Philippines đang tìm cách xây dựng một căn cứ quân sự mới ở vịnh Subic để tăng cường khả năng giám sát trên không và triển khai sức mạnh ở Biển Đông.
Lực lượng Philippines và Mỹ tham gia tập trận quân sự chung tại vịnh Subic (Philippines) hồi tháng 7.2023.
Theo tài liệu đấu thầu và kế hoạch phát triển của không quân Philippines, một căn cứ tiền phương mới sẽ được khởi công tại sân bay quốc tế vịnh Subic để hỗ trợ máy bay trinh sát và tấn công. Dự án này đánh dấu sự trở lại và tái đầu tư mạnh mẽ của Philippines tại vịnh Subic, nơi từng là căn cứ của hải quân Mỹ.
Địa lý gần kề của sân bay mới với bãi cạn Scarborough và Biển Đông là lý do cho việc xây dựng căn cứ quân sự ở vịnh Subic, theo Naval News dẫn lại các tài liệu của Không quân Philippines về dự án. Theo kế hoạch, sân bay mới ở Subic có thể trở thành điểm hỗ trợ cho cả hoạt động trên bộ và trên biển để hỗ trợ và triển khai lực lượng ngoài lãnh hải cũng như vùng đặc quyền kinh tế của Manila.
Giá trị dự án ước tính khoảng 2,5 triệu USD và chỉ gồm các chi phí ban đầu về nâng cấp nhà ở và an ninh. Về lâu dài, Philippines dự kiến xây dựng một căn cứ tuần tra hàng hải và máy bay không người lái chuyên dụng tại vịnh Subic, trên cơ sở các mục tiêu trong Hướng dẫn Kế hoạch quốc phòng 2020 – 2025 của Bộ Quốc phòng Philippines.
Ông Joshua Bernard Espena, Phó chủ tịch của tổ chức tư vấn Hợp tác An ninh và Phát triển quốc tế (Philippines) cho rằng căn cứ mới tại vịnh Subic là một bước nhảy vọt đáng kể trong nỗ lực phát triển các hoạt động chung của quân đội Philippines.
“Động thái này hoàn toàn phù hợp với Khái niệm phòng thủ quần đảo toàn diện (CADC) của Philippines nhằm lấp đầy những khoảng trống trong việc bảo vệ một quần đảo rộng lớn hơn. Điều quan trọng là phản ứng nhanh chóng và phối hợp, do đó Subic trở thành địa điểm truyền thống cho Lực lượng Không quân Philippines”, ông Espena nhận định.
Giới quan sát cho rằng Trung Quốc sẽ kiềm chế vì luật mới áp dụng ở Biển Đông có thể làm bùng lên căng thẳng. Trước mắt, ngư dân Philippines phản ứng dữ dội, thậm chí thách thức Bắc Kinh.
Tàu hải cảnh Trung Quốc di chuyển gần một tàu đánh cá Philippines trên Biển Đông ngày 16-5
Từ ngày 15-6, quy định mới của Trung Quốc sẽ có hiệu lực nhằm cho phép lực lượng hải cảnh nước này tạm giữ tới 30 ngày người nước ngoài vi phạm luật xuất nhập cảnh, gây nguy hiểm cho an ninh và lợi ích quốc gia, hoặc có hành vi hỗ trợ người khác vi phạm luật xuất nhập cảnh Trung Quốc.
Thời hạn giam giữ không qua xét xử có thể lên đến 60 ngày trong một số trường hợp.
Tăng nguy cơ xung đột Biển Đông
Tổng thống Ferdinand Marcos Jr của Philippines chỉ trích các quy định này là đặc biệt đáng lo ngại, và “làm leo thang tình hình” vốn đã căng thẳng sau nhiều lần đụng độ giữa tàu của Manila và lực lượng hải cảnh Trung Quốc trong năm qua.
Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ cũng lo ngại các quy định mới nhất có khả năng làm gia tăng căng thẳng trong khu vực, xâm phạm quyền chủ quyền của quốc gia ven biển và cản trở các quyền tự do trên biển.
Theo ông Dindo Manhit – chủ tịch Viện nghiên cứu Stratbase ADR có trụ sở tại Manila, quy định này sẽ khiến nhiệm vụ tiếp tế của Philippines tới các tiền đồn trở nên phức tạp, đồng thời đe dọa sinh kế của ngư dân Philippines đánh bắt cá ở Biển Đông.
“Những sự cố gần đây, chẳng hạn như vụ đâm tàu Philippines và thu giữ thực phẩm tiếp tế, cho thấy khả năng xảy ra các cuộc đối đầu nguy hiểm”, ông Manhit nhắc tới vụ việc gần đây ở khu vực bãi Cỏ Mây.
Ông Nate Fischler, nhà phân tích về châu Á – Thái Bình Dương tại tổ chức RANE có trụ sở ở Mỹ, cũng lo ngại luật mới này sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột hàng hải ở Biển Đông.
“Trung Quốc có thể sử dụng luật này để nhắm vào bất kỳ phần lãnh hải nào mà họ tuyên bố chủ quyền. Điều đó có nghĩa là các bên khác trong khu vực có tranh chấp hàng hải với Trung Quốc như Việt Nam và Đài Loan cũng có thể thấy tàu của họ rơi vào tầm ngắm và thủy thủ đoàn bị bắt giữ”, ông Fischler đánh giá trên tờ Nikkei Asia.
Trung Quốc sẽ kiềm chế?
Tuy nhiên chuyên gia Collin Koh, thuộc Trường nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam tại Đại học Công nghệ Nanyang của Singapore, cho rằng Trung Quốc sẽ cân nhắc việc khơi dậy phản ứng từ các nước láng giềng.
“Các quy định có thể là một công cụ pháp lý, nhưng việc có được thực hiện hay không còn phụ thuộc vào các yếu tố chính trị hơn là yếu tố pháp lý”, tờ South China Morning Post dẫn nhận định của ông Koh.
Tương tự, ông Zheng Zhihua, phó giáo sư nghiên cứu các vấn đề hàng hải tại Đại học Giao thông Thượng Hải, cũng cho rằng việc áp dụng luật sẽ làm xấu đi các mối quan hệ song phương của Trung Quốc, khiến các nước Đông Nam Á đoàn kết để đối phó.
“Vì vậy, tôi không nghĩ Trung Quốc sẽ tích cực áp dụng các quy định mới được thông qua ở các khu vực tranh chấp”, ông nói.
Đó là chưa kể quốc gia như Philippines có hiệp ước phòng thủ chung với Mỹ, cho phép Washington can thiệp khi lực lượng của Manila bị tấn công vũ trang.
Theo ông Koh, điều này có nghĩa rằng Trung Quốc sẽ phải cẩn trọng khi thi hành luật ở khu vực tranh chấp với Philippines như bãi Cỏ Mây, nơi Manila triển khai nhiều tàu hải quân để bảo vệ các tiền đồn.
Dù vậy, vẫn có khả năng Trung Quốc sẽ bắt người để phô diễn sức mạnh.
“Nếu có những trường hợp Bắc Kinh cần áp dụng các quy định nhưng thực tế lại không làm, thì uy tín của họ sẽ bị suy giảm, khiến họ trông giống như một con hổ giấy. Mặt khác, nếu Bắc Kinh tích cực thi hành luật thì sẽ gây ra một số hậu quả không mong muốn”, ông Koh nhận định.
Ngư dân Philippines không ngán luật mới của Trung Quốc
Các cuộc biểu tình diễn ra rầm rộ ở Philippines ngày 14-6, một ngày trước khi luật của Trung Quốc có hiệu lực.
“Ngư dân và người dân Philippines sẽ bất chấp luật (của Trung Quốc). Chính Trung Quốc mới là những kẻ xâm phạm”, ông Mong Palatino, tổng thư ký của nhóm đối lập Bayan Muna, nói.
Ông Leonardo Cuaresma, lãnh đạo một hiệp hội ngư dân ở tỉnh Zambales gần bãi cạn Scarborough, cũng dọa sẽ bắt 10 công dân Trung Quốc mỗi khi 1 người Philippines bị giam.
“Chúng tôi sẽ tiếp tục đánh cá. Chúng tôi không quan tâm đến quy định đó vì chúng tôi tin rằng mình không vi phạm bất kỳ luật nào… Họ từng áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá, và bây giờ họ đã bổ sung thêm một quy định mới. Chúng tôi đã miễn nhiễm với điều đó rồi”, ông Cuaresma nói trên tờ This Week in Asia.
Theo Hãng tin Nga RIA Novosti, ngày 12/6, tàu ngầm hạt nhân mang tên “Kazan” của Nga đã cập cảng La Habana – Cuba.
Tàu ngầm Kazan của hải quân Nga.
Trước đó, các tàu khác của Hải quân Nga cũng đã cập cảng La Habana, thủ đô Cuba, bao gồm tàu khu trục “Đô đốc Gorshkov”, tàu tiếp vận “Học giả Pashin”, và tàu kéo cứu hộ “Nikolai Chiker”.
Tại cảng La Habana, sẽ diễn ra hai lễ đón chính thức các tàu của Nga, một lễ đón tàu khu trục và một lễ đón tàu ngầm hạt nhân Kazan.
Nhóm tác chiến 4 tàu, bao gồm các tàu hỗ trợ, đã tiến hành diễn tập sử dụng vũ khí tên lửa chính xác cao ở Đại Tây Dương trước khi tàu ngầm hạt nhân “Kazan” cập cảng. Từ ngày 12-17/6, nhóm thủy thủ trên 4 tàu này sẽ có chuyến thăm chính thức tại cảng La Habana. Kế hoạch của các thủy thủ Nga bao gồm các cuộc gặp gỡ với chỉ huy Hải quân Cuba và Thống đốc La Habana, tham quan các địa điểm lịch sử và văn hóa của thủ đô La Habana.
Tổng Tư lệnh Hải quân Nga, Alexander Moiseev cho biết, việc tàu Nga cập cảng Cuba chỉ là một phần trong nhiệm vụ hành trình xa và được thực hiện trong khuôn khổ hợp tác quốc tế của nước Nga.
Bình luận về chuyến thăm của các tàu Nga, Bộ Ngoại giao Cuba nhấn mạnh rằng, chuyến thăm này phù hợp với mối quan hệ hữu nghị giữa 2 nước Cuba và Nga, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt các quy định quốc tế. Bộ Ngoại giao Cuba cũng khẳng định rằng, không có tàu nào mang vũ khí hạt nhân và sự hiện diện của chúng không gây ra mối đe dọa cho khu vực.
Đô đốc Samuel Paparo, Chỉ huy Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ, mới đây hé lộ một chiến lược quân đội nước này sẽ dùng nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan.
Trả lời cuộc phỏng vấn với tờ The Washington Post bên lề Đối thoại Shangri-La ở Singapore gần đây, Đô đốc Samuel Paparo, Chỉ huy Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ cho rằng Trung Quốc muốn tấn công Đài Loan một cách chớp nhoáng “để trở thành sự đã rồi trước khi thế giới có thể cùng nhau hành động”.
“Công việc của tôi là đảm bảo rằng từ nay đến năm 2027 và xa hơn nữa, quân đội Mỹ và các đồng minh có khả năng giành chiến thắng”, ông Paparo tiết lộ, theo The Washington Post ngày 10.6.
Theo ông Paparo, chiến lược có thể của Trung Quốc là gây áp đảo Đài Loan bằng một cuộc tấn công quy mô lớn mà không có nhiều cảnh báo. Ông cho rằng chìa khóa để ngăn chặn chiến lược giả định này của Trung Quốc là một chiến lược của Mỹ có tên là Hellscape (tạm dịch là địa ngục).
Theo chiến lược Hellscape, ngay khi hạm đội tấn công của Trung Quốc bắt đầu di chuyển qua eo biển Đài Loan, quân đội Mỹ sẽ triển khai hàng ngàn tàu ngầm không người lái, tàu nổi không người lái và máy bay không người lái (UAV) tràn ngập khu vực và tạo điều kiện cho Đài Loan, Mỹ và đối tác có thời gian để đưa ra phản ứng đầy đủ.
“Tôi muốn biến eo biển Đài Loan thành một địa ngục bằng cách sử dụng một số năng lực bí mật. Từ đó, tôi có thể khiến [quân đội Trung Quốc] hoàn toàn khốn khổ trong một tháng, tình trạng này giúp tôi có thêm thời gian cho những việc còn lại”, ông Paparo nhấn mạnh, nhưng không cung cấp thêm chi tiết.
Tổng thống Biden không loại trừ sử dụng quân đội giúp bảo vệ Đài Loan
Có một số dấu hiệu công khai cho thấy chiến lược Hellscape đang tiến triển. The Washington Post chỉ ra vào tháng 3, Bộ Quốc phòng Mỹ tuyên bố sẽ chi 1 tỉ USD cho chương trình có tên “Replicator” để chế tạo các nhóm tàu nổi không người lái và UAV cho sứ mệnh như trên. Ông Paparo cho hay chương trình Replicator cho thấy Mỹ cũng đang rút ra bài học từ cuộc xung đột Nga – Ukraine, trong đó, Kyiv đã đổi mới công nghệ UAV.
