Một tàu hộ vệ của Đức sẽ tới châu Á vào tháng 8, trong đó có hành trình đi qua Biển Đông.
Các quan chức cấp cao của chính phủ Đức ngày 2/3 xác nhận một tàu hộ vệ của nước này sẽ khởi hành tới châu Á vào tháng 8 và đi qua Biển Đông trong hành trình trở về. Đây sẽ là tàu chiến đầu tiên của Đức đi qua Biển Đông kể từ năm 2002.
Tuy nhiên, các quan chức Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Đức cũng cho biết tàu hộ vệ nước này sẽ không đi vào khu vực thuộc phạm vi „12 hải lý“ xung quanh các thực thể tranh chấp trên Biển Đông.
Theo báo Nikkei (Nhật Bản), tàu hộ vệ hải quân Đức sẽ xuất phát từ Đức vào đầu mùa hè và có thể tới thăm cảng Hàn Quốc và Australia. Đây là một phần trong trọng tâm mới mà Đức hướng tới tại khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương.
Việc triển khai tàu chiến được xem là động thái hiếm thấy của Đức, quốc gia không có lãnh thổ hải ngoại ở khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương như Anh và Pháp.
Nội các Đức năm 2020 đã phê chuẩn Định hướng chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của pháp quyền và thúc đẩy các thị trường mở tại khu vực. Việc triển khai tàu chiến có thể là bước đầu tiên trong việc hiện thực hóa chiến lược này.
Thomas Silberhorn, Quốc vụ khanh Bộ Quốc phòng Đức, cho biết kế hoạch của Berlin „không nhằm vào bất cứ bên nào“. Tuy nhiên, Nikkei cho rằng Đức dường như đang „để mắt“ tới các hành động của Trung Quốc trong khu vực.
Chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương của Đức được cho là phù hợp với những thay đổi chính sách tương tự ở Anh, Pháp và Hà Lan – những quốc gia châu Âu đang đẩy mạnh sự tham gia của họ vào khu vực địa chính trị quan trọng của thế giới.
Mỹ và các đồng minh đang có xu hướng tăng cường các hoạt động tuần tra đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông nhằm thách thức yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở vùng biển này. Động thái của các nước phương Tây diễn ra bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Bắc Kinh.
Từ sau khi Tổng thống Joe Biden nhậm chức hồi cuối tháng 1, Mỹ đã đưa hàng loạt tàu chiến tới Biển Đông. Hải quân Mỹ hồi tháng 2 đã triển khai 2 nhóm tác chiến tàu sân bay USS Theodore Roosevelt và USS Nimitz cùng các tàu chiến tới Biển Đông để tham gia diễn tập. Ngày 17/2, tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS Russell của Mỹ đã thực hiện hoạt động đảm bảo tự do hàng hải ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Đầu tháng 2, tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS John S. McCain của Mỹ đã áp sát quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Cũng tại Hoàng Sa, tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable của Mỹ đã hoạt động xung quanh quần đảo này ngày 23/2.
Hải quân Pháp hồi tháng 2 bắt đầu các cuộc tuần tra và huấn luyện, đưa tàu đổ bộ tấn công Tonnerre và tàu hộ vệ Surcouf từ cảng quê nhà ở Toulon, phía nam Pháp, tới khu vực Thái Bình Dương. Nhóm tàu này sẽ đi qua Biển Đông 2 lần và tham gia cuộc tập trận quân sự chung với Mỹ và Nhật Bản vào tháng 5.
Cũng trong tháng 2, tàu ngầm tấn công hạt nhân Emeraude của Pháp đã kết thúc cuộc tuần tra tại Biển Đông. Trong khi đó, Anh cũng chuẩn bị triển khai hàng không mẫu hạm HMS Queen Elizabeth tới châu Á trong những tháng tới.
Tháng 9 năm ngoái, Pháp, Anh và Đức đã gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc để phản bác các yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông.
Việc Đức tiết lộ kế hoạch đưa tàu chiến đến Biển Đông lần đầu tiên sau hai thập kỷ đã thu hút sự chú ý của các chuyên gia và nhà quan sát quốc tế.
Đức mới công bố kế hoạch điều một tàu hộ vệ đến Biển Đông trong năm nay. (Nguồn: SCMP)
Ngày 3/3, Reuters dẫn lời giới chức Đức cho hay, một tàu hộ vệ của Berlin sẽ lên đường đến châu Á vào tháng 8 và sẽ trở thành tàu chiến đầu tiên của Đức đi qua Biển Đông kể từ năm 2002.
Tuy nhiên, tàu chiến này sẽ không đi vào vùng biển 12 hải lý xung quanh những thực thể Trung Quốc chiếm đóng phi pháp ở Biển Đông.
Nhận định về kế hoạch trên, một số chuyên gia cho rằng, việc điều tàu chiến đến Biển Đông là một bước quan trọng của Đức hướng tới thực hiện những hướng dẫn về khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, vừa được Berlin phê chuẩn hồi năm ngoái nhằm gia tăng hiện diện ở khu vực, theo tờ South China Morning Post.
Trong khi đó, nhà nghiên cứu Tôn Khắc Khâm tại Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại Trung Quốc bình luận: “Trung Quốc không muốn có sự hiện diện quân sự của phương Tây ở khu vực. Tuy nhiên, Đức muốn tham gia nhiều hơn vào khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và nâng cao hợp tác với ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ. Điều này cũng cho thấy, Mỹ hy vọng Đức sẽ đảm nhận thêm trách nhiệm gây áp lực lên Trung Quốc”.
Giáo sư về quan hệ quốc tế Quách Học Đường thuộc Đại học Kinh tế đối ngoại Thượng Hải cho rằng, kế hoạch triển khai tàu chiến phản ánh sự độc lập trong chiến lược quân sự và ngoại giao của Đức, hơn là nỗ lực chung với Mỹ gây áp lực lên Trung Quốc.
Học giả người Trung Quốc còn nhìn nhận rằng, quyết định của Đức không cho tàu chiến vào phạm vi 12 hải lý xung quanh các thực thể Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền ở Biển Đông là dấu hiệu cho thấy Berlin muốn „giảm nhẹ“ khả năng đối đầu với Bắc Kinh.
Còn nhà phân tích kỳ cựu Helena Legarda thuộc Viện nghiên cứu Mercator về Trung Quốc ở Berlin nhận thấy, kế hoạch của Đức đưa tàu chiến đến Biển Đông gần như là “động thái mang tính biểu tượng”, nhưng gửi một thông điệp mạnh mẽ tới Bắc Kinh rằng, Berlin sẵn sàng đối đầu với những yêu sách biển của Trung Quốc ở khu vực một cách chủ động hơn.
“Sứ mệnh này cho thấy cách tiếp cận của Berlin bắt đầu thay đổi, phản ánh sự hiểu biết mới về tầm quan trọng của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đối với sự ổn định toàn cầu và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, cũng như cảm giác mới về việc cần phải ứng phó khẩn cấp tình trạng Trung Quốc ngày càng mạnh bạo trong khu vực”, bà Legarda bình luận.
Đức trở thành quốc gia thứ 2 trong Liên minh châu Âu (EU), sau Pháp, đã vạch ra tầm nhìn chính thức về khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương khi đưa ra những hướng dẫn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương hồi tháng 9/2020.
Mục tiêu mà Đức đưa ra là nâng cao vai trò của nước này với tư cách là “một bên và một đối tác sáng tạo” ở khu vực.
Hồi năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Đức Annegret Kramp-Karrenbauer nhấn mạnh, sự hiện diện của hải quân nước này ở khu vực sẽ giúp “bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật pháp” theo tờ South China Morning Post.
Chiến thuật mới của quân đội Mỹ tại Biển Đông có thể sẽ hướng đến việc sử dụng lực lượng đặc nhiệm nhằm giúp các hạm đội đa quốc gia dẫn đường chính xác hơn cho tên lửa tầm xa.
Tàu sân bay USS Dwight D. Eisenhower của Mỹ
Trong cuộc tập trận hồi đầu tháng 2, nhóm tác chiến tàu sân bay USS Dwight D. Eisenhower đã triển khai một số đội đặc nhiệm SEAL của Hải quân Mỹ cùng một đội thuyền để tạo thành các căn cứ tiền đồn, nhằm bổ sung thêm thông tin tình báo từ radar của nhóm tác chiến tàu sân bay.
Theo Chuẩn Đô đốc Scott Robertson, trong quá trình tập trận, nhiều tàu đã được triển khai để tiếp cận gần hơn với các mục tiêu đối phương, trong khi nhiều đơn vị khác hỗ trợ hỏa lực lẫn nhau.
Du Wenlong, nhà nghiên cứu cấp cao thuộc Học viện Khoa học Quân sự Trung Quốc, nhận định lực lượng đặc nhiệm SEAL có thể được Mỹ sử dụng để thu thập thông tin tình báo nhằm hỗ trợ các cuộc không kích.
„Nếu lực lượng SEAL được triển khai tới một hòn đảo, bằng máy bay hoặc thuyền, và tiến hành các hoạt động trinh sát khác nhau để xác định vị trí các mục tiêu, thông tin mà lực lượng này thu thập được có thể giúp nhóm tác chiến tàu sân bay tấn công các mục tiêu hiệu quả hơn và tăng độ chính xác của các cuộc tấn công“, chuyên gia Du nói với Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV).
Cuộc tập trận của nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ là sự kiện đáng chú ý vì đây là lần đầu tiên các quy trình và phương pháp liên lạc của NATO được sử dụng để huấn luyện thủy thủ đoàn của Mỹ. Động thái này nhằm cho phép các lực lượng Mỹ sẵn sàng phối hợp tác chiến với các đồng minh.
Theo USNI News, trang tin của Viện Hải quân Mỹ, cuộc tập trận nhằm thúc đẩy liên kết chặt chẽ hơn của Mỹ với các đồng minh quân sự, từ đó cho phép các lực lượng cùng tiến hành nhiều chiến dịch tại nhiều địa điểm khác nhau.
„Việc hợp nhất các hạm đội và tìm cách tăng cường khả năng tấn công của các hạm đội là những ưu tiên lớn hiện nay“, Đại tá Don Wetherbee cho biết.
Cuộc tập trận diễn ra trong bối cảnh căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc trên Biển Đông vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Chính quyền tân Tổng thống Joe Biden được cho là vẫn tiếp tục gây sức ép với Trung Quốc trong vấn đề này.
Tổng thống Biden đang nỗ lực thiết lập lại các liên minh quân sự của Mỹ nhằm đối phó Trung Quốc và ngày càng nhiều nước tham gia vào các chiến dịch tại Biển Đông. Tuần trước, Pháp đưa tàu tấn công đổ bộ Tonnerre và tàu hộ vệ Surcouf đi qua Biển Đông 2 lần. Đức và Anh cũng cho biết sẽ đưa lực lượng hải quân tới Biển Đông.
Timothy Heath, nhà phân tích quân sự cấp cao thuộc tổ chức nghiên cứu Rand Corporation, cho rằng mặc dù cuộc tập trận của Mỹ được „thiết kế“ để đối phó với Nga nhiều hơn, song các chiến thuật trong cuộc tập trận này có thể được áp dụng cho nhiều kịch bản tác chiến trên biển khác nhau, bao gồm kịch bản đối phó với Trung Quốc.
Theo chuyên gia Heath, cuộc tập trận có thể cải thiện khả năng tấn công tên lửa của Mỹ bằng cách sử dụng lực lượng đặc nhiệm. Lực lượng này có thể được triển khai tới tiền đồn trước khi các tàu chiến xuất hiện, nhằm xác định và định vị các mục tiêu.
„Chiến thuật này cũng giúp tăng khả năng sống sót của các tàu chiến, vì các tàu này có thể phóng tên lửa từ khoảng cách xa hơn“, chuyên gia Health nhận định.
Collin Koh, nhà nghiên cứu tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam thuộc Đại học Công nghệ Nanyang Singapore, cho rằng sau nhiều năm hiện đại hóa, quân đội Trung Quốc đã bắt kịp, thậm chí vượt Mỹ trong một số lĩnh vực, và Mỹ đang có động thái đáp trả.
