Sau bảy ngày thực hiện vụ phóng tên lửa siêu thanh, hôm 11/1 Triều Tiên lại bất ngờ tiến hành phóng tên lửa lần thứ hai. Có một điều đáng ngạc nhiên, tên lửa phóng lúc14 giờ 27 phút (giờ PST), thì gần như trùng khít thời gian đó, Cục Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) đột ngột ra lệnh dừng mọi chuyến bay, ít nhất là ở phía Tây của Mỹ.
Mệnh lệnh này kéo dài khoảng 7-20 phút trước khi được dỡ bỏ. Tại sao FAA lại ra lệnh này? Có phải họ đã nắm được thông tin tình báo về vụ phóng của Bình Nhưỡng? Và nếu đúng như vậy thì thật là nguy hiểm khi bí mật quân sự bị rò dỉ. Hay đã có sự bắt tay ngầm giữa hai bên (!)
Hãng thông tấn Trung ương Triều Tiên (KCNA) ngày 12/1 đã công bố loạt ảnh về vụ phóng tên lửa lần thứ hai. Tên lửa này có khả năng “bay nhanh gấp 10 lần vận tốc âm thanh”. Đợt thử nghiệm được tiến hành dưới sự giám sát của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un. Có vẻ như ông muốn thể hiện quan điểm thực hiện đúng cam kết củng cố sức mạnh quân sự bằng công nghệ tiên tiến.
Tại Mỹ, theo tiết lộ của một phi công vừa thực hiện hành trình bay đến thành phố Yuma, bang Arizona: thông báo của FAA giống như “lệnh dừng bay toàn quốc”. Có một số phi công còn nhận được lệnh hạ cánh càng sớm càng tốt, với lý do rất mơ hồ: vì “một sự kiện liên quan đến an ninh quốc gia”. Quả thật, nếu họ không cho máy bay hạ cánh theo mệnh lệnh khẩn cấp mà cứ nhằm hướng tây di chuyển thì không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra?
Liệu động thái của FAA có liên quan đến vụ phóng tên lửa siêu thanh của Triều Tiên? Vì sao thời điểm ban bố mệnh lệnh (14 giờ 30 phút) gần trùng khít với thời gian Triều Tiên phóng tên lửa? Đây là bí mật chưa được giải mã.
Theo quy định, Bộ chỉ huy Chiến lược Mỹ sẽ thực hiện các giao thức khẩn cấp khi nhận được báo cáo về một vụ phóng tên lửa tiềm tàng. Đó là một khoảng thời gian rất ngắn để quyết định sẽ phản ứng như thế nào và cảnh báo cho ai.
Nhân sự trùng hợp bí ẩn này, chúng ta lần trở lại mối quan hệ phức tạp Mỹ-Triều trong ngững năm gần đây. Sau nhiều cuộc gặp thượng đỉnh không tìm ra tiếng nói chung, không có bất kỳ thỏa thuận nào được ký kết. Triều Tiên cảnh báo, Mỹ sẽ phải đối mặt với “tình huống rất nghiêm trọng”. Tình huống đấy là một sự đe dọa ngang ngược đối với “người khổng lồ” đang đứng ở vị trí số một thế giới.
Bình Nhưỡng còn phê phán, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã phạm sai lầm coi Triều Tiên là “mối đe dọa an ninh lớn”. Ông Biden không giấu diếm khi hé lộ, sẽ tiếp tục duy trì chính sách thù địch chống lại Bình Nhưỡng. Hành xử “diều hâu” như thế buộc Triều Tiên phải thúc đẩy các biện pháp tương ứng.
Đáp lại, Nhà Trắng thông báo, các quan chức chính quyền Mỹ đã hoàn thành việc đánh giá chính sách đối với Triều Tiên. Tổng thống Joe Biden có kế hoạch thay đổi cách tiếp cận so với hai hai vị tiền nhiệm gần đây nhất nhằm ngăn chặn chương trình hạt nhân của Triều Tiên. Chính quyền Tổng thống Joe Biden sẽ kết hợp cân bằng “chính sách răn đe” của cựu Tổng thống Donald Trump và “sự kiên nhẫn chiến lược” của cựu Tổng thống Barack Obama.
Mới đây Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken khẳng định: “Tổng thống Joe Biden có kế hoạch hoàn thành việc xem xét chính sách Triều Tiên trên cơ sở sự phối hợp chặt chẽ và tham vấn với Hàn Quốc, Nhật Bản và những đối tác quan trọng khác, bao gồm cả các lựa chọn gây sức ép và tiềm năng ngoại giao trong tương lai. Mục tiêu của chính sách này rất rõ ràng. Đó là quyết tâm phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên, giảm thiểu mối nguy cơ rộng lớn hơn với Mỹ và các đồng minh”.
Sau hàng loạt vụ thử hạt nhân và tên lửa vào những năm 2016-2017, ông Kim Jong Un đã có ba lần gặp gỡ cấp cao với cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump để thảo luận về tương lai kho vũ khí hạt nhân của Triều Tiên. Tuy nhiên, tiến trình ngoại giao này đã lâm vào bế tắc trong suốt bốn năm qua, do những khác biệt liên quan tới việc dỡ bỏ trừng phạt để đổi lấy các bước phi hạt nhân hóa của Triều Tiên.
Nếu có các cuộc gặp gỡ tiếp theo, xuất phát điểm của các cuộc thảo luận vẫn sẽ là Triều Tiên ngừng thử nghiệm và phát triển năng lực hạt nhân. Nếu Triều Tiên né tránh ngoại giao và lựa chọn các cuộc thử nghiệm mang tính khiêu khích, Mỹ có thể mở rộng thực thi các biện pháp trừng phạt và tăng cường tập trận với đồng minh.
Cả hai bên cùng không chịu lùi thì quan hệ Mỹ – Triều Tiên sẽ trở lại bên bờ vực của những năm 2016-2017.
Trong lúc rất khó tìm ra tiếng nói chung càng khó lý giải cho sự trùng hợp kỳ lạ, tạm gọi là “sự kiện 14 giờ trưa 11/1”. Liệu có sự thỏa thuận ngầm nào đó giữa lực lượng thừa hành của Washington và Bình Nhưỡng? Nếu vậy, biết đâu chẳng là dấu hiệu tích cực cho giải pháp hòa bình trên bán đảo Triều Tiên?
Bầu cử giữa kỳ tại Mỹ, bầu cử tại Pháp, Australia, Hàn Quốc, Philippines, Brazil, Colombia, Hungary, Angola và Kenia là những cuộc bầu cử đáng quan tâm trên thế giới trong năm 2022.
Hiện không loại trừ khả năng cuộc bầu cử ngày 8/11/2022 sẽ chứng kiến sự đổi chủ của ít nhất một viện, thậm chí là lưỡng viện Mỹ. Lịch sử cho thấy các cuộc bầu cử giữa kỳ thường mang lại kết quả không tốt cho đảng cầm quyền, đặc biệt là tại Hạ viện.
Trong 7 thập niên qua, đảng của Tổng thống đương nhiệm thường đánh mất trung bình 20 ghế tại bầu cử giữa kỳ, thậm chí lớn hơn trong một vài trường hợp. Năm 2010, đảng Dân chủ mất tới 63 ghế sau cuộc bầu cử giữa kỳ tại Hạ viện. Điều chỉnh về mặt địa chính của các quận từ năm 2020 cũng tạo ưu thế nhất định cho đảng Cộng hòa.
Hiện đảng Dân chủ đang nắm quyền tại Hạ viện với 8 ghế nhiều hơn. Tuy nhiên, ngay cả khi vượt lên xu thế của lịch sử trong bầu cử giữa kỳ, đảng này vẫn có thể đánh mất quyền kiểm soát Hạ viện. Các cuộc đua giả định mới đây đã cho thấy các ứng viên đảng Cộng hòa đang có lợi thế tới 10 điểm so với đối thủ ở đảng Dân chủ.
Tại Thượng viện, cuộc chiến sẽ có phần cam go hơn, khi 20/34 ghế tranh cử thuộc về phe Cộng hòa và không có ghế của phe Dân chủ nằm ở các bang ông Donald Trump từng thắng năm 2020. Tuy nhiên, sự phân hóa nội bộ giữa phe trung dung và phe cấp tiến của đảng Dân chủ, cùng tỷ lệ ủng hộ thấp của Tổng thống Joe Biden sẽ tác động đáng kể tới cơ hội chiến thắng của các ứng viên đảng này tại Thượng viện.
Nếu đảng Cộng hòa kiểm soát một viện, sự phân hóa quan điểm về chính sách sẽ trở lại, gây nên tình trạng bế tắc sâu sắc hơn trước cho tới năm 2024. Đó là chưa kể tới viễn cảnh Hạ viện đảng Cộng hòa bổ nhiệm ông Donald Trump làm Chủ tịch Hạ viện, do Hiến pháp Mỹ không yêu cầu Chủ tịch Hạ viện phải là thành viên Hạ viện.
Người Pháp nhiều khả năng sẽ có hai cơ hội để lựa chọn Tổng thống trong năm 2022. Nếu không ứng cử viên nào đạt đủ đa số trong vòng đầu ngày 10/4, hai ứng cử viên có nhiều số phiếu nhất sẽ đối đầu trực tiếp ở vòng tiếp theo hai tuần sau đó.
Đương kim Tổng thống Pháp Emmanuel Macron của đảng trung dung Tiến bước! dự kiến sẽ tham gia tranh cử để tiếp tục nắm quyền, dù ông vẫn chưa chính thức công bố. Ông từng đánh bại ứng cử viên đảng cực hữu Marine Le Pen để chiến thắng trong vòng thứ hai của cuộc bỏ phiếu vào năm 2017. Giờ đây, lợi thế một lần nữa đang nghiêng về đương kim Tổng thống khi tỷ lệ ủng hộ ông vài tháng qua đã đạt mức hơn 40%, tương đối cao so với các nhà lãnh đạo Pháp khác cuối nhiệm kỳ.
Trong khi đó, sau thất bại năm 2017, bà Le Pen, người có lập trường chống Liên minh châu Âu (EU), đã trở lại cuộc đua. Tuy nhiên, chính trị gia này sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ nhà báo thiên hướng cực hữu Eric Zemmour, hay “Donald Trump của nước Pháp” và bà Valérie Pécresse, ứng cử viên của Đảng Cộng hòa Pháp bảo thủ, cựu Bộ trưởng Ngân sách.
Khảo sát hiện nay cho thấy ông Macron nhận được 25% số phiếu ủng hộ, trong khi bà Le Pen, bà Pécresse và ông Zemmour ở mức 15%. Các ứng viên còn lại từ các đảng truyền thống, đặc biệt là đảng Xã hội, chỉ có tỷ lệ ủng hộ chưa đầy hai con số.
Với nhiều người, cuộc bầu cử ngày 9/5 tại Philippines chẳng khác nào kịch bản hoàn hảo cho những bộ phim truyền hình dài tập gay cấn ở Mỹ.
Theo Hiến pháp nước này, Tổng thống chỉ có thể đảm đương một nhiệm kỳ 5 năm duy nhất và không thể tái cử. Năm qua, ông Duterte đã nhiều lần đề cập việc từ giã chính trường, song đã đột ngột chuyển hướng khi quyết định tranh cử Thượng viện. Có nhiều đồn đoán cho rằng ông muốn dọn đường cho con gái Sara Duterte tranh cử Tổng thống và qua đó, ông có thể trở thành phó tướng. Tuy nhiên, đến phút cuối, bà Sara đã lựa chọn phương án an toàn khi chỉ tuyên bố theo đuổi vị trí Phó Tổng thống.
Tuy nhiên, hậu thuẫn chính trị vững chắc từ người cha quyền lực khiến bà nhanh chóng được mời gọi tham gia chiến dịch tranh cử của ứng cử viên Tổng thống phe đối lập, ông Ferdinand Marcos Jr., con trai của nhà lãnh đạo Ferdinand Marcos Sr.
Liên minh chính trị kỳ lạ này được cho là sẽ tiếp tục khuynh đảo Manila thời gian tới, dù đối thủ của họ có là Thượng nghị sĩ, cựu vô địch quyền Anh thế giới Manny Pacquiao, Thị trưởng Manila Isko Moreno hay Thượng nghị sĩ Panfilo Lacson. Khảo sát mới đây cho thấy gần 70% cử tri được hỏi ủng hộ ông Marcos, trong khi con số này dành cho người đứng thứ hai chỉ vỏn vẹn 11%.
Chờ đợi người kế nhiệm ông Duterte sẽ là hàng loạt thách thức sống còn với quốc gia Đông Nam Á này như dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng chậm của nền kinh tế, đói nghèo và bất bình đẳng gia tăng, hay lập trường quyết liệt của Trung Quốc về Biển Đông.
Hiến pháp Hàn Quốc quy định Tổng thống có một nhiệm kỳ duy nhất kéo dài 5 năm. Như vậy, thời gian cầm quyền của ông Moon Jae-in sẽ kết thúc vào tháng 5 năm nay, song nhân vật thay thế ông sẽ chỉ lộ diện trong 2 tháng tới.
