Kategorie-Archiv:Aktuell

Những sự thật thú vị về Hoàng Sa, Trường Sa

Việt Nam đã xác lập chủ quyền trên quần đào Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ thế kỷ XVII cho đến ngày hôm nay, cho dù là trải qua những biến động của lịch sử dữ dội, sự thay đổi quyền lực hay chiến tranh người Việt vẫn chưa từng một phút giây nào chối bỏ chủ quyền quốc gia trên những mảnh đất thiêng liêng đó. Thuở ban đầu hai quần đảo được thể hiện liền một dải bao gồm cả Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa với tên gọi ban đầu được sát nhập chung thành Bãi Cát Vàng thể hiện trong bản đồ cổ của Việt Nam mang tên “toàn tập Thiên Nam Tứ Chí lộ đồ thư” do nhà địa lý Đỗ Bá biên soạn và hoàn thành vào năm 1686.

Vào nửa đầu của thế kỷ XVII chúa Nguyễn tổ chức đội Hoàng Sa phủ biên tạp lục Lê Quý Đôn chép: trước đây họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất lấy người xã An Vĩnh xung vào luân phiên nhau hàng năm cứ vào tháng 3 nhận mệnh đi làm sai dịch mang lương đủ ăn 6 tháng đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ ra biển 3 ngày 3 đêm mới đến đảo này.

Chúa Nguyễn lại tổ chức thêm đội Bắc Hải lấy người thôn Tứ Chính thuộc xã Cảnh Dương phủ Bình Thuận cấp giấy phép ra đảo Trường Sa với cùng nhiệm vụ như đội Hoàng Sa.

Năm 1974 Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa còn Việt Nam mất quyền kiểm soát thực tế đối với quần đảo này.

Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc cho quân xâm chiếm trái phép bằng vũ lực nhóm phía Tây Hoàng Sa mà chính quyền Sài Gòn đang đóng giữ, nhóm phía đông đã bị Trung Quốc chiếm từ năm 1956 sau khi quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương theo hiệp định Giơ-ne-vơ dù có tàu chiến mạnh hơn cả về kích thước lẫn hỏa lực nhưng quân đội Sài Gòn đã nhanh chóng thất bại một cách ê chề.

Sau trận hải chiến ngày 20 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo còn lại thuộc quần đảo Hoàng Sa như Hữu Nhật, Quang Ảnh và Hoàng Sa … đồng thời xác lập các tiền đồn trái phép, liên tục cho các tàu thuyền các loại ra túc trực ngăn cản sự tiếp cận của tàu thuyền nước ngoài tới gần.

Trong thời gian đầu của thế kỷ XXI, Bắc Kinh bắt đầu bắt tay của quân sự hóa nhiều tiền đồn bao gồm việc bồi đắp trái phép đảo Phú Lâm trở thành một căn cứ liên hợp Hải lục không quân hiện đại với đường băng dài hơn 3.000 mét đủ triển khai các máy bay ném bom chiến lược và tiêm kích hạng nặng xuống hoạt động tại Hoàng Sa tạo lên một tình trạng căng thẳng đáng báo động. Thế nhưng dù cho gần 50 năm nằm dưới quyền kiểm soát thực tế của Trung Quốc dẫu vậy Việt Nam vẫn liên tục khẳng định chủ quyền của mình tại Hoàng Sa.

Hiện nay, Ủy ban nhân dân huyện đảo Hoàng Sa đang được đặt tại đường Yên Bái, TP. Đà Nẵng và Hoàng Sa vẫn là một ngư trường truyền thống nhiều đời nay của ngư dân các tỉnh Bắc và Trung Trung Bộ.

Năm 1988, Trung Quốc đánh chiếm một phần quần đảo Trường Sa mặc dù sự bành trướng của Trung Quốc xuống Biển Đông đã được đẩy lên cao trào.

Năm 1974, sau khi xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tuy nhiên, với khả năng của lực lượng Hải quân còn hạn chế do đó phải mất tới 14 năm sau Bắc Kinh mới có thể la liếm tiếp xuống quần đảo Trường Sa. Trong những tháng đầu của năm 1988 lần đầu tiên Hải quân của Bắc Kinh chiếm đóng một số bãi đá thuộc khu vực quần đảo Trường Sa bao gồm đá Chữ Thập vào ngày 31/1, đá Châu Viên vào ngày 18/2, đá Ga Ven vào ngày 26/2, đá Tư Nghĩa tức đá Huy Gơ vào ngày 28/2 và đá Xu Bi vào ngày 23/03. Sau khi chiếm giữ những thực thể này Trung Quốc tỏ rõ ý đồ muốn chiếm giữ ba đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao trong cụm đảo sinh tồn, chúng có vị trí chiến lược quan trọng có khả năng khống chế đường tiếp tế của Việt Nam cho các căn cứ tại Trường Sa và sau trận chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988 Trung Quốc chiếm được đá Gạc Ma chúng ta giữ được đá Cô Lin và Len Đao, thế trận này tiếp tục được giữ nguyên cho tới năm 1995 Trung Quốc chiếm đóng thêm đá Vành Khăn tạo nên vụ biến cố đá Vành Khăn nổi tiếng, từ đó cho tới tận ngày nay Bắc Kinh không chiếm giữ thêm được thực thể nào. Tổng cộng đang kiểm soát trái phép trên thực tế là 7 đá.

Nhà giàn DK-1 không thuộc quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1 là Cục dịch vụ Kinh tế Khoa học Kỹ thuật được Việt Nam xây dựng dưới dạng các nhà giàn trên thềm lục địa phía Đông Nam đất nước cách đất liền khoảng 250 đến 350 hải lý đây được coi là một cột mốc chủ quyền tiền đồn bảo vệ thềm lục địa cũng như là chỗ đứng chân quan trọng cho ta bảo vệ các mỏ dầu khí giàu trữ lượng trong khu vực này. Các nhà giàn DK-1 mà Việt Nam xây dựng nằm trên các bãi cạn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam như bãi Phúc Tần, Phúc Nguyên, Tư Chính, Quế Đường, Vũng Mây và Huyền Chân. Việt Nam đang sử dụng chúng vào những mục đích kinh tế nghiên cứu khoa học biển bảo vệ môi trường biển, thăm dò khai thác tài nguyên dầu khí theo đúng quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 tức UNCLOS.

Việt Nam không cố ý biến những bãi cạn này thành những đảo nổi và phản đối việc cố tình gán ghép khu vực, hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam này trở thành một bộ phận của quần đảo Trường Sa nhằm biến nơi không có tranh chấp thành nơi có tranh chấp, Việt Nam cho rằng mọi hành vi cố ý và gán ghép đó là hoàn toàn sai trái trong việc giải thích và áp dụng Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 cần phải lên án, bác bỏ khi bạn nói DK-1 thuộc Trường Sa thì bạn đã vô tình biến khu vực không tranh chấp thành khu vực có tranh chấp tạo điều kiện kẻ thù gây bất ổn và lợi dụng.

Việt Nam đóng giữ nhiều đảo đá nhất ở quần đảo Trường Sa mặc dù có nhiều kẻ chống đối chính quyền không có cảm tình với nhà nước hay những kẻ có mục địch xấu vẫn ra rả tuyên truyền rằng Hà Nội bán biển, bán đảo không dám bảo vệ chủ quyền, Hải quân thì bám bờ … nhưng trên thực tế cách bảo vệ chủ quyền của Việt Nam lại là tấm gương mà nhiều quốc gia trong khu vực muốn học hỏi “một chính quyền ít nói nhưng làm nhiều”. Việt Nam đang thực thi chủ quyền tại 21 điểm đảo gồm 9 đảo nổi và 12 đảo chìm với 31 điểm đóng quân nhiều nhất trong các bên tranh chấp, 9 đảo nổi bao gồm: đảo An Bang, đảo Phan Vinh, đảo Trường Sa, Trường Sa Đông, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Song Tử Tây, Nam Yết và Sơn Ca cùng 12 đảo chìm là đá Nam, đá Lớn, Thuyền Chài, Cô Lin, Len Đao, Tiên Lữ, Núi Le, Tốc Tan, đá Tây, đá Đông, đá Lát và đá Thị.

Trung Quốc hiện nay chiếm đóng trái phép 7 thực thể ở Trường Sa bao gồm: Châu Viên, Chữ Thập, Ga Ven, Gạc Ma, Tư Nghĩa, Vành Khăn và Xu Bi, chính quyền Đài Loan chiếm đóng trái phép đảo Ba Bình là đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa và mở rộng thêm một bãi cạn san hô, Philippines chiếm đóng 9 thực thể, Malaysia chiếm đóng 7 thực thể và Brunei không chiếm đóng bất cứ thực thể nào dù cho có các yêu sách tuyên bố chủ quyền một phần đối với quần đảo Trường Sa đủ có thể thấy rằng một thế trận và chỗ đứng chân, ưu thế vượt trội của Việt Nam là như thế nào trên một quần đảo Trường Sa rộng lớn.

BDN

Loading

Views: 0

Quốc tế nói gì về việc dân TQ “dám biểu tình”

Vụ hỏa hoạn ở Urumqi (Tân Cương) là giọt nước tràn ly, đã thổi bùng ngọn lửa phẫn nộ trong lòng người dân Trung Quốc. Nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra ở hàng chục thành phố lớn và các trường đại học trên khắp Trung Quốc từ ngày 26/11 đến sáng sớm ngày 28/11. Phóng viên BBC tại Trung Quốc, Stephen McDonnell, cho rằng mặc dù việc bày tỏ tiếng nói bất đồng ở Trung Quốc không phải là hiếm, nhưng sự kiện lần này quả thực đã đặt ra một thách thức to lớn đối với giới lãnh đạo ĐCSTQ.

Phong trào biểu tình “Nở rộ Khắp mọi nơi”
Vụ hỏa hoạn hôm thứ 5 (24/11) ở Urumqi, thủ phủ của Tân Cương, đã khiến 10 người thiệt mạng trong một tòa nhà cao tầng. Tối hôm 25/11, ​​​​đám đông dân chúng đổ ra đường, hô vang “Hãy chấm dứt phong tỏa!” và tay giơ cao nắm đấm, theo video trên mạng xã hội.

Giới quan sát cho rằng, chính các biện pháp phong tỏa của ĐCSTQ đã ngăn người dân của tòa nhà chạy thoát thân. Sau vụ hỏa hoạn, ngọn lửa giận dữ âm ỉ trong lòng dân chúng nay đã bùng lên và nhanh chóng lan rộng ra khắp cả nước.

Tối thứ 6 (26/11), rất đông người dân đã tập trung tại đường Urumqi ở Thượng Hải và thắp nến tưởng niệm các nạn nhân của vụ hỏa hoạn ở Urumqi, Tân Cương. Đám đông giận dữ đã hô vang những khẩu hiệu như “Đả đảo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ)”, “Đả đảo Tập Cận Bình!”, “Tự do!”. Một số người biểu tình đã bị cảnh sát bắt giữ.

Cũng vào tối ngày 26/11, sinh viên Đại học Bắc Kinh đã cầm những tờ giấy trắng – biểu tượng phản đối chính sách kiểm duyệt của chính quyền Trung Quốc – và thắp nến hoặc bật đèn điện thoại di động bên trong khuôn viên trường học. Từ sự tiếc thương thầm lặng dành cho những nạn nhân xấu số trong vụ họa hoạn, sự kiện đã phát triển thành các cuộc biểu tình và hô vang các khẩu hiệu như “Không cần xét nghiệm, chúng tôi muốn tự do” và “Phản đối phong tỏa”.

Tối thứ 7 (27/11), một số lượng lớn người dân đã tập trung gần đường “Wulumuqi“ (được đặt tên theo “Urumqi”). Họ đối đầu với cảnh sát và hô vang khẩu hiệu “Hãy để mọi người đi”, yêu cầu chính quyền thả những người biểu tình.

Một đoạn video lan truyền trên Internet cho thấy hình ảnh một cô gái trong cuộc biểu tình đã giương cao biểu ngữ phản đối được cho là giống biểu ngữ của ông Bành Lập Phát (Peng Lifa) trong vụ biểu tình trên cầu Tứ Thông (Sitong) ở Bắc Kinh hôm 13/10: “Không cần xét nghiệm COVID, chúng tôi muốn lương thực. Không cần phong tỏa; chúng tôi muốn tự do. Không cần dối trá; chúng tôi muốn phẩm giá. Không cần Cách mạng Văn hóa; chúng tôi muốn cải cách. Không cần lãnh đạo; chúng tôi muốn bầu cử. Không cần nô lệ; chúng tôi muốn trở thành công dân”.

Cũng trong ngày 27/11, khoảng 1.000 sinh viên Đại học Thanh Hoa đã lên tiếng phản đối và hô vang khẩu hiệu “Dân chủ và pháp quyền! Tự do ngôn luận”. Đêm hôm đó, đám đông và cảnh sát cũng xuất hiện bên bờ sông Liangma, một địa điểm đi dạo ưa thích của người dân Bắc Kinh. Một số người biểu tình cầm tờ giấy trắng để bày tỏ sự phản đối, trong khi những người khác đặt hoa và thắp nến bên dòng sông để tưởng niệm đến các nạn nhân đã thiệt mạng trong vụ hỏa hoạn ở Urumqi, Tân Cương.

Vào lúc 2 giờ sáng thứ 2 (28/11), tổng cộng có khoảng 1.000 người biểu tình đã tập trung theo dọc bờ sông Liangma gần Đường vành đai 3 (Bắc Kinh) và không chịu giải tán.

Theo các video được đăng tải trên mạng xã hội, cuối tuần qua, các cuộc biểu tình đã diễn ra ở nhiều trường cao đẳng và đại học ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thành Đô, Vân Nam, Vũ Hán, Trùng Khánh và Ninh Ba. Trong video về cuộc biểu tình ở Thành Đô, người dân hô vang “Chấm dứt nhiệm kỳ suốt đời” và “Nhân dân muôn năm”.

Các sinh viên của Học viện Mỹ thuật Hà Bắc đã viết trên một tấm vải: “Nếu bạn cảm thấy đau đớn và không có được tự do, tôi hy vọng bạn sẽ luôn có ngọn lửa không thể dập tắt trong tim, đừng tê liệt, đừng xa lánh …”. Ngoài ra, có một khẩu hiệu bằng chữ màu đỏ trên giấy trắng tại Đại học Công nghệ Ninh Ba có nội dung: “ Tôi là thanh niên Trung Quốc, không phải thế lực hải ngoại”.

Cuộc đấu tranh này được gọi là “cuộc cách mạng giấy trắng”, và một số người Trung Quốc cho biết: “Mặc dù không có gì trên tờ giấy trắng, nhưng tất cả chúng tôi đều hiểu những thông điệp đó”.

Truyền thông Anh: Cuộc biểu tình đặt ra thách thức to lớn đối với ĐCSTQ
Phong trào phản đối chính sách phòng chống dịch hà khắc Zero Covid đã nở rộ khắp nơi ở Trung Quốc. Vụ hỏa hoạn Urumqi chính là giọt nước tràn ly, đã khiến ĐCSTQ không khỏi choáng váng và thu hút sự chú ý của truyền thông quốc tế.

Phóng viên BBC tại Trung Quốc, Stephen McDonnell, đưa tin: trong những năm qua, ở Trung Quốc đã bùng phát không ít những cuộc biểu tình về một loạt vấn đề, từ ô nhiễm môi trường cho đến thu hồi đất đai phi pháp. Nhưng lần này thì khác. Một vấn đề nổi cộm trong thời gian gần đây, cũng là mối quan tâm lớn nhất của người dân Trung Quốc khiến cho ngày càng nhiều người chán ngấy với nó, đó là ” chính sách phòng dịch Zero Covid”.

Trong những ngày qua, người dân đã đập phá hàng rào cách ly của “chính sách Zero Covid”, các cuộc biểu tình nổ ra ở nhiều thành phố và khuôn viên trường đại học trên khắp cả nước. Điều này là rất hiếm.

Ông McDonnell nhận định rằng, thật khó có thể diễn tả khi chứng kiến một nhóm người trên đường phố Thượng Hải hét lớn và yêu cầu ông Tập Cận Bình từ chức. Ở Trung Quốc, việc công khai chỉ trích Tổng bí thư ĐCSTQ là cực kỳ nguy hiểm. Người biểu tình có nguy cơ bị bỏ tù vì hành động mạo hiểm này.

