Trong cuộc họp báo qua điện thoại đầu tháng 9, Phó đô đốc Michael McAllister, Tư lệnh Tuần duyên Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương cho rằng quan hệ đối tác là chìa khóa để có thể duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.
Phó đô đốc Michael McAllister, Tư lệnh Tuần duyên Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương. (Ảnh: ĐSQ Mỹ tại Việt Nam)
Ông có thể chia sẻ rõ hơn về sứ mệnh của Tuần duyên Mỹ tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương?
Về Tuần duyên Mỹ tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trước tiên tôi muốn nhấn mạnh rằng Mỹ chắc chắn là một quốc gia Thái Bình Dương. Lực lượng Tuần duyên Mỹ đã có hơn 150 năm hoạt động ở khu vực Thái Bình Dương và chúng tôi rất tự hào về điều đó.
Chúng tôi đã và đang bảo vệ những lợi ích của Mỹ tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Nhìn nhận ở một phạm vi rộng hơn, chúng tôi xem đây là khu vực cực kỳ quan trọng. Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chiếm 1/2 thương mại và dân số thế giới.
Là nước đi đầu trong lĩnh vực an ninh và an toàn hàng hải, Mỹ có vai trò đóng góp vào sự ổn định và an ninh của khu vực.
Tàu tuần duyên Munro (755) của Mỹ và tàu tuần duyên Philippines (8301) tập luyện chung ở khu vực phía đông Biển Đông ngày 31/8. (Ảnh: Hạm đội 7)
Vì vậy, chúng tôi mong muốn nâng cao khả năng và năng lực của các quốc gia đối tác trong việc thực hiện các sứ mệnh đóng góp cho lợi ích chung, như tìm kiếm và cứu nạn, bảo vệ môi trường biển, thực thi luật và hiệp ước nghề cá, giải quyết nạn buôn lậu người, chống khủng bố, ứng phó với thảm họa thiên tai,…
Đặc biệt, chúng tôi cho rằng điều quan trọng nhất là phải thúc đẩy trật tự dựa trên luật lệ, tuân thủ các quy tắc và chuẩn mực quốc tế trong khu vực.
Gần đây, Mỹ triển khai chiến dịch Thái Bình Dương Xanh, phối hợp với các đối tác chính trong những quốc đảo Thái Bình Dương để phát hiện, ngăn chặn nạn đánh bắt cá trái phép, chống vận chuyển ma túy xuyên quốc gia, hỗ trợ các nước còn hạn chế về năng lực tuần tra, quản lý vùng biển của họ.
Chúng tôi cũng muốn hỗ trợ các quốc đảo Thái Bình Dương, những quốc gia dễ bị tổn thương trước những thách thức của biến đổi khí hậu.
Từ ngày 8/8, tàu tuần duyên Munro (WMSL 755) được triển khai đến hoạt động tại khu vực và có các hoạt động chung với Tuần duyên Nhật Bản và Tuần duyên Philippines.
WMSL 755 được chỉ huy bởi Hạm đội 7 (thuộc Hải quân Mỹ), là một phần của lực lượng hải quân tích hợp mà chúng tôi đã làm rõ trong chiến lược 3 lực lượng Mỹ (Cuối năm 2020, Mỹ đề ra kế hoạch tích hợp 3 lực lượng, bao gồm hải quân, thủy quân lục chiến và tuần duyên, trở thành lực lượng quân sự chung trên biển nhằm ứng phó các thách thức mới, trong đó có vấn đề Biển Đông).
WMSL 755 đã sẵn sàng cho các kịch bản xung đột hay khủng hoàng; đồng thời sẵn sàng giao lưu với lực lượng bảo vệ bờ biển của các nước trong khu vực. Hiện nay, chúng tôi có 11 thỏa thuận hợp tác với các đối tác nhằm ngăn chặn hoạt động hàng hải bất hợp pháp và tăng cường an ninh hàng hải.
Trong thông báo về Luật An toàn Giao thông Hàng hải sửa đổi, Cục Hải sự Trung Quốc cho hay nước này sẽ có quyền kiểm soát thông tin của bất kỳ tàu thuyền nước ngoài nào đi qua những vùng biển mà Bắc Kinh đơn phương tuyên bố „chủ quyền“, ông nhìn nhận như thế nào về quan điểm này của Bắc Kinh?
Biển Đông là một “siêu xa lộ” trên biển, sự hợp tác giữa các lực lượng bảo vệ bờ biển có vai trò rất quan trọng trong khu vực để xây dựng nền quản trị hàng hải tốt. Lực lượng Tuần duyên Mỹ rất chú trọng tới việc hợp tác để bảo vệ an ninh và an toàn hàng hải trong khu vực.
Rõ ràng, quy định mới này của Trung Quốc đi ngược lại những thỏa thuận và thông lệ quốc tế. Nếu những gì chúng tôi biết được là chính xác, thì đây là điều rất đáng lo ngại.
Dịch bệnh Covid-19 đã tác động như thế nào tới hợp tác của lực lượng Tuần duyên Mỹ với các đối tác trong khu vực? Thông điệp mà ông muốn nhắn gửi trong bối cảnh này?
Đại dịch Covid-19 đã hạn chế tương tác trực tiếp trong quan hệ quốc tế. Do đó, chúng tôi đã tương tác trực tuyến nhiều nhất có thể để từ đó thu hẹp khoảng cách với các đối tác.
Tôi hy vọng, khi các hạn chế đi lại bắt đầu được nới lỏng, các tương tác trực tiếp ngày càng được tăng cường để các hoạt động hợp tác giữa các nước được triển khai hiệu quả.
Dịch Covid-19 cũng khiến việc tàu vươn khơi, bám biển gặp nhiều khó khăn, trong đó có việc đảm bảo cho các thủy thủ được tiêm chủng đầy đủ và an toàn trước dịch bệnh. Nhiều tháng ròng lênh đênh trên biển để thực hiện sứ mệnh cũng khiến các thủy thủ của chúng tôi rất căng thẳng.
Vì vậy, chúng tôi mong muốn các đối tác có thể tạo điều kiện cho chúng tôi trước các rào cản nghiêm ngặt về kiểm dịch Covid-19 để có thể khôi phục những tương tác, giao lưu trực tiếp với tàu của các nước đối tác trên biển.
Mỹ có một vai trò ổn định trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương suốt hơn 150 năm qua, nhưng tôi muốn nói rằng, cam kết của Mỹ ngày nay mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng, quan hệ đối tác là chìa khóa để chúng ta có thể duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật lệ và quản trị hàng hải hiệu quả.
Trước quy định vô lý của Trung Quốc là tất cả các tàu nước ngoài đi vào “lãnh hải” do nước này tự đặt ra phải báo cáo, Úc cho biết sẽ từ chối tuân thủ các quy định liên quan và kiên quyết duy trì quyền tự do hàng hải theo luật pháp quốc tế, trang Vision Times thông tin.
Theo thông báo từ Cục An toàn Hàng hải, ngày 29/4, Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc đã thông qua “Luật An toàn Giao thông Hàng hải” mới sửa đổi. Luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 1/9. Điều 54 của luật quy định rằng tất cả tàu thuyền có quốc tịch nước ngoài đi vào “lãnh hải” của Trung Quốc, sẽ phải báo cáo với nhà chức trách của nước này.
Ngày 29/8, “Thời báo Hoàn cầu”, kênh truyền thông ngôn luận của ĐCSTQ, đã đưa tin về luật mới có liên quan. Đồng thời trích dẫn lời của ông Tống Trung Bình, chuyên gia quân sự Trung Quốc, nói rằng quân đội Trung Quốc sẽ “trục xuất hoặc thực hiện các biện pháp mạnh mẽ hơn để trừng phạt những kẻ xâm lược”.
Ngày 2/9, theo báo cáo của tờ “Tạp chí Tài chính Úc”, Bộ Quốc phòng Úc đã có văn bản gửi tòa báo đề cập đến vấn đề này. Bộ Quốc phòng Úc nhấn mạnh, bất kỳ quy định hàng hải tương tự nào cũng đều phải tuân thủ các yêu cầu của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Các tàu của Lực lượng Quốc phòng Úc sẽ vẫn tiếp tục sử dụng quyền tự do hàng hải mà luật quốc tế trao cho.
“Tạp chí Tài chính Úc” cho biết, thời điểm ban hành các luật mới có liên quan mà Trung Quốc quảng bá vào cuối tháng Tư, trùng với thời điểm tàu chiến Pháp và Úc đi qua Biển Đông. Ngày 3/5, Bộ Quốc phòng Úc đã phát đi thông cáo báo chí, xác nhận Pháp và Úc, mỗi nước cử hai tàu chiến đi cùng chuyến hải trình và đã hoàn thành chuyến đi xuyên qua Biển Đông. Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng Úc không nói rõ về ngày của chuyến đi.
Báo cáo đề cập rằng ngày 27/8, tàu HMAS Canberra và HMAS ANZAC đã khởi hành từ Úc. Họ sẽ tham gia các cuộc tập trận quân sự ở Đông Nam Á trong vòng 3 tháng tới. Về việc liệu 2 tàu chiến này có đi qua Biển Đông hay không, nhà chức trách Úc chưa công bố thông tin chi tiết.
Do Trung Quốc mới sửa đổi “Luật An toàn Giao thông Hàng hải”, nên câu hỏi đặt ra là, liệu Biển Đông có thuộc “lãnh hải” của Trung Quốc hay không. Sự việc này một lần nữa đã thu hút sự chú ý của giới truyền thông quốc tế.
“Tạp chí Tài chính Úc” đề cập trong báo cáo rằng năm 2016, Tòa án Quốc tế đã đưa ra phán quyết phù hợp với “Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển”. Trong đó tuyên bố Trung Quốc không được sở hữu các nguồn tài nguyên trong khu vực Biển Đông. Tuy nhiên, chính quyền Bắc Kinh đã từ chối chấp nhận phán quyết trên của Tòa án Quốc tế. Họ kiên quyết khẳng định Biển Đông nằm trong phạm vi của “Đường 9 đoạn” và thuộc lãnh hải của Trung Quốc.
Theo báo cáo, vì lập trường của Trung Quốc gây ra các tranh chấp quốc tế, nên các nhà chức trách Úc đã kêu gọi tất cả các bên liên quan đến tranh chấp này, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình theo “Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển”.
Theo báo cáo, một số chuyên gia tin rằng, động thái này của Bắc Kinh nhằm nỗ lực tiếp tục chiếm đóng Biển Đông, Biển Hoa Đông và Đài Loan, tạo dựng cục diện “ván đã đóng thuyền”. Báo cáo cũng dẫn lời ông Peter Jennings, giám đốc điều hành của Viện Chính sách Chiến lược Úc, cho rằng Trung Quốc thực hiện “Luật An toàn Giao thông Hàng hải” mới sửa đổi, nhằm nỗ lực buộc các nước phải công nhận Trung Quốc đã kiểm soát Biển Đông.
Chuyến thăm châu Âu của tân Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ sẽ là chuyến thăm cấp cao đầu tiên của một nhà lãnh đạo Việt Nam tới châu Âu sau cuộc bầu cử Quốc hội tháng 5/2021. Chuyến thăm cũng được tổ chức vào dịp kỷ niệm 76 năm Quốc khánh Việt Nam 2-9 và 1 năm Hiệp định Thương mại tự do EU – Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ lên đường dự WCSP5, thăm và làm việc với EP, Bỉ và Phần Lan
Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU trong hơn 30 năm qua đã trở thành hình mẫu hợp tác của EU với các nước châu Á. Trong những năm qua, quan hệ song phương giữa Việt Nam và các nước thành viên EU cũng đã có những bước tiến dài.
Các cơ quan lập pháp của hai bên đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này. Một trong những cột mốc quan trọng là việc phê chuẩn EVFTA- một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới phức tạp và đầy tham vọng giữa châu Âu và nền kinh tế mới nổi năng động ở Đông Nam Á.
Hợp tác kinh tế song phương có bước phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây. Quan hệ thương mại là tiền đề để thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực chính trị và các lĩnh vực chiến lược khác trên cơ sở các bên cùng có lợi. EU tiếp tục coi Việt Nam là đối tác hàng đầu trong khu vực. Hai bên đã tập trung thúc đẩy việc thực hiện Hiệp định Đối tác và hợp tác toàn diện (PCA). Cơ chế Ủy ban hỗn hợp EU – Việt Nam về cơ bản góp phần giải quyết các vấn đề cùng quan tâm như kinh tế, thương mại, giao thông, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng và an ninh hàng hải.
Việt Nam luôn định vị mình là cầu nối giữa EU và các nước Đông Nam Á, tích cực hỗ trợ EU thúc đẩy hợp tác với các nước ASEAN. Trong khi EU cũng được kỳ vọng sẽ hỗ trợ Việt Nam trong phát triển năng lượng bền vững, quản trị, pháp quyền và pháp luật.
Tiến bộ trong hiệp định thương mại tự do và quan hệ hợp tác
Hiệp định EVFTA lần đầu tiên đưa Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn nhất của EU trong ASEAN với kim ngạch xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2021 đạt khoảng 28 tỷ euro (tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái). Hiệp định này đã góp phần đưa hàng Việt Nam chất lượng cao, giá cả hợp lý như hàng dệt may, nông lâm thủy sản đến với người tiêu dùng EU. Ở chiều ngược lại, hiệp định giúp tăng cường xuất khẩu hàng hóa của EU sang Việt Nam như máy móc công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, hóa chất, dược phẩm và ô tô.
