Kategorie-Archiv:Aktuell

Úc có nên tham gia vào những rắc rối ở Biển Đông?

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập ĐCSTQ, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đưa ra những tuyên bố rõ ràng về những gì sẽ xảy ra với “những kẻ bắt nạt” Trung Quốc. Tuy nhiên, Úc dường như đang trên đường đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông.

Người dân Úc đặt ra câu hỏi, liệu điều này có đáng không? Chuyên gia người Úc Jamie Seidel đã phân tích và yêu cầu người dân Úc hãy tìm ra câu trả lời cho mình thông qua những lưu ý của ông. Sau đây là nguyên văn bài viết của ông đăng trên trang News.com.au của Úc

Phát biểu trước đám đông 70.000 người tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 1/7, ông Tập Cận Bình đã lớn tiếng cảnh báo những “kẻ bắt nạt” quốc tế can thiệp sẽ “vỡ đầu chảy máu trước bức trường thành sắt thép được xây dựng bằng máu và thịt của 1,4 tỷ dân Trung Quốc”.

Ông Tập tuyên bố thêm rằng: “Chúng tôi sẽ không bao giờ cho phép bất kỳ ai đe dọa, đàn áp hoặc khuất phục Trung Quốc. Không ai được đánh giá thấp quyết tâm, ý chí và khả năng của người dân Trung Quốc trong việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ”.

Điều này đã nhận được tràng pháo tay như sấm của đám đông. Trong khi đó, Canberra dường như có ý định “can thiệp”.

Nước này đã điều Hải quân Hoàng gia Úc (RAN) tới năm lần trong sáu tháng qua để thách thức việc Bắc Kinh đơn phương khẳng định chủ quyền ở Biển Đông. Úc đang có kế hoạch thực hiện thêm một số nhiệm vụ như vậy trong những tuần tới.

Giám đốc nghiên cứu quốc phòng của Đại học Tây Úc, ông Peter Dean bình luận: “Theo quan điểm của tôi, động thái đó lâu rồi mới lại xảy ra. Trọng tâm mới là đưa chúng ta trở lại nhiệm vũ cốt lõi, đó là Nam Thái Bình Dương và Đông Nam Á”.

Giám đốc điều hành của LaTrobe Asia, Tiến sĩ Bec Strating, cho biết Canberra muốn thế giới tham gia nhiều hơn vào Đông Nam Á. Và Úc muốn “làm mẫu” cho các quốc gia.

Bà nói: “Úc đã từng là một con chim hoàng yến trong mỏ than”, “Chúng ta là mục tiêu của các lệnh trừng phạt kinh tế của Bắc Kinh từ năm 2012. Vì vậy, thế giới hãy xích lại và tiến bước, ‘Úc sẽ phản ứng như thế nào với điều này?’”.

Úc có câu trả lời cho “Bức tường thép vĩ đại” của Chủ tịch Tập

Đó là một “Đội sắt phế liệu Flotilla” (Scrap Iron Flotilla), một nhóm khu trục hạm Úc hoạt động ở Địa Trung Hải và Thái Bình Dương trong Thế chiến II.

“Đội sắt phế liệu Flotilla” là lời xúc phạm của Bộ trưởng Tuyên truyền Đức Quốc xã Joseph Goebbels trước bộ sưu tập 5 tàu khu trục của Hải quân Hoàng gia Úc (RAN) cũ được gửi đến phục vụ ở Địa Trung Hải trong những năm đầu của Thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, các thủy thủ Úc lại tự hào với các tàu khu trục này.

Hải quân Hoàng gia Úc hiện tại không lớn hơn đáng kể so với thời đó. Nhưng lực lượng này vẫn bận rộn trên chiến tuyến chống lại chủ nghĩa độc tài. Vào tháng 3, khinh hạm HMAS Anzac và tàu hỗ trợ HMAS Sirius đã vi phạm “Đường chín đoạn” của Trung Quốc. Sau đó, các tàu khu trục liên tục tập trận.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Uông Văn Bân cho biết cả hai nước nên “làm những điều có lợi cho hòa bình và ổn định khu vực, thay vì khoe sức mạnh của họ”.

Nhưng trong khi đó, Trung Quốc đang bận rộn khoe sức mạnh của mình ở quần đảo Trường Sa và xung quanh Đài Loan.

Giáo sư Dean nói rằng Canberra không quan tâm đến tiếng la hét của các chiến binh sói.

“Họ sẽ gọi chúng ta là tay sai hoặc bất cứ thứ gì. Sẽ có rất nhiều lời hùng biện thổi phồng như chúng ta đã từng nghe. Điều thực sự quan trọng là Hải quân Trung Quốc hiểu những động thái này và phản ứng với chúng như thế nào”.

Nhưng Biển Đông đang nhanh chóng biến thành thế chân vạc. Và các tàu chiến của Úc cũng có mặt trong số đó.

‘Sói chiến’ và ‘Chó săn’

Các tàu chiến của Úc đã bị loại khỏi các mối đe dọa hiếu chiến của Bắc Kinh.

Vào tháng 12, thời báo Hoàn Cầu của ĐCSTQ đã bày tỏ sự tức giận trước sự can thiệp mà họ coi là “tà ác” của Úc. Bài viết trên thời báo Hoàn Cầu  có đoạn: “Là một con chó săn của Mỹ, Úc nên kiềm chế sự kiêu ngạo của mình. Đặc biệt, các tàu chiến của họ không được đến các vùng ven biển của Trung Quốc để khoe cơ bắp, nếu không sẽ phải nuốt trọn viên thuốc đắng”.

Tiến sĩ Straton cho biết Úc cho đến nay vẫn thận trọng trong việc cân bằng phương trình giữa rủi ro và thành tựu. Nhưng những lời đe dọa lặp đi lặp lại của Trung Quốc có thể trở nên mỏng manh. Bà bình luận: “Bắc Kinh đã rất sẵn lòng sử dụng các chiến thuật cưỡng bức kinh tế đối với Úc, và nó chưa gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế Úc. Vì vậy, có thể tính toán đã thay đổi. Nhưng tất nhiên, nỗi sợ hãi khác là khiến nhân sự và tàu gặp rủi ro.

“Có những rủi ro đáng kể liên quan đến việc làm một điều gì đó mới và làm một điều gì đó khiêu khích”.

Những rủi ro đó dường như đang tăng lên liên tục. Giáo sư Dean giải thích: “Bên họ đang có nhiều tàu chiến hơn, nhiều máy bay hơn ở đó. Và tất nhiên, chúng tôi cũng có nhiều tàu đánh cá hơn, và chúng tôi có nhiều tàu container hơn. Vì vậy, nó đang khiến môi trường trở nên tắc nghẽn hơn. Và điều đó tự nó có thể làm tăng tính rủi ro”.

“Chúng tôi đã ở Biển Đông 100 năm. Kể từ khi Hải quân Hoàng gia Úc được thành lập, nó đã là một phần của khu vực chúng tôi. Chúng tôi vẫn luôn ở đó. Điểm mới là sự hiếu chiến của người Trung Quốc khi phản đối sự hiện diện của chúng tôi”.

Đó là lý do tại sao ông tin rằng Canberra phải thách thức vẫn “bình thường”. Ông nói: “Về cơ bản, lập trường của Úc là chúng tôi sẽ không ngừng làm những gì chúng tôi đã và đang làm. Nhưng những gì chúng tôi sẽ không làm là đơn phương kích động bất kỳ sự gia tăng căng thẳng nào”.

Các nước láng giềng của Trung Quốc

Các nước láng giềng của Trung Quốc thấy mình ở một vị trí đầy thách thức. Giống như Úc, họ có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc. Giáo sư Dean nói: “Họ muốn khẳng định chủ quyền của mình. Họ muốn có thể duy trì quyền tiếp cận của họ. Họ không chấp nhận Đường Chín Đoạn. Nhưng đứng vững trước Bắc Kinh là điều khó khăn đối với họ”.

Nhưng các dấu hiệu của sự phản kháng đang xuất hiện. Mỗi quốc gia Đông Nam Á đều có ý tưởng riêng về cách làm như vậy để duy trì quyền lợi của mình.

Giáo sư Dean nói, đây là lý do tại sao chính sách của Canberra không tham gia vào các Hoạt động Tự do Hàng hải (FONOPS) theo phong cách quyết đoán của Hoa Kỳ.

“Việc thực hiện Hoạt động Tự do Hàng hải bên trong 12 hải lý đó có ngăn được Trung Quốc chiếm các đảo đó không? Không. Nó có thể làm các đối tác của chúng ta khó chịu không? Đúng. Vì vậy, những gì nó thực sự sẽ đạt được là gì đây?”.

Tiến sĩ Strating nói rằng, thay vào đó, Canberra muốn làm sâu sắc hơn các mối quan hệ trong khu vực bằng cách tiến hành các hoạt động an ninh hợp tác thường lệ theo kiểu mà họ luôn thực hiện. Sự tham gia của Canberra với các cường quốc khác là để bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ.

Bà Strating nói thêm rằng: “Ý tôi là, thách thức an ninh hoặc mối đe dọa an ninh số một mà Úc nhận thấy là sự trỗi dậy của Trung Quốc”.

Theo Tiến sĩ Strating, cốt lõi của khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Úc là nhu cầu phối hợp với cái gọi là ‘các quốc gia có cùng quan điểm’, những người chia sẻ các giá trị xung quanh những thứ như trật tự dựa trên quy tắc. Bà nhận định:

“Điều đó không có nghĩa là không có rủi ro nào liên quan đến việc bị coi là chó săn của Hoa Kỳ. Và có một số khả năng quang học có vấn đề khi làm việc với các cường quốc thuộc địa cũ. Nhưng Úc nhận thấy thách thức lớn hơn là chống lại sự trỗi dậy của Trung Quốc và duy trì nguyên trạng trật tự do Mỹ dẫn đầu”.

Là một cường quốc tầm trung, Canberra cần có bạn bè. Và các hoạt động chung như vậy chứng tỏ Canberra có bạn bè.

Vậy tại sao Canberra phải can thiệp vào Biển Đông?

Tiến sĩ Strating nói: “Úc có vùng đặc quyền kinh tế lớn thứ ba thế giới. Và điều đó được luật pháp quốc tế chấp nhận. Vì vậy, lợi ích quốc gia của chúng tôi là hệ thống luật này vẫn hợp pháp và ổn định”. Và Trung Quốc là “tác nhân chính thách thức trật tự hàng hải dựa trên Luật lệ ở Biển Đông”.

Giáo sư Dean tin rằng việc thay đổi các cuộc tuần tra của tàu chiến của Úc từ Vịnh Ba Tư đến Biển Đông là một tín hiệu thích hợp để gửi đi. Giáo sư Dean nói: “Chúng tôi không lùi một bước. Chúng tôi không thoái thác các nghĩa vụ quốc tế của mình hoặc những gì chúng tôi tin tưởng. Tuy nhiên, đồng thời, Hải quân Hoa Kỳ có thể thực hiện tất cả những Hoạt động Tự do Hàng hải mà họ muốn. Nó sẽ không thay đổi kết quả của hiện trạng mới ở Biển Đông”.

Và Úc không chỉ dừng lại ở việc “kết hợp” với các lực lượng của các quốc gia khác. Úc tích cực tương tác với khu vực bằng cách mời họ tập trận trên lãnh thổ Úc. Cuối tháng này, Hàn Quốc sẽ lần đầu tiên cử quân đội và tàu khu trục tham gia trò chơi chiến tranh Talisman Sabre với Hoa Kỳ, New Zealand, Canada, Anh và Nhật Bản.

Cuộc tập trận Endeavour Indo-Pacific lại khởi động trong năm nay. Vào tháng 8, hai tàu chiến của Hải quân Hoàng gia Úc sẽ đến thăm các quốc gia khắp Đông Nam Á.

Tiến sĩ Strating nói: “Mục đích là yếu tố đào tạo, năng lực tương tác và thể hiện. Họ đang làm tất cả về những năng lực này. Nhưng sau đó là thể hiện sự hiện diện trong khu vực, trấn an các đối tác rằng Úc đang ở đó, đồng thời tăng cường hợp tác và ngoại giao quốc phòng”.

