Theo Kyodo, các nguồn thạo tin quan hệ Nhật-Trung ngày 21/11 cho biết, Nhật Bản năm 2016 từng lên kế hoạch điều tàu phòng vệ vào một khu vực mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông để đáp trả động thái tương tự của Trung Quốc ở vùng biển của Nhật Bản về phía Bắc.
Tuy nhiên, theo các nguồn tin trên, kế hoạch mà Nhật Bản xem là „chiến dịch tự do hàng hải“ do Hải quân Mỹ tiến hành ở Biển Đông, đã không bao giờ được thực hiện, do lo ngại rằng thúc đẩy động thái này sẽ làm phương hại nghiêm trọng quan hệ song phương.
Hôm 9/6/2016, một tàu của hải quân Trung Quốc đã lần đầu tiên đi vào vùng biển ngay bên ngoài vùng lãnh hải 12 hải lý quanh quần đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư.
Một tàu hải quân của Trung Quốc đi vào vùng lãnh hải gần đảo Kuchinoerabu vào tháng 6/2016. (Nguồn: Japan Times)
Sau đó 6 ngày, một tàu hải quân khác của Trung Quốc đã đi vào vùng lãnh hải gần đảo Kuchinoerabu.
Theo một quan chức quốc phòng cấp cao, Chính phủ Nhật Bản xem những hành động này của Trung Quốc là dấu hiệu leo thang ở mức độ cao hơn, đòi hỏi phải có sự đáp trả mới.
Sau đó, các quan chức trong cơ quan an ninh quốc gia Nhật Bản đã bắt đầu xem xét các biện pháp đáp trả khả thi, trong đó tính cả vụ tàu hải cảnh Trung Quốc đã xâm phạm vùng biển quanh Senkaku/Điếu Ngư.
Một biện pháp đáp trả do cơ quan tham mưu về biển thuộc Bộ Quốc phòng Nhật Bản vạch ra liên quan đến việc điều một tàu của Lực lượng Phòng vệ trên biển đi qua khu vực mà Trung Quốc xem là vùng lãnh hải của Bắc Kinh quanh một đảo nhân tạo ở Biển Đông.
Tuy nhiên, kế hoạch này chưa bao giờ được thực hiện do chính phủ dưới thời của thủ tướng khi đó là ông Abe Shinzo đang thực hiện các động thái ngoại giao nhằm cải thiện quan hệ Nhật-Trung trong bối cảnh thúc đẩy thực hiện chuyến công du đầu tiên của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Nhật Bản.
TGVN. Bài viết mới đây trên tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (SCMP) cho rằng Mỹ muốn đối đầu trực diện với Trung Quốc về vấn đề đánh bắt cá trái phép ở Biển Đông.
Theo trang mạng tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (SCMP), Mỹ muốn mạnh tay hơn với Trung Quốc liên quan đến vấn đề đánh bắt cá trái phép ở Biển Đông. Các học giả ASEAN tỏ ra thận trọng khi đánh giá về thái độ của các nước thành viên Hiệp hội đối với các động thái của Mỹ.
SCMP dẫn lời giới phân tích giải thích rằng các nước trong khu vực Đông Nam Á sẽ „hồ hởi“ hoan nghênh động thái trên của Washington, song họ không muốn Mỹ triển khai lực lượng thực thi pháp luật được trang bị vũ khí để đối đầu với Trung Quốc trong vấn đề này vì lo ngại sẽ kích động các cuộc xung đột quy mô lớn hơn tại vùng lãnh hải tranh chấp.
“Lọt lưới” thủ phạm hàng đầu
SCMP dẫn báo cáo của Liên hợp quốc cho biết Trung Quốc đứng đầu thế giới về số vụ đánh bắt hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát (IUU).
Với đội tàu đánh cá lên đến khoảng 800.000 chiếc, Trung Quốc đã khai thác cạn kiệt nguồn đánh bắt cá nội địa của họ từ lâu.
Mỹ cứng rắn hơn với nạn đánh bắt cá trái phép ở Biển Đông, nhắm mục tiêu vào Trung Quốc. (Nguồn: Bloomberg)
Mặc dù vậy, trong khi các quốc gia nhỏ hơn vẫn buộc phải tuân thủ nghiêm các tiêu chuẩn quốc tế và luật biển thì Trung Quốc hiện đang không bị ràng buộc bởi các hình phạt của quốc tế.
Năm 2010, Liên minh châu Âu (EU) đã triển khai một hệ thống thực thi gián tiếp và có hiệu quả trong việc thúc đẩy những thay đổi sâu rộng ở nhiều quốc gia về tội đánh bắt cá bất hợp pháp.
Theo SCMP, hiện hệ thống đó chỉ được áp dụng với các quốc gia và nền kinh tế không thể thách thức châu Âu. Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Philippines và Đài Loan (Trung Quốc) đều đã nhận “thẻ vàng” hoặc “thẻ đỏ”. Trong khi đó, Trung Quốc thoát khỏi mọi chỉ trích dù nước này tiến hành thường xuyên và rộng rãi hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp.
Mỹ mạnh tay hành động
Tháng 5/2020, chính quyền Mỹ đã đưa ra một số chính sách tạo tiền đề cho cuộc đối đầu trực diện với quốc gia được cho là đánh bắt cá bất hợp pháp số 1 thế giới.
Theo đó, chính quyền Mỹ đã ban hành một lệnh hành pháp “Thúc đẩy năng lực cạnh tranh thủy sản của Mỹ và tăng trưởng kinh tế”.
Sau khi ban hành lệnh hành pháp trên, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã ra một tuyên bố báo chí về việc đội tàu đánh cá khổng lồ của Trung Quốc đã đánh bắt 73.000 giờ dọc theo vùng đặc quyền kinh tế của Ecuador từ tháng 7-8/2020.
Ông Pompeo chỉ ra việc Trung Quốc trợ cấp cho đội tàu đánh cá thương mại lớn nhất thế giới cũng như việc các hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của Trung Quốc đã bị dư luận nhiều nơi chỉ đích danh, đặc biệt là lời kêu gọi cộng đồng quốc tế phản đối việc Trung Quốc coi thường pháp quyền và bảo vệ môi trường.
Tháng 9/2020, Lực lượng Tuần duyên Mỹ đã công bố Triển vọng chiến lược IUU của riêng mình, gọi hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát là “mối đe dọa an ninh hàng hải toàn cầu hàng đầu”.
Trong lời kêu gọi “Chống lại hành vi nhà nước mang tính trấn lột và vô trách nhiệm”, Trung Quốc là quốc gia duy nhất bị đề cập cụ thể trong báo cáo, trong đó nêu rõ các hành vi vi phạm chủ quyền và luật pháp quốc tế cũng như yêu cầu Bắc Kinh thực hiện trách nhiệm phù hợp.
Tháng 10/2020, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Robert O’Brien tuyên bố Lực lượng Tuần duyên Mỹ sẽ triển khai các tàu phản ứng nhanh mới nhất ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương để kiểm soát việc đánh bắt cá trái phép của Trung Quốc.
Tiếp đó, trung tuần tháng 11/2020, ông David Feith, Phó Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách chính sách khu vực và an ninh cùng các vấn đề đa phương tại Vụ Các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ, cho biết Washington sẽ gia tăng số lượng thỏa thuận “cho phép nhân viên chấp pháp lên tàu” để hỗ trợ các nước chống lại hành vi gây hấn của Trung Quốc (thỏa thuận này cho phép nhà chức trách của một quốc gia được phép lên các tàu thực thi pháp luật hoặc máy bay của quốc gia khác khi đang tuần tra).
Ngày 24/11, Craig Hart, Phó Trợ lý quản trị viên của Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) ở khu vực châu Á, cho biết, năm 2021, USAID sẽ khởi động chương trình kéo dài 5 năm về quản lý nghề cá ven biển bền vững trị giá 15 triệu USD để “giải quyết một số nguyên nhân dẫn đến hoạt động đánh bắt cá trái phép, không báo cáo và không được quản lý (IUU) đang làm suy giảm nghề cá ven biển hiện nay”.
Ngày 25/1, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết Washington đang chi 200 triệu USD cho các chương trình dành cho các quốc đảo nhỏ nhằm chống lại “hành vi có vấn đề” của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương. Sandra Oudkirk, Phó Trợ lý ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, cho biết những chương trình này sẽ hỗ trợ tiền cho các quốc gia như Palau và Papua New Guinea để thúc đẩy phát triển và bảo vệ ngành đánh bắt cá của họ trước sự cạnh tranh không chính đáng từ Trung Quốc.
Bộ Quốc phòng Mỹ đã có các cuộc đàm phán với các nhà lãnh đạo của Palau và Papua New Guinea về khả năng thiết lập sự hiện diện của quân đội Mỹ tại quốc gia của họ.
Lực lượng bảo vệ bờ biển của Mỹ cũng tăng cường sự hiện diện trong khu vực, triển khai thêm tàu chiến phản ứng nhanh mới nhất đến Guam để giúp kiểm soát các hoạt động đánh bắt hải sản.
Học giả ASEAN thận trọng
Theo SCMP, giới phân tích cho rằng các nước ASEAN hoan nghênh động thái của Mỹ xúc tiến chiến lược kiểm soát tình trạng đánh bắt cá bất hợp pháp ở Biển Đông, nhưng lo ngại về khả năng việc “quân sự hóa” hoạt động thực thi pháp luật sẽ gây căng thẳng ở khu vực Biển Đông.
Theo một báo cáo năm 2015 được tổ chức tư vấn nội bộ của Nghị viện châu Âu công bố, 10 nước ASEAN chiếm khoảng 1/5 sản lượng hải sản toàn cầu và xuất khẩu hải sản từ khu vực này có giá trị 11 tỷ USD trong năm 2015.
Trong khi đó, theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc, hoạt động khai thác IUU toàn cầu ước tính trị giá 23,5 tỷ USD hàng năm.
Số liệu của Viện Phát triển hải ngoại (ODI, có trụ sở tại London, Anh) cho biết đội tàu đánh cá xa bờ của Trung Quốc lên tới 17.000 chiếc, trong đó, ít nhất 183 tàu được cho là tham gia các hoạt động đánh bắt cá trái phép. Vì vậy, việc giám sát tất cả số tàu này trên toàn cầu gần như không thể.
