![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
Nhiều học giả cho rằng dường như đang có hai châu Á: Về kinh tế, đây là khu vực phát triển năng động bậc nhất thế giới, có xu hướng trở thành trung tâm quyền lực của thế giới trong thế kỷ XXI; liên kết, hợp tác kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ. Nhưng về an ninh, châu Á là nơi hội tụ nhiều điểm nóng tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, là địa bàn cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và là nơi chủ nghĩa khu vực và các thể chế hợp tác an ninh đa phương phát triển khó khăn.
Đặc biệt, bốn điểm nóng ở Đông Á là bán đảo Triều Tiên, biển Hoa Đông, Đài Loan và Biển Đông đều tiềm ẩn nguy cơ xung đột kéo theo sự can dự trực tiếp của hai cường quốc hàng đầu thế giới là Mỹ và Trung Quốc (TQ). Đây là đặc điểm nổi bật của khu vực châu Á – Thái Bình Dương từ nhiều năm qua, nhưng trong năm 2018, xu thế này sẽ rõ ràng hơn.

Nếu như năm 2017, quan hệ Trung – Mỹ cơ bản ổn định do hai bên vẫn đang thăm dò, thử các giới hạn của nhau và đều có nhu cầu tạm tập trung vào các vấn đề nội bộ thì sang năm 2018, mặt cạnh tranh, cọ xát chiến lược sẽ bộc lộ rõ hơn. Sau 1 năm, chính quyền Trump dường như đã nhận ra rằng TQ sẽ không bao giờ đánh đổi điều gì lấy vùng đệm chiến lược ở Triều Tiên. Cũng như các chính quyền trước, chính quyền Trump cũng đã bắt đầu thất vọng về sự hợp tác của TQ. Trong Chiến lược An ninh quốc gia công bố ngày 18/12/2017, Mỹ đã xác định đích danh TQ là đối thủ chiến lược. Trong năm 2018, chắc chắn các mâu thuẫn lợi ích mang tính bản chất giữa Mỹ và TQ về các vấn đề an ninh khu vực sẽ bộc lộ rõ hơn, đi liền theo đó là sự gia tăng cọ xát về kinh tế – thương mại. Ít có khả năng xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, nhưng chắc chắn sức ép bảo hộ từ chính quyền Trump đối với TQ sẽ tăng hơn so với năm 2017. Những động thái ép thuế phá giá đối với thép xuất xứ từ TQ và phản đối WTO công nhận quy chế kinh tế thị trường cho thấy trong năm 2018, chính quyền Trump sẽ mạnh tay hơn với TQ trong chính sách kinh tế thương mại.
Về phần mình, sau Đại hội 19, TQ sẽ bộc lộ tham vọng lớn trong việc khẳng định vai trò “cường quốc trung tâm” ở khu vực, quyết liệt hơn trong việc cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ để tạo đà vươn lên trở thành cường quốc thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà Báo cáo chính trị Đại hội 19 khẳng định “TQ đã tiến gần hơn bao giờ hết tới vũ đài trung tâm thế giới”. Trong năm 2017, để bảo đảm môi trường ổn định nhằm tập trung tổ chức Đại hội 19, TQ tạm ứng xử hòa hoãn với Mỹ. Nhưng sang năm 2018, một Tập Cận Bình đầy quyền lực và tham vọng sẽ không dễ gì xuống nước trước một nước Mỹ “đang trên đà đi xuống” và sắp hết thời theo cách nhìn của người TQ.
Bên cạnh đó, việc Mỹ – Nhật – Ấn – Australia tăng cường hợp tác lực lượng thông qua Chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” chắc chắn sẽ dẫn tới các phản ứng quyết liệt hơn của TQ. TQ sẽ tiếp tục củng cố, tăng cường quan hệ Trung – Nga để tạo thành một trục đối trọng với hệ thống đồng minh và đối tác an ninh chủ chốt của Mỹ ở khu vực, đồng thời gia tăng chính sách “cây gậy và củ cà rốt” với các nước láng giềng, khu vực để lôi kéo các nước này về phía TQ. Cạnh tranh chiến lược Trung – Mỹ, Trung – Nhật, Trung – Ấn sẽ gay gắt hơn trước. Các điểm nóng tiềm tàng như bán đảo Triều Tiên, Biển Đông và biển Hoa Đông sẽ tiếp tục là đấu trường để các nước lớn kiềm chế lẫn nhau. Môi trường chiến lược khu vực do vậy sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường hơn năm 2017./.
(Minh Khuê)
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
Việc tàu sân bay USS Carl Vinson đến Việt Nam không chỉ phản ánh một mốc quan trọng mới trong quan hệ quốc phòng Việt-Mỹ mà còn thể hiện chiến lược quốc phòng của Mỹ với khu vực.
Vào đầu tuần tới, tàu USS Carl Vinson sẽ ghé thăm thành phố Đà Nẵng tại Việt Nam. Trên thực tế, ý tưởng về chuyến thăm này lần đầu xuất hiện trong tuyên bố chung sau cuộc gặp mặt giữa Tổng thống Donald Trump và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hồi tháng 5/2017.
Sau đó nó được đề cập cụ thể hơn trong cuộc hội đàm giữa Bộ trưởng Quốc phòng Jim Mattis và người đồng cấp Việt Nam Ngô Xuân Lịch vào tháng 8/2017. Trang The Diplomat nêu lên 3 ý nghĩa từ sự kiện này.

Đầu tiên, việc tàu USS Carl Vinson đến Việt Nam nằm trong một loạt hành động nhằm thúc đẩy quan hệ quốc phòng Việt-Mỹ vốn đang trong đà phát triển những năm qua. Trước chuyến đi của tàu sân bay này, Hải quân Mỹ đã cử nhiều đoàn tàu khác đến Việt Nam. Cả hai bên thống nhất tiếp tục mở rộng những nỗ lực hợp tác khi Mỹ thay đổi chính quyền. Dưới thời chính quyền Trump, việc cử tàu sân bay ghé thăm Việt Nam là biểu tượng có ý nghĩa mạnh mẽ hơn nhằm chứng minh cam kết của Mỹ đối với mối quan hệ với Việt Nam.
Tuy nhiên, cần lưu ý đây không chỉ là sự kiện nhất thời, mà là diễn biến của quá trình tích hợp dần sự hiện diện của tàu sân bay trong mối quan hệ. Tháng 10/2017, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chính Vịnh trở thành quan chức Việt Nam cấp cao nhất chính thức thăm một tàu sân bay Mỹ, khi đó cũng là tàu USS Carl Vinson. Vào cuối tháng 2 vừa qua, Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Phạm Quang Vinh cũng thăm tàu sân bay USS George H.W. Bush khi ông công tác tại Norfolk, bang Virginia.
Ý nghĩa thứ hai, một chuyến thăm của tàu sân bay là diễn biến quan trọng đối với chiến lược quốc phòng khu vực của Mỹ. Tàu sân bay chính là phương tiện để tăng cường sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ trong khu vực. Đây là điều quan trọng trong bối cảnh các tranh chấp và diễn biến căng thẳng ở Biển Đông.
Trên thực tế, trước khi tàu USS Carl Vinson đến Việt Nam thì nó cũng dừng chân ở Philippines. Ngoài ra, Hải quân Mỹ cũng tiến hành nhiều hoạt động phối hợp với các bên liên quan khác trong tranh chấp trên Biển Đông, như tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS Wayne E. Meyer đã đến Kota Kinabalu, Malaysia, vào tuần trước.
Ngoài ra, những chuyến thăm này cũng nhấn mạnh vai trò của tàu USS Carl Vinson với việc hoạch định hành động quốc phòng của Mỹ. Khi Washington đang cố gắng giải toả những gánh nặng trong việc vận hành các đội tàu, thể hiện qua những tai nạn gần đây của Hạm đội 7, thì việc Hạm đội 3 tham gia nhiều hơn ở khu vực Tây Thái Bình Dương là một giải pháp. Kể từ năm 2016, sáng kiến này khiến việc vận hành linh hoạt hơn với những tàu được chỉ định làm nhiệm vụ là tăng cường sự hiện diện của Mỹ.
Ý nghĩa cuối cùng, chuyến thăm này phản ánh nhiều ý đồ quan trọng đối với tình hình khu vực. Những bên liên quan chính ở Đông Nam Á có thể chứng kiến một tình hình Biển Đông căng thẳng hơn, các hành động khiêu khích xuất hiện nhiều hơn sau một năm 2017 được cho là tương đối “lặng sóng”.
Có nhiều sự kiện dẫn đến dự đoán này, như Trung Quốc đã kết thúc giai đoạn củng cố quyền lực sau kỳ Đại hội đảng năm ngoái; còn chính quyền Trump đang tỏ ra sẵn sàng cứng rắn hơn với Trung Quốc khiến Bắc Kinh bị dồn vào thế trả đũa. Trong bối cảnh đó, sự hiện diện của tàu sân bay Mỹ chính là cách củng cố quan điểm của Washington với tình hình Biển Đông./.
(Theo The Diplomat)
![]()
Views: 0