Ông Moon rời nhiệm sở trong bối cảnh tỷ lệ ủng hộ đang có chiều hướng suy giảm. Đảng trung tả cầm quyền Đảng Dân chủ Hàn Quốc (DPK) đã thất bại, trước Đảng Quyền lực Nhân dân (PPP) bảo thủ trong bầu cử thị trưởng tại Seoul và Busan, hai thành phố lớn và quan trọng nhất của Hàn Quốc. Uy tín của DPK đã chịu ảnh hưởng nghiêm trọng khi không thể hoàn thành lời hứa như xây dựng lại quan hệ liên Triều hay ổn định giá nhà cửa, vốn đã tăng tới 58% kể từ khi ông Moon lên nắm quyền.
Trong bối cảnh đó, người được DPK lựa chọn tranh cử năm 2022 là ông Lee Jae-myung, một luật sư dân sự, cựu Thống đốc tỉnh Gyeonggi với ưu tiên về giải quyết vấn đề xã hội như cam kết thiết lập hệ thống thu nhập cơ bản hay cung cấp 1 triệu nhà ở giá rẻ cho người thu nhập thấp. Về chính sách đối ngoại, ông nhận mình là người “thực dụng” và sẵn sàng hợp tác với bất kỳ ai, dù đó là Mỹ hay Trung Quốc.
Đối thủ của ông Lee là cựu công tố viên Yoon Seok-youl của PPP, người từng khiến truy tố một Bộ trưởng dưới quyền ông Moon tham nhũng. Ông cho rằng mình là người “thực dụng” và gọi đối thủ là “dân túy”. Tuy nhiên, chính trị gia này có quan điểm đối ngoại ít nhiều tương đồng với ông Moon và từng kêu gọi “đẩy nhanh quá trình triển khai tên lửa hạt nhân của Mỹ tại Hàn Quốc phòng trường hợp khẩn cấp”.
Dù vậy, như thường lệ, các vấn đề đối nội được cho là sẽ định đoạt kết quả của cuộc bầu cử lần này. Hiện ông Yoon đang có lợi thế, dù là không nhiều, trước ông Lee.
Theo Hiến pháp Australia, bầu cử Quốc hội sẽ diễn ra muộn nhất là vào ngày 21/5. Cử tri sẽ tham gia bỏ phiếu bình chọn 151 ghế tại Hạ viện và 40/76 ghế tại Thượng viện. Hiện lãnh đạo đảng Tự do trung hữu, Thủ tướng Scott Morrison vẫn chưa đề cập cụ thể.
Tuy nhiên, nhiều khả năng các cuộc bỏ phiếu sẽ diễn ra vào mùa Xuân. Australia chưa bao giờ tổ chức bầu cử toàn quốc vào tháng 1 và tháng 2. Luật pháp nước này cũng quy định chính phủ cần dành từ 33 – 58 ngày cho hoạt động vận động tranh cử.
Hiện liên minh Tự do – Quốc gia cầm quyền đang kỳ vọng sẽ chiến thắng nhiệm kỳ thứ 4 liên tiếp. Trong khi đó, Công đảng của ông Anthony Albanese mong muốn nắm quyền sau gần 10 năm trắng tay. Hy vọng của Công đảng là có cơ sở, khi liên minh cầm quyền đang chịu nhiều chỉ trích do chính sách tiêm chủng thiếu hiệu hiệu quả. Tỷ lệ ủng hộ ông Morrison rơi xuống mức kỷ lục từ tháng 3/2020, khi Canberra phản ứng chậm trước các đám cháy rừng, gây nên “mùa hè đen”. Giới theo dõi cho rằng biến đổi khí hậu sẽ là lĩnh vực quan trọng với cả hai phe trong bầu cử lần này.
Cử tri Brazil sẽ bầu Tổng thống, Phó Tổng thống và Quốc hội tháng 10 tới.
Ông Jair Bolsonaro được cho là sẽ sớm khởi động chiến dịch tranh cử nhiệm kỳ thứ hai. Năm 2019, ông đã rời khỏi đảng phái chính trị đưa mình đến chiếc ghế quyền lực. Tuy nhiên, do Hiến pháp Brazil quy định ứng viên Tổng thống phải là người của một đảng phái chính trị, hồi tháng trước, ông đã gia nhập đảng Tự do trung dung.
Dù vậy, điều này không có nghĩa rằng lập trường của ông về các vấn đề lớn có sự thay đổi. Trong nhiệm kỳ vừa qua, ông Jair Bolsonaro đã chứng kiến sự bùng phát của đại dịch Covid-19, khiến ít nhất 620.000 người thiệt mạng, đồng thời bị các nhà bảo vệ môi trường cáo buộc có động thái ủng hộ việc phá hoại rừng rậm Amazon.
Đối thủ của ông Jair Bolsonaro sẽ là cựu Tổng thống Luiz Inacio Lula da Silva, người từng bị truy tố vì tham nhũng năm 2017. Tuy nhiên, sau đó hầu hết các cáo buộc chống lại ông đều đã được bãi bỏ.
Các khảo sát mới đây cho thấy ông Lula đang dẫn điểm. Tuy nhiên, tỷ lệ ủng hộ ông Bolsonaro đã tăng trưởng lại sau khi ông ủng hộ đề xuất tăng hỗ trợ tiền mặt cho người nghèo, dù điều này có thể tổn hại nghiêm trọng, thậm chí gây vỡ nợ ngân sách quốc gia.
Ông cũng lên tiếng chỉ trích hệ thống bỏ phiếu điện tử của Brazil thiếu minh bạch dù không có bằng chứng và khẳng định chỉ có ba kết quả cho tương lai của mình sau cuộc bầu cử lần này: bị bắt giữ, bị ám sát hoặc tái cử nhiệm kỳ thứ hai.
Năm 2022 sẽ là quãng thời gian bận rộn với cử tri Colombia khi họ sẽ phải bỏ phiếu bầu Quốc hội và Tổng thống kế nhiệm. Bầu cử Quốc hội sẽ diễn ra tháng 3, nơi các cử tri sẽ bỏ phiếu bầu 166 Hạ nghị sĩ và 102 Thượng nghị sĩ.
Bên cạnh đó là “tham vấn trong đảng”, nhằm chọn ứng viên Tổng thống trong nội bộ các đảng. Theo dự kiến, sẽ có ba cuộc tham vấn nhằm chọn ứng cử viên đại diện cho ba trường phái chính trị khác nhau – thiên tả, thiên hữu và trung dung. Vào tháng 5 sẽ diễn ra vòng đầu tiên của bầu cử tổng thống. Nếu không có người đạt đủ đa số, các ứng cử viên sẽ tham gia vòng tiếp theo, dự kiến vào một tháng sau đó.
Hiến pháp Colombia quy định Tổng thống chỉ có nhiệm kỳ 5 năm duy nhất. Do đó, ông Ivan Duque phải kết thúc thời gian cầm quyền vào tháng 6 tới. Tuy nhiên, với người kế nhiệm ông, đó sẽ là khởi đầu cho hàng loạt thách thức như tỷ lệ thất nghiệp cao, bất bình đẳng gia tăng và phân hóa chính trị ngày một rõ nét.
Hiện ứng cử viên số một trong cuộc bầu cử tới là Thượng nghị sĩ Gustavo Petro, cựu du kích chống chế độ Pinochet và từng về nhì sau ông Duque năm 2017. Ông đang có tỷ lệ ủng hộ nhỉnh hơn các ứng viên khác như cựu Thống đốc Sergio Fajardo, cựu Thượng nghị sĩ Juan Manuel Galán, cựu Bộ trưởng Y tế Alejandro Gaviria, cựu Thị trưởng Federico Gutierrez hay doanh nhân Rodolfo Hernández.
Bầu cử Hạ viện Hungary tháng 4/2022 cũng là một sự kiện đặc biệt và dự kiến sẽ tác động đáng kể tới số phận của đất nước Đông Âu nói chung và châu Âu nói riêng.
Kể từ khi cầm quyền từ năm 2010, Thủ tướng Viktor Orban của đảng cực hữu Fidesz đã khiến Liên minh châu Âu (EU) nhiều phen bối rối. Một mặt, ông muốn Hungary duy trì tư cách thành viên của EU. Mặt khác, ông tiếp tục chỉ trích khối này vì “xâm phạm” chủ quyền của Hungary. Thủ tướng Orban cũng đối mặt với sự phản đối từ các nhà hoạt động về vấn đề người di cư, cũng như từ cộng đồng người LGBTQ+.
Tuy nhiên, mọi chuyện có thể thay đổi năm 2022 khi lần đầu tiên sau gần một thập niên, ông sẽ phải đối mặt với thử thách thực sự. Sáu đảng đối lập đã nhất trí hợp lực dưới đảng Phong trào vì một Hungary cho tất cả (MMM) để hạ bệ ông Orban. Người được lựa chọn là ông Peter Marki-Zay, chính trị gia trung hữu và Thị trưởng thị trấn Hodmezovasarhely ở Đông Nam Hungary. Hiện ông Fidesz đang có lợi thế dẫn trước ứng viên MMM 2 điểm, song khoảng cách này có thể bị san lấp bất cứ lúc nào.
Ngoài ra, bên cạnh việc bổ nhiệm 199 nghị sĩ quốc hội và theo đó là Thủ tướng, cử tri Hungary cũng bỏ phiếu 4 cuộc trưng cầu ý dân về giảng dạy các vấn đề liên quan đồng giới và chuyển giới trong nhà trường. Thái độ cử tri với đề xuất được ông Orban ủng hộ sẽ quyết định thành bại của chính trị gia này tại cuộc bầu cử trong 3 tháng tới.
Cuộc bầu cử vào tháng 8/2022 tới là lần thứ hai cử tri nước này thực hiện quyền công dân sau khi cựu Tổng thống José Eduardo dos Santos từ giã chính trường năm 2017 sau 38 năm cầm quyền với tư cách lãnh đạo đảng Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola (MPLA). Người kế nhiệm ông dos Santos, đương kim Tổng thống João Lourenço, sẽ tham gia tranh cử để kéo dài thời gian cầm quyền của mình.
Theo Hiến pháp Angola, Chủ tịch đảng có nhiều phiếu nhất tại Quốc hội sẽ là Tổng thống. Đảng MPLA đã nắm quyền kể từ khi Angola giành độc lập năm 1975. Đảng Đảng Liên minh quốc gia vì nền độc lập hoàn toàn của Angola (UNITA), lực lượng đối lập lớn nhất, đang mong muốn chấm dứt điều này khi bắt tay với hai đảng khác để thành lập Mặt trận Ái quốc, liên minh “của những người Angola mong muốn thay đổi”. Ứng cử viên của họ sẽ là ông Adalberto Costa Júnior, Chủ tịch đảng UNITA.
Tuy nhiên, ông Lourenço chắc chắn sẽ không phải là một đối thủ dễ dàng cho ông Costa Júnior. Với cam kết chống tham nhũng và giảm đói nghèo, đương kim Tổng thống từng mạnh tay giải quyết nhiều vụ án nghiêm trọng dính líu nhiều quan chức cấp cao, thậm chí là các thành viên gia đình ông dos Santos.
Tuy nhiên, Angola vẫn chìm trong suy thoái kéo dài, với nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ. Phe đối lập cũng cho rằng ông Lourenço muốn thay đổi Hiến pháp để có thể dễ dàng giành chiến thắng trong bầu cử tới. Đây là điểm yếu phe đối lập có thể khai thác, hướng tới chấm dứt gần 50 năm cầm quyền của MPLA.
Cử tri Kenya sẽ bầu Quốc hội và Tổng thống mới năm 2022. Đương kim Tổng thống Uhuru Kenyatta đã cầm quyền đủ hai nhiệm kỳ và không thể tiếp tục tham gia tranh cử. Do đó, Phó Tổng thống William Ruto, thành viên đảng cầm quyền Jubilee, đã tham gia tranh cử và được cho là người sẽ kế nhiệm ông Kenyatta. Tuy nhiên, hai nhân vật này lại bất đồng quan điểm trong nỗ lực hàn gắn chia rẽ sắc tộc tại Kenya.
Kể từ khi mô hình đa đảng xuất hiện năm 1992, xuất thân và sắc tộc, thay vì ý thức hệ đã định đoạt nền chính trị tại đất nước này. Năm 2017, bạo lực sắc tộc nghiêm trọng từng khiến chính phủ phải tổ chức lại cuộc bầu cử Tổng thống. Sau cuộc bầu cử đó, ông Kenyatta đã làm hòa với đối thủ chính trị Raila Odinga, thành viên của cộng đồng người Luo, đồng thời đề xuất thay đổi Hiến pháp nhằm tăng cường chia sẻ quyền lực giữa các nhóm sắc tộc đối lập. Tuy nhiên, mới đây, Tòa án tối cao Kenya đã phủ quyết đề xuất trưng cầu ý dân để thay đổi Hiến pháp của ông Kenyatta.
Thêm vào đó, đầu tháng 1/2022, đương kim Tổng thống từng cho rằng các lãnh đạo của Kenya luôn là người của tộc Kikuyu hoặc Kalenjin và khẳng định “đã đến lúc các sắc tộc khác tham gia vào quá trình lãnh đạo”. Tuyên bố này khác hẳn với thỏa thuận của ông Kenyatta 8 năm về trước, khi ông được cho là đã cam kết ủng hộ ông Ruto, người Kalenjin, trở thành Tổng thống Kenya sau khi hoàn thành hai nhiệm kỳ.