Giáo sư Tabitha Mallory, chuyên gia về chính sách đối ngoại và môi trường Trung Quốc tại Đại học Washington, khẳng định các nước đang phát triển khó có thể giám sát được các vùng biển ven bờ: “Trung Quốc đánh bắt cá ở những nước không có khả năng giám sát tốt vùng biển ven bờ của họ. Đối với các nước đang phát triển, các tàu tuần duyên và nhiên liệu cho các tàu tuần tra đó thường rất đắt”.
TGVN. Ngày 26/11, theo thông cáo báo chí từ Văn phòng Thủ tướng Australia, Thủ tướng Scott Morrison đã họp trực tuyến với Chủ tịch Hội đồng châu Âu Charles Michel và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen.
Thủ tướng Australia họp trực tuyến với các nhà lãnh đạo châu Âu, bày tỏ quan ngại về các hành động đơn phương và gây bất ổn ở Biển Đông. (Nguồn: Getty Images)
Theo đó, các bên đã nhất trí tăng cường hợp tác để thúc đẩy lợi ích chung về an ninh và thịnh vượng ở châu Á-Thái Bình Dương, trong đó đề cao tôn trọng luật pháp quốc tế trong vấn đề Biển Đông.
Các nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác để thúc đẩy lợi ích chung về an ninh và thịnh vượng ở châu Á và Thái Bình Dương, bao trùm khắp Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Thông cáo cũng cho biết: „Các nhà lãnh đạo bày tỏ quan ngại nghiêm túc về các hành động đơn phương và gây bất ổn ở Biển Đông và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS)“.
Một tập đoàn nhà nước của Trung Quốc đã giành được hợp đồng xây dựng hạng mục quan trọng của sân bay quốc tế ở thủ đô Phnom Penh của Campuchia.
Hãng tin Nikkei ngày 23/11 đưa tin, Tập đoàn Luyện kim Trung Quốc (MCC) đã giành được hợp đồng trị giá 405 triệu USD để thiết kế và thi công hạng mục chính của dự án sân bay mới ở Phnom Penh. Đây là dự án có tổng mức đầu tư lên tới 1,5 tỷ USD mà Trung Quốc chi gần như toàn bộ vốn đầu tư.
Sân bay này là một phần trong chiến lược của chính phủ Campuchia nhằm thúc đẩy ngành du lịch trong bối cảnh một số dự án khác trong đó có khu nghỉ dưỡng gần Angkor Wat đối mặt với sự hoài nghi về tính khả thi trong dài hạn.
Với MCC, hợp đồng trên là một chiến thắng mang ý nghĩa quan trọng. Đó là hợp đồng nước ngoài lớn nhất kể từ đầu năm nay của tập đoàn này. Đại dịch Covid-19 đã làm giảm đáng kể dự án ở nước ngoài của MCC trong năm nay. MCC chủ yếu dựa vào các dự án nội địa. MCC và các công ty con đã có một số dự án ở Campuchia, trong đó có dự án phát triển vùng duyên hải gây tranh cãi.
Ngoài MCC, một số đơn vị khác cũng tham gia vào dự án, trong đó có Công ty Kỹ thuật Xây dựng Nhà nước Trung Quốc và công ty Foster & Partners của Anh chịu trách nhiệm thiết kế.
Sân bay Phnom Penh mới có diện tích khoảng 700 hecta sẽ do Công ty Đầu tư Nước ngoài Campuchia OCIC quản lý. Công ty này đã đầu tư 280 triệu USD và nắm khoảng 90% cổ phần dự án trong khi Cơ quan quản lý hàng không dân dụng Campuchia sở hữu 10% còn lại. Sân bay dự kiến sẽ khai thác giai đoạn đầu vào năm 2023.
Lý do cho chuyến thăm của Chuẩn Đô đốc Michael Studeman đến Đài Loan hiện vẫn là một “bí ẩn” đối với công chúng.
Theo Taiwan News, máy bay đưa Đô đốc Hải quân Mỹ Michael Studeman đến Đài Loan ba ngày trước đã rời khỏi sân bay Tùng Sơn lúc 7:10 tối thứ Ba (24/11).
Các nguồn tin của Reuters trước đó cho biết Chuẩn Đô đốc Michael Studeman, người đứng đầu bộ phận tình báo tại Bộ Chỉ huy Ấn Độ – Thái Bình Dương của quân đội Hoa Kỳ, đã đến Đài Bắc trên máy bay này vào hôm Chủ nhật.
Chuyến đi bí mật này đã đưa ông Studeman trở thành một trong những sĩ quan quân đội cấp cao nhất của Hoa Kỳ đến thăm Đài Loan trong những năm gần đây, CNA đưa tin.
Mặc dù Bộ Ngoại giao Đài Loan (MOFA) xác nhận vào Chủ nhật về chuyến viếng thăm, cả chính phủ Đài Loan và Hoa Kỳ đều không tiết lộ thêm chi tiết. Tại cuộc họp báo thường kỳ vào sáng thứ Ba, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Joanna Ou chỉ nói rằng hai nước thường xuyên trao đổi hợp tác hữu nghị.
Bà Ou cho biết MOFA luôn chào đón các quan chức Mỹ đến Đài Loan. Tuy nhiên, bà cho biết Bộ sẽ không xác nhận, giải thích hay bình luận về chuyến thăm.
Hôm 23/11, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố nước này sẽ đáp trả chuyến thăm của đô đốc Hải quân Mỹ đến Đài Loan và kiên quyết phản đối bất kỳ mối quan hệ quân sự nào giữa Đài Bắc và Washington.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Triệu Lập Kiên kêu gọi Mỹ “hoàn toàn thừa nhận mức độ nhạy cảm cực độ của vấn đề Đài Loan.”
“Phía Trung Quốc, tùy theo tình hình phát triển như thế nào, sẽ đưa ra phản ứng hợp pháp và cần thiết”, ông Triệu nói nhưng không tiết lộ thêm chi tiết.
Cơ quan phòng vệ Đài Loan ngày 9-11 xác nhận Thủy quân lục chiến Mỹ đã đến Đài Loan ‚huấn luyện‘ cho các binh sĩ trên đảo nhưng không nói rõ số lượng. Đây là lần đầu tiên Đài Loan công khai có lính Mỹ trên đảo.
Trang Taiwan News dẫn thông báo của Cơ quan phòng vệ Đài Loan cho biết việc „huấn luyện“ sẽ kéo dài trong 4 tuần, bắt đầu từ ngày 9-11.
Phía Đài Loan cho biết hoạt động lần này chỉ là các trao đổi quân sự „bình thường“ giữa Washington và Đài Bắc, song nhấn mạnh mục đích cuối cùng nhằm „duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực“.
Trong thời gian huấn luyện, các đặc nhiệm của Thủy quân lục chiến Mỹ sẽ hướng dẫn Thủy quân lục chiến Đài Loan và Phân đội đặc nhiệm đổ bộ các khóa học về hoạt động xâm nhập bằng tàu cao tốc tại căn cứ Tả Doanh Cao Hùng.
Tham gia hoạt động „huấn luyện“ lần này là các binh sĩ thuộc đặc nhiệm Raider trong Thủy quân lục chiến Mỹ. Đây là lực lượng rất tinh nhuệ, có quân số chỉ khoảng 8.000 người với lịch sử thành lập từ Thế chiến thứ 2.
Taiwan News khẳng định đây là lần đầu tiên kể từ năm 1979 Cơ quan phòng vệ Đài Loan công khai xác nhận sự hiện diện của Thủy quân lục chiến Mỹ trên hòn đảo này. Thông cáo không nói rõ có bao nhiêu lính đặc nhiệm Mỹ tới Đài Loan lần này.
Mỹ thường gửi các đơn vị nhỏ gồm các binh sĩ tinh nhuệ thuộc các nhánh khác nhau trong lực lượng vũ trang tham gia các nhiệm vụ huấn luyện chung với Đài Loan. Tuy nhiên chính quyền Đài Loan hiếm khi lên tiếng xác nhận hoặc phủ nhận và thường để thông tin ở dạng suy đoán của truyền thông.
Động thái diễn ra trong bối cảnh cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vừa bước qua giai đoạn hồi hộp. Truyền thông Mỹ hôm 7-11 đã tuyên bố ứng viên Đảng Dân chủ Joe Biden là tổng thống đắc cử, đương kim Tổng thống Donald Trump là người thua cuộc.
Hiện Trung Quốc vẫn chưa phản ứng trước sự xuất hiện của lính Mỹ tại Đài Loan.
Quan hệ giữa Mỹ và Đài Loan trở nên nồng ấm hơn bao giờ hết dưới thời ông Trump. Các hợp đồng vũ khí liên tục được xúc tiến khi ông Trump lên nắm quyền. Trong khi đó, dưới thời ông Barack Obama mà ông Biden là phó tổng thống, Mỹ dè dặt trong quan hệ với Đài Loan và hạn chế bán vũ khí cho vùng lãnh thổ này để tránh các phản ứng của Trung Quốc.
Bắc Kinh xem Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời và đặc biệt phản đối các cuộc trao đổi, tiếp xúc của Washington với Đài Bắc. Mỹ không có quan hệ chính thức với Đài Loan kể từ năm 1979 nhưng vẫn duy trì việc cung cấp vũ khí dựa trên một đạo luật của nước này.
Sau khi đi qua eo biển Đài Loan, khu trục hạm Mỹ USS Barry đã trở lại Biển Đông ngày 21.11 nhằm “thực hiện hoạt động duy trì an ninh hàng hải và thúc đầy hòa bình và ổn định ở khu vực”.
“Sự hiện diện liên tục ở Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Việc tất cả các nước được hoạt động trong vùng biển quốc tế rất quan trọng. Việc tàu USS Barry đi qua eo biển Đài Loan hôm qua (21.11) đảm bảo quyền này và dần củng cố niềm tin của tất cả các nước có hoạt động thương mại và liên lạc ở Biển Đông”, sĩ quan chỉ huy tàu USS Barry Chris Gahl nhấn mạnh trong thông cáo được đăng trên website của Hạm đội Thái Bình Dương (Mỹ).