Ông Paparo đề cập chiến lược “Hellscape” không lâu sau khi Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận quy mô lớn quanh Đài Loan, thể hiện khả năng bao vây hòn đảo này một cách hiệu quả và phô diễn các khả năng phối hợp sức mạnh, theo báo Business Insider.
Hiện chưa có thông tin về phản ứng của Trung Quốc đối với tiết lộ của ông Paparo.
Lực lượng tuần duyên Philippines cho biết đang theo dõi ít nhất 30 tàu Trung Quốc tại khu vực đá Khúc Giác, quần đảo Trường Sa.
Hình ảnh vệ tinh ông Ray Powell chia sẻ về các tàu, tính đến 2/6.
Theo trang tin Philippines GMA News, nhà phân tích Mỹ Ray Powell mới đây chia sẻ thông tin về hình ảnh vệ tinh cho thấy ít nhất 26 tàu dân binh Trung Quốc xuất hiện ở đá Khúc Giác (Iroquois Reef), quần đảo Trường Sa hôm 9/6.
Trong khi đó, lực lượng tuần duyên Philippines xác nhận sự xuất hiện của ít nhất 30 tàu, cho biết đã gửi tín hiệu radio nhưng không được đáp lại, theo GMA News. Họ cho biết thêm không thấy các tàu này đánh cá và đang theo dõi thêm.
Nhà phân tích Mỹ cũng dẫn hình ảnh vệ tinh từ tháng 4 ở cùng khu vực, cho rằng số lượng các tàu đã tăng khoảng 4 lần.
Philippines hôm 4/6 cáo buộc hải cảnh Trung Quốc cản trở tàu nước này thực hiện hoạt động cứu trợ y tế, vận chuyển binh sĩ bị bệnh ở Biển Đông.
Theo lực lượng tuần duyên Philippines, vụ việc xảy ra liên quan một thành viên của nhóm lính thủy đánh bộ được điều động để bảo vệ tàu chiến BRP Sierra Madre của nước này ở bãi Cỏ Mây. Thời điểm đó, phía Philippines đang nỗ lực thực hiện hoạt động cứu trợ y tế, trên tàu vận chuyển binh sĩ bị bệnh.
Người phát ngôn lực lượng tuần duyên Philippines (PCG) Jay Tarriela cho hay, họ đã thông báo cho phía tàu Trung Quốc biết về hoạt động có tính chất y tế này. Tuy nhiên, các xuồng cao su của hải quân và lực lượng tuần duyên Philippines vẫn bị các tàu Trung Quốc quấy rối.
Philippines nhiều lần cáo buộc tàu hải cảnh Trung Quốc quấy rối, ngăn chặn và thực hiện các hành động nguy hiểm nhằm vào tàu Philippines ở Biển Đông, trong đó có các vụ hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu chở hàng tiếp tế cho lực lượng Philippines ở bãi Cỏ Mây.
Các máy bay của không quân Trung Quốc bị cho là đã bay lòng vòng phía trên một tàu khu trục của Hà Lan và tiếp cận không an toàn một trực thăng của Hà Lan ở biển Hoa Đông.
Trong thông cáo ngày 8/6, Bộ Quốc phòng Hà Lan cho biết, sự việc xảy ra khi tàu khu trục HNLMS Tromp của nước này tuần tra ở vùng biển Hoa Đông để ủng hộ các lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc đối với Triều Tiên.
Lúc này, 2 máy bay chiến đấu của không quân Trung Quốc đã bay lòng vòng vài lần phía trên con tàu.
Tiếp đó, 2 máy bay và 1 trực thăng của Trung Quốc cũng tiếp cận “không an toàn” trực thăng NH90 vốn được triển khai trên tàu HNLMS Tromp. “Sự việc xảy ra ở không phận quốc tế”, thông cáo cho biết thêm.
Bắc Kinh hiện chưa bình luận về thông tin trên.
Sau khi tuần tra ở biển Hoa Đông, tàu HNLMS Tromp sẽ hướng đến Nhật Bản và sau đó đến Hawaii tham gia cuộc tập trận hải quân “Vành đai Thái Bình Dương”.
Nhật Bản đã gửi công hàm phản đối mạnh mẽ tới Trung Quốc sau khi 4 tàu Hải cảnh Trung Quốc xuất hiện ở vùng biển gần quần đảo Senkaku (Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư). Đáp lại, Trung Quốc khuyên Nhật Bản nên ‘thận trọng trong lời nói và hành động’.
Ngày 7-6, Nhật Bản đã gửi công hàm phản đối tới Trung Quốc sau khi 4 tàu có vũ trang của Hải cảnh Trung Quốc đi vào vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku (Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư) ở biển Hoa Đông.
“Tôi không thể nêu rõ ý định của phía Trung Quốc là gì, nhưng việc các tàu Hải cảnh Trung Quốc đi vào lãnh hải của chúng tôi là vi phạm luật pháp quốc tế”, Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshimasa Hayashi phát biểu trong một cuộc họp báo.
Ông Hayashi cho biết Tokyo đã nộp công hàm phản đối mạnh mẽ qua các kênh ngoại giao và yêu cầu các tàu Bắc Kinh nhanh chóng rời khỏi khu vực.
Các tàu Trung Quốc đã ở trong khu vực này khoảng 1 giờ và rời đi ngay sau giữa trưa, ông Hayashi nói.
Trong khi đó, Hải cảnh Trung Quốc tuyên bố họ đã tuần tra vùng biển này với các tàu chở vũ khí.
Bắc Kinh cho biết việc tuần tra này là “hoạt động thường xuyên để bảo vệ chủ quyền, an ninh và các quyền hàng hải”, đồng thời là “bước đi cần thiết cho hòa bình, ổn định và chống lại những động thái tiêu cực” gần đây của Nhật Bản.
“Chúng tôi khuyên phía Nhật Bản nên thận trọng trong lời nói và hành động của mình, tự kiểm điểm và ngừng các hành động khiêu khích”, thông báo của Hải cảnh Trung Quốc cho biết.
Căng thẳng giữa Nhật Bản và Trung Quốc xung quanh chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đã diễn ra nhiều năm. Trung Quốc thường xuyên triển khai tàu hải cảnh và các tàu chính phủ khác đến vùng biển xung quanh quần đảo này để khẳng định yêu sách của họ.
Đại sứ Úc tại Mỹ Kevin Rudd cảnh báo hậu quả của một cuộc chiến liên quan Đài Loan sẽ lớn như tác động của Thế chiến 2, khiến thế giới trở thành ‘một nơi hoàn toàn khác’.
Quân đội Trung Quốc công bố ảnh cho thấy các máy bay chiến đấu nước này chuẩn bị cất cánh trong cuộc tập trận quân sự
Quân đội Trung Quốc công bố ảnh cho thấy các máy bay chiến đấu nước này chuẩn bị cất cánh trong cuộc tập trận quân sự “Liên hợp lợi kiếm 2024A” tại một địa điểm không xác định – Ảnh: AFP/PLA
Ông Kevin Rudd từng hai lần giữ chức thủ tướng Úc và hiện là đại sứ Úc tại Mỹ. Ông là một học giả chuyên về Trung Quốc, từng là chủ tịch của Hiệp hội châu Á tại New York cho đến năm ngoái.
Trong bài phát biểu tại Honolulu (Mỹ) hôm 6-6, ông Kevin Rudd cho rằng nếu giới lãnh đạo Trung Quốc muốn đạt được “sự thống nhất quốc gia cuối cùng” thì Bắc Kinh có thể sẽ hành động vào thập niên tới.
Ông Rudd nói: “Chúng ta sẽ thật ngu ngốc nếu bỏ qua tín hiệu quân sự ngày càng rõ ràng của Trung Quốc, gồm cả hình thức tập trận quân sự gần đây nhất của nước này (quanh Đài Loan)”.
Ông cho rằng việc Trung Quốc có hành động hay không sẽ phụ thuộc vào nhận thức của Bắc Kinh về sức mạnh răn đe của Mỹ.
Trung Quốc coi Đài Loan là một phần lãnh thổ của mình và đến nay không loại trừ dùng biện pháp vũ lực để thống nhất đất nước.
Trong khi đó Mỹ không có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, nhưng bị ràng buộc phải hỗ trợ hòn đảo này phòng vệ theo Đạo luật Quan hệ Đài Loan. Hiện Mỹ là nhà cung cấp vũ khí quan trọng nhất cho Đài Loan.
Theo đại sứ Úc tại Mỹ, Washington thừa nhận rằng nếu Bắc Kinh thành công trong việc kiểm soát Đài Loan, điều này sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Mỹ.
Ông Rudd chỉ ra Mỹ, Trung Quốc và Đài Loan có lợi ích chung trong việc tránh đối đầu quân sự công khai liên quan Đài Loan.
“Cái giá về kinh tế, tác động chính trị trong nước và hậu quả địa chiến lược không thể biết trước được mà một cuộc chiến như vậy sẽ tạo ra có thể ở mức độ chúng ta chưa từng thấy kể từ Thế chiến 2” – ông cảnh báo.
Vị đại sứ lo ngại: “Dù kết quả thế nào – Mỹ chiến thắng, Trung Quốc chiến thắng hay sự bế tắc đẫm máu, thế giới có thể sẽ trở thành một nơi hoàn toàn khác so với trước đây sau một cuộc chiến như vậy”.
Những cảnh báo của ông Rudd đáng chú ý, trong bối cảnh căng thẳng giữa hai bờ eo biển Đài Loan gia tăng.
Hồi tháng 5, quân đội Trung Quốc tổ chức cuộc tập trận quân sự quy mô lớn kéo dài hai ngày xung quanh Đài Loan, gọi đây là “sự trừng phạt” đối với “hành vi ly khai”, vài ngày sau khi ông Lại Thanh Đức tuyên thệ nhậm chức lãnh đạo Đài Loan.
Theo Northrop Grumman, mẫu phương tiện dưới nước không người lái (UUV) mang tên Manta Ray do công ty này phát triển có thể được quân đội Mỹ triển khai ở Biển Đông.
Northrop Grumman cho biết, UUV Manta Ray được đặt tên theo loài cá đuối lớn thuộc chi Manta trong họ Mobulidae. Chúng là những loài cá đuối lớn nhất thế giới, với sải cánh/vây có thể dài tới 7 mét. Cá đuối Manta được tìm thấy ở vùng biển ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới trên khắp thế giới.
Chiếc UUV của Northrop Grumman được thiết kế theo dạng mô phỏng sinh học nên bên ngoài của nó trông giống như một con Manta.
UUV tự tạo ra năng lượng
Theo Pop Mech, mẫu UUV này được thiết kế để thực hiện các nhiệm vụ quân sự tầm xa cần đến sự bền bỉ theo đặt hàng của Bộ Quốc phòng Mỹ. Manta Ray có thể tự hoạt động trong suốt hành trình và được trang bị cảm biến lẫn vũ khí tiến tiến nhất.
Dự án Manta Ray được Northrop Grumman bắt đầu triển khai từ năm 2020 và mục tiêu là phát triển một “lớp UUV mới có khả năng hoạt động lâu dài, tầm xa và có khả năng mang theo thiết bị hay vũ khí”. Manta Ray được cho là có khả năng thực hiện các nhiệm vụ dưới nước với ít sự giám sát của con người nhất có thể.
Mục tiêu này được cho là không hề dễ dàng bởi nước biển có tính ăn mòn, sinh vật biển (hà, sứa, rong biển) có thể gây ô nhiễm các bộ phận chuyển động và nhiều loại bức xạ điện từ (đặc biệt là ánh sáng mặt trời) không truyền tốt dưới đáy biển.
Đó là một loạt các thách thức kỹ thuật phức tạp mà Northrop Grumman lẫn Bộ Quốc phòng Mỹ nhận thấy khi chế tạo Manta Ray nhưng nếu thành công sẽ trở thành tiền đề quan trọng để phát triển UUV tương lai.
Kết quả, Manta Ray ra đời với việc sử dụng thiết kế mô phỏng sinh học của loài cá đuối. Quyết định này được dựa trên những kinh nghiệm của Northrop Grumman trong việc phát triển các loại máy bay quân sự theo mô phỏng của loài chim.
Cụ thể, hình dáng cơ thể của cá đuối cực kỳ hiệu quả xét trong việc di chuyển dưới nước, cho phép loài động vật khổng lồ này lướt trong nước bằng những cú đập chậm rãi, duyên dáng của những chiếc vây giống như cánh.
Phương pháp trượt nước này cho phép chúng “tiết kiệm năng lượng và tối đa hóa hiệu quả chuyển động”. Điều này đã có tác dụng tốt đối đến mức các đặc tính di truyền của loài cá đuối hầu như không thay đổi trong suốt 100 triệu năm qua.
Chế độ ‘bay’ dưới nước này rất hữu ích đối với UUV được thiết kế để hoạt động tự động trong thời gian dài. Manta Ray không vỗ cánh, nhưng nó sử dụng các cánh quạt nhỏ để tự di chuyển và cánh quạt sử dụng càng ít năng lượng thì càng tốt.