Hiệp định EVFTA cũng góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư giữa hai bên. Các nước EU hiện có hơn 2.200 dự án tại Việt Nam, vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 22 tỷ USD. Tuy nhiên, các khoản đầu tư vẫn chưa đạt kỳ vọng và chỉ chiếm 7% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Năm ngoái, Quốc hội Việt Nam và Nghị viện châu Âu đã thông qua Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA). Các doanh nghiệp hàng đầu châu Âu đang mong muốn nghị viện các nước thành viên EU sẽ sớm phê chuẩn hiệp định này. Việc thực hiện có hiệu quả EVFTA, phê chuẩn EVIPA và gỡ bỏ thẻ vàng về đánh bắt thủy hải sản sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các bên trong thị trường châu Âu và ASEAN.
Sự hỗ trợ của EU về vaccine, thuốc và trang thiết bị y tế đối với Việt Nam trong thời điểm quan trọng này thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa EU và Việt Nam cũng như thực hiện các thỏa thuận với Việt Nam trong việc xử lý cuộc khủng hoảng COVID-19.
Ngoài ra, tăng cường hợp tác khu vực và địa phương với Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch, giáo dục, hậu cần, nông nghiệp và công nghệ cao, là vấn đề hết sức quan trọng. EU cũng cần thúc đẩy chuyển giao công nghệ xanh cho Việt Nam trong việc xử lý chất thải, nguồn nước, quản lý nước biển xâm thực và nước biển dâng nhằm nâng cao đời sống người dân ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, như miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội lần này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và EU.
Ngày 19/8/2021, Học viện Ngoại giao phối hợp với Đại sứ quán Anh và Quỹ Konrad Adenauer Stiftung (KAS), Đức tại Hà Nội tổ chức Đối thoại Biển lần thứ 7 (trực tuyến) với chủ đề “Đánh giá các vấn đề biển đang nổi lên từ góc độ luật pháp quốc tế”.
Với sự tham gia của hơn 250 đại biểu là các chuyên gia trong nước và quốc tế, đại diện các cơ quan Trung ương và địa phương, cơ quan đại diện nước ngoài tại Hà Nội và truyền thông, Đối thoại là dịp để các bên phân tích cách diễn giải và thực thi luật pháp quốc tế về tự do và an toàn hàng hải và đánh giá hệ luỵ và thách thức của tình trạng nước biển dâng từ góc độ luật pháp quốc tế. Đây cũng là diễn đàn để các bên chia sẻ thực tiễn của các quốc gia ven biển và đề xuất các giải pháp cho Việt Nam.
Tiến sĩ Nguyễn Hùng Sơn, Phó Giám đốc Học viện Ngoại giao phát biểu khai mạc Đối thoại, nhấn mạnh nước biển dâng và an toàn hàng hải không chỉ là vấn đề an ninh mà còn kéo theo nhiều tác động pháp lý, môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới kế sinh nhai của người dân ven biển. Học viện Ngoại giao mong muốn thúc đẩy đối thoại về các vấn đề pháp lý đang nổi lên, nhằm tăng cường nhận thức, hiểu biết và thống nhất các diễn giải và áp dụng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước UNCLOS 1982; qua đó củng cố cơ sở cho các hoạt động hợp tác khu vực. Học viện Ngoại giao cũng hy vọng qua Đối thoại, các bên sẽ đề xuất nhiều sáng kiến phù hợp với luật pháp quốc tế để thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề này.
Phó Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam Marcus Winsley phát biểu nhấn mạnh UNCLOS 1982 là nền tảng cho quản trị đại dương. Anh coi tự do hàng hải là tối quan trọng với lợi ích quốc gia bởi thương mại của Anh với châu Á phụ thuộc vào các tuyến đường biển trọng yếu trong khu vực. Anh cũng công nhận quan ngại của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc đảo Thái Bình Dương, về tình trạng nước biển dâng.
Đại diện Quỹ KAS tại Việt Nam, ông Florian Constantin Feyerabend, khẳng định Đức luôn coi trọng thương mại và xuất khẩu, vì vậy coi an toàn và tự do các tuyến thương mại trên biển là lợi ích trọng yếu. Ngoài ra, Đức ủng hộ trật tự dựa trên luật lệ và cam kết bảo vệ luật pháp quốc tế. Ông Feyerabend cũng nhấn mạnh Đức lo ngại về tình trạng các tuyến đường biển tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đang gặp nhiều thách thức và căng thẳng do các tranh chấp biển tại khu vực ngày một gia tăng.
Tại đối thoại, nhiều chuyên gia đã chia sẻ thực trạng và tác động của nước biển dâng đối với nhiều quốc gia ven biển trong khu vực và trên thế giới. Nhận thức được tác động và thách thức của hiện tượng này, “nước biển dâng và luật pháp quốc tế” đã trở thành một chủ đề thảo luận trong chương trình làm việc của Uỷ ban Luật quốc tế Liên Hợp quốc. Các chuyên gia cho rằng nước biển dâng đặt ra thách thức từ góc độ luật biển quốc tế như làm thay đổi các điểm, đường cơ sở hoặc có thể làm các đảo biến mất, từ đó có thể ảnh hưởng tới biên giới trên biển và tới việc khai thác tài nguyên của các quốc gia tại các vùng biển. Nhiều ý kiến nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo sự ổn định của luật pháp quốc tế; đồng thời đề xuất các giải pháp và kịch bản nhằm đối phó và thích ứng trước hiện trạng nước biển dâng từ góc độ quốc gia, khu vực và quốc tế.
Theo các học giả, tự do, an toàn và an ninh hàng hải đã được quy định trong nhiều Công ước quốc tế quan trọng như UNCLOS 1982 và các quy định, hướng dẫn trong khuôn khổ của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO). Tuy nhiên, xuất phát từ các mục tiêu và lợi ích khác nhau, các quốc gia có nhiều khác biệt trong giải thích và áp dụng các điều khoản về quyền đi lại trên biển như quyền đi lại không gây hại của tàu quân sự tại lãnh hải, hoạt động quân sự tại vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển… Các học giả bày tỏ sự quan tâm tới Biển Đông, nơi giao thoa của các tuyến đường biển quan trọng và nêu quan ngại về các yêu sách vùng biển thái quá, trái với UNCLOS 1982, với Phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài trong vụ kiện Biển Đông đe doạ hạn chế tự do hàng hải ở vùng biển này. Các học giả đề xuất cần tiếp tục duy trì một trật tự dựa trên luật lệ trên biển tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và ASEAN nên thiết lập quan điểm chung về các quyền đi lại trên biển.
Đối thoại Biển là một trong các chương trình hợp tác quốc tế trọng tâm của Học viện Ngoại giao. Đến nay, Học viện đã tổ chức thành công 7 Đối thoại và nhận được nhiều phản hồi tích cực từ các đại biểu tham dự. Nhiều ấn phẩm chất lượng đã được đăng tải từ các nội dung Đối thoại, liên quan tới hợp tác nghề cá, quản trị biển ở Biển Đông, xử lý rác thải nhựa, tăng cường hợp tác ASEAN về Biển Đông, chia sẻ kinh nghiệm phát triển bền vững của EU.
Cuối tháng 8, Pháp và Australia lần đầu tiên tổ chức hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng (2+2) dưới hình thức trực tuyến. Trong thông cáo chung, hai nước “bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình Biển Đông”.
Các tàu chiến của Hải quân Australia quá cảnh Biển Đông hồi tháng 5. (Nguồn: Financial Review)
Theo thông cáo chung, Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng hai nước “kiên quyết phản đối mọi hành động cưỡng ép hoặc gây bất ổn có thể làm trầm trọng thêm căng thẳng”.
Theo đó: „Mọi bất đồng cần được giải quyết một cách hòa bình, phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS)“.
Ngoài ra, bốn bộ trưởng còn “tái khẳng định tầm quan trọng của quyền tự do hàng không và hàng hải, phù hợp với luật pháp quốc tế” ở Biển Đông.
Phần an ninh quốc tế và khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương chiếm 1/3 số điểm được nêu trong thông cáo 25 điểm.
Các bộ trưởng khẳng định, hai nước giữ vững cam kết với các đối tác ở khu vực, trong đó có Mỹ, để bảo đảm một Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rộng mở, toàn vẹn và tự do.
Ở điểm này, Australia và Pháp tái khẳng định, “ASEAN và các cơ chế của hiệp hội cần đóng một vai trò trung tâm trong kiến trúc khu vực phục vụ cho hòa bình, ổn định, an ninh và thịnh vượng”.
Ngoài hợp tác song phương, các Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao Pháp, Australia cũng nhấn mạnh đến tăng cường hợp tác ba bên với Ấn Độ trong các lĩnh vực an ninh và an toàn hàng hải, cũng như về môi trường biển.
Vai trò quan trọng của Ấn Độ ở Ấn Độ Dương được Australia và Pháp đánh giá cao, nhưng bốn bộ trưởng cũng nhất trí phải tăng cường đối thoại với các đảo quốc ở Thái Bình Dương, nơi Bắc Kinh không ngừng gia tăng ảnh hưởng.
Theo Bộ Ngoại giao Pháp, cuộc họp này thể hiện cấp độ cao trong hợp tác chiến lược giữa Pháp và Australia.
Ngày 1/9, Lầu Năm Góc dường như phản đối việc Bắc Kinh yêu cầu các tàu nước ngoài đi vào Biển Đông phải đăng ký với giới chức hàng hải Trung Quốc, đồng thời coi đây là mối „đe dọa nghiêm trọng“ đối với tự do hàng hải và thương mại.
Người phát ngôn Lầu Năm Góc John Supple cho hay, những yêu sách bất hợp pháp ở Biển Đông sẽ gây ra mối đe dọa nghiêm trọng tới quyền và lợi ích của các quốc gia ở vùng biển này. (Nguồn: AFP)
Tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (SCMP) dẫn bình luận của người phát ngôn Lầu Năm Góc John Supple cho hay: „Mỹ kiên quyết rằng, bất cứ đạo luật hoặc quy định nào của quốc gia ven biển cũng không được vi phạm các quyền hàng hải và hàng không mà tất cả các quốc gia đều được hưởng theo luật pháp quốc tế“.
Theo đó, „các yêu sách biển bất hợp pháp và dàn trải, trong đó có những yêu sách ở Biển Đông, đều gây ra mối đe dọa nghiêm trọng tới tự do của vùng biển này, trong đó có tự do hàng hải và hàng không, thương mại tự do và thương mại hợp pháp không bị cản trở“.
Bên cạnh đó, Mỹ cho rằng, những yêu sách bất hợp pháp này cũng sẽ gây ra mối đe dọa nghiêm trọng tới „những quyền và lợi ích của các quốc gia ở Biển Đông và ven biển khác“.
Người phát ngôn Lầu Năm Góc Mỹ táin khẳng định: „Mỹ vẫn cam kết duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật định và một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do, rộng mở“.
Bình luận trên được ông Supple đưa ra 2 ngày sau khi Trung Quốc tuyên bố, các tàu nước ngoài đi vào „lãnh hải“ nước này sẽ phải báo cáo thông tin về tàu và hàng của họ với giới chức hàng hải Trung Quốc.
Quy định trên được cho là sẽ áp dụng với Biển Đông, Biển Hoa Đông và nhiều đảo, đá ngầm nằm ở vùng biển mà Bắc Kinh tuyên bố trái phép rằng, đó là vùng lãnh thổ bất khả xâm phạm của nước này.
Ngày 1/9, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc Trung Quốc chính thức thi hành Luật An toàn giao thông hàng hải sửa đổi, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ:
„Các quốc gia cần tuân thủ nghiêm túc các điều ước quốc tế mà mình là thành viên, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) – khuôn khổ pháp lý cho mọi hoạt động trên biển và đại dương, khi ban hành các văn bản nội luật liên quan đến biển.
Việt Nam kiên quyết, kiên trì thực hiện các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để thực thi, bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam; chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển của mình được xác định theo đúng quy định của UNCLOS“.
Tờ National Interest (Mỹ) gần đây có bài đăng về cuộc “đại tu” của lực lượng quân đội trên đảo Đài Loan nhằm nâng cao các khả năng quân sự trước sự đe dọa từ Đại lục.
Pháo quân trong một cuộc tập trận chống xâm nhập tại huyện Bình Đông (Pingtung), phía nam đảo Đài Loan, tháng 5/2019.
Đe dọa từ Trung Quốc ngày càng tăng
Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã thực hiện kỷ lục 380 lần tiến vào ADIZ (vùng nhận dạng phòng không) của đảo Đài Loan trong năm 2020, theo một tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Đài Bắc. Hồi tháng Ba, giới chức Đài Loan tố cáo Bắc Kinh đã thực hiện cuộc xâm nhập lớn nhất từ trước đến nay vào ADIZ của hòn đảo này. Cuộc tấn công đó có sự tham gia của 20 máy bay Trung Quốc, bao gồm 4 máy bay ném bom H-6K có năng lực hạt nhân và 10 máy bay chiến đấu J-16. Bên cạnh các cuộc xâm nhập của không quân Đại lục vào không phận đảo, áp lực hải quân từ phía Đại lục cũng ngày càng tăng. Các quan chức Bắc Kinh tuyên bố rằng Hải quân PLA sẽ tổ chức các cuộc tập trận thường xuyên gần đảo Đài Loan.