![]()
Views: 0

![]()
Views: 0

Chúc độc giả báo East-Sea.de đón Xuân Mậu Tuất vui vẻ đầm ấm hạnh phúc và thành công.
![]()
Views: 0
Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Cùng với việc Donald Trump lên cầm quyền, chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã chính thức kết thúc. Trong buổi họp báo được tổ chức ngày 13/3/2017, quyền Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương Susan Thornton cho biết chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Chính quyền Donald Trump có thể sẽ có phương thức mới. Chính quyền Donald Trump hiển nhiên nhận thức được khu vực châu Á-Thái Bình Dương chứa đựng tiềm lực phát triển kinh tế rất lớn, Mỹ vẫn sẽ tăng cường mức độ can dự của nước này đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhưng cụm từ “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương”, “quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương” đã lỗi thời. Đến nay, chính sách “tái cân bằng” của Chính phủ Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương được thực hiện từ năm 2009 đến nay đã kết thúc. Tuy nhiên, ảnh hưởng của chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” được coi là chính sách châu Á-Thái Bình Dương quan trọng nhất của Mỹ trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc.
Từ khi bước vào thế kỷ 21 đến nay, khu vực châu Á-Thái Bình Dương không những ngày càng trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới, mà còn trở thành tiêu điểm cạnh tranh địa chiến lược của các nước lớn. Để giành được ưu thế từ sự thay đổi của địa chính trị toàn cầu, tiếp tục bảo vệ địa vị bá quyền toàn cầu của mình, Mỹ phải duy trì sức mạnh quân sự hùng mạnh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, từ năm 2009 đề xuất “phải quay trở lại châu Á”, “tăng cường sự hiện diện chiến lược ở châu Á”, năm 2011 tuyên bố “xoay trục sang châu Á”, năm 2012 đề xuất thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương”, lấy chiến lược này để cân bằng và kiềm chế sự trỗi dậy về chiến lược của Trung Quốc, tăng cường sự kiểm soát đối với khu vực trung tâm về chính trị, kinh tế và thương mại của thế giới.
Xét thấy địa vị chiến lược quan trọng của khu vực Biển Đông trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Mỹ coi Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, là khu vực then chốt để kiềm chế sự phát triển, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc, bảo vệ địa vị lãnh đạo khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ. Ngày 28/5/2015, Tổng thống Mỹ Obama đã có bài phát biểu trong lễ tốt nghiệp của Học viện quân sự West Point, nêu rõ ý đồ Mỹ can dự vào các vấn đề an ninh của châu Á như vấn đề Biển Đông…, tuyên bố “quân đội Mỹ phải chuẩn bị tốt cho các nguy cơ, ‘sự xâm lược mang tính chiến lược’ đối với các khu vực như Biển Đông… sẽ ảnh hưởng đến đồng minh của Mỹ, có thể làm cho quân đội Mỹ bị cuốn vào trong đó”. Khi đến thăm Philippines, Obama cho biết “Cam kết bảo vệ Philippines của Mỹ kiên định như sắt”. Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden thì cho rằng “Biển Đông gây nguy hiểm cho lợi ích của Mỹ”. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter cho biết Mỹ sẽ không chấp nhận lập trường Trung Quốc có chủ quyền trên những đảo, đá nhân tạo này, đồng thời liên tục cử máy bay và tàu chiến đến vùng biển này dựa trên luật pháp quốc tế thực hiện quyền tự do hàng hải. Chính phủ Mỹ coi Biển Đông là biện pháp để thúc đẩy chiến lược châu Á-Thái Bình Dương, kiềm chế và cản trở sự trỗi dậy của Trung Quốc, khuấy động Biển Đông trở thành điểm nóng khu vực và không ngừng nóng lên, từng bước tiến ra sân khấu sử dụng biện pháp quân sự để đối đầu với Trung Quốc. Cùng với việc Donald Trump lên cầm quyền, tuy chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đã kết thúc, nhưng sự quan tâm và can dự của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông không những không kết thúc, mà còn ngày càng tăng lên. Từ khi thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đến nay, bố cục quân sự ở xung quanh Biển Đông vẫn là điểm quan trọng nhất để Mỹ can dự vào vấn đề Biển Đông, nảy sinh ảnh hưởng sâu sắc đối với vấn đề này, đã nhận được sự quan tâm của mọi người. Bài viết này tập trung phân tích từ phương diện bố cục quân sự, bố cục quân sự của Mỹ ở xung quanh Biển Đông từ khi thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đến nay.
Đến nay, Mỹ đã ký hiệp ước hợp tác quốc phòng với 32 nước trên thế giới, trong đó có 5 nước ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương là Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan và Úc. Mỹ cho rằng quan hệ đồng minh ở châu Á-Thái Bình Dương là ưu thế đặc biệt của Mỹ trong khu vực này, cũng là cơ sở để Mỹ bảo vệ an ninh và ổn định của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, phải xây dựng mạng lưới quan hệ đồng minh ở châu Á-Thái Bình Dương, tăng cường bố trí quân sự của Mỹ ở khu vực này, tổ chức tập trận chung nhiều hơn, tăng cường sự hiện diện của Mỹ ở khu vực này, nâng cao mức độ răn đe tiền duyên mà Mỹ có thể cung cấp cho các đồng minh. Trong bối cảnh này, Mỹ áp dụng nhiều biện pháp, bên cạnh việc tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với các đồng minh truyền thống như Philippines, Thái Lan, Nhật Bản, Úc…, còn tăng cường quan hệ quân sự với các nước đối tác hợp tác chiến lược mới nổi như Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Singapore, Malaysia…
Vai trò quan trọng nhất của cơ chế hợp tác quân sự Mỹ-Philippines là nâng cao sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực Biển Đông, dựa vào căn cứ không quân và hải quân có ưu thế và điều kiện tốt về địa lý gần Biển Đông của Philippines, bao đảm ưu thế chiến lược của Mỹ ở khu vực Biển Đông, Mỹ coi Philippines là cầu nối để can dự vào khu vực Biển Đông, kiềm chế Trung Quốc, tiến vào châu Á-Thái Bình Dương. Dưới chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Obama, cơ chế hợp tác chiến lược và an ninh giữa Mỹ và Philippines được tăng cường liên tục, việc hai nước liên tục tiến hành bàn bạc về sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Philippines trên thực tế là để cùng đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông. Năm 2010, hai nước ký Hiệp ước hợp tác an ninh Mỹ-Philippines với thời hạn 10 năm. Ngày 12/1/2016, Mỹ và Philippines xác nhận Tòa án tối cao Philippines đã thông qua Thỏa thuận tăng cường hợp tác an ninh, đồng thời đạt được sự nhất trí về việc tăng cường hợp tác an ninh trên biển. Philippines cung cấp cho quân đội Mỹ 8 căn cứ, quân đội Mỹ có thể xây dựng các công trình ở những căn cứ này, cất giữ và cung ứng trang thiết bị vũ khí. Tám căn cứ quân sự mà Philippines cung cấp cho quân đội Mỹ bao gồm 5 sân bay quân dụng, 2 căn cứ hải quân và 1 trại huấn luyện trong rừng sâu. Tám căn cứ này lần lượt là căn cứ không quân Basa và Clark ở tỉnh Pampanga, căn cứ Fort Magsaysay nằm ở tỉnh Nueva Ecija, căn cứ không quân Antonio Bautista và 1 cảng biển ở tỉnh Palawan; căn cứ không quân Mactan-Benito Ebuen và 1 cảng biển ở tỉnh Cebu; sân bay Laguindingan ở thành phố Cagayan de Oro; trong đó có 4 căn cứ nằm ở đảo Luzon phía Đông Biển Đông, 2 căn cứ nằm ở đảo Palawan, gần quần đảo Trường Sa, mưu đồ lôi kéo Mỹ can dự vào Biển Đông, đối đầu với Trung Quốc của Philippines là rất rõ ràng.
Nhật Bản là đồng minh quan trọng nhất của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, quan hệ Mỹ-Nhật luôn là cơ sở trong chính sách an ninh châu Á của Mỹ. Nhật Bản đóng vai trò không thể thiếu trong hệ thống đồng minh của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự bá quyền của Mỹ, kiềm chế Trung Quốc. Tuyên bố chung bảo đảm an ninh và Phương châm hợp tác quốc phòng mà Mỹ và Nhật Bản ký từ năm 1996 đến năm 1997, trở thành khung cơ bản mới của quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật. Hai hiệp ước này đã làm thay đổi tính chất của đồng minh Mỹ-Nhật, thay đổi từ đồng minh mang tính phòng ngự ban đầu sang đồng minh có tính chất tấn công. Trong thời kỳ Chính quyền Obama, sự phân công và hợp tác của liên minh Mỹ-Nhật về quân sự ngày càng đi sâu. Mỹ hoan nghênh Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tiến hành giải thích cho việc dỡ bỏ lệnh cấm quyền tự vệ tập thể và sửa đổi hiến pháp, đồng thời đã tăng thêm nội dung của quản lý toàn cầu trong đề tài hợp tác đồng minh. Do Nhật Bản cách Biển Đông tương đối gần, có quan hệ đồng minh ổn định lâu dài với Mỹ, nên Mỹ coi Nhật Bản là quốc gia then chốt để can dự vào Biển Đông, phát huy ảnh hưởng. Mỹ liên tục tăng cường quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật, để Nhật Bản chịu trách nhiệm phòng ngự giúp đỡ Mỹ trong các sự kiện bất ngờ xảy ra trong khu vực, trở thành cơ sở và trọng tâm để Mỹ kiềm chế Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, thậm chí là khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Úc tiếp giáp Biển Đông, Đông Nam Á, đồng thời có vị trí địa lý đặc biệt gần Ấn Độ Dương, làm cho Mỹ coi nước này là cứ điểm quan trọng của mình trong chiến lược châu Á-Thái Bình Dương để có thể kiểm soát đồng thời cả Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Từ khi Mỹ thực hiện chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đến nay, Úc là lực lượng ủng hộ quan trọng của Mỹ trong chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”. Sau sự kiện “11/9/2001”, hai nước đã tăng cường hơn nữa quan hệ quân sự song phương, mở rộng hoạt động quân sự, tiến hành tập trận và diễn tập chung, đóng quân tại căn cứ quân sự Darwin. Darwin là cửa ngõ để Úc tiến vào Biển Đông, có thể làm giảm khoảng cách và nâng cao thời gian phản ứng để lực lượng quân sự Mỹ tiến vào Biển Đông. Obama nêu rõ Darwin ở gần Biển Đông, Mỹ sẽ có thể phản ứng kịp thời đối với các sự kiện bất ngờ xảy ra ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, bảo đảm và bảo vệ lợi ích các nước đồng minh trong khu vực này. Ngoài ra, Mỹ còn bán cho Úc hệ thống chiến đấu Aegis và máy bay chiến đấu F-35 để nước này tăng cường sức mạnh quốc phòng.
Thái Lan luôn là đồng minh kiên định của Mỹ ở Đông Nam Á, cung cấp căn cứ quân sự, thông tin tình báo và các điều kiện thuận lợi khác từ lâu nay cho Mỹ, những điều này đã tăng cường năng lực hành động quân sự của Mỹ ở khu vực Biển Đông. Thái Lan cung cấp cảng biển, sân bay cho Mỹ, Mỹ cung cấp trang thiết bị vũ khí và viện trợ vốn mua trang thiết bị cho Thái Lan. Sau sự kiện “11/9/2001”, cảng biển, sân bay của Thái Lan đóng vai trò then chốt trong tác chiến chống khủng bố của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Hàng năm đều có hàng chục nghìn binh sĩ của quân đội Thái Lan được cử đến Mỹ để tham gia “kế hoạch giáo dục và bồi dưỡng quân sự quốc tế” và phát triển chuyên nghiệp dân sự, đồng thời hàng năm đều tiến hành hơn 40 lần tập trận chung để kiểm chứng thành quả.
Trong chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương”, Chính quyền Obama phát triển một cách tích cực hơn quan hệ đối tác mới, nhất là quan hệ quân sự với các nước như Ấn Độ, Indonesia, Myanmar và Việt Nam, đồng thời liên tục triển khai tập trận chung trên biển, bán trang thiết bị quân sự tiên tiến cho những nước này.
Mỹ xác định quan hệ Mỹ-Ấn là quan hệ đối tác chiến lược toàn cầu thế kỷ 21. Mỹ nhận thức được sự phát triển của kinh tế Ấn Độ trong nhiều năm qua đã được coi là nước lớn chi phối khu vực Nam Á, đồng thời có tiềm lực của cường quốc thế giới. Mỹ tích cực tìm cách duy trì, làm sâu sắc quan hệ đối tác hợp tác chiến lược thực chất quan trọng với Ấn Độ, cũng như quan hệ kinh tế thương mại song phương. Từ năm 2000 Mỹ và Ấn Độ bắt đầu kế hoạch cùng triển khai hoạt động gìn giữ hòa bình và tổ chức tập trận chung đa phương, đồng thời bắt đầu khôi phục hoạt động bán vũ khí quân sự cho Ấn Độ. Về số lượng, Ấn Độ là quốc gia có số lần tập trận nhiều nhất với Mỹ, trong tổng số lần tập trận chung do Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ tổ chức có hơn 1/3 là triển khai hợp tác với Ấn Độ. Từ năm 2005 đến 2006, hai nước ký Hiệp định khung về quốc phòng và khuôn khổ hợp tác an ninh trên biển, mở rộng hợp tác an ninh song phương Mỹ-Ấn.
Singapore nằm ở phía Nam bán đảo Mã Lai, gần cửa ngõ phía Nam của eo biển Malacca, trấn giữ yết hầu của eo biển này, là con đường chiến lược nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, có địa vị chiến lược quan trọng, vì vậy cũng trở thành đối tượng để Mỹ tập trung tăng cường quan hệ đối tác chiến lược. Những năm 90 của thế kỷ 20, Singapore đã cung cấp căn cứ quân sự chuyên dụng cho quân đội Mỹ, bảo đảm sự hiện diện quân sự của quân đội Mỹ ở khu vực này. Năm 2005, hai nước ký Hiệp định khung chiến lược Mỹ-Singapore, Singapore trở thành cứ điểm chiến lược quan trọng của Mỹ ở khu vực Biển Đông. Tháng 6/2012, Mỹ hoàn thành quá trình xây dựng căn cứ hải quân ở Changi, có thể cho các biên đội tàu chiến cỡ lớn như tàu sân bay, tàu viễn dương… cập bến, đồng thời lắp đặt hệ thống nhà kho cất giữ và giám sát tự động tiên tiến, Singapore đồng ý để tàu chiến đấu ven biển mới nhất của quân đội Mỹ đồn trú. Căn cứ hải quân Changi cung cấp dịch vụ tiếp tế hậu cần và sửa chữa các tàu cỡ lớn như tàu sân bay… cho quân đội Mỹ. Changi cũng trở thành căn cứ cập bến tàu sân bay đầu tiên của quân đội Mỹ ở Đông Nam Á từ khi rút khỏi vịnh Subic đến nay, căn cứ này đã trở thành căn cứ thường được sử dụng nhất để Mỹ can dự vào Biển Đông. Dựa vào căn cứ này, đội tàu của Mỹ có thể trực tiếp tiến vào Biển Đông theo hướng Đông, có thể xuyên qua eo biển Malacca bất kỳ lúc nào theo hướng Tây, tiến vào Ấn Độ Dương, biển Arập, đến khu vực vùng Vịnh.
Việc Mỹ dốc sức tăng cường quan hệ quân sự song phương với Malaysia, trước tiên là muốn đạt được thỏa thuận mở không phận, cho phép máy bay Mỹ được bay trên không phận Malaysia, sau đó hai nước bắt đầu triển khai hợp tác về thông tin tình báo quân sự. Từ khi Mohd Najib bin Abdul Razak được bầu làm thủ tướng Malayssia tháng 4/2009 đến nay, quan hệ Mỹ-Malaysia phát triển nhanh chóng. Tháng 4/2014, Obama lần đầu tiên đến thăm Malaysia, hai nước tuyên bố xây dựng quan hệ đối tác toàn diện. Các cuộc tập trận chung giữa hai nước ngày càng tăng, Mỹ liên tục bán trang thiết bị vũ khí tiên tiến như máy bay chiến đấu F18, tên lửa không đối không tầm xa AIM-120…
Được coi là quốc gia có dân số đông nhất, diện tích lớn nhất của Đông Nam Á, Indonesia có giá trị chiến lược rất quan trọng đối với Mỹ. Từ khi thực hiện chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đến nay, Mỹ và Indonesia đã tăng cường quan hệ song phương trên các phương diện như chuyến thăm cấp cao, hợp tác an ninh, viện trợ quân sự…, thể hiện đặc điểm chuyến thăm cấp cao tương đối nhiều, hợp tác an ninh ngày càng tăng lên, viện trợ quân sự liên tục. Sau khi ký Hiệp định quan hệ đối tác toàn diện năm 2009, hai nước cũng bắt đầu tổ chức tập trận chung thường niên, bao gồm tập trận chuẩn bị chiến đấu và huấn luyện trên biển chung, cuộc tập trận chung “Lá chắn Garuda” do Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ và lục quân Indonesia tổ chức định kỳ… Viện trợ quân sự của Mỹ cho Indonesia cũng liên tục tăng lên, Indonesia đã trở thành một trong những quốc gia nhận viện trợ quân sự lớn thứ 3 của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á.
Việt Nam là quốc gia trọng điểm của Mỹ ở khu vực Biển Đông. Mỹ nỗ lực thiết lập quan hệ đối tác hợp tác toàn diện với Việt Nam, hợp tác an ninh quân sự Mỹ-Việt được thúc đẩy nhanh chóng. Tháng 9/2011, hai nước ký Bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác an ninh song phương, thống nhất trước tiên tập trung vào 5 lĩnh vực (thiết lập các cơ chế đối thoại thường xuyên cấp cao giữa Bộ Quốc phòng Mỹ và Bộ Quốc phòng Việt Nam, an ninh biển, tìm kiếm cứu nạn, nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm về hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa), đây cũng là lần chính thức Mỹ và Việt Nam thiết lập quan hệ hợp tác quân sự sau chiến tranh. Về mối quan hệ qua lại với Việt Nam, cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đặc biệt cho rằng “Mỹ và Việt Nam đang thiết lập sự hợp tác khó có thể tưởng tượng ở 10 năm trước, quan hệ về kinh tế và ngoại giao hiệu quả hơn so với bất kỳ thời điểm nào trước đây”. Căn cứ không quân, hải quân ở vịnh Cam Ranh của Việt Nam có điều kiện ưu việt, là căn cứ quân sự nổi tiếng thế giới, luôn là cứ điểm quân sự mà quân đội Mỹ rất muốn sử dụng ở Biển Đông.
Để tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực Biển Đông, kiềm chế ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, Mỹ liên tục mở rộng hoạt động tập trận với các nước xung quanh Biển Đông, tổ chức tập trận chung, tăng cường ảnh hưởng quân sự đối với khu vực Biển Đông. Các cuộc tập trận chung định kỳ hiện nay chủ yếu có “Hợp tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu trên biển” (CARAT), “Hổ mang vàng” (Cobra Gold) và “Vai kề vai” (Balikatan), hình thành cuộc tập trận bao hàm cả hải, lục và không quân. Quy mô tập trận liên tục mở rộng, nội dung tập trận cũng từng bước được diễn biến từ diễn tập chống khủng bố đến hạng mục mang tính tấn công quân sự mạnh mẽ như đổ bộ lưỡng cư và đánh úp bất ngờ, chiếm đảo…, khu vực tập trận ngày càng áp sát vùng biển tranh chấp ở Trường Sa. Ngoài tập trận thường niên, Mỹ còn tiến hành tập trận chung không thường niên với các nước khác.
Cuộc tập trận “CARAT” là cuộc tập trận chung do Mỹ lần lượt tiến hành với nhiều nước Đông Nam Á như Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Timor Leste… Mục đích chủ yếu của cuộc tập trận này là nâng cao mức độ chia sẻ thông tin và hiệp đồng tác chiến của Mỹ với các nước tham gia tập trận, xây dựng quan hệ quân sự bền vững, tăng cường năng lực cùng đối phó với khủng hoảng quân sự khu vực ở Biển Đông. Kể từ năm 1995, các cuộc tập trận hàng năm đều do Tư lệnh Hạm đội 7 của Mỹ lên kế hoạch. Các hạng mục tập trận bao gồm tác chiến lưỡng cư, tuần tra trên biển, đánh chặn trên biển, tìm kiếm cứu nạn, chống tàu ngầm… Tháng 5/2008, tàu chỉ huy USS Blue Ridge (LCC-19) của Hạm đội 7 tổ chức tập trận chung trên biển CARAT ở đảo Palawan và vùng biển của Philippines gần quần đảo Trường Sa. Giai đoạn cuối cùng của tập trận năm 2012 do hải quân Mỹ và Philippines triển khai ở vùng biển đảo Mindanao phía Nam Philippines, các hạng mục tập trận bao gồm tập chỉ huy chiến trường, đánh chặn trên biển, lặn, bắn đạn thật trên biển và tìm kiếm cứu nạn. Do thời điểm này xảy ra vụ đảo Hoàng Nham/Scarborough lần thứ 2 giữa Trung Quốc và Philippines, nên địa điểm, hạng mục và mục tiêu thực sự của tập trận Mỹ-Philippines nhận được sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế.