Ông McDonnell nói: “Đó là một thách thức to lớn đối với một tổ chức chính trị, vốn luôn tin rằng không có gì quan trọng hơn việc duy trì quyền lực. Chính phủ dường như đã đánh giá quá thấp sự bất mãn của công chúng với ‘chính sách Zero Covid’ cực đoan, vốn là chính sách đặc trưng của ông Tập Cận Bình”.

“Tuy nhiên, ĐCSTQ dường như đang gặp rắc rối và không dễ có lối thoát”, ông McDonnell khẳng định.

Vào ngày 27/11, ông McDonnell đã đính kèm một video về việc một số lượng lớn người biểu tình giơ giấy trắng trên Twitter.

“Quý vị có thể thấy, những người biểu tình ở Trung Quốc đang phản đối ‘chính sách Zero Covid’ bằng cách cầm trên tay những tờ giấy trắng. Đây không chỉ là dấu hiệu cho thấy sự bất đồng chính kiến, mà còn là dấu hiệu của sự chán ghét chính quyền, như muốn nói: “Các anh định bắt tôi chỉ vì tôi cầm một tờ giấy không có gì viết trên đó à?”, ông viết.

CNN: Trung Quốc đang đối mặt với thời khắc lịch sử phi thường
Đài CNN chỉ ra rằng: “Đây là một thời khắc lịch sử phi thường ở Trung Quốc”.

Phóng viên quốc tế của đài CNN tại châu Á, Selina Wang, đã đăng tải một video dài 3 phút, giải thích đầy đủ về sự bùng nổ các cuộc biểu tình gần đây ở Trung Quốc. Video nói rằng, Trung Quốc đã tuân thủ “chính sách Zero Covid” trong suốt ba năm qua, và cho đến nay vẫn thực hiện các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt. Tuy nhiên, vụ hỏa hoạn thảm khốc ở Urumqi, Tân Cương đã châm ngòi cho các cuộc biểu tình.

Hãng tin CNN cho biết, “Đây là một thời khắc lịch sử phi thường ở Trung Quốc. Các cuộc biểu tình đã nổ ra trên khắp đất nước. Từ Bắc Kinh cho đến các trường đại học ưu tú trên khắp đất nước, cũng như các thành phố lớn khác và thậm chí cả những vùng sâu vùng xa, mọi người có thể nghe thấy tiếng mọi người kêu gọi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phải từ chức”.

Phóng viên Selina Wang cũng thẳng thừng tuyên bố trong một bài đăng trên Twitter rằng, “Thật sốc khi những người này đang đạt đến điểm nguy kịch”.

Các hãng tin khác đồng loạt đưa tin
Theo tờ Deutsche Welle của Đức, đây là làn sóng bất tuân dân sự quy mô lớn đầu tiên ở Trung Quốc kể từ khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền cách đây 10 năm. Sự thất vọng của công chúng đối với “chính sách Zero Covid” đã tích tụ không ngừng trong 3 năm qua kể từ khi bùng phát đại dịch Covid-19.

Giới chức Trung Quốc tuyên bố sẽ tiếp tục duy trì chính sách này, bất chấp sự phản đối ngày càng tăng của công chúng, cũng như những tác động tiêu cực của nó đến nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Biểu tình phản đối công khai trên diện rộng là điều cực kỳ hiếm thấy ở Trung Quốc, nơi hầu như không còn chỗ đứng cho những người bất đồng chính kiến ​​dưới thời ông Tập. Chính điều đó đã buộc người dân phải “trút bầu tâm sự” lên các nền tảng mạng xã hội, nơi họ chơi trò “mèo vờn chuột” với các cơ quan kiểm duyệt.

Đài truyền hình One của Đức đưa tin, các cuộc biểu tình tiếp tục lan rộng ở nhiều thành phố trên khắp Trung Quốc. Người dân đang trút giận trước chính sách phòng chống dịch hà khắc. Các cuộc biểu tình ở Thượng Hải đã trở thành một chiến dịch công khai chống lại ông Tập Cận Bình. Mọi người đang kêu gọi ông Tập Cận Bình từ chức, yêu cầu tự do và chấm dứt phong tỏa. Điều này là cực kỳ hiếm thấy ở Trung Quốc, nơi không có tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền biểu tình.

Đài Á Châu Tự Do cho hay, tiếng nói đòi “tự do” của người dân và sinh viên Trung Quốc đang trở thành làn sóng phong trào quần chúng mới nhất ở Trung Quốc và “nở rộ khắp mọi nơi”.

Thời đại ĐCSTQ khủng bố người dân đã qua
Tiến sĩ Andreas Fulda, thuộc Viện Nghiên Cứu Châu Á, Đại Học Nottingham ở Anh Quốc cho biết: “Không có hệ thống nào là mãi mãi trường tồn”.

Ông Fulda cũng nhận định rằng, chính sách Zero Covid, ông Tập Cận Bình và ĐCSTQ đều có mối liên hệ với nhau.

Ông Chương Gia Đôn (Zhang Jiadun), một chuyên gia về Trung Quốc đã đăng một bài viết lên Twitter vào ngày 27/11 rằng, “Quyết định không nới lỏng ‘chính sách Zero Covid’ này sẽ không được người dân Trung Quốc chấp thuận. Thời đại mà ĐCSTQ có thể đe dọa người dân Trung Quốc đã qua. Dự kiến sẽ có thêm nhiều người chống lại sự cai trị của ĐCSTQ”.

Ông Chương Gia Đôn nói rằng, ĐCSTQ hiện đã làm phật lòng toàn bộ người dân trên khắp đất nước.

BDN

Loading

Views: 0

Triều Tiên mong muốn có hạt nhân mạnh nhất thế giới

Cứ theo lời của nhà lãnh đạo CHDCND Triều Tiên Kim Jong-un thì nước này đã xác định mục đích cuối cùng cao nhất cho chương trình hạt nhân và công cụ cần thiết để đạt được mục tiêu ấy trong tương lai.

Mục tiêu ấy là Triều Tiên có lực lượng hạt nhân mạnh nhất thế giới và công cụ cần thiết ấy là loại tên lửa liên lục địa Hwangsong-17 vừa được phóng thử. Loại tên lửa này được cho là có tầm bắn vươn tới nước Mỹ.

Để trở thành cường quốc hạt nhân trên thế giới, Triều Tiên không chỉ chế tạo ra loại tên lửa có thể mang đầu đạn hạt nhân, mà còn cần thành công 2 việc là chế tạo được vũ khí hạt nhân và thu nhỏ được đầu đạn hạt nhân để lắp vào đầu các loại tên lửa.
Đến nay, Triều Tiên nhiều lần quả quyết là đã thành công trong cả 2 việc trên, nhưng điều đó chưa được chứng thực. Vì thế, Bình Nhưỡng xác định mục tiêu cao nhất cho chương trình hạt nhân, có thể đã có được các loại tên lửa mang đầu đạn hạt nhân nhưng vẫn cần không ít thời gian nữa để đi nốt chặng đường cuối cùng. Và cả khi đạt được mục tiêu này thì tiềm lực và sức mạnh hạt nhân của Triều Tiên trên thực tế vẫn không thể so sánh được với Mỹ, Nga và Trung Quốc.
Ông Kim Jong-un có thông điệp gì khi cùng con gái đi xem phóng tên lửa uy lực?

Không những vậy, Mỹ, Nga lẫn Trung Quốc có để cho Triều Tiên thúc đẩy chương trình hạt nhân theo hướng ấy và tới được mục tiêu đấy hay không lại là chuyện khác.

Hiện có thể chắc chắn rằng đàm phán giữa Washington và Bình Nhưỡng về giải quyết vấn đề hạt nhân của Triều Tiên càng ngày khó khả thi.

BDN

Loading

Views: 0

Steinmeier: „Lage in China erfüllt mich mit tiefer Sorge“

Der Bundespräsident äußert sich im Gespräch mit der DW zur Lage in China und der Ukraine. Und er erklärt, warum er Waffenstillstandsgespräche zwischen Kiew und Moskau derzeit für wenig sinnvoll hält.

Frank-Walter Steinmeier reagiert mit Verständnis auf die Proteste der chinesischen Bevölkerung gegen die strikte Corona-Politik im Land. „Die Bilder, die uns aus Peking und mehreren chinesischen Städten erreichen, bewegen mich,“ sagt er im Interview mit der DW.  Auch in Deutschland habe der Kampf gegen die Pandemie sehr viele Menschen extrem mitgenommen. „Wir können nur erahnen, wie groß die Last für die Menschen in China ist, wo die Maßnahmen ja viel strikter, viel langanhaltender sind und bis heute reichen.“ 

„Peking muss die Meinungsfreiheit achten“ 

Die Wut über die strikte Null-Covid-Politik in China hatte in den vergangenen Tagen zu landesweiten Protesten geführt. Auslöser war ein Wohnhausbrand mit zehn Toten am vergangenen Donnerstag in Urumqi in der nordwestchinesischen Region Xinjiang. „Als Demokrat kann ich nur sagen: Die Freiheit der Meinungsäußerung ist ein wichtiges Gut“, sagt der Bundespräsident. „Und ich kann das, was wir sehen, nur mit der Hoffnung verbinden, dass die staatlichen Behörden in China dieses Recht der Meinungsäußerung, der Demonstrationsfreiheit achten.“

„Den Ukrainern drohen Not, Dunkelheit und Kälte“

Zum Krieg Russlands gegen die Ukraine sagt Steinmeier, er verurteile die jüngsten Angriffe Russlands auf Zivilisten und auf die Gas- und Stromversorgung in der Ukraine: „Ich glaube, das ist ein Teil der Kriegsstrategie, die wir hier sehen. Wir haben nicht nur einen brutalen Angriffskrieg, der militärisch geführt wird gegen die ukrainische Armee. Sondern wir haben –  und das wird sichtbarer, je näher wir dem Winter kommen –  einen brutalen Angriff auf kritische Infrastruktur und damit natürlich auf die Zivilbevölkerung.“ Steinmeier äußert sich tief besorgt über die Lage der Menschen im Kriegsgebiet: „Wir haben gesehen, was auf die Menschen in der Ukraine zukommen könnte: Not, Dunkelheit und Kälte“.

„Waffenstillstandsgespräche würden jetzt Russlands Landraub absegnen“

Die Zeit für Gespräche über einen möglichen Waffenstillstand sieht der ehemalige deutsche Außenminister als noch nicht gegeben. „Alle Empfehlungen, jetzt einen Waffenstillstand zu machen, sind natürlich leichtfertig, weil ein Waffenstillstand zu diesem Zeitpunkt das absegnen würde, was an Unrecht schon stattgefunden hat. Ein Waffenstillstand jetzt würde bedeuten, dass Russland besetztes Gebiet für sich behält. Und damit die Grenzverletzungen, die Missachtung des Völkerechtes und der Landraub auch noch abgesegnet wird.“ 

Zurückhaltend äußert sich Steinmeier zu möglichen westlichen, auch deutschen Sicherheitsgarantien für die Ukraine, bevor die Regierung in Kiew überhaupt in mögliche Gespräche mit Moskau eintritt. „Aber wir sind jetzt noch in einem Stadium, bei dem wir nicht sagen können, wie genau solche Sicherheitsgarantien aussehen könnten.“ 

„Inzwischen herrscht in Kiew Dankbarkeit den Deutschen gegenüber“

Befragt zur deutschen Rolle im Ukraine-Konflikt sag“ der Bundespräsident, dass die anfänglichen heftigen Irritationen zwischen deutschen Regierungs-Politikern und der ukrainischen Regierung beigelegt seien. Steinmeier selbst war zunächst im Frühjahr vor einem geplanten Besuch in Kiew von der dortigen Regierung ausgeladen worden, hatte den Besuch aber im Oktober nachgeholt. „Ich bin in der Ukraine gewesen, wie Sie wissen, und kann nur bestätigen, dass einerseits die Kritik an der deutschen Rüstungsunterstützung, die es gab, abgeebbt ist, dass es im Gegenteil heute sehr viel Dankbarkeit gibt.“ Vor allem die deutsche Unterstützung bei der Luftraumverteidigung in der Ukraine durch Deutschland sei sehr wichtig gewesen.

„Es darf nicht zur Anwendung von Nuklearwaffen kommen“   

Im Frühjahr war vor allem Steinmeier persönlich wegen seiner jahrelangen sehr guten Kontakte zu russischen Politikern in der Ukraine heftig kritisiert worden. Die russische Drohung, auch Nuklearwaffen einzusetzen, nannte Steinmeier jetzt unerträglich. „Sie widerspricht eigentlich all unseren historischen Erfahrungen. Und sie sind eine weitere Eskalation, die von Russland in diesem Krieg betrieben wird. Es darf nicht zur Anwendung von Nuklearwaffen kommen!“

„Bin dem Deutschen Bundestag sehr dankbar“

Der Bundespräsident begrüßt im Gespräch mit der DW die Absicht des deutschen Bundestags, noch in dieser Woche den sogenannten Holodomor in der Ukraine anzuerkennen und als Völkermord zu bezeichnen.  Anfang der 1930er Jahre verhungerten in der Ukraine Millionen Menschen, weil die damalige Sowjetführung Lebensmittel systematisch verknappte und konfiszierte. Mit einer gemeinsamen Resolution wollen SPD, Union, Grüne und FDP das nun ändern. Steinmeier dazu: „Es war die bewusste Strategie in den Jahren 1932 und 1933 des Stalin-Regimes, Teile der Bevölkerung der damaligen Sowjetunion hungern zu lassen.“ Dafür, dass das Parlament das nun ändere, sei er, so Steinmeier wörtlich, „sehr, sehr dankbar.“

EU-Beitrittsperspektive für Westbalkan-Länder stärken

Nach Ansicht Steinmeiers verändert der Krieg in der Ukraine auch die Perspektiven für die Länder des Westbalkans, was etwa einen möglichen Beitritt einzelner Länder auch in die EU angeht. Steinmeier reist diese Woche nach Nordmazedonien und Albanien. Gleich mehrere mögliche EU-Beitrittsländer der Region hatten zuletzt Befürchtungen geäußert, für die Europäische Union stehe nun eine mögliche Aufnahme der Ukraine im Zentrum. „Ich verstehe manche Ungeduld, aber die Reise nach Nordmazedonien und Albanien dient ja auch der Botschaft in die Region: Wenn die entsprechenden Fortschritte innerstaatlich erreicht werden, dann wird der Weg in Richtung Mitgliedschaft in der Europäischen Union auch überschaubarer werden.“

Quelle:

https://www.dw.com/de/steinmeier-lage-in-china-erfüllt-mich-mit-tiefer-sorge/a-63915679

Loading

Views: 0

EU không tuân theo chính sách cứng rắn nhất của Mỹ với TQ.

Đại diện cấp cao của EU về chính sách đối ngoại và an ninh Josep Borrell cho biết, liên minh này sẽ không tuân theo chính sách cứng rắn nhất của Mỹ với Trung Quốc.

“Chắc chắn, Mỹ là đồng minh quan trọng nhất của EU, nhưng trong một số trường hợp, chúng tôi sẽ không có cùng cách tiếp cận với Washington trong chính sách với Trung Quốc”, Đại diện cấp cao của EU về chính sách đối ngoại và an ninh Josep Borrell phát biểu tại Nghị viện châu Âu ở Strasbourg, Pháp hôm 22/11.

Trước đó, giới chức Hà Lan lên tiếng phản đối nỗ lực của Mỹ nhằm xây dựng một mặt trận chung, ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận chất bán dẫn. Công ty Hà Lan ASML là một trong số ít công ty toàn cầu của châu Âu trong lĩnh vực sản xuất chất bán dẫn.
SCMP cho hay, phát biểu của ông Josep Borrell phần nào cho thấy sự tan băng trong quan hệ EU – Trung Quốc sau loạt cuộc gặp giữa lãnh đạo các quốc gia EU và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Ông Tập Cận Bình đã gặp nhà lãnh đạo Pháp, Đức, Italia, Hà Lan và Tây Ban Nha những tuần gần đây, tại các cuộc gặp được tổ chức ở Bắc Kinh và bên lề Hội nghị thượng đỉnh G20 ở Bali, Indonesia.

Tại các cuộc gặp này, Trung Quốc và các thành viên EU đều tuyên bố mong muốn duy trì mối quan hệ thương mại bền chặt, ngay cả khi tiếp tục lên tiếng về hồ sơ nhân quyền của Trung Quốc.

Theo ông Borrell, mô hình quản trị khác nhau và tầm nhìn riêng về chủ nghĩa đa phương… không ngăn cản EU và Trung Quốc hợp tác cùng nhau. Ông kêu gọi các nhà lập pháp “tính đến thực tế và sự cần thiết của Nghị viện châu Âu để đóng góp vào việc thúc đẩy quan hệ hai bên”.

