềng xung quanh Trung Quốc. Tình trạng thâm hụt ngân sách lớn, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Kinh tế Trung Quốc đang có dấu hiệu „hạ cánh cứng“. Dự báo năm 2019, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc còn tiếp tục bị suy giảm.

Sự suy giảm kinh tế do hệ lụy của cuộc chiến tranh kinh tế với Mỹ đã buộc Trung Quốc phải thay đổi mô hình tăng trưởng, chấp nhận tăng trưởng để „hạ cánh mềm“, tăng trưởng bền vững, chuyển từ đầu tư lớn, xuất khẩu nhiều sang giảm đầu tư, đẩy mạnh tiều dùng trong nước, phải thay đổi về chất… Đó là cách lựa chọn duy nhất của Trung Quốc trong giai đoạn mới hiện nay.

Bằng việc khởi động một cuộc chiến tranh kinh tế mang tên „làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại“, Tổng thống D.Trump đã phá vỡ cấu trúc của trật tự thế giới mà Mỹ đã xây dựng từ cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai, và thay thế bằng một trật tự mới, mà ở đó Mỹ, cũng giống như ước Anh thế kỷ XIX, sẽ không có đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn, mà chỉ có những lợi ích là trên hết. Và cuộc chiến tranh kinh tế Mỹ – trung liệu có kéo dài đến 20 năm như dự báo của ông Jack Ma, chủ tịch Tập đoàn Alibaba hay không? Điều đó có lẽ còn phải trông chờ vào sự „xuống thang“ của Trung Quốc, và những kế hoạch giáng trả tiếp theo của Mỹ. Mọi diễn biến vẫn ở thế hi vọng./.

Loading

Views: 0

Cạnh tranh chiến lược biển Mỹ – Trung: Xu thế và giải pháp

Loading

Views: 0

EU – ASEAN: Ferne Partner (Teil 2)

Die sogenannte „Asienkrise“, die der stürmischen wirtschaftlichen Entwicklung der gesamten Region einen herben Rückschlag versetzte, mobilisierten aber auch die Kräfte in der ASEAN, die auf eine Intensivierung der Zusammenarbeit und eine rechtliche Kodifizierung dieser Zusammenarbeit drängten. Jene Vorstellungen einer „ASEAN-Community“, die 1997 in der „ASEAN-Vision“ ihren ersten Ausdruck gefunden hatten, wurden schließlich 2007 in der ASEAN-Charta präzisiert und in klar definierte juristische Normen gefasst. Bereits fünf Jahre zuvor hatte man ein Drei Säulen Modell entworfen, das diese ASEAN-Community konstituieren sollte: eine „Political-Security Community“, eine „Economic Community“ und eine „Socio-Cultural Community“.

Die innere Konsolidierung der ASEAN bildete eine wichtige Voraussetzung für ihr internationales Auftreten, für ihre Rolle als internationaler Akteur. Schon in den siebziger Jahren hatte die ASEAN damit begonnen, mit externen Mächten Dialogpartnerschaften einzurichten. Angefangen mit Australien und Neuseeland 1974/75 folgten bis Mitte der 90ger Jahre insgesamt zehn solcher Dialogpartner, darunter die USA, Indien und die VR China. Den jährlichen Treffen der Außenminister der ASEAN folgt regelmäßig ein Treffen der Außenminister der ASEAN mit denen der Dialogpartner.

Darüber hinaus hat die ASEAN eine ganze Reihe von regionalen und internationalen Dialogforen eingerichtet, mit denen sie sich als Motor und Koordinator der ökonomischen wie sicherheitspolitischen Zusammenarbeit nicht nur in Südostasien sondern ganz Asien zu etablieren und zu profilieren versucht. Die erste dieser Plattformen war  1994 das „ASEAN Regional Forum“. Es folgten der ASEAN+3 Dialog (VR China, Japan, Südkorea), der „East Asia Summit“, das Treffen der ASEAN Verteidigungsminister mit den Verteidigungsministern ihrer wichtigsten Dialogpartner, „Regional Economic Partnership Programme“ zwischen der ASEAN und jenen Staaten, mit denen die ASEAN ein Freihandelsabkommen abgeschlossen hat.

Von zentraler Bedeutung sind hierbei die Beziehungen und Vereinbarungen, welche die ASEAN mit der VR China getroffen hat. Peking war der ASEAN ja lange Zeit eher misstrauisch gegenüber gestanden und darin eine Kraft gesehen, die seinen Interessen widersprach. Vielmehr entsprach es dem chinesischen Kalkül, die Beziehungen zu seinen Nachbarn im Süden auf bilateraler Ebene zu verbessern. 1991 besuchte der damalige Außenminister Chinas, Qian Qichen, zum ersten Mal ein Ministertreffen der ASEAN. Fünf Jahre später wurde die VR China offiziell Dialogpartner der ASEAN. Offensichtlich hatte die chinesische Regierung erkannt, dass es sich bei der ASEAN um eine Organisation mit eher weichen Strukturen handelte, die man durch Engagement im eigenen Sinne beeinflussen konnte,  während eine konfrontative Haltung zu einem gegenteiligen Effekt führen könnte. So gelang es, denn auch 2002 der VR China mit den ASEAN-Staaten eine gemeinsame „Declaration on Conduct of the parties in the South China Sea“ zu unterzeichnen, obgleich sich keinerlei Annäherung in der Frage der territorialen Streitigkeiten zwischen China und den anderen Anrainerstaaten der Südchinesischen See abgezeichnet hatte. Gleichzeitig wurde zwischen China und der ASEAN eine Freihandelszone vereinbart, die in der Folgezeit eine sehr viel größere Wirkung entfalten sollte, als die „Declaration on Conduct“.

Ungeachtet all der Unterschiede in der Entwicklung der EU und der ASEAN zeichnen sich doch in 90ger Jahren des vergangenen Jahrhunderts wie im ersten Jahrzehnt dieses Jahrhunderts einige vergleichbare Herausforderungen ab, die man mit vergleichbaren Strategien zu bewältigen versuchte. Beide Organisationen unternahmen erhebliche Anstrengungen, die Zusammenarbeit zu vertiefen, dafür verbindliche Normen festzulegen und entsprechende Strukturen aufzubauen. Neue Mitglieder, die noch in den 80ger Jahren in Konfrontation zu diesen Gemeinschaften gestanden hatten, wurden in die EU wie die ASEAN aufgenommen, die nun über eine wesentlich größerer Fläche und Bevölkerungszahl verfügten. Doch damit wuchsen natürlich auch die Herausforderungen, die eine intensivere Integration zwangsläufig mit sich brachte. Letztere war aber unbedingt nötig, wenn man die Rolle eines eigenständigen Akteurs auf internationaler Ebene spielen wollte, der eine gemeinsame Außen- und Sicherheitspolitik durchzusetzen versuchte.