Đây là lần thứ 5 từ đầu năm đến nay tàu USS Barry được triển khai đến hoạt động ở Biển Đông. “Hồi tháng 4, tàu USS Barry tiến hành hoạt động duy trì tự do hàng hải xung quanh quần đảo Hoàng Sa và sau đó cùng nhóm tấn công viễn chinh (do tàu đổ bộ Mỹ) USS America (dẫn đầu) hoạt động ở Biển Đông. Dù hoạt động một cách độc lập hay thuộc một nhóm lớn hơn, tàu USS Barry phục vụ như là biểu tượng của lực lượng Mỹ hùng hậu có thể triển khai để đánh bại sự hung hăng”, sĩ quan về kế hoạch và chiến thuật của tàu USS Barry Timothy Baker cho hay.
Tàu USS Barry cũng thuộc đội tàu khu trục 15, đội tàu khu trục lớn nhất của Mỹ và lâu nay duy trì sự hiện diện liên tục ở Biển Đông. USS Barry là tàu khu trục lớp Arleigh Burke, được trang bị hệ thống tác chiến điện tử AN/SLQ-32, tên lửa hành trình Tomahawk và nhiều loại vũ khí khác.
Trả lời phỏng vấn của truyền thông hôm 20/11, luật sư Sidney Powell thuộc nhóm pháp lý trong đội ngũ tranh cử của Tổng thống Trump cho biết, trong máy chủ của Scytl ở Đức mà quân đội Mỹ nắm được, đã phát hiện 4 nước đối địch tham gia can thiệp bầu cử.
Bầu cử Mỹ năm 2020 đã sử dụng máy bỏ phiếu Dominion tại một số bang quan trọng, ngày càng có nhiều chứng cứ khiến ngoại giới lo lắng liệu có tồn tại gian lận máy móc hay không.
Công ty bỏ phiếu trực tuyến Scytl của Tây Ban Nha đã cung cấp cho Dominion dịch vụ lập bảng cho cuộc bầu cử Mỹ. Có thông tin rằng máy chủ của Scytl ở Frankfurt – Đức, có chứa tất cả dữ liệu của cuộc bầu cử Mỹ. Chúng được gửi ra nước ngoài vào đêm bầu cử 3/11.
Hôm 20/11, bà Sidney Powell nói trong chương trình Triumph Radio & Glenn Beck’s:“Máy chủ Scytl ở Đức bị tịch thu, tôi nghe nói là quân đội của chúng ta đã lấy được những máy chủ đó. Do đó, tôi cho rằng hiện tại chính phủ đang điều tra rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì”.
“Chúng tôi cũng có chứng cứ cho thấy, có 4 quốc gia liên kết đến máy chủ này, và 4 quốc gia này là cực kỳ thù địch với lợi ích quốc gia của Mỹ”, bà Sidney Powell nói.“Chúng tôi đã lôi ra một âm mưu phạm tội mang tính toàn cầu. Thật khó mà tin được, chúng tôi chỉ là mới xé được một phần nổi của tảng băng trôi”.
Trong cuộc họp báo của đội ngũ chiến dịch tranh cử của Tổng thống Trump hôm 19/11, bà Sidney Powell nói, dữ liệu bầu cử của Mỹ bị gửi đến máy tính ở nước ngoài, máy bỏ phiếu Dominion và phần phềm kiểm phiếu Smartmatic mà Mỹ sử dụng do tập đoàn lợi ích ở nước ngoài kiểm soát, điều khiển thuật toán để thay đổi kết quả bầu cử.
Bà Sidney Powell đặc biệt chỉ ra, người sở hữu của Smartmatic bao gồm 2 người Venezuela, có liên hệ với chính quyền độc tài Hugo Chavez và Nicolas Maduro của quốc gia này; còn “Quỹ Chủ nghĩa Cộng sản” đến từ Cuba, Venezuela và Đảng Cộng sản Trung Quốc rất có khả năng được dùng để ảnh hưởng đến bầu cử Mỹ.
Cuba, Venezuela và Trung Quốc đều là quốc gia hệ tư tưởng chủ nghĩa Cộng sản / chủ nghĩa xã hội.
Tweet của bà Sidney Powell đặt nghi vấn, ai đã đưa phần cho Venezuela
Tối ngày 20/11, bà Sidney Powell đã đặt nghi vấn trên mạng xã hội Twitter: “Hệ thống bỏ phiếu Dominion thực chất chỉ là một vector. Có một số vấn đề lớn: 1. Ai đã phát triển phần mềm này? 2. Ai đã đưa phần mềm này cho Venezuela? 3. Ai trao quyền xuất khẩu phần mềm này sang các nước khác? Hãy tìm Quy định Kiểm soát Xuất khẩu.”
Sau đó, bà Sidney Powell tiếp tục đăng một tweet liên quan: “Có lẽ bạn không có chút đầu mối nào, nhưng bạn sẽ rất nhanh tìm ra đáp án!” Dòng tweet này được đính kèm hashtag cựu Tổng thống Obama, cựu giám đốc CIA John Brennan, và cựu giám đốc tình báo Clapper.
Bộ trưởng Hải quân Mỹ vừa nói về kế hoạch thành lập một hạm đội mới ở nơi giao nhau giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Giới phân tích cho rằng Mỹ sẽ không những không giảm, mà sẽ tăng cường hiện diện ở châu Á để đối phó với Trung Quốc.
“Chúng ta không thể chỉ dựa vào Hạm đội 7 ở Nhật Bản”, USNI dẫn lời ông Kenneth Braithwaite phát biểu tại hội nghị chuyên đề thường niên của Liên đoàn tàu ngầm hải quân Mỹ hôm 17/11.
“Chúng tôi muốn xây dựng một hạm đội được đánh số mới. Và chúng tôi muốn đặt hạm đội đó ở nơi giao nhau của Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, và chúng ta sẽ có dấu chân của Bộ Tư lệnh Ấn Độ – Thái Bình Dương”, ông Braithwaite nói.
“Chúng ta phải trông cậy vào các đồng minh và đối tác như Singapore, như Ấn Độ, và việc đặt một hạm đội ở đó sẽ cực kỳ phù hợp…Hạm đội đó sẽ tạo nên năng lực răn đe ghê gớm hơn nhiều”, ông nói thêm.
Ông Braithwaite cho biết ông chưa thảo luận với quyền bộ trưởng Quốc phòng Christopher Miller về kế hoạch này, nhưng đã bàn với nhiều người khác.
Ông nhấn mạnh rằng chỉ riêng Mỹ không thể đối phó với Trung Quốc, và các nước Thái Bình Dương ở khắp thế giới cần hỗ trợ để đẩy lùi Bắc Kinh về kinh tế và quân sự.
Phát biểu của ông Braithwaite được đưa ra khi Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đăng lên Twitter bức ảnh nhóm tàu sân bay USS Nimitz tham gia đợt hai của chiến dịch tập trận Malabar cùng với hải quân các nước Úc, Ấn Độ và Nhật Bản, hôm 17/11. Bốn quốc gia này tạo nên nhóm Bộ tứ mà Trung Quốc coi như NATO ở châu Á.
Cảnh báo thẳng thừng
Các nhà phân tích nói rằng kế hoạch thành lập hạm đội mới là tín hiệu gửi đến Trung Quốc rằng, Mỹ sẽ không rời đi, mà còn đến gần hơn với khu vực, trong bối cảnh sự chuyển giao quyền lực ở Mỹ đang đặt ra câu hỏi về vai trò của Washington ở khu vực.
“Nó gửi đi tín hiệu rằng chúng ta vẫn ở đây và đó không chỉ là lời nói mà cả hành động”, TS Aparna Pande, giám đốc Sáng kiến tương lai Ấn Độ và Nam Á thuộc Viện nghiên cứu Hudson ở Washington, nói với Straitstimes.
“Sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Ấn Độ – Thái Bình Dương có thể được thấy qua sự tiến triển dần dần: từ tuần tra tự do hàng hải trên biển Đông đến xây dựng năng lực cho các đồng minh; Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương trở thành Bộ Tư lệnh Ấn Độ – Thái Bình Dương; những thoả thuận hậu cần với các nước ở khu vực, trong đó có Ấn Độ; và tuần này diễn ra đợt tập trận Malabar với Bộ tứ”, TS Pande nói.
Ông Derek Grossman, nhà phân tích quốc phòng tại hãng nghiên cứu RAND, viết trên Twitter rằng hải quân Mỹ có kế hoạch “tăng gấp đôi phần „Ấn Độ Dương“ trong cụm Ấn Độ – Thái Bình Dương”.
“Nếu hải quân Mỹ xúc tiến việc thành lập Hạm đội 1 ở Ấn Độ Dương, điều đó sẽ tái khẳng định rằng Washington tiếp tục nhìn chiến lược châu Á qua lăng kính Ấn Độ – Thái Bình Dương, chứ không chỉ tập trung vào Tây Thái Bình Dương”, ông Grossman nói với Straits Times.
“Mỹ có thể tìm cách tận dụng Ấn Độ Dương để thực hiện chiến lược cạnh tranh và đẩy lùi Trung Quốc, và quan trọng hơn là Ấn Độ ngày càng thiên về cách làm đó”, ông Grossman đánh giá.
Hạm đội 7 của Mỹ ở Nhật Bản hiện nay phụ trách một khu vực rộng lớn, xuống đến cả biên giới Ấn Độ – Pakistan. Bổ sung thêm Hạm đội 1 sẽ giúp giảm bớt công việc của Hạm đội 7, đồng thời giúp tư lệnh của hai hạm đội chú ý nhiều hơn đến các nhóm đồng minh và đối tác cũng như không gian địa lý nhỏ hơn. Ông Braithwaite chưa tiết lộ thông tin cụ thể nào về sức mạnh của Hạm đội 1 trong kế hoạch, hay cách thức hoạt động của hạm đội này có khác biệt hay sẽ phối hợp với Hạm đội 7.