Một yêu cầu quan trọng đối với Manta Ray là khả năng hoạt động mà không cần sự can thiệp của con người. UUV này không chỉ phải sử dụng mức năng lượng tối thiểu mà còn phải thu năng lượng từ biển. Khả năng tái tạo nguồn cung cấp năng lượng giúp giảm kích thước và trọng lượng của UUV, khiến nó nhỏ hơn và khó bị phát hiện hơn.
Có hai cách để giải quyết vấn đề năng lượng. Một là năng lượng mặt trời – sạc pin từ một mảng năng lượng mặt trời, lý tưởng nhất là được tích hợp vào vỏ UUV. Tuy nhiên, ánh sáng mặt trời nhanh chóng mờ đi khi nó di chuyển sâu hơn vào lòng đại dương và UUV có thể sẽ phải nổi lên mặt nước để sạc pin, khiến nó dễ bị phát hiện.
Một nguồn năng lượng khác có thể là năng lượng sóng. Trong video Northrop Grumman công bố năm 2022, chiếc UUV kích hoạt thứ có vẻ là một thiết bị thu năng lượng sóng, chuyển đổi chuyển động của nước thành điện năng. Điều này cho phép UUV ở dưới đáy đại dương và sạc lại pin mà không bị kẻ thù phát hiện.
Nhiệm vụ của Manta Ray
Một UUV có thể thực hiện nhiệm vụ tự động mà không cần tiếp nhiên liệu sẽ mở ra một triển vọng to lớn cho hải quân Mỹ.
Đó là sử dụng Manta Ray làm hệ thống giám sát. Điển hình như triển khai hệ thống định vị thủy âm thụ động với tính năng phát hiện và theo dõi tàu ngầm đối phương. Sau khi có dữ liệu nhiệm vụ của UUV này là sàn lọc thông tin và gửi về các trung tâm mặt đất gần đó.
Hiện nay, hải quân Mỹ đang phải dựa vào các tàu mặt nước chuyên dụng và một số định vị thủy âm tĩnh dưới nước để theo dõi tàu ngầm. Các tàu mặt nước chuyên dụng dễ bị tấn công và có tầm hoạt động hạn chế trong thời chiến. Còn hệ thống giám sát dưới một khi vị trí của chúng bị lộ, có thể trở thành mục tiêu bị tấn công đầu tiên.
Trong tương lai, hải quân Mỹ có thể triển khai một hạm đội gồm hàng chục chiếc Manta Ray được trang bị định vị thủy âm hoạt động trên Biển Đông. Từ đó, họ có thể liên tục theo dõi các tàu chiến mặt nước và tàu ngầm của Trung Quốc khi chúng di chuyển trong khu vực.
Một nhiệm vụ khác có thể là tác chiến chống tàu ngầm. Trong khi một số UUV Manta Ray có thể được sử dụng để xác định vị trí và theo dõi tàu ngầm của đối phương, những UUV khác có thể mang theo vũ khí – chẳng hạn như ngư lôi chống ngầm hạng nhẹ Mk 46 và khai hỏa khi tàu ngầm địch được xác nhận đi vào tầm bắn.
Hạm đội Manta Ray có thể trở thành mạng lưới tiêu diệt tàu ngầm di động, có khả năng tự triển khai từ khu vực này sang khu vực khác.
Khả năng chỉ huy và kiểm soát được tích hợp vào Manta Ray cho phép UUV này có thể học hỏi theo thời gian, chia sẻ dữ liệu mới về các mục tiêu của đối phương.
Tư lệnh Philippines ngày 4-6 cho biết binh lính Philippines trên tàu chiến bị mắc cạn ở bãi Cỏ Mây có vũ trang, nhưng không chĩa súng vào hải cảnh Trung Quốc.
Tư lệnh Philippines ngày 4-6 cho biết binh lính Philippines trên tàu chiến bị mắc cạn ở bãi Cỏ Mây có vũ trang, nhưng không chĩa súng vào hải cảnh Trung Quốc.
Quân đội Philippines ngày 4-6 bác bỏ cáo buộc của Trung Quốc rằng binh lính Manila đồn trú trên một tàu chiến ở bãi Cỏ Mây ở Biển Đông đã chĩa súng vào hải cảnh Trung Quốc.
Theo đó, người phát ngôn quân sự Francel Margareth Padilla phát biểu trong một buổi họp báo khẳng định binh lính Philippines được quản lý dưới các nguyên tắc xử lý tình huống và hành động với mức độ chuyên nghiệp cao nhất.
Trước đó, hôm 2-6, truyền thông nhà nước Trung Quốc đưa tin một nhân sự trên một tàu Philippines đã chĩa súng vào hải cảnh Trung Quốc hồi tháng 5 tại bãi Cỏ Mây.
Nằm trong khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam, bãi Cỏ Mây cách đảo Palawan của Philippines khoảng 200km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 1.000km.
Cả Manila và Bắc Kinh đều tuyên bố chủ quyền với bãi Cỏ Mây.
Theo phán quyết của Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông năm 2016, bãi Cỏ Mây nằm trên thềm lục địa Philippines.
Tư lệnh Philippines Romeo Brawner ngày 4-6 bác bỏ thông tin của Đài CCTV (Trung Quốc) về những gì đã xảy ra trong nhiệm vụ tiếp tế thường lệ của lực lượng Manila tại bãi Cỏ Mây hôm 19-5.
“Đó chỉ là hành động tự vệ trong trường hợp có điều gì đó xảy ra, vì họ (nhân sự Trung Quốc) đã ở rất gần”, ông Brawner nói trong một cuộc họp báo, mô tả hành động của hải cảnh Trung Quốc là “khiêu khích”.
Các quan chức quân sự Philippines cho biết các thuyền cao su của Trung Quốc đã tiếp cận tàu BRP Sierra Madre trong phạm vi 5-10m, và thu giữ một số hàng tiếp tế được thả từ trên không cho binh lính Philippines tại đây.
“Đó là một tình huống đáng báo động. Vì vậy binh lính của chúng tôi khi phòng ngừa đã cầm súng lên. Đây là một phần trong nguyên tắc lúc xử lý tình huống.
Chúng tôi phủ nhận việc có bất kỳ binh lính nào của chúng tôi cố tình chĩa súng vào người bên phía Trung Quốc. Nhưng chúng tôi không phủ nhận thực tế là họ (binh lính Philippines) có vũ trang”, ông Brawner khẳng định.
Tư lệnh quân đội Philippines cho biết tàu chiến Philippines mắc cạn ở bãi Cỏ Mây là tàu chiến thuộc biên chế của hải quân nước này, nên nó được phép có vũ khí.
“Chúng tôi có quyền tự vệ”, ông Brawner nói, cho biết thêm Philippines sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình trong khu vực.
Hãng Yonhap ngày 2.6 đưa tin CHDCND Triều Tiên sẽ ngừng thả bóng bay chứa rác qua biên giới Hàn Quốc, dù đe dọa sẽ tiếp tục nếu Seoul rải tờ rơi.
Trong tuyên bố được Hãng KCNA đăng tải, Thứ trưởng Quốc phòng Triều Tiên Kim Kang-il xác nhận Bình Nhưỡng đã thả 3.500 bóng bay chứa 15 tấn giấy vụn sang Hàn Quốc hồi tuần trước.
Ông Kim cho biết nếu Hàn Quốc tiếp tục rải tờ rơi, Triều Tiên sẽ đáp trả bằng bóng bay chứa rác “gấp 100 lần” số lượng tờ rơi của Hàn Quốc. Một số nhà hoạt động tại Hàn Quốc nhiều lần thả bóng bay chứa tờ rơi, đôi khi là tiền mặt, thực phẩm hoặc ổ đĩa USB chứa các bộ phim truyền hình và video ca nhạc Hàn Quốc. Triều Tiên tuần trước gọi bóng bay chứa rác là “món quà chân thành” để đáp trả hoạt động rải tờ rơi.
“Chúng tôi đã khiến Hàn Quốc trải nghiệm đủ những phiền toái và cho thấy phải vất vả thế nào để xử lý những mảnh giấy rác vương vãi”, ông Kim nói.
Quân đội Hàn Quốc thông báo có hơn 700 bóng bay được Triều Tiên thả vào nước này trong ngày 2.6. Những bóng bay chứa phân, giấy vụn và các loại rác thải khác.
Vào đầu ngày 2.6, giới chức Hàn Quốc cho biết sẽ đáp trả hành động khiêu khích của Bình Nhưỡng. Giới chuyên gia dự đoán Seoul có thể phát loa tuyên truyền dọc theo biên giới để trả đũa, biện pháp mà Hàn Quốc đã dừng sử dụng từ sau thượng đỉnh hai nước vào năm 2018.
Triều Tiên phóng loạt tên lửa ‘răn đe’ Hàn Quốc, ông Kim Jong-un giám sát
Theo quân đội Hàn Quốc, tại hội nghị Đối thoại Shangri-La ở Singapore ngày 2.6, Bộ trưởng Quốc phòng Hàn Quốc Shin Won-sik đã nói với người đồng cấp Mỹ Lloyd Austin rằng việc Bình Nhưỡng thả bóng bay đã vi phạm thỏa thuận đình chiến Hàn – Triều, theo Reuters.
Cảnh báo khẩn cấp đã được phát đi tại các tỉnh Bắc Kyungsang và Gangwon, cùng một số khu vực ở thủ đô Seoul (Hàn Quốc), yêu cầu người dân nếu thấy bóng bay thì báo cảnh sát và không được chạm vào.
Tàu thăm dò Chang’e-6 của Trung Quốc đã hạ cánh thành công xuống vùng tối của mặt trăng vào sáng 2.6 để thu thập mẫu vật.
Tàu thăm dò Yutu-2 của Trung Quốc tại vùng tối của mặt trăng hồi năm 2019
Tân Hoa xã đưa tin tàu Chang’e-6 (Thường Nga-6) đã hạ cánh xuống vùng tối không nhìn thấy của mặt trăng để thu thập mẫu vật trong nhiệm vụ được Cơ quan Không gian quốc gia Trung Quốc (CNSA) cho là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại tại vùng hiếm khi được khám phá này.
Được hỗ trợ bởi vệ tinh truyền tín hiệu Queqiao-2 (Thước Kiều-2), tàu Chang’e-6 đã hạ cánh thành công tại khu vực đã định gọi là lòng chảo Apollo thuộc lòng chảo Cực Nam-Aitken.
Tàu Chang’e-6 được phóng lên vào ngày 3.5 và đã trải qua nhiều giai đoạn trước khi bộ phận hạ cánh tách khỏi bộ phận bay quanh quỹ đạo vào ngày 30.5.
Lòng chảo Apollo là khu vực là một lòng chảo hình thành do va chạm với các vật thể ngoài không gian, được cho là nơi khám phá có tiềm năng giá trị khoa học. Việc chọn địa điểm này còn do yếu tố địa hình và điều kiện liên lạc.
Tàu thăm dò sẽ thu thập mẫu vật gồm đất và đá mặt trăng và thực hiện một số thử nghiệm khác tại khu vực hạ cánh. Để thu thập, tàu sẽ dùng 2 cách gồm khoan xuống bề mặt và dùng cánh tay robot để lấy mẫu vật trực tiếp. Quá trình này nên diễn ra không quá 2 ngày.
Sau đó, tàu phải cất cánh trở lại để quay về trái đất. Nửa kia của mặt trăng đôi khi được gọi là vùng tối của mặt trăng nhưng không thực sự luôn tối như thường nghĩ, mà là do đó là phần mà trái đất không bao giờ nhìn thấy do quỹ đạo quay. Các nhà khoa học cho rằng vùng này có tiềm năng nghiên cứu hứa hẹn vì những lòng chảo ở đó ít bị những dòng dung nham cổ xưa che phủ. Mẫu vật từ vùng này có thể hé lộ manh mối về cách mặt trăng được hình thành.
Trung Quốc dự tính đưa con người lên mặt trăng đến năm 2030 và xây dựng căn cứ trên đó. Mỹ cũng có kế hoạch đưa phi hành gia trở lại mặt trăng đến năm 2026.
Liên minh của Trung Quốc dẫn đầu là tổ chức khu vực lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 60% diện tích lục địa Á-Âu, 40% dân số thế giới và hơn 30% GDP toàn cầu.
Vào ngày 22/5 vừa qua, Algeria được xác nhận đã nộp đơn xin trở thành đối tác đối thoại của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), cho phép nước này đủ điều kiện trở thành thành viên đầy đủ sau một thời gian làm đối tác đối thoại và quan sát viên.
Khối do Trung Quốc và 5 quốc gia kế thừa của Liên Xô bao gồm Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan thành lập vào năm 2001, sau đó đã kết nạp thêm Pakistan, Ấn Độ và Iran. Tổ chức này đã tiến hành các cuộc tập trận quân sự chung, được phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa các thành viên kể từ cuối những năm 2010.
Algeria là một trong năm nước cộng hòa Ả Rập có mối liên hệ chặt chẽ với Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh. Trong bối cảnh Ai Cập đã thay đổi chính sách để liên kết chặt chẽ hơn với Khối phương Tây trong những năm 1970 và phương Tây đã tiến hành các cuộc tấn công quân sự nhắm vào vào Iraq, Libya và Syria, thì Algeria vẫn là quốc gia duy nhất trong cộng đồng các quốc gia Ả Rập, nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của phương Tây và có liên kết chặt chẽ với Liên Xô/Nga.