Trong những năm gần đây, các quan chức Trung Quốc Đại lục và truyền thông nhà nước đã sử dụng những lời lẽ ngày càng hiếu chiến đối với đảo Đài Loan, nơi mà Bắc Kinh từ lâu đã coi là một tỉnh ly khai.
„Chúng tôi cảnh báo những yếu tố ‘Đài Loan độc lập’: nghịch lửa có ngày tự thiêu, nghịch dao có ngày đứt tay,“ phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Wu Qian cho biết hồi tháng Giêng. „Đài Loan‘ độc lập ’có nghĩa là chiến tranh.“
Hồi đầu tháng Tư, các quan chức Trung Quốc tuyên bố rằng quân đội đảo Đài Loan „sẽ không có cửa thắng“ nếu Đại lục chọn xâm lược.
Đài Loan cấp tốc nâng cấp quân đội
Giới chức đảo Đài Loan đầu tháng này đã tuyên bố rằng cơ cấu chỉ huy quân đội địa phương đang được đại tu. Việc tái cơ cấu này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động chung giữa các quân chủng của họ, Defense News đưa tin.
Trong bối cảnh căng thẳng giữa Đài Bắc và Bắc Kinh tăng cao, đảo Đài Loan đang nỗ lực hết sức nhằm tái cơ cấu quân đội của mình.
Việc tái cơ cấu cũng sẽ trao quyền cho các tư lệnh khu vực đưa ra các quyết định hành động trong trường hợp xảy ra xung đột, với vô số các quân khu phòng thủ khác nhau của Quân đội được đổi tên thành các „quân khu chiến đấu“ riêng biệt.
Cụ thể, Defense News đưa tin rằng các quân đoàn Penghu, Huadong, Số 6, Số 8 và Số 10 sẽ được đổi tên thành các quân khu, đánh số từ thứ nhất đến thứ năm, và được trao quyền tài phán đối với các phần phía đông, bắc, nam và trung tâm của đảo.
Các tư lệnh quân khu, bao gồm tất cả các tướng lĩnh Quân đội hiện tại, sẽ có nhiều quyền tự do điều phối các lực lượng trong quân khu tương ứng của họ. Đặc biệt, các vị trí chỉ huy này có thể được để mở cho các sĩ quan từ các binh chủng khác trong tương lai.
Chính quyền đảo cho rằng đợt phân quyền này sẽ cải thiện hiệu suất của các lực lượng địa phương và giảm thiểu tác động của các chiến dịch tác chiến điện tử tiềm tàng nhắm vào các hệ thống thông tin liên lạc trên đảo.
Tuyên bố đưa ra sau một gói cải cách lớn vào tháng 12/2020, nhằm nâng cao các tiêu chuẩn tối thiểu cho tất cả các quân nhân. Theo các quy định mới, các quân nhân nhận được điểm „C“ hoặc thấp hơn trong các bản đánh giá sẽ bị thải hồi; đồng thời quy trình thải hồi cũng được rút ngắn đáng kể. Bên cạnh những cải cách lớn về nhân sự và cơ cấu chỉ huy, đảo Đài Loan đang tiến lên phía trước với một loạt dự án hiện đại hóa quân đội đầy tham vọng. Hòn đảo này đang khởi động ngành công nghiệp tàu ngầm nội địa, với chiếc tàu ngầm tấn công bản địa đầu tiên dự kiến hoàn thành vào năm 2024.
Việc tái cơ cấu diễn ra trong bối cảnh Đài Loan đang nỗ lực phát triển các khả năng quân sự của mình nhằm đối mặt với các mối đe dọa và khiêu khích ngày càng tăng từ Bắc Kinh. Cách tiếp cận hiện tại của Đài Bắc được biết đến với tên gọi Khái niệm Phòng thủ Toàn diện (ODC), một học thuyết nhằm mục đích răn đe và – nếu cần – đánh bại cuộc xâm lược đảo Đài Loan của Trung Quốc Đại lục.
Đe dọa quân sự gần đây của Bắc Kinh không hoàn toàn không có cơ sở. Như đã thấy ở một loạt các „trò chơi chiến tranh“ trong những năm trước đây, các khí tài quân sự hiện tại của Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương có khả năng không thể ngăn cản „sự đã rồi“ trong công cuộc chinh phục Đài Loan.
Von 06. bis 08.09.2021 veranstaltet die IPU in Kooperation mit dem österreichischem Parlament die 5. IPU – Weltkonferenz in Wien. Vuong Dinh Hue – der Parlament Chef Vietnams wird daran teilnehmen.
Vương Đình Huệ Vorsitzende der vietnamesischen Nationalversammlung. (Bild: Doãn Tấn/TTXVN)
Das Hauptthema der Konferenz dreht sich um Multilateralismus mit dem Anstreben um effektive Zusammenarbeit und Friedenssicherung. Als Bestandteil zählt z.B. die Geschlechtergleichstellung, die Auswirkung der Covid-19 Pandemie auf die Demokratie oder die multilaterale Zusammenarbeit unterschiedlicher Nationen auf parlamentarischer Ebene für mehr Transparenz und für bessere Lebensbedingungen der Weltbevölkerung.
Vietnam möchte durch seine Teilnahme auf parlamentarischer Ebene ebenso einen Beitrag zur Friedenssicherstellung und zur Stärkung multilateraler Zusammenarbeit und Umsetzung nachhaltiger Ziele leisten.
Die heutige Welt ist von vielen Unsicherheiten geprägt. Der Klimawandel, die Naturkatastrophen und Epidemien verschärfen sich. Covid-19 hält die Welt in Atem, hinterlässt viele Konsequenzen und verändert unser Leben in vielerlei Hinsicht.
Vietnam ist der Ansicht, die Herausforderungen, mit welcher unsere Welt nun konfrontiert ist, haben gezeigt welche wichtige Rolle multilaterale Zusammenarbeit spielt. Sie stärkt den Zusammenhalt der Nationen, sie baut die Ressourcen aus in der Bekämpfung globaler Krisen.
Ngày 01/8/2021, Đức đã gia nhập và chính thức là thành viên thứ 21 của Hiệp định Hợp tác chống cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền ở khu vực Châu Á.
Giải thích về mục đích gia nhập Hiệp định, phía Đức nhấn mạnh “Tự do và an ninh của các tuyến hàng hải có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của Đức” do khoảng 60% hàng hoá xuất khẩu của Đức được vận chuyển qua các tuyến đường hàng hải quốc tế và trong những năm vừa qua, số lượng các vụ cướp biển ở khu vực Châu Á đã liên tục gia tăng một các đáng kể, khoảng 17% so với năm 2019, bất kể tình hình đại dịch Covid- 19 đang diễn biến phức tạp. Hành động tấn công tàu thuyền không chỉ gây nguy hiểm về mặt an ninh cho tàu thuyền, thủy thủ đoàn mà còn gây tác động sâu sắc đến các tuyến đường giao thông đường biển giữa Châu Á và Châu Âu, những tuyến hàng hải được coi là huyết mạch của kinh tế thế giới. Đồng thời, phía Đức cũng khẳng định “Đức mong muốn đóng vai trò tích cực hơn trong việc chống lại và ngăn ngừa cướp biển tại khu vực này”.
Trong giai đoạn gần đây, Đức đã có sự thay đổi quan điểm đối với vấn đề Biển Đông theo hướng công khai và lên tiếng mạnh mẽ hơn trước các hành vi vi phạm của Trung Quốc. Việc gia nhập Hiệp định này, cũng như việc tàu chiến Đức sẽ tiến hành hoạt động tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Biển Đông, cho thấy Đức đang triển khai nhiều biện pháp trên thực tế nhằm hiện thực hoá chiến lược đối ngoại của nước này đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được thể hiện trong “Hướng dẫn chính sách cho khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” được thông qua tháng 9/2020.
Hiệp định hợp tác chống cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền ở khu vực Châu Á được hình thành trên cơ sở sáng kiến của Thủ tướng Nhật Bản Kozumi nhằm thiết lập một cơ chế hợp tác ở khu vực Châu Á nhằm đối phó với các thách thức cướp biển và cướp có vũ trang tàu thuyền đang gia tăng. Sau 5 năm chuẩn bị và đàm phán, Hiệp định được 14 nước Châu Á thông qua năm 2004, chính thức có hiệu lực năm 2006 và trở thành Hiệp định hợp tác đầu tiên giữa các chính phủ ở khu vực Châu Á trong lĩnh vực này.
Theo Hiệp định, Trung tâm chia sẻ thông tin (ISC) được thiết lập, có trụ sở ở Singapore với mục đích chính là tăng cường hợp tác khu vực thông qua hoạt động chia sẻ thông tin, xây dựng năng lực và các hình thức hợp tác trong việc chống lại cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền với đại diện của tất cả các nước thành viên. Đồng thời, các quốc gia thành viên Hiệp định cũng thành lập Trung tâm chia sẻ thông tin là đầu mối quốc gia trong việc chia sẻ thông tin liên quan đến hoạt động chống cướp biển.
Điều đặc biệt là mặc dù tên gọi là Hiệp định hợp tác chống cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền ở khu vực Châu Á, song không chỉ các nước Châu Á là thành viên mà Hiệp định đã có sự tham gia của nhiều nước ngoài khu vực như Mỹ, 5 quốc gia ở Châu Âu và Úc. Điều này cho thấy rõ tầm quan trọng của việc đảm bảo an ninh, an toàn của các tuyến hàng hải huyết mạch ở khu vực Biển Đông. Với chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà nhiều nước đang định hình hiện nay, chắc chắn trong thời gian tới, việc hợp tác gìn giữ an ninh, ổn định, trong đó có vấn đề cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền ở khu vực Châu Á sẽ được gia tăng.
Tối 29.08.2021 lần đầu tiên trong chiến dịch tranh cử này, ba ứng viên chức Thủ tướng Đức, Annalena Baerbock đảng Xanh (Grün), Armin Laschet Liên minh Dân chủ/Xã hội Cơ đốc giáo (CDU/CSU) và Olaf Scholz đảng Dân chủ Xã hội đã đấu khẩu với nhau trên đài truyền hình RTL. Họ tranh luận chủ yếu về các vấn đề chính trị trong nước, chỉ có 15 phút nói đến tình hình chính trị ngoài nước.
Afghanistan và dịch cúm corona
Chưa đầy 5 phút làm nóng để khởi động cho cuộc tranh luận đã không còn chỗ cho lịch sự hay nhường nhịn. Laschet phê bình Scholz, Scholz phê phán Laschet, Baerbock chỉ trích Laschet, Baerbock chỉ trích cả hai. Sau đó là 15 phút tranh cãi về vấn đề Afghanistan và tình hình của quân đội Đức làm cho sự khác biệt giữa họ càng rõ ràng hơn.
Laschet nhấn mạnh rằng những diễn biến ở Afghanistan không những là „một thảm họa“ đối với phương Tây nói chung, mà còn đối với chính phủ Đức. Cả ba ứng viên đều cảm thấy quân đội Đức cần phải được nâng cấp. Laschet đề cập đến tầm quan trọng của máy bay không người lái có vũ trang (Drohnen) và cáo buộc SPD phong toả vấn đề này. Cả hai quý ông đều cáo buộc nhau, đã ngăn cản nguồn kinh phí cho Bundeswehr. Baerbock cho rằng chính phủ Đức đã lẩn tránh vấn đề Afghanistan. Cuộc tranh luận về tình hình chính trị ngoài nước chỉ vỏn vẹn có 15 phút trong tổng số 110 phút và dừng lại 1 cách dở dang. Sau đó Baerbock và Scholz đặt dấu hỏi liệu có khả năng liên mính với đảng cánh Tả? Và cuối cùng trong số họ không ai có câu trả lời rõ ràng.
Có? Không?
Đặc biệt thú vị khi hai người dẫn chương trình, Pinar Atalay và Peter Kloeppel đặt câu „Có? Không?“, tức là không cần phải trả lời chi tiết mà chỉ Có hay Không.
Chủ đề „nghĩa vụ tiêm phòng“ trong cuộc chiến chống dịch Corona: Baerbock cho rằng không loại trừ điều đó, ngược lại, Laschet và Scholz rất nhanh chóng nói „không“.
Quy định 3G (geimpft; genesen; getestet => đã tiêm chủng; đã khỏi bệnh; đã xét nghiệm), chỉ những người rơi vào 1 trong 3 trường hợp trên mới được phép tham gia giao thông công cộng đường dài. Scholz và Baerbock đồng ý „có“, Laschet lưỡng lự vì những câu hỏi thực tế mở.
Cuộc tranh luận tay ba có lúc thành tay đôi tương đối gay gắt giữa Baerbock và Laschet. Ứng viên đảng Xã hội Dân chủ đã khôn khéo kiệm lời. Laschet tỏ ra năng nổ và thiếu kiên nhẫn.
Qua thăm dò ý kiến của đài truyền hình RTL cho thấy, Olaf Scholz đạt 36%, Annalena Baerbock 30% và Armin Laschet được 25%. Tuy nhiên không phải ai cũng cho biết ý kiến đánh giá của mình. Ba ứng viên sẽ đấu khẩu với nhau 2 lần nữa vào ngày 12.9. và 19.9.
Tôn trọng thứ 2, mà Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đề cập là: tôn trọng luật pháp, tuy nhiên điều đáng nói đó không phải là luật pháp quốc tế với tư cách là quy tắc xử sự chung mà lại là luật pháp theo cách hiểu của Trung Quốc, “luật” của kẻ mạnh.