„Mối đe dọa tên lửa của quân đội Trung Quốc đối với Mỹ đóng một vai trò rất lớn trong nỗ lực điều chỉnh lực lượng của Hải quân Mỹ, bao gồm phòng thủ tên lửa“, chuyên gia Koh nhận định.
Theo cách diễn giải mới, lực lượng tuần duyên của Nhật có thể bắn vào tàu nước ngoài cố tình tiếp cận quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư với cáo buộc gây bạo lực.
Lực lượng tuần duyên của Nhật Bản có thể trực tiếp khai hỏa đối phó tàu công vụ của nước ngoài cố tiếp cận quần đảo tranh chấp Senkaku (theo cách gọi của Nhật)/Điếu Ngư (theo cách gọi của Trung Quốc) nằm ở biển Hoa Đông, các thành viên của đảng cầm quyền dẫn nguồn tin từ các quan chức chính phủ nước này hôm qua (25/2) cho biết.
Trong cuộc họp về chính sách quốc phòng của đảng Dân chủ Tự do (LDP) hôm 25/2, các quan chức chính phủ đã thông báo về cách diễn giải mới về các luật hiện hành của Nhật Bản. Động thái nhằm phản ứng trước việc Trung Quốc thông qua luật mới cho phép lực lượng hải cảnh của nước này sử dụng vũ khí đối với tàu thuyền nước ngoài mà Bắc Kinh cho là “xâm phạm vùng biển của họ một cách bất hợp pháp”.
Các quan chức chính phủ Nhật Bản cho biết, trước đó, lực lượng tuần duyên của nước này chỉ được phép nổ súng trực tiếp vào tàu nước ngoài trong trường hợp tự vệ hoặc thoát hiểm khẩn cấp. Tuy nhiên, theo cách diễn giải mới, lực lượng tuần duyên của Nhật có thể bắn vào tàu nước ngoài cố tiếp cận quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với cáo buộc gây bạo lực.
Ông Taku Otsuka, người đứng đầu Ban phòng vệ quốc gia của đảng Dân chủ Tự do cầm quyền (LDP) nhấn mạnh: “Đây là lần đầu tiên các quan chức chính phủ đề cập việc lực lượng tuần duyên có thể nổ súng vào các tàu thuyền nước ngoài cố ý tiếp cận lãnh thổ của Nhật Bản”. Đã có nhiều lo ngại gia tăng tại Nhật Bản cho rằng nước này vẫn chưa hành động đủ để đối phó với các hành động quyết liệt của Trung Quốc xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
Cùng ngày, phát biểu tại một hội thảo trực tuyến, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga cho rằng môi trường an ninh tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đã trở nên xấu hơn. Ông bày tỏ lo ngại về “việc mở rộng sức mạnh quân sự một cách thiếu minh bạch và các nỗ lực đơn phương nhằm làm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc các hành vi cưỡng ép vẫn tiếp diễn”. Thủ tướng Suga cho rằng “một trật tự tự do, rộng mở, căn cứ vào luật lệ, không sử dụng vũ lực hoặc các hành vi cưỡng ép sẽ mang đến hòa bình và thịnh vượng cho khu vực và cho thế giới”.
Biển Đông chịu nhiều tác động, từ nhiều hướng khác nhau, nên tình hình luôn biến động. Biến động theo chiều hướng nào, mức độ nào, tùy thuộc vào nhiều yếu tố, cả bên trong và bên ngoài.
ASEAN nỗ lực xây dựng lập trường chung, coi an ninh, ổn định, hợp tác trên Biển Đông là lợi ích chung của khu vực.
Tập hợp lực lượng, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông
Năm 2020 và đầu năm 2021, nhiều nước bày tỏ quan điểm lo ngại, phản đối yêu sách và hoạt động gây mất an ninh, ổn định ở Biển Đông. Bộ tứ (Quad) gồm Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia tổ chức diễn tập quân sự trên biển. Pháp, Canada, Anh, Đức và một số nước khác đang và sẽ cử đội tàu chiến thực hiện FONOPs, tham gia diễn tập ở Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông. Lực lượng sử dụng có cả tàu sân bay, tàu ngầm cho thấy các nước coi trọng Biển Đông.
Tham gia FONOPs, tuyên bố trong các hội nghị, diễn đàn, gửi công hàm phản đối… là biểu hiện của việc tập hợp lực lượng ngoài khu vực, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Đó là những tín hiệu gửi tới Bắc Kinh, tạo áp lực nhất định đến Trung Quốc.
Tuy nhiên, động thái của các nước vẫn mang tính đối phó với các hành động cụ thể của Trung Quốc, chưa hình thành một chiến lược chung, mặt trận chung, là đối trọng thường xuyên, thực sự với chiến lược Biển Đông của Trung Quốc.
Hành động của các nước xuất phát từ lợi ích về tự do, an ninh, an toàn hàng hải, lo ngại sự trỗi dậy của Trung Quốc và nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế. Nhưng cũng là biện pháp thể hiện vai trò ở một địa bàn chiến lược, nhằm đối phó với các thách thức khác, trên các khu vực khác của Trung Quốc và có thể là con bài mặc cả khi cần.
Nhân tố ASEAN
Năm 2020, vấn đề Biển Đông là một nội dung quan tâm thường xuyên trong chương trình nghị sự, thông cáo, tuyên bố chung. ASEAN nỗ lực xây dựng lập trường chung, coi an ninh, ổn định, hợp tác trên Biển Đông là lợi ích chung của khu vực; luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 là cơ sở để đối thoại, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.
Việt Nam và các nước ASEAN hoan nghênh, ủng hộ các tuyên bố, hoạt động của các nước ngoài khu vực tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven biển Đông, phù hợp với UNCLOS 1982, đóng góp cho hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không.
Các nước Đông Nam Á ngày càng nhận thức rõ vai trò ASEAN trong vấn đề Biển Đông. Việt Nam, Malaysia, Philippines, Inonesia… có lập trường rõ ràng, hành động tích cực hơn. Đó là một bước tiến của ASEAN, trong đó có vai trò lớn của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2020.
Tuy nhiên, sức mạnh nhiều mặt của ASEAN vẫn kém Trung Quốc. ASEAN vẫn chưa hình thành một phương thức hành động thống nhất toàn khối, có tính hữu hiệu cao trong xử lý vấn đề Biển Đông. Một số nước vẫn còn biểu hiện tính toán lợi ích riêng, bị nước lớn tác động, chi phối.
Với các nước ASEAN là quốc gia biển, Biển Đông là chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, là vấn đề chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, gắn với môi trường hòa bình, ổn định, phát triển của đất nước.
Tranh chấp chủ quyền phức tạp gấp nhiều lần thách thức về tự do, an ninh, an toàn hàng hải của các nước ngoài khu vực. Tranh thủ sự ủng hộ quốc tế là cần thiết, nhưng dựa vào bên ngoài để bảo vệ chủ quyền quốc gia là tư duy sai lầm, vẫn tồn tại ở một bộ phận.
Năm 2021 và tiếp theo sẽ thế nào?
Biển Đông chịu nhiều tác động, từ nhiều hướng khác nhau, nên tình hình luôn biến động. Biến động theo chiều hướng nào, mức độ nào, tùy thuộc vào nhiều yếu tố, cả bên trong và bên ngoài.
Trung Quốc về cơ bản vẫn tiếp tục “đa chiến pháp”, nhịp độ khi căng, khi chùng, nhưng tổng thể vẫn là hành động kiên quyết, cứng rắn. Nếu nội bộ không có đột biến và áp lực bên ngoài chưa đủ độ (là khả năng hiện hữu), thì Trung Quốc không, hoặc khó nhượng bộ.
Năm 2021, ASEAN cơ bản vẫn giữ định hướng chính sách, chiến lược ở Biển Đông, được xác định từ năm 2020. Nhưng biến động ở Myanmar, khó khăn do đại dịch Covid-19 và một số vấn đề phức tạp khác, nên việc thực thi bị ảnh hưởng.
Mỹ và các nước phương Tây cơ bản vẫn tiếp tục xu hướng như 2020. Các nước còn nhiều vấn đề lớn cần giải quyết. Ưu tiên vẫn là phòng chống đại dịch và phục hồi nền kinh tế. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của EU. Cọ xát giữa lợi ích kinh tế và an ninh, an toàn, tự do hàng hải, duy trì trật tự thế giới trên cơ sở luật pháp, công bằng, tác động đến chính sách của nhiểu nước.
Nhìn chung, năm 2021 chưa hội tủ đủ các yếu tố để tình hình sáng sủa hơn, Biển Đông chưa thể sớm bình lặng. Giải quyết tranh chấp chủ quyền là công việc phức tạp, lâu dài, cần sự kiên trì, nỗ lực của tất cả các bên, cả trong và ngoài khu vực. Cần đề cao chủ nghĩa đa phương, hợp tác, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế rộng rãi về thiết lập và tuân thủ một trật tự dựa trên luật pháp, luật lệ, giá trị chung và lợi ích chung.
Việc cần làm trước hết là xây dựng và duy trì môi trường thuận lợi cho việc thúc đẩy hợp tác. Coi trọng biện pháp ngoại giao, pháp lý, duy trì thường xuyên đối thoại, tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy hợp tác kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, tìm kiếm cứu nạn trên biển.
Kiềm chế và chủ động phòng tránh nguy cơ đụng độ không mong muốn trên biển. Đi đôi với hợp tác, cần đấu tranh để xây dựng một cơ chế giám sát có hiệu quả và giải quyết tranh chấp bắt buộc nhằm ổn định tình hình Biển Đông.
Đàm phán COC khó có thể kết thúc trong năm 2021 như tuyên bố của Trung Quốc, do độ chênh lớn về yêu sách chủ quyền. Kiên trì, nỗ lực, phối hợp chặt chẽ các nước ASEAN để vượt qua trở ngại, bảo đảm COC thực chất, hiệu quả, hiệu lực. Mở rộng quy định về chống va chạm không định trước trên biển giữa các lực lượng quân sự cho cả tàu thuyền dân sự, thương mại, đánh cá.
Bất chấp khó khăn, Hoa Kỳ đang cố gắng để thiết lập chuỗi cung ứng riêng của mình, không phụ thuộc vào chuỗi cung ứng từ Trung Quốc.
Mỹ muốn xây dựng chuỗi cung ứng hàng hóa công nghệ cao độc lập với Trung Quốc. Tổng thống Mỹ Joe Biden đang chuẩn bị ký lệnh hành pháp với mục đích phát triển hệ thống cung cấp mới trong ngành sản xuất chip điện tử và các mặt hàng chiến lược khác, để không phụ thuộc vào Trung Quốc.
Ở giai đoạn đầu, Washington sẽ kiểm toán đánh giá lại toàn bộ các chuỗi cung ứng hiện có để xác định mức độ phụ thuộc của Mỹ vào các quốc gia khác.
Mặc dù Hoa Kỳ tiếp tục dẫn đầu thế giới về công nghệ cao, thì đặc tính toàn cầu của các hệ thống cung cấp phát triển trong những thập kỷ gần đây đã khiến các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau. Và điều đó sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho Mỹ trong công cuộc “thoát” Trung Quốc.
Mỹ phụ thuộc vào chip của Trung Quốc
Ví dụ như những con chip hiện đại nhất được sử dụng trong các ngành công nghiệp và điện tử phức tạp thường được sản xuất theo công nghệ và tài sản trí tuệ của Mỹ. Đây chính là điều mà Mỹ dựa vào đó để gây áp lực khi sử dụng các lệnh trừng phạt đối với doanh nghiệp Trung Quốc như Huawei.
Nhưng mặt khác, cũng cùng một con chip đó, không chỉ do Mỹ sản xuất ra. Hơn nữa, tỷ trọng của Hoa Kỳ trong sản xuất chip trên thế giới đang giảm xuống nhanh chóng: Nếu như năm 1990 khoảng 40% tổng số chip được sản xuất trên đất Mỹ thì ngày nay con số này chỉ còn 12%.