Cuộc tập trận “Hổ mang vàng” là cuộc tập trận đa phương có tính cơ chế hàng năm do Thái Lan và Mỹ cùng tổ chức, là một trong những cuộc diễn tập chung có ảnh hưởng nhất ở khu vực Đông Nam Á, từ năm 1982 đến nay mỗi năm đều tổ chức một lần. Cuộc tập trận “Hổ mang vàng” được coi là cuộc tập trận mang lại lợi ích rất lớn cho các nước đồng minh của Mỹ ở khu vực, được cho là cam kết bảo đảm an ninh của Mỹ đối với các nước đồng minh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cũng là hành động quan trọng để Mỹ thể hiện ảnh hưởng quân sự của nước này ở khu vực Biển Đông. Các hạng mục tập trận bao gồm tác chiến trên đất liền, trên biển và trên không, tác chiến lưỡng cư, tác chiến đặc nhiệm, tác chiến rừng sâu và vận chuyển nhân viên… Mục đích của cuộc tập trận này là nâng cao năng lực chống lại các mối đe dọa và xâm lược, kiểm tra năng lực chỉ huy, chia sẻ thông tin tình báo, đối phó khủng hoảng của quân đội các nước tham gia tập trận như Mỹ, Thái Lan… Những năm gần đây, quy mô tập trận liên tục mở rộng, số lượng các nước tham gia tập trận cũng không ngừng tăng lên, các nước như Singapore, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Mông Cổ… đều lần lượt tham gia. Năm 2000 mới chỉ có Singapore tham gia, đến năm 2001 Mỹ, Thái Lan, Singapore tham gia tập trận, đồng thời mời 9 nước như Úc, Hàn Quốc, Pháp, Malaysia, Indonesia, Mông Cổ, Nhật Bản, Philippines, Sri Lanka… tham gia với tư cách là quan sát viên. Năm 2002, lần đầu tiên mời Việt Nam quan sát. Năm 2010 quy mô được mở rộng hơn, Hàn Quốc lần đầu tiên cử quân đội tham gia, gồm có 6 nước tham gia là Mỹ, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Indonesia và Hàn Quốc. Cuộc tập trận năm 2011, số nước tham gia tập trận được mở rộng lên đến 24 nước. Cuộc tập trận năm 2012 có các nước như Mỹ, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Indonesia, Malaysia…, hơn nữa quan sát viên đến từ 20 quốc gia khác cũng tham gia. Năm 2016, 27 nước gồm Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… đã cử hơn 8000 nhân viên hải lục không quân tham gia tập trận. Năm 2017, có 9 nước tham gia tập trận và 10 nước quan sát viên như Anh, Pháp, Canada…
Cuộc tập trận chung “Vai kề vai” là hoạt động tập trận chung quy mô lớn được triển khai từ năm 1991 giữa Mỹ và Philippines. Những năm gần đây, quy mô của cuộc tập trận “Vai kề vai” không ngừng mở rộng, nội dung cũng diễn biến từ diễn tập chống khủng bố đến đổ bộ lưỡng cư và đánh úp bất ngờ, địa điểm ngày càng gần khu vực nhạy cảm. Mục đích của cuộc tập trận này là nâng cao năng lực hiệp đồng tác chiến của quân đội hai nước, cũng như năng lực phản ứng nhanh để Mỹ chi viện tác chiến ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời cho thấy quyết tâm của Mỹ ủng hộ Philippines phản đối xâm lược đến từ bên ngoài. Tháng 4/2000, Mỹ và Philippines khôi phục tập trận bị gián đoạn sau năm 1995, địa điểm tập trận được lựa chọn là ở vùng biển gần đảo Luzon và đảo Palawan. Tháng 4/2001, Mỹ đưa “Hổ mang vàng” của Thái Lan và tập trận chung giữa Mỹ và Úc vào khuôn khổ tập trận chung “thách thức đồng đội” (Team challenge), tập trận vẫn được tiến hành ở vùng biển gần đảo Luzon. Địa điểm cuộc tập trận tháng 1/2004 được chọn ở vùng biển gần Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa. Cuộc tập trận diễn ra tháng 5/2008 một lần nữa di chuyển đến vùng biển Palawan của Philippines gần quần đảo Trường Sa nhất, quy mô tập trận lập kỷ lục mới; hạng mục tập trận cũng được nâng cấp từ chiến thuật tổng hợp truyền thống, bắn đạn thật thành giữ đảo, cướp đảo, tấn công bất ngờ bằng lực lượng đặc nhiệm… Cuộc tập trận năm 2012, địa điểm được chọn là giếng dầu trên biển lớn nhất của Philippines trong Biển Đông nằm ở phía Tây đảo Palawan, triển khai các hạng mục tập trận như bảo vệ và cướp giàn khoan trên biển, tấn công khủng bố, cướp biển, buôn lậu… Cuộc tập trận năm 2013 được tổ chức ở vịnh Subic phía Bắc Philippines, Mỹ lần đầu tiên đưa 20 máy bay chiến đấu F/A-18E/F Super Hornet và 1 tàu chiến tham gia tập trận, Úc, Brunei, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan cử đại diện tham gia thảo luận bàn tròn về an ninh trên biển. Năm 2014, Úc lần đầu tiên tham gia tập trận. Năm 2015, các nước như Brunei, Việt Nam, Singapore cử quan sát viên. Ngày 4/4/2016, cuộc tập trận chung “Vai kề vai” kéo dài 11 ngày giữa Mỹ và Philippines kết thúc, tổng số binh sĩ tham gia là gần 10.000 người, trong đó quân đội Mỹ có 4.900 binh sĩ, ngoài ra Úc cử hơn 80 binh sĩ, Nhật Bản lần đầu tiên làm quan sát viên cũng cử hơn 80 binh sĩ tham gia. Trong thời gian tập trận, Mỹ lần đầu tiên bố trí hệ thống tên lửa cơ động cao ở khu vực Thái Bình Dương. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đặc biệt đến thăm tỉnh Palawan gần khu vực Biển Đông và tham gia lễ bế mạc tập trận, mục đích của chuyến thăm này là tái khẳng định quan hệ Mỹ-Philippines rất chắc chắn, vai kề vai ủng hộ lẫn nhau.
Ngoài tập trận chung hàng năm được tổ chức ở hướng Biển Đông, Mỹ còn tổ chức tập trận chung ở hướng Đông Bắc Á, Mỹ và Hàn Quốc thông qua nhiều lần tập trận chung để duy trì xu thế có thể tác chiến bất kỳ lúc nào. Mỹ và Hàn Quốc liên tục tổ chức tập trận chung Đại bàng non (Foal Eagle) và Giải pháp then chốt (Key Resolve) quy mô lớn nhất trong lịch sử nhằm vào các cuộc thử nghiệm hạt nhân và phóng thử tên lửa đạn đạo của Triều Tiên, trong các cuộc tập trận năm 2016, Mỹ cử tàu sân bay USS Ronald Reagan (CVN-76), USS John C. Stennis (CVN-74), tàu ngầm hạt nhân USS Virginia (SSN-774), máy bay F-22, B-52, trọng điểm tập trận “kế hoạch tác chiến 5015” mà Mỹ và Hàn Quốc mới vạch ra, chuẩn bị chiến tranh đánh đòn phủ đầu đối với Triều Tiên. Trong các cuộc tập trận được tiến hành năm 2017, toàn bộ các loại vũ khí chiến lược của Mỹ như tàu sân bay USS Carl Vinson (CVN-70), máy bay ném bom chiến lược B-52, B-1B, máy bay ném bom chiến lược tàng hình B-2 và máy bay tấn công F-35B… đều tham gia tập trận, và lần đầu tiên trong diễn tập đã đề cập đến khái niệm tác chiến Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD).
Ở hướng Đông Hải (biển Hoa Đông), Mỹ và Nhật Bản tổ chức tập trận định kỳ hàng năm, quân đội Mỹ cử lực lượng viễn chinh hải quân và đội chiến đấu cấp lữ đoàn “Stryker” hợp tác với các lực lượng như nhóm tác chiến đặc nhiệm của Lực lượng phòng vệ trên đất liền của Nhật Bản, diễn tập về các nội dung như chiếm lại đảo bị lực lượng nước ngoài xâm chiếm và cứu cư dân trên đảo, để tăng cường quan hệ đồng minh chiến lược Mỹ-Nhật. Cho dù những cuộc tập trận này không hoàn toàn lấy Trung Quốc làm kẻ thù giả tưởng, nhưng về khách quan lại xây dựng khuôn khổ địa chiến lược cùng nhằm vào Trung Quốc.
III. Tăng cường bố trí quân sự tiền duyên ở Biển Đông
Mỹ là cường quốc quân sự đứng đầu thế giới hiện nay, phạm vi hoạt động rộng khắp trên toàn cầu, sức mạnh quân sự hùng mạnh trở thành công cụ để Mỹ phát huy ảnh hưởng thực chất khi can dự vào vấn đề Biển Đông. Khi nhậm chức vào tháng 6/2012, tại Hội nghị an ninh châu Á lần thứ 11 được tổ chức tại Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta cho biết nguồn lực quốc phòng của Mỹ sẽ tiếp tục chuyển sang châu Á, đến năm 2020, hải quân Mỹ sẽ bố trí 60% tàu chiến ở châu Á, trong đó tăng thêm 1 tàu sân bay, đạt đến 6 chiếc (hiện nay hải quân Mỹ có 11 tàu sân bay), phần lớn tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu chiến đấu ven biển và tàu ngầm. Tháng 5/2014, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel một lần nữa tuyên bố tăng cường bố trí lực lượng mặt đất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời cũng sẽ bố trí 60% lực lượng không quân đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhằm thực hiện chiến lược “quay trở lại châu Á”. Đồng thời, ông còn nhấn mạnh Biển Đông vừa là trái tim của châu Á, vừa là ngã tư đường của kinh tế thương mại toàn cầu, tuyên bố kiên quyết phản đối bất kỳ quốc gia nào khiêu khích, ép buộc hoặc sử dụng vũ lực đe dọa, phản đối bất kỳ quốc gia nào hạn chế tự do hàng hải và hàng không. Tháng 5/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter tham dự Đối thoại Shangri-La ở Singapore và có bài phát biểu lên án hành động xây lấp biển ở Biển Đông của Trung Quốc, cho biết Mỹ phản đối bất kỳ hành động nào quân sự hóa các đảo, đá có tranh chấp; đồng thời kêu gọi ASEAN phải trở thành trung tâm của cơ chế khu vực và duy trì sự ổn định của khu vực. Ngoài ra, ông tuyên bố Mỹ sẽ khởi động “Sáng kiến an ninh biển Đông Nam Á” mới dự tính có trị giá 425 triệu USD, tăng cường xây dựng năng lực hải quân của các nước khu vực Đông Nam Á.
Xuất phát từ nhu cầu duy trì sự hiện diện quân sự ở Biển Đông, từ lâu nay Mỹ vẫn duy trì đồn trú lượng lớn quân ở xung quanh Biển Đông, trong đó căn cứ Yokosuka ở Nhật Bản và căn cứ Guam trực tiếp ảnh hưởng đến Biển Đông, có nhiệm vụ kiểm soát yếu điểm chiến lược, trấn giữ các tuyến đường giao thông quan trọng, đồng thời ủng hộ và làm chỗ dựa cho sự bố trí và hoạt động của quân đội Mỹ ở khu vực xung quanh Biển Đông.
Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đồn trú ở căn cứ Yokosuka của Nhật Bản, có nhóm tác chiến tàu sân bay số 5 do tàu sân bay USS George Washington (CVN 73) đứng đầu, có khoảng 60 tàu chiến và 350 máy bay chiến đấu các loại, tổng binh lực khoảng 60.000 người. Khu vực phụ trách của hạm đội này từ Tây Thái Bình Dương kéo dài đến Ấn Độ Dương, bao gồm cả Biển Đông.
Đảo Guam là căn cứ quân sự tiền duyên quan trọng nhất của khu vực Tây Thái Bình Dương, được gọi là “tàu sân bay không bao giờ chìm” trên Thái Bình Dương. Căn cứ này cách các khu vực nhạy cảm như Biển Đông, eo biển Đài Loan, bán đảo Triều Tiên… khoảng 3.000 km, nếu máy bay ném bom tầm xa mang theo tên lửa đạn đạo có tầm bắn gần 1.000 km cất cánh từ đảo Guam, thì chỉ cần khoảng hai giờ đồng hồ là có thể phóng tên lửa nhằm vào kẻ thù có khoảng cách xa để tấn công sau đó trở về điểm xuất phát. Do khu vực Biển Đông cũng nằm trong hành trình của máy bay vận tải C-130 được cất cánh từ căn cứ đảo Guam, nên lực lượng quân sự và vật tư chiến lược được bố trí ở đảo Guam có thể nhanh chóng vận chuyển đến căn cứ tác chiến tiền duyên xung quanh Biển Đông. Vì vậy, đảo Guam trở thành cứ điểm chiến lược quan trọng trong hệ thống tác chiến Tây Thái Bình Dương và đầu mối quan trọng gắn kết Mỹ và Đông Á. Căn cứ quân sự chủ yếu có căn cứ hải quân Apra Harbor, căn cứ không quân Andersen… Từ khi thực hiện chiến lược quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương đến nay, quân đội Mỹ bắt đầu chú trọng xây dựng căn cứ quân sự trên đảo Guam, đầu tư số tiền rất lớn khoảng 15 tỷ USD, mở rộng xây dựng cơ sở căn cứ hải quân và không quân trên đảo Guam, xây dựng thành trạm chuyển tiếp ở nước ngoài ở gần châu Á nhất cho máy bay ném bom tầm xa B-52; mở rộng xây dựng cảng hải quân, dùng để bố trí tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân và bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa, cũng như xây dựng căn cứ diễn tập thực chiến, dùng để tăng cường cuộc tập trận chung Vành đai Thái Bình Dương. Hiện nay, căn cứ hải quân Apra Harbor có thể cho phép 6 tàu ngầm hạt nhân tấn công cập bến, là căn cứ tàu ngầm hạt nhân duy nhất của quân đội Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Căn cứ không quân Andersen bố trí máy bay chiến đấu F-22, máy bay ném bom B-52 và máy bay trinh sát không người lái RQ-4 Global Hawk tiên tiến nhất, đồng thời có kho dự trữ nhiên liệu hàng không lớn thứ 2 của không quân Mỹ có tổng lượng chứa là 216 triệu lít.
Xuất phát từ nhu cầu can dự vào vấn đề Biển Đông, từ khi thực hiện chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” đến nay, Mỹ tập trung tăng cường bố trí quân sự ở Úc, tiến hành xây dựng căn cứ quân sự và đóng quân ở Úc. Bố trí lực lượng gồm 2.500 lính thủy đánh bộ ở cảng Darwin gần Biển Đông phía Tây Bắc Úc, đồng thời kể từ năm 2017, trang bị cả máy bay chiến đấu tiên tiến bao gồm cả F-22 Raptor, để duy trì năng lực chiến đấu đáng tin cậy ở khu vực này.
Philippines là một trong những đồng minh của Mỹ, căn cứ theo Hiệp ước bảo vệ lẫn nhau ký năm 1951 và Hiệp định thăm viếng quân đội ký năm 1998, với phương thức trao đổi định kỳ, Mỹ đã đồn trú quân đội ở Philippines. Tháng 4/2012, sau khi vì tranh chấp đảo Hoàng Nham nên quan hệ với Trung Quốc trở nên căng thẳng, Chính phủ Philippines quyết định phát triển quan hệ an ninh mật thiết hơn với Mỹ để đối đầu với Trung Quốc. Tháng 4/2014, Mỹ và Philippines ký Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng, đây là thỏa thuận quan trọng tăng cường quan hệ đồng minh Philippines-Mỹ. Thỏa thuận mới sẽ cho phép Mỹ bố trí trang thiết bị chiến đấu trước ở căn cứ quân sự Philipines, khi xảy ra khủng hoảng không những tiết kiệm thời gian và nhiên liệu, mà còn có thể bố trí quân đội ở khoảng cách gần. Theo bản dự thảo thỏa thuận, Philippines sẽ cho phép Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự như Manila, Clark, Palawan, Cebu, Nueva Ecija và La Union, điều này đã tạo ra không gian khu vực rộng rãi cho Mỹ điều chỉnh bố trí quân sự ở Đông Nam Á.
Thái Lan là nước đồng minh khác của Mỹ ở Đông Nam Á, kể từ năm 1982 hai nước đã tổ chức tập trận chung, hàng năm Mỹ đều cử lực lượng quân sự đồn trú ở Thái Lan, trang thiết bị quân sự được bố trí liên tục tăng lên. Sau khi xảy ra sự kiện “11/9/2001”, Chính phủ Mỹ xác định Thái Lan là nước đồng minh không thuộc Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Để báo đáp, Thái Lan ủng hộ cuộc chiến chống khủng bố mà Mỹ phát động ở khu vực Trung Đông, cho phép lực lượng và trang thiết bị vũ khí tham chiến của Mỹ được trung chuyển qua căn cứ không quân U-Tapao, Thái Lan còn mở cửa căn cứ hải quân Sattahip cách U-Tapao không xa, trong thời gian Mỹ phát động cuộc chiến chống khủng bố, 2 căn cứ này đã tập trung lượng lớn trang thiết bị vũ khí. Ngoài việc thông qua tận dụng căn cứ quân sự của Thái Lan để duy trì sự hiện diện quân sự, Mỹ còn thành lập đoàn cố vấn quân sự của Mỹ ở Thái Lan. Đoàn cố vấn này là cơ quan viện trợ quân sự, với trách nhiệm chủ yếu là chỉ đạo và điều phối các cuộc tập trận song phương và đa phương mà Mỹ tổ chức và tham gia ở Thái Lan.
Singapore là đối tác mới mà Mỹ đồn trú quân đội ở khu vực Biển Đông. Hai nước đạt được thỏa thuận năm 1991, Mỹ chuyển Bộ Tư lệnh hậu cần Tây Thái Bình Dương đến Singapore. Đầu thế kỷ 21 hai nước lại ký thỏa thuận, Singapore lấy danh nghĩa cung cấp hậu cần, đã mở cửa căn cứ hải quân Changi cho Mỹ, cho phép hải quân Mỹ đồn trú. Sau khi Mỹ tuyên bố quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương, Singapore trở thành đối tác chiến lược quan trọng của nước này, tháng 6/2011, Mỹ và Singapore đạt được thỏa thuận đồng ý Mỹ xây dựng căn cứ quân sự mới ở Singapore, để cập bến tàu chiến ven biển mới nhất của Mỹ. Tháng 4/2013, tàu chiến ven bờ USS Freedom (LCS-1) đầu tiên đến căn cứ hải quân Changqi của Singapore, chính thức bắt đầu sứ mệnh của mình ở Tây Thái Bình Dương.
Mỹ lấy lý do an ninh Biển Đông gây nguy hiểm cho tự do hàng hải của Mỹ ở vùng biển quốc tế, quan ngại về mối đe dọa quân sự của Trung Quốc ở khu vực này, chỉ trích hoạt động xây dựng đảo, đá của Trung Quốc ở Trường Sa, khuyến khích Philippines đơn phương kiện Trung Quốc lên Tòa Trọng tài quốc tế về vấn đề Biển Đông, kết hợp với các nước như Philippines, Nhật Bản, Úc… tập trận chung và tiến hành tuần tra bình thường, đẩy mạnh đối phó với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Người phát ngôn của Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ cho biết chỉ trong năm 2015, tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương đã thực hiện khoảng 700 nhiệm vụ ở Biển Đông. Ngày 28/6/2015, trong thời gian tham dự Diễn đàn hòa bình thế giới lần thứ 4, ủy viên Ủy ban đối ngoại của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc Trung tướng Trần Tiểu Công tiết lộ hoạt động trinh sát của máy bay quân sự Mỹ đối với các đảo, đá và tàu thuyền ở Biển Đông tăng từ hơn 260 lần năm 2009 lên hơn 1.200 lần năm 2014, con số này vượt qua mức độ trinh sát của Mỹ đối với Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Từ tháng 5/2016 đến nay, Mỹ luôn lên kế hoạch cử tàu chiến đến vùng biển gần của một số đáo, đá nhân tạo ở Biển Đông, lấy danh nghĩa bảo vệ quyền tự do hàng hải để tiến vào phạm vi 12 hải lý một phần đảo, đá thuộc quần đảo Trường Sa. Ngày 20/5/2015, một nhóm phóng viên của Mỹ ngồi trên máy bay tuần tra săn ngầm P-8A Poseidon quan sát 3 đảo, đá. Trong hành trình lần này của máy bay tuần tra Mỹ, hải quân Trung Quốc tổng cộng đưa ra 8 lần cảnh báo. Ngày 27/10, tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường USS Lassen (DDG-82) tiến vào phạm vi 12 hải lý của bãi đá Xubi và bãi đá Vành Khăn ở Biển Đông tuần tra. Ngày 5/11, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter lên thăm tàu sân bay USS Theodore Roosevelt (CVN-71) đang di chuyển trên Biển Đông, một lần nữa chỉ trích “Trung Quốc phá hoại sự ổn định khu vực và cân bằng lực lượng”. Ngày 10/12, khi thực hiện nhiệm vụ, máy bay ném bom chiến lược B-52 của không quân Mỹ vô tình bay vào phạm vi 12 hải lý trên không bãi đá Châu Viên. Ngày 30/1/2016, tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường USS Curtis Wilbur (DDG-54) chưa thông báo trước đã tiến vào khu vực 12 hải lý thuộc đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa, còn tuyên bố đây là hành động vô hại, lực lượng canh giữ đảo và máy bay tàu chiến hải quân Trung Quốc lập tức có hành động đối phó, tiến hành điều tra nhận biết đối với tàu chiến Mỹ, đồng thời đưa ra cảnh báo. Tháng 3/2016, nhóm tác chiến tàu sân bay gồm tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân USS John C. Stennis (CVN-74), hai tàu tuần dương USS Antietam (CG-54) và USS Mobile Bay (CG-53), hai tàu khu trục USS Stockdale (DDG 106) và USS Chung-hoon (DDG 93), cũng như tàu chỉ huy USS Blue Ridge (LCC-19) soái hạm của Hạm đội 7, tiến vào vùng biển tranh chấp ở Biển Đông.
Tạp chí “Nghiên cứu an ninh và biển châu Á-Thái Bình Dương”, Trung Quốc.
![]()
Views: 0
Bất chấp luật pháp quốc tế, sau khi chiếm đóng Hoàng Sa, Trung Quốc lại một lần nữa dùng vũ lực xâm lược một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Khúc ca bi tráng…
Tháng 01 năm 1988, CHND Trung Hoa đã huy động một lực lượng hải quân gồm nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa xuất phát từ Hải Nam tiến xuống phía Nam, trong đó có 4 chiếc đến khu vực phía Tây Bắc quần đảo Hoàng Sa, khiêu khích và cản trở hoạt động các tàu vận tải của Việt Nam trong khu vực biển gần bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên. Lực lượng tàu chiến này đặt dưới sự chỉ huy của một Bộ Tư lệnh đặc biệt được thành lập để tổ chức triển khai chiến dịch đánh chiếm một phần quần đảo Trường Sa, bắt đầu từ ngày 14 tháng 3 năm 1988, nấp dưới luận điệu quen thuộc “phản công để tự vệ”.