Thời gian qua, khi Nghị viện châu Âu chỉ trích Trung Quốc, đại sứ của EU tại Bắc Kinh được triệu tập hoặc nhận được thông báo ngoại giao chính thức về sự không hài lòng của Trung Quốc. Hồi tháng 8, tờ SCMP đưa tin, chính phủ Trung Quốc coi những tuyên bố của Nghị viện châu Âu là chính sách chính thức của EU.

Trong khi đó, quan hệ Mỹ – Trung xấu đi rõ rệt sau chuyến thăm Đài Loan của Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi. Sau động thái này của Mỹ, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố Bắc Kinh sẽ ngừng hợp tác với Washington trong loạt lĩnh vực, trong đó có đối thoại quân sự cấp cao và các cuộc gặp an ninh.

Gần đây, lãnh đạo Mỹ – Trung tổ chức nhiều cuộc gặp trực tiếp. Đầu tiên, Tổng thống Joe Biden gặp Chủ tịch Tập Cận Bình tại Indonesia, bên lề Hội nghị thượng đỉnh G20. Sau đó là cuộc gặp giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris tại Hội nghị Thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 2022 ở Bangkok (Thái Lan).

BDN

Loading

Views: 0

Bản đồ Apple không hiển thị quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Sau nhiều bản cập nhật, trong đó có lần update iOS lớn, bản đồ Apple vẫn chưa thể hiện 2 quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam.

Bản đồ Apple (Maps) là ứng dụng do chính “táo khuyết” phát triển dành cho các nền tảng của hãng, mặc định trên mọi phiên bản iOS, iPadOS, macOS cũng như trên Carplay (dành cho xe hơi) hiện nay. Là phần mềm “chính chủ” được nhiều người dùng trên thế giới sử dụng, chương trình này lại không thể hiện đầy đủ phần bản đồ Việt Nam.

Cụ thể, tới bản iOS 16.1 (mới nhất tính tới cuối tháng 11.2022), Apple Maps vẫn không hiển thị hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Khu vực này trên một số ứng dụng bản đồ khác của Google hay Bings đều thể hiện đầy đủ cùng vùng Biển Đông.

Khi phóng to bản đồ vào đúng vị trí của các quần đảo nói trên, chương trình chỉ thể hiện những điểm mờ thay vì đặc điểm địa lý (với các màu đại diện cho từng vùng như núi, đồng bằng…) giống như bị che bởi sương mù (hoặc mây) và cũng không ghi tên địa danh hay bất kỳ thông tin gì. Trong khi đó, các đảo khác thuộc chủ quyền Việt Nam như Côn Sơn, Phú Quốc, Côn Đảo vẫn thể hiện đầy đủ.

Sự biến mất bất thường của hai quần đảo thuộc Việt Nam trên bản đồ Apple được người dùng phát hiện từ khoảng giữa năm 2021 sau khi cập nhật nền tảng iOS. Thay đổi này khiến một bộ phận người dùng Việt tức giận và đánh giá 1 sao cho ứng dụng trên App Store (kho phần mềm cho iOS, iPadOS).

Hiện tại, Apple Maps có điểm trung bình chỉ 2,5/5 (với 5 là mức hài lòng cao nhất) sau gần 1.100 đánh giá, đa phần là tiêu cực với số điểm tối thiểu (1 sao). Trong đó, nhiều người để lại bình luận yêu cầu Apple thay đổi cách làm việc, tôn trọng chủ quyền Việt Nam bằng việc bổ sung thông tin hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên bản đồ của hãng.

Dù bản đồ Apple đang là một trong những ứng dụng chính hãng bị đánh giá thấp nhất, tập đoàn công nghệ có trụ sở tại Cupertino (Mỹ) vẫn chưa có động thái gì sau hơn một năm.

BDN

Loading

Views: 0

Quần đảo Trường Sa- Đảo Núi Le

Từ những thập niên đầu tiên của Thế kỷ XXI Việt Nam đã ý thức rất rõ ràng về tầm quan trọng của việc phải rút nước biển trên các đảo chìm và mở rộng các đảo nổi hiện có trải qua quá trình chuẩn bị tính toán tỉ mỉ và chọn lựa kỹ lưỡng.

Đầu năm 2011 Việt Nam bắt đầu tiến hành rút nước biển trên đảo Đá Tây. Đến năm 2015 đảo Núi Le là cái tên thứ hai được ưu tiên tiến thẳng lên đảo nổi chúng ta đã mất tổng cộng 10 năm để hoàn thành việc rút nước biển trên Đá Tây và biến nó thành một trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá lớn nhất trên quần đảo Trường Sa, tại đá Núi Le sau 8 tháng một hòn đảo với gần 2 hecta diện tích đã dần được thành hình mọi chuyện diễn ra khá thuận lợi tưởng chừng giống như Đá Tây Việt Nam sẽ sớm có một đảo nổi với diện tích lớn tiếp theo tại đảo đá Núi Le. Tuy nhiên cho đến nay đã 7 năm trôi qua những gì Việt Nam đang có chỉ là 2 cồn cát với 0,9 hecta nằm ở hai bên hông phía Nam của thềm san hô.

Vậy điều gì đã xảy ra? Đá Núi Le chiến lược và thuận lợi đến mức nào mà được rút nước biển sớm như thế, thực trạng hiện nay bây giờ tại đây ra sao?

Đá Núi Le là một trong những đảo chìm đẹp, chiến lược nhưng lại gặp rất nhiều vận đen đủi của Việt Nam trên Biển Đông.

Đá Núi Le là một rạn san hô vòng thuộc cụm Trường Sa của quần đảo Trường Sa nằm ở phía Đông Nam của quần đảo Trường Sa đảo có vị trí rất quan trọng khi mà án ngự ở trung tâm của khu vực 3 thuộc quần đảo Trường Sa gần các đảo Tốc Tan, Tiên Lữ, Phan Vinh tạo thành lá chắn vòng ngoài ở sườn phía Đông của quần đảo Trường Sa bảo vệ các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ của Việt Nam, đá Núi Le là một địa chỉ tin cậy của bà con ngư dân các địa phương mỗi khi đánh bắt hải sản xa bờ ở khu vực này.

Nằm cách đảo Trường Sa Lớn khoảng 245km về phía Đông, cách đá Tiên Lữ khoảng 50km về phía Tây Tây Nam cách đá Tốc Tan và đảo Phan Vinh lần lượt là 10km và 55km về phía Tây Bắc, cách bán đảo Cam Ranh khoảng 635km về phía Đông Nam.

Đá Núi Le có hình dạng như một dải lụa rất mềm mại, uốn lượn theo chiều sóng, rạn san hô đá Núi Le trải dài theo chục Bắc Nam với chiều dài lớn nhất khoảng 9km, chiều rộng lớn nhất khoảng 3,5km khi thuỷ triều xuống thấp nhất thì dải rác có những chỗ nhô lên khỏi mặt nước. Tổng diện tích của mặt nước rạn san hô đá Núi Le vào khoảng 30km2 trên thực tế thì đá Núi Le không phải là một đảo mà là một bãi đá ngầm ngập nước khi thuỷ triều lên cũng giống như bãi đá ngầm khác trên Biển Đông, đá Núi Le được hình thành từ sự phun trào của dãy núi lửa ngầm dưới đáy biển từ hàng triệu năm về trước, dung nham núi lửa phun trào tới mặt biển bị lùi lại tạo thành bãi đá ngầm.

Đặc điểm địa hình của đá Núi Le là tương đối hẹp khi có thềm san hô trải dài theo hướng Bắc Nam với vành đai san hô khép kín rộng trung bình khoảng 500m thoải dần từ ngoài vào trong tạo thành một lòng hồ có độ sâu từ 5 đến 15m ở giữa, lòng hồ này có chiều dài lớn nhà 6km rộng trung bình khoảng 2km với diện tích vào khoảng 13km2 chiếm khoảng 43% diện tích của vành san hô, ở phía Bắc của đảo ta có thềm san hô tương đối là bằng phẳng diện tích lớn sấp xỉ 4km2.

Sở dĩ đá Núi Le được chọn để nổi sớm thứ hai chỉ sau Đá Tây là do sự kiện ngày 1 tháng 5 năm 2014 khi Trung Quốc đưa dàn khoan Hải Dương 981 vào xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Sau sự kiện này thì Việt Nam quyết định tăng cường sức mạnh phòng thuỷ trên quần đảo Trường Sa bằng các mở rộng diện tích các đảo nổi và nổi hoá các đảo chìm của mình do có vị trí chiến lược ở trung tâm của khu vực 3 và những ưu điểm về mặt địa hình đã nói ở trên thì đá Núi Le đã được chọn để nổi hoá sớm theo đó thì quá trình rút nước biển bắt đầu từ quý 1/2015 được thực hiện tại 2 vị trí nằm ở hai bên hông của thềm san hô thuộc phía Nam của quần đảo với tổng cộng diện tích đạt được tới tháng 8/2015 là khoảng 2,5ha tương đương 0,025km2. Tuy nhiên, thật đáng buồn các công trình bồi đắp này đã bị tàn phá bởi siêu bão Mailơ vào tháng 12/2015, cơn bão này thì đã cuốn trôi phần lớn diện tích bồi đắp được trong 8 tháng trước đó ra biển và hiện nay chỉ còn lại khoảng 0,9ha được Việt Nam quây lại thành 2 bãi cát hình chữ nhật kể từ thời điểm đó việc thi công đá Núi Le đã bị đình chỉ lại cho tới nay thì thiết bị thi công đã được dời sang các đảo khác để rút nước.

Có thể nói việc rút nước tại các điểm đảo trên quần đảo Trường Sa là cực kỳ phức tạp và khó khăn khi liên tục gặp phải nhẫn vấn đề từ bão, gió cho tới hoạt động chống phá của lực lượng nước ngoài, thậm chí mới đây thôi chúng ta tiếp tục gặp phải thiện hại lớn khi 24.000m2 đất tương đương khoảng 40m x 60m đất nổi ứng với khoảng 70.000m3 đất đào lên tại đảo Thuyền Chài đã bị sóng cuốn trôi, phương pháp thi công của Việt Nam hiện tại cũng đang gặp rất nhiều hạn chế khi chưa khắc phục được ảnh hưởng từ sóng biển.

Thời tiết khí hậu thuỷ văn của đảo Núi Le phản ánh đặc trưng thời tiết khí hậu thủy văn của quần đảo Trường Sa với mùa hè mát và mùa đông ấm hơn trong đất liền, khí hậu tại đây rất khắc nghiệt nắng nóng, giông bão thất thường, lượng mưa tại đây phân bổ không đều. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4 không có mưa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 ngày nào cũng mưa có ngày lượng mưa lên đến 200 ml, thuỷ triều của đảo là chế độ Nhật Triều một lần nước lên một lần nước xuống. Trong khu vực có nhiều loại tôm cá quý hiếm như cá Ngừ, cá Mú, tôm hùm, rùa biển đang được khai thác phục vụ cho nhu cầu đời sống của nhân dân và xuất khẩu mang lại lợi nhuận cao.

Hải quân Việt Nam thì đóng quân tại hai nhà lâu bền trên đá Núi Le được đặt tên lần lượt là đảo Núi Le A và đảo Núi Le B, trong đó đảo Núi Le A thì nằm ở phía Tây Nam là một cụm công sự kết cấu gồm 3 toà nhà hai nhà công sự và một nhà văn hoá đa năng do ngành ngân hàng Việt Nam tài trợ, công trình hoàn thành vào tháng 12/2014, đảo Núi Le B nằm ở phía Bắc của đảo là một công sự bê tông hình lục giác cao ba tầng là nơi đóng quân cho bộ đội ta trên đảo, khác với các đảo nổi ở đây thì nguồn nước ngọt dành cho sinh hoạt được khai thác chủ yếu từ nước mưa những năm gần đây thì do được trang bị hệ thống bể chứa nên đảo đã chủ động đảm bảo được 100% nhu cầu nước sinh hoạt. Hiện nay đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ chiến sỹ trên đảo Núi Le thì từng bước được cải thiện trên các điểm đảo thì đều có điện, được trang bị máy thu hình, trạm thu phát sóng tín hiệu vệ tinh của đài truyền hình Việt Nam, trong thời gian gần đây thì đã có mạng internet giúp cho cán bộ chiến sỹ trên đảo cập nhật kịp thời tin tức trong nước và thế giới. Ngoài ra cán bộ chiến sỹ trên đảo còn tăng gia sản xuất được nhiều loại rau xanh khác nhau và nuôi được cả chó trên đảo.

Thực hiện chiến dịch CQ88 ngày 28 tháng 2 năm 1988 Hải quân Việt Nam điều tàu HQ-633 đưa lực lượng công binh ra xây dựng nhà cao chân tại đá Núi Le, ngày 11 tháng 3 năm 1988 tàu HQ-605 hoàn thành chuyến tiếp vận cho các đảo chìm vừa được quân ta đóng giữ tại đá Tốc Tan và Núi Le, bất ngờ thì đại uý Lê Thanh Sơn thuyền trưởng tàu HQ-605 nhận được mệnh lệnh của phó Đô đốc Giáp Văn Cương Tư lệnh Hải quân kiêm Tư lệnh vùng 4 Hải quân phải cấp tốc nắm giữ đảo Len Đao. Sớm ngày 14 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-605 khẩn trương thực hiện được mệnh lệnh, cắm được quốc kỳ Việt Nam trên bãi đá Len Đao vào sớm ngày 14 tháng 3 năm 1988. Mặc dù sau đó tàu HQ-605 bị các tàu Trung Quốc bắn cháy rồi chìm, trung uý thuyền phó Phan Hữu Doan và trung sĩ báo vụ Bùi Duy Hiển hy sinh. Sỹ quan chiến sỹ của tàu thì vẫn bình tĩnh cùng nhau đưa thương binh, liệt sỹ về đảo Sinh Tồn an toàn.

Ngày 23 tháng 3 năm 1988, việc xây dựng nhà cao chân đã hoàn tất và chuyển giao cho lực lượng bảo vệ đảo, sau đó thì công binh tiếp tục tiến hành xây dựng nhà cấp 2. Từ năm 1997 lực lượng công binh tiếp tục xây dựng nhà lâu bền ở Núi Le A và 2001 xây dựng nhà lâu bên ở Núi Le B cách đó khoảng 4km.

Để có thể gìn giữ và giữ nước tại các điểm đảo của ta trên quần đảo Trường Sa, các thế hệ cha ông người Việt đã phải hy sinh cũng như trả giá rất nhiều, không chỉ phải chiến đấu với giặc ngoại bang mà còn phải đối đầu với người mẹ mang tên “thiên nhiên” nữa, thật đáng buồn khi hoạt động rút nước biển của ta tại Núi Le gặp phải dán đoạn trong thời gian dài. Hy vọng với nguồn lực ngày càng mạnh như hiện nay thì Núi Le sẽ sớm được nổi hoá để bà con ngư dân và cán bộ chiến sỹ có điểm tựa vững chắc để yên tâm làm ăn cũng như công tác.

BDN

Loading

Views: 0

Hợp tác quốc phòng ASEAN-Mỹ được tăng cường

Mỹ tái khẳng định cam kết về Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền các quốc gia và luật pháp quốc tế.

Ngay sau khi kết thúc Hội nghị Hẹp Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM Hẹp) diễn ra vào sáng 22/11 tại thành phố Siem Reap (Campuchia), Bộ trưởng Phan Văn Giang đã tham dự Cuộc gặp không chính thức giữa các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ.

Tại cuộc gặp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin tái khẳng định cam kết của Mỹ về Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền các quốc gia dù lớn hay nhỏ và tôn trọng luật pháp quốc tế.

Trưởng đoàn các nước ASEAN hoan nghênh việc Mỹ tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác do ASEAN dẫn dắt, đặc biệt là ADMM+.

ASEAN-Mỹ thúc đẩy hợp tác quốc phòng - 2
Cuộc gặp không chính thức giữa các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ.

Ghi nhận những nỗ lực tích cực của Mỹ trong hợp tác quốc phòng với ASEAN thời gian qua, trưởng đoàn các nước ASEAN mong muốn Mỹ tiếp tục tham gia và đóng góp tích cực trong các cơ chế, khuôn khổ do ASEAN chủ trì, cam kết ủng hộ sự đoàn kết, thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN.

