Tag Archives: Mỹ – Trung Quốc

TQ “ngỏ lời” với Mỹ trong dịp đầu năm mới

Các nhà ngoại giao hàng đầu Trung Quốc đã gửi thông điệp tích cực về việc quản lý mối quan hệ Mỹ – Trung trong dịp đầu năm mới.

Hôm 2-1, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken cho biết đã có cuộc điện đàm với tân Ngoại trưởng Trung Quốc Tần Cương, thảo luận về quan hệ song phương Mỹ – Trung và các nỗ lực nhằm duy trì kênh đối thoại giữa hai nước.

Ngỏ lời hợp tác

Bộ Ngoại giao Trung Quốc sau đó cũng xác nhận ông Tần mong muốn phối hợp với ông Blinken và thúc đẩy quan hệ Mỹ – Trung.

Đây là những tín hiệu tích cực trước chuyến thăm Trung Quốc sắp tới của ngoại trưởng Mỹ. Chuyến đi này thu hút sự chú ý lớn từ dư luận trong bối cảnh quan hệ giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này gặp nhiều sóng gió thời gian qua.

Mỹ đã công bố một số chính sách được hiểu nhằm khuyến khích các nước khác tách ly khỏi Trung Quốc, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ. Trong khi đó, Bắc Kinh nổi giận sau khi Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi ghé thăm Đài Loan, một vấn đề Trung Quốc nhìn nhận là “cốt lõi trong các lợi ích cốt lõi”. Căng thẳng trên nhiều mặt trận giữa Mỹ và Trung Quốc tạo sức ép lớn lên nhiều nước khác, vốn đa phần bày tỏ mong muốn hợp tác với các bên thay vì “chọn phe”.

Trước thềm chuyến thăm của ông Blinken, phía Trung Quốc đã có những thay đổi nhân sự về đối ngoại. Ông Tần Cương được bổ nhiệm làm ngoại trưởng thay thế ông Vương Nghị, người đang là chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Giống như ông Dương Khiết Trì trước đây, ông Tần giữ vị trí ngoại trưởng sau thời gian làm đại sứ Trung Quốc ở Mỹ. Và dù là một trong những nhà ngoại giao bị gắn mác “chiến lang”, ông Tần được kỳ vọng sẽ cải thiện quan hệ Mỹ – Trung.
Bà Sun Yun, giám đốc chương trình nghiên cứu Trung Quốc tại Trung tâm Stimson (Washington, Mỹ), nhận định: “Ưu tiên hàng đầu của ông ấy sẽ là cải thiện quan hệ với Mỹ, xét thực tế rằng tâm lý chống Mỹ đang dai dẳng trong nước, và ông Blinken lại sắp thăm Trung Quốc trong hai tuần tới. Ông ấy cũng cần phải cải thiện quan hệ với các nước phát triển nói chung, nhằm hỗ trợ cho sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc. Ngoài ra, ông ấy cũng cần ứng phó với các vấn đề như Nga và Triều Tiên”.

Vào tuần trước, ông Tần đã có một bài viết trên tạp chí National Interest với chủ đề “Cách Trung Quốc nhìn về thế giới”. Tân ngoại trưởng Trung Quốc nhấn mạnh nhiệm vụ cấp thiết nhất hiện nay là thúc đẩy đàm phán hòa bình giữa Nga và Ukraine, cũng như đối thoại giữa Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) với Nga.
Powered by GliaStudio

Thực tế, đã có không ít ý kiến từ phương Tây kêu gọi Trung Quốc dùng sức ảnh hưởng và mối quan hệ tốt với Nga để làm trung gian hòa giải cho xung đột quân sự ở Ukraine. Việc ông Tần đề cập tới sự “cấp thiết” trong vấn đề Ukraine cũng phản ánh một trong những lĩnh vực Trung Quốc và Mỹ có thể hợp tác.
Thông điệp “nước lớn”

Năm 2020, ông Tần từng nói hình ảnh của Trung Quốc trên toàn cầu xấu đi vì truyền thông phương Tây không bao giờ chấp nhận thể chế chính trị và sự lớn mạnh của Trung Quốc về kinh tế.

Trong bài viết nêu trên, ông Tần cũng lặp lại một trong những thông điệp quan trọng và phổ biến nhất của giới lãnh đạo Trung Quốc này. Ông viết: “Những khác biệt giữa Trung Quốc và Mỹ – về lịch sử, văn hóa, hệ thống xã hội, và con đường phát triển – rất có thể sẽ tồn tại trong 100 năm nữa. Nhưng với tư cách công dân của cùng một thế giới, chúng ta có thể và nên lắng nghe nhau, thu hẹp khác biệt trong nhận thức về thế giới, đồng thời tìm cách hòa hợp dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, cùng tồn tại một cách hòa bình và hợp tác đôi bên cùng có lợi”.

Tương tự, trong bài viết dịp đầu năm cho báo Cầu Thị, tạp chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Vương Nghị cũng phản đối việc Mỹ đóng khung quan hệ với Trung Quốc thành “sự đối đầu giữa một chính quyền dân chủ và một chính quyền độc tài”. Theo ông Vương, Trung Quốc trong cả năm qua đã không ngừng tìm kiếm con đường đúng đắn để Trung Quốc và Mỹ, dưới tư cách hai cường quốc, có thể hòa hợp với nhau.

Trong các phát biểu và bài viết gần đây, có thể thấy những nhà ngoại giao hàng đầu của Trung Quốc đều tìm cách nhấn mạnh vai trò quốc tế của Trung Quốc trong tầm nhìn về một thế giới chung. Mỹ và Trung Quốc có thể hợp tác để cùng tồn tại dưới tư cách những cường quốc, mà sự trỗi dậy của Trung Quốc “không phá vỡ hiện trạng như nhận xét của một số người”. Một sự thừa nhận dành cho Trung Quốc sẽ là tiền đề cho hợp tác.

Tờ China Daily dẫn lời bà Su Xiaohui, nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu quốc tế Trung Quốc, cho rằng: “ý thức trách nhiệm to lớn của Trung Quốc với tư cách là một nước lớn cũng là một đặc điểm trong chính sách ngoại giao của nước lớn”.

“Trung Quốc chưa bao giờ ngó lơ những thách thức mà các nước đang phát triển trên thế giới đang đối mặt, đồng thời nỗ lực hơn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, và muốn các nước đang phát triển có nhiều cơ hội hơn để thúc đẩy tăng trưởng”, chuyên gia này nói.

BDN

Loading

Views: 0

Tổng thống Mỹ không dự APEC, có phải Mỹ đang nhường ‘sân’ cho TQ?

Về việc Tổng thống Mỹ Joe Biden không tham dự APEC mà cử Phó Tổng thống Kamala Harris, tạp chí kinh tế Handelsblatt của Đức cho rằng đây là “sai lầm” của Mỹ.

Theo tạp chí này, Tổng thống Joe Biden không tham dự Hội nghị kinh tế lớn nhất khu vực Thái Bình Dương vì lý do cá nhân. Tuy nhiên, động thái của ông lại tạo cơ hội lớn để Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình “chiếm lĩnh sân khấu”. Điều này đã thu hút sự chú ý tại Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC.
Trong Hội nghị này, nhà lãnh đạo Trung Quốc mong muốn tìm cách mở rộng hơn nữa ảnh hưởng kinh tế của đất nước trong khu vực. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết, việc Chủ tịch Tập Cận Bình tham dự Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC nhấn mạnh tầm quan trọng của Trung Quốc trong hợp tác kinh tế khu vực.

Trước tình hình bất ổn toàn cầu ngày càng gia tăng, nhà lãnh đạo Trung Quốc tận dụng cơ hội này để trình bày các ý tưởng về “thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực và toàn cầu”.

“Một sai lầm không đáng có”

Chuyên gia về châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế của Mỹ ông Matthew Goodman nhận xét: Việc Tổng thống Mỹ không tham dự Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC là một sai lầm không đáng có.

Chuyên gia Goodman cho rằng lẽ ra Tổng thống Biden nên có mặt ít nhất vài giờ tại Hội nghị “để cho toàn khu vực này thấy rằng ông quan tâm tới khu vực”. Thực tế, Tổng thống Biden không phải đi quá xa để thực hiện điều này, vì chuyến bay từ đảo du lịch Bali của Indonesia, nơi ông vừa tham dự Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20), đến Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC ở thủ đô của Thái Lan, chỉ mất 4 giờ đồng hồ.

Việc nhà lãnh đạo Mỹ từ chối tham dự hội nghị này cũng gây bất ngờ bởi chính Mỹ sẽ là chủ nhà APEC và sẽ chủ trì tổ chức Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC vào năm tới. Thay vì Tổng thống Biden, Phó Tổng thống Kamala Harris tham dự Hội nghị. Bà có một bài phát biểu trước công chúng bên lề Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC nhằm thúc đẩy tầm nhìn của Mỹ trong khu vực.

Truyền thông Mỹ dẫn lời một quan chức nước này cho biết, Phó Tổng thống Harris muốn chứng minh rằng “đối với các nền kinh tế và doanh nghiệp ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, không có đối tác nào tốt hơn Mỹ”.

Ngoài ra, bà muốn tập trung vào sáng kiến Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vì sự thịnh vượng (IPEF) mà Mỹ đã đưa ra hồi đầu năm nay. Sáng kiến này là nỗ lực chính của Mỹ nhằm tăng cường quan hệ kinh tế với châu Á.

13 quốc gia, trong đó có Nhật Bản, Australia, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam, đã tham gia sáng kiến. Một trong những mục tiêu của sáng kiến này là cải thiện hợp tác trong chuỗi cung ứng công nghệ và tạo thuận lợi cho thương mại kỹ thuật số.
Tuy nhiên, IPEF không thể cung cấp cho các đối tác Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương quyền tiếp cận miễn thuế vào thị trường Mỹ. Do đó, lợi ích kinh tế cho các quốc gia tham gia sẽ bị hạn chế rất nhiều. Trung Quốc chi phối chính sách thương mại tại châu ÁTrong khi đó, Trung Quốc đã chi phối chính sách thương mại trong khu vực châu Á kể từ khi Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) dưới thời cựu Tổng thống Donald Trump, sau này là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Vào đầu năm nay, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), bao gồm Trung Quốc và các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Australia, New Zealand, Nhật Bản và Hàn Quốc, đã có hiệu lực. Hiệp định này bao phủ tới 1/3 tổng sản lượng kinh tế toàn cầu và là hiệp định thương mại tự do lớn nhất trên thế giới.

Đối với các nước Đông Nam Á, Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất. Trước những căng thẳng ngày càng tăng với Mỹ, chính phủ Trung Quốc cũng muốn mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế với các nước láng giềng ở phía Nam của mình.

Hồi tháng Chín vừa qua, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố rằng đang làm việc với “Phiên bản 3.0” của thỏa thuận thương mại tự do với khu vực. Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa được tổ chức cuối tuần qua tại thủ đô Phnom Penh, Campuchia, Thủ tướng Lý Khắc Cường khẳng định ý định tăng cường hợp tác với Đông Nam Á trong các lĩnh vực thương mại, công nghiệp hóa và kinh tế kỹ thuật số của Trung Quốc.

Tổng thống Biden cũng tham dự Hội nghị ở Phnom Penh. Ông cam kết hợp tác chặt chẽ hơn với các nước ASEAN. Mối quan hệ giữa ASEAN và Mỹ đã chính thức được nâng lên thành “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” – cùng cấp độ ngoại giao mà lâu nay Trung Quốc đã duy trì với khu vực này.

Tổng thống Biden cam kết: “ASEAN là trung tâm trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của chính quyền tôi”. Tuy nhiên, điều gây chú ý nhiều nhất trong tuyên bố này không phải là động thái “quyến rũ ngoại giao” của Mỹ, mà là nơi đưa ra lời tuyên bố.

Thay vì tại Campuchia, nhà lãnh đạo 79 tuổi của Mỹ lại chọn Colombia – quốc gia ở bên kia địa cầu, làm nơi thể hiện bài phát biểu của mình.

BDN

Loading

Views: 0

Nội dung chính trong cuộc gặp mặt 2 lãnh đạo Mỹ – Trung

Sau ba giờ đối thoại vào tối 14.11, cuộc hội đàm giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bali, Indonesia bên lề Hội nghị cấp cao nhóm G20 đã kết thúc.

Tổng thống Mỹ Joe Biden tối 14.11 đã có cuộc hội đàm trực tiếp đầu tiên với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kể từ khi ông Biden nhậm chức tổng thống vào năm 2021 dù hai bên đã 5 lần điện đàm hoặc họp trực tuyến trong khoảng thời gian đó. Đây cũng là cuộc gặp đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo kể từ năm 2015.


Đối thoại thẳng thắn

Sau cuộc gặp kéo dài 3 giờ giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Nhà Trắng đã đưa ra thông cáo về cuộc hội đàm. Theo đó, Tổng thống Biden nói với Chủ tịch Tập rằng Mỹ sẽ tiếp tục cạnh tranh với Trung Quốc, bao gồm đầu tư vào các nguồn lực trong nước, gắn kết các nỗ lực với đồng minh và đối tác trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, người đứng đầu Nhà Trắng lưu ý rằng hai bên phải quản lý để cuộc cạnh tranh không biến thành xung đột và duy trì các đường dây liên lạc. Hai nhà lãnh đạo đã thảo luận về tầm quan trọng của việc phát triển các nguyên tắc thúc đẩy những mục tiêu này và giao nhiệm vụ cho các nhóm làm việc thảo luận thêm.
Ông Biden nhấn mạnh Mỹ và Trung Quốc phải cùng nhau giải quyết các vấn đề xuyên quốc gia, bao gồm biến đổi khí hậu, ổn định kinh tế vĩ mô toàn cầu, an ninh y tế và an ninh lương thực toàn cầu, vì đây là điều cộng đồng quốc tế mong đợi. Hai bên còn hoan nghênh những nỗ lực không ngừng nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể trong quan hệ song phương Mỹ – Trung.

Trong khi đó, thông cáo Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra sau cuộc họp cho biết hai bên đã có cuộc trao đổi thẳng thắn và sâu sắc về các vấn đề chiến lược quan trọng trong quan hệ song phương cũng như các vấn đề toàn cầu.

Trung Quốc khẳng định thế giới đủ rộng để Mỹ – Trung cùng tồn tại và thịnh vượng, đồng thời nói rằng hai nước nên hình thành nhận thức đúng đắn về các chính sách đối nội, đối ngoại và các ý định chiến lược của nhau. “Trung Quốc không tìm cách thay đổi trật tự quốc tế hiện có hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của Mỹ, và không có ý định thách thức hoặc thay thế Mỹ”, theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

Hai nhà lãnh đạo nhất trí rằng Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken sẽ có chuyến thăm Trung Quốc để tiếp tục các cuộc đối thoại giữa hai bên.


Đài Loan là lằn ranh đỏ

Về vấn đề Đài Loan, Tổng thống Biden cho biết chính sách một Trung Quốc của Mỹ không thay đổi. Tuy nhiên, Washington phản đối bất kỳ sự thay đổi đơn phương nào đối với hiện trạng, đồng thời khẳng định duy trì hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan là lợi ích của thế giới. Ông Biden cũng phản đối các hành động của Trung Quốc đối với Đài Loan, cho rằng các động thái này làm suy yếu hòa bình, ổn định trên eo biển Đài Loan và trong khu vực, đồng thời gây nguy hiểm cho sự thịnh vượng toàn cầu.

Tổng thống Biden cũng nêu lên quan ngại về các hoạt động kinh tế phi thị trường của Trung Quốc, gây tổn hại đến công nhân và gia đình Mỹ cũng như công nhân và gia đình trên khắp thế giới.

Trong khi đó, Chủ tịch Tập nhấn mạnh rằng vấn đề Đài Loan là cốt lõi trong các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, là nền tảng chính trị và là lằn ranh đỏ đầu tiên không được vượt qua trong quan hệ Mỹ – Trung. “Nguyện vọng chung của nhân dân và đất nước Trung Quốc là thực hiện thống nhất đất nước và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Bất cứ ai tìm cách tách Đài Loan khỏi Trung Quốc sẽ vi phạm lợi ích cơ bản của Trung Quốc. Người dân Trung Quốc tuyệt đối sẽ không để điều đó xảy ra!”, thông cáo của Trung Quốc cho biết.

Theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Tổng thống Biden trong hội đàm đã nhiều lần nói rằng Mỹ không ủng hộ “Đài Loan độc lập” và không có ý định sử dụng Đài Loan như một công cụ để tìm kiếm lợi thế trong cạnh tranh với Trung Quốc hoặc kiềm chế Trung Quốc. “Chúng tôi hy vọng rằng Mỹ sẽ hành động để lời đảm bảo này có hiệu lực thực sự”, theo thông cáo của Trung Quốc.


Vấn đề hạt nhân và Ukraine

Nhà Trắng cho biết Tổng thống Biden đã nói đến hoạt động quân sự của Nga tại Ukraine và những lời đe dọa sử dụng hạt nhân của Nga. Hai bên cũng nhắc lại thỏa thuận chung về việc ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, đồng thời phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân ở Ukraine.

Tuy nhiên, vấn đề hạt nhân không được đề cập trong thông cáo của Trung Quốc. Thay vào đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết ông Tập rất quan ngại về tình hình hiện tại ở Ukraine, ủng hộ hòa bình và sẽ tiếp tục khuyến khích các cuộc đàm phán hòa bình. “Chúng tôi ủng hộ và mong muốn các cuộc đàm phán hòa bình giữa Nga và Ukraine được nối lại. Đồng thời, chúng tôi hy vọng rằng Mỹ, NATO và EU sẽ tiến hành các cuộc đối thoại toàn diện với Nga”, ông Tập nói với ông Biden.

Nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng liệt kê các bước mà cộng đồng quốc tế cần thực hiện để giải quyết cuộc khủng hoảng, đồng thời kêu gọi “phải tránh đối đầu giữa các nước lớn”.