Theo khảo sát mới nhất, ông Ruto đang dẫn ông Odinga 15 điểm. Người kế nhiệm ông Kenyatta sẽ gặp thách thức để khôi phục sự ổn định cho đất nước: Khảo sát tháng 11/2021 cho thấy chỉ 19% người tin rằng Kenya đang phát triển đúng hướng.
Bãi Cát, Đá Ngầm, Và Thung Lũng Ngầm Dưới Biển: Những Tuyên Bố Chủ Quyền Mới Của Trung Quốc Ở Biển Đông
Vào khi những căng thẳng đang gia tăng ở Biển Đông, Trung Quốc mới đây đã đặt tên và tuyên bố chủ quyền đối với 80 thực thể địa lý không rõ ràng ở vùng nước tranh chấp cùng lúc với việc Bắc Kinh đẩy mạnh chiến dịch lấn lướt của mình nhằm đánh dấu chủ quyền và đẩy các quốc gia khác cũng đòi chủ quyền ở vùng biển này ra ngoài.
Sử dụng hình ảnh vệ tinh và phần mềm vẽ bản đồ, nghiên cứu những tuyên bố chủ quyền được Trung Quốc công bố hồi tháng 4 năm 2020 và thấy rằng những thực thể này bao gồm các đá, bãi cát, và các bãi đá nhỏ nằm rải rác ngoài khơi của Việt Nam, xung quanh vùng quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp, và quần đảo Trường Sa nơi 6 quốc gia trong khu vực đang đòi chủ quyền. Phần lớn trong số 80 thực thể này hoàn toàn nằm dưới mực nước biển. Không có thực thể nào trong số này đủ tiêu chuẩn để gọi là đảo dù Trung Quốc một mực khẳng định là đảo.
Vậy tại sao vào lúc này Trung Quốc lại đưa thêm các đòi hỏi mới, bao phủ cả những phần không rõ ràng ở đáy biển? Ông Greg Poling, Giám đốc Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á thuộc Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ở Washington DC, cho rằng câu trả lời hết sức đơn giản. Đó là: chủ nghĩa dân tộc.
“Khi Trung Quốc đối mặt với những chỉ trích về phản ứng của nước này với dịch bệnh COVID-19, bao gồm cả những bất bình liên quan đến những hành động tiếp diễn và sự lấn lướt ở Biển Đông vào giữa khi có đại dịch, Bắc Kinh đã đẩy mạnh thêm chủ nghĩa dân tộc huyênh hoang của mình”, ông Poling nói.
“Việc này có thể giúp ích trong nội địa Trung Quốc. Tuy nhiên về mặt quốc tế, bước đi này chỉ soi rọi thêm ánh sáng vào bản chất tạm thời và mới của Trung Quốc đối với những đòi hỏi về chủ quyền từ xưa của Trung Quốc ở Biển Đông” – Greg Poling.
Trong danh sách công bố mới nhất, Trung Quốc giờ đây đòi chủ quyền đối với hơn 300 thực thể nổi và chìm dưới mực nước biển ở Biển Đông. Các chuyên gia cảnh báo việc ồ ạt tuyên bố chủ quyền này của Trung Quốc đang gây khó khăn cho những đàm phán giữa Trung Quốc và ASEAN về Bộ Quy tắc về ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (COC) vào khi Việt Nam, Malaysia, Philippines và Indonesia đang có những động thái chống lại lập trường của Bắc Kinh đối với khu vực giàu tài nguyên này.
Tuần qua, Nhật Bản và Úc đã ký kết Thỏa thuận tiếp cận đối ứng cho phép lực lượng quân sự hai bên có thể tiếp cận cơ sở của nhau. Đây là thỏa thuận rất quan trọng đối với an ninh của cả Tokyo lẫn Canberra.
Lãnh đạo Nhật, Úc tại buổi ký kết thỏa thuận hợp tác quốc phòngĐầu tiên, thỏa thuận giúp gắn Mỹ vào mạng lưới an ninh hợp tác của khu vực, song hành cùng việc Nhật và Úc đang nỗ lực để đảm bảo các lợi ích chiến lược của riêng từng nước, bởi Washington cũng đã có các thỏa thuận tương tự với Tokyo và Canberra.
Thứ hai, thỏa thuận trên giúp tăng cường sự hợp tác mà Nhật Bản và Úc có cùng lợi ích. Bởi Nhật Bản có thể gửi lực lượng phòng vệ tham gia các cuộc huấn luyện chung với Úc, cũng như Mỹ và ngược lại.
Thứ ba, thỏa thuận truyền đi thông điệp mạnh mẽ rằng hai nước có thể hợp tác cùng nhau trong các lĩnh vực ưu tiên chiến lược, bao gồm khu vực Đông Nam Á.
Có lẽ, thỏa thuận trên xuất phát từ thực tế Úc và Nhật cũng như nhiều nước trong khu vực đều lo ngại chiến lược vùng xám mà Trung Quốc đang thực thi ở Biển Đông, biển Hoa Đông, cũng như việc Bắc Kinh tăng cường sức ép quân sự ở eo biển Đài Loan.
Qua theo dõi thực tế từ 5 – 10 năm qua khi Trung Quốc xây dựng và quân sự hóa các thực thể nhân tạo ở Biển Đông, mối lo ngại càng trở nên rõ ràng hơn về việc Bắc Kinh đang muốn phân định lại trật tự khu vực. Vì thế, việc Nhật và Úc đạt thỏa thuận trên, cũng như hợp tác trong khu vực Đông Nam Á nói chung giúp củng cố và tăng cường quyền tự chủ chiến lược của các nước trong khu vực đó. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định, hòa bình của khu vực trong tương lai.
Những món quà Tết được cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức,… gửi gắm đến những cán bộ, chiến sỹ đang ngày đêm làm nhiệm vụ bảo vệ các ‚cột mốc chủ quyền‘ trên vùng biển phía Nam của Tổ quốc.
Chuyển quà Tết lên tàu Trường Sa 19. (Nguồn: TTXVN)
Sáng 8/1, tại Quân cảng Lữ đoàn 171 (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân tổ chức lễ tiễn các Đoàn công tác đi thăm, động viên, chúc Tết cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại các Nhà giàn DK1 ở thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.
Trên bến cảng, sắc xuân ngập tràn khắp nơi, lòng người rộn ràng chờ đón. Không khí Tết cổ truyền như đến sớm trên bến cảng của Lữ đoàn 171.
Bên cạnh những hàng hóa thiết yếu, thực phẩm là những cành mai, cành đào, chậu quất khoe sắc được những người lính Hải quân cẩn thận vận chuyển lên tàu Trường Sa 10 và Trường Sa 19.
Đây là những món quà Tết được cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức,… gửi gắm đến những cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm làm nhiệm vụ bảo vệ các „cột mốc chủ quyền“ trên vùng biển phía Nam của Tổ quốc, góp phần chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cán bộ, chiến sĩ trong những ngày Tết trên biển.
Gần 10 năm qua, Đại úy Nguyễn Phúc Trường, tàu Trường Sa 19, Lữ đoàn 125, Vùng 2 Hải quân đã nhiều lần vượt những con sóng lớn, mang hương vị mùa xuân từ đất liền ra biển cả.
Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, năm nay không có người thân đến tiễn anh đi làm nhiệm vụ. Gác lại những nỗi niềm riêng, Đại úy Nguyễn Phúc Trường quyết tâm mang quà Tết trao đến tận tay cán bộ, chiến sĩ Nhà giàn DK1, quân và dân huyện Côn Đảo. Bởi anh hiểu rằng, những khó khăn của mình không thấm thía gì so với đồng đội nơi „đầu sóng, ngọn gió“.
„Do điều kiện thời tiết sóng to, gió lớn mùa này nên cán bộ, chiến sĩ tàu phải có sự chuẩn bị rất chu đáo. Về hàng hóa, chúng tôi đóng gói rất cẩn thận, về hàng tươi sống thì đã chằng buộc ở những nơi kín gió, bảo đảm an toàn, mang ra các Nhà giàn DK1 và tàu trực, trạm gác được đảm bảo, đầy đủ để cán bộ, chiến sĩ đón một mùa xuân ấm áp, vui vẻ”, Đại úy Nguyễn Phúc Trường chia sẻ.
Do đại dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp, Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân đã triển khai công tác chuẩn bị mang hàng Tết ra các Nhà giàn DK1, các tàu trực, trạm gác vừa đảm bảo đủ đầy các loại hàng hóa thiết yếu, quà tặng từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp,… nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ, đúng quy trình để người lính nhà giàn đón xuân an toàn, đoàn kết, tiết kiệm, vui vẻ và không có dịch trên nhà giàn và các tàu trực.
Đại tá Đặng Mạnh Hùng, Phó Chính ủy Vùng 2 Hải quân cho biết, chuyến chúc Tết năm nay khác mọi năm đó là công tác chuẩn bị. Bộ Tư lệnh Vùng đã tổ chức cách ly cán bộ, chiến sĩ hai tàu và các phóng viên đi thăm, động viên bộ đội đúng thời gian quy định.
Trước khi xuống tàu, tất cả các lực lượng này đều được test, đảm bảo âm tính với Covid-19. Trong khi đó, lượng hàng hóa đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, được kiểm tra về chất lượng, số lượng, tiêu chuẩn chế độ.
Đặc biệt, đối với quà tặng của các tỉnh, doanh nghiệp, cá nhân cũng được xịt khử khuẩn trước khi đưa quà xuống tàu ra đến Nhà giàn để tránh nguy cơ lây nhiễm cho các cán bộ, chiến sĩ.
Những phần quà Tết từ khắp nơi được gửi gắm theo Đoàn công tác Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân đến các Nhà giàn DK1, tàu trực, trạm gác sẽ là nguồn động viên tình thần vô cùng ý nghĩa dịp „Tết đến, Xuân về“ đối với các cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ „nơi đầu sóng, ngọn gió“.
Tiễn Đoàn công tác và các phóng viên các cơ quan báo chí tham gia hành trình, Đại tá Lê Bá Quân, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Vùng 2 Hải quân chúc hai Đoàn công tác hải trình an toàn, thuận buồm xuôi gió mang hương vị Tết của đất liền ra biển đến với các cán bộ, chiến sĩ ngoài Nhà giàn DK1.
Dịp này, chương trình „Một triệu lá cờ Tổ quốc cùng ngư dân bám biển“ do Báo Người Lao động phát động đã gửi tặng Vùng 2 Hải quân 5.000 lá cờ Tổ quốc. Những lá cờ Tổ quốc sẽ được đoàn công tác trao tận tay cán bộ, chiến sĩ 15 Nhà giàn DK1, quân và dân huyện Côn Đảo.
Sau lễ tiễn, tàu Trường Sa 10 và Trường Sa 19 của Vùng 2 Hải quân rời bến cảng đưa các Đoàn công tác của Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân và các phóng viên các cơ quan báo chí Trung ương và Quân đội hướng ra vùng biển thềm lục địa phía Nam.
Dự kiến, chuyến đi sẽ kéo dài khoảng 15-20 ngày, các đoàn sẽ ghé thăm, chúc Tết các cán bộ, chiến sĩ ở các Nhà giàn DK1; các đơn vị và cơ quan, dân chính đảng huyện Côn Đảo; thăm, chúc Tết các lực lượng tàu của Vùng đang trực bảo vệ chủ quyền trên biển trong dịp đón Tết Nhâm Dần 2022.
Hai đồng minh Mỹ và Nhật Bản tuyên bố hợp tác để tìm cách thức vô hiệu tên lửa siêu vượt âm, trong bối cảnh Nga, Trung Quốc và Triều Tiên đã và đang phát triển loại khí tài này.
Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken ngày 6/1 tuyên bố, nước này và Nhật Bản sẽ cùng đưa các nhà khoa học và kỹ sư hợp tác trong lĩnh vực công nghệ quốc phòng, bao gồm nghiên cứu về cách thức chống lại tên lửa siêu vượt âm.
Ông Blinken và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin đã tham gia vào cuộc đối thoại trực tuyến 2+2 với những người đồng cấp của Nhật Bản là Ngoại trưởng Yoshimasa Hayashi và Bộ trưởng Quốc phòng Nobuo Kishi.
“Khi các nhà nghiên cứu Nhật Bản và Mỹ phát huy được những điểm mạnh bổ sung của họ, chúng ta có thể vượt lên và đổi mới bất cứ điều gì”, ông Blinken nói, nhấn mạnh việc hợp tác sẽ bao gồm cả năng lực vũ trụ của 2 bên.
Ông Austin cho biết các cuộc thảo luận nhằm “phát triển vai trò và sứ mệnh của chúng tôi trước năng lực ngày càng tăng của Nhật Bản trong việc đóng góp vào hòa bình và ổn định khu vực”. Ông cũng cho biết hai bên sẽ “tối ưu hóa năng lực của lực lượng liên minh để tăng cường khả năng răn đe”.
Cuộc trao đổi diễn ra trong bối cảnh, quân đội Trung Quốc đang đẩy mạnh hiện đại hóa và phát triển vũ khí mới, trong đó có tên lửa siêu vượt âm khiến Mỹ lo ngại. Thêm vào đó, Triều Tiên gần đây cũng đã tham gia vào cuộc đua vũ khí siêu vượt âm bằng việc thực hiện 2 vụ thử loại tên lửa này.
Trong khi đó, Nga đã đưa vào biên chế một số tên lửa siêu vượt âm và đang tiếp tục thử nghiệm loại khác. Với tốc độ nhanh gấp 5 lần tốc độ âm thanh và quỹ đạo di chuyển khó đoán, tên lửa siêu vượt âm được xem là vũ khí của tác chiến tương lai.