BDN

Loading

Views: 0

Quần Đảo Trường Sa – Đảo Tốc Tan

Quần đảo Trường Sa là tập hợp của 135 đảo, bãi đá và rặng san hô lớn nhỏ khác nhau nằm rải rác trên một vùng biển rộng hơn 400.000km2 phần lớn trong số chúng là những bãi đá và rạn san hô với tổng diện tích đất nổi chỉ có 5km2. Chính vì diện tích đất nổi ít ỏi như vậy, nên trong những năm qua các hoạt động nổi hoá các đảo chìm đang được các quốc gia đẩy mạnh trên vùng biển này.

Trong tình thế như vậy thì việc sở hữu một đảo chìm có diện tích thềm san hô lớn là một lợi thế không hề nhỏ cho các quốc gia sử dụng nó và thật may mắn khi Việt Nam chúng ta là quốc gia không chỉ kiểm soát được nhiều đảo nhất mà còn sở hữu được nhiều đảo chìm có diện tích thềm san hộ thuộc dạng lớn nhất nhì tại quần đảo Trường Sa và đứng đầu danh sách này thật tiếc không phải là đảo Thuyền Chài mà là cái tên có phần hơi xa lạ với các bạn đó chính là đảo Tốc Tan một đảo chìm có diện tích lớn thứ hai tại quần đảo Trường Sa.

Vậy đảo Tốc Tan là đảo nào? và nó nằm ở đâu? Vị trí chiến lược của nó ra sao và diện tích của nó lớn tới mức nào?

Đảo Tốc Tan một trong những thực thể xa chiến lược và lớn nhất mà Việt Nam đang kiểm soát tại quần đảo Trường Sa, đảo Tốc Tan là rạn san hô vòng thuộc cụm Trường Sa của quần đảo Trường Sa nằm ở phía Đông Nam của quần đảo Trường Sa nơi tập hợp phần lớn các thực thể mà Việt Nam đang kiểm soát với 11 trên tổng số 21 điểm đảo mà Việt Nam đang đóng quân tập trung tại vùng biển này bao gồm: đảo Đá Lát, Trường Sa lớn, đá Tây, Trường Sa Đông, đá Đông, Phan Vinh, Tốc Tan, Núi Le, Tiên Lữ, An Bang và Thuyền Chài chiếm tới 52% số đảo của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Có thể nói đây là nơi mà Việt Nam có sức ảnh hưởng lớn nhất trên quần đảo Trường Sa.

Nằm cách đảo Phan Vinh khoảng 27km về phía Đông Nam cách đá Núi Le gần 11km về phía Tây Bắc cách bán đảo Cam Ranh 600km về phía Đông Nam, đá Tốc Tan là một rạn san hô nửa kín có kích thước lớn thứ hai trên quần đảo Trường Sa chỉ sau bãi Thám Hiểm một rạn san hô nửa kín có kích thước lớn nhất trên Biển Đông với diện tích khoảng 203km2 hiện đang bị Malaysia chiếm đóng phi pháp.

Trải dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đá Tốc Tan là rạn san hô có hình bầu dục với thềm san hộ bị gián đoạn ở phía Tây Bắc hướng 11h và một phần ở phía Đông Nam hướng 5h, thềm san hô này được hình thành bởi sự phun trào của các dãy núi lửa ngầm dưới đáy biển từ hàng triệu năm về trước, dung nham núi lửa phun trào tới mực nước biển thì bị lùi lại tạo thành các thềm san hô.

Chiều dài lớn nhất của thềm san hô đá Tốc Tan là khoảng 19,4km, chiều rộng trung bình đạt xấp xỉ 4,1km. Đá Tốc Tan có tổng diện tích mặt nước lên đến 75km2 tương đương khoảng 7.500ha gấp 1,37 lần đảo Thuyền Chài trong đó thì thềm san hô có diện tích xấp xỉ 30km2 tương đương khoảng 3.000ha tập trung chủ yếu ở phần phía Bắc của đảo, thềm san hô này có địa hình dốc dần theo hướng từ ngoài vào trong có độ sâu trung bình khoảng 0,5m tạo thành một lòng hồ với diện tích lớn lên đến 45km2 tương đương khoảng 4.500ha, với thềm san hô nửa kín diện tích của thềm san hô lớn, vùng biển sâu từ 15 đến 25m đá Tốc Tan được ví như một vịnh Cam Ranh thứ hai của Việt Nam trên Biển Đông. Nơi đây rất thuận tiện để xây dựng các cảng nước sâu cho các tàu có trọng tải lớn vào neo đậu, đặc biệt có thể tận dụng các vị trí thềm san hô bị gián đoạn để làm luồng vào hồ giúp tiết kiệm rất nhiều chi phí.

Bản đồ hành chính đều thể hiện danh từ riêng là “Tốc Tan” còn danh từ chung để mô tả thực thể là “Đá”, về bản chất địa lý đá Tốc Tan không phải là đảo mà là một rạn san hô vòng. Hiện nay, Việt Nam đang kiểm soát đảo đá này như một phần của Thị trấn Trường Sa, huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà.

Với diện tích lớn như vậy để có thể kiểm soát được toàn bộ rạn san hô đá Tốc Tan. Kể từ năm 1988 công binh Hải quân Việt Nam đã xây dựng trên thềm san hô Tốc Tan ba nhà lâu bền được đặt tên lần lượt là: đảo Tốc Tan A, đảo Tốc Tan B và đảo Tốc Tan C. Trong đó, đảo Tốc Tan A nằm ở phía Đông Nam của rạn san hô, Tốc Tan B thì nằm ở phía Tây Bắc và Tốc Tan C thì nằm ở phía Bắc của rạn san hô cả ba cụm kết cấu này đều giống nhau gồm 2 toà nhà lâu bền hình lục giác được kết nối với nhau bằng cầu bê tông, trong đó thì bao gồm: một toà kết cấu công sự và một nhà văn hoá đa năng.

Hiện nay, trên tất cả các cụm nhà lâu bền của ta tại quần đảo Trường Sa đều đã được trang bị hệ thống điện, bao gồm cả điện gió và điện mặt trời, cùng với đó là các tiện ích khác như: mạng viễn thông, hệ thống truyền hình số vệ tinh, hệ thống thôn tin liên lạc và mới đây nhất là hệ thống Tele Medicine tức giải pháp y tế từ xa hoặc hệ thống chuẩn đoán bệnh từ xa, đều đã được đưa vào sử dụng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của bộ đội ta và bà con ngư dân ngoài đảo. Nước ngọt sinh hoạt là nhu cầu thiết yếu của cán bộ ta trên đảo. Hiện nay thì phần lớn nước ngọt sinh hoạt của bộ đội là nước mưa tích trữ và nước ngọt vận chuyển từ đất liền ra được tích trữ trên các bồn chứa trên đảo. Tuy nhiên, nguồn nước này là không đủ cho việc sinh hoạt một cách thoải mái, vì vậy bộ đội ta phải sử dụng nước ngọt hết sức tiết kiệm, khắc phục khó khăn về nước sinh hoạt, cán bộ chiến sỹ của ta trên đảo đã tăng gia sản xuất trồng được nhiều loại rau xanh, chủ yếu là rau muống, rau cải, mồng tơi và nuôi được cả chó mang từ đất liền ra.

Từ cách đây hơn 500 năm các triều đại Phong Kiến của Việt Nam từ thời chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn sau này đều coi các đảo của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần không thể tách rời của lãnh thổ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư từ năm 1467 vua Lê Thánh Tông đã cho biên soạn bản đồ lãnh thổ Đại Việt. Bộ bản đồ Hồng Đức được hoàn thành vào cuối năm 1469 được bổ sung nhiều lần về sau gồm bản đồ cả nước và bản đồ địa phương, trong đó có vẽ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong các bản đồ thư tịch của Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, quần đảo Trường Sa đều được người Việt đặt tên là Bãi Cát Vàng.

Ngày 22 tháng 2 năm 1988, Bộ Tư lệnh Hải Quân đã lệnh cho tàu HQ 713 và HQ 07 có nhiệm vụ đóng giữ đá Tốc Tan, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đã xây dựng một nhà ở phía Tây đá Tốc Tan hoàn thành vào ngày 8 tháng 8 năm 1988, trong khi đó công binh Hải quân Việt Nam cũng xây dựng ba nhà có chân trên đá này. Tháng 8 năm 1988, phòng bảo đảm Hàng hải Quân chủng Hải Quân đã thả trong lòng hồ Tốc Tan ba phao buộc tàu dưới mặt nước đường kính 2m, các phao được cố định với đáy bằng rùa bê tông, mỗi rùa nặng khoảng 3 tấn khi thời tiết xấu các tàu có thể neo đậu để tránh gió bão.

Tốc Tan là một rạn san hô không khép kín với một số hạn chế về mặt trú bão. Tuy nhiên nếu xét về phương diện tổng thể thì đá Tốc Tan là một trong những rạn san hô chiến lược và tốt nhất của Việt Nam trên Biển Đông với thềm san hô có diện tích hàng nghìn hecta và lòng hồ rộng, nước sâu Việt Nam hoàn toàn có thể quy hoạch một huyện đảo với hàng nghìn hộ dân tại đây, lòng hồ sâu rất thích hợp cho việc đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản xa bờ, phát triển ngư nghiệp nghề cá và cả dịch vụ du lịch biển đảo tại đây. Rất có thể trong tương lai gần sau khi hoạt động rút nước biển tại đảo Thuyền Chài và Tiên Lữ kết thúc thì nguồn lực sẽ được dồn để rút nước biển tại đá Tốc Tan.

BDN

Loading

Views: 0

3 Trung Đoàn SU 30 của Việt Nam mạnh cỡ nào?

Vào giữa những năm 1990 của thế kỷ 20, Việt Nam đứng trước những thách thức to lớn, khi các máy bay chiến đấu chủ lực trong lực lượng không quân của Việt Nam thời điểm bấy giờ như MIG-21, MIG-19 đều đã lỗi thời, lạc hậu sau gần 30 năm biên chế. Trong khi đó SU-22, loại máy bay giữa vai trò nhiệm vụ xương sống của lực lượng không quân Việt Nam lại không đáp ứng được các yêu cầu phức tạp, trong nhiệm vụ tác chiến đối hải và đối đất trên Biển Đông.

Nhằm đáp ứng những yêu cầu bảo vệ đất nước trong tình hình mới.Từ đầu những năm 1995, Việt Nam đã đặt mua 12 tiêm kích SU-27SK/UBK của Nga. SU-27SK/UBK được xem là loại chiến đấu cơ xuất khẩu mạnh nhất của Nga thời điểm bấy giờ, nó được trang bị loại radar hàng không có khả năng phát hiện mục tiêu ở cự ly 350 đến 400 km với các vật thể bay cỡ lớn, theo dõi ở cự ly 200 km, phát hiện được các máy bay như F16 ở 140 đến 160 km, radar này thì có thể giám sát 15 mục tiêu trên không và dẫn đường cho tên lửa tấn công đồng thời 4 mục tiêu cùng lúc. Mặc dù được đánh giá rất cao so với các dòng máy bay trong cùng thế hệ thứ tư của Mỹ như F14, F15, F16 và FA18, tuy nhiên SU-27 lại chỉ được thiết kế để chiếm ưu thế trên không và không đáp ứng được các ưu tiên đối hải và đối đất cho tình hình mới của Việt Nam. Mà lúc này Việt Nam cần một chiến đấu cơ vừa không chiến đấu được, vừa tấn công mặt đất và đối hải:

Tới những thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, ứng cử viên sáng giá của Việt Nam đã lộ diện đó là SU-30 một phiên bản nâng cấp toàn diện của SU-27. Loại máy bay chiến đấu đa chức năng thế hệ thứ 4+ này đã kế thừa toàn bộ ưu việt của SU-27, nó có thể tác chiến đối không, đối hải và cả đối đất một cách vượt trội, ngay cả khi có hai chỗ ngồi, SU-30 cũng ngang ngửa với SU-27 một chỗ ngồi về hiệu suất. Năm 2003, hợp đồng 4 chiếc SU-30MK đầu tiên đã được ký kết giữa Việt Nam và Liên bang Nga, biến Việt Nam thành một trong những quốc gia đầu tiên sở hữu dòng chiến đấu cơ đa năng hạng nặng thế hệ thứ 4+ này.

Vậy ngoài những lý do kể trên thì còn những nguyên do nào khiến cho Việt Nam quyết định dốc túi để đem về SU-30.

SU-30 của Việt Nam có gì đặc biệt, số lượng biên chế bây giờ là bao nhiêu và với số lượng biên chế đó có đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa hay không?

Sau khi đưa vào biên chế 12 chiến đấu cơ SU-27 trong giai đoạn từ năm 1995 cho đến năm 1998, vào năm 2003 Việt Nam tiếp tục mua 4 máy bay chiến đấu SU-30MK2 theo hợp đồng trị giá khoảng 120 triệu đô la Mỹ, việc giao hàng hoàn tất trong năm 2004. Đến năm 2009, Việt Nam tiếp tục ký hợp đồng mua 8 chiếc chiến đấu cơ SU-30MK2 với tổng giá trị khoảng 500 triệu đô la Mỹ, các máy bay này chuyển giao cho giai đoạn từ năm 2010 cho đến 2011.

Song song với thương vụ cung cấp SU-30MK2 thứ 2, là hợp đồng 1 tỷ đô la mỹ đặt mua 12 chiếc nữa ký vào năm 2010, Nga đã bàn giao đủ số lượng cho phía Việt Nam vào năm 2012. Những chiếc SU-30MK2 này mặc dù mang màu sơn mới xanh rằn ri lá cây nhưng cấu hình được cho là không thay đổi so với 12 chiếc ban đầu. Sau khi đưa vào biên chế đủ 24 chiếc đấu cơ SU-30MK2, có ý kiến cho rằng Việt Nam sẽ lựa chọn một dòng tiêm kích hạng nặng tiên tiến hơn như SU-35S hoặc là SU-30SM, nhưng rồi có cung cấp 12 chiến đấu cơ SU-30MK2 nữa đã được ký kết vào năm 2013 và Việt Nam nhận đủ số lượng vào cuối 2015. Như vậy, tính đến cuối 2015 không quân Nhân dân Việt Nam đã có trong biên chế tổng cộng 47 chiếc tiêm kích thế hệ thứ 4 và thế hệ thứ 4+ hiện đại, một chiếc SU-27SK bị rơi xuống biển trong một cuộc huấn luyện bay ở Trường sa vào ngày mùng 1 tháng 7 năm 1997.

Từ năm 2013 cho đến nay, Việt Nam không ký kết hợp đồng mua máy bay quân sự mới. Ngày 14 tháng 6 năm 2016, một chiếc SU-30MK2 bị rơi khi thực tập huấn luyện bay, khiến một trong hai phi công tử nạn. Như vậy cho đến nay Việt Nam chỉ còn khoảng 46 chiếc SU-27/30 đang hoạt động, bao gồm 11 Chiếc SU-27 và 35 chiếc SU-30, 35 chiếc SU-30 được biên chế thành 3 Trung đoàn, bố trí tại những vị trí trọng yếu ở ba miền Bắc Trung và Nam để bảo vệ vùng trời và biển đảo của Tổ quốc.

SU-30MK2 là máy bay tiêm kích tầm xa hai động cơ hai chỗ ngồi, có thể hoạt động trên biển trong mọi điều kiện thời tiết và thường được so sánh với loại máy bay F-15E do Mỹ sản xuất, với đơn giá vào khoảng 37,5 triệu đô la Mỹ/chiếc vào năm 2012, chưa bao gồm vũ khí chỉ bằng khoảng 40% so với giá một chiếc F15 của Mỹ. Nó được nâng cấp hệ thống điện tử cho phép hỗ trợ các loại tên lửa chống tàu kiểu mới, loại máy bay này đã được đưa vào sử dụng trong chiến tranh Syria và Ukraina. SU-30 của Việt Nam là SU-30MK2V phiên bản SU-30MK2 xuất khẩu dành riêng cho Việt Nam với những cải tiến phụ và hệ thống điện tử cho phù hợp với nhu cầu tác chiến trên biển nhiệt đới.

