Taliban tiến quân nhanh chóng và giành quyền kiểm soát Kabul không chỉ làm dấy lên lo ngại về tương lai Afghanistan mà còn là ảnh hưởng đến các quốc gia khác trong khu vực.
Người dân chờ nhập cảnh Afghanistan tại cửa khẩu hữu nghị trên biên giới Afghanistan – Pakistan ở thị trấn Chaman, Pakistan, ngày 13/8.
Iran và Iraq nằm về phía tây Afghanistan. Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan ở phía bắc. Tuy nhiên, tiêu điểm của thị trường tài chính và nhà đầu tư là Pakistan, phía đông Afghanistan.
Pakistan có nợ công lớn, thị trường cổ phiếu quy mô đáng kể và phụ thuộc vào một chương trình 6 tỷ USD từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Nguy cơ bạo lực nhiều năm và các làn sóng người tị nạn sẽ gia tăng áp lực lên kế hoạch khắc phục tài khóa của nước này.
“Đó là một tình thế rất rắc rối và không may có thể đẩy khu vực thụt lùi lại nhiều năm”, Shamaila Khan, giám đốc nghiên cứu nợ thị trường mới nổi tại Alliance Bernstein, nói. “Tôi nghĩ các quốc gia láng giềng sẽ phải ứng phó với làn sóng người tị nạn trong những tháng hoặc năm tiếp theo”.
Cơ quan về người tị nạn của Liên Hợp Quốc (UNHCR) ước tính 400.000 người Afghanistan đã rời bỏ quê nhà trong năm nay. Chỉ vài trăm người trong số này được xác định là rời Afghanistan nhưng UNHCR ước tính có tới 2,6 triệu người Afghanistan tị nạn trên thế giới – trong đó 1,4 triệu người ở Pakistan và 1 triệu người ở Iran.
Giá trái phiếu chính phủ Pakistan đã giảm gần 8% trong năm nay dù nhiều nhà phân tích tài chính cho rằng nguyên nhân nghiêng về việc nước này bị trì hoãn nhận khoản tiền hỗ trợ từ IMF hơn là liên quan tình hình an ninh.
Gần 10.000 dân thường Pakistan thiệt mạng trong các vụ tấn công từ năm 2010 đến 2015, số liệu từ South Asia Terrorism Portal cho thấy. Con số này sau đó đã giảm nhưng hiện có lo ngại sẽ tăng trở lại.
“Một làn sóng người tị nạn mới và sự lan rộng của các nhóm bạo lực với động cơ gây bất ổn các khu vực đô thị, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là ở miền tây Pakistan… có thể làm thụt lùi câu chuyện phục hồi và cải cách của Pakistan”, Hasnain Malik, nhà phân tích tại Tellimer, nói.
Ông cho rằng nguy cơ sẽ giảm nếu Taliban được tham gia chính phủ Afghanistan.
Tầm quan trọng chiến lược
Chương trình IMF của Pakistan đang ở năm thứ 13 trong thời hạn 30 năm và là cần thiết để giúp Islamabad giải quyết tình trạng nợ công lên đến 90% GDP.
Bất kỳ cuộc tấn công nào của Taliban trong lãnh thổ Pakistan cũng lầm dấy lên lo ngại an ninh và khiến Islamabad khó đạt các mục tiêu do IMF đề ra. Đồng thời, một số nhà đầu tư cho biết, chúng sẽ làm gia tăng tầm quan trọng chiến lược của Pakistan đối với phương Tây.
“IMF đang theo dõi cẩn thận diễn biến tình hình tại Afghanistan”, người phát ngôn tại IMF cho biết hôm 13/8, bổ sung rằng còn quá sớm để đồn đoán về ảnh hưởng đến an ninh Pakistan.
“Nếu Taliban kiểm soát Afghanistan, Pakistan sẽ trở nên quan trọng hơn về chiến lược đối với Mỹ”, Kevin Daly, nhà quản lý danh mục đầu tư tại ABRDN. Điều đó có thể giúp dòng tiền từ IMF tiếp tục chảy.
Kay Van-Petersen, chiến lược gia vĩ mô toàn cầu tại Saxo Capital Markets, Singapore, nói tác động từ cuộc khủng hoảng ở Afghanistan cuối cùng có thể sẽ lan rộng hơn nhiều. Nhiều người tị nạn Afghanistan có thể xin tị nạn tại châu Âu, nối tiếp làn sóng người di cư để chạy trốn chiến tranh từ Syria cũng như nhiều quốc gia Trung Đông trước đó.
Nếu người tị nạn di chuyển qua Thổ Nhĩ Kỳ, theo Van-Petersen, họ có thể giúp Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Tayyip Erdogan có thêm yêu cầu chính trị hoặc tài chính với Liên minh châu Âu (EU).
“Cơ bản, đó sẽ là đòn bẩy để Erdogan gây sức ép lên EU… ‘Hãy chi trả cho chúng tôi để chăm sóc những người tị nạn này hoặc chúng tôi sẽ để họ qua’”, ông nói. Điều này có thể gây sức ép lên euro và đẩy giá lira.
Nhà quan sát thị trường mới nổi Tim Ash tại BlueBay Asset Management, nói Taliban tiến quân khi binh sĩ NATO rút lui còn tổn hại đến uy tín của Mỹ.
Trưa ngày 17.8, Bộ tư lệnh Chiến khu Đông bộ của Trung Quốc thông báo quân đội nước này đã tiến hành cuộc tập trận bắn đạn thật ở khu vực phía tây nam và đông nam Đài Loan trong cùng ngày.
Tuyên bố nói rằng cuộc tập trận là phản ứng nghiêm túc trước “sự can thiệp từ bên ngoài” và “hành động khiêu khích” của thế lực ủng hộ Đài Loan độc lập.
Tham gia cuộc tập trận bất ngờ này là các tàu chiến, máy bay săn ngầm và chiến đấu cơ của Chiến khu Đông bộ.
Máy bay quân sự Trung Quốc bay gần Đài Loan sáng 17.8
Trong sáng cùng ngày, giới quan sát hoạt động của máy bay quân sự ghi nhận nhiều hoạt động của máy bay quân sự Trung Quốc ở khu vực tây nam Đài Loan và eo Ba Sỹ.
Đặc biệt các máy bay quân sự Trung Quốc như Y-8 bay gần Đài Loan hơn so với những đợt xâm nhập vào tây nam Vùng nhận diện phòng không của hòn đảo này trước đây. Máy bay trinh sát EP-3E và máy bay tuần tra P-8 của Mỹ cũng xuất hiện tại khu vực.
Tuyên bố của Chiến khu Nam bộ không nói cụ thể sự can thiệp bên ngoài và hành động khiêu khích là gì nhưng nó diễn ra giữa lúc Mỹ cùng đồng minh tiến hành Cuộc tập trận quy mô lớn toàn cầu 2021.
Động thái bất ngờ của Trung Quốc cũng diễn ra giữa lúc Mỹ đối mặt với cuộc khủng hoảng sơ tán ở Afghanistan sau khi quân Taliban tiến vào thủ đô Kabul.
Liên quan đến Đài Loan, Thượng nghị sĩ Mỹ John Cornyn ngày 17.8 bất ngờ đưa ra trên Twitter một thông tin khó hiểu rằng Mỹ có 30.000 quân ở Đài Loan (?).
Thông tin này được ông Cornyn viết ra khi liệt kê một số địa điểm đóng quân thường trực của Mỹ trên thế giới nhằm chỉ trích kế hoạch rút quân khỏi Afghanistan.
Nhiều khả năng là ông Cornyn đã nhầm lẫn ở chi tiết về Đài Loan nhưng đây là quả thật một sự nhầm lẫn rất khó hiểu đối với một thượng nghị sĩ kỳ cựu nằm trong Ủy ban Tình báo Thượng viện như ông Cornyn.
Ngoài cuộc trập trận bất ngờ của Trung Quốc, không có nhiều diễn biến xảy ra ở Biển Đông những ngày qua ngoại trừ việc các tàu cá Trung Quốc quay trở lại khu vực sau khi cái gọi là lệnh cấm đánh bắt ở Biển Đông chấm dứt hiệu lực vào ngày 16.8.
Tin từ nhà quan sát biến động quân sự biển Đông và biển Hoa Đông Duan Dang
Nach dem Afghanistan-Debakel wächst der Druck auf die Bundesregierung, sich zu erklären. Kanzlerin Angela Merkel und Außenminister Heiko Maas räumen ein, dass die Lage falsch eingeschätzt wurde.
Jetzt gehe es erst einmal darum, Menschen in Sicherheit zu bringen, sagte die Bundeskanzlerin auf einer Pressekonferenz in Berlin. Deutschland setze alles daran Landsleute und afghanische Ortskräfte, aber auch Menschen, die mit dem Entwicklungsministerium und Nichtregierungsorganisationen zusammengearbeitet haben, außer Landes zu bringen.
Etwa 1900 der von der Bundeswehr in einer ersten Gruppe identifizierten Ortskräfte seien bereits in Deutschland oder sicheren Drittländern. Nun versuche man unter anderem auch, rund 1500 Mitarbeiter der Entwicklungszusammenarbeit und von NGOs aus Afghanistan zu bekommen. Zugleich räumte Angela Merkel ein, ob die Evakuierungen ausgeführt werden können, hänge „von der Lage in Kabul ab. „Das haben wir leider nicht mehr in der Hand.“ Die Bedingungen in Kabul seien extrem schwierig.
Klare Worte der Kanzlerin: „bitter, dramatisch und furchtbar“
Die Kanzlerin zog ein kritisches Fazit des internationalen Militäreinsatzes in Afghanistan. Der fast 20 Jahre währende Einsatz sei „nicht so geglückt, wie wir uns das vorgenommen haben“. Das sei eine Erkenntnis, „die überaus bitter ist“, fügte sie hinzu. Die Bündnispartner müssten sich eingestehen, dass das keine erfolgreichen Bemühungen waren, daraus müsse man Lehren ziehen „und seine Ziele auch kleiner fassen“ bei solchen Einsätzen.
Die Schnelligkeit des Vormarschs der Taliban habe man völlig unterschätzt: „Wir haben alle – da übernehme ich auch die Verantwortung – die Entwicklung falsch eingeschätzt.“ Seit dem Abzug der ausländischen Truppen habe die internationale Gemeinschaft erleben müssen, wie die Taliban in geradezu atemberaubender Geschwindigkeit Provinz für Provinz, Stadt für Stadt wiedererobert und das ganze Land erneut unter ihre Kontrolle gebracht haben.
„Bitter, dramatisch und furchtbar ist diese Entwicklung insbesondere für die Menschen in Afghanistan“, betonte die Kanzlerin. Die Lage sei „furchtbar für die Millionen Afghanen, die sich für eine freie Gesellschaft eingesetzt haben“.
Maas: „Es gibt nichts zu beschönigen“
Zuvor hatte bereits Außenminister Heiko Maas mit Blick auf die unerwartet schnelle Machtübernahme durch die Taliban am Hindukusch eingeräumt: „Es gibt nichts zu beschönigen: Wir alle – die Bundesregierung, die Nachrichtendienste, die internationale Gemeinschaft – wir haben die Lage falsch eingeschätzt.“ Dass sich die afghanischen Truppen den Taliban entgegenstellen würden, sei eine Fehleinschätzung der Alliierten gewesen. Daraus müssten auch die notwendigen Konsequenzen gezogen werden.
Außenminister Heiko Maas und die Kanzlerin stimmen in ihrer Lageeinschätzung überein
Die Bilder von verzweifelten Menschen am Flughafen der Hauptstadt Kabul bezeichnete der SPD-Politiker als außerordentlich schmerzhaft. Deutschland werde nichts unversucht lassen, so viele Menschen wie möglich aus der katastrophalen Lage zu retten.
Noch vor wenigen Tagen hatte es in einer Einschätzung der US-Geheimdienste geheißen, Kabul könne noch mindestens drei Monate gehalten werden. Doch dann rückten die Extremisten fast ohne Gegenwehr der afghanischen Streitkräfte vor. Am Sonntag eroberten sie Kabul und besetzten nach eigenen Angaben auch den Amtssitz von Präsident Aschraf Ghani, der zuvor ins Ausland geflohen war.
Flughafen-Rollfeld von Zivilisten gestürmt
Nach der Machtübernahme der radikal-islamischen Taliban in Afghanistan versuchen westliche Mächte fieberhaft, ihre Staatsbürger und ehemaligen Ortskräfte aus der Hauptstadt Kabul auszufliegen. Drei Militärtransporter der Bundeswehr vom Typ Airbus A400M befanden sich am Montag auf dem Weg nach Afghanistan. Es blieb aber zunächst unklar, wann sie in Kabul landen können. Am Flughafen von Kabul finden nach US-Angaben aus Sicherheitsgründen derzeit keine Starts oder Landungen statt. Es sei unklar, wann diese wieder aufgenommen würden, sagte ein Sprecher des Verteidigungsministeriums.
Auf dem Flughafen harren nicht nur Angehörige westlicher Botschaften aus, sondern auch viele Afghanen. Dort spielten sich dramatische Szenen ab, teilweise wurde das Rollfeld von panischen Menschen mit dem Ziel gestürmt, einen Platz in einer Maschine zu ergattern. Teilweise kletterten sie auf Flugzeuge, um ihre Mitnahme zu erwirken. Nach Augenzeugenberichten kamen mindestens sieben Menschen bei den Tumulten ums Leben.
Mỹ đang dẫn đầu cuộc tập trận quân sự chung mang tên SEACAT với sự tham gia của hơn 20 quốc gia, diễn ra tại Singapore.
Hôm 10/8, cuộc tập trận thường niên, mang tên Hợp tác và Huấn luyện Đông Nam Á (SEACAT), giữa hải quân Mỹ và hải quân các nước trong khu vực đã diễn ra tại Singapore. Đây là năm thứ 20 diễn ra tập trận SEACAT.
Cuộc tập trận SEACAT do Mỹ dẫn đầu với sự tham gia của nhiều nước như Pháp, Đức, Anh, Australia, Canada, Ấn Độ, Bangladesh, Nhật Bản, Malaysia, Maldives, New Zealand, Hàn Quốc, Sri Lanka.. Tại khu vực Đông Nam Á, hải quân Singapore, Indonesia, Philippines, Thái Lan… cũng tham gia cuộc tập trận này.
Hạm đội 7 của hải quân Mỹ cho biết, cuộc tập trận năm nay có sự góp mặt của 10 tàu chiến và hơn 400 binh sĩ. Các cuộc tập trận được thiết kế nhằm khuyến khích các quốc gia sử dụng lực lượng hàng hải, nâng cao hiểu biết về “môi trường hoạt động, xây dựng năng lực cho các sứ mệnh hỗ trợ nhân đạo, tuân thủ luật pháp và chuẩn mực quốc tế”.
Trong các cuộc tập trận SEACAT, Trung tâm Hợp nhất quốc tế ở Singapore đóng vai trò là nơi điều phối khủng hoảng, chia sẻ thông tin trong khi lực lượng hải quân các nước theo dõi tàu buôn, trong đó tập trung chú ý vào các “tàu có hoạt động đáng ngờ trên các vùng biển ở Đông Nam Á”.
“Các kịch bản được thiết kế trong cuộc tập trận nhằm khuyến khích các quốc gia hợp tác cùng nhau, nâng cao nhận thức về lĩnh vực hàng hải và tuân thủ các quy tắc quốc tế”, Tom Ogden – chỉ huy Hạm đội 7 của hải quân Mỹ tham gia cuộc tập trận, cho biết.
Theo Tom Ogden, các hoạt động trong cuộc tập trận lần này như “thực hành đánh chặn đa phương, đa nền tảng“ sẽ giúp các đối tác Đông Nam Á nâng cao khả năng tác chiến trên thực địa.
Cuộc tập trận SEACAT bắt đầu diễn ra vào năm 2002 với tên gọi “Hợp tác Đông Nam Á chống khủng bố”. Cuộc tập trận này được khởi động sau vụ tấn công khủng bố ở Mỹ vào tháng 9/2001. Năm 2012, tập trận “Hợp tác Đông Nam Á chống khủng bố” được đổi tên thành SEACAT, chú trọng vào việc đào tạo hải quân và tuần duyên ở Nam Á và Đông Nam Á, giúp nâng cao năng lực đối phó với các thách thức, trong đó có cướp biển và buôn lậu ở khu vực.