Tư lệnh Hải quân Thái Lan Somprasong Nilsamai cho biết sẽ từ chối khoản ngân sách cho hai tàu ngầm S26T lớp Nguyên trong ngân sách tài khoá năm 2023 vì các tác động kinh tế của Covid-19.
Tàu ngầm. Ảnh minh họa
Đây là lần đầu tiên hải quân Thái Lan từ chối khoản ngân sách mua sắm tàu ngầm, trước đây dự án này đã bị phản đối nhiều lần và buộc phải lùi lại.
Theo tư lệnh Somprasong, trong tình trạng hiện tại khi biến thể Omicron đang lây lan nhanh chóng, ông tin chắc chắn không ai có thể đồng ý với việc hải quân thúc đẩy mua sắm trang thiết bị mới đắt đỏ, đặc biệt là tàu ngầm. Chính vì vậy, Hải quân Thái Lan đã quyết định tạm dừng kế hoạch.
Dự kiến, quân đội Thái Lan cũng sẽ cắt giảm ngân sách cho hải quân trong năm tài khoá 2023. Thủ tướng Thái Lan Prayut cũng là người đứng đầu Bộ Quốc phòng chưa có bình luận về việc hải quân nước này đồng ý dừng kế hoạch mua tàu ngầm.
Trước đó, kế hoạch mua tàu ngầm đầu tiên để trang bị cho hải quân đã được chính phủ thông qua vào năm 2017. Đây là hợp đồng liên chính phủ giữa Thái Lan và Trung Quốc có trị giá 13,5 tỷ baht cho 2 tàu ngầm lớp Nguyên S26T dự kiến sẽ được bàn giao vào cuối năm 2023.
Việc mua sắm tàu ngầm của hải quân Thái Lan đã vấp phải rất nhiều chỉ trích khi phe đối lập cho rằng việc trang bị này là phung phí và không cần thiết nhất là trong hoàn cảnh nền kinh tế Thái Lan không có nhiều sáng sủa. Hải quân Thái Lan từ lâu đã theo đuổi kế hoạch mua tàu ngầm, do nước này không sở hữu tàu ngầm nào từ sau năm 1951. Hải quân Thái Lan từng mất nhiều năm thuyết phục chính phủ mua 6 tàu ngầm cũ từ Đức, kế hoạch này sau đó được thay thế bằng hợp đồng mua S26T.
Theo Bộ trưởng Ngoại giao Prak Sokhonn, Campuchia, với tư cách là Chủ tịch luân phiên của ASEAN năm 2022, sẽ nỗ lực hoàn thành Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trong năm nay.
Bộ trưởng Prak Sokhonn cho rằng việc hoàn tất sớm Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) không chỉ tốt đối với Campuchia mà còn đối với toàn khu vực. (Nguồn: AFP)
Trong phiên hỏi đáp trực tuyến ngày 3/1 của Chương trình thuyết trình ASEAN lần thứ 23 về vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2022 của Campuchia do Viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore) tổ chức, Bộ trưởng Ngoại giao Campuchia Prak Sokhonn cho biết: „Campuchia, với tư cách là Chủ tịch luân phiên của ASEAN năm 2022, sẽ nỗ lực hoàn thành Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trong năm nay. COC sẽ là một khuôn khổ pháp lý quốc tế mà theo đó sẽ thiết lập các quy tắc và tiêu chuẩn duy trì hòa bình cũng như ổn định khu vực ở Biển Đông“
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Campuchia Koy Kuong ngày 5/1 cũng đã chia sẻ bản ghi bài phát biểu này.
Trong bài phát biểu, Bộ trưởng Sokhonn nêu rõ: „Mọi quốc gia thành viên ASEAN đều mong muốn ký kết COC càng sớm càng tốt. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 20 năm ‚Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông‘ (DOC) được thông qua ở Campuchia. Nếu chúng tôi có thể hoàn tất COC trong năm nay, đó sẽ là một điều tốt, tất nhiên không chỉ đối với Campuchia mà còn đối với toàn khu vực”.
Người đứng đầu ngành ngoại giao Campuchia nói thêm rằng, vấn đề này rất phức tạp do có nhiều quốc gia tranh chấp. Hơn nữa, khu vực Biển Đông nằm ở vị trí chiến lược, là tâm điểm của các động lực địa chính trị ngày nay. Kể từ đầu những năm 1990, ngay cả trước khi Campuchia gia nhập ASEAN, ASEAN và Trung Quốc đã cố gắng quản lý căng thẳng thông qua tham vấn và đối thoại. Kết quả là DOC được thông qua tại Phnom Penh năm 2002.
DOC đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường thuận lợi cho hợp tác, hòa bình và ổn định trong khu vực cũng như thúc đẩy lòng tin, xây dựng lòng tin và hiểu biết lẫn nhau. Bộ trưởng Sokhonn nhấn mạnh: „Chúng tôi muốn thấy COC được hoàn tất trong năm nay, nhưng phải nói rằng với tốc độ hiện tại, điều này có thể rất khó khăn”.
Ông Sokhonn cho biết trong 2 năm qua, tiến trình đàm phán COC đã bị gián đoạn bởi đại dịch Covid-19. Bộ trưởng Ngoại giao Campuchia lưu ý rằng có 2 yếu tố cần thiết để hoàn tất COC, đầu tiên là ý chí chính trị và thiện chí từ tất cả các bên; thứ hai là môi trường hòa bình trong khu vực.
Campuchia không phải là quốc gia có tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông và đang tuân theo chính sách trung lập. Tuy nhiên, Campuchia đang cố gắng hết sức để đóng góp vào việc hoàn tất COC.
Ngày 5/1, Giám đốc Học viện Quan hệ Quốc tế thuộc Học viện Hoàng gia Campuchia Kin Phea cho biết Campuchia kêu gọi các bên tiếp tục giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.
Ông Phea nêu rõ: “Chính phủ (Campuchia) kêu gọi các quốc gia liên quan tiếp tục sử dụng cơ chế ASEAN-Trung Quốc để thực hiện đầy đủ DOC, để ASEAN và Trung Quốc cùng làm việc nhằm hiện thực hóa COC; đồng thời khuyến khích hợp tác trong việc giải quyết các tranh chấp. Việc hoàn tất COC trong thời gian sớm nhất là rất quan trọng để giảm leo thang căng thẳng”.
Trung Quốc đã ban hành quy định, dọa sẽ phạt nặng các ngư dân nước ngoài hoạt động trong vùng biển mà Bắc Kinh tuyên bố “thuộc quyền tài phán” của mình.
Tàu hải cảnh Trung Quốc.
Quy định mới được Bộ Nông nghiệp và Nông thôn Trung Quốc và Hải cảnh Trung Quốc ban hành và có hiệu lực từ ngày 26/11, nhưng tới ngày 23/12 mới được công bố chính thức trên trang web của chính phủ bằng tiếng Trung.
Thông báo của các cơ quan ban hành cho biết, mục đích của quy định mới nhằm tiêu chuẩn hóa các hình thức xử phạt hành chính trong lĩnh vực nghề cá, “đảm bảo việc thực hiện công bằng, chính đáng và hợp lý” cũng như bảo vệ “quyền và lợi ích hợp pháp” của nhà nước và công dân.
Theo quy định mới, ngư dân nước ngoài có thể bị phạt tới 400.000 Nhân dân tệ (62.700 USD) nếu bị phát hiện có hoạt động đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền mà không có sự đồng ý của Trung Quốc. Những ngư dân này có thể bị hải cảnh Trung Quốc trục xuất và tịch thu các thiết bị đánh bắt.
Nếu ngư dân nước ngoài đánh bắt trong khu vực mà Trung Quốc tuyên bố là vùng lãnh hải hoặc ở phạm vi rất gần bờ biển Trung Quốc, họ có thể bị phạt tới 500.000 Nhân dân tệ (78.500 USD) và bị tịch thu tàu thuyền.
Quy định mới cũng cảnh báo, nếu “các hoạt động bất hợp pháp” được thực hiện tại một địa điểm mà chính quyền địa phương áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn thì sẽ áp dụng hình phạt của địa phương trước.
Trang web của chính phủ Trung Quốc cho biết các quy định mới đang được thực hiện thử nghiệm trước khi có hiệu lực lâu dài. Hiện các quốc gia trong khu vực vẫn chưa lên tiếng về quy định mới này.
Đây không phải lần đầu tiên Trung Quốc đơn phương đưa ra các quy định và áp dụng tại các vùng biển tranh chấp. Kể từ năm 1999, nước này đã ngang nhiên áp đặt lệnh cấm đánh bắt từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm ở Biển Đông, bất chấp sự phản đối của các nước. Truyền thông nhà nước Trung Quốc thậm chí đưa tin nước này bắt giữ số lượng lớn tàu mỗi năm trong thời gian áp lệnh cấm.
Hồi tháng 1, Trung Quốc đã thông qua luật hải cảnh mới, cho phép lực lượng hải cảnh phá hủy các công trình do nước ngoài xây dựng ở vùng biển hoặc trên các đảo mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền. Ngoài ra, luật còn cho phép lực lượng hải cảnh Trung Quốc lên tàu, khám xét hoặc nổ súng vào các tàu nước ngoài hoạt động trong vùng biển mà Bắc Kinh đòi yêu sách chủ quyền.
Cơ quan Quản lý An toàn Hàng hải Trung Quốc hồi tháng 9 cho biết, theo quy định bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/9, các tàu nước ngoài đi vùng “lãnh hải” của Trung Quốc phải khai báo thông tin về phương tiện và hàng hóa cho các cơ quan quản lý hàng hải của Trung Quốc. Nếu các tàu nước ngoài không khai báo theo quy định, cơ quan quản lý hàng hải Trung Quốc sẽ áp dụng các luật, quy định, quy tắc và điều khoản liên quan để xử lý.
Các chuyên gia lo ngại, việc Trung Quốc đưa ra các quy định mới liên quan đến những khu vực mà nước này tuyên bố chủ quyền có thể khiến căng thẳng leo thang. Khái niệm “lãnh hải” của Trung Quốc bị phản đối khi nước này đơn phương đưa ra yêu sách chủ quyền với hầu hết diện tích Biển Đông thông qua cái gọi là “đường chín đoạn”. Ngoài ra, Trung Quốc cũng có tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản tại quần đảo Senkaku mà Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền và gọi là Điếu Ngư ở biển Hoa Đông.
Việc UAE hủy bỏ hợp đồng mua F-35A đã đánh dấu sự thay đổi đối với vị thế của Mỹ ở Vùng Vịnh.
UAE đã chọn máy bay chiến đấu Dassault Rafale của Pháp.
Thương vụ “khủng” bị hủy
Giữa tháng 12/2021, Các Tiểu Vương quốc Arab Thống nhất (UAE) gửi thư tới Lầu Năm Góc rút lại đề nghị mua 50 máy bay chiến đấu Lockheed Martin F-35A, 18 máy bay không người lái General Atomics MQ-9B, lô tên lửa không đối không và không đối đất, phần lớn do Raytheon chế tạo – một phần của thỏa thuận trị giá 23 tỷ USD Mỹ.
Theo một nguồn tin, “các yêu cầu kỹ thuật, hạn chế hoạt động có chủ quyền và phân tích chi phí/lợi ích” là những lý do khiến chính phủ UAE đánh giá lại thỏa thuận. Để bảo vệ chủ quyền của UAE, điều mà các quan chức nước này tin rằng sẽ bị cản trở bởi các điều kiện mà Mỹ đang cố gắng áp đặt để bảo mật công nghệ, đặc biệt là tàng hình cơ thế hệ thứ năm F-35. Cụ thể, Mỹ phản đối hợp đồng của UAE với nhà cung cấp 5G Huawei của Trung Quốc vì lo ngại mạng Trung Quốc có thể làm tổn hại công nghệ F-35.
Mỹ cũng lo ngại về cơ sở quân sự của Trung Quốc có thể được được xây dựng tại một cảng của UAE và đặt câu hỏi liệu Abu Dhabi có thể bảo vệ các công nghệ quân sự của Mỹ trong khi hợp tác chặt chẽ với Trung Quốc hay không. UAE rút khỏi thỏa thuận một ngày sau khi Thủ tướng Israel Naftali Bennett gặp Thái tử UAE Sheikh Mohammed bin Zayed và chỉ vài tuần sau khi nước này ký thỏa thuận mua 80 máy bay chiến đấu Dassault Rafale trị giá 19 tỷ USD với Pháp.
Mỹ đã tìm hiểu liệu UAE có nghiêm túc với việc hủy bỏ thỏa thuận hay không, hay chỉ là một âm mưu để thương lượng. Phát biểu tại một cuộc họp báo, Ngoại trưởng Mỹ Blinken cho biết Washington phải tiến hành một số đánh giá. Mỹ muốn đảm bảo rằng cam kết của nước này đối với lợi thế quân sự của Israel được đảm bảo, vì vậy Washington có thể xem xét kỹ lưỡng bất kỳ công nghệ nào được bán hoặc chuyển giao cho các đối tác khác trong khu vực, bao gồm cả UAE.