Nước này đã tăng gấp đôi đầu tư vào khả năng quân sự của mình, đặc biệt là khả năng tác chiến trên không và năng lực phòng không, nhất là sau cuộc tấn công của NATO vào nước láng giềng Libya năm 2011. Libya từng là quốc gia có lực lượng quân sự hùng hậu nhất khu vực, tuy nhiên sau hàng thập kỷ đầu tư kém hiệu quả đã khiến lực lượng vũ trang của Libya tụt hậu so với các quốc gia láng giềng và thất thủ nhanh chóng trước đòn tấn công của NATO. Bài học từ Libya đã thôi thúc chính quyền Algeria đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa lực lượng vũ trang của mình.
Lực lượng vũ trang Algeria luôn được giới chuyên gia đánh giá là có năng lực chiến đấu cao nhất ở châu Phi và thế giới Ả Rập. Và trong số các quốc gia có đa số người Hồi giáo thì chỉ có Pakistan và Iran – cả hai đều là thành viên hiện tại của SCO, có thể sánh ngang với Algeria.
Mặc dù phần lớn khí tài quân sự của Algeria được mua của Trung Quốc, từ các hệ thống tác chiến điện tử cho đến tên lửa hành trình, nhưng nước này vẫn là khách hàng quốc phòng lớn thứ hai của Nga sau Ấn Độ.
Quân đội Algeria.
Hiện tại, phương tiện chiến đấu chủ lực trong các đơn vị thiết giáp của Algeria là khoảng 700 xe tăng T-90SA được mua từ Nga. Trong khi đó, xương sống của phi đội máy bay chiến đấu Algeria là 72 máy bay chiến đấu hạng nặng Su-30MKA. Chiếc máy bay này được Algeria chọn vào giữa những năm 2000, bởi nó được đánh giá cao hơn những chiếc Rafale của Pháp nhờ bộ cảm biến mạnh mẽ hơn, độ bền cao hơn và hiệu suất bay vượt trội.
Các hệ thống vũ khí, trang thiết bị đáng chú ý khác của Nga đang có trong biên chế của Quân đội Algeria bao gồm hệ thống phòng không S-300PMU-2, hệ thống tên lửa đất đối không S-400, trực thăng tấn công Mi-28, hệ thống tên lửa đạn đạo Iskander-M và hệ thống pháo tên lửa nhiệt áp TOS-1A.
Lực lượng vũ trang Algeria thường xuyên tiến hành các cuộc tập trận quân sự lớn thể hiện mức độ sẵn sàng chiến đấu cao, điều này trở nên đặc biệt quan trọng khi các cuộc tập trận quân sự lớn do Mỹ dẫn đầu ở Bắc Phi dường như mô phỏng việc phát động các cuộc tấn công vào quốc gia này.
Algeria từ lâu đã là khách hàng được ưu tiên mua các thiết bị quân sự mới nhất của Liên Xô/Nga. Trong quá khứ, Algeria là nước đầu tiên được mua máy bay đánh chặn MiG-25 từ Liên Xô, nước này cũng đã mua các hệ thống phòng không Pantsir-SM trước khi phương tiện này được biên chế vào Lực lượng Vũ trang Nga.
Quốc gia này cũng là một trong những khách hàng đầu tiên đặt mua máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm Su-57 của Nga. Trong bối cảnh giá nhiên liệu hóa thạch tăng từ năm 2022 đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền Algeria đầu tư nhiều hơn vào việc mua vũ khí và hiện đại hóa lực lượng vũ trang đất nước.
Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ đã đưa ra nhận xét về cuộc tập trận gần đây của Trung Quốc xung quanh Đài Loan.
Tàu chiến Trung Quốc xuất hiện gần Đài Loan ngày 23.5, trong ảnh do Cơ quan Phòng vệ Đài Loan công bố ngày 24.5
Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ Samuel Paparo ngày 29.5 cho rằng cuộc tập trận gần đây của Trung Quốc xung quanh Đài Loan “trông giống như một cuộc diễn tập” tấn công, theo tờ Nikkei Asia.
Ông Paparo cho hay Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đã theo dõi và phân tích cuộc tập trận của Trung Quốc xung quanh Đài Loan trong hai ngày 23 và 24.5. “Chúng tôi đã xem cuộc tập trận đó. Chúng tôi đã ghi chú. Chúng tôi đã học được từ cuộc tập trận đó. Và họ đã giúp chúng tôi chuẩn bị cho tương lai”, ông Paparo cho biết thêm.
Trong khi đó, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Ngô Khiêm hôm nay 30.5 tuyên bố cuộc tập trận gần đây của Đài Loan “đã đạt được mục tiêu như mong đợi”. Ông Ngô còn tuyên bố quân đội Trung Quốc sẽ có biện pháp đối phó mạnh mẽ hơn mỗi khi “lực lượng ly khai” Đài Loan có hành động khiêu khích, theo Reuters.
Khi được hỏi về khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan, ông Paparo nhấn mạnh: “Điều quan trọng là đánh giá của chính Trung Quốc”, cảnh báo rằng Bắc Kinh tiếp tục “xây dựng năng lực ở mức đáng báo động”.
“Chính phủ Mỹ yêu cầu tôi phải sẵn sàng hôm nay, ngày mai, tháng tới và năm tới, phù hợp với Đạo luật Quan hệ Đài Loan”, ông Paparo cho hay. Đạo luật đó quy định Washington sẽ giúp Đài Loan tăng cường khả năng tự vệ.
Nếu súng nổ ra trong khu vực, ông Paparo cho hay ông tin tưởng Mỹ cùng các đồng minh và đối tác sẽ “thắng thế trong một cuộc xung đột”.
Mỹ đã và đang thúc đẩy “răn đe tổng hợp” với những đồng minh và đối tác này. Gọi liên minh Mỹ-Nhật là “liên minh quan trọng nhất hành tinh”, ông Paparo ca ngợi khả năng hoạt động chung của hai nước.
Ông Paparo cũng nhấn mạnh “sự cấp bách của việc đạt được sự thống nhất hoàn toàn về nỗ lực” với Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, và cho biết thêm nhiệm vụ của ông “trong những năm tới” là nâng cấp mối quan hệ chỉ huy và kiểm soát.
Nhật sẽ thành lập một bộ chỉ huy hoạt động chung trong Lực lượng Phòng vệ vào cuối tháng 3.2025. Bộ chỉ huy này sẽ đóng vai trò là cơ quan điều phối làm việc với quân đội Mỹ, với mục đích đẩy nhanh quá trình ra quyết định giữa hai đồng minh và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động chung.
Về tình hình Biển Đông, ông Paparo cho hay: “Chúng tôi đang theo dõi tình hình và sẵn sàng hỗ trợ đồng minh hiệp ước của chúng tôi, Philippines”. Ông cho biết thêm Hà Lan, Ý và Đức sẽ tăng cường khả năng răn đe ở Biển Đông thông qua các nỗ lực như điều động tàu, theo Nikkei Asia.
Chính phủ Thái Lan cho biết, tầm nhìn của Bangkok về tương lai phù hợp với các nguyên tắc của BRICS và việc tham gia nhóm sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nước này.
Ngày 28/5, RT đưa tin chính phủ Thái Lan sẽ nộp đơn xin gia nhập Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS) trong thời gian tới. Thái Lan cũng là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên công khai kế hoạch tham gia BRICS.
Theo người phát ngôn chính phủ Thái Lan Chai Wacharonke, nội các Thái Lan đã phê chuẩn các văn bản cần thiết nhằm chuẩn bị cho việc gia nhập BRICS.
Trong bức thư bày tỏ ý định gia nhập gửi cho BRICS, Bangkok cho biết hiểu rõ tầm quan trọng của thế giới đa cực và vai trò ngày càng tăng của các nước đang phát triển trong các vấn đề quốc tế.
Bức thư cũng cho biết tầm nhìn của Thái Lan về tương lai phù hợp với các nguyên tắc của BRICS và việc tham gia nhóm sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nước này về nhiều mặt, bao gồm nâng cao vị thế của Bangkok trên trường quốc tế và tạo cơ hội tham gia định hình trật tự thế giới mới.
Trước đó, BRICS đã mời các quốc gia không phải thành viên có mong muốn gia nhập nhóm tham dự hội nghị thượng đỉnh dự kiến diễn ra vào cuối tháng 10 tại Kazan, Nga.
Ông Chai cho biết, việc tham dự hội nghị thượng đỉnh BRICS sẽ là cơ hội để Thái Lan đẩy nhanh quá trình nộp đơn.
BRICS là nhóm các nền kinh tế mới nổi với 5 thành viên Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi, chiếm hơn 40% dân số toàn cầu và khoảng 1/4 GDP thế giới. Nam Phi đang là quốc gia chủ tịch.
Tại hội nghị thượng đỉnh tháng 8/2023, BRICS đã thông qua tuyên bố chung, trong đó có kết nạp 6 thành viên mới gồm Argentina, Ai Cập, Iran, Ethiopia, Ả Rập Xê-Út và Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) từ năm 2024
BRICS mở rộng chiếm khoảng 30% nền kinh tế toàn cầu với dân số khoảng 3,5 tỷ người, tương đương 45% tổng dân số thế giới. Nhóm này cũng chiếm hơn 40% sản lượng dầu của thế giới.
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, BRICS hiện chiếm tới 36% GDP toàn cầu xét theo sức mua tương đương (PPP), so với chỉ hơn 30% của G7. BRICS đặt mục tiêu vượt qua G7 về GDP danh nghĩa toàn cầu trong 4 năm tới.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Campuchia Sok Chenda Sophea vừa có chuyến thăm đầu tiên tới Trung Quốc từ ngày 23 đến 25-5, theo lời mời của Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị.
Hai bộ trưởng đã đạt được một loạt thỏa thuận, bao gồm nghiên cứu lập thêm đặc khu kinh tế (SEZ), khuyến khích đầu tư và tăng nhập khẩu nông sản từ Campuchia.
“Với mục tiêu mở rộng thêm quan hệ kinh tế và hợp tác, ông Vương Nghị hoan nghênh các đề xuất của ông Chenda Sophea về việc phía Trung Quốc nghiên cứu khả năng mở rộng hoặc thành lập thêm SEZ tại Campuchia”, báo Phnom Penh Post dẫn thông cáo của Bộ Ngoại giao Campuchia ngày 27-5.
“Ông Vương Nghị cũng cam kết khuyến khích các công ty và doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Campuchia và tăng cường nhập khẩu nông sản từ Campuchia”, thông cáo nêu rõ.
Bên cạnh đó, Bộ Ngoại giao Campuchia khẳng định Trung Quốc tiếp tục hỗ trợ đào tạo kỹ thuật và nghề nghiệp, nhằm tăng số lượng lao động có tay nghề tại Campuchia.
Trung Quốc một lần nữa khẳng định ủng hộ các dự án phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng tại Campuchia, bao gồm giao thông vận tải, logistics và hệ thống tưới tiêu, chẳng hạn như “kênh đào Phù Nam Techo có tầm quan trọng chiến lược”.
Hai bên nhất trí thúc đẩy hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực trọng điểm và tiềm năng như giáo dục, du lịch, nông nghiệp, kết nối, kinh tế số và trí tuệ nhân tạo (AI).
Ngoài cuộc gặp với ông Vương Nghị, ông Chenda Sophea cũng gặp Phó chủ tịch Trung Quốc Hàn Chính và Cục trưởng Cục Năng lượng quốc gia Trung Quốc Zhang Jianhua.
Bộ Ngoại giao Campuchia cho hay ông Chenda Sophea và các nhà lãnh đạo Trung Quốc đánh giá cao mối quan hệ hữu nghị vô cùng bền chặt và sự hợp tác tốt đẹp giữa hai nước đang ngày càng vững mạnh, được thúc đẩy bởi các chuyến thăm và đối thoại cấp cao thường xuyên”.
Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi và đối thoại thông qua cả khuôn khổ hành pháp và lập pháp. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh tiếp tục ủng hộ lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện quốc gia của Campuchia.
Phía Campuchia khẳng định lập trường và tuân thủ “Chính sách Một Trung Quốc”. Nước này xem Hong Kong, Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương là vấn đề nội bộ của Trung Quốc và sẽ tiếp tục ủng hộ vai trò tích cực của Trung Quốc trong các vấn đề quốc tế.
Một “cuộc chạy đua vũ trang AI” đã nổi lên khi các quốc gia hàng đầu dành những khoản ngân sách khổng lồ vào nghiên cứu, phát triển nhân tài và ứng dụng AI.
Ảnh minh hoạ
Trong thập kỷ qua, trí tuệ nhân tạo (AI) dần biến đổi mọi ngành công nghiệp. Từ chăm sóc sức khỏe, giao thông vận tải đến tài chính – ngân hàng, khả năng của AI đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển sản phẩm, tối ưu hóa hoạt động và nâng cao trải nghiệm của khách hàng.
Các công ty khởi nghiệp AI toàn cầu đã huy động được hơn 54 tỷ USD vốn đầu tư mạo hiểm vào năm 2021, tăng hơn gấp đôi so với năm 2020. Các Chính phủ cũng đã phân bổ hàng tỷ USD để hỗ trợ các chiến lược phát triển AI quốc gia.