Đài Loan đã vượt lên trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới trong sản xuất chip điện tử, chiếm 22% thị trường. Bám sát theo sau là Trung Quốc. Theo tính toán của Boston Consulting, Bắc Kinh đã trợ cấp cho các nhà sản xuất chip trong nước khoảng 100 tỷ USD. Với sự hỗ trợ mạnh mẽ như vậy, đến năm 2030, họ hy vọng nước này sẽ dẫn đầu thế giới về sản xuất chip điện tử với 24% thị phần.
Như vậy, tất cả các quốc gia, kể cả các đối thủ, đều phụ thuộc lẫn nhau. Trung Quốc không thể sản xuất chip thế hệ mới nhất nếu không có công nghệ và thiết bị Mỹ, còn Mỹ không thể đáp ứng nhu cầu thị trường mà không có linh kiện và thành phẩm hoàn thiện từ Trung Quốc.
Hiện nay hoạt động xã hội, cơ sở hạ tầng cơ bản, cuộc sống đô thị và sự phát triển kinh tế, cũng như các lĩnh vực xã hội nói chung, phụ thuộc hoàn toàn vào thiết bị công nghệ, cũng như chip điện tử. Nói cách khác, an ninh quốc gia và sự ổn định phát triển của đất nước phụ thuộc vào các vi mạch nhỏ xíu. Không phải vô cớ mà hàng năm Trung Quốc phải nhập khẩu đến 300 tỷ USD tiền chip điện tử – nhiều hơn cả dầu thô.
Mặt khác, khi công cuộc số hóa ngày càng sâu rộng, nhu cầu về chip và các linh kiện công nghệ khác nhau sẽ tăng lên. Số lượng các nhà cung cấp đáng tin cậy của Hoa Kỳ càng thu hẹp, thì việc đảm bảo ổn định nguồn cung càng khó khăn hơn.
Mỹ phụ thuộc vào Trung Quốc về y tế, đất hiếm và công nghệ mạng 5G
Theo ý kiến của chuyên gia người Trung Quốc về công nghệ internet, nhà báo Liu Xingliang nói với hãng tin Nga Sputnik, các biện pháp trừng phạt của Mỹ có thể gây ra một số thiệt hại và làm chậm sự phát triển công nghệ của Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh cũng không thiếu những công cụ để đáp trả.
Mỹ phụ thuộc 80% vào nguồn cung cấp kim loại đất hiếm từ Trung Quốc, vốn cần thiết để sản xuất hầu hết thiết bị điện tử và công nghệ hiện đại, kể cả trong lĩnh vực quân sự, ví dụ như trong sản xuất máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ 5 F-35 Lightning II của Lockheed Martin, hay các tàu sân bay và các tàu tuần dương, tàu khu trục… tối tân.
Mỹ cũng phụ thuộc 90% về vật tư y tế Trung Quốc và đó không chỉ là khẩu trang hay găng tay đơn giản.
Trong quý một năm 2020, khi đại dịch COVID-19 hoành hành ở Trung Quốc và ngành công nghiệp dược phẩm nước này dồn toàn lực cho nhu cầu trong nước, chính quyền Washington mới chợt nhận ra mình đã thiếu khôn ngoan khi thuê Trung Quốc sản xuất các loại thuốc men thiết yếu, chẳng hạn như thuốc giảm đau, kháng viêm Panadol hay Ibuprofen.
Ngoài ra, trong một số lĩnh vực, chẳng hạn như công nghệ mạng 5G, với hàng loạt công ty công nghệ hàng đầu thế giới và sự thành thục trong triển khai mạng 5G quốc nội, Trung Quốc đã tự đảm bảo vị thế dẫn đầu về công nghệ, mà ngay cả Mỹ và các cường quốc hàng đầu thế giới khác cũng phải chào thua.
Nếu như Trung Quốc đứng ngoài cuộc, việc xây dựng mạng 5G sẽ lâu hơn và chi phí tốn kém hơn. Việc loại bỏ Trung Quốc, nhập khẩu công nghệ và hạ tầng mạng của các nước khác vẫn chưa hoàn thiện, sẽ là mối đe dọa đối với sự ổn định kinh tế và xã hội ở nhiều nước.
Khó loại Trung Quốc khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu
Hoa Kỳ hiện đang cố gắng phát triển chuỗi cung ứng của mình để bỏ qua Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, hội nhập sâu rộng toàn cầu đến mức việc loại trừ Trung Quốc sẽ dẫn đến cú sốc trong nhiều ngành, bao gồm cả sản xuất chip,
Theo Liu Xingliang , trong thời đại toàn cầu hóa. Trung Quốc nắm giữ phần lớn thị phần trong chuỗi cung ứng thế giới, vì vậy nếu Mỹ loại trừ Trung Quốc, điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng không chỉ đến chiến lược bán dẫn của Mỹ mà còn đến tiến bộ toàn cầu trong lĩnh vực chip và vi mạch.
Ngoài ra, qua khoảng thời gian hàng thập kỷ trở thành công xưởng của thế giới, Trung Quốc đã đạt được những đột phá về công nghệ và tích lũy được kiến thức chuyên môn đáng kể trong lĩnh vực này, nên toàn bộ ngành công nghiệp toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng khá nặng nề.
Chuyên gia Liu Xingliang giải thích, rõ ràng là không một quốc gia nào, kể cả Hoa Kỳ, có thể một mình đạt được tiến bộ công nghệ trong điều kiện ngày nay. Mỹ hiểu điều này và Washington đang cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ của các nước đồng minh.
“Tôi không nghĩ có nước nào có thể tự mình phát triển công nghệ và đạt được sự độc lập trong chuỗi cung ứng. Trong thời đại toàn cầu hóa, đối với việc phát triển bất kỳ ngành nghề nào, sự hợp tác của các quốc gia với nhau là cần thiết. Nếu nước nào quyết định một mình phát triển thì nước đó sẽ thua cuộc. Những tổn thất sẽ lớn hơn những lợi ích có được“ – ông Liu nói.
Do đó, hiện nay Hoa Kỳ đang cố gắng tranh thủ một số đồng minh tham gia vào hệ thống cung cấp nhằm đảm bảo các mục tiêu phát triển chung, tức là Mỹ cũng không tự chủ hoàn toàn trong chuỗi cung ứng này.
Mỹ hợp tác với đồng minh để lấp chỗ trống của Trung Quốc
Hiện Mỹ đang cố gắng đàm phán với các đồng minh để phát triển hệ thống cung cấp độc lập khỏi Trung Quốc.
Ví dụ như Australia tham gia trong lĩnh vực khai thác, tinh luyện kim loại đất hiếm. Công ty khai thác mỏ Lynas của Úc thậm chí đang xây dựng một nhà máy chế biến ở bang Texas – Hoa Kỳ, được thực hiện với sự hỗ trợ tài chính từ Bộ Quốc phòng Mỹ.
Với sự trợ giúp của Panasonic – Nhật Bản và LG Chem của Hàn Quốc, Mỹ cố gắng bỏ qua Trung Quốc trong việc cung cấp pin cho xe điện. Hiện tại, Công ty Contemporary Amperex Technology Limited (CATL, của Trung Quốc) đang thống trị thị trường pin xe ô tô điện trên toàn cầu.
Theo Nikkei Asia, Mỹ muốn tạo ra với các đồng minh của mình sự trao đổi thông tin nhanh chóng về hoạt động của chuỗi cung ứng và thiết lập cơ chế hỗ trợ lẫn nhau trong trường hợp thị trường thiếu hụt bất kỳ thành phần quan trọng nào. Tính cấp thiết của vấn đề này được thể hiện qua sự thiếu hụt chip trong ngành công nghiệp ô tô.
Nhưng thực tế là không phải lúc nào cũng có thể nhanh chóng lấp đầy khoản thâm hụt này trong trường hợp cần thiết, đặc biệt là nếu số lượng các nhà cung cấp có hạn. Ví dụ, công ty TSMC Đài Loan đã hoạt động quá khả năng của mình, mặc dù lời kêu gọi từ Washington để tăng cường sản xuất các linh kiện cần thiết và công ty này sẽ khó có thể mở rộng sản xuất trong ngắn hạn.
Nhiều khả năng Hoa Kỳ sẽ không từ bỏ ý định „hất văng“ Trung Quốc ra khỏi hệ thống cung cấp của mình, vì ngay cả dưới chính quyền mới của Hoa Kỳ hiện nay, không có dấu hiệu nào cho thấy có sự tan băng trong quan hệ giữa hai nước và chấm dứt cuộc chiến tranh thương mại Trung-Mỹ.
Washington đã trợ cấp tài chính cho TSMC để xây dựng nhà máy chip ở bang Arizona, trị giá khoảng 12 tỷ USD và sẽ bắt đầu hoạt động vào năm 2024. Công ty này sẽ được chỉ định cho nhiệm vụ sản xuất chip điện tử cho nghành công nghiệp quân sự Mỹ.
Rõ ràng là quyết tâm của Mỹ là rất cao, bất chấp cái giá phải trả là rất lớn. Nhưng nếu huy động được toàn thể các đồng minh tham gia vào chuỗi cung ứng của mình, Hoa Kỳ sẽ giảm thiểu được thiệt hại và dần dần hạ thấp vị thế của Trung Quốc trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngay từ những tháng đầu 2021, Biển Đông liên tục xuất hiện trong các hội nghị, diễn đàn, tuyên bố. Tàu quân sự đủ loại của Trung Quốc, Mỹ và một số nước đang và sẽ hiện diện trên thực địa, cùng với các cuộc diễn tập. Tiếp theo là gì và như thế nào?
Biển Đông là một trong những trọng điểm trong chiến lược tổng thể kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, đang được Thượng viện Mỹ soạn thảo. (Nguồn: SCMP)
Biển Đông lặng hay dậy sóng liên quan đến Trung Quốc
Năm 2020 và đầu 2021, Bắc Kinh vẫn tiếp tục thực thi “đa chiến pháp” trên Biển Đông. Truyền thông phủ sóng toàn cầu tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” và hình ảnh Trung Quốc xây dựng cộng đồng chung trên biển. Sửa đổi Luật Hải cảnh, công bố “danh xưng tiêu chuẩn” của các đảo, đá và thực thể đáy biển; phát triển “khu Tây Sa”, “khu Nam Sa”, dùng lục địa để gia tăng chủ quyền biển.
Thu hút các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế ủng hộ cái gọi là “chủ quyền lịch sử” của Trung Quốc. Biến hóa “đường chín đoạn”, “thuyết Tứ sa” để biến vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các nước khác thành vùng biển tranh chấp, phần lớn Biển Đông thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Trung Quốc.
Tiếp tục củng cố và xây mới cấu trúc lưỡng dụng trên các đảo, đá thuộc quần đảo Trường Sa, mới nhất là đá Vành Khăn. Đẩy mạnh xây dựng lực lượng quân sự hiện đại, đa năng trên biển, đáng chú ý là đội tàu sân bay.
Duy trì hoạt động thường xuyên của lực lượng đa binh chủng, Hải quân, Hải cảnh, đội tàu nghiên cứu khoa học, dàn khoan nước sâu cỡ lớn, binh đoàn hàng ngàn tàu thuyền dân quân biển, xâm nhập, răn đe, ngăn cản hoạt động dân sự, kinh tế của các nước, thực hiện kiểm soát trên thực tế.
Tàu hải cảnh, tàu bán quân sự Trung Quốc nhiều lần xâm phạm vùng biển khu vực thuộc bồn trũng Nam Côn Sơn, bãi Tư Chính (của Việt Nam), bãi cạn Scarborough (Philippines), bãi Luconia (Malaysia)…
Gần nhất, 24/2, có tin tàu Hải cảnh Trung Quốc áp sát dàn khoan Hải Thạch của Việt Nam đang hoạt động bình thường tại lô 5-02 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam.
Hàng chục tàu chiến Trung Quốc diễn tập quân sự ở Biển Đông. Từ ngày 24/2, Trung Quốc tổ chức diễn tập hàng hải cứu nạn, thông tin liên lạc với Hải quân Singapore, một động thái nằm trong chủ trương thúc đẩy hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước ASEAN. Kết hợp ngoại giao, kinh tế, gây áp lực để đàm phán xây dựng COC có lợi cho Trung Quốc.