SU-30MK2V dài 21,5 m, sải cánh 14 m, chiều cao 6,1 m, tầm bay 3.000km, khi được tiếp nhiên liệu trên không nó có thể bay xa 8.000 km, đạt vận tốc tối đa là Mach 2, tức 2.120km/h, SU-30MK2V có thể cất và hạ cánh trên một đường băng cực ngắn, nó có thể cất cánh trên đường bằng dài 550 m và hạ cánh trên đường băng dài 750 m ở tải trọng vũ khí thông thường, với tải trọng giảm khoảng cách cất cách có thể giảm xuống còn 450 m và hạ cách trên đường bằng dài 650 m. Nói một cách đơn giản thì SU-30 có thể hoàn toàn hạ cánh trên sân bay duy nhất của Việt Nam tại đảo Trường Sa Lớn.

Về thiết kế, SU-30MK2V của Việt Nam vẫn giữ lại hầu hết những đặc điểm thiết kế khí động học của SU-30. Tuy nhiên, thì trọng lượng vũ khí mang theo được nâng lên 12 tấn. Ngoài ra, vật liệu hợp kim nhôm mới cũng được thay thế cho loại hợp kim cũ, sử dụng cho SU-30 để giảm trọng lượng cất cánh, hai đôi lái chính được làm bằng nhiều vật liệu composite sợi carbon hơn với SU-30.

SU-30MK2V dễ dàng chiếm ưu thế trên không và tấn công nhanh mọi mục tiêu trên đất liên và trên biển. Việc được trang bị radar N011 còn giúp SU-30 đảm đương được chức năng của một máy bay cảnh báo sớm. Điều đặc biệt lưu ý là SU-30MK2 mới đã được trang bị động cơ AL-31FP là phiên bản tiên tiến nhất của dòng AL-31F, có lực đẩy lên đến 14.500 kg/, ngang với lực đẩy của 117S AL-41F1S trên SU-35, độ linh hoạt không hề thua kém. Trong không chiến tầm gần, không gian hẹp kết cấu cánh mũi cùng động cơ AL-31FP có điều khiển vectơ định hướng hai chiều, giúp cho SU-30MK2 có vận tốc rất cao khả năng cơ động cực kỳ linh hoạt, đủ khả năng đối phó với những tiêm kích tiên tiến nhất hiện nay trên thế giới kể cả SU-35.

SU-30MK2V có 12 giá treo vũ khí với tải trọng chiến đấu là 10 tấn vũ khí, trong khi tải trọng vũ khí tối đa là 12 tấn, tải trọng chiến đấu là lượng vũ khí tối đa mà máy bay có thể mang theo mà vẫn có thể tác chiến hiệu quả, còn tải trọng tối đa là lượng vũ khí lớn nhất mà máy bay có thể mang theo trong khi cất cánh, nhưng không thể tác chiến hiệu quả do tầm bay bị rút xuống quá ngắn, vũ khí trang bị của SU-30MK2V gồm có:

Thứ nhất là pháo: gồm hai khẩu GSH-30 cỡ nòng 30mm với 150 viên đạn.

Về tên lửa thì gồm rất nhiều loại tên lửa từ không đối không, không đối hải và không đối đất, các tên lửa không đối đất như CAH31 dài 4,7 đến 5,2 m, đường kính 0,36 m, nặng từ 600 đến 610 kg, đầu đạn 100 kg tốc độ đạt Mach: 2,5, tầm bắn từ 200 đến 110 km, loại tên lửa này có đơn giá vào khoảng từ 300.000 đến 500.000 đô la Mỹ/quả tức là từ 7 đến 12 tỷ đồng cho 1 lần bắn; tên lửa dẫn đường đối đất và đối hải như Kh-29, Kh-59ME, loại tên lửa này dài 3,9 đến 5,7 m, đường kính 0,38m, nặng 680 đến 930 kg, đầu đạn 320 kg. tốc độ đạt Mach: 0.8 đến 1,2, tầm bắn từ 10 đến 200 km, tên lửa Kh-29 hay được sử dụng để tấn công các mục tiêu trên chiến trường và cơ sở hạ tầng lớn như các nhà chứa máy bay kiên cố, đường băng bê tông và cầu cảng. Ngoài ra, nó cũng có thể được sử dụng để tấn công các tàu có trọng tải lên đến 10.000 tấn.

Tên lửa Kh-59ME có giá vào khoảng 18 triệu USD/quả tức khoảng 442 tỷ Việt Nam đồng. Các tên lửa không đối không như tên lửa tầm ngắn dẫn đường bằng hồng ngoại Vympel R-73, tên lửa tầm trung dẫn đường bằng radar bán chủ động và hồng ngoại Vympel R-27, tên lửa dẫn đường bằng radar chủ động R-77E, có tầm bắn từ 40 đến 170 km, trọng lượng đầu nổ từ 7,4 đến 39 kg, tốc độ đạt được từ Mach: 2,5 đến 4,5, tức là từ 3.000 đến 5.500 km/h, tên lửa R-77e có giá từ 500 đến 800.000 USD/quả tùy phiên bản.

Cuối cùng là bom. SU-30MK2V còn được trang bị các loại bom dẫn đường bằng laser như KAB-500L và KAB-1500l, KAB-500L có chiều dài khoảng 3,05 m, đường kính 0,35m, sải cánh 0,75 m, trọng lượng 525 kg với đầu đạn nặng khoảng 450 kg, bom có thể được thả từ độ cao 500 đến 5.000m, đầu dò có thể bắt mục tiêu ở cự ly tối đa 17 km với sai số chỉ 7m. Trong khi KAB-1.500L dài 4,28m, đường kính 0,82 m, nặng 1.500 kg là loại bom chuyên phá hầm ngầm và bê tông có thể xuyên sâu 20m đất hoặc 3m bê tông sau đó mới phát nổ, loại bom này khi nổ sẽ tạo ra một cái hố đường kính 20m. Viện nghiên cứu Hòa Bình Quốc tế StockHome cho biết vào năm 2009, Việt Nam đã nhận được 200 quả bom có điều khiển loại KAB-500/1500 để trang bị cho SU-30MK2.

SU-30MK2V là phiên bản đặc biệt được thiết kế dành riêng cho Việt Nam để tác chiến trên biển, với tầm bay trên 3.000 km bao trùm toàn bộ biển Đông, sở hữu những tính năng vượt trội, nó hoàn toàn có thể đáp ứng được nhiệm vụ bảo vệ Trường Sa. Tuy nhiên với số lượng biên chế chỉ khoảng 35 chiếc lại chia làm 3 Trung đoàn tương đương với khoảng 12 chiếc cho mỗi Trung đoàn, nếu gộp cả SU-27 vào thì Việt Nam trung bình có khoảng 16 chiếc SU30/27 trực chiến, số lượng như vậy là tương đối mỏng trong trường hợp có giao tranh xảy ra trên Biển Đông.

Kể từ năm 2015 cho đến nay, đã có rất nhiều đồn đoán về việc Việt Nam mua các máy bay SU-30SM hay là SU-35. Tuy nhiên, chưa có hợp đồng nào được ký kết trong giai đoạn này, mọi đồn đoán bị đánh tan vào năm 2019 với hợp đồng trị giá khoảng 350 triệu USD về việc cung cấp 12 máy bay huấn luyện Yak-130 cho Không quân Việt Nam, tức là đủ một phi đội, 6 chiếc đầu tiên được Nga bàn giao cho Việt Nam vào ngày 13 tháng 11 năm 2021, đây là loại máy bay huấn luyện hiện đại 2 chỗ ngồi. Ngoài ra, nó cũng có thể tác chiến dưới vai trò là tiêm kích đa năng hạng nhẹ, loại máy bay này sẽ giúp huấn luyện các phi công làm quen với các loại máy bay hiện đại thế hệ thứ 5 như Sukhoi T-50, hay gần đây nhất là SU-75 Checkmate của Nga, thậm chí là cả F22 hay F35.

Rất rõ ràng mục tiêu của Việt Nam không chỉ dừng lại ở các dòng máy bay thế hệ thứ 4+ hay 4++ như SU-35, rất có thể trong thời gian tới Không quân Việt Nam sẽ đưa vào biên chế những dòng máy bay chiến đấu cơ thế hệ thứ 5.

BDN

Loading

Views: 0

TQ bắt đầu “hò hét” cho mưu đồ tấn công Đài Loan

Sau Đại hội Đảng, một số quan chức cấp cao của Trung Quốc nhấn mạnh quân đội nước này cần sẵn sàng phòng xung đột tại Eo biển Đài Loan.

Trong bài phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XX Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 10, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chỉ đạo Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) tăng cường huấn luyện, chuẩn bị cho trường hợp xảy ra xung đột.

Trong cuốn sách gồm các bài bình luận chính thức về báo cáo của Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc được xuất bản gần đây, một số lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc cũng cung cấp thêm thông tin, làm rõ về vấn đề trên.

Cụ thể, Thiếu tướng Liu Yantong – người đứng đầu Viện nghiên cứu thuộc Quân ủy Trung ương Trung Quốc, cho rằng PLA cần chuẩn bị sẵn sàng để phản ứng trước can thiệp từ bên ngoài và những sự vụ liên quan tới việc Đài Loan đòi độc lập thông qua phương thức phi hòa bình và các biện pháp cần thiết khác.

PLA cần duy trì trạng thái sẵn sàng cao độ mọi lúc trong tình huống xảy ra xung đột.

Đồng quan điểm trên, ở bài bình luận khác được đăng tải trong cuốn sách, Tướng Xu Qiliang, cựu Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc cho rằng PLA cần kiên quyết nghiền nát nỗ lực của phe ly khai ủng hộ Đài Loan độc lập và những sự can thiệp từ bên ngoài đồng thời chuẩn bị để sẵn sàng nếu xảy ra xung đột ở Eo biển Đài Loan.

“Luôn duy trì trạng thái sẵn sàng cao độ, như mũi tên lắp trên dây cung kéo căng sẵn sàng bắn đi, nhằm đảm bảo binh sĩ sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào”, ông Xu viết.

Ông Xu cũng cho rằng PLA cần phát triển khả năng răn đe chiến lược từ vũ khí hạt nhân cũng như bám sát chiến thuật tập trung phát triển những loại vũ khí, biện pháp đối phó khiến kẻ địch e ngại nhất.

Ông Xu cho rằng an ninh quốc gia của Trung Quốc đang đối mặt với bất ổn gia tăng và nhiều thách thức to lớn đang thay đổi, xáo trộn. Do đó, Trung Quốc cần củng cố năng lực chiến lược để có thể răn đe kẻ địch hiệu quả.

Bên cạnh đó, trong bài phát biểu tại Đại hội Đảng, ông Tập đã cam kết đẩy nhanh nỗ lực xây dựng PLA trở thành quân đội “đẳng cấp thế giới”, cải thiện khả năng bảo vệ chủ quyền đất nước của PLA. Ông Tập cũng yêu cầu PLA xây dựng hệ thống răn đe chiến lược mạnh mẽ, tăng tỷ lệ các lực lượng tác chiến trong những lĩnh vực và hình thức chiến tranh mới, đẩy mạnh phát triển các lực lượng chiến đấu không người lái và thông minh.

Nhận định về lời kêu gọi này của Chủ tịch Tập, ông Xu cho rằng việc sử dụng công nghệ mới trong các cuộc chiến gần đây trên thế giới cho thấy công nghệ đã trở thành yếu tố chính làm thay đổi luật chơi. Điều này đồng nghĩa PLA cần lên kế hoạch một cách hệ thống và tăng tốc phát triển công nghệ chiến lược, hiện đại, mang tính cách mạng.

Trung Quốc coi Đài Loan là một phần lãnh thổ chờ thống nhất, nhất quán với chính sách “Một Trung Quốc”, đề nghị các nước có quan hệ ngoại giao với nước này phải tuân thủ.

Căng thẳng trên Eo biển Đài Loan thời gian qua đã có lúc tăng cao khi Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi tới thăm hòn đảo bất chấp cảnh báo của Trung Quốc, khiến Bắc Kinh thực hiện cuộc tập trận bao quanh hòn đảo.

BDN

Loading

Views: 0

Deutscher Experte: „Die steigende Bedeutung Vietnams macht Vietnam für Deutschland zu einem interessanten Partner“

Um die deutsch-vietnamesischen Beziehung in letzter Zeit zu bewerten, führte der Reporter ein Interview mit Herrn Dr. Daniel Müller – Der Regionalmanager ASEAN der German Asia-Pacific Business Association (OAV).

1. Sehr geehrter Dr. Müller, können Sie uns Ihre Einschätzung über deutsch-vietnamesische Beziehung in letzter Zeit, sowie die Position Vietnams in der gegenwärtigen Asien-Pazifik-Politik der Bundesregierung mitteilen?

In Deutschland findet gerade eine Debatte statt, mit welchen Ländern man in Zukunft vor dem Hintergrund der aktuellen geopolitischen Spannungen stärker kooperieren soll. Hier gehört Vietnam hinzu. Dies hat einmal damit zu tun, dass Deutschland und Vietnam ein hohes gemeinsames Interesse an offenen Märkten sowie an einer liberalen und auf Regeln basierenden Weltwirtschaft haben. Die steigende Bedeutung Vietnams innerhalb der ASEAN-Gruppe macht Vietnam für Deutschland auch zu einem interessanten Partner, mit dem man potenziell Stabilität fördernde Entwicklungen in ganz Südostasien vorantreiben kann. Dabei ist Deutschland generell bestrebt, Vietnam zu einer aktiveren Außenpolitik zu bewegen – mit einem stärkeren Eintreten für das Völkerrecht, einem größeren Engagement in internationalen Organisationen und bei Maßnahmen gegen den Klimawandel. Zum anderen ist Vietnam ein attraktiver wirtschaftlicher Zukunftsmarkt, auf dem es noch viele bislang ungenutzte gemeinsame wirtschaftliche Chancen und Gelegenheiten gibt. Vietnam kann dabei auch einen wichtigen Beitrag zum Ziel einer größeren Diversifizierung der Aktivitäten deutscher Unternehmen in Asien leisten. Aus diesen Gründen hat sich der deutsche Bundeskanzler entschieden, auf seinem Weg zum G20-Gipfel in Bali nach Vietnam zu reisen. 

2. Seitdem EVFTA in Kraft trat, ist deutsch-vietnamesische Handelsaustausch stetig gewachsen. Wie schätzen Sie die deutschen-vietnamesischen Handelsbeziehung in der Zukunft ein?

Es zeigt sich, dass EVFTA schon direkte Beiträge zur weiteren Erhöhung des ohnehin schon seit Jahren kontinuierlich ansteigenden deutsch-vietnamesischen Handelsvolumens erbracht hat. Angesichts der aktuellen Versuche deutscher Unternehmen, ihr Engagement in Vietnam zu erhöhen wie aber auch umgekehrt der Versuch vietnamesischer Unternehmen verstärkt in Deutschland aktiv zu werden, dürfte dieser Wachstumstrend in den Handelsbeziehungen weiter anhalten. Auch sich weiter vertiefende politische Beziehungen zwischen den beiden Ländern dürften hierzu einen förderlichen Beitrag leisten. 

3. Begleitet wurde Herr Bundeskanzler Scholz diesmal von vielen deutschen Großunternehmen. Wie beurteilen Sie das Investitionsumfeld in Vietnam heute? Was wollen deutsche Unternehmen auf dem vietnamesischen Markt? Könnte man jetzt schon auf neue deutsche Investitionswelle in Vietnam spekulieren?

Die deutschen Unternehmen sind einmal an Vietnam als Standort zur Diversifizierung aus China heraus interessiert. Zum anderen möchten sie auch Schritt für Schritt die vielen Potenziale des vietnamesischen Marktes erschließen, etwa in den Bereichen Medizintechnik, Energie, Infrastruktur oder bei der arbeitsintensiven industriellen Fertigung. Was die Neuausrichtung der internationalen Lieferketten mit Vietnam als Sourcingquelle betrifft, könnte Vietnam von diesem Trend profitieren. Andererseits stellen die Lieferkettensorgfaltspflichtengesetze (Supply Chain Law) von Deutschland und künftig auch der EU Vietnam vor Herausforderungen, die dort geforderten Standards zu erfüllen. Perspektivisch dürfte Vietnam auch aus deutscher Sicht als Absatzziel für Konsumprodukte noch stärker in den Fokus rücken. Generell ist zu beachten, dass Investitionsentscheidungen von Unternehmen eher mittelfristig wirksame Projekte sind, die etwas Zeit in Anspruch nehmen. 

4. Trotz globaler Schwierigkeiten der Weltwirtschaft hat Vietnam in letzter Zeit gute Ergebnisse in der Wirtschaft geerntet. Wie bewerten Sie diese Ergebnisse sowie die Führungsrolle der vietnamesischen Regierung?