Bức tranh vẽ lại cuộc chiến đấu anh dũng của Thiếu úy Trần Văn Phương chống lại rất đông quân Trung Quốc trên bãi đá Gạc- Ma. Bức tranh được treo trang trọng tại phòng truyền thống Vùng 4 Hải quân Việt Nam
Trong chiến dịch này, Trung Quốc đã sử dụng một liên đội tàu chiến gồm 6 chiếc, trong đó có 3 chiếc tàu hộ vệ số 502, 509, 531 trang bị tên lửa và pháo 100mm, các tàu này đã tấn công, bắn chìm 3 tàu vận tải của Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế cho các bãi đá Len Đao, Cô Lin, Gạc Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn đang do Việt Nam quản lý.
Bãi đá Cô Lin, nơi tàu HQ- 505 ủi bãi giữ chủ quyền. Hiện tại Hải quân Việt Nam vẫn ngày đêm canh giữ.
Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và đồng đội trên tàu HQ- 505 đã anh dũng, mưu trí giữ được bãi đá Cô Lin:
Trong lúc tàu HQ-604 và đảo Gạc Ma bị tấn công dữ dội thì bên đảo Len Đao và Cô Lin, tàu HQ-605 và HQ-505 cũng đồng thời bị bắn. Khi thấy tàu HQ-604 bị bắn chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505 Vũ Huy Lễ cho tàu lùi ra lấy đà và ủi lên đảo Cô Lin. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy. Thủy thủ tàu vừa dập lửa vừa đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu HQ-604.
Nguồn Vietnamnet
Trong cuộc xâm chiếm bất hợp pháp của Trung Quốc tại khu vực bãi đá ở Trường Sa, tính đến ngày 6 tháng 4 năm 1988, Trung Quốc đã chiếm đóng đá Chữ Thập, đá Châu Viên, đá Ga Ven, đá Tư Nghĩa, đá Gạc Ma, đá Su Bi.
Các chiến sĩ hải quân Việt Nam dù bị động trước số lượng áp đảo của tàu chiến Trung Quốc vẫn chiến đấu anh dũng, hy sinh, bảo vệ được chủ quyền tại đá Cô Lin và Len Đao
Năm 1988, Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp quốc, gửi nhiều công hàm phản đối đến Bắc Kinh và đặc biệt là các công hàm ngày 16, 17, 23 tháng 3 năm 1988 đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14 tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (Nghị quyết ngày 13/4/1988 thành lập tỉnh Hải Nam).
Việt Nam tiếp tục đấu tranh bảo vệ chủ quyền

Hải quân Việt Nam, vững tay súng bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương
Tháng 4/1988, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công bố Sách trắng “Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế”.
Ngày 01 tháng 7 năm 1988, tỉnh Phú Khánh được tách làm hai tỉnh : Phú Yên và Khánh Hòa, huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Ngày 4 tháng 3 năm 1992, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Công hàm phản đối “Pháp lệnh về lãnh hải , vùng tiếp giáp lãnh hải của CHND Trung Hoa”. Công hàm khẳng định Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 22 tháng 01 năm 1994, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố Việt Nam có quyền kiểm soát đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam là nước đầu tiên chiếm hữu và quản lý nhà nước hai quần đảo này từ thế kỉ XVII.
Ngày 23 tháng 6 năm 1994, Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982, trong đó có đoạn ghi: “Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các hành động khác có liên quan về Biển Đông thông qua luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước năm 1982 về Luật Biển của Liên Hợp quốc, tôn trọng quyền chủ quyền về kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán đề tìm giải pháp cơ bản, lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực”.