Mỹ Mỹ hiện đang dẫn đầu cuộc đua AI với tổng vốn đầu tư 249 tỷ USD. Nền kinh tế lớn nhất thế giới đã khẳng định vị thế thống trị AI. Các “gã khổng lồ” công nghệ như Google, Microsoft, Amazon, Facebook và Apple đang đầu tư lớn vào nghiên cứu và phát triển AI. Nước này cũng sở hữu một hệ sinh thái mạnh mẽ gồm các công ty khởi nghiệp AI nhận được nguồn vốn đầu tư mạo hiểm đáng kể.
Chính phủ Mỹ đã ưu tiên phát triển AI thông qua các sáng kiến như Đạo luật sáng kiến AI quốc gia nhằm thúc đẩy đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) AI, nâng cấp các tiêu chuẩn kỹ thuật và đào tạo lực lượng lao động sẵn sàng cho cuộc đua ứng dụng AI.
Các cơ quan Chính phủ như DARPA và IARPA tài trợ cho các nghiên cứu AI tiên tiến để duy trì lợi thế công nghệ của Mỹ. Các trung tâm nghiên cứu học thuật như MIT, Stanford và Carnegie Mellon trở thành đơn vị tiên phong trong nghiên cứu và phát triển AI.
Nước này cũng có lợi thế thu hút nhân tài AI toàn cầu thông qua các trường đại học và doanh nghiệp công nghệ.
Trong khi Trung Quốc đang chạy đua để giành được chỗ đứng thì Mỹ vẫn là trung tâm thu hút AI với sự kết hợp giữa 3 yếu tố: Đổi mới ở khu vực tư nhân, tài trợ của Chính phủ và khả năng tiếp cận nhân tài. Việc duy trì vị trí dẫn đầu này đòi hỏi phải tăng cường đầu tư vào cả nghiên cứu và ứng dụng AI trong các ngành công nghiệp khác nhau.
Trung Quốc Trung Quốc đã nổi lên như một đối thủ chính của Mỹ trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo toàn cầu. Với tổng đầu tư AI ước tính là 95 tỷ USD, Trung Quốc có mức tài trợ vào AI cao thứ hai trên thế giới sau Mỹ.
Có nhiều yếu tố thúc đẩy sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc về AI. Năm 2017, Trung Quốc công bố Kế hoạch Phát triển trí tuệ nhân tạo thế hệ mới đến năm 2030, đặt mục tiêu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo lớn nhất thế giới trong lĩnh vực AI với dự đoán sẽ thu hút khoảng 150 tỷ USD từ ngành này.
Những “ông lớn” công nghệ như Baidu, Alibaba và Tencent rót hàng tỷ USD vào việc phát triển ứng dụng AI. Nghiên cứu của họ tập trung vào các lĩnh vực như thị giác máy, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, nhận dạng giọng nói và xe tự hành.
Thêm vào đó, dữ liệu dồi dào từ hơn 800 triệu người dùng internet của Trung Quốc có thể được tận dụng để đào tạo các thuật toán AI. Năm 2019, các công ty khởi nghiệp AI của Trung Quốc đã nhận được nhiều nguồn vốn đầu tư mạo hiểm hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên toàn cầu.
Trung Quốc cũng sở hữu đội ngũ nhân tài công nghệ cao gồm các nhà nghiên cứu và kỹ sư AI, với các trung tâm công nghệ ở Bắc Kinh, Thượng Hải và Thâm Quyến. Nghiên cứu mới nhất cho thấy Trung Quốc đã vượt qua Mỹ trong một số tiêu chí để trở thành nơi sản sinh những nhân tài AI bậc nhất. Theo thống kê, đất nước tỷ dân tạo ra gần một nửa số chuyên gia AI hàng đầu thế giới. Ngược lại, chỉ có khoảng 18% nhà nghiên cứu đến từ các tổ chức đại học của Mỹ.
Kết quả này cho thấy một bước nhảy vọt của Trung Quốc, khi mà 3 năm trước nước này chỉ cung cấp khoảng 1/3 nhân tài AI hàng đầu thế giới. Trong khi đó, Mỹ dường như giậm chân tại chỗ.
Với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ, nguồn dữ liệu khổng lồ và đầu tư lớn ở khu vực tư nhân, Trung Quốc đang nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với Mỹ trong cuộc đua AI toàn cầu. Các sáng kiến quan trọng như kế hoạch “Made in China 2025” nhằm nâng cấp năng lực sản xuất công nghệ cao của đất nước này đang đẩy nhanh tiến trình đưa Trung Quốc trở thành siêu cường về AI.
Vương quốc Anh Vương quốc Anh đứng ở vị trí thứ ba về tổng đầu tư vào AI với 18 tỷ USD và khẳng định mình là quốc gia đi đầu trong nghiên cứu và phát triển AI, phần lớn nhờ vào các trường đại học đẳng cấp thế giới như Oxford, Cambridge, Edinburgh và University College London. Những trường đại học này cung cấp một phần đáng kể các nhân tài AI hàng đầu của Vương quốc Anh.
Chính phủ Vương quốc Anh đã ưu tiên AI và thông qua Thỏa thuận ngành AI để thúc đẩy sự phát tiển của ngành này. Thỏa thuận này bao gồm hơn 1 tỷ USD tài trợ cho nghiên cứu và phát triển tài năng. Một số sáng kiến AI quan trọng được Chính phủ hỗ trợ bao gồm sáng kiến của Viện Alan Turing, Trung tâm Đạo đức Dữ liệu và Đổi mới sáng tạo (CDEI) cùng hơn 200 học bổng Tiến sĩ dành riêng cho nghiên cứu AI.
Ngoài giới học thuật, Vương quốc Anh còn có lĩnh vực AI tư nhân phát triển mạnh. Các công ty công nghệ lớn như DeepMind, Swiftkey, Babylon Health và BenevolentAI được thành lập ở Anh và đang có những bước tiến vượt trội trong phát triển AI.
Israel Israel đã đầu tư khoảng 11 tỷ USD vào các sáng kiến trí tuệ nhân tạo. Nước này hiện có hơn 1.100 công ty AI cốt lõi trong các lĩnh vực như tài chính, xe tự hành, an ninh mạng và chăm sóc sức khỏe. Các công ty khởi nghiệp của Israel đã thu hút hơn 2 tỷ USD vốn đầu tư mạo hiểm tập trung vào AI vào năm 2021.
Chính phủ Israel đã định hướng AI là ưu tiên quốc gia. Các trường đại học hàng đầu như Đại học Do Thái và Viện Công nghệ Technion đều có các trung tâm nghiên cứu AI quy mô lớn. Các công ty công nghệ lớn như Intel, Google, Microsoft, IBM và Amazon đều có trung tâm nghiên cứu AI ở Israel. Họ đang khai thác lực lượng lao động công nghệ tài năng của đất nước này.
Lực lượng Phòng vệ Israel cũng có các đơn vị AI chuyên biệt của riêng họ, tập trung vào thị giác máy, xử lý ngôn ngữ tự nhiên và phân tích dự đoán. Quân đội là động lực tiến hành nghiên cứu các AI tiên tiến.
Israel đặt mục tiêu trở thành một cường quốc toàn cầu về AI. Nước này có một hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển mạnh mẽ và các tài năng nghiên cứu để hỗ trợ các mục tiêu AI đầy tham vọng trong cả khu vực công lẫn tư.
Canada Canada là một “ngôi sao đang lên” trong cuộc đua AI toàn cầu. Nước này đã đầu tư khoảng 9 tỷ USD vào các sáng kiến trí tuệ nhân tạo. Mặc dù “chưa thấm vào đâu” so với các cường quốc AI như Mỹ và Trung Quốc, Canada vẫn nổi lên như một đối thủ đáng gờm trong một số lĩnh vực AI nhất định.
Phần lớn sức mạnh AI của Canada bắt nguồn từ trung tâm công nghệ sôi động ở Toronto-Waterloo, thường được gọi là “Thung lũng Silicon phía Bắc”. Khu vực này là nơi đặt trụ sở của các tổ chức nghiên cứu AI được công nhận trên toàn cầu như Viện Vector. Các gã khổng lồ công nghệ Google, Nvidia và OpenAI đều có các hoạt động AI lớn ở đó.
Canada công bố Chiến lược AI quốc gia vào tháng 3/2017, mang tên “Chiến lược AI Pan-Canada” trong 5 năm, với mức đầu tư 125 triệu đô la Canada (92 triệu USD) vào nghiên cứu và đào tạo tài năng AI. Nước này đã thành lập các viện nghiên cứu AI như Viện trí tuệ máy Alberta (Amii) và Viện trí tuệ nhân tạo Quebec (Mila) để tiến hành các hoạt động R&D tiên tiến.
Canada đặc biệt mạnh về các ứng dụng học sâu và học máy, với những người tiên phong về AI được công nhận trên toàn cầu như Yoshua Bengio và Geoffrey Hinton (đi đầu về kiến trúc mạng lưới thần kinh).
Sức mạnh của ngành công nghệ Canada trong các lĩnh vực như điện toán lượng tử cũng có thể mang lại lợi thế cho nước này trong việc phát triển các ứng dụng AI thế hệ tiếp theo. Mặc dù có thể thiếu ngân sách khổng lồ như Mỹ và Trung Quốc, nhưng cách tiếp cận tập trung hơn của Canada có thể cho phép nước này giành được ưu thế trong một số lĩnh vực AI tiên tiến được chọn lọc.
Pháp Tính đến năm 2022, Pháp đã đầu tư khoảng 7 tỷ USD vào các sáng kiến trí tuệ nhân tạo. Mặc dù con số này ít hơn đáng kể so với các cường quốc AI như Mỹ và Trung Quốc, nhưng Pháp có một số điểm mạnh giúp họ vươn lên trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu về AI.
Cụ thể, Pháp có lĩnh vực công nghệ phát triển mạnh, nơi đặt các phòng thí nghiệm nghiên cứu AI lớn của các công ty như Google, Facebook và Samsung. Chính phủ cũng đã tài trợ cho các viện và trung tâm nghiên cứu AI mới.
Chính phủ Pháp đã công bố chiến lược AI quốc gia vào năm 2018, cam kết chi 1,6 tỷ USD trong 5 năm cho các sáng kiến nghiên cứu và đào tạo AI. Con số này bao gồm hơn 700 triệu USD cho nghiên cứu công và tư cũng như các chương trình học thuật mới về AI.
Pháp đặt mục tiêu trở thành “quốc gia AI” thông qua đầu tư vào các ứng dụng giao thông, chăm sóc sức khỏe và phát triển bền vững gắn liền bảo vệ môi trường. Các sáng kiến chính bao gồm cơ sở hạ tầng phương tiện tự động, công cụ chẩn đoán AI và tối ưu hóa hệ thống năng lượng.
Pháp có lực lượng lao động có trình độ học vấn cao và đã đơn giản hóa quy trình cấp thị thực để thu hút nhân tài AI trên toàn cầu. Bốn trường đại học của Pháp được xếp hạng trong top 100 toàn cầu về nghiên cứu trí tuệ nhân tạo.
Mặc dù chưa đạt mức đầu tư như Trung Quốc và Mỹ, Pháp đã có những bước tiến trong việc phát triển hệ sinh thái AI thông qua tài trợ công-tư, các sáng kiến giáo dục và chiến lược quốc gia hướng dẫn phát triển và sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Các quốc gia đáng chú ý khác Một số quốc gia khác cũng đã đầu tư đáng kể vào nghiên cứu và phát triển AI, mặc dù chưa tương xứng với mức chi tiêu của các quốc gia hàng đầu.
Đâu tiên phải kể đến Ấn Độ. Nước này đã cam kết đầu tư khoảng 8 tỷ USD vào nghiên cứu và ứng dụng AI trong vài năm tới. Ấn Độ coi AI là cơ hội để đạt được tiến bộ trong các lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nông nghiệp và thành phố thông minh. Tuy nhiên, việc thiếu nhân tài AI và những hạn chế về cơ sở hạ tầng đặt ra nhiều thách thức.
Nhật Bản có kế hoạch đầu tư khoảng 4 tỷ USD vào công nghệ AI, tập trung sử dụng AI trong các lĩnh vực như di động, sản xuất, bán lẻ và dịch vụ khách hàng. Nhật Bản phải đối mặt với những thách thức về nhân khẩu học mà AI có thể giúp giải quyết điều này.
Đức đã phân bổ khoảng 7 tỷ USD cho nghiên cứu và thương mại hóa AI. Nước này đang hướng tới các ứng dụng sáng tạo của AI trong các lĩnh vực như lái xe tự động và mong muốn xây dựng một trung tâm quốc tế về nghiên cứu AI. Nhưng Đức cũng phải đối mặt với tình trạng thiếu chuyên gia AI.
Singapore đã cam kết khoảng 5 tỷ USD để hỗ trợ chiến lược “quốc gia thông minh” tập trung vào việc áp dụng AI. Quốc gia này coi AI là điều kiện tiên quyết để duy trì khả năng cạnh tranh kinh tế. Dù vậy, Singapore phải “nhập khẩu” hầu hết nhân tài AI do quy mô dân số nhỏ.