Die Parallelität der Herausforderungen, vor denen sich die EU wie die ASEAN gestellt sahen, schuf ein gutes Klima für eine engere Zusammenarbeit zwischen diesen beiden Regionalorganisationen. Stand das gesamte Handelsvolumen zwischen der EU und ASEAN 1990 bei 56,5 Milliarden US$, so steigerte sich dieses Volumen innerhalb von acht Jahren um mehr als das Vierfache. 2018 lag es bei 243,6 Milliarden US$. Die EU wurde somit nach der VR China der zweitgrößte Handelspartner der ASEAN. Umgekehrt war die ASEAN der drittgrößte Handelspartner der EU nach den USA und China, wobei zu berücksichtigen ist, dass viele Importgüter aus der VR China Teile enthalten, die in Südostasien gefertigt wurden. Darüber hinaus wurde die EU zum größten Investor in der ASEAN, deren Investitionen weit über denen der VR China und anderen wichtigen Handelspartnern der ASEAN lagen.

Im nichtkommerziellen Bereich wurden die Länder Südostasiens zu einem sehr erfolgreichen Partner der europäischen Entwicklungszusammenarbeit, die in anderen Teilen der Welt weniger spektakuläre Ergebnisse vorzuweisen hatte und hat. Dass einige Länder Südostasiens den Sprung vom Entwicklungsland zum Schwellenland geschafft haben, ist nicht zuletzt auf diese erfolgreiche Zusammenarbeit zurückzuführen. Denn diese Entwicklungszusammen-arbeit war ja nicht auf die klassischen Projektfelder begrenzt, sondern sie erstreckte sich auch auf wissenschaftlichen und kulturellen Austausch angefangen universitären Austauschprogrammen bis hin zum Tourismus.

Im Bereich der Sicherheitspolitik bzw. der sicherheitspolitischen Zusammenarbeit wurde jedoch nicht das Niveau erreicht, das man auf wirtschaftlicher, politischer und gesellschaftlicher Ebene hatte erreichen können. Dass eine solche Zusammenarbeit im elementaren Interesse der EU liegt, zeigt ein Blick auf die südchinesische See. Der wirtschaftliche Erfolg der EU beruht zu einem großen Teil auf ihrer als eine der weltweit größten Handelsmächte. 90% des weltweiten Handels werden über internationale Schifffahrtsrouten abgewickelt. 30% dieser Routen führen durch die südchinesische See. Jede Gefährdung dieser Schifffahrtslinien stellt daher eine ernste Gefährdung für den Handel zwischen der EU und ihren Partnern in Ost- und Südostasien aber auch für die europäischen Investitionen in dieser Region dar. Eine Eskalation der Konflikte in der südchinesischen See stellt darüber hinaus jene fundamentale Prinzip in Frage, das die EU weltweit propagiert und das auch in der ASEAN-Charta aufgenommen wurde: eine auf rechtlichen wie demokratischen Prinzipien basierende regionale Zusammenarbeit.

Angesichts dieser eindeutigen Interessenlage ist es verwunderlich, dass die EU und die ASEAN erst 2007 in einer gemeinsamen Erklärung sicherheitspolitische Herausforderungen thematisierten und vereinbarten, sich in sicherheitspolitischen Fragen gegenseitig zu konsultieren und zu kooperieren. Darüber hinaus wurde in der Erklärung ausdrücklich die „ASEAN Vision 2020“ begrüßt, in der weitere Integrationsschritte in den Bereichen Sicherheit, Wirtschaft, Kultur und Gesellschaft aufgezeigt wurden. Doch diesen Erklärungen folgten keine weiteren Schritte. Im November 2011 forderte Wolfgang Ischinger, schon damals Leiter der Münchener Sicherheitskonferenz, dass die EU mehr Präsenz im asiatischen Raum zeigen müsse.

Im darauf folgenden Jahr zeigte denn auch die EU ein deutlich größeres Engagement als in der Vergangenheit. Die damalige Außenbeauftragte der EU Catherine Ashton sprach von ihrem „Asian Semester“. Im April 2012 besuchte sie den ASEAN-EU Gipfel in Brunei, im Juli nahm sie am „ASEAN Regional Forum“ teil und unterzeichnet dort den 1967 von der ASEAN verabschiedeten Grundlagenvertrag.  Obgleich die EU bereits 1994 dem „ASEAN Regional Forum“ beigetreten war, hatte noch nie ein solch hochrangige VertreterIn der EU an dem Treffen des Forums teilgenommen, stattdessen hatte man sich auf eine Beobachterrolle zurückgezogen. Darüber hinaus wurden 2012 zwei Dokumente unterzeichnet und ratifiziert, die Richtlinien und Felder der zukünftigen Zusammenarbeit zwischen der EU und ASEAN aufzeigten: der „Bandar Seri Begawan Plan of Action to Strengthen the ASEAN-EU Enhanced Partnership (2013 -2017)“ und „Guidelines on the EU’s Foreign and Security Policy in East Asia“.

Im Unterschied zu der gemeinsamen Erklärung aus dem Jahr 2007 wurde hier auf die Konflikte in der südchinesischen See  in einem eigenen Kapitel eingegangen. Explizit benennen die „Guidelines“ auf die Gefahr eines militanten Nationalismus, der zu einer gefährlichen Eskalation der vorhandenen Konflikte führen könnte ungeachtet der wachsenden ökonomischen Interdependenz zwischen den Ländern der Region. Die EU unterstütze daher mit großem Nachdruck alle Bemühungen um eine regionale Integration und das Entstehen einer effektiven, regelbasierten und multilateralen Sicherheitsarchitektur.

Was ist daraus geworden?

Wenn wir aus der Distanz von etlichen Jahren auf jene Aktivitäten und Erklärungen zu Beginn dieses Jahrzehnts blicken, so lässt sich folgende Bilanz ziehen. Die wirtschaftlichen Beziehungen zwischen der EU und der ASEAN sind weiter gewachsen. In dem Maße, in dem die wirtschaftlichen Beziehungen zu der VR China in Europa kritischer gesehen werden, eröffnen sich für den Handel und die Investitionen der EU in Südostasien neue Möglichkeiten und Räume. Ebenso haben sich die Beziehungen in den Bereichen Kultur und Bildung weiter verstetigt, auch wenn diese von Land zu Land recht unterschiedlich verlaufen sind. Dies können Sie sicherlich im Einzelnen sehr viel besser und differenzierter beurteilen als ich. Ein weltweites Anwachsen der Tourismusströme haben natürlich auch zu einem Anwachsen der Tourismusströme zwischen Europa und Asien geführt; wobei zum ersten Mal auch signifikantes Anwachsen der Tourismuszahlen von Südostasien nach Europa zu verzeichnen ist.