Và Canberra có lý do để làm như vậy. Tiến sĩ Strating nhận định: “Các hoạt động của Úc trong khu vực đóng góp cho Liên minh Hoa Kỳ, nhưng khi làm sâu sắc hơn mối quan hệ với các đối tác Ấn Độ – Thái Bình Dương, Úc cũng đang phòng ngừa để chống lại sự phụ thuộc vào Mỹ hoặc Trung Quốc”.

BDN

Loading

Views: 0

Chuyên gia Nga: Các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông là trái với UNCLOS-1982

Các chuyên gia Nga cho rằng, phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) ở The Hague (Hà Lan) vào 7/2016 đã trở thành cột mốc quan trọng trong lịch sử tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông và luật pháp quốc tế có vai trò tối thượng trong giải quyết các tranh chấp này.

Tàu Trung Quốc bị phát hiện ở Đá Ba Đầu thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam ngày 22/3. Các chuyên gia Nga cho rằng, các yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Đông là trái với UNCLOS-1982. (Nguồn: ABS-CBN News)

Nhận định trên được đưa ra trong bài viết với nhan đề 5 năm phán quyết Toà trọng tài về Biển Đông: Nơi giao thoa của địa chính trị và luật pháp quốc tế” của hai Tiến sỹ Alexander Korolev và Irina Strelnikova thuộc Trường Kinh tế cao cấp (Nga), đăng trên trang tin của Hội đồng Nga về các vấn đề quốc tế (RIAC) ngày 1/7.

Các tác giả trích dẫn phán quyết của Toà trọng tài cho rằng, các yêu sách của Trung Quốc đối với „quyền lịch sử“ và quyền tài phán của nước này đối với các khu vực biển ở Biển Đông là trái với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS-1982) và vượt quá ranh giới địa lý và thực chất các quyền của Trung Quốc.

Bài phân tích khẳng định, các lý lẽ Trung Quốc sử dụng không được phản ánh trong các quy tắc của luật pháp quốc tế và do đó, không thể được coi là lý do bào chữa cho việc không thi hành quyết định của Tòa trọng tài.

Các tác giả nhấn mạnh vai trò của luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp giữa các bên ở Biển Đông, khẳng định, UNCLOS có tính ràng buộc pháp lý cao nhất đối với tất cả các bên ký kết, cũng như vai trò của phán quyết mà Tòa trọng tài đã đưa ra 5 năm trước.

Theo các chuyên gia Nga, UNCLOS là nguồn luật thay thế bất kỳ quyền lịch sử hoặc các quyền chủ quyền hoặc quyền tài phán nào mà Trung Quốc vận dụng trong giải quyết vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.

Các học giả Nga cũng đánh giá cao việc các nước ASEAN đang tích cực thảo luận về sự cần thiết phải thay thế Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC) vốn đã lỗi thời bằng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) – một công cụ có tính ràng buộc về mặt pháp lý, từ đó đóng vai trò nền tảng trong việc quản lý tranh chấp ở Biển Đông.

TG&VN

Loading

Views: 0

Lập luận của TQ về Biển Đông bị cho là phi lý

Hai học giả Nga đăng bài viết lên Internet, bác bỏ các lập luận sai trái của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Ngày 1/7, trang tin của Hội đồng các vấn đề đối ngoại (russiancouncil.ru) đăng bài viết với nhan đề “Kỷ niệm phán quyết Toà trọng tài về Biển Đông: Nơi giao thoa của địa chính trị và luật pháp quốc tế” của Tiến sĩ Alexandr Karalov và Tiến sĩ Irina Strelnikova, trường Kinh tế cao cấp.

Bài viết điểm lại cuộc chiến pháp lý của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc về các yêu sách của nước này ở Biển Đông, việc thực thi và triển vọng giải quyết tranh chấp ở Biển Đông bằng luật pháp quốc tế.

Bài viết nêu kết quả trong vụ kiện của Philippines với Trung Quốc về các yêu sách của nước này ở Biển Đông, theo đó Tòa trọng tài phán quyết rằng các yêu sách của Trung Quốc đối với „quyền lịch sử“ và quyền tài phán của nước này đối với các khu vực biển ở Biển Đông là trái với Công ước Luật Biển 1982, là bất hợp pháp và vượt quá ranh giới địa lý và thực chất các quyền của Trung Quốc.

Theo đó, các „quyền lịch sử“ được Trung Quốc sử dụng như một công cụ pháp lý trong tranh chấp về quyền sở hữu các vùng lãnh thổ của Biển Đông chỉ được coi là tập quán pháp lý. Tuy nhiên, tập quán này chưa được coi là một nguồn luật bởi Trung Quốc đã không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng nào về việc áp dụng lâu dài và có hệ thống của tập quán này.

Bài phân tích khẳng định các lý lẽ Trung Quốc sử dụng, không được phản ánh trong các quy tắc của luật pháp quốc tế và do đó không thể được coi là lý do biện minh cho việc không thi hành phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế.

Bài viết cũng khẳng định rằng Công ước Luật Biển 1982 có tính ràng buộc và là nguồn luật tối cao về mặt pháp lý quốc tế đối với tất cả các bên ký kết, trong đó có Trung Quốc.

Bài viết nêu quan điểm và phản ứng của ASEAN trước các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với vùng Biển Đông, cũng như cái gọi là „quyền lịch sử“ của Trung Quốc. Các tác giả nhấn mạnh các nước ASEAN đã tích cực thảo luận về sự cần thiết phải đàm phán để xây dựng một Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông.

Bài viết nêu những khác biệt về cách giải thích Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông, về quan điểm ràng buộc pháp lý như lập trường của một số nước ASEAN, hay quan điểm phiến diện như Trung Quốc mong muốn. Hệ quả của việc trì hoãn Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông đã gây ra xung đột pháp lý quốc tế ở khu vực này hơn 10 năm.

Kết thúc bài viết, các tác giả nhấn mạnh vai trò của luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp giữa các bên ở Biển Đông, bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (khẳng định Công ước có tính ràng buộc pháp lý cao nhất cho tất cả các bên ký kết), cũng như Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa trọng tài quốc tế.

BDN

Loading

Views: 0

Staaten in der Zwickmühle: China verlangt Gefolgschaft – politische Neutralität wird für kleinere Länder schwieriger

Der Trend zur Polarisierung in der Auseinandersetzung zwischen den USA und der Volksrepublik zwingt Staaten, sich auf eine Seite zu schlagen. Ein Gastbeitrag.

von RENATE SCHUBERT

Global Challenges ist eine Marke der DvH Medien. Das neue Institut möchte die Diskussion geopolitischer Themen durch Veröffentlichungen anerkannter Experten vorantreiben. Heute ein Beitrag von Prof. Dr. Renate Schubert. Sie lehrt als Nationalökonomin an der Eidgenössischen Technischen Hochschule Zürich und am Singapore ETH-CentreSenior Advisor. Weitere Autoren und Autorinnen sind Prof. Dr. Ann-Kristin Achleitner, Sigmar Gabriel, Günther H. Oettinger, Prof. Jörg Rochol PhD , Jürgen Trittin und Prof. Dr. Bert Rürup.

Lange Zeit waren die Fronten klar: hier Amerika, dort Russland, und etliche Länder irgendwo dazwischen. Manche, wie Singapur oder die Schweiz, verstanden sich als „neutrale Staaten“, die in Konflikten sogar vermitteln konnten. Dann überholte China Russland wirtschaftlich und geopolitisch. Inzwischen hat der Machtkampf zwischen Washington und Peking so viel Fahrt aufgenommen, dass vor allem kleinere Länder kaum  mehr  wissen, wo ihnen der Kopf steht.

Die Frage stellt sich, ob es künftig überhaupt noch neutrale Länder geben kann oder ob diese angesichts verschärfter geopolitischer Rivalität eindeutig  Farbe bekennen müssen –  für die USA oder für China, dessen Kommunistische Partei an diesem Donnerstag ihre Gründung vor 100 Jahren feiert?

Der Druck, das eine oder andere Lager zu unterstützen, wächst. Daran hat der  Übergang der US-Präsidentschaft von Donald Trump zu Joe Biden nichts geändert. Das zeigt die Kontroverse über den Bericht der Weltgesundheitsorganisation (WHO) zu den Ursprüngen der Covid-19-Pandemie. Washington kritisiert  den Ende April vorgelegten Bericht als einseitig und fordert weitere unabhängige Untersuchungen zu der Frage, ob das Virus nicht doch aus einem Labor in Wuhan stammen könne.

Deutschland verschanzte sich hinter einer EU-Stellungnahme

Die USA appellierten an ihre „Freunde“, den Protest zu unterstützen ­– zahlreiche Länder taten das auch, etwa Großbritannien, Kanada, Australien und Israel. Die Schweiz hingegen legte Wert darauf, sich unabhängig zu positionieren. Deutschland verschanzte sich hinter der EU-Stellungnahme, die den WHO-Bericht nur in moderatem Ton kritisierte. Trotz der EU-Position schlossen sich aber Dänemark, Tschechien und die baltischen Staaten dem US-Protest an – die Europäische Union zeigte sich wieder einmal uneins.

[Wenn Sie alle aktuellen Entwicklungen zur Coronavirus-Pandemie live auf Ihr Handy haben wollen, empfehlen wir Ihnen unsere App, die Sie hier für Apple- und Android-Geräte herunterladen können.] 

Streitfälle wie den WHO-Bericht wird es künftig öfter geben. Um ihre wirtschaftlichen Interessen nicht zu gefährden, verhinderte die EU, diesmal selten einig, in der Abschlusserklärung des letzten G7-Gipfels deutliche  Kritik an China – was Washington missfiel, Peking jedoch nicht davon abhielt, den Gipfel in Großbritannien als „Anti-China-Kreuzzug“ zu brandmarken.

Die zwei „Großen“ dürften künftig verstärkt Gefolgschaft einfordern. Stehen Staaten auf der „falschen“ Seite, werden immer häufiger Handelssanktionen die Folge sein. Für kleinere, außenhandelsorientierte  Länder erwächst daraus ein Riesenproblem: Weniger Exporte in die USA oder nach China verschlechtern die Absatz- und Produktionschancen der eigenen Industrie, mit negativen Konsequenzen für Wirtschaftswachstum, Arbeitsmarkt und  Steuereinnahmen.

Umgekehrt belasten teurere Importe aus den USA oder China die Kaufkraft in den kleineren Ländern. Doch nicht nur der Konsum wäre betroffen. Preissteigerungen bei Vorprodukten für die heimische Fertigung würden auch im Inland hergestellte Produkte verteuern und die Absatzchancen auf dem Weltmarkt schädigen.

Haben „Bekennerstaaten“ weniger offene Volkswirtschaften?

Ist also anzunehmen, dass Länder, die sich klar zum einen oder anderen Lager bekennen, weniger offene Volkswirtschaften sind und daher von ihrem Bekenntnis nicht viel zu befürchten haben? Das mag auf den ersten Blick naheliegen, trifft aber nicht zu, wie ein  Blick auf die Außenhandelsquote zeigt, den Anteil der Summe aus Exporten und Importen am Bruttoinlandsprodukt.

Hier weist die Schweiz, die sich nicht hinter die US-Erklärung zum WHO-Bericht gestellt hat, eine Außenhandelsquote von 130 Prozent aus, wobei die Exportquote rund 70 Prozent beträgt. Außenhandelsquoten liegen dann über 100 Prozent, wenn Länder mehr exportieren als im Land produziert wird und/oder mehr importieren, als verbraucht wird.

Auch Deutschland, beim WHO-Bericht ebenfalls nicht auf der Liste der „Freunde der USA“, hat eine  Außenhandelsquote von 90 Prozent (Exporte rund 50 Prozent). Auf der anderen Seite aber sind Länder, die sich hinter die US-Erklärung gestellt haben, nicht weniger offen: Tschechien beispielsweise mit einer Außenhandelsquote von gut 150 Prozent (Exporte  85 Prozent) oder Dänemark mit einer Quote von gut 100 Prozent (Exporte knapp 60 Prozent).

Was also könnten die wahren Gründe sein?

Warum schlagen sich Länder auf die Seite der USA oder Chinas – beziehungsweise wollen dies lieber vermeiden und „neutral“ bleiben?