Tổng thống Biden cũng nêu quan ngại về các hoạt động của CHDCND Triều Tiên, lưu ý rằng tất cả thành viên của cộng đồng quốc tế đều quan tâm đến việc khuyến khích Bình Nhưỡng hành động có trách nhiệm. Ông Biden còn nhấn mạnh cam kết chặt chẽ của trong việc bảo vệ các đồng minh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Một lần nữa, vấn đề này không được Trung Quốc nhắc đến trong thông cáo.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ-TQ: Từ cạnh tranh sang đối đầu

Chỉ còn gần hai tháng nữa sẽ kết thúc năm 2022. Gần đây khi phân tích tình hình quốc tế trong năm, các nhà phân tích thường tập trung làm rõ một vấn đề mang tính toàn cầu: cạnh tranh Mỹ-Trung liệu đã bước sang giai đoạn đối đầu?

Trong Chiến lược An ninh quốc gia mới tuyên bố hồi tháng 10 vừa qua, Mỹ coi Trung Quốc là “thách thức địa chính trị quan trọng nhất của Mỹ”, trong đó nhấn mạnh “cạnh tranh kinh tế là vấn đề quan trọng nhất”. Đây là văn bản chiến lược an ninh chính thức đầu tiên của Tổng thống Mỹ Joe Biden sau 21 tháng nắm quyền. Chiến lược nêu rõ những ưu tiên của Mỹ trong việc tái xây dựng quan hệ với đồng minh và tăng cường cạnh tranh với Nga, Trung Quốc.

Mỹ xác định Trung Quốc là đối thủ lớn nhất ảnh hưởng tới “ngôi bá chủ” thế giới của mình. Washington coi đây là tình huống nguy hiểm, cần phải ngăn cản trực diện và cấp bách. Cơn cớ của việc chuyển từ cạnh tranh chiến lược sang đối đầu là như vậy.

Trong văn bản Chiến lược an ninh mới, Tổng thống Biden nhấn mạnh ý đồ và những trò lá mặt lá trái của Bắc Kinh trong việc tái định hình trật tự thế giới. Ông Biden nói: “Nga tạo ra mối đe dọa tức thời, nhưng Trung Quốc, ngược lại, là đối thủ duy nhất có ý định tái định hình trật tự thế giới và ngày càng gia tăng sức mạnh về kinh tế, ngoại giao, quân sự lẫn công nghệ để đạt được mục tiêu ấy”.

Kể từ khi Mỹ và Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao (năm 1979), Washington nhiều lần lên án Trung Quốc tăng cường hiện đại hóa quân sự, song song với các động thái ngày càng quyết đoán liên quan tới chủ quyền, lãnh thổ, đặc biệt là việc bắt nạt các nước yếu thế hơn, gây căng thẳng trên Biển Đông.

Khi ông Biden nhắc tới “thập niên quyết định” trong quan hệ Mỹ – Trung là muốn lưu ý Mỹ cần có động thái cấp tập, kiên quyết đối với Trung Quốc.
Cùng với việc trừng phạt kinh tế, Washington đưa ra các biện pháp kiểm soát xuất khẩu mới, qua đó hạn chế khả năng công nghệ của Trung Quốc. Các công ty ở Mỹ phải đưa ra nhiều giấy phép đặc biệt mới được bán chip máy tính và thiết bị sản xuất chip cho Trung Quốc.

Hôm 12/10, tờ Foreign Policy – tờ tạp chí chính trị quốc tế hàng đầu của Mỹ – có bài bình luận cho rằng, điểm mấu chốt nằm ở các biện pháp kiểm soát xuất khẩu nhằm bóp nghẹt khả năng sản xuất bán dẫn của Trung Quốc. Đây là loạt biện pháp do Cục Công nghiệp và An ninh Mỹ (BIS) công bố.

Rõ là một hành động mang tính đối đầu khi Mỹ ra một quyết định đơn phương, ít tham vấn với các công ty và đối tác – một màn “chơi tất tay” của Mỹ trong thời gian tới, trong “thập niên quyết định”.

Tình trạng “chuyển trạng thái chiến đấu” của Nhà Trắng,Washington không hề bất ngờ. Từ tháng7/2022, trong cuộc điện đàm kéo dài hơn hai giờ, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Joe Biden “dội nước lạnh vào đầu nhau” khi bàn về các vấn đề nhạy cảm mà không né tránh như các lần trước. Hai ông đã nói đến nhiều vấn đề căng thẳng, gây bất đồng giữa hai nước, đặc biệt là hồ sơ Đài Loan.

Trong bản ghi nhớ nội dung trao đổi, ông Biden cho biết, có nhắc với đồng nhiệm Trung Quốc rằng, “Hoa Kỳ cực lực phản đối các nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi nguyên trạng hay đe dọa hòa bình tại eo biển Đài Loan”.

Giờ đây, kịch bản một cuộc xâm lược hòn đảo này từ Trung Quốc là khá rõ. Tổng thống Mỹ Biden buộc phải tuyên bố, Mỹ sẵn sàng bảo vệ hòn đảo bằng quân sự. Ở bên kia đầu dây, Tập Cận Bình cứng rắn: “Những ai đùa với lửa rồi có ngày sẽ bị bỏng”.

Một điểm căng thẳng trong thảo luận giữa Joe Biden và Tập Cận Bình là mức thuế hải quan 25% do cựu Tổng thống Donald Trump áp lên hàng nhập khẩu Trung Quốc. Mỹ dự tính dỡ bỏ biện pháp đó nhằm kiềm chế lạm phát, thế nhưng trong suốt cuộc trao đổi, chưa có một tiến bộ nào được ghi nhận.

Nếu như cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ là cạnh tranh về ngôi vị quyền lực toàn cầu, về khả năng “đặt chương trình nghị sự” để dẫn dắt thế giới, thì nay sẽ là cuộc đối đầu quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực, từ kinh tế-thương mại, công nghệ, ngoại giao, văn hóa, quân sự đến dân chủ, nhân quyền…

Cho dù kinh tế-thương mại và công nghệ là vấn đề được coi là nóng bỏng, nhưng nóng hơn vẫn là chuyện “đấu súng” khi Trung Quốc quyết định thống nhất Đài Loan bằng vũ lực. Tư tưởng ấy thể hiện rõ qua Đại hội 20 của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Chiến tranh thương mại khốc liệt đã và đang xảy giữa hai cường quốc. Nhưng đáng lo ngại hơn là cuộc chiến tranh quân sự. Bởi giờ đây vũ khí trang bị và quân đội hai nước đã sẵn sàng. Những cuộc tập trận kéo dài, sát tình huống chiến đấu, trước là để hăm dọa, sau là để… vào trận.

Đương nhiên nhân dân Mỹ và Trung Quốc yêu chuộng hòa bình cùng loài người tiến bộ trên khắp năm châu phản đối điều đó. Bài học về cuộc chiến Nga-Ukraina là quá đắt!

BDN

Loading

Views: 0

Ngoại trưởng Mỹ Blinken cáo buộc TQ gây bất ổn ở eo biển Đài Loan

Hôm thứ Tư (26/10), Ngoại trưởng Mỹ Anthony Blinken cáo buộc Trung Quốc phá hoại hiện trạng eo biển Đài Loan kéo dài hàng thập kỷ, và nhấn mạnh rằng Bắc Kinh đang nỗ lực “đẩy nhanh” tốc độ chiếm đóng hòn đảo.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken thảo luận về Trung Quốc tại Thính phòng Jack Morton tại Đại học George Washington, Hoa Kỳ, hôm 26/05/2022. 

Phát biểu tại một sự kiện do tờ Bloomberg tổ chức hôm 26/10, Ngoại trưởng Mỹ Blinken cho biết, Trung Quốc đã thay đổi sự đồng thuận cơ bản hàng thập kỷ giữa Washington và Bắc Kinh rằng, những khác biệt giữa hai bên eo biển sẽ được giải quyết một cách hòa bình.

Ông cho hay: “Điều đã thay đổi ở đây là: chính phủ Bắc Kinh không còn chấp nhận hiện trạng ở eo biển Đài Loan nữa, họ muốn đẩy nhanh quá trình thống nhất hòn đảo”.

“Và theo tôi, họ cũng đã đưa ra quyết định về cách thức thực hiện, bao gồm việc gây áp lực nhiều hơn đối với Đài Loan, cưỡng bức, khiến cuộc sống của người dân hòn đảo trở nên khó khăn hơn bằng nhiều cách khác nhau. Họ hy vọng rằng điều đó sẽ đẩy nhanh quá trình thống nhất và không loại trừ việc sử dụng vũ lực”.

Sự lên án mới nhất của ông Blinken đối với Trung Quốc là một phần của cuộc khẩu chiến giữa Mỹ và Trung Quốc, diễn ra ngay sau khi nước này kết thúc Đại hội 20 hôm 23/10.

Mỹ không can thiệp vào câu chuyện nội bộ của Trung Quốc

Ông Blinken cho biết Mỹ đang tập trung vào cách hình thành trật tự thế giới xung quanh Trung Quốc thông qua tăng cường quan hệ đối tác với các đồng minh, thay vì cố gắng gây ảnh hưởng đến nội bộ ĐCSTQ.

Ông Blinken nói rằng, Mỹ sẽ không làm bất cứ điều gì để định hình môi trường nội bộ của ĐCSTQ. Đây là những quyết định riêng của Bắc Kinh và Washington sẽ không can thiệp.

Hôm 24/10, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price cho biết trong một cuộc họp báo rằng, Đại hội 20 của ĐCSTQ sẽ “không làm thay đổi thái độ của Mỹ đối với Trung Quốc”.

Ông nói “Chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc bao gồm cạnh tranh về các vấn đề an ninh trong khi vẫn tiếp tục hợp tác với Trung Quốc về các vấn đề toàn cầu như: biến đổi khí hậu và sức khỏe toàn cầu, chống ma túy cũng như không phổ biến vũ khí hạt nhân.”

Ông Price cũng cho biết, Mỹ sẽ tập trung vào việc quản lý cạnh tranh với Trung Quốc một cách có trách nhiệm. “Đây có lẽ là mối quan hệ song phương quan trọng nhất mà chúng tôi đang có”.

Vấn đề Đài Loan là điểm nóng trong quan hệ Mỹ – Trung

Năm ngoái, người đứng đầu Bộ Tư lệnh Ấn Độ – Thái Bình Dương của Mỹ nói với Quốc hội nước này rằng, Trung Quốc có thể tấn công Đài Loan trong vòng sáu năm.

Trong bài phát biểu trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 20 của ĐCSTQ, Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhắc lại rằng Bắc Kinh sẽ nỗ lực “thống nhất hòa bình” với Đài Loan dân chủ, nhưng không bao giờ hứa từ bỏ việc sử dụng vũ lực.

Ông Ma Xiaoguang, phát ngôn viên của Văn phòng phụ trách các vấn đề Đài Loan của Trung Quốc, nói trong một cuộc họp báo thường kỳ ở Bắc Kinh hôm 26/10 rằng, Trung Quốc sẵn sàng nỗ lực để “tái thống nhất” với Đài Loan.

ĐCSTQ chưa bao giờ cai trị Đài Loan, nhưng họ tuyên bố chủ quyền đối với hòn đảo.

Sau Cách mạng Tân Hợi (năm 1911), ngày 1/1/1912, ông Tôn Trung Sơn đã thành lập Chính phủ lâm thời tại Nam Kinh, tuyên bố lập nên Trung Hoa Dân Quốc và trở thành nước cộng hoà dân chủ đầu tiên ở châu Á được quốc tế công nhận. Sau cuộc nội chiến lần thứ hai (cuộc chiến tranh chấp quyền kiểm soát Trung Quốc giữa ĐCSTQ và Quốc dân Đảng), chính phủ trung ương của Trung Hoa Dân Quốc đã chuyển đến Đài Loan vào cuối năm 1949. Cộng đồng quốc tế thường sử dụng “Đài Loan” làm tên gọi thông dụng cho Trung Hoa Dân Quốc.

Ông Tạ Hà, chủ tịch Caixin Media, từng nói: “Một sự thật không thể chối cãi là quân đội ĐCSTQ chưa bao giờ chiếm một tấc đất của Đài Loan”.

Đài Loan nhận được hàng tỷ USD vũ khí tối tân từ Mỹ. Tổng thống Joe Biden đã nhiều lần tuyên bố rằng, Mỹ sẽ bảo vệ Đài Loan nếu hòn đảo này bị Trung Quốc xâm lược.

Ông Blinken nói hôm thứ 26/10 rằng “Tôi cho rằng, vấn đề eo biển Đài Loan nhận được rất nhiều sự quan tâm của công chúng. Trước tiên, tôi xin nói rõ với tất cả các bên liên quan rằng, thế giới không muốn chứng kiến ​​bất kỳ loại khủng hoảng nào đối với Đài Loan cũng như bất kỳ hình thức hủy diệt nào. Cộng đồng thế giới cho rằng, những khác biệt trên eo biển Đài Loan cần phải được giải quyết một cách hòa bình”.

Mỹ và Trung Quốc đang cạnh tranh để định hình các vấn đề quốc tế

Ông Blinken cho hay, Mỹ và Trung Quốc rõ ràng đang tham gia vào một cuộc cạnh tranh toàn cầu để định hình các vấn đề quốc tế. Trong đó, Bắc Kinh chống lại Mỹ để bảo vệ trật tự thế giới “phi tự do” của họ.

Ông Blinken khẳng định “Chúng tôi không tìm kiếm xung đột. Chúng tôi không muốn chiến tranh lạnh. Chúng tôi không cố gắng kiềm chế hoặc hạn chế Trung Quốc”,

“Nhưng một lần nữa, chúng tôi xin khẳng định quyết tâm bảo vệ lợi ích và các giá trị của Mỹ. Một lần nữa, chúng tôi nhấn mạnh về một tuyên bố đã có từ một thập kỷ trước rằng, những khác biệt trên eo biển Đài Loan cần phải được quản lý và giải quyết một cách hòa bình”.

Hôm 17/10 tại một sự kiện do Viện Hoover và Đại học Stanford đồng tổ chức, ông Blinken cho biết ĐCSTQ muốn thống nhất Đài Loan sớm hơn dự kiến.

Ngoại trưởng Mỹ cho hay: “Đã có những điều chỉnh trong cách tiếp cận của Bắc Kinh đối với Đài Loan trong vài năm gần đây”.

Ông Blinken nói “Thay vì giữ nguyên tình trạng hiện tại – vốn được thiết lập theo hướng tích cực, một quyết định quan trọng đã được [Trung Quốc] đưa ra rằng tình trạng hiện tại không còn được chấp nhận và rằng Bắc Kinh quyết tâm theo đuổi tái thống nhất ở thời điểm sớm hơn nhiều”.

“Và nếu các biện pháp hòa bình không hiệu quả, thì Trung Quốc sẽ sử dụng các biện pháp cưỡng ép; và nếu các biện pháp cưỡng ép không hiệu quả, có thể là các biện pháp vũ lực – để đạt được mục tiêu. Đó là những gì đang phá vỡ sâu sắc hiện trạng, đồng thời tạo ra căng thẳng nghiêm trọng”.

BDN

Loading

Views: 0

Liệu Mỹ – Trung có “gương vỡ lại lành” sau loạt cuộc gặp cấp cao?

Trang Diplomat vừa qua đã có bài viết cho rằng, từ các cuộc gặp cấp cao Mỹ – Trung diễn ra liên tiếp thời gian gần đây, liệu quan hệ hai bên sắp ấm lại sau thời gian dài lạnh nhạt?

Các chuyên gia dự đoán Tổng thống Biden và Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ sớm có cuộc gặp gỡ

Đằng sau việc Mỹ – Trung tăng gặp cấp cao

Theo đó, sau thời gian khá dài thưa thớt trong liên lạc thì Mỹ và Trung Quốc gần đây có nhiều cuộc gặp và liên lạc cấp cao.

Trước cuộc gặp của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị có cuộc gặp kéo dài 5 tiếng đồng hồ bên lề Hội nghị bộ trưởng G20 ở Bali (Indonesia), các quan chức Mỹ nói rằng sự kiện này được sắp xếp nhằm mục đích giữ cho mối quan hệ khó khăn giữa Mỹ và Trung Quốc ổn định, ngăn chặn nguy cơ xảy ra xung đột. Ngày 10/7, Ngoại trưởng Antony Blinken cho biết có khả năng Tổng thống Joe Biden và Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ nói chuyện với nhau trong vài tuần tới.

Theo thông cáo của Lầu Năm Góc, trong cuộc điện đàm ngày 7/7, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ – tướng Mark Milley và Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu liên hợp Quân ủy Trung ương Lý Tác Thànhh đã nhấn mạnh sự cần thiết phải “quản lý cạnh tranh một cách có trách nhiệm duy trì các đường dây liên lạc cởi mở”.

Trước đó, ngày 10/6, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin gặp Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa tại sự kiện Đối thoại Shangri-La ở Singapore. Ngày 13-6, Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban Công tác ngoại sự Trung ương Trung Quốc Dương Khiết Trì gặp cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan ở Luxembourg.

Theo Diplomat, các cuộc gặp là dấu hiệu mới nhất cho thấy các nhà lãnh đạo của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đang cố gắng giữ thông tin liên lạc cấp cao dù căng thẳng có đang âm ỉ. Mặc dù là đối thủ chiến lược chính, hai nền kinh tế hàng đầu thế giới vẫn là đối tác thương mại lớn của nhau.

Liệu quan hệ Mỹ – Trung sẽ “gương vỡ lại lành”?

Từ các cuộc gặp cấp cao vừa rồi và khả năng Tổng thống Biden và Chủ tịch Tập Cận Bình sắp liên lạc giúp quan hệ Mỹ – Trung trở nên gần gũi, ấm áp hơn. Tuy nhiên, giới quan sát cho rằng không đơn giản vì giữa hai bên còn nhiều điểm nóng bất đồng, nổi lên như Đài Loan, nam Thái Bình Dương.

Tại kỳ Đối thoại Shangri-La, ông Austin nói rằng Mỹ đã quan sát thấy “sự gia tăng liên tục các hoạt động quân sự khiêu khích và gây bất ổn gần Đài Loan”. Theo Bloomberg thì sự lo ngại ở phía Mỹ đang tăng từ việc những tháng gần đây, giới chức quân sự Trung Quốc khẳng định rằng eo biển Đài Loan không phải là vùng biển quốc tế.