Trong một diễn biến khác, hôm 17/11, Mỹ đưa 2 máy bay ném bom tầm xa vào vùng nhận diện phòng không (ADIZ) mà Trung Quốc lập ra trên biển Hoa Đông, trong lúc hải quân Trung Quốc đang tiến hành tập trận trên biển.
Cựu Tổng thống Barack Obama hôm thứ Năm (19/11) nói trên kênh ABC rằng: “Chúng ta có thể luôn luôn điều động biệt kích Hải quân SEAL” để trục xuất Tổng thống Donald Trump khỏi Tòa Bạch Ốc.
Ông Obama hôm 19/11 có mặt trong chương trình “Jimmy Kimmel Live” của người dẫn chương trình có quan điểm cánh tả cấp tiến Jimmy Kimmel với mục đích chính là quảng bá cho cuốn hồi ký mới “Một miền đất hứa”.
Tuy nhiên, khi được ông Kimmel hỏi về việc liệu Tòa Bạch Ốc có bất kỳ chỗ bí mật nào để “người ta có thể lẩn trốn” nếu họ không muốn rời đi, ông Obama đáp: “Ồ, tôi nghĩ chúng ta có thể luôn luôn điều động biệt kích Hải quân SEAL vào đó để tìm ra ông ta”.
Sau đó, ông Kimmel cũng hỏi cựu tổng thống của Đảng Dân chủ rằng liệu có là bất thường khi gọi ông Joe Biden là “Ngài Tổng thống”.
“Không, tôi đã gọi ông ta là Ngài Tổng thống đắc cử rồi”, ông Obama trả lời.
Trước đó trong cuộc đối thoại, ông Kimmel đã gợi ý rằng việc giả định ông Biden đã thắng cử có lẽ là quá sớm. Tổng thống Trump đang từ chối công nhận các số liệu bầu cử tại các bang dao động và đã thề sẽ tranh tụng tại tòa án và khẳng định cuộc bầu cử này đã bị gian lận.
“Ông có cảm thấy khi ông chúc mừng ông Biden và Thượng nghị sĩ Harris là ông đã vội vã làm điều đó?” ông Kimmel hỏi.
Ông Obama đáp: “Không, tôi nghĩ tôi đã đúng thời điểm”.
Quan điểm cho rằng ông Trump sẽ từ chối rời khỏi Tòa Bạch Ốc nếu ông thua cuộc bầu cử 2020 đã được lực lượng cánh tả cấp tiến dấy lên ngay từ đầu chiến dịch tranh cử tổng thống kỳ này.
Bà Hillary Clinton, ứng viên tổng thống Đảng Dân chủ năm 2016, vào ngày 5/7/2020 trong chương trình “The Daily Show” với Trevor Noah đã nói rằng: “Vâng, tôi nghĩ là công bằng để dấy lên việc liệu có hay không chuyện nếu ông ta thua, ông ta sẽ rời đi một cách lặng lẽ hoặc không. Và chúng ta phải sẵn sàng cho điều đó”.
Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi hôm 20/7/2020 cũng nói: “Dù ông ta biết điều đó hay không, ông ta sẽ rời đi. Chỉ bởi vì ông ta có thể không muốn rời khỏi Tòa Bạch Ốc không có nghĩa chúng ta sẽ không có một buổi lễ nhậm chức để chúc mừng tổng thống đắc cử chính đáng của Hoa Kỳ”.
Cũng trong tháng Bảy, vấn đề này đã được dấy lên tại Quốc hội Mỹ.
Dân biểu Dân chủ Hakeem Jeffries (bang New York) đã hỏi Tổng Chưởng lý William Barr trong một cuộc điều trần tại Hạ viện rằng: “Ngài Tổng Chưởng lý, ngài sẽ làm gì nếu ông Donald Trump thất cử vào ngày 3/11 nhưng từ chối rời văn phòng vào ngày 20/1?”
Ông Barr khi đó trả lời: “Nếu kết quả là rõ ràng, tôi sẽ rời văn phòng”.
Tờ Babylon Bee trong một bài viết trước cuộc bầu cử năm nay đã nêu quan điểm: “Những người cách tả đang cảnh báo rằng Tổng thống Donald Trump có thể không chấp nhận kết quả bầu 2020. Cũng những người cánh tả này đã sử dụng bốn năm qua để tuyên bố rằng ông Trump không phải là tổng thống của họ, rằng bà Hillary Clinton thực sự chiến thắng vì bà ta đã thắng phiếu phổ thông và rằng ông Trump chỉ chiến thắng nhờ vào sự can thiệp của Nga”.
Trong cuộc phỏng vấn với ông Kimmel nêu trên, cựu Tổng thống Obama cũng lấy ví dụ về cựu Tổng thống George W. Bush để dẫn chứng việc chuyển giao quyền lực tốt đẹp, tử tế. Ông Obama tán dương ông Bush là “một người yêu nước”.
“Khi tôi bước vào [nhiệm sở], chúng ta đã ở giữa một cuộc khủng hoảng lớn, cuộc khủng hoảng tài chính. George W. Bush, ông ấy và tôi rõ ràng đã có những khác biệt chính sách lớn, nhưng ông ta là một quý ông tốt, ông ta là một người yêu nước”, ông Obama nói. “Và ông ấy đã ra lệnh cho mọi thành viên trong đội ngũ của ông làm việc không ngừng nghỉ với chúng tôi về việc chuyển giao. Không thể tử tế hơn thế. Không thể hữu ích hơn thế. Và điều đó thực sự giúp chúng tôi có thể giành được lợi thế ban đầu trong việc nỗ lực ngăn chặn những điều có lẽ đã là một cuộc đại suy thoái và thay vào đó bằng một cuộc đại phục hồi”.
Chuyến thăm của Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ Robert O’Brien tới Philippines và Việt Nam trong tuần này đánh dấu nỗ lực tiếp tục của chính quyền TT Donald Trump trong việc chống lại tham vọng của Trung Quốc ở khu vực tranh chấp trên Biển Đông.
Dự kiến, ông O’Brien sẽ có chuyến thăm Việt Nam từ ngày 20-22/11, theo Bộ Ngoại giao Việt Nam. Chuyến đi này nối tiếp chuyến thăm Hà Nội vào tháng trước của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo. Ông O’Brien dự kiến sẽ gặp Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch và Bộ trưởng Công an Tô Lâm.
Hôm 18/11, thông tin từ Hội đồng An ninh Quốc gia Nhà Trắng cho biết ông O’Brien sẽ đến châu Á và sẽ gặp các nhà lãnh đạo ở Philippines và Việt Nam để “tái khẳng định sức mạnh của mối quan hệ song phương và thảo luận về hợp tác an ninh khu vực”.
Ông Lê Đăng Doanh, cố vấn kinh tế cấp cao đã nghỉ hưu của 5 đời Thủ tướng, cho biết trên SCMP rằng chuyến thăm này là dấu hiệu của mối quan hệ tốt đẹp giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Hai nước đã kỷ niệm 25 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao trong năm nay và chia sẻ mối quan ngại về ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở châu Á.
Carl Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales và chuyên gia về các vấn đề quốc phòng Việt Nam, cho biết hai bên có thể sẽ ra tuyên bố chung về hợp tác trong chiến lược “Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và rộng mở,” một tầm nhìn chính sách đối ngoại chiến lược của chính quyền TT Trump trong nỗ lực kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.
Ông Thayer nói các cam kết khả thi giữa hai bên có thể bao gồm tăng cường hợp tác giữa lực lượng tuần duyên của các nước, cũng như việc mua bán thiết bị, nhằm giúp Việt Nam chống lại các tuyên bố chủ quyền hàng hải phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông.
Giáo sư Thayer cũng nhận định có lẽ chuyến đi vừa rồi của Ngoại trưởng Pompeo chưa mang lại thoả thuận cụ thể nào do trước đó Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ đã cáo buộc Việt Nam thao túng tiền và xuất khẩu gỗ bất hợp pháp, nên Nhà trắng đã cử ông O’Brien đi để giải quyết các mối bận tâm của Việt Nam, qua đó đặt nền móng cho nền tảng hợp tác trong tương lai.
Chuyến đi của ông O’Brien diễn ra vào thời điểm nhạy cảm trong chính trường Hoa Kỳ khi chiến dịch tranh cử của TT Trump đang có hàng loạt vụ kiện liên quan đến gian lận bầu cử. Kết quả hiện tại vẫn chưa rõ ràng ai sẽ là Tổng thống nhiệm kỳ tiếp theo.
Đáng chú ý, Việt Nam là một trong những nước đã kiềm chế không thừa nhận chiến thắng của ông Biden.
Phát biểu tại cuộc họp báo vào ngày 15/11 sau khi bế mạc Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 37 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết “Việt Nam tôn trọng quyết định của người dân Mỹ. Dù ai thắng cử, ông Biden hay ông Trump, thì Hoa Kỳ vẫn là bạn tốt của Việt Nam.”
Ông Lê Hồng Hiệp, thành viên của Viện ISEAS-Yusof Ishak có trụ sở tại Singapore chuyên về chính trị Việt Nam, cho biết có khả năng các cuộc đàm phán xung quanh chuyến thăm của ông O’Brien là một yếu tố khiến Hà Nội quyết định không chúc mừng Biden.
“Điều quan trọng đối với Việt Nam là tiếp tục thu hút các quan chức của chính quyền Trump để củng cố những thành tựu gần đây trong hợp tác song phương. Chuyến thăm của O’Brien tới Việt Nam sẽ đóng góp vào quá trình đó”, ông nói.
Một số nhà quan sát cho biết Việt Nam dường như đánh giá cao nhiều chính sách đối kháng của TT Trump đối với Trung Quốc. Cho đến nay, ông Trump là Tổng thống đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ công khai đấu tranh chống lại Trung Quốc một cách mạnh mẽ.
Mặc dù còn khoảng 2 tháng nữa là kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống hiện tại, ông Trump vẫn sẽ dự định ban hành một loạt chính sách cứng rắn đối với Trung Quốc, theo một nguồn tin trong chính quyền TT Trump cung cấp cho trang tin Axios hôm 15/11.