Đáng chú ý, cuộc tập trận năm nay có sự tham dự của một số tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ, trong đó có Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), dự án Tuyến đường hàng hải quan trọng Ấn Độ Dương (CRIMARIO) và Ủy ban Quốc tế Chữ thập đỏ (ICRC).
Các cuộc tập trận SEACAT diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc và Nga cũng đang tiến hành diễn tập quân sự chung ở khu vực Ninh Hạ của Trung Quốc, trong khi Mỹ cũng chuẩn bị cho các cuộc tập trận quân sự song phương với Hàn Quốc.
Mấy năm qua, tuy quan hệ Mỹ-Việt đã có những bước tiến dài, nhưng phải đặt quan hệ song phương trong bối cảnh an ninh khu vực và bàn cờ chiến lược Mỹ-Trung. Không phải ngẫu nhiên mà tàu sân bay Mỹ đã đến thăm Đà Nẵng hai lần, và Mỹ đã chuyển giao cho Việt Nam hai tàu tuần duyên lớp Hamilton, nhằm nâng cao năng lực hàng hải. Đó mới chỉ là bước đầu. Vai trò trung tâm của ASEAN và vai trò trụ cột của “Bộ Tứ” (Quad) ngày càng quan trọng trong cơ chế an ninh khu vực, theo tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Ảnh minh họa
Trong sáu tháng đầu năm 2021, tuy Mỹ nhấn mạnh tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, nhưng đã chú trọng nhiều hơn đến khu vực Châu Âu, Trung Đông, và Đông Bắc Á, trong khi có phần coi nhẹ Đông Nam Á. Vì vậy trong sáu tháng cuối năm, Washington phải tăng cường quan hệ với các nước ở khu vực này. Đó là bối cảnh chuyến thăm Singapore và Việt Nam của phó tổng thống Kamala Harris trong tháng 8, tiếp theo chuyến thăm của bộ trưởng quốc phòng Lloyd Austin tới Singapore, Việt Nam, và Philippines cuối tháng7 vừa rồi.
Theo người phát ngôn Nhà Trắng, phó tổng thống Kamala Harris sẽ thăm chính thức Singapore và Việt Nam từ ngày 20 đến ngày 26/8/2021. Đây là lần đầu tiên một phó tổng thống đương nhiệm của Mỹ thăm Việt Nam. Chuyến thăm của bà Harris sẽ tập trung vào bốn vấn đề lớn. Một là nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác toàn diện và đối tác chiến lược trong chính sách đối ngoại của chính quyền Biden. Hai là cam kết của Mỹ đối với nỗ lực thúc đẩy an ninh khu vực. Ba là quan hệ đối tác giữa Mỹ và các nước ASEAN. Bốn là bảo vệ những giá trị của Mỹ.
Ngoại trưởng Antony Blinken phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ-ASEAN ngày 4/8, khẳng định cam kết của Mỹ đối với vai trò trung tâm của ASEAN và ủng hộ Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Ngoại trưởng Blinken và các ngoại trưởng ASEAN đã thảo luận những thách thức cấp bách trong khu vực và trên thế giới, bao gồm ứng phó với đại dịch Covid-19, hành động mạnh mẽ chống biến đổi khí hậu, tăng cường phát triển nguồn nhân lực, và hành động cấp thiết đối với tình hình Myanmar.
Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long phát biểu tại Diễn đàn An ninh Aspen ngày 3/8 đã hoan nghênh và đánh giá cao các chuyến thăm cấp cao “rất giá trị” của Mỹ. Đó là chỉ dấu cho thấy Washington nhận thức được rằng họ cần bảo vệ và thúc đẩy những lợi ích thực chất và quan trọng của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, ông cũng bày tỏ lo ngại trước tình trạng quan hệ Mỹ-Trung đang xấu đi và mong muốn không tụt dốc hơn nữa.
Tại Hà Nội, ngày 5/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trả lời báo chí rằng hai bên đang phối hợp chuẩn bị cho chuyến thăm của phó tổng thống Kamala Harris. Việt Nam nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đẩy mạnh việc đưa quan hệ với các đối tác, đặc biệt là các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, không đi với nước này để chống nước kia. Về đối tác chiến lược, Việt Nam cho rằng tên gọi không quan trọng bằng thực chất và sự bền vững của quan hệ giữa hai nước.
Chủ trương của Mỹ
Theo Symone Sanders (người phát ngôn của phó tổng thống), chuyến thăm của bà Harris nhằm nhấn mạnh “Mỹ đang Quay lại”, và trao đổi về đối phó với đại dịch Covid-19 và biến đổi khí hậu, cũng như an ninh khu vực. Chuyến thăm này sẽ khẳng định tầm quan trọng của “tham dự toàn diện và đối tác chiến lược” trong chính sách đối ngoại của Mỹ. “Chúng ta phải cùng cố gắng cổ vũ cho trật tự quốc tế dựa trên pháp luật”.
Theo các chuyên gia, Mỹ vừa phải cạnh tranh với Trung Quốc, vừa phải điều chỉnh lập trường phù hợp với nguyện vọng của các nước Đông Nam Á. Mỹ không thể ép các nước khu vực chọn phe. Tuy trong sáu tháng đầu năm 2021, Washington tỏ ra coi nhẹ khu vực, nhưng bài phát biểu của bộ trưởng quốc phòng Lloyd Austin tại Singapore (27/7) khẳng định chính quyền Biden quan tâm tới Đông Nam Á, và ủng hộ các nước trong khu vực bảo vệ chủ quyền và tài nguyên của họ.
Tổng thống Biden và phó tổng thống Harris ưu tiên việc xây dựng lại các quan hệ đối tác để đảm bảo an ninh cho Mỹ, và an toàn bền vững cho chuỗi cung ứng. Tìm giải pháp để tránh bị thiếu hụt là ưu tiên chính của chuyến đi này. Việc thiếu hụt chất bán dẫn trên thế giới và khó khăn về chuỗi cung ứng là trọng tâm của bà Harris trong chuyến thăm Đông Nam Á, nơi Mỹ phải tăng cường quan hệ với các nước láng giềng của Trung Quốc.
Việc thiếu hụt chất bán dẫn toàn cầu tiếp tục làm trì trệ các ngành sản xuất điện tử. Nhà Trắng đang thảo luận khả năng ký một hiệp định thương mại tự do về công nghệ số với các nước khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương gồm Singapore và Việt Nam. Singapore sẽ xây dựng một nhà máy sản xuất điện thoại thông minh trị giá 4 tỷ USD dự kiến sẽ vận hành vào năm 2023, trong khi Việt Nam có vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng khi nhiều công ty đã chuyển dây chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam.
Theo Murray Hiebert (CSIS), chuyến thăm của bà Harris rất quan trọng vì nhấn mạnh cam kết của Mỹ tại Đông Nam Á, với hứa hẹn tăng thêm viện trợ vaccine cho khu vực. Chuyến thăm của bà Harris cũng như ông Austin chứng tỏ với Đông Nam Á là Mỹ muốn can dự. Gần đây, thứ trưởng bộ Ngoại giao Mỹ Wendy Sherman đã đến thăm Indonesia, Campuchia và Thailand (cuối tháng 5 – đầu tháng 6), và đến thăm Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ (tháng 7) trước khi đến thăm Trung Quốc để hội đàm, nhưng không giảm được căng thẳng.
Bà Kamala Harris vốn là một luật sư và công tố viên của bang California, đã nổi tiếng là một người sắc sảo tại các cuộc điều trần tại Thượng viện Mỹ. Ở tuổi 57, phó tổng thống Harris trẻ hơn nhiều so với tổng thống Biden, nay đã 79 tuổi. Chắc bà Harris sẽ phải thay mặt ông Biden đảm đương một số chuyến viếng thăm quốc tế, đặc biệt là đến Đông Nam Á, nơi lãnh đạo các nước ASEAN thường phàn nàn là bị các tổng thống Mỹ coi nhẹ.
Theo James Crabtree (IISS), chính quyền Biden thường bị phê phán là coi nhẹ các nước đồng minh và đối tác khu vực. “Quan hệ kinh tế của Mỹ với Singapore, Việt Nam, và Indonesia gần đây có một số thay đổi có lợi cho Trung Quốc”. Một chính quyền Biden lúng túng có thể để mất Đông Nam Á vào tay Trung Quốc.
Phản ứng của Trung Quốc
Theo Derek Grossman (RAND Corporation), Trung Quốc không chuẩn bị cho một điều chỉnh chiến lược lớn nào của Việt Nam trong tương lai, nên bất cứ một biến đổi nào trong hợp tác an ninh Mỹ-Việt sẽ làm Trung Quốc bất ngờ và phản ứng. Trung Quốc không muốn làm đảo lộn hòa bình và ổn định khu vực chỉ vì Mỹ và Việt Nam xích lại gần nhau, nên việc nâng cấp quan hệ Mỹ-Việt từ đối tác “toàn diện” lên thành đối tác “chiến lược” ít có khả năng làm cho Trung Quốc phản ứng mạnh.
Derek Grossman khuyến nghị Washington nên theo đuổi một chiến lược đa dạng bao gồm hợp tác ngoại giao, kinh tế, và an ninh, để tạo điều kiện cho các nước Đông Nam Á đang phải chơi trò đu dây (hedging and balancing) như Việt Nam có thể hợp tác với Mỹ mà không sợ bị ép buộc phải chọn phe giữa các nước lớn (như Mỹ và Trung Quốc). Nói cách khác, Washington không nên và không thể tác động vào quyết sách của Hà Nội, cho đến khi nào Hà Nội thấy đã đến lúc chín muồi để tự điều chỉnh chiến lược.
Theo Kevin Rudd (chủ tịch Asia Society), “Bộ Tứ” (Quad) là thách thức lớn nhất đối với tham vọng của Trung Quốc trong những năm tới. Tuy lúc đầu họ coi thường, nhưng từ cuộc họp cấp cao trực tuyến (3/2021) của nhóm này thì Bắc Kinh ngày càng lo ngại về triển vọng “Bộ Tứ” có thể tập hợp lực lượng, như Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã tuyên bố: “Cuộc họp cấp cao hôm nay chứng tỏ “Bộ Tứ đã trưởng thành như một trụ cột quan trọng cho ổn định trong khu vực”.
Cuộc họp cấp cao G-7 làm Bắc Kinh càng lo ngại về “Bộ Tứ” như một liên minh chống Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, bao gồm Hàn Quốc để “Quad” trở thành “Quint” (Bộ Ngũ). Đó là một nhân tố định hình quan hệ Mỹ-Trung, và tham vọng của Trung Quốc. Cựu ngoại trưởng Mike Pompeo đã tuyên bố thẳng thừng rằng mục tiêu của Mỹ là thể chế hóa “Bộ Tứ” thành “Bộ tứ Mở rộng” (Quad plus) gồm New Zealand, Hàn Quốc, Việt Nam, để hợp tác đảm bảo an ninh thương mại, công nghệ, và chuỗi cung ứng.
Bắc Kinh lo ngại “Bộ Tứ” có thể phối hợp với “Sáng kiến Răn Đe Thái Bình Dương” của Mỹ và chia sẻ thông tin nhạy cảm về chiến lược của Trung Quốc với các đối tác trong nhóm “Five Eyes”. Nhưng điều Bắc Kinh lo ngại nhất là “Bộ Tứ” trở thành nền tảng và đòn bẩy cho một liên minh toàn cầu chống Trung Quốc.
Tại sao Việt Nam?
Bộ trưởng quốc phòng Austin đã đến thăm Việt Nam, Singapore và Philippines (cuối tháng 7) để chuẩn bị cho chuyến thăm của bà Harris tới Singapore và Việt Nam. Tại sao bà Harris đến thăm Singapore và Việt Nam trước, mà không đến thăm Ấn Độ trước, tuy Ấn Độ là đối tác chiến lược của Mỹ trong “Bộ Tứ” và “quê ngoại” của bà Harris. Phải chăng Singapore và Việt Nam có vị trí chiến lược trong tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương?
Chuyến thăm Việt Nam của ông Austin tuy không được báo chí đưa tin nhiều, nhưng không kém phần quan trọng. Trong khi thâm hụt thương mại Mỹ-Việt ngày càng tăng (69,7 tỷ đô la năm 2020), thì chương trình hợp tác quốc phòng trở thành một trụ cột chính trong quan hệ Mỹ-Việt. Việt Nam ngày càng quan trọng đối với Mỹ, và Hà Nội cũng như Singapore đang trở thành các mỏ neo (anchors) trong chính sách của Mỹ.
Trong khi bờ biển Việt Nam dài hơn 3.000km giáp Biển Đông và án ngữ lối ra Biển Đông của Trung Quốc, thì Singapore án ngữ eo biển Malacca là yết hầu (choke point) nối Tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Singapore là nước ASEAN duy nhất cho Mỹ sử dụng căn cứ hải quân (Changi), gia hạn 15 năm (đến 2035), trong khi căn cứ hải quân Cam Ranh của Việt Nam được các nước lớn chú ý vì vị trí chiến lược trọng yếu tại Biển Đông.
Không phải ngẫu nhiên mà Mỹ bán cho Singapore 12 máy bay chiến đấu F-35B (thế hệ mới) như một ưu tiên đặc biệt. Singapore là nước ASEAN đầu tiên có máy bay F-35B (trước đây đã mua F-15 và F-16). Nếu Mỹ quyết định thành lập “hạm đội 1” như đề xuất của bộ trưởng hải quân Mỹ để tăng cường lực lượng cho hạm đội 7 và hạm đội 5 tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thì Singapore sẽ là một lựa chọn cho căn cứ của hạm đội mới. Nói cách khác, Singapore và Việt Nam đều rất quan trọng, cả về chiến lược và thương mại.
Chuyến thăm Việt Nam sắp tới của phó tổng thống Harris, và chuyến thăm của tổng thống Biden vào dịp họp cấp cao ASEAN và Đông Á (dự kiến vào cuối năm) chứng tỏ hai điều cơ bản. Một là khu vực bao gồm ASEAN là một phần thiết yếu trong bàn cờ chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP). Hai là Mỹ muốn thăm dò Việt Nam về khả năng đồng thuận nâng cấp quan hệ lên thành “đối tác chiến lược”.
Hợp tác chiến lược với Mỹ không chỉ là vấn đề đối ngoại, mà còn là vấn đề đối nội vì liên quan đến đổi mới thể chế và chiến lược phát triển quốc gia. Khi quan hệ Mỹ-Trung càng xấu đi, thì quan hệ Mỹ-Việt càng tốt lên, làm quan hệ Trung-Việt càng nhạy cảm trong bàn cờ chiến lược Mỹ-Trung-Việt. Trong khi xây dựng lòng tin chiến lược với Mỹ, Việt Nam vẫn duy trì cân bằng chiến lược với Trung Quốc. Đó là nguyên tắc “không chọn phe” trong đối ngoại, và chủ trương “ba không một nếu” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam.
Về an ninh quốc phòng, Đô đốc Karl Schultz (Tư lệnh tuần duyên Mỹ) nhấn mạnh tầm quan trọng của Việt Nam trong khu vực. Ông cho biết lãnh đạo Việt Nam cam kết sử dụng các tàu tuần duyên của Mỹ chuyển giao phù hợp với lợi ích an ninh quốc gia trong khu vực. Ông tin rằng Việt Nam sẽ tiếp tục là đối tác quan trọng của lực lượng Tuần duyên Mỹ. Tuỳ viên Quân sự Mỹ tại Hà Nội Thomas Stevenson cũng cho rằng chính sách quốc phòng “ba không một nếu” của Việt Nam có thể tạo ra khuôn khổ đối thoại hiệu quả để tránh xung đột. Vì vậy, hai bên đã nhất trí, “không ai yêu cầu các nước khu vực phải chọn phe”.
Hợp tác Mỹ-Việt không chỉ về an ninh quốc phòng (như tàu sân bay Mỹ đến thăm Việt Nam hai lần, Mỹ chuyển giao hai tàu tuần duyên cho Việt Nam để nâng cao năng lực hàng hải), mà còn về y tế (Mỹ viện trợ vaccine và giúp Việt Nam công nghệ sản xuất vaccine), khắc phục hậu quả chiến tranh (như phá bom mìn, tẩy rửa chất độc da cam, tìm kiếm người mất tích trong chiến tranh), đối phó với biến đổi khí hậu (đang diễn ra tại lưu vực sông Mekong), về thương mại (như rút Việt Nam khỏi danh sách bị Mỹ cáo buộc “thao túng tiền tệ”).