Năm 2020 và đầu năm 2021, Trung Quốc vẫn hành động một cách kiên quyết, cứng rắn, nhằm khẳng định, thực thi yêu sách chủ quyền, gây sức ép với các nước trong khu vực, ngăn chặn sự hiện diện của các nước ngoài khu vực. Củng cố thế đứng chân, xây dựng các chuỗi đảo thành các tuyến an ninh, ngăn chặn tiếp cận từ bên ngoài, mở rộng chủ quyền, quyền kiểm soát của Trung Quốc; tạo ưu thế nhiều mặt trên Biển Đông, không chỉ với ASEAN mà cả với Mỹ và đồng minh.
Với tư duy “lục địa chi phối đại dương”, Trung Quốc coi Biển Đông là “lợi ích sống còn”, là bàn đạp vươn ra các đại dương, các châu lục, thực hiện “Giấc mộng Trung hoa”. Trên các diễn đàn, hội nghị, các cuộc gặp gỡ, Bắc Kinh luôn nói Biển Đông yên tĩnh, trong tầm kiểm soát. Nhưng mỗi khi Trung Quốc khuấy là biển lại động, cả trên thực địa và dư luận.
Nhiều nhà nghiên cứu quân sự quốc tế đánh giá Trung Quốc là nhân tố cơ bản trong tình hình Biển Đông, bởi ưu thế, tham vọng, hành xử của họ và nhìn nhận Biển Đông lặng hay dậy sóng trước hết từ Trung Quốc.
Mỹ muốn và làm gì ở Biển Đông
Sau một tháng cầm quyền của Tổng thống Joe Biden, thông cáo báo chí ngày 19/2 đã phác họa khá rõ nét về chiến lược kiềm chế Trung Quốc trên Biển Đông. Mỹ tái khẳng định ủng hộ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài về vụ Philippines kiện Trung Quốc, coi đó là quyết định cuối cùng, phải tuân thủ.
Mỹ bày tỏ lo ngại về những thách thức từ Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc. Tuyên bố trừng phạt các công ty Trung Quốc liên quan đến hoạt động cải tạo trái phép các đá ở quần đảo Trường Sa.
Bộ Quốc phòng Mỹ chủ trương tích hợp Hải quân, Tuần duyên, Thủy quân lục chiến thành lực lượng chung, tăng cường sức mạnh trên biển.
Trên thực địa, Mỹ gia tăng hoạt động FONOPs cả về tần suất và số lượng các nhóm tàu, phối hợp cùng lúc 2 nhóm tàu sân bay, di chuyển qua các vùng biển Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, áp sát tàu khảo sát của Trung Quốc. Tổ chức diễn tập phối hợp trên biển với đồng minh.
Mỹ thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, thông qua Bộ tứ, các diễn đàn, hội nghị trực tuyến, điện đàm với lãnh đạo các nước (diễn ra khá dày đặc trong tháng 2). Mỹ cùng đồng minh phản đối mọi hành vi thay đổi hiện trạng khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông bằng cưỡng đoạt, cưỡng ép của Trung Quốc.
Mỹ cam kết phối hợp hành động với các đồng minh, đối tác sâu hơn; sẵn sàng bảo vệ Nhật Bản, Philippines khi bị tiến công; ủng hộ các nước nhỏ chống lại hành vi sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp chủ quyền. Các động thái trên phần nào tạo cho đồng minh, đối tác tin Mỹ sẽ coi trọng châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông.
Biển Đông là một trong những trọng điểm trong chiến lược tổng thể kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, đang được Thượng viện Mỹ soạn thảo. Đồng thời, ý định xây dựng chuỗi cung ứng sản phẩm công nghệ không Trung Quốc và nhiều động thái khác hỗ trợ cho mặt trận Biển Đông.
Bước đầu cho thấy Tổng thống Joe Biden không nhân nhượng, không thay đổi lập trường cứng rắn với Trung Quốc, nhưng cách tiếp cận có thay đổi. Hành động của ông Joe Biden có vẻ khẩn trương hơn người tiền nhiệm Donal Trump và dứt khoát hơn so với các tổng thống trước của Đảng Dân chủ.
Nhiều thập kỷ trước, Mỹ có một hệ thống căn cứ trên các đảo và ở nhiều nước châu Á-Thái Bình Dương. Hạm đội 7 thường xuyên hiện diện ở Biển Đông. Mỹ hiện là đối thủ lớn nhất, là đối trọng của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng vị thế có phần suy giảm.
Các cố vấn, nhà nghiên cứu từng cảnh báo Mỹ đã bỏ lỡ thời cơ, trong đó có việc hỗ trợ Philippines sau phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 và thúc đẩy các nước khác tiến hành cuộc chiến pháp lý ở Biển Đông. Nếu xu thế đó tiếp tục, vai trò, lợi ích chiến lược của Mỹ sẽ bị ảnh hưởng lớn.
Mục đích của Mỹ ở Biển Đông là kiềm chế Trung Quốc, bảo vệ lợi ích chiến lược, vai trò lãnh đạo của mình. Tuy nhiên, Mỹ còn nhiều vấn đề cần giải quyết với đồng minh, đối tác, đối thủ, ở nhiều khu vực khác. Nhiều cam kết vẫn dừng ở tuyên bố. Hoạt động FONOPs phản đối yêu sách chủ quyền không có cơ sở pháp lý, nhưng chưa thể ngăn chặn chiến lược độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.
Đức, Anh, Pháp và Mỹ được cho là đang bàn bạc về việc xây dựng một nhóm „Bộ tứ“ xuyên Đại Tây Dương hướng tới cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc.
Nước Mỹ dưới thời cựu Tổng thống Donald Trump từng thúc đẩy tích cực việc xây dựng quan hệ quốc phòng thân thiết hơn với Ấn Độ, Nhật Bản và Australia – các thành viên trong „Bộ tứ Kim cương“ nhằm xây dựng một mô hình tương tự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương.
Sau tân Tổng thống Mỹ Joe Biden nhậm chức, ông đã phát tín hiệu rằng việc xây dựng „Bộ tứ Kim cương“ là một trong số ít chính sách của chính quyền tiền nhiệm mà ông dự định sẽ tiếp tục duy trì.
Ngoài ra, ông Biden cũng tuyên bố rằng: „Liên minh xuyên Đại Tây Dương đã trở lại“, đồng thời ám chỉ một hướng quan hệ quốc tế mới, theo đó Mỹ và các đồng minh châu Âu điều chỉnh các chính sách đối ngoại của họ để thích ứng với thực tế mới, bao gồm cả sự chuyển hướng về châu Á.
Vào ngày ông Joe Biden tham dự cuộc họp của các lãnh đạo G7 và Hội nghị An ninh Munich, Thủ tướng Anh Boris Johnson đã nhắc đến „Bộ Tứ xuyên Đại Tây Dương“ nhằm giải quyết những thách thức an ninh hiện tại.
Nhà lãnh đạo Anh cho biết ông tin rằng „Châu Âu ngày càng nhận ra sự cần thiết của việc hợp tác cùng những người bạn Mỹ của chúng ta để khám phá lại khả năng lãnh đạo có tầm nhìn xa, tinh thần phiêu lưu và đoàn kết xuyên Đại Tây Dương đã khiến hai lục địa của chúng ta trở nên vĩ đại ngay từ đầu“.
Sự nhiệt tình của Anh trong việc đẩy mạnh quan hệ liên minh xuyên Đại Tây Dương phù hợp với định hướng của ông Biden và cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan.
Ông Sullivan đã khuyên ông Biden tạo ra „vị thế mạnh mẽ“ bằng cách hợp tác với các đồng minh châu Âu để đối mặt với những thách thức do Trung Quốc và Nga đặt ra.
Trong bài phát biểu tại Hội nghị Munich hôm 19/2, ông Biden cảnh báo các nền dân chủ phải chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh chiến lược lâu dài với Trung Quốc. Ông cho rằng việc Mỹ, châu Âu và châu Á hợp tác với nhau để đảm bảo hòa bình, bảo vệ các giá trị chung và thúc đẩy sự thịnh vượng ở hai bờ Thái Bình Dương sẽ trở nên quan trọng.
Thủ tướng Đức Angela Merkel nhận định trong những năm qua, Trung Quốc đã có thêm sức mạnh trên trường quốc tế và chúng ta – các đối tác xuyên Đại Tây Dương phải phản ứng lại với điều đó.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron ủng hộ việc Mỹ quay trở lại con đường ngoại giao đa phương và cũng chia sẻ mối quan ngại về Trung Quốc.
Một người Đức được cho là đã thu thập thông tin nhạy cảm về các khu bất động sản ở Berlin và sau đó đã đem dữ liệu đến nộp cho đại sứ quán Nga.
Der Bundestag in Berlin ist auch Beobachtungsobjekt ausländischer Geheimdienste (Symbolbild)
Tổng Công tố Liên bang đã đưa ra cáo buộc một người Đức về tội đã chuyển thông tin về cấu trúc xây dựng của khu nhà quốc hội liên bang Đức cho cơ quan mật vụ Nga. Bị cáo là nhân viên của một công ty kiểm tra thiết bị điện với tư cách là nhà cung cấp dịch vụ cho Quốc hội.
Với đặc điểm công việc này, anh ta có thể truy cập sơ đồ mặt bằng của các tòa nhà quốc hội. Trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2017, anh ta đã tự quyết định „theo cách riêng của mình“ để chuyển thông tin này cho cơ quan tình báo quân đội Nga GRU. Tập dữ liệu đã được chuyển đến một nhân viên của GRU tại đại sứ quán Nga ở Berlin. Ngoài ra công tố viên Liên bang không cung cấp thêm bất kỳ chi tiết nào về vụ việc.
Immer wieder sind Mitarbeiter von Dienstleistern in gesicherten Bundestagsgebäuden im Einsatz (Symbolbild)
Bị cáo có thể bị xét xử vì tình nghi có những hành động gián điệp. Hiện bộ phận bảo vệ Nhà nước của Tòa phúc thẩm Berlin đang xem xét bản cáo trạng và sẽ quyết định về một phiên điều trần.
Một Trung tá Hải quân gốc Việt vừa được chọn làm hạm trưởng tàu khu trục USS John McCain thường xuyên hoạt động trên Biển Đông.
Ông Trần Trung Tín (phải) tại buổi lễ chuyển giao.
Theo bản tin của Hạm đội 7, ngày 19/2 Trung tá Hải quân Tín Trần đã nhận bàn giao chức hạm trưởng tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn dường USS John McCain trong buổi lễ tại căn cứ ở Yokosuka (Nhật Bản).
Tàu khu trục USS John McCain trực thuộc Hạm đội 7 của Mỹ, có mặt thường xuyên trên Biển Đông và đã một số lần đi vào bên trong phạm vi 12 hải lý của quần đảo Hoàng Sa và các đảo nhân tạo Trung Quốc bồi đắp thành căn cứ quân sự ở quần đảo Trường Sa thời gian gần đây, trước đó, Tín Trần đã là hạm phó của tàu USS John McCain, chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của chiến hạm này hàng ngày trong khi hạm trưởng tập trung vào chiến lược và tính toán các bước hoạt động kế tiếp. Ông là hạm trưởng thứ 19 và cũng là hạm trưởng gốc Việt đầu tiên của USS John McCain.
Từ cuối tháng 9/2020, tàu khu trục USS John McCain đã tham gia nhiều cuộc tập trận đa quốc gia với các nước đồng minh, gồm các hoạt động với Hải quân Hoàng gia Australia (RAN) ở biển Andaman, thực hiện hoạt động với 3 nhóm tàu sân bay khác nhau ở Biển Đông và tập trận Malabar trong năm 2020, cùng với RAN, Hải quân Ấn Độ và Lực lượng Phòng vệ Biển của Nhật Bản.
Tàu John S. McCain được giao cho Hải đội Khu trục (DESRON) 15 – hải đội được triển khai lớn nhất của Hải quân Mỹ và là lực lượng mặt đất chính của Hạm đội 7.