Theo đó, những động thái được cân nhắc bao gồm các biện pháp trừng phạt hoặc hạn chế thương mại đối với nhiều công ty, tổ chức chính phủ hoặc quan chức Trung Quốc; bảo vệ công nghệ của Mỹ khỏi sự khai thác của quân đội Trung Quốc; chống lại việc đánh bắt trái phép và trừng phạt các quan chức hoặc tổ chức liên quan đến vấn đề Hồng Kông hoặc Tân Cương.
Hồi tuần trước, ông Trump đã ban hành sắc lệnh cấm các khoản đầu tư của Mỹ vào 31 công ty Trung Quốc.
Với rất ít dấu hiệu cho thấy Trump sẽ rời Nhà Trắng một cách êm thắm sau khi thất cử, giới chuyên gia và cựu quan chức Mỹ thấy nguy cơ ngày càng cao ông có thể có những động thái vào phút chót nhằm thúc đẩy các ưu tiên của mình, đồng thời trói tay người kế nhiệm.
Giới phân tích cho rằng, nếu Trump quyết định gây tiếng vang trước khi rời Nhà Trắng, có thể trọng tâm nằm ở chính sách đối ngoại, đặc biệt là sử dụng những công cụ mà ông có thể triển khai nhanh chóng và ít gặp trở ngại. Trong đó bao gồm các lệnh hành pháp, những cơ quan ra quy định hoặc bổ nhiệm những vị trí mà không cần Thượng viện thông qua, hoặc chuyển các vị trí bổ nhiệm chính trị sang làm công chức sự nghiệp khó thay thế.
South China Morning Post dẫn lời các chuyên gia bình luận rằng Trung Quốc có thể nằm trong tầm ngắm, và là một mục tiêu cụ thể, khi mà Trump liên tục đổ trách nhiệm cho Bắc Kinh vì đại dịch đã kéo nền kinh tế Mỹ đi xuống và làm tiêu tan triển vọng tái đắc cử của ông.
Giám đốc tại China Moon Strategies cũng là Cựu quan chức Hội đồng An ninh Quốc gia – Jeff Moon – người người nhận thấy khả năng cao chính quyền Trump sẽ có các động thái trừng phạt Bắc Kinh vào phút chót đặt câu hỏi:
„Ông Trump từng hứa sẽ trừng phạt Trung Quốc vì Covid-19, vì vậy vấn về nằm ở chỗ điều này nghĩa là gì“.
Nguồn hình ảnh, Getty Images
Nhưng một cách có thể làm tệ đi quan hệ Mỹ – Trung vốn đã ảm đảm, và làm suy yếu bất kỳ nỗ lực nào của chính quyền Biden trong việc cải thiện hợp tác song phương về các vấn đề sức khỏe và môi trường toàn cầu, có thể liên quan đến vấn đề Đài Loan. Các lựa chọn của Trump có thể bao gồm cử một thành viên nội các khác đến Đài Bắc, thắt chặt mối quan hệ quân sự Mỹ – Đài Loan và thông báo đàm phán hướng đến một hiệp định thương mại tự do.
Bonnie Glaser, Giám đốc Dự án Sức mạnh Trung Quốc thuộc Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), nhận xét: „Nhìn chung thì điều này đúng. Họ đang cố gắng đóng đinh nhiều chính sách khó đảo ngược nhất có thể, dù đó là Trung Quốc, Iran hay bất kỳ đâu“.
Vấn đề nhân quyền sẽ là một mục tiêu dễ dàng khác. Ngoài việc thực hiện một bước có khả năng gây bùng nổ khi gán cho Trung Quốc tội „diệt chủng“ về việc giam giữ hàng loạt người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Trump có thể chặn thị thực của nhiều quan chức Trung Quốc hoặc gây rắc rối bằng cách hạ lệnh cho các vận động viên Mỹ không tham dự Thế vận hội mùa Đông ở Bắc Kinh năm 2022.
Mặc dù các lệnh hành pháp này không có giá trị ràng buộc pháp lý và có thể dễ dàng đảo ngược, nhưng nó có thể gây khó khăn cho chính quyền sắp tới của Biden giữa bối cảnh có nhiều lo ngại việc dỡ bỏ các lệnh này sẽ khiến Biden trông mềm mỏng. Việc đảo chiều nhanh chóng các quyết định cũng làm hạ uy tín vốn đã bị tổn hại của Mỹ với tư cách là đồng minh cũng như đối thủ.
Thêm vào bức tranh ảm đạm là mối quan ngại và lo lắng về mặt chính sách ngày càng lớn của người Mỹ giữa lúc Bắc Kinh bành trướng trên Biển Đông, răn đe Ấn Độ, Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á cũng như siết chặt kiểm soát với Tân Cương, Hong Kong và Đài Loan.
Theo Trung tâm Nghiên cứu Pew, 73% người Mỹ có cái nhìn tiêu cực về Trung Quốc, tăng 13% so với năm ngoái và 20% với năm 2017 khi Trump nhậm chức.
Thomas Duesterberg, thành viên của Viện Hudson và là cựu quan chức Bộ Thương mại nhận định: „Tất cả những điều đó làm cho đề nghị hợp tác với Trung Quốc trở nên khó thuyết phục hơn“.
Christopher Miller, phó giáo sư lịch sử quốc tế tại Trường Luật và Ngoại giao Fletcher của Đại học Tufts nới với SCMP: „Hiển nhiên là đảng Cộng hòa sẽ chỉ trích Biden là mềm mỏng với Trung Quốc và cộng sản“.
Thomas Duesterberg cũng chỉ ra: Những lựa chọn khác của Trump bao gồm trừng phạt thêm công ty nhà nước Trung Quốc, hạn chế thêm việc xuất khẩu các mặt hàng „lưỡng dụng“ cho mục đích quân sự lẫn dân sự, cấm thêm nhiều ứng dụng Trung Quốc sau chiến dịch TikTok và WeChat, hay chặn mọi hoạt động bán chất bán dẫn cho tập đoàn công nghệ Huawei xa hơn việc dùng cho mạng 5G. Và Washington cũng có thể tuyên bố Trung Quốc là nước thao túng tiền tệ, khiến nước này phải chịu các mức thuế trừng phạt.
Nguồn hình ảnh, Alamy/EPA/Alamy
Ngay cả khi không có các động thái đáng lo ngại trong giờ chót, nội các sắp nắm quyền của Biden sẽ phải đối đầu với một Bắc Kinh táo bạo hơn. Sarah Kreps, giáo sư dạy môn chính phủ và luật của Đại học Cornell nói: „Quyền lực của Trung Quốc đã tăng lên đáng kể trong bốn năm qua. „Do đó, tôi mong đợi những chính sách của Biden sẽ có một số điểm giống với chính quyền Trump.“
SCMP trích lời Zack Cooper, một nhà nghiên cứu tại Viện Doanh nghiệp Mỹ theo xu hướng bảo thủ và là cựu quan chức trong chính quyền George W. Bush: „Sẽ rất khó về mặt chính trị nếu chỉ đơn giản bỏ một sắc thuế mà không nhận lại được gì đó. Câu hỏi đặt ra là đòi hỏi gì để Bắc Kinh có thể thực hiện nhanh chóng và tạo ra kết quả thực sự“.
Việc giải quyết hàng trăm triệu đôla thuế nhập khẩu áp đặt trong chiến tranh thương mại cũng có thể là điều kiện tiên quyết để thiết lập lại mối quan hệ với Bắc Kinh.
Các nhà phân tích nói, một trong những biện pháp này có thể là bãi bỏ Điều khoản 232 về thuế quan với thép và nhôm, được áp dụng vì lý do an ninh quốc gia. Điều này có thể được biện minh là cần thiết để hàn gắn mối quan hệ cần có với các đồng minh lâu đời ở châu Âu và châu Á để chống lại sự thúc ép của Bắc Kinh.
Theo Dịch vụ Nghiên cứu Quốc hội (CRS),một nội các sắp ra đi thường hay có những thay đổi hành chính vào phút cuối, một phương pháp được gọi là „làm luật nửa đêm“. Trump đã nhiều lần công kích „chính quyền ngầm“, làm dấy lên lo ngại rằng ông có thể sẽ tăng gấp đôi nỗ lực phá hoại các cơ quan chính phủ.
Ông Green nói: „Tôi lo lắng về việc tiêu hủy nhiều tài liệu tại Hội đồng An ninh Quốc gia và Bộ Ngoại giao, điều khiến nội các sắp nắm quyền phải cố gắng hiểu những thỏa thuận trước đây là gì và những gì đã được nói với ai.
Tuy nhiên, giới kỳ cựu ở Washington cho rằng, việc đấu đá nội bộ có thể cản trở mọi nỗ lực trừng phạt Trung Quốc và Biden của Trump.
Một số bộ trưởng có thể tiếp tục ủng hộ đường lối cứng rắn chống lại Bắc Kinh. Bộ Ngoại giao có thể tìm cách từ chối cấp thị thực cho quan chức hàng đầu của Trung Quốc; Bộ Quốc phòng và Thương mại có thể cổ súy việc hạn chế xuất khẩu nhiều hơn; và Bộ Tư pháp có thể buộc tội thêm các sinh viên và nhà khoa học Trung Quốc chẳng hạn. Nhưng những hành động đó có thể vấp phải sự phản đối từ Bộ Tài chính và Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ – vốn muốn bảo vệ cái mà họ coi là một thành tựu nổi bật: Thỏa thuận thương mại Mỹ – Trung giai đoạn 1.
Ngay cả Trump cũng thể có những chương trình nghị mâu thuẫn.
Green nói: „Nội bộ chính quyền Trump sẽ bị căng thẳng giữa bên theo phe diều hâu nhắm vào Trung Quốc muốn trói tay đội ngũ sắp nắm quyền của Biden, và của gia đình ông Trump trong việc duy trì mối quan hệ tốt đẹp với Bắc Kinh để đảm bảo các khoản đầu tư tương lai của Trung Quốc và các hoạt động kinh doanh xuôi chèo mát mái ở nước này“.