Yếu tố Trung Quốc
Mặc dù thông tin liên quan đến sự hỗ trợ của Trung Quốc trong việc phát triển tên lửa đạn đạo của Saudi Arabia đã được cung cấp cho Mỹ, chính quyền Trump trước đây đã không gây nhiều áp lực lên Saudi Arabia về vấn đề này. Mối quan hệ của Chính quyền Biden với Riyadh đã trở nên căng thẳng (kết quả là Saudi Arabia đã cố gắng định hướng lại chính sách đối ngoại của mình một cách đáng kể), mặc dù trong những tháng gần đây, Mỹ đang nỗ lực khôi phục.
Một trong những lý do không áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Thái tử Saudi Arabia Mohammed Bin Salman (mặc dù các báo cáo đã giải mật của CIA chỉ ra rằng ông này rõ ràng có liên quan đến vụ sát hại Jamal Khashoggi; một số quan chức Saudi Arabia đã bị bắt giữ, các biện pháp trừng phạt tài chính được áp dụng đối với một số quan chức khác) là Mỹ không muốn quan hệ với Saudi Arabia xấu đi thêm.
Các nước thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) như Saudi Arabia và UAE, những nước có quan hệ kinh tế và chiến lược chặt chẽ với Mỹ, đã và đang thay đổi chính sách đối ngoại ở Trung Đông (cả 2 nước đều nỗ lực cải thiện quan hệ với Iran) cũng như bên ngoài khu vực. Một trong những yếu tố thúc đẩy việc định hướng lại chính sách đối ngoại của Riyadh và Abu Dhabi là niềm tin rằng Mỹ sẽ ít can dự hơn vào khu vực trong tương lai.
Trong khi trước đây, yếu tố Trung Quốc chưa bao giờ là một vấn đề lớn trong quan hệ giữa Mỹ với Saudi Arabia và UAE, với sự hợp tác an ninh và công nghệ lớn hơn, đây có thể là một vấn đề hóc búa. Ngoài tầm ảnh hưởng kinh tế ngày càng tăng, lợi thế lớn nhất của Trung Quốc ở Trung Đông là mối quan hệ tốt với Iran.
Lý do UAE hủy bỏ thỏa thuận
Vài ngày sau khi UAE quyết định hủy bỏ thỏa thuận mua F35, ngày 23/12/2021, một báo cáo của CNN cho biết đánh giá của các quan chức cấp cao của Mỹ cho thấy việc chuyển giao tên lửa đạn đạo nhạy cảm đã diễn ra giữa Trung Quốc và Saudi Arabia. Một quan chức cấp cao của Trung Quốc đã không phủ nhận việc hợp tác trong lĩnh vực công nghệ tên lửa đạn đạo với giữa Saudi Arabia, nói rằng 2 nước là đối tác chiến lược toàn diện và “mối hợp tác như vậy không vi phạm bất kỳ luật quốc tế nào và cũng không liên quan đến việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt”.
Mỹ cảnh báo UAE rằng việc nước này sử dụng công nghệ 5G của Huawei sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ an ninh giữa Washington và Abu Dhabi. UAE khẳng định sẽ không từ bỏ Huawei, vốn được nước này coi là mối quan hệ chiến lược với Trung Quốc. Một trong những lý do để UAE hủy bỏ thỏa thuận với Mỹ, đó là họ không muốn vướng vào bất kỳ hình thức ‘chiến tranh lạnh’ nào giữa Mỹ và Trung Quốc.
Theo phía Mỹ, Trung Quốc đang cố gắng xây dựng một cơ sở quân sự ở cảng Khalifa, gần Abu Dhabi. Dù việc xây dựng ở cảng Khalifa đã bị dừng lại nhưng các vấn đề gần đây đều phủ bóng lên mối quan hệ giữa Mỹ và UAE.
Trường hợp Saudi Arabia phát triển tên lửa đạn đạo cho thấy dấu ấn an ninh ngày càng tăng của Trung Quốc ở Trung Đông. Mối quan hệ với Trung Quốc của 2 thành viên Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh – Saudi Arabia và UAE – được coi là thân thiết với Mỹ có thể mang tính cạnh tranh trong quan hệ giữa Washington với Abu Dhabi và Riyadh.
Điều thú vị là Trung Quốc cũng có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Iran và đang bày tỏ sự lo lắng về việc hồi sinh Thỏa thuận hạt nhân Iran (JCPOA) trong khi UAE và Saudi Arabia, như Mỹ, Israel và các nước khác – bày tỏ lo lắng về những tham vọng hạt nhân của Iran. Trung Quốc và Iran cũng đã ký một ‘hiệp ước hợp tác chiến lược’ 25 năm vào tháng 3/2021, nhằm tăng cường mối liên kết kinh tế và an ninh giữa cả hai nước.
Iran cũng ám chỉ rằng nếu JCPOA không hồi sinh thì sẽ tiếp tục giao dịch với Trung Quốc và các nước khác. Việc Saudi Arabia phát triển tên lửa đạn đạo sẽ có tác động đáng kể đến Trung Đông, đồng thời khiến Mỹ và các nước khác cứng rắn hơn trong việc ngăn chặn Iran phát triển tên lửa đạn đạo.
UAE cũng được cho là không sẵn sàng trả một cái giá quá cao cho F-35 đắt đỏ khi chiến tranh hiện đại ngày nay nghiêng về máy bay không người lái.
Theo nhiều nhà phân tích, UAE quyết định đình chỉ việc mua máy bay chiến đấu F-35 cũng là một dấu hiệu khác cho thấy các đồng minh của Mỹ đang cố gắng giảm bớt sự phụ thuộc vào sức mạnh quân sự của Mỹ. Trong thế giới đa cực, Vịnh Ba Tư không còn là “cái hồ” của Mỹ nữa. Quyết định của UAE đánh dấu sự thay đổi đối với vị thế của Washington trong khu vực.
Sau hợp đồng trị giá 3 tỷ USD với Singapore, F-35 của Mỹ vừa có thêm một khách hàng tiềm năng ở Đông Nam Á.
Tờ Bangkok Post dẫn lời Nguyên soái Napadej Dhupatemiya – Tư lệnh không quân hoàng gia Thái Lan cho biết nước này đang có ý định mua ít nhất 8 tiêm kích tàng hình F-35 Lightning II từ Mỹ nhằm tăng cường khả năng phòng thủ.
Nguyên soái Napadej còn cho biết lực lượng không quân Thái Lan cần một phi đội máy bay mới để thay thế dần các chiến đấu cơ F-5 và F-16 đã phục vụ hơn 30 năm. Các máy bay ngày càng cũ cũng khiến chi phi vận hành và rủi ro an toàn tăng lên.
Chiến đấu cơ tàng hình thế hệ thứ 5 F-35 của Lockheed Martin (Mỹ) hiện được xem là lựa chọn tốt nhất để không quân Thái Lan tăng cường sức mạnh với chi phí thấp hơn, từ 142 triệu USD mỗi chiếc (tùy vào từng phiên bản).
Để so sánh, Nguyên soái Napadej còn lấy dòng tiêm kích Saab JAS 39 Gripen đang được không quân Thái Lan sử dụng để so sánh. Mỗi chiếc JAS 39 của Thụy Điển có mức giá khoảng 85 triệu USD, trong khi phiên bản F-35A của không quân Mỹ chỉ rơi vào khoảng 74 triệu USD. Bangkok sẽ cố gắng đàm phán với Washington để có được mức giá tốt nhất.
Tư lệnh không quân Thái Lan cho biết kế hoạch ngân sách cho dự án mua tiêm kíchF-35 sẽ được bắt đầu vào năm tài chính 2023. Bên cạnh đó quân đội Thái Lan sẽ thành lập một hội đồng thẩm định về chương trình mua sắm chiến đấu cơ dựa trên đề xuất của không quân.
Nguyên soái Napadej khá kỳ vọng về chương trình F-35 mà ông đang ấp ủ bởi đây sẽ là cú hích giúp Thái Lan bảo vệ lợi ích quốc gia trước các thách thức an ninh trong tương lai. Với những lợi thế về công nghệ, F-35 sẽ phù hợp với yêu cầu tăng cường sức mạnh không quân, một phần quan trọng của chiến tranh hiện đại.
“Chúng tôi không cần đến một phi đội máy bay F-35 đầy đủ. Mục tiêu hiện tại của không quân Thái Lan là mua từ 8-12 chiếc F-35”, Nguyên soái Napadej cho biết.
Bên cạnh F-35, Nguyên soái Napadej còn cho biết không quân Thái Lan đang có ý định mua sắm thêm một số máy bay không người lái (UAV) thế hệ mới và chúng có thể sẽ hoạt động cùng với phi đội F-35.
Trước Thái Lan, vào đầu năm 2020, một quốc gia Đông Nam Á khác là Singapore cũng đã đặt mua 12 chiếc F-35B từ Mỹ với giá trị ước tính lên đến gần 3 tỷ USD. Ngoài các máy bay thì hợp đồng còn có 13 động cơ, các hệ thống tác chiến điện tử và dịch vụ hỗ trợ, hậu cần.
Tất cả là vì năng lực của Đài Loan quá yếu so với Trung Quốc đại lục.
Thông tin an ninh của lãnh đạo Đài Loan nhiều lần bị rò rỉ cho Trung Quốc Đại lục.
Trong hơn 20 năm, Xie Xizhang luôn thể hiện mình là một doanh nhân đến từ Hong Kong trong các chuyến đi đến Đài Loan (Trung Quốc). Nhưng giờ đây, Xie đang bị cáo buộc thực hiện một nhiệm vụ khác: Tuyển mộ gián điệp cho chính phủ Trung Quốc.
Trong một chuyến đi vào năm 2006, Xie gặp một sĩ quan cấp cao đã nghỉ hưu của hải quân Đài Loan, ông Chang Pei-ning trong một bữa ăn.
Chang sau đó trở thành một trong những gián điệp của Xie, giúp anh ta thâm nhập vào ban lãnh đạo quân sự của đảo Đài Loan như một phần của hoạt động gián điệp kéo dài của Trung Quốc đại lục nhằm xây dựng một vòng vây điệp viên giữa các sĩ quan đang đương chức và đã nghỉ hưu của hòn đảo này.
Các sĩ quan Đài Loan và gia đình họ được cho là đã bị dụ dỗ bằng những lời đề nghị của Xie về các chuyến đi nước ngoài xa xỉ được chi trả toàn bộ chi phí, hàng nghìn USD tiền mặt và những món quà như khăn lụa và thắt lưng sang trọng cho người thân của họ.
Vào tháng 6/2019, lực lượng phản gián của Đài Loan đã phá được mạng lưới của Xie và mở các chiến dịch săn lùng để tìm thêm bằng chứng. Giờ đây, Chang đang phải đối mặt với cáo buộc gián điệp và lệnh bắt Xie đã được ban hành. Tuy nhiên, vấn đề là Xie không còn ở Đài Loan.
Chiến dịch tuyển mộ quy mô
Trung Quốc đã thực hiện một chiến dịch rộng lớn hơn để làm suy yếu vai trò lãnh đạo quân sự và dân sự của Đài Loan, ăn mòn ý chí chiến đấu của họ đồng thời khai thác thông tin chi tiết về các loại vũ khí công nghệ cao và cả những kế hoạch quốc phòng của Đài Loan.
Trung Quốc đại lục thậm chí đã thâm nhập vào cả lực lượng an ninh được giao nhiệm vụ bảo vệ nhà lãnh đạo Thái Anh Văn. Vào đầu năm nay, một sĩ quan an ninh từng là vệ sĩ cho nhà lãnh đạo này và một trung tá an ninh đương nhiệm đã bị kết án vì đã làm rò rỉ thông tin nhạy cảm về an ninh của bà Thái Anh Văn cho một cơ quan tình báo Trung Quốc đại lục.
Thông tin bao gồm một sơ đồ tổ chức vẽ tay của Trung tâm Lực lượng Đặc biệt, đơn vị bảo vệ lãnh đạo, theo phán quyết của Tòa án Tối cao Đài Loan. Hai người này cũng bị buộc tội làm rò rỉ tên, chức danh và số điện thoại làm việc của các nhân viên an ninh cấp cao bảo vệ Văn phòng và dinh thự của bà Thái Anh ở trung tâm Đài Bắc.
Trong khi Văn phòng các vấn đề Đài Loan tại Bắc Kinh đã không trả lời các câu hỏi của Reuters về các hoạt động gián điệp này, thì tại Đài Bắc, cơ quan phòng vệ Đài Loan tuyên bố đã triển khai các biện pháp phản gián, ngăn chặn âm mưu gián điệp của tình báo Trung Quốc đại lục.
Đài Loan báo động “đỏ”
Cơ quan Tư pháp của Đài Loan cho biết họ không có bình luận gì về các vấn đề pháp lý đang diễn ra.
Tuy nhiên, một số cơ quan khác của chính quyền Đài Loan đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ gián điệp. Hội đồng Quan hệ Đại lục của Đài Loan cáo buộc “hoạt động gián điệp không ngừng mở rộng” của Trung Quốc là một trong những “chiêu bài chính trị độc hại” nhằm phá hoại “sự phát triển bình thường của quan hệ xuyên eo biển”.
Theo các nhà phân tích quân sự Đài Loan và Mỹ, những điệp viên được cài cắm có vị thế và ảnh hưởng trong hàng ngũ lãnh đạo cấp cao lực lượng phòng vệ Đài Loan có thể mang lại lợi thế vô giá cho Trung Quốc nếu hai bên nổ ra xung đột.