Es ist bemerkenswert, dass es Vietnam gelingt, sich tendenziell von dem eingetrübten weltwirtschaftlichen Umfeld abzukoppeln. Das vietnamesische Wachstum könnte in 2022 in der Mitte zwischen 7 und 8 % liegen. Die Ursachen hierfür liegen einerseits in positiven Fundamentaldaten wie bspw. einer moderaten Staatsverschuldung. Andererseits wirken anhaltend hohe ausländische Direktinvestitionen und der Aufschwung in Branchen wie Industrie, Bau und Dienstleistungen positiv. Es spielen auch Erholungseffekte in der Industrie eine Rolle, nachdem das BIP-Wachstum in 2021 lediglich bei 2,6 % lag. Die vietnamesische Regierung hat daran sicherlich ihren Anteil, indem sie weiterhin Offenheit und die Bereitschaft zur Liberalisierung und Industrialisierung signalisiert und auch konkrete Maßnahmen ergreift. Mit Blick auf die zweite Hälfte der 2020er Jahre sind aber institutionelle Reformen nötig, die helfen, die wirtschaftliche Effizienz zu erhöhen. 

BND

Loading

Views: 0

Chuyên gia Đức: UNCLOS có vai trò hết sức quan trọng

Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert, chuyên gia nghiên cứu về biển tại Đại học Hamburg (Đức)

Nhân kỷ niệm 40 năm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) ra đời (10/12/1982-10/12/2022), phóng viên đã có buổi phỏng vấn Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert, chuyên gia nghiên cứu về biển tại Đại học Hamburg (Đức) về công ước này.

PV: Thưa Giáo sư Thomas Engelbert, ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa và tầm quan trọng của của UNCLOS 1982 đối với an ninh hàng hải khu vực Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương?

Công ước LHQ về luật biển được kí vào năm 1982 có ý nghĩa rất lớn đối với an ninh hàng hải, không chỉ ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương mà trên cả thế giới. Đây là lần đầu tiên những qui định rõ ràng về các hành xử trên biển được đặt ra. Ví dụ công ước quy định rõ những thực thể nào được gọi là đảo, thực thể nào không phải là đảo; phân biệt đảo đá là gì và tính pháp lí của chúng khác đảo thường như thế nào; định nghĩa các vùng khai thác kinh tế trên biển của quốc gia là gì… Đây là lần đầu tiên các khái niệm này được định nghĩa rõ ràng. Văn bản này cũng quy định các cơ chế pháp lý giải quyết các tranh chấp biên giới trên biển giữa các quốc gia mà không sử dụng bạo lực. Sự ra đời của UNCLOS là một cột mốc quan trọng trong luật quốc tế liên quan đến biển. Trên cơ sở UNCLOS, một số tổ chức quan trọng được thành lập như Tòa án quốc tế về Luật Biển (tại thành phố Hamburg – Đức) hay Tòa Trọng tài thường trực PCA (tại thành phố La hay – Hà Lan). Đây là cơ sở để các quốc gia có biển giải quyết các tranh chấp lãnh thổ một cách hoàn bình.

PV: Được coi là khuôn khổ toàn diện điều chỉnh tất cả các hoạt động trên biển và đại dương, góp phần vào việc bảo đảm an ninh, tự do hàng hải, duy trì hoà bình, ổn định và thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc, theo Giáo sư, UNCLOS đã được áp dụng như thế trong giải quyết các tranh chấp về biển trên thế giới nói chung và tranh chấp ở Biển Đông nói riêng?

Từ khi UNCLOS ra đời, công ước này đã được áp dụng để giải quyết thành công nhiều vụ tranh chấp phức tạp về biển trên thế giới, ví dụ vụ tranh chấp giữa Anh và Mauritius trong việc thành lập khu bảo tồn biển tại khu vực quần đảo Chagos ở Ấn Độ Dương; vụ Nicaragua kiện Colombia ra Tòa án Công lý Quốc tế về phân định chủ quyền các đảo và vùng biển liên quan tại biển Caribe; vụ Timor Leste kiện Australia liên quan đến phân định biên giới biển giữa hai nước…

Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert trả lời phỏng vấn phóng viên

Đối với tranh chấp trên Biển Đông, tháng 1/2013, Philippines đã chính thức kiện Trung Quốc theo Phụ lục VII của UNCLOS. Như vậy, một lần nữa UNCLOS đã được vận dụng để giải quyết tranh chấp về biển giữa các quốc gia. Tháng 7/2016, Tòa trọng tài thường trực PCA đã ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện này, bác bỏ hoàn toàn yêu sách „đường chín đoạn“ của Trung Quốc tại Biển Đông. Quyết định này có ảnh hưởng lâu dài về mặt pháp lí. Theo phán quyết, thứ nhất, yêu sách „đường chín đoạn“ của Trung Quốc không phù hợp với luật quốc tế, không dựa trên bất cứ nền tảng luật pháp nào. Thứ hai, các cấu trúc địa lý trên Biển Đông không phải là các đảo, vì thế chúng không có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí như đảo thông thường. Thứ ba, việc xây dựng căn cứ trên biển, trên cáo đảo đá hay các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã và đang tiến hành gây tổn hại tới môi trường biển và vi phạm UNCLOS. Phán quyết này của Tòa trọng tài thường trực là cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết xung đột trên biển Đông. Tất nhiên việc thực hiện phán quyết phụ thuộc vào các quốc gia liên quan vì không có cơ chế cưỡng chế hiệu quả nào buộc thi hành phán quyết. Trung Quốc vẫn luôn bác bỏ phán quyết và tuyên bố sẽ không chấp nhận bất kỳ hành động nào dựa trên phán quyết này. Tuy nhiên, trong các cuộc đàm phán sau này như đàm phán về bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), phán quyết của Tòa trọng tài PCA vẫn có những ảnh hưởng nhất định. Các nước ASEAN không còn chấp nhận những đòi hỏi chủ quyền vô lý từ Trung Quốc nữa.

PV: Thưa Giáo sư, năm 2022 cũng là năm kỷ niệm 20 năm ký kết Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa, vai trò của DOC trong việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định ở Biển Đông?

Trong bối cảnh Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông COC chưa ra đời, tôi cho rằng DOC có ý nghĩa lớn, là cơ sở pháp lý quan trọng ràng buộc nhất giữa ASEAN và Trung Quốc trong việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực này. Các bên tham gia ký kết DOC nhất trí tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về cách hành xử trên Biển Đông, tôn trọng tự do hàng hải, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực đối với các quốc gia khác, không leo thang căng thẳng làm phức tạp tình hình, sẵn sàng đối thoại để xây dựng Bộ quy tắc ứng xử chung COC. Hiện tại, COC vẫn trong quá trình đàm phán vì các bên vẫn chưa đạt được quan điểm thống nhất về bộ quy tắc này. Nhưng ý nghĩa nằm ở chỗ đàm phán còn tồn tại, tức là Trung Quốc buộc phải ngồi lại cùng các quốc gia ASEAN để xây dựng một cơ chế chung tránh xung đột.  

Mặc dù vậy, thời gian qua Trung Quốc vẫn tiếp tục có các hành động leo thang ở Biển Đông khiến tình hình thêm phức tạp. Vì thế, vấn đề đặt ra là liệu có thể tạo ra áp lực đủ lớn với Trung Quốc trong cuộc đàm phán này hay không? Nếu các quốc gia ASEAN đoàn kết trước những quan điểm và bước đi đơn phương của Trung Quốc, điều này là có thể. Trung Quốc luôn muốn đàm phán với từng quốc gia riêng lẻ về biên giới lãnh thổ, vì các quốc gia Đông Nam Á luôn ở vị thế yếu so với sức mạnh của Trung Quốc. Khi buộc được Trung Quốc phải tham gia vào quá trình đàm phán đa phương thì đó là một thành công của ASEAN, với vai trò một „mỏ neo“ giữ vững sự ổn định trong khu vực Đông Nam Á.

PV: Thưa Giáo sư, nhóm Bạn bè của UNCLOS (UNCLOS Friends Group) được thành lập theo sáng kiến của Đức và Việt Nam, tới nay đã có sự tham gia của 115 nước. Ông đánh giá như thế nào về vai trò của nhóm này trong thực thi UNCLOS, DOC cũng như thúc đẩy đàm phán về Bộ quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC)?

Theo tôi, những sáng kiến và cơ chế hợp tác như nhóm Bạn bè của UNCLOS rất có ý nghĩa và cần thiết trong việc thực thi UNCLOS. Con số 115 quốc gia tham gia nhóm cho tới nay cho thấy điều này. Rõ ràng, các quốc gia đánh giá cao sáng kiến và sẵn sàng tham gia vào nhóm. Về phía Đức, chính phủ Đức luôn nhấn mạnh vai trò của UNCLOS và luật pháp quốc tế nói chung trong giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. Tất cả các quốc gia khác ven biển Đông cũng đều chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp trên biển. Những điều này góp phần gây áp lực nhất định với Trung Quốc, khiến họ phải đàm phán, ví dụ như trong khuôn khổ COC, vì họ luôn coi mình là một cường quốc thiện chí muốn tránh các xung đột quân sự, giải quyết hòa bình tranh chấp với các quốc gia khác.

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư./.

BND

Loading

Views: 0

Vấn đề Biển Đông tiếp tục thu hút sự quan tâm của quốc tế

Giáo sư, Tiến sĩ Eve Wilden – Viện trưởng Viện Á-Phi, Đại học Hamburg, phát biểu tại Hội thảo

Ngày 18/11, Viện Á-Phi thuộc Đại học Hamburg (Đức) đã tổ chức hội thảo quốc tế về các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và vấn đề Biển Đông. Hội thảo cho thấy, những tranh chấp trên Biển Đông tiếp tục thu hút được sự quan tâm lớn của giới chuyên gia và dư luận quốc tế.

Với chủ đề „Các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Biển Đông – Quan điểm từ các khu vực“, hội thảo đã thu hút được sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu từ nhiều quốc gia trên thế giới như Đức, Pháp, Australia, Nhật Bản. Các chuyên gia đã phân tích và đưa ra nhiều nhận định, đánh giá về tình hình chính trị, an ninh khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó trọng tâm là khu vực Biển Đông; đồng thời đề xuất nhiều giải pháp giải quyết xung đột trong khu vực. Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert – chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông tại Đại học Hamburg và Tiến sỹ Gerhard Will, nguyên chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông tại Viện Khoa học và Chính trị Đức (SWP), đồng chủ trì hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Giáo sư, Tiến sĩ Eve Wilden – Viện trưởng Viện Á-Phi, Đại học Hamburg, đánh giá khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chiếm hơn một nửa dân số thế giới, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nhiều tuyến đường biển quan trọng, có ý nghĩa hết sức to lớn đối với nền thương mại toàn cầu và ngày càng trở thành khu vực quan trọng trong việc định hình trật tự thế giới thế kỷ XXI. Nhận thức được tầm quan trọng của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, những năm qua nhiều cường quốc trên thế giới, trong đó có Liên minh châu Âu và nước Đức, đã ban hành các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của riêng mình, đồng thời tăng cường hợp tác và hiện diện trong khu vực. Tuy nhiên những xung đột và tranh chấp dai dẳng, đặc biệt là tranh chấp trên Biển Đông, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn và không dễ giải quyết. Với sự tham gia của các chuyên gia nghiên cứu hàng đầu thế giới, hội thảo sẽ thảo luận và đề xuất các biện pháp góp phần giải quyết xung đột, bảo vệ an ninh, hòa bình và ổn định trong khu vực.

Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert – Viện Á – Phi, Đại học Hamburg, phát biểu tại hội thảo

Trong bài phát biểu của mình, Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert nhận định các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đều cho thấy quan điểm, tầm nhìn và các chính sách lớn của các quốc gia đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – một khu vực phát triển rất năng động những cũng chứa đựng không ít mâu thuẫn, tranh chấp. Riêng tại khu vực Biển Đông, thời gian qua tình hình tiếp tục có nhiều phức tạp. Những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc vẫn tiếp diễn, quá trình quân sự hóa Biển Đông được đẩy nhanh hơn, nguy cơ đụng độ quân sự trực tiếp trên biển luôn tiềm ẩn. Trong khi đó, quá trình đàm phán Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc tiếp tục kéo dài và chưa có đột phá, quan điểm của các bên tham gia đàm phán COC còn khác xa nhau, lòng tin chiến lược giữa các bên chưa được thúc đẩy.

Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với những thách thức chính trị, an ninh gay gắt như hiện nay, Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert cho rằng các quốc gia trong khu vực Biển Đông cần kiềm chế các hành động của mình, tôn trọng luật pháp quốc tế, nỗ lực cùng nhau giải quyết xung đột thông qua các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), đẩy nhanh quá trình đàm phán COC.    

Các chuyên gia tham dự hội thảo đều khẳng định UNCLOS và phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài PCA là những cơ sở pháp lý vững chắc nhất và quan trọng nhất cho việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Các hành vi đơn phương vi phạm luật pháp quốc tế, gây hấn, sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực với các quốc gia khác là không thể chấp nhận được. Chỉ có tích cực đàm phán trên cơ sở luật pháp quốc tế và sự tôn trọng lẫn nhau, tính đến lợi ích hài hòa giữa các bên, đồng thời thúc đẩy niềm tin và tăng cường hợp tác hướng tới tương lai lâu dài, mới là biện pháp tối ưu nhất trong giải quyết xung đột, bảo vệ hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực cũng như trên thế giới.

Tiến sỹ Gerhard Will – nguyên chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông tại Viện Khoa học và Chính trị Đức, phát biểu tại hội thảo

Phát biểu kết luận hội thảo, Tiến sỹ Gerhard Will đánh giá những diễn biến thời gian qua cho thấy các cấu trúc quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị và an ninh, đang thay đổi nhanh chóng. Các cấu trúc cũ đang mất đi ý nghĩa và vai trò trước đây của chúng, trong khi các cấu trúc mới đang dần hình thành. Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ngày càng thể hiện tầm quan trọng và được cả thế giới quan tâm nhiều hơn, một loạt các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương lần lượt được ban hành trong những năm gần đây cho thấy rõ điều đó. Trong khu vực này, một trong những xung đột trọng tâm là tranh chấp trên Biển Đông. Việc tôn trọng luật pháp quốc tế, nỗ lực giải quyết hòa bình các tranh chấp này không chỉ có ý nghĩa đối với khu vực mà còn với cả thế giới./.

BND

Loading

Views: 0

Cuộc chiến bảo vệ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa năm 1974

Ngày 13 tháng 7 năm 1971, tại Hội nghị ASPECT Malina, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Lắm tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Bốn chiến hạm của hải quân Việt Nam cộng hòa tham dự trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974.

Từ năm 1971 đến năm 1973, Philippines đưa quân chiếm đóng 5 đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Ngày 11 tháng 1 năm 1974, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra tuyên bố tái khẳng định các yêu sách đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó họ bắt đầu đưa quân đổ bộ lên các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, Duy Mộng do quân đội Việt Nam Cộng hòa đang đóng giữ.

Ngày 18 tháng 1 năm 1974, tàu chiến Trung Quốc bắt đầu khiêu khích, thậm chí còn đâm thẳng vào tàu chiến của Hải quân Việt Nam Cộng hòa đang bảo vệ các đảo thuộc chủ quyền của mình.

10 giờ 20 phút sáng ngày 19 tháng 1 năm 1974, tàu chiến Trung Quốc nã pháo tấn công tàu Trần Khánh Dư mang số hiệu HQ-04 của Việt Nam Cộng hòa và bị chống trả quyết liệt. Do bị Trung Quốc tấn công trước trong bối cảnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa đang gắp rất nhiều khó khăn nên không được ứng cứu tàu Trần Khánh Dư đã bị thất bị. Quân Trung Quốc nhanh chóng chiếm cụm đảo phía Tây và chỉ trong ngày hôm sau 20-1-1974 đã đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngay từ khi chiến sự đang diễn ra, ngày 19 tháng 4 năm 1974, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã ra tuyến bố số 015/BNG/TTBC/TT khẳng định “Việc Trung Cộng (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) ngày nay xâm phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa không những chỉ đe dọa chủ quyền và an ninh của Việt Nam Cộng hòa mà còn là một hiểm họa đối với nền hòa bình và ổn cố của Đông Nam Á và toàn thế giới… Việt Nam Cộng hòa kêu gọi toàn thế giới hãy kiên quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo của Trung Cộng nhằm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó.