Tham dự Hội thảo quốc tế về Biển Đông lần thứ 12, Chuẩn Đô đốc Jurgen Ehle, Cố vấn Quân sự Chính trị Cao cấp tại Liên minh châu Âu (EU) khẳng định EU ủng hộ sớm hoàn tất COC ở Biển Đông.
Chuẩn Đô đốc Jurgen Ehle phát biểu trực tuyến từ Brussels (Bỉ). (Ảnh: Thu Trang)
Ngày 16/11, trong khuôn khổ Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 12 với chủ đề “Duy trì hòa bình và hợp tác trong bối cảnh có nhiều biến động”, Chuẩn Đô đốc Jurgen Ehle đã tham dự và có bài phát biểu quan trọng (keynote) dưới hình thức trực tuyến từ Brussels (Bỉ).
Đánh giá về tình hình thế giới hiện tại, Chuẩn Đô đốc Jurgen Ehle nhận định đại dịch Covid-19 đang làm thay đổi cách sống và làm việc của chúng ta, đòi hỏi sự hợp tác lâu dài giữa các quốc gia thành viên.Ông Jurgen Ehle khẳng định EU rất quan tâm đến khu vực Biển Đông và muốn tăng cường hợp tác với các quốc gia trong khu vực này trên những lĩnh vực: an ninh hàng hải truyền thống và phi truyền thống; chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia; an ninh mạng; phòng chống phổ biến vũ khí sinh học cùng các loại phóng xạ, hạt nhân; chống cướp biển, buôn lậu và chống ô nhiễm biển; các hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển…Theo ông Jurgen Ehle, EU ủng hộ sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử (COC) ở Biển Đông bảo đảm công bằng, hài hòa lợi ích cho tất cả các quốc gia. “EU là một tổ chức đa phương nên ủng hộ giải pháp đa phương trong các vấn đề quốc tế”, ông Jurgen Ehle nói.
Dẫn lại phát biểu của Cao uỷ phụ trách chính sách đối ngoại và an ninh Liên minh châu Âu Federica Mogherini tại Hội nghị Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN-EU vào năm 2019, ông Jurgen Ehle tuyên bố: “EU không cho phép bất cứ quốc gia nào có những hành động đơn phương không theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển 1982 (UNCLOS), đe dọa tới hòa bình và sự hợp tác phát triển ở Biển Đông”.
Ông nhấn mạnh quan hệ hợp tác chặt chẽ của EU và ASEAN thông qua những chương trình hành động thiết thực, diễn đàn, hội thảo để cùng học hỏi, nâng cao trình độ nhận thức về môi trường an ninh đa dạng trong một môi trường rộng lớn như Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương.
Trong bài phát biểu của mình, ông Jurgen Ehle cho biết EU là một đối tác tin cậy, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm xử lý khủng hoảng, đào tạo pháp lý, chia sẻ thông tin, thực thi các công cụ quốc tế về giải quyết tranh chấp, cùng nhau đánh giá và xây dựng tài liệu pháp lý, quản lý khủng hoảng…
Đề cập đến khái niệm tác chiến mới “Hiện diện Hàng hải Phối hợp” (CMP), Chuẩn Đô đốc Jurgen Ehle cho biết đây là công cụ mới nhằm nâng cao nhận thức về an ninh hàng hải và thúc đẩy hợp tác quốc tế trên biển. Theo quan niệm này, hải quân của các quốc gia EU và các quốc gia khác sẽ cung cấp các tàu hải quân, các trang thiết bị hải quân để lần lượt tham gia tuần tiễu ở các khu vực biển theo các cách thức phối hợp. Khu vực đầu tiên mà công cụ này được đưa vào thử nghiệm là Vịnh Guinea. Sau đó, công cụ này có thể mở rộng sử dụng ở các vùng biển khác trên thế giới và khu vực Biển Đông có thể xem xét sử dụng.
Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 12 do Học viện Ngoại giao (DAV), Quỹ hỗ trợ nghiên cứu Biển Đông (FESS) và Hội Luật gia Việt Nam (VLA) đồng tổ chức trong hai ngày 16-17/11.
Der Chef des deutschen Außenhandelsverbands findet wenig Gutes an dem neuen asiatischen Handelspakt RCEP: Für Deutschland sei das Abkommen keine gute Nachricht. Zurückhaltend auch die Reaktionen aus der Politik.
„Mit dem künftig verbesserten Marktzugang chinesischer Unternehmen in den anderen 14 Staaten des nun größten Handelspakts der Welt werden sich gleichzeitig die Absatzmöglichkeiten deutscher Unternehmen relativ verschlechtern.“ Anton Börner vom Außenhandelsverband BGA äußerte sich am Montag in Berlin zu dem gerade abgeschlossenen Handelsabkommen RCEP. China habe damit die Möglichkeit, die Handelsordnung in diesem Wirtschaftsraum maßgeblich zu bestimmen, so Börner.
Der Außenhandelsvertreter verband seine Einschätzung mit einer Mahnung an europäische Handelspolitiker: „Anstatt vermehrt auf internationale Kooperation zu setzen, überfrachtet die EU ihre Handelsabkommen, bis sie scheitern.“ Das RCDP-Abkommen von Hanoi sei ein Rückschlag für das erklärte Ziel der EU, ihre Handelsbeziehungen zu diversifizieren. Erschwerend komme noch hinzu, so Börner, „dass sich Europa derzeit weitestgehend aus dem Wettlauf um Handelsabkommen und bessere Marktzugänge verabschiedet hat“.
Reaktionen aus der deutschen Politik blieben zunächst eher unentschieden: Das neue asiatische Abkommen müsse „ein Weckruf für Europa sein“, sagte der außenpolitische Sprecher der CDU/CSU-Fraktion im Bundestag, Jürgen Hardt. Die EU könne es sich nicht länger leisten, Freihandelsverhandlungen auf die lange Bank zu schieben. „Dann werden andere Nationen die Standards setzen, und wir Europäer geraten ins Hintertreffen“, warnte Hardt.
Optimistischer Wirtschaftsminister
Bundeswirtschaftsminister Peter Altmaier gab sich gelassener. „Ich begrüße das neue Freihandelsabkommen der Asien-Pazifik-Region als wichtigen Beitrag zu einem freien und regelbasierten Welthandel“, sagte er. „Die EU hat mit Japan, Südkorea, Singapur und Vietnam bereits eigene Freihandelsabkommen beschlossen und arbeitet intensiv am Abschluss eines Investitionsabkommen mit China.“ Nach dem Sieg von Joe Biden bei der US-Präsidentenwahl gebe es nun die Hoffnung auf einen Neustart in den transatlantischen Beziehungen – mit offenen Märkten und einem regelbasierten Handel.
Der CDU-Außenpolitiker Norbert Röttgen befand noch am Sonntag: „Das Abkommen reduziert zwar Handelshemmnisse, sieht gleichzeitig aber nicht vor, dass die Mitglieder ihre Volkswirtschaften liberalisieren oder internationale Standards im Umweltschutz und Arbeitnehmerschutz erfüllen müssen.“ Auch der Schutz geistigen Eigentums spiele keine Rolle, kritisierte Röttgen.
Die deutsche Außenpolitik müssen nun einen stärkeren Fokus auf Asien legen, forderte der stellvertretende Vorsitzende der FDP-Bundestagsfraktion, Alexander Graf Lambsdorff und fügte hinzu: „Europa muss sich klar zum Freihandel bekennen.“ Auch sei ist es nun wichtig, dass die deutsche Außenpolitik ihren Blick auf Asien weitet und die Beziehungen zu solchen Staaten vertiefe, „die anders als China Wertepartner sind.“ Das seien vorallem Japan, Australien und Indien.
Nguyen Ngoc Chu là cây bút phản biện về các vấn đề kinh tế, văn hoá xã hội xuất sắc bậc nhất, cũng vì vậy mà ông có lượng Fan theo dõi cao bậc nhất. Ông có bài viết mới về Hiệp định kinh tế RCEP mà VN vừa tham gia với 15 quốc gia.
Ngày 15/11/2020 15 quốc gia, sau hơn 6 năm đàm phán, đã ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) theo hình thức trực tuyến. Đó là các nước Việt Nam, Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand và Trung Quốc.
Có không ít người đã vội mừng vì thị trường 2,2 tỷ dân với GDP khoảng 26 200 tỷ USD sẽ mở ra “một chân trời mới’. Có người còn vội đánh giá rằng đây là “thoả thuận thương mại lớn nhất thế giới”, “khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới”!
Khu vực tự do thương mại lớn nhất thế giới không chỉ đơn thuần xác định bởi hai tiêu chuẩn là dân số và tổng GDP. Chất lượng của thị trường mới là tiêu chuẩn áp đảo (dominant). Mở ra một cái chợ, quan trọng nhất là ai đến chợ và chợ bán gì.
TẠI SAO ẤN ĐỘ RỜI BỎ RCEPT?
Ngày 04/11/2019, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN – Ấn Độ và Hội nghị Thượng đỉnh RCEP diễn ra ở Bangkok, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã chính thức tuyên bố Ấn Độ rút khỏi RCEP.
Nguyên nhân thì không chỉ một. Nhưng nguyên nhân chính là Trung Quốc. Không phải là Trung Quốc lấn chiếm biên giới Ấn Độ. Mà là Ấn Độ sẽ trở thành miếng mồi thị trường của Trung Quốc.
Là bởi vì khi gia nhập RCEP thì hàng hoá Trung Quốc sẽ tràn ngập thị trường Ấn Độ mà hang hoá Ấn Độ không thể xâm nhập thị trường Trung Quốc.
Ấn Độ không phải là quốc gia có công nghệ cao như Nhật Bản để Trung Quốc mở cửa mong muốn ăn cắp, copy làm hàng nhái – ít nhất là trong thời gian đầu, sau đó rũ bỏ và đóng cửa mặt hàng công nghệ cao đã bị nội địa hoá.
Nhật Bản ý thức được điều đó. Nhưng Nhật Bản sẽ có công nghệ mới mà Trung Quốc có thể thèm muốn để tiếp tục hé cửa cho vào. Nhưng Ấn Độ thì không.