Đảo Phú Lâm, Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép
Ông Vương Nghị tuyên bố: “Phù hợp với luật pháp quốc tế, Trung Quốc có chủ quyền đối với quần đảo Nam Sa và tất nhiên là có các quyền và lợi ích trên biển tương ứng. Điều đó không hề mâu thuẫn với các quy định của UNCLOS1982. Trung Quốc không bao giờ thay đổi cơ sở của những yêu sách của mình và cũng không bao giờ có thêm yêu sách mới. Luận điệu cho rằng Trung Quốc yêu sách tất cả vùng biển nằm trong đường đứt khúc là nội thủy và lãnh hải là xuyên tạc có chủ ý đối với lập trường của Trung Quốc.”
Phớt lờ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang bị chiếm đóng trái phép
Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc khẳng định, phù hợp với luật pháp quốc tế, Trung Quốc có chủ quyền đối với quần đảo Nam Sa (là quần đảo Trường Sa của Việt Nam, nhưng số lượng các thực thể địa lý thuộc quần đảo Trường Sa theo quan niệm của Việt Nam khác xa với quan niệm của Trung Quốc). Trong bài viết này, chúng tôi một lần nữa xin khẳng định rằng nguyên tắc pháp lý quốc tế hiện hành mà Việt Nam luôn luôn tuân thủ đó là nguyên tắc “chiếm hữu thật sự”.
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, từ khi chúng còn là đất vô chủ (res-nullius), theo những tài liệu của cả Việt Nam và thế giới còn lưu lại, những chứng cứ rõ ràng xuất hiện muộn nhất, cũng là từ thế kỷ XVII. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thật sự, rõ ràng, hòa bình và liên tục, phù hợp với nguyên tắc pháp lý hiện hành của Luật pháp và Thực tiễn quốc tế. Việt Nam có đầy đủ các băng chứng lịch sử có giá trị pháp lý để chứng minh và bảo vệ chủ quyền của mình đối với 2 quần đảo này.
Một điểm đáng lưu ý, khi đề cập đến vấn đề chủ quyền đối với các quần đảo ở giữa Biển Đông, ông Vương Nghị chỉ khẳng định Trung Quốc có chủ quyền đối với quần đảo “Nam Sa”, không hề nhắc đến quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là quần đảo “Tây Sa”. Thực tế quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam bị Trung Quốc cưỡng đoạt bằng sức mạnh vào các thời điểm năm 1909, 1946,1956 và 1974.
Theo chúng tôi, đây là một sự phớt lờ có chủ ý của Trung Quốc. Họ áp đặt rằng quần đảo “Tây Sa” (Hoàng Sa) vốn dĩ từ lâu trong lịch sử đã thuộc chủ quyền của Trung Quốc, không có vấn đề tranh chấp, không cần bàn cãi. Những đồng thời cũng đồng nghĩa, ở chiều ngược lại, Trung Quốc đã ngầm thừa nhận quân đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam mà Trung Quốc đã đánh chiếm trái phép. Cho nên Trung Quốc mới cố tình phớt lờ thực tế hiển nhiên đó.(!?)
Cố tình giải thích, áp dụng sai Công ước Luật biển
Ông Vương Nghị đã viện dẫn Công ước của Liên hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, để khẳng định Trung Quốc có chủ quyền đối với quần đảo “Nam Sa”, và cho rằng “tất nhiên là có các quyền và lợi ích trên biển tương ứng. Điều đó không hề mâu thuẫn với các quy định của UNCLOS1982…”
Trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin đi sâu phân tích về phương pháp thiết lập hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải và hiệu lực của các thực thể địa lý tồn tại trên biển trong việc xác lập phạm vi các vùng biển và thềm lục địa xung quanh chúng để thấy Trung Quốc đã cố tình giải thích và áp dụng sai Công ước.
Về căn cứ thiết lập đường cơ sở của các thực thể địa lý ở giữa Biển Đông, tại Phần IV, Điều 46, UNCLOS1982, đã định nghĩa về Quốc gia quần đảo và quần đảo:
“Quốc gia quần đảo” (Etat Archipel) là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều quần đảo và có khi bởi một số hòn đảo khác nữa.
“Quần đảo” (Archipel) là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử.
Đồng thời Điều 47 đã quy định: Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc chìm lúc nổi của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước đó với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ lệ số 1/1 và 9/1…
Mặc dù, Phần IV, UNCLOS1982, không có điều khoản nào quy định phương pháp vạch đường cơ sở của quần đảo không phải là quốc gia quần đảo, nhưng, ngày 15/5/1996, Trung Quốc vẫn ra tuyên bố hệ thống đường cơ sở thẳng tại quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam), theo phương pháp thiết lập hệ thống đường cơ sở quốc gia quần đảo.
Như vậy, Trung Quốc đã giải thích và áp dụng sai các quy định của Phần IV, UNCLOS1982 trong việc xác lập hệ thống đường cơ sở đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trung Quốc cũng đang tính đến việc xác lập hệ thống đường cơ sở ở quần đảo Trường Sa, mà họ gọi là Nam Sa, sau khi tìm cách chiếm đóng thêm các thực thể là các bãi cạn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa của các quốc gia xung quanh Biển Đông.
Từ cách xác lập hệ thống đường cơ sở sai trái đó, Trung Quốc khẳng định họ có quyền xác định các “vùng biển liên quan” đến 200 hải lý xung quanh các quần đảo ở giữa Biển Đông. Đây cũng là sự cố tình giải thích và áp dụng sai quy định của UNCLOS1982 về hiệu lực để xác lập các vùng biển và thềm lục địa xung quanh các thực thể địa lý ở giữa biển.
UNCLOS1092, tại Phần VIII, Điều 121 quy định:
1.“Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước”.
2. “Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác.
3. “Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.”
Theo Phán quyết của Hội đồng Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII để xử vụ Philippines kiện Trung Quốc năm 2016, nếu căn cứ vào nguồn gốc của các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, thì tất các đảo ở đây rất nhỏ bé, không thích hợp cho đời sống của cộng đồng dân cư và không có đời sông kinh tế riêng nên chỉ có thể có vùng lãnh hải tối đa 12 hải lý.
Từ những điều nói trên có thể khẳng định “Luật” mà ông Vương Nghị đề cập trong phát biểu của mình vừa qua là “Luật” của kẻ mạnh. “Luật” này là kết quả của việc Trung Quốc đã cố tình giải thích và áp dụng sai UNCLOS1982. Nó hoàn toàn trái với Công ước của Liên hợp Quốc về Luật Biển 1982. Viện dẫn Công ước Luật biển nhưng Trung Quốc lại thẳng tay phủ nhận phán quyết của Hội đồng Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của chính Công ước.
Chắc chắn công đồng quốc tế đã và sẽ không bao giờ “tôn trọng” thứ “luật” của riêng Trung Quốc này!
Hãng PTI dẫn nguồn tin của Bộ Quốc phòng Ấn Độ cho biết, ngày 23/8, Hải quân nước này đã tiến hành cuộc tập trận Hải quân với Philippines ở Biển Đông.
Hình ảnh các tàu của Ấn Độ và Philppines trong cuộc tập trận ở Biển Đông ngày 23/8.
Trong cuộc tập trận này, Hải quân Ấn Độ triển khai tàu khu trục tên lửa dẫn đường INS Ranvijay và tàu hộ tống tên lửa dẫn đường INS Kora trong khi Hải quân Philippines đưa tàu khu trục BRP Antonio Luna tham gia.
Theo người phát ngôn Hải quân Ấn Độ Vivek Madhwal, cuộc tập trận nhằm củng cố khả năng tương tác hoạt động trên biển của các tàu hải quân hai nước.
Ông Madhwal cũng nêu rõ: “Hải quân hai nước cam kết tăng cường hơn nữa hợp tác song phương trong lĩnh vực hàng hải, hướng tới mục tiêu chung là đảm bảo một Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương ổn định, hòa bình và thịnh vượng”.
Hai tàu hải quân Ấn Độ hiện đang được triển khai tới Tây Thái Bình Dương với mục đích tăng cường hợp tác an ninh hàng hải với các quốc gia đối tác. Sự tương tác với BRP Antonio Luna là một cơ hội tốt để Hải quân Ấn Độ củng cố mối quan hệ song phương với Hải quân Philippines.
Hợp tác quốc phòng và an ninh giữa Ấn Độ và Philippines đang có xu hướng phát triển trong vài năm trở lại đây.
Trước đó, ngày 18/8, Hải quân Ấn Độ và Việt Nam cũng đã tiến hành cuộc tập trận hải quân chung trên Biển Đông.
Chuyến thăm chóng vánh của bà Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris đến Việt Nam kết thúc sau hai ngày 25 và 26/8. Thật ra thời gian đón rước, hội đàm chỉ gói gọn trong vài giờ đồng hồ. Nội dung hai bên trao đổi với nhau thì dường như tất cả đã biết trước và giới thạo tin cũng biết trước, kể cả “đáp số” của bài toán ngoại giao.
Người dân Hà Nội vốn quan tâm đến chính trị bảo nhau: Thôi bàn chuyện gì có lợi cho dân cho nước cũng tốt, lúc này phải ẩn mình chờ thời thôi. Nhưng khoái nhất là lần này được xem bà Tân Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đón và tiếp khách. Có vẻ như cứng quá, đuối tầm quá trước một vị khách có vị thế quốc gia, tầm vóc hơn hẳn.
Nhưng đó là chuyện vui thôi, để khỏi bàn đến những điều tế nhị.
Tế nhị như chuyện tối hôm 24/8 bỗng dưng ông bạn láng giềng cử ngay Đại sứ Hùng Ba đến gặp Thủ tướng Việt Nam. Và nhân đây ông bạn tặng liền 2 triệu liều vaccines của hãng Sinopharm, dẫu biết dân Việt không ai muốn tiêm loại kháng thể này. Thế rồi ông Đại sứ dò hỏi về thái độ của Hà Nội khi Washington đề nghị nâng cấp quan hệ đối tác Việt-Mỹ lên mức đối tác chiến lược. Ông Thủ tướng Phạm Minh Chính đã phải khéo léo nói về phương châm của chúng tôi trước sau như một là, không liên kết với nước này để chống nước khác. Một câu trả lời không mất lòng ai.
Tế nhị như chuyện bà Phó Tổng thống Mỹ da màu, một nhà luật pháp cứng rắn đã đề nghị thẳng thắn và muốn nhận từ Hà Nội câu trả lời thẳng thắn, rằng: Hà Nội có đồng ý nâng cấp quan hệ của hai nước từ toàn diện lên đối tác chiến lược hay không? Ông Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã “đọc” nguyên văn rằng: “Việt Nam nhất quán thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và sẵn sàng là đối tác tin cậy, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển khu vực cũng như trên thế giới. Trên cơ sở đó, Việt Nam luôn coi Mỹ là một trong những thay đổi quan trọng hàng đầu và mong muốn cùng Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ đối tác toàn diện ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả, vững chắc, cùng có lợi, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn lãnh thổ, thể chế của nhau”.
Ông Phúc trả lời như thế là không còn ngại gì Bắc Kinh lườm nguýt. Nhưng chắc chắn bà Harris sẽ ngao ngán. Ngao ngán bởi chính Lầu Năm Góc cũng đoán được phần nào câu trả lời ấy của Ba Đình. Nhưng bắt bẻ sao đây, khi chủ nhà nói rằng, họ muốn quan hệ đối tác toàn diện đi vào chiều sâu? Cái chiều sâu ấy hình thù ra sao, sâu đến mức nào, rộng đến mức nào, thắm thiết đến mức nào thì chịu.
Nhưng cái mà Hà Nội cần thì rất rõ. Chúng tôi cần vaccines. Cuộc chiến chống Covid-19 của chúng tôi đang hồi căng thẳng phức tạp nhất, tỉ lệ người tử vong so với số người nhiễm bệnh là 2,4%, cao hơn mức trung bình của thế giới 0,4%. Chúng tôi cần hợp tác chặt chẽ với Mỹ để duy trì quyền tự do hàng hải quốc tế dựa trên luật lệ, giữ gìn an toàn, an ninh trên Biển Đông. Các quốc gia phải tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) 1982. Chúng tôi cần đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực, nhất là hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư an ninh quốc phòng, khắc phục hậu quả chiến tranh, ứng phó biến đổi khí hậu, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, v.v..
Xem ra, những vấn đề cụ thể thì Hà Nội nhấn nhá rất kỹ càng, rành mạch. Kể cả câu chuyện cụ thể như, tăng cường hợp tác giữa cảnh sát biển hai nước; như việc chuyển giao cho Việt Nam một con tàu tuần duyên nữa (con tàu thứ ba), nhằm “nâng cao năng lực của Việt Nam trong việc đóng góp vào an ninh hàng hải ở Biển Đông”. Một việc nữa, quan trọng không kém là hai bên sẽ ra mắt văn phòng khu vực Đông Nam Á của Trung tâm Phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) tại Hà Nội.
Thời gian ngắn, hiệu quả đàm phán xem như thế là “thành công tốt đẹp” theo cách nói mà các nhà lãnh đạo Ba Đình thường tổng kết.
Duy chỉ có cái cốt lõi của vấn đề ngoại giao vẫn còn bỏ ngỏ. Rằng, khi Mỹ-Việt chưa trở thành đối tác chiến lược thì nhiều vấn đề liên quan đến các quyết định hỗ trợ kinh tế, quân sự không thể thực hiện, bởi nó không phụ thuộc vào ý chí cá nhân, nó cần được thực hiện bởi Quốc hội, với Mỹ là Hạ viện, Thượng viện. Khi Mỹ- Việt mới chỉ nâng tầm… sâu thì Bắc Kinh còn yên tâm mà múa gậy vườn hoang, coi Biển Đông là sân sau nhà mình.