Gerade kleinere Länder betrachten ihre „Neutralität“ als  Geschäftsmodell. So sind „Gute Dienste“ bei der Konfliktvermittlung ein traditionelles Asset der Schweiz. Die Alpenrepublik beheimatet nicht nur viele  internationale Organisationen. Sie bietet auch oft und gerne runde Tische für verfeindete Parteien an, zuletzt beim Treffen von Joe Biden und Wladimir Putin in Genf.

[Jeden Donnerstag die wichtigsten Entwicklungen aus Amerika direkt ins Postfach – mit dem Newsletter „Washington Weekly“ unserer USA-Korrespondentin Juliane Schäuble. Hier geht es zur kostenlosen Anmeldung.] 

Das Neutralitätsprinzip –  die Schweiz beteiligt sich zum Beispiel grundsätzlich nicht an militärischen Konflikten anderer Länder – ist sogar in der Schweizer Verfassung verankert.

Darüber hinaus wollen gerade die kleineren Länder auch ihre Unabhängigkeit bewahren. Umgeben von größeren Staaten war und ist es beispielsweise für die Schweiz wichtig, nicht einfach als Unterstützer eines der großen Länder und damit als eine Art „Anhängsel“ wahrgenommen zu werden.

Es gibt also durchaus gute Argumente, sich nicht auf die Seite eines der „Großen“ zu schlagen, wobei es letztlich oft um eine Kosten-Nutzen-Abwägung gehen dürfte: Sind die politischen und wirtschaftlichen Vorteile der „Neutralität“ auf mittlere und lange Sicht größer als die Nachteile von Sanktionen? Ist das nicht der Fall, stellt sich die Frage, auf wessen Seite man sich schlagen soll.

Auch hier ist es theoretisch einfach: Wähle diejenige Großmacht, die mittel- und langfristig die Nachteile der Sanktionen des anderen „Großen“ durch bevorzugte Behandlung (über)kompensieren wird. Doch so einfach das klingt, so schwierig ist es in die Praxis umzusetzen: Sowohl die zu erwartenden Sanktionen als auch die möglichen Vorteile des Umstands, dass man zu den „Freunden“ der USA oder Chinas gehört, sind mit erheblichen Unsicherheiten verbunden.

Auf der einen Seite erscheinen die künftigen ökonomischen Effekte schwer abschätzbar. Unsicher ist überdies, wie die Bevölkerung den trade-off zwischen ökonomischen Effekten einerseits (durch Sanktionen oder bevorzugte Behandlungen) und den generellen Prinzipien andererseits einschätzt, die die Politik Washingtons oder Pekings kennzeichnen.

Während sich Chinas Modell des gelenkten Kapitalismus durch ein hohes Maß an staatlicher Kontrolle und der Möglichkeit raschen Handelns auszeichnet, stehen die USA für deutlich mehr privatwirtschaftliche Initiative und eher beschränkte Eingriffsmöglichkeiten des Staats. Weiter geht es auch um Differenzen in Fragen von Menschenrechten, Meinungsfreiheit etc.

Hinzu kommt ein weiterer  Aspekt: Die „Großen“ versuchen zunehmend, durch eigene  Technologie-Normen kleinere Länder auf „Linie“ zu bringen. Nur unter erheblichen Effizienzverlusten dürften die „Kleinen“ künftig noch in der Lage sein, sich Optionen in beiden Normbereichen offen zu halten. Trotz möglicher Vorteile einer „neutralen“ Position steigt also der Druck in Richtung Polarisierung.

Quelle:

https://www.tagesspiegel.de/politik/staaten-in-der-zwickmuehle-china-verlangt-gefolgschaft-politische-neutralitaet-wird-fuer-kleinere-laender-schwieriger/27374290.html?utm_source=pocket-newtab-global-de-DE&fbclid=IwAR1cXi0bPCmQ8vWsRTzcyIQG-b9E-uwSgRFR1ER17fDpMpwf9jFGGML3Q9M

 

Loading

Views: 0

Vì sao G7 quyết tâm chống TQ

Ngày 24/6 vừa qua, Đại sứ văn hoá của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) ở Pakistan là Trương Hoà Thanh đã đăng một Tweet trên tài khoản của ông ấy, nội dung có chứa hình ảnh thô tục, ông ấy đã dựng ‘ngón tay giữa’ lên không trung.

Ảnh tổng hợp

Mọi người đã biết ý nghĩa của biểu tượng này trong văn hóa phương tây. Trong đó có kèm theo dòng chữ: “Đối với bạn bè, chúng ta phải ‘đáng tin, đáng yêu và đáng kính’. Đối với kẻ địch, chúng ta là ‘chiến lang’”.

‘Đáng yêu’ có nghĩa: Với kẻ địch thì chúng ta là những chú ‘sói chiến’

Tweet này sau khi đăng đã bị xoá. Nó như nịnh bợ lãnh đạo ĐCSTQ, đã triển hiện được tâm thái chiến lang bản thân. Khi đạt được mục đích thì ông đã xoá tweet này.

Có người cho rằng điều trái ngược với chính sách ngoại giao của Tập Cận Bình. Bởi vì trong Hội nghị học tập Bộ chính trị ĐCSTQ ngày 31/5, Tập Cận Bình yêu cầu lãnh đạo các cấp phải nỗ lực tô đắp hình tượng Trung Quốc ‘đáng tin, đáng yêu và đáng kính’. Hiện tại chính là nói ĐCSTQ phải ‘đáng yêu’.

Trương Hoà Thanh dường như đã ‘vỗ mặt’ Tập Cận Bình nhưng tôi cho rằng ông ta rất giỏi trong việc thấu hiểu ông Tập và biểu lộ điều này một cách thẳng thắn.

Mọi người đã biết về ‘Nhật ký Lôi Phong’ khi ĐCSTQ kêu gọi học tập Lôi Phong. Trong cuốn nhật ký ấy có một câu như thế này: “Đối với các đồng chí phải ấm áp như mùa xuân. Nhưng đối đãi với kẻ địch phải tàn khốc như mùa đông lạnh giá”.

Trương Hoà Thanh hiểu được Tập Cận Bình nói giả trang ‘đáng yêu’ bao gồm hai ý ở trên, chính là: đối với bạn bè thì đóng giả ‘đáng yêu’, còn với kẻ địch thì chúng ta là những chú ‘sói chiến’.

‘Yêu’ của ĐCSTQ biểu lộ qua ‘hận’

Trong loạt bài ‘Trung Hoa văn minh sử’ tôi đã nói tư tưởng của Pháp gia giống với tư tưởng của ĐCSTQ. Trong đó có một chỗ tương đồng chính là: cả Pháp gia và ĐCSTQ đều thù hận con người.

Pháp gia giảng ‘Nhân chi sơ, tính bản ác’, cho rằng tâm con người rất tệ, dù có nói thế nào cũng không có tác dụng, người này không thể giảng đạo lý cho họ được. Cho nên Pháp gia coi con người như con vật vậy.

Vậy nên Pháp gia có một loại thù hận tự nhiên với con người, họ muốn con người trở thành vừa nghèo, vừa ngốc. Về phương diện này ĐCSTQ thật sự rất giống Pháp gia.

Tín ngưỡng chính giáo đều dạy con người ‘kính thiên ái nhân’, còn ĐCSTQ kiến lập trên cơ sở ‘thù hận’. Cái họ ‘yêu’ chính là thông qua ‘hận’ mà biểu đạt. Nếu bạn muốn thể hiện lòng yêu nước cho ĐCSTQ xem, thì bạn phải thể hiện sự thù hận khắc nghiệt đối với kẻ thù của ĐCSTQ. Ví như: hận Hoa Kỳ, hận Nhật Bản, hận Đài Loan, hận Hàn, hận Pháp, hận Tây Tạng, hận Pháp Luân Công, hận giá trị phổ quát v.v. Trên cơ bản là cái vòng tròn ‘hận’ ấy.

Vậy thì nếu Tập Cận Bình yêu cầu các quan chức ngoại giao đóng giả ‘đáng yêu’, các quan chức ấy nhất định phải thông qua biểu đạt ‘thù hận’ để thể hiện ‘đáng yêu’. Nói cách khác, dù là ‘thù hận’ hay ‘đáng yêu’, họ đều bày ra cho các quốc gia trên thế giới thấy để xem họ đứng về bên nào.

Nếu bạn chọn xã hội tự do thì bạn chính là kẻ thù của chúng tôi, chúng tôi sẽ hận bạn, chúng tôi sẽ nghĩ cách để gây phiền phức cho bạn. Nếu bạn là quốc gia chuyên chế, bạn tâng bốc ĐCSTQ, thì chúng tôi có thể cho bạn viện trợ, vắc-xin v.v.

Sách lược của họ có khi nào thành công hay không? Câu trả lời là có. Gần đây có một quốc gia đầu hàng ĐCSTQ là Ukraine. Vào ngày 22/6, Đại sứ Canada tại Liên Hợp Quốc tên là Leslie Norton đã đại diện cho 44 quốc gia bao gồm Mỹ, Nhật, Úc… đã đọc ‘Tuyên bố chung’ của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc kêu gọi ĐCSTQ cho phép Cao Uỷ Nhân quyền Liên Hợp Quốc đến Tân Cương để điều tra. Sau đó một quốc gia vắng mặt trong Tuyên bố chung này chính là Ukraine. Ukraine đã khuất phục, bởi ĐCSTQ phao tin sẽ tạm giữ 500 nghìn liều vắc-xin Sinovac cung cấp cho quốc gia này. Vì vậy Ukraine rút khỏi Tuyên bố chung về cuộc điều tra đàn áp nhân quyền ở Tân Cương.

‘Quốc gia lớn mạnh tựa như nước chảy chỗ thấp’

Vì chính sách này có hiệu quả nên rất nhiều quan chức ngoại giao của Trung Quốc là ‘chiến lang’ thật sự. Giống như đại sứ Trung Quốc ở Pháp tên là Lư Sa Dã (盧沙野), tôi cảm thấy gọi là Lư Tát Dã (盧撒野) thì hợp hơn, mà Tát Dã – 撒野 có nghĩa là ‘giở trò lưu manh’.

Vào ngày 16 và 17/6, sau khi nhận được phỏng vấn từ kênh truyền thông ĐCSTQ là ‘Mạng quan sát’ và ‘Diễn luận báo’ – kênh truyền thông của Pháp, Lư Sa Dã đã tự hào nói rằng ông rất “vinh hạnh nhận được xưng hiệu ‘chiến lang’”, “chiến lang là ‘hình tượng chính diện’, là đại biểu cho ‘sức mạnh và dũng khí’”. Ông không những không cảm thấy xấu hổ, mà còn lấy đó làm tự hào. Đây chính là quan chức ngoại giao lớn lên dưới sự giáo dục của ĐCSTQ.

Nếu ông ta thực sự đọc qua văn hoá truyền thống, ông ta sẽ biết trong ‘Đạo đức kinh‘ có câu rằng: ‘Quốc gia lớn mạnh tựa như nước chảy chỗ thấp’ (Đại bang giả hạ lưu – 大邦者下流). Nước lớn giống như sông biển, đặt mình ở vị trí thấp nhất. Bởi vì nó thấp nên ‘trăm sông đổ biển cả, vạn dòng về đại dương’. Ý nghĩa chính là, quốc gia lớn nên học ‘đức’ của sông biển, đặt mình ở vị trí thấp nhất.

Trong ‘Đạo đức kinh’, Lão Tử giảng rất rõ ràng mối quan hệ giữa nước lớn và nước nhỏ. Nước lớn nếu có thể ‘khiêm nhường, tốt bụng’, đặt mình ở vị trí thấp, họ có thể nhận được sự tín nhiệm của nước nhỏ. Nước nhỏ sẽ cảm thấy ‘tôi với bạn không có áp lực nào’, họ sẽ quy phục nước lớn. Nước Mỹ cũng giống như thế. Nước Mỹ hầu như không nói lời lăng mạ quốc gia khác bao giờ, trái lại, họ là quốc gia càng lớn, họ càng thể hiện phong thái ôn hoà khiêm tốn. Vậy nên quốc gia khác cũng nguyện ý đứng về phía Mỹ.

Nhưng nếu nước lớn biểu hiện phong cách ‘chiến lang’, nước nhỏ sẽ cho rằng ‘bạn chẳng phải đang muốn thôn tính tôi sao?’. Khi ấy nước nhỏ sẽ cảm thấy nguy hiểm từ anh bạn hung hăng này.