Về y tế, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam 5 triệu liều vaccine Moderna, cùng với 20 triệu USD giúp Việt Nam chống Covid-19. Mỹ là nước tặng nhiều vaccine nhất cho Việt Nam (dù nhận trực tiếp hay thông qua COVAX). Trước mắt, Mỹ cam kết sẽ tiếp tục viện trợ vaccine cho Việt Nam. Về lâu dài, VinBioCare (Vingroup) đã nhận chuyển giao độc quyền công nghệ sản xuất vaccine VBC-COV19-154 của Arcturus Therapeutics, có khả năng chống lại các biến chủng mới nguy hiểm như Delta, Alpha, Beta, Gamma.
Trở về tương lai
Theo huyền sử (chưa kiểm chứng), ông Bùi Viện được vua Tự Đức cử làm sứ thần sang Mỹ (1873-1875) không chỉ để thiết lập bang giao song phương, mà còn nhằm cầu viện Mỹ làm đối trọng với Pháp, lúc đó đang muốn biến Việt Nam thành thuộc địa. Nhưng sứ mệnh của ông Bùi Viện không thành, đã để lại một kinh nghiệm đáng buồn về “nhỡ tàu”, được lặp đi lặp lại trong quan hệ Mỹ-Việt.
Lịch sử dường như lặp lại khi Hồ Chí Minh chủ trương hợp tác với Mỹ để chống Nhật (1944-1945), thông qua các đầu mối OSS như Archimedes Patti và Charles Fenn cùng nhóm “Con Hươu” (Deer Team), để vận động Mỹ giúp Việt Minh. Hồ Chí Minh đã gửi 8 bức thư và điện cho tổng thống Mỹ Herry Truman (1945-1946) nhưng không được hồi đáp. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954), Mỹ đã giúp Pháp đánh Việt Minh, và trong cuộc Chiến tranh Việt Nam (1955-1975), Mỹ đã quyết định can thiệp trực tiếp.
Chiến tranh Việt Nam là một thảm họa cho cả hai bên, vì đó là “một cuộc chiến tranh sai lầm, tại một địa điểm sai lầm, vào một thời điểm sai lầm, và chống một kẻ thù sai lầm (a wrong war, at the wrong place, at the wrong time, and with the wrong enemy) như lời tướng Omar Bradley. Hơn 45 năm sau, tuy “vết thương Việt Nam” chưa lành và “bóng ma Việt Nam” chưa chết hẳn, Mỹ và Việt Nam đang tiếp tục nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng lòng tin chiến lược cho một trang mới trong quan hệ giữa hai nước.
Trong lịch sử của Việt Nam với Pháp, Nhật, Mỹ, Trung Quốc, thì quan hệ với Trung Quốc là phức tạp nhất, như một định mệnh. Hai nước gắn liền với nhau về địa lý (núi liền núi, sông liền sông), về lịch sử (ngàn năm Bắc thuộc), về kinh tế (phụ thuộc vào nhau), về chính trị (cùng hệ tư tưởng). Quan hệ Trung-Việt như cục nam châm vừa hút vừa đẩy, phản ánh thực trạng “vừa yêu vừa ghét” như “anh em thù địch” (brother enemy).
Trong khi đó, quan hệ Mỹ-Việt không phải là định mệnh mà có thể hóa giải. Hơn 45 năm sau chiến tranh, và 25 năm sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, Mỹ và Việt Nam đang dần trở thành đối tác chiến lược. Điều đó phản ánh không chỉ nhu cầu phát triển của mỗi nước, mà còn cả tầm nhìn chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, nơi Mỹ và Trung Quốc đang tranh giành ảnh hưởng.
Nội dung quan trọng nhất trong chuyến thăm Việt Nam của ông Austin là khắc phục hậu quả chiến tranh, để thúc đẩy hòa giải và xây dựng lòng tin. Hai bên đã ký một bản ghi nhớ (MOU) về việc giúp Việt Nam tìm kiếm người mất tích trong chiến tranh (MIA). Điều đó rất thiết yếu để tăng cường hợp tác an ninh và xây dựng lòng tin. Quan hệ Mỹ-Việt không chỉ dựa trên tầm nhìn chiến lược chung về Trung Quốc và trật tự khu vực, mà còn phải bắt nguồn từ lòng tin giữa hai quốc gia. Nói cách khác, hóa giải quá khứ là kiến tạo tương lai.
Sau thời Trump với “nước Mỹ trên hết”, đến thời Biden với “nước Mỹ trở lại”. Tuy chính quyền Biden cũng nhận diện Trung Quốc là “thách thức lớn nhất”, nhưng Mỹ không thể đối phó một mình, mà phải tập hợp đồng minh và đối tác, như trong “Bộ Tứ” (có Nhật, Ấn, Úc), và trong ASEAN (có Singapore, Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Indonesia). Để có đồng minh và đối tác bền vững, Mỹ cần xây dựng lòng tin và sức mạnh “răn đe tích hợp” (integrated deterrence) trong cơ chế an ninh khu vực, bao gồm cả quan hệ với Việt Nam.
Thay lời kết
Trong các bài viết trước đây, tôi thường đề cập đến khả năng Việt Nam dễ bị mắc kẹt trong bàn cờ chiến lược Mỹ-Trung. Khi quan hệ Mỹ-Trung càng xấu đi, thì quan hệ Mỹ-Việt càng tốt lên, làm quan hệ Trung-Việt càng nhạy cảm. Việt Nam cũng như các nước khu vực không muốn chọn phe vì ba lo ngại chính. Một là Trung quốc có thể trả đũa làm cho họ thiệt hại hơn là được lợi từ Mỹ. Hai là Mỹ có thể bỏ rơi họ để bắt tay với Trung Quốc như bài học trong quá khứ. Ba là Mỹ có thể tìm cách diễn biến làm cho họ phải thay đổi chế độ.
Theo các chuyên gia, các lo ngại đó vừa phản ánh thực tế vừa phản ánh não trạng. Lo ngại thái quá sẽ làm gia tăng năng lượng tiêu cực, biến nhận thức thành thực tế, có thể gây nhầm lẫn đáng tiếc. Trong bối cảnh đại dịch hiện nay, mọi thứ đều có thể bị đảo lộn, kể cả thói quen tư duy và hệ quy chiếu. Diễn biến càng khó lường thì quyết sách càng dễ nhầm lẫn. Vì vậy, quyết định về “đối tác chiến lược” với Mỹ đúng lúc rất hệ trọng, vì quyết định quá sớm có thể rủi ro cao, nhưng quá muộn có thể đánh mất cơ hội chiến lược.
Mới đây tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng của Hồng Kông cho biết, Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Trung Quốc đang mâu thuẫn về cách đối phó với các mối quan hệ quốc tế, qua đó càng cho thấy thái độ thực sự của quân đội Trung Quốc là từ chối tham chiến với “Liên minh quốc tế”. Nhà bình luận của trang Apollowang Lý Ngọc Thương phân tích rằng chính phe của Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng đã tiết lộ con bài tẩy của ông Tập Cận Bình, là thường xuyên có những hành động chống lại Đài Loan và thế giới phương Tây.
Bưu điện Hoa Nam buổi sáng của Hồng Kông dẫn lời một người trong cuộc nói rằng Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng của Trung Quốc đang chiến đấu cả công khai lẫn bí mật về phong cách diễn thuyết trước quốc tế của Trung Quốc. Bộ Ngoại giao bị cho là dùng phong cách chiến lang đã gây ra thù hằn vô số trên trường quốc tế, nhiều nước đã bị chọc giận và thực sự đang trên bờ vực chiến tranh với ĐCSTQ. Nhưng ngược lại, quân đội Trung Quốc có vẻ muốn từ chối đối đầu theo kiểu đó với “lực lượng liên minh đa quốc gia” các nước dân chủ trên thế giới.
Bài báo dẫn nguồn tin cho biết, “Bộ Ngoại giao Trung Quốc được biết đến với những nhận xét cứng rắn – thậm chí còn chỉ trích Quân đội Trung Quốc (PLA) quá ‘yếu kém’ trong giao tiếp với Hoa Kỳ”.
Nguồn tin cũng tiết lộ rằng cuộc khẩu chiến giữa Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng thậm chí đã đến tai ông Tập Cận Bình, và hai phe tố cáo nhau. Bộ Quốc phòng nói với ông Tập rằng sẽ không vì việc Bộ Ngoại giao dùng ngôn luận chiến lang mua rắc rối mà gánh trách nhiệm giùm”.
Bình luận viên Lý Ngọc Thương phân tích rằng nếu tin tức này là sự thật, nó sẽ tương đương với việc phe của Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng đã tiết lộ ra thế giới bên ngoài và cho Hoa Kỳ biết sự thật về cuộc đấu tranh nội bộ của ĐCSTQ, và tiết lộ những bí mật lớn của ông Tập Cận Bình.
Bằng cách này, cho dù ĐCSTQ có sử dụng thủ đoạn nào đi chăng nữa thì cũng không hiệu quả. Bởi vì cả thế giới đều biết con át chủ bài thực sự của Tập Cận Bình là quân đội, lại đang từ chối tham chiến.
Bình luận viên Lý Ngọc Thương cho rằng thông tin tuyệt mật này do phe ĐCSTQ Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng cố tình làm rò rỉ, cũng không kém so với “đạn rỗng” năm nào.
“Đạn rỗng” của Giang Trạch Dân
Năm 1996, Đài Loan tổ chức bầu cử tổng thống trực tiếp lần đầu tiên, ĐCSTQ đã chi 4 tỷ nhân dân tệ để tập trận tên lửa qua eo biển Đài Loan. Trong một thời gian, eo biển Đài Loan phủ đầy khói đạn và bầu không khí căng thẳng chưa từng thấy.
Vào thời điểm quan trọng này, kế hoạch hành động của quân đội TQ và các thông tin cực kỳ bí mật khác đã bị Thiếu tướng Lưu Liên Côn bí mật tiết lộ cho chính phủ Trung Hoa Dân quốc.
Theo loạt thông tin được cung cấp, Mỹ đã cử hai nhóm tác chiến tàu sân bay “Independence” và “Nimitz” du hành quanh eo biển Đài Loan để răn đe ĐCSTQ.
Thông tin quan trọng và bí mật nhất mà Lưu Liên Côn cung cấp là các tên lửa do ĐCSTQ phóng đi là có đầu đạn rỗng. Thông tin tình báo này cho phép chính quyền Đài Loan nắm được đường lối của ĐCSTQ.
Sau khi nắm được thông tin, ông Lý Đăng Huy đã trấn an người dân ở Đài Loan rằng: Đừng lo lắng, quân đội đại lục sẽ bắn những quả tên lửa rỗng. Theo các báo cáo, Lý Đăng Huy đã vạch trần vụ bê bối về các cuộc tập trận quân sự của ĐCSTQ, và Giang Trạch Dân đã phải đập bàn tức giận. Lưu Liên Côn đã phá bỏ mối đe dọa vũ lực của ĐCSTQ đối với Đài Loan.
Hai ví dụ này có điểm tương đồng. Các bí mật quân sự hàng đầu của ĐCSTQ đã bị rò rỉ, dẫn đến việc bên kia nắm được điểm mấu chốt của ĐCSTQ. Tuy nhiên, các chính trị gia tham gia vào hai sự kiện này có xuất phát điểm hoàn toàn khác nhau.
Với tư cách là một thiếu tướng của Trung Quốc, lý do tại sao Lưu Liên Côn lại thông báo những bí mật quân sự cao nhất của ĐCSTQ cho chính phủ Trung Hoa Dân Quốc vào thời điểm quan trọng như vậy. Chính là vì vụ nổ súng vào sinh viên ngày 4/6/1989 đã khiến ông ta hiểu rõ bộ mặt thật của ĐCSTQ. Ông là một người thực sự yêu nước nên Tướng Lưu cuối cùng đã phải trả giá bằng mạng sống của mình cho điều này, và tấm bia của ông đã được đặt trong “Đền thờ liệt sĩ” của Đài Loan.
Tuy nhiên, so với Lưu Liên Côn, phe của Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng có xuất phát điểm hoàn toàn khác, mục tiêu của họ là sử dụng công cụ của dư luận dưới quyền để khiến cho ông Tập Cận Bình phải từ chức và phe này lại lên nắm quyền. Cái này có nghĩa là là “đổi thang không đổi thuốc, đổi Tập không đổi đảng”.
Ngày càng có nhiều người nhận thức thấu đáo rằng nếu hệ thống ĐCSTQ không bị loại bỏ, Trung Quốc sẽ không bao giờ có hòa bình, và đất nước Trung Quốc sẽ tiếp tục hứng chịu những thảm họa. Ngoại giới từng đầy ảo tưởng về các nhà lãnh đạo tiếp theo của ĐCSTQ sẽ thay đổi, nhưng lịch sử cho thấy Mao Trạch Đông phát động “Cách mạng Văn hóa”, Đặng Tiểu Bình bắn vào các sinh viên không có vũ khí ở Thiên An Môn, và Giang Trạch Dân đã phạm tội ác tày trời chống lại hàng triệu học viên Pháp Luân Công …, ĐCSTQ liên tiếp đời này đến đời khác đã mang đến các thảm họa nghiêm trọng như vậy cho đất nước Trung Quốc.
Chia sẻ với phóng viên, các chuyên gia Đức đã có những đánh giá tích cực đối với những đề xuất của Việt Nam tại phiên thảo luận mở cấp cao trực tuyến của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) nhằm ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh biển.
Giáo sư Thomas Engelbert
Đánh giá về bài phát biểu của Thủ tướng Việt Nam tại phiên thảo luận của HĐBA LHQ, Tiến sỹ Gerhard Will, nguyên là chuyên gia về Biển Đông của Viện Khoa học và Chính trị Đức cho rằng, Việt Nam một lần nữa khẳng định rõ quan điểm, chủ trương trong việc đảm bảo an ninh hàng hải và giải quyết hòa bình các xung đột trên biển, cũng như đề xuất các giải pháp cụ thể trong vấn đề này. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của Việt Nam trong việc giữ gìn hòa bình, ổn định, an ninh hàng hải trong khu vực. Theo Tiến sỹ Gerhard Will, an ninh hàng hải là vấn đề rất quan trọng với Việt Nam vì Việt Nam có vùng biển rộng, đường bờ biển dài, nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu và liên kết chặt chẽ với kinh tế thế giới. Không chỉ quan trọng với Việt Nam, vấn đề này cũng rất quan trọng với thế giới, điều này thể hiện rõ qua việc HĐBA LHQ tổ chức một phiên họp chính thức riêng về chủ đề này.
Tiến sỹ Gerhard Will
Tiến sỹ Gerhard Will cho rằng các đề xuất của Việt Nam tại phiên thảo luận của HĐBA LHQ rất phù hợp và thực tế, thể hiện tính chủ động, tích cực và tinh thần trách nhiệm cao của Việt Nam trong việc đối phó với các thách thức chung. Tiến sỹ Gerhard Will chia sẻ: „Việt Nam hiểu rõ an ninh biển là vấn đề chung, không thể chỉ giải quyết bởi một quốc gia đơn lẻ nào, mà cần có sự hợp tác và đồng thuận trong khu vực cũng như quốc tế, từ nhận thức đến hành động. Luật pháp quốc tế, đặc biệt là Luật Biển quốc tế, là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng, nền tảng cho việc giải quyết các xung đột và duy trì an ninh, ổn định các vùng biển. Các quốc gia cần tôn trọng, tuân thủ luật pháp quốc tế, thực hiện tốt nghĩa vụ của mình theo quy định của luật pháp quốc tế và giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế“.
Tiến sỹ Gerhard Will cũng đánh giá cao đề nghị của Việt Nam về việc thiết lập một mạng lưới các cơ chế, sáng kiến về an ninh biển khu vực do LHQ điều phối để tăng cường chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, phối hợp hành động, kịp thời ứng phó với các thách thức chung trên toàn cầu. Ông cho rằng những cơ chế, sáng kiến trong khu vực cũng như các thỏa thuận song phương, đa phương, nếu có sự điều phối của Liên hợp quốc để tăng cường phối hợp hành động trên phạm vi rộng lớn hơn, có thể mang lại những kết quả rất tốt.