Còn nữa, là ngoài mặt thì tuân thủ hiệp ước tự do thương mại, nhưng ngầm bên trong Trung Quốc sẽ tìm cách cản đường. Và hàng hoá Ấn Độ sẽ rất khó thâm nhập thị trường Trung Quốc.
Thương mại tự do là để đi bán hàng hoá mình sang nước khác. Nay hàng hoá mình không sang được thị trường của người mà hàng hoá của người lại tràn ngập thị trường của mình thì tham gia thị trường tự do làm gì?
Đó chính là nguyên nhân số 1 làm Ấn Độ phải rút ra khỏi RCEP.
Một nước lớn với dân số 1 tỷ 380 triệu người, sắp vượt Trung Quốc, mà Ấn Độ còn sợ Trung Quốc nuốt chửng thì các nước bé như Việt Nam chả thấm vào đâu.
Có người sẽ bảo vệ, rằng điều đó không thể xẩy ra. Vì Hiệp định sòng phẳng cho tất cả các bên ký kết.
Thế là quên mất lý lẽ của kẻ mạnh, quên mất đường chữ U.
VỚI VIỆT NAM EVFTA CÓ LỢI HƠN RCEPT
Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Câu tục ngữ của cha ông dạy thật quá đúng cho chúng ta trong tham gia bàn cờ quốc tế.
Chẳng có RCEP thì Việt Nam cũng đã bị Trung Quốc “đàn áp” thị trường. Nhập siêu từ Trung Quốc năm sau lớn hơn năm trước với mức độ rợn người. Năm 2019 nhập siêu từ Trung Quốc tăng 40,1% so với năm 2018 và đạt con số 33,8 tỷ USD. Đó là chưa nói hàng buôn lậu qua biên giới. Càng chưa nói đến hàng Trung Quốc dán mác hàng Việt nam tại thị trường Việt Nam, cũng như xuất sang Mỹ và các nước khác. Nếu tính đủ, con số sẽ không dưới 50 tỷ USD.
Việc ra đời RCEP, không ngi ngờ gì nữa, thị trường Việt Nam càng bị Trung Quốc thâu tóm.
Đừng ví Việt Nam với Nhật Bản và Hàn Quốc. Để từ đó kết luận rằng Nhật Bản và Hàn Quốc thấy lợi ích của RCEP nên đã tham gia. Như đã đề cập trong phần Ấn Độ ở trên, Nhật Bản và Hàn Quốc có công nghệ tân tiến để đối trọng với Trung Quốc – buộc Trung Quốc phải chấp nhận chia sẻ thị trường. Việt Nam không có vị thế như Nhật Bản và Hàn Quốc.
Việt Nam phải chú trọng vào thị trường châu Âu. EVFTA là rất quan trọng và rất có lợi cho Việt Nam. Năng lực xuất khẩu của Việt Nam còn hạn chế. Thay vì dàn trải thì phải dồn chủ lực cho thị trường chính. Với EVFTA Việt Nam học được công nghệ và đáp ứng được chuẩn mực châu Âu. Tự Việt Nam bước lên đẳng cấp mới. Gần đèn thì rạng.
Thị trường 2 tỷ 200 triệu dân, tuy là rất lớn, nhưng không phải để cho Việt Nam. Thí dụ ngụ ngôn sau có lẽ phần nào giải thích được lý do vì sao.
Con hổ dụ các con báo, cáo, mèo – mỗi con mang một miếng mồi đến để góp ăn chung. Con mèo nghĩ đến miếng thịt to của con hổ nên mang mồi của mình đến. Nhưng con mèo không biết rằng con hổ đánh đuổi tất cả để dành lấy toàn bộ các miếng mồi.
Con hổ Bengal Ấn Độ mà còn phải tháo chạy khỏi RCEP thì xin đừng quá lạc quan. Thị trường 500 triệu dân của EVFTA mới là điều thực tế.
Lại tự răn bằng câu tục ngữ của cha ông: ‚Ngày lắm mối, tối nằm không‘!
Trung Quốc hôm 4 tháng 11 năm 2020, công khai dự thảo luật sửa đổi cho phép lực lượng hải cảnh nước này sử dụng vũ khí trong vùng biển mà Bắc Kinh cho là thuộc quyền tài phán của Hoa Lục. Theo các nhà quan sát chính trị thì luật này sẽ được Trung Quốc thông qua trong kỳ họp Quốc hội của họ vào tháng 12 sắp tới.
Dự thảo cho phép lực lượng bảo vệ bờ biển được phép sử dụng vũ khí để xua đuổi tàu thuyền nước ngoài bị cho xâm phạm lãnh hải Trung Quốc hoặc thẩm vấn thủy thủ đoàn cũng như được phép sử dụng vũ khí chống lại các tàu không tuân theo mệnh lệnh trong lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Trung Quốc. Dự thảo được công bố trong bối cảnh tàu hải cảnh Trung Quốc gia tăng hiện diện ở Biển Đông, có những hành động phi pháp, quấy rối tàu của một số nước trong khu vực, trong đó có tàu của ngư dân Việt Nam.
Thạc sĩ Hoàng Việt nói thêm về dự luật này:
“Đây không phải là sửa đổi mà là luật mới, có thể gọi tắt là luật hải cảnh của Trung Quốc. Luật này cho phép lực lượng hải cảnh của Trung Quốc được sử dụng vũ khí trong trường hợp nguy hiểm hoặc đe dọa xâm phạm trong khu vực biển của Trung Quốc.
Ngoài ra nó cũng cho phép thẩm quyền của hải cảnh Trung Quốc rất rộng, cả trên không vùng đặc quyền kinh tế bao gồm cả những đạo nhân tạo mà Trung Quốc đã bồi lấp tại Hoàng Sa và Trường Sa. Hải cảnh còn có quyền thu giữ các tàu cá nước ngoài xâm phạm vùng biển mà Trung Quốc nhận của mình. Họ còn có quyền phá hủy những đảo nhân tạo trong khu vực này.”
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, thành viên Quỹ nghiên cứu Biển Đông cho rằng, đây là bước leo thang nguy hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông bên cạnh cái bẫy gọi vùng biển trong đường lưỡi bò mà Trung Quốc tự vẽ ra là ‘vùng biển tranh chấp’. Ông phân tích:
Bây giờ luật nó lại cho sử dụng vũ lực ở những vùng như thế thì đó là điều cực kỳ nguy hiểm. Điều này có thể dẫn đến những xung đột không thể lường trước được. – Tiến sĩ Nguyễn Quang A
“Từ chỗ không có tranh chấp gì cả biến thành có tranh chấp là do Trung Quốc tự nhảy vào nhận của mình. Rất đáng tiếc là truyền thông quốc tế đã rơi vào cái bẫy rất nguy hiểm của nó khi gọi những vùng biển trong đường lưỡi bò là vùng biển tranh chấp, theo cách gọi của Trung Quốc. Bây giờ luật nó lại cho sử dụng vũ lực ở những vùng như thế thì đó là điều cực kỳ nguy hiểm. Điều này có thể dẫn đến những xung đột không thể lường trước được.”
Đường lưỡi bò là tên thường gọi cho đường đứt khúc 9 đoạn mà Trung Quốc đơn phương vạch ra trên Biển Đông để tuyên bố chủ quyền gần 90% vùng biển này. Đường lưỡi bò xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1948 dưới thời chính quyền Tưởng Giới Thạch.
Vào ngày 12 tháng 7 năm 2016, Tòa Trọng tài Thường trực Quốc tế ở The Hague ra phán quyết về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc liên quan đến tranh chấp tại Biển Đông. Phán quyết của tòa xác định tất cả các thực thể thuộc khu vực tranh chấp ở quần đảo Trường Sa không phải là những đảo có thể duy trì sự sống lâu dài và do đó không thể có vùng đặc quyền kinh tế. Điều này cũng áp dụng với đảo Ba Bình, đảo lớn nhất ở Trường Sa hiện do Đài Loan kiểm soát. Phán quyết cũng bác bỏ đường lưỡi bò của Trung Quốc trên biển Đông và xác định toàn bộ quần đảo Trường Sa không thể có đường cơ sở như đòi hỏi của Trung Quốc từ trước đến nay.
Trung Quốc tuyên bố không chấp nhận cũng như không tham gia vào tiến trình trọng tài do Philippines đơn phương khởi xướng.
Hình minh hoạ. Tàu hải cảnh của Trung Quốc truy đuổi tàu Việt Nam gần một giàn khoan dầu của Trung Quốc ở Biển Đông hôm 1/6/2014 AFP
Với việc công khai dự luật hải cảnh của Trung Quốc, một ngày sau, Phó Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Chính phủ Hà Nội, ông Dương Hoài Nam, lại tái khẳng định rằng Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Việt Nam luôn ủng hộ giải quyết các tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.
Theo Thạc sĩ Hoàng Việt, từ nhiều năm qua Trung Quốc đã ngang nhiên xâm phạm khu vực biển của Việt Nam, đâm chìm tàu cá, ngăn cản tàu khác đến cứu, bắt ngư dân Việt Nam và cướp bóc tài sản. Hội nghề cá Việt Nam gọi những hành động này là „ngang ngược và vô nhân đạo“ nhằm vào ngư dân Việt Nam. Bây giờ có luật hải cảnh như vậy thì Việt Nam không thể chỉ lên tiếng phản đối, bởi như thế chưa đủ.
Ông Hoàng Việt nói thêm:
“Với việc Trung Quốc cho phép hải cảnh được sử dụng vũ khí là biến hải cảnh trở thành lực lượng bán vũ trang, bán quân sự như vậy thì sẽ dẫn đến việc trong thời gian tới, những đội tàu của Trung Quốc xâm phạm vùng biển các quốc gia khác mà có thể sử dụng vũ lực thì sẽ rất nguy hiểm.”
Theo báo cáo của Hội Nghề cá Quảng Ngãi hôm 10 tháng 6 năm 2020, tàu cá QNg 96416 do ngư dân Nguyễn Lộc làm chủ kiêm thuyền trưởng cùng 15 lao động đang đánh bắt cá ở khu vực đảo Linh Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì bị tàu sắt của lực lượng hải cảnh Trung Quốc khống chế, đánh đập ngư dân, bắt ký và điểm chỉ dấu vân tay vào biên bản do Trung Quốc viết. Lực lượng hải cảnh Trung Quốc còn lấy hai máy định vị và dò cá, một thuyền thúng, năm bành dây hơi, một tấn hải sản và phá hỏng nhiều bộ phận trên thân tàu. Thiệt hại ước tính khoảng 500 triệu đồng.