Với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ, nguồn dữ liệu khổng lồ và đầu tư lớn ở khu vực tư nhân, Trung Quốc đang nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với Mỹ trong cuộc đua AI toàn cầu.
Năm 2023, hacker rao bán quyền truy cập camera giám sát tại Việt Nam với giá 800.000 đồng/15 camera. Số lượng camera được quảng cáo là lên tới hàng trăm nghìn.
Ngày 22/5, tọa đàm “Tiêu chuẩn an toàn thông tin mạng cơ bản cho camera giám sát” đã diễn ra dưới sự chủ trì của Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) và VietNamNet phối hợp tổ chức với sự tham gia của các doanh nghiệp, chuyên gia trong lĩnh vực này.
Theo thông tin được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay, xu hướng sử dụng camera giám sát ngày càng phổ biến tại Việt Nam. Không chỉ được nhiều gia đình sử dụng, camera giám sát cũng là thiết bị quan trọng trong hệ thống chính phủ điện tử, chính quyền số và thành phố thông minh, giúp giám sát giao thông, an ninh trật tự…
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, nhiều trường hợp hình ảnh đời tư của những nhân vật nổi tiếng đã bị đưa lên mạng xã hội do lộ lọt từ camera giám sát trong chính ngôi nhà của họ. Bên cạnh đó, có quá nhiều camera lưu hành không rõ nguồn gốc, lưu trữ dữ liệu người dùng Việt Nam ở nước ngoài và không có tiêu chuẩn bảo đảm an toàn thông tin cho người dùng .
Camera là sản phẩm nhạy cảm, tiềm ẩn nguy cơ lộ lọt thông tin
Thống kê của các doanh nghiệp cho thấy có khoảng 90% sản phẩm camera giám sát tại Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc theo đường chính ngạch và tiểu ngạch.
Thậm chí, một số dòng camera hoạt động theo cơ chế cloud, kết nối về server đặt tại nước ngoài và người dùng ở Việt Nam phải “vòng” qua server này trước khi kết nối vào camera của người dùng.
Thông tin cá nhân qua bước trung gian khi không có các cơ chế bảo mật sẽ gây rủi ro cho người dùng. Trong đó, các hành vi riêng tư có thể bị công khai khi kênh truyền bị chặn hoặc server bị tấn công. Ngoài ra, không loại trừ thông tin cá nhân sẽ bị khai thác mà không có sự xin phép.
Tại tọa đàm “Tiêu chuẩn an toàn thông tin mạng cơ bản cho camera giám sát”, ông Vũ Ngọc Sơn – Trưởng ban Công nghệ – Hiệp hội An ninh mạng quốc gia (NCA) đánh giá về góc độ an ninh mạng, có thể xem camera như máy tính, thậm chí là loại “đặc biệt” vì có thể nghe, nhìn, suy nghĩ (nếu tích hợp AI), phát hiện và phân tích vật thể xuất hiện trong tầm quan sát. Những thiết bị này gần như không bao giờ tắt, ít được vá lỗi và cũng rất hiếm có bản vá hay cài đặt phần mềm diệt virus.
“ Do đó, nếu bị tấn công sẽ không có ai bảo vệ ”, ông Sơn nhận định. Cũng theo lãnh đạo NCA, dù rủi ro tiềm ẩn vô cùng cao, camera lại không được đối xử như một máy tính khi không có tiêu chuẩn hay xuất xứ rõ ràng.
Theo ông Vũ Ngọc Sơn – Trưởng ban Công nghệ, Hiệp hội An ninh mạng quốc gia: ” Tiêu chuẩn camera là rất cần thiết để có hành lang cho nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ tại Việt Nam “. Cũng theo ông Sơn, trên thế giới đã có những vụ tấn công vào camera rất lớn. Ở Việt Nam, tuy chưa ghi nhận vụ việc lớn nhưng báo động tình trạng nguy cơ mất an toàn thông tin từ camera.
Sẽ ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho thiết bị camera giám sát
Ý kiến của các chuyên gia tại sự kiện cũng cho thấy việc ban hành các tiêu chuẩn cho camera và chủ động sản xuất camera Make in Vietnam là nhu cầu cấp thiết để đảm bảo an toàn, an ninh thông tin cho Việt Nam.
Tại tọa đàm, ông Trần Đăng Khoa, Phó cục trưởng phụ trách Cục An toàn thông tin, Bộ TT&TT cho biết, việc ban hành bộ tiêu chí có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ đây là tiền đề để các doanh nghiệp tham gia sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh sản phẩm, thiết bị camera giám sát trên thị trường Việt Nam triển khai rà soát, đánh giá lại một cách tổng thể các nguy cơ mất an toàn thông tin đối với các sản phẩm, thiết bị camera do đơn vị mình cung cấp.
Đặc biệt, bộ tiêu chí này cũng là bước đầu để Bộ có cơ sở xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu an toàn thông tin mạng cơ bản cho thiết bị camera giám sát.
Thông qua việc ban hành bộ tiêu chí, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có nhu cầu mua sắm, trang bị các sản phẩm, thiết bị camera giám sát cũng sẽ bước đầu có ý thức hơn trong việc cần phải lựa chọn, tìm kiếm các sản phẩm, thiết bị camera được đánh giá là an toàn.
Theo ông Võ Đức Thọ, Tổng Giám đốc Hanet Technology, bộ tiêu chí về tiêu chuẩn an toàn thông tin mạng cơ bản cho camera giám sát mới được Bộ TT&TT ban hành là phù hợp với tình hình thực tiễn giai đoạn hiện tại. Đối với thị trường, bộ tiêu chí có tác động lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp dịch vụ. Mặc dù mới chỉ là tiêu chí, chưa bắt buộc song hiện nay các doanh nghiệp cũng đang tiến hành rà soát để đáp ứng các nội dung thuộc Nghị định 13 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Về phía chủ thể sử dụng camera giám sát, bộ tiêu chí sẽ giúp gia tăng nhận thức an toàn thông tin nói chung, nhất là của các doanh nghiệp, tổ chức cũng như các phường, xã trang bị nhiều camera. Bộ tiêu chí này cũng rất công bằng cho các doanh nghiệp, không chỉ nghiêng về doanh nghiệp Việt Nam. Các hãng lớn nước ngoài cũng có thể đáp ứng các tiêu chí này để kinh doanh tại Việt Nam.
Dự kiến, quy chuẩn này sẽ được ban hành trong năm 2024. Khi đó, tất cả camera được sản xuất ở Việt Nam và camera nhập khẩu, bắt buộc phải được kiểm định, chứng nhận hợp quy mới đủ điều kiện đưa ra thị trường…
Kế hoạch của Việt Nam nhằm phát triển năng lực tình báo, giám sát và trinh sát (ISR) đang được định hình.
Trong nhiều năm, Việt Nam dần mua sắm thêm nhiều loại vũ khí để “làm mới” kho vũ khí vốn đã lạc hậu từ thời Chiến tranh Lạnh, phần lớn mua từ Nga nhưng từ các nguồn khác cũng ngày càng nhiều. Tuy nhiên, hiệu quả về mặt quân sự rõ ràng không chỉ phụ thuộc vào các loại vũ khí nóng; mà năng lực phát hiện, theo dõi, và chỉ đường cho vũ khí tạo nên các yếu tố quan trọng khác. Nhận thức được điều này, bên cạnh việc tiếp tục mua thêm vũ khí, Hà Nội đã tiến hành những bước đi ban đầu, nhưng quan trọng, trong việc thiết lập một mạng ISR toàn diện.
Thông qua bối cảnh này, chúng ta có thể lý giải được tiềm năng quân sự to lớn của thỏa thuận giữa Việt Nam và Ấn Độ nhằm thành lập một trạm theo dõi vệ tinh ở Thành phố Hồ Chí Minh, và một báo cáo trước đó vào năm ngoái về thiết bị bay không người lái (UAV) mới của Việt Nam sẽ tuần tra trên Biển Đông.
Một kế hoạch tổng thể về ISR?
UAV và các chương trình vệ tinh viễn thám của Việt Nam thường được quan tâm đầu tư vì ưu thế của chúng trong nông nghiệp, quản lý thiên tai và quản lý nghề cá. Thoạt nhìn, bước đi này phù hợp với các khuôn mẫu chung thường thấy ở Đông Nam Á – như Indonesia (xem ở đây và ở đây) và Singapore, là những nước có chương trình UAV đã và đang được triển khai tích cực. Với các vệ tinh quan sát trái đất, Singapore đã triển khai TeLEOS-1, hợp tác thiết kế bởi ST Electronics, Đại học Công nghệ Nanyang và Các phòng nghiên cứu Khoa học Quốc phòng (Defence Science Organisation Laboratories) vào tháng 12 năm 2015. Philippines cũng sẵn sàng triển khai vệ tinh quan sát trái đất siêu nhỏ Diwata-1.
Thế nhưng rõ ràng công dụng của các vệ tinh vẫn có thể được sử dụng vào mục đích quốc phòng, vì chúng tạo ra hệ thống dữ liệu có thể được dùng cho nhiều mục đích khác nhau. Như vệ tinh dân sự chẳng hạn, dù có thể không sở hữu năng lực tương đương như các biến thể quân sự, chúng vẫn có thể hoàn thành một số nhiệm vụ quân sự cường độ thấp trong thời bình và cả trong thời chiến. Một số vệ tinh sử dụng cho mục đích dân sự nhưng cho thấy hiệu suất và năng lực tương đương một vệ tinh quân sự. Ví dụ như vệ tinh TeLEOS-1 có độ phân giải toàn sắc ở mức 1 mét (ở điểm thấp nhất), vì vậy rất hữu dụng về mặt quân sự. Ranh giới giữa ứng dụng quân sự và dân sự thường bị xóa mờ trong các dạng công nghệ lưỡng dụng như thế. Điều này đặc biệt đúng trong môi trường hàng hải.
Những năm gần đây, có dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang thực hiện chiến lược thiết lập cái gọi là “nhận thức biển” (maritime domain awareness) tại Biển Đông. Đáng chú ý, vào tháng 2 năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam cho biết họ sẽ dần hiện đại hóa các “trạm quan sát khí tượng thủy văn và môi trường biển” cũng như xây dựng các trạm quan trắc mới tại những vùng biển quan trọng như một phần của một kế hoạch tổng thể nhằm thiết lập một hệ thống gồm tổng cộng 35 trạm quan sát tài nguyên và môi trường biển trước năm 2020. Mạng lưới tích hợp này, một phần quan trọng của một dự án gồm 3 giai đoạn được lên kế hoạch bởi Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (VASI), sẽ giúp cải thiện năng lực quản lý quốc gia đối với biển và các đảo thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Trong đó, mạng lưới này cũng được thiết kế với mục đích an ninh quốc phòng, tạo ra một nền tảng rõ ràng cho các nỗ lực phát triển năng lực ISR của Việt Nam.
Do đó, rất có khả năng những cải thiện về năng lực ISR của Việt Nam phần nào nhằm đối phó với những diễn biến gần đây ở Biển Đông, nơi căng thẳng luôn tái diễn. Hà Nội dường như đang cố gắng theo đuổi những động thái tương tự của Bắc Kinh, bao gồm toan tính tạo ra một hệ thống các vệ tinh giám sát biển HY-3 mới vào năm 2019, mà theo Lin Mingsen – phó giám đốc Cục ứng dụng Vệ tinh Hải dương Quốc gia Trung Quốc, là có “một vai trò quan trọng trong việc củng cố và bảo vệ quyền lợi trên biển, giám sát và thực thi pháp luật trên biển, quản lý vùng nước gần bờ, cứu trợ và giảm thiểu thiên tai trên biển của Trung Quốc”. Cũng không thể bỏ qua sự phát triển nhanh chóng của công nghệ UAV do Trung Quốc tự mình phát triển, ví dụ như chiếc UAV Ứng Long I có trần bay trung bình nhưng có độ ổn định cao (MALE), được cho là đã được sản xuất đại trà trong năm 2015, trong cùng năm hậu bối của Ứng Long I là Ứng Long II đã được ra mắt.
Với đường bờ biển dài 3.444km (không tính các đảo) và vùng biển rộng lớn bao gồm các khu vực có đòi hỏi chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam rõ ràng cần một chiến lược ISR toàn diện để tăng cường năng lực nhận thức biển cũng như năng lực định vị mục tiêu trên biển trong thời chiến cũng như thời bình. Không giống như việc mua sắm những vũ khí đắt tiền như máy bay chiến đấu phản lực Su-30MK2 hay tàu ngầm lớp Kilo, những dự án bí mật liên quan đến ISR hiện nay tránh né được hầu hết sự chú ý từ dư luận trong khi vẫn đang được âm thầm triển khai.
Vệ tinh quan sát trái đất cho mục đích dân sự?