Theo Giáo sư Thomas Engelbert tại Đại học Hamburg, Việt Nam là một trong những chủ thể liên quan chính trong cuộc xung đột ở Biển Đông, có vai trò quan trọng trong việc giải quyết hòa bình cuộc xung đột này. Đây cũng chính là lợi ích quốc gia của Việt Nam. Từ trước đến nay, mọi sáng kiến mà Việt Nam đưa ra đều theo hướng tìm kiếm một giải pháp hòa bình hoặc giải quyết một cách hòa bình cuộc xung đột.
Cùng chung nhận định với Tiến sỹ Gerhard Will, Giáo sư Engelbert cho rằng các đề xuất của Việt Nam tại HĐBA LHQ rất tích cực. Việt Nam luôn mong muốn thúc đẩy an ninh, bảo đảm sự ổn định trên biển và tự do hàng hải trong khu vực. Các đề xuất của Việt Nam cũng phù hợp với đề xuất của các nước khác như Mỹ, Nhật Bản hay Ấn Độ- những quốc gia rất quan tâm tới an ninh hàng hải. Theo Giáo sư Engelbert, để duy trì sự ổn định và an ninh trong lĩnh vực hàng hải, các nước liên quan cần tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) với những quy định rõ ràng về vấn đề an ninh, an toàn hàng hải, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, giải quyết hòa bình các tranh chấp và xung đột. Đồng thời, các quốc gia cần điều chỉnh các hành vi của mình sao cho phù hợp.
Mỹ muốn tăng cường hỗ trợ các đồng minh và cải thiện khả năng tác chiến hải quân ở khu vực này, trong khi Trung Quốc muốn khẳng định sự hiện diện tại khu vực tranh chấp ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan.
Hải quân Mỹ đang tham gia một loạt cuộc tập trận tại khu vực Thái Bình Dương. (Nguồn: Handout)
Nỗ lực duy trì hiện diện
Trong bối cảnh Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Anh và các quốc gia khác tiến hành một loạt cuộc tập trậnhải quân lớn tại khu vực Tây Thái Bình Dương trong tháng này, các tàu chiến tiên tiến nhất thế giới, chẳng hạn như tàu sân bay, tàu ngầm và có thể có cả tên lửa diệt hạm của Trung Quốc, sẽ nằm trong số các hỏa lực mạnh được triển khai ở khu vực.
Mỹ muốn tăng cường hỗ trợ giữa các đồng minh và cải thiện khả năng tác chiến kết hợp ở khu vực này, trong khi Trung Quốc muốn khẳng định sự hiện diện tại khu vực tranh chấp ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan.
Washington vẫn khẳng định rằng, cường quốc số một thế giới đang cố gắng bảo vệ an ninh khu vực bằng cách thách thức các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.
Tuy nhiên, Bắc Kinh cho rằng, việc điều tàu chiến đến các vùng biển tranh chấp là hành động khiêu khích.
Shahriman Lockman, nhà phân tích của Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Malaysia, nói: “Cả Mỹ và Trung Quốc đều ‘huấn luyện’ lẫn nhau lường trước sự hiện diện của bên kia ở Biển Đông. Nguy cơ xung đột có thể được kiểm soát, miễn là cả hai bên duy trì tính chuyên nghiệp. Mỗi bên đều đưa ra tín hiệu về quyết tâm duy trì sự hiện diện trong khu vực.
Điều này đôi khi có thể là ‚con dao hai lưỡi‘ đối với các bên tranh chấp Đông Nam Á trong bối cảnh căng thẳng đôi khi có thể bùng phát, nhưng các bên tranh chấp ở Đông Nam Á sẽ không khó chịu với điều này nhiều nếu sự hiện diện của bên này kiềm chế bên kia”.
Nhà nghiên cứu Collin Koh, trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam thuộc trường Đại học Công nghệ Nanyang của Singapore cho rằng, sự bùng nổ của các hoạt động quân sự trong khu vực là “dễ nhận thấy” nhưng rủi ro thấp.
Chuyên gia trên nêu rõ: “Sự gia tăng các hoạt động này gần đây dường như chưa từng có tiền lệ, diễn ra mạnh mẽ chỉ trong một khoảng thời gian ngắn. Các bên đối địch đã sử dụng các cuộc tập trận như hình thức tấn công và phản công để thể hiện thái độ chính trị, nhưng điều này không hẳn đồng nghĩa với việc vượt qua ngưỡng để đe dọa hoặc sử dụng vũ lực”.
Theo ông, các lực lượng quân sự “đối địch” vẫn theo dõi chặt chẽ các hoạt động của nhau nhưng ở “một khoảng cách an toàn và chuyên nghiệp”.
„Cơn mưa“ tập trận
Cuộc tập trận hải quân Talisman Sabre ngoài khơi bờ biển Australia kết thúc đúng ngày 1/8, bao gồm các hoạt động diễn tập như đổ bộ bãi biển, bắn đạn thật và sử dụng điều khiển không gian để nhắm mục tiêu liên lạc vệ tinh.
Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ cũng đang tiếp tục một loạt cuộc tập trận toàn cầu quy mô lớn bắt đầu vào ngày 9/8 và sẽ kéo dài đến ngày 27/8.
Lần đầu tiên trong hơn 40 năm, các cuộc tập trận kéo dài trên 17 múi giờ và sẽ có sự tham gia của quân đội Australia, Anh, Nhật Bản trong nỗ lực nhằm “cải thiện khả năng tương tác, sự tin cậy và sự hiểu biết chung để giải quyết các thách thức an ninh tốt hơn” .
Trong khi đó, theo thông báo của Cục An toàn Hàng hải Trung Quốc, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) cũng tiến hành các cuộc tập trận ở Biển Đông kéo dài từ ngày 7-10/8.
Tuy thông tin chi tiết về cuộc tập trận chưa được tiết lộ, nhưng các nhà phân tích quân sự cho biết khu vực tập trận này đủ lớn để Lực lượng Tên lửa PLA tham gia, có khả năng sẽ thử nghiệm tên lửa chống hạm.
Bài xã luận trên tờ Global Times ngày 5/8 cho biết, các cuộc tập trận của Trung Quốc là “sự phản ứng đối với cuộc tập trận của quân đội Mỹ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” và khẳng định Washington đã “tính toán sai lầm” khi cố gắng “khiến Trung Quốc và Nga khiếp sợ bằng cách phô trương lực lượng”.
Ấn Độ cũng gửi 4 tàu chiến đến Biển Đông trong đợt triển khai kéo dài hai tháng nhằm thể hiện “phạm vi hoạt động, sự hiện diện hòa bình và tình đoàn kết với các nước bạn”.
Các tàu này sẽ tham gia các cuộc tập trận song phương với một số nước Đông Nam Á trước khi tham dự cuộc tập trận thường niên Malabar với các thành viên nhóm Bộ tứ, gồm Mỹ, Australia, Ấn Độ và Nhật Bản.
Trong khi đó, tàu chiến Bayern của Đức đã lên đường đến Thái Bình Dương trong tuần này trên hành trình sẽ ghé thăm Guam, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á.
Tàu này dự kiến sẽ đi qua Biển Đông trong chuyến trở về vào tháng 12, nhưng yêu cầu thăm cảng Thượng Hải đã bị từ chối khi Bắc Kinh yêu cầu Đức làm rõ ý định của mình.
Chuyên gia Koh cho rằng, đối với Mỹ và các đồng minh, các hoạt động huấn luyện chung đã giúp xây dựng khả năng tương tác giữa các lực lượng của họ.
Ông nói: “Trong cuộc tập trận Talisman Sabre, các lực lượng hải quân vốn ít gặp mặt đã có cơ hội huấn luyện cùng nhau trong các kịch bản phức tạp trên biển và trên không. Australia, Canada, Nhật Bản và Hàn Quốc đã tiến hành huấn luyện chung về tác chiến phòng không và chống tàu ngầm”.
Đối với Trung Quốc, các cuộc tập trận quy mô lớn của PLA là một phần quan trọng trong nỗ lực nhằm tăng cường huấn luyện chiến đấu “thực tế” trong những năm gần đây“.
Hiện có ngày càng nhiều quan ngại về việc Biển Đông có thể trở thành điểm đụng độ giữa Mỹ và Trung Quốc khi sự cạnh tranh chiến lược giữa hai cường quốc ngày càng nóng lên.
Giáo sư Brad Glosserman, làm việc tại Trung tâm Chiến lược Xây dựng Quy tắc của trường Đại học Tama (Nhật Bản) cho biết, “số lượng lớn tàu thuyền trên không và trên biển làm gia tăng khả năng xảy ra tai nạn”.
Ông nhận định, các cuộc tập trận của Mỹ gửi đi thông điệp rằng, Washington đang đại diện cho một “liên minh các lực lượng và không đơn độc trong việc bảo vệ nguyên trạng khu vực”.
Từ ngày 20 đến 26/8 tới đây, Phó Tổng thống Mỹ – bà Kamala Harris – sẽ có chuyến công du Đông Nam Á. Chuyến thăm được dư luận thế giới, nhất là các nước Đông Nam Á quan tâm. Riêng Trung Quốc thì theo dõi rất chăm chú từ khi chuẩn bị đến dự kiến chương trình của chuyến thăm, vì nó liên quan trực tiếp đến chiến lược ngoại giao của nước này.
Có nhà bình luận cho rằng Tổng thống Mỹ Joe Biden đang “ném đá dò đường” bằng cách đưa các nhân vật chóp bu của Nhà trắng đi chào hỏi trước, nghe ngóng tình hình ở một khu vực nóng bỏng, sau đó mới đến lượt ông chủ có tiếng nói và hành động quyết định.
Cuối tháng 7, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã mở màn chiến dịch ngoại giao Đông Nam Á của Washington. Ông đã có chuyến công du qua ba nước Singapore, Việt Nam và Philippines. Mục đích chuyến đi rất rõ ràng: Mong muốn thúc đẩy những mối quan hệ an ninh ngày càng sâu sắc hơn với các quốc gia này.
Còn chuyến đi này của nhân vật số hai trong Phủ Tổng thống Mỹ cụ thể hơn một bước: Washington sẽ bàn thảo với các lãnh đạo Đông Nam Á về những vấn đề an ninh cấp bách trong khu vực, trong đó có giải pháp bác bỏ, ngăn chặn yêu sách chủ quyền phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông.
Đó là mục tiêu bao trùm. Cụ thể hơn, Phó Tổng thống Mỹ sẽ trao đổi với lãnh đạo các nước mà bà đến thăm về bốn vấn đề cơ bản: một, tại Singapore và Việt Nam, bà Harris sẽ là người gợi mở, làm rõ thêm những mục tiêu chính sách của Washington trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại; hai, dự kiến, bà Harris sẽ có các cuộc gặp với giới chức hai nước sở tại, tiếp xúc với lãnh đạo các lĩnh vực tư nhân và xã hội dân sự, nội dung thảo luận tập trung vào cam kết của Washington đối với nỗ lực thúc đẩy an ninh khu vực, những quy tắc và luật lệ quốc tế nói chung bao gồm những quy tắc và luật lệ ở Biển Đông; ba, vị khách đến từ Nhà trắng sẽ tập trung vào những mối quan hệ đối tác, đặc biệt là đối tác kinh tế giữa Mỹ và các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); bốn, tiếp tục và kiên trì “bảo vệ những giá trị của Mỹ”.
Theo tiết lộ của một quan chức Nhà Trắng: Washington không muốn thấy bất kỳ nước nào thống trị khu vực hoặc “cậy thế cậy quyền” để gây phương hại đến chủ quyền của các nước khác. Bà Phó Tổng thống sẽ nhấn mạnh đến tự do hàng hải trên toàn Biển Đông và rằng, không một nước nào cho phép mình chèn ép lợi ích của các nước khác.
Bà Phó Tổng thống Mỹ còn chưa có mặt ở Đông Nam Á, nhưng các quan chức trong khu vực đã bày tỏ quan tâm đến chuyến đi này.
Hôm 3/8, phát biểu tại Diễn đàn Anninh Aspen, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long hoan nghênh các chuyến thăm cấp cao “rất giá trị” của Mỹ. Ông Lý cho rằng, đây là chỉ dấu cho thấy Washington nhận thức rất rõ, họ cần bảo vệ và thúc đẩy những lợi ích thực chất và quan trọng của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á. Có điều trong lúc quan hệ Mỹ-Trung đang trong tình trạng xấu nhất khó có thể cứu vãn thì, nhiều nước trong khu vực mong muốn Mỹ và Trung Quốc cần có giải pháp tích cực để giảm gia tăng căng thẳng, bởi các đồng minh và đối tác của Mỹ muốn duy trì quan hệ mở rộng của họ đối với cả hai cường quốc.
Đối với Việt Nam, có một câu hỏi: Hà Nội có muốn nâng tầm quan hệ hai nước từ song phương lên thành đối tác chiến lược? Trong chuyến thăm tuần trước, khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Austin đề xuất vấn đề hệ trọng này thì ông Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc không nói gì, chỉ “cười sau khẩu trang” (bình luận của Biendong.net).
Ai cũng hiểu, Hà Nội rất muốn. Được lời như cởi tấm lòng. Nhưng Hà Nội còn sợ Bắc Kinh. Nâng cấp quan hệ lên cấp chiến lược với Mỹ thì ngang bằng với Trung Quốc à? Còn đâu là những người đồng chí, đồng hệ tư tưởng ?
Cho nên Hà Nội đành im lặng. Sau đấy, các nhà lãnh đạo Hà Nội phát biểu ở nơi này nơi kia thường có cách nói lấp lửng rằng: Lâu nay quan hệ song phương Việt-Mỹ khá toàn diện, có những yếu tố mang tính chiến lược, có mặt còn hơn một số đối tác chiến lược khác. Chính danh cũng cần. Nhưng tên gọi không phải là điều quan trọng nhất. Quyết định vẫn là tính thực chất, hiệu quả và sự bền vững của mối quan hệ.
Cách giải thích này của Hà Nội khiến cho Mỹ cũng không thể mếch lòng. Nó không phải là chuyện chơi chữ, mà là nội dung cốt lõi hẳn hoi! “Chưa phải chiến lược nhưng còn hơn chiến lược” (!)
Và như thế, Việt Nam cứ “đường xưa ta đi”, điềm nhiên hai tay bắt hai tay Trung-Mỹ.
Khi bàn chuyện nghị trường thì còn đu dây được. Còn đến lúc hành động thì mới khó. Thật là khó tứ bề. Sơ xểnh một chút là Bắc Kinh đe dọa ngay. Cho nên chuyến thăm của bà Phó Tổng thống Mỹ đến các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, hẵng cứ coi như một tín hiệu tích cực. Còn câu trả lời đối tác chiến lược Việt Nam-Mỹ thì vẫn phải hiểu là “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”.
Israel und der Iran liefern sich auch auf See einen Schlagabtausch. Wie gefährlich ist die Konfrontation – und stellt sie den Atomdeal infrage?
CHRISTIAN BÖHMEMAREIKE ENGHUSENDer Tanker MT Mercer Street wurde vor wenigen Tagen von Drohnen angegriffen. Zwei Crewmitglieder starben.FOTO: KARIM SAHIB/AFP
Der sogenannte Schattenkrieg zwischen Iran und Israel hat eine neue Eskalationsstufe erreicht – und könnte die internationale Gemeinschaft zum Einschreiten zwingen. Die mutmaßlich iranische Drohnenattacke am vergangenen Donnerstag auf die MV Mercer Street, ein von einer israelischen Firma betriebenes Schiff, forderte erstmals zivile Todesopfer: Ein britisches und ein rumänisches Crewmitglied kamen ums Leben.Während die betroffenen Staaten noch um eine angemessene Reaktion ringen, ereignete sich am Dienstag gleich der nächste Vorfall auf dem Meer. Im Golf von Oman kam es auf einem Tanker offenbar zu einem Entführungsversuch.
Noch sind die Umstände unklar. Doch auch in diesem Fall gilt Irans Regime als verdächtig. So viel ist bisher bekannt: Die britische Marineschifffahrtleitorganisation UKMTO meldete die „potenzielle Entführung eines Schiffes“. Omanische Behörden identifizierten dieses kurz darauf als „Asphalt Prinzess“.