Đang có nhiều ý kiến rằng Mỹ sẽ bỏ lập trường mơ hồ chiến lược về Đài Loan, sau phát ngôn ngày 23/5 của ông Biden tại Nhật rằng Mỹ sẽ dùng vũ lực bảo vệ Đài Loan nếu Trung Quốc quyết định tấn công lãnh thổ này.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết trong cuộc điện đàm với ông Milley, ông Lý nhắc lại lời kêu gọi Mỹ ngừng quan hệ quân sự với Đài Loan và “tránh những cú sốc cho quan hệ Trung – Mỹ và sự ổn định của eo biển Đài Loan”, nhấn mạnh rằng Trung Quốc sẽ không thỏa hiệp hoặc nhượng bộ trong các vấn đề liên quan đến lợi ích cốt lõi quốc gia.

Gặp trực tiếp ông Austin cũng như phát biểu tại diễn đàn Đối thoại Shangri-La, ông Ngụy cũng tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ “chiến đấu bằng mọi giá” và “chiến đấu đến cùng” vì Đài Loan.

Bên cạnh đó, Thái Bình Dương và các đảo quốc khu vực này là điểm nóng mới cho cuộc cạnh tranh ảnh hưởng giữa hai cường quốc. Cả Mỹ và Trung Quốc đều đang khẩn trương tranh thủ sự ủng hộ và ảnh hưởng tại khu vực này.

Điều này thể hiện rõ qua việc Trung Quốc ký thỏa thuận an ninh với quần đảo Solomon và vẫn đang kiên trì theo đuổi mục tiêu ký thỏa thuận an ninh – kinh tế với 10 quốc đảo Thái Bình Dương, sau khi nỗ lực ban đầu bị từ chối tháng trước.

Các động thái của Trung Quốc báo động đáng kể đến các nước có truyền thống hỗ trợ khu vực lâu nay, trong đó có Mỹ về ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc đối với Thái Bình Dương. Mỹ đầu năm nay đã bổ nhiệm một đặc phái viên tổng thống cho khu vực Thái Bình Dương, phụ trách đẩy nhanh đàm phán với các nước này về các hiệp định tự do sắp hết hiệu lực.

BDN

Loading

Views: 0

Căng thẳng Mỹ – Trung đã leo thang lên đến tận Mặt trăng

Mới đây, lãnh đạo Cơ quan Hàng không và vũ trụ Mỹ (NASA) đã cảnh báo về một “cuộc chạy đua không gian” mới giữa Mỹ với Trung Quốc khi cho rằng Trung Quốc muốn tuyên bố chủ quyền trên Mặt trăng.
Hình ảnh phi hành gia Trung Quốc.

Trong một bài phỏng vấn được tờ Bild của Đức đăng tải, Giám đốc NASA Bill Nelson cho rằng Trung Quốc có ý định kiểm soát Mặt trăng và ngăn cản các nước khác khám phá nơi này. Ông cũng cáo buộc Trung Quốc ăn cắp công nghệ từ nước khác và đang tìm cách phá hủy vệ tinh do các nước khác phóng lên. Chương trình không gian của Trung Quốc do quân đội nước này điều hành, còn NASA quản lý một chương trình không gian dân sự hòa bình và cởi mở với sự tham gia của quốc tế.

Những tuyên bố của ông Nelson cho thấy giới chức Mỹ ngày càng lo ngại về các bước tiến gần đây của Trung Quốc trong không gian. Năm ngoái, Trung Quốc công bố đang hợp tác với Nga xây dựng Trạm nghiên cứu khoa học quốc tế trên Mặt trăng (ILRS). Công trình này sẽ giúp các phi hành gia Trung Quốc và Nga nghiên cứu, khám phá trên bề mặt Mặt trăng cũng như trong không gian.

Ngay lập tức, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên đã lên tiếng cáo buộc ông Bill Nelson “nói dối trắng trợn” và bôi nhọ Trung Quốc.

“Đây không phải lần đầu tiên người đứng đầu NASA bỏ qua thực tế và có tuyên bố thiếu trách nhiệm về Trung Quốc. Mỹ đã liên tục xây dựng một chiến dịch bôi đen nhằm nhằm phá vỡ các hoạt động bình thường và hợp lý của Trung Quốc ngoài không gian. Trung Quốc kiên quyết phản đối các tuyên bố thiếu trách nhiệm như vậy”, ông Triệu Lập Kiên nói.

Ngoài ra, ông Triệu còn tuyên bố Trung Quốc luôn thúc đẩy xây dựng “tương lai chung cho nhân loại” ngoài không gian, cũng như phản đối việc vũ khí hóa hay bất cứ cuộc chạy đua vũ trang nào ở đó.

Giới phân tích cho rằng việc Mỹ và Trung Quốc thiếu hợp tác trong thám hiểm không gian là đặc biệt nguy hiểm trong thời đại mà vũ trụ ngày càng trở nên đông đúc. Và việc hai “ông lớn” Mỹ – Trung không có tiếng nói chung trong không gian không chỉ dẫn đến nguy cơ xảy ra cuộc chạy đua vũ trang mà còn tạo ra xung đột về việc khai thác nguồn tài nguyên trị giá hàng trăm tỉ USD trên Mặt trăng và những nơi khác.

“Rủi ro lớn nhất là việc có hai bộ quy tắc trái ngược nhau”, ông Malcolm Davis, nhà nghiên cứu chính sách về không gian tại Viện Chính sách Chiến lược Australia, nhận định. Ông Davis dự đoán Trung Quốc vào những năm 2030 sẽ tuyên bố sở hữu nguồn tài nguyên trên Mặt trăng, giống như cách mà Trung Quốc từng tuyên bố chủ quyền phi pháp đối với gần như toàn bộ Biển Ðông.

Theo tờ Bloomberg, trung tâm của cuộc tranh chấp trong không gian giữa Mỹ và Trung Quốc là Hiệp định Artemis do Mỹ soạn thảo. Ðó là bộ nguyên tắc không ràng buộc về mặt pháp lý để điều chỉnh hoạt động trên Mặt trăng, sao Hỏa… Sáng kiến này là nền tảng cho nỗ lực của NASA nhằm đưa các phi hành gia lên Mặt trăng trong thập niên này và bắt đầu các hoạt động khai khoáng tại đây. Cho đến nay, 19 quốc gia đã đồng ý ủng hộ Hiệp định này.

Bloomberg cho hay, một trong những vấn đề chính của Trung Quốc đối với Hiệp định Artemis là điều khoản nhằm cho phép các quốc gia chỉ định các “vùng an toàn” trên Mặt trăng.

Ðối với Mỹ và các đối tác của Hiệp định Artemis, các khu vực đặc quyền này là cách để tuân thủ các nghĩa vụ mà hiệp ước quy định, trong đó yêu cầu các nước tránh “sự can thiệp có hại” vào không gian. Thế nhưng, đối với Trung Quốc, các vùng an toàn này vi phạm luật pháp quốc tế. Tờ Trung Hoa Nhật báo hồi tháng 1 thậm chí còn cho rằng NASA “phát minh” ra các “vùng an toàn” là nhằm cho phép các chính phủ cũng như các công ty “giành” các khu vực trên Mặt trăng.

Thực chất, Hiệp định Artemis của Mỹ không thay thế Hiệp ước Không gian vũ trụ năm 1967 vẫn còn hiệu lực, mà chỉ giúp củng cố mối quan hệ hòa bình trên Mặt trăng. Hiệp ước Không gian vũ trụ bao gồm 17 nguyên tắc được tạo ra để bảo đảm sự công bằng và các mối quan hệ hòa bình vào thời điểm con người lần đầu tiên khám phá vũ trụ. Thỏa thuận này cấm vũ khí hủy diệt hàng loạt ngoài không gian, cấm các hoạt động quân sự trên các thiên thể và nêu chi tiết các quy tắc ràng buộc pháp lý quản lý việc thăm dò và sử dụng không gian một cách hòa bình.

Dễ dàng nhận thấy, khi Mỹ và Trung Quốc cùng nhắm tới Mặt trăng, nhu cầu thiết lập những quy tắc để tránh xung đột ngày càng trở nên cấp thiết. Hơn nữa, trong bối cảnh ngày càng có nhiều quốc gia hiện diện và cạnh tranh trong vũ trụ, những nguyên tắc chỉnh chu cần được thiết lập một cách rõ ràng, từ đó tạo ra môi trường an toàn và minh bạch, thúc đẩy các hoạt động khám phá, khoa học và thương mại.

BDN

Loading

Views: 0

Tổng thống Biden nói về cuộc đua với TQ trong thông điệp liên bang

Tổng thống Mỹ Joe Biden đã đề cập tới cuộc cạnh tranh với Trung Quốc trong thông điệp liên bang vào tối 1/3.
Tổng thống Mỹ Joe Biden đọc thông điệp liên bang hôm 1/3.

Trong thông điệp liên bang vào tối 1/3, ngoài tình hình chiến sự tại Ukraine và mối quan hệ căng thẳng với Nga, Tổng thống Mỹ Joe Biden còn đề cập tới Trung Quốc.

Ông Biden cho biết Mỹ và Trung Quốc đang cùng tham gia vào một cuộc chạy đua để “giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh kinh tế của thế kỷ 21”.

Ông chủ Nhà Trắng tuyên bố Mỹ đang bước vào “thập niên cơ sở hạ tầng”, trong đó chính quyền Mỹ đã lên kế hoạch sửa chữa hơn 100.000 km đường cao tốc và 1.500 cây cầu.

“Tôi đã nói với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình rằng việc đánh cược đối đầu người Mỹ chưa bao giờ là cuộc đánh cược tốt”, ông Biden nói.

Tổng thống Biden cho biết thành công của Mỹ trong việc cạnh tranh để giành lấy “việc làm của tương lai” sẽ phụ thuộc vào việc đảm bảo một “sân chơi bình đẳng với Trung Quốc và các đối thủ khác”.

Bài phát biểu của Tổng thống Mỹ được đưa ra trong bối cảnh một phái đoàn gồm các cựu quan chức quân sự và an ninh cấp cao của Mỹ đang có chuyến thăm đến Đài Loan. Động thái này được cho là nhằm khẳng định các cam kết của Mỹ với Đài Loan và các đồng minh trong khu vực, bất chấp sự phản đối của Bắc Kinh.

BDN

Loading

Views: 0

Vì sao Mỹ trừng phạt 12 cơ quan nghiên cứu của TQ?

Cho rằng Trung Quốc đang phát triển “vũ khí điều khiển bộ não”, Mỹ đã thẳng tay trừng phạt các cơ quan nghiên cứu Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ sinh học.

Viện Khoa học Quân y Trung Quốc cùng 11 cơ quan nghiên cứu khác bị Bộ Thương mại Mỹ trừng phạt vì phát triển vũ khí điều khiển não.

Ngày 16/12, theo giờ địa phương, Cục An ninh Công nghiệp (BIS) của Bộ Thương mại Mỹ đã đưa ra phán quyết cuối cùng, đưa 25 thực thể Trung Quốc trong đó có Học viện Khoa học Quân y và 11 công ty công nghệ sinh học Trung Quốc vào “Entity List” (Danh sách thực thể), cho rằng Trung Quốc đang sử dụng công nghệ sinh học mới nổi để phát triển các ứng dụng quân sự trong tương lai; trong đó bao gồm “chỉnh sửa gen, nâng cao tính năng của cơ thể người và kết nối máy tính với não người.”

Theo báo Mỹ Washington Post ngày 17/12, trong đợt trừng phạt do Cục An ninh Công nghiệp (BIS) thuộc Bộ Thương mại Mỹ công bố ngày 16/12, có tổng cộng 37 thực thể được đưa vào danh sách “vi phạm chính sách đối ngoại và lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ”. Theo quy định của chính phủ Mỹ, không ai có thể xuất khẩu công nghệ Mỹ cho các thực thể có tên trong danh sách nếu không có giấy phép xuất khẩu của chính phủ Mỹ.

Washington Post cho biết lý do của lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Học viện Khoa học Quân y Trung Quốc và 11 cơ quan nghiên cứu khoa học khác là do họ đang phát triển “vũ khí điều khiển não bộ” (brain-control weaponry). Các quan chức cấp cao của Mỹ tuyên bố rằng Trung Quốc đang sử dụng công nghệ sinh học mới nổi để phát triển các ứng dụng quân sự trong tương lai, bao gồm “chỉnh sửa gen, nâng cao hiệu suất của con người và kết nối máy tính với não người.”

Michael Orlando, người đứng đầu Trung tâm Phản gián và An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NCSC), trước đó tuyên bố rằng Mỹ đã cảnh báo các công ty của họ rằng Trung Quốc đang lấy cắp công nghệ của Mỹ trong 5 lĩnh vực then chốt, trong đó có công nghệ sinh học.

Trong một tuyên bố đưa ra ngày 16/12, Bộ trưởng Thương mại Gina Raimondo một lần nữa chỉ trích Trung Quốc về các vấn đề liên quan đến Tân Cương. Bà cho rằng “Trung Quốc đang sử dụng những công nghệ này để tìm kiếm kiểm soát người dân và đàn áp các nhóm sắc tộc và tôn giáo”, “không thể cho phép các hàng hóa, công nghệ và phần mềm hỗ trợ đổi mới khoa học y tế và công nghệ sinh học được phép chuyển dùng cho các mục đích đi ngược với an ninh quốc gia của Mỹ.”

Ngoài ra, cùng ngày 16/12, Bộ Tài chính Mỹ tuyên bố xác định 8 công ty công nghệ Trung Quốc trong đó có hãng sản xuất máy bay không người lái DJI là “tổ hợp công nghiệp quân sự” của Trung Quốc, đồng thời cho rằng 8 công ty này đang tiến hành “theo dõi và giám sát sinh trắc học” ở khu tự trị Tân Cương. 8 công ty này trước đây đã được liệt kê trong “Danh sách thực thể” của Bộ Thương mại. Theo đó, không người Mỹ nào được phép bán hoặc mua cổ phiếu niêm yết công khai và chứng khoán phái sinh của các công ty này.

Trên thực tế, đây là lần thứ hai Mỹ đưa DJI và 7 công ty công nghệ khác vào “Danh sách thực thể” vì lý do tương tự. Trước đó, trước những cáo buộc của Mỹ, Công ty DJI đã tuyên bố trong phản hồi vào năm 2020 rằng họ thất vọng với quyết định của Bộ Thương mại Mỹ, khách hàng Mỹ có thể tiếp tục mua và sử dụng các sản phẩm của DJI như bình thường.

Điều đáng chú ý là cùng ngày, Thượng viện Mỹ đã thông qua “Đạo luật ngăn chặn cưỡng bức lao động người Duy Ngô Nhĩ”, sau đó sẽ được gửi tới Tổng thống Joe Biden để ký thành luật. Dự luật này sẽ cấm hoàn toàn Mỹ nhập khẩu tất cả các sản phẩm từ Tân Cương.

Về việc Mỹ đưa 25 thực thể của Trung Quốc bao gồm Viện Khoa học Quân y vào “Danh sách thực thể”, ông Lưu Bằng Vũ (Liu Pengyu), người phát ngôn của Đại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ, đã gửi thư tới ban biên tập của báo Washington Post: “Trung Quốc luôn phản đối Mỹ quá mở rộng khái niệm An ninh Quốc gia để tiến hành đàn áp vô cớ các công ty và cơ quan nghiên cứu Trung Quốc. Sự thật về vấn đề Tân Cương là rất rõ ràng. Sự phát triển công nghệ sinh học của Trung Quốc luôn vì lợi ích của nhân loại.”

Ông Lưu Bằng Vũ nói, các biện pháp quản chế xuất khẩu của chính quyền Biden đối với các thực thể Trung Quốc “vi phạm nghiêm trọng các quy tắc thương mại tự do, đe dọa nghiêm trọng đến sự an toàn của các ngành công nghiệp và chuỗi cung ứng toàn cầu, cản trở sự phát triển của khoa học và công nghệ của nhân loại, và gây tổn hại nghiêm trọng hạnh phúc và lợi ích của nhân dân các nước, trong đó có Mỹ.”

Phía Trung Quốc đã nhiều lần nêu quan điểm kiên quyết phản đối việc Quốc hội Mỹ sử dụng các vấn đề liên quan đến Tân Cương để can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Triệu Lập Kiên hôm 15/12 tuyên bố “một số chính trị gia Mỹ liên tục sử dụng các vấn đề liên quan đến Tân Cương để bịa đặt gây chuyện. Đây là mượn chiêu bài nhân quyền để thao túng chính trị và độc chiếm kinh tế, mưu đồ ‘dùng Tân Cương kiềm chế Trung Quốc’, kìm hãm Trung Quốc phát triển, âm mưu thâm độc của họ sẽ không bao giờ thành công, sẽ chỉ làm sụp đổ thêm uy tín và hình ảnh của chính phủ và Quốc hội Mỹ ở Trung Quốc. Quyết tâm bảo vệ an ninh quốc gia và các lợi ích phát triển của Trung Quốc là kiên định không đổi. Nếu Mỹ cứ thúc đẩy dự luật liên quan, Trung Quốc chắc chắn sẽ đáp trả.

Được biết, ngoài các cơ quan nghiên cứu công nghệ y sinh, bị đưa vào “danh sách thực thể” của Bộ Thương mại Mỹ còn có thêm Công ty TNHH Công nghệ Hoa Hải Trí Hối (Huahai), Công nghệ cáp quang Giang Tô Hengtong, Công ty Cáp tàu ngầm cao thế Giang Tô Hengtong…và các công ty Trung Quốc khác. Phía Mỹ cáo buộc họ đã mua lại hoặc có ý định để có được công nghệ của Mỹ để hỗ trợ xây dựng quân đội Trung Quốc. Các công ty nằm trong danh sách đen sẽ có ngưỡng mua công nghệ Mỹ cao hơn đáng kể trong tương lai. Các nhà cung cấp Mỹ phải được phép của Bộ Thương mại Mỹ mới có thể tiến hành giao dịch với họ.

BDN

Loading

Views: 0

Thượng đỉnh Mỹ-Trung: Liệu có được tiến triển gì đáng mong đợi?

Cuộc gặp Thượng đỉnh trực tuyến giữa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Joe Biden vào sáng 16/11 thảo luận về các vấn đề căn bản và chiến lược đã kết thúc sau hơn 3 tiếng đồng hồ.