Die stärksten Defizite taten sich hingegen in den Bereichen politischer oder sicherheitspolitischer Zusammenarbeit auf. Spitzenpolitiker der EU sind zu wenig in Südostasien präsent. Das „Asian Semester“ von Catherine Ashton war offensichtlich kurz und erfuhr keine Verlängerung. In den letzten Jahren haben Europas Erfahrungen und Vorstellungen von regionaler Integration und Sicherheitsarchitektur in Südostasien allenfalls rhetorische Anerkennung gefunden.  Das vor geraumer Zeit vom damaligen belgischen Ministerpräsidenten Mark Eyskens ebenso selbstkritische wie zutreffende Urteil: „Die EU ist ein wirtschaftlicher Riese, ein politischer Zwerg und ein militärischer Wurm“ scheint sich in Südostasien erneut zu bewahrheiten.

Was sind die Ursachen hierfür?

Was sind die Ursachen dafür, dass der politische wie der sicherheitspolitische Dialog zwischen der EU und der ASEAN ins Stocken geraten ja fast zum Erliegen gekommen ist . Ich spreche hier nicht nur vom Austausch auf höchster Ebene, den Treffen von Spitzenpolitikern sondern von einer breiten politischen Debatte in den Medien und in einer Öffentlichkeit, die man gemeinhin als track two beschreibt.

Das liegt zunächst an dem Bild, das die EU in den vergangenen Jahren nach außen ausgestrahlt hat. Lange Zeit galt der Satz des ehemaligen ASEAN-Generalsekretärs Surin Pitsuwan: „Die EU sind für uns keine Modell, aber eine Inspiration“. Solche Sätze sind seit einiger Zeit nicht mehr zu hören. Die Ursachen hierfür sind Ihnen allen vertraut. Schuldenkrise, Migration, Brexit, Anwachsen rechtspopulistischer Strömungen, die in einigen Mitgliedsländern die Regierung stellen und Konzepte wie die „illiberale Demokratie“ propagieren, die grundlegenden Werten der EU diametral widersprechen.

Der wichtigste Partner der EU die USA stellen nicht nur gemeinsame Werte in Frage sondern versuchen sich wirtschaftliche Konkurrenten zu profilieren, die sich von wirtschaftlicher Abschottung größeren Wohlstand versprechen als von wirtschaftlicher Kooperation und sich von Konfrontation ein höheres Maß an Sicherheit versprechen als von Kooperation und mühsam ausgehandelten Kompromisslösungen. Die VR China ist zwar an der EU als gemeinsamer Markt und als starker wirtschaftlicher Akteur interessiert, versucht aber nach Kräften, die Risse in der EU zum eigenen Vorteil zu nutzen, das Abstimmungsverhalten einiger EU-Mitglieder im Sinn der chinesischen Politik zu beeinflussen und sie in politische Formate einzubinden wie z. B. 16 +1 oder die Belt and Road Initiative.

Die inneren Konflikte der EU und die Kräfte von außen, die auf die EU einwirken und jene disruptiven Tendenzen weiter verstärken, verhindern im zunehmenden Maße, dass die EU als unabhängiger Akteur auf der internationalen Bühne auftreten kann oder gar ernstgenommen wird. Die Konflikte in Syrien wie auch die Versuche ihrer Beilegung belegen dies allzu deutlich. Einer der größten Erfolge der Diplomatie der EU, das Uran-Abkommen mit dem Iran, wurde mit der Aufkündigung dieses Abkommen durch die USA, praktisch zunichte gemacht. All das untergräbt natürlich auch das Ansehen und die Autorität der EU in Südostasien und andern Teilen Ostasiens. Denn ein Akteur, der Konflikten in seiner unmittelbaren und mittelbaren Nachbarschaft mehr oder weniger hilflos gegenübersteht, wird natürlich kaum in der Lage sein, Entwicklungen in geographisch weit entfernten Gebieten in seinem Sinne zu beeinflussen.

Leider ergibt sich auf Seiten der ASEAN ein vergleichbares Bild. Der Unterschied liegt vielleicht darin, dass bei der EU Rückschritte in der Kooperation zu verzeichnen sind, während bei der ASEAN eher mangelnde Fortschritte bei der Verwirklichung des Beginn dieses Jahrhunderts in Angriff genommenen Drei-Säulenmodells einer „Political Security Community“, einer „Economic Community“ und einer „Social Cultural Community“ zu konstatieren sind. Obgleich von diesen drei Säulen die „Political Security Community“ an erster Stelle genannt wird, sind gerade in diesem Bereich die geringsten Fortschritte festzustellen.

In der südchinesischen See sind die ASEAN-Staaten mit einer Politik der VR China konfrontiert, die durch den Ausbau ihrer Marine- und Luftstreitkräfte sowie durch die Aufschüttung künstlicher Inseln und deren Bestückung mit modernen Raketensystemen und leistungsfähigen Überwachungssystemen ihre militärische Position konsequent ausgebaut hat. Gleichzeitig gelang es der VR China, durch ökonomische Anreize manchmal auch durch Sanktionen uneingeschränkte Unterstützung bei einigen Regierungen der ASEAN wie z.B. Kambodscha zu erzielen andere von einer Chinakritischen Haltung abzuhalten. Kein ASEAN-Staat hat es daher gewagt, Chinas manifeste Aufrüstung in der südchinesischen See zu thematisieren oder gar offen zu kritisieren. Die Verhandlungen über einen Code of Conduct hatten 2002 zur Unterzeichnung einer „Declaration on Conduct of the Parties in the Southchina Sea“ geführt, doch seitdem sind zwar unzählige Erklärungen verabschiedet und Gesprächsrunden unterschiedlichen Formats abgehalten worden, aber keine Vereinbarung über einen gemeinsamen „Code of Conduct“ getroffen worden. Chinas Aufrüstung hat vielmehr auch in den ASEAN-Staaten einen manifesten Aufrüstungsprozess ausgelöst, der aber zwischen den einzelnen ASEAN-Staaten nicht abgestimmt ist und teils von einer sehr schrillen nationalistischen Rhetorik begleitet ist. Wir müssen daher auch in Südostasien eine Entwicklung konstatieren, die oft als „Asian Paradox“ bezeichnet wird. Nämlich auf der einen Seite eine zunehmende ökonomische Verflechtung, nicht nur Handels- und Warenströme sondern auch Fertigungsketten umspannen die die ganze Region die VR China eingeschlossen und schaffen ökonomische Abhängigkeiten, die die Volkswirtschaften der einzelnen Länder fest aneinander binden. Auf der anderen Seite fehlt jedoch eine sicherheitspolitische Architektur, die diesen ökonomischen Beziehungen einen verlässlichen Rahmen bietet. Der Versuch einiger ASEAN-Staaten, die militärische Präsenz der USA, Japans, vielleicht auch Indiens oder sogar Russlands zu nutzen, um in Südostasien ein militärisches Gleichgewicht herzustellen, klingt plausibel, ist aber mit großen Risiken behaftet. Da die EU über keine eigenen militärischen Kapazitäten verfügt, um fern der eigenen Grenzen operieren zu können, wird sie in solchen militärstrategischen Überlegungen und Modellen keine Rolle spielen können.