Zwei Menschen sterben bei einem Drohnenangriff auf einen Tanker
Wenig später verkündete die UKMTO jedoch kommentarlos, dass der „Vorfall vorüber“ sei. Ob das jüngste Ereignis mit dem israelisch-iranischen Schattenkrieg zusammenhängt, ist schwer zu sagen. Fest steht: Die Spannungen in der Region steigen. Nicht nur Israel, auch die USA und Großbritannien machen Teheran für die tödliche Attacke auf die „Mercer Street“ verantwortlich.
Wenngleich der Iran jede Schuld von sich weist, werden es sich die betroffenen Nationen – Israelis, Briten, Rumänen – kaum leisten können, den Angriff tatenlos hinzunehmen.
Irans neuer Präsident Raisi (r.), hier bei der Amtseinführuung durch Revolutionsführer Chamenei, hat Interesse an einem Deal mit…FOTO: IMAGO/ZUMA WIRE
Seit Jahren bekämpfen der Iran und Israel einander, oft mit Gewalt, immer aber unterhalb der Schwelle eines echten Krieges. Jerusalem sieht Teherans Atomprogramm als existenzielle Bedrohung und will eine mögliche nukleare Bewaffnung des Irans mit allen Mitteln verhindern.
Vertreter des Mullah-Regimes haben wiederholt die Auslöschung des „zionistischen Feindes“ beschworen. Über Stellvertreter, Geheimdienstkommandos und Hacker bekämpfen sich beide Staaten an etlichen Schauplätzen.
So in Syrien und im Libanon, wo irantreue Milizen agieren; in Gaza, wo die Hamas und der islamische Dschihad mittels iranischer Hilfe ihr Waffenarsenal ausbauen; in Teherans Atomanlagen, die mutmaßlich israelische Agenten immer wieder sabotieren; im virtuellen Raum per Cyberattacken – und seit einiger Zeit verstärkt auf dem Wasser. Dass dabei Zivilsten unbeteiligter Nationen ums Leben kommen, ist neu. Haben die Iraner sich verkalkuliert?
Sicherheitsexperte Amos Yadlin, einstiger Chef des israelischen Militärgeheimdienstes, ist davon überzeugt. „Sie haben sich ins eigene Bein geschossen“, sagt er. Denn wegen der getöteten Crew-Mitglieder bringe der Iran nun weitere Nationen gegen sich auf.
US-Präsident Biden will den Konflikt mit dem Iran diplomatisch lösen.FOTO: JONATHAN ERNST/REUTERS
Für Israels Regierung birgt diese Internationalisierung des Konflikts einen Vorteil: Ihre Warnungen vor Irans Aggressionen gewinnen an Gewicht. Der Angriff auf die „Mercer Street“, sagten Außenminister Yair Lapid und Verteidigungsminister Benny Gantz, unterstreiche, „dass die jüngsten Attacken nicht Teil eines lokalen oder bilateralen Konflikts sind.
Vielmehr ist dies eine Attacke auf die internationale Gemeinschaft, und als solche sollte die internationale Gemeinschaft sie betrachten und entsprechend reagieren.“
[Wenn Sie aktuelle Nachrichten aus Berlin, Deutschland und der Welt live auf Ihr Handy haben wollen, empfehlen wir Ihnen unsere App, die Sie hier für Apple- und Android-Geräte herunterladen können.]
Was der Schattenkrieg für die Gespräche über ein neues Atomabkommens bedeutet, ist nicht absehbar. Die Verhandlungen in Wien sind momentan unterbrochen. Mit anderen Worten: Es geht nicht so recht voran. Doch sowohl Europa und die USA als auch der Iran zeigen nach wie vor Interesse an einem Deal.
Irans Regime braucht einen Deal
US-Präsident Joe Biden betont, den Streit mit Teheran diplomatisch lösen zu wollen. Diese Bereitschaft legt nahe, dass er den israelisch-iranischen Schlagabtausch nicht als grundlegendes Hindernis auf dem Weg zu einer Übereinkunft betrachtet. Nur: Die Supermacht Amerika wird sich von Teheran nicht jede Provokation bieten lassen.
Der Iran wiederum hat großes Interesse, dass die Sanktionen enden. Nur so könnten das Regime und Ebrahim Raisi als neuer Präsident die desaströse wirtschaftliche Lage ansatzweise verbessern – und das erzürnte Volk etwas beruhigen. Und: Schließt ein Linientreuer wie Raisi einen Deal mit den USA, würden ihn wohl die anderen Hardliner akzeptieren.
Trả lời phỏng vấn về kết quả Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 54 (AMM-54) và các Hội nghị liên quan, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng cho rằng, Trung Quốc đã chấp nhận quan điểm xây dựng COC phù hợp luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982.
AMM-54: Trung Quốc công khai đề cập xây dựng COC phù hợp luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. (Ảnh: Tuấn Anh)
Xin Thứ trưởng cho biết về điểm nhấn của Hội nghị lần này?
Hội nghị lần này diễn ra trong thời điểm hết sức đặc biệt. ASEAN đứng trước rất nhiều thách thức, có thể nói là vô cùng khó khăn, cả do đợt bùng nổ mới của Covid-19 và những biến thể mới ở khu vực, cũng như sự cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt giữa các nước lớn, tình hình phức tạp ở Biển Đông, ở Myanmar.
Trong tình hình đó, điểm nhấn mà Hội nghị đạt được là: càng trong khó khăn, càng thấy được giá trị và nhận thức về giá trị của ASEAN ngày càng tăng, và quyết tâm của các nước ASEAN ngày càng cao, được sự ủng hộ và cam kết mạnh mẽ của các nước khu vực, tôn trọng vai trò của ASEAN ở khu vực này. Tôi cho rằng đây là kết quả rất là tốt.
Điểm thứ hai là về vấn đề Myanmar. Hội nghị lần này đã quyết tâm triển khai thực hiện Đồng thuận 5 điểm của các nhà lãnh đạo ASEAN và đạt được đồng thuận rất khó khăn là cử được Đặc phái viên của Chủ tịch ASEAN là Bộ trưởng Ngoại giao thứ 2 của Brunei.
Đồng thời, Hội nghị cũng đã quyết định triển khai các hoạt động hỗ trợ nhân đạo cho Myanmar, thông qua Trung tâm AHA, điều phối về hỗ trợ nhân đạo và quản lý thiên tai của ASEAN, do Tổng thư ký ASEAN đứng ra gánh vác, điều phối hoạt động này ở Myanmar.
Về Covid-19, ASEAN đã khẳng định lại tiếp tục các kế hoạch hợp tác, nhận được nhiều cam kết hợp tác của các đối tác hỗ trợ khối vượt qua dịch bệnh, nhận được càng ngày càng nhiều vaccine, thực hiện các kế hoạch để phục hồi kinh tế hậu dịch.
Về đối ngoại, ASEAN cũng đã đạt được dấu mốc rất quan trọng, đó là việc đồng ý chấp thuận để Vương quốc Anh trở thành Đối tác đối thoại của ASEAN.
Tại Hội nghị, Việt Nam đã đề xuất những sáng kiến gì để thúc đẩy tinh thần đoàn kết, đồng thuận trong giải quyết các vấn đề thách thức của ASEAN, thưa Thứ trưởng?
Việt Nam tham gia Hội nghị lần này với tâm thế là vừa hoàn thành nhiệm vụ Chủ tịch ASEAN 2020, với rất nhiều kết quả, đề xuất, sáng kiến mà Việt Nam đề ra trong năm 2020.
Trên tinh thần đó, Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò trong việc thúc đẩy để triển khai các kết quả của năm 2020, sáng kiến mà Việt Nam đề ra trong năm 2020. Việt Nam duy trì được các mối quan tâm của Việt Nam trong chương trình nghị sự của ASEAN, trong đó có vấn đề gắn sự hợp tác tiểu vùng với các chương trình hợp tác của ASEAN.
Việt Nam cũng đã phát huy vai trò rất tích cực trong việc giải quyết các vướng mắc, khó khăn, bế tắc vì các quan điểm khác nhau, ý kiến khác nhau trong Hội nghị. Và chính Việt Nam là người đã đưa ra nhiều đề xuất và vận động các nước để đi đến thỏa thuận về Myanmar, về đặc phái viên của Myanmar, cũng như đạt được đồng thuận để Anh trở thành Đối tác đối thoại của ASEAN.
Ngoài ra, Việt Nam cũng đã đẩy mạnh các Đối tác của ASEAN tăng cường hợp tác, cam kết với ASEAN, hỗ trợ ASEAN về vaccine và chuyển giao công nghệ về vaccine tại các nước ASEAN.
Bất chấp khó khăn do dịch bệnh, ASEAN đã đạt được những tiến bộ ra sao trong nỗ lực xây dựng các trụ cột và triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025?
Covid-19 là thách thức rất lớn, thu hút sự quan tâm của các nước để chống dịch. Tuy nhiên, công việc xây dựng Cộng đồng vẫn tiến triển. Chúng ta rất phấn khởi là các kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng đến năm 2025 đã được triển khai đều khắp trên tất cả các trụ cột. Trụ cột chính trị an ninh đã hoàn tất 96% các dòng hành động. Trụ cột kinh tế đã hoàn tất 88%. Trụ cột văn hóa xã hội đã hoàn tất 72%. Đó là những kết quả rất đáng khích lệ.
Những kế hoạch đặt ra như triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau 2025 thì ASEAN đã có được lộ trình và lập ra được Nhóm đặc trách cao cấp để triển khai nhiệm vụ này, cũng như tiếp tục triển khai các công việc kiểm điểm việc thực hiện Hiến chương của ASEAN.
Có thể nói các công việc đặt ra đều được quan tâm triển khai trong năm nay.
Xin Thứ trưởng cho biết, về quan hệ đối ngoại của ASEAN, Việt Nam đã đạt được những gì qua các hội nghị lần này?
Về đối ngoại, như đã nói một phần ở trên, trước hết, các nước Đối tác đến đây, dự họp với ASEAN với tinh thần ủng hộ ASEAN rất cao, với sự thừa nhận về giá trị và vai trò của ASEAN, đặc biệt trong lúc khó khăn này và rất tôn trọng ý kiến của ASEAN.
Các nước Đối thoại rất mong muốn gắn kết chiến lược, chính sách của mình với hợp tác khu vực, với Quan điểm về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của ASEAN.
Điểm nổi bật là các nước Đối tác đến đây đều có các cam kết rất mạnh mẽ, rất cụ thể về việc hỗ trợ ASEAN chống Covid-19 và phục hồi bằng những việc làm rất cụ thể. Nước thì cung cấp vaccine và cung cấp kỹ thuật, chẳng hạn như thiết bị kho lạnh để chứa vaccine. Nước thì giúp đào tạo cán bộ y tế. Nước thì hỗ trợ tiền để ASEAN có thể tăng cường Quỹ Covid-19 để mua thêm vaccine…
Một kết quả nữa là Anh đã trở thành Đối tác đối thoại của ASEAN.
Cho nên, có thể nói thông qua chuỗi Hội nghị ASEAN lần này, các mối quan hệ đối ngoại của ASEAN đã được củng cố và tăng cường hơn rất nhiều.
Một vấn đề rất được quan tâm hiện nay là vaccine. Hiện tại, việc sử dụng Quỹ ASEAN Ứng phó Covid-19 để mua sắm, chuyển giao công nghệ về vaccine đã được các nước tiếp cận như thế nào, thưa Thứ trưởng?
Quỹ ASEAN Ứng phó Covid-19 đã được thiết lập trong năm ngoái (2020), cho đến nay đã có 20,5 triệu USD đóng góp của các nước thành viên và các nước Đối tác của ASEAN.
ASEAN đã quyết định sử dụng 10,5 triệu USD để mua vaccine cho các nước thành viên thông qua hợp tác với UNICEF. Hiện nay, thỏa thuận giữa ASEAN và UNICEF đang được hoàn tất. Chúng tôi hy vọng là sẽ sớm hoàn tất để có thể triển khai và thông qua UNICEF, dùng số tiền đó để mua vaccine cho các nước ASEAN.
Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng trả lời phỏng vấn báo chí về kết quả Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 54 (AMM-54) và các Hội nghị liên quan. (Ảnh: Tuấn Anh)
Về khía cạnh phục hồi sau đại dịch, ASEAN đã đạt được thống nhất gì qua Hội nghị lần này, thưa Thứ trưởng?
Thứ nhất, ASEAN quyết tâm không để đứt gãy chuỗi cung ứng, duy trì các giao dịch, giao thương của các nước không bị ảnh hưởng, tạo điều kiện cao nhất có thể trong hoàn cảnh này cho doanh nghiệp để có thể duy trì thương mại và đầu tư.
Đặc biệt là ASEAN sẽ đẩy mạnh hợp tác để chuyển đổi số. Các Bộ trưởng ASEAN phụ trách về hợp tác số đã thông qua Kế hoạch chuyển đổi số của ASEAN cho đến năm 2025. Đấy là tiến bộ rất lớn và các nước sẽ đẩy mạnh triển khai thương mại điện tử trong ASEAN.
Đồng thời, ASEAN quyết tâm tận dụng và đẩy mạnh các Hiệp định đã ký kết về tự do hóa thương mại, xác định với nhau là cố gắng để phê chuẩn sớm nhất Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).
Vấn đề an ninh, an toàn hàng hải, hàng không ở Biển Đông đã được các nước ASEAN và các Đối tác rất quan tâm và tập trung trong các phiên thảo luận. Xin Thứ trưởng cho biết, các nước ASEAN và các Đối tác đã đạt được những điểm chung nào?
Tình hình Biển Đông có những phức tạp nhất định. Trong tình hình đó, ASEAN vẫn duy trì quan điểm nhất quán của mình.
Đó là ủng hộ, nhấn mạnh hòa bình, ổn định, tự do hàng hải, hàng không ở khu vực và xây dựng lòng tin. Các nước phải kiềm chế, không có hành động làm leo thang căng thẳng, hoặc các hành động quân sự hóa hay tái tạo đảo, hoặc những hoạt động gây tổn hại quyền lợi chính đáng của các nước ở ven biển.
Các nước nhất trí rất cao, đề cao vai trò của luật pháp quốc tế, đặc biệt nhấn mạnh UNCLOS là khuôn khổ để điều chỉnh các hoạt động của các nước trên biển và trên đại dương.
Quan trọng nữa, các nước nhất trí rằng COC phải thực chất, tổng thể, phù hợp luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS. Điểm mới là Trung Quốc giờ đây đã chấp nhận quan điểm của ASEAN. Điều đó sẽ định hướng quá trình thương lượng COC thời gian tới.
Trong bối cảnh chiến hạm của nhiều nước đang đổ về Biển Đông, cả Mỹ và đồng minh lẫn Trung Quốc đều tiến hành các cuộc tập trận quy mô lớn ở khu vực.
Tàu sân bay Anh HMS Queen Elizabeth mang theo chiến đấu cơ F-35 của thủy quân lục chiến Mỹ hoạt động cùng chiến hạm một số đồng minh ở Biển Đông
Hôm qua (theo giờ Việt Nam), website của Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của quân đội Mỹ (USINDOPACOM) dẫn lời Đô đốc John Aquilino, Chỉ huy USINDOPACOM, chỉ trích tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông là phi pháp. Phát biểu của vị chỉ huy này được đưa ra khi ông tham dự Diễn đàn An ninh Aspen (bang Colorado, Mỹ).
Qua đó, ông khẳng định Mỹ sẽ “dành nhiều thời gian với các đồng minh và đối tác để đảm bảo rằng trật tự dựa trên luật lệ quốc tế” đối với vùng biển này. Một trong các biện pháp là Washington duy trì sự hiện diện quân sự mạnh mẽ trong khu vực.
Rầm rộ tập trận
Trước khi diễn ra Diễn đàn An ninh Aspen, tờ South China Morning Post đưa tin từ ngày 2.8, Mỹ cùng với Anh, Úc và Nhật Bản tổ chức loạt tập trận quy mô lớn ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (Indo-Pacific), kéo dài đến ngày 27.8. Đợt tập trận này của Washington và đồng minh quy tụ 36 chiến hạm, bao gồm cả tàu sân bay và tàu ngầm. Cuộc tập trận còn được cho là nhằm “nhắc nhở” Trung Quốc về các hành động của nước này trong khu vực Indo-Pacific nói chung và Biển Đông nói riêng.