Theo ông Tập, có đủ cơ hội để cả Trung Quốc, Mỹ cùng phát triển mà không nên va chạm và vướng vào những trò chơi “có tổng bằng không”. Trong khi đó, Tổng thống Biden cho rằng, hai bên cần thiết lập một số “hạn chế phù hợp với lẽ thường”, đặc biệt là đối với các vấn đề có ý nghĩa quan trọng sống còn của thế giới.

Truyền thông nhà nước Trung Quốc mô tả cuộc gặp là “thẳng thắn, mang tính xây dựng, thực chất và có hiệu quả”.

Trong khi đó, một quan chức cấp cao của Mỹ cho hay cuộc gặp trực tuyến diễn ra lâu hơn dự kiến và hai bên đã thảo luận một loạt vấn đề từ vấn đề Đài Loan cho tới thương mại, Triều Tiên, Afghanistan và Iran.

Sau cuộc gặp thượng đỉnh, một quan chức cấp cao của Mỹ cho rằng, mục đích trao đổi từ phía Washington không hẳn là xoa dịu căng thẳng. Quan chức này nhấn mạnh: “Chúng tôi không kỳ vọng đạt được đột phá. Không có gì để báo cáo”.

Sau Thượng đỉnh Mỹ-Trung, Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản Hirokazu Matsuno cho biết, việc Washington và Bắc Kinh duy trì quan hệ ổn định “vô cùng quan trọng” với cộng đồng quốc tế nói chung.

Phát biểu trong cuộc họp báo, ông Matsuno nêu rõ: “Nhật Bản sẽ tiếp tục hợp tác với đồng minh Mỹ của chúng tôi dựa trên tình hữu nghị của sự tin tưởng mạnh mẽ, đồng thời kêu gọi Trung Quốc hoàn thành những trách nhiệm của họ với tư cách là một cường quốc”.

Về phía Hàn Quốc, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hàn Quốc cho biết, nước này đang theo dõi tình hình trên quan điểm ủng hộ một cuộc đối thoại mang tính xây dựng giữa Mỹ và Trung Quốc. (Reuters, Kyodo, Yonhap)

TG&VN

Loading

Views: 0

Cuộc chiến đất hiếm giữa TQ với Mỹ và các đồng minh.

Ngành chip bán dẫn cùng với việc khai thác đất hiếm – nguyên liệu quan trọng cho nhiều ngành công nghệ, đặc biệt đối với thiết bị điện tử – đang trở thành “đấu trường sống còn” giữa Trung Quốc với Mỹ và các đồng minh.

Hôm qua (24.10), tờ Nikkei Asia đưa tin Trung Quốc sắp tái cơ cấu, sáp nhập 3 nhà sản xuất đất hiếm trở thành 1 công ty quốc doanh.

Củng cố thực lực

Theo đó, 3 công ty trên chiếm gần 70% hạn ngạch sản xuất đất hiếm nội địa của Trung Quốc. Bằng cách tái cơ cấu các công ty đất hiếm lớn, Bắc Kinh đang tìm cách mở rộng quyền kiểm soát từ sản xuất đến toàn bộ chuỗi cung ứng, bao gồm cả xuất khẩu, đối với đất hiếm.

Không những vậy, vào ngày 1.10, tờ Nikkei Asia dẫn nguồn từ chính phủ Trung Quốc cho biết nước này sẽ tăng hạn ngạch sản xuất đất hiếm lên 20%, lên mức 168.000 tấn, trong năm nay. Đất hiếm là nguyên liệu không thể thiếu trong ngành công nghệ, nổi bật là chip bán dẫn vốn có vai trò quan trọng đối với nhiều ngành nghề, từ trang thiết bị điện tử như điện thoại thông minh, ti vi… cho đến xe điện, vệ tinh… Đất hiếm cũng có thể được sử dụng trong các máy bay không người lái và tên lửa quân sự.

Lâu nay, chiếm giữ nguồn cung cấp 60% đất hiếm trên thế giới, nhưng Trung Quốc lại bị hạn chế về công nghệ chip bán dẫn và đang bị Mỹ trừng phạt trong lĩnh vực này. Từ năm 2020, hàng loạt công ty công nghệ của Trung Quốc bị Mỹ đưa vào danh sách đen, đặt ra rào cản và thậm chí cấm tiếp cận cả về chip bán dẫn lẫn công nghệ bán dẫn.

Sự phối hợp của “bộ tứ”

Theo Bloomberg, riêng năm 2020, Trung Quốc đã chi 350 tỉ USD để mua chip phục vụ những ngành công nghiệp sản xuất khác. Thế nhưng, cũng trong năm 2020, sản xuất chip của Trung Quốc chỉ chiếm 15,9% thị trường nội địa và ước tính đạt 19,4% vào năm 2025. Đến đầu năm 2021, Công ty tư vấn Bernstein Research công bố kết quả đánh giá cho thấy thị phần toàn cầu của Trung Quốc trong lĩnh vực thiết bị chế tạo chip tiên tiến tối đa là 2%.

Ngành công nghiệp sản xuất của Trung Quốc đại lục vẫn phải lệ thuộc vào nguồn chip tiên tiến thuộc về các công ty như Intel, Qualcomm (Mỹ), Samsung ((Hàn Quốc)) hay TSMC (Đài Loan).

Đây còn là chủ đề hợp tác của “bộ tứ an ninh” gồm Mỹ – Nhật Bản – Úc – Ấn Độ nhằm đối phó sự trỗi dậy của Trung Quốc. Sau hội nghị thượng đỉnh ngày 24.9, “bộ tứ” đã đưa ra thông cáo chung thỏa thuận hướng tới việc tạo ra một chuỗi cung ứng an toàn cho chất bán dẫn. Xa hơn, 4 nước sẽ phát triển “chuỗi cung ứng công nghệ linh hoạt, đa dạng và an toàn cho phần cứng, phần mềm và dịch vụ”. Đến nay, Mỹ đã hợp tác cùng Úc để phát triển nguồn cung ứng đất hiếm.

Cũng liên quan nỗ lực trên của “bộ tứ”, tờ Nikkei Asia ngày 22.10 đưa tin Tokyo vừa đạt được thỏa thuận hỗ trợ hàng tỉ USD cho TSMC (Đài Loan), vốn là nhà sản xuất chip bán dẫn hàng đầu thế giới, xây dựng nhà máy sản xuất chip ở Nhật.

Cuộc chiến chưa có hồi kết

Trả lời Thanh Niên ngày 24.10, PGS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế – Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) chỉ ra: “Năm 2010, để chống lại Nhật, Trung Quốc đã sử dụng đất hiếm như một vũ khí. Điều này khiến cho Nhật Bản cùng một số nước nhìn thấy lỗ hổng địa chính trị của họ khi xảy ra bất đồng với Trung Quốc. Bên cạnh việc hợp tác sản xuất chất bán dẫn với TSCM, các thành viên của “bộ tứ” còn cam kết xây dựng khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng về chip bán dẫn và vật liệu công nghệ bao hàm đất hiếm”.

Theo ông Nagy, với việc đồng thuận ngày càng tăng về an ninh kinh tế và xây dựng tuyến phòng thủ chống lại sự cưỡng ép của Bắc Kinh, “bộ tứ” đang thúc đẩy đa dạng hóa có chọn lọc các chuỗi cung ứng có ý nghĩa quan trọng giữa các đối tác đáng tin cậy.

“Điều đó bao gồm tài chính để khuyến khích việc thuê lại có chọn lọc, xây dựng các giải pháp thay thế ở Đông Nam, Nam và Trung Nam Á và phối hợp nhiều hơn giữa các đối tác. Trung Quốc sẽ cố gắng độc lập hơn, nhưng cần tiếp cận với các công nghệ then chốt để tiếp tục cạnh tranh với Mỹ trong đối thủ chiến lược và tiếp tục phát triển kinh tế”, PGS Nagy phân tích và đánh giá: “Đến nay, chưa thể dự đoán kết quả của cuộc chiến trên giữa Trung Quốc với “bộ tứ”, nhưng trong ngắn hạn và trung hạn, giá cả của các công nghệ và vật liệu này sẽ tăng”.

BDN

Loading

Views: 0

5 công nghệ Mỹ lo sợ rơi vào tay Trung Quốc

Tình báo Mỹ cảnh báo các doanh nghiệp nước này nên tránh hợp tác với Trung Quốc trong 5 lĩnh vực công nghệ chủ chốt.

Một robot cá mập tại một hội nghị về trí tuệ nhân tạo và điện toán đám mây ở Hàng Châu, Trung Quốc hôm 19/10

Báo South China Morning Post dẫn báo cáo ngày 21/10 của Trung tâm An ninh và Phản gián Quốc gia Mỹ (NCSC) cho biết, 5 lĩnh vực công nghệ chủ chốt trên gồm: trí tuệ nhân tạo, máy tính lượng tử, khoa học sinh học, chất bán dẫn và hệ thống tự trị. Lý do là những lĩnh vực này tiềm ẩn nguy cơ lớn nhất đối với an ninh kinh tế và an ninh quốc gia của Mỹ.

NCSC khuyến cáo, các doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và nhà nghiên cứu cần chú ý hơn đến việc bảo vệ nhân tài và các nghiên cứu trước các mối đe dọa từ những quốc gia đã và đang sử dụng mọi biện pháp, cả hợp pháp và trái phép nhằm có được bí quyết thống trị 5 công nghệ trên của Mỹ.

Giới chức tình báo Mỹ nhấn mạnh, họ không ủng hộ việc tách rời hoàn toàn với các doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu của Trung Quốc, nhưng cần nhận thức rằng chính phủ Trung Quốc có kế hoạch để thống trị các lĩnh vực đó. Giới tình báo Mỹ lo ngại, Washington có thể sẽ bị gạt ra ngoài những lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng với tương lai này.

Edward You, quan chức phụ trách các công nghệ mới nổi và đột phá tại NCSC, nhấn mạnh vấn đề không chỉ là việc mất sở hữu trí tuệ, mà còn là mất đi một mô hình kinh doanh hoàn chỉnh. Từ lâu, khu vực tư nhân ở Mỹ đã mắc kẹt trong cuộc chiến công nghệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Họ tìm cách để cân bằng giữa lợi ích kinh tế khi làm ăn với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới với đòi hỏi bảo vệ công nghệ của Mỹ.

BDN

Loading

Views: 0

Dù “không hướng tới” nhưng Chiến tranh lạnh vẫn nhiều khả năng xảy ra

Hồi tháng 9 vừa qua, phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc, Tổng thống Mỹ Joe Biden khẳng định: “Chúng tôi không hướng tới một Chiến tranh lạnh mới hay một thế giới bị chia rẽ”. Thế nhưng sự thật thì không ủng hộ thiện chí này.

Bước sang tháng 10, sự đe dọa chiến tranh trên không gian, trên biển, nhất là ở Biển Đông và eo biển Đài Loan đã khiến cho nguy cơ xảy ra Chiến tranh lạnh mới là có thật. Điều đó được các nhà bình luận quốc tế phân tích dựa trên các bằng chứng cụ thể, từ đó nhận định: Chiến tranh Lạnh Mỹ – Trung Quốc nhiều khả năng xảy ra, chứ không phải có thể xảy ra. Theo ông Kevin Rudd, cựu thủ tướng Australia và là chuyên gia lâu năm về Trung Quốc, những căng thẳng kéo dài ở eo biển Đài Loan, do sự “sốt ruột” của giới cầm quyền Bắc Kinh muốn mau chóng thống nhất Đài Loan bằng vũ lực chính là ngòi nổ Chiến tranh lạnh.

Vẫn cố gắng bảo vệ quan điểm của Tổng thống, Lầu Năm Góc đưa ra nhiều ý kiến nhằm dập tắt đám cháy có nguy cơ thổi bùng chiến tranh. Các ý kiến này thừa nhận, Trung Quốc đang nổi lên như một đối thủ tiềm tàng của Mỹ và đồng minh. Sự so sánh này có thể chưa hoàn toàn chính xác, nhưng nếu so với Liên Xô ở thập niên 70-80 thế kỷ XXI thì Trung Quốc mạnh hơn nhiều. Mạnh ở chỗ, các lĩnh vực khoa học, công nghệ, quân sự, kinh tế đều đạt được những thành tựu ngoạn mục.

Chiến tranh lạnh mới khác với Chiến tranh lạnh cũ ở chỗ, sự cạnh tranh Mỹ-Trung có thể ẩn giấu phía sau những căng thẳng leo thang về chiến lược kinh tế, cạnh tranh công nghệ và những động thái quân sự.

Còn như việc không quân Trung Quốc đưa hàng trăm máy bay xé nát bầu trời Đài Loan trong những ngày qua, hay việc Bắc Kinh mở rộng chương trình không gian khi đưa thêm ba phi hành gia lên trạm vũ trụ và thúc đẩy thử nghiệm tên lửa siêu vượt âm, loại khí tài có thể xuyên thủng mọi lá chắn phòng thủ của Mỹ… chỉ là kiểu Chiến tranh lạnh cũ.

Dấu hiệu Chiến tranh lạnh mới mà Trung Quốc “đọc vị” là: Cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt khi Mỹ và Anh tuyên bố hỗ trợ công nghệ để Australia đóng 8 tàu ngầm hạt nhân. Thỏa thuận tàu ngầm mang tên AUKUS sẽ giúp Mỹ, Anh, Canada duy trì ưu thế vượt trội về tàu ngầm hạt nhân so với Trung Quốc.
Còn, Chiến tranh Lạnh cũ trọng tâm là cạnh tranh quân sự. Khi đó đứng đầu hai cực thế giới là Mỹ và Liên Xô.

Vấn đề là ở chỗ, dù tên gọi thế nào, nhưng cách hành xử của hai siêu cường Mỹ và Trung Quốc trong thế kỷ XXI khiến thế giới hình dung  đang sa vào một cuộc chiến. Vậy thì minh định thế nào đây cho sự “sa vào” này, nếu không gọi đó là “Chiến tranh lạnh mới”?

Để minh họa thêm cho sự cạnh tranh toàn diện của hai “ông lớn”, xin nêu một dẫn chứng mới: Tại Mỹ, một vấn đề hiếm hoi đã đạt đồng thuận lưỡng đảng là cuộc cạnh tranh Mỹ- Trung trong các lĩnh vực thiết bị bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, máy tính lượng tử. Do có sự đồng thuận mà lưỡng đảng tại Thượng viện Mỹ đã thông qua Dự luật chính sách công nghiệp mới (nhằm đối phó Trung Quốc).

Theo đó Dự luật này sẽ rót khoảng 52 tỷ USD để mở rộng sản xuất chip điện tử trong nước. Nguồn tài chính khổng lồ này vượt xa khoản chi khi cạnh tranh sự thống trị của Nhật Bản cách đây 30 năm, (thị phần chip điện tử của Nhật Bản đã giảm còn khoảng 10%).

Cạnh tranh Mỹ-Trung âm thầm và quyết liệt trên nhiều lĩnh vực sẽ là ngòi nổ cho những xung đột rất cao trong thời gian tới. Triển vọng leo thang chiến tranh một cách vô tình giữa hai cường quốc vẫn tiềm ẩn. Điều nguy hại là, Chiến tranh lạnh mới sẽ khiến cho cả hai siêu cường cùng đồng minh rơi vào “vòng xoáy” chạy đua sự ảnh hưởng, tìm kiếm đồng minh và chạy đua vũ trang.

Và trong “vòng xoáy” khôn lường ấy, các quốc gia liên quan như “Bộ tứ kim cương”, AUKUS (Mỹ -Anh -Australia thiết lập mối quan hệ đối tác an ninh ba bên ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương), các nước ASEAN, phải chủ động, tỉnh táo để không bị cuốn vào như một cơn “mộng du” đã từng xảy ra trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai trong thế kỷ XX.

BDN

Loading

Views: 0

TQ chật vật chạy đua quân sự với Mỹ

Trung Quốc đang chật vật chạy đua để bắt kịp Hoa Kỳ về quân sự. Theo một báo cáo vào tháng 6 của một tổ chức tư vấn chính sách, Trung Quốc đang làm như vậy bằng cách tăng cường các nỗ lực đổi mới trong nước song song với các nỗ lực đánh cắp tài sản trí tuệ đang diễn ra.

ĐCSTQ luôn ôm giữ mục tiêu đánh bại Hoa Kỳ

Báo cáo của Tổ chức Nghiên cứu và Phát Triển RAND có tiêu đề “Mua lại Quốc phòng ở Nga và Trung Quốc” được Epoch Times trích dẫn cho biết “Việc Trung Quốc phụ thuộc vào hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ có nghĩa là vũ khí của họ đã tụt hậu nhiều năm, nhưng Trung Quốc nhận ra thiếu sót đó và đang đầu tư vào và phát triển năng lực nội tại thông qua liên doanh và mua lại công nghệ ngoại quốc”.

Bản báo cáo này được soạn thảo cho Quân đội Hoa Kỳ, phác thảo cách Trung Quốc đang rời bỏ mô hình tiêu chuẩn là sao chép các quốc gia khác. “Nhìn chung, PLA đã vượt qua nhiều rào cản công nghệ và là mối đe dọa rõ ràng đang cận kề đối với Hoa Kỳ trong những thương vụ mua lại quốc phòng”.

Trộm cắp và Mua lại

Mô hình đổi mới của Trung Quốc trong nhiều năm qua là trộm cắp và sao chép, mà các tác giả của tổ chức RAND gọi là “mô hình sao chép-thay thế”. Nhiều sư đoàn của Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) được trang bị bản sao vũ khí của các quốc gia khác.

RAND trích dẫn rằng phi cơ Trung Quốc có những điểm tương đồng nổi bật với các phi cơ đối ứng của Hoa Kỳ và Nga. Trong số danh sách các số hiệu [không lưu] có tiêm kích F-35 Lightning II của Hoa Kỳ và J-31 Gyrfalcon của Trung Quốc trông tương tự nhau.

Một tiêm kích khác, được gọi là J-20 Mighty Dragon, tương tự như F-22 Raptor của Hoa Kỳ. Nhưng theo báo cáo, mặc dù J-20 đang trải qua quá trình phát triển tương đối nhanh chóng, RAND ước tính rằng Trung Quốc còn kém Hoa Kỳ tới 20 năm trong lĩnh vực hàng không quân sự.