Vòng hoa thả trôi tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ hy sinh trong trận chiến bảo vệ Trường Sa 1988
Danh sách 64 chiến sĩ đã hy sinh ngày 14-3-1988 trong trận chiến bảo vệ quần đảo Trường Sa:
1- Vũ Phi Trừ, quê Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hóa.
2- Nguyễn Văn Thắng, quê Thái Hưng, Thái Thụy, Thái Bình.
3- Phạm Gia Thiều, quê Hưng Đạo, Trung Đồng, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam).
4- Lê Đức Hoàng, quê Nam Yên, Hải Yên, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
5- Trần Văn Minh, quê Đại Tân, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ Tĩnh (nay là tỉnh Nghệ An).
6- Đoàn Đắc Hoạch, quê 163 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng.
7- Tạ Trần Văn Chức, quê Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình.
8- Hán Văn Khoa, quê Văn Lương, Tam Thanh, Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ).
9 – Trần Văn Phong, quê Hải Tây, Hải Hậu, Hà Nam Ninh (Nam Định).
10- Nguyễn Văn Hải, quê Chính Mỹ, Thủy Nguyên, Hải Phòng.
11- Nguyễn Tất Nam, quê Thường Sơn, Đô Lương, Nghệ Tĩnh.
12- Trần Đức Bảy, quê Phương Phượng, Lê Hòa, Kim Bảng, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam).
13- Đỗ Việt Thắng, quê Thiệu Tân, Đông Sơn, Thanh Hóa.
14- Nguyễn Văn Thủy, quê Phú Linh, Phương Đình, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là Hà Nam).
15- Phạm Hữu Đoan, quê Thái Phúc, Thái Thụy, Thái Bình16- Bùi Duy Hiền, quê Diêm Điền, Thái Thụy, Thái Bình.
17- Nguyễn Bá Cường, quê Thanh Quýt, Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam – Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam).
18- Kiều Văn Lập, quê Phú Long, Long Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội.
19- Lê Đình Thơ, quê Hoằng Minh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
20- Cao Xuân Minh, quê Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
21- Nguyễn Mậu Phong, quê Duy Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (nay là Quảng Bình).
22- Trần Văn Phương, quê Quảng Phúc, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
23- Đinh Ngọc Doanh, quê Ninh Khang, Hoa Lư, Hà Nam Ninh (Ninh BÌnh).
24- Hồ Công Đệ, quê Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
25- Đậu Xuân Tư, quê Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
26- Bùi Bá Kiên, quê Văn Phong, Cát Hải, Hải Phòng.
27- Đào Kim Cương, quê Vương Lộc, Can Lộc, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
28- Phan Tấn Dư, quê Hòa Phong, Tuy hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
29- Nguyễn Văn Phương, quê Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình.
30- Võ Đình Tuấn, quê Ninh Ích, Ninh Hòa, Phú Khánh (Khánh Hòa).
31- Nguyễn Văn Thành, quê Hương Điền, Hương Khê, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
32- Phan Huy Sơn, quê Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
33- Lê Bá Giang, quê Hưng Dũng, thành phố Vinh, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
34- Nguyễn Thắng Hải, quê Sơn Kim, Hương Sơn, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
35- Phan Văn Dương, quê Nam Kim, Nam Đàn, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
36- Hồ Văn Nuôi, quê Nghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
37- Vũ Đình Lương, quê Trung Thành, Yên Thành, Nghệ Tĩnh.
38- Trương Văn Thinh, quê Bình Kiên, Tuy Hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
39- Trần Đức Thông, quê Minh Hòa, Hưng Hà, Thái Bình.
40- Trần Văn Phong, quê Minh Tâm, Kiến Xương, Thái Bình.
41- Trần Quốc Trị, quê Đông Thạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
43 – Lê Thế, quê tổ 29, An Trung Tây, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
44- Trần Đức Hóa, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
45- Phan Văn Thiềng, quê Đông Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
46- Tống Sĩ Bái, quê phường 1, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
47- Hoàng Ánh Đông, quê phường 2, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
48- Trương Minh Phương, quê Quảng Sơn, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
49- Nguyễn Minh Tâm, quê Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình.
50- Trần Mạnh Viết, quê tổ 36, Bình Hiên, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
51- Hoàng Văn Túy, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
52- Võ Minh Đức, quê Liên Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
53- Võ Văn Tứ, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
54- Trương Văn Hướng, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
55- Nguyễn Tiến Doãn, quê Ngư Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
56- Phạm Hữu Tý, quê Phong Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
57- Nguyễn Hữu Lộc, quê tổ 22, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
58- Trương Quốc Hùng, quê tổ 5, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
59- Nguyễn Phú Đoàn, quê tổ 47, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
60- Nguyễn Trung Kiên, quê Nam Tiến, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (Nam Định).
61- Phạm Văn Lợi, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
62- Trần Văn Quyết, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Q. Bình).
63- Phạm Văn Sửu, quê tổ 7, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
64- Trần Tài, quê tổ 12, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng)
Nguồn: Vietnamnet
(Lược trích từ sách Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông)
![]()
Views: 0
Xây dựng đất nước từ sức mạnh trên biển là truyền thống của Mỹ, khi bắt đầu lập quốc, họ đã rất coi trọng tự do đi lại trên biển. Ngay từ năm 1776, Mỹ đã đưa ra nguyên tắc tàu thuyền được tự do chở hàng hóa, đây cũng là tuyên bố chính thức đầu tiên về nguyên tắc tự do đi lại trên biển của Mỹ. Một trong những sứ mệnh ban đầu sau khi hải quân Mỹ được xây dựng vào tháng 10/1775 là bảo vệ quyền tự do đi lại trên biển, bảo vệ tàu thương mại của Mỹ đi lại ở Đại Tây Dương tránh mối đe dọa cướp biển.

Ngoài ra, hai cuộc chiến tranh thế giới có Mỹ tham gia trong lịch sử nước này đều liên quan chặt chẽ đến tự do đi lại trên biển mà Mỹ luôn cổ súy. Trong kế hoạch 14 điểm gửi đến quốc hội vào tháng 1/1918, Tổng thống Mỹ Thomas Woodrow Wilson nêu rõ một trong những nguyên tắc phổ biến mà Mỹ giành được khi tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất chính là tự do đi lại tuyệt đối trên biển. Tương tự, ngày 11/9/1941, sau khi tàu khu trục của Mỹ bị tàu ngầm của Đức tấn công, bài phát biểu của Tổng thống Franklin Roosevelt trong chương trình “Đối thoại bên lò sưởi” tiếp tục tuyên bố: “Biển cực kỳ quan trọng trong công việc phòng thủ an ninh của Mỹ, cho dù chúng ta phải bỏ ra những gì, dù trả giá như thế nào, chúng ta cũng nhất định phải có được tự do thương mại hợp pháp trên vùng biển quốc tế”.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã tiếp tục chính sách “tự do hàng hải”, đồng thời lần lượt công bố rất nhiều văn bản mang tính cương lĩnh về “tự do hàng hải”. Năm 1983, Mỹ đã công bố “Báo cáo chính sách biển”, báo cáo này tuyên bố lấy phương thức cùng nhất trí cân bằng lợi ích thể hiện trong Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS), thực hiện và đảm bảo quyền lợi, tự do cùng việc sử dụng biển của Mỹ trên phạm vi toàn thế giới. Năm 2005, Chính quyền George W.Bush đã đánh giá lại tình hình an ninh mà Mỹ phải đối mặt, đã công bố “Chiến lược an ninh trên biển quốc gia” và 8 văn bản phụ lục của chiến lược này, nhằm xây dựng phương châm chỉ đạo và khuôn khổ cơ chế cho chính sách “tự do hàng hải” của Mỹ.
Trong quá trình hình thành và phát triển chính sách “tự do hàng hải” của Mỹ, năm 1979, Chính quyền Carter bắt đầu xây dựng và thực thi chương trình “tự do hàng hải”. Chương trình này chủ yếu thông qua đối ngoại để thể hiện Mỹ không thừa nhận chủ trương lãnh hải quá mức của các quốc gia ven biển, từ đó đi đến mục đích bảo vệ quyền “tự do hàng hải” của Mỹ. Chương trình “tự do hàng hải” của Mỹ thực hiện cơ chế “ba quỹ đạo”, đó là các tổ chức đại diện ngoại giao (chủ yếu là Bộ Ngoại giao) và quân đội (chủ yếu là Bộ Quốc phòng Mỹ) lần lượt thông qua can thiệp ngoại giao, thực hiện ba phương thức hoạt động như cùng với các quốc gia và tổ chức khu vực khác như ASEAN, Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO)… đàm phán song phương, đa phương, cùng với hoạt động tự do hàng hải để bảo vệ tự do đi lại trên biển do Mỹ chủ trương.
Tuyên bố chung tại Hội nghị cấp cao Mỹ-ASEAN đặc biệt tổ chức từ ngày 15 đến 16/2/2016 nhấn mạnh hai bên cùng cam kết căn cứ vào nguyên tắc của luật quốc tế được quốc tế thừa nhận và UNCLOS năm 1982 để giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, cùng nỗ lực bảo vệ hòa bình, an ninh và ổn định khu vực, đảm bảo an ninh trên biển bao gồm tự do đi lại trên biển, trên không, đồng thời thực thi các điều khoản khác do UNCLOS quy định về sử dụng hợp pháp biển và lưu thông thương mại trên biển. Trên thực tế, đây chính là hình thức thể hiện điển hình trong các chương trình “tự do hàng hải” của Mỹ thông qua đàm phán ngoại giao song phương và đa phương để quán triệt chính sách “tự do hàng hải” của Mỹ.
Hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đông
Ngoài kết nối ngoại giao song phương và cơ chế đàm phán đa phương trực tiếp, một biện pháp quan trọng khác để Mỹ thúc đẩy chương trình tự do đi lại trên biển chính là hoạt động “tự do hàng hải” (FONOP) do Bộ Quốc phòng Mỹ nắm vai trò chủ đạo.
Từ năm 1983 đến nayMỹ đều lấy danh nghĩa bảo vệ tự do đi lại trên biển để bắt đầu triển khai định kỳ cái gọi là hoạt động tự do đi lại trên phạm vi toàn cầu, bao gồm các hoạt động tự do đi lại ở các vùng biển như vịnh Sidra ở phía Bắc Libya vào thập niên 1980, eo biển Gibraltar, eo biển Hormuz, eo biển Malacca… Hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ do Bộ Quốc phòng Mỹ hoạch định và chỉ huy, lực lượng không quân, hải quân và lực lượng phòng vệ bờ biển của Mỹ phụ trách thực thi cụ thể, đã bao trùm tất cả các quốc gia theo luật quốc tế quy định, đồng thời cũng bao gồm một số đồng minh truyền thống của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines… Do đó, Mỹ thường tự khoe khoang rằng hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ là “toàn diện, khách quan và công bằng”. Mục đích căn bản của hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ là thách thức đối với đòi hỏi về lãnh thổ “quá nhiều” và “quá mức” của Trung Quốc nhằm duy trì và bảo vệ quyền “tự do hàng hải” do Mỹ cổ súy.
Khu vực Biển Đông tập trung nhiều tuyến đường biển quốc tế quan trọng như eo biển Malacca, eo biển Sunda, eo biển Lombok…, là tuyến đường quan trọng kết nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, đảm nhận tới 1/3 kim ngạch thương mại trên biển của thế giới, mỗi năm lên tới hơn 5000 tỷ USD, trong đó 1200 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ. Biển Đông còn là ngư trường thiên nhiên phong phú, chiếm 12% tổng lượng hải sản đánh bắt trên toàn thế giới. Do đó, trọng điểm của hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ những năm gần đây cũng chuyển dịch đến khu vực Biển Đông, trong đó Trung Quốc đã trở thành mục tiêu chủ yếu thách thức hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đông. Bắt đầu từ tháng 10/2007, Trung Quốc hàng năm đều có thể trở thành đối tượng thách thức hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ, hơn nữa chủ trương lãnh hải quá mức của Trung Quốc thách thức hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ cũng không ngừng gia tăng. Từ ban đầu là tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc phải được sự cho phép của Trung Quốc, phát triển đến sau này: quyền quản lý vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, quyền quản lý vùng tiếp giáp lãnh hải của Trung Quốc, luật pháp trong nước Trung Quốc định nghĩa hoạt động tuần tra của nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế là phạm pháp, Trung Quốc hạn chế máy bay nước ngoài “không có ý đồ” xâm phạm vùng trời của Trung Quốc tiến vào Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) … đều được coi là nội dung thách thức đối với hoạt động tự do qua lại trên không của Mỹ.
Ngày 6/3/2017, Bộ Quốc phòng Mỹ đã công bố “Báo cáo tự do hàng hải” của năm tài khóa 2016. Theo thống kê của báo cáo này, từ ngày 1/10/2015 đến ngày 30/9/2016, chủ trương lãnh hải quá mức của 22 quốc gia trên thế giới bị thách thức bởi lực lượng vũ trang của Mỹ. Trong thời gian này, hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ nhằm vào Biển Đôngbao gồm: Ngày 26/10/2015, tàu khu trục mang tên lửa USS Lassen cùng với sự hộ tống của tàu chiến P-8 Poseidon và máy bay P-3 Orion đã tiến vào vùng biển 12 hải lý ở đảo Chử Bích (Subi) thuộc quần đảo Trường Sa. Đây cũng là hoạt động “tự do hàng hải” đầu tiên của Mỹ ở khu vực này kể từ năm 2012. Tháng 1/2016, tàu USS Curtis Wilbur của hải quân Mỹ đã tiến vào vùng biển 12 hải lý xung quanh đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa. Tháng 5/2016, tàu USS James E.Williams của hải quân Mỹ tiến vào vùng biển 12 hải lý của đảo đá Chữ Thập.
Sau khi lên cầm quyền, Chính quyền Trump trong thời kỳ đầu đã có lúc ngừng hoạt động “tự do hàng hải” ở Biển Đôngđể được Trung Quốc gia tăng sức ép với Triều Tiên, nhưng sau đó bắt đầu thực hiện trở lại hoạt động này. Ngày 25/5/2017, tàu khu trục mang tên lửa USS Dewey đã tiến vào vùng biển 12 hải lý xung quanh đá Vành Khănthuộc quần đảo Trường Sa. Ngày 2/7, tàu khu trục mang tên lửa USS Stethem của hải quân Mỹ lại tiến vào vùng biển 12 hải lý xung quanh đảo Tri Tôn. Ngày 10/8, tàu khu trục USS John S.McCain của hải quân Mỹ tiếp tục giương cao khẩu hiệu duy trì và bảo vệ quyền “tự do hàng hải” để tiến vào phạm vi 12 hải lý xung quanh Đá vành Khăn.
Ảnh hưởng của hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đông đối với “Vành đai và Con đường”của Trung Quốc
Những năm gần đây, với sự nỗ lực chung của các quốc gia trong khu vực, Biển Đông đã có phần dịu bớt căng thẳng vốn dễ dẫn đến xung đột: Quan hệ Trung Quốc-Philippines cải thiện rõ rệt;tháng 8/2017, các nước ASEAN đã ký “Hiệp định khung về xây dựng ‘Quy tắc ứng xử Biển Đông’(COC)”, cột mốc đánh dấu nhận thức chung quan trọng về mặt xây dựng hòa bình và bảo vệ ổn định khu vực, cũng tạo điều kiện để cuối cùng hoàn thành đàm phán COC.
Sau khi Trump lên nắm quyền,hoạt động“tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đông không ngừng gia tăng về mức độ và cường độ. Theo tin tức của The Washington Times, Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ còn xây dựng kế hoạch hoạt động hàng hải, nhằm gia tăng sự thách thức của Mỹ đối với tuyên bố chủ quyền Biển Đôngcủa Trung Quốc.Hoạt động “tự do hàng hải” ở Biển Đôngcủa Mỹ đãgây khó khăn lớn cho việc thực hiện thành công sáng kiến “Vành đai và Con đường”.
Thứ hai, Mỹ giương cao ngọn cờ “tự do hàng hải”, cũng làm tăng thêm rất nhiều nhân tố khó lường cho tình hình khu vực
Việt Nam và Philippines từng là những quốc gia có thái độ cứng rắn nhất đối với Trung Quốc trong số các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, cùng với sự kiện Duterte lên làm Tổng thống Philippines, quan hệ Mỹ-Philippines rơi xuống mức thấp nhất, nhưng quan hệ Trung Quốc-Philippines lại không ngừng được cải thiện với nỗ lực chung của hai nước. Trong thời gian Duterte thăm Trung Quốc vào tháng 10/2016, Trung Quốc đã tiếp đón với nghi thức cao nhất, hai nước đã ký 13 văn bản hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực. Hai bên đã khẳng định lại không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông, các quốc gia có chủ quyền liên quan trực tiếp thông qua đàm phán hữu nghị, giải quyết tranh chấp lãnh thổ và quyền quản lý lãnh thổ bằng phương thức hòa bình. Sau đó, trong nhiều diễn đàn đa phương, Philippines không còn tiếp tục chủ động đề cập đến phán quyết của Tòa Trọng tài về Biển Đôngcó lợi cho họ, Duterte trực tiếp tạm ngưng tuần tra chung giữa Mỹ và Philippines.
Sau khi Trump lên nắm quyền, Mỹ từng bước điều chỉnh quan hệ với Philippines, quan hệ Mỹ-Philippines xuất hiện dấu hiện cải thiện. Trump giảm bớt những chỉ trích về tình trạng nhân quyền ở Philippines, Duterte cũng có hành động hiếm thấy là gửi điện mừng sau khi Trump đắc cử Tổng thống. Từ ngày 23 đến 24/8/2017, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ Harry Harris thăm Philippines, được Tổng thống Duterte tiếp. Duterte cho rằng Philippines ủng hộ hoạt động “tự do hàng hải” mà Mỹ tiến hành để bảo vệ an ninh khu vực. Cùng với việc cải thiện quan hệ Mỹ-Philippines và tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đông, việc khôi phục và cải thiện quan hệ Trung Quốc-Philippines và thực hiện sáng kiến “Vành đai và Con đường” có thể chịu tác động và ảnh hưởng như thế nào đều rất đáng quan tâm.
Thứ ba, hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đôngcũng làm cho nhiều nước ngoài khu vực đua nhau can dự vào tranh chấp Biển Đông, trở thành nhân tố bất ổn mới trong khu vực.
Mỹ không ngừng khuyến khích hoạt động “tự do hàng hải” ở Biển Đông, rất nhiều đồng minh của Mỹ như Australia, Anh… đã bắt đầu có biểu hiện theo Mỹ tham gia hoạt động “tự do hàng hải” ở Biển Đông. Theo tin tức của BBC, ngày 15/12/2015, Australia đã triển khai hoạt động tự do bay qua bầu trời trên vùng biển nhạy cảm ở Biển Đông. Ngoại trưởng Anh Boris Johnson cũng từng cao giọng phải điều động tàu sân bay của Anh đến Biển Đôngđể tiến hành hoạt động “tự do hàng hải”.
Nhật Bản những năm gần đây đã tăng cường quan hệ cấp cao và hợp tác an ninh trên biển với các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đôngnhư Việt Nam, Philippines và Indonesia, ý đồ làm đối trọng và kiềm chế Trung Quốc hết sức rõ ràng. Từ ngày 12 đến 17/1/2017, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã tiến hành chuyến thăm “kiểu gió xoáy” tới bốn nước thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong đó có Philippines, Indonesia và Việt Nam. Trong chuyến thăm Việt Nam, Abe cam kết cung cấp cho Việt Nam viện trợ phát triển (ODA) trị giá 120 tỷ yên (tương đương 105 triệu USD) và 6 tàu tuần tra mới đóng nhằm tăng cường khả năng thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam. Trong thời gian thăm Philippines, Nhật Bản cam kết trong vòng 5 năm tới sẽ viện trợ 1000 tỷ yên (khoảng 880 triệu USD) bao gồm ODA và đầu tư dân sự, đây cũng là số tiền viện trợ lớn nhất của Nhật Bản đối với một quốc gia. Ngoài ra, hai bên còn tổ chức lễ trao văn bản đã ký về việc Nhật Bản cung cấp tàu cao tốc cỡ nhỏ cho lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines. Trong thời gian thăm Indonesia, Shinzo Abe bày tỏ mong muốn sớm ký hiệp định thúc đẩy chuyển giao thiết bị phòng thủ và kỹ thuật với Indonesia, nhằm tăng cường hợp tác song phương trong các lĩnh vực an ninh và quốc phòng. Trong buổi họp báo sau hội đàm, hai bên cũng tuyên bố Nhật Bản sẽ thúc đẩy phát triển đảo xa bao gồm quần đảo Natuna và hợp tác ninh trên biển.
Thứ tư, hoạt động “tự do hàng hải” mà Mỹ không ngừng tiến hành ở Biển Đônglàm tăng thêm tâm lý phòng ngừa của những quốc gia vốn lo ngại đối với “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc, từ đó cũng làm tăng thêm khó khăn cho việc thực hiện “Vành đai và Con đường” ở các quốc gia này.
Chẳng hạn, trong vấn đề Biển Đông, Indonesia vốn không phải là quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, không có xung đột lợi ích trực tiếp và tranh chấp lãnh thổ lớn với Trung Quốc ở Biển Đông. Điều này giúp Indonesia đóng vai trò đặc biệt trong vấn đề Biển Đông, đã hình thành lập trường riêng của họ về vấn đề Biển Đông. Một mặt, Indonesia là nước không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đôngnên được coi là lực lượng nước lớn khu vực cân bằng các bên, đóng vai trò người hòa giải. Mặt khác, Indonesia nhấn mạnh địa vị trung lập của họ, từng có thời điểm từ chối đề nghị tuần tra chung ở Biển Đôngcủa Mỹ, chủ trương vấn đề Biển Đôngcần được giải quyết trong khuôn khổ ASEAN. Do đó, Indonesia và Trung Quốc tồn tại điều kiện có lợi để kết nối chiến lược.
Do tác động thường xuyên của hoạt động “tự do hàng hải” và về“mối đe dọa từ Trung Quốc”, nên Indonesiađang có sự thay đổi thái độ đối với Trung Quốc. Tháng 10/2015, Tổng thống Indonesia Joko Widodo lần đầu thăm Mỹ. Trong tuyên bố chung sau khi hội kiến với Tổng thống Mỹ Obama, Mỹ và Indonesia tuyên bố nâng cấp quan hệ đối tác toàn diện lên thành quan hệ đối tác chiến lược. Tuyên bố chung còn đề cập đến vấn đề Biển Đông, nêu rõ hai nước lo ngại trước cục diện Biển Đông căng thẳng, lòng tin bị sứt mẻ và sự phát triển hòa bình, an ninh và phồn vinh kinh tế khu vực gần đây bị phá hoại. Hai nước khẳng định lại tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh trên biển và quyền tự do đi lại trên biển, trên không được quốc tế công nhận ở Biển Đông. Ngày 27/10/2016, tại Hội nghị Bộ trưởng 2+2 (Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Ngoại giao) giữa Indonesia và Australia tại đảo Bali (Indonesia), Indonesia đã bất ngờ chủ động đề xuất tuần tra chung với Australia ở Biển Đông./.
Phan Nam
![]()
Views: 0
Năm 2018 dự báo sẽ là năm Trung Quốc củng cố và có thể mở rộng thêm quyền kiểm soát, trong bối cảnh các nỗ lực ngoại giao nhằm tìm giải pháp cho cuộc tranh chấp vẫn tiếp diễn. Đó là nhận định của chuyên gia Bonnie Glaser, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tại Washington.