Năng lực ISR liên quan đến các hệ thống được đặt trên không gian, thường được ẩn giấu dưới lớp vỏ nghe có vẻ dân sự là phát triển “vệ tinh quan sát trái đất”, cấu thành một khía cạnh quan trọng trong nỗ lực cải thiện năng lực ISR của Việt Nam. Điều đó bắt đầu với “Chiến lược Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Vũ trụ của Việt Nam đến năm 2020” được thông qua vào tháng 6 năm 2006 với vốn đầu tư 2 tỷ đôla. Chưa đầy một năm sau, Viện Công nghệ Vũ trụ (STI) đã được thành lập để đảm nhiệm việc nghiên cứu khoa học và công nghệ vũ trụ, dường như tập trung hơn vào các ứng dụng dân sự. Phó Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) Nguyễn Đình Công cho biết chiến lược giúp phát triển những vệ tinh quan sát trái đất nhỏ nội địa.
Nhưng ở đây rõ ràng có một ý nghĩa quân sự nhất định. Trở lại tháng 12 năm 2008, Chủ tịch Chương trình Nghiên cứu Quốc gia về Khoa học và Công nghệ Vũ trụ Nguyễn Khoa Sơn nói rằng “Nếu chúng tôi có vệ tinh riêng, chúng tôi có thể ứng phó nhanh chóng hơn với thiên tai và chủ động hơn trong các hoạt động quốc phòng an ninh”. Ngoài ra, Ủy ban Vũ trụ Việt Nam, thành lập năm 2010 và có nhiệm vụ tư vấn cho thủ tướng về việc thực thi chiến lược vũ trụ, đã được tăng cường nhân sự vào tháng 1 năm 2013 bao gồm đại diện từ các cơ quan chính phủ khác, đặc biệt là bộ Quốc phòng.
Theo xu hướng vốn điển hình cho một quốc gia mới nổi muốn sở hữu vệ tinh, Việt Nam trước tiên khởi đầu với các vệ tinh liên lạc (communications satellites). Sau vài trì hoãn, Việt Nam đã phóng vệ tinh VINASAT-1 vào tháng 4 năm 2008, sau đó là VINASAT-2 vào tháng 5 năm 2012. Người Việt Nam đã cho thấy họ học hỏi nhanh như thế nào. Lockheed Martin, nhà thầu cho cả hai vệ tinh VINASAT, ca ngợi năng lực của các kỹ sư Việt Nam trong việc làm chủ kỹ năng điều khiển các vệ tinh. Lockheed Martin trao quyền điều khiển VINASAT-2 cho chính quyền Việt Nam vào tháng 7 năm 2012, hai tháng sau khi vệ tinh được phóng đi. Việc chuyển giao rút ngắn chỉ còn phân nửa thời gian giành cho VINASAT-1, được giao lại cho Hà Nội vào tháng 8 năm 2008 – chứng minh ở một mức độ nào đó khả năng chiếm lĩnh kỹ thuật của Việt Nam.
Nhưng Việt Nam phải đối mặt với khó khăn lớn hơn nhiều khi tiến vào lĩnh vực viễn thám (remote-sensing). Vào tháng 7 năm 2012, Việt Nam phóng vệ tinh quan sát trái đất nội địa đầu tiên, vệ tinh F-1, thiết kế bởi Phòng nghiên cứu không gian (FSpace) của Đại học Công nghệ FPT. Nó có kích thước 10 x 10 x 10 cm, chỉ nặng 1 kg và có khả năng chụp ảnh có độ phân giải thấp (640×480). Vũ Trọng Thư – Trưởng Phòng nghiên cứu không gian, nói rằng Việt Nam mong muốn làm chủ công nghệ không gian về nhiều mục đích khác nhau, bao gồm do thám trên Biển Đông – chứng minh vai trò ISR của F-1. Nhưng vệ tinh siêu nhỏ này đã không thể truyền tín hiệu về Trái đất, có thể do vấn đề về pin. Tham vọng của Việt Nam dần khiến quốc gia này từ bỏ sự phụ thuộc của mình vào dữ liệu viễn thám có nguồn gốc từ nước ngoài vốn được bán với “giá cắt cổ”, theo ông Phạm Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Vệ tinh Quốc gia Việt Nam (VNSC). Trong cuộc phỏng vấn vào tháng 3 năm 2015, ông Tuấn lý giải: “Hiện tại, để có một bức ảnh vệ tinh, Việt Nam phải đặt hàng trước, và sẽ chỉ nhận được ảnh sau hai ngày. Thực ra, trong vài trường hợp Việt Nam không thể có được hình ảnh mà chúng tôi cần kịp thời. Tuy nhiên, nếu chúng tôi có được vệ tinh và một trung tâm vũ trụ riêng, mọi thứ có thể được xử lý trong vòng 6-12 tiếng, bao gồm chụp ảnh và xử lý dữ liệu”.
Vì vậy vệ tinh nhỏ thứ hai của Việt Nam, VNREDSat-1, có kích thước 600 x 570 x 500 mm và nặng 120kg, đã được đưa vào quỹ đạo vào tháng 5 năm 2013 và truyền tải thành công những hình ảnh đầu tiên trở về Trái đất hai ngày sau khi phóng. VNREDSat-1 được thiết kế bởi Astrium SAS, một công ty con của Công ty Phòng không và Vũ trụ châu Âu (EADS), và chi phí dự án trị giá 70 triệu đôla do chính phủ Pháp và Việt Nam cung cấp. Khi công ty Astrium SAS trao quyền điều khiển VNREDSat-1 cho VAST bốn tháng sau đó, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã gọi đó là một cột mốc lịch sử trong sự phát triển công nghệ vũ trụ của Việt Nam, khẳng định sự làm chủ hoàn toàn “công nghệ vệ tinh nhỏ” và khả năng xử lý hình ảnh độc lập. Quan trọng nhất là, theo Chủ tịch Chương trình Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Quốc gia Nguyễn Khoa Sơn, VNREDSat-1 giúp giảm thiểu sự phụ thuộc của Việt Nam vào hình ảnh từ nguồn nước ngoài.
Chắc chắn rằng tầm quan trọng về quân sự của VNREDSat-1 không thể bị bỏ qua. Vào tháng 2 năm 2014, Nguyễn Xuân Lâm, Cục trưởng Cục Viễn thám Quốc gia thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, cho biết VNREDSat-1 sẽ được dùng để giám sát vùng biển và các đảo của Việt Nam vì mục đích phát triển kinh tế xã hội cũng như an ninh quốc phòng, theo dự án “Giám sát biển và các đảo trọng yếu ngoài khơi bằng công nghệ viễn thám”. Tại một hội nghị vào tháng 5 cùng năm, Phó Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai cho biết VNREDSat-1 sẽ là một công cụ hiệu quả trong việc quản lý tài nguyên môi trường và bảo vệ chủ quyền đối với đất liền, biển, đảo và vùng trời của Việt Nam.
Việt Nam rõ ràng cảm thấy phấn chấn hơn sau thành công của VNREDSat-1 và của Pico Dragon – vệ tinh có kích thước hầu như tương tự vệ tinh F-1 xấu số và đã được phóng đi không lâu sau đó, truyền được tín hiệu đầu tiên đến Trái đất. Trước năm 2016, theo ông Tuấn, Việt Nam dự định phóng vệ tinh NanoDragon nặng 10kg hoàn toàn do Việt Nam phát triển, sau đó là vệ tinh MicroDragon nặng 50kg vào năm 2018, và sau đó nữa là vệ tinh LOTUSat-2 nặng 500-600kg có khả năng chụp ảnh radar có khẩu độ tổng hợp băng X với độ phân giải từ 1-16m, trước năm 2020. Rõ ràng là Hà Nội đã chọn hướng tiếp cận tăng dần đều, đi từ vệ tinh nhỏ đến lớn hơn và có hiệu suất cao hơn.
Căn cứ vào thực tế thì VNREDSat-1 mang một camera chụp ảnh có độ phân giải 2.5 m, chắc chắn không đáp ứng được tiêu chuẩn độ phân giải cao (1 m hoặc ít hơn) vốn là đặc điểm quan trọng của các vệ tinh quân sự. Điều này ngăn cản Việt Nam xác định và quan sát với độ chính xác cao các hoạt động diễn ra ở Biển Đông. Hạn chế của VNREDSat-1 và tình hình căng thẳng ngày càng gia tăng ở Biển Đông là chất xúc tác cho những kế hoạch tiếp theo. Vào tháng 10 năm 2014, Hà Nội ký thỏa thuận với Bỉ phát triển vệ tinh VNREDSAT-1B, dự kiến phóng lên quỹ đạo vào năm 2017. Tuy nhiên, không may là sau đó họ đã rút khỏi thỏa thuận này, theo sau sự đổ vỡ của các cuộc đàm phán kéo dài liên quan tới một điều khoản của hợp đồng.
Thoả thuận với Ấn Độ nhằm xây dựng một trạm theo dõi vệ tinh ở Việt Nam, cho phép Hà Nội truy cập vào dữ liệu từ cụm vệ tinh viễn thám dân sự và quân sự của Ấn Độ. Phải đối mặt với lỗ hổng về năng lực viễn thám cho đến khi vệ tinh hiệu quả hơn LOTUSat-2 đi vào hoạt động, Việt Nam có thể xem đây là một biện pháp thay thế tạm thời trong ngắn hạn để có được các dữ liệu quân sự hữu dụng và có độ chính xác cao hơn từ các vệ tinh của Ấn Độ như vệ tinh chụp ảnh bằng radar RISAT-2. Cho dù các quan chức Ấn Độ luôn khẳng định rằng RISAT-2 chỉ được dùng để phòng chống thiên tai, vệ tinh này hoàn toàn có khả năng quan sát các vật thể với kích thước nhỏ chỉ vào khoảng 10cm. Trong dài hạn, Hà Nội có thể đã cho rằng việc hợp tác với New Delhi tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu tối thượng của Việt Nam là giành được sự tự chủ về năng lực viễn thám vệ tinh.
Máy bay không người lái cho thấy tiến bộ ngày càng vững chắc hơn
So với vệ tinh, thiết bị bay không người lái (UAV) là lĩnh vực mà Việt Nam được cho là đã đạt được nhiều thành công, một phần không nhỏ bởi sự tiếp cận tương đối dễ dàng với những công nghệ lưỡng dụng thường thấy trong những thiết bị này. UAV đã trở thành một khía cạnh quan trọng trong kế hoạch phát triển năng lực ISR, và cũng rất chính đáng vì máy bay không người lái đã trở thành thứ vũ khí xuất hiện thường trực trong chiến tranh hiện đại. Thực tế là Việt Nam đã bắt đầu phát triển UAV từ khá lâu vào năm 1978 khi Viện Công nghệ không quân triển khai chương trình TL-1. HL-1, UAV quân sự chuyên dụng đầu tiên, được thiết kế dựa trên một nguyên mẫu của Pháp nhưng những hạn chế về tài chính khiến cho HL-1 chỉ mới hoàn thiện được một phần.
Trong những năm gần đây, Hà Nội đã có những bước đi nhằm hồi sinh chương trình UAV của mình. Từ năm 2010, họ đã hợp tác với tập đoàn hàng không vũ trụ Irkut của Nga để phát triển UAV. Hợp tác Nga-Việt về UAV được tăng cường vào tháng 3 năm 2012 với một thỏa thuận mới được ký giữa Hiệp hội Hàng không Vũ trụ Việt Nam (VASA) và Irkut để phát triển một UAV khối lượng nhỏ hơn 100kg với thời gian bay 16 giờ. Hợp đồng được cho là trị giá 10 triệu đôla và bao gồm chuyển giao công nghệ cho Việt Nam. Nhưng cũng rõ ràng rằng Hà Nội đang tìm cách đa dạng hóa nguồn cung cấp công nghệ UAV. Đáng chú ý hơn, vào tháng 12 năm 2012, VASA ký một thỏa thuận UAV với một công ty Thụy Điển, giai đoạn đầu bao gồm sự hỗ trợ từ phía Thụy Điển để bước đầu chế tạo 2 máy bay UAV Magic Eye-1, mỗi chiếc nặng 40kg và có thể ở trên không trong 6 giờ. Các giai đoạn tiếp theo bao gồm hợp tác kỹ thuật trong các thiết bị điện tử tích hợp trong UAV (như cơ chế lái tự động, camera) và hợp tác xuất khẩu.
Hà Nội dường như đã chọn một chiến lược hai mũi nhọn là cố gắng có được những hệ thống ngoại nhập đồng thời vận hành chúng thông qua chuyển giao công nghệ. Ít nhất năm mẫu UAV đã được thử nghiệm cho đến nay, trang bị các loại thiết bị chuyên dụng đa dạng. Tuy nhiên, không phải mọi nỗ lực đều dẫn đến thành công. Chẳng hạn như, cũng vào tháng 2 năm 2014 hải quân Việt Nam được cho là đã thảo luận với công ty Schiebel của Áo để mua máy bay UAV trực thăng S-100 Camcopter, dường như là được dùng để triển khai trên những tàu hộ tống SIGMA của Hà Lan mà Hà Nội được cho là đã đặt mua trước đó. Nhưng thương vụ tàu hộ tống đã thất bại, dù thật ra không có gì khó hiểu nếu chiếc UAV tương tự sẽ cất cánh từ các loại tàu chiến khác nếu Việt Nam kiên trì trong vụ mua bán này. Không nản lòng, Hà Nội vẫn kiên trì với chiến lược phát triển UAV hai mũi nhọn này, bắt đầu với các hệ thống chiến thuật được tối ưu hóa cho hoạt động ISR tầm ngắn trên chiến trường.