Đã trả lời xong câu hỏi khó nhất, Ba Đình dễ dàng vượt qua các câu hỏi khác, như, vấn đề cốt tử của Mỹ sau khi triệt thoái khỏi Afghanistan là “quay lại châu Á” và “quay lại để ở lại”. Phó Tổng thống Mỹ Harris đã trình bày trước cả ông Chủ tịch nước và ông Thủ tướng Việt Nam về tầm nhìn Indo-Pacific và kêu gọi Việt Nam cùng bàn bạc với Mỹ những bước đi cụ thể nhằm chia sẻ tầm nhìn chung liên quan đến tương lai của khu vực “Indo-Pacific tự do và rộng mở” (FOIP).
Phó tổng thống Mỹ Kamala Harris đề cập các cam kết của Mỹ ở Biển Đông trong cuộc gặp Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long. Tại cuộc họp báo chung, họ cũng nói tới tình hình Afghanistan.
Ngày 23-8, trong chuyến thăm Singapore, Phó tổng thống Mỹ Kamala Harris đã tái xác nhận cam kết của Mỹ về việc hợp tác với các đồng minh và đối tác trong việc duy trì và bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ và tự do hàng hải ở Biển Đông, theo Hãng tin Reuters.
„Trong cuộc gặp (với Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long), tôi đã tái xác nhận cam kết của Mỹ về việc hợp tác với các đồng minh và đối tác của chúng tôi trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật lệ và tự do hàng hải, gồm ở Biển Đông“ – Hãng tin Reuters dẫn lại phát biểu của bà Harris sau cuộc gặp với ông Lý.
Ngoài ra, bà Harris cho biết: „Hôm nay chúng tôi có mặt tại Singapore để nhấn mạnh và tái xác nhận quan hệ lâu dài của chúng tôi với Singapore và khu vực này. Chúng tôi có mặt tại đây để củng cố tầm nhìn chung về một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở“.
Trong ngày làm việc đầu tiên 23-8 khi đến Singapore, bà Harris đã gặp Thủ tướng Lý Hiển Long và Tổng thống Halimah Yacob của Singapore.
Sau đó, bà Harris dự cuộc họp báo chung với ông Lý. Họ đề cập nhiều vấn đề từ tình hình Afghanistan cho tới cuộc khủng hoảng ở Myanmar.
Ông Lý hy vọng „Afghanistan không trở thành nơi dung dưỡng khủng bố một lần nữa“. Còn bà Harris cho biết hiện nay Mỹ đang tập trung sơ tán công dân Mỹ, những người Afghanistan đã làm việc cho Mỹ, và những người Afghanistan dễ bị tổn thương, gồm trẻ em và phụ nữ.
Đây là chuyến công du nước ngoài thứ hai của bà Kamala Harris trên cương vị phó tổng thống Mỹ. Trước đó, bà đã đến thăm Guatemala và Mexico trong tháng 6.
Singapore là một trong những đối tác an ninh có quan hệ mật thiết nhất với Mỹ trong khu vực. Tuy nhiên, Singapore cũng tìm cách cân bằng quan hệ với Mỹ và Trung Quốc bằng cách không chọn đứng về phe nào.
Theo Hãng tin AP, cũng trong ngày 23-8, Nhà Trắng đã công bố một loạt thỏa thuận mới với Singapore nhằm đối phó với các mối đe dọa trên không gian mạng, biến đổi khí hậu, đại dịch COVID-19, và các vấn đề liên quan chuỗi cung ứng.
Sau cuộc gặp Thủ tướng Lý Hiển Long, theo lịch trình, Phó tổng thống Mỹ Kamala Harris đến thăm căn cứ hải quân Changi. Tại đây, bà sẽ có bài phát biểu trước các thủy thủ Mỹ trên chiến hạm USS Tulsa của Mỹ.
Đến ngày 24-8, bà Harris sẽ có bài phát biểu về tầm nhìn của chính quyền Tổng thống Joe Biden đối với khu vực. Bà cũng sẽ gặp các lãnh đạo doanh nghiệp để thảo luận về vấn đề chuỗi cung ứng.
Sau chuyến thăm Singapore, bà Kamala Harris sẽ đến Việt Nam. Theo Hãng tin AP, đây sẽ là lần đầu tiên một phó tổng thống Mỹ đến thăm Việt Nam.
Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius trả lời phỏng vấn của TG&VN về chuyến thăm Việt Nam sắp tới của Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris và hợp tác song phương thời gian tới.
Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius phát biểu nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc khánh thứ 239 của nước Mỹ và 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Mỹ, tại TP. Hồ Chí Minh ngày 1/7/2015. (Nguồn: TTXVN)
Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris dự kiến sẽ thăm Việt Nam vào tuần tới. Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của một Phó Tổng thống Mỹ tới Việt Nam và chuyến công du thứ hai của một quan chức nội các Mỹ tới Đông Nam Á trong chưa đầy một tháng. Điều gì khiến Việt Nam được lựa chọn, thưa ông?
Việt Nam đóng vai trò đặc biệt quan trọng với Mỹ, không chỉ do liên kết thương mại và đầu tư song phương bền chặt, mà bởi vì mối quan hệ này là minh chứng rằng hai nước từng đối đầu hoàn toàn có thể trở thành bạn thân thiết, đối tác tin cậy.
Bất kỳ ai đến Việt Nam đều ấn tượng trước tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, sự thân thiện của người dân và bề dày lịch sử, văn hóa của mảnh đất này. Hiện có hơn 2 triệu người Mỹ gốc Việt. Hợp tác giáo dục Việt-Mỹ đang phát triển mạnh mẽ.
Ngoài ra, Việt Nam nằm trong Đông Nam Á, nơi có 10 nước thuộc khối ASEAN với 662 triệu người và tổng GDP 3,200 tỷ USD. Khu vực này có ý nghĩa kinh tế đặc biệt quan trọng với Mỹ. Năm 2020, doanh nghiệp tư nhân Mỹ đã đầu tư vào ASEAN tới 388 tỷ USD – con số này bằng cả Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc cộng lại.
Cũng trong năm qua, Mỹ xuất khẩu lượng hàng hóa và dịch vụ trị giá 122 tỷ USD tới các nước Đông Nam Á, khiến ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn thứ 4 của Mỹ sau Canada, Mexico và Trung Quốc.
Ngoài ra, Mỹ có lợi ích cốt lõi trong đảm bảo quyền tự do hàng hải và hàng không trên các vùng biển và đại dương, trong đó có Biển Đông. Chính quyền Mỹ cũng có lợi ích trong duy trì tăng trưởng và thịnh vượng tại các nước ở hai bờ sông Mekong.
“Trong bối cảnh đó, Phó Tổng thống Kamala Harris rõ ràng có nhiều nội dung để thúc đẩy nhân chuyến thăm Việt Nam, nước đóng rất quan trọng với Mỹ”. (Ông Ted Osius, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam nhiệm kỳ 2014-2017)
Kỳ vọng của ông đối với chuyến thăm này?
Đây là chuyến công du nước ngoài thứ hai của Phó Tổng thống Kamala Harris. Lựa chọn Singapore và Việt Nam để dừng chân phản ánh tầm quan trọng của ASEAN với Mỹ.
Vài tuần trước, chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin tới Đông Nam Á đã nhấn mạnh vào thúc đẩy hợp tác an ninh. Như vậy, tới đây, Phó Tổng thống Harris có thể thảo luận về các vấn đề vượt xa khuôn khổ hợp tác an ninh với lãnh đạo Việt Nam, bao gồm thương mại.
Bởi lẽ, mọi cam kết về an ninh và chiến lược với ASEAN đều khó thành hiện thực nếu thiếu vắng hợp tác thương mại và đầu tư.
Hầu hết nền kinh tế các nước ASEAN có định hướng xuất khẩu. Do đó, thương mại là điểm xuất phát tốt để Mỹ thể hiện cam kết với Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nói chung và để bà Harris nhấn mạnh sự trở lại của Mỹ tại Đông Nam Á nói riêng.
Doanh nghiệp Mỹ cũng hiểu rõ câu chuyện này. Các hãng công nghệ nhận thức rằng Đông Nam Á là thị trường Internet phát triển nhanh nhất thế giới, với nền kinh tế số dự kiến vượt mốc 300 tỷ USD năm 2025. Khi các nước ASEAN thúc đẩy phục hồi kinh tế sau đại dịch, một phần động lực cho tăng trưởng đó sẽ đến từ kinh tế số.
Tương tự, Việt Nam đã nhiều lần thể hiện mong muốn xây dựng, thúc đẩy nền kinh tế số. Đây là nội dung Phó Tổng thống Harris có thể khai thác nhân chuyến thăm tới.
Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius tin rằng Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris có thể làm được rất nhiều việc trong chuyến thăm Việt Nam. (Ảnh: Reuters)
Một lĩnh vực quan trọng của hợp tác Việt-Mỹ thời gian qua là phòng chống đại dịch Covid-19. Đây cũng là một trọng tâm được đề cập trong thông cáo báo chí về chuyến thăm của bà Harris. Ông nhận định gì về hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực này?
Tất nhiên rồi. Cùng các cựu Đại sứ khác, tôi đã viết thư kêu gọi Tổng thống Joe Biden hỗ trợ vaccine Covid-19 cho Việt Nam. May mắn là Washington đã lắng nghe. Ở thời điểm hiện tại, Mỹ đã cung cấp số lượng đáng kể vaccine cho Việt Nam.
Tuy nhiên, đây chưa phải là giới hạn trong hợp tác giữa hai nước. Quá trình hợp tác trong lĩnh vực y tế công cộng giữa Việt Nam và Mỹ đã kéo dài gần hai thập kỷ, khi hai bên chung tay đẩy lùi dịch bệnh SARS những năm 2000 và sau đó là HIV/AIDS.
Nhiều nhà dịch tễ học Việt Nam đã tham gia các khóa đào tạo tại Mỹ. Các trung tâm cấp cứu lớn tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam đã cộng tác, chia sẻ dữ liệu thời gian với Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ.
Với hệ thống y tế công cộng phát triển vượt bậc, trong giai đoạn đầu đại dịch, Việt Nam nằm trong danh sách nước tiêu biểu về phòng chống Covid-19 trên thế giới.
Cùng các cựu Đại sứ khác, tôi đã viết thư kêu gọi Tổng thống Joe Biden hỗ trợ vaccine Covid-19 cho Việt Nam. May mắn là Washington đã lắng nghe…
Biến thể Delta của virus SARS-CoV-2 đã khiến tất cả các nước trên thế giới, dù là Mỹ hay Việt Nam, gặp nhiều khó khăn.
Tuy nhiên, chính phủ Việt Nam đã hành động quyết liệt, đẩy nhanh nhanh quá trình tiêm chủng tại TP. Hồ Chí Minh trong tháng qua.
Trong bối cảnh đó, Mỹ sẽ tiếp tục là một đối tác lớn của Việt Nam về phòng, chống dịch Covid-19 và hồi phục kinh tế sau đại dịch. Chuyến thăm tới là cơ hội để Phó Tổng thống Harris đưa hợp tác song phương trong lĩnh vực này lên một tầm cao mới.
Ông nói rằng quan hệ Việt-Mỹ minh chứng rằng hai nước từng đối đầu hoàn toàn có thể trở thành bạn thân thiết, đối tác tin cậy. Đó có phải là lý do ông đặt tên cho cuốn sách sắp xuất bản về quan hệ Việt-Mỹ của mình là “Không gì là không thể”?
Cuộc hội thảo ấy đã truyền cảm hứng để tôi viết nên tựa đề cuốn sách về quan hệ Việt-Mỹ là „Không gì là không thể: Tiến trình hòa giải giữa Mỹ và Việt Nam“… (Nguồn: Rutgers)
Cảm ơn bạn đã quan tâm. Cuốn sách song ngữ này dự kiến sẽ được giao tới những người đã trước vào đầu tháng 9, trước khi lên kệ ngày 15/10 tới. Song một số ấn bản đã tới tay bạn đọc ở Mỹ và Việt Nam. Độc giả có thể đặt mua trước cuốn sách với ưu đãi tới 30% tại đây.
Ông Ted Osius trong buổi trò chuyện với sinh viên Đại học Fulbright Việt Nam. (Nguồn: Đại học Fulbright Việt Nam)
Tựa đề của cuốn sách là Không gì là không thể: Tiến trình hòa giải giữa Mỹ và Việt Nam. Nó kể về tiến trình hòa giải kéo dài hơn 25 năm mà tôi có vinh hạnh được chứng kiến và đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình.
Ý tưởng về cái tên cho cuốn sách này đến từ một sự kiện 6 năm trước. Tháng 1/2015, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hà Kim Ngọc cùng một số nhà ngoại giao Việt Nam đã tổ chức một cuộc hội thảo nhân dịp kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ.
Tôi đã may mắn góp mặt tại sự kiện này cùng Thứ trưởng Ngọc, các cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam như Đại sứ Pete Peterson, Đại sứ Michael Michalak, các cựu Đại sứ Việt Nam tại Mỹ và nhiều người từng góp công thúc đẩy quan hệ song phương.
Đó thực sự là khoảnh khắc tuyệt vời.