Ngày 20 tháng 1 năm 1974, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã điện cho Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc yêu cầu mở cuộc họp khẩn để xem xét việc Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. Tiếc rằng Hội đồng Bảo an đã không xem xét yêu cầu này.

Cũng trong ngày 20 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyến bố phản đối hành động Trung Quốc dùng vũ lực thôn tính toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngày 22 tháng 1 năm 1974, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu gửi thư cho Tổng thống Mỹ Rachard Nixon. Trong thư, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khẩn thiết kêu gọi chính phủ Mỹ hết lòng giúp đỡ “để đưa đến sự phục hồi nguyên trạng và dàn xếp êm đẹp việc tranh chấp quốc tế trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Những Nixon tỏ ra không quan tâm và quyết định không can thiệp để có thể chặn đứng cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc.

Ngày 22 tháng 7 năm 1974, kỳ họp thứ hai Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc và Luật Biển tổ chức tại Caraces (Venezuela), đại biểu Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng tố cáo Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bằng vũ lực và khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam, chủ quyền của Việt Nam ở trên hai quần đảo này là hoàn toàn tuyệt đối, không thể tranh chấp.

BDN

Loading

Views: 0

Tổng thống Mỹ không dự APEC, có phải Mỹ đang nhường ‘sân’ cho TQ?

Về việc Tổng thống Mỹ Joe Biden không tham dự APEC mà cử Phó Tổng thống Kamala Harris, tạp chí kinh tế Handelsblatt của Đức cho rằng đây là “sai lầm” của Mỹ.

Theo tạp chí này, Tổng thống Joe Biden không tham dự Hội nghị kinh tế lớn nhất khu vực Thái Bình Dương vì lý do cá nhân. Tuy nhiên, động thái của ông lại tạo cơ hội lớn để Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình “chiếm lĩnh sân khấu”. Điều này đã thu hút sự chú ý tại Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC.
Trong Hội nghị này, nhà lãnh đạo Trung Quốc mong muốn tìm cách mở rộng hơn nữa ảnh hưởng kinh tế của đất nước trong khu vực. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết, việc Chủ tịch Tập Cận Bình tham dự Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC nhấn mạnh tầm quan trọng của Trung Quốc trong hợp tác kinh tế khu vực.

Trước tình hình bất ổn toàn cầu ngày càng gia tăng, nhà lãnh đạo Trung Quốc tận dụng cơ hội này để trình bày các ý tưởng về “thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực và toàn cầu”.

“Một sai lầm không đáng có”

Chuyên gia về châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế của Mỹ ông Matthew Goodman nhận xét: Việc Tổng thống Mỹ không tham dự Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC là một sai lầm không đáng có.

Chuyên gia Goodman cho rằng lẽ ra Tổng thống Biden nên có mặt ít nhất vài giờ tại Hội nghị “để cho toàn khu vực này thấy rằng ông quan tâm tới khu vực”. Thực tế, Tổng thống Biden không phải đi quá xa để thực hiện điều này, vì chuyến bay từ đảo du lịch Bali của Indonesia, nơi ông vừa tham dự Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20), đến Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC ở thủ đô của Thái Lan, chỉ mất 4 giờ đồng hồ.

Việc nhà lãnh đạo Mỹ từ chối tham dự hội nghị này cũng gây bất ngờ bởi chính Mỹ sẽ là chủ nhà APEC và sẽ chủ trì tổ chức Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC vào năm tới. Thay vì Tổng thống Biden, Phó Tổng thống Kamala Harris tham dự Hội nghị. Bà có một bài phát biểu trước công chúng bên lề Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC nhằm thúc đẩy tầm nhìn của Mỹ trong khu vực.

Truyền thông Mỹ dẫn lời một quan chức nước này cho biết, Phó Tổng thống Harris muốn chứng minh rằng “đối với các nền kinh tế và doanh nghiệp ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, không có đối tác nào tốt hơn Mỹ”.

Ngoài ra, bà muốn tập trung vào sáng kiến Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vì sự thịnh vượng (IPEF) mà Mỹ đã đưa ra hồi đầu năm nay. Sáng kiến này là nỗ lực chính của Mỹ nhằm tăng cường quan hệ kinh tế với châu Á.

13 quốc gia, trong đó có Nhật Bản, Australia, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam, đã tham gia sáng kiến. Một trong những mục tiêu của sáng kiến này là cải thiện hợp tác trong chuỗi cung ứng công nghệ và tạo thuận lợi cho thương mại kỹ thuật số.
Tuy nhiên, IPEF không thể cung cấp cho các đối tác Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương quyền tiếp cận miễn thuế vào thị trường Mỹ. Do đó, lợi ích kinh tế cho các quốc gia tham gia sẽ bị hạn chế rất nhiều. Trung Quốc chi phối chính sách thương mại tại châu ÁTrong khi đó, Trung Quốc đã chi phối chính sách thương mại trong khu vực châu Á kể từ khi Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) dưới thời cựu Tổng thống Donald Trump, sau này là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Vào đầu năm nay, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), bao gồm Trung Quốc và các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Australia, New Zealand, Nhật Bản và Hàn Quốc, đã có hiệu lực. Hiệp định này bao phủ tới 1/3 tổng sản lượng kinh tế toàn cầu và là hiệp định thương mại tự do lớn nhất trên thế giới.

Đối với các nước Đông Nam Á, Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất. Trước những căng thẳng ngày càng tăng với Mỹ, chính phủ Trung Quốc cũng muốn mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế với các nước láng giềng ở phía Nam của mình.

Hồi tháng Chín vừa qua, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố rằng đang làm việc với “Phiên bản 3.0” của thỏa thuận thương mại tự do với khu vực. Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa được tổ chức cuối tuần qua tại thủ đô Phnom Penh, Campuchia, Thủ tướng Lý Khắc Cường khẳng định ý định tăng cường hợp tác với Đông Nam Á trong các lĩnh vực thương mại, công nghiệp hóa và kinh tế kỹ thuật số của Trung Quốc.

Tổng thống Biden cũng tham dự Hội nghị ở Phnom Penh. Ông cam kết hợp tác chặt chẽ hơn với các nước ASEAN. Mối quan hệ giữa ASEAN và Mỹ đã chính thức được nâng lên thành “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” – cùng cấp độ ngoại giao mà lâu nay Trung Quốc đã duy trì với khu vực này.

Tổng thống Biden cam kết: “ASEAN là trung tâm trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của chính quyền tôi”. Tuy nhiên, điều gây chú ý nhiều nhất trong tuyên bố này không phải là động thái “quyến rũ ngoại giao” của Mỹ, mà là nơi đưa ra lời tuyên bố.

Thay vì tại Campuchia, nhà lãnh đạo 79 tuổi của Mỹ lại chọn Colombia – quốc gia ở bên kia địa cầu, làm nơi thể hiện bài phát biểu của mình.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ công khai nội dung đàm phán cấp cao Mỹ – Nga

Người phát ngôn Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ cho biết quan chức hàng đầu của Mỹ và Nga đã gặp nhau để thảo luận về việc tránh “tính toán sai lầm”.

Hôm 15/11, trả lời phỏng vấn Bloomberg, người phát ngôn Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ John Kirby nói rằng cuộc gặp không báo trước gần đây giữa quan chức hàng đầu của Nga và Mỹ tại Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ nhằm duy trì đối thoại giữa hai cường quốc.

“Đây thực sự là về việc đảm bảo cho các kênh liên lạc mở với Nga về các vấn đề ảnh hưởng đến tương lai an ninh của cả hai nước”, người phát ngôn Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ John Kirby nói.

Theo ông John Kirby, cuộc gặp giữa Giám đốc Cơ quan Tình báo đối ngoại (SVR) Sergei Naryshkin và Giám đốc Cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA) Bill Burns là “việc duy trì kênh liên lạc thông thường” mà Washington có với Moskva ở các cấp độ khác nhau. 

Người phát ngôn John Kirby cho hay, trong những tuần gần đây, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mark Milley đã điện đàm với những người đồng cấp Nga. Ông nhấn mạnh, thông qua đối thoại ở các cấp độ này, Mỹ đang đảm bảo “sẽ không có bất kỳ tính toán sai lầm nào” trong quan hệ với Nga.

Ông John Kirby không cho biết liệu hai bên thảo luận về các công dân Mỹ bị Nga giam giữ hay không, đồng thời lưu ý rằng ông không có mặt tại cuộc họp. “Mục đích chính là để nói về các vấn đề xung quanh sự ổn định chiến lược”, John Kirby nói.

Trước đó, Nhà Trắng cho biết cuộc đàm phán ở Ankara không liên quan đến cuộc xung đột ở Ukraine mà chỉ xoay quanh vấn đề vũ khí hạt nhân và các công dân Mỹ bị giam giữ ở Nga. Trong khi đó, Moskva xác nhận cuộc đàm phán đã diễn ra, nhưng từ chối cung cấp thông tin chi tiết.

BDN

Loading

Views: 0

Nội dung chính trong cuộc gặp mặt 2 lãnh đạo Mỹ – Trung

Sau ba giờ đối thoại vào tối 14.11, cuộc hội đàm giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bali, Indonesia bên lề Hội nghị cấp cao nhóm G20 đã kết thúc.

Tổng thống Mỹ Joe Biden tối 14.11 đã có cuộc hội đàm trực tiếp đầu tiên với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kể từ khi ông Biden nhậm chức tổng thống vào năm 2021 dù hai bên đã 5 lần điện đàm hoặc họp trực tuyến trong khoảng thời gian đó. Đây cũng là cuộc gặp đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo kể từ năm 2015.


Đối thoại thẳng thắn

Sau cuộc gặp kéo dài 3 giờ giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Nhà Trắng đã đưa ra thông cáo về cuộc hội đàm. Theo đó, Tổng thống Biden nói với Chủ tịch Tập rằng Mỹ sẽ tiếp tục cạnh tranh với Trung Quốc, bao gồm đầu tư vào các nguồn lực trong nước, gắn kết các nỗ lực với đồng minh và đối tác trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, người đứng đầu Nhà Trắng lưu ý rằng hai bên phải quản lý để cuộc cạnh tranh không biến thành xung đột và duy trì các đường dây liên lạc. Hai nhà lãnh đạo đã thảo luận về tầm quan trọng của việc phát triển các nguyên tắc thúc đẩy những mục tiêu này và giao nhiệm vụ cho các nhóm làm việc thảo luận thêm.
Ông Biden nhấn mạnh Mỹ và Trung Quốc phải cùng nhau giải quyết các vấn đề xuyên quốc gia, bao gồm biến đổi khí hậu, ổn định kinh tế vĩ mô toàn cầu, an ninh y tế và an ninh lương thực toàn cầu, vì đây là điều cộng đồng quốc tế mong đợi. Hai bên còn hoan nghênh những nỗ lực không ngừng nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể trong quan hệ song phương Mỹ – Trung.

Trong khi đó, thông cáo Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra sau cuộc họp cho biết hai bên đã có cuộc trao đổi thẳng thắn và sâu sắc về các vấn đề chiến lược quan trọng trong quan hệ song phương cũng như các vấn đề toàn cầu.

Trung Quốc khẳng định thế giới đủ rộng để Mỹ – Trung cùng tồn tại và thịnh vượng, đồng thời nói rằng hai nước nên hình thành nhận thức đúng đắn về các chính sách đối nội, đối ngoại và các ý định chiến lược của nhau. “Trung Quốc không tìm cách thay đổi trật tự quốc tế hiện có hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của Mỹ, và không có ý định thách thức hoặc thay thế Mỹ”, theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

Hai nhà lãnh đạo nhất trí rằng Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken sẽ có chuyến thăm Trung Quốc để tiếp tục các cuộc đối thoại giữa hai bên.


Đài Loan là lằn ranh đỏ

Về vấn đề Đài Loan, Tổng thống Biden cho biết chính sách một Trung Quốc của Mỹ không thay đổi. Tuy nhiên, Washington phản đối bất kỳ sự thay đổi đơn phương nào đối với hiện trạng, đồng thời khẳng định duy trì hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan là lợi ích của thế giới. Ông Biden cũng phản đối các hành động của Trung Quốc đối với Đài Loan, cho rằng các động thái này làm suy yếu hòa bình, ổn định trên eo biển Đài Loan và trong khu vực, đồng thời gây nguy hiểm cho sự thịnh vượng toàn cầu.

Tổng thống Biden cũng nêu lên quan ngại về các hoạt động kinh tế phi thị trường của Trung Quốc, gây tổn hại đến công nhân và gia đình Mỹ cũng như công nhân và gia đình trên khắp thế giới.

Trong khi đó, Chủ tịch Tập nhấn mạnh rằng vấn đề Đài Loan là cốt lõi trong các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, là nền tảng chính trị và là lằn ranh đỏ đầu tiên không được vượt qua trong quan hệ Mỹ – Trung. “Nguyện vọng chung của nhân dân và đất nước Trung Quốc là thực hiện thống nhất đất nước và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Bất cứ ai tìm cách tách Đài Loan khỏi Trung Quốc sẽ vi phạm lợi ích cơ bản của Trung Quốc. Người dân Trung Quốc tuyệt đối sẽ không để điều đó xảy ra!”, thông cáo của Trung Quốc cho biết.

Theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Tổng thống Biden trong hội đàm đã nhiều lần nói rằng Mỹ không ủng hộ “Đài Loan độc lập” và không có ý định sử dụng Đài Loan như một công cụ để tìm kiếm lợi thế trong cạnh tranh với Trung Quốc hoặc kiềm chế Trung Quốc. “Chúng tôi hy vọng rằng Mỹ sẽ hành động để lời đảm bảo này có hiệu lực thực sự”, theo thông cáo của Trung Quốc.


Vấn đề hạt nhân và Ukraine

Nhà Trắng cho biết Tổng thống Biden đã nói đến hoạt động quân sự của Nga tại Ukraine và những lời đe dọa sử dụng hạt nhân của Nga. Hai bên cũng nhắc lại thỏa thuận chung về việc ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, đồng thời phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân ở Ukraine.

Tuy nhiên, vấn đề hạt nhân không được đề cập trong thông cáo của Trung Quốc. Thay vào đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết ông Tập rất quan ngại về tình hình hiện tại ở Ukraine, ủng hộ hòa bình và sẽ tiếp tục khuyến khích các cuộc đàm phán hòa bình. “Chúng tôi ủng hộ và mong muốn các cuộc đàm phán hòa bình giữa Nga và Ukraine được nối lại. Đồng thời, chúng tôi hy vọng rằng Mỹ, NATO và EU sẽ tiến hành các cuộc đối thoại toàn diện với Nga”, ông Tập nói với ông Biden.

Nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng liệt kê các bước mà cộng đồng quốc tế cần thực hiện để giải quyết cuộc khủng hoảng, đồng thời kêu gọi “phải tránh đối đầu giữa các nước lớn”.

Tổng thống Biden cũng nêu quan ngại về các hoạt động của CHDCND Triều Tiên, lưu ý rằng tất cả thành viên của cộng đồng quốc tế đều quan tâm đến việc khuyến khích Bình Nhưỡng hành động có trách nhiệm. Ông Biden còn nhấn mạnh cam kết chặt chẽ của trong việc bảo vệ các đồng minh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Một lần nữa, vấn đề này không được Trung Quốc nhắc đến trong thông cáo.

BDN

Loading

Views: 2

Cuộc chơi mới của Mỹ với TQ

Chương trình lớn tiếp theo của Bắc Kinh sẽ gia tăng áp lực chọn phe và hợp lý hóa cuộc chiến Ukraine.

Bài phát biểu dài gần hai giờ của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trước hơn 2.000 đại biểu tại Đại hội Đảng Cộng sản năm nay chứa đầy những điệp khúc quen thuộc. Tuy nhiên, lần đầu tiên báo cáo công tác đề cập đến Sáng kiến An ninh Toàn cầu (GSI), báo hiệu một chủ đề quan trọng trong nhiệm kỳ thứ ba chưa từng có tiền lệ của ông.

“Một nhà triết học Trung Quốc cổ đại đã nhận xét rằng ‘các sinh vật khác nhau có thể cùng tồn tại mà không gây hại cho nhau, và các con đường khác nhau có thể chạy song song mà không ảnh hưởng đến nhau,” Tập nói trong báo cáo của mình. “Chỉ khi tất cả các quốc gia cùng theo đuổi lợi ích chung, chung sống hòa thuận và hợp tác vì lợi ích chung, thì mới có thịnh vượng bền vững và an ninh mới được đảm bảo.”

Theo Tập, “dựa trên tinh thần này,” Trung Quốc đã đề xuất GSI.

Nhưng GSI là gì?