Hạm đội 7 tiến hành các hoạt động hải quân được triển khai nhằm hỗ trợ lợi ích quốc gia của Mỹ trong khu vực hoạt động của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Là hạm đội có số lượng lớn nhất trong Hải quân Mỹ, Hạm đội 7 làm việc với lực lượng hải quân của 35 nước khác để xây dựng quan hệ đối tác thúc đẩy an ninh hàng hải, thúc đẩy ổn định và ngăn chặn xung đột.
Ông Derek Grossman – nhà phân tích quốc phòng cấp cao tại Rand Corp. cho rằng, “Trung Quốc là động lực chính cho sự hợp tác gần đây của Bộ Tứ (Quad)”.
Hải quân Mỹ cùng với Không quân Hoàng gia Australia, Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản, Hải quân Ấn Độ và Không quân Hoàng gia Canada tham gia tập trận Sea Dragon 2021 tại Guam, ngày 28/1. (Nguồn: Hải quân Mỹ)
Cam kết mạnh mẽ của Mỹ
Các nhà ngoại giao hàng đầu của 4 thành viên nhóm Bộ Tứ (Quad) gồm Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ ngày 18/2 đã có cuộc điện đàm chung trong khuôn khổ đối thoại cấp ngoại trưởng chỉ 4 tuần sau lễ nhậm chức của Tổng thống Mỹ Joe Biden.
Theo nhận định của tờ Nikkei Asia, cuộc điện đàm là chỉ dấu cho thấy việc tập hợp các nền dân chủ có cùng chí hướng vẫn sẽ là một hoạt động hoạch định chính sách quan trọng mang tính nền tảng của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Cuộc điện đàm kéo dài khoảng 90 phút mà theo mô tả trong một dòng tweet của Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Toshimitsu Motegi là “một cuộc thảo luận cực kỳ sâu sắc” với sự tham gia của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken, Ngoại trưởng Australia Marise Payne và Ngoại trưởng Ấn Độ Subrahmanyam Jaishankar.
Nội dung chính của cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề Myanmar, Biển Đông, Biển Hoa Đông, Triều Tiên, đại dịch Covid-19 và biến đổi khí hậu.
Ông Motegi nói với các phóng viên rằng, cuộc họp diễn ra không lâu sau khi Tổng thống Mỹ Joe Biden nhậm chức là một dấu hiệu cho thấy cam kết mạnh mẽ của Chính quyền Mỹ trong việc hiện thực hóa khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, cũng như cam kết với nhóm Bộ Tứ.
Cuộc họp được triệu tập theo yêu cầu của phía Mỹ và là cuộc họp đầu tiên của nhóm này kể từ khi Tổng thống Mỹ Joe Biden chính thức nhậm chức.
Ông Robert O’Brien – Cố vấn an ninh quốc gia dưới thời Tổng thống Donald Trump hồi cuối tháng 1 vừa qua đã mô tả mối quan hệ với nhóm Bộ Tứ có thể là “mối quan hệ quan trọng nhất mà Mỹ đã thiết lập sau NATO”.
Bộ Ngoại giao Ấn Độ cũng đề cập cuộc họp trong thông cáo báo chí ngày 18/2, trong đó nhấn mạnh mối quan tâm đến Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của New Delhi đang tăng lên.
“Cần phải lưu ý rằng, khái niệm Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đã thu hút được sự ủng hộ ngày càng cao của quốc tế, kể cả ở châu Âu”, thông cáo nêu rõ.
Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết, sau cuộc họp ngày 18/2, 4 thành viên nhất trí sẽ gặp nhau ít nhất mỗi năm một lần ở cấp Bộ trưởng và “trên cơ sở thường xuyên” ở cấp cao và cấp công tác, “để tăng cường hợp tác nhằm thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, bao gồm hỗ trợ cho tự do hàng hải và toàn vẹn lãnh thổ”.
Vai trò trung tâm của ASEAN
“Các bên tham gia tái khẳng định sự ủng hộ đối với vai trò trung tâm của ASEAN” ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thông tin từ Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết thêm.
Theo Nikkei, động thái này báo hiệu ý định mở rộng hợp tác của nhóm Bộ Tứ với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Trước đó, trong cuộc điện đàm với Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi ngày 16/2, Ngoại trưởng Mỹ Blinken cũng nhất trí với người đồng cấp Marsudi về “vai trò chủ chốt của ASEAN ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương“.
Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Motegi nói rằng, nhóm Bộ Tứ sẽ tăng cường hợp tác với ASEAN, các quốc đảo Thái Bình Dương và các nước châu Âu.Thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao các nước thuộc nhóm Bộ Tứ không trực tiếp nhắc đến Trung Quốc, nhưng ông Derek Grossman – nhà phân tích quốc phòng cấp cao tại Rand Corp. cho rằng, “Bắc Kinh là động lực chính cho sự hợp tác gần đây của Quad”.
Cả 4 thành viên của Quad phản đối các nỗ lực đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, ám chỉ việc Trung Quốc tăng cường các hoạt động hàng hải trong khu vực, bao gồm cả việc xây dựng đảo nhân tạo trái phép.
Đặc biệt, Nhật Bản nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế trong bối cảnh báo động về hoạt động của các tàu Trung Quốc xung quanh quần đảo Senkaku do Nhật Bản quản lý mà Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền và gọi là Điếu Ngư.
Bên cạnh đó là việc Trung Quốc gần đây đã thông qua Luật Hải cảnh, cho phép lực lượng cảnh sát biển nước này nổ súng vào tàu nước ngoài trong một số trường hợp nhất định.
Sau một thời gian gián đoạn, nhóm Bộ Tứ đã được hồi sinh vào năm 2017 nhằm mục đích đối phó với ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong khu vực.
Diễn đàn nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế và an ninh giữa các quốc gia có chung các giá trị, bao gồm tự do, dân chủ và pháp quyền.
Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản mới đây tổ chức cuộc diễn tập chung với chiến hạm của Mỹ và Pháp ở vùng biển ngoài khơi quần đảo Kyushu thuộc phía tây nam của Nhật, giữa lúc Trung Quốc gia tăng hoạt động trên biển.
Đài NHK tối 20.2 dẫn thông báo từ Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản cho hay tham gia cuộc diễn tập có tàu tiếp tế Nhật JS Hamana, khu trục hạm Mỹ USS Curtis Wilbur và tàu hộ vệ Pháp FNS Prairial. Cuộc diễn tập 3 bên này diễn ra hôm 19.2.
Đây là cuộc diễn tập tế tiếp trên biển đầu tiên theo một thỏa thuận Nhật và Pháp đã ký kết hồi năm 2019. Thỏa thuận này cho phép các lực lượng phòng vệ của hai nước cung cấp qua lại hàng tiếp tế, như thực phẩm, nhiên liệu và đạn dược.
Ngoài mục đích cung cấp hỗ trợ hậu cần, cuộc diễn tập dường như còn nhằm thể hiện sự hợp tác mạnh mẽ giữa 3 nước trong bối cảnh Trung Quốc gia tăng hoạt động trên biển, theo NHK.
Tàu hộ vệ Pháp Prairial tham gia cuộc diễn tập nói trên được điều đến biển Hoa Đông từ tháng này để theo dõi xem việc vận chuyển hàng hóa giữa các tàu của CHDCND Triều Tiên có vi phạm lệnh cấm vận của Liên Hiệp Quốc hay không. Biển Hoa Đông còn là nơi Nhật và Trung Quốc có tranh chấp về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
Cơ quan phụ trách vấn đề không quân của Đài Loan tiếp tục lên tiếng ngày thứ hai liên tiếp về việc nhiều máy bay chiến đấu và ném bom của Trung Quốc thực hiện tập trận gần các đảo trên Biển Đông.
Bắc Kinh đã liên tục thực hiện các sứ mệnh không quân tại phía tây nam vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) do Đài Bắc tuyên bố trong những tháng gần đây, đa phần là gần quần đảo Đông Sa.
Cả Bắc Kinh và Đài Bắc đều tuyên bố chủ quyền với Đông Sa. Ngoài ra, Trung Quốc coi Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời.
Sau khi 9 máy bay không quân Trung Quốc bay gần Đông Sa hôm 19-2, Đài Bắc cho biết đã phát hiện 11 chiếc máy bay ngay ngày hôm sau, trong đó có 8 chiếc chiến đấu cơ, 2 máy bay ném bom H-6 và 1 máy bay chống ngầm.
Đài Loan tuyên bố lực lượng hải quân Trung Quốc có liên quan nhưng không cung cấp thông tin cụ thể.
Phía Đài Loan cũng đưa ra cảnh báo, yêu cầu máy bay Trung Quốc rời khỏi và triển khai hệ thống tên lửa để giám sát sự việc trên.
Theo Hãng tin Reuters, Trung Quốc vẫn chưa lên tiếng về hoạt động trong 2 ngày vừa qua. Trước đó, Bắc Kinh tuyên bố những động thái tương tự là nhằm đáp trả việc Đài Bắc “cấu kết” cùng Washington và bảo vệ lãnh thổ của Trung Quốc.
Mỹ hiện được xem là chống lưng chính của Đài Loan trên trường quốc tế, đồng thời là bên cung cấp vũ khí lớn nhất cho Đài Bắc.
Một người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ đã lặp lại lời kêu gọi Bắc Kinh “ngừng gây áp lực về quân sự, ngoại giao và kinh tế đối với Đài Loan“. Phía Mỹ cũng cho rằng Trung Quốc nên “tham gia đối thoại” với Đài Loan.
Luật hải cảnh Trung Quốc chính thức có hiệu lực từ 1/2/2021, cho phép lực lượng hải cảnh “có thể sử dụng trực tiếp vũ khí” đối với các tàu, thuyền nước ngoài, xâm nhập “vùng biển thuộc quản lý của Trung Quốc“, tiếp tục làm nóng dư luận và khiến các nước liên quan trực tiếp Biển Đông và biển Hoa Đông lo ngại.
Tàu tuần tra KN Nipah 321 của Indonesia làm nhiệm vụ gần quần đảo Natuna
Luật Hải cảnh được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ký lệnh ban hành ngày 21/1/2021, sau khi nó được thông qua tại hội nghị lần thứ 25 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc. Luật này có hiệu lực từ 1/2 năm nay.
Theo đó, hải cảnh Trung Quốc được trao quyền dùng „tất cả biện pháp cần thiết“, gồm vũ khí, đối với các tàu, thuyền nước ngoài xâm nhập “vùng biển thuộc quản lý của Trung Quốc“ và tham gia phi pháp hoạt động sản xuất, từ chối tuân theo lệnh dừng tàu và những hoạt động mà theo họ là phi pháp.
Trung Quốc ngang ngược – điều đó thiên hạ không hề lạ. Tuy nhiên, với việc ban hành Luật hải cảnh lần này, dư luận có lý để cho rằng: Sự ngang ngược đã được Bắc Kinh đẩy lên một nấc mới. Điều đó sẽ khiến hải cảnh Trung Quốc hung hăng, tàn bạo hơn về cái gọi được quyền được sử dụng súng trong nhập “vùng biển thuộc quản lý của Trung Quốc“ vốn đã bị Tòa PCA bác bỏ, bị quốc tế phản đối, phê phán. Do vậy, nó càng khiến cả cộng đồng quốc tế, trước hết, là những bên liên quan trực tiếp vấn đề chủ quyền Biển Đông, như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia…, thậm chí, cả Nhật Bản – nước có tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku với Trung Quốc trên biển Hoa Đông – lo ngại.
Chính vì thế, cùng với Việt Nam, Nhật Bản đã lên tiếng phản ứng, rằng “Điều quan trọng là luật mới của Trung Quốc không nên được thực thi nếu vi phạm luật pháp quốc tế“.
Tiếp theo các phản ứng ngoại giao, mới đây, Đại tướng Koji Yamazaki, Tham mưu trưởng Liên quân Nhật Bản Đại tướng và Mark Milley, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, đã tổ chức một cuộc họp trực tuyến. Báo chí Nhật Bản thông tin rằng: Hai bên đã trao đổi ý kiến về “Luật Hải cảnh” của Trung Quốc và xác nhận lập trường của hai bên phản đối đối với bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng ở biển Hoa Đông và Biển Đông.