Vậy nên Lão Tử giảng ‘Đại bang giả hạ lưu’ (Quốc gia lớn mạnh tựa như nước chảy chỗ thấp) chính là nói: dù là nước lớn hay nước nhỏ đều nên giữ một thái độ ‘khiêm hạ, nhẫn nhường’. Nếu nước nhỏ như vậy, nước lớn sẽ cảm thấy ‘bạn thật là khách khí, tôi sẽ bảo vệ bạn’. Nếu nước lớn ‘khiêm hạ, nhẫn nhường’, nước nhỏ sẽ cảm thấy ‘bạn thật đáng tin, chúng tôi có thể nương tựa bạn’. Đây là văn hoá chính thường, quốc gia lớn hay nhỏ đều nên như vậy.

Nhưng tiếc là ĐCSTQ không hiểu đạo lý này, những người trẻ tuổi chịu ảnh hưởng của văn hoá đảng quá sâu nặng cũng có thể không hiểu. Cho nên bạn thấy con cái của quan chức hoặc người có tiền, vì để thể hiện lòng yêu nước, họ lái xe thể thao xa xỉ, sau đó phấn khích nẹt pô ầm ĩ, nói lời dơ bẩn để lăng mạ người biểu tình. Họ cảm thấy họ có tiền mà, họ có thể kiêu ngạo không ai bì nổi, có thể cười nhạo những người nghèo khổ hơn họ. Họ thậm chí có thể chửi bới và ngược đãi những người kháng nghị ĐCSTQ.

‘Khẩu hiệu chiến lang’ khiến G7 quyết tâm chống ĐCSTQ

Trên thực tế, ĐCSTQ muốn thông qua mua chuộc và đe dọa để thiết lập trật tự quốc tế, chính là ‘cộng đồng chung vì vận mệnh nhân loại’ mà Tập Cận Bình nói. Nhưng kết quả cuối cùng sẽ dẫn đến tác dụng phân chia thế giới. ĐCSTQ sẽ đắc tội và cách biệt với quốc gia dân chủ cùng với xã hội tự do.

Sau đó ĐCSTQ sẽ tập hợp các quốc gia ‘bất hảo’ dưới ngọn cờ của mình. Nhưng kỳ thực các quốc gia bất hảo ấy cũng là bị ĐCSTQ bắt nạt. Những nước đó thực lực không bằng và cũng không làm được gì cho ĐCSTQ. Chẳng qua những quốc gia đó đóng vai trò ‘trang sức’ cho ĐCSTQ mà thôi.

Điều này lại dẫn đến việc các quốc gia dân chủ xích lại gần nhau hơn. Dưới áp lực bên ngoài như vậy, dù các nền dân chủ tồn tại bất đồng, thì họ vẫn phải đứng cùng nhau.

Hội nghị thượng đỉnh G7 đề cập nhiều đến ĐCSTQ, tôi cho rằng đó là kết quả của chính sách ngoại giao ‘chiến lang’ gây ra. Nguyên nhân được đưa ra dựa trên một báo cáo của tờ ‘Sydney Morning Herald’ của Úc. Bài viết của báo này chỉ ra lý do vì sao các nước tỏ thái độ ‘chống cộng’ tại Hội nghị Thượng đỉnh G7 lần này, chính là vì ‘khẩu hiệu chiến lang’ của ĐCSTQ đã làm G7 khó chịu.

‘Khẩu hiệu chiến lang’ này là gì? Thủ tướng Úc là Morrison khi tham gia Hội nghị Thượng đỉnh G7 có mang theo một tài liệu bí mật. Tập tài liệu này có từ tháng 10 năm ngoái, do Đại sứ quán của ĐCSTQ tại Úc đưa cho ‘Kênh tin thứ chín’ ở Úc. Trong đó liệt kê 14 điều ĐCSTQ không hài lòng với Úc, bao gồm thái độ của Úc đối với Đài Loan, Hồng Kông, Tân Cương, gồm cả việc cấm Huawei v.v. Điều này đồng nghĩa ĐCSTQ muốn Úc đáp ứng những yêu cầu này. Đại sứ quán của ĐCSTQ dùng lời lẽ cực kỳ đe doạ với chính phủ Úc: “ĐCSTQ rất tức giận! Nếu bạn coi ĐCSTQ là kẻ địch, chúng tôi sẽ coi bạn là kẻ thù”. Đây là sự uy hiếp trần trụi không che đậy.

Mọi người biết rằng các nước đều có quan chức ngoại giao, những người này ăn nói rất nghiêm túc, ra dáng một quý ông lịch thiệp khiêm tốn. Ai đó nói chuyện với họ sẽ cảm thấy những quan chức ấy có trí tuệ cảm xúc cao, hơn nữa còn có thể đồng cảm với người khác. Những người khác ở gần họ sẽ cảm thấy rất thoải mái. Nhà ngoại giao nên có phong thái như thế.

Còn các quan chức ngoại giao do ĐCSTQ đưa đến đều là lưu manh, sau đó lấy thủ đoạn lưu manh để đe doạ cả Thủ tướng Úc – Morrison, đây giống như một hình thức ‘tống tiền’.

Sau đó Thủ tướng Morrison đưa tài liệu này cho lãnh đạo các nước thuộc G7 mọi người đều giận dữ. Nếu bạn đe doạ, sau đó tôi chịu khuất phục, vậy thì toàn thế giới sẽ bị ĐCSTQ khống chế. Vậy nên các quốc gia phương tây rất lo lắng. Thủ tướng Morrison bày tỏ rằng, không thể nhượng bộ 14 điểm đó.

Ở Hội nghị Thượng đỉnh G7, Morrison cùng Tổng thống Mỹ Biden và Thủ tướng Anh Johnson đã tiến hành hội đàm trong 45 phút. Qua hội nghị, Biden bày tỏ muốn thiết lập một liên minh, liên minh này nói đơn giản chính là ‘liên minh chống ĐCSTQ’.

Vậy nên mọi người có thể thấy rằng chính sách ngoại giao ‘chiến lang’ của ĐCSTQ cuối cùng sẽ tạo thành một kết quả chính là phân hoá trật tự thế giới, một bên là quốc gia lưu manh, những quốc gia nhỏ bị ĐCSTQ bắt nạt, một bên sẽ là các quốc gia dân chủ đứng cùng nhau.

BDN

Loading

Views: 0

TQ sửa đổi quan điểm về nhiều sự kiện lịch sử, đưa thêm hai sự kiện liên quan Việt Nam

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tân Hoa xã đã phát hành „Đại sự ký 100 năm ĐCSTQ (7/1921 – 6/2021)“ với nhiều sửa đổi quan trọng về các sự kiện lớn ở Trung Quốc.

Toàn văn „Đại sự ký 100 năm Đảng Cộng sản Trung Quốc (7/1921 – 6/2021)“ do Viện Nghiên cứu Văn kiện và Lịch sử Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) biên soạn dài hơn 90.000 từ. Ba đoạn đầu là phần giới thiệu, mô tả bối cảnh thành lập ĐCSTQ, sau đó ghi lại các sự kiện lịch sử qua từng năm. Biên niên Đại sự ký Lịch sử ĐCSTQ bắt đầu từ tháng 7/1921 và kết thúc bằng việc khai trương Phòng triển lãm Lịch sử ĐCSTQ vào tháng 6/2021. Đại sự ký 100 năm Đảng Cộng sản Trung Quốc“ được trình bày theo bố cục „viễn lược cận tường” (xa thì khái quát, gần thì chi tiết). Riêng 9 năm dưới thời lãnh đạo của ông Tập Cận Bình (2012-2021) dài hơn 30.000 từ, chiếm khoảng một phần ba toàn bộ tài liệu biên niên sử này.

ĐCSTQ luôn có truyền thống nhấn mạnh đến lịch sử. Năm 2011, nhân kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Văn phòng Nghiên cứu Lịch sử Đảng của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ cũng đã biên soạn Biên niên Đại sự ký lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc (7/1921 – 6/2011). So sánh hai biên niên sử nhân kỷ niệm 100 năm và 90 năm thành lập, không khó để nhận thấy trong 4 sự kiện được cho là nhạy cảm của lịch sử Đảng CS Trung Quốc, gồm: Phong trào chống phái Hữu, Đại nhảy vọt, Cách mạng Văn hóa và Sự kiện Thiên An Môn (ngày 4/6/1989), Biên niên sử năm 2021 đã có sự sửa đổi đáng kể về 3 sự kiện Phong trào chống phái Hữu, Đại nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa, nhưng xác định tính chất của Sự kiện Thiên An Môn thì vẫn giữ nguyên.

Phong trào chống phái Hữu

Biên niên Đại sự ký phiên bản 2011 ghi về Phong trào chống phái Hữu như sau: “Ngày 27 tháng 4 năm 1957, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành ‘Chỉ thị về phong trào Chỉnh Phong’. Nội dung chính là chống chủ nghĩa quan liêu, bè phái và chủ nghĩa chủ quan, và triển khai toàn diện phong trào Chỉnh Phong, chủ đề là giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Cán bộ trong, ngoài đảng và quần chúng đã đưa ra nhiều phê bình và kiến nghị hữu ích về công tác của đảng, chính quyền và tác phong của đảng viên, cán bộ. Ngày 8/6, do một số rất ít phần tử cực hữu trong quá trình Chỉnh Phong đã nhân cơ hội phát động một cuộc tấn công chống hệ thống chế độ Xã hội chủ nghĩa vừa ra đời. Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành ‘Chỉ thị về tổ chức các lực lượng chuẩn bị chống lại các cuộc tấn công của các phần tử phái Hữu’. Phong trào Chỉnh Phong chuyển hướng sang đấu tranh chống phái Hữu và cơ bản kết thúc vào mùa Hè năm 1958. Việc phản kích lại cuộc tiến công của phái Hữu là đúng đắn và cần thiết. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh chống phái Hữu đã được mở rộng nghiêm trọng, một bộ phận trí thức, nhân sĩ yêu nước và cán bộ đảng viên bị quy sai thành phần tử phái hữu, gây nên hậu quả bất hạnh“.

Phiên bản 2021 của Biên niên sử đã xóa bỏ đoạn mô tả “những cán bộ trong, ngoài đảng và quần chúng đã đưa ra nhiều phê bình và kiến nghị hữu ích về công tác của đảng, chính quyền và tác phong của đảng viên, cán bộ”, và “một bộ phận trí thức, nhân sĩ yêu nước và cán bộ đảng viên bị quy sai thành phần tử phái hữu, gây nên hậu quả bất hạnh”.

Cuộc Đại nhảy vọt

Biên niên Đại sự ký bản năm 2011 viết về cuộc Đại nhảy vọt: “Từ ngày 5 đến 23 tháng 5 năm 1958, Hội nghị Trung ương lần thứ 2, Đại hội đại biểu toàn quốc khóa VIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã được tổ chức, chính thức thông qua Đường lối chung là ‘Dốc hết sức mình, vươn lên hàng đầu, xây dựng Chủ nghĩa Xã hội nhanh, nhiều, tốt, rẻ’. Sau hội nghị, phong trào Đại nhảy vọt đã được phát động trên cả nước.

Từ ngày 2/8 đến ngày 16/8/1959, Phiên họp toàn thể lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa VIII đã được tổ chức tại Lư Sơn, thông qua nghị quyết về ‘Đấu tranh bảo vệ đường lối chung của Đảng và chống chủ nghĩa cơ hội Hữu khuynh và nghị quyết về Bành Đức Hoài và những người khác. Sau cuộc họp, toàn đảng đã sai lầm phát động cuộc đấu tranh ‘chống Hữu khuynh’ và tiếp tục ‘nhảy vọt’ một cách mù quáng. Từ năm 1959 đến năm 1961, do những sai lầm của ‘Đại nhảy vọt’ và ‘Chống cánh Hữu’, cộng với thiên tai và chính phủ Liên Xô xé bỏ hợp đồng, nền kinh tế quốc dân đất nước ta gặp khó khăn nghiêm trọng, đất nước và nhân dân bị thiệt hại nặng nề”.