Trước đó, từ ngày 14 – 31.7, Mỹ, Úc, Nhật Bản, Anh, Canada, Hàn Quốc và New Zealand đã tổ chức cuộc tập trận quy mô lớn mang tên Talisman Sabre tại Úc. Tham gia cuộc tập trận này, còn có Ấn Độ, Indonesia, Đức và Pháp trong vai trò quan sát viên. Nội dung tập trận Talisman Sabre bao gồm phòng thủ và tái chiếm đảo nên được xem là một thông điệp mạnh mẽ nhằm vào Bắc Kinh.
Bên cạnh đó, nhóm tác chiến tàu sân bay Anh HMS Queen Elizabeth với lực lượng hộ tống hùng hậu gồm nhiều tàu chiến, bao gồm cả tàu ngầm hạt nhân, mới đây cũng đã tiến vào Biển Đông. Cùng ngày 2.8, tàu hộ vệ Bayern của Đức, với hơn 200 thủy thủ, đã rời cảng Wilhelmshaven để bắt đầu hành trình dài 6 tháng đến Indo-Pacific, dự kiến có di chuyển qua Biển Đông.
Trong khi đó, tờ Hoàn Cầu thời báo ngày 5.8 đưa tin Trung Quốc tổ chức tập trận quy mô lớn ở Biển Đông từ ngày 6 – 11.8. Nội dung tập trận chưa được công bố chi tiết, nhưng theo báo này thì không loại trừ khả năng Bắc Kinh sẽ bắn thử tên lửa đạn đạo chống hạm, như từng phóng thử 2 tên lửa đạn đạo diệt hạm Đông Phong 21 và Đông Phong 26 hồi tháng 8.2020.
Thông điệp các bên
Trả lời Thanh Niên ngày 6.8, PGS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế, Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật), nhận định: “Các cuộc tập trận hải quân do Mỹ tiến hành là một phần trong chiến lược của Washington nhằm tăng cường hoạt động và hiện diện bền vững ở Biển Đông, cũng như đáp ứng chiến lược mà nước này đặt ra là đảm bảo vùng biển được tuân thủ luật pháp quốc tế. Bằng cách triển khai chiến hạm hoạt động tự do hàng hải và không bị cản trở qua Biển Đông, Mỹ đang vô hiệu hóa các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông”.
“Đối với Trung Quốc, các cuộc tập trận hướng đến việc phô diễn để gửi thông điệp đến một số bên. Trong đó, việc tập trận tại khu vực mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền, giữa lúc cạnh tranh Mỹ – Trung đang căng thẳng, nhằm chứng tỏ với dư luận bên trong Trung Quốc rằng Bắc Kinh đang đứng lên chống lại Washington”, PGS Nagy phân tích và nhận định thêm rằng: “Với các bên khác liên quan Biển Đông, cuộc tập trận của Trung Quốc nhằm thể hiện sức mạnh với mục đích ngăn cản các nước Đông Nam Á phối hợp với nhau cũng như phối hợp với các nước bên ngoài khu vực như Mỹ và Nhật Bản”.
“Cuối cùng, Trung Quốc tập trận còn nhằm gửi tín hiệu tới Mỹ rằng Bắc Kinh sẽ đáp lại các động thái của Washington, nhưng không leo thang ở giai đoạn hiện tại”, chuyên gia Nagy đánh giá và đặt vấn đề: “Việc các bên tập trận như vậy có thể ẩn chứa một số rủi ro ngoài ý muốn, nhưng cũng giúp các bên tăng cường nhận thức về việc ứng xử với nhau”.
Washington đủ sức bảo vệ Đài Bắc
Phát biểu tại Diễn đàn An ninh Aspen, Đô đốc Aquilino tuyên bố quân đội Mỹ sẵn sàng bảo vệ Đài Loan trước nguy cơ tấn công quân sự từ Trung Quốc đại lục. “Chúng tôi đảm bảo rằng không gì có thể thay đổi hiện trạng về vấn đề Đài Loan”, tờ Stars and Stripes dẫn lời ông Aquilino. Cùng ngày, trong một sự kiện tại thủ đô Washington D.C, Đô đốc Aquilino lên tiếng ủng hộ Mỹ thường xuyên chuyển giao vũ khí cho Đài Loan.
Ngày 2/8, khinh hạm Bayern của Hải quân Đức rời cảng Wilhelmshaven với hơn 200 sĩ quan và thủy thủ. Con tàu này sẽ có chuyến hải trình dài 6 tháng đến châu Á-Thái Bình Dương.
Khinh hạm Bayern của Hải quân Đức hiện diện tại Biển Đông lần đầu tiên sau gần 2 thập kỷ. (Nguồn: Defense News)
Khinh hạm Bayern thuộc lớp Brandenburg và có số hiệu F217. Con tàu này cùng với ba “chị em” khác trong lớp tàu Brandenburg, bao gồm tàu Brandenburg (F215), tàu Schleswig-Holstein (F216) và tàu Mecklenburg-Vorpommern (F218), được Hải quân Đức đặt hàng vào tháng 9/1989.
Tàu Bayern được sử dụng thay thế lớp tàu Hamburg đóng từ cuối thập niên 50 – đầu thập niên 60 của thế kỷ XX.
Lớp tàu Brandenburg có nhiệm vụ chủ yếu là chống ngầm, nhưng cũng có khả năng tham gia phòng không và các hoạt động khác của nhóm tàu.
Tàu Bayern được đóng bởi công ty đóng tàu Nordseewerke tại thành phố cảng Emden, phía Tây Bắc nước Đức. Tàu được hoàn thành năm 1993 và hạ thủy vào tháng 6/1994.
Sau thời gian thử nghiệm, tàu Bayern được biên chế cho Hải quân Đức vào tháng 5/1996.
Hệ thống vũ khí hiện đại
Giống như các „chị em“ trong lớp tàu Brandenburg, tàu Bayern có lượng giãn nước 4.700 tấn, dài 138,9 mét.
Tàu có tốc độ tối đa 29 hải lý/giờ khi dùng turbine khí và 18 hải lý/giờ khi dùng động cơ diesel. Tầm hoạt động của tàu có thể lên đến 4.000 hải lý, với sức chứa hơn 200 sỹ quan và thủy thủ.
Tàu Bayern được trang bị hệ thống hai cặp ống phóng tên lửa diệt hạm MM38 Exocet. Hệ thống này bao gồm radar và có tầm bắn 42 km.
Về hệ thống phòng không, tàu được trang bị hệ thống phóng thẳng đứng Mark 41 mod 3 của Lockheed Martin, có khả năng phóng 16 tên lửa tầm trung đối không Sea Sparrow của NATO với tầm bắn 14,5 km.
Ngoài ra, tàu còn có hai hệ thống phòng không tầm ngắn RAM với tầm bắn 9,5 km, sử dụng công nghệ dẫn đường hồng ngoại.
Tàu Bayern có một khẩu pháo chính Oto Melara nòng 76 mm. Khẩu pháo này có thể bắn 85 phát mỗi phút, tầm bắn chống hạm và chống đất là 16 km, tầm bắn phòng không là 12 km. Tàu có thêm hai khẩu pháo phụ Mauser BK-27 nòng 27 mm.
Về hệ thống chống ngầm, tàu có 4 ống phóng ngư lôi 324 mm, sử dụng ngư lôi Mark 46.
Tàu Bayern sử dụng hệ thống tác chiến điện tử EADS FL 1800S. Tàu cũng có hai hệ thống phòng rocket mồi bẫy hồng ngoại SCLAR để chống tên lửa chống hạm và hệ thống phòng thủ MASS.
Ngoài ra, tàu còn có các hệ thống radar và hai hệ thống sonar chống ngầm.
Bên cạnh đó, tàu Bayern được trang bị hai trực thăng Sea Lynx do Anh sản xuất. Loại trực thăng này được trang bị súng máy và tên lửa chống ngầm hoặc chống hạm.
Lịch sử hoạt động hơn 20 năm
Tàu chiến Bayern từng được triển khai đến biển Adriatic năm 1999 trong chiến dịch ném bom Nam Tư của NATO. Tàu cũng tham gia chiến dịch tuần tra chống khủng bố của NATO ở Địa Trung Hải.
Từ năm 2007-2008, tàu làm nhiệm vụ ở Liban và tham gia cứu hộ 14 thủy thủ trên tàu container Gevo Victory tháng 1/2008.
Năm 2011 và 2015, tàu Bayern hai lần tham gia chiến dịch chống cướp biển tại vùng Sừng châu Phi. Năm 2018, con tàu này đến biển Aegean để gia nhập đội tàu chiến của NATO.
Năm 2021, tàu Bayern trở thành tàu chiến Đức đầu tiên tới Biển Đông sau 20 năm.
Trong lễ tiễn con tàu này tại cảng Wilhelmshaven, Ngoại trưởng Đức Heiko Maas gọi khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương là một trong những khu vực sẽ định hình trật tự thế giới trong tương lai. Do đó, Đức cần có sự hiện diện tại đây.
“Đức muốn tham gia và chịu trách nhiệm duy trì trật tự thế giới dựa trên luật lệ”, ông Maas nói.
Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Đức Annegret Kramp-Karrenbauer khẳng định: “Thông điệp của Berlin rất rõ ràng. Chúng ta bảo vệ giá trị và lợi ích của bản thân cùng với các đồng minh và đối tác”.
Sự kiện ngư dân Phú Yên vớt được “vật lạ” mắc lưới cách bờ chỉ 4 hải lý và giao nộp cho lực lượng hải quân Việt Nam được các báo Việt Nam đưa tin, sau khi được báo chí Trung Quốc đưa lại đã khiến cộng đồng mạng nước này dậy sóng bởi có thể đây chính là loại ngư lôi tối tân nhất mà Trung Quốc hiện đang trang bị cho tàu ngầm.
Trang Sina ngày 19.12 đăng bài “Ngư lôi tiên tiến nhất của Trung Quốc bị ngư dân Việt Nam vớt được? Dù có lấy được thì cũng chẳng sao chép nổi”. Bài báo viết, hôm 18.12, ngư dân Việt Nam vớt được một quả ngư lôi cỡ 533mm do Trung Quốc sản xuất ở cách bờ 4 hải lý. Sau đó có „cư dân mạng“ xem ảnh nhận ra đó là loại ngư lôi hạng nặng Yu-10 tối tân của Trung Quốc. Nhưng đó là một quả ngư lôi huấn luyện hay ngư lôi thực chiến? Việc bị lạc mất quả ngư lôi này sẽ gây tổn thất ra sao cho Trung Quốc?
Bài báo viết, ngư lôi huấn luyện và ngư lôi thật dùng cho tác chiến có sự khác nhau nhất định. Nếu là ngư lôi huấn luyện thì thiệt hại không quá lớn. Trước hết nhìn về bề ngoài, quả ngư lôi này đầu màu da cam, phía sau màu đen, phía đuôi có hai cánh quạt thuộc bộ phận động cơ đẩy. Hiện nay ngư lôi của Trung Quốc dùng cho tác chiến như loại hạng nặng Yu-6 đã chuyển sang dùng bơm đẩy để nâng cao tốc độ đi của quả đạn. Yu-10 là loại ngư lôi mới được cải tiến, chế tạo trên cơ sở Yu-6. Nếu là đạn thật thì chắc cũng sử dụng bơm đẩy, cho nên có khả năng đây là đạn huấn luyện.
Theo báo này, ngư lôi huấn luyện còn gọi là “thao lôi” không có thuốc nổ ở đầu chiến đấu, chỉ dùng cho huấn luyện và bắn thử, thường sau khi bắn sẽ được theo dõi, thu hồi lại để tiến hành phân tích các số liệu. Đạn “thao lôi” cũng có thể lắp đặt thiết bị định vị hoặc thiết bị tự hủy để đề phòng bị thất lạc thì không lộ lọt bí mật vào tay đối phương. Nếu là đạn thật thì nhất định có cơ chế tự hủy, nếu phát hiện ngư lôi bắn không trúng mục tiêu hoặc bị thất lạc thì người phóng sẽ kích hoạt cơ chế tự hủy. Hiện nay không rõ nguyên nhân vì sao quả ngư lôi này lại bị thất lạc.
Bài báo viết, trước đây Trung Quốc cũng từng vớt được ngư lôi của Mỹ bị thất lạc, nhờ đó mà kỹ thuật ngư lôi của Trung Quốc được cất cánh. Nhưng quả ngư lôi này dù có bị ngư dân Việt Nam vớt được thì cũng chả mấy tác dụng vì trên thế giới có rất ít quốc gia có khả năng chế tạo được ngư lôi. Vì vậy người Việt Nam muốn phỏng chế loại ngư lôi hạng nặng này cũng chẳng có khả năng. Nhưng nếu họ hợp tác với nước khác để tháo dỡ nó thì cũng có thể gây nên mối đe dọa nhất định đối với Trung Quốc.
Trang tin Đông Phương thân Bắc Kinh ngày 20.12 đăng bài “Ngư dân Việt Nam vớt được ngư lôi Trung Quốc, dân mạng Trung Quốc đấm ngực kêu trời vì lo lộ bí mật”. Báo này cho rằng có thể đây là đạn ngư lôi do tàu ngầm Trung Quốc phóng ra khi huấn luyện ở gần đó nhưng không thu hồi được, bị trôi dạt vào bờ biển Việt Nam. Báo này cũng phán đoán đó là Yu-6 hoặc Yu-10, sử dụng nhiên liệu giúp cánh quạt ở đuôi hoạt động làm động lực đẩy quả đạn lao về phía trước, Yu-10 là loại ngư lôi hạng nặng được cải tiến từ Yu-6 được chế tạo trên cơ sở tham khảo từ quả ngư lôi Mk-48 mà Trung Quốc vớt được của Mỹ trên Biển Đông.
Tuy nhiên, Đông Phương cũng cho rằng, Việt Nam không có đủ năng lực nghiên cứu mô phỏng loại ngư lôi này. Dù họ có giao nó cho Mỹ, Nga hay Ấn Độ thì nhiều lắm cũng chỉ hiểu thêm được các thông tin về loại ngư lôi đang được trang bị nhiều nhất trong hải quân Trung Quốc mà thôi.
Tờ Apple Daily ngày 20.12 cho rằng, đây là ngư lôi loại Yu-10 tối tân nhất của Trung Quốc. Việc nó lọt vào tay người Việt Nam khiến nhiều cư dân mạng lo ngại bí mật của hải quân Trung Quốc bị lộ. Có người dự đoán đây là một quả đạn huấn luyện.
Báo này viết, Yu-6 là loại ngư lôi được trang bị nhiều nhất. Nó được chế tạo trên cơ sở quả ngư lôi Mk-48 của Mỹ vớt được ở Biển Đông, cỡ đạn 533mm vừa có khả năng tiêu diệt tàu mặt nước, vừa có khả năng diệt tàu ngầm, hiện được trang bị cho các loại tàu ngầm thông thường Type-039 và các loại tàu ngầm hạt nhân Type-093, Type-094 của Trung Quốc.
Yu-10 là loại ngư lôi tiên tiến nhất, bí ẩn nhất của Trung Quốc hiện có, nghe nói được điều khiển bằng cáp quang, sử dụng kỹ thuật động lực nhiệt và kỹ thuật tự dẫn. Nếu bị khóa thì mục tiêu khó thoát khỏi bị bắn trúng. Có tin, tỷ lệ bắn trúng mục tiêu của Yu-10 tới 99%.
Ngày 15.6.2018, ông Tập Cận Bình khi đến thăm đơn vị tàu ngầm hạt nhân thuộc Hạm đội Nam Hải đã xuống chiếc tàu ngầm hạt nhân Type-093 mới cải tiến, người ta thấy trong ảnh chụp ông có xuất hiện loại ngư lôi Yu-10 có hình dạng, màu sắc giống vật thể mà ngư dân tỉnh Phú Yên vớt được.
Bài báo viết, nhiều cư dân mạng Trung Quốc khi thấy tin Việt Nam vớt được ngư lôi đều “đấm ngực kêu trời”, cho rằng rất có thể sẽ dẫn đến lộ bí mật. Có người cho rằng, dù Việt Nam không đủ năng lực nghiên cứu thì họ cũng có thể giao nó cho người Mỹ nghiên cứu.