Chưa hết, hơn cả những tuyên bố, quan ngại chung chung đầy tính “ngoại giao”, mới đây, ngày 17/2, Cục trưởng Cảnh sát biển Nhật Bản, ông Okushima Okujima, tuyên bố do Trung Quốc thực thi Luật Hải cảnh, Nhật Bản sẽ không loại trừ việc cho phép sử dụng vũ khí ở lãnh hải xung quanh quần đảo Senkaku. Một khi Nhật đã “ăn miếng trả miếng” sòng phẳng với Trung Quốc như thế, rõ một điều là khu vực quần đảo Điếu Ngư/Senkaku nóng lên là cái chắc. Và kèm theo sức nóng, những sự cố, rủi ro dẫn đến hai bên chĩa súng, nổ súng vào nhau có thể xảy ra bất kỳ lúc nào.
Nhưng dư luận “lạ’ nhất là Indonesia. Không có tranh chấp chủ quyền trực tiếp với Trung Quốc; được tiếng “cơ bản là hiền”, bất đắc dĩ mới phải làm ầm ĩ khi Trung Quốc quá thể, cho tàu cá lảng vảng ở khu vực quần đảo Natuna mà nước này đang kiểm soát năm ngoái.
Vậy mà lần này, Jakarta còn đi trước cả Tokyo trong việc “nói chuyện bằng súng” với Trung Quốc. Cụ thể, theo kênh truyền hình CNN Indonesia ngày 4/2, Bộ trưởng Quốc phòng nước này, ông Prabowo Subianto, đã quyết định tăng cường vũ khí hạng nặng và hiện đại cho các tàu của Cơ quan an ninh hàng hải (Bakamla) nhằm đảm bảo an ninh và ngăn chặn các tàu Trung Quốc xâm nhập vào vùng biển Natuna.
Phó Đô đốc Indonesia, ông Aan Kurnia còn tiết lộ và than thở rằng: Số vũ khí mà Bộ Quốc phòng mua cho Bakamla vẫn ít hơn nhiều so với số vũ khí của lực lượng tuần duyên Trung Quốc vốn được sử dụng súng cỡ nòng 75 mm.
Ông Aan Kurnia khẳng định: „Hãy nhớ rằng vũ khí Bakamla sử dụng không phải để gây chết người, mà chỉ để tự vệ và phòng thủ. Bakamla không cần vũ khí to, cỡ nòng lớn như Hải quân, song ít ra là để tự vệ nếu điều này là cần thiết”.
Không nói toạc ra, nhưng dư luận thừa hiểu, nguyên nhân khiến Indonesia thấy cần thiết phải trang bị súng – như lời ông Aan Kurnia – chính là từ sự chà đạp công pháp quốc tế của Luật hải cảnh mới của Trung Quốc.
Bên cạnh các động thái quân sự, châu Âu đang thể hiện rõ ràng hơn quan điểm sẽ phối hợp ngăn chặn các hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông.
Tàu ngầm tấn công hạt nhân SNA Emeraude nằm trong số những tàu hải quân Pháp đi tuần tra qua Biển Đông.
Trong bài đăng trên trang Twitter gần đây, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Florence Parly tiết lộ, một tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân SNA Emeraude vừa có chuyến hải hành từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương.
Trong đó, tàu ngầm trên đã đi đến Biển Đông để thể hiện “khả năng phối hợp xa bờ và lâu dài” với các đối tác chiến lược như Mỹ, Australia và Nhật.
Chuyến hải hành còn được Bộ trưởng Florence Parly nhấn mạnh như một cam kết bảo vệ luật pháp quốc tế. Giới quan sát nhận định, đây là một động thái của Pháp nhằm “dằn mặt” các hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông.
Tại cuộc họp chung giữa 4 Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại trưởng Anh – Nhật đầu tháng này, Anh thông báo dự kiến triển khai nhóm tác chiến tàu sân bay HMS Queen Elizabeth tới Ấn Độ – Thái Bình Dương vào năm nay.
Hai nước Anh và Nhật Bản cũng ra tuyên bố chung bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình Biển Đông, phản đối hành động đơn phương thay đổi hiện trạng trong khu vực.
Trong khi đó, hồi cuối năm 2020, Bộ trưởng Quốc phòng Đức Annegret Kramp-Karrenbauer cho hay, Berlin muốn gửi chiến hạm đến khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để tập trận cùng hải quân Australia ở khu vực này.
Australia là một thành viên trong Bộ tứ (gồm Mỹ, Nhật, Ấn Độ và Australia) được xem là bộ khung của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở nhằm đối phó các hành vi của Trung Quốc trong khu vực.
Cũng trong năm 2020, Pháp cùng Anh và Đức đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc để phản đối các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.
Kết hợp cùng các động thái quân sự, châu Âu đang thể hiện rõ hơn quan điểm sẽ phối hợp ngăn chặn các hành vi của Bắc Kinh ở Biển Đông. Sự phối hợp này có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi Mỹ, dưới thời Tổng thống Joe Biden, có xu hướng tăng cường hợp tác đa phương.
Để trở thành quốc gia mạnh về biển, Việt Nam cần xây dựng một chiến lược tổng thể, dựa trên ba trụ cột quan trọng về kinh tế, an ninh-quốc phòng và hàng hải.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đặt ra mục tiêu: Tới năm 2045, Việt Nam sẽ trở thành cường quốc biển. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam cần có một chiến lược toàn diện, xây dựng các tiêu chí cụ thể và hành động sát với các tiêu chí đó.
Lợi thế biển lớn
Với đường bờ biển dài 3.260 km kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) tới Hà Tiên (Kiên Giang) và nhiều bãi biển đẹp, Việt Nam có thể thúc đẩy phát triển ngành du lịch. Một vùng đặc quyền kinh tế lên tới 1 triệu km vuông cùng gần 3.000 đảo lớn, nhỏ hợp thành tuyến bảo vệ, kiểm soát, làm chủ các vùng biển và thềm lục địa.
Việt Nam có nhiều cảng nước sâu có giá trị như Hòn Gai, Cái Lân, Nghi Sơn, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, Dung Quất, Văn Phong, Cam Ranh, Thị Vải, Vũng Tầu, Hòn Chông cùng với nhiều điểm cảng trung bình như Hải Phòng, Cửa Lò, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang…, với tổng sản lượng hàng hóa vận chuyển có thể đạt tới 50 triệu tấn/năm.
Đối với nước ta, Biển Đông có ý nghĩa quan trọng không chỉ trên phương diện kinh tế mà còn trong vấn đề chiến lược. Về mặt kinh tế, đây là kho tài nguyên sinh vật phong phú, đa dạng với khoảng 160.000 loài. Riêng trữ lượng động vật biển ước tính 32,5 tỷ tấn, trong đó cá chiếm tới 86%, vào khoảng 5 triệu tấn/năm và mỗi năm có thể đánh bắt khoảng 2,3 triệu tấn.
Ngoài ra, Biển Đông còn có trữ lượng dầu khí rất lớn, vào khoảng 7 tỷ thùng, khả năng sản xuất khoảng 2,5 triệu thùng/ngày (theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ). Còn theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông vào khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa ước tính đạt 105 tỷ thùng.
Về mặt chiến lược, vùng biển và ven biển Việt Nam có vị trí quan trọng, nằm trong tuyến hàng hải và hàng không thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, giữa Châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước khác trong khu vực. Đây là chiếc cầu nối có vai trò trong việc thúc đẩy giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.
Với vị trí địa chiến lược như vậy, Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế để trở thành một quốc gia mạnh về biển – bước đi đầu tiên trong lộ trình trở thành “cường quốc biển” khu vực.
Trình độ khai thác biển thấp
Để trở thành một quốc gia mạnh về biển, trước hết phải phấn đấu để kinh tế trên biển và ven biển đóng góp tỷ lệ cao vào GDP của cả nước. Theo các số liệu tính toán, kinh tế biển và vùng ven biển chiếm khoảng 47 – 48% tổng GDP, trong đó, kinh tế biển chiếm khoảng 20 – 25%. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm khoảng trên 98%, trong đó, khai thác dầu khí chiếm 60%, hải sản 14%, hàng hải 11%, du lịch biển 9%. Các ngành liên quan đến khai thác biển như đóng tàu, chế biến dầu khí, chế biến thủy hải sản, thông tin liên lạc có quy mô khá nhỏ.
Để trở thành một quốc gia mạnh về biển, chiến lược cường quốc biển của Việt Nam cần phải dựa trên ba trụ cột quan trọng về kinh tế, an ninh-quốc phòng và hàng hải, cần phải xây dựng một chiến lược tổng thể hướng tới mục tiêu ở các mốc quan trọng từ nay đến năm 2030 và 2045.
Một trong những khó khăn của chúng ta hiện nay là kinh tế biển và vùng ven biển phát triển còn khá chậm, cơ cấu chưa hợp lý và vẫn ở trình độ thấp. Cơ cấu ngành nghề cùng phương thức khai thác kinh tế biển chủ yếu là sản xuất nhỏ, mang tính tự phát. Trình độ khai thác biển thấp, phương tiện khai thác thô sơ, lạc hậu nên quá trình phát triển và khai thác mới chỉ dừng lại ở vùng biển trong nước chứ chưa tiếp cận tới các vùng biển quốc tế.
Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển còn thấp. Theo chu kỳ từ 2005 đến 2017, đóng góp của kinh tế biển vào GDP có xu hướng giảm và thiếu bền vững. Năm 2005, kinh tế biển chiếm 48% GDP, giảm xuống 40,73% vào năm 2010 và chỉ còn khoảng 30,19% trong năm 2017. Thu nhập bình quân đầu người của 28 tỉnh ven biển thấp hơn so với cả nước. Tỷ trọng đóng góp chung của kinh tế hàng hải vào GDP cả nước còn rất nhỏ và có xu hướng giảm (chỉ chiếm 0,97% trong năm 2017).
Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh kinh tế biển. Đồng thời, khoa học và công nghệ biển của chúng ta còn yếu, chưa được xây dựng và đầu tư phù hợp. Công tác nghiên cứu khoa học biển vẫn chưa có quy hoạch, kế hoạch và thiếu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước. Môi trường biển và ven biển nhiều nơi còn bị ô nhiễm, nhất là tại những nơi tập trung phát triển vận tải biển, công nghiệp ven bờ…
Hiện nay, Hải quân Việt Nam được đánh giá là hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á. Với đội sáu tàu ngầm Kilo được đưa vào biên chế, Quân chủng Hải quân có đầy đủ “5 ngôi sao biển” là: không quân hải quân, tàu ngầm, hải quân đánh bộ, tên lửa chống hạm và tàu mặt nước.
Cần có một chiến lược “cường quốc biển”
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 5/3/2020 về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, sẽ xây dựng Việt Nam thành quốc gia mạnh về biển trên nền tảng của những thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến. Nghị quyết 26/NQ-CP đặt mục tiêu hàng đầu là bảo đảm thực thi đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế về biển, đặc biệt là Công ước năm 1982 của LHQ về Luật Biển – UNCLOS. Nghị quyết đồng thời là định hướng bền vững cho quy hoạch, phát triển kinh tế biển, bao gồm: khai thác tài nguyên, đánh bắt, dịch vụ – du lịch ven biển dọc chiều dài bờ biển Việt Nam qua 28 tỉnh và thành phố.
Việt Nam cần xây dựng một chiến lược tổng thể, toàn diện để trở thành một quốc gia mạnh về biển.
Tuy nhiên, trước bối cảnh quốc tế có sự thay đổi nhanh chóng, để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh về biển, và xa hơn là một “cường quốc biển”, đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược bài bản, tổng thể và lâu dài. Cần phải có một “chiến lược cường quốc biển” ở tầm quốc gia để có thể huy động được nhiều nguồn lực, vừa phát triển kinh tế đất nước, vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và đảm bảo an ninh quốc phòng.