Es zählt zu den elementaren Erkenntnissen Europas, die aus bitteren Erfahrungen zweier Weltkriege gewonnen wurde, dass die Ziehung von Grenzen, die Räume der Souveränität über Territorium, Menschen und natürliche Ressourcen Zentimeter genau definieren, sich bei der Beilegung von Konflikten als wenig hilfreich erwiesen haben. Ein auf Völkerrecht und verbindlichen Regeln basiertes System regionaler und internationaler Kooperation hat – ungeachtet aller Defizite – sehr viel größere Stabilität erzielen können. In dem Maße, in dem auf militärische Macht zur Durchsetzung politischer Ziele gesetzt wird und multilaterale Vereinbarungen durch bilaterale Deals ersetzt werden, die sich an einem kurzfristigen und kurzsichtigen Kosten-Nutzen-Denken orientieren, finden dagegen jene europäischen Normen und Aushandlungsverfahren immer weniger Resonanz und Akzeptanz in Südostasien wie in anderen Teilen der Welt.

Die von mir skizzierte Bilanz der Beziehungen zwischen Europa und Südostasien zwischen der EU und der ASEAN gibt wenig Anlass zu Optimismus. Die Zeiten, in denen sich die EU und die ASEAN als erfolgreichste Regionalorganisationen auf internationaler Ebene profilieren konnten, scheinen in weite Ferne gerückt zu sein. Stattdessen breitet sich Skeptizismus und Ernüchterung aus. Letztere kann ja durchaus einen sehr heilsamen Effekt haben, im Sinne des schönen Zitats von Bert Brecht: „Denken ist was auf Schwierigkeiten folgt und dem das Handeln vorausgeht.“ Kurzum Krisen bieten die Chance, das Handeln nochmal zu überdenken und zu reflektieren.

Ein erster Schritt sollte hierbei eine kritische Einschätzung des eigenen Kräftepotenzials und Handlungsspielraums sein. In der Vergangenheit wurde dieser oft überschätzt. Der „Bandar Seri Begawan Plan of Action to Strengthen the ASEAN-EU Enhanced Partnership (2013 -2017)“ von 2012 entwirft z. B. ein so breites Tableau von Kooperationsfeldern, dass man sich eher an den Weihnachtswunschzettel eines sehr unbescheidenen Kindes erinnert fühlt als an einen klug durchdachten Handlungsrahmen, der in einem überschaubaren Zeitrahmen umgesetzt werden kann. Es ist daher wenig verwunderlich, dass man 2018 auf eine Evaluation dieses Plans und seiner Ergebnisse verzichtete.

Eine solche Überschätzung der eigenen Fähigkeiten und Möglichkeiten folgt in aller Regel Enttäuschung und eine depressive Unterschätzung der eigenen Möglichkeiten. Aus solch einer Handlungsunfähigkeit wird man nur herauskommen, wenn man zunächst das eigene Potenzial realistisch einschätzt und entsprechende Schwerpunkte setzt. Es müssen klar umrissene Handlungsfelder definiert und Partner identifiziert werden, die für dieses Projekt am geeignetsten sind. Letzteres erscheint selbstverständlich, aber häufig wird die Wahl der Counterparts von Überlegungen bestimmt, von denen man sich eine schnelle Vereinbarung des Projekts verspricht.

Die EU unterhält in Südostasien eine Reihe gut ausgestatteter diplomatischer Vertretungen, die – nach meinem Dafürhalten – zu geringe Präsenz zeigen. Stärker als in der Vergangenheit sollten sie sich damit befassen, konkrete Kooperationsprojekte zu entwickeln, der erstes Kriterium eben nicht sein sollte, dass „sie hoch angesiedelt sind“, sondern dass sie Wirkung zeigen.

In Zeiten, in denen die Beziehungen auf hoher politischer Ebene ins Stocken geraten sind und sich nicht in dem Maße und in der Richtung entwickeln, wie man das noch vor einigen Jahren gehofft hatte, kommt den Beziehungen auf anderen, politisch weniger prominenten Ebenen eine besondere Bedeutung zu. Die EU muss Softpower entwickeln und soziale Gruppen ansprechen, von denen man sich erhoffen kann, dass sie die öffentliche Meinung und die Politik prägen werden. Der Zusammenarbeit im Bereich von Bildung und Ausbildung kommt hier eine besondere Verantwortung zu und es müssen auch die notwendigen Mittel bereitgestellt werden, um diesen hohen Erwartungen nachkommen zu können.

Diese Politik braucht einen langen Atem und ein Engagement, das sich an den grundlegenden Erfahrungen Europas orientiert. Das mag mitunter nicht so attraktiv sein, wie jene Politik, die sich alleine an den eigenen Interessen orientiert, die zur Verfügung stehenden Machtmittel rigoros einsetzt und ein allenfalls selektives Verständnis völkerrechtlicher Normen hat. Natürlich lassen sich mit solch einem Vorgehen überraschend große Handlungsspielräume eröffnen, die Frage ist, ob sie auf Dauer Stabilität schaffen und Konflikte erfolgreich beilegen können. Wer die europäische Geschichte kennt, kennt eine Reihe solcher Versuche, allein militärische Macht zur Durchsetzung seiner Ziele einzusetzen und alle Normen internationalen Rechts auszusetzen. Man ist sich daher auch der hohen Kosten ihres Scheiterns bewusst./.

Dr Gerhard Will

Loading

Views: 0

EU – ASEAN: Ferne Partner (Teil 1)

Zwar hatte es nachweisbar schon seit den Zeiten des römischen Kaiserreiches Handelsbeziehungen zwischen Europa und Ost bzw. Südostasien gegeben, aber diese Beziehungen gingen über viele Stationen und unterschiedliche Zwischenhändler arabischen, persischen und natürlich auch malaysischen Ursprungs; Kulturen, die auf Handel und Austausch angelegt waren und davon auch materiell profitierten. Die wirtschaftliche Stärke dieser Händler beruhte auf einem weitverzweigten Netz von Handelspartnern, denen man aufgrund langjähriger Geschäftsbeziehungen vertrauen konnte, auf einem über die Jahrzehnte gewachsenen Erfahrungs- und Informationsschatz, wo man was zu günstigen Preisen und guter Qualität kaufen konnte, welche sicheren Häfen man anlaufen konnte und nicht zuletzt wen man bestechen musste und konnte, um die erforderlichen Transaktionen durchführen zu können. Die Anwendung brachialer oder gar militärischer Gewalt gehörte nicht zum Kalkül dieser Kaufleute, vielmehr hing der Erfolg ihrer Operationen in hohem Maß davon ab, ob es ihnen gelang, staatlicher Gewalt auszuweichen, sie zu umgehen oder sich deren Zustimmung durch materielle Leistungen aller Art zu erkaufen.