Chuyến bay thử thành công của chiếc AV.UAV.S2 nguyên mẫu trên bầu trời tỉnh Lâm Đồng thuộc Tây Nguyên vào tháng 5 năm 2013, được đưa tin trên truyền thông quốc gia Việt Nam là đã mở đường cho sự phát triển tiếp theo của chương trình UAV nhằm giải quyết “các nhiệm vụ cấp bách khác”. Sau đó vào tháng 2 năm sau, Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel đã ra mắt chiếc UAV chiến thuật Patrol VT được sản xuất trong nước, trang bị một bộ cảm biến hồng ngoại độ nét cao có khả năng chụp ảnh chất lượng cao trong phạm vi 600m. Khoảng bảy tháng sau, Việt Nam đưa vào trang bị UAV mini Orbiter-2 từ Israel. Nó ra mắt truyền thông Việt Nam vào tháng 12, yểm trợ cho buổi tập bắn đạn thật của lực lượng pháo binh phòng thủ bờ biển thuộc hải quân, trong đó nổi bật nhất là dàn rocket EXTRA do Israel sản xuất. Hà Nội có thể đã hài lòng với Orbiter-2 và do đó quyết định tiếp tục đặt mua thêm, đồng thời đặt hàng UAV Orbiter-3 lớn hơn có khả năng bay trong 7 giờ.
Nhưng những chiếc UAV chiến thuật như vậy thì có đặc thù khá bất lợi bởi thời gian bay và tải trọng hạn chế. Việt Nam rõ ràng đang tìm kiếm nhiều loại UAV mạnh mẽ hơn. Một cán bộ cấp cao chịu trách nhiệm về phát triển UAV tại Trung tâm khí cụ bay của Viettel tuyên bố vào tháng 6 năm 2013 rằng mục tiêu dài hạn của công ty là phát triển một chiếc UAV có khả năng bay trong 15-24 giờ đồng hồ. Về phía cạnh này, Việt Nam dường như đã hưởng lợi phần nhiều từ mối quan hệ kỹ thuật quân sự với Belarus, với một thương vụ mua UAV và một hiệp định phát triển chung được ký kết vào tháng 5 năm 2013. Rất có khả năng là HS-6L – một máy bay không người lái tầm bay cao, thời gian bay dài (HALE) được báo cáo vào tháng 12 năm 2015 – đã được phát triển với sự hỗ trợ của Belarus. Có phạm vi hoạt động 4000km và thời gian bay 35 giờ, chiếc UAV này sẵn sàng thực hiện các chuyến bay thử trên biển Đông trong quý 2 năm 2016.
Tuy lép vế so với Trung Quốc, Việt Nam vẫn kiên trì phát triển một hệ thống UAV có tầm hoạt động bao quát, tối ưu cho những nhiệm vụ chiến lược và chiến thuật quân sự đa dạng. Trong vòng không quá một thập niên, họ đã có những tiến bộ vượt bậc bởi một phần không nhỏ nhờ vào sự tiếp cận với công nghệ nước ngoài. Trong tương lai gần, Hà Nội sẽ có được một mức độ tự chủ nhất định về UAV để hoàn thiện một khía cạnh quan trọng tổng thể năng lực ISR.
Khoảng cách về sức mạnh ISR khó san lấp
Dù con đường mà Hà Nội chọn trong việc xây dựng khả năng ISR của mình cho đến nay là khá tốt và thực tế, nhưng rõ ràng là vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi một hệ thống ISR đa lớp hoàn thiện được được xây dựng cho hoạt động nhận thức biển (MDA) cũng như năng lực định vị ở Biển Đông. Có sự thiếu hụt lực lượng các thiết bị ISR bay có người lái, và đặc biệt là các loại máy bay kiểm soát và cảnh báo sớm trên không (AEW&C) và máy bay tuần tra trên biển.
Một chiếc máy bay AEW&C chủ yếu dành cho việc giám sát trên không và sở hữu chức năng thứ hai là giám sát biển nhưng những loại vũ khí như thế thường rất đắt. Máy bay tuần tra trên biển là sự thay thế tiếp theo, được tối ưu hóa cho nhiệm vụ giám sát trên biển. Hiện tại, các loại máy bay tuần tra và giám sát biển mà Việt Nam đang sở hữu như DHC-6 Guardian-400 của Canada và CASA-212 của Tây Ban Nha gặp bất lợi do các hạn chế về thời gian bay, trọng tải và tầm bay. Chỉ có các loại máy bay tuần thám biển lớn hơn mới có thể thực hiện các nhiệm vụ ISR phức tạp với độ chính xác về thời gian cao hơn, nếu xét tới vùng biển chủ quyền rộng lớn của Việt Nam.
Kể từ khi có tin Hà Nội thể hiện sự “quan tâm sâu sắc” với việc muốn mua các máy bay P-3C Orion từ Mỹ vào tháng 4 năm 2013, vẫn chưa có động thái kế tiếp nào được đưa ra dù rằng Washington đã nới lỏng phần nào cấm vận xuất khẩu vũ khí đối với Việt Nam vào tháng 9 năm 2010. Một chiến lược ít tốn kém hơn có thể là cải tiến máy bay vận chuyển tầm trung C-295 mới để thực hiện nhiệm vụ ISR. Nhưng những máy bay này dự định ban đầu là để thay thế các phi đội máy bay vận tải cánh cố định đã lỗi thời của Liên Xô, do đó không còn chiếc nào còn thừa ra cho quá trình chuyển đổi này.
Trong bất cứ trường hợp nào, việc Việt Nam chuyển trọng tâm từ việc hồi sinh vũ khí động năng trước đây sang hoạt động ISR hiện tại là một sự chuyển biến hợp lý. Đã đầu tư không ít vào máy bay phản lực, tên lửa, tàu chiến và tàu ngầm mới, Hà Nội rõ ràng nhận ra sự cần thiết phải chú ý hơn đến năng lực ISR. Những chương trình cải thiện năng lực ISR sắp tới của Việt Nam hướng đến xây dựng những thiết bị viễn thám từ vũ trụ và thiết bị bay không người lái vốn sẽ giúp củng cố thêm khả năng ISR “truyền thống” của Việt Nam hiện tại trên các loại vũ khí trên không, đất liền, dưới mặt nước và trên bờ biển.
Cuối cùng, việc phát triển một năng lực ISR toàn diện rốt cuộc sẽ cho phép Việt Nam tăng cường tiềm lực cho kho vũ khí của mình lên mức tối đa cho mục đích thực hiện các nhiệm vụ ngăn chặn và kiểm soát trên các vùng biển, thực tế là thực hiện chiến lược chống xâm nhập/chống tiếp cận (A2/AD) của riêng mình ở Biển Đông. Suy cho cùng các loại vũ khí mà Hà Nội nắm trong tay vẫn khá nhỏ về số lượng nếu so với Trung Quốc, như vậy một hệ thống ISR toàn diện sẽ đóng vai trò như một nhân tố quý giá giúp gia tăng sức mạnh.
Yadea là hãng xe máy điện lớn nhất của Trung Quốc. Từ năm 2019, hãng đã có nhà máy đầu tiên ở tỉnh Bắc Giang của Việt Nam và hiện nay Việt Nam là thị trường nước ngoài lớn nhất của hãng.
Bản đồ trên hệ thống website của Yadea Việt Nam hiển thị sai tên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Mức giá phù hợp, sản phẩm phong phú, trang bị một số tính năng khá hiện đại so với các loại xe điện cùng phân khúc, Yadea được cho là bán chạy trên thị trường Việt Nam.
Bán chạy thì mừng cho Yadea chứ sao? Tất nhiên rồi. Tuy nhiên, một khi Yadea vướng vào sự cố truyền thông như vừa qua, câu chuyện có thể lại ngả theo một chiều hướng khác.
Nhắc lại chút về sự cố truyền thông liên quan đến Yadea. Cũng như các hãng hàng hóa khác, Yadea quan tâm xây dựng trang web phục vụ cho việc kinh doanh. Trong thực tế, nhiều khách hàng thường truy cập vào trang web của Yadea để tìm hiểu hệ thống phân phối sản phẩm, mẫu mã, giá, chế độ hậu mãi…Đương lúc mọi thứ đang hanh thông, vui vẻ, thì ngày 18-5-2024, không ít người Việt Nam đã tá hỏa khi phát hiện bản đồ ghi tên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ bằng duy nhất tiếng Hoa – lần lượt là Tây Sa và Nam Sa.
Chuyện không chỉ nhạy cảm mà còn tày trời bởi Hoàng Sa và Trường Sa là hai cái tên mà dư luận biết tới như hai điểm nóng trong khu vực Biển Đông. Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc cưỡng chiếm năm 1974. Còn Trường Sa – câu chuyện còn có phần phức tạp hơn khi tranh chấp chủ quyền quần đảo này liên quan tới “5 nước, 6 bên” bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và vùng lãnh thổ Đài Loan. Hiện tại, trừ Brunei, mỗi “bên” còn lại đều chiếm giữ một số điểm đảo, đá, trong đó, Việt Nam nhiều nhất.
Việt Nam kiểm soát nhiều hơn chẳng phải nước này nhanh chân hay nhanh tay. Điều cơ bản, xét về luật pháp quốc tế, Việt Nam mạnh lý hơn các bên còn lại trong việc khẳng định chủ quyền với quần đảo Trường Sa. Chính thế, cùng với kế thừa quyền quản lý từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, sau năm 1975, nhà nước Việt Nam đã thực thi chủ quyền chính đáng qua việc quản lý thêm một số đá, bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa, đưa tổng số điểm đảo mà quốc gia này kiểm soát lên con số 21.
Dường như biết mình yếu lý, cái lý của mình không thuyết phục được ai, kể cả Tòa án Trọng tài (PCA) trong câu chuyện Biển Đông, từ nhiều năm nay, Bắc Kinh dùng mọi cách, tận dụng mọi thứ có thể để khẳng định yêu sách “đường 9 đoạn” độc chiếm Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Một trong những phương châm của họ là làm cho dư luận quen; từ quen đến chấp nhận Biển Đông là của Trung Quốc.
Chính thế, “đường 9 đoạn” mà dư luận gọi là “đường lưỡi bò” để mỉa mai lòng tham của Trung Quốc, ngoài hiện diện thường xuyên trên báo chí, nhiều trường hợp còn “chui” vào các diễn đàn khoa học; in trên hộ chiếu, áo phông để theo khách du lịch Trung Quốc đi tứ xứ.
Thậm chí, Trung Quốc dùng món lợi kinh tế để chi phối, đưa đường lưỡi bò vào các bộ phim như “Điệp vụ Biển Đỏ”, “Everest Người tuyết bé nhỏ”; và cả phim “Barbie” – bộ phim do Warner Bros – một trong những hãng phim lớn nhất Hollywood, sản xuất; lợi dụng sự sơ hở của các nhà quản lý để các bộ phim trên vào được một số nhà rạp Việt Nam, trong đó có hệ thống rạp CGV.
Tất nhiên, khi phát hiện, các phim trên lập tức bị khán giả Việt Nam tẩy chay, phải rút khỏi rạp.
Liên quan sản phẩm hàng hóa, đường lưỡi bò cũng từng in trên quả địa cầu và lên một số sàn giao dịch điện tử phân phối cho học sinh. Chưa lâu, cũng “lưỡi bò” cùng bị phát hiện đã lẻn vào cả hệ thống bán lẻ của hãng H&M tại Hà Nội, TP.HCM và một số thành phố lớn.
Ngỡ sau các trường hợp bị dư luận phê phán, tẩy chay, các cơ sở bán hàng “chừa hẳn”. Vậy mà không, “đùng” cái, nay lại đến chuyện trang web của Yadea treo bản đồ ghi tên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ bằng duy nhất tiếng Hoa – lần lượt là Tây Sa và Nam Sa.
Điều khác thường, ngược với tình huống trên, là: cùng bản đồ trên web của Yadea, các địa danh khác của Việt Nam đều chú bằng cả hai thứ tiếng Hoa và Việt Nam; và bản đồ này chỉ xuất hiện nếu dùng địa chỉ IP từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam để truy cập. Nếu truy cập từ trong lãnh thổ Việt Nam thì lại không thấy…
Trước phản ứng quyết liệt của các cơ quan chức năng và dư luận Việt Nam, chiều ngày 20-5, đại diện hãng Yadea đã lên tiếng xin lỗi về cái mà họ gọi là “sơ xuất”; đồng thời, hứa sẽ “rà soát thật chặt chẽ để đảm bảo sự việc tương tự không xảy ra trong tương lai”. Tuy nhiên, điều khác thường nêu trên đã khiến dư luận nghĩ tới khả năng đây không thể là sơ xuất, mà do “ban biên tập” web của hãng Yadea chủ trương và tính toán kỹ.
Nếu thật thế, là một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, hành vi đó của Yadea có thể ví như “đùa với lửa”. Bởi với mọi người dân Việt Nam, Trường Sa và Hoàng Sa là phần lãnh thổ thiêng liêng và máu thịt, không thể là của ai khác.