Erstmals seit knapp 20 Jahren ist mit der „Bayern“ ein deutsches Kriegsschiff in Richtung Indopazifik aufgebrochen. Laut Außenminister Maas soll es die Einhaltung des Völkerrechts sichern. Adressat der Botschaft dürfte China sein.
Zum Start der Indopazifik-Mission der Fregatte „Bayern“ hat Bundesverteidigungsministerin Annegret Kramp-Karrenbauer diese Fahrt ein „Zeichen für Stabilität, Wohlstand und eine regelbasierte, multilaterale Ordnung“ genannt. „Im Indopazifik geht es um unsere Werte und Interessen“, erklärte die Ministerin auf Twitter, bevor das Kriegsschiff mit mehr als 200 Soldaten an Bord am Marine-Stützpunkt in Wilhelmshaven ablegte.
Etwa sieben Monate lang wird die Fregatte unterwegs sein – vom Horn von Afrika nach Singapur, Japan, Südkorea und Australien. Das Verteidigungsministerium betonte, es handele sich dabei um eine „Präsenz- und Ausbildungsfahrt“, nicht um einen Einsatz.
Deutschland schickt Fregatte als „Zeichen für Stabilität“ in den Indopazifik
Stephan Stuchlik, ARD Berlin, tagesthemen 22:35 Uhr, 2.8.2021
„Wir wollen internationale Ordnung mitgestalten“
Die Bundesregierung will mit der ersten Entsendung eines deutschen Kriegsschiffes in die Region seit knapp zwei Jahrzehnten gegenüber den Verbündeten mehr deutsches Engagement im Indopazifik zeigen. Deutschland wolle sich gemeinsam mit Partnern für die Einhaltung des Völkerrechts und die Stärkung der Sicherheit einsetzen, sagte Außenminister Heiko Maas. Im Indopazifik entscheide sich die Ausgestaltung der internationalen Ordnung der Zukunft. „Wir wollen diese mitgestalten und Verantwortung übernehmen für den Erhalt der regelbasierten internationalen Ordnung“, so Maas weiter.
Deutschland beteilige sich an der Überwachung der UN-Sanktionen gegen Nordkorea und baue Partnerschaften und Engagement in der geopolitisch und wirtschaftlich umstrittenen Region aus. Sicherheitspolitisch war aus der Bundesregierung zuletzt auch auf das immer dominantere Auftreten Chinas verwiesen worden. China erhebt territoriale Ansprüche insbesondere im Südchinesischen Meer.
Deutschland will Seewege sichern
Maas und Kramp-Karrenbauer vermieden es in ihren Statements jedoch, sich konkret auf China zu beziehen. Doch es ist klar, dass die Fahrt der Bundeswehrfregatte ein Signal setzen soll gegen die chinesischen Machtansprüche in der Region. Von denen fühlen sich andere Länder wie Japan und Südkorea bedroht. Und auch die USA erwarten von Partnern wie Deutschland in Asien mehr Unterstützung.
China hat in den vergangenen Jahren militärisch aufgerüstet – und das wird von der Exportnation Deutschland genau beobachtet. Gut 90 Prozent des weltweiten Außenhandels laufen über den Seeweg, größtenteils über den Indischen und den Pazifischen Ozean.
Welche Auswirkungen es hat, wenn die Lieferketten von und nach Europa unterbrochen sind, wurde vor gut einem Jahr zu Beginn der Corona-Pandemie deutlich: fehlender Nachschub, steigende Preise.
Mit Informationen von Markus Sambale und Birgit Schmeitzner
Giới phân tích cảnh báo châu Á đang sa vào một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm khi những quốc gia nhỏ hơn từng đứng bên ngoài đang phát triển kho tên lửa tầm xa tiên tiến, theo chân Trung Quốc và Mỹ.
Trung Quốc đang sản xuất hàng loạt tên lửa đạn đạo DF-26 với tầm bắn lên tới 4.000 km trong khi Mỹ đang phát triển vũ khí mới nhằm đối phó tình trạng Trung Quốc gia tăng sức mạnh quân sự ở Thái Bình Dương, theo Reuters. Những quốc gia khác trong khu vực cũng đang mua hoặc tự phát triển tên lửa, vì quan ngại về an ninh liên quan Trung Quốc và muốn giảm dựa vào Mỹ.
Trước khi thập niên này kết thúc, châu Á sẽ đầy đủ với các loại tên lửa quy ước có thể bay xa hơn, nhanh hơn, gây thiệt hại nhiều hơn và tinh vi hơn bao giờ hết. Giới phân tích, nhà ngoại giao và sĩ quan quân đội cảnh báo đây là một sự thay đổi nguy hiểm từ những năm gần đây. “Bức tranh tên lửa đang thay đổi ở châu Á và đang thay đổi rất nhanh”, ông David Santoro, chủ tịch Diễn đàn Thái Bình Dương, một tổ chức nghiên cứu chính sách ở Mỹ, nhận định.
Giới phân tích cho rằng những vũ khí như trên ngày càng chính xác và giá cả có thể chấp nhận được nên khi có vài nước sở hữu chúng, những nước láng giềng không muốn bị bỏ lại phía sau. Các tên lửa cung cấp nhiều lợi ích chiến lược như răn đe kẻ thù và là mặt hàng xuất khẩu béo bở.
Tuy nhiên, ông Santoro nhận định hệ quả lâu dài không chắc chắn và có một cơ hội mong manh rằng những vũ khí mới có thể cân bằng căng thẳng và hỗ trợ duy trì hòa hình. “Ngày càng có khả năng rằng sự gia tăng tên lửa sẽ tạo thêm sự nghi ngờ, gây ra cuộc chạy đua vũ trang, gia tăng căng thẳng và cuối cùng gây ra cuộc khủng hoảng và thậm chí chiến tranh”, ông cảnh báo.
Tự phát triển kho tên lửa
Theo tài liệu quân sự mà Reuters có được, Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (INDOPACOM) của Mỹ có kế hoạch triển khai vũ khí tầm xa mới, trong đó có vũ khí bội siêu thanh tầm xa (LRHW), dọc chuỗi đảo thứ nhất, bao gồm Nhật Bản, Đài Loan và một số đảo quốc ở Thái Bình Dương. Một phát ngôn viên INDOPACOM cho hay bộ chỉ huy này chưa có quyết định triển khai vũ khí mới đến đâu. Lâu nay, hầu hết các đồng minh của Mỹ lưỡng lự trong việc cho phép chứa những vũ khí mới của Mỹ. Nếu được bố trí ở đảo Guam, LRHW không thể vươn tới đất liền của Trung Quốc.
Mô phỏng các hệ thống vũ khí bội siêu thanh tương lai của lục quân Mỹ – LOCKHEED MARTIN
Hiện nay, một số đồng minh của Mỹ đang tự phát triển kho vũ khí cho riêng mình. Trong đó, Nhật đã chi hàng triệu USD cho việc phát triển vũ khí phóng từ trên không tầm xa và tên lửa chống hạm Type 12, với tầm bắn 1.000 km. Úc gần đây cũng đã thông báo sẽ chi 100 tỉ USD trong vòng 20 năm để phát triển tên lửa tiên tiến.
Trong số các đồng minh của Mỹ, Hàn Quốc có chương trình tên lửa đạn đạo nội địa mạnh nhất, với tên lửa Hyunmoo-4 có tấm bắn lên tới 800 km, đủ để tấn công sâu trong lục địa Trung Quốc. “Khi các khả năng tấn công tầm xa bằng vũ khí quy ước của các đồng minh gia tăng, cơ hội cho những khả năng này được sử dụng trong một cuộc xung đột khu vực cũng tăng theo”, chuyên gia an ninh chiến lược Triệu Đồng ở Bắc Kinh bình luận.
Dù có quan ngại như trên, Washington “sẽ tiếp tục khuyến khích các đồng minh và đối tác đầu tư vào những khả năng phòng thủ tương thích với những chiến dịch phối hợp”, hạ nghị sĩ Mike Rogers, thành viên cấp cao của Ủy ban Quân vụ Hạ viện Mỹ, khẳng định với Reuters.
Những lằn ranh mơ hồ
Hồi tháng 12.2020, Bộ Ngoại giao Mỹ đã phê chuẩn đề nghị của Đài Loan mua hàng chục tên lửa đạn đạo tầm ngắn do Mỹ sản xuất, dù Đài Bắc lâu nay không công khai chương trình tên lửa đạn đạo của mình. Giới chức cho hay Đài Bắc cũng đang sản xuất hàng loạt các loại vũ khí và phát triển nhiều tên lửa lửa hành trình, như tên lửa siêu thanh Vân Phong có thể tấn công tới tận thủ đô Bắc Kinh.
Theo một nguồn tin ngoại giao ở Đài Bắc, lực lượng phòng vệ Đài Loan lâu nay tập trung vào khả năng bảo vệ vùng lãnh thổ này và ngăn chặn một cuộc tấn công từ quân đội Trung Quốc, nhưng bây giờ bắt đầu hướng tới khả năng tấn công. “Lằn ranh giữa tính năng phòng thủ và tấn công của các loại vũ khí ngày càng mỏng”, nguồn tin nhận định.
Trong khi đó, Hàn Quốc đang có cuộc đua tên lửa quyết liệt với CHDCND Triều Tiên. Bình Nhưỡng gần đây được cho là đã thử phiên bản cải tiến của tên lửa KN-23 với đầu đạn nặng 2,5 tấn mà giới phân tích cho là nhằm vượt hẳn đầu đạn 2 tấn được gắn cho tên lửa Hyunmoo-4 của Hàn Quốc.
“Tuy Triều Tiên vẫn là yếu tố tác động chính đứng sau việc mở rộng khả năng tên lửa của Hàn Quốc, Seoul đang theo đuổi các hệ thống với tầm hoạt động vượt mức cần thiết để đối phó Triều Tiên”, ông Kelsey Davenport, giám đốc về chính sách giải trừ vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Hiệp hội Kiểm soát vũ khí ở Mỹ, nhận định.
Khi số lượng tăng nhanh, giới phân tích cho rằng những tên lửa gây lo lắng nhất là những tên lửa có thể mang đầu đạn hạt nhân hoặc đầu đạn phi hạt nhân. Trung Quốc, Triều Tiên và Mỹ đều có những loại tên lửa như thế.
“Thật khó, nếu không muốn nói là không thể, để xác định liệu một tên lửa đạn đạo được trang bị đầu đạn hạt nhân hay phi hạt nhân cho đến khi nó bắn trúng mục tiêu”, ông Davenport bình luận. Khi số vũ khí như thế gia tăng, “thì cũng có sự gia tăng về nguy cơ leo thang thiếu thận trọng dẫn tới một cuộc tấn công hạt nhân”, theo ông Davenport.
Nhóm tác chiến tàu sân bay HMS Queen Elizabeth của Anh đã tiến vào Biển Đông; trước sự đe dọa của phía Trung Quốc, Bộ Quốc phòng Anh tuyên bố hoạt động của họ là hoàn toàn hợp pháp.
Theo Đài CNN ngày 30/7, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Anh cùng ngày đã cung cấp cho CNN bản tuyên bố, nêu rõ nhóm tác chiến tàu sân bay HMS Queen Elizabeth đang hành trình hợp pháp ở Biển Đông, giống như 1/3 lượng vận chuyển hàng năm của thế giới ở đây. HMS Queen Elizabeth đang sử dụng con đường trực tiếp nhất đi qua vùng biển quốc tế, sẽ tiến hành các cuộc tập trận với các đồng minh và đối tác ở Biển Philippines. Tuy nhiên, ông không đề cập đến việc HMS Queen Elizabeth có áp sát các đảo nhân tạo mà Trung Quốc bồi đắp và xây dựng một cách phi pháp trên Biển Đông hay không.
Người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Anh nói: “Như Bộ trưởng Quốc phòng đã nói trước Quốc hội Anh hồi tháng 4, chúng tôi sẽ không đi sang phía bên kia của thế giới để thực hiện các hành động khiêu khích, chúng tôi có niềm tin, nhưng không đối đầu”.
Trước đó, hồi đầu tháng 7 năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace đã nói với The Times trong chuyến thăm Tokyo rằng, Trung Quốc giám sát và thách thức các tàu nước ngoài đi qua vùng biển quốc tế trên các tuyến đường rất hợp pháp, đây không còn là điều bí mật nữa. Chúng tôi sẽ tôn trọng Trung Quốc và hy vọng Trung Quốc cũng tôn trọng chúng tôi. Tàu của chúng tôi sẽ hành trình ở các nơi mà luật pháp quốc tế cho phép”.
Được biết, chiếc HMS Queen Elizabeth đã đi vào Biển Đông từ hôm 26/7. Mặc dù phía Anh hạn chế tuyên truyền nhiều về thông tin này, nhưng quân đội Mỹ đã cho công bố các bức ảnh rõ ràng về hoạt động của hạm tàu này trên Biển Đông. Hải quân Mỹ hôm 28/7 đã công bố trên tài khoản Twitter chính thức của họ những bức ảnh về phi đội máy bay chiến đấu số 211 của Hải quân Mỹ đang huấn luyện trên HMS Queen Elizabeth. Phi đội 211 này đang đóng quân trên chiếc tàu sân bay Anh này. Hải quân Mỹ cũng nêu rõ rằng HMS Queen Elizabeth hiện đang ở trên Biển Đông.
Sau đó, hôm hôm thứ Sáu (30/7), Hải quân Hoàng gia Anh đã công bố các bức ảnh và video trên mạng xã hội, đề cập đến việc nhóm tấn công tàu sân bay HMS Queen Elizabeth đang thực hiện các hoạt động tiếp tế hàng hải song phương ở một vùng biển thuộc Biển Đông. Tàu tiếp tế hậu cần RFA Tideforce của Anh đang đồng thời tiếp tế cho tàu sân bay HMS Queen Elizabeth và tàu hộ vệ HNLMS Evertsen của Hà Lan trong lúc các máy bay F-35B của Mỹ cất, hạ cánh trên boong HMS Queen Elizabeth. Quân đội Anh cho rằng, điều này thể hiện sức mạnh hàng hải chiến lược và chỉ có một số ít hải quân trên thế giới có thể thực hiện được hoạt động tác chiến tàu sân bay viễn dương.
Trong lúc này, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin trong bài phát biểu tại Singapore ngày 27/7 cũng ca ngợi việc Anh triển khai tàu sân bay HMS Queen Elizabeth tới khu vực này là „mang ý nghĩa lịch sử“. Ông Austin cũng tuyên bố các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông là phi pháp.
Về việc tàu sân bay Anh tiến vào Biển Đông, trước đó phía Anh đã cố gắng xoa dịu Trung Quốc. Ngoại trưởng Anh Dominic Raab nói tại cuộc điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Hạ viện hôm 6/7 rằng Anh sẽ thực hiện sứ mệnh này một cách „tự tin“ chứ không phải „đối đầu“. Ông Raab nói: „Tôi đã thông báo cho phía Trung Quốc về vấn đề này. Tôi nói với họ rằng đây là điều quan trọng mà chúng tôi đang làm, không cần thiết dẫn tới căng thẳng hay lo lắng“.
Tờ Thời báo Hoàn cầu, cơ quan truyền thông nhà nước Trung Quốc ngày 29/7 đã đăng một bài xã luận cho rằng tàu sân bay HMS Queen Elizabeth đến Biển Đông, rõ ràng nhằm thể hiện sự hiện diện của Anh. Phía Trung Quốc nghiêm khắc cảnh cáo biên đội tàu sân bay này: nhiệm vụ của họ là hãy kiềm chế và tuân thủ các quy tắc. Hãy đi theo tuyến đường vận chuyển quốc tế thuần thục và tránh xa lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc.
Ngô Khiêm, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc ngày 29/7 tuyên bố tại cuộc họp báo: “Trung Quốc tôn trọng quyền tự do hàng hải mà tàu thuyền các nước được hưởng ở Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế, nhưng kiên quyết phản đối một số quốc gia với mục đích khiêu khích đã đưa tàu chiến từ xa vạn dặm đến để tạo ra sự hiện diện“. Ông ta còn nhấn mạnh “Quân đội Trung Quốc sẽ dùng mọi biện pháp cần thiết để đối phó với nó một cách kiên quyết và hiệu quả”.