Đại sứ Pete Peterson, một trong những người sếp đầu tiên của tôi tại Việt Nam, đã khẳng định: “Với quan hệ Việt-Mỹ, không gì là không thể”. Câu nói ấy đã trở thành kim chỉ nam của tôi trong nhiệm kỳ Đại sứ tại Việt Nam – không gì là không thể.
Thứ trưởng Ngọc, hiện là Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, cũng truyền đi thông điệp đầy ấn tượng: “Thay vì chỉ giới hạn trong khuôn khổ song phương, đã đến lúc chúng ta nên mở rộng thảo luận và hợp tác về những vấn đề khu vực và toàn cầu lớn hiện nay”.
Tôi rất tâm đắc với nhận định này và đã tích cực thúc đẩy trong nhiệm kỳ Đại sứ của mình.
Tới tận bây giờ, Đại sứ Ngọc vẫn tiếp tục theo đuổi tầm nhìn năm ấy về mở rộng hợp tác Việt-Mỹ trong các vấn đề khu vực và toàn cầu hai bên có chung lợi ích.
Cuộc hội thảo ấy đã truyền cảm hứng để tôi viết nên tựa đề cuốn sách về quan hệ Việt-Mỹ, Không gì là không thể: Tiến trình hòa giải giữa Mỹ và Việt Nam.
Liệu ông có thể “bật mí” về một số nội dung trong cuốn sách?
Cuốn sách không đi sâu vào chính sách hay chỉ dành cho giới học giả. Nó đơn giản là kể chuyện về những “người hùng” đóng góp cho quá trình hòa giải Việt-Mỹ.
Có những người từng đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng như cựu Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, cố Thượng nghị sỹ John McCain hay cố Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Song cũng có không ít “người hùng” đóng góp cho tiến trình hòa giải một cách thầm lặng và chẳng màng danh tiếng. Tôi cố gắng kể lại câu chuyện của tất cả bởi tôi tin rằng, hòa giải là nỗ lực xuất phát từ trái tim.
Vì thế, cuốn sách kể về những người tôi có dịp quen biết trong mối lương duyên 26 năm với Việt Nam. Nó khắc họa nỗ lực phi thường của cá nhân, tập thể, Việt Nam có, Mỹ có, nhằm vượt qua rào cản để kết nối hai nước.
Một khi vượt qua quá khứ, nhìn về tương lai chung, tiềm năng hợp tác giữa hai nước là vô cùng rộng lớn. Đó là điều mà Việt Nam và Mỹ đã, đang và sẽ tiếp tục làm thời gian tới. Nhìn lại, có thể thấy chúng ta đã có bước tiến dài, từ đối thủ năm 1990 để trở thành bạn bè, đối tác năm 2021.
Dường như ông vẫn dành một tình cảm đặc biệt cho Việt Nam. Giờ đây, khi sắp trở thành Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp Mỹ-ASEAN (USABC) với liên kết đặc biệt với Đông Nam Á, liệu ông có kế hoạch trở lại Việt Nam? USABC có thể đóng góp như thế nào cho tiến trình phục hồi kinh tế sau đại dịch của ASEAN nói chung, Việt Nam nói riêng?
Tất nhiên rồi! Một khi tình hình đại dịch Covid-19 có tiến triển tích cực, tôi sẽ trở lại Việt Nam.
Về câu hỏi của bạn, tôi chỉ chính thức đảm nhiệm Chủ tịch USABC tuần tới. Tuy nhiên, tôi đã suy nghĩ về những gì doanh nghiệp Mỹ và ASEAN có thể thực hiện.
Đầu tiên, ưu tiên hàng đầu trong đại dịch Covid-19 là phản ứng khẩn cấp. USABC đã đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ cung cấp oxy, bộ xét nghiệm và dụng cụ y tế cho các nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch. Nỗ lực này được dẫn dắt bởi một số doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ và USABC là thành viên then chốt.
Cụ thể, các công ty Mỹ nhanh chóng hỗ trợ Ấn Độ sau khi làn sóng lây nhiễm chưa từng có xuất hiện tại nước này và giờ đây, sự chú ý đang hướng về Indonesia, một “tâm chấn” khác của Covid-19. Họ cũng đang tìm hiểu cách thức hỗ trợ Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và các nước Đông Nam Á khác chịu tác động nặng nề từ biến thể Delta.
Còn đó thách thức, chẳng hạn như công ty tư nhân hiện không thể mua, phân phối hay tặng vaccine. Tôi hy vọng rằng qua thời gian, khi các hãng dược đẩy nhanh tiến độ sản xuất, doanh nghiệp Mỹ có thể đóng góp trực tiếp hơn vào quá trình phân phối vaccine Covid-19.
Tôi yêu mảnh đất này và tôi rất nóng lòng quay lại. Việt Nam đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc đời tôi…
Trong khi đó, cơ hội về phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19 đang rộng mở với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là trong nền kinh tế số.
Khi còn ở Google, chúng tôi đã làm việc với Temasek (Singapore) để nghiên cứu về cách các nước ASEAN đang tận dụng các cơ hội số.
Bất chấp đại dịch Covid-19, nền kinh tế số của Việt Nam vẫn phát triển mạnh mẽ và nằm trong nhóm tăng trưởng nhanh nhất khu vực.
Khi ấy, USABC có thể giúp các nước ASEAN nâng cao tiêu chuẩn trong lĩnh vực số. Đơn cử là Hiệp định Đối tác Kinh tế Kỹ thuật số (DEPA) mà Singapore cùng một số nước như New Zealand, Chile…đã ký kết.
Nó sẽ thúc đẩy tính đồng bộ thể chế, giải quyết thách thức mới từ số hóa như kiểm soát dữ liệu xuyên biên giới. Đây là tiêu chuẩn vàng cho các hiệp định thương mại số. Mỹ và Nhật Bản có tiêu chuẩn rất cao về hiệp định thương mại số và đã đến lúc ASEAN tham gia cuộc chơi.
Cuối cùng, trong bối cảnh phục hồi sau đại dịch, đã đến lúc các nước ASEAN phối hợp xây dựng các bộ quy tắc, luật lệ chung. Đại dịch đã ít nhiều khiến các nước trở nên hướng nội. Đã đến lúc các nước Đông Nam Á cùng tái hiện thái độ cởi mở, thứ định hình ASEAN trong quá khứ và sẽ tiếp tục đóng là chìa khóa trong tương lai.
Cuối cùng, tôi cho rằng cần giữ dòng chảy thông tin và thương mại được thông suốt. ASEAN nên tiếp tục mở cửa cho doanh nghiệp và đầu tư như trong quá khứ và Việt Nam có thể dẫn dắt nỗ lực này.
USABC sẽ tích cực đóng góp vào quá trình này, từ đó thúc đẩy phục hồi sau đại dịch của ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng.
Weder der BND noch andere Nachrichtendienste haben anscheinend den schnellen Siegeszug der Taliban kommen sehen. Was ist da schiefgelaufen? Offizielle Informationen gibt es kaum, um so mehr wird spekuliert.
Unterschätzt: der schnelle Vormarsch der Taliban
Der Bundesnachrichtendienst (BND) ist der zivile und militärische Auslandsnachrichtendienst der Bundesrepublik Deutschland. „Er hat den Auftrag, Informationen von außen- und sicherheitspolitischer Bedeutung zu sammeln, auszuwerten und der Bundesregierung in Form von Meldungen und Analysen zur Verfügung zu stellen.“ So steht es auf der Homepage des Geheimdienstes, der sich als Frühwarnsystem für die Politik versteht.
Gemessen an seinem Selbstverständnis hat der BND in Afghanistan eine dramatische Niederlage erlitten. Und er hat die Bundesregierung in Erklärungsnot gebracht. Denn noch im Juni hielt es Außenminister Heiko Maas im Deutschen Bundestag für ausgeschlossen, „dass die Taliban in wenigen Wochen das Zepter in der Hand haben“. Seine Prognose, so darf und muss man annehmen, basierte auch und wohl wesentlich auf Informationen des Bundesnachrichtendienstes.
Gefährdung der Bundeswehr und der Botschaft unterschätzt
Regelmäßig wird die Bundesregierung vom BND, dem für das Inland zuständigen Bundesamt für Verfassungsschutz (BfV) und dem Militärischen Abschirmdienst (MAD) über die allgemeine Sicherheitslage informiert. Diese sogenannten Lagebilder sind vor allem für Bundeswehr-Soldaten in Auslandseinsätzen und das Personal deutscher Botschaften einschließlich einheimischer Ortskräfte wichtig.
Maas: Deutsche Botschaft in Kabul evakuiert
Dass sie alle in Afghanistan nach dem Abzug der internationalen Truppen so schnell in höchste Gefahr geraten könnten, haben die Nachrichtendienste des Bundes, allen voran der BND, offenkundig komplett übersehen. Dafür sprechen die hektischen Rettungs- und Evakuierungsmaßnahmen am Flughafen in Kabul. „Es gibt nichts zu beschönigen“, räumt Außenminister Maas ein. Sowohl der Sozialdemokrat als auch die christdemokratische Bundeskanzlerin Angela Merkel müssen sich jetzt kritische Fragen gefallen lassen. Das gilt auch für den BND.
Mutmaßungen eines ehemaligen BND-Mitarbeiters
Der SPD-Abgeordnete Uli Grötsch fordert gegenüber der DW eine unverzüglich einzuberufende Sondersitzung des Parlamentarischen Kontrollgremiums für die Geheimdienste, dem er selbst angehört. „Die Bundesregierung, die Nachrichtendienste und auch unsere internationalen Partner haben die Situation im Umfeld des Truppenabzuges falsch eingeschätzt.“ Das sei auch bitter angesichts des jahrelangen internationalen Engagements der Bundeswehr in Afghanistan.
Grötsch erwartet eine „gründliche Aufarbeitung und Analyse der Lageeinschätzung“. Er stelle sich die Frage, ob diese Dynamik beziehungsweise die Eskalation und die rasante Machtergreifung der Taliban vorhersehbar gewesen sei. Der ehemalige BND-Mitarbeiter Gerhard Conrad hat darauf schon kurz nach der Machtübernahme der Taliban im ARD-Fernsehen eine Antwort gegeben: Geheimdienste müssten mit vielen Kräften vor Ort sein, was in Afghanistan bekanntermaßen nicht mehr der Fall gewesen sei.
„Sie müssen die Bewegungen des Gegners, der Taliban, kennen. Sie müssen auch die Kräfte, die Absichten der Regierungsseite kennen.“ Beides werde nicht in ausreichendem Umfang der Fall gewesen sein, vermutet der frühere BND-Mann. Wenn eine Seite den Eindruck habe, „dass sie durchmarschieren kann“, dann werde sie es aller Wahrscheinlichkeit nach tun. „Jedenfalls muss man sich darauf einstellen.“
In Afghanistan hat der BND beim Einschätzen der Sicherheitslage offenbar keine gute Figur abgegeben
Conrads früherer Arbeitgeber, so scheint es, hat genau das versäumt. So sieht es auch der Linken-Politiker André Hahn. Er ist wie Uli Grötsch parlamentarischer Geheimdienst-Kontrolleur und wirft dem BND auf DW-Nachfrage totales Versagen vor. Der habe keine Ahnung davon gehabt, wie schnell die Taliban nach dem Truppenabzug die Macht in Kabul übernehmen würden. „Man hat sich beim BND wohl vollständig auf die Informationen der US-Dienste verlassen.“ Die aber hätten die dramatischen Entwicklungen auch nicht gesehen und nach dem Rückzug der Amerikaner gar nichts mehr liefern können.
„Wofür braucht man einen solchen Auslandsgeheimdienst?“
„Eigene Erkenntnisse des BND – absolute Fehlanzeige!“, empört sich Hahn. Da stelle sich dann schon die Frage: „Wofür braucht man einen solchen Auslandsgeheimdienst?“ Derweil berichtet die „New York Times“ unter Berufung auf nicht näher genannte Insider, amerikanische Geheimdienste hätten bereits im Juli vor einem raschen Sieg der Taliban gewarnt. Eine offizielle Bestätigung von Seiten der US-Regierung gibt es dafür allerdings nicht.
Die Geschichte der Talibanbewegung
Warum es den Taliban im Eiltempo gelungen ist, die Macht an sich reißen, fragt sich auch der Afghanistan-Experte Jan Koehler. Seine Expertise war schon mehrmals in Sitzungen des Auswärtigen Ausschusses im Bundestag gefragt. Nun sagt der in London und an der Universität Oldenburg in Niedersachsen forschende Wissenschaftler im DW-Gespräch: „Auch gut vernetzte afghanische Organisationen und seit Jahrzehnten vor Ort tätige Entwicklungsorganisationen sind vom schnellen Sieg der Taliban massiv überrascht und überrumpelt worden.“
„Afghanen kämpfen nicht für Verlierer“
Dennoch hat Koehler, der Afghanistan seit 2003 regelmäßig bereist, eine mögliche Erklärung für den „plötzlichen Regime-Tod“ der Regierung des ins Ausland geflüchteten Präsidenten Ashraf Ghani. In den Wochen zuvor habe es nämlich auch Stimmen gegeben, die vor einem schnellen Zusammenbruch der Moral gewarnt hätten. Offenkundig habe das fehlende Vertrauen der afghanischen Sicherheitskräfte in die eigene Regierung dazu geführt, die Waffen niederzulegen. Als Phänomen könne man so etwas zwar vorhersagen, aber die Geschwindigkeit sei jetzt „besonders dramatisch“ gewesen.