Biên niên Đại sự ký phiên bản mới năm 2021 đã xóa bỏ đoạn mô tả “Sau cuộc họp, toàn đảng đã sai lầm phát động cuộc đấu tranh ‘chống Hữu khuynh’ và tiếp tục ‘nhảy vọt’ một cách mù quáng. Từ năm 1959 đến năm 1961, do những sai lầm của ‘Đại nhảy vọt’ và ‘Chống cánh Hữu’, cộng với thiên tai và chính phủ Liên Xô xé bỏ hợp đồng, nền kinh tế quốc dân đất nước ta gặp khó khăn nghiêm trọng, đất nước và nhân dân bị thiệt hại nặng nề”

Năm 1959, Biên niên sự kiện bản 2021 ghi thêm một số sự kiện không được ghi lại trong phiên bản năm 2011 như: các thành tựu „phát hiện mỏ dầu Đại Khánh“, „Tinh thần Đại Khánh, Tinh thần Người Sắt“ và „Công nghiệp học Đại Khánh“, xây dựng Mỏ dầu Ngọc Môn, Mỏ dầu Thắng Lợi, Mỏ dầu Đại Cảng và Nhà máy sản xuất máy kéo Số 1 đi vào sản xuất.

Cuộc Cách mạng Văn hóa

Về Cách mạng Văn hóa, phiên bản Biên niên Đại sự ký 2011 viết: “Từ ngày 4 đến ngày 26 tháng 5 năm 1966, Bộ Chính trị Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã triệu tập cuộc họp mở rộng và thông qua ‘Thông tri của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc’ (gọi tắt là ‘Thông tri ngày 16 tháng 5’) được xây dựng dưới sự chủ trì của Mao Trạch Đông. Từ ngày 1 đến ngày 12 tháng 8 cùng năm, Hội nghị toàn thể lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa VIII đã được tổ chức và ra ‘Quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về cuộc Đại cách mạng Văn hóa vô sản’ và cải tổ cơ cấu lãnh đạo của Trung ương. Việc triệu tập hai cuộc họp này là một dấu hiệu của việc phát động toàn diện ‘Đại Cách mạng Văn hóa’. Sau 10 năm cuộc ‘Cách mạng Văn hóa’, đã khiến đảng, đất nước và nhân dân phải gánh chịu những thất bại và tổn thất nghiêm trọng nhất kể từ khi thành lập nước Trung Quốc mới”.

Phiên bản mới của Biên niên sự kiện lịch sử 2021 đã xóa đoạn „Thông tri ngày 16 tháng 5 được xây dựng dưới sự chủ trì của Mao Trạch Đông”, và đoạn “Sau 10 năm cuộc Cách mạng Văn hóa, đã khiến đảng, đất nước và nhân dân phải gánh chịu những thất bại và tổn thất nghiêm trọng nhất kể từ khi thành lập nước Trung Quốc mới”.

Phiên bản Biên niên Đại sự ký 2011 ghi lại rằng: “Vào ngày 6 tháng 10 năm 1976, Bộ Chính trị Ủy ban Trung ương ĐCSTQ thực hiện ý nguyện của đảng và nhân dân, đã thực hiện các biện pháp quyết liệt ra tay đập tan Bè lũ 4 tên. Sau khi tin tức được công bố, hàng trăm triệu quần chúng trên cả nước đã hết lòng ủng hộ và tổ chức các cuộc diễu hành ăn mừng hoành tráng. Cuộc Cách mạng Văn hóa kéo dài 10 năm đã kết thúc”.

Phiên bản mới Biên niên Đại sự ký 2021 đã xóa bỏ đoạn “Sau khi tin tức được công bố, hàng trăm triệu quần chúng trên cả nước đã hết lòng ủng hộ và tổ chức các cuộc diễu hành ăn mừng hoành tráng”. Ngoài ra, phiên bản 2021 cũng đã xóa đoạn viết: “Cuối năm 1976, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã phát hành tài liệu về chứng cứ phạm tội của Bè lũ 4 tên cho toàn đảng toàn dân và cả nước phát động một phong trào quần chúng để vạch trần và phê phán Bè lũ 4 tên”.

Phiên bản Biên niên sự kiện 2011 ghi lại rằng “Hội nghị toàn thể lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XI được tổ chức từ ngày 27 đến ngày 29 tháng 6 năm 1981, đã thông qua ‘Nghị quyết về một số vấn đề lịch sử của Đảng kể từ khi thành lập của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa’, tổng kết khoa học về lịch sử 32 năm kể từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đưa ra kết luận đúng đắn về một loạt vấn đề lịch sử chính, triệt để phủ định cuộc Đại Cách mạng Văn hóa; đồng thời thực sự cầu thị đánh giá địa vị lịch sử của Mao Trạch Đông, phân tích đầy đủ về ý nghĩa vĩ đại của Tư tưởng Mao Trạch Đông với tư cách là tư tưởng chỉ đạo của Đảng. Việc thông qua ‘Nghị quyết’ đánh dấu sự hoàn thành nhiệm vụ của đảng trong việc giải quyết sự hỗn loạn trong tư tưởng chỉ đạo”.

Về đoạn này trong nội dung Hội nghị toàn thể lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XI, phiên bản mới Biên niên sự kiện 2021 đã sửa câu ghi: “Nghị quyết về một số vấn đề lịch sử của Đảng kể từ khi thành lập của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tổng kết khoa học về lịch sử 32 năm kể từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đưa ra kết luận đúng đắn về một loạt vấn đề lịch sử chính, triệt để phủ định cuộc Đại Cách mạng Văn hóa” được sửa đổi thành „tổng kết đúng đắn về những sự kiện lịch sử trọng đại của đảng trong 32 năm kể từ ngày thành lập nước Trung Quốc mới, đặc biệt là Cách mạng Văn hóa“, và xóa bỏ đoạn nói “triệt để phủ định Cách mạng Văn hóa”.

Ngoài ra, phiên bản Biên niên Đại sự ký 2021 còn ghi lại nhiều thành tựu đã đạt được trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật quốc phòng. Ví dụ, năm 1966, Trung Quốc đã thực hiện thành công vụ phóng tên lửa đất đối đất đầu tiên mang đầu đạn hạt nhân; năm 1969, Trung Quốc thực hiện thành công vụ thử hạt nhân dưới lòng đất đầu tiên và tuyến tàu điện ngầm đô thị đầu tiên của Trung Quốc ở Bắc Kinh đã hoàn thành và thông xe; năm 1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phê duyệt xây dựng Dự án Đập thủy điện Cát Châu Ba trên sông Dương Tử; năm 1971 tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường đầu tiên do Trung Quốc phát triển đã chính thức được đưa vào biên chế chiến đấu của quân đội. Tất cả những điều này không được ghi trong phiên bản Đại sự ký năm 2011.

Sự kiện ngày 4 tháng 6 (Sự kiện Thiên An Môn)

Về Biến cố ngày 4 tháng 6 năm 1989 (còn gọi là Sự kiện Thiên An Môn), bản Biên niên sự kiện năm 2011 ghi: “Vào dịp giao nhau giữa mùa Xuân và mùa Hè năm 1989, một cơn phong ba chính trị đã xảy ra ở Bắc Kinh và một số thành phố khác. Đảng và chính phủ dựa vào nhân dân, có lập trường rõ ràng chống lại hỗn loạn, dập tắt cuộc bạo loạn phản cách mạng ở Bắc Kinh và bảo vệ chính quyền nhà nước xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích cơ bản của nhân dân và đảm bảo công cuộc cải cách, mở cửa và hiện đại hóa tiếp tục tiến lên”. Văn bản của Biên niên sự kiện 2021 đã sao chép nguyên văn đoạn này mà không có bất kỳ thay đổi nào, việc xác định tính chất của Sự kiện ngày 4 tháng 6 không thay đổi.

Đưa thêm các sự kiện liên quan đến Việt Nam

Đáng chú ý, trong „Đại sự ký 100 năm Đảng Cộng sản Trung Quốc (7/1921 – 6/2021)“ đã bổ sung thêm các sự kiện liên quan trong quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam mà trong phiên bản “Đại sự ký lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc (7/1921 – 6/2011)” không có. Đó là sự kiện Trung Quốc huy động 60 vạn quân tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược 6 tỉnh Biên giới phía Bắc nước ta (17/2/1979) và Trung Quốc dùng vũ lực tiến công chiếm giữ, sát hại một số cán bộ chiến sĩ Hải quân của ta ở bãi đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam (14/3/1988).

Cụ thể, trong phần Đại sự ký năm 1979 có ghi: “2月17日-3月16日 中国边防部队实施对越自卫反击战” (Từ ngày 17/2 đến 16/3: lực lượng bảo vệ biên giới Trung Quốc thực thi cuộc Chiến tranh Phản kích tự vệ chống Việt Nam”.

Trong phần Đại sự ký năm 1988 có ghi: “3月14日 人民解放军海军进行南沙群岛自卫还击作战” (Ngày 14/3, Hải quân Quân giải phóng nhân dân đã tiến hành tác chiến đánh trả tự vệ ở quần đảo Nam Sa (tên Trung Quốc tự đặt cho quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam).

BDN

Loading

Views: 0

Vụ Nga bắn cảnh cáo tàu Anh: Nga nghi ngờ Mỹ ‚dính líu‘, Anh phản pháo, LHQ lên tiếng

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova cho rằng, vụ tàu khu trục HMS Defender của Anh xâm nhập lãnh hải Nga ở Biển Đen không thể được thực hiện mà không có sự đồng tình từ phía Mỹ.

Moscow cho rằng, vụ tàu khu trục HMS Defender của Anh xâm nhập lãnh hải Nga ở Biển Đen không thể được thực hiện mà không có sự đồng tình từ Mỹ. (Nguồn: PA)

Trên Telegram, bà Zakharova đặt nghi vấn về việc „Cơ quan báo chí của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đề nghị giới truyền thông chuyển câu hỏi về vụ việc liên quan đến tàu khu trục Anh tới các nhà chức trách Anh“.

Theo bà Zakharova, tàu HMS Defender đã ở phía Tây Bắc của Biển Đen để chuẩn bị cho cuộc tập trận Sea Breeze được tiến hành dưới sự chỉ huy của Mỹ.

Các chuyên gia Mỹ từng thông báo, vào thời điểm xảy ra vụ việc, trên tàu có các lực lượng đặc nhiệm Mỹ, Anh và Ukraine đang diễn tập huấn luyện.

Trong điều kiện như vậy, theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga, „việc di chuyển hòa bình“ của tàu khu trục Anh không thể không có sự thỏa thuận với „người anh cả“ Mỹ.

Hôm 23/6, Hạm đội Biển Đen của Hải quân Nga cùng Cơ quan An ninh Liên bang (FSB) thông báo đã ngăn chặn hành vi xâm phạm biên giới quốc gia Nga của tàu HMS Defender.

Theo thông báo, tàu khu trục Anh đã vượt qua biên giới Nga và đi sâu vào lãnh hải nước này 3km ở khu vực mũi Fiolent.

Bộ Quốc phòng Nga lưu ý, tàu khu trục HMS Defender đã được cảnh báo trước về việc Moscow sẽ sử dụng vũ khí trong trường hợp tàu xâm phạm hải giới, nhưng thủy thủ đoàn trên tàu không hề phản ứng.

Tàu Nga sau đó đã nổ súng cảnh báo trong khi máy bay Su-24M của nước này cũng thả bom cảnh cáo theo đường đi của tàu khu trục Anh.

Ngày 24/6, Bộ Ngoại giao Nga cho biết, cơ quan này đã trao cho Đại sứ Anh tại Moscow Deborah Bronnert công hàm phản đối quyết liệt về vụ việc trên.

Bộ trên cảnh báo Đại sứ Bronnert rằng, Anh sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với mọi hậu quả nếu tiếp tục để xảy vụ việc tương tự.

Bộ Ngoại giao Nga cho rằng, sự cố này có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng và khu vực Biển Đen đang trở thành khu vực đối đầu quân sự.

Nga cũng cáo buộc Anh đã tung tin dối trá về vụ đối đầu nói trên, đồng thời cảnh báo London rằng, Moscow sẽ kiên quyết đáp trả bất kỳ hành động khiêu khích nào của hải quân Anh ngoài khơi Bán đảo Crimea.