Nhóm tác chiến tàu sân bay HMS Queen Elizabeth sẽ tiến hành các cuộc tập trận chung với Mỹ, Australia, Pháp, Nhật Bản, New Zealand và Hàn Quốc ở Biển Philippines vào tháng tới, sau đó sẽ đến thăm Nhật Bản. Giới quan sát cũng dự đoán nó sẽ diễn tập chung với tàu sân bay USS Carl Vinson của Mỹ.
WASHINGTON – Die Vizepräsidentin der Vereinigten Staaten, Kamala Harris, wird nächsten Monat nach Singapur und Vietnam reisen, um „die Beziehungen zu stärken und die wirtschaftliche Zusammenarbeit mit zwei kritischen indopazifischen Partnern der Vereinigten Staaten auszubauen“, teilte ihr Sprecher am Freitag (30. Juli) mit.
„Während der Reise wird der Vizepräsident die Staats- und Regierungschefs beider Regierungen zu Themen von gemeinsamem Interesse besprechen, darunter die regionale Sicherheit, die globale Reaktion auf die Covid-19-Pandemie, den Klimawandel und unsere gemeinsamen Bemühungen zur Förderung einer regelbasierten internationalen“ bestellen”, sagte Frau Symone Sanders in einer kurzen Erklärung, in der keine Termine genannt wurden.
„Der Vizepräsident wird auch die starken kulturellen und zwischenmenschlichen Beziehungen zwischen den Vereinigten Staaten und diesen Ländern bekräftigen und feiern“, sagte sie.
US-Präsident Joe Biden und Vizepräsident Harris haben es zu einer obersten Priorität gemacht, „unsere globalen Partnerschaften wieder aufzubauen und unsere Nation zu schützen, und dieser bevorstehende Besuch wird diese Arbeit fortsetzen – und unser Engagement in Südostasien vertiefen“, fügte Frau Sanders hinzu.
“Vizepräsident Harris wird der erste Vizepräsident sein, der jemals Vietnam besucht.”
Dies wird die erste Reise der 56-jährigen Kalifornierin außerhalb Amerikas seit ihrem Bestehen sein im Januar vereidigt als erste weibliche US-Vizepräsidentin. Sie ist auch die erste farbige Person (sie ist indisch-jamaikanische Herkunft), die das zweithöchste Amt des Landes bekleidet.
Obwohl Südostasien nicht als die Stärke von Frau Harris bekannt ist – sie ist eine ehemalige Staatsanwältin und war von 2017 bis 2020 Senatorin – folgt der Besuch dem Schwung durch die Region des US-Verteidigungsministers Lloyd Austin, die Singapur besucht haben, die Philippinen und Vietnam.
Der Besuch von Frau Harris bestätige die Stärke der Beziehungen zwischen den USA und Singapur, sagte der Pressesprecher von Premierminister Lee Hsien Loong in einer Erklärung am Freitag.
Die Erklärung fügte hinzu, dass Frau Harris, die auf Einladung von Premierminister Lee Singapur besucht, die Führer von Singapur treffen und Möglichkeiten zur Vertiefung der bilateralen Zusammenarbeit in mehreren Bereichen erörtern wird, darunter Verteidigung, Cybersicherheit und digitaler Handel.
Premierministerin Lee sagte: „Ich freue mich, Vizepräsidentin Harris zu ihrem ersten offiziellen Besuch in Singapur begrüßen zu dürfen. Ich freue mich auf unsere Gespräche über die Stärkung der bilateralen Zusammenarbeit und die Zusammenarbeit bei globalen Herausforderungen wie der Covid-19-Pandemie und dem Klimawandel.“
Die Besuche von Frau Harris zeigen Amerikas langfristiges Engagement für ein wohlhabendes und sicheres Südostasien, sagte Dr. Patrick Cronin, Vorsitzender für Asien-Pazifik-Sicherheit am Hudson Institute in Washington, gegenüber der Straits Times.
„Durch seinen Besuch in Singapur und Vietnam kann Vizepräsident Harris überlappende strategische Interessen in einer stabilen, regelbasierten Ordnung mit zwei der strategisch wichtigsten Länder der Region stärken“, sagte er.
“Trotz der Hindernisse einer Pandemie beabsichtigt das Weiße Haus, sein Versprechen zu erfüllen, enger mit seinen wichtigsten Partnern zusammenzuarbeiten, um Covid-19 zu beenden, das Wirtschaftswachstum anzukurbeln und die Herausforderungen von morgen wie den Klimawandel anzugehen.”
Dr. Cronin fügte hinzu: “Die USA wissen, dass der Erfolg Singapurs ein leuchtendes Beispiel für die Region bleibt und dass Vietnam ein enormes Potenzial hat, die zukünftige Wirtschaft voranzutreiben.”
Curtis S. Chin, ein ehemaliger US-Botschafter bei der Asiatischen Entwicklungsbank, sagte gegenüber ST, dass die Reise von Frau Harris „den USA die Chance bietet, die laufende amerikanische Hilfe für die Region zu unterstreichen, auch im Kampf gegen Covid-19 durch Impfstoffspenden“. .
Die Reise „kommt zu einem wichtigen Zeitpunkt, da die Nationen weiterhin die Biden-Politik und das Engagement von Präsident Biden für die Indopazifik-Region und insbesondere für Südostasien bewerten“, sagte er.
“Der Hintergrund für eine wahrscheinlich sehr hochkarätige Reise ist sowohl eine sich verschlechternde Covid-19-Situation als auch anhaltende Spannungen und Rivalität mit China.”
Herr Ian Bremmer, Präsident der Eurasia Group, stellte fest, dass Frau Harris „immer mehr zur Frontperson der Verwaltung wird; sie sind sehr vorsichtig mit der Gesundheit und dem Zeitplan von Präsident Biden“.
Giới chức Mỹ đã đưa ra những bình luận đầu tiên sau khi Trung Quốc mời đoàn đại diện của lực lượng Taliban tới Thiên Tân trong bối cảnh Bắc Kinh tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở Afghanistan.
Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken
„Không ai muốn khu vực rơi vào nội chiến hay rơi vào tay Taliban. Nếu Trung Quốc hoặc nước khác hành động vì lợi ích này thì đó là một tín hiệu tích cực“, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken bình luận trong chuyến thăm Ấn Độ.
Bình luận được đưa ra sau khi Trung Quốc xác nhận một phái đoàn của Taliban đã đến thành phố Thiên Tân và gặp gỡ Ngoại trưởng Vương Nghị hôm 28/7. Tại cuộc họp này, ông Vương cho rằng, Taliban là một „lực lượng chính trị, quân sự quan trọng ở Afghanistan“, đồng thời kêu gọi Taliban tạo tiến triển cho các cuộc hòa đàm ở Afghanistan.
Các cuộc hòa đàm ở Afghanistan đã diễn ra nhiều tháng nay tại Doha, Qatar, song đã bị đình trệ kể từ khi Taliban tiến hành các đợt tấn công quân sự nhằm mở rộng quyền kiểm soát lãnh thổ ở Afghanistan từ đầu tháng 5 khi Mỹ và các nước đồng minh NATO rục rịch kế hoạch rút quân.
Tại cuộc họp với phái đoàn Taliban do phó thủ lĩnh Mullah Abdul Ghani Baradar dẫn đầu, ông Vương Nghị nói rằng, quân đội Mỹ và NATO rút khỏi Afghanistan đã cho thấy sự thất bại về chính sách của Washington.
Tổng thống Mỹ Joe Biden đã công bố kế hoạch rút toàn bộ lực lượng quân sự của Mỹ tại Afghanistan trước ngày 31/8 năm nay. Việc Mỹ và các nước đồng minh rút quân có thể tạo ra khoảng trống quyền lực ở Afghanistan và có thể là cơ hội để Trung Quốc thế chân, mở rộng tầm ảnh hưởng ở đây. Mỹ từng phản ứng gay gắt với những nỗ lực của Trung Quốc nhằm tăng cường ảnh hưởng ở Afghanistan, tuy nhiên, theo Guardian, hiện giờ ưu tiên hàng đầu của Washington dường như là ngăn chặn nguy cơ một cuộc nội chiến toàn diện ở quốc gia này.
Mặc dù hầu hết các láng giềng của Afghanistan, trong đó có Bắc Kinh, sẽ vui mừng khi lực lượng quân sự của Mỹ rút khỏi Afghanistan, tuy nhiên, họ cũng lo ngại viễn cảnh sau đó. Những năm 1990, khi Afghanistan rơi vào nội chiến, tổ chức khủng bố al-Qaeda có cơ hội mở rộng chân rết ở đây, kéo theo làn sóng hàng triệu người tị nạn vào các nước láng giềng Afghanistan.
Bắc Kinh đặc biệt quan ngại kịch bản Afghanistan trở thành địa bàn hoạt động cho các phần tử ly khai ở Tân Cương. Đó là lý do trong cuộc gặp mới đây, ông Vương Nghị đề nghị Taliban cắt đứt quan hệ với Phong trào Hồi giáo Đông Turkestan (ETIM) vì đây là „đe dọa trực tiếp đối với an ninh quốc gia của Trung Quốc“.
Người phát ngôn Taliban Suhail Shaheen cam kết, lực lượng này sẽ đảm bảo „lãnh thổ Afghanistan không bị sử dụng để chống lại an ninh của bất cứ nước nào trong đó có Trung Quốc“. Người phát ngôn Taliban cho biết thêm, ngoài vấn đề an ninh, các cuộc gặp của phái đoàn ở Thiên Tân cũng đề cập đến các vấn đề kinh tế, chính trị cũng như tiến trình hòa bình ở Afghanistan.
Hôm nay 28-7, Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin bắt đầu chuyến thăm Việt Nam 2 ngày. Ông là quan chức cấp cao nhất của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden thăm chính thức Việt Nam tính tới nay.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin – Ảnh: AFP nguồn tuoitre.vn
Trả lời phỏng vấn Tuổi Trẻ, đại tá Thomas Stevenson (ảnh), tùy viên quốc phòng thuộc Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, chia sẻ về mục tiêu, ý nghĩa chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Austin đối với quan hệ song phương Việt – Mỹ, cũng như chính sách của Washington trong khu vực.
Chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin tiếp tục góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị, tin cậy giữa nhân dân và quân đội hai nước, triển khai các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước và góp phần vào khuôn khổ đối tác toàn diện Việt Nam – Mỹ.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nói trong cuộc họp báo ngày 22-7.
* Vì sao Bộ trưởng Lloyd Austin quyết định thăm Việt Nam, Singapore và Philippines trong chuyến đi lần này, thưa ông?
– Ông ấy muốn chứng minh cam kết của Mỹ với khu vực cũng như tiếp tục thúc đẩy quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam. Ông ấy sẽ tái khẳng định cam kết ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến chống COVID-19. Thêm vào đó, ông ấy sẽ đưa ra tín hiệu tôn trọng dành cho hệ thống chính trị Việt Nam.
Tôi cũng dự đoán rằng trong thời gian ở Hà Nội, Bộ trưởng Austin sẽ thảo luận với lãnh đạo Việt Nam về các thách thức đối với luật pháp quốc tế, khủng bố, tàn phá môi trường, đánh bắt cá quá mức… Vì vậy, các bên sẽ cần một cách phản ứng tổng hòa đối với các thách thức này. Chúng tôi đang nỗ lực xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Việt Nam để thực hiện điều đó.
* Mỹ nhìn thấy lợi ích gì từ chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa cũng như chính sách quốc phòng „4 không“ của Việt Nam?
– Mong muốn của Việt Nam là một môi trường ổn định, thịnh vượng, khi các nước lớn hỗ trợ các nước đang phát triển để có kết quả tốt đẹp hơn. Chúng ta có lợi ích chung trong việc duy trì một khu vực ổn định và thịnh vượng. Việc đặt ASEAN vào vị trí trung tâm và tìm kiếm cách thức để các cường quốc cùng gắn kết với ASEAN là một lợi ích của cả Mỹ lẫn Việt Nam.
Tôi nghĩ rằng chính sách quốc phòng „4 không“ (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế – PV) là cách Việt Nam tạo ra một khuôn khổ đóng góp cho đối thoại hiệu quả, để quản lý tranh chấp hiệu quả, không gây xung đột.
Sau tất cả, Việt Nam và Mỹ đều nhất trí rằng chúng tôi không yêu cầu các nước trong khu vực phải chọn phe. Thay vào đó là kêu gọi các bên lựa chọn và củng cố hệ thống quốc tế, luật pháp quốc tế.
Tập trung hết sức đưa vắc xin về Việt Nam
Theo đại tá Thomas Stevenson, Bộ Quốc phòng Mỹ đang phối hợp với Trung tâm Phòng chống bệnh tật Mỹ (CDC) và Cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ (USAID) để tăng cường hỗ trợ y tế công cộng cho Việt Nam.
„Chúng tôi đang tập trung hết sức vào việc đưa vắc xin COVID-19 về Việt Nam. Bộ Quốc phòng Mỹ đã hỗ trợ lĩnh vực y tế của Bộ Quốc phòng Việt Nam thông qua cung cấp thiết bị y tế, bao gồm hệ thống xét nghiệm RT-PCR và 77 tủ đông siêu lạnh giúp lưu trữ vắc xin khi Việt Nam phân phối trên toàn quốc“ – ông Stevenson nói.
Mỹ coi trọng quan hệ với Việt Nam
Giới quan sát xem chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Austin phản ánh việc Mỹ muốn xây dựng quan hệ tốt đẹp cùng Việt Nam, cũng như đánh giá cao vai trò chiến lược của Việt Nam.
Về tính thời điểm, TS Satoru Nagao (nghiên cứu viên khách mời Viện Hudson, Mỹ) cho rằng đây là chuyến thăm không bất ngờ, xét tới các diễn biến tương tự những năm qua. Và nó chỉ càng chứng minh tầm quan trọng của Việt Nam với Mỹ.
„Vài năm nay các quan chức cấp cao của Mỹ đã thường xuyên tới thăm Việt Nam, trong đó có thể kể tới Ngoại trưởng Mike Pompeo năm 2020, Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper năm 2019, và Bộ trưởng Quốc phòng Jim Mattis năm 2018. Chính vì vậy, chuyến thăm lần này của Bộ trưởng Quốc phòng Austin không khác biệt với xu hướng trên. Việt Nam quan trọng đối với Mỹ, và Mỹ muốn đến thăm“, ông nói.
Trong khi đó, nguyên đại sứ Việt Nam tại Mỹ Phạm Quang Vinh đặt chuyến thăm này trong một tháng 7 nhiều diễn biến tích cực cho quan hệ song phương. Ông viết: „Trong tháng kỷ niệm quan hệ song phương (11-7-1995), ngoài trao đổi và chúc mừng, Mỹ và Việt Nam cũng đạt thỏa thuận xử lý vấn đề „thao túng tiền tệ“. Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ (USTR) quyết định không áp dụng bất kỳ biện pháp hạn chế thương mại nào với Việt Nam. Cùng giai đoạn này, Mỹ cũng trao tặng hàng triệu liều vắc xin COVID-19 cho Việt Nam, cũng như chuyển giao tàu John Midgett cho Cảnh sát biển Việt Nam“.
Ông Phạm Quang Vinh cũng lưu ý rằng Tổng thống Biden gửi thư chúc mừng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được bầu lại, và đánh giá cao Đại hội XIII của Việt Nam. Phía Mỹ cũng rất coi trọng, thường xuyên tham vấn về các vấn đề khu vực, quốc tế với Việt Nam, trong đó có vấn đề ASEAN, Mekong, Biển Đông… Hồi tháng 4-2021, Mỹ cũng mời Việt Nam dự Cấp cao trực tuyến về biến đổi khí hậu (trong số 40 nước).
Tàu Cảnh sát biển 8021 về tới Khánh Hòa
Trả lời Tuổi Trẻ, đại tá Stevenson cho biết tàu Cảnh sát biển 8021 đã về tới Việt Nam, và hiện ở tỉnh Khánh Hòa. Đây vốn là tàu tuần duyên USCGC John Midgett (WHEC 726), được Mỹ bàn giao cho Việt Nam theo Chương trình bán trang bị quốc phòng dư thừa (EDA).
„Đây là con tàu tuần duyên thứ hai Mỹ giao cho Việt Nam trong chương trình (EDA), trong mối quan hệ hợp tác hàng hải nhằm củng cố luật pháp quốc tế, chủ quyền của Việt Nam“, ông Stevenson nói.