Afghanistan-Kenner Jan Koehler
Afghanistan-Experte Koehler wundert sich also nicht über das Verhalten der Soldaten und Polizisten, die den Taliban das Feld weitgehend kampflos überlassen haben: „Afghanen kämpfen nicht für Verlierer.“ Als solche haben sich die Truppen anscheinend selbst gesehen, vermutet Koehler und erklärt sich das mit dem schlechten Image der Zentralregierung in Kabul. Man habe ihr nicht zugetraut, in der Lage zu sein, „diesen Krieg um die Staatlichkeit und die Art des Staates ohne Anwesenheit vor allem der Amerikaner tatsächlich zu bestehen“.
Trotz der vielen Fehler, die auch Afghanistan-Kenner Koehler der Regierung in Kabul anlastet, betont er, sie sei nicht „verhasst oder gefürchtet“ gewesen. Misstrauen habe es viel gegeben „und Zweifel an der Redlichkeit“. In Teilen der Bevölkerung habe es sicherlich Fragen der „islamischen Legitimität“ gegeben. Aber viele Afghanen, auch in ländlichen Regionen, hätten die Regierung „gerne als nachhaltige Lösung“ gesehen.
Wenig Spielraum für Bundesregierung und Bundeswehr
Ob die Bundesregierung, basierend auf Einschätzungen auch ihrer Nachrichtendienste, naiv gehandelt hat, vermag Koehler nicht zu beurteilen. „Aber ich glaube nicht, dass die Bundesregierung und die Bundeswehr da besonders viel Handlungsspielraum hatten“. Das seien Dinge, die in Washington auf den Weg gebracht worden seien. Koehler erinnert in diesem Zusammenhang an die Entscheidung des damaligen US-Präsidenten Donald Trump, an der afghanischen Regierung vorbei direkt mit den Taliban über einen Abzug zu verhandeln.
Biden verteidigt Truppenabzug aus Afghanistan
„Die Taliban haben das sicherlich als Kapitulation wahrgenommen“, ist der Afghanistan-Kenner von der Wirkung dieses Signals überzeugt. Und der Abzug sei unter Trumps Nachfolger Joe Biden beschleunigt worden. Koehler schließt aus, dass die Verbündeten der USA, darunter Deutschland, irgendein Mitsprachrecht hatten. „Damit war der Takt vorgegeben“, sagt er mit Blick auf das hohe Tempo des Truppenabzugs.
Für Angela Merkel könnte es ein Nachspiel geben
Für den BND und das ihn beaufsichtigende Kanzleramt hat die Fehler-Analyse gerade erst begonnen. Die Aufarbeitung wird mit Sicherheit auch den nach der Bundestagswahl am 26. September neu zusammengesetzten Bundestag beschäftigen. Vielleicht in Form eines parlamentarischen Untersuchungsausschusses.
Bundeskanzlerin Merkel: „Das ist eine überaus bittere Entwicklung“
Sollte es dazu kommen, müsste sich auch Angela Merkel darauf einstellen, als Zeugin geladen zu werden. Nach ihrem schon lange bekannten Verzicht auf eine erneute Kandidatur würde sie dann jedoch nicht mehr als Bundeskanzlerin erscheinen. Allerdings müsste sie für das Versagen der Geheimdienste in Afghanistan während ihrer Amtszeit die politische Verantwortung übernehmen. Denn der BND fällt in die Zuständigkeit des Kanzleramts und die noch amtierende Chefin verfügt über die sogenannte Richtlinienkompetenz für die ganze Bundesregierung.
Chỉ trong vòng 1 tuần từ ngày 28/7 đến ngày 4/8, Cục Hải sự tỉnh Hải Nam và tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) liên tục ra 10 thông báo về các cuộc tập trận quân sự trên biển. Đáng chú ý nhất trong số đó là cuộc tập trận phạm vi lớn nhất trên Biển Đông kéo dài từ ngày 6-10/8. Các chuyên gia của Trung Quốc đồng quan điểm cho rằng chuỗi động thái cứng rắn kể trên của Trung Quốc là có chủ đích và thông điệp rõ ràng.
Chỉ trong vòng 1 tuần từ ngày 28/7 đến ngày 4/8, Cục Hải sự tỉnh Hải Nam và tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) liên tục ra 10 thông báo về các cuộc tập trận quân sự trên biển. Đáng chú ý nhất trong số đó là cuộc tập trận phạm vi lớn nhất trên Biển Đông kéo dài từ ngày 6-10/8, trải rộng từ phía Đông đảo Hải Nam xuống đến quần đảo Hoàng Sa với diện tích tập trận hơn 100.000 km2.
Cùng thời điểm này, ngày 2/8, Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) ra thông cáo báo chí cho biết Trung Quốc bắt đầu sản xuất dầu khí tại mỏ Liuhua 21-2. Mỏ này nằm ở phía Đông Biển Đông, độ sâu trung bình là 437m, dự kiến Trung Quốc sẽ khai thác 8 giếng tại đây. Hiện nay CNOOC đang hoạt động hết công suất để đạt được mục tiêu đáp ứng sản lượng 15.070 thùng/ngày vào năm 2023.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng liên tiếp công khai thông tin các giàn khoan Nam Hải số 4, Nam Hải số 7, Nam Hải số 10 và Hải dương 943 sẽ tiến hành khoan tác nghiệp ở khu vực phía Bắc Biển Đông, quanh đảo Hải Nam trong tháng 8-9/2021.
Các chuyên gia của Trung Quốc đồng quan điểm cho rằng chuỗi động thái cứng rắn kể trên của Trung Quốc là có chủ đích và thông điệp rõ ràng.
“Chiến binh sói” đang “sẵn sàng chiến đấu”
Theo lý giải của Giáo sư Zhou Yongsheng (Chu Vĩnh Sinh, Học viện Ngoại giao Trung Quốc), Trung Quốc đang muốn khẳng định hiện diện và sức mạnh của mình trước sự “khiêu khích” của Anh, Đức và các bên trên Biển Đông. Đồng thời, Bắc Kinh cũng muốn chuyển thông điệp ra bên ngoài rằng, Trung Quốc đang “sẵn sàng chiến đấu”.
Giáo sư Zhou gắn hành động của Trung Quốc với động thái của Anh khi triển khai tàu sân bay HMS Queen Elizabeth đến Đông Á và tiến hành tập trận trên Biển Đông vào cuối tháng 7 vừa qua. Ngoài Anh, tàu chiến Bayern (Bavaria) của Đức cũng đã khởi hành đến Biển Đông – đánh dấu lần trở lại khu vực đầu tiên của Hải quân Đức sau gần hai thập kỷ. Theo ông Zhou, điều đáng nói ở đây là Đức trước đây luôn tuyên bố sẽ không đi vào khu vực Biển Đông do Berlin muốn duy trì quan hệ với hải quân với Trung Quốc. Song lần này, Đức không những cử tàu chiến tới Biển Đông mà dường như còn có một kế hoạch điều động tàu chiến sẵn sàng đối phó với Trung Quốc trên Biển Đông.
Theo quan sát của Giáo sư Zhou, cả Anh và Đức đều có động thái cho thấy các nước này muốn khiêu khích Trung Quốc khi triển khai tàu chiến đến Biển Đông lần này. Mặc dù Hải quân Anh đã thông báo sẽ không đi vào phạm vi 12 hải lý các đảo trên Biển Đông, và Hải quân Đức cũng gửi thông báo xin phép ghé thăm cảng Thượng Hải. Tuy nhiên, ông Zhou cho rằng Bắc Kinh coi các cuộc tập trận tự do hàng hải trên Biển Đông của các nước phương Tây như Anh, Đức là thách thức nghiêm trọng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.
Đứng trước thách thức đó, Trung Quốc buộc phải có hành động đáp trả và ngay lập tức chuyển thông điệp rằng nước này đã và đang “mài gươm chờ ngày sẵn sàng chiến đấu”. Điều này cho thấy đường lối tư duy “chiến lang” của các “chiến binh sói” Trung Quốc chưa bao giờ chấm dứt.
Vì Mỹ “nhe nanh”, Trung Quốc buộc phải “múa vuốt”
Ngay sau động thái của Anh và Đức, Mỹ tiếp tục tuyên bố tập trận quy mô lớn chưa từng có trên Biển Đông. Theo thông báo từ Lầu Năm Góc, cuộc tập trận toàn cầu Quy mô lớn 21 của Mỹ có sự tham gia của các quân chủng Mỹ, Anh, Úc, Nhật ở 17 múi giờ khác nhau và trải dài khắp khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Thông qua cuộc tập trận này, Mỹ muốn chuyển thông điệp tới Trung Quốc rằng Mỹ có thể cùng lúc giải quyết các thách thức ở nhiều khu vực từ Biển Đen, Đông Địa Trung Hải đến Biển Đông và Biển Hoa Đông, và có thể đồng thời ngăn cản Trung Quốc thống nhất Đài Loan hay kiểm soát quần đảo Điếu Ngư.
Đáp trả lại thông điệp này của Mỹ, theo chuyên gia Hu Xijin (Hồ Tích Tiến, Global Times), Trung Quốc cũng muốn đưa ra lời nhắn gửi tới Mỹ rằng “nếu Mỹ không sợ chiến đấu ở Ấn Độ – Thái Bình Dương, thì Trung Quốc cũng không hề sợ chiến đấu trên Biển Đông”.
Các học giả Trung Quốc cũng chỉ ra rằng Chính quyền của Tổng thống Biden kể từ đầu nhiệm kỳ đến nay dường như đang theo đuổi chính sách cứng rắn hơn với Trung Quốc. Trên thực địa, ngày 23/1/2021 – chỉ ba ngày sau khi lên nắm quyền, Tổng thống Biden đã đưa nhóm tàu sân bay Roosevelt vào Biển Đông. Ngày 4/2, Mỹ tiếp tục triển khai tàu khu trục tên lửa dẫn đường tiên tiến nhất tới Nhật Bản. Ngay sau đó, ngày 5/2, Mỹ tiếp tục cho tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS McCain đi qua eo biển Đài Loan và đi vào khu vực lãnh hải 12 hải lý của Hoàng Sa, đồng thời cử các máy bay tấn công từ tàu sân bay USS Ronald Regan và USS Nimitz tiến vào Biển Đông.
Ngoài ra, ngày 3/8 vừa qua, Mỹ đã phê duyệt kế hoạch bán cho Đài Loan 40 đơn vị pháo tự hành, xe bọc thép, súng máy và dụng cụ chuyển đổi đạn pháo nhằm tăng cường khả năng tự vệ của Đài Loan, bất chấp phản ứng của Trung Quốc.
Trước các diễn biến khiến Bắc Kinh bất mãn này, các chuyên gia Trung Quốc ra sức lên án tấn công Mỹ trên truyền thông và dư luận. Quan điểm chung của giới học giả Trung Quốc cho rằng Mỹ đang gia tăng can dự và tăng cường các hoạt động quân sự khiến tình hình Biển Đông thêm phức tạp. Học giả Trung Quốc cũng lập luận rằng bối cảnh hiện nay buộc Trung Quốc phải đáp trả bằng các cuộc tập trận quy mô không thua kém gì các cuộc tập trận mà Mỹ và các nước phương Tây tiến hành trên Biển Đông.
Khi Trung Quốc “múa vuốt” tấn công, Mỹ và các bên sẽ phản ứng ra sao?
Chuyên gia Trung Quốc chỉ ra rằng, đối tượng mà các cuộc phô diễn sức mạnh của Trung Quốc lần này hướng tới không phải là các bên trong tranh chấp Biển Đông, mà là các nước phương Tây và đặc biệt là Mỹ. Nói cách khác, Trung Quốc đang muốn thử mức độ “hiếu chiến” của Mỹ và các đồng minh tại khu vực.
Dường như muốn “vuốt ve” các bên trong tranh chấp, Giáo sư Zhou chỉ ra rằng mục tiêu của chính quyền trung ương Trung Quốc được thể hiện rõ thông qua việc Bắc Kinh lựa chọn các vị trí hành động trong khoảng thời gian này. Theo ông Zhou, khi mâu thuẫn hay xung đột xảy ra giữa Trung Quốc và các bên yêu sách, Trung Quốc thường lựa chọn các phạm vi khu vực biển gần sát với nước có xung đột để hành động. Tuy nhiên, lần này Trung Quốc lựa chọn phạm vi trung tâm, không sát với đường biên giới biển của các bên yêu sách khác. Điều này cho thấy Bắc Kinh chỉ muốn đánh động và cảnh cáo Mỹ và các nước phương tây không nên tiếp tục các hành động “khuấy động Biển Đông” chọc giận Trung Quốc.
Tuy vậy, không lựa chọn vị trí nhạy cảm không có nghĩa là Trung Quốc lùi bước trong các yêu sách Biển Đông của mình. Chuyên gia chiến lược quân sự Xu Liping (Hứa Lý Bình, Viện Nghiên cứu Chiến lược Toàn cầu và Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc) cho rằng, chuỗi động thái cứng rắn lần này của Trung Quốc không chỉ hướng đến các nước bên ngoài khu vực đang gia tăng sự can dự vào Biển Đông, mà còn muốn truyền thông điệp đến tất cả các bên rằng “quyết tâm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trên biển của Trung Quốc không hề thay đổi”.