Trước đó, Ngoại trưởng Anh Dominics Raab đã bác thông báo của Hải quân Nga, cho hay, không có phát súng nào được bắn về phía tàu HMS Defender và lời giải thích của Moscow về vụ việc là „không chính xác“.

Trong khi đó, Bộ trưởng Môi trường Anh George Eustic cho rằng: „Không có điều gì phải quá lưu tâm trong vụ việc không mấy bất thường này. Tôi không cho rằng đó là những loạt đạn cảnh cáo“.

Cùng ngày, Thủ tướng Boris Johnson nhấn mạnh, tàu HMS Defender đang hoạt động hợp pháp trong vùng biển quốc tế sau cuộc đối đầu với quân đội Nga ở ngoài khơi Bán đảo Crimea được Nga sáp nhập.

Phát biểu với các phóng viên, Thủ tướng Johnson nói: „Tôi cho rằng việc sử dụng các vùng biển quốc tế là hoàn toàn phù hợp. Điều quan trọng là chúng tôi không công nhận việc Nga sáp nhập Crimea“.

Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Anh tuyên bố: „Hải quân Hoàng gia Anh sẽ luôn tôn trọng luật pháp quốc tế và không chấp nhận sự can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động di chuyển vô hại“.

Cũng trong ngày 24/6, người phát ngôn của Liên hợp quốc Stephane Dujarric cho biết, ông đã đọc thông tin trên báo nói về sự cố vừa xảy ra tại Biển Đen và mong muốn căng thẳng sẽ được giảm bớt, dù bằng cách này hay cách khác.

TG&VN

Loading

Views: 0

Đại học Hamburg tổ chức hội thảo về Biển Đông

Nhân dịp 5 năm phán quyết của Tòa trọng tài Thường trực (PCA) về Biển Đông được ban hành, Đại học Hamburg vừa thông báo tổ chức hội nghị quốc tế trực tuyến về Biển Đông vào ngày 9/7/2021.

Chủ đề của hội thảo lần này là „5 năm sau phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực PCA về Biển Đông ngày 12/7/2016: Đàm phán và những hành vi bắt nạt mới“. Sau khi phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực được ban hành, tình hình Biển Đông tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Thời gian qua, trong bối cảnh toàn thế giới đang phải căng sức trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, Trung Quốc đã cố gắng tạo ra những „thực tế mới“ trên thực địa, tiếp tục „bắt nạt“ các quốc gia khác. Hành động của Trung Quốc bị nhiều nước phản đối. Ngày 23/1/2021, Nhật Bản đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc chính thức bác bỏ yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Các tuyên bố tương tự đã được các nước như Anh, Pháp, Đức, Malaysia, Australia, New Zealand, Indonesia, Việt Nam, Philippines và Mỹ đưa ra. Trong bối cảnh đó, hội thảo sẽ phân tích tình hình Biển Đông trong 5 năm qua, những diễn biến phức tạp trên thực địa, sự xuất hiện của một „liên minh chống bá quyền“ quốc tế và những hành động, chính sách đối ngoại của Trung Quốc liên quan tới xung đột ở Biển Đông.

Tham dự hội thảo có các chuyên gia, nhà nghiên cứu của Đức và quốc tế về Biển Đông như Giáo sư Thomas Engelbert- Đại học Hamburg; Giáo sư Suzette Suarez- Đại học Khoa học ứng dụng Bremen; Tiến sỹ Takashi Hosoda, Đại học Charles (Cộng hòa Séc); Tiến sỹ, nhà báo Rodion Ebbighausen- truyền hình Deutsche Welle; Tiến sỹ Gerhard Will – nguyên chuyên gia về biển Đông của Quỹ khoa học và Chính trị Đức (SWP) cùng các chuyên gia, nhà nghiên cứu và học giả quan tâm tới vấn đề này.

Đây là lần thứ tư Viện Á-Phi, Đại học Hamburg tổ chức hội thảo về Biển Đông Các hội thảo trước đó được tổ chức vào năm 2017 và 2020, thu hút sự quan tâm lớn của giới nghiên cứu và dư luận quốc tế. Do đại dịch COVID-19, hội thảo lần này được tổ chức theo hình thức trực tuyến. Những người quan tâm có thể trực tiếp theo dõi trực tuyến hội thảo theo địa chỉ được cung câp trên trang web của Đại học Hamburg:

https://www.uni-hamburg.de/newsroom/veranstaltungen.html?event=65830&fbclid=IwAR3glImSld0c1eKGOaNhgOxuji4ACrdEvhdw6cOT3CbbU6D6aJ-0U-HHbZo

Loading

Views: 0

Vladimir Putin có thể là một trong những người giàu nhất thế giới

Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Điện Kremlin ở Moskva, Nga. (Ảnh: AFP/TTXVN)
  • Người ta biết rất ít về tài sản của Vladimir Putin. Theo phóng viên điều tra người Anh Luke Harding, nguyên thủ Nga có thể là một trong những người giàu nhất thế giới.
  • Putin chính thức kiếm được 84.000 Euro một năm (lương). Dựa trên các số liệu của chính phủ, nhà báo này ước tính tài sản của Putin vào năm 2007 là 34 tỷ Euro. Năm 2012, ước tính đã tăng lên 59 tỷ Euro.
  • Putin được cho là sở hữu 37% cổ phần của công ty khai thác dầu Surgutneftegaz của Nga và 4,5% cổ phần của công ty khí đốt tự nhiên Gazprom.

Thật ra, Vladimir Putin có một cuộc sống rất giản dị. Tuy nhiên Tổng thống Nga không phải là một người nghèo, các nhà chức trách đã đánh giá khối tài sản của ông ở mức độ khá khiêm tốn. Thông tin thực tế về tài sản của ông hầu như không được công chúng biết đến, đó là lý do tại sao người ta thường hay đồn đoán. Nhà báo người Anh Luke Harding đã có bốn năm ở Nga. Ông tin chắc rằng Vladimir Putin có thể (kín đáo) là một trong những người đàn ông giàu nhất thế giới.

“Putin và tiền bạc, đó là một chủ đề cấm kỵ ở Nga,” là lời mở đầu của nhà báo trong đoạn video ngắn của Business Insider. Nhà báo điều tra Harding và là tác giả cuốn sách „Thông đồng: Các cuộc họp bí mật, tiền bẩn, và cách Nga giúp Donald Trump chiến thắng“, gần đây đã xuất bản, trong vài năm qua, đã tích cực tìm hiểu về nguyên thủ quốc gia Nga. Khoảng một thập kỷ trước, ông đã viết về tài sản của Putin. Dựa trên một số nguồn tin từ chính phủ, tài sản của Tổng thống Nga khi đó được ước tính vào khoảng 34 tỷ Euro. Trong năm 2012, đã được tăng lên ngót 59 tỷ. Tuy nhiên, về mặt chính thức, Putin chỉ có thu nhập 84.000 Euro một năm.

Theo nhà báo người Anh, điều này được mô tả về hình thức cai trị mà trong đó những người nắm quyền lợi dụng chức vụ vun vén cho lợi ích của chính họ. Nga cũng là nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới. Hầu hết các chính trị gia đều là triệu phú.

Vladimir Putin là người cao cấp nhất trong số họ. Người đứng đầu nhà nước được cho là đã kiểm soát 37% công ty dầu mỏ của Nga là Surgutneftegaz và 4,5% công ty khí đốt tự nhiên Gazprom. Theo Harding, cái hay của hệ thống ở Nga là không có gì chính thức thuộc về ông ấy. Tuy nhiên, ai cũng biết một cách gián tiếp người giàu nhất đất nước là ai. Harding giải thích: “Đối với Putin, tiền là một loại sức mạnh lỏng. „Và quyền lực mới là thứ cuối cùng khiến ông ta quan tâm.“

Lê Hoàng biên dịch

Nguồn:

https://www.businessinsider.de/wirtschaft/wladimir-putin-insgeheim-ist-er-einer-der-reichsten-menschen-der-welt-b/

Loading

Views: 0

Tin đồn Thứ trưởng Bộ An Ninh quốc gia Trung Quốc trốn sang Mỹ

Hiện có nhiều tin đồn lan truyền về việc Thứ trưởng Bộ An ninh quốc gia Trung Quốc Đổng Kinh Vỹ đào thoát sang Mỹ và cung cấp thông tin liên quan đến cuộc điều tra về nguồn gốc vi rút gây đại dịch Covid 19. 

Trụ sở Bộ Quốc An tại Wuhan

Tin đồn này chưa được xác nhận nhưng nếu có thật nó có thể là một trong những câu chuyện lớn nhất trong quan hệ Mỹ – Trung thời gian tới. Hiện có 3 nguồn chủ yếu đưa thông tin này:

  • Truyền thông Hoa ngữ ở hải ngoạiTruyền thông Hoa ngữ ở hải ngoại đưa tin đồn rằng ông Đổng Kinh Vỹ bay từ Mỹ sang Hồng Kông cùng con gái Đổng Dương vào tháng 2 năm nay. (Đổng Dương được cho là Đổng Hoa Hoa, vợ cũ của Tưởng Phàm, chủ tịch Taobao từng dính vào bê bối ngoại tình nổi tiếng vào năm ngoái).

Tin đồn cũng cho biết ông Đổng có liên hệ với cựu Thứ trưởng Bộ Công an Tôn Lực Quân, người bị điều tra vào tháng 4 năm ngoái. Trước khi bị điều tra, ông Tôn nằm trong nhóm công tác của trung ương được cử đến Vũ Hán tham gia công tác phòng chống đại dịch.

Truyền thông Hoa ngữ cũng lưu ý trang thông tin về ông Đổng trên trang Baidu đã bị xóa.

  • Nhà bất đồng chính kiến Hàn Liên Triều: Ông là cựu nhân viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đào tẩu, là cố vấn cho một số thượng nghị sĩ Mỹ, hiện là nhà nghiên cứu tại Viện Hudson. Dẫn một nguồn không nêu tên, ông Hàn Liên Triều viết trên Twitter rằng Ủy viên Bộ Chính trị Dương Khiết Trì và Ngoại trưởng Vương Nghị đã yêu cầu Mỹ trao trả ông Đổng trong cuộc họp tại Alaska vào tháng 3, nhưng Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken khước từ.

Hàn cho biết: “Ông ta (Đổng Kinh Vỹ) từng làm việc với Trương Việt, người thụ án 15 năm tù vì tham nhũng. Trương là người tin cẩn của Mã Kiến, cựu Thứ trưởng thường trực Bộ An ninh quốc gia, người cũng ngồi tù vì tham nhũng”.

(Trương Việt từng là Chủ nhiệm Ủy ban Chính pháp tỉnh Hà Bắc trong khi Đổng từng là Cục trưởng An ninh quốc gia ở Hà Bắc trước khi được điều về Bắc Kinh).

  • Trang Redstate: Vào thượng tuần tháng 6, trang này dẫn nguồn tin tiết lộ một quan chức Trung Quốc đào tẩu sang Mỹ đang hợp tác với Cục Tình báo quân đội Mỹ (DIA) để cung cấp thông tin về nguồn gốc vi rút. Khi đó Redstate chỉ mô tả người này là một trong những quan chức cấp cao nhất của Trung Quốc từng đào tẩu sang Mỹ.

Đến sáng nay 18.6, Redstate dẫn nguồn tin xác nhận nhân vật đào tẩu chính là Đổng Kinh Vỹ.

Các nguồn tin của RedState xác nhận người đào tẩu trên thực tế là Đổng, người phụ trách các nỗ lực phản gián ở Trung Quốc và ông ta đã bay đến Mỹ vào giữa tháng 2, được cho là để thăm con gái của mình tại một trường đại học ở California. Khi Đổng đến California, ông ta đã liên lạc với các quan chức DIA và nói với họ về kế hoạch đào tẩu cũng như thông tin mà ông ta mang theo.

Redstate kể lại một phiên bản khác về cuộc họp ở Alaska.

Các nguồn tin của RedState nói rằng các quan chức Trung Quốc đã yêu cầu Mỹ trả lại Đổng, nhưng ông Blinken chính xác không phải là từ chối; mà vào thời điểm đó, ông Blinken không hề biết Đổng đang hợp tác với chính phủ Mỹ và nói với Trung Quốc rằng Mỹ không giữ Đổng.