“Trung Quốc đại lục tiến hành các âm mưu xâm nhập có mục tiêu nhằm vào Đài Loan”, Lu Li Shih, một trung tá nghỉ hưu của lực lượng phòng vệ Đài Loan, cho biết. Ông nói, các hoạt động gián điệp cho thấy Bắc Kinh đã gần như xâm nhập hầu hết các cấp bậc, kể cả các tướng lĩnh cấp cao nhất, bất chấp các chiến dịch phản gián nội bộ chuyên sâu của Đài Loan, đồng thời cảnh báo về sự nguy hiểm của các nỗ lực gián điệp của Bắc Kinh.
Ông Lu Li Shih, người đã nghiên cứu các hoạt động gián điệp của Trung Quốc, cho biết các điệp viên Trung Quốc đại lục thường tiếp cận mục tiêu bằng những món quà nhỏ, mời ăn uống hoặc tham dự sự kiện. Bắc Kinh sẵn sàng chi rất nhiều tiền cho những lần giao dịch thông tin nhạy cảm đầu tiên từ quan chức Đài Loan, ông Lu nói. Sau đó, chính khoản hậu hĩnh này sẽ giúp gián điệp Trung Quốc tống tiền, buộc các quan chức Đài Loan phải tiếp tục cung cấp thêm thông tin với giá thấp hơn.
Trong một thập kỷ qua, ít nhất 21 quan chức quân sự Đài Loan đương chức hoặc đã nghỉ hưu mang quân hàm từ đại úy trở lên đã bị kết tội làm gián điệp cho Trung Quốc đại lục. Ít nhất 9 quan chức khác của lực lượng phòng vệ Đài Loan hiện đang bị xét xử hoặc bị điều tra vì nghi ngờ có liên hệ với gián điệp từ Trung Quốc.
Riêng năm nay, các tòa án Đài Loan giữ nguyên bản án kết tội hai người đàn ông đã tiết lộ bí mật đảm bảo an ninh của nhà lãnh đạo Thái Anh Văn và phát hiện một trung tá đã nghỉ hưu từ Cục vũ khí phạm tội xây dựng mạng lưới gián điệp cho Trung Quốc. Một thiếu tướng và 3 đại tá đã nghỉ hưu từ Cục Tình báo đang bị xét xử vì cáo buộc tuyển dụng gián điệp cho Trung Quốc.
Vào tháng 7, tờ Mirror Media của Đài Loan đưa tin, cựu Thứ trưởng Lực lượng Phòng vệ của hòn đảo, tướng Chang Che-ping, đã bị thẩm vấn trong một cuộc điều tra an ninh. Hai nguồn tin tin thận cho biết, tướng Chang đang bị thẩm vấn vì có liên hệ với “doanh nhân gián điệp” Xie Xizhang.
Vũ khí lợi hại của Trung Quốc
Từ lâu, hoạt động gián điệp là một vũ khí lợi hại của Trung Quốc. Hàng loạt tài liệu tại tòa án Đài Loan cho thấy, việc nuôi dưỡng sự bất mãn trong lực lượng phòng vệ Đài Loan là ưu tiên hàng đầu của Bắc Kinh. Dù quân đội Trung Quốc đại lục có sức mạnh hơn rất nhiều trong khi phía Đài Loan còn nhiều thiếu sót nghiêm trọng, hòn đảo này vẫn là một mục tiêu khó xâm lược.
Các nhà phân tích quân sự Đài Loan và Mỹ cho biết, ngay cả khi không có sự trợ giúp từ bên ngoài, lực lượng phòng vệ tốt nhất của Đài Loan có thể gây tổn thất nặng nề cho phía Bắc Kinh. Đối với Trung Quốc, việc nắm được thông tin về kế hoạch phòng thủ, mật mã liên lạc, địa điểm cất giấu vũ khí và địa điểm đóng quân sẽ bù đắp phần nào những khó khăn này. Các sĩ quan không trung thành cũng có thể từ chối chiến đấu, điều động binh sĩ dưới quyền bị sai hoặc đào tẩu sang phía bên kia.
Trong một báo cáo công bố hồi tháng 9, cơ quan phòng vệ Đài Loan thừa nhận gián điệp Trung Quốc đại lục “ẩn nấp” trên hòn đảo này có thể tấn công vào cơ quan đầu não và “đánh chặt đầu” (tức tấn công vào cơ quan đầu não) làm suy giảm nhuệ khí của lực lượng vũ trang.
Ngay cả việc phát hiện ra gián điệp Trung Quốc trong thời bình cũng là một đòn giáng có thể khiến binh sĩ Đài Loan mất tinh thần. Grant Newsham, một đại tá trong Thủy quân lục chiến Mỹ đã nghiên cứu về hòn đảo này cho biết: “Các vụ việc lặp đi lặp lại, việc các sĩ quan cấp cao nhất của lực lượng vũ trang Đài Loan bị kết tội gián điệp đã có ảnh hưởng tâm lý đối với quân đoàn và cấp bậc sĩ quan. khả năng phòng thủ. Và một khi đã tạo ra sự nghi ngờ về tính trung thực của những người chỉ huy, thì sự mục nát sẽ xuất hiện và ngày càng sâu sắc hơn”.
Một số cựu quân nhân Đài Loan lo lắng rằng các vụ gián điệp lặp đi lặp lại sẽ khiến Mỹ không muốn chia sẻ vũ khí tiên tiến hoặc thông tin tình báo nhạy cảm vì sợ những bí mật này bị lọt vào tay Bắc Kinh.
Một thách thức lớn đối với lực lượng chống gián điệp của Đài Loan là các hình phạt nhẹ đối với các sĩ quan đã nghỉ hưu bị kết tội làm gián điệp. Theo luật quân sự, các sĩ quan đang phục vụ có thể bị kết án tử hình hoặc tù chung thân nếu phạm tội nghiêm trọng. Tuy nhiên, các cựu sĩ quan phạm tội một lần chỉ có thể bị xét xử theo Luật An ninh phòng vệ đảo, quy định thời hạn tù ngắn hơn nhiều.
Trước áp lực của dư luận nhằm chống lại hoạt động gián điệp của Trung Quốc, vào tháng 6/2019, Đài Loan đã tăng các hình phạt theo luật an ninh đối với những tội danh nghiêm trọng nhất, từ mức tù tối đa 5 năm lên tối thiểu 7 năm và tiền phạt lên tới 100 triệu Đài tệ (khoảng 3,6 triệu USD).
Christian Drosten và Hendrik Streeck, các nhà virus học nổi tiếng nhất của Đức, cho rằng lý do để lạc quan thận trọng về sự phát triển hơn nữa của đại dịch hào quang ở đất nước này.
Hai nhà lãnh đạo quan điểm về virus học ở Đức: Christian Drosten (49) và Hendrik Streeck (44)
Về sự phát triển hơn nữa của đại dịch hào quang ở Đức, nhà virus học người Berlin Christian Drosten lạc quan một cách thận trọng: Nền tảng cho đánh giá của ông là dữ liệu từ Nam Phi, nơi mà biến thể virus Omikron đặc biệt dễ lây lan ban đầu: „Theo một cách nào đó, điều đó có thể làm dịu Drosten nói trong „tạp chí heute“ của Truyền hình Đức thứ hai (ZDF). „Thật không may, chúng tôi vẫn còn một chặng đường dài nữa“, ông nói.
Việc chuyển đổi từ một đại dịch sang một tình trạng lưu hành có nghĩa là vi rút sẽ tiếp tục lây lan, nhưng ít nguy hiểm hơn – chẳng hạn như các vi rút cảm lạnh điển hình.
Drosten cho biết, sự phát triển ở Anh theo quan điểm của Omikron cũng rất đáng khích lệ. „Số lượng bệnh nghiêm trọng dường như thấp hơn ở đó.“
„Mùa hè thư thái“
Nhà virus học người Bonn Hendrik Streeck tự tin rằng làn sóng Omikron sẽ không ảnh hưởng nặng nề đến Đức như các nước khác. Trong chương trình „RTL Direkt“, Streeck nói: „Đức thật may mắn khi các quốc gia khác đi trước chúng tôi. Chúng tôi có thể thấy những gì đang xảy ra ở đó – và chuẩn bị cho nó.“
Để ngăn chặn đại dịch, Đức cũng đang dựa vào yêu cầu nhất quán về khẩu trang ở tất cả các cửa hàng
Trong cuộc chiến với Corona, Đức đã áp dụng những biện pháp tương đối „mạnh tay“, Streeck nói. „Điều đó mang lại hy vọng rằng chúng ta sẽ nhận được một làn sóng nhẹ hơn.“ Ông hiện không coi các biện pháp thậm chí nghiêm khắc hơn là cần thiết: „Trước tiên, chúng ta phải đợi cho đến khi chúng ta có dữ liệu tốt hơn để sau đó xem số lượng trường hợp phát triển như thế nào.“ Với thời tiết ôn hòa hơn vào mùa xuân, số ca nhiễm trùng sẽ giảm trở lại, đó là lý do Đức chắc chắn sẽ „có một mùa hè thảnh thơi“.
Cả Drosten và Streeck đều ngồi trong hội đồng chuyên gia mới, nơi tư vấn cho chính phủ liên bang bao gồm SPD, Greens và FDP.
Cựu Ngoại trưởng Mike Pompeo cảnh báo hôm 26/12 rằng, cuộc khủng hoảng chuỗi cung ứng hiện nay sẽ chỉ là “trò chơi trẻ con” nếu không thể ngăn chặn bước tiến của chính quyền Trung Quốc trong việc thống trị tuyến đường thương mại Biển Đông.
Trong một cuộc phỏng vấn trên WABC 770 AM, ông Pompeo kêu gọi sự chú ý đến mối nguy hiểm gây ra cho toàn thế giới do sự xâm lấn và hoạt động quá mức của ĐCSTQ ở khu vực Biển Đông.
Ông Pompeo nói “Đông Nam Á, các quốc gia như Việt Nam, Singapore và Hàn Quốc, tất cả đều cần hiểu rằng mối đe dọa từ việc Trung Quốc thống trị ở Biển Đông sẽ khiến các vấn đề chuỗi cung ứng của chúng ta… ngày nay giống như trò chơi trẻ con, nếu người Trung Quốc có thể thống trị… các chuyến hàng thương mại qua Biển Đông”.
Ông cho rằng, ý định của Đảng Cộng sản Trung Quốc là thống trị khu vực Biển Đông và loại bỏ các đối thủ thương mại của họ. Đồng thời, cựu ngoại trưởng tuyên bố rằng, Hoa Kỳ phải đóng một vai trò “thiết yếu” trong việc khiến cho chính quyền Trung Quốc hiểu rằng ý định này là cực kỳ có hại và nguy hiểm đối với toàn bộ thế giới.
Ông nói “Chúng tôi có thể làm được… Chỉ cần sự lãnh đạo của tổng thống, [khả năng] giao tiếp tốt và khả năng giải quyết”.
Tuyến đường thương mại gây tranh cãi này chạy qua eo biển Malacca. Theo tạp chí thương mại China Power, một cuộc phong tỏa giả định ở eo biển này vì bất cứ lý do gì, có thể tạo ra sự hỗn loạn trong chuỗi cung ứng toàn cầu, bắt đầu với các tuyến thương mại liên vùng và các trung tâm sản xuất đa quốc gia có liên kết địa lý với Biển Đông.
Đáng chú ý, Trung Quốc là nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới và 80% lượng dầu nhập khẩu đi qua eo biển này, đây chính là điều kiện thiết yếu cho sự hùng mạnh của nền công nghiệp nước này.
Nhiều chuyên gia và chính trị gia Hoa Kỳ đã lưu ý rằng, cuộc khủng hoảng hiện tại trong chuỗi cung ứng của Hoa Kỳ bắt nguồn từ việc Mỹ phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc. Cuộc khủng hoảng chuỗi cung ứng hiện tại cần được xem như lời cảnh tỉnh để thay đổi trong tương lai, hướng tới sự độc lập thương mại nhiều hơn.
Theo Bộ Thương mại Hoa Kỳ, Trung Quốc từng là nhà cung cấp hàng nhập khẩu lớn nhất của nước này, chiếm hơn 18% trong năm 2019. Các danh mục nhập khẩu chính bao gồm các sản phẩm từ ngành công nghiệp điện tử, dệt may và đồ chơi, v.v.
Hàng Trung Quốc nhập khẩu vào Mỹ đã gia tăng theo cấp số nhân kể từ năm 2001, khi Tổng thống Bill Clinton đề bạt Trung Quốc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Vấn đề sẽ không quá nghiêm trọng nếu chỉ có Hoa Kỳ phụ thuộc vào Trung Quốc. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng tất cả các quốc gia trên toàn cầu đã tăng đáng kể lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Nhiều quốc gia đã từ bỏ hoàn toàn các ngành công nghiệp lịch sử địa phương để thay thế bằng các sản phẩm của Trung Quốc.
Hậu quả là đưa đến sự phụ thuộc ngày càng lớn vào chế độ cộng sản Trung Quốc và sức mạnh công nghiệp của nó – thực tế là dựa trên sự bóc lột sức lao động, sự nghèo đói của người dân và sự đàn áp của nhà nước.
Cơ sở Mộc Miên trên đảo Hải Nam được mở rộng, có thể giúp Trung Quốc thu thập thông tin tình báo tín hiệu để giám sát Biển Đông, theo CSIS.