Trên thực tế, khẩu súng trường tiêu chuẩn được sản xuất trong nước của PLA trong khoảng 25 năm qua, súng trường tự động QBZ-95, có thể sớm bị thay thế bằng một mẫu sao chép. Theo phân tích từ The Firearm Blog, thiết bị thay thế, được biết đến với tên gọi không chính thức là súng trường tiến công QBZ-191, là một bản sao gần giống của súng tiểu liên Heckler và Koch 416. Khẩu súng trường này cũng rất giống khẩu AR-15.

Theo RAND, việc ĐCSTQ “dựa vào hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ để phát triển vũ khí đã giúp duy trì khả năng cạnh tranh nhưng lại khiến họ tụt hậu vài năm”. Điều này đã khiến Trung Quốc tăng cường nỗ lực trong nghiên cứu và phát triển (R&D) của riêng mình.

Cố gắng đổi mới

Chi tiêu quân sự nội địa của Trung Quốc đã tăng lên trong những thập kỷ gần đây và cách tiếp cận đổi mới của quốc gia này đã có sự thay đổi mô hình trong những năm gần đây.

Báo cáo viết, “Chi tiêu quân sự của Trung Quốc đã tăng gấp 10 lần tính bằng đồng dollar cố định trong 25 năm qua, với mức chi tiêu đạt mức cao nhất mọi thời đại là 250 tỷ USD vào năm 2018″. Để so sánh, Hoa Kỳ có ngân sách quốc phòng là 700 tỷ USD trong cùng năm.

Từ khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền đã dẫn đến một số thay đổi có tính hệ thống trong chiến lược phát triển vũ khí của PLA. Kể từ năm 2016, các lĩnh vực quân sự và thương mại đã trở nên tích hợp chặt chẽ hơn. Các thiết kế quân sự thường được các công ty dân sự đấu thầu, mặc dù thuộc sở hữu của nhà nước.

Theo báo cáo của RAND, “xét về quy mô, trong số 22 công ty quốc phòng có doanh thu cao nhất trên toàn thế giới, có chín công ty đến từ Hoa Kỳ và tám công ty đến từ Trung Quốc”. Mức lương của các nhà quản lý dự án và kỹ sư của Trung Quốc cũng đang trở nên cạnh tranh so với [mức lương] ở Hoa Kỳ. Điều này càng thu hút các công dân Trung Quốc theo học các trường đại học ở hải ngoại hồi hương.

Sau khi tốt nghiệp năm 2000, hầu hết tất cả sinh viên Trung Quốc đã bắt đầu sinh sống ở hải ngoại. Đến năm 2016, gần 65% sinh viên Trung Quốc đã quay trở lại Trung Quốc.

Các rào cản đến chiến trường

Tiền và trộm cắp không thể giải quyết tất cả các vấn đề phát triển của Trung Quốc. Báo cáo cho biết, “PLA vẫn đang chật vật để thúc đẩy sự đổi mới trong nước và thu hẹp khoảng cách về một số khiếm khuyết kỹ thuật rõ ràng, chẳng hạn như các vi mạch bán dẫn cao cấp, tàu ngầm không ồn và động cơ phi cơ”.

RAND nhấn mạnh những trở ngại nội bộ bắt nguồn từ cấu trúc chính trị của ĐCSTQ . Báo cáo nêu rõ, “ngay cả khi đang cố gắng xóa bỏ những rào cản kỹ thuật này, PLA phải giải quyết sự kém hiệu quả của thể chế và các rào cản liên quan đến quản lý và việc bảo đảm chất lượng vốn đang tiếp tục cản trở các nỗ lực cải cách của họ”.

Hơn nữa, “Việc thiết kế các hợp đồng quốc phòng của Trung Quốc cũng không khuyến khích sự minh bạch và trách nhiệm giải trình”. Ngôn ngữ trong các bản hợp đồng là mơ hồ, các doanh nghiệp trúng thầu được bảo đảm một phần lợi nhuận trên giá trị hợp đồng, và các doanh nghiệp trả giá thầu thấp nhất cho các hợp đồng được nhận các dự án động viên an ủi. Theo RAND, những dấu tích của nền kinh tế chỉ huy này dẫn đến rất ít hoặc không có động lực để đổi mới.

BDN

Loading

Views: 0

Biden mở rộng liên minh chống Trung

Chính quyền Biden đang cho thấy nét khác biệt về chính sách đối ngoại so với thời Trump, trong đó Mỹ nhấn mạnh đến hợp sức cùng đồng minh để đối phó với Trung Quốc.

Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời ông Joe Biden có nhiều điểm khác biệt so với người tiền nhiệm.

Sau khi lên nắm quyền, Tổng thống Joe Biden dần định hình chính sách đối ngoại của nước Mỹ. Từ các phát biểu, cách ông lựa chọn bộ máy nội các, các quyết sách và hành động thực tế cho thấy chính sách đối ngoại của Biden sẽ có nhiều điểm khác biệt với cựu Tổng thống Donald Trump.

Khác với nước Mỹ thời ông Trump tiếp quản Nhà Trắng lựa chọn bảo hộ, đối đầu với hầu hết các cường quốc, ông Biden định hình đường hướng nước Mỹ theo lập trường ưu tiên “chủ nghĩa đa phương”, gắn kết nước Mỹ với phần còn lại của thế giới để cùng phát triển. Đặc biệt, củng cố và tăng cường quan hệ với đồng minh và đối tác, tập hợp liên mình nhằm kiềm chế, ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc.

Khác biệt với Trump

Trong bài phát biểu nhân chuyến thăm trụ sở Bộ Ngoại giao và có cuộc gặp với tân Ngoại trưởng Antony Blinken cùng các nhân viên ngành ngoại giao Mỹ đầu tháng 2, Tổng thống Biden nhấn mạnh “Nước Mỹ đã trở lại”. Theo đó, ông Biden cam kết về một kỷ nguyên mới đối với nước Mỹ, khẳng định nước Mỹ sẽ cạnh tranh từ một vị thế có sức mạnh bằng cách tái thiết trong nước, hợp tác với các đồng minh và đối tác, đồng thời đổi mới vai trò của Washington trong các thể chế quốc tế và giành lại uy tín và quyền lực đạo đức.

Bài phát biểu đã thể hiện rõ sự khác biệt so với chính sách “Nước Mỹ trên hết” của cựu Tổng thống Donald Trump, và điều này càng được thể hiện rõ nét hơn sau khi Mỹ hôm 4/3 công bố “Chỉ dẫn chính sách đối ngoại tạm thời”. Có thể nói, đây là những hướng dẫn ban đầu cho các cơ quan chức năng của Mỹ về việc thực thi chính sách đối ngoại của nước Mỹ dưới thời Tổng thống Joe Biden.

Theo Tiến sĩ Phạm Cao Cường – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu châu Mỹ, có rất nhiều điểm mới trong chính sách đối ngoại của chính quyền Biden so với thời Trump.

Chính quyền Biden hướng đến việc khôi phục lại vị thế, ảnh hưởng của Mỹ trên trường quốc tế với chủ trương ‘Nước Mỹ đã quay trở lại’, trong khi đó ông Trump chủ trương ‘Nước Mỹ trên hết’. Ông Trump xây dựng nước Mỹ theo chủ nghĩa biệt lập, đặt lợi ích của nước Mỹ lên trước tiên. Vì vậy, chính sách đối ngoại của ông đều đi theo đường hướng này. Quan điểm cá nhân được thể hiện rất rõ nét trong chính sách đối ngoại thời gian ông Trump nắm quyền. Điều này được phản ánh qua việc ông Trump rút Mỹ khỏi các chính sách và điều ước quốc tế.

“Ông Biden cho rằng, chính sách như vậy làm suy yếu sức mạnh và tập hợp lực lượng của Mỹ trên trường quốc tế. Vị thế nước Mỹ vốn bị suy giảm nghiêm trọng dưới thời  Trump. Vì thế, ông chủ trương ‘Nước Mỹ đã quay trở lại’, đưa Mỹ tái hòa nhập lại cộng đồng quốc tế, tham gia vào các tổ chức quốc tế điều đó thể hiện quan điểm đa phương.

Chính sách của Trump cô lập nước Mỹ, gây bất lợi cho vị thế của Washington và vị thế trên toàn cầu. Việc Mỹ rút lui khỏi các thỏa thuận quốc tế rất nguy hiểm, tạo cho Trung Quốc – một quốc gia mà Mỹ được coi là đối thủ cạnh tranh lấp vào vị trí chỗ trống ấy. Do đó, ông Biden muốn Mỹ tài tham gia vào các thỏa thuận khu vực và quốc tế”, ông Phạm Cao Cường cho hay.

Theo chuyên gia Phạm Cao Cường, điểm khác biệt đáng chú ý trong chính sách đối ngoại giữa chính quyền Trump và Biden đó là ông Trump dường như không coi trọng vấn đề dân chủ, nhân quyền song ông Biden coi trọng các giá trị này.

“Dưới thời ông Biden, Mỹ sẽ quay trở lại các giá trị truyền thống, đặc biệt là củng cố các thể chế dân chủ vì ông cho rằng việc củng cố các thể chế dân chủ giúp giảm bớt các xung đột, giảm bớt các va chạm về văn hóa, giá trị lợi ích quốc gia và giúp nước Mỹ giữ vững hình ảnh, củng cố được giá trị của mình trên thế giới.

Trong chính sách đối ngoại của Mỹ cũng nhấn mạnh, nước Mỹ đã quay trở lại và khôi phục các trụ cột và giá trị của nước Mỹ. Chính sách này cho thấy Mỹ thận trọng trong để tạo ra tư tưởng, quan điểm chung để các bộ, ban, ngành của Mỹ vạch ra các định hướng nhất quán về chính sách đối ngoại của Mỹ. Ông Biden muốn sử dụng tất cả nguồn lực của Mỹ để bảo vệ các lợi ích của Mỹ và đối phó với các đe dọa.

Đáng chú ý, chính quyền Biden cũng tuyên bố sẵn sàng sử dụng vũ lực để giải quyết các thách thức của thế giới. Tuy nhiên, biện pháp quân sự chỉ giải quyết nếu như các biện pháp ngoại giao bất thành. Các biện pháp ngoại giao được đặt lên hàng đầu”, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu châu Mỹ phân tích.

Chỉ ra nguyên nhân của sự khác biệt trong chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Biden khác với thời Trump, Tiến sĩ Phạm Cao Cường cho rằng, chính sách của chính quyền Biden hiện chịu sự tác động từ quan điểm của một số nhân vật như Cố vấn An ninh quốc gia Jake Sullivan, Ngoại trưởng Antony Blinken hay một số quan chức khác ở trong chính quyền.

“Ông Antony Blinken từng chỉ trích mạnh mẽ đường lối chính sách đối ngoại của Mỹ và chính sách biệt lập dưới thời Trump, cho rằng điều này làm giảm hình ảnh của Mỹ. Còn Jake Sullivan cho rằng, trong quá trình triển khai chính sách đối ngoại, bảo vệ lợi ích của mình, Mỹ cần phải có sự hợp tác đa phương. Hợp tác đa phương sẽ tạo cho nước Mỹ lợi thế từ sức mạnh tập thể để đối phó với bất kỳ mối đe dọa nào, kể cả sự trỗi dậy của Trung Quốc. Và việc Mỹ quay trở lại trường quốc tế sẽ tạo cho nước Mỹ một sức mạnh tập thể, thay vì nước Mỹ đơn phương đối phó với các thách thức toàn cầu”, ông Phạm Cao Cường cho hay..

Hợp lực liên minh đối chọi Trung Quốc

Sau hội đàm giữa quan chức Mỹ – Trung Quốc lần đầu tiên dưới thời Tổng thống Joe Biden hôm 18/3, quan điểm về chính sách của Washington đối với Bắc Kinh đã thể hiện rất rõ . Theo đó, Mỹ sẽ hợp tác với Trung Quốc trong các vấn đề cùng chung lợi ích, cạnh tranh khi cần cạnh tranh và đối kháng ở những vấn đề cần phải đối kháng.

Trước đó, nội dung “Chỉ dẫn chính sách đối ngoại tạm thời của Mỹ” cũng cho thấy, chính quyền Tổng thống Joe Biden coi “sự cạnh tranh ngày càng tăng với Trung Quốc” là thách thức chính mà Mỹ sẽ phải đối mặt trong thế kỷ này.

Trong cách tiếp cận chính sách đối với Bắc Kinh, chính quyền Biden bước đầu phát đi các tín hiệu cho thấy sẽ tiếp tục lập trường cứng rắn của cựu Tổng thống Trump, song Washington sẽ không “đơn thương độc mã” mà sẽ phối hợp với các đồng minh để đối chọi với Trung Quốc.

Tuyên bố về chính sách đối ngoại của Ngoại trưởng Antony Blinken 4/3 đưa ra 8 cái trụ cột về chính sách đối ngoại, trong đó nhấn mạnh đến giá trị dân chủ, nhân quyền trên toàn cầu. Tuy nhiên, trong 8 trụ cột này, mục tiêu để đối phó với Trung Quốc, coi Bắc Kinh là đối thủ cạnh tranh nghiêm trọng đặt ở vị trí cuối cùng (thứ 8 trong các ưu tiên).

Chuyên gia Phạm Cao Cường nhận định, “điều đó cho thấy, xu hướng của chính quyền Biden muốn Trung Quốc tham gia hòa nhập vào thị trường quốc tế song Mỹ vẫn có thể cạnh tranh để đảm bảo lợi ích của Mỹ. Đối với Cố vấn An ninh quốc gia Jake Sullivan, trong một số tuyên bố, ông này cũng cho rằng Mỹ cần phải tăng cường hơn nữa trong các quan hệ đồng minh, phải tìm ra một giải pháp phù hợp để đối phó với Trung Quốc”.

Theo ông Cường, chính quyền Trump đặt nặng vấn đề mối đe dọa của Trung Quốc và sự trỗi dậy của Bắc Kinh có thể ảnh hưởng, đe dọa lợi ích của Mỹ, nhất là các thỏa thuận thương mại của Trump đối với thế giới. Tuy nhiên, theo quan điểm của ông Jake Sullivan và ông Antony Blinken, Washington cần phối hợp với các đồng minh để đối phó với Bắc Kinh.

Sự tập hợp lực lượng, hợp sức nhằm đối phó với Trung Quốc của chính quyền Biden được thể hiện rất rõ sau động thái Mỹ và các đồng minh đồng loạt áp đặt lệnh trừng phạt với Bắc Kinh. Theo đó, hôm 22/3, Mỹ và các đồng minh EU, Canada và Anh lần lượt công bố lệnh trừng phạt nhằm vào các quan chức Trung Quốc vì vi phạm nhân quyền ở khu vực Tân Cương. EU, Canada và Anh cùng trừng phạt 4 quan chức Trung Quốc với hình thức đóng băng tài sản và cấm đi lại. Trong khi đó, Bộ Tài chính Mỹ cũng bổ sung Trần Minh Quốc và Vương Quân Chính vào danh sách trừng phạt trước đó của họ.

Mặc dù lệnh trừng phạt của Mỹ và các đồng minh đối với Trung Quốc được các nhà quan sát nhận định mang nặng tính biểu tượng, song động thái này thể hiện rõ quan điểm của chính quyền Biden,hợp tác cùng đồng minh để đối chọi với Bắc Kinh và bước đầu đã cho thấy kết quả. Quan điểm này sẽ tiếp tục được thực hiện trong thời gian tới.

Đòn trừng phạt phối hợp giữa Mỹ và các đồng minh cùng một số diễn biến khác cho thấy xu hướng tập hợp lực lượng của mỗi bên đang diễn ra cấp tập sau cuộc đối thoại Mỹ – Trung ở Alaska. Không chỉ cùng trừng phạt về Tân Cương, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken cũng đã dự họp cùng ngoại trưởng các nước NATO, kêu gọi tăng cường hợp tác để giải quyết các thách thức do Trung Quốc đặt ra.

Cơ hội cho các quốc gia

Theo chuyên gia Phạm Cao Cường, hiện nay, các quốc gia đang xem xét đường hướng chính sách đối ngoại của Mỹ. Những động thái gần đây của chính quyền Biden phản ánh Washington muốn hợp tác với tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có cả khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Điều này đem lại cơ hội cho các nước trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác với Mỹ.

“Trong các tuyên bố của ông Biden, Cố vấn An ninh quốc gia Jake Sullivan, Ngoại trưởng Antony Blinken đều nhấn mạnh đến vai trò của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Điều này cho thấy, nhiều khả năng Mỹ tiếp tục coi trọng vai trò của khu vực này, cho rằng cần phải duy trì‘Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở’.

Tuy nhiên, Mỹ vẫn phải phối hợp với các quốc gia khác. Do đó, sự tham gia, phối hợp của các quốc gia, các thể chế trong chính sách này của Mỹ ở khu vực sẽ được tăng cường. Điều này mở ra nhiều cơ hội cho các nước đẩy mạnh quan hệ với Mỹ. Sự can dự của Mỹ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương dưới thời Biden là cơ hội để Washington và các nước trong khu vực có sự trao đổi thẳng thắn, với tinh thần xây dựng thay vì đối đầu, kiềm chế”, ông Phạm Cao Cường cho hay.

Theo Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu châu Mỹ, chính quyền Biden coi trọng việc giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống như vấn đề khí hậu, môi trường hay cả vấn đề Biển Đông. Mỹ sẽ tăng cường thể hiện vai trò, lên tiếng đối với các mối đe dọa chung, điều này đòi hỏi các quốc gia cần có sự thích ứng để tăng cường hợp tác với Mỹ.

“Đối với an ninh khu vực có nhiều dấu hiệu cho rằng, chính quyền của ông Biden tiếp tục các mục tiêu đã đề ra trong chính sách của Mỹ trước đây. Theo đó, Mỹ vẫn duy trì nguyên tắc tự do hàng hải, thiết lập trật tự quốc tế ở khu vực, dùng các biện pháp quốc tế để giải quyết các thách thức trong khu vực”, Tiến sĩ Cường nhận định.