Die europäischen Kaufleute, die in den ersten Jahrzehnten des 16. Jahrhunderts nach Südostasien vordrangen, konnten sich ganz anderer Machtressourcen bedienen. Gestützt auf die militärische Überlegenheit, die jene mit Kanonen bestückten Schiffe boten, ließen sich ihre Handelsinteressen auch mit nichtökonomischen Mitteln im Klartext mit militärischer Gewalt durchsetzen. Auch die europäischen Missionare, die die ersten kulturellen Kontakte zwischen Europa und Südostasien herstellten und sich meist sehr viel intensiver mit den Kulturen und den sozialen Gegebenheiten Südostasiens befassten als die wirtschaftlichen und militärischen Akteure Europas, hatten auch letztlich die christliche Mission diesen Schutz militärischer Gewalt im Rücken, auch wenn dieser in etlichen Fällen die Ermordung europäischer Missionare nicht zu verhindern vermochte.

Mehr als zwei Jahrhunderte lang konzentrierten sich die europäischen Mächte auf die Errichtung einzelner Stützpunkte in Südosten, um dort ihren ökonomischen wie wirtschaftlichen Einflussbereich abzusichern und auszuweiten. Erst Ende des 18. Jahrhunderts begannen sie damit, die direkte Herrschaft über immer größere Gebiete Südostasiens auszuüben und dort Kolonien zur errichten. Diese direkte Herrschaft des Kolonialismus erlaubte es den europäischen Kolonialmächten, nicht nur höchst profitable Handelsgeschäfte zu betreiben, sondern die landwirtschaftlichen Ressourcen dieser Länder durch großflächig organisierten Plantagenanbau auszubeuten und die mineralischen Ressourcen in eigenen Bergwerken abzubauen.

Der europäische Kolonialismus besser gesagt die europäischen Kolonialmächte Spanien, die Niederlande, England und schließlich auch Frankreich hatten Südostasien unter sich aufgeteilt und alles daran gesetzt die Wirtschaft dieser Länder an den wirtschaftlichen Bedürfnissen der Mutterländer auszurichten. Zwar gelang es den Kolonialmächten nur unvollkommen die wirtschaftlichen Beziehungen jenes wirtschaftliche Beziehungsgeflecht zu zerschneiden, das sich dort über die Jahrhunderte etabliert hatte, aber auf politischer Ebene waren die verschiedenen Kolonialgebiete strikt voneinander abgeschottet. Selbst die Zusammenarbeit auf dem Gebiet der Geheimpolizei, der Austausch entsprechender Informationen war eher zufällig als systematisch. Für diejenigen, die sich gegen den Kolonialismus erhoben, hatte dies auch Vorteile. So fand der Gründungskongress der KP Vietnams 1930 in der britischen Kolonie Hongkong statt, weil man sich da vor dem Zugriff der französischen Sûreté geschützt wusste.

Langfristig sehr viel prägender und wichtiger war jedoch die rechtliche Vorstellung von Grenzen und Grenzlinien, von territorialer Integrität, die die Kolonialmächte mit nach Südostasien brachten und damit eine Tradition begründeten, die sich bis zum heutigen Tage auswirkt. Das beginnt mit dem Vertrag von Zaragossa (1529), der nach dem Vorbild des Vertrags von Tordesilla (1494) eine klare Aufteilung der spanischen und portugiesischen Interessensphären in Südostasien vornahm und findet seine Fortsetzung in zahllosen Verträgen, in denen die Kolonialmächte die Grenzen ihrer Herrschaftsgebiete klar in Längen- und Breitengraden definierten. Dies bestärkte die Vorstellung, dass sich Konflikte durch eine klar definierte Grenzziehung regeln lassen; ein Konzept, das nur bedingt tauglich ist, wie die Konflikte in der südchinesischen See allzu anschaulich belegen.

Angesichts einer Sicht, die der Zerstörung alter Kulturen und Wirtschaftssysteme und der mit massiver Gewalt durchgesetzten neuen Strukturen keineswegs zu Unrecht breiten Raum einräumt, sollte andere oft gegensätzliche Aspekte der kolonialen Herrschaft nicht außer Acht gelassen werden.  Seit Jahren wird  in intellektuellen Kreisen Südostasiens sehr angeregt darüber diskutiert, inwieweit einzelne Akteure der Kolonialen Herrschaft, wichtige Beiträge zur Erforschung der eigenen Geschichte, die in einigen Ländern sehr stark in Vergessenheit geraten war, geleistet haben, indem sie alte Schriftsysteme entziffert, neue Schriftsysteme entwickelt und Bauten wieder entdeckten, die bereits wieder in Vergessenheit geraten waren. Fortschritte in der Tropenmedizin und Gesundheitsfürsorge, die Umsetzung grundlegender Infrastrukturmaßnahmen wie der Bau von Straßen und Eisenbahnlinien zielten natürlich auf die Interessen der Kolonialherrschaft ab, sie hinterließen ein Erbe, das auch für die postkolonialen Zeiten von Nutzen war und dessen heutzutage auch öffentlich gedacht wird; man denke nur an die vielfältige Nennung des Namens Pasteur.

So signifikant die eben genannten Punkte in einigen Bereichen gewesen sein mögen, entscheidender für die weitere politische Entwicklung der europäischen Kolonialgebiete waren politische Konzepte, die in Europa ihren Ursprung hatten, aber wesentlich dazu beitrugen, die europäische Kolonialherrschaft in Übersee zu erschüttern und schließlich zum Einsturz zu bringen.

Seit dem Ende des 19. Jahrhunderts spielte hier der Nationalismus eine entscheidende Rolle. Die Idee des souveränen Nationalstaats, dessen Bürger mit gleichen Rechten ausgestattet sind und daher einen homogenen Volkskörper bilden, der die Basis Staatsgewalt darstellt, verfügte auch in Europa über keine allzu lange Tradition. Umso erstaunlicher war der rasante Erfolg, den diese seit der Mitte des 19. Jahrhunderts in Europa hatte und der dazu führte, dass sich die politische Landkarte in Europa in wenigen Jahrzehnten grundlegend veränderte.

Noch unerwarteter und daher spektakulärer war Erfolg des Nationalismus in den Kolonialgebieten. Nachdem erste Versuche der traditionellen Eliten, das überkommene Herrschaftssystem zu restaurieren und die Kolonialmächte zu vertreiben, kläglich gescheitert waren, gewann jene europäische Idee des Nationalismus in den Kolonien mehr und mehr an Attraktivität. Denn diese Ideologie richtete sich eben nicht nur an die Eliten sondern an alle Einwohner des Landes. Sie verlieh ihnen neues Selbstbewusstsein und appellierte an ihren Stolz, ein Bürger dieses Landes zu sein und ihren Willen, sich nicht länger einer Herrschaft von Leuten zu beugen, die aus fernen Ländern stammten und nur daran interessiert waren, die Ressourcen ihrer Kolonien rücksichtslos auszubeuten; eine Erfahrung, die auch die Masse der Bevölkerung jeden Tag sehr schmerzhaft erleben musste. Der Kampf gegen den Kolonialismus war damit auf eine ungleich größere Massenbasis gestellt als in jenen Konzeptionen, für die Politik allein eine Aufgabe der Eliten war, während die breite Masse der Bevölkerung Herrschaftsverhältnisse einfach hinzunehmen hatte, von deren Gestaltung sie aber ausgeschlossen war.