Cơ sở Mộc Miên trên đảo Hải Nam được mở rộng, có thể giúp Trung Quốc thu thập thông tin tình báo tín hiệu để giám sát Biển Đông.
Theo Deutsche Welle (Tiếng nói nước Đức) ngày 18/12, tổ chức tư vấn Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ hôm thứ Sáu (17/12) đã đưa ra một báo cáo nói Trung Quốc đã đạt được tiến triển rất lớn trong các hoạt động nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng tác chiến điện tử, thông tin liên lạc và thu thập thông tin tình báo ở gần Biển Đông. Các hình ảnh vệ tinh gần đây cho thấy Trung Quốc nhanh chóng mở rộng các cơ sở liên quan trong khu vực “Căn cứ Mộc Miên” (Mumian facility) ở đảo Hải Nam để có thể cung cấp cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) sự hỗ trợ kỹ thuật mạnh mẽ hơn để theo dõi và ứng phó với các lực lượng quân sự nước ngoài ở Biển Đông.
Bài viết của CSIS chỉ ra rằng tại “căn cứ Mộc Miên” này đã triển khai hệ thống liên lạc và định vị vệ tinh (SATCOM), dường như có các hệ thống thiết bị có thể sử dụng cho tác chiến điện tử, dự đoán cũng đóng một vai trò nhất định trong hệ thống tình báo tín hiệu (SIGINT). Rất nhiều thiết bị gần cơ sở này có thể chuyên dùng cho việc thu thập tình báo thông tin (COMINT).
Ảnh vệ tinh chụp hồi cuối tháng 11 được CSIS công bố cho thấy quân đội Trung Quốc nhanh chóng mở rộng cơ sở Mộc Miên, phía tây đảo Hải Nam, nhằm nâng cao năng lực theo dõi các lực lượng quân sự nước ngoài hoạt động trong khu vực Biển Đông và trên không gian, nhóm chuyên gia CSIS nhận định.
“Hoạt động nâng cấp tại cơ sở Mộc Miên là một phần trong nỗ lực lớn hơn nhằm tăng năng lực tác chiến điện tử của quân đội Trung Quốc”, báo cáo có đoạn. Cơ sở Mộc Miên có các nền tảng theo dõi và liên lạc qua vệ tinh, có thể sử dụng trong tác chiến điện tử.
Cơ sở này có thể thu thập thông tin tình báo thông qua chặn thu và phân tích tín hiệu hoặc liên lạc từ vệ tinh, radar, các khí tài và hệ thống điện tử khác. Nhiều công trình gần căn cứ Mộc Miên dường như chuyên thu thập tín hiệu liên lạc giữa các cá nhân và tổ chức.
Các chuyên gia CSIS cho biết cơ sở Mộc Miên bắt đầu hoạt động từ năm 2018, nhưng ảnh vệ tinh chụp ngày 21/11 cho thấy một số công trình mới được xây thêm tại khu vực này.
Khu phức hợp liên lạc vệ tinh và tình báo tín hiệu mới ở phía nam gồm một tòa nhà lớn với 4 ăng ten parabol, ba chiếc có đường kính 14 m và một chiếc đường kính 4 m, cùng ít nhất 4 ăng ten tháp phục vụ liên lạc hoặc tác chiến điện tử.
Một số tòa nhà lớn mới được xây dựng tại cơ sở Mộc Miên, bao gồm sở chỉ huy, tòa nhà hành chính, khu nhà dành cho nhân viên bảo trì và nhà ở. Rải rác trong khuôn viên có ít nhất 90 phương tiện và xe kéo các loại, trong đó có nhiều xe chở một ăng ten lớn hoặc hai ăng ten nhỏ.
“Phần lớn hoạt động mở rộng cơ sở được hoàn thành trong hơn một năm qua”, các chuyên gia nhận định. “Ảnh chụp ngày 30/8/2020 cho thấy những con đường mới làm và móng của các tòa nhà. Tới 21/11, phần lớn đường sá đã được hoàn thiện”.
Nhóm chuyên gia cho biết các phương tiện xuất hiện trong ảnh vệ tinh cho thấy phần lớn khu vực mới xây dựng tại cơ sở Mộc Miên đã đi vào hoạt động. Cơ sở này còn được cho là nơi quân đội Trung Quốc huấn luyện các lực lượng thu thập thông tin tình báo tín hiệu và tác chiến điện tử.
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres cảnh báo, Covid-19 chưa phải đại dịch cuối cùng, vì vậy, con người cần có những biện pháp để ngăn chặn những cuộc khủng hoảng tương tự trong tương lai.
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres.
Bình luận nhân Ngày Quốc tế Ứng phó Đại dịch, Tổng thư ký Liên hợp Quốc Antonio Guterres cho rằng: “Covid-19 chưa phải đại dịch cuối cùng mà con người phải đối mặt. Vì vậy, khi đối phó với cuộc khủng hoảng y tế này, chúng ta cần chuẩn bị cho đại dịch tiếp theo”. Người đứng đầu Liên Hợp Quốc kêu gọi thế giới quan tâm và đầu tư đúng mức cho vấn đề này.
Trước đó, Giáo sư Đại học Oxford Dame Sarah Gilbert, nhà khoa học Anh được coi là “mẹ đẻ” vaccine ngừa Covid-19 AstraZeneca/Oxford, cũng cho rằng Covid-19 có thể chưa phải đại dịch chết chóc cuối cùng mà con người đối mặt.
“Đây không phải lần cuối cùng một loại virus đe dọa mạng sống và sinh kế của chúng ta. Sự thật là đại dịch tiếp theo thậm chí có thể tồi tệ hơn nữa. Nó có thể lây lan hơn nữa, hoặc chết chóc hơn nữa hoặc cả hai”, giáo sư Gilbert nói. Do vậy, bà kêu gọi thế giới đầu tư cho các nghiên cứu để “phòng thủ” trước các đại dịch.
Covid-19 khởi phát cuối năm 2019 và nhanh chóng trở thành đại dịch toàn cầu.
Hơn hai năm kể từ khi bùng phát, đại dịch này đã lấy đi sinh mạng của hơn 5 triệu người. Cuộc chiến ứng phó đại dịch của thế giới liên tục bị thách thức do sự xuất hiện của các biến chủng mới của virus SARS-CoV-2. Giới chuyên gia cho rằng, vaccine là yếu tố quan trọng để ngăn đà lây lan của virus, ngoài ra, các nước cần tiếp tục các biện pháp ứng phó linh hoạt.
Indonesia đang đối mặt với áp lực ngày một gia tăng từ Trung Quốc trên Biển Đông. Những hành động của Bắc Kinh đang dần đi quá ‚giới hạn chịu đựng‘ của Jakarta.
Bộ trưởng An ninh Indonesia Mahfud MD (áo trắng) trên một tàu quân y ở biển Bắc Natuna (tiếp giáp Biển Đông) ngày 23/11. (Nguồn: Jakarta Post)
Trung Quốc ngày càng hung hăng
Theo Asia Times, Indonesia sẽ đối đầu hơn nữa với Trung Quốc nếu một liên doanh Anh-Nga xúc tiến dự án phát triển thăm dò khí tự nhiên và đặt đường ống dẫn khí qua ranh giới Biển Bắc Natuna.
Các đối tác Harbour Energy (của Anh) và Zarubezhneft (của Nga) đã công bố tìm thấy một nguồn khí gas có trữ lượng 16,99 tỷ mét khối, trong đó khoảng 45% là dưới dạng chất lỏng ngưng tụ.
Kết quả trên theo sau việc khoan 2 giếng thẩm lượng ở lô Tuna, cách ranh giới vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia khoảng 10km, bất chấp sự phản đối của Bắc Kinh.
Với việc Ngoại trưởng Mỹ Blinken thăm Jakarta vào tuần trước, diễn biến trên cho thấy quan ngại ngày càng gia tăng về điều mà ông Blinken gọi là “hành động hung hăng” của Trung Quốc ở Biển Đông.
Trong thời gian diễn ra hoạt động khoan (từ tháng 8 đến tháng 10), một tàu khảo sát của Trung Quốc – được 2 tàu hải cảnh vũ trang của Trung Quốc hộ tống, đã tiến hành một diễn tập đo đạc lòng biển chuyên sâu quanh giàn khoan thăm dò.
Lúc đó, phía Indonesia đã huy động 9 tàu thuộc hải quân và cơ quan an ninh hàng hải của nước này đến áp đảo các tàu Trung Quốc. Tuy nhiên, chính phủ Indonesia vẫn giữ yên lặng về sự xâm nhập của tàu Trung Quốc trong 7 tuần liền, và cũng không thông báo liệu hai bên đã có tương tác ngoại giao nào chưa liên quan đến sự cố.
Nhưng một nguồn cao cấp bên chính quyền Indonesia cho hay, Bộ Ngoại giao Indonesia có gửi một công hàm phản đối lên Trung Quốc và tuyên bố rằng chính phủ Indonesia nghiêm túc trong việc ủng hộ phát triển lô trên ở độ sâu tương đối nông là 100m.
Indonesia tăng mức độ phản ứng?
Trung Quốc đã cho thấy họ sẵn sàng thiết lập hiện diện bên trong “đường 9 đoạn” ở cả vùng biển mà Indonesia tuyên bố chủ quyền thì phía Indonesia sẽ càng phải theo dõi sát sao các động thái của Trung Quốc.
Một nhà phân tích của hải quân Indonesia cho rằng, họ sẽ tiếp tục chứng kiến “sự quấy rối” ở một mức độ nào đó.
Trong khi Indonesia cố tránh „chọn bên“ trong thế đối đầu gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc, hành động của Trung Quốc trong vài năm qua đã đẩy Indonesia tới chỗ nâng cao đáng kể hoạt động theo dõi đối với vùng biên giới phía Bắc, sử dụng công nghệ có sẵn và tăng cường tuần tra biển.
Hầu hết các tàu hải quân theo thói quen sẽ tắt hệ thống nhận diện tự động của mình (AIS) để khiến đối phương khó dò tìm ra họ nhưng theo lẽ thông thường, khi đi vào các vùng biển đông đúc, họ cần kích hoạt thiết bị đó. Riêng Trung Quốc thì phớt lờ điều này.
Trong năm 2021, Indonesia đã chặn một tàu khảo sát của Trung Quốc trước đó đã tắt một cách bí hiểm hệ thống hồi đáp của mình tới 3 lần trong hành trình 2 ngày đi qua biển Java và vào eo biển Sunda đông đúc chia tách Java và Sumatra.
Các tàu khảo sát khác của Trung Quốc bị nghi ngờ là đã thả 3 thiết bị không người lái đi ngầm dưới nước để thu thập dữ liệu – các thiết bị này bị phát hiện ở ngoài khơi quần đảo Natuna, Nam Sulawesi, và ở lối vào từ phía bắc của eo biển Lombok trong 2 năm qua.
Trong chuyến thăm Jakarta, Ngoại trưởng Mỹ Blinken cho biết Washington sẽ nỗ lực bảo vệ “trật tự dựa trên luật lệ”.
Chuyên gia hàng hải Evan Laksmana của Indonesia nhận định gần đây trên báo chí về ý đồ của Bắc Kinh: “Trung Quốc hy vọng rằng các vụ xâm nhập đều đặn của họ của Biển Bắc Natuna cuối cùng sẽ khiến Indonesia chấp nhận ‚đàm phán‘ một thỏa thuận ngầm công nhận các tuyên bố bất hợp pháp của Trung Quốc trong khu vực này“.
Binh sĩ Indonesia trong một cuộc tập trận ở biển Natuna tháng 10/2021. (Nguồn: Reuters)
Đánh giá về Luật Hải cảnh của Trung Quốc, bà Hayati Naufus, nhà nghiên cứu chính trị và ngoại giao Trung Quốc (Trung tâm Nghiên cứu Chính trị, Viện Nghiên cứu Khoa học Indonesia) cho rằng Luật Hải cảnh mới do Trung Quốc ban hành chẳng khác nào “đổ thêm dầu vào lửa” ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, sẽ là „mối đe dọa“ đối với hòa bình ở khu vực này.
Yêu sách chưa có tiền lệ
Trong thư gửi tới Bộ Ngoại giao Indonesia gần đây, Trung Quốc đã yêu cầu Jakarta ngừng hoạt động thăm dò dầu khí ở biển Natuna (tiếp giáp Biển Đông) vì Bắc Kinh coi khu vực thăm dò này thuộc chủ quyền của mình.
Theo Reuters, đòi hỏi chưa từng có tiền lệ nói trên đã làm gia tăng căng thẳng giữa hai nước liên quan đến tài nguyên tại khu vực có tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế.
Ông Muhammad Farhan, thành viên Ủy ban an ninh quốc gia thuộc Quốc hội Indonesia, tiết lộ đòi hỏi trên được đưa ra trong một lá thư các nhà ngoại giao Trung Quốc gửi cho Bộ Ngoại giao Indonesia.
„Câu trả lời của chúng tôi rất kiên quyết, rằng chúng tôi sẽ không dừng hoạt động khoan thăm dò dầu khí vì đó là chủ quyền của chúng tôi“.
Ông Farhan nhận định thêm rằng bức thư của Bắc Kinh mang hơi hướng „đe dọa“ vì đây là lần đầu tiên các nhà ngoại giao Trung Quốc nỗ lực thúc đẩy cái gọi là „đường 9 đoạn“ để xâm phạm chủ quyền của Indonesia.