Dưới thời Biden, Mỹ chủ trương kêu gọi các quốc gia cùng chung tiếng nói để đối phó với các thách thức. Một khi các quốc gia trong khu vực cùng tham gia vào lời “hiệu triệu” của Mỹ thì môi trường an ninh khu vực sẽ có những tác động nhất định. Một mặt, chủ trương này của Mỹ sẽ tạo được tiếng nói đồng thuận trong các vấn đề chung của khu vực. Tuy nhiên, nếu Mỹ có những hành động làm gia tăng căng thẳng thì cần phải có tiếng nói đồng thuận hơn giữa các quốc gia, hướng đến lợi ích khu vực.

“Chiến lược an ninh tạm thời Mỹ cho rằng, Washington cần phải hợp tác với các đồng minh trong khu vực gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, song hai đối tác mà Mỹ hướng đến đó là Việt Nam và Singapore. Ngoài ra, một phản ứng trong vấn đề về dân chủ và nhân quyền của Mỹ cũng tác động tới môi trường an ninh của khu vực”, chuyên gia Phạm Cao Cường nhận định.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ quyết hất TQ khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu

Bất chấp khó khăn, Hoa Kỳ đang cố gắng để thiết lập chuỗi cung ứng riêng của mình, không phụ thuộc vào chuỗi cung ứng từ Trung Quốc.

Mỹ muốn xây dựng chuỗi cung ứng hàng hóa công nghệ cao độc lập với Trung Quốc. Tổng thống Mỹ Joe Biden đang chuẩn bị ký lệnh hành pháp với mục đích phát triển hệ thống cung cấp mới trong ngành sản xuất chip điện tử và các mặt hàng chiến lược khác, để không phụ thuộc vào Trung Quốc.

Ở giai đoạn đầu, Washington sẽ kiểm toán đánh giá lại toàn bộ các chuỗi cung ứng hiện có để xác định mức độ phụ thuộc của Mỹ vào các quốc gia khác.

Mặc dù Hoa Kỳ tiếp tục dẫn đầu thế giới về công nghệ cao, thì đặc tính toàn cầu của các hệ thống cung cấp phát triển trong những thập kỷ gần đây đã khiến các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau. Và điều đó sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho Mỹ trong công cuộc “thoát” Trung Quốc.

Mỹ phụ thuộc vào chip của Trung Quốc

Ví dụ như những con chip hiện đại nhất được sử dụng trong các ngành công nghiệp và điện tử phức tạp thường  được sản xuất theo công nghệ và tài sản trí tuệ của Mỹ. Đây chính là điều mà Mỹ dựa vào đó để gây áp lực khi sử dụng các lệnh trừng phạt đối với doanh nghiệp Trung Quốc như Huawei.

Nhưng mặt khác, cũng cùng một con chip đó, không chỉ do Mỹ sản xuất ra. Hơn nữa, tỷ trọng của Hoa Kỳ trong sản xuất chip trên thế giới đang giảm xuống nhanh chóng: Nếu như năm 1990 khoảng 40% tổng số chip được sản xuất trên đất Mỹ thì ngày nay con số này chỉ còn 12%.

Đài Loan đã vượt lên trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới trong sản xuất chip điện tử, chiếm 22% thị trường. Bám sát theo sau là Trung Quốc. Theo tính toán của Boston Consulting, Bắc Kinh đã trợ cấp cho các nhà sản xuất chip trong nước khoảng 100 tỷ USD. Với sự hỗ trợ mạnh mẽ như vậy, đến năm 2030, họ hy vọng nước này sẽ dẫn đầu thế giới về sản xuất chip điện tử với 24% thị phần.

Như vậy, tất cả các quốc gia, kể cả các đối thủ, đều phụ thuộc lẫn nhau. Trung Quốc không thể sản xuất chip thế hệ mới nhất nếu không có công nghệ và thiết bị Mỹ, còn Mỹ không thể đáp ứng nhu cầu thị trường mà không có linh kiện và thành phẩm hoàn thiện từ Trung Quốc.

Hiện nay hoạt động xã hội, cơ sở hạ tầng cơ bản, cuộc sống đô thị và sự phát triển kinh tế, cũng như các lĩnh vực xã hội nói chung, phụ thuộc hoàn toàn vào thiết bị công nghệ, cũng như chip điện tử. Nói cách khác, an ninh quốc gia và sự ổn định phát triển của đất nước phụ thuộc vào các vi mạch nhỏ xíu. Không phải vô cớ mà hàng năm Trung Quốc phải nhập khẩu đến 300 tỷ USD tiền chip điện tử – nhiều hơn cả dầu thô.

Mặt khác, khi công cuộc số hóa ngày càng sâu rộng, nhu cầu về chip và các linh kiện công nghệ khác nhau sẽ tăng lên. Số lượng các nhà cung cấp đáng tin cậy của Hoa Kỳ càng thu hẹp, thì việc đảm bảo ổn định nguồn cung càng khó khăn hơn.

Mỹ phụ thuộc vào Trung Quốc về y tế, đất hiếm và công nghệ mạng 5G

Theo ý kiến của chuyên gia người Trung Quốc về công nghệ internet, nhà báo Liu Xingliang nói với hãng tin Nga Sputnik, các biện pháp trừng phạt của Mỹ có thể gây ra một số thiệt hại và làm chậm sự phát triển công nghệ của Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh cũng không thiếu những công cụ để đáp trả.

Mỹ phụ thuộc 80% vào nguồn cung cấp kim loại đất hiếm từ Trung Quốc, vốn cần thiết để sản xuất hầu hết thiết bị điện tử và công nghệ hiện đại, kể cả trong lĩnh vực quân sự, ví dụ như trong sản xuất máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ 5 F-35 Lightning II của Lockheed Martin, hay các tàu sân bay và các tàu tuần dương, tàu khu trục… tối tân.

Mỹ cũng phụ thuộc 90% về vật tư y tế Trung Quốc và đó không chỉ là khẩu trang hay găng tay đơn giản.

Trong quý một năm 2020, khi đại dịch COVID-19 hoành hành ở Trung Quốc và ngành công nghiệp dược phẩm nước này dồn toàn lực cho nhu cầu trong nước, chính quyền Washington mới chợt nhận ra mình đã thiếu khôn ngoan khi thuê Trung Quốc sản xuất các loại thuốc men thiết yếu, chẳng hạn như thuốc giảm đau, kháng viêm Panadol hay Ibuprofen.

Ngoài ra, trong một số lĩnh vực, chẳng hạn như công nghệ mạng 5G, với hàng loạt công ty công nghệ hàng đầu thế giới và sự thành thục trong triển khai mạng 5G quốc nội, Trung Quốc đã tự đảm bảo vị thế dẫn đầu về công nghệ, mà ngay cả Mỹ và các cường quốc hàng đầu thế giới khác cũng phải chào thua.

Nếu như Trung Quốc đứng ngoài cuộc, việc xây dựng mạng 5G sẽ lâu hơn và chi phí tốn kém hơn. Việc loại bỏ Trung Quốc, nhập khẩu công nghệ và hạ tầng mạng của các nước khác vẫn chưa hoàn thiện, sẽ là mối đe dọa đối với sự ổn định kinh tế và xã hội ở nhiều nước.

Khó loại Trung Quốc khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu

Hoa Kỳ hiện đang cố gắng phát triển chuỗi cung ứng của mình để bỏ qua Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, hội nhập sâu rộng toàn cầu đến mức việc loại trừ Trung Quốc sẽ dẫn đến cú sốc trong nhiều ngành, bao gồm cả sản xuất chip,

Theo Liu Xingliang , trong thời đại toàn cầu hóa. Trung Quốc nắm giữ phần lớn thị phần trong chuỗi cung ứng thế giới, vì vậy nếu Mỹ loại trừ Trung Quốc, điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng không chỉ đến chiến lược bán dẫn của Mỹ mà còn đến tiến bộ toàn cầu trong lĩnh vực chip và vi mạch.

Ngoài ra, qua khoảng thời gian hàng thập kỷ trở thành công xưởng của thế giới, Trung Quốc đã đạt được những đột phá về công nghệ và tích lũy được kiến ​​thức chuyên môn đáng kể trong lĩnh vực này, nên toàn bộ ngành công nghiệp toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng khá nặng nề.

Chuyên gia Liu Xingliang giải thích, rõ ràng là không một quốc gia nào, kể cả Hoa Kỳ, có thể một mình đạt được tiến bộ công nghệ trong điều kiện ngày nay. Mỹ hiểu điều này và Washington đang cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ của các nước đồng minh.

“Tôi không nghĩ có nước nào có thể tự mình phát triển công nghệ và đạt được sự độc lập trong chuỗi cung ứng. Trong thời đại toàn cầu hóa, đối với việc phát triển bất kỳ ngành nghề nào, sự hợp tác của các quốc gia với nhau là cần thiết. Nếu nước nào quyết định một mình phát triển thì nước đó sẽ thua cuộc. Những tổn thất sẽ lớn hơn những lợi ích có được” – ông Liu nói.

Do đó, hiện nay Hoa Kỳ đang cố gắng tranh thủ một số đồng minh tham gia vào hệ thống cung cấp nhằm đảm bảo các mục tiêu phát triển chung, tức là Mỹ cũng không tự chủ hoàn toàn trong chuỗi cung ứng này.

Mỹ hợp tác với đồng minh để lấp chỗ trống của Trung Quốc

Hiện Mỹ đang cố gắng đàm phán với các đồng minh để phát triển hệ thống cung cấp độc lập khỏi Trung Quốc.

Ví dụ như Australia tham gia trong lĩnh vực khai thác, tinh luyện kim loại đất hiếm. Công ty khai thác mỏ Lynas của Úc thậm chí đang xây dựng một nhà máy chế biến ở bang Texas – Hoa Kỳ, được thực hiện với sự hỗ trợ tài chính từ Bộ Quốc phòng Mỹ.

Với sự trợ giúp của Panasonic – Nhật Bản và LG Chem của Hàn Quốc, Mỹ cố gắng bỏ qua Trung Quốc trong việc cung cấp pin cho xe điện. Hiện tại, Công ty Contemporary Amperex Technology Limited (CATL, của Trung Quốc) đang thống trị thị trường pin xe ô tô điện trên toàn cầu.

Theo Nikkei Asia, Mỹ muốn tạo ra với các đồng minh của mình sự trao đổi thông tin nhanh chóng về hoạt động của chuỗi cung ứng và thiết lập cơ chế hỗ trợ lẫn nhau trong trường hợp thị trường thiếu hụt bất kỳ thành phần quan trọng nào. Tính cấp thiết của vấn đề này được thể hiện qua sự thiếu hụt chip trong ngành công nghiệp ô tô.

Nhưng thực tế là không phải lúc nào cũng có thể nhanh chóng lấp đầy khoản thâm hụt này trong trường hợp cần thiết, đặc biệt là nếu số lượng các nhà cung cấp có hạn. Ví dụ, công ty TSMC Đài Loan đã hoạt động quá khả năng của mình, mặc dù lời kêu gọi từ Washington để tăng cường sản xuất các linh kiện cần thiết và công ty này sẽ khó có thể mở rộng sản xuất trong ngắn hạn.

Nhiều khả năng Hoa Kỳ sẽ không từ bỏ ý định “hất văng” Trung Quốc ra khỏi hệ thống cung cấp của mình, vì ngay cả dưới chính quyền mới của Hoa Kỳ hiện nay, không có dấu hiệu nào cho thấy có sự tan băng trong quan hệ giữa hai nước và chấm dứt cuộc chiến tranh thương mại Trung-Mỹ.

Washington đã trợ cấp tài chính cho TSMC để xây dựng nhà máy chip ở bang Arizona, trị giá khoảng 12 tỷ USD và sẽ bắt đầu hoạt động vào năm 2024. Công ty này sẽ được chỉ định cho nhiệm vụ sản xuất chip điện tử cho nghành công nghiệp quân sự Mỹ.

Rõ ràng là quyết tâm của Mỹ là rất cao, bất chấp cái giá phải trả là rất lớn. Nhưng nếu huy động được toàn thể các đồng minh tham gia vào chuỗi cung ứng của mình, Hoa Kỳ sẽ giảm thiểu được thiệt hại và dần dần hạ thấp vị thế của Trung Quốc trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

BDN

Loading

Views: 0

TQ hết hy vọng?

Thế là đã rõ, dù “mềm” hơn đôi chút, những chính sách của Mỹ với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, cơ bản vẫn như thời ông Trump – người tiền nhiệm của ông Joe Biden. Bằng chứng là, ngồi vào ghế tổng thống chưa ấm chỗ, tân Tổng thống Mỹ đã gửi một thông điệp “đậm mùi thuốc súng” tới Bắc Kinh.

Tiêm kích F/A-18F cất cánh từ tàu sân bay USS Theodore Roosevelt ngày 20-1

Những người quan sát, theo dõi diễn tiến sự việc đều biết, thời ông Trump làm tổng thống Mỹ, Washington “rắn” với Trung Quốc như thế nào. “Rắn” cả về thái độ, tuyên ngôn và hành động. “Rắn” tới mức thế giới chứng kiến một cuộc “chiến tranh thương mại” quy mô lớn giữa hai cường quốc, làm ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế toàn cầu. Trước đó, dù không ồn ào như cuộc chiến thương mại, nhưng trong thực tế, đã âm thầm diễn ra một cuộc chiến công nghệ, cũng giữa hai quốc gia.

Thế nên, khi ông Trump thất cử, người ta chờ đợi nhiều một sự thay đổi, chí ít là “mềm” hơn nhiều của ông Biden, trong chính sách đối ngoại của Mỹ với Trung Quốc.

Thế giới chờ. Còn Trung Quốc thì mong. Bởi dù mạnh miệng, nhưng thực sự, Trung Quốc gặp khó khi nếm các đòn trừng phạt tới tấp của ông Trump. Tất nhiên, Bắc Kinh không vừa “ăn miếng, trả miếng” sòng phẳng, nhưng xét về thế và lực, quốc gia 1,5 tỷ dân có nền kinh tế quy mô 15 nghìn tỷ đô la này vẫn dưới cơ so với quốc gia bên kia đại dương hơn 200 triệu dân, nhưng quy mô nền kinh tế tới 20 nghìn tỷ đô la/năm và đang dẫn đầu hầu hết các mũi nhọn khoa học công nghệ, trong đó có quân sự.

Bắc Kinh chọn vấn đề Đài Loan làm bài test thái độ của chính quyền ông Biden. Bởi Trung Nam Hải hiểu vấn đề Đài Loan quá nhạy cảm với cả hai bên. Trung Quốc luôn coi Đài Loan là phần lãnh thổ không thể tách rời, trước sau sẽ về đại lục, bất luận bằng hình thức nào. Còn với Mỹ: Đài Loan là đồng minh. Ứng xử với hòn đảo đồng minh này không chỉ có ý nghĩa hai bên, mà còn là sự “trông vào” của các đồng minh khác. Họ xem Mỹ có là người anh “đáng tin” hay không, để mà tiếp tục mặn mà, xa lánh, hay “đu dây” kiểu Philippines. Mặt khác, thái độ của chính quyền mới của Mỹ với Đài Loan cũng thể hiện họ coi trọng, hay không coi trọng quan hệ với Trung Quốc.

Thế là Trung Quốc chủ động “đòn thử”. Trung Quốc đã tiến hành cuộc tập trận quân sự đầu tiên trong năm 2021 tại khu vực gần Đài Loan. Lũ lượt, 8 máy bay ném bom có khả năng mang vũ khí hạt nhân, 4 máy bay chiến đấu và 1 máy bay chống tàu ngầm của Trung Quốc đã đi vào ADIZ phía Tây Nam của hòn đảo này vào hôm 23/1. Đến ngày 24/1, Trung Quốc điều tiếp 12 máy bay chiến đấu, 2 máy bay chống tàu ngầm và 1 máy bay trinh sát, mặc không quân Đài Loan đã có động thái cảnh báo.

Nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ lần này bao gồm hàng không mẫu hạm USS Theodore Roosevelt, tuần dương hạm USS Bunker Hill cùng hai khu trục hạm USS Russell và USS John Finn tới Biển Đông cùng ngày 23/1 – ngày Trung Quốc cho máy bay tới vùng ADIZ của Đài Loan. Không có bằng chứng thực việc nhóm tác chiến của tàu sân bay Mỹ USS Theodore Roosevelt đã tiến vào Biển Đông là để thách thức Trung Quốc.

Về phát ngôn, vẫn như trước, Mỹ khẳng định họ thực thi quyền “tự do hàng hải” phù hợp với luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, với một động thái quân sự đầu tiên chỉ sau ba ngày ông Binden chính thức vào Nhà trắng, chẳng ai ngây thơ tin rằng câu chuyện chỉ đơn giản thế.

Truyền thông quốc tế tấp nập tin, bài bình luận. Trong đó, đáng chú ý, hãng Bloomberg, cùng với dẫn tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ hôm 23/1 kêu gọi Bắc Kinh đối thoại và ngừng gây sức ép quân sự với Đài Loan, cho rằng: Việc điều nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ vào Biển Đông thể hiện sự ủng hộ của Washington đối với Đài Loan dưới thời Biden.

Một khi đã bênh đồng minh Đài Loan chằm chặp, nghĩa là trong quan hệ với Trung Quốc, khó hy vọng Mỹ sẽ “dịu dàng” hơn so với thời ông Trump vậy?

BDN

Loading

Views: 0

Biden và Trung Quốc: bạn hay thù?