Mobilisierung der Massen ließ sich aber nur dann erfolgreich in Szene setzen, wenn jener Appell an das politische Bewusstsein durch eine System der politischen Organisation ergänzt und unterstützt wurde, das aus die politisch Mobilisierten zu einem durchsetzungsfähigen  schlagkräftigen Akteur formte. Auch hier kam eine Konzeption zu Hilfe, die in Europa ihre Wurzeln hatte und allgemein mit dem Begriff des Kommunismus verbunden wird. Was jedoch in den Kolonien Südostasiens interessiert und faszinierte waren nicht so sehr die Schriften von Karl Marx und Friedrich Engels über das Wesen und Wirken des hochentwickelten Kapitalismus, sondern die  Schriften Lenins, dessen Denken im hohen Maße von europäischen Philosophen und Politikern geprägt. Es sind vor allem zwei Punkte, die Lenins Theorien so attraktiv machten: Zum einen räumte Lenin der Revolution in den Kolonien, der Peripherie des Kapitalismus, einen ebenso hohen Stellenwert ein wie der Revolution in den Metropolen des Kapitalismus. Die Kämpfer gegen den Kolonialismus standen somit auf einer Stufe mit den proletarischen Revolutionären in den Metropolen und hatten somit gleichberechtigten Anteil am weltrevolutionären Prozess. Ho Chi Minh berichtet darüber wie von einem religiösen Erweckungserlebnis:

„Lenins Thesen zur nationalen und kolonialen Frage“ erweckten bei mir ein Hochgefühl, eine große Begeisterung, einen starken Glauben und halfen mir, die Probleme klar zu sehen. Meine Freude war so groß, dass mir darüber die Tränen kamen. Allein in meinem Zimmer, rief ich aus, als stünde ich vor einer großen Menge: Liebe unterdrückte und unglückliche Landleute! Hier ist das, was wir brauchen, hier ist der Weg zu unserer Befreiung.“ (S. 273)

Die Attraktivität der Leninschen Thesen beruhte jedoch nicht nur auf dem hohen Stellenwert, den er dem Kampf der unterdrückten Völker in den Kolonien beimaß, sondern auch auf seinen Anleitungen zum praktischen Handeln. Sein Verständnis von einer Partei neuen Typs, von Berufsrevolutionären, als Motor des revolutionären Prozesses und nicht zuletzt die von der Notwendigkeit der engen Verbindung zwischen politischen und bewaffneten Kampf prägte das Denken und Handeln vieler antikolonialer Gruppierungen und verhalf ihnen auch, sich an die Spitze des antikolonialen Kampfes zu setzen.

Der Erfolg dieses Kampfes, der zur nationalen Unabhängigkeit der Länder Südostasiens führte, war letztlich eng mit dem 2. Weltkrieg verbunden, der die Kräfte der Kolonialmächte erheblich geschwächt und die der Kämpfer gegen den Kolonialismus und deren Militanz gestärkt hatte; nicht zuletzt auch dadurch, dass sie in den Besitz von Waffen der Alliierten wie der Japaner gelangten. Entwicklungen auf dem europäischen Kontinent hatten somit auch in dieser Phase maßgeblich die Gestaltung der politischen Landkarte Südostasiens bestimmt. 1949 beendeten die Niederland ihre Kolonialherrschaft in Indonesien. Fünf Jahre nach der Niederlage in Dien Bien Phu sah sich Frankreich gezwungen, seine Truppen aus Indochina abzuziehen und auf der Genfer Konferenz einer Friedensregelung zuzustimmen. Großbritannien entließ 1963 Malaysia in die Unabhängigkeit und zog all seine Truppen „East of Suez“ ab und die USA übernahmen mehr und mehr jene Rolle, die einst die europäischen Mächte in Südostasien gespielt hatten. Ihr Versuch, europäische Mächte in ihre Südostasienpolitik einzubinden, stieß auf eine äußerst geringe Resonanz.

Es mag sie vielleicht etwas verwundert haben, dass ich einleitend diesen weiten historischen Bogen gespannt habe, aber mir erschien es wichtig, diese historischen Hintergründe, auf die so gerne schlagwortartig Bezug genommen wird, etwas genauer auszuleuchten. Versucht man eine Bilanz der Beziehungen zwischen Europa und Südostasien vom 16. bis zur Mitte des 20 Jahrhundert zu ziehen, so lassen sich folgende Punkte festhalten: gemessen an den damaligen technischen Möglichkeiten gab es sehr intensive Beziehungen zwischen Europa und Südostasien. Diese Beziehungen erstreckten sich auf höchst gegensätzliche Lager und sehr unterschiedliche Ebenen. Europäische Mächte brachten große Teile Südostasiens unter ihre Kontrolle und beuteten die Ressourcen dieser Länder aus. Aber aus Europa kamen auch die Ideen und Konzepte, mit denen der Kampf gegen den Kolonialismus erfolgreich geführt und die Kolonialherrschaft beendet werden konnte. In beiden Fällen beförderten sie aber nicht das Kooperations- sondern das Konfliktpotenzial zwischen diesen beiden Teilen der Welt.

Nach dem Ende des 2. Weltkrieges wurde Europa maßgeblich von zwei Entwicklungen geprägt. Zum einen war dies der Ost-West-Konflikt, der Europa in zwei antagonistische Blöcke spaltete. Demgegenüber stand das Bemühen der westlich orientierten Länder die ökonomische und politische Integration weiter voranzutreiben und zu festigen. Aus der 1951 zwischen den Beneluxstaaten, Frankreich, Italien und der Bundesrepublik Deutschland gegründeten Montanunion wurde 1957 der Europäische Wirtschaftsgemeinschaft, aus 1993 durch den Vertrag von Maastricht der Europäische Gemeinschaft hervorging, die seit 2009 durch den Vertrag von Lissabon zur Europäischen Union wurde, in der nun 28 europäische Länder Mitgliedschaft besitzen. Aus den leidvollen Erfahrungen zweier Weltkriege war man zu der Überzeugung gelangt, dass ein gemeinsamer Markt, eine wirtschaftliche Union durch entsprechende politische Rahmenbedingungen sowie durch ein dichtes Netz persönlicher Kontakte auf den unterschiedlichsten Ebenen begleitet sein müssen, damit Konflikte bewältigt und nachhaltige Stabilität gewährleistet werden kann.

Auch in Südostasien hat es nach dem 2. Weltkrieg nicht an Versuchen gefehlt, regionale und internationale Kooperation auf den Weg zu bringen und entsprechende Vereinbarungen zu treffen. Im April 1955 waren in der indonesischen Stadt Bandung Vertreter von 29  Nationalstaaten aus Asien und Afrika – darunter solche Schwergewichte wie Indien und China  zusammengekommen, um über Mittel und Wege einer stärkeren Zusammenarbeit zu beraten, um dadurch ihren Ländern auf internationaler Ebene größeres Gewicht zu verleihen. Einen vergleichbaren Versuch hatte zehn Jähre später der damalige Präsident Sukarno mit seinem Konzept der „New Emerging Forces“ unternommen. Beiden Projekten war gemein, dass sie über Proklamationen nicht hinauskamen und keine Strukturen schaffen konnten, die Einfluss auf internationaler Bühne hätten ausüben können.