Quay lại với thông điệp Trung Quốc đang thử phản ứng của các bên. Trang mạng Đa chiều (Đài Loan) chỉ ra rằng thông báo tập trận trên diện tích hơn 100 nghìn km2 biển của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) cho thấy lần này Trung Quốc sẽ không chỉ bắn pháo hay ngư lôi, mà sẽ đưa cả các loại tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa ra diễn tập để tăng khả năng răn đe các “đối thủ” trên Biển Đông. Ngoài ra, Trung Quốc sẽ còn phô diễn sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa các binh chủng và khí tài từ tàu ngầm, tàu chiến mặt nước, máy bay chiến đấu cho đến các loại tên lửa có thể bắn hạ bất kỳ mục tiêu nào trên Biển Đông.
Trang Đa chiều cũng cho rằng lần này PLA có khả năng sẽ diễn tập phóng tên lửa đạn đạo Đông Phương-26 và tên lửa đạn đạo Đông Phương-21D với tầm bắn lên tới 5000km. Với việc triển khai các tên lửa này, Trung Quốc muốn truyền tải thông điệp rằng Trung Quốc có đủ năng lực để “dằn mặt” bất kỳ tàu mặt nước nào hoạt động ở trong khu vực Biển Đông.
Chuyên gia quân sự Lu Lishi (Lã Lễ Thi, cựu quân nhân Hải quân Đài Loan) cũng chỉ ra rằng phạm vi mà Trung Quốc tuyên bố tập trận lần này chồng lấn với khu vực Mỹ thường xuyên cử tàu tới “tuần tra và giám sát”. Chính vì vậy, việc Trung Quốc tập trận ở đây là cách để thử phản ứng xem liệu Mỹ có “dám” đi vào “vùng cấm” khi Trung Quốc đã “cảnh cáo” hay không. Vì vậy, theo chuyên gia này, thông điệp mà Trung Quốc muốn gửi tới Mỹ chính là “ENTERING PROHIBITED” (“Miễn vào”), không chỉ thế, bởi Trung Quốc có khả năng sẽ diễn tập bắn tên lửa đạn đạo, nên nếu Mỹ không tuân thủ “cảnh cáo miễn vào” của Trung Quốc thì có thể sẽ trở thành “mục tiêu” cho cuộc diễn tập của Trung Quốc.
Và câu chuyện phía sau “hậu trường”
Có ý kiến cho rằng Trung Quốc vẫn luôn khéo léo lồng ghép nhiều mục đích trong cùng một hành động.
Một trong những ý đồ có thể được chính quyền Bắc Kinh lồng ghép trong các hoạt động rầm rộ trên Biển Đông gần đây có thể là mong muốn hướng dư luận trong nước ra bên ngoài để “âm thầm” tổ chức cuộc họp bí mật Bắc Đới Hà – sự kiện chính trị nội bộ thu hút sự quan tâm của 1,4 tỷ dân Trung Quốc và các chính khách quốc tế. Tuy Trung Quốc chưa bao giờ công khai tổ chức Hội nghị này, việc Bộ Ngoại giao Trung Quốc thông báo hoãn họp báo thường kỳ trong 2 tuần kể từ ngày 2/8 có thể là chỉ dấu cho thấy Hội nghị Bắc Đới Hà đang được bí mật tổ chức.
Trong bối cảnh Đại hội 2022 đang cận kề và tham vọng kéo dài nhiệm kỳ của Chủ tịch Tập Cận Bình ngày càng rõ ràng, Hội nghị Bắc Đới Hà năm nay được đánh giá là một trong những bước quan trọng để ông Tập hiện thực hóa giấc mộng của mình. Do đó, có khả năng chính quyền Trung Quốc muốn “khuấy động” tình hình bên ngoài và phô trương sức mạnh quân sự nhằm phục vụ các mục tiêu chính trị nội bộ, đồng thời giảm sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế vào cuộc họp kín đang diễn ra tại Bắc Đới Hà.
Việc Kabul rơi vào tay Taliban – 20 năm sau khi lực lượng này bị đánh đuổi – sẽ chấm dứt ảnh hưởng của Mỹ ở Afghanistan, có thể trong nhiều thập niên. Theo nghĩa đó, sự kiện này có thể được so sánh với cuộc lật đổ quốc vương (Shah) của Iran năm 1979, sự thất thủ của Sài Gòn năm 1975, hay cuộc cách mạng Cuba năm 1959.
Với việc Mỹ không còn hiện diện, Taliban sẽ tìm cách xây dựng quan hệ với một loạt các chủ thể khác, bao gồm Trung Quốc, Pakistan và các quốc gia vùng Vịnh. Các nhà cầm quyền mới của Afghanistan dường như háo hức được quốc tế công nhận, cũng như mong đợi các quan hệ thương mại và viện trợ xuất phát từ đó. Mong muốn đó có thể khiến Taliban tiết chế các hành động cuồng tín của mình.
Việc đối xử với phụ nữ Afghanistan và những kẻ thù đã bị đánh bại của Taliban sẽ được bên ngoài theo dõi đặc biệt chặt chẽ. Một số người phát ngôn của tổ chức này đã gợi ý rằng, không giống như trong thời kỳ đầu cầm quyền trước đây, Taliban sẽ cho phép phụ nữ đi làm và được học hành. Nhưng nhiều phụ nữ Afghanistan, hiện đang tham gia vào hoạt động chính trị và xã hội dân sự, tỏ ra rất nghi ngờ điều này.
Các chính phủ nước ngoài không phải là những chủ thể quốc tế duy nhất có thể quan tâm đến Taliban. Thực tế rằng một phong trào Hồi giáo bạo lực đã thành công trong việc đánh bại Mỹ sẽ là một động lực cho các chiến binh thánh chiến trên khắp thế giới, những người hiện có thể hướng về một Afghanistan do Taliban lãnh đạo để tìm kiếm hướng dẫn và cảm hứng.
John Allen, cựu chỉ huy lực lượng Mỹ và đồng minh ở Afghanistan, hiện dự đoán al-Qaeda “sẽ hoạt động công khai từ dãy núi Hindu Kush sau khi lực lượng Mỹ rút đi”. Chính quyền Biden cho biết họ sẽ đáp trả nếu điều đó xảy ra. Nhưng Tướng Allen chỉ ra rằng các hoạt động chống khủng bố ở Afghanistan sẽ là một “công việc rất khó khăn nếu không có những lực lượng kiểm soát mặt đất đáng tin cậy”.
Afghanistan cũng có chung biên giới với Trung Quốc, Iran, Pakistan và Trung Á, đồng thời là nước láng giềng gần của Ấn Độ. Tất cả các quốc gia này sẽ lo ngại rằng bạo lực do Taliban gây ra có thể tràn sang lãnh thổ của họ.
Ấn Độ sẽ phải đối mặt với nhiều rắc rối hơn ở Jammu và Kashmir, tỉnh duy nhất của họ có đa số người Hồi giáo. Trung Quốc có lý do để lo lắng rằng người Duy Ngô Nhĩ, đang chống lại sự đàn áp của Bắc Kinh ở Tân Cương, có thể tìm thấy căn cứ ẩn náu ở Afghanistan. Iran hẳn là rất vui mừng khi thấy Mỹ bị đánh bại, nhưng sẽ lo lắng về số phận của người Hazara, một nhóm thiểu số người Shia, vốn từng bị khủng bố bởi Taliban. Tất cả các nước láng giềng của Afghanistan và Liên minh châu Âu sẽ phải chuẩn bị tinh thần cho dòng người tị nạn.
Quốc gia láng giềng trong tình trạng mơ hồ và nguy hiểm nhất chính là Pakistan. Trong nhiều thập niên, chính phủ ở Islamabad – và đặc biệt là cơ quan tình báo Pakistan, ISI – đã cho phép Taliban trú ẩn an toàn. Chính sách này nửa bị phủ nhận, nửa được biện minh với lý do Pakistan cần “chiều sâu chiến lược” – nghĩa là ngăn Afghanistan rơi vào vòng ảnh hưởng của Ấn Độ. Bản thân ảnh hưởng của các phần tử Hồi giáo theo đường lối cứng rắn trong nội bộ Pakistan cũng góp phần tạo ra một môi trường dễ dãi cho Taliban.
Sự ủng hộ ngầm của Islamabad đối với chủ nghĩa Hồi giáo bạo lực ở Afghanistan thậm chí vẫn được duy trì sau khi xảy ra các sự vụ nghiêm trọng trên đất Pakistan – chẳng hạn như vụ thảm sát tại một trường học ở Peshawar vào năm 2014, trong đó lực lượng Taliban Pakistan đã giết khoảng 150 người, trong đó có 132 trẻ em.
Chính phủ Pakistan tiếp tục tuyên bố rằng họ đã sử dụng “đòn bẩy tối đa” để cố gắng buộc Taliban đàm phán. Nhưng nhiều người không tin điều đó. Gần đây, một quan chức cấp cao của Afghanistan đã phàn nàn với tôi rằng: “Tôi chưa bao giờ có một cuộc gặp tồi tệ nào với người Pakistan. Vấn đề là họ không bao giờ giữ lời hứa của mình”.
Tuy nhiên, việc Taliban tiếp quản đất nước láng giềng Afghanistan cũng rất nguy hiểm đối với Pakistan. Các phần tử thánh chiến bên trong Pakistan sẽ được khích lệ bởi chiến thắng. Biên giới dài 1.600 dặm giữa hai nước xưa nay rất mơ hồ. Lực lượng Taliban ở Pakistan dường như đang trỗi dậy – và tháng trước đã tuyên bố nhận trách nhiệm về 26 vụ tấn công khủng bố ở Pakistan, bao gồm cả một vụ đánh bom liều chết khiến 9 công nhân Trung Quốc thiệt mạng cùng với những người khác. Các quan chức Pakistan theo chủ nghĩa thế tục cũng có thể trở thành mục tiêu.
Tất cả các quốc gia giáp biên giới với Afghanistan sẽ hết sức hi vọng rằng Taliban đã rút ra được một số bài học nào đó từ thời kỳ nắm quyền trước đây (1996-2001), và sẽ không để đất nước của họ một lần nữa trở thành căn cứ địa cho các chiến binh thánh chiến quốc tế.
Nếu Taliban không cố gắng xuất khẩu chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan bạo lực, việc nhóm này nắm quyền ở Kabul có thể là một diễn tiến được Trung Quốc hoan nghênh. Học thuyết chính sách đối ngoại của chính phủ Trung Quốc dựa trên nguyên tắc “không can thiệp” – về cơ bản có nghĩa là Bắc Kinh sẽ không có lập trường đối với hệ thống chính trị hoặc tình hình nhân quyền ở Afghanistan, với điều kiện là Taliban tôn trọng “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc.
Trung Quốc đã phát đi tín hiệu sẵn sàng hợp tác với Taliban thông qua cuộc gặp cấp cao gần đây giữa Vương Nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, và Mullah Abdul Ghani Baradar của Taliban. Ý nghĩa của cuộc gặp này không chỉ là việc nó đã diễn ra, mà ở chỗ Bắc Kinh chấp nhận công bố công khai cuộc gặp đó.
Nếu Trung Quốc có thể thiết lập quan hệ hợp tác với chính phủ do Taliban lãnh đạo ở Afghanistan, thì điều đó sẽ mang lại cho Bắc Kinh những lợi ích kinh tế, chẳng hạn như khả năng có một hành lang trung chuyển xuyên qua nước này tới cảng Gwadar do Trung Quốc xây dựng ở Pakistan.
Về mặt chiến lược, Trung Quốc cũng sẽ hoan nghênh cơ hội gia tăng sức ép lên Ấn Độ, làm gia tăng lo ngại bị bao vây của nước này. Trên hết, Bắc Kinh sẽ hoan nghênh một bằng chứng nữa cho thấy một thế giới hậu Mỹ đang mở ra phía trước chúng ta.
Quân đội Trung Quốc tiến hành tập trận lớn từng thấy ở Biển Đông từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 8.Mục tiêu được nói là nhằm đối phó với hoạt động quân sự của Mỹ và đồng minh.
Theo truyền thông quốc tế, quy mô tập trận của quân đội Trung Quốc đủ để cạnh tranh với cuộc tập trận liên quân của Mỹ, Anh và các đồng minh, thể hiện thái độ không khoan nhượng của Bắc Kinh. Cuộc tập trận được triển khai với một tàu sân bay, một tàu tấn công đổ bộ và ba tàu khu trục cỡ lớn Type 055 của Hạm đội Nam Hải.
Khu vực tập trận kéo dài từ vùng biển phía đông và đông nam đảo Hải Nam đến đông bắc quần đảo Hoàng Sa.
Truyền thông của Đài Loan đưa tin, các cuộc tập trận trên biển quy mô lớn của Quân đội Trung Quốc trong những năm gần đây thường liên quan đến việc phóng thử tên lửa.
Biển Đông đã trở thành một trong nhiều điểm nhấn trong mối quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, khi Washington bác bỏ điều mà họ gọi là yêu sách lãnh thổ trái pháp luật của Bắc Kinh ở vùng biển giàu tài nguyên này.
Hôm 9 tháng 8, tại cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc về an ninh hàng hải, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken đã lên tiếng chỉ trích hành vi bắt nạt của Trung Quốc ở Biển Đông và cảnh báo Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc rằng một cuộc xung đột „sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng trên toàn cầu đối với an ninh và thương mại“.
Phó Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, ông Đới Bình (Dai Bing), cáo buộc Hoa Kỳ „gây sự một cách vô cớ, tùy tiện đưa tàu và máy bay quân sự tiên tiến vào Biển Đông như một hành động khiêu khích và cố gắng gây hiểm khích giữa các nước trong khu vực một cách công khai.“