Thực tế, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã triển khai theo hướng này. Trong đó, Ấn Độ là một quốc gia đang tiến lên trở thành một cường quốc biển. Để thực hiện tham vọng, Ấn Độ đã đề ra tầm nhìn, chính sách tổng thể mang tính dài hạn. Đối với Nhật Bản, từ những năm 1940, quốc gia này đã chú trọng xây dựng chiến lược để trở thành một cường quốc biển khu vực.
Tại Đông Nam Á, trong nhiều thập niên qua, Indonesia đã có nhiều biện pháp để xây dựng quốc gia vạn đảo trở thành một cường quốc biển tại khu vực. Dưới thời Tổng thống Joko Widodo, Indonesia tập trung vào việc tăng cường an ninh hàng hải của Indonesia, mở rộng khung ngoại giao bao phủ toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, coi hải quân Indonesia như một cường quốc hàng hải tại khu vực Đông Á.
Như vậy, có thể thấy, các quốc gia có tham vọng trở thành cường quốc biển đều chú trọng xây dựng một chiến lược tổng thể, trong đó bao gồm cả việc xây dựng một chiến lược an ninh hàng hải của riêng mình.
Là một quốc gia ven biển, Việt Nam không ngoại lệ trong quá trình xây dựng một quốc gia mạnh về biển, và xa hơn là trở thành một cường quốc biển khu vực. Do vậy, Việt Nam cần phải xây dựng một chiến lược tổng thể, toàn diện để hướng tới mục tiêu, trong đó có những mốc quan trọng từ nay đến năm 2030 và 2045. Chiến lược này sẽ đề ra tầm nhìn, các mục tiêu cụ thể đối với từng giai đoạn.
Cũng giống như chiến lược của các quốc gia khác, chiến lược cường quốc biển của Việt Nam cần phải dựa trên ba trụ cột quan trọng về kinh tế, an ninh-quốc phòng và hàng hải. Bên cạnh đó, nó phải thể hiện một tầm nhìn chung trong việc khai thác và sử dụng biển một cách bền vững, thúc đẩy phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường và các biện pháp nhằm bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Việt Nam.
Trong những ngày Tết nguyên đán Tân Sửu, Trung Quốc vẫn liên tiếp có những hành động gây căng thẳng trên Biển Đông. Hành động ngang nhiên thách thức dư luận quốc tế là, nước này đã cho hàng chục tàu khảo sát hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của một số nước Đông Nam Á ven bờ Biển Đông.
Hôm 14/1/2021, ông Wisnu Pramandita, Trưởng Cơ quan an ninh hàng hải Malaysia, thông tin: Tàu tuần tra Indonesia KN Pulau Nipah 321 đã ngăn chặn tàu khảo sát Trung Quốc Hướng Dương Hồng 03 vào buổi tối hôm trước. Tàu khảo sát này đã đi qua vùng biển Indonesia ở eo biển Sunda mà không mở hệ thống nhận diện tự động (AIS). Hệ thống AIS giúp theo dõi cung cấp thông tin về vị trí khi tàu di chuyển.
Nửa tháng sau, hôm 31/1, tờ Nikkei Asia của Nhật Bản cảnh báo: Nhiều tàu khảo sát của Trung Quốc vẫn ngang nhiên đi vào vùng EEZ của một số nước Đông Nam Á ven bờ Biển Đông. Tờ báo đưa ra cảnh báo này sau khi phân tích dữ liệu AIS của 32 tàu khảo sát Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế trên biển.
Về các hoạt động khảo sát tại EEZ của nước khác, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển, phải được nước đó đồng ý. Luật là thế, nhưng từ lâu Bắc Kinh đã phớt lờ. Qua kết quả phân tích thấy rằng, 17 tàu khảo sát của Trung Quốc hoạt động trong EEZ của nước khác, hoặc ở vùng biển chưa phân định, có tới hơn 10 tàu có các hoạt động đáng ngờ. Có nghĩa là, “khảo sát” chỉ là cái cớ mà thôi! Trung Quốc tuyên bố đó là các tàu nghiên cứu về sinh vật biển, khảo sát cho mục đích nghiên cứu sinh học, nhưng thực chất, đó là những con tàu “khảo sát” cho mục đích an ninh, quốc phòng.
Tư lệnh hải quân Philippines Giovanni Bacordo từng khẳng định, hai tàu khảo sát của Trung Quốc hoạt động gần bãi Cỏ Rong ở Biển Đông khoảng một tuần. Vị Tư lệnh đã kêu gọi chính quyền Manila gửi công hàm ngoại giao phản đối Bắc Kinh về sự vi phạm trắng trợn này. Được biết trong năm 2019, có ít nhất 15 tàu khảo sát Trung Quốc bị phát hiện lảng vảng ở những khu vực thuộc vùng biển Philippines. Năm 2020, số tàu khảo sát càng nhiều thêm.
Tháng 4/2020, tàu Hải Dương địa chất 8 của Trung Quốc đi vào khu vực EEZ của Malaysia ở Biển Đông. Con “ngóao ộp” này hoạt động gần tàu khoan thăm dò đáy biển West Capella do công ty dầu khí Petronas của Malaysia vận hành. Chính là con tàu này dưới sự hộ tống của nhiều tàu hải cảnh Trung Quốc đã xâm phạm khu vực Bãi Tư Chính của Việt Nam.
Không chỉ cho tàu khảo sát lượn lờ ở Biển Đông, tàu khảo sát Trung Quốc cũng thường xuyên đi vào biển Hoa Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Senkaku. (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư). Tokyo đã gửi công hàm phản đối Bắc Kinh. Công hàm nêu rõ sai phạm của Trung Quốc, rằng tàu khảo sát Đại Dương Hào đã uy hiếp, tháo dỡ thiết bị quan sát trong EEZ của Nhật Bản. Phía Nhật Bản khẳng định, nếu Trung Quốc không từ bỏ những hành động ăn cướp nêu trên, họ sẽ xem xét, thực hiện biện pháp ứng phó mạnh.
Các quan chức quốc phòng Trung Quốc cũng nói úp mở rằng, việc phát triển công nghệ biển và việc thực hiện nghiên cứu khoa học biển (MSR) là “phương tiện bảo vệ chủ quyền cũng như tạo ra bầu không khí quyền lực biển”.
“Bầu không khí quyền lực biển” là thứ không khí gì vậy? Đúng là giọng lưỡi của kẻ ăn cướp có lý sự. Sẽ chẳng có thứ quyền lực nào hết đối với những kẻ giang hồ, lưu manh, luôn thò tay vào túi người khác, trong khi miệng lưỡi lòe bịp thiên hạ bằng đủ thứ khái niệm mĩ miều. Khi chưa thể một lúc nuốt trọn Biển Đông thì Trung Quốc cứ giở trò “câu giờ” thế đã. Còn họ “câu” kiểu gì thì các nhà phân tích đã nhiều lần đề cập đến.
Zunächst geht es um kostenlose Antigen-Tests in Apotheken, Praxen oder Zentren. Aber der Gesundheitsminister hat auch schon Selbsttests im Blick, die sogar Ungeübten leicht von der Hand (und Nase) gehen sollen.
Auch mit göttlicher Hilfe? Schnelltest in einer evangelischen Kirche
Im Kampf gegen das Coronavirus sollen Schnelltests bald auf breiter Front zu haben sein – auch angesichts anstehender Lockerungen von Alltagsbeschränkungen. „Ab 1. März sollen alle Bürger kostenlos von geschultem Personal mit Antigen-Schnelltests getestet werden können“, kündigte Bundesgesundheitsminister Jens Spahn in Berlin an. Kommunen könnten Testzentren, Apotheken oder Praxen mit solchen Angeboten beauftragen. Auch den Weg für einen breiten Einsatz von Selbsttests für Laien will Spahn ebnen. Der CDU-Politiker erläuterte, Schnelltests seien mittlerweile ausreichend am Markt verfügbar.
Erst Schnelltest, dann PCR-Test
Die Nutzung der Tests ist bereits mehrfach ausgedehnt worden. Verwendet werden können sie schon in Pflegeheimen, Kliniken und nach Infektionsfällen auch in Schulen – aber vorerst nur von geschultem Personal. Dabei brauchen die Proben nicht extra zum Auswerten ins Labor geschickt zu werden. Solche Antigen-Tests gelten allerdings als nicht so genau wie sonst genutzte PCR-Tests. Laut Robert Koch-Institut (RKI) muss ein positives Ergebnis eines Schnelltests daher mit einem PCR-Test bestätigt werden.
Bundesgesundheitsminister Jens Spahn: „Tests durch geschultes Personal“
Für die Ausweitungspläne muss auch Bundesfinanzminister Olaf Scholz (SPD) ins Boot. Da die Tests der Pandemiebekämpfung und öffentlichen Gesundheit dienten, seien die Kosten rückwirkend ab 1. Januar aus dem Bundeshaushalt zu tragen, heißt es in einem Entwurf für das Corona-Kabinett. Angesetzt werden demnach bis zu neun Euro für den Test und weitere neun Euro für die Testabnahme sowie das Ausstellen eines entsprechenden Zeugnisses.
Auch Laien-Selbsttests sollten nach der bald erwarteten Zulassung für alle zugänglich werden, erklärte Spahn weiter. Diese Testmöglichkeiten könnten zu einem sicheren Alltag beitragen, gerade auch in Schulen und Kitas. Sein Ressort stehe dazu in Verhandlungen mit verschiedenen Herstellern. Ziel sei, in Rahmenverträgen Mindestmengen für den deutschen Markt zu sichern, heißt es in dem Ministeriumspapier. Dem Bundesinstitut für Arzneimittel und Medizinprodukte liegen demnach eine Reihe von Anträgen auf eine nationale Sonderzulassung vor, über die schnellstmöglich entschieden werden soll.
Mit einem Euro dabei?
Konkret geht es um frei zu kaufende Tests, die auch von Ungeschulten hinreichend sicher anzuwenden sein sollen. Wenn sie in ausreichender Zahl verfügbar sind, sollen sie als Teil der Teststrategie der Länder für Kitas und Schulen zum Einsatz kommen können, wie es in dem Entwurf heißt. Zudem sei in der Nationalen Teststrategie des Bundes „ein niedrigschwelliger Zugang“ für alle Bürger sinnvoll. Im Gespräch ist „gegebenenfalls eine geringe Eigenbeteiligung“ von einem Euro.
FDP-Faktionsvize Stephan Thomae kritisierte, selbst ein Jahr nach Beginn der Pandemie habe die Regierung kein anderes Rezept als „faktische Grenzschließungen“. Andere Länder wie Österreich hätten längst „funktionierende Teststrategien und Schnelltest-Kapazitäten aufgebaut“. Mit einem Bruchteil des Geldes, das die Regierung in Corona-Wirtschaftshilfen pumpe, ließen sich Schnelltests bezahlen.
Corona-Bekämpfung, wo sonst der Gerstensaft fließt: Schnelltest in einer Bar in Berlin-Kreuzberg
Der Berufsverband der Akkreditierten Medizinischen Labore erklärte, Antigentests und Heimtests seien als zusätzliche Maßnahme zur Unterstützung der allgemeinen Verhaltensregeln zu sehen – aber nicht als Möglichkeit zur Freitestung und damit verbundener Lockerungen.
Strenge Einreiseregeln nun bis 3. März
Die Bundesregierung verlängerte unterdessen die strengen Einreiseregeln für Menschen aus „Virusvariantengebieten“ nach Deutschland bis zum 3. März. In der vom Kabinett beschlossenen Vorlage heißt es, die „deutlich leichtere“ Übertragbarkeit der mutierten Viren sei dabei ebenso zu berücksichtigen wie mögliche, noch nicht sicher belegte Eigenschaftsänderungen der Mutationen. Die Regelung war zunächst bis diesen Mittwoch befristet. Sie betrifft Länder, in denen sich mutierte Varianten des Coronavirus bereits stark verbreitet haben. Von dort dürfen derzeit – von einigen Ausnahmen abgesehen – fast nur noch Deutsche und Ausländer mit Wohnsitz in Deutschland einreisen.
Nachdem zunächst unter anderem Großbritannien, Brasilien, Portugal und Südafrika so eingestuft wurden, kamen am vergangenen Sonntag auch Tschechien und weite Teile des österreichischen Bundeslandes Tirol hinzu. Innenminister Horst Seehofer (CSU) ordnete in Absprache mit Bayern und Sachsen stationäre Kontrollen an diesen Grenzabschnitten an. Für Berufspendler aus bestimmten Branchen gibt es Ausnahmen.