Trung Quốc xây dựng trái phép đường băng trên các đảo ở Biển Đông
Sau một năm tương đối tĩnh lặng nếu chỉ nhìn bề ngoài, Biển Đông sẽ có thể căng thẳng trở lại. Lý do dễ thấy là do những yêu cầu tự kiềm chế và không quân sự hoá không được chú ý đầy đủ, làm cho những nỗ lực ngoại giao không mang lại kết quả như mong muốn.
Trong năm 2018, Mỹ và Trung Quốc sẽ tiếp tục kịch bản của nửa cuối năm 2017. Hải quân Mỹ dự kiến sẽ tiếp tục thách thức “các yêu sách hàng hải quá đáng” của Trung Quốc trên Biển Đông. Lực lượng này sẽ tiến hành các chiến dịch bảo vệ quyền tự do đi lại trên biển (FONOP) một cách thường xuyên, khoảng từ sáu đến tám tuần một lần, và luân phiên giữa hai khu vực Trường Sa và Hoàng Sa.
Trung Quốc sẽ tiếp tục phái máy bay chiến đấu và chiến hạm ra đối phó, nhưng tuân thủ thỏa thuận song phương Mỹ-Trung về “các Quy tắc ứng xử an toàn” trên không và trên biển, nhằm tránh xung đột quân sự với quân đội Mỹ.
Năm 2018 cũng sẽ là năm nhóm “Bộ tứ” (Quad), bao gồm bốn quốc gia Úc, Nhật, Ấn và Mỹ gia tăng các hoạt động để triển khai chiến lươc “Ấn Thái Dương”. Theo như những nội dung hợp tác hợp thì trong năm 2018, thế giới có thể chứng kiến một cuộc tập trận hải quân chung của bốn nước tại vùng biển quốc tế với mục tiêu thực thi quyền tự do hàng hải.
Đáp lại, Trung Quốc, sẽ tính tới việc triển khai những chiếc máy bay quân sự đầu tiên trên một hoặc nhiều tiền đồn mới xây dựng ở Vành Khăn, Chữ Thập hay Xu Bi trên Trường Sa. Hoạt động này có thể được tiến hành dưới dạng một cuộc tập trận, hoặc một kế hoạch luân phiên triển khai ngắn hạn, tương tự như điều mà Bắc Kinh đã làm ở quần đảo Hoàng Sa.
Bộ Ngoại giao và Quốc phòng Trung Quốc chắc chắn sẽ lại nhấn mạnh các khẩu hiệu “hòa bình”, nhưng luôn cao giọng khẳng định “quyền của Trung Quốc”. Và họ sẽ tiếp tục các hành động quân sự hóa ngay trên các đảo đá đã từng cưỡng chiếm. Hẳn nhiên, các hành động ấy sẽ gây nên những mối lo ngại trong khu vực.
Trong năm nay hợp tác giữa Trung Quốc và Philippines nhằm thăm dò dầu khí tại Biển Đông sẽ được xúc tiến. Dự kiến việc thăm dò diễn ra tại một khu vực rộng 2.700 dặm vuông, nằm hoàn toàn trong vùng kinh tế đặc quyền 200 hải lý của Philippines và bên ngoài đường lưỡi bò của Trung Quốc.
Việt Nam và các nước trong khu vực cần xem xét có dấu hiệu nào về việc các bên tranh chấp đồng ý hợp tác trên một khu vực nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển nhưng bên trong đường lưỡi bò mà Bắc Kinh vẽ ra.
Đồng thời cần chuẩn bị cho các cuộc đàm phán chính thức giữa Trung Quốc và ASEAN về Bộ Quy tắc Ứng xử (COC), dự kiến vào đầu năm nay. Tuy nhiên, COC không thể đạt được một cách nhanh chóng, vì rất nhiều khả năng Bắc Kinh sẽ trì hoãn việc hoàn thiện thỏa thuận cuối cùng. COC chỉ hoàn thiện một khi Bắc Kinh đạt được yêu cầu vẫn duy trì quyền tự do hành động để thúc đẩy các yêu sách chủ quyền của họ.
Thái độ của Mỹ ra sao? Ngay từ đầu năm, chính quyền Trump có những động thái họ sẽ cứng rắn hơn với các động thái trên Biển Đông. “Trung Quốc xây đảo và triển khai các thiết bị quân sự tại đây không khác gì việc Nga chiếm Crimea”, Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson nói trong phiên điều trần để được Thượng viện phê chuẩn vào chức ngoại trưởng hồi tháng 1.
Ông khẳng định dứt khoát: “Chúng tôi sẽ phải gửi đến Trung Quốc một tín hiệu rõ ràng rằng trước hết, hãy dừng việc xây đảo, và thứ hai, họ không được phép đưa các thiết bị đến đảo”.
Tuy nhiên, căng thẳng leo thang trên bán đảo Triều Tiên. Cuộc khủng hoảng hạt nhân, tên lửa Triều Tiên trở thành ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của chính quyền Trump. Mỹ xem chương trình hạt nhân, tên lửa của Bình Nhưỡng là mối đe dọa rõ ràng và hiển hiện đối với đất liền của họ. Và có lẽ họ phải ưu tiên cho các kế sách với Triều Tiên trước khi ra tay ở Biển Đông./.
Phan Nam
![]()
Views: 0
LTS: Cách đây đúng 44 năm, ngày 19.01.1974 Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Điều này vi phạm nghiêm trọng điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc.
Xin lược trích diễn biến từ cuốn sách “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” của TS. Trần Công Trục.

Một thực tế không thể chối cãi, Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam. Điều này vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ quốc gia.
Chiến thuật lấn chiếm “ Đục nước béo cò”.
Việc Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, buộc quân Pháp phải rút khỏi Việt Nam tháng 4 năm 1956 và để khoảng trống bố phòng ở Biển Đông, khiến các nước trong khu vực, trong đó có Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) và Philippines cho là cơ hội tốt để đưa lực lượng quân sự ra chiếm đóng trái phép một số đảo ở Hoàng Sa cũng như Trường Sa của Việt Nam: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đánh chiếm nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa, Đài Loan đánh chiếm đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa…

Ngày 22/8/1956, song song với việc đưa lực lượng hải quân ra quần đảo Trường Sa để bảo vệ quần đảo này trước những hoạt động xâm lấn của các lực lượng nói trên, Việt Nam Cộng Hòa ( VNCH ) đã tổ chức một số hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa, như : Tổ chức đoàn nghiên cứu thủy văn do Saurin dẫn đầu; cho phép kỹ nghệ gia Lê Văn Cang tiến hành khai thác phốt phát ở Hoàng Sa. Từ năm 1957, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH đã cử một đại đội thủy quân lục chiến ra quản lý, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa thay thế cho quân của đại đội 42 thuộc tiểu đoàn 142.