Theo nguồn tin của RedState, những người bên ngoài DIA chỉ biết về người đào tẩu này trong 3 đến 4 tuần qua. Trước thời điểm đó, DIA tiến hành kiểm tra thông tin được cung cấp và đối chất với các quan chức ở Langley (CIA) về những gì họ đã thu được mà không tiết lộ nguồn.

Những quan chức Trung Quốc cấp cao nhất từng bỏ trốn sang Mỹ là đại tá quân đội Từ Tuấn Bình và cựu Cục trưởng Bắc Mỹ của Bộ An ninh quốc gia Du Cường Thanh(anh trai cựu Chủ tịch Chính hiệp, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Du Chính Thanh). Thế nên, nếu Đổng quả thực chạy sang Mỹ, ông ta chính là quan chức cấp cao nhất đào thoát sang Mỹ.

Ngoài ra, Redstate còn cho biết Đổng đã cung cấp cho phía Mỹ những thông tin sau:

  • Các nghiên cứu mầm bệnh ban đầu về khả năng gây bệnh của loại vi rút mà chúng ta hiện nay gọi là SARS-CoV-2.
  • Mô hình dự đoán COVID-19 lây lan và thiệt hại cho Mỹ và thế giới.
  • Hồ sơ tài chính nêu chi tiết các tổ chức và chính phủ nào đã tài trợ cho nghiên cứu về SARS-CoV-2 và các nghiên cứu chiến tranh sinh học khác.
  • Danh tính các công dân Mỹ cung cấp thông tin tình báo cho Trung Quốc.
  • Danh tính các điệp viên Trung Quốc hoạt động ở Mỹ hoặc theo học các trường đại học ở Mỹ.
  • Hồ sơ tài chính cho thấy các doanh nhân và công chức Mỹ đã nhận tiền từ chính phủ Trung Quốc.
  • Thông tin chi tiết về các cuộc gặp (có thể là vô tình) của các quan chức chính phủ Mỹ với các điệp viên Trung Quốc và các thành viên SVR (Cục Tình báo đối ngoại) của Nga.
  • Làm thế nào chính phủ Trung Quốc có thể truy cập vào hệ thống liên lạc của CIA, dẫn đến cái chết của hàng chục người Trung Quốc hợp tác với CIA.

Hiện chưa rõ mức độ chính xác trong các bài báo của Redstate nhưng thông tin của họ đưa ra khá chi tiết.

(Nguồn từ nhà báo tự do Dang Duan chuyên quan sát TQ và các hoạt động của họ ở Biển Đông)

Loading

Views: 0

Báo cáo cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 6/2021 của World Bank

Theo báo cáo của World Bank, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam đã tăng lên đến 4,5% trong quý cuối cùng của năm 2020 (so với cùng kỳ năm trước), nhờ đó tốc độ tăng trưởng năm 2020 đạt 2,9% – đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.

Cũng theo báo cáo, sản xuất công nghiệp và doanh số bán lẻ tiếp tục tăng trưởng vững chắc, với tốc độ tăng trưởng gần bằng mức trước đại dịch. Tháng 12/2020 đánh dấu một kết quả tích cực khác trong thương mại hàng hóa, với tốc độ tăng trưởng hai con số về nhập khẩu (23,1%) và xuất khẩu (17,8%), trong khi dòng vốn FDI đã chậm lại.

Bên cạnh đó, chỉ số giá tiêu dùng đi ngang trong tháng 12/2020 (so với cùng kỳ năm trước) do giá lương thực ổn định trong khi nhu cầu tiêu dùng vẫn chưa phục hồi hoàn toàn sau khủng hoảng. Tăng trưởng tín dụng tăng nhẹ sau khi Ngân hàng Nhà nước cắt giảm lãi suất điều hành vào tháng 10, kết thúc năm 2020 ở mức 10,1% (so với cùng kỳ năm trước).

Thu ngân sách từ đấu giá quyền sử dụng đất, giao và cho thuê đất giúp cải thiện thu Ngân sách Nhà nước trong quý 4/2020, đồng thời thanh khoản dồi dào tiếp tục làm giảm chi phí vay vốn của Chính phủ trên thị trường trong nước.

Đặc biệt, việc phê duyệt và bắt đầu triển khai tiêm chủng rộng rãi một số loại vắc xin Covid-19 vào cuối năm 2020 đã nâng cao triển vọng kinh tế trong nước và trên toàn cầu trong năm 2021, đặc biệt là đối với ngành du lịch và hàng không, nhưng vẫn còn rủi ro phân phối vắc xin chậm cũng như xung đột thương mại.

Chính phủ sẽ phải đánh giá cẩn trọng về thời điểm gỡ bỏ các chính sách kinh tế vĩ mô đã được sử dụng để ứng phó với khủng hoảng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến nền kinh tế.

BDN

Loading

Views: 0

Hải quân Ấn Độ điều tàu khu trục tập trận cùng Lực lượng Hải quân Liên minh châu Âu

Lần đầu tiên, Hải quân Ấn Độ điều tàu khu trục INS Trikand tham gia cuộc tập trận chung với Lực lượng Hải quân Liên minh châu Âu (EUNAVFOR).

Tàu khu trục INS Trikand sẽ là một trong các phương tiện tham gia cuộc tập trận kéo dài hai ngày ở Vịnh Aden. Trước đó, nó đã được triển khai trong khu vực để thực hiện các hoạt động chống cướp biển.

Cuộc tập trận chung sẽ chứng kiến ​​“các hoạt động hải quân nhịp độ cao trên biển“, bao gồm các bài tập phòng không và chống tàu ngầm tiên tiến, hoạt động trực thăng trên boong, diễn tập chiến thuật, hoạt động trên tàu, tìm kiếm cứu nạn… và các hoạt động an ninh hàng hải khác, theo tuyên bố của hải quân Ấn Độ.

Các quốc gia khác tham gia cuộc tập trận là: Italy, Tây Ban Nha và Pháp.

 5 tàu ​​chiến của hải quân 4 nước “sẽ nỗ lực nâng cao, trau dồi các kỹ năng chiến đấu và khả năng của họ như một lực lượng tổng hợp, để thúc đẩy, hòa bình, an ninh và ổn định trong lĩnh vực hàng hải”, tuyên bố đề cập.

Đồng thời, một cuộc diễn tập chia sẻ thông tin trực tuyến cũng đang được tổ chức giữa Trung tâm Thông tin Hải quân Ấn Độ – Khu vực Ấn Độ Dương (IFC-IOR) và Trung tâm An ninh Hàng hải châu Phi.

Hải quân và EUNAVFOR cùng có hoạt động ở nhiều vấn đề bao gồm các hoạt động chống cướp biển và bảo vệ các tàu được triển khai theo điều lệ của Chương trình Lương thực Thế giới (UN WFP). Họ cũng tương tác thường xuyên với EUNAVFOR thông qua chương trình chia sẻ nhận thức và các cuộc họp giảm căng thẳng (SHADE) được tổ chức hàng năm tại Bahrain.

“Sự tham gia này thể hiện mức độ tăng cường sức mạnh tổng hợp, phối hợp và khả năng hoạt động giữa các lực lượng, đồng thời nhấn mạnh các giá trị chung của các lực lượng hải quân trong việc đảm bảo tự do trên biển và cam kết đối với một trật tự quốc tế rộng mở, bao trùm và dựa trên luật lệ”, tuyên bố khẳng định.

BDN

Loading

Views: 0

TQ nổi nóng về cảnh báo „cô lập“ của Mỹ

Trung Quốc đã lên tiếng đáp trả sau khi quan chức Mỹ cảnh báo Bắc Kinh sẽ đối mặt với nguy cơ bị quốc tế cô lập nếu không hợp tác điều tra Covid-19.

Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Jake Sullivan ngày 20/6 cảnh báo, Trung Quốc có nguy cơ phải đối mặt với „sự cô lập của cộng đồng quốc tế“ nếu nước này không cho phép một „cuộc điều tra thực sự trên lãnh thổ Trung Quốc về nguồn gốc của virus gây ra đại dịch Covid-19“.

„Ở thời điểm hiện tại, chúng tôi sẽ không đưa ra bất cứ đe dọa hay tối hậu thư nào. Điều mà chúng tôi sẽ làm là tiếp tục kêu gọi sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Nếu Trung Quốc từ chối tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế, khi đó chúng tôi sẽ cân nhắc phản ứng và trên cơ sở phối hợp với các đối tác, đồng minh“, ông Sullivan nói trong cuộc phỏng vấn với Fox News.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên hôm nay 21/6 chỉ trích bình luận của ông Sullivan hoàn toàn là những lời „đe dọa“.

Ông Triệu Lập Kiên đã lên tiếng bác bỏ cáo buộc của Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ, đồng thời phản đối mạnh mẽ và bày tỏ sự bất bình của Trung Quốc đối với phát ngôn của ông Sullivan.

Phát biểu tại một cuộc họp báo hôm nay, ông Triệu cho biết Trung Quốc luôn giữ thái độ công khai và minh bạch đối với các cuộc điều tra liên quan đến đại dịch Covid-19 kể từ khi dịch bắt đầu bùng phát. Ông Triệu cũng khẳng định không có căn cứ để cho rằng Trung Quốc nói không với các cuộc điều tra về nguồn gốc Covid-19, chứ chưa nói đến việc tuyên bố Trung Quốc có nguy cơ bị cô lập quốc tế.

Mỹ và các nước đồng minh đến nay cáo buộc Trung Quốc thiếu minh bạch mặc dù Bắc Kinh đã cho phép các nhà điều tra do WHO dẫn đầu đến Vũ Hán – tâm dịch đầu tiên trên thế giới – điều tra nguồn gốc Covid-19. Sau chuyến điều tra này, các chuyên gia đưa ra 4 giả thuyết, trong đó giả thuyết virus thoát ra từ phòng thí nghiệm được cho là „rất khó xảy ra“.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nhấn mạnh, việc truy tìm nguồn gốc Covid-19 là một vấn đề khoa học. Ông Triệu kêu gọi phía Mỹ ngừng chính trị hóa vấn đề này cũng như bôi nhọ Trung Quốc để làm cái cớ che đậy việc Mỹ ứng phó kém hiệu quả đối với đại dịch Covid-19.

Ông Triệu lưu ý rằng Mỹ có hơn 33 triệu trường hợp được xác nhận mắc Covid-19 và 600.000 ca tử vong vì căn bệnh này, cả hai đều cao nhất trên thế giới, do vậy Mỹ nên xem xét cẩn thận việc quy trách nhiệm cho các quan chức Mỹ về sự lây lan rộng rãi của Covid-19 ở nước này và có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn thảm kịch như vậy tái diễn.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng kêu gọi Mỹ hợp tác với WHO trong việc nghiên cứu nguồn gốc Covid-19 và tiến hành một cuộc điều tra quốc tế đầy đủ, minh bạch, dựa trên bằng chứng tại Mỹ để đáp ứng đầy đủ các mối quan tâm của cộng đồng quốc tế, đồng thời đóng góp vào chiến thắng của nhân loại trong việc vượt qua đại dịch và chuẩn bị tốt hơn cho các tình huống khẩn cấp về y tế cộng đồng trong tương lai.

„Nếu Mỹ thực sự minh bạch và có trách nhiệm, Mỹ cũng nên công khai như Trung Quốc và mời ngay các chuyên gia quốc tế đến phòng thí nghiệm Fort Detrick cũng như những nơi khác ở Mỹ để tiến hành một cuộc điều tra chi tiết“, ông Triệu Lập Kiên nhấn mạnh.

Trước đó, Trung Quốc từng nhiều lần tìm cách „đá bóng“ nguồn gốc Covid-19 sang Mỹ, khi đề nghị điều tra một phòng thí nghiệm quân sự tại Fort Detrick, bang Maryland. Cơ sở này tiến hành các nghiên cứu y sinh, đặc biệt liên quan tới các bệnh truyền nhiễm.

BDN

Loading

Views: 0

Máy bay chiến đấu TQ liên tục xâm nhập Đài Loan

Chỉ hai ngày sau vụ áp sát Đài Loan với phi đội lớn chưa từng có, Trung Quốc tiếp tục điều các máy bay chiến đấu đi vào Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của Đài Loan.

Báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng cho biết, 7 máy bay của Không quân Trung Quốc ngày 17/6 đã đi vào ADIZ của Đài Loan. Các máy bay này gồm 2 máy bay chiến đấu đời mới J-16, 4 máy bay chiến đấu J-7 đời cũ, một máy bay tác chiến điện tử Y-8.