Lá thư trên được gửi đi vào thời điểm xảy ra cuộc đối đầu ngoài khơi giữa tàu hai nước.
Ngày 30/6, một giàn khoan đã đến hoạt động tại vùng biển Natuna và không lâu sau đó, Trung Quốc đã điều một tàu hải cảnh tới đây. Indonesia lập tức cũng đưa một tàu tuần duyên đến khu vực này. Trong bốn tháng tiếp theo, các tàu của cả hai bên đã tuần tra tại khu vực gần giàn khoan.
New Zealand ngày càng có quan điểm cứng rắn hơn đối với Bắc Kinh, đặc biệt vì lo ngại về ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Thái Bình Dương.
Thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern.
New Zealand ngày càng cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc là một mối đe dọa. Điều này được thể hiện rõ ràng trong Đánh giá Quốc phòng năm 2021 của nước này.
Báo cáo dài 36 trang đưa ra kết luận nghiêm túc về “mối đe dọa” từ Trung Quốc, cảnh báo rằng “một Trung Quốc ngày càng hùng mạnh đang theo đuổi lợi ích của mình một cách hung hăng hơn”.
“Bắc Kinh đang tìm cách định hình lại hệ thống quốc tế để làm cho nó tương thích hơn với mô hình quản trị và các giá trị quốc gia của mình, cũng như với việc Trung Quốc được công nhận là một nhà lãnh đạo toàn cầu”, theo báo cáo.
Đặc biệt, New Zealand cảnh báo rằng Bắc Kinh đang tìm cách tăng cường quan hệ quân sự trong khu vực.
Không nêu đích danh Trung Quốc, báo cáo cho rằng một trong những diễn biến đe dọa nhất ảnh hưởng đến an ninh của New Zealand sẽ là “việc thành lập căn cứ quân sự hoặc cơ sở quân sự-dân sự ở Thái Bình Dương bởi một quốc gia không có cùng các giá trị và lợi ích an ninh với New Zealand”.
“Sự phát triển như vậy về cơ bản sẽ làm thay đổi cán cân chiến lược của khu vực”, báo cáo nhấn mạnh.
New Zealand đã cứng rắn hơn với Trung Quốc
New Zealand được nhìn nhận là tương đối thân Trung Quốc và sẵn sàng đón nhận những lợi ích tiềm năng từ sự trỗi dậy của nước này. Nhưng lập trường của Wellington đang nhanh chóng thay đổi, theo các chuyên gia.
Họ ngày càng có quan điểm cứng rắn hơn đối với Bắc Kinh, đặc biệt vì lo ngại về ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Thái Bình Dương.
Năm 2018, New Zealand làm theo Australia, ngăn chặn công ty viễn thông Trung Quốc Huawei cung cấp thiết bị cho mạng di động 5G. Hai năm sau, New Zealand đình chỉ hiệp ước dẫn độ với Hong Kong (Trung Quốc) vì lo ngại về việc Bắc Kinh áp đặt luật an ninh quốc gia.
Với báo cáo mới, việc New Zealand ngày càng cảnh giác với Trung Quốc – đối tác thương mại thân cận nhất của họ – càng được khẳng định. Tầm nhìn khu vực của họ dường như cũng ngày càng giống với Australia và Mỹ.
Một chuyên gia về chính sách đối ngoại của Trung Quốc, Giáo sư Anne-Marie Brady, từ Đại học Canterbury, viết trên tờ The Sydney Morning Herald rằng các phân tích của chính phủ New Zealand trong ba năm qua “âm thầm” cảnh báo về mối đe dọa từ Trung Quốc, nhưng chúng thường bị cắt giảm để tránh kích động Bắc Kinh.
Trong khi đó, đánh giá năm 2021 “tạo ra một nền tảng mới khi cuối cùng đã nói to những phần âm thầm: New Zealand, giống như Australia, xem Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh chiến lược và đối thủ đối với lợi ích quốc gia”.
Một nhà phân tích khác, Geoffrey Miller, mô tả đánh giá quốc phòng mới của New Zealand là “diều hâu” và “thẳng thắn một cách bất thường”. Ông Miller cũng cho rằng việc New Zealand cố gắng áp dụng một cách tiếp cận cân bằng hơn đối với Trung Quốc là ngày càng khó khi căng thẳng trong khu vực gia tăng.
13 thực thể khác nổi trên mặt nước biển mà Trung Quốc đặt tên thuộc quần đảo Trường Sa, một quần đảo gồm các bãi đá và đảo mà các nước bao gồm Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei cũng đòi chủ quyền. Quần đảo này nằm ở phần phía nam của Biển Đông.
Trường Sa bao gồm Bãi Tư Chính, nơi Trung Quốc và Việt Nam đã có căng thẳng liên quan đến các tàu hải cảnh và dân quân biển của Trung Quốc vào năm 2019. Trường Sa cũng bao gồm Đá Chữ Thập, một căn cứ quân sự chính mà hải quân, hải cảnh và không quân Trung Quốc thường được điều đến.
Các thực thể mới đặt tên này thuộc Trường Sa thực sự rất nhỏ bé, nhưng sau khi bao gồm cả những vị trí địa lý, có thể dễ dàng thấy là Trung Quốc đang tuyên bố chủ quyền đối với chúng. Các thực thể này nằm rải rác quanh Bãi Tây – nơi Việt Nam xây một tiền đồn của mình vào khoảng năm 2013 đến 2016, và bổ sung thêm 2 trạm canh gần đó trong cùng giai đoạn này.
Toàn bộ bãi này gần như không đáng để đặt tên nhưng Trung Quốc cho rằng việc đặt tên cho từng phần của nó như là một phần của Bãi Tây và chuỗi “đảo” Longbi (Dragon’s Nose) là hợp lý. Vì những lý do không rõ ràng, một số những thực thể mini thậm chí còn được đặt tên hai lần với các tên khác nhau. Ví dụ, Xijiao Dongdao (Đảo Đông Bãi Tây) còn được biết với tên Longbi Xidao (Đảo Dragon’s Nose West).
“Dường như đây là sự tưởng tượng của người vẽ bản đồ của chính phủ được lôi ra từ tủ hồ sơ để đóng vào một danh sách mới các tên mà Bắc Kinh trước đó đã phô ra nhằm tỏ dấu hiệu cho thấy sự không hài lòng với Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam liên quan đến những chỉ trích về những căng thẳng gần đây ở Biển Đông”, chuyên gia Poling nói.
Một trong những tiền đồn của Việt Nam ở Bãi Tây mà Trung Quốc nói Việt Nam xâm chiếm trái phép. Trung Quốc giờ đây gọi tiền đồn này là “Longbi Xidao” hay “Xijiao Xidao”.
Trung Quốc và Việt Nam đã có căng thẳng trong những tháng gần đây sau khi tàu hải cảnh của Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam hôm 3 tháng 4 và sau một loạt những công hàm được các bên có chủ quyền ở Biển Đông nộp lên Liên Hiệp Quốc. Công hàm gần đây nhất mà Trung Quốc nộp lên thậm chí còn chỉ đích danh Việt Nam, yêu cầu Việt Nam phải rút toàn bộ nhân sự và các cơ sở khỏi các đảo và bãi đá.
Malaysia và Philippines cũng đã nộp các công hàm phản đối các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc lên Liên Hiệp Quốc. Đây là một sự đoàn kết hiếm có ngay trước khi Trung Quốc tuyên bố hai quận hành chính mới và công bố danh sách 80 thực thể.
Trong số 25 thực thể nổi trong danh sách mới mà Trung Quốc đưa ra có 12 thực thể ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo nằm ở phía bắc Biển Đông.
Đây là quần đảo do Trung Quốc kiểm soát nhưng cả Việt Nam và Đài Loan đều tuyên bố có chủ quyền. Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam vào năm 1974 trong một trận hải chiến với quân đội của chính phủ Nam Việt Nam lúc đó.
Các chuyên gia nhấn mạnh rằng về mặt kỹ thuật, không có bất cứ thực thể nào trong số 12 thực thể nói trên là những tuyên bố chủ quyền mới vì Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền với chúng trên cơ sở “quyền lịch sử” và vùng nằm trong đường đứt khúc 9 đoạn mà nước này vẽ ra trên một vùng diện tích rộng lớn ở Biển Đông. Đây là vùng mà Trung Quốc nói họ có chủ quyền. Nhưng điều mà Trung Quốc đang làm lúc này là vẽ bản đồ khu vực chi tiết hơn.
Trung Quốc tuyên bố Hoàng Sa là một quần đảo ngoài khơi, và vào năm 1996 đã vẽ đường cơ sở thẳng quanh quần đảo, nối những điểm đầu và cuối của quần đảo, cách vốn thường được làm bởi các quốc đảo nhằm gộp các đảo của họ lại với nhau để xác định đường biên giới trên biển. Bằng cách làm này, Trung Quốc hy vọng sẽ mở rộng hợp pháp vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đối với toàn bộ nửa phần phía bắc của Biển Đông. Điều này đã bị Toà Trọng tài quốc tế tuyên vô hiệu trong một phán quyết vào năm 2016 trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc.
“Sanzhizai” thực thể mới duy nhất của Trung Quốc ở phần đông bắc Hoàng Sa giữa đảo Trung và đảo Nam. Đảo Bắc là nơi có một tiền đồn của Trung Quốc.
Một trong những thực thể mới, Sanzhizai, là một đê cát mà hình ảnh vệ tinh cho thấy là không có người ở và gần như không nổi lên trên mặt nước bất kỳ lúc nào. Nó nằm giữa Đảo Trung và Đảo Nam, là các đảo cũng không có người ở và được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc đã chiếm đóng tất cả các thực thể không có người ở quanh đó, bao gồm Đảo Bắc, nơi có tiền đồn quân sự và Đảo Cây, nơi có cảng lớn hơn và căn cứ quân sự.
11 thực thể còn lại mà Trung Quốc đặt tên ở Hoàng Sa nằm trong Nhóm Trăng Khuyết, một nhóm các bãi đá và đá, một số trong số này được Trung Quốc nạo vét và xây thành các tiền đồn nằm cách căn cứ chính ở đảo Phú Lâm khoảng 45 hải lý.
Không có thực thể nào do Trung Quốc đặt tên ở Hoàng Sa đủ tiêu chuẩn theo pháp lý được gọi là đảo. Hai thực thể chìm hoàn toàn dưới mặt nước biển. Số còn lại là các bãi cạn hoặc bãi cát. Kuangzai Beidao – hay còn gọi là Đảo Basket Bắc – là một ví dụ. Thực thể này chỉ là một dải đất có bề rộng ít hơn 1/10 mile từ điểm đầu đến điểm cuối. Nó nằm cạnh một đảo nhỏ tý hon mà Trung Quốc chiếm đóng là Bãi Antelope, nơi có một số các toà nhà được xây trên đó.
Theo phán quyết quan trọng của Toà Trọng tài Quốc tế vào năm 2016 về Biển Đông, để đáp ứng định nghĩa về đảo, một thực thể phải có khả năng duy trì sự sống của con người một cách tự nhiên và hoạt động kinh tế mà không cần sự giúp đỡ từ bên ngoài. Kuangzai Beidao rõ ràng là không đáp ứng được yêu cầu này và cũng không có thực thể nào trong danh sách đáp ứng yêu cầu này.
Kuangzai Beidao, hay còn gọi là Đảo Basket Bắc. Hình chụp hôm 23/4/2020. Dải đất này nằm trên bãi Antelope, phía bắc khu vực có các công trình quan trọng của Trung Quốc ở Hoàng Sa.
Các thực thể mới khác rõ ràng là nhằm mục đích lấp lỗ hổng giữa và quanh các tiền đồn của Trung Quốc và các đảo nhân tạo. Guangjin Beiyidao và Guangjin Bei’erdao (Đảo Guangjin Bắc thứ nhất và Đảo Guangjin Bắc thứ hai) có thể phân biệt rõ khỏi nhau, và Trung Quốc liệt kê cùng những vị trí địa lý cho cả hai thực thể, nhưng cùng với Guangjin Xidao (Đảo Tây Guangjin) chúng làm thành một ngăn cách cát bên phía tây đảo Duncan, nơi Trung Quốc có cảng và tiền đồn.
HÌnh vệ tinh đảo Duncan hôm 28/4/2020. Guangjin Beiydao, Bei’erdao, và Guangjin Xidao nằm ở phía tây. Guangjin Beiyidao và Bei’erdao có cùng các vị trí địa lý theo danh sách của Trung Quốc, nhưng dựa theo tên của chúng có thể cho rằng chúng là hai bãi cát nằm cạnh nhau phía trên bên trái. Đảo Duncan có cảng cho ngư dân Trung Quốc và hải cảnh.
Các thực thể này dường như là một phần của chiến dịch mà Trung Quốc đang thực hiện để xác định đường cơ sở rõ ràng hơn quanh quần đảo Hoàng Sa, cho phép Trung Quốc dễ dàng gộp tất cả các thực thể ngoài khơi quần đảo này làm một nhóm. Trung Quốc đã yêu cầu các tàu thuyền phải xin phép trước khi đi qua Hoàng Sa. Đây là lý do chính khiến Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện chương trình tự do hàng hải ở Hoàng Sa, gọi đường cơ sở của Trung Quốc quanh Hoàng Sa là kinh khủng.