Ngày 20 tháng 10 năm 1956, Chính quyền VNCH ra sắc lệnh 143/VN về việc đổi tên các tỉnh miền Nam và đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.
Ngày 7 tháng 5 năm 1957, tàu vận tải Hàn Giang đã đến Nha Trang để chuyên chở một đại đội của tiểu đoàn thủy quân lục chiến ra đồn trú tại quần đảo Trường Sa. Tàu Hàn Giang rời Nha Trang đi Trường Sa ngày 9 tháng 5 năm 1957.
Ngày 21 tháng 2 năm 1959, CHND Trung Hoa cho một số lính đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa nhằm đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Lực lượng quân đội VNCH đã phá tan được âm mưu này, 82 “ngư dân” và 5 thuyền đánh cá vũ trang đã bị bắt giữ và bị áp giải về giam tại Đà Nẵng, sau đó được trả cho Trung Quốc.
Năm 1960, VNCH đã bổ nhiệm ông Nguyễn Bá Thược, cán bộ hành chính hạng I tại Tam Kỳ, Quảng Nam nhận chức vụ Phái viên hành chính Hoàng Sa; ngày 27 tháng 6 năm 1961 bổ nhiệm ông Hoàng Yêm giữ chức vụ Phái viên hành chính Hoàng Sa.
Ngày 13 tháng 7 năm 1961, VNCH sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam; tại Nghị định số 709-BNV-HCĐP-26 ngày 21 tháng 10 năm 1969 của Thủ tướng VNCH, xã Định Hải được sáp nhập vào xã Hòa Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Ngày 11 tháng 4 năm 1967, VNCH ban hành Nghị định số 809-NĐ-DUHC cử ông Trần Chuân giữ chức Phái viên hành chính xã Định Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Ngày 13 tháng 7 năm 1971, tại Hội nghị ASPEC(Conseil de L’Asie et du Pacifique) tại Manila, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH Trần Văn Lắm đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Ngày 6 tháng 9 năm 1973, tổng trưởng Nội vụ VNCH kí Nghị định số 420-BNV-HCĐP/26 sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Ngày 24 tháng 9 năm 1973, VNCH thông báo dự định tiến hành khảo sát dầu lửa khu vực ngoài khơi bờ biển miền Trung, đối diện với quần đảo Hoàng Sa.
Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam như thế nào?
Ngày 15 tháng 1 năm 1974, sau khi tuyên bố lên án chính quyền VNCH đã “xâm lấn đất đai của Trung Quốc”, “tất các quần đảo Nam Sa, Tây Sa, Đông Sa và Trung Sa là lãnh thổ của Trung Quốc”…, CHND Trung Hoa đã đưa quân đổ bộ và cắm cờ Trung Quốc lên các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa và Duy Mộng thuộc nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 16 tháng 01 năm 1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt của hải quân VNCH đã đưa phái đoàn quân lực ra Hoàng Sa và phát hiện hai chiến hạm số 402 và 407 của Hải quân Trung Quốc đang ở gần đảo Hữu Nhật, xác nhận quân Trung Quốc đã chiếm đóng, cắm cờ trên các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Quang Ảnh… Lập tức Ngoại trưởng Vương Văn Bắc họp báo tố cáo Bắc Kinh đã huy động tàu chiến vi phạm vùng biển quần đảo Hoàng Sa và đưa binh lính đổ bộ xâm chiếm các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa, Duy Mộng thuộc nhóm phía tây quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 17 tháng 01 đến ngày 20 tháng 01 năm 1974, trận hải chiến giữa lực lượng hải quân VNCH và lực lượng hải, lục, không quân, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa xảy ra trong tình thế chênh lệch lực lượng rất khó khăn cho lực lượng VNCH, và mặc dù đã chiến đấu quả cảm nhiều binh sĩ đã anh dũng hi sinh, quân lực VNCH đã không thể giữ được các đảo thuộc nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa.


TS Trần Công Trục, Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, Chủ biên cuốn sách “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” cho biết thêm:
“Theo tài liệu Quân lực VNCH thì trận hải chiến Hoàng Sa có 74 binh sĩ tử vong, bao gồm Hạm trưởng Ngụy Văn Thà; tàu HQ-4 có 3 người tử vong, 16 người bị thương; tàu HQ-16 có 2 người tử vong…”
Quan sát viên của VNCH tại Liên Hợp quốc đã chính thức yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc xem xét hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 01 năm 1974, Bộ Ngoại giao VNCH ra tuyên cáo kêu gọi các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình lên án hành động xâm lược thô bạo của Trung Quốc, buộc Trung Quốc chấm dứt ngay hành động nguy hiểm đó.
Cũng trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố nêu rõ lập trường của mình:
– Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.
– Vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề mà giữa các nước láng giềng thường có những tranh chấp do lịch sử để lại.
– Các nước liên quan cần xem xét vấn đề này trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt và phải giải quyết bằng thương lượng.

Ngày 20 tháng 01 năm 1974, lúc 16 giờ, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc đã thông báo tình hình quần đảo Hoàng Sa cho Martin, Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, và yêu cầu Hoa Kỳ cho biết có dành cho VNCH sự ủng hộ nào về vật chất, chính trị với tư cách là nước thân hữu và đồng minh, cũng như với tư cách là quốc gia đã ký kết và bảo đảm cho Hiệp định Paris ngày 27 tháng 01 năm 1973 không? Nhưng không nhận được trả lời của Hoa Kỳ.
Ngày 21 tháng 01 năm 1974, chính quyền VNCH đã gửi Công hàm cho các thành viên ký kết Định ước Paris để nghị các thành viên lên án và đòi nhà cầm quyền Trung Quốc không được xâm phạm lãnh thổ Việt Nam theo đúng nội dung Điều 1 và Điều 4 của Định ước.
Ngày 22 tháng 01 năm 1974, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã gửi thư cho Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon về biến cố Hoàng Sa và ngày 28 tháng 01 năm 1974, thông báo tới tất cả các quốc gia có quan hệ ngoại giao với VNCH về hành động hiếu chiến của Trung Quốc trong cuộc hành quân xâm lược quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Ngày 01 tháng 02 năm 1974, VNCH đưa lực lượng hải quân và bộ binh tăng cường đóng giữ quần đảo Trường Sa nhằm bảo vệ quần đảo này trước nguy cơ CHND Trung Hoa dùng lực lượng quân đội đánh chiếm quần đảo Trường Sa như dự đoán của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: “Trung Quốc sẽ đánh Trường Sa và xâm chiếm bằng vũ lực giống như Hoàng Sa (có sự tiếp tay hoặc bằng cách làm ngơ của Mỹ)”

Lê Hoàng
![]()
Views: 0
Đầu năm 1956, lợi dụng lúc Pháp vừa rút quân khỏi Đông Dương, các bên của Việt Nam bận rộn thực thi Hiệp định Genève, Trung Quốc bí mật đưa quân ra chiếm một số đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa.
![]() |
| Khu nhà đồn trú của lính địa phương quân Việt Nam cộng hòa trên đảo Hoàng Sa năm 1959 – Ảnh tư liệu trong sách Kỷ yếu Hoàng Sa |
Đó là sự thật, nhưng Trung Quốc thay trắng đổi đen bằng việc tổ chức cái gọi là “lễ kỷ niệm 70 năm thu hồi Hoàng Sa – Trường Sa”.
Sự thật này đã được các nhà nghiên cứu sử học nhắc lại tại hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử” vừa tổ chức ở Huế ngày 12-12 với những tư liệu đã được cả thế giới biết đến, nhất là tư liệu ghi lại diễn biến liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa giai đoạn sau khi Hiệp định Genève được ký kết (1954).
Sự thừa nhận mang tính pháp lý quốc tế
PGS.TS Trần Nam Tiến (Trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia TP.HCM) cho biết vào năm 1938, Nhật đã chiếm ba đảo Phú Lâm, Lincoln và Hữu Nhật của quần đảo Hoàng Sa và đổi tên Hoàng Sa thành Hirata Gunto, mở màn cuộc “khủng hoảng Hoàng Sa” giữa Pháp – Nhật.
Chính quyền của Pháp tại Đông Dương (lúc đó là chủ thể đại diện Chính phủ triều Nguyễn trong việc quản lý toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam) đã phản ứng với những hành động đáp trả quyết liệt. Đến tháng 8-1945, Nhật thua trận và đầu hàng.
Toàn bộ lãnh thổ của các nước mà Nhật đã chiếm đóng, trong đó có Việt Nam, phải được phân định bằng một hiệp ước được ký kết tại hội nghị tổ chức ở thành phố San Francisco (Mỹ) từ ngày 4 đến 8-9-1951 với 52 nước tham gia (không có Trung Quốc).
Tiếp đó, khi Nhật Bản tuyên bố từ bỏ chủ quyền lãnh thổ đối với Hoàng Sa và Trường Sa, các quốc gia tham gia hội nghị cũng đã phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc và mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền đó thuộc về Việt Nam, do chính thể Quốc gia Việt Nam (của quốc trưởng Bảo Đại) đại diện đang có mặt tại hội nghị.
Cũng theo PGS.TS Trần Nam Tiến, ngày 7-9-1951 trong phiên họp toàn thể lần thứ bảy của hội nghị, thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu – trưởng phái đoàn của Quốc gia Việt Nam – đã tuyên bố: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa!”.
Tuyên bố đó không gặp một sự phản đối nào của đại diện 51 quốc gia có mặt tại hội nghị. “Việc 92% quốc gia đồng minh thành viên Liên Hiệp Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là có giá trị pháp lý bắt buộc” – PGS.TS Trần Nam Tiến nhấn mạnh.
Kết quả của hội nghị cũng khiến tuyên bố “Trung Quốc có chủ quyền không thể xâm phạm đối với các đảo trên Biển Đông” của bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai vào 20 ngày trước đó trở nên vô giá trị.
ThS Nguyễn Quang Trung Tiến (Trường ĐH Khoa học Huế) cho biết thêm đến Hội nghị Genève bàn việc lập lại hòa bình ở Đông Dương (năm 1954) với sự có mặt của các quốc gia và cả Trung Quốc, các nước tiếp tục tuyên bố tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.
Cuộc xâm chiếm bí mật 1956
Theo ThS Nguyễn Đình Dũng (ĐH Phú Xuân – Huế), tháng 4-1956, khi quân Pháp vừa rút khỏi Đông Dương, quân đội Quốc gia Việt Nam và tiếp đó là quân đội Việt Nam cộng hòa (VNCH) ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa thì chỉ còn nhóm đảo phía tây.
Trước đó vào thời điểm đầu năm 1956, Trung Quốc đã cho người bí mật chiếm đóng nhóm đảo phía đông Hoàng Sa, trong đó có đảo lớn nhất là Phú Lâm và Lincoln.
Các nhà sử học cho rằng hành vi này của Trung Quốc vi phạm chính sự xác nhận của họ khi Trung Quốc là một trong những nước đã ký vào cam kết của hội nghị.
Đây là cuộc xâm chiếm lén lút mà Trung Quốc cho rằng họ đã “thu hồi” quần đảo Hoàng Sa từ phía Việt Nam. Để rồi ngày 8-12-2016, họ đã tổ chức cái gọi là “lễ kỷ niệm 70 năm” thực hiện hành vi lén lút đó.
TS Nguyễn Nhã (TP.HCM) cho biết cũng với ý đồ như thế, 10 năm trước đó, tháng 12-1946 lợi dụng việc giải giáp quân Nhật thua trận, quân đội Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch cũng ra chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa, chính là nhóm đảo mà năm 1956 quân đội Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã bí mật ra chiếm đóng trở lại.
Cũng theo ThS Nguyễn Đình Dũng, suốt thời gian sau đó Trung Quốc liên tục khiêu khích và tìm cách xâm nhập các đảo phía tây Hoàng Sa mà quân đội VNCH đang trấn giữ.
Trong đêm khuya 20 rạng sáng 21-2-1959, Trung Quốc lén lút đưa ngư dân (thực chất là lính) bí mật đổ bộ lên các đảo Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa của Hoàng Sa. Hải quân VNCH đã ngăn chặn quyết liệt.
Tàu Trung Quốc vẫn không rút lui, khiến hải quân VNCH phải nổ súng, bắt giữ 82 người và 5 thuyền đánh cá của Trung Quốc.
Sau sự kiện này, VNCH liên tục có các hoạt động mạnh mẽ về ngoại giao, hành chính, kinh tế nhằm bảo vệ chủ quyền trong tình trạng Trung Quốc đã trở nên hung hăng hơn. Và đỉnh điểm là cuộc cưỡng chiếm của Trung Quốc với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-1-1974.
Đánh giá về sự kiện bí mật xâm chiếm năm 1956 và công khai cưỡng chiếm năm 1974 của Trung Quốc, TS Nguyễn Nhã đã dẫn lại kết luận của luật gia Monique Chemillier-Gendreau (người Pháp, giáo sư môn công pháp và khoa học chính trị của ĐH Paris VII) trong cuốn sách La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys xuất bản tại Paris giữa những năm 1990:
“Các quyền của Việt Nam lâu đời hơn và vững chắc hơn, mặc dù các đòi hỏi của Trung Quốc đã được cụ thể hóa nhờ việc chiếm đóng bằng vũ lực cách đây 39 năm đối với một bộ phận quần đảo và cách đây 21 năm đối với bộ phận kia…”.
| “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử từ chính sử, châu bản, địa chí, các văn bản đứng đầu nhà nước từ thời chúa Nguyễn, Tây Sơn, các hoàng đế triều đình nhà Nguyễn đến các lãnh đạo chính quyền qua các thời kỳ lịch sử từ đầu thế kỷ XVII đến nay. Đã khẳng định: chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các hải đảo khác hợp với luật pháp quốc tế, là chiếm hữu thực sự mang tính nhà nước, liên tục và hòa bình”…
(Trích quyết nghị của hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử” ngày 12-12-2016 tại Huế) |
tuoitreonline
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
Trong bối cảnh chính quyền Mỹ tập trung đối phó với vấn đề hạt nhân & tên lửa Triều Tiên và đang định hình lại chính sách đối ngoại kiểu mới dưới thời Tổng thống Donald Trump, Trung Quốc đã tranh thủ thời cơ có những tiến triển đáng kể trong việc củng cố thêm sự kiểm soát đối với hầu hết Biển Đông. Theo đó, Trung Quốc đã thực hiện 5 nội dung để kiểm soát Biển Đông trên thực địa:
1. Hoàn thành việc lắp đặt trang thiết bị quân, dân sự tại các thực thể thuộc quần đảo Trường Sa Biển Đông. Trong báo cáo gửi Quốc hội Mỹ tháng 6/2017, Lầu Năm Góc cho biết Trung Quốc hiện không còn mở rộng các bãi đá trên Biển Đông, thay vào đó Bắc Kinh đang nỗ lực bổ sung thêm các cơ sở hạ tầng quân sự trên các đá này. Các cơ sở mới của Trung Quốc bao gồm các sân bay với đường băng dài, kho chứa nước và nhiên liệu, các cầu cảng lớn, nhà chứa máy bay chiến đấu, các cơ sở thông tin liên lạc, kho chứa vũ khí, các doanh trại quân đội và các tòa nhà hành chính.
Lầu Năm Góc đã lần đầu tiên chính thức đề cập tới việc Trung Quốc triển khai các tên lửa và xây dựng các nhà chứa máy bay trên các đảo nhân tạo. Báo cáo của Lầu Năm Góc cho biết thêm Trung Quốc có thể sớm đưa các máy bay chiến đấu mới và hiện đại lên các đảo nhân tạo phi pháp này, trong đó, hai mẫu máy bay tàng hình mới là J-20 và FC-31 có thể sẵn sàng đi vào hoạt động trong năm tới. Theo Bonnie Glaser, một chuyên gia thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ, Trung Quốc “đã xây dựng các cơ sở quy mô lớn và cả các chuyên gia về dân sự và quân sự Trung Quốc luôn khẳng định rằng khi thời điểm chiến lược tới thì họ sẽ bắt đầu sử dụng chúng triệt để hơn”.
Việc Trung Quốc hoàn thiện các cơ sở hạ tầng quân sự quy mô lớn như trên cho thấy ý đồ chiến lược của nước này trong việc tiến tới kiểm soát hoàn toàn Biển Đông trong tương lai, trong đó kịch bản mà Trung Quốc tính tới còn có thể là việc xây dựng đủ “thế và lực” để chuẩn bị cho một “cuộc xung đột quân sự giả định” với Mỹ ở Biển Đông hoặc xa hơn là ở khu vực Thái Bình Dương (trong trường hợp cần giải quyết vấn đề Đài Loan hoặc quần đảo Điếu Ngư/Senkaku).