Cũng như các chương trình toàn cầu khác của Trung Quốc – Sáng kiến Vành đai và Con đường để xây dựng cơ sở hạ tầng, và Sáng kiến Phát triển Toàn cầu để giúp các quốc gia mới nổi đối phó với đói nghèo và các thách thức khác – GSI được mô tả rườm rà nhưng lại thiếu các chi tiết cụ thể. Khi công bố sáng kiến này tại Diễn đàn Bát Ngao ở Thượng Hải hồi tháng 4, Tập cho biết GSI sẽ cung cấp một khuôn khổ những nguyên tắc cho các vấn đề toàn cầu và ngoại giao, nhằm giúp thế giới trở thành một nơi an toàn hơn.

Trên các phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc, GSI được mô tả là “một hàng hóa công toàn cầu khác do Trung Quốc cung cấp,” thứ sẽ “mang đến giải pháp và trí tuệ của người Trung Quốc để giải quyết các thách thức an ninh mà nhân loại đang phải đối mặt.” Trong khuôn khổ GSI, các nhà lãnh đạo và ngoại giao Trung Quốc sẽ đề cập đến các vấn đề an ninh theo nghĩa rộng nhất – không chỉ là quốc phòng mà còn là lương thực, khí hậu, chuỗi cung ứng, internet, thương mại và năng lượng.

Các chuyên gia tin rằng dù sáng kiến mới còn rất mơ hồ, nhưng nó không phải là không quan trọng.

Jacob Stokes, nghiên cứu viên cấp cao của Chương trình An ninh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Mỹ Mới, nhận định rằng: Đối với châu Á, “đây thực chất là việc đề xuất một kiến trúc an ninh thay thế tại khu vực, một hệ thống khác với hệ thống truyền thống, hay hệ thống liên minh và đối tác của Mỹ hậu Thế chiến 2.”

Các chuyên gia tin rằng Bắc Kinh đang hướng đến việc chính thức hóa các nỗ lực và các mối quan hệ liên quan đến an ninh mà họ đã theo đuổi trong nhiều năm qua thành một khái niệm duy nhất. Không chỉ vậy, các học giả còn coi GSI là sự phản ánh cách Tập Cận Bình và cấp dưới của ông nhìn nhận thế giới.

Theo quan điểm của Trung Quốc, “hiện có một mối quan ngại lớn là thế giới không được an toàn,” Henry Wang, giám đốc Trung tâm Trung Quốc và Toàn cầu hóa có trụ sở ở Bắc Kinh cho biết.

Nhiều quốc gia, bao gồm cả Mỹ, chắc chắn sẽ đồng ý với quan điểm này. Sự khác biệt nằm ở chỗ ai là người chịu trách nhiệm cho sự bất ổn đó và phải làm gì với nó.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã gọi Trung Quốc là “thách thức lâu dài nghiêm trọng nhất đối với trật tự quốc tế.” Về phần mình, Trung Quốc lại cho rằng chính Mỹ và các đồng minh mới là “kẻ gây ra bất ổn.” Và dường như họ đang có ý định sử dụng GSI để truyền bá quan điểm này ra khắp khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và xa hơn là châu Phi và Nam Mỹ.

Dù chỉ mới được đặt tên gần đây, nhưng ý tưởng về GSI đã có nền móng từ nhiều năm trước, khi Bắc Kinh tìm cách tạo ra một “cộng đồng chung vận mệnh,” lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào trước đại hội đảng năm 2012.

“Họ đã cẩn thận xây dựng trật tự cơ bản mới của châu Á, tiếp đến là trật tự toàn cầu. Ngay từ thời điểm đó, họ đã đặt ra các nguyên tắc cơ bản, rồi mới bổ sung thêm các chi tiết khi quá trình tiếp tục,” David Arase, giáo sư chính trị quốc tế tại Trung tâm Hopkins-Nam Kinh, thuộc Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp thuộc Đại học Johns Hopkins, nhận xét.

Giờ đây, Bắc Kinh đã xác định rõ “sáu cam kết,” như Ngoại trưởng Vương Nghị giải thích hồi tháng 4. Chúng bao gồm: cam kết đảm bảo an ninh toàn diện, hợp tác, và bền vững; tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia; tuân thủ Hiến chương Liên Hiệp Quốc; nghiêm túc công nhận các mối quan ngại an ninh chính đáng của tất cả các quốc gia; giải quyết tranh chấp một cách hòa bình thông qua đối thoại; duy trì an ninh trong các lĩnh vực truyền thống và phi truyền thống.

Tất cả những điều này, theo Vương, “sẽ cải thiện và thậm chí vượt xa lý thuyết an ninh địa chính trị của phương Tây.”

Việc Bắc Kinh ủng hộ Nga và từ chối lên án cuộc xâm lược Ukraine dường như mâu thuẫn với một vài trong số các cam kết này. Nhưng trong khuôn khổ sáu cam kết, Trung Quốc cũng thúc đẩy khái niệm “an ninh không tách rời” (indivisible security).

Vương nói, “An ninh của một quốc gia không nên được trả với cái giá là an ninh của những quốc gia khác, và an ninh của một khu vực không thể được đảm bảo bằng cách tăng cường hoặc thậm chí mở rộng các khối quân sự.”

Điều này phù hợp với lời biện minh của Nga cho cuộc chiến. Thật vậy, chính Putin đã sử dụng thuật ngữ “an ninh không tách rời” trong bài phát biểu thông báo về cuộc xâm lược hồi tháng 2. Các chuyên gia ngoại giao cho rằng, GSI giúp Trung Quốc chính danh hóa lập luận rằng Mỹ và NATO chính là kẻ đã kích động cuộc chiến ở Ukraine.

Bắc Kinh đang tìm kiếm sự ủng hộ ở khắp mọi nơi, khai thác sự bất mãn âm ỉ đối với hệ thống quản trị toàn cầu. Tại hội nghị thượng đỉnh BRICS vào tháng 6, Tập đã kêu gọi những người đồng cấp Brazil, Nga, Ấn Độ và Nam Phi cộng tác với Trung Quốc “để vận hành GSI, mang lại sự ổn định và năng lượng tích cực hơn cho thế giới.”

Theo các bài báo của Trung Quốc, vào tháng trước, Vương Nghị đã nhận được phản hồi tích cực từ Ngoại trưởng Uruguay, người cho biết GSI “cực kỳ nhất quán” với triết lý chính sách đối ngoại của đất nước ông, và từ Ngoại trưởng Nicaragua, người cho biết đất nước ông muốn tham gia sáng kiến này.

Các đại sứ Trung Quốc cũng xuất hiện trên báo chí địa phương để ủng hộ GSI, từ Sunday Nation của Kenya đến Solomon Star của Quần đảo Solomon, mô tả GSI như “một khái niệm an ninh mới có thể thay thế sự đối đầu và tư duy trò chơi có tổng bằng không bằng đối thoại, quan hệ đối tác, và kết quả đôi bên cùng có lợi.”

Một xu hướng mà các nhà quan sát Trung Quốc tiên đoán sẽ xuất hiện trong khuôn khổ GSI là sự phổ biến của các hoạt động chấp pháp và an ninh theo kiểu Trung Quốc.

Vào tháng 10, một nhóm gồm 32 sĩ quan cảnh sát từ Quần đảo Solomon đã bay đến Trung Quốc để học các kỹ thuật trị an. Trung Quốc cũng cho biết họ sẽ xây dựng một khu huấn luyện của lực lượng chấp pháp ở Tajikistan, sau khi Tập đề nghị đào tạo hàng nghìn sĩ quan và thành lập căn cứ hướng dẫn chống khủng bố cho các quốc gia thành viên của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải.

Trung Quốc cũng đang xuất khẩu thiết bị mà họ sử dụng để giám sát và kiểm soát dân số của mình, làm dấy lên lo ngại rằng các chính phủ khác có thể tái tạo hình thức đàn áp và giám sát đã được chứng kiến ở những nơi như Tân Cương và Hong Kong.

Hơn 3 triệu camera an ninh do công ty Hikvision của Trung Quốc cung cấp đang được kết nối Internet 24/7 tại 33.000 thành phố trên thế giới. Trong khi đó, các công ty Trung Quốc khác như Huawei đã cung cấp các gói sản phẩm “thành phố thông minh” tại hơn 160 quốc gia và khu vực.

Stokes nhận định, “Điều cốt lõi là sử dụng những công cụ đó cùng với bộ máy an ninh của nhà nước để đảm bảo an ninh và sự ổn định của các chế độ.”

Ông nói thêm, một mục tiêu khác của GSI là tạo ra lá chắn chống lại các lệnh trừng phạt. Trung Quốc luôn kịch liệt phản đối việc các nước phương Tây sử dụng các hình phạt kiểu này. Và sau khi cuộc xâm lược Ukraine kích hoạt một loạt các biện pháp trừng phạt chống lại Nga, Bắc Kinh đã cẩn trọng hơn và muốn làm cho nền kinh tế của mình bền bỉ hơn.

Dù GSI vẫn còn sơ khai, Manoj Kewalramani, giám đốc điều hành Chương trình Nghiên cứu Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tại Viện Takshashila ở Ấn Độ, dự đoán Trung Quốc sẽ tìm cách tăng cường an ninh tài chính. Đồng thời, ông cũng cho rằng GSI còn liên quan đến một số lĩnh vực khác. “Bất cứ điều gì liên quan đến an ninh lương thực, bất kỳ loại hình thỏa thuận nào mà [Trung Quốc] có thể đạt được, cho dù đó là về đất đai hay hạt giống – bất kỳ thỏa thuận hợp tác nào trong số đó,” ông nói. “Một lĩnh vực khác nữa là năng lượng.”

Trung Quốc đã bao hàm mọi thứ trong khái niệm “an ninh quốc gia toàn diện” – gồm kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, an ninh mạng, môi trường, tài nguyên, công nghệ hạt nhân và các lợi ích ở nước ngoài. “Họ đang xuất khẩu tầm nhìn đó, rằng mọi thứ phải được nhìn nhận qua lăng kính an ninh hóa,” Kewalramani nói.

Chẳng hạn, Trung Quốc “sẽ không nhìn quản trị không gian mạng từ góc độ quyền cá nhân, quyền riêng tư, chia sẻ dữ liệu, quyền doanh nghiệp,” ông nhận xét. “Về cơ bản, họ đang nói rằng đây là vấn đề thuộc về chủ quyền.”

Kewalramani tin rằng, qua các lý lẽ và lập luận này, Bắc Kinh đang tìm cách thiết lập các chuẩn mực mới và áp dụng bộ máy an ninh quốc gia đối nội của mình vào chính sách đối ngoại.

Các mối quan hệ ngoại giao phức tạp của Trung Quốc, đặc biệt là đối với các nước láng giềng, có thể khiến GSI trở thành một ý tưởng khó quảng bá. Bắc Kinh đang vướng vào các tranh chấp lãnh thổ với một số quốc gia Đông Nam Á ở Biển Đông. Còn Mỹ lại có một mạng lưới quan hệ quân sự rộng lớn và sẽ không dễ gì bị phá bỏ. Nhiều quốc gia trong khu vực có thể tỏ ra e ngại trước phản ứng hung hăng của Trung Quốc đối với chuyến thăm Đài Loan của Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi hồi tháng 8, vốn bị Bắc Kinh đáp trả bằng các cuộc tập trận quân sự chưa từng có.

Tiếp đến là vấn đề Ấn Độ.

Kewalramani nói, “Bắc Kinh luôn coi Ấn Độ là một mối đe dọa – không phải mối đe dọa đến sự sống còn, mà là mối đe dọa theo kiểu một kẻ phá hoại tiềm năng trong khu vực, có thể dẫn đến sự kiềm chế Trung Quốc.”

Tuy nhiên, một Trung Quốc ngày càng tự tin sẽ thúc đẩy quan điểm thay thế của riêng mình. Các nhà phân tích chính trị cho rằng những lập luận của Trung Quốc và hành vi ác quỷ hóa nước Mỹ không nên bị coi là những khẩu hiệu sáo rỗng.

Arase của Trung tâm Hopkins-Nam Kinh nhận xét, “Nếu bạn xem xét các mối quan hệ quốc phòng và an ninh, hợp tác của Mỹ ở khu vực [Châu Á], chúng rất toàn diện. Rõ ràng là, về mặt chiến lược hoặc an ninh, khu vực vẫn tin tưởng Mỹ nhiều hơn tin tưởng Trung Quốc. Nhưng bạn sẽ không biết được điều đó nếu chỉ nghe những gì Trung Quốc nói về GSI.”

Ông cho rằng điều nguy hiểm là khi luận điệu đó không được phản hồi. Phần lớn thế giới đều biết là Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, nhưng “thực sự có một khoảng trống, hoặc sự thiếu hụt, các lập luận phản biện, một phần vì không ai muốn đặt câu hỏi về lập luận của Trung Quốc,” Arase nói thêm.

Khi sự khác biệt Mỹ-Trung ngày càng mở rộng, nhiều quốc gia đã cảm thấy mình buộc phải chọn phe. GSI có thể làm tăng áp lực đó khi Bắc Kinh yêu cầu những quốc gia khác phải tuân theo thế giới quan của họ.

“Trong hai, ba, bốn năm tới, nhiều khả năng sự lựa chọn của các quốc gia trong khu vực sẽ bị hạn chế hơn rất nhiều,” Kewalramani nói. “Tôi nghĩ sẽ hữu ích cho họ khi có những cuộc thảo luận trong nước và thảo luận với nhau, để xác định xem điều đó sẽ có ý nghĩa như thế nào đối với lựa chọn của họ trong tương lai.”

BDN

Loading

Views: 0

ASEAN- Mỹ đã giải quyết được những vấn đề lớn nhất

Ông Biden hôm 12/11 ca ngợi việc nâng cấp quan hệ ASEAN-Mỹ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện là bước quan trọng để giải quyết “những vấn đề lớn nhất của thời đại”.

“Cùng nhau, chúng ta sẽ giải quyết các vấn đề lớn nhất của thời đại, từ khí hậu, đến an ninh, y tế, chống lại mối đe dọa đáng kể đối với trật tự dựa trên luật lệ”, Tổng thống Mỹ Joe Biden nói tại cuộc họp ở Campuchia với các nhà lãnh đạo Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Trong chuyến thăm đầu tiên tới Đông Nam Á trên cương vị tổng thống Mỹ, ông Joe Biden nhấn mạnh khu vực ASEAN là trọng tâm trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ. Ông khẳng định Washington có cam kết về nguồn lực, chứ không chỉ là lời nói suông, trong khuôn khổ Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện mới giữa ASEAN và Mỹ. 

“Chúng ta sẽ xây dựng một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở, ổn định và thịnh vượng, kiên cường và an toàn”, ông nói thêm.

Ngày 12/11, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN – Mỹ lần thứ 10 diễn ra ở Campuchia, các lãnh đạo ASEAN và Mỹ đã nhất trí nâng cấp quan hệ thành Đối tác Chiến lược Toàn diện.

Tuyên bố Lãnh đạo ASEAN – Mỹ nêu rõ: “Việc hai bên nhất trí nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện phản ánh tham vọng của Hội nghị Cấp cao ASEAN-Mỹ lần thứ 9 và Hội nghị Cấp cao Đặc biệt ASEAN – Mỹ 2022, đồng thời mở ra những lĩnh vực hợp tác mới có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh và thịnh vượng của 1 tỷ dân của hai bên”.

Hai bên cũng tái khẳng định sự ủng hộ kiên định đối với cấu trúc khu vực cởi mở, minh bạch, bền vững, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm, nằm giữa khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, thúc đẩy vai trò mạnh mẽ, thống nhất và mang tính xây dựng của ASEAN trong việc giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.

Trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN và các hội nghị cấp cao liên quan diễn ra trong 7 ngày tới, các nhà lãnh đạo ASEAN tham gia hội đàm cùng nhiều nhà lãnh đạo thế giới bao gồm Tổng thống Mỹ Joe Biden, Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio, Thủ tướng Australia Anthony Albanese và Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk-yeol.

Các nhà lãnh đạo dự kiến ​​thảo luận về các vấn đề khu vực và toàn cầu, từ Myanmar đến Ukraine, khí hậu, Biển Đông và Triều Tiên. 

Tuần tới, các nhà lãnh đạo khu vực và thế giới sẽ tập hợp tại Bali, Indonesia tham dự hội nghị thượng đỉnh G20, trước khi đến Bangkok, Thái Lan tham dự diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). 

BDN

Loading

Views: 0