Cơ quan phòng vệ Đài Loan cho biết không quân của họ đã điều động các máy bay để xua đuổi máy bay Trung Quốc, đồng thời triển khai hệ thống phòng không để giám sát hoạt động của những máy bay này.

Đây là lần thứ hai trong tuần và lần thứ 6 trong tháng máy bay Trung Quốc đi vào ADIZ của Đài Loan. Cách đó hai ngày, Trung Quốc điều động kỷ lục 28 máy bay quân sự đi vào khu này.

Giới quan sát cho rằng, việc Bắc Kinh liên tiếp đưa máy bay áp sát không phận đảo Đài Loan chủ yếu để „nắn gân“ hòn đảo về tham vọng giành độc lập. Mặt khác, Bắc Kinh coi đây là hoạt động nhằm thử nghiệm khả năng tương tác của các máy bay và kiểm tra khả năng chống lại sự can thiệp điện tử của đối phương, phục vụ hoạt động huấn luyện và trinh sát.

Động thái trên của Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh Đài Loan vừa ký hợp đồng mua vũ khí của Mỹ gồm hệ thống pháo phản lực phóng loạt HIMARS và hệ thống phòng thủ bờ biển Harpoon. Giá trị hai thương vụ này ước tính khoảng 1,8 tỷ USD.

BDN

Loading

Views: 0

Chuẩn bị cho chiến tranh của TQ nhắm vào Đài Loan

Quân đội Trung Quốc đã tung ra hàng loạt bức ảnh và video cho thấy trạng thái sẵn sàng tác chiến và thông điệp „chuẩn bị cho chiến tranh“ trong áp phích tuyên truyền nhắm vào Đài Loan.

Theo Newsweek, bộ phận thông tin của Quân đoàn 80 thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) ngày 9/6 đã công bố hàng loạt các bài viết, hình ảnh, video trên mạng internet trong một chiến dịch tuyên truyền nhắm vào Đài Loan.

Các tư liệu này ghi lại hình ảnh về các đội quân trong trạng thái sẵn sàng tác chiến trong các cuộc tập trận quân sự, với những thông điệp cảnh báo dành cho „những người muốn ly khai“ và một tấm áp phích có dòng chữ „chuẩn bị cho chiến tranh“.

Các quân nhân thuộc Quân đoàn 80 đóng tại tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, cũng xuất hiện trong các bức ảnh cho thấy họ tham gia một buổi lễ tuyên thệ sẽ „tuân thủ mọi chỉ đạo“ và „không sợ hãi trước thách thức“, cũng như „chiến đấu vì nhân phẩm mà không sợ cái chết“.

Ngoài các bài đăng trên mạng xã hội, Trung Quốc cũng tung ra một video ca nhạc sản xuất bởi „Tiếng nói eo biển Đài Loan“ – một nhóm gồm 5 trạm phát thanh của PLA đặt tại Phúc Châu, Phúc Kiến với nhóm khán giả hướng tới là người Đài Loan. Video ca nhạc có tựa đề: „Muốn trở thành người ly khai? Hãy nghe đây“, cùng với hình ảnh xe tăng, rocket minh họa… Bài hát được hát theo tiếng Quan Thoại và Nam – cả 2 thứ tiếng phổ biến ở Đài Loan.

Trung Quốc luôn coi Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời, cần phải thống nhất bằng mọi giá, kể cả dùng vũ lực. Trung Quốc trong những tháng qua đã gia tăng các hoạt động quân sự ở khu vực eo biển Đài Loan.

Theo Newsweek, chiến dịch tuyên truyền mới của PLA lần này có thể nhằm vào cả dư luận Trung Quốc. Tuần này, các trang mạng xã hội của Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Trung Quốc ngập tràn các ý kiến phàn nàn về việc Bắc Kinh „không có hành động gì“ sau khi vận tải cơ quân sự chở 3 nghị sĩ Mỹ tới thăm Đài Loan vào cuối tuần. Mỹ cũng tuyên bố tặng Đài Loan 750.000 liều vắc xin Covid-19 trong bối cảnh hòn đảo cáo buộc Trung Quốc cản trở họ mua chế phẩm này, điều mà Bắc Kinh bác bỏ.

Hôm 8/6, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Wu Qian gọi chuyến thăm của nhóm nghị sỹ Mỹ là „hành động khiêu khích chính trị“ và cảnh báo „ai chơi đùa với lửa sẽ bị thiêu cháy“.

Ông Wu từng gây chú ý hồi tháng 1 khi tuyên bố rằng: „Độc lập cho Đài Loan đồng nghĩa với chiến tranh“.

BDN

Loading

Views: 0

Nhật Bản mong muốn giải quyết tình hình Biển Đông, biển Hoa Đông bằng biện pháp hòa bình

Ngày 16/6, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) do Brunei chủ trì đã được tổ chức theo hình thức trực tuyến do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) theo hình thức trực tuyến ngày 16/6. (Nguồn: Kyodo)

Phát biểu với những người đồng cấp tại Hội nghị, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Nobuo Kishi khẳng định mong muốn giải quyết vấn đề xung quanh tình hình Biển Đông và biển Hoa Đông bằng các biện pháp hòa bình, thông qua đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan.

Ông Nobuo Kishi cũng chỉ trích một đạo luật của Trung Quốc được ban hành vào tháng 2 nhằm cho phép lực lượng bảo vệ bờ biển được sử dụng vũ khí đối với các tàu cá nước ngoài bị coi là xâm phạm trái phép vùng biển nước này.

Theo quan chức quốc phòng Nhật Bản, luật này có những điều khoản không phù hợp với luật pháp quốc tế, chẳng hạn như không rõ ràng về khu vực biển được áp dụng và thẩm quyền được sử dụng vũ khí.

Trung Quốc và Nhật Bản vướng vào trang chấp với một nhóm các đảo ở biển Hoa Đông mà Tokyo gọi là Sensakw, trong khi Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư.

Ở Biển Đông, Trung Quốc có các tuyên bố chủ quyền trái phép với một số đảo và quần đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, đồng thời gây lo ngại bằng cách quân sự hóa các tiền đồn mà họ đã xây dựng ở các khu vực có tranh chấp trên biển.

Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng phản đối mọi hành vi xâm phạm chủ quyền và các quyền liên quan của Việt Nam đối với hai quần đảo này.

Trong buổi họp báo thường kỳ ngày 10/6 của Bộ Ngoại giao diễn ra theo hình thức trực tuyến, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng một lần nữa khẳng định: “Các cơ quan chức năng Việt Nam luôn theo dõi sát mọi hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các vùng biển của Việt Nam tại Biển Đông”.

“Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế“.

„Việt Nam kiên quyết phản đối mọi hành động xâm phạm chủ quyền và các quyền liên quan của Việt Nam đối với quần đảo này. Việt Nam yêu cầu các bên liên quan tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, tôn trọng luật pháp quốc tế, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), không có các hành động làm phức tạp thêm tình hình, có đóng góp thiết thực và tích cực vào việc duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông, cũng như tạo môi trường thuận lợi cho đàm phán Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC)”.

TG&VN

Loading

Views: 0

China und ASEAN versprechen Anstrengungen zur Sicherung des regionalen Friedens

China und der Verband Südostasiatischer Nationen (ASEAN) haben am Dienstag gemeinsame Bemühungen zur Sicherung des regionalen Friedens versprochen.

Vietnams Delegation

Das Versprechen wurde auf dem 12. informellen Treffen der chinesischen und ASEAN-Verteidigungsminister abgegeben, das per Video stattfand. Die Veranstaltung wurde gemeinsam vom chinesischen Staatsrat und Verteidigungsminister Wei Fenghe und dem Zweiten Verteidigungsminister von Brunei, Dato Paduka Seri Haji Awang Halbi bin Haji Mohd Yussof, geleitet.

Brunei hat in diesem Jahr den rotierenden Vorsitz der ASEAN inne.

Wei wies darauf hin, dass dieses Jahr der 30. Jahrestag der China-ASEAN-Dialogpartnerschaft begangen werde, und sagte, dass die Verteidigungsministerien beider Seiten Unterstützung leisten sollten, um die strategische Partnerschaft zwischen China und ASEAN auf ein höheres Niveau zu heben.

China sei bereit, die Zusammenarbeit mit den ASEAN-Ländern im Bereich der nationalen Verteidigung und der militärischen Entwicklung zu verstärken und weiterhin aktiv Impfstoffe und sonstige Materialien zur Bekämpfung der COVID-19-Pandemie bereitzustellen, fügte er hinzu.

Zum Thema Südchinesisches Meer sagte Wei, dass die relevanten Parteien einen Konsens aufbauen, Unterschiede bewältigen und die Zusammenarbeit vorantreiben sollten, um gemeinsam den Frieden und die Stabilität im Südchinesischen Meer zu bewahren.

Die Verteidigungsminister der ASEAN-Staaten lobten die Entwicklung der Beziehungen zwischen der ASEAN und China und würdigten die Unterstützung Chinas bei der Bekämpfung von COVID-19.

Sie drückten die Bereitschaft aus, mit China zusammenzuarbeiten, um Frieden, Stabilität, Wohlstand und Entwicklung in der Region besser zu sichern.

 (gemäß Xinhua)

Loading

Views: 0

Biontech verhandelt mit Curevac über Impfstoff-Produktion

Ein Mitarbeiter im französischen Pharma-Unternehmen Fareva, einem Zulieferer von Curevac. Guillaume Souvant/AFP via Getty Images
  • Das Pharma-Unternehmen Biontech arbeitet daran, dass der Tübinger Konkurrent Curevac seinen Corona-Impfstoff produziert.
  • Nach Informationen von Business Insider laufen entsprechende Verhandlungen seit einem halben Jahr. Biontech will nach Problemen bei Curevac nun erneut Gespräche aufnehmen.
  • Der von Curevac selbst entwickelte Corona-Impfstoff hatte in einer Studie nur eine geringe Wirksamkeit erzielt. Das Unternehmen will dennoch an ihm festhalten.

Von der Impfstoff-Hoffnung zur Impfstoff-Enttäuschung: Der Corona-Impfstoff des Tübinger Pharmaunternehmens Curevac zeigt nach aktuellem Studienstand nur eine Wirksamkeit von 47 Prozent — zu wenig, um in der europäischen Impfkampagne von Nutzen zu sein.

Das Unternehmen will dennoch an seinem Impfstoff festhalten und ihn zur Zulassung bringen. Der Leiter der Impfstoff-Studie, Peter Kremsner, sagte dem Radiosender Bayern 2 am Freitag: „Es wird möglich sein, den Impfstoff so aufzubereiten, dass er sehr wirksam sein kann.“ Auch Curevac-Chef Franz-Werner Haas hält an der Produktion des eigenen Impfstoffs fest.

Dabei gäbe es eine Alternative.

Nach Informationen von Business Insider hat der Impfstoff-Hersteller Biontech großes Interesse daran, dass Curevac das von Biontech entwickelte Vakzin gegen das Coronavirus produziert. Die Verhandlungen über eine entsprechende Kooperation laufen seit sechs Monaten; Biontech will zeitnah einen neuen Anlauf bei Curevac unternehmen.

Käme eine Zusammenarbeit von Biontech und Curevac zustande, würde das die Produktionskapazitäten für den Biontech-Impfstoff deutlich erhöhen — zumal Curevac bereits eine Kooperation mit Pharma-Gigant Bayer eingegangen ist, um seinen Corona-Impfstoff herzustellen.

Tatsächlich hatte Curevac-Chef Haas Ende vergangenen Jahres erklärt, dass sein Unternehmen bereit sei, für Biontech zu produzieren, falls die Entwicklung eines eigenen Corona-Impfstoffs keinen Erfolg habe. Haas aktuelle Aussagen lassen jedoch vermuten: Curevac sieht diesen Punkt — trotz der negativen Studienergebnisse seines Impfstoffs — noch nicht gekommen. Ob sich das Unternehmen eine Zusammenarbeit mit Biontech aktuell vorstellen kann, ist unklar: Ein Curevac-Sprecher ließ eine Anfrage von Business Insider unbeantwortet.

businessinsider.de

Loading

Views: 0