Wie bereits oben erwähnt, setzten die die USA zu Beginn der 50ger Jahre des vergangenen Jahrhunderts alles daran, jene Lücke, jenes Machtvakuum zu füllen, das sich nach dem Abzug der europäischen Mächte aus Südostasien ergeben hatte. Als Parallele zu der den Atlantik übergreifenden Verteidigungsorganisation der NATO gedacht war im September 1954 – wenige Monate nach der Niederlage in Dien Bien Phu und dem Abschluss des Genfer Indochina-Abkommens – unter amerikanischer Führung die SEATO (South East Asia Treaty Organization) gegründet worden, die sich von Anfang als militärisches Verteidigungsbündnis verstand, das keine weiteren Ansprüche auf ökonomische und politische Kooperation stellte. Ein ähnliche Zielsetzung verfolgte das 1971 gegründete „Five Power Defence Agreement“, das zwischen Großbritannien, Australien, Neu Seeland, Malaysia und Singapur vereinbart wurde. Auch diesen beiden Organisationen gelang es nicht, wirklichen Einfluss auf die militärische und sicherheitspolitische Situation Südostasiens zu nehmen, die seit den 60ger Jahren durch den sich dramatisch eskalierenden Krieg in Vietnam geprägt und gefährdet wurde.

Als im August 1967, auf dem Höhepunkt des Krieges in Vietnam, sich die westlich orientierten Staaten Südostasien, Thailand, Malaysia, Singapur Indonesien und die Philippinen sich zur „Association of Southeast Asian Nations“ (ASEAN) zusammenschlossen, wurde dies damals von vielen Beobachtern nur als ein weiterer Versuch gesehen, die Kräfte des westlichen Lagers in Südostasien zusammenzuschließen und hier eine gemeinsame Front gegen jene kommunistische Gefahr zu errichten, die von Vietnam ausgehend ganz Südostasien unter ihre Herrschaft zu bringen drohte. Diese Einschätzung folgte der Domino-Theorie, die in der 50ger Jahren der damalige amerikanische Präsident Eisenhower so formulierte: „Wenn Vietnam fällt werden auch die anderen Länder Südostasiens wie eine Reihe Dominosteine fallen.“

Im Abstand von einigen Jahrzehnten kann man jedoch sehr viel besser erkennen als dies den Zeitgenossen bewusst war, dass hier etwas grundlegend Neues im Entstehen begriffen war. Zum ersten Mal hatten sich fünf Länder Südostasiens ohne Beteiligung externer Mächte oder Großmächte zu Staatenbund zusammengeschlossen. Angesichts jener mörderischen Auseinandersetzung zwischen Ost und West, die sich zu jenem Zeitpunkt in Indochina und damit im Herzen Südostasiens abspielte, war dies zumindest ein erster Schritt, einen unabhängigen Weg jenseits der Blockkonfrontation einzuschlagen. Diesem ersten Schritt folgten jedoch etliche Jahre keine weiteren.

Erst die Siege, die die kommunistischen Kräfte in Kambodscha, Vietnam und Laos errungen hatten und die zielstrebigen Versuche Hanois, „besondere Beziehungen“ zu seinen beiden Nachbarländern Laos und Kambodscha aufzubauen und in Indochina ein regionales Bündnis unter seiner Führung zu etablieren, veranlassten auch die ASEAN-Mitglieder, ihrer Organisation verbindlichere Strukturen zu geben. Im Februar 1976 fast neun Jahre nach der Gründung der ASEAN unterzeichneten deren Mitglieder den „Treaty of Amity and Cooperation“ (TAC), der den sie zum Grundlagenvertrag der ASEAN erklärten.

Mit dem Zusammenbruch des von der Sowjetunion geführten Sozialistischen Lagers und dem Ende des sowjetisch-chinesischen Konflikts verschwanden auch in Südostasien jene Frontlinien der Blockkonfrontation, die diese Region Jahrzehnte lang tief gespalten hatte. Die Länder Indochinas mussten sich nun außenpolitisch wie außenwirtschaftlich neu orientieren. Dies war jedoch ein Prozess, der von Seiten der ASEAN wie der neuen Beitrittskandidaten einige Anstrengungen erforderte. 1995 wurde Vietnam Mitglied der ASEAN, 1997 folgten Laos und Myanmar, zwei Jahre später Kambodscha. Gerade mit der Aufnahme Myanmars hatte die ASEAN ihre Unabhängigkeit gegenüber den westlich orientierten Ländern unter Beweis gestellt, die mit Hilfe weitgehender Sanktionen Myanmars Militärregime in die Knie zwingen wollten. Die ASEAN setzten dagegen auf „Constructive Engagement“ um dort einen grundlegenden Wandel des politischen Systems zu erreichen.

Dr. Gerhard Will 

Dr. Gerhard Will ist  Politikwissenschaftler in Deutschland. Seine Forschungsgebiete sind Transformationsprozesse sozialistischer Länder Asiens; Sicherheitspolitik, wirtschaftliche Entwicklung und Integrationsprozesse in Südostasien; Südostasiens Rolle in der internationalen Politik.

Loading

Views: 0

Thành – bại trong chính sách „xoay trục“ tới Trung Quốc của Tổng thống Philippines R.Duterte