Giáo sư Lương Văn Lý khi giới thiệu về bài phân tích này có bình luận rằng: „Đối với người Việt chúng ta, những ý kiến này thật đáng suy nghĩ, nhất là đối với những ai đang bị chính sách cưỡng bức bá quyền của TQ làm cho tầm nhìn bị che khuất mà không thấy được bức tranh toàn cảnh của thế giới. Chuyện hợp tác giữa Mỹ và TQ là điều có lợi cho Mỹ, cho TQ và cho cả thế giới, chính vì thế mà sớm muộn cũng sẽ diễn ra. Tình huống này sẽ không diễn ra nếu một trong hai nước có đủ sức mạnh để tiêu diệt sức mạnh nước kia. Điều này xét trên thực tế hiện nay và trong tương lai là có thể dự báo được rằng sẽ không khả thi. Cậy vào Mỹ để chống TQ chăng? Hay là phải tính giải pháp căn cơ hơn, dài hơi hơn để bảo vệ lợi ích của dân tộc và an ninh của đất nước dù cho tình hình thế giới biến thiên như thế nào đi nữa.“

Chúng ta đang sống trong giai đoạn ‘giải quyết hậu quả’ của cuộc bầu cử ở Mỹ đã gây phân cực nặng nề. Nay cũng phải kỳ vọng vào thời kỳ mới với thay đổi mới. Nhưng việc Biden vào Nhà Trắng sẽ đem lại điều gì mới cho quan hệ Mỹ Trung và cho các nước ở châu Á? Một trong những dấu ấn của Trump là đã mạnh tay điểm huyệt người Tàu. Ông mở trận chơi nhau bằng cuộc chiến thương mại, rồi từ đó ngọn lửa nóng cứ thế lan sang hết tất cả các lĩnh vực khác thể hiện rõ ràng bằng bài diễn văn luận tội TQ của Phó TT Mỹ Pence đọc ngày 24/10/2019:

‘Tất cả những gì Bắc Kinh đang làm – từ lập tường lửa do đảng cộng sản chỉ đạo trên không gian mạng, tới việc tới tấp xây ‘trường thành trên biển’ bằng cách đổ cát xây đảo ở biển Đông – từ cách phản bội lòng tin của Hồng Kông tới việc đàn áp dã man những người có đạo – cho thấy chính Đảng Cộng sản TQ đã tách mình khỏi thế giới cả mấy chục năm rồi’.

Bây giờ là nước Mỹ dưới thời Biden – có thay đổi hay chăng? Câu trả lời là ‘tất cả mọi sự sẽ thay đổi’. Câu trả lời cũng có thể là ‘chẳng có gì thay đổi đâu’. Cả hai câu này vậy mà đúng cả. Tất cả sẽ thay đổi – bởi vì chính thể Biden sẽ không dùng lời lẽ lăng nhục TQ như Trump đã làm. Tuy rằng Biden cũng đã từng gọi Tập là ‘tên lưu manh’ trong thời gian tranh cử, nhưng TQ sẽ thông cảm rằng vận động bầu cử kiểu Mỹ là phải nói gì mà dân Mỹ muốn nghe! Thì đến ngay Bill Clinton cũng từng có lời hứa tranh cử là ‘tôi sẽ không bắt tay với tên đồ tể Bắc Kinh’ thế nhưng khi ở Nhà Trắng lại dày công xây dựng quan hệ hữu hảo với TQ. Biden vốn là người bản tính hiền hòa, ông chẳng dại gì mà nay ở vị trí nguyên thủ lại thiếu sự tao nhã lịch lãm khi đàm đạo với đối tác TQ. Biden có bộ sậu thấu hiểu người Tàu để cố vấn cho sếp không làm điều gì để mất mặt người ta, chắc chắn là ông không lên mạng xã hội viết linh tinh, và chửi Tàu ầm ỹ như người tiền nhiệm. Có thể là lời lẽ ông nói sẽ nghe êm tai hơn, nhưng bản chất của quan hệ này có thể đoán trước là sẽ dựa trên nền tảng vẫn vậy. Bởi vì đó không phải là vấn đề tính cách cá nhân, mà là ba vấn đề này:

Một là chân lý lịch sử: Từ ngàn đời nay thế lực nào là hùng mạnh nhất (ngày nay là Mỹ) vẫn luôn muốn bóp nát thế lực cạnh tranh (ngày nay là TQ) để không để cho nó soán ngôi mình. Những hành động của Mỹ ngăn chặn TQ vươn lên là cuộc đấu đá vĩnh cửu trong địa chính trị thế giới.

Hai là vấn đề ám ảnh tự kỷ: Đáng buồn là Mỹ đương đầu với TQ cũng có cả động lực mạnh là do cách người ta cảm nhận về TQ. Nhiều thế kỷ nay, tâm lý phương Tây vẫn ngại cái ‘thảm hoạ màu vàng’ đến từ phương Đông nói chung và TQ nói riêng, chẳng hạn như cách Trump điềm nhiên gọi Covid-1 là con vi rút Tàu (Chinese virus).

Ba là vấn đề sang chấn tâm lý: Quan trọng nhất vẫn thái độ của cả hai bên Dân chủ và bên Cộng hoà cay đắng rằng TQ đã phản bội Mỹ vì TQ đã không chuyển thành quốc gia dân chủ. Kể từ thời hai bên xích lại gần nhau thời Nixon trong những năm 70 tới thời Obama vẫn nhất quán thực hiện chiến lược độc nhất là thông qua phát triển quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế văn hoá và thương mại là để thúc đẩy cải cách trong nước để TQ tiến tới trở thành quốc gia dân chủ. Chiến lược này qua sáu đời TT Mỹ đã thất bại. Vấn đề bị phản bội khó mà tha thứ.

Vì những động lực sâu xa nhường ấy nên cuộc tranh giành thế lực quyết liệt giữa Mỹ và TQ sẽ còn tiếp diễn. Châu Á phải làm sao, châu Á muốn gì trong hoàn cảnh này? Mỹ và TQ nên bắt tay nhau thay vì hạ nhau. Bởi vì nhân loại đang phải trải qua thời kỳ nghèo đói mới do Covid-19 gây ra do hàng tỷ người bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế toàn cầu gây ra. Cả người Mỹ và người TQ cũng trong cảnh ấy. Chỉ có một cách duy nhất có cơ may khởi động được nền kinh tế thế giới là hai nền kinh tế mạnh nhất phải hợp tác với nhau. Chỉ cần một tuyên bố của Mỹ đình chiến cuộc chiến tranh thương mại sẽ tạo được hiệu ứng vực dậy kinh tế toàn cầu và việc làm sẽ trở lại.

Thử thách đặt ra cho nhân loại hiện nay là vấn đề trái đất ấm lên. May là Biden cùng chung quan điểm này nên sẽ coi đây là vấn đề ưu tiên. Rõ ràng đây là vấn đề cần nỗ lực chung, một mình Mỹ không gánh được, một mình TQ cũng không xong. Hai kẻ mạnh này phải bắt tay nhau mới tới được giải pháp gì khả dĩ. Nếu điều này không xảy ra, thì chúng ta là những người đành phải ngậm ngùi chứng kiến hai con King Kong đầu đàn của hai bộ lạc đánh nhau trong khi khu rừng xung quanh vẫn cháy.

Đó chính là viễn cảnh mà thế hệ sau sẽ nhìn TQ và Mỹ và những gì đang diễn ra, nếu hai kẻ này cứ nhất định chỉ tập trung vào những mâu thuẫn để đối đầu để cạnh tranh nhau trong khi ngôi nhà chung là trái đất đang phải đối mặt với thời khắc nguy hiểm khôn lường.

Chiến tranh thương mại Mỹ Trung không chỉ làm hại đời sống của người Mỹ và người Tàu mà nó còn làm cho người dân ở tất cả các nước khác cũng điêu đứng theo. Nếu biết lắng nghe, Mỹ sẽ nhận được tín hiệu rằng chẳng có quốc gia nào bây giờ muốn chọn đồng minh theo kiểu dựa vào bên này chống bên kia. Nước nào bây giờ cũng muốn được cả hai kẻ mạnh kia tử tế với mình.

Châu Á ở tình thế là chẳng ai muốn tỏ ra là chỉ nhất định chơi với TQ mà không chơi với Mỹ hoặc nhất định chỉ chơi với Mỹ mà không chơi với TQ. Tất cả các nước châu Á đều chung một ý chí là muốn bắt tay với cả hai cường quốc thế giới. Nghe có vẻ như nghịch lý thật, nhưng nhân loại đang phải đối phó với hiểm nguy, nhưng việc Biden trở thành TT Mỹ cũng lại là thời cơ mới. Nếu bộ máy mới của Mỹ vẫn chạy theo đà của tình thế cũ thì thế giới sẽ còn thảm hơn.

Nếu các nước khác ngoài Mỹ và TQ kêu lên được thật lớn và thật rõ về nguyện vọng của họ muốn hai cường quốc và hai nền kinh tế mạnh nhất này sát cánh với nhau để phối hợp giải quyết vấn đề toàn cầu là Covid-19, trái đất ấm lên thì hai kẻ đó nhất định phải lắng nghe. Các nước ở diễn đàn ASEAN nên dùng tiếng nói chung bằng tất cả mọi kênh để chuyển được thông điệp rõ ràng đó tới Washington DC và Bắc Kinh.

***

Kim Chi biên dịch

(Trên đây Kim Chi xin lược dịch bài phân tích của giáo sư Kishore Mahbubani, nhà ngoại giao lâu năm của Singapore, nhà nghiên cứu về chính trị quốc tế danh tiếng trên thế giới)

Tác giả: Giáo sư Kishore Mahbubani (sinh ngày 24 tháng 10 năm 1948 tại Singapore) là một nhà khoa học chính trị và ngoại giao Singapore. Từ năm 1971 đến năm 2004 Mahbubani phục vụ cho Bộ Ngoại giao Singapore. Ông đã từng là đại sứ tại Campuchia, Malaysia, Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc. Ông hiện là Giáo sư về Khoa học Chính trị tại Trường Chính sách Công Lý Quang Diệu thuộc Đại học Quốc gia Singapore.

Nguồn:

https://www.nus.edu.sg/alumnet/thealumnus/issue-124/perspectives/panorama/biden-and-china-friends-or-foes?fbclid=IwAR0I2DU1qbj0Vw5M_fBwvrb9PinGCk3IHIxU4jXxeeAPzjSwJWiNIFGiFDA

 

Loading

Views: 0

Cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung ở Đông Nam Á

Nguồn: David Shambaugh, “The Southeast Asian Crucible“, Foreign Affairs, 17/12/2020.

Người dịch: Vũ Duy Mẫn

Khu vực này tiết lộ gì về tương lai của cạnh tranh Mỹ-Trung?

Khi Tổng thống đắc cử Joe Biden và chính quyền sắp tới của ông bắt đầu đưa ra chiến lược nhằm quản lý sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, họ cần chú ý đến Đông Nam Á. Cuộc đua với Trung Quốc hiện đang diễn ra trên toàn thế giới và trên tất cả các lĩnh vực — ngoại giao, thương mại, an ninh, tầm ảnh hưởng, hệ tư tưởng, giá trị, giáo dục, khoa học và công nghệ, v.v. Sự cạnh tranh trong những lĩnh vực này ở Đông Nam Á đại diện cho một mô hình thu nhỏ và báo trước về cách nó có thể phát triển ở những nơi khác trên thế giới. Kết quả ở đó ít nhất sẽ ảnh hưởng đến phần còn lại của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương rộng lớn, vốn ngày càng trở thành trung tâm trong các vấn đề quốc tế.

Trong những năm gần đây, nhiều nước Đông Nam Á dường như đang “ngả theo” và thiết lập quan hệ chặt chẽ hơn với Bắc Kinh. Nhiều chuyên gia và quan chức trong khu vực và các nơi khác phát hiện ra sự thay đổi trong cán cân quyền lực và ảnh hưởng, một yếu tố có lợi cho Trung Quốc hơn Hoa Kỳ. Nhưng các nhà quan sát không nên phóng đại xu hướng này hoặc mong đợi nó sẽ tiếp tục vô thời hạn. Trung Quốc vẫn chưa thống trị Đông Nam Á và chắc chắn sẽ không làm được như vậy trong tương lai. Với các chính sách và cách tiếp cận đúng đắn, Washington có thể đối trọng với Bắc Kinh trong khi thúc đẩy các lợi ích của chính họ và đóng góp vào sự ổn định, an ninh và phát triển trong khu vực.

TẠI SAO ĐÔNG NAM Á LÀ QUAN TRỌNG

Đông Nam Á quan trọng. Đó là một khu vực năng động và trải rộng, kéo dài 1,7 triệu dặm vuông: hơn 3.000 dặm từ đông sang tây và hơn 2.000 dặm từ bắc xuống nam. Khu vực này bao gồm 11 quốc gia, 10 trong số đó là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Với tổng dân số 636 triệu người, Đông Nam Á là một trong những khu vực đông đúc nhất trên hành tinh. Kích thước nhân khẩu học phù hợp với quy mô của sự đa dạng tôn giáo và văn hóa của nó, với 240 triệu người Hồi giáo, 140 triệu Phật tử, 130 triệu Cơ đốc giáo và bảy triệu người Ấn Độ giáo sống ở Đông Nam Á. Đây cũng là một khu vực đa nguyên về chính trị, bao gồm năm loại hệ thống chính trị khác nhau, từ các nhà nước theo chủ nghĩa Lênin đến các nền dân chủ hoàn toàn. Về mặt kinh tế, Đông Nam Á đã có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất so với bất kỳ khu vực nào trên thế giới kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Ngày nay, các thành viên của nó hợp lại tạo thành nền kinh tế lớn thứ sáu trên thế giới, với tổng GDP là 2,8 nghìn tỷ USD vào năm 2018.

Tầm quan trọng chiến lược của khu vực là dựa trên địa lý. Eo biển Malacca và Biển Đông là những tuyến đường biển được sử dụng nhiều nhất trên thế giới; hàng năm, khoảng 50.000 tàu thuyền, 40% hoạt động trao đổi hàng hóa và 25% nguồn cung cấp dầu của thế giới đi qua chúng. Điều này giúp giải thích sự nhạy cảm về an ninh ngày càng tăng trong khu vực. Đặc biệt, việc Trung Quốc xây dựng các tiền đồn quân sự ở Biển Đông đã làm tăng sự nguy hiểm và tính linh hoạt chiến lược. Kết quả là trong những năm gần đây, các nước ASEAN ngoại trừ Campuchia và Lào đã tăng chi tiêu cho mua sắm quốc phòng và quân sự.

ASEAN kỷ niệm 50 năm thành lập vào năm 2017. Mặc dù thường xuyên bị chỉ trích vì những thiếu sót của mình, nhưng tổ chức này vẫn có nhiều điều đáng tự hào — đặc biệt là sự vắng bóng của chiến tranh giữa các thành viên kể từ cuộc xung đột Campuchia-Việt Nam kết thúc vào giữa những năm 1990. ASEAN cũng đã khá thành công trong việc giải quyết các thách thức an ninh xuyên quốc gia như cướp biển, buôn người, buôn lậu, tội phạm có tổ chức, đại dịch và ô nhiễm môi trường. Tổ chức này tự hào về “Phương thức ASEAN”: các quyết định đạt được bằng sự đồng thuận, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và hợp tác tự nguyện. Những chuẩn mực đó đã giúp gắn kết nhóm nhưng cũng cản trở nghiêm trọng khả năng của tổ chức trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn và hành động khi cần thiết. Một điểm yếu đặc biệt rõ ràng là không có khả năng làm trung gian hòa giải các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông hoặc ngăn chặn hoạt động xây dựng đảo quân sự hóa của Trung Quốc ở những vùng biển đó.

Khu vực này không còn xa lạ với sự cạnh tranh giữa các cường quốc. Kết quả là, các nước trong khu vực thực hành nghệ thuật phòng hộ chiến lược, có khuynh hướng trung lập và không liên kết, do lịch sử thuộc địa của họ. Mặt khác, một số nước Đông Nam Á đã lựa chọn chiến thuật phòng thủ truyền thống, áp dụng chính sách hình thành liên minh hoặc liên kết chiến lược với các cường quốc lớn hơn. Kể từ giữa những năm 1990, ASEAN đã áp dụng cách tiếp cận chủ động và bao trùm trong việc thu hút các cường quốc bên ngoài tham gia các cuộc đối thoại và gặp gỡ đa phương. Một số nhà quan sát chỉ trích các diễn đàn như vậy chỉ là “cửa hàng nói chuyện”, thực hiện được ít thứ và tạo ra phần lớn các thỏa thuận không ràng buộc. Trong chừng mực các cơ chế này nhằm mục đích trở thành các biện pháp xây dựng lòng tin để liên kết các cường quốc chặt chẽ hơn với khu vực, cho nên, ít nhất chúng phải được coi là thành công.

MẮC KẸT Ở GIỮA

Mặc dù sự cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã bùng phát một thời gian ở Đông Nam Á, nhưng sự điều động giữa Washington và Bắc Kinh đã gia tăng đáng kể sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đưa ra chính sách “xoay trục” về châu Á vào năm 2011, điều này đã kích thích Bắc Kinh gia tăng hiện diện riêng trong khu vực. Sự điều động chiến lược giữa hai đối thủ tiếp tục phát triển trong suốt những năm của chính quyền Trump. Về phần mình, Trung Quốc đã tăng cường can dự vào khu vực, đặc biệt là thông qua Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI), nhằm tìm cách mở rộng đáng kể các liên kết kinh tế và thương mại vốn đã rộng rãi của Bắc Kinh. Trung Quốc cũng đã tăng cường các hoạt động tiếp cận ngoại giao, giao lưu văn hóa và tạo ảnh hưởng trong toàn khu vực. Thách thức đối với tất cả các nước trong khu vực là điều hướng mối quan hệ ngày càng chặt chẽ với Bắc Kinh mà không trở nên quá phụ thuộc. Như một quan chức ngoại giao cấp cao của Thái Lan đã nói với tôi tại Bangkok: “Đã quá muộn để người Thái chúng tôi thoát khỏi vòng tay của Trung Quốc — chúng tôi chỉ đang cố gắng để không bị nó bóp nghẹt”.

Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều nhận thấy lợi ích thiết thực trong việc xích lại gần Bắc Kinh, và cho đến nay, họ chưa nhận thấy hậu quả thực sự nào từ Washington khi làm như vậy. Như một quan chức cấp cao trong Bộ Ngoại giao Malaysia giải thích với tôi, “Chúng tôi không có cách tiếp cận ý thức hệ đối với Trung Quốc, chỉ thực dụng và mang tính giao dịch. Trung Quốc cần bạn bè và chúng tôi có tư cách là bạn. Chúng tôi phải trả những giá nào khi đến gần Trung Quốc? Mỹ có thể làm gì với nó? ”

Xu hướng ngả theo này là có thật và đáng kể – nhưng không nên bị phóng đại. Thật vậy, một số yếu tố có thể góp phần vào sự đảo ngược của nó trong những năm tới. Thứ nhất, Bắc Kinh hoàn toàn có khả năng sử dụng quá mức và quá tay bằng cách trở nên quá khắt khe và bóc lột. Bằng chứng về hành vi này đã có thể được thấy trong các quan hệ của Trung Quốc với Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Ngay ở quốc gia thân cận của Trung Quốc là Campuchia, cũng có sự bất bình trong xã hội về làn sóng đầu tư của Trung Quốc vào các giao dịch mua đất, các sòng bạc và các dự án xây dựng. Chính phủ Indonesia rất lo ngại về 30.000 lao động Trung Quốc trong nước cũng như việc Trung Quốc khai quật khoáng sản từ Kalimantan và Sumatra. Năm 2011, Myanmar đã từ bỏ việc xây dựng một con đập do Trung Quốc tài trợ trên sông Irrawaddy vì có sự lo lắng về những rủi ro mà nó gây ra cho môi trường và khiến hàng chục nghìn dân phải di dời. Tương tự như vậy, vào năm 2017, Malaysia đã đóng băng hầu hết các dự án BRI của mình vì lo ngại về các khoản nợ và chi phí quá cao, tham nhũng, cơ sở hạ tầng không cần thiết và chủ quyền bị xâm phạm. Những trường hợp như vậy phản ánh sự thiếu chú ý và thiếu hiểu biết của Bắc Kinh về cảm xúc địa phương, và những phản ứng tương tự dường như có thể xảy ra ở những nơi khác.

Tai tiếng của Bắc Kinh là kết quả của việc các quan chức và nhà ngoại giao Trung Quốc sống trong bong bóng tuyên truyền và tạo tiếng vang của riêng họ, không quan tâm đến cách nhìn nhận về Trung Quốc trong khu vực. Các cơ quan tình báo của Bắc Kinh cũng có những hiểu biết đáng ngờ về khu vực, vì họ có xu hướng tập trung vào giới tinh hoa thương mại và chính trị và cộng đồng người gốc Hoa hơn là tìm hiểu những nghi ngờ và bất mãn của dân địa phương, xã hội dân sự, xu hướng chính trị, chính trị sắc tộc và những đặc thù phức tạp của các xã hội Đông Nam Á.

Hầu hết người Đông Nam Á có bản sắc hậu thuộc địa; họ nhanh chóng phản ứng trước những quyền lực lớn hơn đang tìm cách thiết lập các mối quan hệ bất đối xứng và hành động với thái độ kiêu ngạo. Họ cũng có những ký ức tươi mới về các chính sách và hành động lật đổ của Trung Quốc trong khu vực trong những năm 1960 và 1970, khi Bắc Kinh tích cực hỗ trợ các cuộc nổi dậy của cộng sản ở mọi quốc gia trong khu vực. Và các chính phủ và công chúng Đông Nam Á vẫn nhạy cảm sâu sắc với sự ủng hộ lịch sử của Trung Quốc dành cho các thành viên của cộng đồng người Hoa trong khu vực — đặc biệt là ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam, nơi ngày càng trở thành mục tiêu trong các hoạt động gây ảnh hưởng của Bắc Kinh.

MỘT SỨC MẠNH KHÔNG ĐƯỢC ƯA CHUỘNG

Khi Trung Quốc mở rộng dấu chân của mình trong khu vực, nhiều nhà quan sát cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ đang yếu đi và suy giảm nhanh chóng. Đây là một nhận thức sai lầm. Dấu ấn về văn hóa, kinh tế và an ninh của Hoa Kỳ trên khắp Đông Nam Á vẫn còn rất lớn. Trong hầu hết các tầm kích, nó thậm chí còn lớn hơn của Trung Quốc.

Chắc chắn, sự quan tâm ngoại giao không nhất quán của Washington là một trong những mắt xích yếu nhất đối với vị thế của Hoa Kỳ trong khu vực, vì các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ hiếm khi xuất hiện trong khu vực. Nhưng trong các lĩnh vực khác, Hoa Kỳ sở hữu sức mạnh toàn diện. Sự hiện diện quân sự và mạng lưới các đối tác an ninh của Hoa Kỳ hoạt động rộng khắp và sâu rộng. Quyền lực mềm của Hoa Kỳ – đặc biệt trong văn hóa và giáo dục đại chúng – vẫn mạnh mẽ. Sự hiện diện thương mại của nó lâu đời và rất lớn: hơn 4.200 công ty Hoa Kỳ hiện đang hoạt động ở Đông Nam Á. Tổng hợp lại, các nước ASEAN hiện là đối tác thương mại lớn thứ tư của Hoa Kỳ trên toàn thế giới, chiếm khoảng 350 tỷ đô la vào năm 2018.

Con số đó không sánh ngang được với 587,8 tỷ USD thương mại của Trung Quốc với các nước ASEAN vào năm 2018, nhưng điều đó hầu như không đáng kể. Ấn tượng hơn nhưng ít được đánh giá cao hơn là lượng đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào các nước ASEAN, hiện đạt tổng cộng 329 tỷ USD – nhiều hơn cả Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cộng lại. Theo ASEAN, hàng năm đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào khu vực này cao gần gấp đôi Trung Quốc: 24,9 tỷ USD so với 13,7 tỷ USD vào năm 2017.

Khi vị trí của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á được xem xét và đo lường một cách toàn diện thì các lợi thế so sánh và sức mạnh nội tại của Washington trở nên rõ ràng. Hơn nữa, các cuộc điều tra dư luận cho thấy một nguồn nhận thức tích cực về Hoa Kỳ trong nhiều công chúng Đông Nam Á (mặc dù, song song với xu hướng toàn cầu, đã giảm đáng kể trong thời Trump). Tuy nhiên, sức mạnh vị thế của Hoa Kỳ sẽ là một điều ngạc nhiên đối với bất kỳ ai chỉ sử dụng phương tiện truyền thông khu vực, vì nó duy trì thông tin lan truyền rằng Trung Quốc là cường quốc thống trị ở Đông Nam Á. Trên thực tế, Trung Quốc là một cường quốc được đánh giá hơi cao và Hoa Kỳ lại bị đánh giá hơi thấp.

KHÔNG BỎ WASHINGTON RA NGOÀI

Tất nhiên, sẽ là sai lầm nếu đánh giá quỹ đạo có thể có của khu vực bằng việc chỉ xem xét Bắc Kinh và Washington. ASEAN và các nước thành viên riêng lẻ có khả năng điều chỉnh lại, ở một mức độ nào đó, các mối liên kết bên ngoài của họ. ASEAN không phải là một khối thụ động, nó có tổ chức riêng và trong lịch sử đã chứng tỏ rất giỏi trong việc điều động và bảo hiểm rủi ro. Câu hỏi đặt ra lần này là: Với sức mạnh và ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh trong khu vực và mức độ thay đổi theo kỳ của Washington, liệu ASEAN có thể duy trì quyền tự chủ và tính linh hoạt của mình — hay Bắc Kinh sẽ dần dần xói mòn nó?

Các cường quốc tầm trung ở châu Á có thể giúp ASEAN tránh bị rơi vào gọng kìm giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Đặc biệt, Nhật Bản là một nước đóng vai trò quan trọng về kinh tế và quyền lực mềm ở Đông Nam Á, và Tokyo gần đây đang tăng cường hợp tác an ninh với một số quốc gia ASEAN. Ấn Độ cũng đang nhanh chóng mở rộng vị thế của mình ở Đông Nam Á, tương xứng với chính sách “Hành động hướng Đông” của Thủ tướng Narendra Modi. Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in cũng đã công bố “chính sách hướng Nam” cho đất nước của ông trong khu vực. Với sự gần gũi và liên kết thương mại của Australia với khu vực, Canberra tự coi mình có mối quan hệ đặc biệt với nhiều thành viên ASEAN. Ngay cả Nga cũng đang cố gắng đóng một vai trò lớn hơn trong khu vực. Những tác nhân này càng làm phức tạp thêm bàn cờ khu vực và khiến sự thống trị của Trung Quốc ít có khả năng xảy ra.

Do đó, bất chấp sự thay đổi lực hấp dẫn rõ ràng của Đông Nam Á đối với Trung Quốc, cái kết vẫn chưa được xác lập. Một trong những lợi thế so sánh của Hoa Kỳ trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc (ở Đông Nam Á và các nơi khác) là chính Trung Quốc. Sự bắt nạt ngông cuồng của Bắc Kinh, ngoại giao công khai kiểu “chiến binh sói”, bong bóng tuyên truyền, không chú ý đến mối quan tâm của địa phương và không có khả năng đưa ra những lời chỉ trích một cách xây dựng, tất cả đều làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc. Trong nhiều trường hợp, điều tốt nhất mà Washington nên làm là đơn giản để Bắc Kinh quá khích và xa lánh những người khác. Nếu chính quyền Biden đặt khu vực trở thành ưu tiên và liên kết lại với mục đích và tính nhất quán (đó là điều mà người Đông Nam Á tìm kiếm), thì Trung Quốc có thể trở thành đối trọng – và người Đông Nam Á có thể tận hưởng những gì tốt nhất của cả hai thế giới.

DAVID SHAMBAUGH là Giáo sư về Nghiên cứu Châu Á, Khoa học Chính trị và Các vấn đề Quốc tế, và Giám đốc Chương trình Chính sách Trung Quốc tại Đại học George Washington. Bài báo này được chuyển thể từ cuốn sách Nơi các cường quốc gặp gỡ: Mỹ và Trung Quốc ở Đông Nam Á (Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2020). Bản quyền © Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2020.

nghiencuuquocte.org

Loading

Views: 0

Cạnh tranh Mỹ-Trung vẫn là tâm điểm của 2021

Cuộc chiến không tiếng súng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới chắc chắn vẫn là một trong những tâm điểm đáng chú ý nhất trong năm 2021.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và ông Joe Biden tại Mỹ, năm 2016. (Nguồn: Getty)
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và ông Joe Biden tại Mỹ, năm 2016. (Nguồn: Getty)

Ý tưởng lập liên minh nhằm tạo áp lực, gây sức ép kinh tế với Trung Quốc của Tổng thống Mỹ đắc cử Joe Biden là một cách tiếp cận mới, sau bốn năm Mỹ chọn con đường đơn phương “nói chuyện” với Bắc Kinh.

Chương mới trong cạnh tranh Mỹ-Trung

Câu chuyện Mỹ-Nhật-Australia từng hợp tác gây sức ép với Trung Quốc nhằm dỡ bỏ sự kìm hãm đối với họ về các khoáng sản đất hiếm cần thiết trong sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, được nêu ra là một bằng chứng cho tính hiệu quả của ý tưởng liên minh gây sức ép cho Bắc Kinh.

Theo Cố vấn an ninh quốc gia được chỉ định của Tổng thống đắc cử Joe Biden, ông Jake Sullivan, Trung Quốc luôn thấy được lối thoát thông qua các mối quan hệ kinh tế của họ với những nước khác. Chỉ bằng cách đóng các lối thoát đó thì mới có thể khiến Trung Quốc kiềm chế các hành vi lạm dụng thương mại. Vì vậy, áp lực đa phương được cho là sẽ hiệu quả để khiến Bắc Kinh khó có thể dùng nước này chống lại nước khác bằng cách đưa ra “phần thưởng” là ưu đãi tiếp cận thị trường rộng lớn của họ.

Việc lập liên minh để đối phó với Bắc Kinh là cách tiếp cận khác hẳn với Tổng thống Trump – từng căng thẳng với cả các đồng minh khi đối đầu với Trung Quốc. Dù vậy, nếu cách tiếp cận của ông Trump đã thay đổi được quan điểm trong mối quan hệ Mỹ-Trung, hình thành quan điểm rằng, Trung Quốc không chỉ là đối thủ cạnh tranh mà còn là mối đe dọa với vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ; thì cách tiếp cận mới bằng một chiến lược đa phương của ông Biden cũng đã chia sẻ một quan điểm rằng, Trung Quốc đặt ra thách thức lớn với vai trò lãnh đạo kinh tế và chính trị của Mỹ trong thế kỷ XXI. Ông Biden cũng lên tiếng chỉ trích Trung Quốc cướp công nghệ của các công ty Mỹ, trợ cấp không công bằng cho các công ty Nhà nước.

Truyền thông quốc tế đưa tin, Chính quyền mới của ông Biden có kế hoạch mời gọi các nước đồng minh hàng đầu cho các liên minh về công nghệ, bao gồm cả việc phát triển các công nghệ viễn thông mới để giảm bớt sự phụ thuộc vào thiết bị 5G từ Huawei. Một số đề xuất khác liên quan đến việc ngăn chặn việc bán công nghệ sản xuất chất bán dẫn tiên tiến cho Trung Quốc, hiện do các công ty ở Mỹ, Nhật Bản và châu Âu thống trị, để cố gắng kìm chân các nhà sản xuất chất bán dẫn Trung Quốc.

Về phía Trung Quốc, nước này đang để mắt đến Chính quyền Mỹ mới một cách thận trọng, trong khi vẫn muốn cải thiện quan hệ. Tuy nhiên, từ chiến lược phát triển “tuần hoàn kép” đến tám nhiệm vụ đã được xác định tại Hội nghị công tác kinh tế Trung ương, có thể thấy Bắc Kinh đang rất cảnh giác với các sức ép từ bên ngoài.

Có nhiều ý kiến cho rằng, ông Biden chắc sẽ không bỏ qua nhu cầu cải thiện quan hệ từ phía Bắc Kinh. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, Chính quyền mới khó có thể bước qua hoặc lấp đầy những “hố sâu” trong mối quan hệ hiện tại. Các biện pháp trừng phạt Bắc Kinh của Tổng thống Trump với 3/4 kim ngạch nước này xuất qua Mỹ (tương đương 370 tỷ USD hàng hóa) khó có thể đảo ngược một cách nhanh chóng, kể cả khi được Tổng thống Mỹ đắc cử Biden ủng hộ.

Tuy nhiên, ông Biden hiện công khai cam kết tiếp tục thành quả cuộc chiến thuế quan của Mỹ đối với Trung Quốc, đồng thời tiếp tục thực hiện thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung giai đoạn một. Đội ngũ của ông Biden cũng chưa đưa ra cam kết gì đối với các cuộc đàm phán mới trong thời gian tới.

Bắc Kinh đã có sự chuẩn bị

Cũng là điều dễ hiểu nếu Chính quyền của ông Biden muốn phối hợp với các đồng minh để đối phó với Trung Quốc. Nhưng Chính sách “nước Mỹ trước tiên” của ông Trump từng xung đột toàn diện với đồng minh. Mặc dù, Chính quyền Mỹ mới có thể muốn thay đổi chính sách này của ông Trump, nhưng việc kêu gọi phối hợp để hình thành sức mạnh tổng hợp cứng rắn để đối đầu là vấn đề không dễ dàng.

Các đồng minh tiềm năng có thể sẽ miễn cưỡng tham gia một liên minh mới, sau bốn năm Washington chọn con đường đơn phương tiếp cận Trung Quốc và chỉ đề cao lợi ích Mỹ. Thậm chí, trước nhiền toan tính riêng từ các đồng minh, Mỹ còn có nguy cơ bị mắc kẹt trong những cuộc đàm phán, thay vì dẫn dắt được các thành viên.

Ngoài ra, xét về lợi ích, các đồng minh của Mỹ ít nhất còn lo ngại khả năng mất đi một thị trường khổng lồ. EU đã hoàn tất thỏa thuận đầu tư song phương với Trung Quốc sau bảy năm đàm phán, đã đưa ông Tập vào một vị trí mạnh mẽ hơn với chính quyền mới của Mỹ, như một lời nhắc nhở rằng không thể coi thường sự ủng hộ của châu Âu.

Trong lúc cách tiếp cận mới mẻ của Tổng thống đắc cử Mỹ vẫn còn để ngỏ nhiều vấn đề thì giới phân tích không ít người cho rằng, Bắc Kinh đã sớm nhận diện nguy cơ để chuẩn bị đón thách thức mới, thậm chí Trung Quốc còn được cho là đã đi trước một bước. Thời gian gần đây, Trung Quốc tích cực theo đuổi kế hoạch tiếp cận đa phương để thu hút càng nhiều càng tốt các đồng minh của Mỹ vào quỹ đạo kinh tế của mình. Bắc Kinh cũng xúc tiến các hợp tác thương mại song phương với từng nước với các tính toán riêng.

Trung Quốc cũng được cho là nỗ lực thông qua các tổ chức quốc tế, để kiểm soát tốt hơn “cuộc chơi quốc tế”. Chẳng hạn, mối quan tâm của Trung Quốc trong việc hoàn thành Hiệp định RCEP (tháng 11/2020) với 14 quốc gia khác, bao gồm ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, trong bối cảnh sức ép thương mại tăng dần từ Chính quyền Mỹ. Hay Hiệp định đầu tư toàn diện Trung-Âu (CAI) mới được ký kết nhằm tăng cường quan hệ kinh tế-thương mại với đồng minh châu Âu của Mỹ. Gần đây, Trung Quốc cũng tuyên bố sẽ xem xét việc tham gia CPTPP – Hiệp định mà Mỹ đã rút khỏi phiên bản ban đầu (TPP).

Trong giới học giả, nhiều người cho rằng, Trung Quốc đã tranh thủ tốt các cơ hội hợp tác quốc tế đa phương và song phương, tận dụng tối đa các mối quan hệ với các đồng minh của Mỹ và đẩy Washington ra càng xa càng tốt. Điều này đồng nghĩa với sức ép và các biện pháp trừng phạt của Mỹ từ các lĩnh vực thương mại, công nghệ, vốn… về cơ bản sẽ không làm giảm sức mạnh kinh tế của Trung Quốc, ngược lại, Washington có thể sẽ phải tự gánh chịu thiệt hại. Hơn nữa, “khoảng trống” Trung-Mỹ cũng sẽ có các đồng minh Nhật Bản, châu Âu… điền vào.

Trong thời đại của ông Biden, Mỹ đứng trước sự lựa chọn mới đối với Trung Quốc. Đây là một cuộc cạnh tranh đầy phức tạp, đồng thời cũng là thời kỳ mới mà nguy cơ và cơ hội cùng tồn tại.

TG&VN

Loading

Views: 0