2.Tại Hoàng Sa, các cơ sở mới của Trung Quốc đã được phát hiện tại Đảo Cây (Triệu Thuật) thuộc nhóm đảo An Vĩnh (Thất Liên).
Trong tháng 11/2017, Trung Quốc đã lần đầu tiên công khai hóa việc bố trí máy bay chiến đấu J-11B có bán kính tác chiến 1500 km bao phủ trung tâm Biển Đông và Đông Nam Á hải đảo. Để thường trú máy bay chiến đấu thường trực, trong điều kiện độ nắng nóng, độ mặn, độ ẩm cao không thích hợp cho đồn trú máy bay chiến đấu, Trung Quốc đã hoàn thành lắp đặt hệ thống gara kín có điều hòa nhiệt độ. Các hệ thống này có thể sẽ được xây dựng tại Đá Xubi, Đá Chữ Thập và Vành Khăn thuộc Trường Sa.
Mỹ là đối tượng đối phó chủ yếu của Trung Quốc tại Biển Đông. Năm nay, Trung Quốc tiếp tục gây khó khăn cho các phương tiện quân sự Mỹ tuần tra, trinh sát và giám sát Biển Đông. Mục tiêu của Trung Quốc là đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông, khởi đầu bằng việc ngày 8/3/2009, khi các tàu thuyền Trung Quốc chèn ép tàu trinh sát đáy biển của hải quân Mỹ Imppeccable hoạt động 70km ngoài khơi Hải Nam. Hiện nay, Trung Quốc đã có hệ thống các căn cứ quân sự để gây khó khăn cho tàu thuyền và máy bay của Mỹ, nhằm đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông.
3. Tăng cường lực lượng hải quân; một số loại tàu đổ bộ tấn công đời mới của Trung Quốc đã được trang bị cho hạm đội Nam Hải. Trung Quốc đã đưa vào hoạt động “máy xây đảo thần kỳ”, với việc hạ thủy tàu Thiên Côn dài 140 mét đã được hạ thủy. Lượng choán nước của nó là 17.000 tấn. Là con tàu lớn nhất thuộc loại này ở châu Á, Thiên Côn có thể dùng cho giai đoạn vun đắp đảo, với sức khoan cắt và bơm công suất mạnh, lấy từ đáy biển sâu 35m đưa lên trên bề mặt khoảng 6.000 m3 đất cát.
Đến nay, Trung Quốc đã xây dựng 5 ngọn hải đăng trên các đảo, đá ở Biển Đông.
4. Trung Quốc đang phát triển kỹ thuật nuôi trồng san hô và các nhuyễn thể trên Biển Đông. Viện nghiên cứu biển Hoa Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Các chuyên gia của Viện này đã bắt đầu gây trồng và nhân san hô trên đáy biển, nuôi tảo, thực vật biển, các loài nhuyễn thể và động thực vật khác trong hệ sinh thái này. Với san hô, giới khoa học Trung Quốc tiến hành y như với cây trên mặt đất, đầu tiên trồng san hô non, còn khi các đốm san hô đạt độ tuổi cần thiết, người ta bứng đi trồng vào môi trường sống tự nhiên của chúng. Bằng cách như vậy, các nhà khoa học Trung Quốc đã trồng khoảng 100.000 m2 san hô.
Điều cần đặc biệt lưu tâm, đó là các thành tựu khoa học và kỹ thuật này có thể được sử dụng để mở rộng hiện diện thực tế của Trung Quốc trên Biển Đông. Ngoài mục tiêu phục hồi toàn bộ hệ sinh thái của các hệ sinh vật biển, Trung Quốc nhằm xây dựng những vùng biển mới mà Bắc Kinh sẽ công bố là sở hữu riêng của Trung Quốc, bất chấp luật biển quốc tế.
5.Tiến một bước đáng kể chia rẽ ASEAN trong vấn đề Biển Đông; đưa đàm phán COC vào quỹ đạo mà Bắc Kinh mong muốn, trong đó, mục tiêu là bình thường hóa tình hình trên Biển Đông và chấp nhận nguyên trạng mới. Với sự thỏa hiệp của chính quyền Philippines và Malaysia (sau khi Thủ tướng Najib thăm Bắc Kinh tháng 11/2016), Trung Quốc tìm cách gây sức ép với Việt Nam trong vấn đề Biển Đông, trước hết để đạt thỏa thuận khung COC không mang tính ràng buộc.
Trong khi cản trở Việt Nam thăm dò dầu khí ngoài khơi, Bắc Kinh tìm kiếm đột phá trong vấn đề khai thác chung tại các khu vực tranh chấp, trước hết là với Philippines./.
![]()
Views: 0
TTO – Những căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên đã hướng sự chú ý của dư luận quốc tế ra khỏi Biển Đông suốt năm 2017.

„Trung Quốc tiếp tục theo đuổi chiến lược dài hơi nhằm giành quyền kiểm soát các tuyến đường biển trên Biển Đông. Và điều thay đổi là Mỹ đã ngừng chú ý tới khu vực“
–Lời ông Michael Fuchs – cựu phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ đặc trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương dưới thời tổng thống Barack Obama–
Trong khi tỏ ra hào phóng với các nước Đông Nam Á bằng các khoản đầu tư, thể hiện trách nhiệm như một nước lớn bằng việc đồng ý đàm phán Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) với ASEAN, Trung Quốc vẫn tiếp tục các hoạt động xây dựng trái phép tại các tiền đồn lưỡng dụng trong khu vực.
Gấp 40 lần diện tích sân bóng đá
Bắc Kinh đã hoàn thành việc nạo vét và bồi đắp để tạo ra 7 thực thể nhân tạo mới tại quần đảo Trường Sa vào đầu năm 2016, và dường như đã tạm ngừng việc này để tập trung việc mở rộng các thực thể địa lý tại quần đảo Hoàng Sa đến giữa năm 2017.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Trung Quốc đã chấm dứt các hoạt động trái phép của họ trên các quần đảo của Việt Nam. Năm 2017 chứng kiến giai đoạn hai – xây dựng các cơ sở hạ tầng cần thiết cho phép không quân và hải quân Trung Quốc hoạt động đầy đủ trên các thực thể nhân tạo lớn.
Báo cáo ngày 14-12 của Tổ chức Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI), thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế của Mỹ, đã cho thấy quy mô công trình xây dựng của Trung Quốc tại các tiền đồn trên Biển Đông.
Việc Thời Báo Hoàn Cầu, tờ báo chính thức của chính quyền Trung Quốc, mới đây ngang nhiên lên tiếng khẳng định việc cải tạo là “hợp lý”, Bắc Kinh đã ngầm xác nhận các thông tin trong báo cáo của AMTI.
Các công trình này bao phủ một khu vực rộng khoảng 290.000m2 (gấp 40 lần diện tích một sân bóng đá), trên đá Chữ Thập, Subi và Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa và đá Bắc, đá Cây và đá Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Trong đó đá Chữ Thập tiếp tục là nơi diễn ra nhiều hoạt động xây dựng nhất trong năm 2017. Ý định của Trung Quốc muốn biến thực thể nhân tạo này thành một tiền đồn lưỡng dụng – phục vụ cả mục đích dân sự lẫn quân sự như đảo Phú Lâm ở quần đảo Hoàng Sa – ngày càng hiện rõ. Tổng diện tích các công trình xây dựng trên Chữ Thập vào khoảng 110.000m2, bao gồm các nhà chứa máy bay lớn hơn dọc đường băng chính.
Triều Tiên “giúp” Trung Quốc
Trong khi các hoạt động của Trung Quốc gây quan ngại trong khu vực và cộng đồng quốc tế, các động thái mang tính thách thức chủ quyền vô lý của Bắc Kinh do Mỹ khởi xướng được xem là có sức nặng hơn cả. Tổng cộng trong năm 2017, Hải quân Mỹ đã tiến hành 4 chiến dịch được gọi là tuần tra bảo đảm tự do hàng hải trên Biển Đông. Các tàu chiến Mỹ lần lượt áp sát các thực thể nhân tạo trái phép của Trung Quốc tại Trường Sa và Hoàng Sa.
Tuy nhiên, giới quan sát cho rằng các động thái này là chưa đủ và đã bị lu mờ bởi sức nóng hạt nhân tỏa ra từ bán đảo Triều Tiên.
So với Triều Tiên, Biển Đông chưa phải là vấn đề đe dọa tới sự sống còn của nhân loại, nên Washington đã chọn cách giải quyết vấn đề cấp bách trước mắt tại Đông Bắc Á, nơi có hai đồng minh quan trọng và hàng chục nghìn binh sĩ Mỹ đang đóng trú.
Nhưng thực sự đó có phải là lý do?
“Chính xác Biển Đông có nằm trong chương trình nghị sự của chính quyền Trump hay không vẫn còn chưa rõ. Tuy nhiên, chuyện Washington giảm bớt áp lực lên Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông với niềm tin rằng Trung Quốc sẽ chìa tay giúp Mỹ trong vấn đề Triều Tiên là hoàn toàn có khả năng” – tạp chí Foreign Affairs viện dẫn các nguồn tin Chính phủ Mỹ để phân tích.
Ngoại giao và quân sự luôn đi cùng nhau nhưng dưới thời Tổng thống Donald Trump, ngoại giao đã không bắt kịp quân sự. Trong lúc Bộ Quốc phòng Mỹ cho thấy khả năng sẵn sàng thách thức Trung Quốc trên Biển Đông, sự thiếu hụt nguồn lực tại Bộ Ngoại giao khiến Washington chỉ có thể tập trung vào vấn đề Triều Tiên kể từ tháng 5-2017.
Nhiều công trình quân sự
Trung Quốc đã hoàn tất xây dựng một số công trình ngầm ở phía nam đá Chữ Thập, nhiều khả năng sẽ được dùng làm kho dự trữ đạn dược hoặc vật liệu thiết yếu; một dãy cảm biến/thông tin liên lạc ở phía đông bắc, nhiều trạm rađa rải rác xung quanh và các hầm chứa tên lửa kiên cố.
tuoitreonline
![]()
Views: 0

Cục trưởng Cục xuất bản Chu Văn Hòa: ‘Sẽ thu hồi toàn bộ sách nếu đưa sai trái về chủ quyền Biển Đông’
Cuốn sách dịch “Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc” của tác giả Trung Quốc Cát Kiếm Hùng do NXB Văn hoá thông tin xuất bản đã đưa những thông tin sai trái, xuyên tạc lịch sử, về chủ quyền Biển Đông của Việt Nam (và của Trung Quốc). Sau khi Một Thế Giới đăng bài vạch trần sai trái này, phóng viên đã liên lạc với Cục xuất bản để làm rõ hơn về vấn đề này.
Cụ thể, bộ sách (cũng đang được bán trên mạng) này gồm 3 tập trong đó tập 3 nói về triều đại nhà Minh và nhà Thanh. Chuyện lịch sử của Trung Quốc sẽ không có gì đáng nói nếu như sách không đưa những thông tin sai trái, không đúng với lịch sử về chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.
Tại trang 390 thuộc mục 3, chương 4 nói về cương vực lãnh thổ nhà Thanh dưới triều vua Khang Hy, sách viết: “Bắt đầu từ ngày hoàng đế Khang Hy thống trị, cương thổ của nước Trung Quốc phía đông đến bờ biển Thái Bình Dương, phía nam đến quần đảo Nam Sa, phía tây vượt qua Thông Lãnh, phía bắc tiếp giáp Tây Bắc Lợi Á (nv: tức là Siberia của Nga). Có thể nói, trước vương triều nhà Thanh chưa có một vương triều phong kiến nào ở Trung Quốc lại có bản đồ rộng lớn và thống nhất một cách hữu hiệu lâu dài như thế“.
Tiếp đến, trang 403 thuộc mục 4, chương 5 nói về xác định biên cương của Trung Quốc trong thời kỳ vương triều nhà Thanh lại viết tiếp: “Trong thời kỳ Càn Long của vương triều nhà Thanh, cương thổ Trung Quốc bắt đầu từ Đài Loan, chạy dài cho tới hồ Balkhash ở phía tây bắc, còn phía tây nam bắt đầu từ biên giới Vân Nam, chạy dài cho tới Ngoại Hưng An Lĩnh; phía nam xuống tận cả đảo Nam Hải, phía bắc lên đến Kháp Khắc Đồ, phía đông đến đảo Sakhalin; phía tây đến Thông Lãnh. Tất cả nguồn đất đó đều nằm dưới sự cai quản của chính phủ trung ương vương triều nhà Thanh“.


Trước hết cần phải khẳng định những chi tiết nêu trên hoàn toàn sai trái về mặt lịch sử. Đặc biệt, người Việt Nam thì càng hiểu rõ cha ông ta từ xưa đã khẳng định chủ quyền một cách liên tục ở Hoàng Sa và Trường Sa từ trước khi người Mãn Thanh nhập quan thống trị Trung Quốc vào năm 1644 chứ không phải là đợi đến khi Khang Hy lên ngôi vào 1662 hay Càn Long đăng cơ năm 1735. Điều đáng trách nữa là trong phần bản đồ phụ lục sau đó, có đăng cả chú thích Nam Hải ở phần Biển Đông và kèm theo những đường đứt đoạn thể hiện biên giới trên biển của nhà Thanh.
Chia sẻ với phóng viên báo điện tử Một Thế Giới ngay trong sáng ngày 24.12.2017, ông Chu Văn Hòa – Cục trưởng Cục Xuất bản, In và phát hành (Bộ Thông tin và Truyền thông) cho biết: hiện nay ông mới nắm được những thông tin chưa chính xác trong cuốn sách này. “Chúng tôi sẽ cho kiểm tra lại ngay, nếu có sai phạm đặc biệt về Biển Đông thì sẽ phải cho thu hồi sách và xử lý ngay lập tức. Trong ngày mai (25.12.2017) tôi sẽ cho kiểm tra và sẽ báo lại cho truyền thông được biết” – ông Hoà khẳng định.

Phóng viên đã liên lạc với Nhà xuất bản Văn hoá thông tin nhưng chưa nhận được phản hồi.
Dạ Thảo
motthegioi.vn
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0