Trung Quốc đang chuẩn bị chiến tranh để tấn công Đài Loan và tấn công Việt Nam ở Trường Sa. Việt Nam trước hết là phải phản đối. Tiếp theo là phải chuẩn bị đánh trả nếu họ bắn. – Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp
Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp nhận định rằng, luật hải cảnh mới của Trung Quốc vi phạm tất cả những nền tảng luật pháp quốc tế cũng như công ước quốc tế về luật biển. Một trong những quy định căn bản là khi có tranh chấp xảy ra thì các nước liên quan phải để nguyên trạng và không được dùng vũ lực. Hơn nữa, theo đường lưỡi bò liếm trọn gần 90% diện tích Biển Đông thì chỗ nào cũng là của Trung Quốc hết. Ông Hợp phân tích điều mà ông gọi là ‘nghiêm trọng’ khi luật này được ban hành:
“Hậu quả quốc phòng và địa chính trị của nó là gì? Đó là nếu dùng súng bắn vào các tàu dân sự hoặc các tàu khác trên biển là hành động gây hiến. Hành động gây chiến thì sẽ được trả lời bằng chiến tranh. Nó nghiêm trọng ở chỗ đấy. Nó không đơn giản đâu. Đấy là hành động khiêu khích để đánh, để gây ra chiến tranh. Trung Quốc đang chuẩn bị chiến tranh để tấn công Đài Loan và tấn công Việt Nam ở Trường Sa. Việt Nam trước hết là phải phản đối. Tiếp theo là phải chuẩn bị đánh trả nếu họ bắn. Nếu họ bắn là Việt Nam phải bắn lại.
Với luật này thì không phải Trung Quốc chỉ bảo vệ những đảo trong khoảnh cách 12 hải lý như từ trước đến nay nữa mà là toàn bộ biển. Họ làm như thế là đánh giá thấp nước Mỹ. Họ cho rằng nước Mỹ đang trong bầu cử như vậy sẽ là cơ hội tốt để họ làm tàng, gây ra chuyện nọ chuyện kia.”
Tính đến cuối năm 2019, lực lượng hải cảnh Trung Quốc đã có 130 tàu tuần tra, trong đó có những tàu trọng tải lên đến 10.000 tấn – thuộc loại lớn nhất thế giới. Ngoài ra, nhiều tàu khác cũng được trang bị các loại pháo cỡ lớn loại 76mm, cùng nhiều loại súng máy.
Cảnh sát biển Trung Quốc những năm gần đây đã được hợp nhất vào lực lượng cảnh sát vũ trang và đội tàu tuần duyên đã được nâng cấp với các tàu lớn hơn.
Trong 2 ngày 16-17/11 tại Hà Nội, Hội Luật gia Việt Nam phối hợp với Học viện Ngoại giao và Quỹ hỗ trợ nghiên cứu Biển Đông tổ chức hội thảo thường niên nhằm thúc đẩy đối thoại và trao đổi học thuật về các vấn đề Biển Đông.
Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 11 diễn ra năm ngoái. (Nguồn: Hội Luật gia VN)
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, hội thảo năm nay sẽ diễn ra dưới hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến. Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 12 dự kiến quy tụ khoảng 250 đại biểu, bao gồm các diễn giả, học giả quốc tế và Việt Nam có uy tín, ảnh hưởng trong khu vực và trên thế giới.
Với chủ đề “Duy trì hòa bình và hợp tác trong môi trường có nhiều biến động”, Hội thảo Biển Đông lần thứ 12 thể hiện mong muốn của Việt Nam duy trì hợp tác, đối thoại để duy trì hòa bình Biển Đông trong bối cảnh thế giới đầy thiên biến, khó lường như hiện nay.
Hội thảo Biển Đông lần thứ 12 bao gồm 8 phiên lớn và 1 phiên đặc biệt với loạt chủ đề: Đánh giá chung tình hình Biển Đông trong tình hình thế giới biến động; Đánh giá vai trò của ASEAN với tầm nhìn sau năm 2025; Cuộc tranh luận Công hàm; Cuộc canh tranh về các câu chuyện kể về Biển Đông và vai trò của báo chí; Làm thế nào để xây dựng các quy tắc ứng xử để tránh va chạm tại Biển Đông; Cá, nghề cá và bảo vệ tài nguyên cá; Nghiên cứu khoa học biển; và Phát triển tài nguyên biển bền vững.
Ngày 10/11, trang chủ Bộ Quốc phòng Đức ra thông cáo cho biết, Bộ trưởng Quốc phòng Đức Annegret Kramp-Karrenbauer đã thảo luận trực tuyến với người đồng cấp Nhật Bản Kishi Nobuo và chúc mừng ông vừa được bổ nhiệm.
Hai bộ trưởng quốc phòng đã trao đổi những quan điểm về an ninh khu vực, trong đó có vấn biển Hoa Đông và Biển Đông.
Hai bên cũng nhất trí về tầm quan trọng của trật tự đa phương dựa trên luật lệ, trong đó có trật tự hàng hải tự do và rộng mở và cả hai bên đều thấy tiềm năng hợp tác liên khu vực giữa Liên minh châu Âu (EU) và ASEAN.
Trong cuộc thảo luận, Bộ trưởng Kramp-Karrenbauer đã giới thiệu Hướng dẫn chính sách với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và bày tỏ sự quan tâm của Đức tới việc hợp tác an ninh chặt chẽ hơn với các nước trong khu vực.
Trong khi đó, Bộ trưởng Kishi Nobuo nhấn mạnh tầm quan trọng của một „Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở“.
Sáng 12/11 trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao ASEAN 37 đã diễn ra lễ công bố Đánh giá giữa kỳ triển khai các Kế hoạch Tổng thể Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 và Kế hoạch Tổng thể Kết nối ASEAN 2025, Khung phục hồi Tổng thể ASEAN và thành lập Kho dự phòng vật tư y tế khẩn cấp ASEAN.
ASEAN 37: Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại lễ công bố đánh giá giữa kỳ triển khai các kế hoạch và thành lập kho dự phòng vật tư y tế khẩn cấp.
Đây là kết quả của những nỗ lực không ngừng nghỉ của các nước thành viên ASEAN và là biểu hiện sống động cho sự ủng hộ và hợp tác của đối tác và các tổ chức quốc tế dành cho nước chủ nhà Việt Nam.
Trước ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và những tác động không lường trước, ASEAN không chỉ đưa ra các sáng kiến ứng phó với dịch bệnh mà còn kiên trì các nỗ lực xây dựng Cộng đồng, duy trì đà hợp tác và liên kết.
Với sự hỗ trợ của Ban Thư ký ASEAN và sự vào cuộc của các Trụ cột Cộng đồng ASEAN, trong năm 2020, ASEAN đã hoàn thành báo cáo đánh giá giữa kỳ triển khai các Kế hoạch Tổng thể Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 trên cả ba trụ cột Chính trị – An ninh, Kinh tế, và Văn hóa – xã hội, và Kế hoạch Tổng thể Kết nối ASEAN 2025.
Là năm giữa kỳ trong triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, các báo cáo đánh giá giữa kỳ có ý nghĩa kịp thời, là kết quả quan trọng, góp phần định hướng cho các Trụ cột trong hoàn thành các mục tiêu xây dựng Cộng đồng tới 2025.
Trước ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và những tác động sâu rộng về mọi mặt kinh tế-xã hội mà đại dịch gây ra, ASEAN không chỉ dừng lại ở thành lập Quỹ ASEAN Ứng phó với Covid-19 mà còn phối hợp hành động nhằm giảm thiểu tác động đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế và đời sống người dân, thúc đẩy phục hồi toàn diện trong ASEAN.
Tại Lễ công bố, Khung phục hồi tổng thể ASEAN và Kế hoạch triển khai được thông qua trong đó các nỗ lực phục hồi kinh tế của ASEAN tập trung vào 3 giai đoạn chính, gồm tái mở cửa, phục hồi và tự cường. Các biện pháp cụ thể được đề xuất bao gồm: (i) các biện pháp chống dịch của ASEAN; (ii) cùng phục hồi và hành động của ASEAN (mục tiêu, nguyên tắc, cách tiếp cận và cấu trúc); (iii) các chiến lược phục hồi chính (tăng cường hệ thống y tế, bảo đảm an ninh con người, thúc đẩy thị trường và liên kết nội khối, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng tương lai bền vững và tự cường); (iv) triển khai để phục hồi và ổn định (chính sách, nguồn tài chính, cơ chế, tham gia của các thành phần và giám sát); và (v) xây dựng hình ảnh mới của ASEAN hậu Covid-19.
Cũng tại Lễ công bố, các nhà Lãnh đạo ASEAN cũng tuyên bố chính thức thành lập Kho dự phòng vật tư y tế ASEAN. Theo đó, mục đích của Kho là tăng cường khả năng sẵn sàng ứng phó của ASEAN trong các tình huống y tế công cộng khẩn cấp và xảy ra dịch bệnh thông qua việc huy động và phân phối các thiết bị y tế thiết yếu như khẩu trang y tế, găng tay, nước sát khuẩn, trang phục bảo hộ, máy thở…
Về nguyên tắc vận hành, các nước tự nguyện đóng góp và bảo quản số lượng vật tư y tế đã cam kết tại nước đó, chỉ chuyển số vật tư y tế cam kết tới nước cần sử dụng khi xảy ra dịch bệnh hoặc các tình huống y tế công cộng khẩn cấp.
Những kết quả được công bố được kỳ vọng sẽ là hành trang quan trọng, giúp ASEAN nâng cao khả năng chống chịu và tính tự cường khi đại dịch Covid-19 tiếp tục là mối đe dọa ở khu vực và trên thế giới, qua đó góp phần nâng cao vị thế, vai trò của ASEAN và củng cố vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực.