Kategorie-Archiv:Aktuell

Biển Đông: TQ triển khai hệ thống phóng tên lửa đạn đạo để huấn luyện

Trung Quốc đã triển khai số lượng lớn dàn phóng mẫu tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM) tối tân của họ tới khu vực phía Đông và phía Tây để tăng cường huấn luyện.

Các hệ thống phóng DF-26 đã được triển khai tới nhiều địa điểm để huấn luyện

Một số hình ảnh vệ tinh mà hãng Maxar Technologies đăng tải cho thấy quân đội Trung Quốc đã triển khai nhiều dàn phóng tên lửa DF-26 tới một địa điểm huấn luyện ở tỉnh Sơn Đông, miền Đông Trung Quốc; theo một báo cáo của Liên hiệp Các nhà khoa học Mỹ (FAS); thêm rằng đây là lần đầu tiên họ chứng kiến tên lửa DF-26 hoạt động ở khu vực này.

Tuần trươc,s Andrei Chang, chủ biên của tờ Kanwa Defence Review có trụ sở tại Canada, nói trong một đoạn video đăng tải trên YouTube rằng Lực lượng Tên lửa Trung Quốc đã triển khai khoảng 16 dàn phóng DF-26 IRBM tới căn cứ Thanh Châu ở Sơn Đông và một căn cứ khác ở Korla, thuộc Tân Cương.

Ông Chang nói rằng những địa điểm trên đặt Ấn Độ – đang có tranh chấp căng thẳng với Trung Quốc ở biên giới – vào tầm ngắm và gây ra mối đe dọa đối với căn cứ hải quân Mỹ ở Yokosuka cùng một số điểm chốt quân sự khác tại Nhật Bản.

DF-26 là mẫu tên lửa đạn đạo được vận chuyển bằng đường bộ, có thể được lắp đầu đạn truyền thống hoặc hạt nhân, có tầm bắn khoảng 5.000 km.

Ông Chang nói rằng Trung Quốc đã xây dựng 2 nhà kho lớn để chứa DF-26, chỉ ra một đợt triển khai lớn loại tên lửa này tới vùng biên giới. Tuy nhiên, chuyên gia quân sự Trung Quốc Zhou Chenming nói rằng DF-26 được triển khai tới Korla là để huấn luyện, và “tầm bắn của tên lửa chỉ nằm trong khu vực sa mạc Gobi không có người ở”.

Ông Zhou cũng thêm rằng: “Đây không phải lần đầu tiên mà DF-26 được triển khai tới đó, nhưng là lần đầu tiên được các vệ tinh chụp ảnh lại”.

Theo vị chuyên gia Trung Quốc, với tầm bắn của nó, tên lửa DF-26 có thể nhắm bắn các chiến hạm nước ngoài nếu các chiến hạm này thâm nhập vào lãnh hải của Trung Quốc. “Nhưng Trung Quốc sẽ không triển khai DF-26 tới mặt trận và các bờ biển, bởi nó sẽ dễ dàng bị phát hiện và tiêu diệt bởi các tên lửa Tomahawk trên tàu của Mỹ”; ông nói.

Mỹ đã tăng cường sự hiện diện quân sự ở khu vực biển Hoa Đông và Biển Đông trong 2 năm gần đây. Họ đã cử 2 nhóm tác chiến hàng không mẫu hạm và một nhóm tác chiến viễn chinh tới khu vực này để thực hiện các chiến dịch tự do hàng hải từ tuần trước; theo quân đội Mỹ.

Nhà bình luận quân sự Trung Quốc Song Zhongping nói rằng: “Mục tiêu cuối cùng của Trung Quốc là xua đuổi các hàng không mẫu hạm của Mỹ ra xa nhất có thể”.

Trong một cuộc thử nghiệm hồi tháng 8 năm ngoái, Lực lượng Tên lửa Trung Quốc đã phóng một tên lửa DF-26 từ tỉnh Thanh Hải nhằm vào một tàu đang di chuyển trên Biển Đông. Trước đó, DF-26 đã được triển khai tới ít nhất 4 địa điểm ở Trung Quốc; theo FAS và ông Chang.

BDN

Loading

Views: 0

TQ phớt lờ Mỹ, tiếp tục khiêu khích Đài Loan

Tổng cộng 15 máy bay quân sự Trung Quốc bay vào vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của Đài Loan hôm nay 24.1, ngày thứ 2 có hơn 10 máy bay quân sự Trung Quốc vào ADIZ này, theo Cơ quan Phòng vệ Đài Loan.

Máy bay ném bom H-6K của Trung Quốc

Một bản đồ do Cơ quan Phòng vệ Đài Loan (MND) cung cấp cho thấy số máy bay Trung Quốc nói trên, trong đó có 12 chiến đấu cơ, đã bay vào khu vực nằm giữa phía nam của Đài Loan và quần đảo Đông Sa do Đài Loan kiểm soát ở Biển Đông.

Trung Quốc có động thái mới vài giờ sau khi phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price ra thông báo cảnh báo “tình trạng Trung Quốc gây sức ép quân sự lên Đài Loan đe dọa hòa bình và ổn định khu vực“.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ Đài Loan trong việc duy trì khả năng phòng thủ đầy đủ. Cam kết của chúng tôi đối với Đài Loan sẽ không thay đổi và góp phần duy trì hòa bình và ổn định xuyên eo biển Đài Loan và trong khu vực”, ông Price nhấn mạnh trong thông báo được đăng trên website của Bộ Ngoại giao Mỹ.

Ông Price đưa ra cảnh báo sau khi MND thông báo 13 máy quân sự Trung Quốc, gồm 8 máy bay ném bom H-6K, 4 chiến đấu cơ J-16 và một máy bay săn ngầm Y-8, bay vào ADIZ thuộc phía tây Đài Loan vào ngày 23.1, theo hãng tin CNA.

Lực lượng phòng không Đài Loan đã cho chiến đấu cơ xuất kích để theo dõi 13 máy bay Trung Quốc, phát cảnh báo qua vô tuyến và bố trí các khí tài phòng không cho đến khi số máy bay đó rời khỏi ADIZ.

Trong thời gian gần đây, Trung Quốc thường cho máy bay quân sự vào ADIZ của Đài Loan nhưng hiếm khi số máy bay ở mức trên 2 con số.

BDN

Loading

Views: 0

Trung Quốc: Cơ quan y tế làm giả kết quả xét nghiệm, virus lan rộng

Tại tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc), một trong những khu vực mới bùng phát dịch nặng nề nhất, giới chức địa phương đã cáo buộc một cơ quan y tế làm sai lệch kết quả xét nghiệm virus corona và yêu cầu xét nghiệm lại.

Cơ quan y tế – phòng thí nghiệm y tế Tế Nam Hoa Tây, được giao nhiệm vụ xét nghiệm các cư dân ở quận Long Nghiêu. Trong số 310.000 mẫu quệt xét nghiệm, không có một kết quả dương tính nào được báo cáo. Sau đó, người ta phát hiện ra rằng cơ quan này thậm chí còn chưa kết thúc quá trình xét nghiệm.

Theo một bài viết trên Thời báo Hoàn cầu – một cơ quan ngôn luận của ĐCSTQ – vài ngày sau khi báo cáo không có trường hợp lây nhiễm nào trong số các mẫu thu thập được, “cơ quan này đã đưa ra một tuyên bố khác, khi tuyên bố rằng một bộ mẫu xét nghiệm đã cho kết quả dương tính. Quận ngay lập tức đã tiến hành một cuộc điều tra, sau đó xác nhận được hai trường hợp dương tính và một trường hợp không có triệu chứng vào Chủ nhật (17/1), đồng thời vạch trần báo cáo sai lệch của phòng thí nghiệm về các mẫu xét nghiệm họ đã nhận được. Cảnh sát đã tạm giữ người phụ trách cơ quan này. Để đối phó với vụ việc, Xu Qin – chủ tịch tỉnh Hà Bắc – đã ra lệnh kiểm tra lại toàn bộ các mẫu xét nghiệm axit nucleic do các cơ quan thực hiện”.

Việc người đứng đầu tỉnh ra lệnh kiểm tra lại toàn bộ kết quả đã làm dấy lên nghi ngờ rằng con số lây nhiễm thậm chí còn có thể tồi tệ hơn nhiều so với ba trường hợp được báo cáo công khai. Các kết quả giả được trình lên bởi một nhân viên phòng y tế không rõ danh tính (chỉ biết là có họ Di).

Theo các báo cáo, cơ quan này đã yêu cầu năm ngày để hoàn thành việc phân tích các mẫu quệt xét nghiệm. Tuy nhiên, các nhà chức trách đã thúc ép nhân viên ở đây cho ra kết quả sớm hơn. Dưới áp lực, nhân viên họ Di đã báo cáo kết quả sai để có đủ thời gian hoàn thành bản phân tích đầy đủ trước khi đến hạn kiểm tra của giới chức. Cảnh sát địa phương, đang điều tra vụ việc và đã tiến hành các “biện pháp bắt buộc hình sự” đối với anh Di.

Sau khi sự việc được đưa ra ánh sáng, phòng thí nghiệm y tế Tế Nam Hoa Tây đã bị buộc phải đình chỉ hoạt động xét nghiệm virus vô thời hạn. Công ty mẹ, Nucleus Gene, có 31 phòng thí nghiệm trên khắp Trung Quốc, và hoạt động xét nghiệm virus chiếm khoảng 70 đến 80% tổng doanh thu năm ngoái của hãng này. Li Tao, phó chủ tịch Nucleus Gene, đã gọi hành vi giả mạo của Di là một “sai lầm nghiệp dư”, và đổ lỗi cho anh vì đã không nghĩ đến bức tranh toàn cảnh. Ông cho rằng nếu anh Di hỏi ý kiến ​​cấp trên từ trước thì việc giả mạo đã không xảy ra.

Các quan chức Trung Quốc đang lợi dụng vụ việc để đổ lỗi cho các công ty tư nhân về sai sót trong quá trình xét nghiệm, sau đó yêu cầu chính phủ tăng cường giám sát đối với hoạt động của họ. Sau vụ việc, những hành vi đáng ngờ trong quá khứ của Tế Nam Hoa Tây cũng được đưa ra ánh sáng, bao gồm một sự cố xử lý chất thải y tế lây nhiễm sai quy trình trong những ngày đầu tiên bùng phát dịch.

Một báo cáo trên phương tiện truyền thông địa phương gợi ý rằng công ty này có thể đã bị biến thành con dê thế tội để chính quyền không phải chịu trách nhiệm về các vấn đề xảy ra trong quá trình xét nghiệm. Tuy nhiên, không có bằng chứng nào được phát hiện để hỗ trợ cho tuyên bố này.

Khi tin tức về việc làm giả kết quả xét nghiệm được tiết lộ trên mạng, nó đã thu hút sự chú ý rộng rãi của cư dân mạng Trung Quốc. Trên mạng xã hội Weibo, vấn đề này đã lọt vào danh sách tìm kiếm hàng đầu và nhận được 400 triệu lượt xem, kích hoạt 16.000 cuộc thảo luận.

Một số cư dân mạng cũng đặt nghi vấn về con số lây nhiễm gần đây do chính quyền Hà Bắc báo cáo. Từ ngày 12 – 15/1, tỉnh đã báo cáo 90 trường hợp nhiễm mới mỗi ngày. Mọi người thấy kỳ lạ là số ca nhiễm mới giống hệt nhau trong ba ngày liên tiếp.

Trong khi đó, các nhà khoa học WHO đến Trung Quốc điều tra dường như không đưa ra được thông tin quan trọng nào về nguồn gốc virus corona. Nhóm nghiên cứu hiện đang bị cách ly hai tuần và họ tổ chức các cuộc hội đàm từ xa với các đối tác Trung Quốc của họ.

Hoa Kỳ đã kêu gọi một cuộc điều tra trung thực và yêu cầu Bắc Kinh cho phép WHO phỏng vấn các nhân viên phòng thí nghiệm, người chăm sóc và bệnh nhân cũ ở Vũ Hán để tìm hiểu sâu vấn đề này. Ông Garrett Grigsby, người đứng đầu phái đoàn Hoa Kỳ, nói với Reuters: “Chúng tôi có nhiệm vụ nghiêm túc phải đảm bảo rằng cuộc điều tra quan trọng này là đáng tin cậy và được tiến hành một cách khách quan và minh bạch.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ đưa hàng không mẫu hạm tới Biển Đông – Bắc Kinh thấy „hòa bình bị đe dọa“

Sau khi máy bay quân sự Trung Quốc đột nhập không phận Đài Loan, Mỹ cam kết hỗ trợ của họ đối với Đài Bắc. Chính phủ của Joe Biden hiện đang điều một tàu sân bay đến khu vực – như một hành động thách thức đối với Trung Quốc. Bắc Kinh luôn coi Đài Loan mà là một phần của Trung Quốc chứ không phải là một quốc gia độc lập.

Ngay trong những ngày làm việc đầu tiên của tân Tổng thống Mỹ Joe Biden, căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ về vấn để Đài Loan và Biển Đông đã gia tăng. Tại Bắc Kinh, người phát ngôn Văn phòng Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên đã chỉ trích việc triển khai hàng không mẫu hạm USS Theodore Roosevelt của Mỹ tới Biển Đông là sự „cuộc phô trương sức mạnh“ đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực. Người phát ngôn cũng bác bỏ yêu cầu của Mỹ đòi Bắc Kinh chấm dứt áp lực quân sự, kinh tế và ngoại giao đối với Đài Loan.

Triệu Lập Kiên nhấn mạnh lập trường của Trung Quốc, rằng hòn đảo này là một phần không thể tách rời của Cộng hòa Nhân dân. Bắc Kinh kiên quyết chống lại những cố gắng đòi độc lập hoặc sự can thiệp của các thế lực bên ngoài. Bắc Kinh sẵn sàng đối thoại – nhưng chỉ trên cơ sở chính sách một Trung Quốc. Mỹ yêu cầu Bắc Kinh chấm dứt „đe dọa“ Đài Loan qua các trò chơi khoe cơ bắp quân sự. Các lực lượng vũ trang Đài Loan thông báo hôm thứ Bảy, rằng 8 máy bay ném bom và 4 máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã xâm nhập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) và như muốn kiểm tra khả năng phòng không của họ. Đây là hành động quân sự lớn nhất của loại hình này cho đến nay, trong năm qua họ đã luôn gia tăng hành động khiêu khích như thế.

Trung Quốc tức giận vì đại diện Đài Loan được mời dự lễ nhậm chức tổng thống

Bắc Kinh tức giận vì đại diện Đài Loan tại Washington chính thức được mời đến dự lễ nhậm chức của tổng thống của Biden. Chính quyền Mỹ trước đây của Donald Trump đã nâng cấp quan hệ với Đài Loan và cho phép lần đầu tiên tiếp xúc chính thức, điều mà Bắc Kinh kiên quyết từ chối không công nhận chính phủ được bầu cử dân chủ ở Đài Bắc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc kêu gọi Mỹ không gửi „những tín hiệu sai lầm“ cho lực lượng đòi độc lập của Đài Loan để không làm tổn hại đến quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ. Bất chấp những lời đe dọa từ Bắc Kinh, Đài Loan tự do coi mình là một quốc gia độc lập và tìm kiếm sự công nhận về mặt ngoại giao trên thế giới, trong khi nước này bị cô lập khỏi Trung Quốc hùng mạnh.

Hải quân Mỹ lý giải cho việc triển khai „USS Theodore Roosevelt“ ở Biển Đông bằng tuyên bố, rằng nhóm tác chiến tàu sân bay vận động ủng hộ „tự do hàng hải“ trong vùng biển mà 2/3 thương mại thế giới được vận chuyển qua đó. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền một phần lớn khu vực biển giữa Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia và Philippines. Tòa án Trọng tài Quốc tế La Hay đã bác bỏ các tuyên bố của Trung Quốc vào năm 2016, mà Bắc Kinh phớt lờ. Người phát ngôn Văn phòng Ngoại giao Triệu Lập Kiên kêu gọi chính quyền mới của Tổng thống Mỹ Biden không nên khơi mào tranh chấp. Bắc Kinh hy vọng rằng cả hai bên có thể hợp tác và giải quyết những khác biệt – „trên tinh thần không đối đầu“.

Lê Hoàng tổng hợp

Loading

Views: 0

Sự khác biệt của Vắc xin ngừa Corona – từ Biontech đến Sputnik V

Hiện nay có hơn 70 loại vắc xin khác đang được xúc tiến thử nghiệm trên cơ thể người. Các loại vắc xin khác nhau về phương thức hoạt động, hiệu quả, độ an toàn cũng như giá cả và khả năng sản xuất và phân phối. Cái nào có cơ hội cao nhất trên thị trường thế giới? Sau đây là tổng quan về những loại vắc xin có triển vọng nhất.

Vắc xin mRNA của Biontech, Moderna và Curevac

Sử dụng công nghệ tiên tiến nhất hiện nay dựa trên mRNA, không dùng một phần hay toàn bộ Virus gây bệnh mà dùng thông tin (mật mã) di truyền của virus để đưa vào như những thành phần kháng nguyên vô hại kích thích và huấn luyện hệ miễn dịch của cơ thể nhằm sinh ra những kháng thể chống virus. Nghiên cứu ở giai đoạn cuối cho ra kết quả cao hơn cả kỳ vọng khoảng 95%. Tuy nhiên cũng có những tác dụng phụ nhất định như, quanh chỗ tiêm bị sưng đỏ đau ngứa, sốt, đau đầu hay nhức mỏi trong 3 ngày đầu là chuyện bình thường. Có tin đồn loại vắc xin này có thể làm thay đổi DNA? Hy vọng là không có chuyện này.

Vắc xin của Pfizer/Biontech và Moderna về cơ bản không khác nhau. Vắc xin Moderna cần nhiều nguyên liệu hơn nên khó khăn hơn về định lượng trong sản xuất. Việc bảo quản vắc xin của Biontech ở nhiệt độ -70 sẽ là 1 trở ngại, trong khi vắc xin của Moderna chỉ cần -20 độ là ok.

Vắc xin Tübinger Curevac được thiết kế sau 4, 5 tháng và khác với Biontech và Moderna, ở đây người ta dùng mRND chưa chỉnh sửa điều này sẽ làm cho vắc xin mạnh hơn, liệu có sinh nhiều phản ứng phụ hơn không, có lẽ chờ thực tế chứng minh. Vắc xin Curevac chỉ cần bảo quản trong tủ lạnh bình thường.

Vắc xin Astra-Zeneca, Johnson & Johnson, Merck

Đây là loại vắc xin vecktor. Người ta lấy 1 đoạn Protein bề mặt virus gây bệnh (Spike Protein Corona Virus) cấy lên virus gây sổ mũi ở Tinh Tinh tạo ra “virus mang thông tin gây bệnh” – vắc xin. Chích vắc xin vào, cơ thể người sẽ phản ứng và xác định vật thể lạ xâm nhập mà sinh ra kháng thể chống lại.

Loại vắc xin này có lợi thế là rẻ và dễ bảo quản, chỉ cần nhiệt độ trong tủ lạnh. Một người cần chích 2 liều tốn chừng 5 Dollar. Ước chừng 5 tỷ người trên thế giới sẽ dùng loại này.

Trở ngại đáng kể của công nghệ này là: Khi chích liều thứ 2, rất có khả năng hệ miễn dịch của cơ thể, do được huấn luyện từ liều thứ nhất, sẽ tiêu diệt những virus “vận chuyển” thông tin gây bệnh.

Vắc xin Sputnik V của Nga

Công nghệ điều chế Gam-COVID-Vac giống như Astra-Zeneca & Co. Sputnik V được Nga cho phép lưu hành ngày 11.8.2020. Sputnik V là vắc xin ngừa corona đầu tiên trên thế giới được công bố lưu hành, khi nó chưa vượt qua thử nghiệm đợt 3, có nghĩa chưa đạt chuẩn y tế phương Tây.

Ngoài những lợi thế như vắc xin của Astra-Zeneca, Sputnik V được làm khô đông lạnh đóng gói chân không và ở nhiệt độ trong phòng có thể hoà tan như cà phê tan.

Vắc xin Sinovac của Trung Quốc

Công nghệ điều chế cổ điển lỗi thời bằng cách dùng chính virus corona nhân giống lên sau đó phun hoá chất làm bất hoạt chúng để khi tiêm vào cơ thể người virus không xâm nhập phá hoại tế bào được nữa.

Giới y tế phương Tây không tin tưởng vào công nghệ này, vì virus đã thực sự bất hoạt 100% không? Hay nó vẫn hoạt động như họ hàng nó ngoài kia?

Trung Quốc đang cho chích ngừa hàng loạt, trước mắt là nhân viên y tế và quân đội.

Khả năng nhiều nước nghèo ở châu Á và châu Phi không có lựa chọn nào khác vẫn sẽ phải mua loại vắc xin này.

Lê Hoàng tổng hợp

Loading

Views: 0

Truyền thông Đức đề cập một số lĩnh vực ưu tiên 5 năm tới của Việt Nam

Chú thích ảnh
Pano chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Ảnh: Trung Nguyên/Báo Tin tức

Phóng viên TTXVN tại Đức dẫn bài báo cho biết từ ngày 25/1 đến ngày 2/2, Việt Nam sẽ tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc để bầu ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và hoạch định chính sách trong 5 năm tới, trong đó đại dịch COVID-19, vấn đề thương mại và biến đổi khí hậu sẽ nằm trong ưu tiên giải quyết của ban lãnh đạo mới.

Bài báo đánh giá ít có quốc gia nào trên thế giới chống đại dịch COVID-19 thành công như Việt Nam. Với việc thực hiện các biện pháp nghiêm ngặt, Việt Nam đã kiểm soát được số ca lây nhiễm và theo số liệu của trường Đại học Johns Hopkins (Mỹ), tính đến ngày 21/1, Việt Nam mới chỉ ghi nhận 1.544 ca nhiễm và 35 ca tử vong liên quan COVID-19.

Bài báo nêu rõ do kiểm soát tốt dịch bệnh, nền kinh tế Việt Nam cũng không bị ảnh hưởng nhiều. Theo các số liệu chính thức, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng hơn 2,9% trong năm 2020, trong khi sự lạc quan và niềm tin người tiêu dùng ở mức cao. Bài báo nhấn mạnh quốc gia định hướng xuất khẩu như Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với nền kinh tế toàn cầu hóa và chuỗi cung ứng quốc tế, cũng như đối với Liên minh châu Âu (EU) và Đức khi Hiệp định Thương mại tự do giữa EU với Việt Nam (EVFTA) đã có hiệu lực. Việt Nam cũng đã tổ chức trực tuyến lễ ký hiệp định tạo ra khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới mang tên Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Theo DW, Đại hội Đảng – sự kiện chính trị quan trọng nhất của Việt Nam, sẽ tiến hành bầu các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đề ra các đường lối chính trị trong 5 năm tới. Về các thách thức những năm tới, chuyên gia chính trị Carl Thayer từ Đại học New South Wales ở Australia nhận định an ninh năng lượng là vấn đề cấp bách nhất trong 5 năm tới của Việt Nam, bởi nền kinh tế bùng nổ ngày càng cần nhiều năng lượng hơn. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần giải quyết những vấn đề về thương mại và thuế quan với Mỹ – thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc lớn vào sự phục hồi của kinh tế toàn cầu sau đại dịch COVID-19. Ông Thayer bày tỏ lạc quan Việt Nam sẽ đạt được thỏa thuận với Mỹ và nhiều khả năng sẽ trở lại đạt tăng trưởng kinh tế hai con số trong vòng 5 năm tới, đặc biệt với lợi thế là các hiệp định thương mại tự do mới được ký kết.

Trong khi đó, Phó Giám đốc Công ty tư vấn Control Risks – bà Nguyễn Phương Linh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiến hành cải cách, tận dụng lợi thế cạnh tranh như sự ổn định chính trị, cơ cấu dân số thuận lợi và lực lượng lao động tương đối rẻ và cần cù.

Nhà báo Mike Tatarski, sống tại Thành phố Hồ Chí Minh đề cập nhu cầu cấp bách phải hiện đại hóa cơ sở hạ tầng trong bối cảnh Việt Nam đang là lựa chọn ưa thích trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Theo ông, dù đã đạt được nhiều thành tựu trong những năm gần đây, song nhiều dự án quan trọng vẫn đình trệ. Ngoài ra, ông Tatarski cũng cho rằng một trong những vấn đề cấp bách của Việt Nam những năm tới là ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó cần thực hiện chính sách nông nghiệp bền vững hơn.

Mạnh Hùng (TTXVN)

Loading

Views: 0

Viện nghiên cứu Đức đánh giá cao thành tựu của Việt Nam

Chú thích ảnh
Các nhân viên y tế làm xét nghiệm virus SARS-CoV-2. Ảnh: TTXVN

Theo phóng viên TTXVN tại Berlin, mở đầu bài viết được đăng trên trang của Quỹ Hans Seifen của Đức – một trong những quỹ chính trị lớn nhất của Đức, tác giả Magdalena Knödler viết rằng, cuối tháng 1, một trong những sự kiện chính trị quan trọng nhất của Việt Nam sẽ diễn ra tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong khuôn khổ Đại hội Đảng, các vị trí lãnh đạo chính trị quan trọng nhất, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội từ năm 2021 đến năm 2030 và các mục tiêu chính sách phát triển trong 5 năm tới sẽ được đưa ra. Đại hội cũng định hướng phát triển chính sách đối nội và đối ngoại của đất nước. Trên đường phố, các áp phích tuyên truyền về đất nước đã trở nên nổi tiếng này ngày càng nhiều và các tòa nhà ủy ban nhân dân trên cả nước được trang trí bằng quốc kỳ.

Tác giả bài viết nhận định, năm 2020 là một năm đặc biệt khó khăn đối với Việt Nam, không chỉ vì cuộc khủng hoảng đại dịch COVID-19, nhưng Việt Nam đã đảm nhiệm tốt vai trò kép là Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ). Qua đó, Việt Nam có thể tăng cường ảnh hưởng trong khu vực. Việc phê chuẩn hiệp định thương mại tự do giữa EU và Việt Nam (EVFTA) và việc nâng cấp quan hệ giữa Liên minh châu Âu (EU) và ASEAN lên quan hệ đối tác chiến lược cũng diễn ra trong năm Việt Nam đảm nhiệm vai trò kép. Bài viết nhận định hội nhập khu vực và quốc tế đang ngày càng phát triển sẽ tiếp tục quyết định đường lối chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Trong khi đó, Viện Konrad – Andenauer đăng tải báo cáo dài 6 trang thông tin về Đại hội Đảng. Theo báo cáo, kết quả của Đại hội Đảng sẽ quyết định đường hướng chính sách đối nội, đối ngoại trong tương lai và mang tính đột phá cho nền kinh tế Việt Nam trong 5 năm tới. Báo cáo viết rằng năm 2020 là một năm đầy khó khăn nhưng thành công đối với Việt Nam. Việc đối phó với đại dịch COVID-19 đặt ra cho đất nước những thách thức to lớn, tuy nhiên, những thách thức này đã được đáp ứng rất tốt về mặt chính sách y tế và kinh tế so với toàn cầu. Về chính sách đối ngoại, năm 2020 là năm mà vai trò Việt Nam thể hiện mạnh hơn trên trường quốc tế với vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ và Chủ tịch ASEAN.

Báo cáo nhấn mạnh Đại hội Đảng diễn ra trong bầu không khí tự tin, bởi mặc dù có sự suy giảm tăng trưởng kinh tế do đại dịch COVID-19 nhưng so sánh với toàn cầu, Việt Nam đã đối phó với cuộc khủng hoảng cực kỳ thành công. Tỷ lệ lây nhiễm ở Việt Nam vẫn được giữ ở mức thấp cho tới nay, những nỗ lực này được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá cao, nhận định Việt Nam đã rất chủ động và nhất quán. Có được điều này là thành quả của hành động sớm của chính phủ, cơ quan chức năng và người dân. Năm 2020 cũng là năm thành công về chính sách kinh tế và đối ngoại của Việt Nam.

Về kinh tế, báo cáo đánh giá thành công trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 đưa Việt Nam thành một trong số không nhiều quốc gia trên toàn thế giới có tăng trưởng kinh tế dương trong năm 2020. Việt Nam đang trở nên hấp dẫn hơn trong khu vực và toàn cầu khi mà các đối tác kinh doanh được coi trọng, chính trị ổn định, điều kiện đầu tư nói chung tốt. Cột mốc rất quan trọng trong quan hệ kinh tế song phương và đa phương là việc ký kết EVFTA và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

Thanh Bình (TTXVN)

Loading

Views: 0

Vì sao tên lửa SAM-3 vận chuyển qua TQ không về kịp để đánh B52

Trước năm 1972 Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam khoảng hai nghìn quả tên lửa SAM-2. Về mặt lý thuyết SAM-2 đủ khả năng tiêu diệt các loại máy bay của Mỹ kể cả máy bay B52.

Sam3

Tên lửa SAM-2 có tầm bắn cao 30.000 mét, trong khi đó B52 có độ bay cao hơn 10.000 mét. Các bệ phóng tên lửa của Liên Xô trước đây là bệ cố định, nhưng khi sang Việt Nam, ta đã cải tiến thành bệ xoay có thể bắn máy bay ở bất kỳ hướng nào. Vì vậy tên lửa SAM -2 đã góp phần quan trọng bắn rơi nhiều máy bay Mỹ trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam.

Năm 1967, trong cuộc chiến tranh giữa các nước Ả Rập với Israel, Liên Xô đã viện trợ cho các nước Ả Rập nhiều tên lửa SAM -2. Khi Israel thắng trận họ đã thu được khá nhiều tên lửa SAM-2. Israel là đồng minh thân cận của Mỹ, được Mỹ cung cấp nhiều vũ khí trong chiến tranh. Vì vậy khi đó dựa trên việc nghiên cứu SAM-2 do Israel thu được Mỹ đã tìm cách vô hiệu hóa SAM-2, đặc biệt là bằng các thiết bị gây nhiễu trên máy bay của Mỹ, nhất là gây nhiễu của máy bay B52.

Trước năm 1972, máy bay B52 của Mỹ chủ yếu hoạt động đánh phá ở Nam vĩ tuyến 17. Để nhận hết tín hiệu B52, quân chủng Phòng không- không quân đã phải đưa các xe radar vào gần vĩ tuyến 17 để cho các trắc thủ radar có thể phát hiện được B52 trên màn hình trong hàng đống nhiễu do máy bay Mỹ thực hiện. Khi các đài radar phát sóng, máy bay Mỹ có thể nhận hết qua sóng và dùng tên lửa tiêu diệt các đài radar. Hàng trăm chiến sĩ radar của Việt Nam đã phải hi sinh để chuẩn bị cho cuộc chiến chống B52.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng cảnh báo là chắc chắn là Mỹ sẽ dùng B52 đánh phá miền bắc, nhất là Hà Nội và Hải Phòng và Mỹ sẽ chỉ xuống thang rút quân khi bị thua trên bầu trời Hà Nội.

Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương đã chỉ đạo Quân chủng Phòng không – Không quân tích cực chuẩn bị phương án đánh B52. Khi chúng tấn công miền bắc. Bộ đội tên lửa nghiên cứu tìm cách đánh bằng tên lửa SAM-2 khi bị máy bay Mỹ gây nhiễu. Bộ đội tên lửa lúc đó gọi là vén nhiễu tìm B52.

Đồng thời lúc đó ta cũng đề nghị Liên Xô viện trợ tên lửa SAM-3. So với tên kửa SAM-2 thì tên lửa SAM-3 hiện đại hơn và có độ chính xác rất cao khi tiêu diệt mục tiêu. Đầu năm 1972, được Liên Xô đồng ý, Quân chủng Phòng không – Không quân thành lập hai trung đoàn 276 và 277 đi sang Liên Xô học tập và tiếp nhận tên lửa SAM-3.

Khả năng Mỹ có thể dùng B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng vào cuối năm 1972 đã được dự báo. Vì vậy việc huấn luyện cho hai trung đoàn 276 và 277 rất khẩn trương. Theo nguyên tắc để có thể sử dụng hiệu quả SAM-3 thì bộ đội phải được học tập và huấn luyện trong 18 tháng. Nhưng Quân chủng phòng không – Không quân đề nghị Liên Xô rút ngắn thời gian học tập, huấn luyện còn 8 tháng làm cho các sĩ quan Liên Xô rất e ngại và nghi ngờ hiệu quả.

Nhưng bằng quyết tâm rất cao, sẵn sàng học tập, huấn luyện cả ngày lẫn đêm, không có ngày nghỉ của các sĩ quan, chiến sĩ Việt Nam, các giáo viên sĩ quan của Liên Xô cũng tận tình giúp đỡ. Sau 8 tháng học tập, huấn luyện, kết quả kiểm tra bắn thử của Bộ đội Việt Nam đạt kết quả chính xác rất cao. Liên Xô hoàn toàn yên tâm khi chuyển giao tên lửa SAM-3 cho bộ đội Việt Nam. Ta tổ chức tiếp nhận tên lửa ngay tại Liên Xô và chuyển theo đường tàu hỏa về Việt Nam. Hai trung đoàn 276 và 277 cũng lập tức lên đường về nước chuẩn bị cho cuộc chiến đấu đánh B52 bằng tên lửa SAM-3.

Hai trung đoàn về đến Việt Nam vào đầu tháng 12 năm 1972. Theo lịch trình tên lửa chở theo tàu hỏa từ Liên Xô qua Trung Quốc về đến Việt Nam trong 5 ngày, nghĩa là vào đầu tháng 12. Nhưng đến 18 tháng 12 khi Mỹ bắt đầu dùng B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng thì tên lửa SAM-3 vẫn nằm đâu đó trên đường.

Cán bộ chiến sĩ trung đoàn 276 và 277 lòng nóng như lửa đốt, chờ đợi ở cửa khẩu Việt Trung để đón nhận SAM-3, trong khi đó Bộ đội tên lửa của ta bằng chiến thuật vạch nhiễu tìm B52 đã chiến đấu rất hiệu quả. Trong cuộc tấn công này Mỹ đã huy động tới hơn 700 lượt B52 đánh phá miền bắc. Ta đánh máy bay Mỹ bằng SAM-2, các loại súng, pháo phòng không trong khi tên lửa SAM-3 có độ chính xác cao lại chưa thể về đến Việt Nam.

Cuối cùng thì SAM-3 cũng đã về đến Việt Nam trong niềm vui sướng của bộ đội 2 Trung đoàn 276, 277 và tất cả bắt tay ngay vào việc lắp ráp để chiến đấu. Nhưng khi SAM-3 đã sẵn sàng vào trận thì cũng là ngày Mỹ tuyên bố dừng chiến dịch dùng không quân đánh phá miền Bắc và sau đó chấp nhận ngồi vào đàm phán tại hội nghị Pari.

Cho đến mãi sau này, nhiều cán bộ quân chủng Phòng không- Không quân vẫn chưa lý giải được vì sao lịch trình có 5 ngày mà phải mất gần một tháng tên lửa SAM-3 đi qua Trung Quốc mới về đến Việt Nam. Trước đó các loại vũ khí kể cả SAM-2 khi vận chuyển từ Liên Xô qua Trung Quốc đều bị Trung Quốc bớt lại để nghiên cứu và trang bị cho quân đội Trung Quốc.

Lần này phải chăng ngoài lý do như các lần trước khi vũ khí Liên Xô viện trợ cho Việt Nam mà Trung Quốc “ăn chặn”, còn có thể có lý do nữa là trước đó Tổng thống Mỹ đã thăm Trung Quốc và họ đã có những thỏa thuận ngầm.

Nếu SAM-3 về kịp tham gia chiến đấu thì số B52 của Mỹ không chỉ có 34 chiếc bị tiêu diệt.

BDN

Loading

Views: 0

Giọt nước tràn li!

Đối với Trung Quốc, lâu nay Nhật Bản thường kín tiếng, nhất là những sự kiện liên quan đến Biển Đông. Ngay cả những hành động lấn lướt, bắt nạt các nước láng giềng, ngang nhiên quân sự hóa các đảo, đá ở Biển Đông, Nhật Bản cũng chỉ nêu vấn đề chung chung. Vậy mà mới đây Tokyo đã bất ngờ phản ứng mạnh mẽ.

Theo một thông tin nóng hổi vừa đăng trên trang Japan Times, Nhật Bản vừa gửi công hàm lên Liên hợp quốc. Nội dung công hàm kịch liệt với tố cáo Trung Quốc đã và đang có những hành động bất chấp luật pháp quốc tế, gây ảnh hưởng đến hòa bình, tự do hàng hải trên Biển Đông.

Công hàm nêu trên được gửi đi vào ngày 19/1, trong đó nội dung chủ yếu là bác bỏ quan điểm sai trái của Trung Quốc. Cụ thể, Bắc Kinh đã trắng trợn tuyên bố: “Việc Trung Quốc vẽ đường cơ sở lãnh hải trên các đảo và đá ngầm có liên quan ở Biển Đông là phù hợp với UNCLOS và quốc tế chung pháp luật”. Quan điểm sai trái này được Bộ Ngoại giao Trung Quốc nêu  trong công hàm Verbale số CML63/2020 và được gửi đi từ ngày 18/9/2020.

Vì sao Bắc Kinh lại xưng xưng nói ra điều phi lý ấy?  Hành động xâm lấn lãnh hải, chủ quyền của các nước lân cận đã rõ như ban ngày, vậy mà Trung Quốc vẫn cho rằng “phù hợp” với UNCLOS (!) (Công ước quốc tế về luật biển -1982). Thật sự thì UNCLOS đã đưa ra các điều kiện để áp dụng các quyền lãnh hải một cách cụ thể và đầy đủ. Trong khi đó Trung Quốc đã không viện dẫn các điều khoản liên quan của UNCLOS để khẳng định tính hợp pháp của các đường lãnh hải được đề cập.

Dù giả bộ tai lành tai điếc, Trung Quốc không có bất kỳ lí do gì giúp bất kỳ quốc gia nào trên thế giới có quyền hạn khẳng định quyền lãnh hải mà không đáp ứng đủ các điều kiện quy định của UNCLOS.

Trong Công hàm số CML63/2020 đầy mâu thuẫn, Trung Nam Hải đề cập đến quyền tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Thật vô lý khi “quyền tự do” đó được thực hiện trong vùng biển và vùng trời vốn không có lãnh hải và vùng trời lãnh hải của Trung Quốc. Phán quyết của Tòa Trọng tài  quốc tế tại Lahaye ngày 12/7/ 2016 đã nêu rất chi tiết điều này.

Trung Quốc vẫn cố cãi chày cãi bửa khi tuyên bố, nước này không chấp nhận phán quyết của Tòa. Họ vẫn nhai nhải nói rằng Trung Quốc có “chủ quyền” trên vùng biển và vùng trời xung quanh và phía trên các đối tượng địa lý hàng hải tại nơi đây. Bắc Kinh còn ngang ngược phản đối việc máy bay Nhật Bản bay qua không phận xung quanh một số khu vực đang có tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc.

Theo Japan Times, những hành động trắng trợn của Trung Quốc hạn chế quyền tự do hàng hải của Nhật Bản tại Biển Đông đã quá sức chịu đựng của Nhật Bản. Do đó Tokyo phải thẳng thắn lên tiếng trước Liên hợp quốc, nhằm giữ gìn hòa bình, an ninh trong khu vực.

Như giọt nước tràn li, Tokyo đến lúc phải tỏ thái độ một cách dứt khoát. Chẳng là từ lâu Bắc Kinh đã tuyên truyền  trong dân chúng của họ rằng: Nhật Bản đã chiếm quần đảo Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) hồi Thế chiến thứ II (1945), do đó Trung Quốc gánh vác “sứ mạng quốc tế” lấy lại quần đảo này khi Nhật Bản đầu hàng đồng minh (!)

Bắc Kinh còn lu loa: Việc lấy lại quần đảo Nam Sa từ sự chiếm giữ của Nhật Bản khi Thế chiến thứ II kết thúc là phần trách nhiệm của Trung Quốc trong việc lập lại “trật tự thế giới thời hậu chiến”.

Tân Hoa xã bịa đặt rằng, quốc tế đã công nhận và đề nghị trao trả lại những vùng lãnh thổ của Trung Quốc bị Nhật “cướp” thông qua những tuyên bố, trong đó có Tuyên bố Cairo năm 1943 và Tuyên bố Potsdam năm 1945 (!).

Trung Quốc là thế! Với tư tưởng bành trướng, lấn sâu xuống phía nam, độc chiếm Biển Đông, Bắc Kinh sẵn sàng biến không thành có, biến trái thành phải, gây hấn với tất cả láng giềng. Thế nhưng họ vẫn ra sức xuyên tạc, vu cáo, chìa bàn tay “hợp tác” kinh tế để che giấu những hành động phi pháp.

Hành động của Nhật Bản lúc này là đúng lúc, cần có sự hợp tác, lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ, Việt Nam, Philippines và các nước trong khu vực.

BDN

Loading

Views: 0

Canh bạc cuối của ông Pompeo

Thời báo Hoàn Cầu – một ấn phẩm của Nhân Dân nhật báo Trung Quốc-  đang có một số bài viết đón thời cơ khi Joe Biden chuẩn bị nhận chức Tổng thống vào ngày 20/1 tới. Cụ thể các bài viết trên ấn phẩm này nhằm đả phá chính quyền của Tổng thống sắp mãn nhiệm Donald Trump và những người thân cận ông.

Với vẻ “khách quan”, “chân thật”, Hoàn Cầu đưa những tin nóng sốt về việc chuẩn bị tổ chức lễ nhậm chức của Tân Tổng thống Mỹ, trong đó khéo léo khen ngợi vị Tổng thống đại diện Đảng Cộng hòa. Ấn phẩm này cũng không quên phang thẳng cánh những nhân vật trong Nhà trắng có những ý kiến lên án Trung Quốc. Lần này nhân vật bị “phang” là Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo.

Mike Pompeo bị báo chí Trung Quốc, trong đó có Hoàn Cầu định danh là một Ngoại trưởng hết thời. Mike chính là ngoại trưởng tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ. Ông ta “tồi tệ” vì chỉ là cái bóng của ông chủ Nhà trắng, vì đã viết hàng loạt bài chống Trung Quốc “dữ dội và bỉ ổi”, trên Twitter.

Những người theo dõi thái độ và các hoạt động của Pompeo thì không lạ gì thái độ cứng rắn của ông với chính quyền Bắc Kinh. Ông là người kiên quyết chống Trung Quốc và chống bằng nhiều cách, với những lý lẽ, chứng cứ thuyết phục trong nhiều năm qua. Ngoại trưởng Mỹ từng tuyên bố: “Mối đe dọa bên ngoài lớn nhất về trung và dài hạn đối với nước Mỹ đến từ Trung Quốc”.

Riêng trong tuần qua, ông Pompeo đã viết khoảng 30 bài chống Trung Quốc. Nội dung xoay quanh một số vấn đề: Các cuộc tấn công bằng lời nói vào chính quyền Trung Quốc; sự lá mặt lá trái của truyền thông Trung Quốc; các chính sách liên quan đến Khu tự trị Tân Cương, Hồng Công, Biển Đông; phản ứng của Trung Quốc đối với sự bùng phát Covid-19, v.v..

Hoàn Cầu lên án Ngoại trưởng hết thời của Mỹ, rằng những bài đăng công kích này không khiến nhiều người Trung Quốc ngạc nhiên. Không hề ngạc nhiên và bận tâm vì luận điệu nhất quán chống Trung Quốc của Pompeo đã lặp lại nguyên xi chính sách cứng rắn với Trung Quốc của chính quyền Donald Trump.

Một câu hỏi đặt ra: Tài khoản Twitter của Ngoại trưởng của quốc gia quyền lực nhất thế giới liệu có trở thành một trang chuyên chống Trung Quốc nhằm mục đích kích động, gây hận thù?

Trả lời câu hỏi này, ông Shen Yi, giáo sư tại Trường Quan hệ Quốc tế và Các vấn đề Công chúng thuộc Đại học Phúc Đán, cho rằng: “Pompeo hiện đang ở giai đoạn cuồng loạn cả về thể chất và tâm lý. Bởi ông ấy đang phải đối mặt với thất bại nặng nề trong sự nghiệp chính trị của chính mình. Ông ta cũng vô cùng lo lắng trong những ngày cuối cùng ở Nhà trắng, khi nhận ra rằng ông mắc sai lầm vì quá tin Tổng thống Trump, đặc biệt là sau khi bạo loạn ở điện Capitol”.

Thời báo Hoàn Cầu mỉa mai Mike Pompeo: “Trong khi một số phương tiện truyền thông Mỹ nói rằng sự kết thúc nhiệm kỳ của ông Pompeo sẽ được ghi nhớ bởi sự hắt hủi từ các đồng minh châu Âu của Mỹ, khi các quan chức EU từ chối gặp ông sau cuộc bạo loạn. Ngoài ra, nhiều nhà phân tích chính trị Mỹ (bao gồm cả cựu ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson) đều cho rằng, chính sách đối ngoại của Trump là một thảm họa và Pompeo là một phần chính trong số đó”.

Các chuyên gia Trung Quốc lác đác có ý kiến chủ yếu trên mạng xã hội.  Họ coi việc ông Pompeo chơi xấu Trung Quốc chẳng qua muốn “kêu gọi những người khác đừng quên ông ấy”. Bởi lúc này đây thế giới đang mong đợi chính quyền Biden xây dựng nên một mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, thay thế cho chính sách trừng phạt kinh tế nặng nề và sự hung hăng trên Biển Đông của Donald Trump.

Một quan chức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, nói trong một cuộc họp báo hôm cuối tuần trước rằng, ông sẽ không lãng phí thời gian để bác bỏ các tuyên bố của Pompeo về Biển Đông.

Nhưng đấy là “phân tích” của Hoàn Cầu. Những phân tích và bình luận cốt để an lòng dân trong nước. Còn như âm mưu bành trướng hòng độc chiếm Biển Đông với chiến dịch “tằm ăn dâu”, với những bằng chứng quân sự hóa các tiền đồn trên biển của Bắc Kinh thì Pompeo đã nói không sai.

Và Pompeo vẫn thản nhiên chơi canh bạc cuối. Ông tiếp tục đổ lỗi cho Trung Quốc về dịch Covid-19 và câu hỏi về nguồn gốc của virus. Ông cho rằng Trung Quốc là tội đồ lớn nhất đã gây nên cơn bão dịch tràn qua biên giới mọi quốc gia, gây thiệt hại nặng nề còn hơn một cuộc chiến tranh lớn. Ông còn ngồi ghế ngoại trưởng giờ nào thì còn vạch bộ mặt thật xấu xa của Bắc Kinh.

BDN

Loading

Views: 0

Cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung ở Đông Nam Á

Nguồn: David Shambaugh, “The Southeast Asian Crucible“, Foreign Affairs, 17/12/2020.

Người dịch: Vũ Duy Mẫn

Khu vực này tiết lộ gì về tương lai của cạnh tranh Mỹ-Trung?

Khi Tổng thống đắc cử Joe Biden và chính quyền sắp tới của ông bắt đầu đưa ra chiến lược nhằm quản lý sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, họ cần chú ý đến Đông Nam Á. Cuộc đua với Trung Quốc hiện đang diễn ra trên toàn thế giới và trên tất cả các lĩnh vực — ngoại giao, thương mại, an ninh, tầm ảnh hưởng, hệ tư tưởng, giá trị, giáo dục, khoa học và công nghệ, v.v. Sự cạnh tranh trong những lĩnh vực này ở Đông Nam Á đại diện cho một mô hình thu nhỏ và báo trước về cách nó có thể phát triển ở những nơi khác trên thế giới. Kết quả ở đó ít nhất sẽ ảnh hưởng đến phần còn lại của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương rộng lớn, vốn ngày càng trở thành trung tâm trong các vấn đề quốc tế.

Trong những năm gần đây, nhiều nước Đông Nam Á dường như đang “ngả theo” và thiết lập quan hệ chặt chẽ hơn với Bắc Kinh. Nhiều chuyên gia và quan chức trong khu vực và các nơi khác phát hiện ra sự thay đổi trong cán cân quyền lực và ảnh hưởng, một yếu tố có lợi cho Trung Quốc hơn Hoa Kỳ. Nhưng các nhà quan sát không nên phóng đại xu hướng này hoặc mong đợi nó sẽ tiếp tục vô thời hạn. Trung Quốc vẫn chưa thống trị Đông Nam Á và chắc chắn sẽ không làm được như vậy trong tương lai. Với các chính sách và cách tiếp cận đúng đắn, Washington có thể đối trọng với Bắc Kinh trong khi thúc đẩy các lợi ích của chính họ và đóng góp vào sự ổn định, an ninh và phát triển trong khu vực.

TẠI SAO ĐÔNG NAM Á LÀ QUAN TRỌNG

Đông Nam Á quan trọng. Đó là một khu vực năng động và trải rộng, kéo dài 1,7 triệu dặm vuông: hơn 3.000 dặm từ đông sang tây và hơn 2.000 dặm từ bắc xuống nam. Khu vực này bao gồm 11 quốc gia, 10 trong số đó là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Với tổng dân số 636 triệu người, Đông Nam Á là một trong những khu vực đông đúc nhất trên hành tinh. Kích thước nhân khẩu học phù hợp với quy mô của sự đa dạng tôn giáo và văn hóa của nó, với 240 triệu người Hồi giáo, 140 triệu Phật tử, 130 triệu Cơ đốc giáo và bảy triệu người Ấn Độ giáo sống ở Đông Nam Á. Đây cũng là một khu vực đa nguyên về chính trị, bao gồm năm loại hệ thống chính trị khác nhau, từ các nhà nước theo chủ nghĩa Lênin đến các nền dân chủ hoàn toàn. Về mặt kinh tế, Đông Nam Á đã có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất so với bất kỳ khu vực nào trên thế giới kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Ngày nay, các thành viên của nó hợp lại tạo thành nền kinh tế lớn thứ sáu trên thế giới, với tổng GDP là 2,8 nghìn tỷ USD vào năm 2018.

Tầm quan trọng chiến lược của khu vực là dựa trên địa lý. Eo biển Malacca và Biển Đông là những tuyến đường biển được sử dụng nhiều nhất trên thế giới; hàng năm, khoảng 50.000 tàu thuyền, 40% hoạt động trao đổi hàng hóa và 25% nguồn cung cấp dầu của thế giới đi qua chúng. Điều này giúp giải thích sự nhạy cảm về an ninh ngày càng tăng trong khu vực. Đặc biệt, việc Trung Quốc xây dựng các tiền đồn quân sự ở Biển Đông đã làm tăng sự nguy hiểm và tính linh hoạt chiến lược. Kết quả là trong những năm gần đây, các nước ASEAN ngoại trừ Campuchia và Lào đã tăng chi tiêu cho mua sắm quốc phòng và quân sự.

ASEAN kỷ niệm 50 năm thành lập vào năm 2017. Mặc dù thường xuyên bị chỉ trích vì những thiếu sót của mình, nhưng tổ chức này vẫn có nhiều điều đáng tự hào — đặc biệt là sự vắng bóng của chiến tranh giữa các thành viên kể từ cuộc xung đột Campuchia-Việt Nam kết thúc vào giữa những năm 1990. ASEAN cũng đã khá thành công trong việc giải quyết các thách thức an ninh xuyên quốc gia như cướp biển, buôn người, buôn lậu, tội phạm có tổ chức, đại dịch và ô nhiễm môi trường. Tổ chức này tự hào về “Phương thức ASEAN”: các quyết định đạt được bằng sự đồng thuận, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và hợp tác tự nguyện. Những chuẩn mực đó đã giúp gắn kết nhóm nhưng cũng cản trở nghiêm trọng khả năng của tổ chức trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn và hành động khi cần thiết. Một điểm yếu đặc biệt rõ ràng là không có khả năng làm trung gian hòa giải các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông hoặc ngăn chặn hoạt động xây dựng đảo quân sự hóa của Trung Quốc ở những vùng biển đó.

Khu vực này không còn xa lạ với sự cạnh tranh giữa các cường quốc. Kết quả là, các nước trong khu vực thực hành nghệ thuật phòng hộ chiến lược, có khuynh hướng trung lập và không liên kết, do lịch sử thuộc địa của họ. Mặt khác, một số nước Đông Nam Á đã lựa chọn chiến thuật phòng thủ truyền thống, áp dụng chính sách hình thành liên minh hoặc liên kết chiến lược với các cường quốc lớn hơn. Kể từ giữa những năm 1990, ASEAN đã áp dụng cách tiếp cận chủ động và bao trùm trong việc thu hút các cường quốc bên ngoài tham gia các cuộc đối thoại và gặp gỡ đa phương. Một số nhà quan sát chỉ trích các diễn đàn như vậy chỉ là “cửa hàng nói chuyện”, thực hiện được ít thứ và tạo ra phần lớn các thỏa thuận không ràng buộc. Trong chừng mực các cơ chế này nhằm mục đích trở thành các biện pháp xây dựng lòng tin để liên kết các cường quốc chặt chẽ hơn với khu vực, cho nên, ít nhất chúng phải được coi là thành công.

MẮC KẸT Ở GIỮA

Mặc dù sự cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã bùng phát một thời gian ở Đông Nam Á, nhưng sự điều động giữa Washington và Bắc Kinh đã gia tăng đáng kể sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đưa ra chính sách “xoay trục” về châu Á vào năm 2011, điều này đã kích thích Bắc Kinh gia tăng hiện diện riêng trong khu vực. Sự điều động chiến lược giữa hai đối thủ tiếp tục phát triển trong suốt những năm của chính quyền Trump. Về phần mình, Trung Quốc đã tăng cường can dự vào khu vực, đặc biệt là thông qua Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI), nhằm tìm cách mở rộng đáng kể các liên kết kinh tế và thương mại vốn đã rộng rãi của Bắc Kinh. Trung Quốc cũng đã tăng cường các hoạt động tiếp cận ngoại giao, giao lưu văn hóa và tạo ảnh hưởng trong toàn khu vực. Thách thức đối với tất cả các nước trong khu vực là điều hướng mối quan hệ ngày càng chặt chẽ với Bắc Kinh mà không trở nên quá phụ thuộc. Như một quan chức ngoại giao cấp cao của Thái Lan đã nói với tôi tại Bangkok: “Đã quá muộn để người Thái chúng tôi thoát khỏi vòng tay của Trung Quốc — chúng tôi chỉ đang cố gắng để không bị nó bóp nghẹt”.

Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều nhận thấy lợi ích thiết thực trong việc xích lại gần Bắc Kinh, và cho đến nay, họ chưa nhận thấy hậu quả thực sự nào từ Washington khi làm như vậy. Như một quan chức cấp cao trong Bộ Ngoại giao Malaysia giải thích với tôi, “Chúng tôi không có cách tiếp cận ý thức hệ đối với Trung Quốc, chỉ thực dụng và mang tính giao dịch. Trung Quốc cần bạn bè và chúng tôi có tư cách là bạn. Chúng tôi phải trả những giá nào khi đến gần Trung Quốc? Mỹ có thể làm gì với nó? ”

Xu hướng ngả theo này là có thật và đáng kể – nhưng không nên bị phóng đại. Thật vậy, một số yếu tố có thể góp phần vào sự đảo ngược của nó trong những năm tới. Thứ nhất, Bắc Kinh hoàn toàn có khả năng sử dụng quá mức và quá tay bằng cách trở nên quá khắt khe và bóc lột. Bằng chứng về hành vi này đã có thể được thấy trong các quan hệ của Trung Quốc với Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Ngay ở quốc gia thân cận của Trung Quốc là Campuchia, cũng có sự bất bình trong xã hội về làn sóng đầu tư của Trung Quốc vào các giao dịch mua đất, các sòng bạc và các dự án xây dựng. Chính phủ Indonesia rất lo ngại về 30.000 lao động Trung Quốc trong nước cũng như việc Trung Quốc khai quật khoáng sản từ Kalimantan và Sumatra. Năm 2011, Myanmar đã từ bỏ việc xây dựng một con đập do Trung Quốc tài trợ trên sông Irrawaddy vì có sự lo lắng về những rủi ro mà nó gây ra cho môi trường và khiến hàng chục nghìn dân phải di dời. Tương tự như vậy, vào năm 2017, Malaysia đã đóng băng hầu hết các dự án BRI của mình vì lo ngại về các khoản nợ và chi phí quá cao, tham nhũng, cơ sở hạ tầng không cần thiết và chủ quyền bị xâm phạm. Những trường hợp như vậy phản ánh sự thiếu chú ý và thiếu hiểu biết của Bắc Kinh về cảm xúc địa phương, và những phản ứng tương tự dường như có thể xảy ra ở những nơi khác.

Tai tiếng của Bắc Kinh là kết quả của việc các quan chức và nhà ngoại giao Trung Quốc sống trong bong bóng tuyên truyền và tạo tiếng vang của riêng họ, không quan tâm đến cách nhìn nhận về Trung Quốc trong khu vực. Các cơ quan tình báo của Bắc Kinh cũng có những hiểu biết đáng ngờ về khu vực, vì họ có xu hướng tập trung vào giới tinh hoa thương mại và chính trị và cộng đồng người gốc Hoa hơn là tìm hiểu những nghi ngờ và bất mãn của dân địa phương, xã hội dân sự, xu hướng chính trị, chính trị sắc tộc và những đặc thù phức tạp của các xã hội Đông Nam Á.

Hầu hết người Đông Nam Á có bản sắc hậu thuộc địa; họ nhanh chóng phản ứng trước những quyền lực lớn hơn đang tìm cách thiết lập các mối quan hệ bất đối xứng và hành động với thái độ kiêu ngạo. Họ cũng có những ký ức tươi mới về các chính sách và hành động lật đổ của Trung Quốc trong khu vực trong những năm 1960 và 1970, khi Bắc Kinh tích cực hỗ trợ các cuộc nổi dậy của cộng sản ở mọi quốc gia trong khu vực. Và các chính phủ và công chúng Đông Nam Á vẫn nhạy cảm sâu sắc với sự ủng hộ lịch sử của Trung Quốc dành cho các thành viên của cộng đồng người Hoa trong khu vực — đặc biệt là ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam, nơi ngày càng trở thành mục tiêu trong các hoạt động gây ảnh hưởng của Bắc Kinh.

MỘT SỨC MẠNH KHÔNG ĐƯỢC ƯA CHUỘNG

Khi Trung Quốc mở rộng dấu chân của mình trong khu vực, nhiều nhà quan sát cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ đang yếu đi và suy giảm nhanh chóng. Đây là một nhận thức sai lầm. Dấu ấn về văn hóa, kinh tế và an ninh của Hoa Kỳ trên khắp Đông Nam Á vẫn còn rất lớn. Trong hầu hết các tầm kích, nó thậm chí còn lớn hơn của Trung Quốc.

Chắc chắn, sự quan tâm ngoại giao không nhất quán của Washington là một trong những mắt xích yếu nhất đối với vị thế của Hoa Kỳ trong khu vực, vì các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ hiếm khi xuất hiện trong khu vực. Nhưng trong các lĩnh vực khác, Hoa Kỳ sở hữu sức mạnh toàn diện. Sự hiện diện quân sự và mạng lưới các đối tác an ninh của Hoa Kỳ hoạt động rộng khắp và sâu rộng. Quyền lực mềm của Hoa Kỳ – đặc biệt trong văn hóa và giáo dục đại chúng – vẫn mạnh mẽ. Sự hiện diện thương mại của nó lâu đời và rất lớn: hơn 4.200 công ty Hoa Kỳ hiện đang hoạt động ở Đông Nam Á. Tổng hợp lại, các nước ASEAN hiện là đối tác thương mại lớn thứ tư của Hoa Kỳ trên toàn thế giới, chiếm khoảng 350 tỷ đô la vào năm 2018.

Con số đó không sánh ngang được với 587,8 tỷ USD thương mại của Trung Quốc với các nước ASEAN vào năm 2018, nhưng điều đó hầu như không đáng kể. Ấn tượng hơn nhưng ít được đánh giá cao hơn là lượng đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào các nước ASEAN, hiện đạt tổng cộng 329 tỷ USD – nhiều hơn cả Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cộng lại. Theo ASEAN, hàng năm đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào khu vực này cao gần gấp đôi Trung Quốc: 24,9 tỷ USD so với 13,7 tỷ USD vào năm 2017.

Khi vị trí của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á được xem xét và đo lường một cách toàn diện thì các lợi thế so sánh và sức mạnh nội tại của Washington trở nên rõ ràng. Hơn nữa, các cuộc điều tra dư luận cho thấy một nguồn nhận thức tích cực về Hoa Kỳ trong nhiều công chúng Đông Nam Á (mặc dù, song song với xu hướng toàn cầu, đã giảm đáng kể trong thời Trump). Tuy nhiên, sức mạnh vị thế của Hoa Kỳ sẽ là một điều ngạc nhiên đối với bất kỳ ai chỉ sử dụng phương tiện truyền thông khu vực, vì nó duy trì thông tin lan truyền rằng Trung Quốc là cường quốc thống trị ở Đông Nam Á. Trên thực tế, Trung Quốc là một cường quốc được đánh giá hơi cao và Hoa Kỳ lại bị đánh giá hơi thấp.

KHÔNG BỎ WASHINGTON RA NGOÀI

Tất nhiên, sẽ là sai lầm nếu đánh giá quỹ đạo có thể có của khu vực bằng việc chỉ xem xét Bắc Kinh và Washington. ASEAN và các nước thành viên riêng lẻ có khả năng điều chỉnh lại, ở một mức độ nào đó, các mối liên kết bên ngoài của họ. ASEAN không phải là một khối thụ động, nó có tổ chức riêng và trong lịch sử đã chứng tỏ rất giỏi trong việc điều động và bảo hiểm rủi ro. Câu hỏi đặt ra lần này là: Với sức mạnh và ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh trong khu vực và mức độ thay đổi theo kỳ của Washington, liệu ASEAN có thể duy trì quyền tự chủ và tính linh hoạt của mình — hay Bắc Kinh sẽ dần dần xói mòn nó?

Các cường quốc tầm trung ở châu Á có thể giúp ASEAN tránh bị rơi vào gọng kìm giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Đặc biệt, Nhật Bản là một nước đóng vai trò quan trọng về kinh tế và quyền lực mềm ở Đông Nam Á, và Tokyo gần đây đang tăng cường hợp tác an ninh với một số quốc gia ASEAN. Ấn Độ cũng đang nhanh chóng mở rộng vị thế của mình ở Đông Nam Á, tương xứng với chính sách “Hành động hướng Đông” của Thủ tướng Narendra Modi. Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in cũng đã công bố “chính sách hướng Nam” cho đất nước của ông trong khu vực. Với sự gần gũi và liên kết thương mại của Australia với khu vực, Canberra tự coi mình có mối quan hệ đặc biệt với nhiều thành viên ASEAN. Ngay cả Nga cũng đang cố gắng đóng một vai trò lớn hơn trong khu vực. Những tác nhân này càng làm phức tạp thêm bàn cờ khu vực và khiến sự thống trị của Trung Quốc ít có khả năng xảy ra.

Do đó, bất chấp sự thay đổi lực hấp dẫn rõ ràng của Đông Nam Á đối với Trung Quốc, cái kết vẫn chưa được xác lập. Một trong những lợi thế so sánh của Hoa Kỳ trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc (ở Đông Nam Á và các nơi khác) là chính Trung Quốc. Sự bắt nạt ngông cuồng của Bắc Kinh, ngoại giao công khai kiểu “chiến binh sói”, bong bóng tuyên truyền, không chú ý đến mối quan tâm của địa phương và không có khả năng đưa ra những lời chỉ trích một cách xây dựng, tất cả đều làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc. Trong nhiều trường hợp, điều tốt nhất mà Washington nên làm là đơn giản để Bắc Kinh quá khích và xa lánh những người khác. Nếu chính quyền Biden đặt khu vực trở thành ưu tiên và liên kết lại với mục đích và tính nhất quán (đó là điều mà người Đông Nam Á tìm kiếm), thì Trung Quốc có thể trở thành đối trọng – và người Đông Nam Á có thể tận hưởng những gì tốt nhất của cả hai thế giới.

DAVID SHAMBAUGH là Giáo sư về Nghiên cứu Châu Á, Khoa học Chính trị và Các vấn đề Quốc tế, và Giám đốc Chương trình Chính sách Trung Quốc tại Đại học George Washington. Bài báo này được chuyển thể từ cuốn sách Nơi các cường quốc gặp gỡ: Mỹ và Trung Quốc ở Đông Nam Á (Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2020). Bản quyền © Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2020.

nghiencuuquocte.org

Loading

Views: 0

Thế khó của Việt Nam trước các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào

Vào ngày 4 tháng 1 năm 2020, trong kỳ họp lần thứ 42 của Ủy ban Liên Chính phủ Việt – Lào, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) đã ký năm hợp đồng mua từ tập đoàn Phongsubthavy và tập đoàn Chealun Sekong của Lào 1,5 tỷ kWh điện mỗi năm trong hai năm, bắt đầu từ năm 2021. Thỏa thuận này, trong khi minh họa cho tầm nhìn của chính phủ Lào về việc biến đất nước này thành “bình ắc quy của Đông Nam Á”, cũng đồng thời cho thấy những thách thức về an ninh năng lượng cũng như thế lưỡng nan của Việt Nam trong việc đối phó với kế hoạch xây dựng hàng loạt các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào.

Việt Nam sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu điện ngày càng nghiêm trọng trong những năm tới, ước tính sẽ lên mức 3,7 tỷ kWh vào năm 2021 và gần 10 tỷ kWh vào năm 2022. Ngoài nguyên nhân nhu cầu tăng do tăng trưởng kinh tế, một số yếu tố khác cũng đã góp phần dẫn tới sự thiếu hụt này.

Thứ nhất, trong số 60 nhà máy điện lớn đang được xây dựng, 35 dự án với tổng công suất 39.000 MW đang phải đối mặt với tình trạng chậm tiến độ từ một đến năm năm. Việc Quốc hội Việt Nam hồi năm 2016 thông qua việc dừng kế hoạch xây dựng các nhà máy điện hạt nhân cũng dẫn đến những thay đổi bất ngờ trong quy hoạch phát triển nguồn điện của cả nước.

Thứ hai, các dự án mới đang gặp khó khăn vì chính phủ không còn cấp bảo lãnh tín dụng cho các nhà máy điện. Do đó, các nhà phát triển điện lớn của Việt Nam như EVN, PetroVietnam và Vinacomin hiện phải dựa vào các khoản vay thương mại tốn kém hơn để tài trợ cho các dự án của mình. Do đó, thu xếp tài chính cho các dự án mới mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành.

Thứ ba, do chất lượng không khí suy giảm ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng như việc chính phủ nhấn mạnh hơn vào năng lượng tái tạo đã khiến Việt Nam tìm cách giảm phụ thuộc vào các nhà máy nhiệt điện than tuy rẻ nhưng gây ô nhiễm, hiện chiếm khoảng 41% tổng sản lượng điện của Việt Nam. Các nguồn năng lượng sạch hơn, như các nhà máy điện khí hay các trang trại điện mặt trời và điện gió, hiện được ưu tiên trở thành các nguồn điện thay thế.

Tuy nhiên, các nhà máy điện khí rất tốn kém và Việt Nam chưa có các kho khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) để phục vụ cho các nhà máy như vậy. Trong khi đó, mặc dù các trang trại điện gió và điện mặt trời xây dựng nhanh hơn nhưng công suất của chúng khá hạn chế. Dù Việt Nam hiện là nước đi đầu về năng lượng tái tạo ở Đông Nam Á, tổng công suất của 82 trang trại điện mặt trời đang hoạt động tới cuối tháng 6 năm 2019 chỉ là 4.464MW, chiếm 8,28% tổng sản lượng điện của cả nước. Việc phát triển các dự án năng lượng tái tạo mới trong tương lai sẽ phải đối mặt với thách thức do mức giá mua điện mà chính phủ phê duyệt thấp hơn cũng như việc Việt Nam chậm nâng cấp hệ thống truyền tải điện nhằm hấp thụ lượng điện bổ sung từ các dự án này.

Để giải quyết tình trạng thiếu điện trong ngắn hạn và trung hạn, Việt Nam sẽ phải tăng nhập khẩu điện từ các nước láng giềng, đặc biệt là Lào. Tuy nhiên, lựa chọn này đặt ra cho Việt Nam một vấn đề nan giải trong cách đối phó với các kế hoạch của Lào nhằm xây dựng thêm các đập thủy điện trên sông Mê Kông và các phụ lưu. Do lo ngại về tác động môi trường đối với đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam từ lâu đã phản đối kế hoạch của Lào nhằm xây dựng ít nhất 9 đập thủy điện lớn dọc theo con sông này. Mặc dù hai nước có mối quan hệ thân thiết, cho đến nay Việt Nam vẫn không thể thuyết phục được Lào xem xét lại kế hoạch của mình.

Sự kiên định của Lào, nay cộng với tình trạng thiếu điện ngày càng tăng của Việt Nam, dường như đã khiến Hà Nội dần cân nhắc một cách tiếp cận mới. Ví dụ, vào tháng 6 năm 2019, PV Power, một công ty con của PetroVietnam, đã tổ chức một cuộc hội thảo để thảo luận việc tham gia vào dự án đập thủy điện Luang Prabang trên sông Mê Kông. PV Power được cho là đang nắm giữ 38% cổ phần của dự án. Một số chuyên gia cho rằng do Việt Nam không thể ngăn cản Lào xây dựng các con đập, sẽ là một điều khôn ngoan nếu Việt Nam tham gia vào các dự án này để kiểm soát việc thiết kế và vận hành các con đập nhằm giảm thiểu tác động môi trường lên đồng bằng sông Cửu Long. Cách tiếp cận này mang tính thực dụng và có lẽ là giải pháp tốt nhất đối với Việt Nam vào lúc này, nhưng nó cũng không hoàn hảo. Việt Nam không thể tham gia vào tất cả các dự án và việc tham gia vào bất kỳ dự án nào trong số đó cũng sẽ làm suy yếu lập luận của Việt Nam khi phản đối các dự án tương tự ở Lào và các nước khác.

Về lâu dài, Việt Nam cần tự giải quyết các vấn đề của mình để đảm bảo một nguồn cung điện bền vững, giá cả phải chăng và thân thiện hơn với môi trường để phục vụ sự phát triển của đất nước. Ngay cả khi Việt Nam tham gia vào một số dự án xây dựng đập thủy điện ở Lào, chúng  ta vẫn cần tiếp tục phản đối việc xây dựng các con đập mới trên sông Mê Kông. Trong trường hợp Lào quyết định tiến hành xây dựng các đập mới, chúng ta cần phải yêu cầu Lào lựa chọn các thiết kế đập và công nghệ thủy điện phù hợp để giảm thiểu tác động môi trường. Xét cho cùng, đồng bằng sông Cửu Long rất quan trọng đối với an ninh lương thực của không chỉ Việt Nam mà còn của cả khu vực.

Lê Hồng Hiệp

nghiencuuquocte.org

Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được đăng trên ISEAS Commentary.

Loading

Views: 0

Cạnh tranh Mỹ-Trung vẫn là tâm điểm của 2021

Cuộc chiến không tiếng súng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới chắc chắn vẫn là một trong những tâm điểm đáng chú ý nhất trong năm 2021.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và ông Joe Biden tại Mỹ, năm 2016. (Nguồn: Getty)
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và ông Joe Biden tại Mỹ, năm 2016. (Nguồn: Getty)

Ý tưởng lập liên minh nhằm tạo áp lực, gây sức ép kinh tế với Trung Quốc của Tổng thống Mỹ đắc cử Joe Biden là một cách tiếp cận mới, sau bốn năm Mỹ chọn con đường đơn phương “nói chuyện” với Bắc Kinh.

Chương mới trong cạnh tranh Mỹ-Trung

Câu chuyện Mỹ-Nhật-Australia từng hợp tác gây sức ép với Trung Quốc nhằm dỡ bỏ sự kìm hãm đối với họ về các khoáng sản đất hiếm cần thiết trong sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, được nêu ra là một bằng chứng cho tính hiệu quả của ý tưởng liên minh gây sức ép cho Bắc Kinh.

Theo Cố vấn an ninh quốc gia được chỉ định của Tổng thống đắc cử Joe Biden, ông Jake Sullivan, Trung Quốc luôn thấy được lối thoát thông qua các mối quan hệ kinh tế của họ với những nước khác. Chỉ bằng cách đóng các lối thoát đó thì mới có thể khiến Trung Quốc kiềm chế các hành vi lạm dụng thương mại. Vì vậy, áp lực đa phương được cho là sẽ hiệu quả để khiến Bắc Kinh khó có thể dùng nước này chống lại nước khác bằng cách đưa ra “phần thưởng” là ưu đãi tiếp cận thị trường rộng lớn của họ.

Việc lập liên minh để đối phó với Bắc Kinh là cách tiếp cận khác hẳn với Tổng thống Trump – từng căng thẳng với cả các đồng minh khi đối đầu với Trung Quốc. Dù vậy, nếu cách tiếp cận của ông Trump đã thay đổi được quan điểm trong mối quan hệ Mỹ-Trung, hình thành quan điểm rằng, Trung Quốc không chỉ là đối thủ cạnh tranh mà còn là mối đe dọa với vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ; thì cách tiếp cận mới bằng một chiến lược đa phương của ông Biden cũng đã chia sẻ một quan điểm rằng, Trung Quốc đặt ra thách thức lớn với vai trò lãnh đạo kinh tế và chính trị của Mỹ trong thế kỷ XXI. Ông Biden cũng lên tiếng chỉ trích Trung Quốc cướp công nghệ của các công ty Mỹ, trợ cấp không công bằng cho các công ty Nhà nước.

Truyền thông quốc tế đưa tin, Chính quyền mới của ông Biden có kế hoạch mời gọi các nước đồng minh hàng đầu cho các liên minh về công nghệ, bao gồm cả việc phát triển các công nghệ viễn thông mới để giảm bớt sự phụ thuộc vào thiết bị 5G từ Huawei. Một số đề xuất khác liên quan đến việc ngăn chặn việc bán công nghệ sản xuất chất bán dẫn tiên tiến cho Trung Quốc, hiện do các công ty ở Mỹ, Nhật Bản và châu Âu thống trị, để cố gắng kìm chân các nhà sản xuất chất bán dẫn Trung Quốc.

Về phía Trung Quốc, nước này đang để mắt đến Chính quyền Mỹ mới một cách thận trọng, trong khi vẫn muốn cải thiện quan hệ. Tuy nhiên, từ chiến lược phát triển “tuần hoàn kép” đến tám nhiệm vụ đã được xác định tại Hội nghị công tác kinh tế Trung ương, có thể thấy Bắc Kinh đang rất cảnh giác với các sức ép từ bên ngoài.

Có nhiều ý kiến cho rằng, ông Biden chắc sẽ không bỏ qua nhu cầu cải thiện quan hệ từ phía Bắc Kinh. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, Chính quyền mới khó có thể bước qua hoặc lấp đầy những “hố sâu” trong mối quan hệ hiện tại. Các biện pháp trừng phạt Bắc Kinh của Tổng thống Trump với 3/4 kim ngạch nước này xuất qua Mỹ (tương đương 370 tỷ USD hàng hóa) khó có thể đảo ngược một cách nhanh chóng, kể cả khi được Tổng thống Mỹ đắc cử Biden ủng hộ.

Tuy nhiên, ông Biden hiện công khai cam kết tiếp tục thành quả cuộc chiến thuế quan của Mỹ đối với Trung Quốc, đồng thời tiếp tục thực hiện thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung giai đoạn một. Đội ngũ của ông Biden cũng chưa đưa ra cam kết gì đối với các cuộc đàm phán mới trong thời gian tới.

Bắc Kinh đã có sự chuẩn bị

Cũng là điều dễ hiểu nếu Chính quyền của ông Biden muốn phối hợp với các đồng minh để đối phó với Trung Quốc. Nhưng Chính sách “nước Mỹ trước tiên” của ông Trump từng xung đột toàn diện với đồng minh. Mặc dù, Chính quyền Mỹ mới có thể muốn thay đổi chính sách này của ông Trump, nhưng việc kêu gọi phối hợp để hình thành sức mạnh tổng hợp cứng rắn để đối đầu là vấn đề không dễ dàng.

Các đồng minh tiềm năng có thể sẽ miễn cưỡng tham gia một liên minh mới, sau bốn năm Washington chọn con đường đơn phương tiếp cận Trung Quốc và chỉ đề cao lợi ích Mỹ. Thậm chí, trước nhiền toan tính riêng từ các đồng minh, Mỹ còn có nguy cơ bị mắc kẹt trong những cuộc đàm phán, thay vì dẫn dắt được các thành viên.

Ngoài ra, xét về lợi ích, các đồng minh của Mỹ ít nhất còn lo ngại khả năng mất đi một thị trường khổng lồ. EU đã hoàn tất thỏa thuận đầu tư song phương với Trung Quốc sau bảy năm đàm phán, đã đưa ông Tập vào một vị trí mạnh mẽ hơn với chính quyền mới của Mỹ, như một lời nhắc nhở rằng không thể coi thường sự ủng hộ của châu Âu.

Trong lúc cách tiếp cận mới mẻ của Tổng thống đắc cử Mỹ vẫn còn để ngỏ nhiều vấn đề thì giới phân tích không ít người cho rằng, Bắc Kinh đã sớm nhận diện nguy cơ để chuẩn bị đón thách thức mới, thậm chí Trung Quốc còn được cho là đã đi trước một bước. Thời gian gần đây, Trung Quốc tích cực theo đuổi kế hoạch tiếp cận đa phương để thu hút càng nhiều càng tốt các đồng minh của Mỹ vào quỹ đạo kinh tế của mình. Bắc Kinh cũng xúc tiến các hợp tác thương mại song phương với từng nước với các tính toán riêng.

Trung Quốc cũng được cho là nỗ lực thông qua các tổ chức quốc tế, để kiểm soát tốt hơn “cuộc chơi quốc tế”. Chẳng hạn, mối quan tâm của Trung Quốc trong việc hoàn thành Hiệp định RCEP (tháng 11/2020) với 14 quốc gia khác, bao gồm ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, trong bối cảnh sức ép thương mại tăng dần từ Chính quyền Mỹ. Hay Hiệp định đầu tư toàn diện Trung-Âu (CAI) mới được ký kết nhằm tăng cường quan hệ kinh tế-thương mại với đồng minh châu Âu của Mỹ. Gần đây, Trung Quốc cũng tuyên bố sẽ xem xét việc tham gia CPTPP – Hiệp định mà Mỹ đã rút khỏi phiên bản ban đầu (TPP).

Trong giới học giả, nhiều người cho rằng, Trung Quốc đã tranh thủ tốt các cơ hội hợp tác quốc tế đa phương và song phương, tận dụng tối đa các mối quan hệ với các đồng minh của Mỹ và đẩy Washington ra càng xa càng tốt. Điều này đồng nghĩa với sức ép và các biện pháp trừng phạt của Mỹ từ các lĩnh vực thương mại, công nghệ, vốn… về cơ bản sẽ không làm giảm sức mạnh kinh tế của Trung Quốc, ngược lại, Washington có thể sẽ phải tự gánh chịu thiệt hại. Hơn nữa, “khoảng trống” Trung-Mỹ cũng sẽ có các đồng minh Nhật Bản, châu Âu… điền vào.

Trong thời đại của ông Biden, Mỹ đứng trước sự lựa chọn mới đối với Trung Quốc. Đây là một cuộc cạnh tranh đầy phức tạp, đồng thời cũng là thời kỳ mới mà nguy cơ và cơ hội cùng tồn tại.

TG&VN

Loading

Views: 0

Tổng kết hội nghị trực tuyến về Biển Đông

Ủy ban đối ngoại Quốc hội Đức nhấn mạnh tầm quan trọng tự do hàng hải trên biển Đông

Ngày 15/01/2021 tại thủ đô Berlin – CHLB Đức, Hội nghị trực tuyến về vấn đề biển Đông do Ủy ban đối ngoại Quốc hội Đức chủ trì, thảo luận với đại diện các Hội đoàn và chuyên gia người Việt tại Đức đã thành công tốt đẹp.

Tham dự Hội thảo, về phía Đức có Tiến sỹ De Ridder Daniela (đảng SPD), Phó chủ tịch Ủy ban Quốc Hội, kiêm Phó chủ tịch Ban phòng chống khủng hoảng dân sự, quản lý xung đột và kết nối thương mại Quốc hội Đức, chủ trì hội nghị; về phía Việt Nam có Giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Văn Thoại – Đại học Trier, ông Lê Hồng Cường – Chủ tịch Hội Tân Trào, Tiến sỹ Nguyễn Việt Anh – Phó chủ tịch Dien dan Doi moi sang tao va Kinh te Duc – Viet, Chu tich Hoi SVVN tai CHLB Duc, bà Vũ Lâm – thành viên Ban công tác hợp tác Đông Nam Á – Đức và bà Trương Loan, Luật sư, Chủ tịch Hiệp hội luật gia Đức – Việt (DVJV).

Phát biểu khai mạc Hội nghị, bà Daniela De Ridder bày tỏ vui mừng khi hội nghị có thể diễn ra bằng hình thức trực tuyến bất chấp ảnh hưởng của các biện pháp hạn chế phòng chống dịch COVID-19. Bà nhấn mạnh, thời gian qua, Quốc hội và Chính phủ Đức nói chung, cá nhân bà De Ridder nói riêng dành sự quan tâm rất lớn đối với tình hình an ninh biển Đông nói chung.

Đại biểu Quốc hội Đức thông tin, gần đây, bà đã lắng nghe nhiều ý kiến của các đồng nghiệp là nghị sỹ trong Quốc hội Đức về các căng thẳng tại khu vực Biển Đông. Tuy nhiên bản thân bà cũng rất muốn lắng nghe những đánh giá, thông tin từ cộng đồng người Việt, đại diện các Hội đoàn và chuyên gia người Việt tại Đức. Bà cũng đánh giá cao nỗ lực, tình cảm với Việt Nam và Đức của những người tham gia để cuộc họp trực tuyến có thể diễn ra tốt đẹp.

Về phần mình, GS. TS. Nguyễn Văn Thoại đã giới thiệu đôi nét chính về tình hình cộng đồng người Việt tại Đức cũng như nhấn mạnh sự quan tâm của cộng đồng, hội đoàn, chuyên gia trí thức đên sự ổn định tại khu vực Biển Đông. GS. Thoại cho biết, đã có khoảng 15 Hội đoàn người Việt đồng thuận gửi bức thư ngỏ đến Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Đức. GS. Thoại cũng nêu bật sự quan trọng bậc nhất của khu vực Biển Đông như một tuyết hàng hải huyết mạch của thế giới và Trung Quốc đã và đang có những hành động trái phép, xâm phạm chủ quyền vùng Biển Việt Nam đi trái với những quy định của Công ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc UNCLOS 1982. Ông kêu gọi các hành động cụ thể của Chính phủ Đức Đức cũng như EU nhằm giảm căng thẳng và củng cố an ninh tại khu vực. Đặc biệt, GS. Thoại cũng nếu qua nội dung của bức thư ngỏ và thông tin sẽ gửi đến cho TS. Daniela De Ridder và Ủy ban Đối ngoại Quốc Hội Đức.

Dưới góc nhìn luật gia, Luật sư Trương Loan đã điểm qua các thông tin liên quan đến UNCLOS 1982 và các phân cách lãnh phận phù hợp với Luật pháp Quốc tế. Luật sư Loan cũng nêu bật tình hình bất ổn, an ninh hàng hải tại khu vực. Bà Loan nêu bật tầm quan trọng của Phá quyết tòa án Quốc tế tại Den Haag năm 2016 và Thư lên tiếng của ba nước Đức, Anh và Pháp gửi Liên hiệp quốc vào tháng 09 năm 2020.

Tiếp nối là phần phát biểu của TS. Nguyễn Việt Anh. TS. Việt Anh đã nêu lên bối cảnh và sự bất ổn chung của hệ thống, trật tự chính trị thế giới với sự trỗi dậy của Trung Quốc, cạnh tranh và cuộc chiến tranh thương mại và công nghệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Đại dịch COVID-19 đã càng chứng tỏ việc cộng đồng quốc tế, khu vực cần chung tay giải quyết các vấn đề bất ổn. Đặc biệt, an ninh của khu vực Ân độ – Thái Bình Dương và khu vực Biển Đông chính là an ninh của toàn thế giới. TS. Việt Anh đi sâu vào Chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương đặc biệt là mục Đẩy mạnh trật tự thế giới đa phương dựa trên quy tắc luật pháp quốc tế và Đẩy mạnh việc giữa hòa bình, an ninh và ổn định trên toàn thế giới. Qua đây, TS. Việt Anh nêu bật tầm quan trọng của Công ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc UNCLOS 1982 và Đức và khối EU cần có những hàng động cụ thể để Công ước này có hiệu lực. TS. Việt Ah cũng nêu bật tầm quan trọng về việc thông thương hàng hải, thương mại tại khu vực Biển Đông. Hơn 2000 tầu vận chuyển và 20% thặng dự thương mại Đức ở tại khu vực Biển Đông. Năm 2020 Đức đã tham gia Hiệp ước hữu nghị và hợp tác khu vực Đông Nam Á năm 1976 và do vậy phải cam kết tìm ra các giải pháp đóng góp trực tiếp vào an ninh khu vực Biển Đông. TS. Việt Anh cho biết, từ khoảng giữa năm 2019 cho đến nay đã có khoảng 48 lần Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Biển, hoặc vi phạm Luật biển UNCLOS. Trung Quốc không những có chủ đích độc chiếm khu vực Biển Đông và còn vùng trời tại khu vực và khi đó các nước trên toàn thế giới, EU và Đức sẽ phục thuộc nhiều hoặc hoàn toàn vào Trung Quốc tại khu vực. Cùng với xu thế hiện diện và quân sự ngày càng tăng của Mỹ tại khu vực, nếu Đức, EU và cộng đồng thế giới không có những biện pháp cụ thể, hiệu quả, viễn cảnh chiến tranh tại khu vực Biển Đông và đe doa an ninh toàn thế giới sẽ thành hiện thực. TS. Việt Anh cũng đã chỉ 3 ảnh vệ tinh các hoạt động của bồi đắp, quân sự hóa của TQ tại khu vực đảo Tri Tôn ngày 18, 19 tháng 03 năm 2020 và các chuẩn bị tại Đảo Phú Lâm chuẩn bị cho một cuộc diễn tập quân sự lớn từ 01 đến 05 tháng 07 năm 2020.

Cuối cùng là phần phát biểu của Bà Vũ Lâm và ông Lê Hồng Cường. Bà Lâm và Ông Cường nêu bật vô số các hoạt động Biểu tình hòa bình của cộng đồng, hội đoàn và người Việt tại CHLB Đức kể từ năm 2008 đến nay thu hút hàng nghìn người, trong đó có nhiều bạn bè khu vực ASEAN, Đức và quốc tế. Cũng với GS. Nguyễn Văn Thoại, ông Lê Hồng Cường đã gửi thư trao tay cho bà Barbara Lochbihler, Thành viên Ủy ban Châu Âu, lên án những hành động của TQ tại khu vực. Cộng đồng người Việt tại Đức cũng đã gửi thư cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Berlin. Ngoài ra, Bà Lâm và Ông Cường cũng đã tổ chức nhiều Hội thảo Biển Đông để tuyên truyền tình hình an ninh khu vực đến công đồng Đức và thế giới, thu thập các đánh giá của các chuyên gia Đức.

Cuối cùng TS. De Ridder đã có một cuộc thảo luận các vấn đề bà muốn nghe ý kiến từ cộng đồng, hội đoàn và các chuyên gia Việt tại Đức về vị trí, ảnh hưởng của Hiệp định Thương mại song phương giữa Trung Quốc và khối EU. Hiện tại trong nội bộ CP Đức, đang có một cuộc thăm dò, tìm hiểu, đánh giá về Trung Quốc trong Hiệp định này, đã có nhiều ý kiến trong nội bộ Quốc Hội Đức nghi ngờ về Trung Quốc và kêu gọi cần cẩn thận trong hợp tác này. Bà Ridder phát biểu rằng Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng của Đức, là cạnh tranh có tính hệ thống và hiện tại Trung Quốc được nhận định là đối thủ cạnh tranh của Đức và EU.

Các chuyên gia tham ra Hội nghị đồng tình với đánh giá là Hiệp định Thương mại song phương giữa EU và Trung Quốc có thể gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên tình hình căng thẳng tại khu vực Biển Đông. Chính phủ Đức cần đưa ra các điều kiện, dàng buộc hợp lý để Trung Quốc đóng góp vào hòa bình khu vực. An ninh và hòa bình là điều kiện quan trọng nhất của các thông thương. Ngoài ra, nếu tình hình căng thẳng lên, thì việc quân đội Đức hiện diện và tham gia diễn tập cùng các cường quốc khác như Mỹ, Pháp, Anh tại khu vực Biển Đông sẽ là một hành động biểu tượng quan trọng để gây áp lực với Trung Quốc. GS. Thoại còn đóng góp thêm ý là CP Đức cần xem xét cẩn thận để ngăn chặn các hành động sao chép công nghệ của Đức và EU. TS. Việt Anh còn nhấn mạnh vị thế trung tâm của Việt Nam và ASEAN trên chính trường đối ngoại, kinh tế cũng như trong việc đóng góp vào sự phát triển thịnh vượng của khu vực. Đức và EU ngoài việc đẩy mạnh thương mại với Trung Quốc cần đóng góp cụ thể hơn nữa trong các vấn đề Biển Đông, đặc biệt đẩy mạnh hợp tác Kinh tế, Thương mại, KHCN với Việt Nam và ASEAN để tạo cân bằng, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc.

Thông qua Hội nghị lần này, bà Ridder khẳng định, bà sẽ cùng thảo luận với các nghị sỹ để đưa vấn đề Biển Đông ra ngoài Quốc hội liên bang, liên đới đến cả Hiệp định thương mại giữa Liên minh châu Âu và Trung Quốc. Đồng thời, bà mong muốn Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Đức và các hội đoàn, chuyên gia người Việt tại Đức có thể tiếp tục tổ chức các hội thảo dưới các hình thức, để trao đổi về vấn đề biển Đông. Tùy tình hình đại dịch COVID-19, bà mong muốn Hội nghị gần nhất có thể diễn ra vào tháng 04/2021.

east-sea.de

 

Loading

Views: 0

Nga-Trung Quốc ‚liên thủ‘ đối đầu Mỹ ở Ấn Độ Dương?

Những bình luận cho rằng Nga-Trung Quốc đang hợp sức trong một cuộc chơi quyền lực ở Ấn Độ Dương đã nhận được nhiều phản ứng trái chiều từ các nhà phân tích khu vực, trong đó một số ý kiến cho rằng Moscow và Bắc Kinh đang muốn tăng cường phô trương sức mạnh ra bên ngoài vùng biển nước mình để đối phó các động thái của Mỹ tại khu vực này.
Nga-Trung Quốc 'liên thủ' đối đầu Mỹ ở Ấn Độ Dương?
Tổng thống Nga Putin (trái) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Brazil đầu năm 2019. (Nguồn: THX)

Xích lại gần nhau

Tháng trước, Oriana Skylar Mastro, chuyên gia nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quốc tế Freeman Spogli tại Đại học Stanford (Mỹ), đã nhận định rằng hợp tác Nga-Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương sẽ đe dọa vai trò và tầm ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực lớn hơn nhiều so với từng quốc gia riêng rẽ.

Ông Mastro nhấn mạnh, hai cuộc tập trận hải quân gần đây được tổ chức giữa Nga và Trung Quốc – cuộc tập trận đầu tiên có sự tham gia của Nam Phi diễn ra hồi tháng 11/2019 ở ngoài khơi Cape Town và cuộc tập trận thứ hai là với Iran diễn ra một tháng sau đó ở Vịnh Oman – là bằng chứng cho thấy hai „gã khổng lồ“ Á-Âu đang tăng cường trọng tâm vào khu vực Ấn Độ Dương.

Bên cạnh đó, tháng 11/2020, Nga đã thông qua dự thảo thỏa thuận thành lập một căn cứ hải quân ở Port Sudan, trên bờ Biển Đỏ của Sudan, cửa ngõ trực tiếp đi ra Ấn Độ Dương.

Hãng thông tấn Nga TASS đưa tin căn cứ này, ngoài tính chất phòng thủ và duy trì hòa bình ổn định trong khu vực, sẽ được sử dụng để sửa chữa tàu thuyền, cung cấp tiếp tế và làm nơi nghỉ ngơi cho lực lượng hải quân Nga.

Về phần Trung Quốc, nước này đã thành lập căn cứ hải quân đầu tiên ở nước ngoài tại Djibouti vào năm 2017, và hải quân nước này được cho là đã tăng cường hoạt động ở khu vực Ấn Độ Dương trong 3 thập kỷ qua.

Trong bài phân tích đăng trên tờ The Interpreter của Viện Lowy, chuyên gia Mastro cho rằng mặc dù đại dịch Covid-19 có lẽ đã làm giảm tốc độ can dự quân sự giữa Nga và Trung Quốc, song các cuộc tập trận trên đã báo hiệu mong muốn hợp tác của Moscow và Bắc Kinh trong khu vực.

“Quan trọng hơn, các cuộc tập trận đó cho thấy các cường quốc khu vực như Nam Phi và Iran, cũng như các quốc gia khác, hoan nghênh vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc và Nga”, chuyên gia này nhấn mạnh:

Năm 2019, Vinay Kaura, Giáo sư về các vấn đề quốc tế và an ninh tại Trung tâm Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột ở Ấn Độ, nói rằng phạm vi hợp tác chính trị và an ninh đang phát triển giữa Trung Quốc và Nga là một thách thức đối với Ấn Độ, trong bối cảnh “New Delhi và Bắc Kinh không có các mối quan hệ êm thấm”.

Còn trong một bài viết đăng trên Tạp chí Ấn Độ về các vấn đề châu Á, Giáo sư Kaura nhận định rằng Bắc Kinh đang tiến hành một chiến dịch tinh vi để mở rộng tầm ảnh hưởng của họ ở Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.

Trò chơi quyền lực của Nga

Một nhà phân tích đã chỉ ra việc Nga đề xuất xây dựng căn cứ trên Biển Đỏ ở Port Sudan là một bước ngoặt quan trọng trong sự hồi sinh của nước này với tư cách một cường quốc, như thời Liên Xô cũ khi Moscow sở hữu các căn cứ hải quân ở Nam Yemen, Somalia và Ethiopia, qua đó cho phép họ có vị trí và vai trò quan trọng ở Bán đảo Arab và vùng Sừng châu Phi.

Trong một bài bình luận đăng trên trang của Viện Royal United Services (Anh), Samuel Ramani – chuyên gia Quan hệ quốc tế tại Trường St Antony thuộc Đại học Oxford (Anh) – cho rằng với việc chỉ có một căn cứ hải quân lớn trong khu vực như hiện nay (ở Syria), căn cứ ở Biển Đỏ sẽ “giúp cho Moscow sớm được công nhận là lực lượng hải quân hùng mạnh và làm sống lại những ký ức lịch sử về vị thế siêu cường của Liên Xô”.

Dmitry Stefanovich, nhà nghiên cứu của Trung tâm An ninh Quốc tế tại Viện Kinh tế Thế giới và Quan hệ Quốc tế thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, nhận định việc hải quân Nga muốn vươn ra toàn cầu, bao gồm cả Ấn Độ Dương, là điều hoàn toàn tự nhiên.

Ông nói thêm rằng các hành động của Mỹ chống lại Nga và Trung Quốc là nguyên do chính dẫn đến “mức độ hợp tác chưa từng có” giữa Moscow và Bắc Kinh.

Theo ông Stefanovich, tuy sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương ngày càng thách thức vai trò chiến lược của Ấn Độ trong khu vực, nhưng Nga lại đang cố tránh ngả về một bên nào.

“Nga vẫn là nhà cung cấp tất cả các loại công nghệ, trong đó gồm quân sự, đồng thời là trung gian hòa giải có thể giúp xoa dịu xung đột giữa Bắc Kinh và New Delhi”, ông Stefanovich cho hay.

Chuyên gia này cũng nói thêm rằng Nga và Trung Quốc sẽ tìm kiếm những cách thức mới để hợp tác hơn nữa ở Ấn Độ Dương.

Nga-Trung Quốc 'liên thủ' đối đầu Mỹ ở Ấn Độ Dương?
Nga-Trung Quốc triển khai tập trận ở Ấn Độ Dương tháng 12/2019. (Nguồn: Reuters)

Tượng trưng hay thực chất?

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã tăng cường sự hiện diện ở Ấn Độ Dương bằng cách mở rộng quan hệ hàng hải với các nước như Sri Lanka và Maldives, đồng thời gia tăng hạm đội tàu ngầm và hàng không mẫu hạm.

Tuy nhiên, Zhiqun Zhu – Chủ nhiệm khoa Quan hệ quốc tế tại Đại học Bucknell ở Mỹ và cũng là chuyên gia về chính sách đối ngoại của Trung Quốc và các vấn đề Đông Á, người từng viết cuốn Một thập kỷ quan trọng: Chính sách đối ngoại của Trung Quốc 2008-2018 – cho rằng việc Trung Quốc hợp sức với Nga tiến hành các cuộc tập trận chung chủ yếu nhằm đáp trả các cuộc diễn tập thường xuyên và quyết đoán hơn của Washington ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, đồng thời khẳng định hợp tác Nga-Trung “chỉ mang tính biểu tượng hơn là thực chất”.

Tháng 11 vừa qua, Mỹ cùng với Ấn Độ, Nhật Bản và Australia trong khuôn khổ liên minh Bộ Tứ mới được tái khởi động, đã tiến hành các cuộc tập trận hải quân chung ở Ấn Độ Dương. Đây không chỉ như các cuộc tập trận trên biển, trên không thông thường, mà còn có cả sự tham gia của tàu sân bay USS Nimitz.

Trong chương trình This Week in Asia, Zhiqun Zhu nói rằng Trung Quốc và Nga có thể là đối tác chính trị và ngoại giao, nhưng “khó mà trở thành đồng minh chiến lược”. Theo ông, Nga đã không ủng hộ một cách rõ ràng lập trường của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông và eo biển Đài Loan (Trung Quốc), đồng thời sẽ rất khó để trông đợi Moscow viện trợ cho Bắc Kinh nếu Trung Quốc tham gia vào một cuộc xung đột quân sự với Mỹ.

Ông nhấn mạnh: “Nhận thức được tầm ảnh hưởng toàn cầu và sức mạnh kinh tế hạn chế của mình, Nga cũng không bỏ tất cả trứng vào một giỏ. Các mối quan hệ quân sự nồng ấm của nước này với Ấn Độ rõ ràng không được Bắc Kinh hoan nghênh”, đồng thời đề cập việc Nga bán vũ khí cho Ấn Độ và mối quan hệ hợp tác quốc phòng lâu đời giữa hai nước.

Ông nói thêm rằng việc Nga bán các vũ khí chiến lược cho Ấn Độ vào thời điểm căng thẳng biên giới Ấn Độ-Trung Quốc leo thang đã đặc biệt gây thất vọng cho Bắc Kinh. Ông nhấn mạnh: “Chúng ta không nên cường điệu sự gần gũi trong quan hệ Nga-Trung Quốc hiện nay”.

Vai trò chiến lược của Ấn Độ

Mặc dù Ấn Độ tỏ ra quan ngại về việc Nga và Trung Quốc ngày càng tăng cường lợi ích các cuộc tập trận ở Ấn Độ Dương, nhưng Giáo sư Swaran Singh – Giám đốc Trung tâm Chính trị Quốc tế, Tổ chức và Giải trừ Quân bị tại Đại học Jawaharlal Nehru ở New Delhi – khẳng định rằng Ấn Độ đã chọn cách đáp trả bằng cách xích lại gần Mỹ và các đồng minh khác.

Theo “hành động cân bằng can dự với tất cả các nước lớn” này, ông Singh cho hay Ấn Độ tiếp tục can dự với Nga và Trung Quốc thông qua các nền tảng khu vực như Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và khối BRICS (gồm 5 nền kinh tế mới nổi hàng đầu là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi).

Và mặc dù vẫn thận trọng trước sự hiện diện ngày càng mở rộng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương, New Delhi “không thấy điều gì đáng lo ngại” trong các cuộc tập trận hải quân Nga-Trung Quốc với các quốc gia ven biển như Nam Phi và Iran, đặc biệt là với “lợi thế địa lý và hải quân hùng mạnh của Ấn Độ ”.

Cũng bày tỏ sự hoài nghi về mọi hình thức hợp tác an ninh Nga-Trung Quốc ở Ấn Độ Dương, ông Derek Grossman, nhà phân tích quốc phòng cấp cao tại Rand Corporation cho rằng các cuộc tập trận hải quân giữa hai nước chủ yếu mang tính biểu tượng và đã ít nhiều thành công trong việc trao đổi về chiến thuật, kỹ thuật và thủ tục (TTP) hoặc nâng cao khả năng tương tác.

Theo ông Grossman, không giống như Trung Quốc, Nga đang thiếu nguồn lực để phục vụ “các vấn đề quan trọng hơn”.

TG&VN

Loading

Views: 0

Việt Nam – Ấn Độ cam kết nâng cao hợp tác quân sự – quốc phòng

Tại cuộc họp, hai bên cam kết nâng cao hơn nữa hợp tác giữa các lực lượng vũ trang Việt Nam và Ấn Độ trong khuôn khổ mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện.

Đối thoại An ninh Quốc phòng Việt Nam – Ấn Độ lần thứ 13 theo hình thức trực tuyến tại đầu cầu Ấn Độ

Ngày 12/01, Đối thoại An ninh Quốc phòng Việt Nam – Ấn Độ lần thứ 13 đã được tổ chức theo hình thức trực tuyến dưới sự chủ trì của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam và Thứ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Ajay Kumar.

Tại cuộc họp, hai bên bày tỏ sự hài lòng trước mối quan hệ về quốc phòng ngày càng phát triển giữa hai nước, bày tỏ cam kết nâng cao hơn nữa hợp tác giữa các lực lượng vũ trang Việt Nam và Ấn Độ trong khuôn khổ mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Hai nước cũng nhất trí tìm kiếm các cơ hội hợp tác về công nghiệp và công nghệ quốc phòng. Trong những năm qua, hợp tác hàng hải giữa Hải quân Việt Nam – Ấn Độ cũng là một khía cạnh quan trọng của hợp tác quốc phòng. Vào tháng 12/2020, Ấn Độ đã cử một tàu hải quân chuyên chở một số hàng viện trợ cho nhân dân Việt Nam; đồng thời tổ chức một cuộc diễn tập hành tiến với Hải quân Việt Nam trên Biển Đông.

Trước đó, ngày 21/12/2020, Thủ tướng hai nước cũng đã tham dự cuộc hội đàm trực tuyến cấp cao song phương. Tại đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cùng chia sẻ ‘Tầm nhìn chung Việt Nam – Ấn Độ vì Hòa bình, Thịnh vượng và Con người’. Tầm nhìn này bao gồm các biện pháp để đẩy mạnh các chương trình trao đổi quân sự, đào tạo và nâng cao năng lực cho các lực lượng quốc phòng và cảnh sát biển.

Trong tuyên bố Tầm nhìn chung, hai thủ tướng cũng nhấn mạnh mối liên hệ giữa thịnh vượng và an ninh, tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông; đồng thời theo đuổi giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, phù hợp với luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).

Quan hệ song phương Việt Nam – Ấn Độ tiếp tục xu hướng đi lên trong thập kỷ qua. Năm 2016, Thủ tướng Narendra Modi có chuyến thăm Việt Nam và cùng tuyên bố đưa quan hệ hai nước lên tầm Đối tác Chiến lược Toàn diện. Tiếp đó, chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến Ấn Độ vào tháng 1/2018 với tư cách khách mời nhân Ngày Cộng hòa của Ấn Độ và dự Hội nghị cấp cao Kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ Đối tác đối thoại ASEAN – Ấn Độ đánh dấu đà phát triển của mối quan hệ song phương.

BDN

Loading

Views: 0

Nguyên tắc trong phân định biển và lập trường của Việt Nam

Phân định biển là một hoạt động mang tính quốc tế, nhằm hoạch định đường biên giới biển (nội thủy, lãnh hải), ranh giới biển (vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) giữa hai hay nhiều quốc gia có bờ biển đối diện hay tiếp giáp nhau thông qua đàm phán trung gian hoặc các cơ chế tài phán quốc tế.

Trên cơ sở đó, các quốc gia tổ chức, quản lý, bảo vệ và khai thác các nguồn lợi trong vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia mình theo đường biên giới biển, ranh giới biển đã phân định, góp phần xây dựng môi trường an ninh, an toàn, hòa bình, ổn định trên biển.

Đối với việc hoạch định ranh giới lãnh hải, Điều 15 của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 quy định: Khi hai quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến, trừ khi có thỏa thuận ngược lại. Đối với hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Điều 74 và 83 của Công ước 1982 quy định: Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng pháp luật quốc tế như đã được nêu ở điều 38 của Quy chế Tòa án quốc tế, để đi tới một giải pháp công bằng. Như vậy, nguyên tắc cơ bản trong phân định biển là nguyên tắc thỏa thuận và nguyên tắc công bằng. Tuy nhiên trên thực tế, do nhiều lý do, giữa các quốc gia chưa thỏa thuận và thống nhất để phân định hết toàn bộ hệ thống đường biên giới, ranh giới biển, dẫn đến tranh chấp phức tạp, kéo dài, nhất là trên các vùng biển thuộc khu vực Biển Đông. Trong đó, một số nước lớn không những không tuân thủ nguyên tắc thỏa thuận và công bằng, mà còn áp đặt chủ quan, tự vẽ đường biên giới, ranh giới biển, vi phạm, thậm chí bỏ qua quy định trong các điều khoản của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, gây mất ổn định an ninh trên biển, kéo theo nhiều hệ lụy trong quan hệ tổng thể giữa các nước trong khu vực. Vì vậy, Liên hợp quốc – tổ chức pháp lý quốc tế cao nhất, cần phát huy vai trò trong duy trì luật pháp quốc tế để bảo đảm công bằng quyền lợi cho các quốc gia có biển. Mặt khác, các quốc gia cũng cần tăng cường đấu tranh với những tư tưởng, hành động bá chủ, cường quyền trên biển, ảnh hưởng đến môi trường hòa bình, ổn định của khu vực.

Lập trường của Việt Nam về vấn đề phân định biển. Khoản 3, Điều 4 Luật Biển Việt Nam 2012 khẳng định: Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế. Trong thực tiễn phân định biển với các nước liên quan, lập trường nhất quán của Việt Nam là căn cứ luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tính tới các hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên trong khu vực phân định để đạt được một giải pháp công bằng mà các bên đều chấp nhận được.

Phân định biển là cơ sở quan trọng hàng đầu nhằm giữ vững ổn định, hòa bình trên biển để các quốc gia khai thác nguồn lợi từ biển phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Vì vậy, Liên hợp quốc và các quốc gia có biển cần nỗ lực để phân định biên giới biển, ranh giới biển dựa trên nguyên tắc thỏa thuận và công bằng, góp phần xây dựng một môi trường biển an ninh, an toàn, hòa bình, ổn định bền vững.

BDN

Loading

Views: 0

Trung Quốc, Myanmar nhất trí xây dựng hành lang kinh tế

Ngày 12/1, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị và Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Myanmar Min Aung Hlaing đã nhất trí xây dựng Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Myanmar (CMEC) nhằm tăng cường hợp tác song phương.
Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị và Cố vấn Nhà nước Myanmar Aung San Suu Kyi trong cuộc gặp ngày 11/1 tại thủ đô Nay Pyi Taw, Myanmar. (Nguồn: AP)

Trung Quốc hy vọng CMEC sẽ được thực hiện đầy đủ sau khi Myanmar thành lập chính phủ mới giúp nước này hồi sinh và phát triển, đồng thời tin tưởng rằng quân đội sẽ hỗ trợ quá trình này. Trung Quốc cũng sẽ tiếp tục hỗ trợ Myanmar bảo vệ lãnh thổ, danh tiếng và quyền hợp pháp của quốc gia, ủng hộ Myanmar theo đuổi con đường phát triển phù hợp với điều kiện của đất nước và ủng hộ quân đội Myanmar đóng vai trò tích cực trong tiến trình phát triển của nước này.

Ngoài ra, Bắc Kinh cũng quyết định cung cấp hỗ trợ vaccine ngừa Covid-19 và thiết bị y tế nhằm giúp Nay Pyi Taw đối phó với đại dịch.

Về phần mình, Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Myanmar Min Aung Hlaing bày tỏ vui mừng trước sự vươn lên của Trung Quốc trên trường quốc tế, đồng thời khẳng định tăng cường hợp tác trên mọi lĩnh vực với Bắc Kinh, ủng hộ lập trường của Bắc Kinh trong vấn đề liên quan đến Đài Loan, Hong Kong và Tân Cương.

Ông Vương Nghị đang ở Myanmar trong chuyến thăm đầu tiên của một Bộ trưởng Ngoại giao nước ngoài đến nước này kể từ sau khi Đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ cầm quyền giành thắng lợi trong cuộc bầu cử hồi tháng 11/2020.

Tại Myanmar, ngày 11/1, Ngoại trưởng Vương Nghị đã có các cuộc gặp với Cố vấn Nhà nước Myanmar Aung San Suu Kyi và Tổng thống Win Myint.

TG&VN

Loading

Views: 0

Indonesia: Quốc hội hối thúc chính phủ ‚đặc biệt quan tâm‘ đến Biển Đông

Phó Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Nhân dân (MPR – Quốc hội) Indonesia, ông Syarief Hasan cho rằng nếu xảy ra xung đột tại Biển Đông, tất cả các nước Đông Nam Á, trong đó có Indonesia, sẽ chịu tác động.
Quốc hội Indonesia hối thúc chính phủ “đặc biệt chú ý” đến Biển Đông.
Phó Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Nhân dân (Quốc hội) Indonesia, ông Syarief Hasan hối thúc chính phủ “đặc biệt quan tâm” đến Biển Đông. (Nguồn: NUSA Daily)

Phó Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Nhân dân (MPR – Quốc hội) Indonesia, ông Syarief Hasan đã lên tiếng hối thúc chính phủ nước này “đặc biệt quan tâm” đến vùng biển Bắc Natuna (tên được Indonesia đặt cho một phần Biển Đông) trong bối cảnh đối đầu gia tăng giữa Trung Quốc và Mỹ tại vùng biển này.

Theo hãng thông tấn chính thức Antara, trong một tuyên bố ngày 7/1, Phó Chủ tịch Quốc hội Syarief Hasan nhấn mạnh: “Chính phủ cần cảnh giác tới vùng biển Bắc Natuna trong bối cảnh Biển Đông – khu vực tiếp giáp với Biển Bắc Natuna – đang “nóng” lên từng ngày với cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ”.

Theo ông Syarief, cần tăng cường lực lượng quân đội tại Bắc Natuna để bảo vệ lãnh thổ Indonesia trong trường hợp nổ ra xung đột. Nếu điều đó xảy ra, tất cả các nước Đông Nam Á, trong đó có Indonesia, sẽ chịu tác động.

Phó Chủ tịch Quốc hội Syarief nhấn mạnh: “Do vậy, chính phủ Indonesia phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng sức mạnh quân sự nhằm giảm thiểu, thậm chí ngăn chặn tác động trong trường hợp xảy ra xung đột”.

Ông Syarief cho rằng không nên xem nhẹ cuộc đối đầu nói trên và việc Trung Quốc đơn phương đưa ra các yêu sách tại Biển Đông dựa trên “đường 9 đoạn” khiến Mỹ cũng phải can thiệp và „có khả năng sẽ biến thành xung đột giữa hai cường quốc tại Biển Đông”.

Do đó, chính phủ cần xây dựng sức mạnh quân sự để mang lại cảm giác an toàn, chống các hành vi bắt nạt và củng cố nền quốc phòng Indonesia, đặc biệt là ở các khu vực biên giới.

Tuy nhiên, ông Syarief cũng yêu cầu chính phủ ưu tiên giải pháp ngoại giao nhằm tránh khả năng xảy ra xung đột, đặc biệt là ở Biển Đông giáp với Biển Bắc Natuna.

“Chính phủ cần ưu tiên cách tiếp cận ngoại giao như dưới thời Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono, theo đó xây dựng nền ngoại giao với tinh thần “triệu người bạn, không có kẻ thù”, ông Syarief nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo Phó Chủ tịch Quốc hội Syarief, nếu xảy ra xung đột, Indonesia sẽ phải tăng cường quân sự để duy trì an ninh quốc gia và bảo vệ lãnh thổ.

TG&VN

Loading

Views: 0

Chuông chiều trên biển Trường Sa

Có một bức ảnh luôn thu hút mọi người vào những dịp triển lãm, bức ảnh tôi chụp đâu năm mới 2019, sư trụ trì chùa Trường Sa rạng rỡ, ân cần mừng tuổi em nhỏ đang được ẵm bồng trong vòng tay mẹ. Có một bức ảnh luôn thu hút mọi người vào những dịp triển lãm, bức ảnh tôi chụp đâu năm mới 2019, sư trụ trì chùa Trường Sa rạng rỡ, ân cần mừng tuổi em nhỏ đang được ẵm bồng trong vòng tay mẹ.

Đạo và đời trên đảo

Giản dị thế, song, dường như có những cảm xúc, năng lượng mặc nhiên và đặc biệt lắm nên cứ hút mắt, níu lòng người xem. Hình ảnh ấy khiến tôi nhớ tới không khí xuân trên đảo, vào ngày đầu năm mới, mọi người đều lên chùa lễ Phật, sum vầy, chúc nhau mọi sự an lành, hoan hỉ.

Tôi có cơ hội chứng kiến khung cảnh thật bình yên khi thầy trụ trì Thích Tâm Tánh chuẩn bị mọi nghi lễ cho đến quà mừng tuổi cho mọi người giống như trên đất liền. Đặc biệt, vào những ngày tuần rằm, thầy thường nấu những bát chè thơm ngon, xếp đặt thật ngay ngắn ra bàn và ngồi cạnh đó chờ đợi. Ngoài các loại chè từ hạt như kê, đỗ, lạc, chùa còn có đặc sản chè bưởi. Đơn giản bởi đó là loại quả có thể giữ được suốt thời gian cả tháng trời chuyến từ đất liền ra. Vỏ bưởi đã ngả màu vàng vẫn được sư thầy lau cho sạch sẽ, bóng bẩy dâng cúng. Sau lễ, ruột bưởi được thụ lộc, chia mỗi nơi một chút còn cùi dành để nấu chè. Bếp nhà chùa nấu những bát chè nho nhỏ, chỉ bằng nửa bát ở đất liền

Có lần, đi ngang qua chiếc bàn đặt đầy chè bưởi, tôi tần ngần giây lát, cũng muốn thử lắm, nhưng lại dấy lên cảm xúc không dám, không nỡ. Ấy là phần quà thảo thơm, mộc mạc nhà chùa dành cho các chú lính đi tập luyện, tăng gia, canh gác mệt nhọc trở về sẽ lên chùa ăn.

Ở đảo Song Tử Tây, sau nhiều ngày sư thầy về đất liền “nghỉ phép” trở lại chùa, trẻ con cứ quấn quýt vị trụ trì nửa bước không rời. Chúng đòi thầy kể chuyện và dỏng tai lắng nghe sư thầy hỏi chuyện, ngoan ngoãn đáp lại như bầy chim non. Thường ngày, ngoài giờ kinh kệ, thầy vẫn đá cầu, chuyện trò thăm nom người dân, bộ đội.

Còn vị trụ trì chùa Nam Huyên trên đảo Nam Yết đã nhiều năm làm công việc Phật sự trên đảo vẫn giữ tâm nguyện được tiếp tục gắn bó với nơi này. Mỗi đảo, chỉ một thầy chùa lo nhang khói, chăm sóc cảnh quan, tăng gia trồng trọt. Có thể nói, đó là một trong những con người vất vả nhất.

Hàng năm, Giáo hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa đều cử các chư tăng ra sáu ngôi chùa ở huyện đảo Trường Sa làm nhiệm vụ Phật sự. Hầu hết các vị trụ trì khi đã ra nơi đầu sóng đều xem đó như một cơ duyên và thành tâm phát nguyện tiếp tục được lưu lại.

Chuông chiều trên biển Trường Sa ảnh 1

Hiện huyện đảo Trường Sa có 6 ngôi chùa

6 ngôi chùa ở Trường Sa

Quần đảo Trường Sa chùa nào cũng đẹp, mỗi nét chùa một vẻ rất riêng. Điểm chung của các chùa trên quần đảo đều thiết kế như những ngôi chùa trong đất liền, đều nhìn ra biển, hướng về thủ đô Hà Nội, nhiều hoa văn điêu khắc có hình sóng biển, số gian lẻ, mái cong, sử dụng nhiêu loại gỗ quý chịu được môi trường khắc nghiệt… Ngoài thờ Phật, các chùa đều có ban thờ anh hùng liệt sĩ những con người đã anh dũng hi sinh đế bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tố quốc…

Chùa Trường Sa nằm ngay vị trí trung tâm đảo. Đặt chân xuống cầu cảng đã thấy cổng chùa uy nghiêm cạnh quảng trường, cột mốc chủ quyền và nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại đức Thích Giác Nghĩa, vị trụ trì đầu tiên của chùa người Huế. Sau ba lần tới đảo Trường Sa làm lễ cầu siêu, người coi việc ra được đây như mối thiện duyên lớn. Chính điện chùa Trường Sa treo bức thư pháp tiếng Việt, theo lối thảo thư, trong đó có bài thơ mang tên “Đi” vói những câu: “Hãy ra đi vì biên cương biển đảo/ Đi ra đi cưỡi sóng vượt trùng dương/ Đi đi. Đi cho yên bình hiện hữu. Đi bước đi để củng cố sơn hà”. Đó là bài thơ thầy Thích Tâm Tri tặng trụ tri chùa khi người quyết định ra đảo.

Chùa Vinh Phúc ở đảo Phan Vinh tọa lạc ngay gần biển, cổng chùa cách bờ biển chỉ vài mét, phía Tây là trạm ra đa T44. Phật điện chùa Phan Vinh có pho tượng Phật ngọc. Các pho tượng trong chùa đều bằng đá thạch anh trắng và một pho tượng thạch anh hồng cao cả mét. Cảm giác khi đặt chân tới cửa chùa Vinh Phúc luôn là sự chói chang, huy hoàng, rực rỡ. Từ bên trong sân nhìn ra sẽ thấy hai cột sừng sững, cảnh vật uy nghiêm và mái chùa cong cong in trên nên biến xanh như bức tranh pha trộn nhiều sắc thái.

 

Trong khi đó, chùa Nam Huyên trên đảo Nam Yết được che phủ bởi nhiều cây xanh. Phật điện chùa có pho tượng Phật ngọc. Cùng với các công trình nhà văn hóa, tượng đài, trạm hải đăng… là quần thể kiền trúc, lịch sử, văn hóa, đã tạo nên sức sống mãnh liệt và cũng yên bình trên đảo dừa thơ mộng.

Ở đảo Sơn Ca, chùa Sơn Linh tọa sát mép sóng, luôn cho ta cảm giác êm đêm, dìu dặt. Chùa có kiến trúc thuần Việt với mái ngói cong vút, các bộ hoành phi, câu đối được trạm trổ cầu kỳ.

Chùa Song Tử Tây uy nghi, trầm mặc, phía sau là ngọn hải đăng. Xung quanh chùa, những cây phong ba, bàng vuông chạm tán vào nhau, không chỉ hoa trái mà đến lá cây cũng tỏa hương dịu mát, ngọt lành.

Riêng chùa trên đảo Sinh Tồn, tôi cho đó là không gian quy tụ nhiều nét đặc biệt nhất. Đảo nhỏ chật hẹp nhưng chùa quyện cảm giác tâm linh đặc quánh. Đây là ngôi chùa thờ bài vị của 64 liệt sĩ hi sinh tại đảo Gạc Ma trong cuộc chiến ngày 14-3-1988. Sân chùa cũng có bia về những người con đất Việt kiên trung bất khuất đã kết thành vòng tròn bất tử. Pho tượng phật A- di-đà tọa trên hòn giả sơn ngoài sân chùa hướng về phía biển. Tôi luôn cỏ cảm giác tâm mình chùng xuống, nặng trĩu. Những bông súng nở trong những ang nước ngọt trong khuôn viên chùa cánh đăng đối ngoài sắc màu tím, đỏ, trắng, vàng còn như chứa cả hào quang. Mỗi nén hương thắp lên tại đây đều quyện luôn vào bia đá, cỏ cây rồi bay bổng chạm tới mái chùa.

Chuông chiều trên biển Trường Sa ảnh 2

Chư Tăng luân phiên ra các ngôi chùa để hướng dẫn, cử hành các nghi lễ tâm linh truyền thống

Những ngôi chùa được dựng bằng niềm tin

Cách đây nhiều năm, tôi lên các đảo, thấy các chùa ở Trường Sa đang bắt đầu được kiến tạo, sân chùa còn chưa hình thành, chỉ toàn ngổn ngang gỗ, đá, vật liệu… Quy hoạch một ngôi chùa trên đảo rất khó khăn vi diện tích đảo có hạn. Những bức tượng to được cẩu ra, đóng trong khung giá bằng gỗ, nhìn thôi đã biết rất nặng, rất công phu. Tôi băn khoăn không hiểu những pho tượng ấy được đưa lên đảo bằng cách nào. Câu hỏi ấy, khi nghe tôi thổ lộ, mọi lực lượng trên các đảo đều nói, họ đưa tượng lên bằng sức lực, niềm tin và lý trí. Ở đây, chẳng có loại phương tiện hay máy móc thiết bị nào thay thế được con người.

Trước khi quần đảo Trường Sa có chùa, tôi từng đặt câu hỏi, đời sống tâm linh trên đảo nếu thiếu một ngôi chùa thì sẽ diễn ra như thế nào? Những con người ở đây, khi nghe từ trong đất liền báo tin lành, tin dữ về người thân, họ mạc, quê hương bản xứ… thì họ tìm đâu ra chốn nương tựa tâm linh. Có lẽ, đó cũng là một trong những lý do lớn để chỉ trong ít năm, sáu ngôi chùa của quần đảo được hiện hữu và các trụ trì đầu tiên bắt đầu hành trình ra đảo. Những người lính luôn được trang bị về ý chí, tư tưởng, song tôi tin vê mặt sâu thẳm đời sống tinh thần của mỗi con người, chắc chỉ có mái chùa mới giải quyết được. Bộ đội nghe tin người thân mất mà không thể về đất liền chịu tang, lên chùa cùng nhà chùa làm lễ. Mỗi đứa trẻ được sinh ra ở đất liền mà chỉ mỗi mình người mẹ trong cơn vượt cạn, người bố ở đảo xa cũng lên chùa làm lễ cầu bình an.

Có những buổi chiều, tôi nghe tiếng chuông chùa vang vọng giữa bao la mênh mông. Tiếng chuông ấy hòa vào tiếng sóng, cứ trầm ngấm vang lên. Chuông chiều đánh dấu lại một ngày đã qua di, lòng người được chùng xuống nghỉ ngơi đôi chút. Điều đặc biệt của sáu ngôi chùa trên quần đảo là giờ thỉnh chuông đều bắt đầu từ lúc 5 giờ sáng, và 18 giờ 30 phút chiều. Nghĩa là, sau một giấc ngủ trọn vẹn, lúc ánh ngày đầu tiên vừa lóe rạng, sẽ vang lên tiếng chuông thức tỉnh con người. Tiếng chuông vừa nhắc họ ngày mới bắt đầu, cũng nhắc nhớ tâm tưởng hướng thiện, an lành. Tiếng chuông mở ra cánh cửa tâm linh giữa bốn về sóng gió, khép lại một ngày sẽ lại vọng ngân.

Có lẽ, khắp Tổ quốc này, chỉ ở quần đảo Trường Sa, tiếng chuông mới hòa vào tiếng sóng đêm ngày da diết. Cảm giác tiếng chuông nơi đây như một sự hiện hữu linh thiêng về thi ảnh, vừa xa xăm vừa cụ thể. Đôi khi, cảm giác lòng ta khi căng mở sẽ chạm vào được, giống ở quê vẫn thấy khói lam chiều.

BDN

Loading

Views: 0