Tàu ngầm năng lượng hạt nhân USS Ohio với dàn tên lửa Tomahawk mạnh mẽ và khả năng tác chiến ấn tượng, được xem là vũ khí uy lực nhất Mỹ triển khai để thể hiện sức mạnh ở Thái Bình Dương.
Được chế tạo trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, USS Ohio – tàu ngầm lớn nhất Mỹ từng đưa vào biên chế – đã bị loại bỏ các tên lửa hạt nhân. Tuy nhiên, con tàu này vẫn đang được xem là vũ khí linh hoạt và đáng sợ nhất của Mỹ hoạt động ở Thái Bình Dương.
Trong bối cảnh chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden cam kết với các đồng minh về việc bảo vệ khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương mở và tự do, Washington đã phát đi thông điệp bằng hệ thống vũ khí hải quân hùng hậu.
Mỹ đã đưa tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường qua eo biển Đài Loan. Họ cũng điều 2 nhóm tác chiến tàu sân bay vào Biển Đông tập trận và đưa một khu trục hạm mới nhất tới Nhật Bản.
Tuần trước, Mỹ đã „khoe“ về sự xuất hiện của tàu ngầm tên lửa dẫn đường Ohio phiên bản nâng cấp nặng 18 tấn trong cuộc diễn tập xung quanh đảo Okinawa của Nhật Bản.
Chuyên gia Sidharth Kaushal từ Viện Quân vụ thống nhất Hoàng gia Anh, mô tả USS Ohio cùng các tàu ngầm USS Michigan, USS Florida và USS Georgia, là công cụ giúp đưa tên lửa và binh sĩ tới sát lãnh thổ đối thủ của Mỹ.
USS sở hữu khả năng mang hỏa lực ấn tượng (Ảnh: Quân đội Mỹ)
Dù USS Ohio không còn mang tên lửa hạt nhân, nó vẫn là tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, cho phép nó có tầm hoạt động „không có giới hạn“.
Tàu ngầm này có thể mang tối đa 154 tên lửa hành trình „sứ giả chiến tranh“ Tomahawk, nhiều hơn 50% so với tàu khu trục tên lửa dẫn đường và hơn gần 4 lần so với tàu ngầm tấn công mới nhất được Mỹ phát triển.
Mỗi tên lửa Tomahawk có thể mang theo đầu đạn chứa hơn 450 kg chất nổ.
„154 tên lửa Tomahawk có thể mang tới những cú đấm khiến không đối thủ nào của Mỹ có thể bỏ qua“, Carl Schuster, giám đốc vận hành tại Trung tâm Tình báo Bộ chỉ huy liên hợp Thái Bình Dương của Mỹ, nhận định. Ông Schuster nói rằng USS Ohio có thể mang rất nhiều hỏa lực với tốc độ cao.
Dù Hải quân Mỹ có thể điều động lượng khu trục hạm mang nhiều tên lửa hơn con số 154, nhưng việc các tàu ngầm lớp Ohio có thể tác chiến độc lập và khó bị phát hiện khi di chuyển âm thầm dưới lòng đại dương, mang lại cho nó lợi thế nhất định.
Uy lực hỏa lực của tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân Mỹ được chứng minh vào tháng 3/2011 khi USS Florida nã gần 100 quả Tomahawk vào các mục tiêu ở Libya trong chiến dịch Bình minh Odyssey. Sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên tàu ngầm mang tên lửa hành trình trực tiếp tham chiến.
USS Ohio hoạt động rất „êm“ dưới lòng đại dương (Ảnh: Quân đội Mỹ)
Khi USS Ohio vận hành ở Thái Bình Dương, việc dò tìm nó sẽ trở nên khó khăn vì nó hoạt động ở vùng nước sâu. Thêm vào đó, đối thủ chính của Mỹ ở khu vực, Trung Quốc, có lực lượng săn ngầm chỉ được thiết kế để hoạt động ở phạm vi gần bờ.
Mặc dù vậy, kể cả khi USS Ohio tiến vào gần bờ, nó vẫn có khả năng tàng hình, cho phép nó di chuyển yên ắng hơn các tàu ngầm tấn công và tạo ra thách thức thực sự với các lực lượng chống ngầm.
USS Ohio được đóng vào những năm 1970 và từng được xem là biểu tượng răn đe hạt nhân của Mỹ khi nó cùng 17 tàu ngầm cùng lớp khác có thể mang 24 tên lửa đạn đạo liên lục đại Trident, mỗi quả có 8 đầu đạn hạt nhân độc lập. Về mặt lý thuyết, năng lực hạt nhân của USS Ohio giúp nó có thể gây phá hủy lớn bằng một loạt bắn hỏa lực duy nhất.
Tháng 3.2020 tại Trung Quốc với hơn 80.000 người bị nhiễm, hơn 3.000 chết nhưng chưa có trường hợp trẻ em nào dưới 10 tuổi bị nhiễm SARS-CoV-2 mà chết.
89% tử vong do corona ở tuổi 70+. Tính đến 09.02.2021. Nguồn thống kê Viện Robert Koch
Xem thống kê trong hình cho thấy, đến nay các bác sĩ chưa có lời giải thích nào dứt điểm, tại sao bệnh cúm do SARS-CoV-2 gây ra ở trẻ em dưới 10 tuổi lại không tệ hơn bệnh cúm mùa Influenza, mà họ chỉ phán đoán chung chung rằng:
Trẻ nhỏ có sức khoẻ tốt hơn và hầu như không có bệnh nền
Hệ miễn dịch mạnh hơn vì phải thường xuyên chống lại sự nhiễm trùng và qua đó trong cơ thể có nhiều kháng thể
Có thể virus khó tìm được điểm bám vào tế bào còn nguyên vẹn (trơn?)
Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết cho rằng một số bệnh đi kèm làm tăng nguy cơ tử vong do COVID-19 là do các bệnh này ảnh hưởng đến sự xuất hiện của một thụ thể gọi là ACE2 – thụ thể mà protein gai của virus SARS-CoV-2 bám vào để xâm nhập và lây nhiễm các tế bào cơ thể người.
Chẳng hạn như bệnh nhân tiểu đường thường dùng thuốc để kiểm soát lượng đường trong máu và loại thuốc này làm tăng biểu hiện của ACE2 trên các tế bào của cơ thể bệnh nhân.
Bệnh nhân béo phì cũng có biểu hiện ACE2 cao hơn, do có một số lượng lớn tế bào mỡ.
Tiến sĩ Taylor cho biết kết quả nghiên cứu cho thấy ở một số bệnh nhân, các phương pháp điều trị đã làm tăng biểu hiện của thụ thể ACE2.
Và nếu thụ thể đó gia tăng, virus SARS-CoV-2 sẽ có thêm chỗ để bám vào, khiến cho các tế bào dễ bị nhiễm bệnh hơn.
Các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết tại sao nhiễm coronavirus ở trẻ em ít nghiêm trọng hơn ở người lớn. Phải chăng hệ miễn dịch chưa được huấn luyện ở trẻ em có hiệu quả hơn? Bởi vì khả năng bảo vệ của miễn dịch của trẻ hầu như không có bất kỳ kinh nghiệm nào với các mầm bệnh thông thường, cho nên cơ thể chưa sinh ra các kháng thể đặc hiệu chống lại một số mầm bệnh nhất định. Có lẽ điều này khiến hệ thống phòng thủ của trẻ em phản ứng mạnh hơn (kiểu đánh hội đồng) với SARS-CoV-2 và vì thế trẻ em trong nghiên cứu hiện tại phục hồi nhanh hơn so với người lớn.
Có điều rất đặc biệt là, những đứa trẻ trong gia đình mà người lớn bị nhiễm SARS-CoV-2 đã không có bất kỳ triệu chứng gì bị nhiễm virus, nhưng cơ thể trẻ lại sinh ra nhiều kháng thể chống lại SARS-CoV-2. Chứng tỏ hệ miễn dịch ở trẻ nhỏ đã phản ứng một cách nhậy cảm tinh tế trước mầm bệnh.
Các bác sĩ chỉ phán đoán chứ họ chưa có lời giải thích nào hoàn hảo để khẳng định hiện tượng trên.
Có ông giám đốc xn xây dựng giải thích bằng kinh nghiệm „an toàn lao động“ thế này:
Trong các công trường xây dựng, trước khi leo lên dàn giáo ai cũng phải học kỹ về „an toàn lao động“ và luôn nhớ hẩu hiệu „an toàn là bạn tai nạn là thù“, rồi cứ đúng chu kỳ lại phải học lại các qui định, sau đó phải ký tên vào sổ. Tuy vậy tai nạn vẫn xảy ra. Thống kê số tai nạn trong 1 năm cho thấy, hầu hết các trường hợp là xảy ra với thợ bậc trên chứ công nhân mới vào nghề thì ít. Lý do, thợ vào làm được 1, 2 năm thường cho rằng mình thạo việc nên chủ quan bỏ qua các bước bảo hộ, còn thợ mới cái gì cũng lo sợ mình làm sai vì thế rất cẩn thận chấp hành đủ đúng qui định an toàn. Ngoài ra, khi giao việc xong, mấy ông mới thì tỷ mẩn làm ngay, còn mấy ông lành nghề còn rề rà cà phê thuốc lá chán chê đến gần hết giờ mới làm và dĩ nhiên là làm ẩu. Không nói đến chất lượng sản phẩm mà chỉ nói đến phản ứng trước công việc, rõ ràng thợ mới họ phản ứng ngay, trong khi mấy ông „ma cũ“ còn ngồi chém gió.
Ta coi kháng thể trong cơ thể người trẻ là „thợ mới“ và trong cơ thể người lớn tuổi là „thợ cũ“, khi được giao việc „đuổi SARS-CoV-2“, theo như thí dụ nêu trên thì sẽ thấy thế nào? Thợ mới lập tức đứng dậy bắt tay vào việc, còn thợ cũ thì bắn điếu thuốc lào đã, việc đó tao „xoẹt phát xong ngay“. Vâng! Chờ đến lúc ông „xoẹt“ thì người ta phải đi cấp cứu, phải thở oxy rồi.
Vaccine là huấn luyện viên huấn luyện đám thợ đánh đuổi vi trùng. Huấn luyện xong thì cơ thể ta có 1 đám „tân binh“, đám quân này có đông hay không còn phải xem ông có tích cực thể thao hay thể dục hay không.
Có chích vaccine hơn là không. Vì đó cũng là 1 lần tạo điều kiện cho cơ thể tập huấn.
Về giác độ y học, người ta thắc mắc tại sao enzyme Lactase chỉ tồn tại trong cơ thể trẻ sơ sinh và giảm dần cho đến khoảng 12 tuổi? Enzyme Lactase được sinh ra ở ruột non có tác dụng phân giải Lactose để chuyển hoá hấp thụ sữa tươi. Không có enzyme Lactase, người lớn uống sữa tươi hay bị „sình bụng“.
Dường như các loại vi khuẩn có trong dưa chua, kim chi, sữa chua, đậu phụ, nước mắm, cá mắm, mắm tôm.…cũng có khả năng tăng cường hệ miễn dịch chống Covid Wuhan (dưa phải muối ủ chua chứ không phải dưa chua bằng giấm).
Các bác sĩ cho rằng trẻ nhỏ khó bị nhiễm SARS-CoV-2 bởi vì chúng luôn phải chống lại các loại khuẩn ở vùng tai mũi họng. Ta thấy chúng thường „thò lò mũi xanh“ ho có đờm, mắt đổ ghèn (dử mắt), hơi tí là sốt.…Có giả thuyết nói rằng, khi tế bào bị vi khuẩn hay virus chiếm thì tế bào đó coi như đóng cửa, cho nên các loại virus vi khuẩn khác không vào được nữa.
Lại có kinh nghiệm dân gian, ai ít ốm vặt (tức là khoẻ „cả năm chả ốm bao giờ“) thì hễ ốm là nặng.