NHỮNG THÀNH CÔNG GẶT HÁI ĐƯỢC
Việc tăng cường quan hệ với Trung Quốc (TQ) giúp nước này hướng đến quỹ đạo của chiến lược ngoại giao cân bằng nước lớn. Philippines dưới thời Tổng thống R. Duterte thực hiện tương đối thành công chính sách ngoại giao cân bằng Trung – Mỹ, trong đó mô hình chung của ASEAN là „kinh tế hướng về Trung Quốc, an ninh dựa vào Mỹ“. Một thực tế không thể phủ nhận là „Philippines đã thành công trong việc thoát khỏi thế „tiến thoái lưỡng nan“ trong quan hệ với TQ và Mỹ. Là đồng minh của Mỹ nhưng vẫn thúc đẩy quan hệ gần gũi với TQ và giảm thiểu được sức ép từ cả phía Mỹ và TQ. Theo đó, Philipines và TQ cũng đã Quy hoạch chung tương lai phát triển quan  hệ song phương, và đạt được nhận thức chung quan trọng, hai bên nhất trí quyết định thiết lập „Quan hệ đối tác chiến lược toàn cầu“ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, chân thành, thẳng thắn, bình đẳng, cùng có lợi và hợp tác cùng thắng lợi.
President R.Duterte and President Xi Jinping
Philippines đang tương đối thành công trong việc tăng cường quan hệ kinh tế với TQ. Từ khi quan hệ giữa hai nước được cải thiện, quan hệ kinh tế gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là hoạt động kinh tế của TQ ở Philippines. Lĩnh vực đầu tư, thương mại và du lịch được đẩy mạnh, thậm chí phía TQ còn nhận định, hai bên đãcbước vài thời kì „mùa Xuân“ trong quan hệ song phương. Đến nay, TQ đã trở thành một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Philippines. Sự gia tăng nhanh chóng hoạt động đầu tư của TQ ở Philippines thời gian gần đây giúp cho Philippines giải được cơn khát vốn trong việc đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém. Việc Philippines tuyên bố tham gia vào sáng kiến „Vành đai và Con đường“ đã khiến dòng chảy vốn đầu tư của TQ tăng một cách mạnh mẽ. Tháng 10/2016, TQ cam kết tín dụng 9 tỷ USD cho Philippines và ký các thỏa thuận hợp tác kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng hơn 15 tỷ USD. Tháng 11/2018, hai bên tiếp tục ký kết 29 thỏa thuận hợp tác trong nhiều lĩnh vực.
Phillipines giảm được sức ép từ TQ trong vấn đề Biển Đông. Chính quyền Duterte dường như cân đối mục tiêu giữ chủ quyền và giành lợi thế về pháp lý và dư luận để đổi lấy quan hệ ổn định với TQ, tạo cơ hội phát triển đất nước, ổn định cuộc sống người dân. Vì khó có khả năng đẩy các lực lượng TQ ra khỏi bãi cạn Scarborough, có thể Tổng thống Duterte ngầm chấp nhận việc TQ kiểm soát thực tế ở bãi cạn này, đổi lại ngư dân của Philippines được đánh bắt bình thường ở khu vực đó. Mặt khác, Tổng thống Duterte tránh đề cập đến phán quyết của PCA một cách công khai, coi đó là vấn đề song phương giữa Philippines và TQ để tạo tín hiệu hòa giải với Bắc Kinh. Sự tính toán khéo léo của Philippines thể hiện ở chỗ vẫn giành được thắng lợi trong vấn đề Biển Đông nhưng lại không „chọc giận“ TQ. Tuy nhiên, việc Philippines giảm bớt những tranh cãi về vấn đề Biển Đông không có nghĩa là ông Duterte „tạm gác vấn đề chủ quyền“ ở khu vực biển này. Philippines và TQ đã đẩy mạnh tìm kiếm giải pháp giải quyết vấn đề Biển Đông theo hướng song phương, đã tiến hành các hội nghị về „Cơ chế tham vấn song phương“ về vấn đề Biển Đông tháng 5/2017, tháng 2/2018 và tháng 10/2018.
NHỮNG THÁCH THỨC KHI CHỌN TQ
Đầu tiên là sự phản đối ngày cành mạnh mẽ của người dân với chính sách „xoay trục“ sang TQ, nhất là sự thay đổi của ông Duterte trong vấn đề Biển Đông. Thăm dò tháng 7/2018 cho thấy 78% người Philippines phản đối chính sách Biển Đông của Tổng thống Duterte, cho rằng ông và chính phủ phải tái khẳng định „chủ quyền „của Philippines ở Biển Tây Philippines. Nhiều ý kiến phản đối cho rằng, việc Philippines không làm gì trước các hoạt động cải tạo đảo và quân sự hóa Biển Đông của TQ khiến cho Phán quyết của Tòa trọng tài chẳng khác gì „tờ giấy lộn“ và thái độ của ông Duterte được coi như „chiến thắng của TQ“.
Tổng thống Duterte bị chỉ trích đã nhượng bộ với Bắc Kinh, phe đối lập ở Philippines cho rằng thái độ của Tổng thống đã khuyến khích TQ gia tăng lấn chiếm tuyến giao thông huyết mạch và liên tục tấn công, cướp phá ngư dân Philippines.
Dư luận cũng cho rằng Tổng thống Duterte đồng lõa trong việc cho phép TQ gia tăng các mối đe dọa chủ quyền của Phillipines và nước này bị Bắc Kinh bỏ rơi. Trong lĩnh vực kinh tế thương mại song phương, cán cân thương mại ngày càng tăng về phía TQ, báo hiệu việc Philippines ngày càng phụ thuộc mạnh mẽ vào TQ trong lĩnh vực kinh tế, và những rủi ro cũng ngày một lớn hơn.
Việc gia tăng quan hệ gần gũi hơn với TQ cũng mở đường cho dòng lao động người TQ nhanh chóng tràn ngập vào nước này. Và vấn đề  ngày càng nghiêm trọng hơn khi chính quyền Duterte đang mất kiểm soát trong việc thống kê có bao nhiêu lao động TQ hợp pháp và bất hợp pháp ở nước này.
Cuối cùng, sự điều chỉnh trong chính sách về vấn đề Biển Đông của Phillippines thời Tổng thống Duterte khiến cho cộng đồng quốc tế, trong đó có ASEAN cảm thấy „bị rối“,các nước đều cảm thấy khó hiểu về ý định thực sự của Philippines. Điều đó khiến cho Philippines mất đi sự ủng hộ đối với vấn đề Philippines. Sự im lặng của ông Duterte trước việc TQ tăng hiện diện ở Biển Đông cũng làm suy giảm sự thống nhất nội khối ASEAN trong việc tìm kiếm tiếng nói chung nhằm ngăn chặn quá trình quân sự hóa Biển Đông của Bắc Kinh. Điều này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới quan hệ của Philippines với thế giới phương Tây, nhất là với Mỹ.
Tóm lại, sự chuyển biến mau lẹ trong quan hệ giữa TQ và Philippines thời kỳ Tổng thống Duterte không chỉ làm chuyển biến mạnh mẽ đối với bản thân quốc gia này mà còn tác động không nhỏ tới sự chuyển biến tình hình khu vực, nhất là cạnh tranh nước lớn, cũng như vấn đề Biển Đông. Việc ông Duterte „xoay trục“ sang TQ có thể nhìn nhận đây là bước đi khéo léo nhằm hóa giải căng thẳng quan hệ giữa Manila và Bắc Kinh, tận dụng cơ hội phát triển từ TQ, và là động thái giúp Philippines dần thoát khỏi „thân phận“ là công cụ cho các nước lớn, nhất là Mỹ trong chiến lược khu vực, thực hiện tốt hơn chính sách ngoại giao cân bằng với các nước lớn, nhất là Mỹ trong chiến lược khu vực , thực hiện tốt hơn chính sách ngoại giao cân bằng với các nước lớn, và đi theo quỹ đạo mà một số nước đang theo đuổi đó là „kinh tế dựa vào TQ, an ninh dựa vào Mỹ“. Tuy nhiên, việc Tổng thống Duterte dường như đi „quá nhanh“ trong việc tiếp cận TQ đã khiến cho cá nhân ông cũng như Philippines phải đối diện nhiều rủi ro, nhất là phụ thuộc kinh tế TQ và rủi ro trong vấn đề Biển Đông./.
PGS.TS Dương Văn Huy

Loading

Views: 0